Lời Mở Đầu

1) Đặt vấn đề: Trong một vài năm trở lại đây Việt Nam đã có được nhiều thuận lợi trên con đường hội nhập quốc tế, đặc biệt từ khi gia nhập WTO nền kinh tế càng có bước phát triển mạnh mẽ, biểu hiện điển hình là sự sôi nổi của thị trường chứng khoán trong năm 2006 và 2007 đã đưa thị trường chứng khoán Việt Nam vượt lên xếp thứ 24 thế giới về tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi ta cũng gặp phải những khó khăn không ít. từ giữa năm 2007, lạm phát đã tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế của nước ta nói chung cũng như góp phần tạo nên một bức tranh đỏ ảm đạm trên Thị Trường Chứng Khoán nói riêng. Do sự phát triển quá nhanh và quá nóng đối với một thị trường còn quá non trẻ và sự thiếu kinh nghiệm, thiếu hiểu biết của những nhà đầu tư ngắn hạn đã tạo ra những rủi ro đáng tiếc, cùng với sự ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, thị trường bất động sản, vàng,… đã làm cho thị trường chứng khoán nước ta có nhiều biến động đáng kể, biểu hiện rõ ràng nhất là sự biến động về giá, bởi giá cả chính là yếu tố quyết định trong chứng khoán. Giống như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động trên trên thị trường chứng khoán cũng diễn ra theo chu kỳ tăng-giảm-tăng. Vào thời kỳ giá gia tăng, TTCK gọi nó là “ bull market”. Bull là con bò tót. Người ta cũng dùng tiếng lóng ‘’bull” để chỉ người lạc quan thường đẩy cho giă cả tăng. Thời kỳ giá giảm sút được gọi là “bear market”. “Bear” là con gấu. Người ta gọi “bear” nhìn tình hình bi quan và làm cho giá giảm xuống. Giá cả ở TTCK là một cuộc đấu tranh giữa hai loại người này. Vậy tại sao lại có sự lên xuống của giá cả? Những nhân tố nào đã làm nên sự thay đổi này ? Đây chính là mối quan tâm nhất của nhiều nhà đầu tư tham gia vào TTCK và cũng là lý do chọn đề tài “CÁC NHÂN TỐ ẢNH

HƯỞNG ĐẾN GIÁ CHỨNG KHOÁN” với mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm
rõ về các nhân tố ảnh hưởng tới Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam trong thời gian qua để các nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán có thể khắc phục hay làm giảm sự ảnh hưởng đó đến mức tối thiểu đối với việc quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp. Do đề tài còn mới mẻ, thời gian nghiên cứu hạn hẹp,nghiên cứu trên quy mô tổng thể nói chung nên việc phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán một cách toàn diện và xác thực là điều rất khó khăn rất mong được sự góp ý của các thầy (cô) giáo cùng các bạn, để đề tài được hoàn thiện hơn. 2) Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tíc các ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế, xã hội, chính trị pháp luật đến giá chứng khoán

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán

Page 1

Phương pháp nghiên cứu: sử dụng các phương pháp phân tích giá chứng khoán lá phương pháp phân tích cơ bản và phương pháp phân tích kỹ thuật với những số liệu thực tế, các bảng biểu cũng như các đồ thị minh hoạ.
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Các nhân tố kinh tế vĩ mô, chính trị xã hội, pháp luật và một số chứng khoán tiêu biểu minh họa sự ảnh hưởng từ các nhân tố đã phân tích(thêm phân tích kt).

Chương 1 -Cơ Sở Lý Luận Về Thị Trường Chứng Khoán
1.1

Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán:

1.1.1 Khái niệm: Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. 1.1.2 Bản chất: Thị trường chứng khoán phản ánh các quan hệ trao đổi, mua bán quyền sở hữu tư liệu sản xuất và vốn bằng tiền, tức là mua bán quyền sở hữu vốn. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được lưu thông như một loại hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng. Thị trường chứng khoán là hình thái phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa. 1.2 Đặc điểm và vai trò của Thị trường chứng khoán 1.2.1 Đặc điểm: Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, được chuyên môn hóa về mua bán các chứng khoán trung và dại hạn. Thị trường chứng khoán ra đời là một tất yếu khách quan. 1.2.2 Vai trò : Thị trường chứng khoán là phương tiện huy động vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thị trường chứng khoán là công cụ khuyến khích dân cư tiết kiệm và sử dụng tiền tiết kiệm này vào đầu tư, từ đó xã hội hóa việc đầu tư. Thị trường chứng khoán thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả.

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán

Page 2

Thị trường chứng khoán góp phần điều hòa vốn giữa các ngành trong nền kinh tế, tạo nên sự phát triển nhanh và đồng đều trong nền kinh tế. Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài. Phân loại Thị trường chứng khoán: 1.3.1 Căn cứ vào phương tện pháp lý của hình thức thị trường tổ chức thị trường: Thị trường chứng khoán chính thức ( The stock exchange ) hay còn gọi là thị trường chứng khoán tập trung, là thị trường chứng khoán hoạt động theo các quy định pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng ký. TTCK chính thức có địa điểm và thời gian ,ua bán rõ rệt, giá cả được định theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán. TTCK được thực hiện bằng các Sở giao dịgh chứng khoán. TTCK phi chính thức ( Over the counter market – OTC ) hay còn gọi là TTCK phi tập trung là TTCK mua bán chứng khoán ngoài Sở giao dịch, không có địa điểm tập trung những người môi giói, những người kinh doanh chứng khoán như ở Sở giao dịch chứng khoán, không có sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán, không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thỏa thuận của người mua và người bán được thực hiện bởi các công ty chứng khoán thành viên. Phương thức giao dịch thông qua mạng điện thoại và vi tính. Các chứng khaons giao dịch trên thị trường này thường là các loại chứng khoán không được đăng ký, ít người biết hay ít được mua bán.
1.3

1.3.2 Căn cứ vào tính chất phát hành hay lưu hành của chứng khoán: TTCK sơ cấp: TTCK sơ cấp còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành các loại chứng khoán. Đây là nơi diễn ra cá loại hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành lần đầu, cho phép các chủ thể cần nguồn tài chính tiếp nhận được các nguồn tài chính bằng việc phát hành các chứng khoán mới, những chứng khoán bán cho người đầu tiên mua nó nhằm thu hút vốn đầu tư. TTCK sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành. Thị trường này tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi của các nhà đầu tư về phía các đơn vị phát hành, đồng thời các chứng khoán được chuyển đến tay các nhà đầu tư lần đầu. Thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nền kinh tế đồng thời tạo ra hàng hóa chứng khoán do thị trướng thứ cấp. Việc phát hành chứng khoán ở thị trường sơ cấp nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư, tiết kiệm vào phát triển kinh tế. Đối tượng mua bán trên TTCK sơ cấp là quyền sử dụng các nguồn tài chính. Thị trường này chỉ được tổ chức một lần, việc phát hành chứng khoán được bắt đầu kể từ khi đơn vị phát hành chứng khoán chào bán chứng khoán ra công chúng và chấm dứt khi toàn bộ số chứng khoán của đợt phát hànhđến tay các nhà đầu tư thứ nhất.
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 3

TTCK thứ cấp: là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông, thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được phát hành trên TTCK sơ cấp, làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán. Đây là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán đến tay người thứ hai, tức là thị trường diễn ra việc mua bán lại các chứng khoán đã được phát hành trên TTCK sơ cấp. TTCK thứ cấp là một loại thị trường cạnh tranh tự do. Trên thị trường này, các nhà đầu tư, các nhà môi giới, các nhà kinh doanh chứng khoán được tự do tham gia. Mặt khác, giá cả của chứng khoán phản ánh nguyên tắc cạnh tranh và kết quả của quan hệ cung cầu chứng khoán. Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục không ngừng nghỉ. Các nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán nhiều lần trên thị trường này. 1.3.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch: Thị trường giao ngay (Spots market) còn gọi là thị trường thời điểm, tức là thị trường thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán theo gía thỏa thuận của ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra tiếp sau đó hai ngày. Thị trường tương lai (Future market) là thị trường mua bán chứng khoán theo một hợp đồng định sẵn, giá cả được thỏa thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định trong tương lai. 1.3.4 Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hóa lưu hành trên thị trường chứng khoán: Theo căn cứ này, TTCK được chia làm 3 loại thị trường: • Thị trường cổ phiếu • Thị trường trái phiếu. • Thị trường các công cụ và nguồn gốc chứng khoán.

Chương 2: Giới Thiệu Chung Về Giá Chứng Khoán
2.1 Khái niệm chứng khoán:

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: • Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; • Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán

Page 4

2.2 Đặc điểm và vai trò của chứng khoán: 2.2.1

Đặc điểm:

Chứng khoán là giá khoán động sản, tức là các công cụ vốn dài hạn. 2.2.2Vai trò: Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường để tạo nên một lượng vốn tiền tệ khổng tồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà Nước và tư nhân. Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công cụ tài chính có giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển nhượng. Chứng khoán là một loại hàng hóa rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị trường tự do.
2.3 Phân loại chứng khoán: 2.3.1

Căn cứ vào nội dung chứng khoán:

• Chứng khoán nợ là loại chứng khoán do Nhà Nước hoặc các doanh nghiệp phát hành cần huy động vốn cho các mục đích tài trợ dài hạn. Ví dụ: trái phiếu. • Chứng khoán vốn là giấy tờ chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào công ty cổ phần. Ví dụ: các loại cổ phiếu.
2.3.2 •

Căn cứ vào hình thức chứng khoán: Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không có gi tên người sở hữu trên các cổ phiếu, trái phiếu. Loại chứng khoán này có thể dễ dàng mua bán hay chuyển đổi trên thị trường chứng khoán. Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán mà tên người sở hữu lưu giữ trong hồ sơ của chủ thể phát hành trên chứng khoán. Việc chuyển tên người sở hữu chứng khoán này có phần khó khăn hơn và phải có sự đồng ý của cơ quan phát hành chứng khoán. Căn cứ vào lợi tức chứng khoán: Chứng khoán có lợi tức ổn định là loại chứng khoán mà người cầm giữ loại chứng khoán này được hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãi suất tính trên mệnh giá chứng khoán điển hình là trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi.

2.3.3 •

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán

Page 5

xã hội luôn có những tác động nhất định đến hoạt động của TTCK. • Phân tích kỹ thuật là phương pháp dựa vào biểu đồ. Phân tích cơ bản là việc phân tích bản cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển của công ty theo thời gian.• Chứng khoán có lợi tức không ổn định là loại chứng khoán mà các nhà đầu tư mong đợi 1 mức lợi tức cao hơn nhiều so với chứng khoán có lợi tức ổn định. đồ thị diễn biến giá cả và khối lượng giao dịch của cổ phiếu nhằm phân tích các biến động cung cầu đối với cổ phiếu để chỉ ra cách ứng xử trước mắt đối với giá cả. Tuy nhiên ở nước ta tình hình chính trị tương đối ổn định nên ta có thể bỏ qua yếu tố này. lãi suất không được ghi trên chứng khoán. tức là chỉ cho nhà phân tích thời điểm nên mua vào. • Môi trường xã hội và pháp luật : Hệ thống chính sách có tác động rất lớn đến bản thân TTCK và hoạt động của các doanh nghiệp. giới tham gia thị trường chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụng trong phân tích và đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. bán ra hay giữ nguyên cổ phiếu trên thị trường.1.1 Các ảnh hưởng của môi trường chính trị. Cùng với sự quan tâm đó.1. Yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạt động chính trị. cùng một cổ phiếu có thể có nhiều kết quả nhận định và phân tích khác nhau và phân tích cơ bản thường được coi là bỏ qua yếu tố tâm lý đầu tư. xã hội và pháp luật: Môi trường chính trị cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán. 3. Việc phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán dưới giá trị hay trên giá trị hiện hành. Hai hệ thống kĩ thuật phân tích được nói đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật. Các loại chứng khoán này thường mang tính chất rủi ro cao và không ổn định. Chương 3: Phân Tích Những Yếu Tố Tác Động Đến Giá Chứng Khoán Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rất lớn của mọi đối tượng trong xã hội. Vì vậy. •  Phân tích cơ bản hoàn toàn dựa vào các yếu tố đầu vào và khả năng phân tích mang tính chủ quan.1 Các nhân tố vĩ mô tác động Đến thị trường chứng khoán: 3. Mỗi thay đổi chính • Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 6 .1 Phân Tích Cơ Bản: 3. nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán. và tập trung nhấn mạnh vào hành vi biến động về giá và về khối lượng giao dịch cũng như các xu hướng của hành vi giá và khối lượng đó. còn phân tích phân tích kỹ thuật chủ yếu dựa vào nghiên cứu biến động giá thị trường của cổ phiếu.1.

