You are on page 1of 8

Cha mẹ tôi

Đặng Nhật Minh

Cha mẹ tôi là những người Huế. Quê nội tôi ở An Cựu và quê ngoại ở
làng Lại Thế. Tôi nghe Bà tôi kể: đám cưới cha mẹ tôi là một đám cưới chạy
tang. Mẹ tôi đã khóc rất nhiều trước khi về nhà chồng để rồi không lâu sau trở
lại nhà mình để chịu tang cha. Phải chăng vì sự khởi đầu như vậy nên cuộc
sống chung của hai người vui ít buồn nhiều. Chắc chắn cha mẹ tôi đã có những
ngày rất hạnh phúc bên nhau, nhưng những ngày ấy rất ngắn ngủi. Sau khi cha
tôi quyết định lên đường sang Nhật du học, đi theo tiếng gọi của lý tưởng khoa
học, là bắt dầu những chuỗi ngày xa cách chia ly. Tôi thuộc Chinh phụ ngâm
trước khi biết Truyện Kiều là do mẹ tôi, bà hay đọc cho tôi nghe từ nhỏ. Lớn
lên tôi biết thêm rằng con người ta còn có những lý tưỏng khác nữa như: Giải
phóng dân tộc, xây dựng một xã hội công bằng, bác ái, không có người bóc lột
người v.v.... Lý tưởng nào cũng đòi hỏi sự hy sinh và nỗi cô đơn của người
phụ nữ. Về sau tôi hiểu thêm: lý tưởng cũng như tôn giáo, nó còn đòi hỏi một
sự sùng tín nữa, hy sinh không chỉ bản thân mình mà cả những người thân xung
quanh mình. Cha mẹ tôi là một trong muôn vàn thí dụ về sự hy sinh như thế.
Những năm 40, việc một người phụ nữ trẻ, ôm một nách 3 con, con nhỏ
nhất mới hơn một tuổi, vừa nuôi con vừa hầu hạ bố mẹ chồng, sống cô đơn
ròng rã suốt 7 năm trời là một chuyện hy hữu. Sau này trong hai cuộc Kháng
chiến trường kỳ của dân tộc vợ chồng xa cách nhau, kẻ Bắc người Nam là
chuyện thường tình. Có lẽ chưa ở đâu trên thế giới có nhiều phụ nữ chờ chồng
như ở ta. Vợ chờ chồng 10 năm, 20 năm, 30 năm..... Mẹ tôi chờ chồng 7 năm,
nhưng 7 năm ấy đối vời bà là một chuỗi ngày dài đằng đẵng. Còn đối với tôi 7
năm ấy là cả một miền ký ức vô tận của tuổi thơ.......
Ngày ấy, sau khi cha tôi lên đường du học, mẹ tôi cùng ba anh em chúng
tôi về sống trong ngôi nhà nội tôi tại An Cựu. Tôi chỉ còn giữ lại trong ký ức
hình ảnh ông nội tôi như một ông đồ nho đầu búi tó củ hành. Quanh vùng
người ta gọi ông là ông Khoá. Có nghĩa ông tôi suốt đời vẫn là một anh học
trò... chẳng đỗ đạt bằng cấp gì. Dầu sao được gọi như vậy cũng coi như đựơc
xếp vào hạng người có học trong xã hội rồi. Nghe nói ông tôi đã nhiều lần đi
thi nhưng không thành, phẫn chí quay ra làm giầu bằng con đường phi thương
bất phú và rồi... ông tôi giầu thật, giầu nhất vùng An cựu. Ông tôi quyết chí
làm giầu cốt để có tiền nuôi con ăn học, sau này đỗ đạt thành người, rửa cái hận
thi cử bất thành của mình. Gọi đó là lý tưởng của ông tôi cũng được. Mà khởi

