You are on page 1of 9

Phần I

:

- Phương pháp phân chia địa chỉ IP? Những nguyên tắcchung để phân
chia địa chỉ IP? -
- Hãy liệt kê các thiết bị mạng? Nêu chức năng củaSwitch, Hub, Card
mạng. So sánh 2 thiết bị Switch, Hub?
TRẢ LƠI : ngồm có card mạng , repeater ,hup ,bridgc, swich ,
router,modem
chức năng của swich : được miêu tả như một bridgc có nhiều cổng . với
chức năng chính là chuyển các khung dử liệu từ nguồn tới đích và xấy
dựng các bảng swich , bảng này cung cấp các thông tin để các ngói
thông tin đến đúng địa chỉ .
chức năng của HUP : Hup được coi là một repeater có nhiều cổng , với
chức năng đóng vai trò là trung tâm mạng. với một hup khi thông tin vào
từ một cổng sẻ được đưa đến tất cả các cổng khác . ngoài ra hup còn có
chức năng khếch đại tín hiệu đến và cho tín hiệu ra những cổng còn lại.
chức năng của CARD MẠNG : là một tấm mạch in được cắm vào trong
máy tính , dùng để cung cấp cổng kết nối vào mạng. card mạng điều
khiển việc kết nối của máy tính vào các phương tiện truyền dẫn .
so sánh giửa 2 thiết bị hup và swich :
Cả hai thiết bị này đều có những vai trò tương tự trên mạng.
Mỗi thiết bị dều đóng vai trò kết nối trung tâm cho tất cả các thiết bị mạng, và
xử lý một dạng dữ liệu được gọi là "frame" (khung). Mỗi khung đều mang theo
dữ liệu.
Khi khung được tiếp nhận, nó sẽ được khuyếch đại và truyền tới cổng của PC
đích.
Sự khác biệt lớn nhất giữa hai thiết bị này là phương pháp phân phối các
khung dữ liệu.

- Hãy nêu cấu tạo của bộ định tuyến Router? Để địnhtuyến thì cần phải
biết những thông tin cơ bản nào?
 cấu tạo Bộ định tuyến (Router ): là một thiết bị mạng máy tính được thiết kế
đặc biệt để đảm đương được vai trò xử lý truyền tải thông tin trên mạng.
–NVRAM (None-volatile RAM): là nơi chứa file cấu hình khởi động (Startup-
Configure ), không bị mất thông tin khi mất nguồn. File Startup-Config được
lưu trong này để đảm bảo khi khởi động lại, cấu hình của Router sẽ được tự
động đưa về trạng thái đã lưu giữ trong file.
–Flash : là thiết bị nhớ / lưu trữ có khả năng xoá và ghi được, không mất dữ liệu
khi cắt nguồn. Hệ điều hành của bộ định tuyến được chứa ở đây. Tập tin cấu
hình cũng có thể được lưu trữ trong Flash.
–Khi khởi động router sẽ tự đọc ROM để nạp IOS trước khi nạp file Startup-
Config trong NVRAM.
–Hệ điều hành (IOS): đảm đương hoạt động của bộ định tuyến.
–Hệ điều hành của các bộ định tuyến khác nhau có các chức năng khác nhau.