Tỷ lệ lạm phát không hợp lý sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. lãi suất sẽ tăng lên. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 7 . sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững. nhất là trong những thời điểm nhạy cảm. các nguồn vốn nước ngoài được đầu tư nhiều vào thị trường chứng khoán nhưng việc tỷ giá hối đoái tăng mạnh đã làm nảy sinh lí do khiến các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường. Như vậy. khi lãi suất chuẩn tăng làm cho giá cả của các loại chứng khoán khác giảm xuống. Nếu lãi suất tăng sẽ trở thành gánh nặng cho kinh tế và ngược lại. • Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy. ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới doanh nghiệp.1.1. nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp. • Thông thường. đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài. • Tỷ giá hối đoái tăng cao đã tác động tới thị trường chứng khoán khá nhiều. một lượng vốn lớn nhanh chóng bị rút khỏi thị trường sẽ làm giá chứng khoán giảm và điều này sẽ tác động làm tăng lãi suất. 3. giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển tốt và có xu hướng giảm khi nền kinh tế giảm sút. Vì vậy việc dự đoán tình hình kinh tế để xem xét các ảnh hưởng của nó đến giá chứng khoán cũng rất quan trọng đến các nhà đầu tư. Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh của DN thì giá cổ phiếu của DN sẽ tăng lên. khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp khiến giá cổ phiếu giảm. thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của TTCK.sách có thể kéo theo các tác động làm giá chứng khoán tăng hoặc giảm.2 Các ảnh hưởng kinh tế vĩ mô: - Tỷ giá hối đoái: • Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi trường tài chính và chính bản thân hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. ngược lại lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của chứng khoán tăng lên. những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán. - Lãi suất: Lãi suất Trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn. - Lạm phát: là sự mất giá của đồng tiền. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá và ngược lại. nếu dự đoán được xu hướng phát triển của nền kinh tế.  Đây là những yếu tố phi kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá chứng khoán trên thị trường.

cổ đông chiến lược. dịch vụ tài chính…Trong quá trình phân tích cần xác định ngành nào có triển vọng phát triển để có quyết định đầu tư hợp lý. luật pháp. Khi lãi suất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn. Doanh nghiệp đó đang sản xuất . thể hiện qua tỷ trọng doanh thu và lợi nhuận của sản phẩm đó trên doanh thu và lợi nhuận của DN. cổ phiếu lưu hành.1 Lĩnh vực kinh doanh Trong nền kinh tế. do vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. cá nhân nắm số lượng lớn.2. Nếu lãi suất thị trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm. • 3. Thế nhưng câu chuyện về lãi suất khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng lại ở đó. đối thủ cạnh tranh. • Không chỉ vậy. quan hệ quan hệ giữa lãi suất thì trường và lãi suất chứng khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán. cổ đông tổ chức. giá trái phiếu sẽ sụt giảm. thậm chí là tăng như ngành y dược.2 Phân tích ngành: 3. Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Do đó. • Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và ngược chiều nhau.1. một cổ phiếu có nhiều cổ đông chiến Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 8 .2 • Vốn và cơ cấu vốn: Cơ cấu sở hữu vốn: Nhà nước nắm bao nhiêu phần trăm. số cổ phiếu bị hạn chế chuyển nhượng.kinh doanh sản phẩm nào là chủ yếu. có rất nhiều ngành khác nhau như: dược phẩm..2.Bình thường. Thông thường. giữa lãi suất thị trường và lãi suất trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu. cơ khí. hạn ngạch thuế quan. 3. hay công ty kinh doang trong những lĩnh vực liên quan đến các sản phẩm thiết yếu như gạo. Có những ngành khi nền kinh tế đi theo chiều hướng giảm thì giá cả của các cổ phiếu ngành này cũng không bị ảnh hưởng bao nhiêu..1.1. hoá chất công nghệ thông tin. điều này khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gửn tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán. thiên tai. lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một ngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. nhập khẩu.Ngoài việc nghiên cứu chính bản thân ngành đó thì những vấn đề như : chính sách xuất. các quy định về thuế của Chính phủ đối với một ngành cụ thể nào đó cũng có ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của ngành này. Biết được lĩnh vực kinh doanh chính của công ty giúp NĐT có cái nhìn rõ nét hơn về những ảnh hưởng có thể tác động tới DN như môi trường kinh tế vĩ mô.

Earning per share) và . điều mà cổ đông đại chúng mong muốn đối với kết quả hoạt động hàng năm của doanh nghiệp là một tỷ lệ chia cổ tức cao nhưng nếu DN có vốn chủ sở hữu lớn hơn nhiều so với vốn điều lệ thì điều đó dễ dàng làm cho EPS của cổ phiếu đó tăng cao. Và đối với phần lớn cổ đông đại chúng thì thành tích hoạt động của doanh nghiệp cuối cùng được đo lường bằng mức cổ tức được chia cho mỗi cổ phần (EPS . Một cấu trúc vốn tối ưu được định nghĩa là một cấu trúc vốn trong đó chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp đạt lớn nhất. Vấn đề cốt lõi của cấu trúc vốn tối ưu là khi doanh nghiệp vay nợ. doanh nghiệp tận dụng được lợi thế của lá chắn thuế từ nợ vay.khi đồng vốn của doanh nghiệp ngày càng được xã hội hóa. tức là thu nhập trước thuế và lãi vay (EBIT) phải vượt qua điểm bàng quang để doanh nghiệp có thể tận dụng được đòn cân nợ. Một cách đơn giản ta có thể hình dung là giá trị của doanh nghiệp khi vay nợ sẽ bằng giá trị của doanh nghiệp không vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế từ nợ. • Vốn chủ sở hữu. Một điều kiện nữa của cấu trúc vốn tối ưu là còn phải xem xét đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. có một thực tế là cả trước và sau khi DN tăng vốn thì giá cổ phiếu thường biến động khá mạnh. Quá trình tăng vốn của DN: cần tìm hiểu vốn hiện tại cũng như nhu cầu tăng vốn trong thời gian tới vì ở Việt Nam. thặng dư vốn. khi DN có tỷ lệ sở hữu của Nhà nước và cổ đông chiến lược lớn thì số cổ phiếu đang giao dịch trên thị trường ít hơn nhiều so với tổng số cổ phiếu. bản chất của vấn đề này là lãi suất mà doanh nghiệp trả cho nợ được miễn thuế (vì thuế được đánh sau lãi vay). chiến lược đề ra có vì quyền lợi của cổ đông.1. Nhưng vì sự tăng giá của cổ phiếu cũng phần lớn dựa trên EPS nên suy cho cùng.3 • HĐQT bao gồm những ai. áp lực của công chúng cổ đông đối với thành tích của doanh nghiệp ngày càng tăng. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 9 . Ngoài ra.2. biến động theo xu hướng cùng chiều nhau. lợi nhuận: nếu một DN có lợi nhuận lớn và tỷ lệ vay nợ hiện tại cao thì nhiều khả năng DN sẽ tăng vốn để giảm bớt chi phí vay.hoặc là sự tăng giá của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.lược thì tốt trong dài hạn và kỳ vọng của NĐT tăng cao dẫn đến giá của loại chứng khoán này cũng tăng cao hơn. Hơn nữa. tỷ lệ vốn góp của họ. liệu có sự phân biệt đối xử giữa cổ đông tổ chức và cổ đông nhỏ lẻ. Giao dịch của nhà ĐTNN và các tổ chức lớn: • 3. điều này thường có lợi cho giá cổ phiếu vì lượng cung bị hạn chế.

các cổ đông và các nhà quản lý tài chính đặc biệt chú ý tới khả năng sinh lãi của các công ty. a) Nhóm chỉ số khả năng sinh lợi: Các nhà đầu tư.4 Chỉ số tài chính: Phân tích chỉ số tài chính là một phần quan trọng của phân tích cơ bản. + Chỉ số đầu tư của cổ đông.2. Có 4 nhóm chỉ số chính sau: + Chỉ số khả năng sinh lợi. 3. Ban giám đốc.Nếu tỷ lệ lợi nhuận của một công ty tụt xuống dưới mức có thể chấp nhận được. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 10 . và với các công ty trong cùng ngành để thấy công ty đó hoạt động tốt hay xấu so với mức trung bình ngành. Các nhà quản lý giỏi sử dụng có hiệu quả tài sản của mình. Việc phân tích lợi nhuận có thể bắt đầu bằng việc nghiên cứu cách thức một công ty sử dụng cơ cấu vốn. Các tỷ số cần phải được so sánh giữa các thời kỳ trong cùng một công ty để thấy được công ty đang tăng trưởng hay suy giảm. Tỷ lệ lợi nhuận do bất kỳ một công ty nào đạt được là quan trọng nếu các nhà quản lý của công ty đó mong muốn thu hút vốn và thực hiện việc tài trợ thành công cho sự phát triển của công ty. Phân tích tỷ số liên quan đến việc so sánh các con số với nhau để tạo nên các tỷ số và từ đó dựa vào các tỷ số này để đánh giá xem hoạt động của công ty đang trong tình trạng suy giảm hay tăng trưởng. Thông qua việc tăng hiệu quả sản xuất. + Chỉ số hiệu quả hoạt động. Còn khi họ bán ra với số lượng lớn thì thường đó là tín hiệu xấu đồng nghĩa với việc giá chứng khoán sẽ giảm. thì P/E giá trên thu nhập và giá trị các cổ phiếu của công ty sẽ giảm xuống – điều đó giải thích tại sao việc đánh giá khả năng sinh lời lại đặc biệt quan trọng đối với một công ty.• Số lượng cổ phiếu nắm giữ của thành viên HĐQT. + Chỉ số khả năng thanh toán và đòn cân nợ.1. các công ty có thể giảm hoặc kiểm soát được các chi phí. Ban kiểm soát và những người liên quan: nếu số lượng nắm giữ cổ phiếu càng lớn thì rõ ràng là họ đều đặt niềm tin vào khả năng tăng trưởng của cổ phiếu và đó là tín hiệu tốt (giá chứng khaons tăng ).

000. Nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn. Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem công ty hoạt động có hiệu quả hay không.000 = 20%.000 = 40% Khi chi phí lao động và chi phí nguyên liệu tăng nhanh.000.• Hệ số tổng lợi nhuận Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng nguyên liệu và lao động trong quy trình sản xuất của ban quản lý một công ty.000.000 USD trong khi doanh thu là 1.000. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí vốn.000 USD/ 1. thì hệ số tổng lợi nhuận của công ty sẽ là: Hệ số tổng lợi nhuận = $1. Hệ số này là một thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. • Hệ số lợi nhuận hoạt động: Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết ban quản lý của một công ty đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của công ty.000 USD và trị giá hàng bán tính theo giá mua lên tới 600.000 – $600.000 USD. Mức lãi hoạt động = EBIT/ Doanh thu Tử số của hệ số này là thu nhập trước thuế và lãi hay chính là thu nhập tính được sau khi lấy doanh thu trừ trị giá hàng đã bán tính theo giá mua và các chi phí hoạt động EBIT.000. hệ số tổng lợi nhuận chắc chắn sẽ giảm xuống. thì công ty cần phải thực hiện một biện pháp nào đó để có được sự kiểm soát tốt hơn đối với chi phí lao động và nguyên liệu. thì mức lãi hoạt động là: Hệ số lợi nhuận hoạt động = 200. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 11 . Ví dụ: Hệ số lợi nhuận hoạt động: Nếu EBIT lên tới 200. HSTLN = Doanh số – Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua/ Doanh số bán Ví dụ: Hệ số tổng lợi nhuận : Nếu một công ty có doanh số bán là 1. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một Đô la doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu EBIT. trừ khi công ty có thể chuyển các chi phí này cho khách hàng của mình dưới hình thức nâng giá bán sản phẩm.000 USD.000/ $1. Một cách để tìm xem các chi phí này có quá cao không là so sánh hệ số tổng lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty tương đồng.