Chỉ riêng con bà Ba và Bà Tư cũng đã có tới mười ba người.Bác Kế tôi.. Ai cũng chiều chuộng. Mà những cái đó thì trong gia đình bên nội tôi có nhiều lắm. được sống trong một không gian khác hẳn khung cảnh phố phường ở An Cựu. không đổi thay. Trong cuộc đời đầy dâu bể con người ta đôi khi cũng cần bấu víu vào những cái gì đó bất biến. ngày nào cũng như ngày nào đều đặn đạp xe lên thắp hương cúng trên mộ ông bà tôi rồi mới đến trường Quốc học làm việc (bác tôi là giám thị lâu năm nhất của Trường này).. Bây giờ mỗi lần về thăm nhà đi qua chợ An cựu tôi không khỏi cười thầm khi nghĩ: kể từ thời bà nội tôi cho đến nay dễ hơn một thế kỷ. hai bà trước qua đời khi tôi còn chưa đẻ. Ông nội tôi mất đi. Từ ngày ông nội rồi bà nội tôi mất. Từ Vỹ dạ rẽ phải đi qua cầu ông Thượng về làng Lại Thế là đến quê ngoại tôi. để đến bây giờ cái biển đường phố mang tên cha tôi cứ suốt ngày đau đáu nhìn sang phía cổng chợ. nhưng tôi chỉ biết có bà Ba và bà Tư. Các dì các cậu tôi nhiều lắm. và rồi sẽ đến lượt con ông anh tôi. Ông ngoại tôi có bốn bà.đầu có gì đâu? Chỉ là một sạp hàng trong chợ An cựu của Bà nội tôi.chắc chắn là như vậy. Ông ngoại tôi làm Thượng thư dưới triều đình Khải Định. Hẳn là mẹ tôi đã bịa ra đủ thứ lý do để làm mủi lòng bà Hoàng Thái hậu vốn còn chút tình nghĩa với gia đình quan thượng thư ngày nào.. Có cảm tưởng như gia đình tôi có duyên nợ nào đó từ kiếp trước với cái chợ này.. Mẹ tôi một dạo cũng từng ngồi bán vải trong đó và bây giờ con gái ông anh con bác tôi đang ngồi trong đó.. đến lượt Bác tôi. gia đình tôi không lúc nào không có một sạp hàng trong chợ đó. ông bền bỉ giữ trọn đạo Hiếu đối với cha mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Bác tôi mất đi đến lượt anh cả con Bác tôi. tự bao đời nay được coi là nền tảng bất di bất dịch trong cái thế giới thu nhỏ này. Mỗi lần được về bên ngoại đối với tôi thực sự là những ngày hội. Tôi được về với đồng quê. cũng bán vải. Cơ ngơi chỉ có thế: một cái sạp hàng bán vải. Chiều tan việc xong lại đạp xe lên mộ thắp hương trước khi về nhà. Mẹ tôi là con bà Ba. được ngửi mùi thơm của rơm rạ.. Xin đơn cử một việc mà tôi được chứng kiên từ hồi còn nhỏ đó là lệ cúng trà vào mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều. Đó là nề nếp của một gia đình theo khổng giáo. Có một điều tôi không cắt nghĩa nổi tại sao xuất thân trong một gia đình đại quan lại và phong kiến như vậy mà các dì các cậu tôi đều tham gia vào các tổ chức bí mật của Việt minh hoạt động trong nội thành. Bây giờ đến lượt anh cả con Bác tôi.lấy chữ hiếu làm đầu. Cứ mỗi lần có dì hoặc cậu nào bị bắt là mẹ tôi lại đến Cung An định xin Bà Từ Cung can thiệp với Sở mật thám Pháp để họ tha cho.. Rồi các dì . Ngày nắng cũng như ngày mưa. yêu thương tôi. Ông tôi đã xây chiếc cầu này nên cầu có tên là cầu ông Thượng. không hề sao nhãng. Những ngôi mộ trong nghĩa trang họ Đặng mỗi năm một nhiều thêm và việc hương khói vẫn thế.hết lớp người này đến lớp người khác bền bỉ duy trì nếp sống đó trong gia đình hệt như những vận động viên chạy tiếp sức truyền nhau một ngọn đuốc. Chúng làm xáo động cuộc sống bình lặng của tôi trong những ngày sống ở bên nội.

