You are on page 1of 7

INTERNATIONAL UNIVERSITY

School of Bio-Technology

LỊCH SỬ ĐẢNG
Bài Thu Hoạch
32 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều biến chuyển, hàng lớp những thế hệ trẻ đã ra đời
trong sự hy sinh của thế hệ cha anh. Quả thật chúng em rất may mắn khi được sinh ra trong
không khí thanh bình của đất nước. Từ trước đến giờ em vẫn coi nhẹ cái điều may mắn đó
nhưng sau chuyến đi lần này rõ ràng đã gợn lên nhiều nếp nghĩ mới.

Nhìn lại một quá khứ hào hùng nhưng không kém phần đau thương của dân tộc mới thấy
cha ông chúng ta đã vô cùng gian lao để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dòng chảy lịch sử đã
cuốn dân tộc ta băng qua nhiều giai đoạn thăng trầm, chúng ta phải đương đầu với không ít
các cuộc chiến tranh không cân bằng về sức người sức của, một đất nước nhỏ bé nhưng luôn
phải đương đầu với những thế lực hùng mạnh. Và gần đây nhất, nhức nhối nhất chính là
cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược- một đất nước tuy còn trẻ nhưng vượt xa
chúng ta về sự văn minh và hiện đại.

Âm mưu xâm lược Việt Nam của Mĩ đã nhen nhóm từ khi Mĩ tận tình ủng hộ Pháp về tài
chính (11,2 tỷ $) cũng như về phương tiện chiến đấu (máy bay C47, đại liên 4 nòng 12 li 7,
xe tăng lội nước…). Tuy nhiên, Mĩ chỉ thật sự bắt đầu cuộc chiến của mình khi chúng lập ra
chế độ độc tài tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam ngay sau sự kiện đất nước bị
chia cắt bởi vĩ tuyến 17- theo Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết vào ngày 20/7/1954.

Chúng tiến hành ngay chiến dịch “Tố cộng, diệt cộng” nhằm đàn áp, khủng bố những chiến
sĩ cách mạng của ta, và tồi tệ nhất có lẽ là cuộc tàn sát tại đập Vĩnh Trinh (Quảng Nam- Đà
Nẵng) vào năm 1955 đã dìm nhân dân ta vào trong biển máu.

Tháng 5/1959, Mĩ- Diệm còn ban hành Luật 10/59 rê máy chém đi khắp các tỉnh miền Nam
Việt Nam để tận diệt các chiến sĩ yêu nước với khẩu hiệu “Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”.
Chúng tiến hành dồn dân vào các ấp chiến lược mà thực chất là những nhà tù trá hình trên
quy mô lớn với chiến thuật “Tát nước bắt cá” (dồn 10 triệu người nông dân Việt Nam vào
hơn 16.000 ấp chiến lược) nhằm tách lực lượng cách mạng ra khỏi nông dân Việt Nam.

Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn từ 8/1964 đến 12/1972 nhưng không quân và hải quân
Mĩ đã phá hoại miền Bắc Việt Nam với hơn 900.000 đạn đại bác, 20.000 thuỷ lôi…chúng
còn huy động cả Hạm đội 7 tại bờ biển Đà Nẵng và các loại máy bay hiện đại nhất thời bấy
giờ như F111, B52, F4.

Theo số liệu thống kê thì cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã làm cho Mĩ phải tiêu tốn
925 tỷ $, sử dụng 14.300.000 tấn bom đạn…gấp 7 lần so với Chiến tranh thế giới lần thứ
hai, 20 lần so với chiến tranh Triều Tiên.

Nhưng chân lý cuối cùng vẫn thuộc về phe chính nghĩa, ngày 27/1/1973, với sự nỗ lực
không ngừng, Việt Nam đã buộc Mĩ và các nước đồng minh của Mĩ phải rút khỏi miền Nam
Việt Nam bằng Hiệp định Pa-ri. Hình ảnh chiếc xe tăng phá cửa Dinh Độc Lập vào 11h30
trưa ngày 30/4/1975 như một biểu tượng hùng hồn cho sức mạnh thiêng liêng tiềm ẩn trong
một dân tộc nhỏ bé nhưng ngoan cường. Chúng ta đã chiến thắng vẻ vang nhưng đó không
phải là một chiến thắng dễ dàng. Nó được đánh đổi bằng máu và nước mắt, có những nỗi
đau thể xác nhưng cũng có không ít những nỗi đau tinh thần, có những vết thương đã liền da
nhưng cũng có những vết thương bây giờ mới đau đớn, mới bộc lộ. Cuộc chiến đã khép lại
nhưng tàn dư của nó vẫn còn tồn tại cho đến tận hôm nay, gây cho chúng ta không ít xốn
xang và nhức nhối…
Mĩ đã xâm hại một cách nặng nề đến quyền làm một con người của mỗi công dân Việt Nam,
chúng đối xử với chúng ta khác hoàn toàn với những gì mà một con người đáng được hưởng
như trong Bản tuyên ngôn độc lập của chính quốc đã đề cập.

