HỌC VIỆN NGÂN HÀNG . BỘ MÔN LUẬT. Biên soạn : TS Đinh Tiểu Khuê.

Bài 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC I. NGUỒN GỐC NHÀ NƯỚC: 1. Một số quan điểm phi mácxít về nguồn gốc nhà nước 1.1. Thuyết thần học: Các nhà tư tưởng theo thuyết thần học cho rằng: Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, Nhà nước là do Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung. Do vậy, Nhà nước là do lực lượng siên nhiên và đương nhiên quyền lực Nhà nước là vĩnh cửu, bất biến và sự phục tùng quyền lực này là cần thiết và tất yếu. 1.2. Thuyết gia trưởng: các nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng chứng minh rằng Nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người. Vì vậy, nhà nước tồn tại trong mọi xã hội và quyền lực Nhà nước về bản chất cũng giống như quyền gia trưởng của người đứng đầu gia đình 1.3. Thuyết khế ước xã hội (thuyết hợp đồng) : Đến khoảng thế kỷ 16,17,18 đã xuất hiện hàng loạt quan niệm mới về nguồn gốc Nhà nước. Đa số các học giả tư sản đều tán thành quan điểm cho rằng sự ra đời của Nhà nước là sản phẩm của một khế ước (hợp đồng) được ký kết trước hết là giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Vì vậy, nhà nước phản ảnh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ xã hội. Tiêu biểu cho thuyết khế ước xã hội là các nhà tư tưởng tư sản như Jean Bodin (1530-1596), Mongtetxkiơ (1689-1775), Jean Jaccuen Roussou (1712-1778)…. Theo Điđơro, trong trường hợp Nhà nước không giữ được vai trò của mình , các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ bị mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kết khế ước mới. Vì vậy, thuyết khế ước xã hội thật sự trở thành cơ sở cho thuyết dân chủ cách mạng và cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản, lật đổ ách thống trị phong kiến. Với ý nghĩa đó, nó có tính cách mạng và giá trị lịch sử to lớn. Nhưng học thuyết này vẫn có hạn chế căn bản vì vẫn giải thích nguồn gốc nhà nước trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm, coi nhà nước thành lập do ý muốn, nguyên vọng chủ quan của các bên tham gia khế ước, không giải thích được cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của nhà nước. Nhìn chung, tất cả các quan niệm trên hoặc do nhận thức còn hạn chế nên không hiểu, hoặc do bị chi phối bởi lợi ích giai cấp nên cố tình giải thích sai những nguyên tắc đích thực làm phát sinh nhà nước. Đa số họ đều xem xét sự ra đời của Nhà nước tách rời những điều kiện vật chất của xã hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế, và chứng minh rằng nhà nước là một thiết chế phải có của mọi xã hội, theo họ, nhà nước không thuộc

một giai cấp nào, nhà nước của tất cả mọi người và xã hội văn minh mãi mãi cần có nhà nước. 2. Quan điểm mácxít về nguồn gốc nhà nước Học thuyết Mác-LêNin coi nhà nước là hiện tượng xã hội có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nước là một lực lượng nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người. Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất đi. Theo học thuyết Mác-Lênin, chế độ Cộng sản nguyên thuỷ là hình thái kinh tế-xã hội xuất hiện đầu tiên trong lịch sử loài người, trong xã hội này không có giai cấp, không có Nhà nước và pháp luật, nhưng trong lòng nó chứa đựng những nhân tố làm nảy sinh ra Nhà nước và pháp luật. Cơ sở kinh tế-xã hội của chế độ công sản nguyên thuỷ là chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất ở mức độ rất sơ khai. Tương ứng với chế độ kinh tế ấy là hình thức bầy người nguyên thuỷ. Trước tiên là sự xuất hiện những nhóm nhỏ gồm những người du mục cùng nhau kiếm ăn và tự bảo vệ , do một thủ lĩnh cầm đầu , dần dần xã hội loài người tiến lên một hình thức tương đối bền vững hơn, đó là công xã thị tộc. 2.1 Xã hội nguyên thủy và tổ chức thị tộc, bộ lạc: Việc sản xuất tập thể và phân phối tập thể yêu cầu phải thiết lập một chế độ sở hữu công cộng của công xã về ruộng đất , gia súc, nhà cửa…. Thị tộc là hình thức tổ chức xã hội đầu tiên, là đặc thù của chế độ cộng sản nguyên thủy. Nó được hình thành trên cơ sở huyết thống và lao động tập thể cùng với những tài sản chung, vì vậy só sự đoàn kết chặt chẽ và kỷ luật tự giác cao.Việc quản lý công xã thị tộc do một tù trưởng đảm nhiệm, tù trưởng là người co uy tín do tất cả thành viên của thị tộc bầu lên. Lúc có sự xung đột giữa các thị tộc thì một thủ lĩnh quân sự được bầu ra đề chỉ huy việc tự vệ và bảo vệ thị tộc. Tù trưởng và thủ lĩnh quân sự hàng ngày cùng lao động như các thành viên khác trong thị tộc. Họ có thể bị thị tộc bãi miễn….Quyền lực của họ cũng có tính chất cưỡng bức nhưng hoàn toàn dựa trên uy tín và sự ủng hộ của mọi thành viên trong thị tộc. Những công việc quan trọng đều do hội đồng thị tộc quyết định, còn việc thi hành thì do tù trưởng đảm nhiệm. Chế độ thị tộc không có bộ máy cưỡng chế. Đặc điểm của hình thức tổ chức xã hội thị tộc là: - Không có quyền lực tách riêng ra khỏi xã hội mà việc quản lý phục vụ lợi ích cả cộng đồng - Không có bộ máy cưỡng chế đặc biệt được tổ chức một cách có hệ thống. Do vậy quyền lực trong xã hội thị tộc được coi là “ quyền lực xã hội”, phân biệt với quyền lực nhà nước ở các giai đoạn sau. Thị tộc tổ chức theo huyết thống ở giai đoạn đầu do những điều kiện về kinh tế và hôn nhân, đặc biệt do phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc nên nó được tổ chức theo chế độ mẫu hệ. Quá quá trình phát triển của kinh tế xã hội, của chiến tranh đã làm thay đổi quan hệ trong hôn nhân, địa vị người phụ nữ trong thị tộc cũng thay đổi. Người đàn ông đã giữ vai trò chủ đạo dần dần trong đời sống thị tộc và chế độ mẫu hệ đã chuyển dẩn sáng chế độ phụ hệ.

2

Trong quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại như liên kết chống xâm lược, trao đổi sản phẩm, các quan hệ hôn nhân ngoại tộc xuất hiện…nó đòi hỏi các thị tộc này phải mở rộng quan hệ với thị tộc khác , dẫn đến sự xuất hiện của các bào tộc và bộ lạc. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội đã làm biến đổi tổ chức thị tộc. Nghề chăn nuôi và trồng trọt không bắt buộc phải lao động tập thể, những công cụ lao động được cải tiến dần dần và những kinh nghiệm sản xuất được tích lũy tạo ra khả năng cho mỗi gia đình có thể tự chăn nuôi, trồng trọt một cách độc lập. Do đó, nhà cửa, gia súc, công cụ lao động đã trở thành vật quyền thuộc tư hữu những người đứng đầu gia đình. Trong thị tộc, xuất hiện gia đình theo chế độ gia trưởng, chính nó đã làm rạn nứt chế độ thị tộc và gia đình riêng rẽ đã trở thành lực lượng đối lập với thị tộc. Mặt khác, do năng suất lao động nâng cao, đã thúc đẩy sự phân công lao động xã hội. dần dần thay thế sự phân công lao động tự nhiên. 2.1 Sự phân hóa giai cấp trong xã hội và nhà nước xuất hiện: Ở vào thời kỳ cuối của chế độ cộng sản nguyên thủy, đã xảy ra 3 lần phần công lao động xã hội lớn . Sau mỗi lần, xã hội lại có những bước tiến mới, sâu sắt hơn, thúc đẩy nhanh quá trình tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy. - Sự phân công lao động lần thứ nhất dẫn đến kết quả là ngành chăn nuôi tách khỏi trồng trọt: do quá trình con người biết thuần dưỡng động vật đã mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển sản xuất của loài người, con người biết tích lũy tài sản dự trữ, để đảm bảo cho nhu cầu những ngày không thể ra ngoài kiếm ăn được . Đây là mầm mống sinh ra chế độ tư hữu, bởi nghề chăn nuôi phát triển mạnh làm xuất hiện ngày càng nhiều các gia đình chuyên chăn nuôi và dần dần chăn nuôi trở thành một ngành kinh tế độc lập, tách ra khỏi ngành trồng trọt. Con người đã tạo ra nhiều của cải hơn mức nhu cầu duy trì cuộc sống của chính bản thân họ, vì vậy đã xuất hiện những sản phẩm lao động dư thừa và phát sinh ra khả năng chiếm đoạt những sản phẩm dư thừa đó. Tất cả gia đình đều chăm lo cho kinh tế riêng của mình, nhu cầu về sức lao động ngày càng tăng. Do đó, tù binh chiến tranh dần dần không bị giết mà được giữ lại làm nô lệ để bóc lột sức lao động. Các tù trưởng và thủ lĩnh quân sự lợi dụng địa vị của mình chiếm đoạt nhiều gia súc, đất đai, chiến lợi phẩm và tù binh sau các cuộc chiến tranh thắng lợi. Quyền lực của thị tộc giao cho họ trước đây được đem sử dụng vào việc bảo vệ lợi ích riêng của họ. Họ bắt nô lệ và những người nghèo khổ phải phục tùng họ. Quyền lực ấy được duy trì theo kiểu cha truyền con nối. Các tổ chức thị tộc, bộ lạc dần tách ra khỏi dân cư, biến thành các cơ quan thống trị, bạo lực, phục vụ cho lợi ích của những người giàu có. Một nhóm người thân cận được hình thành bên cạnh người cầm đầu thị tộc, bộ lạc. Lúc đầu họ chỉ là vệ binh, sau đó được hưởng những đặc quyền, đặc lợi. Đây là mầm mống của đội quân thường trực sau này. Sau lần phân công xã hội đầu tiên, chế độ tư hữu đã xuất hiện, xã hội phân chiangười giàu, kẻ nghèo. Chế độ hôn nhân cũng thay đổi, từ quần hôn biến thành chế độ một vợ, một chồng. - Sự phân công lao động lần thứ hai: Ngành tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển để đảm bảo cung ứng các nhu cầu về công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt trong các gia đình, đặc biệt sau khi loài người tìm ra kim loại như đồng, sắt…đã tạo ra khả năng có thể trồng trọt diện tích rộng hơn, lớn hơn, khai hoang những miền rừng rú, nghề gốm, dệt, chế tạo các công cụ lao động khác…tạo ra nhiều sản phẩm ngày càng hoàn hảo. Từ đó xuất hiện một nhóm người chuyên làm nghề tiểu thủ công nghiệp tách ra khỏi sản xuất 3

nông nghiệp. Như vậy, kết quả phân công lần thứ hai, thủ công nghiệp đã tách ra khỏi nông nghiệp. - Sự phân công lao động lần thứ ba: Do có sự phân công lao động xã hội nên giữa các khu vực sản xuất, giữa các khu vực dân cư xuất hiện nhu cầu trao đổi sản phẩm và nền sản xuất hàng hoá ra đời. Thương nghiệp phát triển mạnh dẫn đến phân công lao động lần thứ ba. Những người buôn bán trao đổi chuyên nghiệp tách ra khỏi những hoạt động sản xuất. Đây là lần phân công lao động có ý nghĩa quan trọng: chính nó làm nảy sinh một giai cấp không tham gia vào quá trình sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, họ là những người nắm giữ quyền điều hành sản xuất , bắt những người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế, họ bóc lột cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng . Chính sự phát triển thương mại, buôn bán đã xuất hiện đồng tiền, kéo theo sự xuất hiện của nạn cho vay nặng lãi, hoạt động cầm cố tài sản và chế độ tư hữu về ruộng đất. Các yếu tố này đã thúc đây nhanh quá trình tích tụ và tập trung của cải vào tay một số người ít người giàu, đồng thời cũng thúc đẩy sự bần cùng hoá và làm tăng nhanh đám dân nghèo, từ đó sinh ra mâu thuẫn đối kháng, đấu tranh giai cấp, làm cho cuộc sống ở thị tộc bị đảo lộn. Những hoạt động buôn bán, trao đổi, chế độ nhường quyền sở hữu về đất đai , sự thay đổi chổ ở và nghề nghiệp đã phá vỡ cuộc sống định cư của thị tộc. Trong thị tộc không còn khả năng phân chia dân cư theo huyết thống. Nó đòi hỏi phải có một tổ chức để quan lý dân cư theo lãnh thổ hành chính . Việc sử dụng những tập quán và tín điều tôn giáo không thể bảo đảm cho mọi người tự giác chấp hành. Để bảo vệ quyền lợi, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản của tầng lớp những người giàu có, họ đã liên kết với nhau để thiết lập một hình thức tổ chức quản lý mới , đó là một tổ chức có đông đảo những người được vũ trang để đảm bảo sức mạnh cưỡng chế, để dập tắt sức mạnh phản kháng, tổ chức đó chính là nhà nước. Như vậy, nhà nước đã xuất hiện một cách khách quan, nó là sản phẩm của xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định. Nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, mà là một lực lượng nảy sinh bên trong lòng xã hội, nhưng lại đứng lên trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu sự xung đột và giữ sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự. Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, hình thành bộ máy cưỡng chế và tổ chức thị tộc được chuyển hoá từng bước thành tổ chức hành chính lãnh thổ. Giai cấp thống trị đã dùng quyền lực mình để đặt ra các loại thuế, bắt mọi công dân đóng để nuôi dưỡng bộ máy cai trị mà thực chất chỉ phục vụ cho giai cấp thống trị. Nhà nước ngày càng đối lập với xã hội, không được mọi công dân tự giác tuân theo mệnh lệnh mà nó phải sử dụng một thứ công cụ đặc biệt , phương pháp cưỡng chế Nhà nước và phải sử dụng một loại phương tiện mà xã hội trước đó chưa biết đến, đó là pháp luật. Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể định nghĩa nhà nước như sau: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt, nhằm thực hiện những mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội . II. BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC: 4

“Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được” (Lênin toàn tập.tập 33, NXB tiến bộ 1976 tr.9) → Bản chất của Nhà nước được thể hiện qua: Tính giai cấp và tính xã hội. 1. Tính giai cấp: Đi từ sự phân tích nguồn gốc Nhà nước, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khẳng định rằng: Nhà nước, xét về bản chất, trước hết là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác phải được thể hiện trên cả 3 mặt : kinh tế, chính trị, tư tưởng. Muốn đạt được hiệu quả thống trị, giai cấp thống trị không thể không sử dụng nhà nước như là một công cụ sắc bén nhất. - Về kinh tế: Giai cấp cầm quyền xác lập quyền lực kinh tế bằng cách qui định quyền sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội và quyền thu thuế.; + Giai cấp thống trị có ưu thế về kinh tế so với các giai cấp khác trong xã hội và các giai cấp tầng lớp khác phụ thuộc vào giai cấp thống trị về kinh tế. +Chỉ thông qua nhà nước , quyền lực kinh tế mới đủ sức mạnh để duy trì được quan hệ bót lột. Có trong tay công cụ của nhà nước, giai cấp chiếm ưu thế về kinh tế mới bảo vệ được quyền sở hữu của mình , đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị bót lột và trở thành giai cấp thống trị về chính trị. - Về chính trị: Giai cấp cầm quyền xây dựng bộ máy nhà nước và những công cụ bạo lực vật chất như: quân đội, cảnh sát, tòa án, pháp luật (quyền lực chính trị). Nắm được quyền lực chính trị, giai cấp cầm quyền tổ chức, điều hành xã hội theo một trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp mình và buộc các giai cấp khác phục tùng ý chí của giai cấp thống trị. - Về tư tưởng: giai cấp thống trị xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình và tuyên truyền tư tưởng ấy trong đời sống xã hội nhằm tạo ra sự nhận thức thống nhất trong xã hội, tạo ra sự phục tùng có tính chất tự nguyện của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội đối với giai cấp thống trị. 2. Tính xã hội: Bên cạnh việc thực hiện các chức năng bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Nhà nước còn phải giải quyết những công việc vì lợi ích chung của xã hội như: tổ chức sản xuất; xây dựng các công trình phúc lợi, trường học, đường xá, hệ thống thủy lợi; chống ô nhiễm, dịch bệnh; bảo vệ trật tự công cộng. Như vậy, Nhà nước là bộ máy để bảo vệ sự thống trị giai cấp, đồng thời duy trì trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. III. ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC: Học thuyết Mác-Lênin về nhà nước đã chỉ ra rằng, Nhà nước có 5 đặc trưng cơ bản sau : 1. Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt quyền lực này không còn hoà nhập với dân cư như trong chế độ thị tộc nữa.. Để thực hiện quyền lực này, nhà nước xây dựng một hệ thống cơ quan hành chính, thiết lập toà án, quân đội, cảnh sát, những phương tiên quản lý, những phương tiện cưỡng chế … nhằm áp bức bằng bạo lực và buộc các giai cấp khác phải tuân thủ, phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị., đảm bảo phục vụ cho lợi ích giai cấp thống trị trong xã hội. 5

2. Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Việc phân chia này dẫn đến việc hình thành các cơ quan quản lý trong bộ máy nhà nước. Lãnh thổ là dấu hiệu đặc trưng của nhà nước, bởi lẽ không có một quốc gia nào mà không có lãnh thổ. Nhà nước thực thi quyền lực chính trị của mình trên toàn vẹn lãnh thổ. Một nhà nước có lãnh thổ riêng và trên lãnh thổ ấy phân chia thành các đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã….và do có dấu hiệu lãnh thổ mà xuất hiện chế định quốc tịch- chế định quy định sự lệ thuộc của công dân vào 1 nhà nước và 1 lãnh thổ nhất định; thông quá đó nhà nước thiết lập quan hệ với công dân của mình. 3. Nhà nước có chủ quyền quốc gia. Nhà nước là một tổ chức quyền lực có chủ quyền, thể hiện trong đối nội và đối ngoại. - Trong đối nội, Nhà nước có quyền lực tối cao đối với mọi con người, mọi tổ chức trong lãnh thổ quốc gia, không chịu ảnh hưởng và không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một quốc gia nào khác. - Trong đối ngoại, Nhà nước có sự độc lập hoàn toàn trong chính sách và các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá ….với nước ngoài. Nhà nước có quyền tự do và độc lập quyết định các công việc của mình, tôn trọng chủ quyền của các nhà nước khác, tôn trọng các quy phạm của luật quốc tế. Chủ quyền là thuộc tính vốn có của nhà nước. Trong xã hội có giai cấp, không có một tổ chức hoặc cá nhân nào có chủ quyền như nhà nước. 4. Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân: Để giữ gìn trật tự và đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước phải trực tiếp xây dựng các quy phạm để điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng, buộc các chủ thể khi tham gia quan hệ đó phải xử sự đúng ý chí của nhà nước. Nhà nước đảm bảo thực hiện các quy phạm pháp luật đó bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Pháp luật trở thành một công cụ sắc bén không thể thiếu được trong tay nhà nước để quản lý xã hội.. Nhà nước và pháp luật có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau: không thể có nhà nước mà thiếu pháp luật và ngược lại. Chỉ có Nhà nước mới có quyền ban hành pháp luật và cũng chính nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống. 5. Nhà nước có quyền quy định và thực hiện việc thu các loại thuế: Để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, đảm bảo cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội , giải quyết công việc chung của xã hội, mọi nhà nước phải quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước. Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các công dân và các tổ chức kinh tế trên lãnh thổ quốc gia vào ngân sách nhà nước, đây là nguồn thu nhập chủ yếu của nhà nước. IV. CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC: 1. Khái niệm chức năng nhà nước Chức năng của Nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước. Như vậy, chức năng của Nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của Nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định. Chẳng hạn: các kiểu nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu và bóc lột lao động cho nên 6

chúng có những chức năng cơ bản như bảo vệ chế độ tư hữu và bóc lột lao động, cho nên chúng có những chức năng cơ bản như bảo vệ chế độ tư hữu, đàn áp sự phản kháng của người lao động, tiến hành chiến tranh xâm lược để gây thanh thế…Còn Nhà nước xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu công cộng và bảo vệ lợi ích đông đảo của nhân dân lao động, vì vậy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa khác hẳn về bản chất và phương pháp tổ chức thực hiện so với các nhà nước bóc lột. Căn cứ vàp phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng được phân biệt thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại . 2. Chức năng đối nội: Tập trung chủ yếu vào việc thực hiện quyền lực chính trị trong nước, giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Nội dung chủ yếu là trấn áp giai cấp đối kháng, tổ chức và duy trì trật tự trong nội bộ đất nước, quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 3. Chức năng đối ngoại : Nội dung chủ yếu của chức năng đối ngoại là bảo vệ đất nước trước khả năng tấn công xâm lược của kẻ thù bên ngoài, thực hiện sự hợp tác với các quốc gia khác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quốc phòng. Các chức năng của Nhà nước đều có mối liên hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, luôn luôn thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau, đối nội yếu thì không thể đối ngoại mạnh được và ngược lại. V. KIỂU NHÀ NƯỚC VÀ HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC : 1. Kiểu nhà nước: Kiểu Nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội và những điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Dựa vào học thuyết Mác Lênin về hình thái kinh tế xã hội, trong xã hội có giai cấp đã tồn tại 4 hình thái KTXH và tương ứng với nó là 4 kiểu Nhà nước: - Hình thái KTXH chiếm hữu nô lệ, có kiểu nhà nước chủ nô - Hình thái KTXH phong kiến , có kiểu nhà nước phong kiến - Hình thái KTXH tư bản chủ nghĩa, có kiểu nhà nước tư sản - Hình thái KTXH xã hội chủ nghĩa, có kiểu nhà nước XHCN 2. Hình thức nhà nước: 2.1 Khái niệm hình thức nhà nước: Hình thức Nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực của Nhà nước trong việc quản lý xã hội.. Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố cụ thể như : hình thức chính thể, hình thức cấu trúcthứcnước và chế độ chính trị Hình nhà nhà nước . Hình thức chính thể 7 Hình thức cấu trúc nhà nước Chế độ chính trị

2.2. Các yếu tố trong khái niệm hình thức nhà nước: 2.2.1. Hình thức chính thể: Là cách thức tổ chức và trình tự lập ra các cơ quan tối cao của nhà nước.và xác lập những mối quan hệ của các cơ quan đó. Trong lịch sử phát triển của xã hội, đã xuất hiện hai hình thức chính thể cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. 2.2.1.1. Chính thể quân chủ là hình thức chính thể mà trong đó quyền lực tối cao của Nhà nước tập trung trong tay một người theo nguyên tắc thừa kế kiểu cha truyền con nối. Các hình thức chính thể quân chủ là: - Chính thể quân chủ tuyệt đối là hình thức chính thể mà trong đó toàn bộ quyền lực trong tay nhà vua, không có hiến pháp. Các Nhà nước phong kiến đều có hình thức chính thể này. - Chính thể quân chủ hạn chế là hình thức chính thể mà trong đó vẫn tồn tại ngôi vua, nhưng đồng thời có hiến pháp do nghị viện lập ra nhằm hạn chế quyền lực nhà vua. Tuỳ theo mức độ hạn chế quyền lực của nhà vua và sự phân quyền cho nghị viện mà có thể chia chính thể này ra làm hai loại: chính thể quân chủ nhị quyên và chính thể quân chủ đại nghị. + Chính thể quân chủ nhị nguyên: Trong đó có sự phân chia quyền lực, Nghị viện nắm quyền lập pháp, nhà vua nắm quyền hành pháp (Nhật, Đức…vào cuối thế kỷ XIX), hiện nay chính thể này không còn tồn tại + Chính thể quân chủ đại nghị là chính thể mà trong đó quyền lực nhà vua thực tế không tác động tới hoạt động lập pháp và rất hạn chế trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp. Chính thể này tồn tại ở một số nước như Anh, Bỉ, Hà Lan, Thụy Điển, Nhật… 2.2.1.2. Chính thể cộng hoà: Là hình thức chính thể mà trong đó quyền lực tối cao của Nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định, hoạt động mang tính tập thể. Chính thể cộng hoà cũng có hai hình thức chính thể đó là cộng hoà dân chủ và cộng hoà quý tộc. - Trong chính thể cộng hoà dân chủ, pháp luật quy định cho các tầng lớp nhân dân lao động được tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện của nhà nước như Quốc hội hoặc nghị viện. - Trong chính thể cộng hoà quý tộc, pháp luật chỉ ghi nhận quyền bầu cử ra các cơ quan tối cao của nhà nước là của riêng tầng lớp quý tộc giàu có, đông đảo nhân dân lao động không được quyền tham gia các sinh hoạt chính trị.( tồn tại chủ yếu trong nhà nước chủ nô và phong kiến) 2.2.2. Hình thức cấu trúc nhà nước :

8

Hình thức cấu trúc nhà nước là sự cấu tạo nhà nước thành nhiều đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập các mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương. Trên thế giới có 2 hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu, đó là nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang. 2.2.2.1 Nhà nước đơn nhất: Là nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý thống nhất từ trung ương xuống địa phương Trong nhà nước đơn nhất có 1 hiến pháp và một hệ thống pháp luật thống nhất, các cơ quan quản lý của các đơn vị hành chính lãnh thổ hoạt động theo một hệ thống pháp luật chung của nhà nước, chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực và cơ quan quản lý Nhà nước ở TW, công dân có 1 quốc tịch. 2.2.2.2. Nhà nước liên bang : Là Nhà nước có 2 hay nhiều thành viên hợp lại với nhau. - Trong nhà nước liên bang có 2 hệ thống cơ quan quyền lực và hai cơ quan quản lý nhà nước, một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống riêng cho mỗi nước thành viên. - Có chủ quyền quốc gia chung của liên bang đồng thời mỗi nước thành viên có chủ quyền riêng. - Cùng tồn tại với hiến pháp và hệ thống pháp luật chung của nhà nước liên bang còn có hiến pháp và hệ thống pháp luật riêng của mỗi nước thành viên, trong đó hiến pháp và pháp luật và hệ thống pháp luật của nhà nước liên bang có tính nguyên tắc và có hiệu lực tối cao. Nhà nước Mỹ, Liên bang Nga,…. Úc…là các nhà nước liên bang đang tồn tại. 2.2.3. Chế độ chính trị : Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, phương tiện và thủ đoạn mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. * Phân loại chế độ chính trị: - Chế độ chính trị dân chủ: (phương pháp dân chủ): Nhà nước qui định về mặt pháp lý các quyền dân chủ cho công dân và tạo điều kiện để công dân có thể thực hiện những quyền đó. Ví dụ: Quyền bầu cử, ứng cử…; Quyền khiếu nại, tố cáo… - Chế độ chính trị phi dân chủ: nhà nước không qui định hoặc qui định hạn chế quyền dân chủ của công dân. Đặc biệt khi những phương pháp này phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những phương pháp tàn bạo, quân phiệt và phát xít. Ví dụ: Chế độ diệt chủng ở Campuchia Hình thức nhà nước luôn có quan hệ mật thiết với chế độ chính trị. Hai yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau tạo thành khái niệm hình thức nhà nước. Câu hỏi ôn tập: 1. Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của nhà nước theo quan điểm của CN Mác-Lênin. 2. Trình bày sự khác nhau giữa Nhà nước và tổ chức Thị tộc bộ lạc. 9

3. Phân tích khái niệm bản chất của Nhà nước. 4. So sánh Nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong xã hội có giai cấp. 5. So sánh hình thức chính thể quân chủ và hình thức chính thể Cộng hoà. 6. So sánh hình thức nhà nước đơn nhất và hình thức nhà nước liên bang.

Bài 2.

NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I. . BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN: 1. Bản chất của nhà nước CHXHCNVN: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kiển nhà nước XHCN Nhà nước CHXHCN Việt Nam nằm trong tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đó là kiểu nhà nước có bản chất hoàn toàn khác với kiểu nhà nước bóc lột và là kiểu nhà nước cao nhất trong lịch sử, là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và vì nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”(Điều 2, Hiến pháp 1992) Nhà nước bảo đảm cho nhân dân thực sự tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội, đảm bảo quyền ứng cử cũng như quyền bầu cử của nhân dân, thực sự có quyền lựa chọn những người đại biểu xứng đáng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước 2. Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước CHXHCNVN: - Nhà nước CHXHCNVN là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt nam. + Hiến pháp và các đạo luật đều ghi nhận Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm các hành vi chia rẽ dân tộc. + Tất cả các dân tộc đều có quyền dùng tiếng nói, chữ viết , những phong tuc tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Có quyền tham gia các hoạt động xã hội, chính trị , kinh tế, .... - Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở liên minh xã hội rộng lớn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Nhà nước Cộng hoà XHCNVN là Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại, hoà bình, hợp tác và hữu nghị. 3. Chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: 3.1. Chức năng đối nội: - Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, nhằm thực hiện mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh - Chức năng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự phản kháng của giai cấp thống trị bị lật đổ và những âm mưu phản cách mạng khác. 10

- Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công nhân và các tổ chức. 3.2. Chức năng đối ngoại: - Chức năng bảo vệ tổ quốc, giữ vững ổn định và xây dựng đất nước - Chức năng mở rộng và tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các quốc gia theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau 4. Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 4. 1. Khái niệm: Bộ máy nhà nước XHXN là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống cơ sở được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước XHCN * Đặc điểm của bộ máy nhà nước CHXHCNVN: - Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân lao động. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra. - Bộ máy nhà nước ta vừa là tổ chức hành chính cưỡng chế vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội. - Đội ngũ công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước ta đại diện và bảo vệ lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chịu sự giám sát của nhân dân. - Bộ máy nhà nước gồm nhiều cơ quan có mối liên kết chặt chẽ với nhau, thống nhất về quyền lực nhà nước. Có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. 4.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta: 4.2.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: - Đảng đề ra đường lối chính trị, những chủ trương và định hướng lớn về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. - Đảng giới thiệu cán bộ ưu tú để nhà nước lựa chọn giữ những cương vị trong bộ máy nhà nước. - Đảng lãnh đạo bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi Đảng viên. 4.2.2. Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý nhà nước : - Nhân dân tham gia bầu cử và ứng cử vào các cơ quan đại diện. - Nhân dân tham gia thảo luận đóng góp ý kiến vào các dự án luật. - Giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và nhân viên cơ quan nhà nước. 4.2.3.Nguyên tắc tập trung dân chủ: - Cơ quan cấp dưới phục tùng cơ quan cấp trên. - Cơ quan địa phương phục tùng cơ quan trung ương - Cơ quan quản lý nhà nước phục tùng cơ quan quyền lực nhà nước. - Nhân viên phục tùng thủ trưởng. Nhưng đồng thời phải phát huy vai trò sáng tạo, dân chủ bàn bạc của các chủ thể chấp hành trước khi quyết định. 4.2.4. Nguyên tắc pháp chế XHCN : - Các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước đều phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật khi thi hành nhiệm vụ. 11

- Nhà nước phải ban hành pháp luật đồng bộ, kịp thời, phù hợp với thực tiễn. - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật 4.3.Các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước ta:

Quốc hội
UBTVQH Chủ tịch nước

Thủ tướng Chính phủ

Chánh án TANDTC

Viện trưởng VKSNDTC

UBND Cấp tỉnh UBND Cấp huyện ện UBND Cấp xã

HĐND Cấp tỉnh

TAND Cấp tỉnh

VKSND Cấp tỉnh VKSND Cấp huyện huyệnDCấp huyện

HĐND Cấp huyện

TAND Cấp huyện

HĐND Cấp xã

4.3.1. Cơ quan quyền lực: Ở nước ta, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân lao động. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp bầu ra mà tập trung nhất là thông qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội và HĐND các cấp. Các cơ quan quyền lực nhà nước gồm Quốc hội và HĐND các cấp. 4.3.1.1.Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nắm trong tay các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng là cơ quan trực tiếp và duy nhất thực hiện quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những chính sách và vấn đề quan trọng của đất nước, thực hiện quyền giám sát tối cao việc thi hành hiến pháp và pháp luật trong cả nước, đồng thời quốc hội phân công cho các cơ quan nhà nước khác thực hiện quyền hành pháp và tư pháp. 12

- Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm có: Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội dồng dân tộc; Các ủy ban khác của quốc hội như: Ủy ban pháp luật, Ủy ban kinh tế và ngân sách, ủy ban quốc phòng và an ninh, ủy ban văn hóa, giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng, ủy ban các vấn đề xã hội, ủy ban khoa học công nghệ và môi trường, ủy ban đối ngoại; 4.3.1.2. Cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương: Hội đồng nhân dân các cấp. HĐND các cấp được thành lập theo đơn vị hành chính lãnh thổ, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. - Cơ cấu của HĐND gồm: Thường trực HĐND (chỉ thành lập ở tỉnh và huyện), do HĐND bầu ra. Cấp xã chỉ có Chủ tịch và PCT HĐND. + Ở cấp tỉnh có Ban Kinh tế và ngân sách; Ban văn hóa-xã hội; Ban pháp chế và ban Dân tộc (đối với nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc + Ở cấp Huyện có hai ban là Ban văn hóa-xã hội và Ban pháp chế 3.3.2. Chủ tịch nước: Chủ tịch nước không phải là một hệ thống cơ quan mà chỉ là 1 chế định quy định trong Hiến pháp. Chủ tịch nước do quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, theo nhiệm kỳ của quốc hội. CT nước là người đứng đầu cho nhà nước, thay mặt nhà nước trong các công việc về đối nội, đối ngoại. Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội. 4.3.3 hệ thống cơ quan quản lý nhà nước (hay còn gọi là hệ thống cơ quan chấp hành điều hành, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước). Hệ thống cơ quan này bao gồm: Chính phủ, các Bộ, các Cơ quan thuộc chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấp và các sở, phòng, ban thuộc ủy ban. Đây là những cơ quan quản lý mọi mặt hoạt động của cả nước. Chính phủ và UBND các cấp do Quốc hội và UBND các cấp lập ra, chịu trách nhiệm và báo cáo trước cơ quan đó và có thể bị bãi miễn. - Chính phủ: Chính phủ có nhiệm vụ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ TW đến cơ sở.(Đ.109/HP92) - UBND các cấp: UBND các cấp do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND. 4.3.4.Hệ thống cơ quan xét xử : hệ thống cơ quan xét xử gồm: - Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương (cấp tỉnh, huyệncác toà được lập ra để xét xử và giải quyết các vụ việc hình sự, dân sự, lao động, hành chính, hôn nhân gia đình, thương mại….. Chánh án toà án nhân dân báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. - Toà án quân sự : Tòa án quân sự TW, các tòa án quân sự quân khu và tương đương, tòa án quân sự khu vực . Các Tòa án quân sự được tổ chức trong quân đội để xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công nhân quốc phòng và những vụ án khác do pháp luật quy định. 4.3.5. hệ thống cơ quan kiểm sát: - Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, huyện, các viện kiểm sát quân sự. Nhiệm vụ: kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, cơ quan 13

ngang Bộ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân; thực hành quyền công tố trong phạm vi thẩm quyền do luật định. Câu hỏi ôn tập 1. Phân tích bản chất, đặc trưng của nhà nước CHXHCN Việt Nam. 2. Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước; vị trí, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước; phân loại cơ quan nhà nước ở nước ta?
Bài 3

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
I. NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA PHÁP LUẬT: 1. Nguồn gốc của pháp luật: Trong Xã hội Công sản nguyên thủy chưa có Nhà nước và vì vậy cũng chưa có pháp luật, Chỉ có những quy tắc xử sự chung. Quy tắc xử sự chung đó là những quy phạm xã hội bao gồm tập quán pháp và tín điều tôn giáo . Các quy phạm xã hội hội này có những đặc điểm cơ bản là: - thể hiện ý chí phù hợp với lợi ích toàn thị tộc - điều chỉnh cách xử sự của những con người liên kết với nhau theo tinh thần hợp tác cộng đồng - được thực hiện một cách tự nguyện và theo thói quen của mỗi thành viên trong thị tộc, bộ lạc Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia giai cấp thì các tập quán thể hiện ý chí chung của mọi người không còn phù hợp nữa . Các tầng lớp giàu có đã tìm cách giữ lại những tập quán có lợi, vận dụng và biến đổi nội dung các tập quán sao cho chúng phù hợp ý chí giai cấp thống trị và bằng sự thừa nhận của Nhà nước, các tập quán đã trở thành những quy tắc xử sự chung, đó là quy phạm pháp luật.. Mặt khác, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động và người lao động ngày càng tăng đã xuất hiện nhiều mối quan hệ phát sinh trong xã hội, đòi hỏi nhà nước phải có những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh Vì vậy hoạt động xây dựng pháp luật tiến hành vào thời kỳ sớm nhất khi nhà nước ra đời. Pháp luật ra đời cùng với Nhà nước là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực Nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị . Nhà nước ban hành pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện Khái niệm: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước. 2. Bản chất của pháp luật: 2.1. Tính giai cấp: Chủ thể ban hành: pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành với những hình thức nhất định. 14

Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội. Nội dung của pháp luật được quyết định trước hết bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị. Mục đích: pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội đó phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị.. VD: quyền vô hạn của chủ nô, tình trạng vô quyền của nô lệ. 2.2. Tính xã hội: Cùng với việc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội. Pháp luật là phương tiện để con người xác lập quan hệ với nhau, nhờ đó xã hội có sự ổn định và trật tự. II. CÁC THUỘC TÍNH CỦA PHÁP LUẬT : Là những tính chất, dấu hiệu, đặc trưng của pháp luật. Pháp luật có những thuộc tính sau: 1. Tính quy phạm phổ biến: chứa đựng những nguyên tắc, khuôn mẫu, mô hình xử sự chung, phù hợp với đa số. Pháp luật đưa ra những giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để các chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép. + Pháp luật có thể điều chỉnh một phạm vi quan hệ xã hội bất kỳ + Được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian . Việc áp dụng các quy phạm này chỉ bị đình chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền huỷ bỏ sửa đổi, bổ sung hoặc thời hạn đã hết. 2. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Nội dung của pháp luật được thể hiện trong những hình thức nhất định như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản pháp luật. Văn bản QPPL được xác định chặt chẽ về thủ tục, thẩm quyền ban hành. Ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, chính xác nhằm đảm bảo nguyên tắc: “Bất cứ ai khi ở vào điều kiện hoàn cảnh đã được dự kiến trước cũng không thể làm khác được”. 3. Tính được đảm bảo bởi nhà nước (tính cưỡng chế): + khả năng tổ chức thực hiện pháp luật của nhà nước. + Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận (sự bảo đảm về nội dung của pháp luật). + Nhà nước đảm bảo cho pháp luật được thực hiện bằng các biện pháp: giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế III. CÁC MỐI LIÊN HỆ CỦA PHÁP LUẬT: 1. Pháp luật với kinh tế: Đây là mối quan hệ giữa một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng và một yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng. Pháp luật là yếu tố của kiến trúc thượng tầng. pháp luật sinh ra trên cơ sở hạ tầng và được quy định bởi cơ sở hạ tầng. Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh tế thể hiện ở những mặt sau: - Cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế quyết định cơ cấu, hệ thống pháp luật - Tính chất, nội dung của quan hệ kinh tế quyết định tính chất, nội dung của quan hệ pháp luật, mức độ, phương pháp điều chỉnh của pháp luật (trong cơ chế tập trung quan 15

liêu bao cấp là phương pháp điều chỉnh bằng mệnh lệnh, trong cơ chế kinh tế thị trường là thoả thuận , bình đẳng, cùng có lợi). - Các tổ chức và thiết chế pháp lý (các cơ quan luật pháp, thủ tục pháp luật) chịu ảnh hưởng từ phía chế độ kinh tế. Pháp luật tác động trở lại đối với kinh tế theo 2 chiều hướng: - Pháp luật tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, đến cách tổ chức và vận hành của toàn bộ nền kinh tế nếu nó xây dựng phù hợp với quy luật kinh tế. - Pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nếu nó không phù hợp với quy luật phát triển kinh tế. 2. Pháp luật với chính trị : Đây là mối liên hệ của 2 yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, mối liên hệ giữa chúng là mối liên hệ tác động qua lại - Sự tác động của pháp luật đối với chính trị: pháp luật vừa là biện pháp, phương tiện để thực hiện chính trị của giai cấp cầm quyền , vừa là hình thức biểu hiện của chính trị, ghi nhận nội dung, yêu cầu của giai cấp cầm quyền. Pháp luật làm cho chủ trương, chính sách của đảng cầm quyền, của giai cấp thống trị được toàn xã hội thực hiện - Sự tác động của chính trị đối với pháp luật: Đường lối chính sách của giai cấp thống trị luôn chỉ đạo nội dung của pháp luật. 3. Pháp luật và nhà nước: Nhà nước và pháp luật là hai yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng.có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chúng cùng phát sinh, tồn tại và tiêu vong. - Pháp luật do nhà nước ban hành, là công cụ để nhà nước quản lý xã hội và thực hiện quyền lực nhà nước. Nhà nước không thể tồn tại thiếu pháp luật. - Pháp luật chỉ tồn tại và có hiệu lực khi được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước. - Nhà nước là chủ thể ban hành pháp luật nhưng nhà nước cũng phải thực hiện quyền lực của mình trong khuôn khổ của pháp luật. 4. Pháp luật với các quy phạm xã hội khác: - Pháp luật luôn phản ánh đạo đức (quan niệm) của giai cấp thống trị. - Pháp luật đồng thời phản ánh quan niệm đạo đức của giai cấp, tầng lớp khác. - Pháp luật củng cố và bảo vệ các quan niệm đạo đức phổ biến của xã hội. IV. CHỨC NĂNG, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT: 1. Chức năng của pháp luật: - Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội - Chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội - Chức năng giáo dục 2. Vai trò của pháp luật: - Pháp luật là phương tiện chủ yếu để nhà nước quản lý mọi mặt trong đời sống xã hội - Pháp luật là phương tiện bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân - Pháp luật là cơ sở hoàn thiện bộ máy nhà nước và tăng cường quyền lực nhà nước - Pháp luật góp phần tạo dựng và ổn định những quan hệ mới 16

- Pháp luật là cơ sở tạo lập các mối quan hệ đối ngoại V. KIỂU PHÁP LUẬT VÀ HÌNH THỨC PHÁP LUẬT: 1. Kiểu pháp luật: 1.1. Khái niệm: Là tổng thể những dấu hiệu , đặc trưng cơ bản của pháp luật, thể hiện bản chất và những điều kiện tồn tại và phát triển của pháp luật tương ứng với 1 hình thái kinh tế-xã hội nhất định. 1.2 Các kiểu pháp luật đã từng tồn tại trong lịch sử: - Kiểu pháp luật chủ nô: Thể hiện sự bóc lột và đàn áp dã man của chủ nô đối với nô lệ- lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội. - Kiểu pháp luật Phong kiến : Là ý chí của tầng lớp địa chủ được nâng lên thành luật . Vì vậy nó công khai bảo vệ chế độ tư hữu của giai cấp phong kiến đối với đất đai và bóc lột địa tô, bảo vệ ách thống trị về chính trị và tư tưởng của giai cấp phong kiến. pháp luật phong kiến quy định về những hình phạt dã man, tàn bạo, nhục mạ con người. - Kiểu pháp luật tư sản: Là công cụ bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất , pháp luật tư sản không quy định công khái về hình thức bóc lột như pháp luật chủ nô và pháp luật phong kiến mà được thể hiện dưới hình thức tinh vi hơn. PL tư sản quy định về tự do, dân chủ của công dân , nhưng thực tế vẫn còn sự phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc, màu da… Pháp luật tư sản thể hiện đầy đủ tính đồng bộ, có kỹ thuật lập pháp cao và đã thể hie65nt ính pháp chế. - Kiểu pháp luật XHCN: Thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là lực lượng chiếm đa số trong đời sống xã hội . Những quy định của pháp luật XHCN nhằm hạn chế sự bóc lột, xóa bỏ chế độ sở hữu tư hữu về tư liệu sản xuất, xóa bỏ giai cấp. Pháp luật đã quy định và bảo đảm trên thực tế quyền tự do dân chủ nhân dân, vì vậy pháp luật XHCN được mọi người tôn trọng và tự giác thực hiện. 2. Hình thức pháp luật: 2.1. Khái niệm: Là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình lên thành pháp luật . 2.2 Các hình thức pháp luật: 2.2.1. Tập quán pháp: Là hình thức xuất hiện sớm nhất và được sử dụng nhiều trong nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến. Cơ sở để hình thành pháp luật chính là những tập quán đã được lưu truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị , được thừa nhận, phê chuẩn và nâng chúng thành pháp luật. Nhìn chung các tập quán đươc hình thành một cách tự phát , chậm thay đổi và thường có tính cục bộ, tuy nhiên cũng có những tập quán tiến bộ thể hiện truyền thống và đạo đức dân tộc. Có tác dụng tốt trong việc hình thành tính cách con người mới XHCN và làm phong phú đời sống văn hoá nhând ân. 2.2.2. Tiền lệ pháp 17

Là hình thức Nhà nước thừa nhận các quyết định cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử cấp trên khi giải quyết các vụ việc cụ thể , làm cơ sở để áp dụng đối với các trường hợp tương tự. Hình thức này xuất phát từ hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên nó dễ tạo ra sự tuỳ tiện , không phù hợp với những nguyên tắc của pháp chế XHCN 2.2.3. Văn bản pháp luật : Là hình thức pháp luật tiến bộ nhất , là hình thức cơ bản của pháp luật XHCN. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục và trình tự do luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. * Đặc điểm: - Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. - Có chứa đựng những quy tắc xử sự chung (các quy phạm pháp luật) - Được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống , trong mọi trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra . - Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành văn bản được quy định cụ thể trong pháp luật. Câu hỏi ôn tập 1. Phân tích tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật. 2. Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và kinh tế . Chứng minh thực tiễn vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và kinh tế của Đảng và Nhà nước ta 3. So sánh các thuộc tính của pháp luật với các qui phạm xã hội khác như đạo đức, tập quán…
Bài 4.

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
I. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 1. Khái niệm hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được quy định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo những trình tự và thủ tục nhất định 2. Hệ thống cấu trúc bên trong của pháp luật: 2.1. Quy phạm pháp luật:

Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo vệ, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo những định hướng nhằm đạt được những mục đích nhất định.
Quy phạm pháp luật là tế bào của hệ thống pháp luật Ví dụ: Khoản 1 Điều 102 – Bộ luật hình sự: “Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến 18

hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Xét về kỹ thuật lập pháp, nội dung của quy phạm pháp luật được thể hiện trong 3 bộ phận: giả định, quy định và chế tài.

2.1.1. Giả định: Giả định là bộ phận của quy phạm pháp luật, thường nêu lên những tình tiết, hoàn cảnh hay điều kiện được dự kiến xảy ra trong đời sống và những tổ chức, cá nhân nào ở trong những điều kiện, hoàn cảnh đó thì sẽ phải chịu sự tác động của quy phạmpháp luật đó. Bộ phận giả định thường nói về địa điểm, thời gian, các chủ thể, hoàn cảnh thực tế mà trong đó mệnh lệnh của quy phạm được thực hiện, tức là xác định môi trường của sự tác động của quy phạm pháp luật.
Ví dụ: Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ 2.1.2. Quy định: Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật, trong đó nêu quy tắc xử sự buộc mọi chủ thể phải xử sự theo khi ở hoàn cảnh đã nêu trong phần giả định của quy phạm . Ví dụ : - Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định pháp luật - Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp (Điều 165/Luật TTDS) 2.1.3. Chế tài là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật. Ví dụ: Khoản 1 Điều 98 – Bộ luật hình sự: “Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Theo các ngành luật thì chế tài có thể chia thành: chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài kỷ luật, chế tài dân sự. - Chế tài hành chính: áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm luật hành chính, có hành vi thực hiện một cách vô ý hoặc cố ý xâm phạm các quy tắc quản lý hành chính của nhà nước. Chế tài hành chính bao gồm các các biện pháp phạt hành chính, hình thức phạt bổ sung, phạt tiền. - Chế tài hình sự: áp dụng đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm.. Chế tài hình sự còn được coi là hình phạt. Chỉ có toà án mới có thẩm quyền áp dụng chế tài hình sự. - Chế tài dân sự : là các biện pháp tác động đến tài sản, nhân thân của một bên đã gây ra thiệt hại cho một bên khác, ví dụ như bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản bị xâm phạm….. - Chế tài kỷ luật: là loại chế tài mà người sử dụng lao động áp dụng đối với người sử dụng lao động mà họ thuê mướn, sử dụng theo hợp đồng lao động khi người lao động vi phạm kỷ luật lao động, nội quy lao động. Các chế tài kỷ luật quy định trong bộ luật lao động hay trong pháp lệnh cán bộ, công chức…. Lưu ý: 19

- Một điều luật tương ứng với 1 quy phạm pháp luật, nhưng 1 điều luật có thể có nhiều quy phạm pháp luật, - Không nhất thiết trong 1 quy phạm pháp luật phải có đủ 3 bộ phận: giả định, quy định, chế tài. - Trật tự giả định, quy định, chế tài có thể bị đảo lộn 2.2. Chế định pháp luật : (nhóm quy phạm pháp luật) Là một tập hợp gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất và liên hệ mật thiết với nhau. Ví dụ: Chế định kết hôn, Chế định ly hôn trong ngành luật Hôn nhân gia đình. 2.3. Ngành luật : là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội. - Căn cứ để phân biệt sự khác nhau giữa các ngành luật là: Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. + Đối tượng điều chỉnh của ngành luật là những quan hệ xã hội có đặc điểm cùng loại cần điều chỉnh. Ví dụ: Quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ, con cái… là những quan hệ cùng loại (tình cảm gia đình), là đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hôn nhân gia đình. + Phương pháp điều chỉnh của ngành luật là cách thức tác động vào các quan hệ xã hội đó. Ví dụ: Phương pháp quyền uy, phục tùng trong ngành luật Hành chính. Phương pháp thỏa thuận, tự định đoạt trong ngành luật Dân sự. II. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT: 1. Khái niệm, đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. * Đặc điểm: - Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành.Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành văn bản được quy định cụ thể trong pháp luật. - Có chứa đựng những quy tắc xử sự chung (các quy phạm pháp luật) - Được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống , trong mọi trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra . - Được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế. 2. Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam: 2.1. Văn bản Luật : Do Quốc hội, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước ban hành. Gồm có: - Hiến pháp: Là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật. Hiến pháp do quốc hội ban hành hoặc sửa đổi với ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu tán thành. - Luật (Bộ luật) là các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp. Các Bộ luật, luật khi ban hành không được trái với Hiến pháp. - Nghị quyết. 2.2.Văn bản dưới luật : 20