Hết 4 năm tiểu học ở Trường An cựu tôi vào Trường Khải định. Đối với tôi đó là gương mặt của Lương tâm. theo suốt cả cuộc đời tôi. mẹ tôi cùng 3 anh em chúng tôi xin phép ông bà cùng họ hàng bên nội. Bà chỉ nóng lòng chờ cơ sở bí mật đến bắt liên lạc để tổ chức vượt thành. một cơ sở bí mật trong thành phố.. Tôi giật mình nhận ra cậu Long em mẹ tôi. một người đàn ông đến tìm gặp mẹ tôi tại nhà với vẻ mặt đầy bí ẩn. Hơn 50 năm qua ánh mắt ấy. dừng lại bên một khung cửa vuông nhỏ. xáo động đến nỗi không một ai trong gia đình tôi dù có giầu tưởng tượng đến mấy cũng không thể ngờ tới. gương mặt sau ô cửa xà lim ngày ấy vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi chỉ nhớ một hôm mẹ tôi mặc quần áo sạch sẽ cho tôi rồi dắt tôi đi theo vào Đại nội. Điều bất ngờ nhất đối với họ hàng trong gia đình tôi là việc cha tôi. Mẹ tôi đưa qua ô cửa những ổ bánh mỳ cùng thức ăn khô. mà đối với tuổi thơ vô tư của tôi như một cuộc du ngoạn dài. Cậu tôi cố gượng cười để mẹ tôi yên lòng. của Phẩm giá và Nhân cách.các cậu tôi được tha về để lại tiếp tục hoạt động và rồi lại bị bắt. đã chuyển đến tận tay cho mẹ tôi một bức thư của cha tôi viết từ Chiến khuViệt Bắc. Một gương mặt hốc hác bầm tím hiện ra sau ô cửa. Mặt trận Huế vỡ. lên một chiếc . Về sau tôi mới biết rằng đêm đó người thợ cắt tóc. trở thành cơ sở bí mật của thành uỷ Thuận hoá. đã bắt đầu biết ngẩn ngơ nhìn sang tường bên kia Trường Đồng Khánh mỗi khi tan trường.. Vậy là vào một ngày đã định. Thì ra ông không còn ở Nhật nữa. nơi tôi thường hay ra cắt tóc. đi gặp chồng. Người đàn ông đó gặp mẹ tôi chưa đầy 5 phút rồi cáo lui. bỗng nhiên đi theo Việt Minh. Nhưng cuộc sống tưởng chừng bất biến ấy đã một lần xáo động. Rồi những ngày lênh đênh trên thuyền cùng bên ngoại tản cư ra tận phá Tam Giang. Ông đến rồi đi như một cái bóng. Tôi lại tiếp tục đi học.. Tôi không được chứng kiến giây phút đó nhưng có thể hình dung hết được sự ngạc hiên mừng rỡ như thế nào của mẹ tôi khi bà nhận ra nét chữ quen thuộc của chồng mình sau hơn một năm bặt vô âm tín.An Cựu và Lại Thế. cuối cùng mẹ tôi dắt tôi đi dọc theo một dẫy xà lim dài. Đó là vào một buổi tối năm 1950. Còn mẹ tôi hẳn không băn khoăn lắm về điều đó. Qua rất nhiều tầng cửa có lính gác. Tôi đau nhói trong tim nhưng không khóc được. Tuổi thơ tôi cứ như vậy trôi đi giữa hai miền nội ngoại .. Ông đã trở về vùng tự do theo Kháng chiến và bây giờ đang nóng lòng chờ gặp mẹ tôi cùng 3 anh em chúng tôi. gia đình ngoại tôi lại trở về Lại Thế. hỏi han cậu tôi.. Tôi nhận ra ngươì đó là bác thợ cạo vẫn ngồi dưới gốc cây đa trước Miễu Đại càng. người mà mẹ tôi và tôi đã từng đi thăm trong xà lim Đại nội ngày nào. Cơ sở bí mật được giao làm việc đó không phải ai khác chính là cậu tôi. theo Kháng chiến. còn mẹ con chúng tôi lại trở về bên nội. một người chỉ biết có kính hiển vi và phòng thí nghiệm. Tôi không biết mẹ tôi đã xin cho các dì cậu tôi bằng cách như vậy được mấy lần rồi thôi. rồi cúi xuống nhìn tôi. Chẳng có gì biến động lớn lao ngoại trừ cái đêm toàn quốc Kháng chiến nổi lửa đốt khách sạn Morin sáng rực cả một góc trời.