Nhà phân tích chứng khoán.000. đây là tỷ số so sánh lợi nhuận ròng với doanh số bán.nợ ngắn hạn) Chỉ số ROCE cho thấy sự hiệu quả và khả năng sinh lợi từ trong việc sử dụng vốn đầu tư của một công ty.000 USD/ 1. đặc biệt quan tâm đến hệ số này. Hệ số này có thể được tính như sau: ROE = Lợi nhuận ròng sau thuế/ Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình • Thu nhập trên tổng vốn đầu tư (ROCE) ROCE = (Lợi nhuận trước lãi và thuế) / (Tổng tài sản . Một công ty nên cho thấy chỉ số ROCE cao hơn mức lãi suất đi vay. nếu có thể. nếu không sự gia tăng vốn vay sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông. Ngoài ra. cũng như các cổ đông.000 = 10% Một số công ty có mức lợi nhuận ròng hơn 20%. Hệ số lợi nhuận ròng giữa các ngành khác nhau là khác nhau. Mức lãi ròng = Lợi nhuận ròng/ Doanh số Ví dụ: Hệ số lợi nhuận ròng: Nếu lợi nhuận sau thuế của một công ty là 100. một công ty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả – ở bất kỳ doanh số nào – thì mức lợi nhuận ròng của nó càng cao. • Hệ số thu nhập trên cổ phần Hệ số thu nhập trên cổ phần ROE là thước đo tỷ suất lợi nhuận của các cổ đông.000. hệ số thu nhập trên cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn.000 USD và doanh thu của nó là 1. các công ty được quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn vì các công ty này quản lý các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn.• Hệ số lợi nhuận ròng Hệ số lợi nhuận ròng là hệ số lợi nhuận từ mọi giai đoạn kinh doanh. Nói chung. Hệ số này là một cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi so sánh với hệ số thu nhập trên cổ phần của các cổ phiếu khác. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 12 . một công ty sẽ ở vào tình trạng thuận lợi nếu có mức lợi nhuận ròng cao hơn lợi nhuận ròng trung bình của ngành và. Nói cách khác. Xét từ góc độ nhà đầu tư. có mức lợi nhuận liên tục tăng. Thông thường.000 USD thì: Hệ số lợi nhuận ròng = 100. và một số khác có chỉ đạt khoảng từ 3% đến 5%.

Các chỉ số cấp hai: ROCE = Chỉ số lợi nhuận x Vòng quay tài sản LN trước thuế và lãi (Tổng tài sản . so sánh với chỉ số trung bình của ngành và với các đối thủ cạnh tranh.nợ ngắn hạn) Vòng quay tài sản cho thấy hiệu quả trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập. để làm được điều này thì công ty có thể phải giảm giá để chấp nhận mức lợi nhuận thấp hơn.nợ ngắn hạn) = LN trước lãi và thuế Doanh thu x Doanh thu (Tổng tài sản . chưa đủ để đánh giá chính xác về một công ty khi xem xét các chỉ số này một cách riêng biệt. Nhìn chung. • Vòng quay tài sản cao có nghĩa công ty đang có doanh số cao. và nếu ngược lại. • Hệ số thu nhập trên đầu tư ROI Hệ số thu nhập trên đầu tư ROI được công ty Du Pont phát triển cho mục đích sử dụng riêng. thu nhập và ROI sẽ thấp. cụ thể là: • Một chỉ số lợi nhuận cao có thể đồng nghĩa với giá bán cao. dẫn đến khả năng lớn là doanh số sẽ giảm và vì vậy vòng quay tài sản sẽ thấp hơn. nhưng cũng như các nhóm chỉ số khác. và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. thì thu nhập và ROI sẽ cao. các chỉ số lợi nhuận của công ty càng cao càng tốt. Một điều quan trọng nữa là cần so sánh chỉ số này qua các thời kỳ của công ty. ROI Hay : ROI = Thu nhập ròng/ Tổng tài sản Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty. nhưng ngày nay nó được rất nhiều công ty lớn sử dụng như là một cách thức tiện lợi để xác định tổng thể các ảnh hưởng của các biên lợi nhuận doanh thu tổng tài sản. b) Nhóm chỉ số thanh toán và nợ: = Thu nhập ròng/ Doanh số bán x Doanh số bán/ Tổng tài sản Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 13 . Giữa chỉ số lợi nhuận ròng và vòng quay tài sản có mối quan hệ cân bằng. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả.

Một hệ số được thiết lập chi tiết hơn khi xem xét vấn đề cơ cấu tài sản có thể loại bỏ được những thành tố kém tính thanh khoản nhất trong tài sản lưu động chính là hệ số khả năng thanh toán nhanh. Hệ số bằng 2. • Hệ số khả năng thanh toán nhanh.0 Hệ số khả năng thanh toán hiện tại cho thấy mức độ an toàn của một công ty trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này có thể khác nhau. Bằng cách loại bỏ giá trị không chắc chắn của hàng trong kho và tập trung vào những tài sản có khả năng chuyển đổi dễ dàng. Hiển nhiên là một công ty có dự trữ tiền mặt lớn và các chứng khoán khả mại sẽ có khả năng thanh toán lớn hơn một công ty có mức hàng tồn kho lớn.Chỉ số thanh toán thử nghiệm mức độ thanh toán của một công ty. hệ số khả năng thanh toán nhanh được Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 14 . • Hệ số khả năng thanh toán hiện tại: Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là mối tương quan giữa tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn.0. Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn Ví dụ: Hệ số khả năng thanh toán hiện tại Một công ty với tài sản lưu động trị giá 20 triệu USD và có các khoản nợ ngắn hạn trị giá 10 triệu USD sẽ có hệ số khả năng thanh toán hiện tại là 2. Hai hệ số thông dụng được sử dụng để xác định khả năng thanh toán của một công ty bao gồm hệ số khả năng thanh toán hiện tại tỷ lệ tài sản trên nợ và hệ số khả năng thanh toán nhanh hay còn gọi là hệ số thử axit.5 có thể chấp nhận được với một công ty dịch vụ công cộng vì nguồn tiền mặt dự tính thu vào cao và nợ hiện tại hay nợ ngắn hạn nhỏ.000.000.000 = 2. tuỳ thuộc vào ngành công nghiệp và loại công ty. Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = $20. Hệ số khả năng thanh toán hiện tại không phản ánh được tính linh hoạt của một công ty. trong khi hệ số bằng 1.0 hoặc lớn hơn có thể tốt cho một công ty sản xuất.000 / $10.

000. và mức 1. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu 5 triệu USD trong phần tài sản đó là hàng trong kho. Hệ số KNTT nhanh = (Tài sản lưu động .$5.000 .2 lần. • Chỉ số đòn cân nợ: Chỉ số này liên quan đến cơ cấu vốn dài hạn của một công ty và được dùng để xác định mức độ rủi ro liên quan đến việc nắm giữ vốn cổ phần trong một công ty.000.000 / $10. Mặt khác. Một công ty với tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao có thể cho thấy tình hình tài chính vững mạnh. Hệ số khả năng thanh toán nhanh = 20.thiết lập nhằm xác định khả năng đáp ứng nhu cầu trả nợ của công ty trong trường hợp doanh số bán tụt xuống một cách bất lợi. công ty này có thể đòi hệ số thanh toán nhanh bằng 0.5 lần có thể cho thấy rằng công ty đang cố gắng giảm hàng dự trữ hoặc tăng giá trị của các tài sản dễ chuyển đổi khác của mình. công ty này có thể có các khoản phải thu khó đòi hoặc hoạt động trong một ngành công nghiệp vô cùng nhạy cảm mà các chủ nợ đòi hỏi phải được thanh toán nhanh.5 Con số này có thể cho bạn biết rằng công ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn hạn vì công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển các tài sản lưu động khác thành tiền mặt. Đòn cân nợ = Tổng nợ dài hạn / (Tổng vốn cổ phần + tổng nợ dài hạn) c) Nhóm chỉ số hiệu quả hoạt động • Kỳ thu tiền bình quân: Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 15 .Hàng dự trữ) / Nợ ngắn hạn Ví dụ: Hệ số khả năng thanh toán nhanh Trong ví dụ trước. Do đó. tài sản lưu động trị giá 20 triệu USD.000. Một công ty với đòn cân nợ cao thì có nhiều khả năng gặp phải sự đi xuống trong chu trình kinh doanh bởi vì công ty đó phải tiếp tục trả các khoản nợ cho dù doanh số đang giảm sút. Việc sử dụng thông minh các hệ số đòi hỏi bạn phải vận dụng chúng trong mối liên hệ với các thông tin khác.000 = 1.

đó là kết quả của việc gia tăng các khoản phải trả nhà cung cấp.Kỳ thu tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình cần thiết để một công ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng. Xem xét xu hướng của kỳ thu tiền bình quân qua các thời kỳ của một công ty là có hiệu quả nhất. Kỳ TTBQ = (Phải trả khách hàng x 365 ngày) / Tổng giá trị hàng mua chịu trong năm Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 16 . Sự gia tăng kỳ thanh toán tiền bình quân qua các năm là dấu hiệu của việc thiếu hụt vốn đầu tư dài hạn hoặc khả năng quản lý tài sản lưu động yếu kém. gia tăng hạn mức thấu chi tại ngân hàng. Sự tăng lên của vòng quay hàng tồn kho qua các năm cho thấy sự chậm đi trong công việc kinh doanh hoặc là sự tích trữ hàng tồn kho ở một công ty. Kỳ thu tiền BQ =( Phải thu khách hàng x 365 ngày) / Doanh thu bán chịu • Số ngày vòng quay hàng tồn kho: Số ngày vòng quay hàng tồn kho cho thấy khoảng thời gian trung bình hàng tồn kho được lưu giữ. Số ngày vòng quay HTK = (Hàng tồn kho x 365 ngày) / Giá vốn hàng bán • Kỳ thanh toán bình quân: Kỳ thanh toán tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình của một công ty trong việc thanh toán các khoản nợ với nhà cung cấp. điều đó cũng có thể được hiểu rằng đầu tư vào hàng tồn kho đang trên mức cần thiết. Nếu vòng quay các khoản phải thu tăng từ năm này qua năm khác cho thấy khả năng yếu kém trong việc quản lý công nợ ở một công ty.

EPS) và được tính như sau: PE = Thị giá mỗi cổ phần(PM) / thu nhập mỗi cổ phần(EPS) P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí. tỷ suất này thể hiện kỳ vọng hiện hành của nhà đầu tư vào thu nhập từ việc đầu tư vào cổ phần của một công ty. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. cụ thế hơn. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai. vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 17 . Thu nhập trên mỗi cổ phần được xem như là chỉ số đơn lập quan trọng nhất trong việc xác định giá trị cổ phiếu.cổ tức cổ đông ưu đãi) / Số lượng cổ phiếu lưu hành bình quân. hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price .d) Nhóm chỉ số đầu tư của cổ đông • Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS): Thu nhập của mỗi cổ phần cho thấy khả năng sinh lợi của một công ty. EPS =(Tổng thu nhập thuần . Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường. • Tỷ suất thu nhập trên thị giá cổ phần: Tỷ suất này phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty với giá cổ phiếu mà nhà đầu tư mua vào. cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp.PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share . Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Tỷ suất TN trên thị giá cổ phần = Cổ tức trên một cổ phần / Thị giá một cổ phần • Chỉ số giá trên thu nhập (P/E): là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư.