Do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định ban hành, có giá trị pháp lý thấp hơn văn bản luật và khi ban hành không được trái với văn bản luật. Bao gồm: - Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. - Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. - Nghị định của Chính phủ. -. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. -. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao. - Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. -. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. -. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước. -. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội. -. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. -. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp: + Nghị quyết của HĐND các cấp + Quyết định, ChỈ thị của UBND các cấp 3. Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật : Hiệu lực của văn bản QPPL được hiểu là phạm vi không gian, thời gian và đối tượng mà văn bản QPPL tác động tới. Nó được thể hiện trên ba mặt : theo thời gian, theo không gian và theo đối tượng tác động. 3.1. Hiệu lực theo thời gian : Được xác định từ thời điểm phát sinh cho đến khi chấm dứt sự tác động của văn bản đó. 3.1.1. Thời điểm phát sinh hiệu lực văn bản: có 3 phương thức xác định: - Văn bản QPPL bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm thông qua hoặc công bố nó. - Thời điểm có hiệu lực được xác định sau khoảng 1 thời gian nhất định kể từ khi công bố văn bản trên công báo (thường là sau 15 ngày) - Văn bản QPPL bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm được chỉ ra trong bản thân VB 3.1.2. Thời gian chấm dứt hiệu lực văn bản: được xác định theo 2 cách: - Nếu văn bản ghi rõ thời hạn hiệu lực , thì đến thời điểm đã được xác định đó , văn bản sẽ chấm dứt hiệu lực của mình. - Đối với văn bản không có điều khoản xác định rõ điều đó thì nó chỉ chấm dứt hiệu lực toàn bộ hay một phần khi có một văn bản mới thay thế nó, hoặc có một số quy phạm mới được ban hành để thay thế một số quy phạm của nó. 3.2. Hiệu lực theo không gian: Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn phạm vi tác động của văn bản về mặt không gian , được xác định, giới hạn theo lãnh thổ quốc gia, một vùng, một địa phương nhất định. Văn bản có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ rộng hay hẹp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thẩm quyền cơ quan ban hành ra nó, tính chất, mục đích và nội dung được thể hiện cụ thể trong văn bản đó. 21

- Phần lớn các văn bản do Quốc hội, UBTV Quốc hội , Chính phủ ban hành đều có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc trừ một số văn bản cụ thể cần xem xét nội dung để xác định hiệu lực của chúng. - Các văn bản do Hội đồng nhân dân các cấp ban hành chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền của cơ quan đó. 3.3. Hiệu lực theo đối tượng tác động: Đối tượng tác động của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các cá nhân, các tổ chức và những mối quan hệ mà văn bản đó cần phát huy hiệu lực. Nội dung văn bản chỉ rõ con người nào, đối tượng nào tác động . Ví dụ : Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, Luật Thanh niên… Câu hỏi ôn tập 1. Khái niệm, đặc điểm và cơ cấu của quy phạm pháp luật? 2. Phân biệt sự khác nhau giữa quy phạm pháp luật, chế định luật và ngành luật. 3. Phân biệt sự khác nhau giữa hệ thống ngành luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. 4. Phân biệt sự khác nhau giữa văn bản luật và văn bản dưới luật. 5. Nêu tên các loại văn bản quy phạm pháp luật và thẩm quyền của cơ quan ban hành.
Bài 5.

QUAN HỆ PHÁP LUẬT
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ PHÁP LUẬT Trong cuộc sống, con người luôn luôn tham gia vào những quan hệ rất đa dạng và phong phú: quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ lao động, quan hệ tài sản… các quan hệ đa dạng ấy phát sinh trong hoạt động sản xuất, công tác, học tập, sinh hoạt đời thường, sinh hoạt đối ngoại. …Đó là những quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội có thể tồn tại giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, tổ chức, nhà nước, giữa các tổ chức với nhau hoặc với nhà nước. Trong xã hội có nhà nước, các quan hệ xã hội quan trọng được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Các quy phạm pháp luật quy định cho các bên tham gia quan hệ xã hội các quyền và nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm của các bên nếu không thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó. Tuy nhiên không phải quan hệ xã hội được qui phạm pháp luật qui định quyền và nghĩa vụ đều trở thành quan hệ pháp luật mà còn cần phải có sự kiện pháp lý cụ thể và các chủ thể tương ứng được dự kiến trước trong phần giả định của quy phạm pháp luật.
Qui phạm pháp luật Chủ thể

Quan hệ XH Sự kiện pháp lý

Chuyển hóa 

Quan hệ pháp luật

22

1.Khái niệm quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật là quan hệ nảy sinh trong xã hội , được các quy phạm pháp luật điều chỉnh trong đó chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định và được nhà nước bảo đảm thực hiện. 2.Đặc điểm của Quan hệ pháp luật : - QHPL là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. - QHPL là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội. - QHPL mang tính ý chí nhà nước. + Quan hệ pháp luật phát sinh trên cơ sở qui phạm pháp luật, mà nội dung của QPPL phản ánh ý chí của nhà nước. + QHPL phát sinh, thay đổi, chấm dứt do ý chí của các bên tham gia QHPL nhưng trong giới hạn qui phạm pháp luật đã xác định. - Chủ thể tham gia QHPL là những cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quyđịnh của pháp luật. - QHPL là quan hệ mà các bên tham gia quan hệ đó có quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật qui định, và được nhà nước đảm bảo thực hiện II. THÀNH PHẦN CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT: Quan hệ pháp luật được hợp thành bởi 3 yếu tố: Chủ thể của quan hệ pháp luật, Nội dung của quan hệ pháp luật (quyền và nghĩa vụ của các chủ thể) và khách thể của quan hệ pháp luật. 1. Chủ thể của quan hệ pháp luật: Những cá nhân, tổ chức đáp ứng được những điều kiện do nhà nước quy định cho mỗi loại quan hệ pháp luật và tham gia vào quan hệ pháp luật đó thì được gọi là chủ thể của quan hệ pháp luật. Điều kiện để cá nhân, tổ chức trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật là theo quy định của nhà nước, họ phải có năng lực chủ thể. Năng lực chủ thể bao gồm hai yếu tố: năng lực pháp luật và năng lực hành vi. - Năng lực pháp luật: là khả năng được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ pháp lý mà nhà nước quy định cho tổ chức, cá nhân trong các quy phạm pháp luật.. Ví dụ : 18 tuổi có quyền bầu cử, 21 tuổi có quyền bầu cử…. - Năng lực hành vi: là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận, bằng hành vi của mình, chủ thể xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý cũng như độc chịu trách nhiệm về những hành vi của mình. 1.1.Mối liên hệ giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi: + Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là những thuộc tính pháp lý có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chủ thể pháp luật chỉ có năng lực pháp luật mà không có hay mất năng lực hành vi hoặc bị nhà nước hạn chế năng lực hành vi thì không thể tham gia vào quan hệ pháp luật , tức là không thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật. - Năng lực pháp luật là tiền đề cho năng lực hành vi và một cá nhân hoặc tổ chức muốn trở thành chủ thể quan hệ pháp luật lao động thì đồng thời phải có cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Nói cách khác năng lực pháp luật là điều kiện cần, năng lực hành vi là điều kiện đủ để cá nhân, tổ chức trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật. 23

- Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể pháp luật không phải là một thuộc tính tự nhiên của con người , mà xuất hiện trên cơ sở pháp luật, phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của nhà nước. 1.2. Các loại chủ thể theo pháp luật Việt Nam. 1.2.1.Cá nhân: Bao gồm công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch. Trong đó công dân là loại chủ thể phổ biến, chủ yếu nhất. Công dân Việt Nam trở thành chủ thể khi họ có năng lực chủ thể. - Năng lực pháp luật của công dân có từ lúc sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. - Năng lực hành vi : xuất hiện muôn hơn năng lực pháp luật và phát triển theo quá trình phát triển của con người; Phải đạt những điều kiện do pháp luật quy định ( độ tuổi, lý trí, không bệnh tâm thần). Đối với người nước ngoài và người không có quốc tịch: năng lực chủ thể của họ bị hạn chế. 1.2.2. Pháp nhân: Là 1 khái niệm pháp lý phản ánh địa vị pháp lý của một tổ chức. Để được coi là có tư cách pháp nhân, tổ chức phải có những điều kiện sau: - Được thành lập hợp pháp. - Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ. - Có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó khi tham gia quan hệ pháp luật. - Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. * Năng lực pháp luật của pháp nhân: + Phát sinh từ thời điểm được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, cấp giấy chứng nhận ĐKKD + Chấm dứt: từ thời điểm chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân * Năng lực hành vi của pháp nhân phát sinh và chấm dứt cùng lúc năng lực pháp luật của pháp nhân. 1.2.3.Nhà nước: là chủ thể đặc biệt của pháp luật. Nhà nước là chủ thể của quyền lực chính trị của toàn xã hội, là chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội. Nhà nước là chủ thể của một số quan hệ pháp luật quan trọng: quan hệ pháp luật quốc tế, quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật hình sự… Ngoài ra trong luật dân sự còn quy định: hộ gia đình, tổ hợp tác cũng là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. 2. Nội dung của quan hệ pháp luật: Nội dung của quan hệ pháp luật chính là quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật trên cơ sở những quy phạm pháp luật được nhà nước đảm bảo thực hiện. 2.1. Quyền chủ thể: Là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được thực hiện trong quan hệ pháp luật. - Đặc điểm của quyền chủ thể: + Khả năng của chủ thể được xử sự trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

24

Ví dụ: Điều 58 khoản 2 Bộ luật TTHS 2003: “2. Người bào chữa có quyền: a/ Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác…” + Khả năng của chủ thể yêu cầu chủ thể có liên quan thực hiện nghĩa vụ của họ hoặc yêu cầu họ chấm dứt những hành vi cản trở nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình + Khả năng của chủ thể yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với các chủ thể có liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong trường hợp quyền chủ thể của mình bị xâm hại. 2.2. Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể: Là cách xử sự bắt buộc được qui phạm pháp luật xác định trước mà một bên bắt buộc phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể có liên quan. * Đặc điểm - Là sự bắt buộc phải có những xử sự nhất định do qui phạm pháp luật xác định trước. (Nghĩa vụ thanh toán tiền trong quan hệ mua bán tài sản). - Cách xử sự này nhằm thực hiện quyền chủ thể của bên có liên quan. Ví dụ: hành vi trả tiền của người mua; Hành vi không dùng biện pháp nhục hình khi hỏi cung bị can. - Trong trường hợp cần thiết, nghĩa vụ pháp lý sẽ được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước. Tóm lại: quyền và nghĩa vụ pháp lý là nội dung của quan hệ pháp luật. Chúng là hai mặt của một quan hệ thống nhất, phản ánh mối liên hệ của những chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. 3. Khách thể của quan hệ pháp luật: Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Lợi ích mà chủ thể hướng tới có thể là lợi ích vật chất hoặc tinh thần, hoặc những lợi ích chính trị (bầu cử, ứng cử, danh dự, nhân phẩm, tài sản…) 4. Sự kiện pháp lý: Quan hệ pháp luật luôn xuất hiện, thay đổi và chấm dứt. Sự xuất hiện, thay đổi hay chấm dứt của quan hệ pháp luật sẽ xảy ra khi có đủ 3 yếu tố: quy phạm pháp luật, chủ thể và sự kiện pháp lý. 4.1. Khái niệm sự kiện pháp lý: Là những điều kiện, hoàn cảnh tình huống của đời sống thực tế được chỉ ra trong phần giả định của quy phạm pháp luật mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp luật gắn với sự phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật 4.2. Phân loại sự kiện pháp lý: Căn cứ theo dấu hiệu ý chí, sự kiện pháp lý được chia thành: sự biến và hành vi. 4.2.1.Sự biến: là sự kiện phát sinh không phụ thuộc vào ý chí con người nhưng lại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể nhất định. Ví dụ: chết, sinh , các hiện tượng tự nhiên khác. 4.2.2. Hành vi: Bao gồm hành động và không hành động, là những sự kiện pháp lý xảy ra trực tiếp vào ý chí con người. - Hành vi hợp pháp: là xử sự đúng pháp luật, phù hợp với yêu cầu pháp luật - Hành vi trái pháp luật: hành vi xử sự trái với yêu cầu pháp luật, vi phạm vào điều cấmcủa PL. 25

Câu hỏi ôn tập 1. 2. 3. 4. pháp lý.
Bài 6.

Trình bày khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật. Chủ thể của quan hệ pháp luật là gì? Trình bày nội dung của quan hệ pháp luật. Trình bày khái niệm quan hệ pháp luật. 5. Phân biệt sự kiện pháp lý với sự kiện thực tế; hành vi pháp lý với sự biến

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
I. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT; 1. Khái niệm : Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của chủ thể. Hành vi hợp pháp chính là hành vi phù hợp với các quy định pháp luật, là hành vi làm đúng những quy định pháp luật. 2. Phân biệt các hình thức thực hiện pháp luật: Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã chia ra 4 hình thức thực hiện PL như sau: 2.1. Tuân thủ pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Ví dụ: công dân kiềm chế không thực hiện những hành vi mà bộ luật hình sự ngăn cấm, tức là đã tuân thủ các quy định của bộ luật đó. 2.2. Thi hành pháp luật : là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Ví dụ: Thanh niên trong độ tuổi hạn định, lên đường thi hành nghĩa vụ quân sự , phục vụ trong quân đội đúng thời gian quy định thức là thanh niên đó đã thi hành pháp luật. 2.3. Sử dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền xử sự của mình mà pháp luật cho phép. Ví dụ: pháp luật quy định công dân có quyền khiếu nại tố cáo. Một công dân gửi đơn khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm, tức là đã sử dụng pháp luật. Hình thức này khác các hình thức trên ở chỗ là chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật trao theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện. 2.4. Ap dụng pháp luật: 2.4.1.Khái niệm : là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể thực hiện những 26

quy định pháp luật ; hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể . Trong trường hợp này các chủ thề pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệp của nhà nước. Nếu như tuân thủ pháp luật , thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn có sự tham gia của nhà nước. Mục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật là đảm bảo cho những quy phậm pháp luật được thực hiện trong đời sống thực tế. 2.4.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật: - Là hoạt động mang tính tổ chức, quyền lực của nhà nước: + đó là hoạt động chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, + hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. +có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan. + được đảm bảo thực hiện bởi biện pháp cưỡng chế của nhà nước. - Là hoạt động có hình thức, thủ tục được pháp luật quy định chặt chẽ. - Là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể với các quan hệ xã hội. - Là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo 2.4.3. Các trường hợp cần áp dụng pháp luật: - Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc áp dụng các chế tài pháp luật quy định đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Ví dụ: một chủ thể pháp luật thực hiện hành vi phạm tội thì không phải ngay sau đó trách nhiệm hình sự tự động phát sinh và chấp hành hình phạt tương ứng mà phải cần có hoạt động của toà án và các cơ quan bảo vệ pháp luật có liên quan điều tra, xét xử và ra bản án, trong đó ấn định trách nhiệm hình sự cụ thể và buộc phải chấp hành bản án đó. - Khi những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước. VD: Quyết định tuyển dụng của cơ quan Nhà nước đối với 1 công dân. - Khi các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể phát sinh nhưng có sự tranh chấp mà các chủ thể không tự giải quyết được. - Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động các bên tham gia hoặc để chứng nhận, xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự kiện thực tế nào đó. Ví dụ; việc xác nhận di chúc, chứng thực hợp đồng mua bán nhà ở, thế chấp…. 2.4.4. Những giai đoạn của quá trình áp dụng PL : Ap dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc bịêt , một hoạt động phức tạp. Ap dụng PL được phân chia ra các giai đọan sau: - Phân tích , làm sáng tỏ những tình tiết của vụ việc cần áp dụng pháp luật: . - Lựa chọn quy phạm pháp luật để giải quyết vụ việc và làm sáng tỏ nội dung ý nghĩa của QPPL đó. - Ra văn bản áp dụng: - Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật. II. VI PHẠM PHÁP LUẬT : 27