Nhưng đối với mẹ tôi và ba anh em tôi ngày ấy là một chiến công. Mẹ tôi giữ nó trong người như lá bùa hộ mệnh. Cha tôi là người Huế. Tôi và mẹ tôi đi bộ còn hai em gái tôi có ngưòi cõng trên lưng. Để được gần gũi cha tôi nhiều hơn mẹ tôi vào làm xét nghiệm viên trong phòng bào chế Penicilline của cha tôi. lội dọc theo con suối nhỏ. giảng dậy cho khoá sinh viên 52 của Trường Y khoa Kháng chiến.vì đủ mọi gian truân vất vả không thể nào kể xiết trong những ngày xa cách. đoàn viên.. Trong đêm tối chúng tôi lẳng lặng đi theo sau những người dẫn đường. Ông làm việc đó như một lẽ tự nhiên. móc nối. Tiếp theo là những ngày hạnh phúc của sum họp. Cha tôi đã từ Nhật bản đáp tầu thuỷ về Thái lan. sau 7 năm xa cách. vì lặn lội đường xa. Cứ từng chặng giao liên một. Cả hai đều đi theo Cách mạng. Chúng tôi giữ im lặng tuyệt đối để rồi lát sau chạy vụt qua đường khi có người ra hiệu. Tôi còn nhớ như in giây phút khi Cha mẹ tôi gặp nhau bên bờ suối ở Chiêm hoá. Ngay khuya hôm ấy 3 du kích địa phuơng đến đón bốn mẹ con chúng tôi đi.. Đôi khi tôi tự hỏi không biết những người như cha mẹ tôi đã phải tự kiểm điểm những gì trong những cuộc . Nhưng từ đây đến Việt Bắc. Bên kia là Chiến khu Dương Hoà. Bà đã mong đợi bao lâu giây phút này nhưng khi nó đến thì bà lại không đủ can đảm để đón nhận nó. Khởi đầu do cha tôi trong những ngày du học ở Nhật tình cờ đọc được lời kêu gọi toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ chí Minh. Thực ra không có kỵ giỗ nào cả. tìm gặp đại diện của Chính phủ ta ỏ Bangkok để xin về nước tham gia Kháng chiến. Địa phương lại cử dân quân dẫn đường và địu 2 em gái tôi (một lên 8 và một lên 10) đi tiếp.. Tảng sáng chúng tôi đã đến bên bờ một con suối rộng.xe kéo để về quê ngoại ăn kỵ. Cha tôi từ trên đồi chạy xuống còn mẹ tôi thì quay lưng đi. Cha tôi mải mê với công việc chế tạo ra nước lọc Penicilline để cứu chữa những vết thương cho bộ đội ngoài mặt trận. Tôi sẽ không kể ra đây về những ngày trèo đèo lôi suối qua Liên Khu Ba để ra Khu IV.. Một lần chúng tôi phải dừng lại nằm chờ bên một con đường nhựa. chỉ vì một động cơ duy nhất: Lòng yêu nước. mẹ tôi lại chìa lá bùa đó ra. rồi từ Khu IV ra Việt Bắc của mấy mẹ con chúng tôi vì đó là chuyện quá quen thuộc đối với bất cứ người nào đã qua hai cuộc Kháng chiến. Mẹ tôi được trang bị một giấy giới thiệu của Uỷ Ban Kháng chiến Tỉnh Thưa thiên với nội dung: Bà Tôn nữ thị Cung trên đường đi gặp chồng là Bác sỹ Đặng Văn Ngữ đề nghị các cấp địa phương hết lòng giúp đỡ.. chỗ cha tôi ở còn xa lắm. thành phần Tiểu tư sản trí thức. vùng tự do của ta. Mẹ tôi là ngươì Huế. cách không xa một lô cốt địch. Biết bao vinh quang và khổ ải trên con đường đi theo lý tưởng của một người trí thức yêu nước. Tỉnh Tuyên quang. thành phần quan lại phong kiến. Phải 3 tháng sau mới có cuộc trùng phùng.. chẳng có một tổ chức nào giới thiệu. Bà đã quá mệt mỏi vì đợi chờ. bèn từ bỏ tất cả công việc nghiên cứu khoa học để về nước tham gia vào sự nghiệp chung của dân tộc.