Chỉ số P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần. một công ty với chỉ số P/E cao cho thấy các nhà đầu tư đang kỳ vọng sự tăng trưởng về lợi nhuận trong tương lai của công ty đó cao hơn so với các công ty có chỉ số P/E thấp. ví dụ như việc sử dụng nợ. Rủi ro tài chính là rủi ro liên quan đến cấu trúc tài chính của công ty. Nhìn chung. sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ. Đó là: chỉ số rủi ro và chỉ số tăng trưởng tiềm năng. hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu.1. Rủi ro kinh doanh liên quan đến sự thay đổi trong thu nhập ví dụ như rủi ro của dòng tiền không ổn định qua các thời gian khác nhau. Rủi ro kinh doanh là rủi ro mà công ty có thể kiếm được ít tiền Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 18 .2.phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ. • Chỉ số rủi ro kinh doanh Rủi ro kinh doanh được định nghĩa như là rủi ro liên quan đến những biến động trong doanh thu. - Phương thức đơn giản: Bốn chỉ số dưới đây đại diện cho phương thức đơn giản trong việc tính toán các chỉ số rủi ro kinh doanh.5 Các chỉ số khác: Ngoài 4 chỉ số quan trọng trên các nhà đầu tư còn dựa trên 2 chỉ số sau để phân tích có nên đầu tư vào loại chứng khoán của công ty hay không. Để đo lường rủi ro kinh doanh ngưòi ta dùng nhiều phương thức từ đơn giản đến phức tạp. Việc đánh giá sẽ có hiệu quả hơn hơn khi so sánh P/E của công ty này với P/E của công ty khác trong cùng ngành và so sánh với P/E trung bình của ngành. 3. a) Chỉ số rủi ro: bao gồm chỉ số rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 19 . Trong một môi trường có doanh số đang trên đà sụp giảm. vì vậy cứ 10% gia tăng trong doanh thu.000 trong lợi nhuận. Chỉ số ảnh hưởng đòn bẩy kinh doanh ( OLE)= chỉ số Biên lợi nhuận phân phối/ phần trăm thay đổi trong thu nhập (ROA) + Mức độ ảnh hưởng đòn bẩy tài chính( FLE): Công ty sử dụng nợ để tài trợ cho các hoạt động. Nếu chỉ số biên phân phối lợi nhuận của công ty bằng 20%. Nếu OLE bằng 1. sau đó tất cả các chi phí là biến đổi. thì ROA của công ty cũng gia tăng 10%. thể hiện rủi ro kinh doanh tăng thêm khi doanh thu thay đổi. Nếu một công ty có FLE bằng 1.hơn hoặc tệ hơn là mất tiền khi doanh số giảm xuống. FLE = thu nhập hoạt động/ thu nhập thuần. một công ty có thể thua lỗ nếu công ty ấy sử dụng chi phí cố định quá nhiều.33 thì. Nếu phần lớn chi phí trong công ty chỉ là chi phí biến đổi thì nó sẽ ít khi nào rơi vào tình trạng trên. Nếu doanh nghiệp có OLE lớn hơn 1 thì sau đó đòn bẩy kinh doanh vẫn được duy trì. Tất cả các doanh nghiệp đều sử dụng chi phí cố định và chi phí biến đổi. Do vậy việc hiểu được cấu trúc chi phí cố định của doanh nghiệp thật sự là điều cần thiết khi đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp đó. sau đó nếu có sự sụp giảm $50.000 trong doanh thu thì sẽ có sự sụp giảm $10. do đó sẽ tạo nên ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính và gia tăng tỷ suất sinh lợi cho các cổ đông.(chi phí biến đổi/ doanh thu) + Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh (OLE): Chỉ số đòn bẩy kinh doanh được sử dụng để dự đoán bao nhiêu phần trăm thay đổi trong thu nhập và tỷ suất sinh lợi trên tài sản đối với mỗi phần trăm thay đổi trong doanh thu. Biến phân phối= 1 . Một vài chỉ số thường được sử dụng là : + Chỉ số biến lợi nhuận phân phối: Chỉ số này cho biết phần lợi nhuận tăng thêm từ sự thay đổi của mỗi đô la trong doanh thu. khi thu nhập hoạt động gia tăng 50% sẽ tạo nên sự gia tăng 67% trong thu nhập ròng.

phân tích việc sử dụng nợ của công ty. • Chỉ số rủi ro tài chính Các chỉ số về rủi ro tài chính liên quan đến cấu trúc tài chính của công ty. OLE bằng 20% và FLE bằng 1.333.000. Nợ trên tổng vốn= tổng nợ/ tổng vốn Trong đó: Tổng nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn Tổng vốn = tổng nợ + tổng vốn chủ sở hữu. doanh số gia tăng $50. Chỉ số hiệu ứng đòn bẩy tồng thể bằng $13. TLE= OLE x FLE Trong ví dụ trước.33. + Tỷ số nợ trên vốn cổ phần: Nợ trên vốn cổ phần= tổng nợ/ tổng vốn cổ phần • Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay: Chỉ số này cho biết với mỗi đồng chi phí lãi vay thì có bao nhiêu đồng EBIT đảm bảo thanh toán và được đo lường: Khả năng TT lãi vay = thu nhập trước thuế và lãi vay ( EBIT)/ lãi vay Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 20 . thu nhập ròng sẽ tăng $13. + Tỷ số nợ trên tổng vốn: Chỉ số này cho thấy tỷ lệ nợ được sử dụng trong tổng cấu trúc vốn của công ty. ví dụ.+ Chỉ số hiệu ứng đòn bẩy tổng thể (TLE) bằng sự kết hợp giữa OLE và FLE ta có hiệu ứng đòn bẩy tổng thể (TLE). Tỷ số nợ trên vốn lớn ám chỉ rằng các cổ đông đang thực hiện chính sách thâm dụng nợ và và do đó làm cho công ty trở nên rủi ro hơn.33 cho mỗi $50.000 doanh thu tăng thêm.

… Chỉ số khả năng thanh toán các chi phí tài chính cố định = thu nhập trước các chi phí tài chính cố định/ chi phí tài chính cố định • Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả lãi vay: Dòng tiền hoạt động điều chỉnh được định nghĩa là dòng tiền hoạt động + chi phí tài chính cố định + thuế phải trả Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả lãi vay = dòng tiền hoạt động điều chỉnh/ chi phí lãi vay • Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả các chi phí tài chính cố định: Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả các chi phí tài chính cố định = dòng tiền hoạt động điều chỉnh / chi phí tài chính cổ định • Chỉ số chi tiêu vốn : Chỉ số này cho biết thông tin bao nhiêu tiền mặt được tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp sẽ được để lại sau khi thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của chi tiêu vốn để phục vụ cho các khoản nợ của công ty. Chỉ số chi tiêu vốn = dòng tiền hoạt động/ chi tiêu vốn.• Chỉ số khả năng thanh toán các chi phí tài chính cố định: Trong doanh nghiệp ngoài lãi vay thì còn một số chi phí tài chính cố định khác như chi phí thuê tài chính. có nghĩa là công ty đang hoạt động bằng 2 lần so với những gì nó thật sự cần để tái đầu tư cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động. phần thặng dư có thể được phân bổ để trả bớt nợ. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 21 . Nếu chỉ số này bằng 2. thuê hoạt động.

1.( cổ tức/ tổng thu nhập ròng) • ROE = thu nhập ròng / tổng vốn chủ sở hữu= thu nhập ròng/ doanh thu * doanh thu/ tổng tài sản * tổng tài sản/ vốn cổ phần.• Chỉ số dòng tiền với nợ: Chỉ số này cung cấp thông tin cho biết bao nhiêu tiền mặt của công ty tạo ra từ hoạt động có thể được sử dụng để trả tổng nợ. Tuy nhiên còn có các hạn chế sau: • Nhiều công ty lớn hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của các ngành khác Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 22 . Chỉ số dòng tiền so với nợ = dòng tiền từ hoạt động/ tổng nợ b) Chỉ số tăng trưởng tiềm năng: đây là các chỉ số cực kỳ có ý nghĩa với các cổ đông và nhà đầu tư để xem xét xem công ty đáng giá đến đâu và cho phép các chủ nợ dự đoán được khả năng trả nợ của các khoản nợ hiện hành và đánh giá các khoản nợ tăng thêm nếu có.6 Hạn chế của các chỉ số tài chính: Trên đây là một số các chỉ số tài chính cơ bản nhằm đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh cũng như khả năng tài chính và tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. 3.2. Chỉ số tăng trưởng (G) =RR x ROE Trong đó: • RR= Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại = 1.

nhưng cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy công ty đã chuyển qua giai đoạn tăng trưởng và nên được định giá thấp xuống. Hiểu yếu tố mùa vụ ảnh hưởng như thế nào đến doanh nghiệp có thể giảm thiểu khả năng hiểu sai các chỉ số tài chính. điều này sẽ giúp nàh phân tích hiểu và dự đoán được tình hình công ty trong các điều kiện thay đổi khác nhau của nền kinh tế.nhau. So sánh dạng này tương tự như phân tích chuỗi thời gian để nhìn ra khuynh hướng cho các chỉ số. ngay cả trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái. lợi nhuận có thể cũng bị ảnh hưởng. Các nhà phân tích khi sử dụng các chỉ số tài chính cần phải kết hợp với nhiều yếu tố khác thí dụ như: • Chỉ số trung bình ngành: + So sánh công ty với trung bình ngành là dạng so sánh phổ biến hay gặp. thậm chí là ngay trong 1 công ty. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 23 . Trong trường hợp này. khoản phải trả của doanh nghiệp tăng lên và ROA của nó thấp xuống. hàng tồn kho của doanh nghiệp bán lẻ có thể cao trong mùa hè để chuẩn bị cung cấp cho khách hàng vào năm học mới. Do đó. Ví dụ. • Lạm phát có thể là yếu tố làm cho bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp bị” bóp méo” đi đáng kể. + So sánh trong bối cảnh chung của nền kinh tế: Đôi khi cần phải nhìn tổng thể chu kỳ kinh tế. • Các phương pháp kế toán khác nhau cũng có thể bóp méo sự so sánh giữa các công ty với nhau. Tuy nhiên phân tích các chỉ số tài chính của một công ty qua thời gian hay qua phân tích so sánh với các đối thủ cạnh tranh nên được xem xét kỹ càng. • Yếu tố mùa vụ cũng có thể là sai lệch các chỉ số tài chính. Một chỉ số tiền mặt cao trong quá khứ đối với công ty tăng trưởng có thể là một dấu hiệu tốt. Đối với những công ty như thế này thì rất khó tìm thấy một loạt các chỉ số ngành có ý nghĩa.  Vì vậy cần phải hết sức lưu ý rằng các chỉ số đứng một mình thì nó cũng không có nhiều ý nghĩa. • Thật khó để nhận định được một chỉ số là tốt hay xấu. + So sánh với kết quả hoạt động trong quá khứ của doanh nghiệp : đây cũng là dạng so sánh thường gặp.

1 Giới thiệu chung  Lịch sử hình thành : Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm. nó bắt nguồn công ty nào phát hành. Nếu hàng hóa bán ra bị sụt giảm. đặc biệt là Ban kiểm soát vì chính họ là người cho biết mọi thông tin liên quan đến doanh nghiệp có chính xác không. Ngày nay.1.1. rõ ràng và có trách nhiệm trong mọi công tác. Các thương hiệu trở nên quý giá hơn những tài sản hữu hình của chúng và cũng có nghĩa là chúng hoàn toàn có thể đánh mất giá trị này bất cứ lúc nào. Như vậy.2 Phân tích kỹ thuật: 3. + Nhà đầu tư có thể chấp nhận trả giá cao hơn khi mua một loại cổ phiếu có thương hiệu (ví dụ như ACB…)  Giá chứng khoán cao hay thấp cũng phụ thuộc vào thương hiệu của loại chứng khoán đó. các công ty sống hay chết là tùy thuộc vào sức mạnh thương hiệu của họ.2. một sự kiện gây tranh luận hay ngay cả một lời đồn đại được rao truyền qua Internet thì một công ty cũng có thể thấy mình đang đối mặt với những nguy hiểm cận kề. các sản phẩm thường gánh chịu trách nhiệm về số phận của một công ty.dịch vụ : • Thương hiệu: + Trước đây.7 Thương hiệu. Ban kiểm soát : HĐQT. Ban kiểm soát phải là những người có năng lực. phải thống nhất nhau. việc thiết lập thương hiệu không còn đơn giản là một cách để tránh khỏi thất bại nữa. 3. sản phẩm và hệ thống phân phối . Ban giám đốc. thông tin này có thể làm ảnh hưởng xấu hay tốt đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp.2. doanh nghiệp sẽ kết luận sản phẩm của họ đang gặp thất bại.3. Ban giám đốc. Nó là tất cả. nguồn gốc phát triển ra sao… 3.2.8 HĐQT. Nếu hình ảnh thương hiệu bị vấy bẩn qua một vụ tai tiếng truyền thông. các công ty không đổ lỗi cho sản phẩm mà là cho thương hiệu. công bằng. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 24 .