1. Khái niệm: Vi phạm pháp luật: là hành vi (hành động hay không hành động), trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Một hành vi được xem là vi phạm pháp luật phải có các dấu hiệu sau: - Là hành vi xác định của con người - Trái pháp luật - Có lỗi - Do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện 2. Cấu thành Vi phạm pháp luật 2.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật : Là những biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật mà con người có thể nhận thức được bằng trực quan sinh động. Mặt khách quan là của vi phạm pháp luật gồm: - Hành vi trái pháp luật: thể hiện dưới dạng hành động hay không hành động, không phù hợp pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội. - Sự thiệt hại của xã hội: là những tổn thất thực tế về mặt vật chất, tinh thần mà xã hội phải gánh chịu; hoặc nguy cơ tất yếu xảy ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần nếu hành vi trái pháp luật không được ngăn chặn kịp thời. - Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại cho xã hội: trong đó hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân trực tiếp, còn sự thiệt hại của xã hội đóng vai trò là kết quả tất yếu. Ngoài những yếu tố nói trên, còn có các yếu tố khác thuộc mặt khách quan của vi phạm pháp luật như: công cụ thực hiện hành vi vi phạm (dao, súng…), thời gian, địa điểm thực hiện hành vi vi phạm v.v… 2.2. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật: Là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật được đặc trưng bởi yếu tố lỗi, có liên quan đến lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật. 2.2.1 Lỗi : là trạng thái tâm lý phản ảnh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luậtcủa mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Có các hình thức sau: - Lỗi cố ý trực tiếp: chủ thể vi phạm pháp luật nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng mong muốn hậu quả xảy ra. - Cố ý gián tiếp: chủ thể vi phạm nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. - Vô ý vì quá tự tin: chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được. - Vô ý do cẩu thả: chủ thể vi phạm do khinh suất, cẩu thả nên không nhận thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể hoặc cần phải thấy trước hậu quả đó. 28

Trong đa số các trường hợp vi phạm pháp luật, để lựa chọn biện pháp trách nhiệm pháp lý công minh và chính xác thì việc xác định hình thức lỗi rất quan trọng. 2.2.2. Động cơ: là lý do thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, 2.2.3. Mục đích là kết quả cuối cùng mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạmpháp luật. Trong nhiều trường hợp, việc xác định động cơ, mục đích có ý nghĩa quan trọng để tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật, nhân thân chủ thể vi phạm, từ đó áp dụng biện pháp trách nhiệm thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, cải tạo người vi phạm pháp luật. 2.3. Khách thể của vi phạm pháp luật: Mọi hành vi trái pháp luật đều xâm hại tới những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ. Vì vậy, những quan hệ xã hội ấy là khách thể của vi phạm pháp luật. Tính chất của khách thể bị xâm hại phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật 2.4. Chủ thể của vi phạm pháp luật: Là các cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý. Năng lực trách nhiệm pháp lý: là khả năng của chủ thể tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước. Năng lực trách nhiệm pháp lý của cá nhân tùy thuộc vào độ tuổi do pháp luật quy định và cá nhân ấy phải có trí óc bình thường để có đủ nhận thức điều chỉnh hành vi của mình 3. Phân loại vi phạm pháp luật: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật được chia thành bốn loại: 3.1.Vi phạm hình sự (còn gọi là tội phạm): là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. 3.2.Vi phạm hành chính: là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính quy định 3.3. Vi phạm dân sự: là hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm hại tới các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân 3.4.Vi phạm kỉ luật: là hành vi có lỗi, trái với quy tắc kỷ luật lao động, học tập, công vụ nhà nước, trong các cơ quan, xí nghiệp, trường học, trong các ngành và lĩnh vực quản lý nhà nước được luật lao động, hành chính và các văn bản nội quy cơ quan, xí nghiệp quy định. III. TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ: 1. Khái niệm : Trách nhiệm pháp lý: là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà nước (thông qua nhà chức trách, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm và chủ thể đó có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra. * Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý: 29

- Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là hành vi vi phạm pháp luật. - Cơ sở pháp lý của trách nhiệm pháp lý là văn bản áp dụng pháp luật có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. - Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết với cưỡng chế Nhà nước. 2. Phân loại trách nhiệm pháp lý Căn cứ vào việc phân loại vi phạm pháp luật, có bốn loại trách nhiệm pháp lý: - Trách nhiệm hình sự; - Trách nhiệm dân sự; - Trách nhiệm hành chính; - Trách nhiệm kỷ luật.

Câu hỏi ôn tập
1. 2. 3. 4. 5. Phân tích khái niệm, các dấu hiệu của vi phạm pháp luật. Trình bày cấu thành vi phạm pháp luật. Phân loại vi phạm pháp luật. Phân tích khái niệm trách nhiệm pháp lý. Trong các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật, hãy nêu các yếu tố có tính chất bắt buộc, mà nếu thiếu yếu tố này thì hành vi không đủ dấu hiệu để bị xem là hành vi vi phạm pháp luật. 6. Có thể nói Lỗi là thước đo của trách nhiệm pháp lý được không? Vì sao? 7. Phân biệt các hình thức lỗi: cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin, vô ý vì cẩu thả. 8. Tại sao “hậu quả” trong mặt khách quan của vi phạm pháp luật không phải là yếu tố bắt buộc trong mọi cấu thành vi phạm pháp luật? 9. Phân biệt hành vi trái pháp luật và vi phạm pháp luật. 10. Phân biệt năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật và năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm pháp luật. 11. Phân biệt khách thể của quan hệ pháp luật và khách thể của vi phạm pháp luật. 12. Phân biệt động cơ của vi phạm pháp luật và mục đích của vi phạm pháp luật. 13. Một hành vi có thể đồng thời vừa là vi phạm hình sự vừa là vi phạm hành chính không? Tại sao? 14. Tại sao nói trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt? 15. Có phải mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý không? Tại sao? 16. Thực hiện pháp luật là gì? Phân biệt các hình thức thực hiện pháp luật. Cho ví dụ minh họa 17. Áp dụng pháp luật là gì? Tại sao nói áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt 18. Áp dụng pháp luật là gì? Chứng minh rằng áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức và quyền lực của cơ quan nhà nước

30

Bài 7

Ý THỨC PHÁP LUẬT - PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT XHCN: 1. Khái niệm ý thức pháp luật XHCN: Là tổng thể các học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội XHCN, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá của con người về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội và mọi công dân. 2. Đặc trưng của ý thức pháp luật: - Ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với tồn tại xã hội: thể hiện ở hai khía cạnh: ý thức pháp luật vừa phụ thuộc vào tồn tại xã hội (do tồn tại xã hội quyết định), vừa có tính độc lập tương đối (bảo thủ, kế thừa, lạc hậu, vượt trước so với tồn tại xã hội). - Ý thức pháp luật là hiện tượng có tính giai cấp: hiểu biết, thái độ của các giai cấp đối với pháp luật là khác nhau, chỉ có ý thức pháp luật của giai cấp cầm quyền mới được phản ánh trong pháp luật. 3. Cấu trúc của ý thức pháp luật 3.1. Căn cứ vào nội dung, tính chất của các bộ phận hợp thành: - Hệ tư tưởng pháp luật: là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, lý thuyết về pháp luật. - Tâm lý pháp luật: là tình cảm, thái độ, tâm trạng, cảm xúc của con người đối với pháp luật. 3.2. Căn cứ vào cấp độ giới hạn của sự nhận thức: - Ý thức pháp luật thông thường: là kinh nghiệm của chủ thể về pháp luật, chỉ phản ánh được các mối liên hệ bên ngoài của pháp luật mà chưa phản ánh được bản chất của pháp luật. - Ý thức pháp luật lý luận: là hệ thống các học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm về pháp luật, phản ánh được mối quan hệ bên trong, bản chất của pháp luật. 3.3. Căn cứ vào chủ thể: - Ý thức pháp luật xã hội: là ý thức của bộ phận tiên tiến trong xã hội, phản ánh xu thế phát triển của xã hội. - Ý thức pháp luật nhóm: là ý thức pháp luật của một nhóm người. - Ý thức pháp luật cá nhân: là ý thức pháp luật của mỗi người. 31

4. Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật xã hội chủ nghĩa: - Sự tác động của ý thức pháp luật đối với pháp luật XHCN: + Ý thức pháp luật là tiền đề tư tuởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện pháp luật. + Ý thức pháp luật góp phần nâng cao việc thực hiện pháp luật. + Ý thức pháp luật là đảm bảo cho hoạt động áp dụng pháp luật đúng đắn, khách quan. - Ngược lại, pháp luật là cơ sở để hình thành, củng cố và nâng cao ý thức pháp luật. 5. Các biện pháp giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật - Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, giải thích pháp luật. - Đưa việc giảng dạy pháp luật vào hệ thống các trường học. - Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật. - Mở rộng dân chủ, công khai tạo điều kiện cho nhân dân tham gia một cách đông đảo vào hoạt động xây dựng pháp luật. - Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật. - Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, văn hoá, nâng cao trình độ chung của nhân dân. - Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng II. PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA: 1. Khái niệm: Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị – xã hội, trong đó mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhân viên nhà nước, nhân viên của mọi tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác. 2. Nội dung của pháp chế XHCN: - Pháp chế XHCN là nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. - Pháp chế XHCN là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội. - Pháp chế XHCN là nguyên tắc trong xử sự của công dân. - Ý nghĩa của pháp chế: pháp chế là điều kiện cơ bản để phát huy dân chủ. 3.Các yêu cầu cơ bản của pháp chế XHCN - Tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và Luật. - Đảm bảo tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc. - Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật phải hoạt động một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả. - Không tách rời pháp chế với văn hóa và văn hóa pháp lý 4. Các biện pháp nhằm tăng cường pháp chế XHCN : 4.1.. Đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật: : Hiện nay hệ thống pháp luật XHCN của chúng ta chưa hoàn chỉnh, có nhóm quan hệ xã hội quan trọng nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh đầy đủ, có một số văn bản còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc đã lỗi thời. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác xây dựng 32

pháp luật về kinh tế, văn hoá, xã hội, hình sự, dân sự, hành chính, về quyền và nghĩa vụ công dân… 4.2. Tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật: - Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cáo ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân. - Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp lý và công tác hành chínhnhà nước để tăng cường cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước. - Kiện toàn tổ chức các cơ quan làm công tác pháp luật, pháp chế. - Phải có sự tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên để phát hiện và khắc phục những sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật , đề ra những phương hướng và biện pháp cho công tác đó. 4.3. Tiến hành thường xuyên kiên trì công tác kiểm tra giám sát, xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật. - Mọi hành vi vi phạm pháp luật phải xử lý nghiêm minh. Bảo đảm nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật. - Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tệ nạn tham nhũng trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức Đảng và các tổ chức xã hội. - Tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra giám sát phát hiện những sai sót trong hoạt động bảo vệ pháp luật để kịp thời uốn nắn, sửa chửa. - Các cơ quan bảo vệ pháp luật cần phản ứng nhanh chóng và hiệu quả đối với các hành vi vi phạm pháp luật , phát hiện, làm sáng tỏ và xử lý các vụ vi phạm đúng đắn, kịp thời. 4.4.Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng . CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP 1. Tại sao nói ý thức pháp luật là một dạng của ý thức xã hội? 2. Ý thức xã hội là kết quả tác động của tồn tại xã hội đối với nhận thức của con người, vậy sự hình thành ý thức pháp luật có phải là kết quả tác động của toàn bộ tồn tại xã hội đối với nhận thức của con người không? Tại sao? 3. Tại sao ý thức pháp luật lại phản ánh “mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có”? 4. Cho ví dụ minh họa để chứng minh rằng ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối? 5. Cho ví dụ minh hoạ để chứng minh rằng ý thức pháp luật phụ thuộc vào tồn tại xã hội? 6. Hãy lý giải tại sao ý thức pháp luật lại có tính giai cấp? 7. Làm rõ mối quan hệ giữa hệ tư tưởng pháp luật và tâm ý pháp luật? 8. Sự khác nhau giữa ý thức pháp luật thông thường và ý thức pháp luật lý luận? 9. Ý thức pháp luật nhóm có thể trở thành ý thức pháp luật xã hội không? 10. Tại sao ý thức pháp luật lại là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện pháp luật? 11. Tại sao ý thức pháp luật lại góp phần nâng cao việc thực hiện pháp luật và bảo đảm cho hoạt động áp dụng pháp luật đúng đắn? 12. Tại sao sự tồn tại của pháp luật lại có khả năng hình thành và nâng cao ý thức pháp luật? 33

13. Pháp chế và pháp luật có đồng nhất với nhau không? 14. Có phải pháp chế là hiện tượng có trong mọi xã hội có pháp luật không? Tại sao? 15. Tại sao đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật, xử lý vi phạm lại có thể tăng cường pháp chế? 16. Khái niệm, đặc điểm của pháp chế xã hội chủ nghĩa và những biện pháp nhằm tăng cường pháp chế XHCN trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

34

Bài 8

LUẬT HIẾN PHÁP
I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LUẬT HIẾN PHÁP: 1. Khái niệm: Luật Hiến pháp cỏn gọi là Luật Nhà nước, là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất, gắn liền với việc xác định chế độ chính trị,chế độ kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ, địa vị pháp lý của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Luật Hiến pháp thể hiện một cách tập trung nhất, rõ nét nhất ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. 2.Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật Hiến pháp: Đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp Việt nam là các quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng nhất xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá-xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ, địa vị pháp lý của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. 3. Phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp Phương pháp điều chính của Luật Hiến pháp chủ yếu là xác lập những nguyên tắc chung mang tính định hướng cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội cũng như xác lập một cách khái quát quyền và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong các các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội cơ bản. II. NHỮNG SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP 1992: 1. Chế độ chính trị : Chế độ chính trị là một chế định của Hiến pháp, xác định bản chất giai cấp của nhà nước, vai trò của đảng phái chính trị và hệ thống chính trị nói chung, hình thức nhà nước, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các quan hệ dân tộc, tôn giáo, cũng như các quan hệ của nhà nước trong lĩnh vực đối ngoại. Nội dung chế độ chính trị theo Hiến pháp năm 1992: - Khẳng định các quyền dân tộc cơ bản cuả nước CHXHCN Việt nam(Đ.1). - Khẳng định bản chất Nhà nước CHXHCN Việt nam là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.(Đ.2). -Xác định mục đích (hay sứ mệnh lịch sử) của nhà nước CHXHCN Việt nam là bảo đảm không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân ,thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước và của nhân dân (Đ.3). - Quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.(Đ.4). - Xác định tính chất dân tộc của nhà nước (Đ.5). - Xác định nguyên tắc, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân(Đ.6; Đ.7;Đ.9; Đ.11,12). - Xác định vai trò của Mặt trận tổ quốc VN và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân(Đ.9). 35

- Xác định vai trò của Công đoàn- tổ chức chính trị- xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động(Đ. 10). - Xác định quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân(Đ.11); - Khẳng định đường lối đối ngoại của nhà nước VN (Đ.14) 2. Chế độ kinh tế: Là một chế định của Hiến pháp, gồm các quy định về những vấn đề cơ bản của kinh tế như muc đích, phương hướng phát triển kinh tế, hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các nguyên tắc và chính sách quản lý kinh tế của nhà nước Việc thừa nhận nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân và các thành phần kinh tế thuộc hình thức sở hữu tư nhân là nhằm phát huy mọi năng lực sản xuất và mọi tiềm năng kinh tế của xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta một sự đổi mới có tính chất cách mạng trong tư duy kinh tế của Đảng và nhà nước ta, thay cho tư duy kinh tế duy ý chí, giáo điều trước đây được thể hiển trong HP 1959 và HP 1980 3. Chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ: Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp giáo dục, tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình văn hóa. Khoa học công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lu765c thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 4.Chế định quyền và nghiã vụ cơ bản của công dân: 4.1. Quyền của công dân là khả năng công dân được thực hiện một cách tự nguyện, theo ý chí và sự lựa chọn của mình những hành vi nhất định được pháp luật quy định. (qđ từ Đ50 đến Đ75/HP). Quyền của công dân theo HP/1992 cụ thể như sau: - Quyền bình đẳng của mỗi công dân trước pháp luật - Các quyền lợi về học tập, bảo vệ sức khoẻ…, quyền lao động.. - Quy định quyền nghiên cứu KH, sáng tác, phát minh, sáng chế, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả… - Quy định quyền xây dựng nhà ở của công dân, bảo vệ quyền lợi người cho thuê nhà và người thuê nhà … - Các quyền tự do cơ bản: quyền tự do đi lại, cư trú, xuất ngoại, ngôn luận, báo chí, quyền được thông tin, hội họp… - Quyền tự do bất khả xâm phạm thân thể, quyền được bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm - Quyền lợi về kinh tế, sở hữu về nhà ở, TLSX, tiêu dùng, các thu nhập hợp pháp được bảo hộ… 4.2.. Nghĩa vụ của công dân: là đòi hỏi bắt buộc công dân phải thực hiện những hành vi nhất định mà pháp luật quy định, được quy định từ điều 76 đến 82/HP -Trung thành với Tổ quốc, đây là nghiã vụ thiêng liêng nhất - Nghiã vụ tuân theo HP của pháp luật. Đây là quy định rất chung, rất đầy đủ và thể hiện tính chất nhà nước pháp quyền vì trong nhà nước đó mọi quan hệ xã hội đều được thể hiện dưới hình thức pháp luật. Sự quy định này áp dụng cho mọi công dân , kể cả công dân nước ngoài cư trú tại VN - Nghiã vụ bảo vệ tài sản và lợi ích công cộng. .. 36

Bài 9.

KHÁI QUÁT VỀ LUẬT HÀNH CHÍNH
I. KHÁI NIỆM LUẬT HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm hành chính: - Hành chính được hiểu là quản lý, lãnh đạo và hoạt động công vụ thường ngày trong các công sở của bộ máy nhà nước từ Trung ương xuống địa phương. - Theo nghĩa quản lý, lãnh đạo, “Hành chính” được sử dụng để chỉ: + Các cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp…) + Những công chức được bổ nhiệm làm việc trong các cơ quan nhà nước. - Theo nghĩa hoạt động công vụ để chỉ: + Các hoạt động hành chính thường ngày trong các công sở của bộ máy Nhà nước. + Các loại công văn giấy tờ hành chính. Theo thuật ngữ khoa học Luật hành chính: Hành chính là một hoạt động quản lý nhà nước, trong đó cơ quan Nhà nước tác động lên các đối tượng quản lý (cơ quan, tổ chức, cá nhân) trong lĩnh vực hành pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại cuả Nhà nước, hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính Nhà nước. Các hoạt động này do các cơ quan Hành chính nhà nước thực hiện. 2. Khái niệm Luật hành chính – cơ quan hành chính nhà nước 2.1. Khái niệm luật hành chính: Bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. 2.2. Đặc điểm: - Là một ngành luật độc lập - Là một ngành luật về quản lý: + Xác định rõ cơ cấu tổ chức bộ máy, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi lĩnh vực hoạt động của từng cơ quan quản lý hành chính nhà nước; + Xác định phương tiện quản lý hệ thống bằng văn bản quản lý hành chính là chủ yếu; + Xác lập trật tự quản lý hành chính nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, tập thể, công dân. + Xác định chế độ, chức trách, chế độ công vụ đối với các loại công chức, viên chức nhà nước để đảm bảo sự vận hành của cả hệ thống bộ máy hành chính có hiệu quả. 2.3.Cơ quan hành chính nhà nước: 2.3.1. Khái niệm: Là một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước, hoạt động thường xuyên, liên tục, có vị trí tương đối ổn định và là cầu nối trực tiếp đưa đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống. 2.3.2. Phân loại cơ quan hành chính: - Theo quy định của pháp luật: Có 2 loại cơ quan hành chính Nhà nước: + Chính phủ- Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp: là những cơ quan quan trọng nhất của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. 37

+ Các Vụ, Sở, Phòng, Ban, v.v..., là những cơ quan hành chính chuyên môn giúp việc hay thừa hành các hoạt động do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên đặt ra. Loại cơ quan này có thể được thành lập hoặc bãi bỏ tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ của ngành, địa phương trong từng thời kỳ. - Theo địa giới hoạt động: + Cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương (Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ) + Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Ủy ban nhân dân các cấp, các sở, cục, chi cục…) - Theo thẩm quyền: + Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung (Chính phủ, UBND) + Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn (Quản lý theo ngành hoặc theo chức năng trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định) II. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA NGÀNH LUẬT HÀNH CHÍNH 1. Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính Là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Các quan hệ quản lý hành chính đó là: - Quan hệ giữa cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cấp trên và cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cấp dưới trực tiếp theo hệ thống dọc (Chính phủ với UBND tỉnh; Bộ tư pháp với Sở tư pháp) - Quan hệ giữa các cơ quan quản lý hành chính không trực thuộc nhau về mặt tổ chức (giữa Bộ tư pháp và Bộ GDĐT) - Quan hệ giữa cơ quan quản lý hành chính Nhà nước với các tổ chức, đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn lãnh thổ (UBND với các đơn vị kinh tế) - Quan hệ giữa các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước với các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng (UBND với Đoàn TNCSHCM) - Quan hệ giữa cơ quan quản lý hành chính Nhà nước với công dân. Từ quan hệ quản lý hành chính trên mà hình thành 3 loại quan hệ xã hội sau đây: - Những quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức năng cơ bản của các cơ quan này là quản lý nhà nước (đây là nhóm quan hệ cơ bản) - Những quan hệ có tính chất chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước khác nhằm xây dựng củng cố tổ chức và chế độ công tác nội bộ của những cơ quan này. - Những quan hệ có tính chất chấp hành và điều hành của các cơ quan không phải là hành chính nhà nước và các tổ chức xã hội trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với những vấn đề cụ thể được nhà nước giao cho. 2.Phương pháp điều chỉnh Do đối tượng điều chỉnh mang tính đặc thù “không bình đẳng” của hoạt động chấp hành điều hành mà phương pháp điều chỉnh của ngành luật này là một phương pháp đặc thù xuất phát từ quan hệ quyền uy - phục tùng. Đó là phương pháp mệnh lệnh – đơn phương.

38

Xuất phát từ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội mà một bên nhân danh Nhà nước ra những quyết định hành chính có tính chất mệnh lệnh, bắt buộc thi hành và một bên là đối tượng quản lý có nghĩa vụ phục tùng mệnh lệnh đó. Ví dụ: UBND tỉnh ra lệnh tháo dỡ, phá bỏ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên đê. III. TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH - VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1. Trách nhiệm hành chính: 1.1. Khái niệm: Là một dạng của trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân trước cơ quan quản lý Nhà nước hoặc trước cán bộ nhà nước có thẩm quyền. Đó là sự áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được qui định trong những chế tài của quy phạm pháp luật hành chính bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính. 1.2. Đối tượng chịu trách nhiệm hành chính: - Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính do lỗi cố ý hoặc vô ý; Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm về vi phạm hành chính do lỗi cố ý (chủ yếu trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội). - Cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do cơ quan tổ chức gây ra…(chủ yếu trong lĩnh vực quản lý hành chính) - Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị, và người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm hành chính bị xử lý như đối với các công dân khác, trong trường hợp cần tước quyền sử dụng một số giấy phép hoạt động vì mục đích an ninh quốc phòng thì do cơ quan đơn vị công an có thẩm quyền xử lý theo Điều lệnh của quân đội, công an. - Cá nhân tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước CHXHCNVN thì bị xử lý theo qui định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có qui định khác. 2. Vi phạm hành chính: 2.1. Khái niệm: Là hành vi của cá nhân hay tổ chức làm trái hoặc không thực hiện theo đúng qui định của pháp luật hành chính một cách cố ý hoặc vô ý mà xâm phạm các qui tắc quản lý Nhà nước, quản lý XH, có mức độ nguy hiểm cho XH thấp hơn tội phạm và theo qui định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. 2.2. Xử lý vi phạm hành chính: 2.2.1 Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính: - Chủ tịch Ủy ban nhân dân (xã, phường, thị trấn; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) - Chiến sĩ công an nhân dân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển đang thi hành công vụ. - Thủ trưởng trực tiếp của nhân viên hải quan - Nhân viên kiểm lâm đang thi hành công vụ. - Nhân viên thuế đang thi hành công vụ. - Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ. - Thanh tra viên chuyên ngành đang thi hành công vụ. 39

- Giám đốc cảng vụ hàng hải, giám đốc cảng vụ nội địa, giám đốc cảng vụ hàng không. - Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa. Chấp hành viên thi hành án dân sự đang thi hành công vụ. - Đội trưởng đội thi hành án dân sự, trưởng phòng thi hành án dân sự cấp tỉnh, trưởng phòng thi hành án quân khu và cấp tương đương. Các vi phạm hành chính xảy ra trong các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước ở địa phương do Chủ tịch UBND các địa phương xử lý. Các vi phạm xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thì do từng thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành xử lý. 2.2.2 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính: - Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng qui định của pháp luật. - Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do pháp luật qui định. - Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính 1 lần; nhiều người cùng thực hiện 1 hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt; một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. - Việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định xử lý thích hợp. Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Trường hợp vi phạm hành chính đã chuyển hóa thành tội phạm (do luật hình sự điều chỉnh). 2.2.3. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính: - Các hình thức xử phạt chính: + Cảnh cáo; + Phạt tiền; - Các hình thức xử phạt bổ sung: + Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; + Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; 2.2.4.Ngoài những hình thức xử phạt trên, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: - Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép; - Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra; 40

- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện; - Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, văn hóa phẩm độc hại. Lưu ý: Người nước ngoài vi phạm hành chính còn có thể bị xử phạt trục xuất. Trục xuất được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể. 2.2.5. Ngoài các hình thức xử phạt hành chính nêu trên, pháp luật còn qui định các biện pháp xử lý hành chính khác, đó là: - Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; (thời hạn từ 3 tháng – 6 tháng) Điều 23 PLXLVPHC 2002 - Đưa vào trường giáo dưỡng (điều 24 PLXLVPHC 2002) - Đưa vào cơ sở giáo dục (điều 25) - Đưa vào cơ sở chữa bệnh (điều 26) - Quản chế hành chính (điều 27) Năm biện pháp trên không áp dụng đối với người nước ngoài 2.2.6. Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính: - Tạm giữ người (điều 44) - Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; - Khám người; - Khám phương tiện vận tải, đồ vật; - Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; - Bảo lãnh hành chính; - Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; - Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Trình bày khái niệm luật hành chính. Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật hành chính. 2. Trình bày khái niệm cơ quan hành chính và phân loại. 3. Trách nhiệm hành chính là gì? Nêu các đối tượng chịu trách nhiệm hành chính. 4. Vi phạm hành chính là gì? Nêu những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính. 5. Trình bày những hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

41

Bài 10

KHÁI QUÁT VỀ LUẬT HÌNH SỰ, LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
I. LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm Luật Hình sự 1.1. Định nghĩa: Luật hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và hình phạt với các tội phạm. 1.2. Đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự Là những quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện một hành vi mà nhà nước qui định là tội phạm. 1.3. Phương pháp điều chỉnh của Luật hình sự: Là phương pháp quyền uy. Trong đó nhà nước có quyền tối cao trong việc định đoạt số phận của người phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ đã gây ra. Trách nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra là trách nhiệm thuộc về cá nhân người phạm tội, phải do chính người phạm tội trực tiếp gánh chịu, mà không thể “chuyển” hoặc “ủy thác” cho người khác. 2. Khái niệm tội phạm, phân loại tội phạm: 2.1. Khái niệm tội phạm: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN”. (Điều 8 Bộ luật hình sự) Từ định nghĩa đầy đủ trên, có thể đưa ra định nghĩa tội phạm một cách khái quát: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt.” 2.2. Những dấu hiệu cơ bản của tội phạm: 2. 2.1.Tính nguy hiểm cho xã hội Là thuộc tính khách quan, là dấu hiệu vật chất của tội phạm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm phải là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ. 2.2.2.Tính có lỗi của tội phạm Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra. Trong Bộ luật hình sự, tính có lỗi là một dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho xã hội. Không thể buộc tội một người mà chỉ căn cứ vào hành vi khách quan họ đã thực hiện. 2.2.3.Tính trái pháp luật hình sự Hành vi nguy hiểm cho XH chỉ được coi là tội phạm nếu nó được quy định trong luật hình sự. 42

2.2.4.Tính phải chịu hình phạt Bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa phải chịu hình phạt. Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, tội càng nghiêm trọng thì hình phạt áp dụng càng nghiêm khắc. 2.3. Phân loại tội phạm: Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như đã trình bày, nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho XH rất khác nhau. Chính vì vậy mà vấn đề phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt được coi là một nguyên tắc quan trọng của luật hình sự. Quán triệt nguyên tắc này, Bộ luật hình sự đã phân loại tội phạm thành 4 loại: - Tội phạm ít nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến 3 năm tù. - Tội phạm nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến 7 năm tù. - Tội phạm rất nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến 15 năm tù. - Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này làtrên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. 2.4. Các tội phạm cụ thể: Các tội phạm cụ thể được quy định trong “Phần các tội phạm” của Bộ luật hình sự, bao gồm các nhóm tội phạm cơ bản sau đây: - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (chương 11) - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (chương 12) - Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân (chương 13) - Các tội xâm phạm sở hữu (chương 14) - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (chương 15) - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (chương 16) - Các tội phạm về môi trường (chương 17) - Các tội phạm về ma túy (chương 18) - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (chương 19) - Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (chương 20) - Các tội về chức vụ (chương 21) - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (chương 22) - Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (chương 23) - Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (chương 24) 3. Khái niệm hình phạt , các loại hình phạt: 3.1. Khái niệm hình phạt Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong luật hình sự do Tòa án quyết định nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm. 3.2.Đặc điểm của hình phạt: - Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất, nó có thể tước bỏ những quyền và lợi ích của người bị kết án như: quyền tự do, quyền về tài sản, quyền về chính trị, thậm chí cả quyền sống. 43

- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự và chỉ được áp dụng cho chính cá nhân người đã thực hiện tội phạm. - Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước do Tòa án áp dụng với người phạm tội và được tuyên bố công khai bằng 1 bản án. - Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc biệt đảm bảo cho luật hình sự có thể thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ, giáo dục. 3.3. Các loại hình phạt: Hình phạt có 2 loại: Hình phạt chính và hình phạt bổ sung 3.3.1.Hình phạt chính là: Hình phạt cơ bản được áp dụng cho một tội phạm và được tuyên độc lập; đối với mỗi tội phạm tòa án chỉ có thể tuyên độc lập 1 hình phạt chính, bao gồm: - Cảnh cáo; - Phạt tiền; - Cải tạo không giam giữ; - Trục xuất; - Tù có thời hạn; - Tù chung thân; - Tử hình. 3.3.2. Hình phạt bổ sung là: hình phạt không được tuyên độc lập mà chỉ có thể tuyên kèm theo hình phạt chính. Đối với mỗi tội phạm tòa án có thể tuyên một hoặc nhiều hình phạt bổ sung nếu điều luật có quy định các hình phạt này,bao gồm: - Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; - Cấm cư trú; - Quản chế; - Tước một số quyền công dân; - Tịch thu tài sản; - Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; - Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính. 4. Các biện pháp tư pháp trong Luật Hình sự VN: Các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam là những biện pháp cưỡng chế hình sự được áp dụng đối với những người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có dấu hiệu của tội phạm. Trong nhiều trường hợp các biện pháp tư pháp được áp dụng với người không có năng lực trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH. Bao gồm: - Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; - Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; - Bắt buộc chữa bệnh; - Giáo dục tại xã, phường, thị trấn. (đối với người chưa thành niên) - Đưa vào trường giáo dưỡng (đối với người chưa thành niên) II. LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm: 1.1. Khái niệm tố tụng hình sự:

44

Là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, VKS, tòa án), người tiến hành tố tụng, các cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức XH góp phần vào việc giải quyết vụ án hình sự theo quy định của luật tố tụng hình sự. 1.2. Khái niệm Luật tố tụng hình sự : Là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và chấp hành án hình sự. - Đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng hình sự: là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự giữa các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. - Đặc điểm của Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự: + Mang tính chất quyền lực nhà nước + Liên quan mật thiết tới quan hệ pháp luật hình sự. + Liên quan hữu cơ tới các hoạt động tố tụng hình sự. - Phương pháp điều chỉnh: phương pháp quyền uy và phối hợp, chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. 1.3. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự 1.3.1. Các nguyên tắc chung - Nguyên tắc pháp chế XHCN: Mọi trình tự thủ tục giải quyết vụ án hình sự phải được thực hiện theo đúng qui định của luật tố tụng hình sự. - Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. - Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. - Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. - Bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, và nhân phẩm của công dân - Bảo đảm về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân. 1.3.2. Các nguyên tắc riêng - Xác định sự thật khách quan của vụ án - Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. - Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. - Thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Có hội thẩm nhân dân tham gia. - Nguyên tắc xét xử công khai. - Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước tòa án. 2. Các giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự: 2.1. Khởi tố vụ án hình sự: Là giai đoạn đầu của hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn này được bắt đầu từ khi các cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo hoặc tố giác về tội phạm và kết thúc khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án, thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan hải quan, kiểm lâm, lực luợng 45

cảnh sát biển và thủ trưởng các cơ quan khác của công an nhân dân (điều 104 BLTTHS năm 2003). Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định khởi tố hoặc không lhởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 2 tháng. 2.2. Điều tra vụ án hình sự: Cơ quan điều tra được sử dụng mọi biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để thu thập các chứng cứ nhằm xác định sự việc phạm tội và người phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của tòa án. 2.2.1. Các cơ quan điều tra hình sự: - Cơ quan điều tra trong công an ND điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong QĐND và cơ quan điều tra của VKSND tối cao. - Cơ quan điều tra trong quân đội ND - Cơ quan điều tra của VKSND. Ngoài ra luật còn qui định một số cơ quan khác được tiến hành 1 số hoạt động điều tra: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của CAND, QĐND. 2.2.2. Các hoạt động điều tra: - Khởi tố bị can và hỏi cung bị can. Tạm đình chỉ chức vụ mà bị can đang đảm nhiệm. - Lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại… - Đối chất, nhận dạng, giám định, thực nghiệm điều tra; - Khám xét người, nhà ở, đồ vật, thư tín; thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản; - Khám nghiệm hiện truờng, khám nghiệm tử thi… - Đình chỉ và tạm đình chỉ điều tra. Căn cứ để đình chỉ điều tra (như căn cứ không khởi tố vụ án (K2 điều 105; điều 107BLHS), đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm); Căn cứ để tạm đình chỉ điều tra (bị can mắc bệnh tâm thần, bị can bỏ trốn không biết ở đâu - ra lệnh truy nã) - Kết thúc điều tra, đề nghị truy tố. (Thời hạn điều tra được qui định tại điều 119 BLTTHS) 2.2.3. Các biện pháp ngăn chặn: - Bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam được quy định tại điều 80, 81 BLTTHS; Thời hạn tạm giam để điều tra được quiđịnh tại điều 120 BLTTHS. - Tạm giữ người (đối với người bị bắt khẩn cấp hoặc bị bắt quả tang). Thời hạn tạm giữ không được quá 3 ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày; trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn lần thứ 2 nhưng không quá 3 ngày (điều 87 BLTTHS) (Đ 92). - Cấm đi khỏi nơi cư trú - Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam (người bảo lĩnh có thể là cá nhân - phải có ít nhất 2 người; tổ chức) - Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam (Đ 93). 46