Nhìn hình ảnh một tên lính Mĩ xách một phần thân thể của chiến sĩ Cộng sản bị bom xé
toang với nụ cười mãn nguyện mà em chợt rùng mình. Chúng không còn là con người khi
dửng dưng chặt đầu đồng loại của mình rồi vui vẻ chụp ảnh làm lưu niệm.

Đau đớn cho cha ông bao nhiêu, em càng thấy hãi hùng với chính phủ Mĩ đương thời bấy
nhiêu. Họ đã làm gì để biến những người lính của mình thành những quái thú đánh mất
nhân tính ?

Và không còn bất cứ lý do nào để có thể bào chữa cho 2 cuộc thảm sát tàn bạo tại Bến Tre
và Sơn Mỹ. Thật vô cùng phẫn nộ khi chúng cũng không buông tha cho những người dân vô
tội thậm chí họ là những sinh linh không có khả năng chống cự…504 thường dân ở xã Sơn
Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã bị giết chết hàng loạt trong đó có 182 phụ nữ (bao
gồm 17 phụ nữ đang mang thai), 173 trẻ em (bao gồm 56 em bé từ sơ sinh cho đến 5 tháng
tuổi) và 60 cụ già trên 60 tuổi…

Nhưng tàn nhẫn nhất có lẽ là việc sử dụng vũ khí sinh học để biến nước ta thành bình địa.
72 triệu lít chất khai quang (trong đó chất độc màu da cam chiếm tới 44 triệu lít) đã được
trải khắp các căn cứ của quân dân ta, bao gồm cả căn cứ Dương Minh Châu ở U Minh. Thứ
vũ khí này không chỉ tàn phá thiên nhiên mà còn tác hại một cách nặng nề đến con người,
nhất là ảnh hưởng lâu dài đến thế hệ tương lai. Bởi lẽ hợp chất Dioxin có khả năng len lỏi,
huỷ hoại các cơ quan tạo máu, tế bào gan, đặc biệt là nhiễm sắc thể…gây nên những đột
biến nghiêm trọng, những quái thai dị hình.

Tội ác chiến tranh vẫn chưa dừng ở đó, chính quyền Mĩ Diệm với sự thô bạo của mình đã
không ngừng ném bom bắn phá các bệnh viện, trạm y tế, các công trình giao thông văn hoá,
… ở miền Bắc; xây nhà tù nhiều hơn trường học ở miền Nam.
Các hình thức tra tấn dã man đã ra đời hòng huỷ hoại thân xác, bào mòn ý chí của quân dân
ta. Nào chuồng chó, rọ heo ở Phú Quốc; nào chuồng cọp ở Côn Đảo. Con người trong
thoáng chốc bị biến thành con thú trong khoảng không chật hẹp với chiều ngang 1,5m,
chiều dài 2,7m và chiều cao 3m; với một chân bị còng và một bầu không khí lạnh lẽo, căng
thẳng vì mỗi tiếng động nhỏ đều có thể trở thành nguyên cớ cho bọn quân sai trút cơn giận
dữ bằng nước lạnh, bằng cây nhọn thọc từ các khung sắt trên cao. Nào tra điện, tra nước,
đóng đinh (người ta đã tìm thấy xác của một chiến sĩ Cộng sản bị đóng 1 cây đinh dài 10cm
vào đầu); nào châm kim, đi “tàu bay”,”tàu ngầm”….Tất cả các đòn tra khảo đó một mặt cho
thấy sự khủng khiếp của chiến tranh, mặt khác cũng khiến cho thế hệ chúng em phải thầm
cảm phục và biết ơn những con người đã hi sinh thân mình vì mảnh đất quê hương. Chỉ có
bản lĩnh cách mạng vững vàng cùng với lòng yêu nước sắt son, họ mới có thể sống và chết
bất khuất như thế:
“…Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để gì lại cho riêng anh
Chỉ để lại một dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”

Chiến tranh đã qua đi, thiết nghĩ không có toà án nào có thể dung thứ cho những tội ác đó,
nhất là toà án lương tâm trong lòng những con người đã từng tham chiến tại Việt Nam.
Chính Cựu Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Mĩ Robert Macnamara đã phải thừa nhận trong
quyển hồi ký “Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch, và những bài học về Việt Nam” xuất bản
năm 1995: “Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp và chúng tôi đã mắc nợ thế hệ tương
lai về việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy và chính sự sai lầm đó đã gây ra những hậu
quả nặng nề cho đất nước và nhân dân Việt Nam”
Nhìn ánh mắt vô hồn của những em bé bị nhiễm chất độc màu da cam, ánh mắt quặng thắt
tràn ngập câu hỏi của những người cha người mẹ đã hy sinh tuổi thanh xuân nơi chiến
trường tưởng rằng đã được yên ổn khi đất nước hoà bình mà sao quá khứ vẫn còn đeo đẳng
theo những vết thương không thể nhìn thấy, nhìn ánh mắt cô đơn của những cụ già khi sáng
tối thắp nhang sưởi ấm cho những “kẻ đầu xanh”, ánh mắt khắc khoải của những con người
30 năm rồi vẫn chưa tìm được xác người thân…..chúng ta đều bất giác chùng lòng, mỗi
người trong chúng ta đều đã được nhận quá nhiều. Trong lòng em chợt vang lên ca khúc:
“Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta.
Mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay?”