(Edwin Lefevre. Schabacker năm 1920_1930 đưa ra khái niệm phân tích kĩ thuật. Giả thuyết căn bản trong Phân tích kỹ thuật là những kiến thức đã có về giá và hình mẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham khảo” nhằm xác định giá có xu thế như thế nào trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ thể. khối lượng giao dịch và số lượng hợp đồng chưa tất toán (open interest). Richard W.Charles H. Thị trường chứng khoán hay bất kì thị trường nào đều không bao giờ phản ánh đúng giá trị thực của một hàng hóa được trao đổi bên trong đó mà nó phản ánh giá trị mà nhà đầu tư nhận thức được và cho rằng nó đáng giá như thế. Hiểu một cách rộng nhất thì Phân tích kỹ thuật luôn cố gắng nghiên cứu tình trạng “sức khỏe hiện tại của toàn thị trường hay của mỗi chứng khoán với mục đích là nhằm dự báo biến động tương lai của giá bằng cách dựa trên những kinh nghiệm có được với các hình mẫu kĩ thuật (hay mô hình kĩ thuật) thị trường đã xuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện. năm 1884) William Peter Hamilton (tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer” vào năm 1922). … thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao. Dow (đưa ra chỉ số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩ. Tiếp đó là Edward và Magee (người cha của Phân tích kỹ thuật) với “Technical Analysis of Stock Trend”. Reminiscenses of a Stock Operator).  Các quan điểm về Phân tích kỹ thuật: Nguyên lý của thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định rằng trong tương lai người ta sẽ tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá khứ. Có 3 giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kỹ thuật: Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 25 . tổng kết thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung. Giá của bất kì một chứng khoán đã cho nào đều không chi ra mối quan hệ thực tế giữa cung và cầu mà là phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu. Martin Pring.  Những giả định cơ sở: “Biến động của thị trường” chỉ 3 yếu tố: biến động chính cung cấp thong tin cho quá trình Phân tích kỹ thuật là giá. Bây giờ là : John Murphy. Jack Schwager.

tổ chức.1 Chỉ số giá cổ phiếu: Hiện nay các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp để tính chỉ số giá cổ phiếu.2. Giá vận động theo xu thế: Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong Phân tích kỹ thuật do đó cần hiểu kĩ về giả định này trước khi muốn tìm hiểu sâu thêm về nó. Việc áp dụng những mô hình này đã phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫn tiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi. từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những xu thế này. Trên thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lại những xu thế giá có từ trước tức là mục đích của Phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại của những dạng biến động của giá đã xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp. Lịch sử sẽ tự lặp lại : Phần lớn nội dung của Phân tích kỹ thuật và việc nghiên cứu biến động thị trường đều phải nhằm vào nghiên cứu tâm lý con người. Do đó có người cho rằng việc nghiên cứu biến động của giá là tất cả những gì ta cần và thực sự không thể phản đối lại ý kiến này.2. đều được phản ánh rõ trong giá thị trường. • • 3. Các nhà Phân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm lý. Người ta dùng công thức sau để tính: Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 26 . đó là : • Phương pháp Passcher: Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với khối lượng (quyền số) là số lượng chứng khoán niêm yết thời kì tính toán. những mô hình này đã được xác định và chứng minh từ hơn 100 năm nay. Mọi lý thuyết.2 Phân tích chỉ số kỹ thuật: 3. . Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm xác định được sớm những xu thế giá. chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá.• Biến động thị trường phản ánh tất cả: Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật. phân tích khác muốn được chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này. Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu khối lượng tính toán.2. Chẳng hạn như những mô hình giá. . chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp. Những bức tranh này chỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá.

• Chỉ số giá bình quân Fisher : Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspeyres: phương pháp này trung hòa được yếu điểm của hai phương pháp trên. Và các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc). S&P500 (Mỹ). Chỉ số bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy khối lượng là khối lượng thời kì tính toán. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 27 . Như vậy kết quả tính sẽ phụ vào cơ cấu giá trị thời kì gốc: IL = ∑Qo Pt / ∑ Qo Po Trong đó : IL là chỉ số giá bình quân Laspeyres Pt là giá thời kì báo cáo Po là giá thời kì gốc Qo là khối lượng (quyền số) thời kì gốc hoặc cơ cấu của khối lượng C (số lượng cổ phiếu niêm yết) thời kì gốc. lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kì gốc. DAX của Đức. tức là giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào khối lượng hoặc giá trị (quyền số) của cả 2 thời kì : kì gốc và kì tính toán.Index của Việt Nam áp dụng theo phương pháp này. TOPIX (Nhật)…và VN. FTSE100 (Anh). vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu khối lượng (cơ cấu chứng khoán niêm yết) thời điểm tính toán. • Phương pháp Laspeyres: Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị. đó là chỉ số FAZ.Ip = ∑ Qt Pt / ∑Q P t o Trong đó : Ip là chỉ số giá Passcher Pt là giá thời kì t Po là giá thời kì gốc Qt là khối lượng thời điểm tính hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán. Có ít nước áp dụng phương pháp này.

FT-30 (Anh) áp dụng phương pháp tính bình quân nhân đơn giản này. • Phương pháp bình quân nhân đơn giản : Cách tính : IP = (P Pi)1/2 Chúng ta chỉ nên dùng loại chỉ số này khi lệch chuẩn khá cao.I F = (I P I L )1/2 Trong đó: IF là chỉ số Fisher IP là chỉ số giá Passcher IL là chỉ số giá bình quân Laspeyres Về mặt lý luận có phương pháp này. Quyền số thường được dùng trong tính toán chỉ số giá cổ phiếu là số chứng khoán niêm yết. nhưng trong thống kê chưa thấy nước nào áp dụng. MBI của Ý áp dụng phương pháp này. Nikkei225 của Nhật. Các chỉ số : Value line (Mỹ). Riêng ở Đài Loan Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 28 . phương pháp tính giá bình quân đơn giản cũng thường được áp dụng. Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều. (s) cao. chúng ta có thể tính theo phương pháp bình quân cộng hoặc bình quân nhân gia quyền với quyền số là số chứng khoán niêm yết.hay độ lệch chuẩn (s) của nó thấp. • Phương pháp bình quân đơn giản : Ngoài các phương pháp trên . Tuy nhiêu về mặt lý luận. Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng tham gia tính toán : Ip = (∑Pi ) /n Trong đó : IP là giá bình quân Pi là giá Chứng khoán i n là số lượng chứng khoán đưa vào tính Các chỉ số họ Dow Jone của Mỹ.

chẳng hạn thêm một loại cổ phiếu.giá trị điều chỉnh cổ phiếu)/(tổng giá trị cổ phiếu ở thời điểm gốc).2 Chỉ số chứng khoán Việt Nam Chỉ số chứng khoán là thước đo cơ bản nhất. cho thấy mức thay đổi giá chung của phiên giao dịch hiện hành so với phiên giao dịch liền kề trước đó. 3.2. 3. Q0 . Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên Thị trường chứng khoán. đặc trưng bởi điểm hoặc phần trăm: VN-Index = ∑ Q P 1 1 / ∑Qo Po VN-Index = (tổng giá trị hiện hành cổ phiếu)/(tổng giá trị cổ phiếu ở thời điểm gốc) Trong đó. • Biểu đồ dạng đường (Line chart) . biểu đồ dạng ống (Candlestick chart).thì họ dùng số chứng khoán trong lưu thông làm quyền số. trong đó có 3 loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart).3. P0 : Khối lượng cổ phần của công ty tại thời điểm gốc và thời điểm tính. bởi vì tỷ lệ đầu tư của công chúng rất cao ( 80-90%) ở đây. biểu đồ dạng then chắn (Bar chart). ∑Q1P1 : Tổng giá trị tại thời điểm tính ∑Q0 P0 : Tổng giá trị tại thời điểm gốc (Hệ số chia) P0 . P1 : Giá cả giao dịch thực tế tại thời điểm gốc và thời điểm tính.2.1 Các loại biểu đồ: Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rất nhiều các loại biểu đồ khác nhau để phân tích. chỉ số VN-Index được điều chỉnh: VN-Index = (tổng giá trị hiện hành cổ phiếu + giá trị điều chỉnh cổ phiếu)/(tổng giá trị cổ phiếu ở thời điểm gốc) Nếu có loại cổ phiếu rút khỏi thị trường chứng khoán.3 Phân Tích Biểu Đồ Kỹ Thuật: 3. và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngành khoa Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 29 .2. Trong trường hợp có thay đổi số chứng khoán niêm yết.2. chỉ số VN-Index sẽ là: VN-Index = (tổng giá trị hiện hành cổ phiếu .

mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khá cao. khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳ theo từng phiên hoặc nhiều lần trong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưa thể đạt được như Thị trường chứng khoán dùng phương pháp khớp lệnh liên tục.học khác dùng để mô phỏng các hiện tượng kinh tế và xã hội…và nó cũng là loại biểu đồ được con người dùng trong thời gian lâu dài nhất. Nhưng hiện nay trên Thị trường chứng khoán do khoa học kỹ thuật phát triển. diễn biến của Thị trường chứng khoán ngày càng phức tạp cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng nhất là trên các Thị trường chứng khoán hiện đại.Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng. lý do chính là vì nó được sử dụng trên tất cả các Thị trường chứng khoán trên khắp thế giới từ trước tới nay. Hiện nay loại biểu đồ này ít được sử dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại vì các Thị trường chứng khoán hiện đại ngày nay thường diễn biến khá phức tạp. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 30 . Hiện nay nó chủ yếu được sử dụng trên các Thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn. nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại hiệu quả thấp trong phân tích.

• Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart).Đồ thị biến động VNIndex Hiện nay trên các Thị trường chứng khoán hiện đại đang dùng một số loại biểu đồ trong Phân tích kỹ thuật mang lại hiệu quả cao đó là Bar chart và Candlestick chart. Ví dụ về dạng biểu đồ dạng then chắn (Bar chart): Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 31 .

độ dao động của giá chứng khoán trong một phiên giao dịch là tương đối lớn.Cổ phiếu General Electric (Mỹ) Trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay các chuyên viên phân tích thường dùng loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu lý do chính vì tính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự biến động của giá chứng khoán. • Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart) Ví dụ về dạng biểu đồ dạng ống (Candlestick chart): Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 32 . Hai kí tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là: Loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục.

nó được người Nhật Bản khám phá và áp dụng trên Thị trường chứng khoán của họ đầu tiên.Đồ thị biến đông giá của YAHOO. Giờ đây nó đang dần được phổ biến hầu hết trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên toàn thế giới. Dạng biểu đồ này phản ánh rõ nét nhất về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh định kỳ.stockcharts.com) Đây là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (Bar chart). (nguồn: http://www. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 33 .

2. Kênh • Xu thế: Xu thế gồm có cả xu thế giá tăng và xu thế giá giảm. đây là đường nối các điểm đáy cao dần lên và đường xu thế giảm là đường nối các đỉnh thấp dần.Hai kí tự mà loại biểu đồ này sử dụng là: 3. nhìn chung như thế là đạt yêu cầu. Ngược lại xu thế giá giảm cũng sẽ được coi là vẫn đang tiếp diễn cho đến khi xuất hiện một đỉnh mới cao hơn đỉnh trước nó.2. tuy nhiên người ta thường đợi cho đến khi xuất hiện một đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xu thế đi qua cả 3 đáy (một cách tương đối). Với xu thế giá tăng ta có đường xu thế giá tăng.1 Xu thế. Khi muốn vẽ một xu thế giá tăng ta phải có ít nhất hai điểm đáy mà đáy sau cao hơn đáy trước. Nhưng một đường xu thế đi qua cả đáy bao giờ cũng được coi là một đường xu thế chính xác và có độ tin cậy cao. Xu thế giá tăng gồm liên tiếp những đỉnh giá cao dần và đáy giá cao dần (đỉnh trước cao hơn đỉnh sau và đáy trước cao hơn đáy sau). Đường xu thế: Xu thế giá tăng và xu thế giá giảm cũng được nghiên cứu dưới dạng các đường xu thế. Qui trình vẽ một đường xu thế khá đơn giản nhưng cũng rất dễ nhầm. • Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 34 . Tất nhiên điều kiện cần và đủ để có thể vẽ được một đường thẳng là phải có hai điểm. Điều này có nghĩa là đường xu thế có thể không đi qua đáy thứ ba mà chỉ đi sát. Một xu thế giá tăng sẽ được coi là vẫn duy trì cho đến khi xuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước nó. Đường xu thế.4 Phân tích các đường biểu diễn 3. Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về sự xuất hiện một xu thế giá. Đường xu thế có thể kéo dài thậm chí nhiều năm.4.