2.3. Truy tố bị can ra trước tòa án: Truy tố bị can ra trước tòa án vừa là quyền, là nhiệm vụ của VKSND khi thực hiện quyền công tố được nhà nước giao. - Thời hạn quyết định truy tố: Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, VKS phải ra một trong những quyết định sau: + Truy tố bị can bằng bản cáo trạng; + Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; + Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. - Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng VKS có thể gia hạn nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, Không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 2.4. Xét xử Việc xét xử thuộc thẩm quyền của các tòa án. Là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó tòa án xử lý sự việc phạm tội và người phạm tội và quyết định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội bằng các bản án và quyết định của mình 2.4.1.Các cấp tòa án và thẩm quyền xét xử: - Tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt đến 15 năm tù (cũ là từ 7 năm tù trở xuống). Tuy nhiên việc thực hiện qui định này đang được chuẩn bị theo lộ trình của cơ quan chức năng trong việc xác định tòa án cấp huyện nào đủ điều kiện mới giao thẩm quyền. - Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử. 2.4.2 Chuẩn bị xét xử – xét xử sơ thẩm Sau khi nhận hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nghiên cứu hồ sơ. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 2 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 3 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải quyết định đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc quyết định tạm đình chỉ hay đình chỉ vụ án. Trong thời hạn 15 ngày (hoặc 30 ngày nếu có lý do chính đáng) kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa. Thủ tục tố tụng tại phiên tòa được quy định cụ thể trong BLTTHS. 2.4.3. Xét xử phúc thẩm: Là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua ban giám thị trại giam, thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày ban giám thị 47

trại giam nhận được đơn. Thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp là 15 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án. 2.4.4. Xét xử giám đốc thẩm: Là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. Như: - Việc điều tra xét hỏi tại phiến diện hoặc không đầy đủ. - Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án. - Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử. - Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS. * Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm: - Chánh án TANDT và viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án các cấp trừ quyết định của hội đồng TPTANDTC. - Chánh án tòa án quân sự trung ương và viện trưởng VKSQSTW có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án quân sự cấp dưới. - Chánh án TAND tỉnh và viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Chánh án TAQS cấp quân khu và viện trưởng VKSQS cấp quân khu kháng nghị bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới. 2.4.5. Tái thẩm: Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó. 2.5. Thi hành bản án hình sự - Cơ quan công an thi hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân; tham gia hội đồng thi hành án tử hình; - Chính quyền xã, phường, thị trấn, hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc cải tạo của những người được huởng án treo hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ; - Cơ sở y khoa thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc bệnh tâm thần có hành vi nguy hiểm cho xã hội. - Chấp hành việc thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại, phải có cơ quan công an phối hợp khi áp dụng biện pháp cưỡng chế. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Trình bày khái niệm ngành luật hình sự. 2. Tội phạm là gì? Phân loại tội phạm. 3. Hình phạt là gì? Nêu các loại hình phạt theo qui định của BLHS. 4. Tố tụng hình sự là gì? Nêu đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của ngành luật tố tụng hình sự. 5. Trình bày nội dung cơ bản của các giai đoạn trong tố tụng hình sự. 6. Phân biệt xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. 48

Bài 11

KHÁI QUÁT VỀ LUẬT DÂN SỰ - TỐ TỤNG DÂN SỰ
I. KHÁI NIỆM LUẬT DÂN SỰ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH 1. Khái niệm Luật dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa tiền tệ và một số quan hệ nhân thân phi tài sản phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối lưu thông, tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhân dân, trên cơ sở bình đẳng, độc lập, quyền tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó. 2. Đối tượng điều chỉnh: Luật dân sự điều chỉnh những nhóm quan hệ sau đây: 2.1. Quan hệ tài sản: Là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản dưới dạng một tư liệu sản xuất, một tư liệu tiêu dùng hoặc dịch vụ tạo ra một tài sản nhất định. Tài sản trong luật dân sự VN được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: Tài sản, quyền về tài sản và nghĩa vụ về tài sản. Do vậy, quan hệ tài sản do luật dân sự VN điều chỉnh rất phong phú và đa dạng. 2.2. Quan hệ nhân thân: Là quan hệ giữa người với người không mang tính kinh tế, không tính được thành tiền, nó phát sinh do một giá trị tinh thần gắn liền với một người hoặc một tổ chức và không chuyển dịch được. Ví dụ: Quyền được đứng tên trên các tác phẩm văn học nghệ thuật, công trình mà người đó là tác giả; Quyền về nhãn hiệu hàng hóa của một doanh nghiệp. Quan hệ nhân thân được chia thành 2 loại: + Quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản là những quan hệ gắn liền với tên gọi, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân hoặc của một tổ chức nhất định (các giá trị này không làm phát sinh ở chủ thể một lợi ích vật chất nào).VD: quyền đối với hình ảnh, quyền cải chính hộ tịch…. + Quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản là những quan hệ là cơ sở làm phát sinh quan hệ tài sản tiếp sau. Ví dụ: Quyền tác giả, quyền phát minh sáng chế. Ở đây quan hệ nhân thân là cơ sở khẳng định người sáng tạo ra tác phẩm, phát minh sáng chế… là tác giả của tác phẩm. Đây là quyền nhân thân không thể tách rời, chuyển dịch của người sáng tạo. Nhưng đồng thời với việc được thừa nhận là tác giả của tác phẩm, người đó được hưởng 1 khoản thù lao theo luật định. Như vậy lợi ích vật chất ở đây xuất phát từ một quan hệ nhân thân có trước. 3. Phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự: Là những biện pháp, cách thức mà nhà nước tác động lên các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt. * Phương pháp điều chỉnh của lụât dân sự có đặc điểm: - Bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự. - Bảo đảm quyền tự định đoạt của các chủ thể trong việc tham gia vào các quan hệ tài sản do các chủ thể tự quyết định. - Xuất phát từ sự bình đẳng của các chủ thể, quyền tự định đoạt của các chủ thể trong việc tham gia vào các quan hệ đó nên đặc trưng của các tranh chấp dân sự là hòa 49

giải hoặc tự thỏa thuận của các bên. Nếu không thỏa thuận được hoặc không hòa giải được thì xét xử theo thủ tục tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án. 4. Chủ thể của Luật dân sự: - Là cá nhân (Công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch), pháp nhân, Nhà nước, hộ gia đình, tổ hợp tác theo quy định của luật dân sự. - Đối với cá nhân, để trở thành chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, cá nhân phải có năng lực chủ thể (năng lực pháp luật, năng lực hành vi). * Theo luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân được qui định như sau: - Năng lực hành vi dân sự của người thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên và có sự phát triển bình thường về trí tuệ) có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. - Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên: + Người chưa đủ 6 tuổi thì không có năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. + Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập và thực hiện giao dịch dân sự. - Mất năng lực hành vi dân sự: Người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, thì theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự đều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. - Hạn chế năng lực hành vi dân sự: Người nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan tổ chúc hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. II. MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH QUAN TRỌNG CỦA LUẬT DÂN SỰ 1. Chế định quyền sở hữu: 1.1. Khái niệm: Theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội. Theo nghĩa chủ quan thì quyền sở hữu là cách xử sự của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, và định đoạt tài sản trong phạm vi luật định. Những quyền chủ quan này xuất hiện dựa trên cơ sở do sự qui định của các quy phạm pháp luật khách quan. 1.2. Nội dung quyền sở hữu Bao gồm 3 quyền năng: - Quyền chiếm hữu: Là quyền kiểm soát và chiếm giữ vật trên thực tế. Quyền năng này được thể hiện ở chỗ: Vật thực tế do ai kiểm soát, chiếm giữ, làm chủ và chi phối vật. Quyền chiếm hữu này có thể là hợp pháp hay bất hợp pháp.

50

+ Chiếm hữu hợp pháp: Là chiếm hữu dựa trên cơ sở pháp luật. (VD: Được chủ sở hữu giao vật trên cơ sở của một hợp đồng hợp pháp; có được tài sản do thuê; được giao tài sản để thực hiện công việc chuyên môn…) + Chiếm hữu bất hợp pháp: Là chiếm hữu không dựa trên cơ sở của pháp luật. Được chia thành 2 loại: Chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình, Chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình. - Quyền sử dụng: Là quyền khai thác những lợi ích vật chất của tài sản trong phạm vi pháp luật cho phép. - Quyền định đoạt: Là quyền năng của chủ sở hữu để quyết định số phận của vật. 2. Hợp đồng dân sự 2.1. Khái niệm: Trong những giao lưu dân sự thường nhật trong cuộc sống của con người, việc chuyển giao quyền tài sản giữa người này với người khác đóng một vai trò quan trọng. Những việc chuyển giao quyền tài sản đó không phải tự nhiên hình thành mà phải thông qua những thỏa thuận giữa các bên. Sự thể hiện và thống nhất ý chí đó được gọi là “Hợp đồng”. Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Khi giao kết hợp đồng, các bên phải tuân thủ nguyên tắc: - Hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, trung thực, không bên nào được ép buộc bên nào trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng - Được tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. 2.2. Hình thức ký kết hợp đồng dân sự - Hình thức miệng: Các điều khoản của HĐ được thỏa thuận bằng miệng. Sau khi các bên đã thống nhất với nhau về nội dung của hợp đồng bằng miệng, các bên sẽ bắt đầu thực hiện HĐ. - Hình thức viết: Khi ký kết hợp đồng, các bên thỏa thuận và thống nhất về nội dung chi tiết của hợp đồng, sau đó lập văn bản viết tay hoặc đánh máy. Các bên cần phải ký tên mình hoặc đại diện hợp pháp ký tên vào văn bản đã lập. - Hình thức văn bản có chứng thực: đối với những HĐ mà pháp luật quy định phải có chứng thực của cơ quan công chứng Nhà nước như hợp đồng mua bán nhà ở, buộc các bên phải đến cơ quan công chứng để chứng thực, hoặc phải có xác nhận của UBND địa phương. 2.3. Trách nhiệm dân sự do vi phạm HĐ: Trách nhiệm dân sự do vi phạm HĐ là sự cưỡng chế của Nhà nước buộc bên vi phạm hợp đồng phải tiếp tục thực hiện đúng HĐ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi không chấp hành hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia. * Các loại trách nhiệm dân sự do vi phạm HĐ: - Trách nhiệm dân sự do thực hiện không đúng hợp đồng: Khi một bên không thực hiện HĐ, bên đó phải tiếp tục thực hiện HĐ theo yêu cầu của bên kia. Nếu bên vi phạm vẫn không thực hiện, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các hình thức cưỡng chế để bảo vệ quyền lợi cho mình. - Trách nhiệm do chậm thực hiện HĐ: Thời hạn thực hiện HĐ do các bên thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Khi hết hạn của HĐ, bên nào chưa thực hiện xong nhiệm vụ của mình thì phải tiếp tục thực hiện. Nếu có thiệt hại xảy ra do một bên thực hiện HĐ không đúng thì bên bị thiệt hại có quyền đơn phương đình chỉ HĐ. Trường hợp 51

thực hiện HĐ chậm do gặp sự kiện bất khả kháng mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên thực hiện chậm HĐ không phải bồi thường thiệt hại, còn bên kia có quyền hủy bỏ HĐ. - Trách nhiệm do thực hiện HĐ không đủ số lượng, không đúng chất lượng, không đồng bộ, không đúng chủng loại: + Nếu 1 bên thực hiện HĐ không đủ số lượng theo yêu cầu của bên kia, bên này vẫn phải tiếp tục thực hiện đủ số lượng đã thỏa thuận khi giao kết HĐ. Khi có yêu cầu mà một bên vẫn thực hiện không đủ số lượng thì bên bị vi phạm có quyền nhận hay không nhận. Nếu nhận thì bên nhận chỉ trả đúng số lượng hàng thực nhận, lượng hàng còn thiếu sẽ do bên kia trả lại tiền đã nhận trước của bên bị nhận thiếu. + Nếu 1 bên không thực hiện đúng chất lượng đã thỏa thuận theo qui định của pháp luật thì bên bị vi phạm có quyền không nhận, hoặc nếu nhận thì có quyền yêu cầu giảm giá, sửa chữa sai sót và yêu cầu bồi thường thiệt hại. + Với những hợp đồng có bảo hành chất lượng hàng hóa mà trong thời gian bảo hành chất lượng không đảm bảo, thì bên được bảo hành có quyền yêu cầu sửa chữa, khắc phục các khuyết tật của hàng hóa hoặc yêu cầu giảm giá đúng với giá trị thực tế của vật. Nếu bên kia không đáp ứng thì bên được bảo hành có quyền trả lại vật, yêu cầu đòi lại tiền và bồi thường thiệt hại nếu có. + Đối với những vật đồng bộ, có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo thành một khối thống nhất, nếu thiếu một vật sẽ làm ảnh hưởng đến chức năng, chất lượng của toàn bộ vật đó mà do bên kia không chuyển hoặc không hoàn thành vật đồng bộ thì bên bị vi phạm có quyền không nhận và yêu cầu chuyển vật phải đồng bộ hoặc có quyền hủy bỏ HĐ. Phía bên kia phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm (nếu có). + Trường hợp một bên giao một vật không đúng chủng loại (không cùng loại), bên kia có quyền không nhận và yêu cầu giao đúng chủng loại, hoặc có quyền hủy bỏ HĐ và yêu cầu bồi thường thiệt hại. - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại Các bên giao kết HĐ phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã phát sinh theo HĐ. Khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã qui định trong HĐ mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đã xảy ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có đầy đủ các điều kiện: + Có thiệt hại thực tế xảy ra, + Có hành vi trái pháp luật, + Có lỗi, + Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra. - Ngoài ra pháp luật còn quy định một số trường hợp bên vi phạm HĐ không phải bồi thường thiệt hại, đó là: + Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. + Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng. - Trách nhiệm của nhiều người cùng gây thiệt hại + Trách nhiệm liên đới: Xảy ra trong trường hợp bên gây thiệt hại có nhiều người cùng chung gây thiệt hại phải liên đới bồi thường thiệt hại. Bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu 1 trong số những người của bên gây thiệt hại bồi thường toàn bộ hoặc 1 phần thiệt hại đã xảy ra, phần còn lại yêu cầu người khác. 52

+ Trách nhiệm theo phần: Một bên của hợp đồng có nhiều người gây thiệt hại nhưng trách nhiệm của họ độc lập với nhau, thì mỗi người phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra. + Trách nhiệm hỗn hợp: Xảy ra trong trường hợp do lỗi của cả 2 bên tham gia HĐ. Trường hợp này phải xác định rõ lỗi của từng bên để xác định mức bồi thường thiệt hại. 3. Thưà kế 3.1. Khái niệm: Là việc chuyển dịch tài sản (di sản) của người chết cho cá nhân, tổ chức khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. - Thời điểm mở thừa kế: là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định theo quyết định của tòa án - Địa điểm mở thừa kế: là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản. - Thanh toán nghĩa vụ tài sản trước khi chia thừa kế: Trước khi phân chia di sản thừa kế, những người được thừa kế phải thanh toán những khoản theo thứ tự sau: Tiền chi phái mai táng cho người chết, tiền cấp dưỡng còn thiếu, tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ, tiền công lao động, tiền bồi thường thiệt hại, tiền thuến, các khoản nợ nhà nước, của công dân, pháp nhân, chi phí cho việc bảo quản di sản. - Thời hiệu khởi kiện quyền thừa kế: mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. 3.2. Các hình thức thưà kế: 3.2.1 Thưà kế theo pháp luật : Là thừa kế theo hàng thừa kế , điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. * Hàng thừa kế theo pháp luật bao gồm: - Hàng thứ 1: vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. - Hàng thứ 2 : ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của người chết, cháu ruột của người chết - Hàng thứ 3: cụ nội, cụ ngoại, chú, bác , cậu, cô, dì ruột, chắt ruột của người chết .. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. * Thừa kế thế vị: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. 3.2.1. Thừa kế theo di chúc : Di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc có thể lập bằng văn bản hoặc di chúc miệng. - Di chúc bằng văn bản bao gồm: 53