Lào cai. Không lâu sau khi tham dự lớp chỉnh huấn đợt một thì mẹ tôi qua đời. Tôi chỉ được nghe kể rằng mẹ tôi chỉnh huấn rất thành khẩn. Ông chưa tìm ra được vacxin miễn dịch sốt rét cho họ thì ông đã chia xẻ với họ cái chết. Ông nằm trên Trường sơn lặng lẽ suốt hai mươi năm cho đến khi tình cờ một người tiều phu phát hiện được mộ ông như mộ một ngưòi lính vô danh. Trong những ngày ấy cha tôi luôn mang trong lòng nỗi nhớ không nguôi về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình . Khỏi phải nói. Ông đã mất trước đó 8 năm trong một trận bom B52 ở phía Tây Phong điền Tỉnh Thừa thiên. Nhà văn Nguyễn Khải đã đem mình ra so sánh với nhân vật Quang một cách rất thật thà: ông đi bộ đội . Thiếu tá Cục quân báo. Đó là tổn thất lớn nhất của gia đình chúng tôi trong cuộc Kháng chiến lần thứ nhất. Nhưng đến ngày đất nước thông nhất có thể về được thì ông đã không còn.. bệnh sốt rét căn bản đã bị đẩy lùi trên Miền Bắc nước ta. còn cha tôi thì chỉ im lặng. Ông luôn nuôi hy vọng trở về gặp lại Bà nội tôi. Anh có tên là Quang. Là bác sỹ nhưng ông đành bó tay bất lực vì đã quá muộn. Đầu Xuân Nhâm Ngọ nhà văn Nguyễn Khải từ Thành phố Hồ Chí Minh gửi bưu điện ra tặng tôi một cuốn sách mới của anh có tựa đề Sống ở đời. lúc đó đã cao tuổi lắm rồi. Khi bà hôn mê. Sau 10 năm thực hiện chương trình. Sau 46 năm xa cách cha mẹ tôi cuối cùng đã về bên nhau. được biểu dương trong lớp. Lúc đó tôi đang học mãi tận Nam Ninh bên Trung quốc. rồi sáng hôm sau chôn mẹ tôi ngay trên nền nhà trước khi rời Việt bắc để về tiếp quản thủ đô. Sau này tôi nghe Dì tôi kể lại rằng mẹ tôi hôn mê ba ngay ba đêm liền chờ cha tôi về mới trút hơi thở cuối cùng. Những ngày sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc công việc chính của cha tôi là tiêu diệt bệnh sốt rét. Ông cùng đồng nghiệp vào đây để nghiên cứu vacxin chống sốt rét cho bộ đội. người Huế. để thực hiện một chương trình chống sốt rét toàn diện và quy mô chưa từng có. tôi liền đọc ngay một mạch truyện Danh dự. Cha là Bố chánh. Người ta đưa di hài ông về Nghĩa trang liệt sỹ xã Phong Mỹ và mãi năm năm sau anh em chúng tôi mới biết để đưa cha mình về nghĩa trang họ Đặng trên núi Ngự Bình.xứ Huế. cha tôi đang tham dự lớp chỉnh huấn đợt hai.chỉnh huấn trên Việt Bắc vào năm 1954 ? Không biết họ có phải ân hận về xuất thân thành phần giai cấp của mình để được coi là thành khẩn và điêù đó có nhọc nhằn lắm đối với cha mẹ tôi không? Những điều đó tôi hoàn toàn không được biết. Thái nguyên. Cha tôi lại lặn lội trở về với những khu căn cứ địa cũ như Tuyên quang. ông nội là Thượng thư. Lật bìa sách ở trang đầu tôi đọc giòng chữ ông viết: Rất quý mến tặng Đặng Nhật Minh một cuốn sách tôi rất thích (nhất là truyện Danh dự). Cha tôi nằm bên xác mẹ tôi suốt một đêm. Tôi đã không có trong mặt trong giờ phút lâm chung của mẹ tôi.. Bản thân từng học trường giòng Providence ở Huế cho đến hết bậc tú tài. Bắc cạn. dù chỉ một lần. Chuyện kể về một người hàng xóm trước đây của nhà văn trong Khu tập thể quân đội ngoài Bãi Phúc xá ven sông Hồng. xuất thân từ tầng lớp thượng lưu. ít nói. Quang tham gia cách mạng từ cuối năm 1945 làm công tác quân báo.