Nếu ở lần tăng giá tiếp theo giá tăng đến gần hoặc chạm vào đường kênh rồi lại giảm xuống đến gần đường xu thế thì khả năng có thể tồn tại một kênh dao động của giá. tất nhiên là theo hướng ngược lại. Như thế. giả sử với xu thế giá tăng. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 35 . nếu giá sẽ dao động trong một dải thì dải đó gọi là kênh. Tương tự. các đường xu thế chính xác của thị trường sẽ là các biên dao động cơ sở để xác định mức giá mua và bán tối đa và tối thiểu hợp lý. Sau khi đã xác định được đường xu thế như trên. Với xu thế giá tăng. hai đường này song song với nhau. Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu thế giảm hoặc xuống dưới đường xu thế giá tăng thì đây là dấu hiệu. với thị trường đang có xu thế giá giảm thì đường xu thế sẽ là biên cao nhất cho mọi dao động giá. Vấn đề là làm sao có thể xác định được hai đường này. Dải dao động đó được xác định bởi hai đường biên là đường xu thế và đường kênh (channel line).Khi một đường xu thế đã được xác nhận về độ chính xác thì nó sẽ trở nên rất hữu ích bởi tính chính xác ấy đảm bảo chắc chắn hướng chuyển động ổn định của giá. • Kênh: Kênh là khoảng giao động của giá. Với xu thế giá giảm việc vẽ và xác định kênh là hoàn toàn tương tự. cho sự thay đổi trong xu thế thị trường. có thể nói là sớm nhất. Đường xu thế lúc này là biên thấp nhất của dao động giá. sau mỗi đợt tăng biến động điều chỉnh xuất hiện sẽ kéo giá xuống sát hoặc đến đúng đường xu thế những sẽ không xuống thấp hơn nếu xu thế thị trường vẫn đang ổn định. ta vẽ đường kênh là một đường song song với đường xu thế và đi qua đỉnh giá rõ nhất đầu tiên.

Mỗi lần giá chạm vào hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại xuống đến đường xu thế là một lần kênh được kiểm tra thành công. Thực tế cho thấy đường xu thế mới này hoạt động tốt hơn đường cũ. nhưng nếu đường kênh bị chuyển động của giá phá vỡ (khi giá vượt ra ngoài đường kênh) thì tác động lại hoàn toàn ngược lại: đây là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnh của xu thế hiện tại. hoàn toàn tương tự nếu muốn xem xét đối với xu thế giá giảm). Kênh có thể sử dụng cho kiếm lời trong ngắn hạn và thậm chí một số nhà đầu tư táo bạo còn sử dụng đường kênh để tiến hành những giao dịch ngược hướng với xu thế thị trường nhằm tìm kiếm những khoản lợi lớn hơn cho dù giao dịch ngược hướng thị trường có thể là một chiến thuật nguy hiểm và phải trả giá đắt.xu thế tăng giá. khi giá không lên được đến đường kênh mà quay ngược trở lại quá sớm thì đây lại là dấu hiệu dự báo sớm sự suy giảm của xu thế hiện tại và là dấu hiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ đường xu thế. Ngược lại. có thể có hai trường hợp (trong các hình vẽ ở hai trường hợp này ta giả định ban đầu kênh đang có xu thế hướng lên. Nếu chuyển động của giá vượt qua đường kênh một khoảng lớn thì đây là dấu hiệu cho thấy xu thế lên giá đang mạnh lên. Với xu thế giá tăng. Nói chung việc chuyển động của giá không thể đạt đến sát một trong hai đường biêncủa kênh có thể là một dấu hiệu sớm cho thấy xu thế giá có thể thay đổi và khả năngchuyển động của giá có khả năng sẽ phá vỡ đường biên còn lại của kênh. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 36 . thường ta sẽ phải vẽ một đường xu thế mới dốc hơn từ điểm đáy cuối cùng song song với đường kênh mới. Kênh tồn tại càng lâu với càng nhiều lần thử thành công thì vai trò cũng như độ tin cậy của nó càng lớn. thậm chí một số nhà đầu tư tin tưởng rằng việc giá chuyển động làm mất đi đường kênh sẽ xác nhận cho một xu thế ổn định trong thời gian dài và là cơ hội cho những nhà đầu tư thực hiện những hợp đồng dài hạn. Khi chuyển động của giá trên thị trường phá vỡ đường xu thế thì có thể gây ra sự đảo chiều của xu thế thị trường.

tương tự ta sẽ vẽ đường kênh song song đường xu thế và đi qua đáy 4.Nếu giá không đạt được đến đường kênh và chuyển động phá vỡ đường xu thế thì điều này chỉ ra rằng xu thế thị trường đổi ch iều thành xu thế giá giảm. Hai đỉnh mới xuất hiện (đỉnh 5 và 7) sẽ là cơ sở để vẽ đường xu thế giá giảm. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 37 . Chú ý là ở đây có sự đổi vai trò đường xu thế ban đầu trở thành đường kênh và ngược lại.

hoặc cũng có thể phản ứng của thị trường làm xuất hiện hàng loạt những dao động nhỏ quanh mức. giá thường sẽ chuyển động một khoảng bằng với độ rộng của kênh đó. dù rất ít xu thế giảm giá đang diễn ra trên thị trường. đây là đỉnh đầu tiên của xu thế tăng giá chính (cấp 1) trên thị trường . Sau thời gian điều chỉnh hoặc củng cố này sẽ xuất hiện một đợt tăng giá mới và đưa giá lên đến 30. 3. Nếu xảy ra điều chỉnh. chẳng hạn.mức giá này thấp hơn mức giá hiện tại và tại đó lại xuất hiện tổng giá trị giao dịch rất lớn. để xác định điểm dừng của chuyển động này ta có thể tính tương đối chính xác bằng cách đo độ rộng của kênh vừa bị phá vỡ và dự kiến điểm dừng từ điểm giá vượt ra ngoài kênh (Tuy nhiên cần luôn luôn lưu ý rằng trong hai đường biên của kênh thì đường xu thế luôn có vai trò quan trọng và đáng tin cậy hơn.2. Lúc đó lại có thể xuất hiện một trong hai dạng mô hình điều chỉnh hay củng cố. làm ngưng hay có thể đảo chiều. đồng thời trên thị trường cũng đang có một khối lượng cổ phiếu lớn đang được chào bán. Kết quả của việc này là thị trường có thể phản ứng và hình thành một xu thế điều chỉnh trung gian (tạm thời). tại đó cung lại đầy và dư. làm giá giảm xuống còn 18. từ 24 xuống đến 21 tạo thành một dạng hình mẫu mang tính củng cố xu thế hiện tại. Như thế. làm ngưng lại đợt tăng giá này.4. tạo ra sự ngưng tăng hay đảo chiều của đợt tăng giá đầu tiên.Ngoài ra kênh và các đường kênh còn mang một ý nghĩa khác: Khi giá chuyển động phá vỡ xu thế hiện tại .2 Quá trình hình thành một xu thế thông thường. Sau khi bị vượt qua thì vai trò của nó lại là mức hỗ trợ. đường kênh chỉ là một công cụ kĩ thuật xuất phát từ đường xu thế). Khi đó nó đóng vai trò và hoạt động như một mức kháng cự. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 38 .xuất hiện ‘breakout’ từ kênh hiện tại. Giả sử một cổ phiếu đang trong xu thế tăng mạnh và tăng từ mức giá 12 lên đến 24. câu hỏi đặt ra là xu thế giảm tạm thời này sẽ xuất hiện ở mức nào? Câu trả lời là mức giá 24.

Họ có lo lắng một chút những rồi lại vẫn cho rằng 50 là mức rất rẻ. rõ ràng 50 là một mức giá hời. Ở mức giá 50. đồng thời họ cũng cho rằng giá sẽ lại lên và lên nữa trong thời gian dài. Thế nhưng hi vọng ấy mất đi khi xu thế giảm giá vẫn tiếp tục và không hề tỏ ra là sẽ có điều chỉnh. Tại mức 60 sức mua yếu dần. Một số người đã mua nhưng với chủ định nắm giữ trong ngắn hạn và đã bán đi. hoàn toàn có thể giả sử họ đã thực hiện được mục đích của mình và đã thoát ra khỏi thị trường trước khi giá tụt xuống dưới mức 50. Nhưng hãy đặt mình vào vị trí của những người vừa mua cổ phiếu đó. Cho đến khi giá giảm còn 45. Sau đó xuất hiện giai đoạn hồi phục đưa giá lên 60. Đến đây. có thể lại trượt xuống một chút như một dạng kiểm tra mức giá 50 có thực sự là một điểm dừng quan trọng của thị trường hay không. quyết định mua của họ là do họ thấy mức giá 50 là mức giá thấp đủ thảo mãn họ bởi chỉ vài tháng trước giá cổ phiếu được bán trên mức 70. Thị trường có tổng khối lượng giao dịch lớn. Khi giá tăng từ 12 đến 24 các nhà đầu tư đều cho rằng 24 là mức giá tương đối cao so với 12 (mức giá mà họ đã mua Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 39 . với mỗi người bán đều có ít nhất một người mua tương ứng. Vậy ta đặt ra câu hỏi tại sao có sự chuyển vai trò ở hai ví dụ trên? Ta bắt với ví dụ thứ 2 trước. là một chút biến động của giá và thị trường sẽ hồi phục nhanh chóng. Với đa số những nhà đầu tư còn lại. mức giá hời lúc trước không còn là một quả cam ngọt nữa mà là một quả chanh. giá lại giảm xuống còn 57. 55 rồi 52 rồi lại về 50.Một ví dụ tương tự đưa ra với một cổ phiếu đang trong xu thế giá giảm. đặc biệt khi thị trường dừng lại ở mức giá 50 trong một thời gian ngắn. rồi lại đảo chiều tăng lên 60 nhưng lực tăng yếu dần. bây giờ họ không còn quan tâm đến loại cổ phiếu này. rất nhiều cổ phiếu đã được giao dịch. giá giảm xuống còn 50. vẫn hời. xu thế giá đảo lại và đi xuống. lặp lại thời kỳ trước. mức đáy lúc trước trở thành mức đỉnh của thị trường. giá tăng lên. Một số khác là những nhà đầu tư ngắn hạn và thậm chí cả một số chuyên gia có thể đã mua ở mức giá 50 bởi đơn giản là họ thấy thị trường đang ở một mức đáy tạm thời và mua với mong muốn kiếm lãi khi giá tăng lên theo dự kiến của họ. Những nhầ đầu tư bắt đầu tỏ ra lo lắng. Chúng ta có thể tự tin chờ đợt hồi phục từ mức giá 42 này lên sẽ tăng lên đến mức kháng cự (đã được kiểm tra là “mạnh”) đó là mức giá 50. Lúc đầu có thể họ vẫn hi vọng đây chỉ là mức giảm tạm thời. ở đợt giảm lần đầu mức giá này đóng vai trò mức hỗ trợ. giá sẽ giảm mạnh hơn ở đợt giảm mới này và làm xuất hiện một mức đáy thấp hơn là 42. nhu cầu mua lại tăng lên và lại xuất hiện quá trình hồi phục lần hai. lên 55 rồi lên 58 rồi đến 60. Rồi giá lại giảm tiếp phá vỡ mức giá 50. bây giờ nó đóng vai trò mức kháng cự. Với ví dụ thứ nhất về xu thế tăng giá của thị trường. ở tại mức 50 xuất hiện một đỉnh điểm diễn ra các giao dịch nhưng chỉ mang tính tạm thời. những nhận định của họ lúc trước có vẻ đúng và họ vẫn tiếp tục nắm giữ cổ phiếu. Giá đầu tiên giảm xuống đến 50 và xuất hiện khối lượng giao dịch tương đối lớn. Rồi xu thế tăng này yếu đi. Họ nhìn thấy giátăng hàng ngày. Giả sử cổ phiếu đang ở một đỉnh lớn của toàn thị trường ở mức giá 70. có điều gì đó không ổn đã xảy ra.