+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng + Di chúc bằng văn bản có người làm chứng + Di chúc bằng văn bản có chứng thực + Di chúc bằng văn bản có công chứng - Di chúc miệng : + Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ. - Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau: + Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; + Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. + Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. + Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. + Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. - Người lập di chúc có các quyền sau đây: + Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; + Phân định phần di sản cho từng người thừa kế; + Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; + Giao nghĩa vụ cho người thừa kế; + Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. - Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc: Con chưa thành niên, cha mẹ, vợ, chồng; con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của người thừa kế theo PL, nếu di sản được chia theo pháp luật trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc di sản ít hơn 2/3 suất đó . III. LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: 1. Khái niệm: Là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt nam, bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát sinh giữa Tòa án (cơ quan tiến hành tố tụng) với những người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích của nhà nước, tổ chức và của công dân. 2. Những thẩm quyền thuộc vụ việc giải quyết của Tòa án: - Những tranh chấp về dân sự và những yêu cầu vể dân sự (theo nghĩa hẹp) - Những tranh chấp về hôn nhân gia đình và những yêu cầu về HNGĐ - Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại và những yêu cầu về kinh doanh, thương mại. 54

- Những tranh chấp vể lao động và những yêu cầu về lao động 3. Trình tự thủ tục giải quyết vụ án dân sự: 3.1 Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án: - Công dân hoặc tổ chức nộp đơn khởi kiện tại Toà án - Đóng án phí – Toà án thụ lý đơn 3. 2. Giai đoạn hoà giải và chuẩn bị xét xử: Trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải đề các đương sự thoả thuận với nhau đề giải quyết vụ án . Nếu thỏa thuận được, Toà án ra Quyết định công nhận thoả thuận các đương sự, nếu không thành, Toà án đưa vụ án ra xét xử : Thời hạn : + 4 tháng đối với các tranh chấp tài sản. Thừa kế, hôn nhân gia đình, đất đai + 2 tháng đối với các tranh chấp về mua bán hàng hoá, thương mại… 3.3. Giai đoạn xét xử sơ thẩm: Phải có mặt của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan Toà án trực tiếp xác định tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe trình bày của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ thu thập được , nghe Kiểm sát viên phát biểu ( nếu có), tranh luận tại phiên toà Toà án nghị án và tuyên án . 3.4. Giai đoạn xét xử phúc thẩm: Là việc Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp xét xử lại hoặc giao cho Tòa án nhân dân cấp dưới xét xử lại những bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật nhưng có kháng cáo, kháng nghị. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị là 15 ngày 3.5. Giai đoạn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm: - Giám đốc thẩm: Được tiến hành đối với các bản án , quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện thấy có sai lầm về mặt nội dung hoặc về tố tụng trong quá trình điều tra, xét xử. - Tái thẩm: được tiến hành đối với các bản án , quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện thấy có tình tiết mới làm thay đổi tính chất của vụ án dân sự. 3.6. Thi hành án dân sự Là giai đoạn cuối cùng của vụ án dân sự. các bản án, quyết định sẽ được cơ quan thi hành án dân sự đưa ra thi hành.Thủ tục quy định thi hành án dân sự được quy định tại pháp lệnh thi hành án dân sự. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày khái niệm luật dân sự. 2. So sánh đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật dân sự với luật hành chính. 3. Trình bày nội dung cơ bản của chế định quyền sở hữu. 4. Trình bày nội dung cơ bản của chế định hợp đồng dân sự. 5.Trình bày các loại trách nhiệm dân sự. 6. Khái niệm thừa kế theo di chúc, những điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp, làm cơ sở cho việc thừa kế theo di chúc. 7. Phân biệt thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật 8. Các giai đoạn cơ bản của tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án dân sự 55

Bài 12

LUẬT LAO ĐỘNG
I. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT LAO ĐỘNG: 1. Khái niệm: Là ngành luật trong hệ thống pháp luật VN, gồm tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm điểu chỉnh các quan hệ lao động và những quan hệ xã hội khác có liên quan đến lao động . 2. Đối tượng điều chỉnh: Đối tượng điều chỉnh bao gồm 2 nhóm quan hệ sau: 2.1. Quan hệ lao động giữa NLĐ làm công ăn lương với NSD lao động . 2.2. Các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động: + Quan hệ về việc làm + Quan hệ về học nghề + Quan hệ giữa tổ chức công đoàn với NSD lao động + Quan hệ về đảm bảo vật chất cho NLĐ (hoặc là thành viên gia đình họ) trong trường hợp tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động + Quan hệ về bồi thường thiệt hại + Quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động 3. Phương pháp điều chỉnh: Xuất phát từ tính chất đặc điểm của quan hệ lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động nên luật lao động sử dụng nhiều phương pháp tác động khác nhau, bao gồm: - Phương pháp thỏa thuận: Đây là phương pháp điều chỉnh quan trọng của luật LĐ trong nền kinh tế thị trường phương pháp này được sử dụng trong việc thiết lập quan hệ LĐ (Giao kết hợp đồng lao động, chấm dứt HĐLĐ, phương pháp này được sử dụng khi ký kết thỏa ước LĐ tập thể, giải quyết tranh chấp lao động ... - Phương pháp mệnh lệnh: Phương pháp này áp dụng để xác định nghĩa vụ của NLĐ đối với NSD lao động. Trong quá trình lao động NSDLĐ có quyền kiểm tra, giám sát công việc của NLĐ, có quyền điều chuyển lao động, có quyền ban hành nội quy lao động.... mà NLĐ phải có nghĩa vụ chấp hành. - Phương pháp tác động xã hội (thông qua hoạt động của tổ chức Công đoàn tác động vào các quan hệ phát sinh trong quá trình lao động): Đây là phương pháp điều chỉnh đặc thù của luật LĐ, theo phương pháp này để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình lao động có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ phải có sự tham gia của tổ chức Công đoàn, tuy nhiên mức độ phạm vi tham gia do pháp luật quy định nhằm đảm bảo tính tự chủ của NSD lao động. II. MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN CỦA LUẬT LAO ĐỘNG: 1. Hợp đồng lao động: 1.1 Khái niệm: HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công về điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. 1.2. Nguyên tắc giao kết hợp đồng: 56

- HĐLĐ phải được giao kết trên cơ sở tự do, tự nguyện - Những thỏa thuận trong HĐLĐ không được trái với pháp luật lao động, pháp luật khác, không trái với TƯLĐTT (ở những nơi có kí kết TƯLĐTT) - Nhà nước khuyến khích các bên có những thỏa thuận có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật 1.3. Điều kiện và hình thức giao kết hợp đồng: - Các bên giao kết phải có đầy đủ điều kiện của các chủ thể (NLĐ, NSD lao động) - Giao kết trực tiếp giữa NLĐ và NSDLĐ - Giao kết thông qua người được ủy quyền (HĐLĐ có thể được kí kết giữa NSD lao động với người được ủy quyền thay mặt cho NLĐ hoặc nhóm NLĐ) 1.4. Các loại hợp đồng lao động: - HĐLĐ không xác định thời hạn là HĐ mà trong đó 2 bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của HĐ - HĐLĐ xác định thời hạn là HĐ mà trong đó 2 bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của HĐ trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng - HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng 1.5. Nội dung của hợp đồng lao động: Là tổng thể các quyền và nghĩa vụ lao động phát sinh qua hành vi kí kết HĐLĐ hoặc là nói bằng miệng giữa NLĐ và NSD lao động. HĐLĐ phải có những nội dung chủ yếu sau đây: Công việc phải làm; Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Tiền lương; Địa điểm làm việc; Thời hạn HĐ; Điều kiện về an toàn lao động vệ sinh lao động và BHXH đối với NLĐ. Ngoài ra 2 bên có thể thỏa thuận những vấn đề có lợi cho NLĐ (tiền thưởng, tiền bồi dưỡng...) 2. Tiền lương: 2.1 Khái niệm: Chế độ tiền lương là tổng hợp các văn bản pháp luật quy định việc trả công cho NLĐ bao gồm tiền lương cho CBCC nhà nước, tiền lương cho LLVT và tiền lương của NLĐ làm công ăn lương. Theo nghĩa hẹp, tiền lương của NLĐ làm công ăn lương là số tiền mà NLĐ nhận được từ NSD lao động theo thỏa thuận trong HĐLĐ (hoặc TƯLĐTT) phù hợp với pháp luật lao động. 2.2 Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương: Tiền lương trả cho NLĐ phải căn cứ vào năng suất chất lượng và hiệu quả công việc (yêu cầu phải đảm bảo sao cho sức lao động là thước đo của việc trả lương. Lao động có trình độ, lao động thành thạo phải được trả lương cao hơn lao động giản đơn, lao động kém thành thạo). Tiền lương trả cho NLĐ phải căn cứ vào điều kiện lao động cụ thể (ngoài trình độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ của NLĐ còn phải căn cứ vào điều kiện lao động của NLĐ để thỏa thuận, chẳng hạn NLĐ làm việc trong điều kiện độc hại, nặng nhọc hay làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh.... Tiền lương trả cho NLĐ không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định cho từng thời kỳ, từng khu vực và từng ngành nghề Tiền lương được trả ngang nhau cho những công việc ngang nhau, không được phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo. 57

2.3. Hình thức trả lương: - Trả lương theo thời gian - là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian làm việc thực tế của NLĐ - Trả lương theo sản phẩm - là hình thức trả lương căn cứ vào chất lượng và số lượng sản phẩm làm ra - Trả lương khoán - là hình thức trả cho NLĐ theo khối lượng và chất lượng công việc họ phải hoàn thành 2.4. Trả lương trong những trường hợp đặc biệt: Trả lương khi làm thêm giờ, làm đêm: 2.4.1. Làm thêm giờ: - Làm thêm giờ vào ngày thường ít nhất bằng 150% - Vào ngày nghỉ hàng tuần ít nhất bằng 200% - Vào ngày lễ ngày nghỉ có hưởng lương ít nhất 300% 2.4.1.Làm đêm : NLĐ làm đêm được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm vào ban ngày. 3. Kỷ luật lao động: 3.1. Khái niệm: Là những quy định về việc tuân theo thời gian công nghệ và điều hành sản xuất kinh doanh, thể hiện trong nội quy lao động. Nội quy lao động không được trái với pháp luật lao động và pháp luật khác. DN có sử dụng từ 10 lao động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản. 3.2. Nội dung của kỷ luật lao động: 3.2.1. Là nội quy lao động của Doanh nghiệp. NSD lao động có quyền ban hành nội quy lao động nhưng phải tuân thủ nguyên tắc sau: - Nội quy lao động không được trái với pháp luật lao động và pháp luật khác - Trước khi ban hành bản nội quy lao động NSD lao động phải tham khảo ý kiến CĐCS hoặc CĐLT trong DN - NSD lao động phải đăng kí bản nội quy lao động tại cơ quan lao động cấp tỉnh, thành phố. 3.2.2.Nội dung của bản nội quy: - Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi bao gồm thời giờ làm việc trong ngày, trong tuần, thời giờ nghỉ giải lao giữa giờ làm việc, số ca làm việc, ngày nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng, số giờ làm thêm trong ngày, trong tuần, trong tháng hoặc trong năm. - Trật tự trong DN bao gồm phạm vi làm việc, đi lại, giao tiếp và những yêu cầu khác về giữ trật tự chung. - An toàn lao động, vệ sinh lao động ở nơi làm việc bao gồm việc chấp hành những biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động, việc tuân thủ các tiêu chuẩn và an toàn lao động, vệ sinh lao động, việc sử dụng và bảo quản trang thiết bị BHLĐ, giữ gìn vệ sinh công nghiệp nơi làm việc. - Bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ kinh doanh của DN, các loại tài sản, tài liệu của đơn vị thuộc phạm vi trách nhiệm được giao. - Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, các hình thức kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất. 58

3.3.Những biện pháp để bảo đảm kỷ luật lao động: Giáo dục, thuyết phục - tức là làm cho NLĐ hiểu rõ nội dung của bản nội quy lao động để họ xác định được những vấn đề cần phải chấp hành khi thực hiện nghĩa vụ lao động, từ đó họ có ý thức tự giác tuân theo, biện pháp này còn bao hàm cả việc khen thưởng những cá nhân và tập thể chấp hành tốt bản nội dung lao động Biện pháp áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động - Bắt người vi phạm nội quy lao động phải chịu một trong các hình thức kỷ luật. 3.4. Các hình thức kỷ luật lao động: - Khiển trách - có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản áp dụng đối với NLĐ phạm lỗi lần đầu với mức độ nhẹ. - Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng, - Chuyển sang làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6 tháng - Cách chức được áp dụng đối với NLĐ đã bị khiển trách bằng văn bản mà tái phạm trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày bị khiển trách, hoặc có những hành vi vi phạm đã được quy định trong nội quy lao động. - Sa thải – được áp dụng trong các trường hợp sau: + NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của DN. + NLĐ bị xử lí kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển sang làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật hoặc bị xử lí kỷ luật cách chức mà tái phạm. + NLĐ tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong 1 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm và không có lí do chính đáng (có lí do chính đáng gồm: bị thiên tai, hỏa hoạn, bản thân hoặc thân nhân bị ốm đau có xác nhận của cơ quan y tế hợp pháp) 3.4. Trách nhiệm kỷ luật lao động: Là một loại trách nhiệm pháp lí do NSD lao động áp dụng đối với NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật lao động bằng cách bắt họ phải chịu một trong các hình thức kỷ luật. * Căn cứ xác định trách nhiệm kỷ luật lao động: NLĐ phải có hành vi vi phạm kỷ luật lao động (hành vi này đã được quy định trong bản nội qua của DN) NLĐ có lỗi, tức là trạng thái tâm lí của NLĐ khi họ có hành vi vi phạm kỷ luật lao động. 4.Chế định bảo hiểm xã hội: 4.1. Khái niệm: Là chế độ pháp định bảo vệ NLĐ sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, NSD lao động được sự tài trợ bảo hộ của nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong các trường hợp ốm đau, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, chết và bồi dưỡng sức khỏe cho NLĐ trong những trường hợp nhất định 4.2. Các loại hình bảo hiểm xã hội: - Loại hình BH bắt buộc áp dụng đối với DN, cơ quan tổ chức sử dụng lao động làm việc theo HĐLĐ có thời hạn đủ từ 3 tháng trở lên và HĐLĐ không xác định thời hạn. Ở những đơn vị này NLĐ và NSD lao động phải đóng góp cho quỹ BHXH theo quy định và NLĐ được hưởng trợ cấp BHXH khi có đủ điều kiện. 59

- Loại hình BHXH tự nguyện áp dụng đối với NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn dưới 03 tháng thì các khoản BHXH được tính vào tiền lương do NSD lao động trả để họ tự lo về bảo hiểm XH. 4.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội: - Chế độ trợ cấp ốm đau - Chế độ thai sản - Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp - Chế độ hưu trí: + Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên. + Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên và có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên. + Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi, đóng Bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. + Người lao động đóng Bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên và có 15 năm làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời) - Mức lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% mức lương bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội tương ứng với 15 năm đóng Bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội thì được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, mức tối đa bằng 75%. - Chế độ tử tuất - Chế độ nghỉ dưỡng sức

60

MỤC LỤC
Bài 1. Những vấn đề cơ bản về nhà nước……………………………………………… 1 Bài 2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam……………………..…………10 Bài 3. Những vấn đề cơ bản về pháp luật………………………………………………14 Bài 4. Hệ thống pháp luật………………………………………………………………18 Bài 5. Quan hệ pháp luật ………………………………………………………………22 Bài 6. Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý………………......26 Bài 7. Ý thức pháp luật, pháp chế XHCN ……………………………………………...31 Bài 8. Luật Hiến pháp ………………………………………………………………….34 Bài 9. Khái quát Luật Hành chính ……………………………………………………..36 Bài 10. Khái quát Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự ……………………………….. 41 Bài 11. Khái quát Luật dân sự, Luật Tố tụng dân sự …………………………………..48 Bài 12. Khái quát Luật Lao động ………………………………………………………55

61