Đọc xong dì tôi cười bảo tôi: anh Quang này thì dì không biết. Rồi Quang bị bắt và những người từng giúp anh cũng bị đưa ra tòa án binh Sài gòn trong vụ án đặc biệt xử nhóm trí thức có liên hệ với cộng sản Bắc Việt. một vài người sống ở nước ngoài. Không nói đén danh dự thật tình không có gì để nói để viết về con người cả. vẫn có chỗ ngồi đàng hoàng trong xã hội cũ. còn cần gì nữa nào? Hết! Không còn gì phải tiếc nuối cả.chỉ vì một tính toán rất tầm thường: không vào bộ đội sớm thì chết đói! Còn Quang nếu không đi theo Cách mạng thì vẫn là một công tử con ông cháu cha. danh dự làm người trải qua nhiều thử thách không hề bị hoen ố. con cái đã trưởng thành. Nhân cách là sản . và cả cậu tôi nữa (người cậu liệt sỹ bị giam trong xà lim ngày nào) nếu còn sống chắc họ cũng nói như vậy. từ những gia đình trí thức. Anh được cử vào Nam làm nhiệm vụ của một tình báo viên cắm sâu trong lòng địch để khai thác những tin tức bí mật. Ông viết: Người ta sống không chỉ vì sự an toàn. Giữa nơi đầy hiểm nguy rình rập đó Quang đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình bằng sự che chở. họ đều là bạn của dì cả. Tôi nghĩ. ông mỉm cười tâm sự: Phận sự làm người đã xong. Bây giờ họ đều sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cái động lực gì đã thôi thúc những con người ấy trong cả cuộc đời. Tiền không cần. mà còn phải sống trong danh dự. của bạn học cũ mà tất cả đều xuất thân như anh. Ông không bịa được vì như ông từng nói: Thực tình người viết văn chẳng bịa được cái gì lạ hơn những biên hoá của mỗi mỗi gia đình trong hơn mười năm qua. Có thể nói đó là Danh dự hay là Nhân cách cũng đựoc.ăn sung mặc sướng. nhân vật Quang là nhân vật có thật. Khi nhà văn Nguyễn Khải vào thăm. Đọc xong truyện này tôi ngờ rắng đây là câu chuyện có thật. cha mẹ tôi. cũng hoạt động ở Huế. Năm 1985 Quang về hưu. quan lại.. Đến năm 1962 thì Quang được quân đội cho chuyển ngành sang làm công tác nghiên cứu ở Bộ Ngoại thương (chắc vì gốc gác thành phần không thích hợp cho việc tiếp tục ở lại trong quân ngũ). Tôi đem cuốn sách đến cho dì tôi đọc. chắc tác giả giấu tên. cũng thuộc tầng lớp như Quang. Nhưng rồi đến năm 1964 Quang lại được trên điều trở về lại quân đội. theo Nguyễn Khải ấy là Danh dự. tiếp tay của họ hàng bà con xa gần. Tôi biết nhà văn Nguyễn Khải bao giờ cũng chỉ viết về những người và nhũng việc có thật.. Đến đầu năm 1991 thì vào bệnh viện vì bị ung thư hạch. danh không cần. Bởi vì có Nhân cách con người mới biết sống trong Danh dự. hưởng lương hưu trung tá. con người của hôm qua và con người của bây giờ. chí nguyện một đời nói cho cùng là mãn nguyện. Nhưng những người mà Quang móc nối để hoạt động vì để tên thật nên dì biết. Dì Toản là em mẹ tôi. Với giấy tờ giả mạo Quang vào hoạt động ở Sài Gòn. Quang mỉm cười sau khi nghe Toà tuyên án chung thân rồi nói với phóng viên Hãng thông tấn AFP bằng tiếng Pháp: Dans deux ans je reviendrai au Dinh Độc lập (hai năm nữa tôi se trở lại Dinh Độc lập). từng là nữ sinh Đồng khánh.

. tôi bỗng nhận ra sự nhiệm mầu của mảnh đất này . Ở Nhật bản này ông được xếp vào hạng người bất tử. Tôi nghĩ ông có điều gì thôi thúc lắm ở bên trong. nhưng tên ông bao giờ cũng để trên tên tôi.. Nó như một loài hoa chỉ mọc trên mảnh đất được chăm bón bởi những giá trị bền vững của đạo đức.. Nơi đó trước đây là nơi ở của ông bà nội tôi.xứ Huế. tôi có cảm giác như đang nằm giữa những ngưòi thân đã khuất.. anh cả của cha tôi. Giáo sư kể tiếp: Mà cũng lạ. Sau này nghe tin ông mất chúng tôi rất thương tiếc. Nó không phải là sản phẩm riêng của một giai tầng nào.. Hồi ấy người Mỹ cũng đã bất đầu biết đến cha anh. không hiểu sao ông lại bỏ dở tất cả để về nước. mời cha anh cộng tác với họ. Giáo sư Takeuchi ân cần tiếp tôi trong phòng khách của Viện. trợ lý cho cha tôi trong phòng thí nghiệm. Căn gác bây giờ chỉ dành làm nơi thờ cúng. là vì cha tôi không muốn làm nguời đứng ngoài cuộc trong cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc mình.. Nhân cách của cha tôi không cho phép ông làm như vậy. Mỗi lần về anh chị tôi đều dành cho tôi cả căn gác trên tầng 2 để nghỉ ngơi. Tôi nghĩ thầm: Giáo sư không hiểu tại sao cha tôi lại bỏ tất cả để về nước ư? Thưa Giáo sư. Tôi gặp được một vài người từng quen biết cha tôi như bà Seino. nghĩa là được làm việc cho đến hết đời không phải về hưu. Ngoài kia. và đó có lẽ là một đặc điểm nổi bật nhất của người trí thức Viêt Nam. Năm nào tôi cũng về Huế thăm gia đình. Nằm một mình trong đêm yên tĩnh.. . Ông cũng biết rằng nếu ông tiếp tục ở lại Nhật bản làm việc cùng giáo sư thì con đường khoa học của ông hẳn cũng rực rỡ như của giáo sư bây giờ. Rồi ông nói: Nhưng tôi chỉ là đàn em của cha anh thôi. Nhưng ông đã chọn cho mình con đường khác. Nhưng họ không ngủ.... Kỹ sư Lê văn Quý ở cùng một phòng trong Đông kinh học xá cùng cha tôi trong suốt 6 năm. Viện trưởng Viện Hoá vi sinh Tokyo. Ông là bậc đàn anh của tôi. tôi đã lần tìm lại dấu vết của cha tôi trong những ngày du hoc tại đây.phẩm của văn hoá và giáo dục. Công việc nghiên cứu của ông đang tiến triển rất thuận lợi. Cách đây 6 năm có dịp sang Nhật.. nhưng rồi cha anh cũng từ chối. rồi đến vợ chồng ông Bác. mà cứ mở mắt chong chong nhìn tôi từ những khung ảnh trên bàn thờ. sông An cựu vẫn thao thức chẩy. Tôi được nghe kể rất nhiều mẩu chuyện cảm động về cha mình. Trên đường đi bà Seino nói với tôi: Giáo sư Takeuchi là một bác học rất nổi tiếng ở Nhật. Ông cho biết đã từng làm việc với cha tôi tại Trường Đại học Y khoa Tokyo trong 3 năm trước khi Nhật đầu hàng đồng minh. Có một số công trình tôi viết chung với cha anh. Hồi đó cha anh đã có nhiều công trình nghiên cứu được đánh giá cao trong giới Y học. Cuối cùng tôi được giơí thiệu đến gặp Giáo sư Tomio Takeuchi. Trong cái không gian sâu thẳm đó.

Đã đăng trên Tạp chí Sông Hương (khoảng 2006-2007) Bản này do tác giả gửi cho viet-studies .