Trái lại nếu một mức hỗ trợ chẳng hạn được hình thành với khối lượng giao dịch rất lớn.Khung giao dịch . Nếu mức hoàn lại cao hơn thì khả năng sẽ xảy ra sự đảo chiều thị trường tức là giá sẽ chuyển động theo xu thế đảo ngược xu thế trước mà không quay lại chuyển động theo xu thế đó. • Khung Giao Dịch. giá tăng vọt lên 30. xu thế giảm và xu thế dao động ngang. họ sẽ không còn cảm thấy như vậy nữa. 3. Trong bất kì một đồ thị nào ta đều thấy sau một giai đoạn giá chuyển động theo xu thế của thị trường thì giá sẽ hoàn lại một chút trước khi quay trở lại chuyển động theo xu thế cũ.2. Nhưng rồi xu thế giá lại đảo chiều. rõ rang mức độ phản ánh cũng như ý nghĩa của nó là cao và quan trọng hơn nhiều. Mức hoàn lại trung bình thường gặp nhất là 50%. khi mà sau đó giá giảm xuống một chút đến 20. nếu giá dao động quanh nó càng lâu thì vai trò và sức mạnh của nó càng lớn và một xu thế giá phải thực sự mạnh mới có thể phá vỡ hay vượt qua được nó. Nói cách khác. Những ví dụ trên đây phản ánh một cách chung nhất tâm lý của những nhà đầu tư trên thị trường và tác động của họ tới việc hình thành cũng như sự chuyển vai trò của mức kháng cự và hỗ trợ. Nhiều người cho rằng thị trường chỉ có thể tăng hoặc giảm. điều này có nghĩa là tại đó nhu cầu giao dịch là rất lớn. Những chuyển động ngược xu thế này thường có độ lớn ở vào những khoản có thể dự đoán được và được gọi là mức hoàn lại. Khung giao dịch là một dải nằm ngang trên đồ thị trong đó bao gồm các dao Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 40 . nhưng thực tế có đến 1/3 thời gian giá chuyển động theo một hình mẫu dạng ‘phẳng’ nằm ngang gọi là khung giao dịch. rõ ràng nếu giá giảm xuống còn 24 sẽ có rất nhiều nhà đầu tư lại mua vào với hi vọng kiếm lời nhiều hơn.vào) do đó họ bán.3 Mức hoàn lại . Thêm một nhận xét nữa là khối lượng giao dịch cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong xác định các mức kháng cự và hỗ trợ. Thị trường có thể ở một trong 3 xu thế là xu thế tăng. Nếu mức kháng cự hay hỗ trợ hình thành mà không có dấu hiệu gì về sự thay đổi trong khối lượng giao dịch thì mức độ tin cậy cũng như độ bền vững của chúng là không cao. Qua đó ta cũng nhận thấy rằng tại một mức giá kháng cự hay hỗ trợ. Họ ước gì mình vẫn nắm giữ cổ phiếu đó và có thể muốn mua lại cổ phiếu này. Một mức kháng cự hay hỗ trợ được duy trì càng lâu thì những biến động có khả năng vượt qua nó càng có ý nghĩa và có thể được coi là những dấu hiệu cho những biến động lớn của thị trường. Bên cạnh đó còn có các mức hoàn lại thường thấy khác đó là các mức 1/3 và 2/3.4.Hỗ trợ và Kháng cự • Mức hoàn lại. tất nhiên là không mua cao hơn 24. họ đều tự chúc mừng cho sự sáng suốt của mình. nếu chia một xu thế giá thành ba phần thì nói mức hoàn lại thấp nhất là 33% và cao nhất là 66% có nghĩa là ở giai đoạn điều chỉnh của xu thế đó giá sẽ hoàn lại ít nhất 1/3 mức tăng (hay giảm) mà nó đạt được trong xu thế trước đó và mức hoàn lại đó không vượt quá 2/3 mức tăng (hay giảm) trước đó đạt được.

một năm hay nhiều năm. Hầu hết các công cụ kinh tế đều được tạo ra để có thể áp dụng vào các thị trường có xu thế tăng hoặc giảm rõ rệt còn khi thị trường ở dang không có xu thế rõ rệt thì các công cụ này nhìn chung hoạt động kém hiệu quả. Nhìn chung rất khó có thể dự đoán sự xuấthiện trong tương lai của mô hình khung giao dịch. Khi những lệnh này kết thúc thì giá sẽ trở lại dao động bên trong khung giao dịch nếu không có những lý do liên quan đến những yếu tố tài chính cơ bản hay có sự xuất hiện khối lượng giao dịch lớn duy trì sự vượt ra ấy. chẳng hạn như sử dụng các chỉ số dao động thị trường (Oscillators) mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau. nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm đã xây dựng cho họ một “hệ thống đầu tư” riêng dựa hầu hết vào những nguyên lý về mức kháng cự và hỗ trợ. Đây cũng chính là thời kỳ gây khó chịu nhất cho những người đi theo Phân tích kỹ thuật và gây ra nhiều lỗ nhất. Nó cho phép người nghiên cứu có thêm những cơ sở mới trong việc chọn các loại cổ phiếu để mua hay bán. Khung giao dịch phản ánh thời kỳ mà áp lực cung cầu là tương đối cân bằng và giá duy trì ở mức cân bằng thị trường. Những “sự phá vỡ” (break out) ra ngoài khung có thể là các dấu hiệu quan trọng để tiến hành các giao dịch. bán hay đứng ngoài không tham gia vào thị trường và thông thường thì quyết định không tham gia vào thị trường luôn là quyết định sáng suốt nhất. • Hỗ trợ và kháng cự Việc nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng cự là một trong những vấn đề khá quan trọng đối với Phân tích kỹ thuật. Nói chung hầu hết các biến động của thị trường sẽ diễn ra bên trong khung giao dịch. trong việc chỉ ra những thời điểm mà thị trường có thể gây ra rắc rối cho nhà đầu tư. Đôi khi người ta còn gọi thời kỳ mà giá biến động theo khung giao dịch là thời kỳ không có xu thế thị trường. Việc nghiên cứu về mức kháng cự và hỗ trợ một cách đầy đủ cần rất nhiều thời gian và cần thêm nhiều yếu tố khác. thậm chí là không thể áp dụng. đây chính là các đường kháng cự và hỗ trợ của khung (ta sẽ nghiên cứu về kháng cự và hỗ trợ ở phần sau). Tuy nhiên cũng cần lưu ý bởi giá cũng thường dao động vượt ra ngoài khung nhưng chỉ với một lượng nhỏ. Cũng giống như kênh. sau đó quay trở lại bên trong khung. trong dự đoán các biến động tiềm năng. khung giao dịch cũng có các đường biên bên trên và bên dưới. Mô hình này cũng có thể kéo dài trong nhiều tháng. Thực tế cũng có một số phương pháp có thể áp dụng để kiếm lời khi thị trường xuất hiện dạng khung giao dịch.động của giá trong một giai đoạn dài. Trong những tình huống ấy nhà đầu tư luôn phải đối mặt với một trong ba quyết định là mua. Nhìn chung nhà đầu tư không nên đi theo ngay những “breakout” mới xuất hiện mà nên chờ thêm một dao động tiếp theo xác nhận “breakout” này cho dù điều này có thể làm chậm lại một chút nhưng sẽ tránh được rất nhiều dấu hiệu sai và tránh được những khoản lỗ. người viết chỉ xin đưa ra một số khía cạnh cơ bản nhất với mục đích đưa ra cơ sở lý thuyết cơ bản nhất về khái niệm quan trọng này của Phân tích kỹ thuật. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 41 . Tuy nhiên khi thị trường có biến động dạng khung giao dịch thì lại rất khó kiếm được lợi nhuận. Đôi khi nguyên nhân của hiện tượng này là do những lệnh dừng mà nhà đầu tư đã đặt và những lệnh này tác động đến những vùng giá nằm ngoài khung. Trên thực tế.

Mức hỗ trợ thường được dùng khá thông dụng. đó là mức giá mà ở đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng nữa và có thể chuyển động ngược lại đi xuống. tức làlàm xu thế giá đi xuống quay ngược đi lên. do đó. một khối lượng đủ để thoả mãn tất cả các mức chào mua. Mức kháng cự lại ngược lại với mức hỗ trợ: đó là việc bán. còn đường nối các đáy được coi là mức hỗ trợ. Theo lý thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhất định. làm giá ngừng không tăng nữa trong một khoảng thời gian nhất định. Như vậy với một hình mẫu giá nhất định. hay có thể nói là một dạng của khung giao dịch). đường nối các đỉnh có thể coi là mức kháng cự. không cần thiết phải song song 100% nhưng độ lệch phải rất nhỏ. chẳng hạn ta xét với hình mẫu dạng hình chữ nhật (mô hình này phản ánh giai đoạn thị trường gồm rất nhiều những dao động nhỏ của giá theo hướng ngang đồ thị chứ không hướng lên hay hướng xuống rõ rệt. Những kiến thức cơ bản về mức kháng cự và hỗ trợ sẽ giúp người nghiên cứu dễ dàng hiểu bản chất và các ứng dụng của các hình mẫu đó.Mức kháng cự và hỗ trợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu phân tích các hình mẫu kỹ thuật. làm dừng xu thế giảm giá của thị trường và cũng có thể đổi chiều xu thế đó. trong thực tế hay tiềm năng. ít nhất là. Mức hỗ trợ là mức giá ở đó mức cầu cho một cổ phiếu là đủ để. Từ đó ta có định nghĩa về mức kháng cự. Vậy mức hỗ trợ là gì? Ta có thể định nghĩa mức hỗ trợ là việc mua thực tế hay khả năng mua với khối lượng đủ để làm ngưng lại xu thế giảm của giá trong một thời kỳ đáng kể (tương đối dài). Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 42 . Như thế mức kháng cự và hỗ trợ là gần giống theo thứ tự với khối lượng cầu và khối lượng cung. bạn có thể nghe thấy việc một nhóm nhà đầu tư luôn sẵn sàng hỗ trợ thị trường bằng cách mua tất cả các chứng khoán chào bán nếu giá giảm 5 điểm. hai đường nối các đỉnh và các đáy của thị trường trong giai đoạn này gần như song song. Trên thị trường phố Wall. Nhưng khoản hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu còn khoảng kháng cự thể hiện sự tập trung của cung.

Một trong những yếu tố quan trọng trong phân tích kĩ thuật đó là "giá cả của cổ phiếu chịu sự tác động mạnh mẽ của mức hỗ trợ và mức kháng cự". Khi nhận thấy thị trường đang giao dịch với mức giá gần và hướng về các mức trên.Nhìn chung trong giai đoạn hai mức này còn phát huy hiệu lực thì giá sẽ không vượt quá mức kháng cự và không xuống dưới mức hỗ trợ. Sử dụng các thông tin rút ra từ bảng này ta có thể biết được liệu các mức kháng cự hay hỗ trợ này có lặp lại không khi giá cổ phiếu có xu hướng chạm tới các mức giá đó. ta có thể đưa ra một số dự báo hợp lý về giá cả cổ phiếu trong thời gian tới. mức kháng cự cũng như cách xác định các mức giá có khả năng xảy ra trong tương lai. đường kháng cự còn rất lạ lẫm đối với nhiều nhà đầu tư song khái niệm này được nhắc tới và sử dụng rất phổ biến trong phân tích kĩ thuật. Nhưng với tư cách một nhà đầu tư ta sẽ quan tâm hơn đến việc xác định tại sao và yếu tố nào làm xuất hiện các mức kháng cự và hỗ trợ ở một mức giá nhất định. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 43 .4 Đường hỗ trợ và kháng cự: Có thể ở Việt Nam.4. Chúng ta thấy rằng lịch sử thường lặp lại.2. đó là khi giá trị giao dịch có xu hướng bị tập trung tại một số mức giá có khối lượng các cổ phiếu được giao dịch lớn.thì chúng có xu hướng sẽ lặp lại vai trò đó trong tương lai. Bài viết này nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản nhất về mức hỗ trợ. 3. Điều đáng chú ý là tại bất kì mức giá nào xuất hiện mức khối lượng giao dịch lớn thường đều trở thành điểm đảo chiều đối với xu thế hiện tại của thị trường và mọi điểm đảo chiều đều có xu hướng lặp đi lặp lại thường xuyên và hoàn toàn mang tính tự nhiên. thế nào là kháng cự và hình thù của chúng trên các đồ thị cổ phiếu ra sao? Để giải quyết được câu hỏi này. Nếu như biến động của giá vượt qua một đỉnh giá đã được hình thành trước đó thì đỉnh này sẽ đóng vai trò là khoảng đáy của xu thế giảm giá (điều chỉnh) sẽ xuất hiện sau xu thế tăng hiện tại và một đáy sau khi đã bị giá vượt xuống dưới sẽ trở thành khoảng đỉnh của xu thế tăng sẽ xuất hiện ngay sau đó. Việc biểu diễn được các đường hỗ trợ hay kháng cự trên đồ thị cổ phiếu sẽ giúp nhà đầu tư xác định được tầm quan trọng của chúng trong quá khứ cũng như tiên liệu được các biến động trong tương lai. là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các tác động khiến cho giá cổ phiếu luôn thấp hơn một mức nhất định nào đó. Hỗ trợ là thuật ngữ dùng để chỉ các tác động giữ cho giá cổ phiếu luôn cao hơn một mức nào đó. nếu trong quá khứ các mức giá đã từng đóng vai trò là giá kháng cự. khái niệm đường hỗ trợ. hãy cùng quan sát một đồ thị có biểu diễn các đường kháng cự và đường hỗ trợ tại các mức giá hết sức rõ ràng và dễ nhận biết. Các chuyên gia còn tập trung nghiên cứu thời điểm giá lên đạt đến mức kháng cự và khi nào giá xuống đến mức hỗ trợ. thậm chí còn coi là kim chỉ nam của nhiều nhà đầu tư cổ phiếu. từ đó có được các quyết định đầu tư cho riêng phù hợp theo yêu cầu của họ. Có một thực tế quan trọng mà nhiều khi một số người quan sát và phân tích biểu đồ một cách ngẫu nhiên không nhận ra đó là: những mức giá đó đang dần dần chuyển vai trò từ hỗ trợ thành kháng cự và ngược lại từ kháng cự thành hỗ trợ. còn kháng cự ngược lại. Cơ sở của những dự đoán này cũng là những dữ liệu cơ bản hình thành nên lý thuyết về hỗ trợ và kháng cự. Vậy thế nào là hỗ trợ.