 Nhược điểm: Nếu lúc đó có hơn một trạm đang đợi thì khả năng xảy ra xung đột là rất cao . Nếu rỗi thì truyền dữ liệu đi theo khuôn dạng đã quy định trước.Hãy nêu phương pháp CSMA/CD. Mọi trạm đều có thể truy nhập vào bus chung (đa truy nhập) một cách ngẫu nhiên và do vậy rất có thể dẫn đến xung đột (hai hoặc nhiều trạm đồng thời truyền dữ liệu). Với giải thuật 1 có hiệu quả trong việc tránh xung đột vì hai trạm cần truyền khi thấy đường truyền bận sẽ cùng “rút lui” chờ đợi trong các thời đoạn ngẫu nhiên khác.không kiên trì) + Tiếp tục “nghe” đến khi đường truyền rỗi thì truyền dữ liệu đi với xác suất = 1 + Tiếp tục “nghe” đến khi đường truyền rỗi thì truyền đi với xác suất p xác định trước (0 < p <1) . Phương pháp CSMA/CD là phương pháp cải tiến từ phương pháp CSMA hay còn gọi là LBT (Listen Before Talk . Nhược điểm có thể có thời gian chết sau mỗi cuộc truyền . các chức năng cần thiết phải có của bộ định tuyến và các thành phần phần cứng có trong bộ định tuyến. phương pháp Token Bus? . phương pháp TokenRing.–Mỗi bộ định tuyến có thể chạy rất nhiều hệ điều hành khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng cụ thể. khi định tuyến cần phải biết các thông tin : Địa chỉ đích Các nguồn mà nó có thể học Các tuyến (routes) Tuyến tốt nhất (best route) Bảo trì và kiểm tra thông tin định tuyến . Tư tưởng của nó: một trạm cần truyền dữ liệu trước hết phải “nghe” xem đường truyền đang rỗi hay bận. Phương pháp này sử dụng cho topo dạng tuyến tính. CSMA/CD (Carrier Sense Multiple Access with Collision Detection) Phương pháp đa truy nhập sử dụng sóng mang có phát hiện xung đột .Nghe trước khi nói). Ngược lai. trong đó tất cả các trạm của mạng đều được nối trực tiếp vào bus. Dữ liệu được truyền trên mạng theo một khuôn dạng đã định sẵn trong đó có một vùng thông tin điều khiển chứa địa chỉ trạm đích . nếu bận (tức là đã có dữ liệu khác) thì trạm phải thực hiện một trong 3 giải thuật sau (gọi là giải thuật “kiên nhẫn”) + Tạm “rút lui” chờ đợi trong một thời gian ngẫu nhiên nào đó rồi lại bắt đầu nghe đường truyền (Non persistent . Giải thuật 2: khắc phục nhược điểm có thời gian chết bằng cách cho phép một trạm có thể truyền ngay sau khi một cuộc truyền kết thúc.

. Các trạm không hoặc chưa có nhu cầu truyền dữ liệu thì không được đưa vào vòng logic và chúng chỉ có thể tiếp nhận dữ liệu.nghe trong khi nói) tức là bổ xung thêm các quy tắc: ¨ Khi một trạm đang truyền. Khi đã hết dữ liệu hay hết thời đoạn cho phép. Như vậy công việc phải làm đầu tiên là thiết lập vòng logic (hay còn gọi là vòng ảo) bao gồm các trạm đang có nhu cầu truyền dữ liệu được xác định vị trí theo một chuỗi thứ tự mà trạm cuối cùng của chuỗi sẽ tiếp liền sau bởi trạm đầu tiên. Xảy ra xung đột là do độ trễ của đường truyền dẫn: một trạm truyền dữ liệu đi rồi nhưng do độ trễ đường truyền nên một trạm khác lúc đó đang nghe đường truyền sẽ tưởng là rỗi và cứ thể truyền dữ liệu đi  xung đột. Với giá trị p lựa chọn hợp lý có thể tối thiểu hoá được cả khả năng xung đột lẫn thời gian chết của đường truyền. Nguyên nhân xảy ra xung đột của phương pháp này là các trạm chỉ “nghe trước khi nói” mà không “nghe trong khi nói” do vậy trong thực tế có xảy ra xung đột mà không biết. Phương pháp truy nhập có điểu khiển dùng kỹ thuật “chuyển thẻ bài” để cấp phát quyền truy nhập đường truyền.Listen While Talk . ¨ Sau đó trạm chờ đợi một thời gian ngẫu nhiên nào đó rồi thử truyền lại theo các quy tắc của CSMA  Rõ ràng với CSMA/CD thời gian chiếm dụng đường truyền vô ích giảm xuống bằng thời gian để phát hiện xung đột. Để có thể phát hiện xung đột. III. Trong thời gian đó nó có thể truyền một hoặc nhiều đơn vị dữ liệu. CSMA/CD cũng sử dụng một trong 3 giải thuật “kiên nhẫn” ở trên. Khi một trạm nhận được thẻ bài thì nó có quyền sử dụng đường truyền trong một thời gian định trước. Thẻ bài (Token) là một đơn vị dữ liệu đặc biệt. . Mỗi trạm được biết địa chỉ của các trạm kề trước và sau nó. Giải thuật 3: Trung hoà giữa hai giải thuật trên. Nguyên lý: Để cấp phát quyền truy nhập đường truyền cho các trạm đang có nhu cầu truyền dữ liệu. vẫn cứ tiếp tục truyền dữ liệu đi  gây ra chiếm dụng đường truyền một cách vô ích .một thẻ bài được lưu chuyển trên một vòng logic thiết lập bởi các trạm đó. Thứ tự của các trạm trên vòng logic có thể độc lập với thứ tự vật lý. cải tiến thành phương pháp CSMA/CD (LWT . trong đó giải thuật 2 được ưa dùng hơn cả. Nếu phát hiện thấy xung đột thì nó ngừng ngay việc truyền nhưng vẫn tiếp tục gửi sóng mang thêm một thời gian nữa để đảm bảo rằng tất cả các trạm trên mạng đều có thể nghe được sự kiện xung đột đó. PHƯƠNG PHÁP TOKEN BUS (PHƯƠNG PHÁP BUS VỚI THẺ BÀI) . có kích thước và có chứa các thông tin điều khiển trong các khuôn dạng . nó vẫn tiếp tục nghe đường truyền. trạm phải chuyển thẻ bài đến trạm tiếp theo trong vòng logic.

thẻ bài bị mất (có thể do mạng bị mất nguồn hoặc trạm giữ thẻ bài bị hỏng). ² Khởi tạo vòng logic: Khi một trạm hay nhiều trạm phát hiện thấy đường truyền không hoạt động trong một khoảng thời gian vượt quá một giá trị ngưỡng (time out) cho trước . cần phải khởi tạo lại vòng. Nếu sau một thời gian xác định trước mà không có yêu cầu nào thì trạm sẽ chuyển thẻ bài tới trạm kề sau nó như thường lệ. Nếu có hơn một trạm yêu cầu nhập vòng thì trạm giữ thẻ bài sẽ phải lựa chọn theo giải thuật nào đó. ² Loại một trạm khỏi vòng logic: Một trạm muốn ra khỏi vòng logic sẽ đợi đến khi nhận được thẻ bài sẽ gửi thông báo “nối trạm đứng sau” tới trạm kề trước nó yêu cầu trạm này nối trực tiếp với trạm kề sau nó ² Quản lý lỗi: Để giải quyết các tình huống bất ngờ. Nếu có yêu cầu thì trạm gửi thẻ bài sẽ ghi nhận trạm yêu cầu trở thành trạm đứng kề sau nó và chuyển thẻ bài tới trạm mới này. trạm đó nhận được tín hiệu cho thấy đã có các trạm khác có thẻ bài. Khi chuyển thẻ bài đi. . trạm sẽ gửi thông báo “tìm trạm đứng sau” để mời các trạm (có địa chỉ giữa nó và trạm kế tiếp nếu có) gửi yêu cầu nhập vòng. chờ dữ liệu hoặc thẻ bài). Các giải thuật cho các chức năng trên có thể làm như sau: ² Bổ sung một trạm vào vòng logic. trạm phải chuyển thẻ bài tới trạm kề sau nó và tiếp tục nghe xem trạm kề sau đó có hoạt động hay đã bị hư hỏng. ² Loại bỏ một trạm khỏi vòng logic: Khi một trạm không còn nhu cầu truyền dữ liệu cần loại nó ra khỏi vòng logic để tối ưu hoá việc điều khiển truy nhập bằng thẻ bài ² Quản lý lỗi: một số lỗi có thể xảy ra. mỗi trạm trong vòng có trách nhiệm định kỳ tạo cơ hội cho các trạm mới nhập vào vòng. Chẳng hạn. Lập tức nó phải chuyển sang trạng thái nghe (bị động. Lúc đó trạm phát hiện sẽ gửi đi thông báo “yêu cầu thẻ bài” tới một trạm được chỉ định trước có trách nhiệm sinh thẻ bài mới và chuyển đi theo vòng logic. . Nếu trạm kề sau bị hỏng thì phải tìm cách gửi các thông báo để vượt qua trạm hỏng đó. Cụ thể cần phải thực hiện các chức năng sau: ² Bổ sung một trạm vào vòng logic: các trạm nằm ngoài vòng logic cần được xem xét định kỳ để nếu có nhu cầu truyền dữ liệu thì bổ sung vào vòng logic. chẳng hạn trùng địa chỉ (hai trạm đều nghĩ rằng đến lượt mình) hoặc “đứt vòng” (không trạm nào nghĩ đến lượt mình) ² Khởi tạo vòng logic: Khi cài đặt mạng hoặc sau khi “đứt vòng”. Hoặc sau khi kết thúc truyền dữ liệu. tìm trạm hoạt động để gửi thẻ bài. Vấn đề quan trọng là phải duy trì được vòng logic tuỳ theo trạng thái thực tế của mạng tại thời điểm nào đó. .

Đối với vấn đề thẻ bài bận lưu chuyển không dừng. Phương pháp này dựa trên nguyên lý dùng thẻ bài để cấp phát quyền truy nhập đường truyền. Trạm này sẽ phát hiện tình trạng mất thẻ bài bằng cách dùng cơ chế ngưỡng thời gian (time out) và phục hồi bằng cách phát đi một thẻ bài “rỗi” mới.Hãy Mô hình OSI gồm mấy lớp? Đó là những lớpnào? Hãy nêu chức năng chính của mỗi lớp. do đó các trạm có dữ liệu cần truyền buộc phải đợi. PHƯƠNG PHÁP TOKEN RING . Lúc đó trạm monitor sẽ đổi bit trạng thái của thẻ thành rỗi và chuyển tiếp trên vòng. Trạm nguồn sẽ xoá bỏ dữ liệu. Các trạm còn lại trên trạm sẽ có vai trò bị động: chúng theo dõi phát hiện tình trạng sự cố của trạm monitor chủ động và thay thế vai trò đó. Khi đó nó sẽ đổi bít trạng thái thành bận và truyền một đơn vị dữ liệu cùng với thẻ bài đi theo chiều của vòng. Thẻ bài là một đơn vị dữ liệu đặc biệt trong đó có một bít biểu diễn trạng thái sử dụng của nó (bận hoặc rôĩ). sau đó cùng với thẻ bài đi tiếp cho đến khi quay về trạm nguồn. Thẻ bài lưu chuyển theo vòng vật lý chứ không cần thiết lập vòng logic như phương pháp trên . + Trạm đích không tồn tại hoặc không hoạt động + Trạm đích tồn tại nhưng dữ liệu không sao chép được + Dữ liệu đã được tiếp nhận . Sự quay về trạm nguồn của dữ liệu và thẻ bài nhằm tạo một cơ chế nhận từ nhiên: trạm đích có thể gửi vào đơn vị dữ liệu các thông tin về kết quả tiếp nhận dữ liệu của mình. Cần có một giải thuật để chọn trạm thay thế cho trạm monitor hỏng.IV. Dữ liệu đến trạm đích sẽ được sao lại. Nếu nó gặp lại một thẻ bài bận với bít đã đánh dấu đó thì có nghĩa là trạm nguồn đã không nhận lại được đơn vị dữ liệu của mình và thẻ bài “bận” cứ quay vòng mãi. Giải quyết: Đối với vấn đề mất thẻ bài. Giờ đây không còn thẻ bài rỗi trên vòng nữa. có thể quy định trước một trạm điều khiển chủ động. . . đổi bít trạng thái thành rỗi cho lưu chuyển tiếp trên vòng để các trạm khác có thể nhận được quyền truyền dữ liệu. Phương pháp này cần phải giải quyết hai vấn đề có thể gây phá vỡ hệ thống: + Mất thẻ bài: trên vòng không còn thẻ bài lưu chuyển nữa + Một thẻ bài bận lưu chuyển không dừng trên vòng .Hãy giới thiệu về giao thức định tuyến OSPF? . đã học . trạm monitor sử dụng một bit trên thẻ bài (gọi là monitor bit) để đánh dấu đặt giá trị 1 khi gặp thẻ bài bận đi qua nó. Một trạm muốn truyền dữ liệu thì phải đợi đến khi nhận được một thẻ bài rỗi.

OSPF chọn đường dựa trên chi phí được tính từ tốc độ của đường truyền. Mọi OSPF đều có thông tin đầy đủ về cấu trúc của hệ thống mạng và dựa vào đó để chọn đường đi tốt nhất. Do đó. OSPF chọn đường tốt nhất từ cây SPF. Điều này làm kích thước mạng của RIP bị giới hạn trong phạm vi nhỏ. Một mạng OSPF có thể chia các router thành nhiều nhóm. thuật toán chọn đường này rất phức tạp. Đường truyền có tốc độ càng cao thì chi phí OSPF tương ứng càng thấp.OSPF là một giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết được triển khai dựa trên các chuẩn mở. đường đi tốt nhất của OSPF được xác định dựa trên tốc độ của đường truyền RIP cũng như các giao thức định tuyến theo distance vector khác đều sử dụng thuật toán chọn đường đơn giản. nó hoàn toàn có thể phù hợp với mạng vừa và lớn.  Do đó. Đối với RIP. Còn OSPF sử dụng khái niệm về phân vùng. OSPF được mô tả trong nhiều chuẩn của IETF (Internet Engineering Task Force) Router định tuyến theo trạng thái đường liên kết có một cơ sở đầy đủ về cấu trúc hệ thống mạng. Còn thuật toán SPF thì phức tạp. Chúng chỉ thực hiện trao đổi thông tin về trạng thái đường liên kết lúc khởi động và khi hệ thống mạng có sự thay đổi. Chúng không phát quảng bá bảng định tuyến theo định kỳ như các router định tuyến theo distance vector. có khả năng mở rộng. . nếu router chạy theo giao thức định tuyến theo distance vector thì sẽ ít tốn bộ nhớ và cần năng lực xử lý thấp hơn so với khi chạy OSPF. RIP sẽ cộng thêm 1 vào thông số hop này và dựa vào số lượng hop đó để chọn đường đến mạng đích. OSPF bảo đảm không bị định tuyến lặp vòng. Đường nào có khoảng cách ngắn nhất hay nói cách khác là có số lương hop ít nhất sẽ là đường tốt nhất đối với RIP. OSPF thì không giới hạn về kích thước mạng. RIP sử dụng cấu trúc mạng dạng ngang hàng. các router định tuyến theo trạng thái đường liên kết sử dụng ít băng thông hơn cho hoạt động duy trì bảng định tuyến. một mạng đích cách xa hơn 15 router xem như không thể đến được vì RIP có số lượng hop giới hạn là 15. đòi hỏi nhiều bộ nhớ và năng lực xử lý của router cao hơn so với RIP. Khi nhận được từ router láng giềng các báo cáo về số lượng hop đến mạng đích. Do đó. OSPF thì phù hợp với mạng lớn. OSPF thì chọn đường dựa vào chi phí được tính từ băng thông của đường truyền. Thông tin định tuyến được truyền lần lượt cho mọi router trong cùng một hệ thống RIP.

•Các giá trị về thời gian (RIP Timers) Route update timer: là khoảng thời gian trao đổi định kỳ thông tin định tuyến của router ra tất cả các active interface. Thông tin định tuyến ở đây là toàn bộ bảng routing table. .255. Thay đổi trong vùng này không ảnh hưởng đến hoạt động của các vùng khác. Route invalid timer: là khoảng thời gian trôi qua để xác định một tuyến là invalid. Việc cập nhật định kỳ giữa các bộ định tuyến giúp trao đổi thông tin khi cấu trúc mạng thay đổi. RIPv2 sử dụng địa chỉ đa hướng –Là một giao thức định tuyến theo véctơ khoảng cách. OSPF có thể giới hạn lưu thông trong từng vùng. thời gian này mặc định là 180 giây.Hãy cho biết đặc điểm và cơ chế của cấu hìnhRIP? Định tuyến theo véctơ khoảng cách thực hiện truyền bản sao của bảng định tuyến từ bộ định tuyến này sang bộ định tuyến khác theo định kỳ. Sử dụng thời gian giữ chậm để chống lặp vòng.Thế nào là mô hình mạng peer to peer? Nêu ưu điểm.255 Không hỗ trợ xác minh thông tin nhận được •RIP2 (RIP version 2): –Là giao thức định tuyến không phân lớp. sử dụng số lượng hop làm thông số định tuyến.So sánh giữa giao thức định tuyến RIP version 1và RIP version 2? •RIP1 Không gửi thông tin subnet mask trong thông tin định tuyến Gửi quảng bá thông tin định tuyến theo địa chỉ 255.Bằng cách này.nhược điểm của mô hình này? . –Giá trị hop tối đa là 15.  Sử dụng cơ chế cắt ngang để chống lặp vòng. . Sử dụng số hop làm thông số định tuyến. giá trị thời gian là 30 giây. • – .255. –Thời gian giữ chậm cũng là 180 giây –Sử dụng cơ chế chia rẽ tầng để chống lặp vòng •Giống nhau giữa 2 phiên bản: Là giao thức định tuyến theo véctơ khoảng cách. có thông tin về mặt nạ mạng con. Chu kỳ cập nhật mặc định là 30 giây. Cấu trúc phân lớp như vậy cho phép hệ thống mạng có khả năng mở rộng một cách hiệu quả.

Trong mạng quảng bá đa truy cập có rất nhiều router kết nối vào.0. router đặt tuyến đường đó vào trạng thái hold-down. Mạng Point-to-Multipoint có thể được nhà quản trị mạng cấu hình cho một cổng của router. DR trở thành một tâm điểm nhạy cảm đối với sự cố. Do đó. Giải pháp cho vấn đề quá tải trên là bầu ra một router làm đại diện (DRDesignated Router).5 DR đóng vai trò như một người phát ngôn chung. Điều này có nghĩa là router không gửi quảng bá cũng như không nhận quảng bá về tuyến đường đó trong khong thời gian Holddown timer này. nếu có n router thì sẽ có n*(n-1)/2 mối quan hệ láng giềng cần thiết lập. Nếu có 10 router thì sẽ cần 45 mối liên hệ thân mật. ví dụ Frame Relay. Mọi router còn lại sẽ chỉ gởi thông tin về trạng thái đường liên kết cho DR. Giá trị mặc định là 180 giây. cần có một router thứ hai được bầu ra để làm đại diện dự phòng (BDR – Backup Designated Router). router này sẽ đảm trách vai trò của DR nếu DR bị sự cố. Tác dụng về giá trị này là giảm thông tin sai mà router học được. Việc bầu DR rất có hiệu quả nhưng cũng có một nhược điểm. Giá trị Route invalid timer phải nhỏ hơn giá trị Route flush timer vì router cần thông báo tới neighbor của nó về trạng thái invalid của tuyến đó trước khi local routing được update . Mạng không quảng bá đa truy cập (NBMA – NonBroadcast Multil-Access). Sau khoảng thời gian này router mới nhận và gửi thông tin về tuyến đường đó.Holddown timer: giá trị này được sử dụng khi thông tin về tuyến này bị thay đổi.Giao thức OSPF nhận biết các loại mạng nào? Mạng quảng bá đa truy cập. Route flush timer: là khoảng thời gian được tính từ khi tuyến ở trạng thái không hợp lệ đến khi tuyến bị xoá khỏi bảng định tuyến. Sau đó DR sẽ gởi các thông tin này cho mọi router khác trong mạng bằng địa chỉ multicast 224.0. Router này sẽ thiết lập mối quan hệ thân mật với mọi router khác trong mạng quản bá. Nếu mỗi router đều thiết lập mối quan hệ thân mật với mọi router khác và thực hiện trao đổi thông tin về trạng thái đường liên kết với mọi router láng giềng thì sẽ quá tải. ví dụ mạng Ethernet. Mạng point-to-point. Để đảm bảo cả DR và BDR đều nhận được thông tin về trạng thái đường . Ngay khi thông tin mới được nhận.

router có pri=0: sẽ không được tham gia vào quá trình bình bầu dr. địa chỉ multicast 224.0. dr và bdr sẽ được bình bầu như thế nào: có hai cách: thông qua priority hoặc nếu priority bằng nhau thì sẽ xét đến routerID: router có pri hoặc routerID càng cao thì càng nhiều khả năng làm dr (khác hoàn toàn với STP: pri thấp hoặc bridgeid thấp thì càng có khả năng thành root) Cấu hình priority bằng lệnh: ip ospf priority Pri có thể chạy từ 0 đến 255.liên kết từ mọi router khác trong cùng một mạng.6 cho các router đại diện. mặc định là 1. Router có các thông số pri hoặc routerid cao thứ hai sẽ là bdr .0.