ngược với hỗ trợ. sau đó đảo chiều và đóng vai trò hỗ trợ tại điểm D-E.F) trước khi tăng lên tới mức 35 điểm. khiến cho mức giá không tăng thêm nữa. Hãy cùng quan sát bảng 1 để thấy rõ hơn. là việc bán một lượng lớn cổ phiếu nhằm đáp ứng các lệnh mua. Kế đó.5 điểm ( tại A . Kháng cự. sau khi vượt qua mức 27. Đây là biểu đồ chứng khoán của công ty Rubbermaid từ tháng 6 năm 1997 đến tháng 9 năm 1998. còn kháng cự là mức giá tại đó cầu nhỏ hơn cung”. Đồ thị thể hiện ba lần giá cổ phiếu lên cao hơn mức 27. “ Hỗ trợ là việc mua.B . ta thấy mức giá đóng vai trò kháng cự tại điểm A-C. sau đó lại đảo chiều và giảm giá.C).5 điểm vào tháng 1 năm 1998 giá cổ phiếu lại tụt xuống (điểm D . Trong bảng này.E . có thể trên thực tế hoặc tiềm năng. Một đường thẳng được kẻ sao cho càng gần với cả sáu điểm này càng tốt. Robert Edwards và John Magee trong tác phẩm “Technical analysis of stock trend” (phân tích kĩ thuật xu thế biến động cổ phiếu). một khối lượng lớn cổ phiếu trong một giai đoạn nhất định nhằm ngăn chặn không cho giá của chúng giảm thêm nữa. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 44 . Xét về quan hệ cung cầu thì hỗ trợ là mức giá mà tại đó cầu lớn hơn cung.Trước khi đi sâu tìm hiểu các biểu đồ ta làm rõ một số thuật ngữ và các nguyên nhân dẫn tới sự hình thành của các đường này.

Mặc dù điều này có vẻ quá đơn giản. sau đó lại sụt giảm.5 (điểm A) vào tháng 8. và các cổ đông mua cổ phiếu ở mức giá 30 cũng nhẹ nhõm hơn một chút vì mức lỗ của họ chỉ còn 2. Sau khi sụt giảm mạnh từ mức 30 điểm vào giữa tháng 7 năm 1997.5 điểm và vẫn quyết định nắm giữ cổ phiếu. Chu kì này lại tiếp diễn một lần nữa vào tháng 1 năm 1998. nhưng đó là một trong những kiểu ra quyết định của các nhà đầu tư giúp hình thành nên mức hỗ trợ và mức kháng cự. chấp nhận mức lỗ 0. mức giá còn ngất ngưởng 30 điểm.5 điểm) và đương nhiên ai cũng mong ngóng ngày giá tăng để giảm bớt khoản lỗ. rồi tăng lên mức 27. hơn là bị động gánh chịu và sửng sốt trước những biến đổi bất ngờ của nó. tuy nhiên nếu không tính tới các nhân tố này. nhiều nhà đầu tư cảm thấy hài lòng với quyết định nắm giữ cổ phiếu của mình. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 45 . Nhiều người chấp nhận mức lỗ này.5 điểm như trước đây. chúng ta có thể có những sự so sánh. Chính vì tâm lý này nên giá cổ phiếu đã tăng lên mức 27. sau đó lại được đẩy từ mức 27.25 điểm vào tháng 8. Mặt khác. khiến cho giá lại giảm xuống mức 27.5 vào tháng 2 năm 1998. và không muốn kéo dài tình trạng lo lắng cho túi tiền của mình. lo sợ vì mức giá duy trì yếu trong thời gian dài. họ quyết định bán cổ phiếu.5 điểm. các nhà đầu tư mua cổ phiếu ở mức giá dưới 30 điểm đã kiếm được một khoản lợi nhuận sau khi bán lại các cổ phiếu này cho các nhà đầu tư mới ở mức giá 30 điểm. bằng cách kết hợp kiến thức về mức hỗ trợ.5 điểm lên mức 29. lại sụt giảm.5 (điểm A). Giả định rằng trước khi diễn ra sự sụt giá vào giữa tháng 7 năm 1997.5 điểm thay vì 4.5 điểm. dự đoán xu hướng biến động của giá cả. tiếp tục tăng lên mức 29. Một vài nhân tố quan trọng hơn cả sẽ có ảnh hưởng lớn đến biểu hiện của giá cả. lúc này giá cả lại được đẩy lên mức 30 điểm vào tháng 5 năm 1998. mức kháng cự cùng với các công cụ phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật khác. họ quyết định bán cổ phiếu ra. Quá trình trên không chỉ xảy ra tại mức giá này mà nó xảy ra ngay tại mỗi mức giá cổ phiếu được giao dịch. Nhưng ngay sau đó. khiến cho giá sụt xuống. Tại mức giá này. các mức hỗ trợ và kháng cự này có thể có những tác động rõ rệt đến hình dạng của bảng biểu chứng khoán thường ngày.Để giải thích được hành vi của thị trường. F) cho đến khi những nhà đầu tư chấp nhận chịu mức lỗ nhỏ đã ra khỏi thị trường. chớp thời cơ làm giàu. chúng ta cần phân tích rõ đồ thị này hơn chút nữa. các nhà đầu tư đã lỡ cơ hội kiếm lời từ việc tăng giá ngay trước đó (từ thấp hơn 30 lên 30 điểm) thì lại coi đây là một cơ hội tốt để mua vào. giá cổ phiếu sau đó đã tăng lên mức 27.5 (điểm D). nhiều người trong số các cổ đông mới này đã đau khổ khi phải chứng kiến tiền đầu tư của mình bỗng nhiên giảm đi mất 15% chỉ sau một đêm ngắn ngủi (giá giảm xuống mức 25.5 điểm vào tháng hai. khiến cho mức giá tiếp tục tăng và vượt qua mức 27. Nhưng quan trọng hơn cả. đơn giản vì mới chỉ hai ngày trước đó. Hiện tượng này tiếp tục xảy ra thêm hai lần nữa (điểm E. Chu trình này lặp lại (điểm B và C) cho đến khi một bộ phận lớn các nhà đầu tư không chấp nhận mức lỗ 2.

giá cổ phiếu tăng từ 28.5 vào đầu tháng 8. và những biến động của giá cả trong vài tháng tiếp đó khi nó tăng giảm chạm mức hỗ trợ 4 lần tại B. D. ngay sau đó lại tụt dốc rất nhanh xuyên qua đường hỗ trợ. E. Kể từ đầu năm 1998 tới giữa tháng 2.5.5 lên 34. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 46 . giá tăng lên tới tận mức đỉnh điểm là 41(tại F). xuống mức 32.Bảng thứ hai lại là một ví dụ khác. thể hiện biến động theo từng ngày của cổ phiếu OSSi (Outback Steakhouse).5 điểm (tại A). Hãy chú ý tới phần đường biểu diễn nằm sát nhau ngay trên đường hỗ trợ được kẻ tại mức 34. C. Từ điểm E cho đến cuối tháng 7.

giá sẽ rớt tự do. cũng có thể coi chính các đường xu thế này như đường hỗ trợ hay kháng cự. một khi vượt qua được "rào cản" này.Vì F là điểm cao nhất trong cả thời kì phân tích. nó có thể là một đường xiên. ta sẽ kẻ một đường thẳng từ điểm G đến điểm E.5 điển (I) nằm ngay trên đường này. kéo thẳng đường này sang phía phải (gọi là đường xu thế). Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 47 . Hãy chú ý rằng điểm dừng H trước ngày giá giảm từ 36 xuống 32. Đồng thời điều này cũng có nghĩa là đường hỗ trợ và kháng cự không nhất thiết phải là đường ngang. Trên thực tế. Sự sụt giảm tương đối lớn ngay ngày sau đó cho thấy đường xu thế này đóng vai trò như một đường hỗ trợ.

Vì mức giá giảm xuống dưới 34. E). tuy nhiên theo như đồ thị này thì khả năng giá sẽ đảo chiều là rất lớn. chẳng có phương pháp phân tích nào lại đáng tin 100% bởi thị trường còn chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố. B. Nó có đáng tin 100% không? Tất nhiên là không. đến tháng 9.5. nó đã đảo chiều và đóng vai trò như một đường kháng cự cho đến khi giá giảm xuống mức thấp hơn. lúc này đường xu thế không còn đóng vai trò như một đường hỗ trợ nữa.5 nên giá đã phá vỡ đường hỗ trợ và đường xu thế. C. Mức độ quan trọng và đáng tin cậy trong việc dự đoán tương lai của đường hỗ trợ hay kháng cự trong phân tích kĩ thuật liên quan trực tiếp đến sô lần giá chạm tới các đường này và chuyển động ngược trở lại. có thể dùng để dự đoán các biến động của giá trong tương lai. Con số này chứng tỏ rằng các đường này rất có ý nghĩa và đáng tin cậy. Trong đồ thị số 4. D. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 48 . cổ phiếu này được giao dịch ở mức 26.Quay lại với các điểm nằm trên đường hỗ trợ (A. có ít nhất là 7 lần giá đạt tới mức kháng cự/hỗ trợ và sau đó đảo chiều. Trong tháng 8 mức giá chủ yếu giao động nhẹ quanh mức 34.

song song với đường xu thế trên có vẻ "bao trọn" được biên giao động của giá trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 9. thay vào đó chúng là công cụ dùng để cảnh báo các nhà đầu tư về một số điểm cần xem xét thẩm tra kĩ càng.Theo đồ thị trên. Bằng cách sử dụng đường hỗ trợ và kháng cự kèm với các chỉ số khác. kéo dài qua J là đường xu thế mới. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 49 . Nhìn chung. với độ chính xác tuỳ theo số lần giá cả chạm mức kháng cự hay hỗ trợ. Tóm lại Phân tích kỹ thuật là một nghệ thuật nhìn nhận và cảm nhận được sự biến động của những động thái trên thị trường chứng khoán. Một đường thẳng nối từ F. khi mức giá không giữ xu thế tăng nữa. Tuy nhiên nó không đơn giản vì còn quá mới ở Việt Nam khi sử dụng phân tích kỹ thuật và còn một số hạn chế trên thị trường và vấn đề pháp lý trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán. chúng ta sẽ kẻ một đường xu thế mới để thể hiện hướng biến động mới của giá cả. Một đường thẳng khác nối từ H. chúng ta có thể biết được các tác động của chúng (nếu có) đối với giá cổ phiếu. đây chính là môt hình hỗ trợ-kháng cự đường xiên điển hình. hỗ trợ và kháng cự không phải là công cụ dự đoán chính xác 100% sự biến động của giá cả trong tương lai.

KẾT LUẬN Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Chứng Khoán Page 50 .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful