P. 1
net

net

|Views: 2,931|Likes:
Published by lehieuVICTORY

More info:

Published by: lehieuVICTORY on Jun 27, 2011
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/27/2013

pdf

text

original

Các chứng khoán của chính phủ không được niêm yết tại sàn giao dịch, thay
vào đó chúng được mua bán trên thị trường phi tập trung OTC. Loại chứng
khoán này chủ yếu được mua bán theo quy mô khối lượng lớn giữa những
nhà đầu tư nhân danh tổ chức với nhau.

•Cách đăng giá chào của T- bills:

T- bills được nêu giá dựa trên cơ sở một lợi suất chiết khấu. Lãi suất T- bill
thể hiện ở phần trăm giá trị ghi trên mặt của chứng khoán đó.

Một chào giá nêu mức 3,50% chẳng hạn, có nghĩa là T- bill sẽ được bán với
giá thấp hơn mệnh giá số tiền 3,50% của mệnh giá đó. Đối với một T- bill
thời hạn 52 tuần mệnh giá 10.000 USD sẽ có giá bán là 9.650 USD. Trên
bảng chào giá của các báo, có hai cột số quan trọng cần biết là "mức thu vào
- bid" và "mức bán ra - asked" gọi theo cách của nhà buôn chứng khoán.
Một chào giá của T- bill được đọc như sau:

"Đáo hạn tháng 6, bid 3,50%, asked 3,40%"

Như vậy một người đầu tư nào đó nếu muốn đi mua một T- bill mệnh giá
10.000USD đáo hạn tháng 6, thì họ sẽ trả 9.660 USD. Còn nếu họ có T- bill

đó và đem đi bán họ sẽ nhận được 9.650 USD. Điều này hợp với lẽ thường:
đi mua phải chịu đắt, còn bán thì rẻ hơn.

Chúng ta cũng cần lưu ý lợi suất tương đương gọi là ask yield thực tế của T-
bill luôn luôn cao hơn lợi suất chiết khấu discount yield. Ví dụ: Một T- bill
52 tuần 7% với mệnh giá 10.000 USD được mua với giá 9.300 USD. Tiền
lãi 700 USD 7% của 10.000 USD đối với người đầu tư phải được hiểu là thu
nhập dựa trên vốn thực sự bỏ ra, chỉ 9.300 USD thôi, chứ không phải trên
10.000 USD. Như vậy ask yield sẽ là 7,50% 700 chia cho 9.300. "Ask yield"
được để kế bên mức "asked" để người đầu tư tiện so sánh với lãi suất của T-
notes va T- bonds hoặc các chứng khoán nợ khác

•Cách chào giá của T- notes và T- bonds:

Khác với T- bill, các T- notes và T- bonds được chào trên cơ sở giá tiền,
nhưng theo một cách đặc biệt. Giá được chào bán bằng điểm point - một
điểm của trái phiếu T- note và T- bond là 10USD 1% của mệnh giá 1.000 -
cộng với phần lẻ của một điểm được chia đều cho 32 1/32 của 10 USD hay
1/32% củamệnh giá.

Các T-notes và T-bonds được nêu trên cùng một bảng chào giá. Nhưng để
phân biệt, người ta thêm vào ký tự "n" ngay sau thời gian đáo hạn để chỉ loại
đó là T-notes. Các bảng thông tin chào giá gồm 5 cột được đăng thường
xuyên trên các báo chuyên ngành. Ta có thể khảo sát hai dòng đặc trưng
dưới đây của 5 cột đó để xem chúng thông tin những gì?

1

2

3

4

5

RateMaturity

BidAskedChangeAsk Yield

91/8

May 99n101 : 24101 : 28

- 35

8,81

77/8Feb 95 - 0093 : 2693 : 30

- 34

8,88

- Cột 1 chỉ lãi suất của trái phiếu. Ví dụ "91/8" có nghĩa là 9,125% của 1.000
USD, mỗi năm trái phiếu này cho lãi 91,25 USD.

- Cột 2 chỉ thời gian đáo hạn tháng và năm. Chữ "n" nằm kế 99 cho biết đó
là trái phiếu trung hạn "T- note". Theo ví dụ được trích trên đây "May 99n"
được hiểu là T- note đáo hạn vào tháng Năm năm 1999.

Một số T- bond trái phiếu dài hạn, trên 10 năm có mang đặc tính có thể được
thu hồi lại callable. Trường hợp này trên chào giá sẽ ghi hai niên hạn, niên
hạn để trước là năm khả năng thu hồi bắt đầu có hiệu lực và niên hạn ghi sau
là năm trái phiếu đáo hạn. Ta lưu ý vào dòng thứ hai của ví dụ trên, ở cột 2,
có ghi "Feb 95-00" có nghĩa là T- bonds đáo hạn vào năm 2000, loại có thể
thu hồi lại vào tháng Hai năm 1995 trở đi từ 1995 ~ 2000 có thể được thu
hồi hoặc không.

- Cột 3 chỉ giá thu vào "bid" và giá bán ra "asked" dựa trên căn bản điểm của
trái phiếu hay phần trăm của mệnh giả . Phần số bên phải của dấu hai chấm
đại diện cho các nấc giá 1/23 của một điểm trái phiếu 1/32 của 10 USD.
Chẳng hạn 101:24 nghĩa là 1.0124/32. Do đó mà giá thu vào của trái phiếu
là 10124/32% của mệnh giá 1.000USD tức 1.017,50 USD một trái phiếu.

- Cột 4 chỉ sự thay đổi của giá thu vào của ngày hiện tại so với ngày báo giá
kế trước, các số ghi là số nấc 1/32 của một điểm trái phiếu. Ví dụ "- 35" như
trên có nghĩa là giá đã giảm đi 35/2 hay 13/32 so với giá thu vào ngày trước
đó.

- Cột 5 Asked Yield chỉ lợi suất tương đương mà trái phiếu thực tế nhận
được so với tiền mà người đầu tư phải bỏ ra mua tính đến ngày đáo hạn gọi

là Yield- to- maturity- YTM. Trong ví dụ trên ta thấy lãi suất tương đương
"ask yield" là 8,81 nhỏ hơn lãi suất ghi trên mặt của trái phiếu "rate" 91/8, lý
do là vì T- note đã có giá cao hơn mệnh giá người đầu tư phải trả 101:28 hay
1018,75 chứ không phải với 1.000. Người đầu tư đã bỏ ra một số tiền cao
hơn nhưng mỗi năm cũng chỉ nhận được tiền lãi y như cũ, do đó trong thực
tế tiền lãi họ nhận được có một lợi suất thấp hơn.

Việc chẻ nhỏ các điểm trái phiếu 1/32 trong thị trường chứng khoán và 1/64
trong thị trường futures và options có một ý nghĩa đặc biệt trong khoa học
chứng khoán. Nó vừa có công dụng chuẩn hoá theo yêu cầu thông tin, vừa
tạo một phần giá trị lẻ thực dụng và hợp lý trong giao dịch, nhất là các giao
dịch số lượng lớn. Ngoài ra, phần lẻ như vậy cũng tạo điều kiện cho sự mặc
cả, làm cho mua bán dễ xảy ra hơn. Mua bán nhiều hơn cũng có nghĩa là thị
trường càng có khả năng thanh khoản: đây là mục đích gần của TTCK.

Để giúp người quan tâm có thêm thông tin, ta cũng nên lưu ý quy ước về số
ngày trong năm khi tính toán tiền lời đối với trái phiếu của Mỹ, nhất là khi
tính các giá trị lãi tích được accrued interest giữa hai kỳ trả lãi. Các trái
phiếu công ty, trái phiếu đô thị T- bills được tính theo năm tròn 360 ngày
hay 30 ngày một tháng. Các T- notes và T- bonds được tính theo ngày thực
tế theo dương lịch và một năm có cơ sở là 365 ngày. Đây là căn cứ xác định
rất hữu ích khi tính toán phần lãi bằng tiền mà người mua trái phiếu phải trả
cho người bán trái phiếu cho tới ngày chuyển quyền sở hữu.

Một thực tế có tính truyền thống là thị trường trái phiếu luôn luôn lớn hơn và
lớn hơn nhiều lần thị trường cổ phiếu. Đặc biệt tại các thị trường chứng
khoán mới hình thành, lượng mua bán chứng khoán nợ chiếm một tỷ trọng
rất cao. Tuy nhiên điều đó chỉ hiện thực khi nào thị trường đã có một cơ chế
các lãi suất được hiệu chỉnh theo cung cầu, gọi là các lãi suất thị trường

interest rates. Lãi suất thị trường sẽ cảm biến khi thị trường tiền tệ đã hoạt
động nhịp nhàng, nhà nước có khả năng can thiệp hiệu quả bằng lãi suất hoạt
động phát hành trái phiếu chính phủ được thực hiện theo những kỹ thuật và
thông lệ có tính cạnh tranh…

Các trái phiếu chính phủ còn được xem là "vật liệu hạ tầng" rất quan trọng
đối với các tổ chức, các nhà quản lý tài chính, huy động vốn đầu tư, nhất là
các nhà điều hành quỹ đầu tư và ngân hàng. Bằng các nghiệp vụ giao dịch,
mua bán trong các thị trường, họ sử dụng các sản phẩm này để phòng ngừa
rủi ro hoặc bảo tồn giá trị. Chẳng hạn, một đợt huy động vốn kéo dài nếu
không tính tới việc bù đắp nghĩa vụ trả lãi phát sinh, trong thời gian chưa
đưa được tiền đó vào vòng quay, có thể đưa đến thiệt hại nghiêm trọng, làm
cụt vốn theo kế hoạch, đó là chưa nói tác hại của lạm phát.

Những năm gần đây, do sự biến động về lãi suất thị trường, người ta có
khuynh hướng phát hành các trái phiếu ngắn hạn hơn. Ở Mỹ chẳng hạn,
lượng T- bills tăng lên và T- bonds giảm xuống. Về tỷ trọng sở hữu của
người nước ngoài đối với trái phiếu kho bạc Mỹ cũng tăng lên. Một thống kê
thị trường Mỹ vào khoảng năm 1990 cho thấy cơ cấu sở hữu chứng khoán
kho bạc "T" như sau: có 75% là các tổ chức, khoảng 12% là các cá nhân và
13% sở hữu thuộc các nước khác nằm ngoài nước Mỹ. Bách phân sau cùng
này nay chắc đã lớn hơn nhiều và biết đâu sắp tới sẽ có cả Việt Nam. Cũng
trong thời gian đó, lượng trái phiếu trung hạn T- notes đang lưu hành chiếm
khoảng 56% tổng lượng chứng khoán kho bạc của chính phủ. Điều này có
thể giúp khẳng định thêm rằng khuynh hướng tiếp thị các loại trái phiếu
trung hạn tại Việt Nam sẽ có tính hợp thời và khả thi hơn.

Chứng khoán trung gian chính phủ

Phát xuất từ kinh nghiệm hoạch định vĩ mô và yêu cầu về điều hoà hoạt
động kinh tế xã hội, ngoài các chính sách "co dãn" tiền tệ thông qua một số
can thiệp truyền thống và việc điều hành nợ của chính phủ với các hình thức
T- bills, T- notes, T- bonds,… chính phủ Mỹ còn sử dụng một công cụ đệm
rất hiệu quả và nổi tiếng bằng cách sử dụng lợi thế về uy tín của nhà nước để
tạo ra dòng luân chuyển tài chính linh động và tích cực đó là các chứng
khoán nợ do các tổ chức trung gian của chính phủ Govemment agencies phát
hành và quản lý.

Các tổ chức trung gian, về mặt kỹ thuật, không phải là các cơ quan chính
phủ, nhưng đó là những cánh tay đắc lực thay mặt chính phủ thực hiện
những đường lối điều tiết hoặc bảo trợ xã hội cần thiết cho từng giai đoạn và
yêu cầu của từng lãnh vực với độ đậm nhạt khác nhau. Quá trình đó hoàn
toàn dựa trên các tác nghiệp kinh tế, chứ không phải là hoạt động nhân đạo
hay nghĩa vụ thuần tuý. Nói chung, các tổ chức này là những công cụ gắn
chặt vào chính phủ, hoạt động và tồn tại độc lập nhưng với sự bọc lót của
chính phủ để loại trừ rủi ro, và đây chính là ân huệ then chốt của vấn đề. Có
thể phân ra hai loại tổ chức như vậy.

Loại thứ nhất là tổ chức trung gian được chính phủ bảo trợ Federally
sponsored agencies. Loại này có đặc tính là các tổ chức có nguồn vốn sở hữu
tư và được thuê phục vụ cho công ích. Chính phủ Mỹ tạo ra các thực thể này
nhằm giúp một số thành phần dân cư quan trọng nào đó trong nền kinh tế có
nhu cầu muốn giảm khó khăn về chi phí vay mượn để cải thiện cuộc sống
hoặc giải quyết bức xúc về giáo dục của họ. Những người hưởng lợi từ các
tổ chức này cụ thể tập trung vào ba khu vực chính là sinh viên, chủ trang
trại, và những người muốn làm chủ một căn nhà cho mình.

Tổ chức trung gian phát hành chứng khoán của mình thông qua một nhóm
bán selling group gồm các công ty kinh doanh chứng khoán. Tiền thu được
của đợt phát hành sẽ được cho một ngân hàng hoặc một định chế có chức

năng khác vay. Sau đó, ngân hàng cho các cá nhân đang tìm tài trợ thành
phần đã kể trên vay lại.

Những chứng khoán của tổ chức trung gian được chính phủ bảo trợ là loại
không được chính phủ bảo đảm. Tuy vậy, bản chất bảo trợ của chính phủ đối
với các tổ chức cho ta giả định rằng lẽ nào chính phủ lại để các tổ chức làm
"nhiệm vụ chính trị" đó lâm vào bế tắc!? Những tổ chức được bảo trợ hiện
nay ở Mỹ điển hình như:

Các Ngân Hàng Tín Dụng Nông Nghiệp Liên Bang

’’’’’’’’’

FFCB

Hiệp Hội Để Đương Nhà Nước Liên Bang FNMA

’’’’’’’’’

Các Ngân Hàng Cho Vay Mua Nhà FHLB

’’’’’’’’’

Chức Để Đương Cho Vay Mua Nhà FHLMC

’’’’’’’’’

Hiệp Hội Tài Trợ Sinh Viên SLMA

’’’’’’’’’

Loại thứ hai là loại tổ chức trung gian trực thuộc liên bang Federal agencies.
Tổ chức trung gian trực thuộc liên bang có liên hệ ràng buộc trực tiếp với
chính phủ Mỹ. Các trung gian này thông thường được bọc lót với sự bảo
đảm bằng quyền năng về tài chánh của chính phủ full faith & credit - gồm
quyền hành xử tiền thuế và vay mượn cộng với nguồn huy động khác ngoài
thuế trong việc trả vốn gốc và tiền lãi đối với trái phiếu đã phát hành. Trái
phiếu của các tổ chức trung gian loại này điển hình có Ngân Hàng Xuất
Nhập Khẩu Mỹ EXIMBANK và Hiệp hội Để đương Quốc gia trực thuộc
Chính phủ GNMA. Các chứng khoán loại GNMA ở Mỹ được gọi phổ biến
theo ngữ âm đọc tắt là Ginnie Mae.

Ginnie Mae là loại chứng khoán trung gian có độ an toàn cao nhất và rất
được ưa chuộng. Tại Mỹ, đây là loại chứng khoán điển hình đáp ứng tốt nhất
yêu cầu đầu tư dài hạn. Những người muốn có một khoản thu nhập đều đặn
trong tương lai thì đây là kênh đầu tư hấp dẫn. Những khoản thu nhập đó có
thể trang trải chi dùng hoặc được sử dụng uyển chuyển để tái đầu tư. Đó là
tập hợp của một chuỗi giá trị trong tương lai đối với một khoản đầu tư hiện
tại. Khoản đầu tư sẽ tích lãi kép và cho đến thời điểm "thu hoạch" theo thoả
thuận, mỗi tháng, người đầu tư nhận được một đợt tiền mặt gồm cả vốn lẫn
lãi, và đều đều như vậy cho đến khoản trả cuối cùng, tiền gốc principal lúc
đó cũng bằng zéro - ở những khoản trả cuối cùng, tiền gốc tiệm cận đến zéro
- Do đó ta dễ thấy cách đầu tư này khác biệt rất cơ bản so với T- notes hoặc
T- bonds. Các Ginnie Mae cũng có thể mua đi bán lại tại các thị trường thứ
cấp. GNMA trả lãi cao hơn các chứng khoán kho bạc "T" tương ứng về thời
gian đáo hạn. Việc trả lãi và gốc cũng được bảo đảm đúng hạn vì được bảo
kê bởi chính phủ liên bang. Mệnh giá nhỏ nhất của một Ginnie Mae hiện nay
là 25.000 USD.

Một cách tổng quát, các chứng khoán trung gian có lãi suất tương đương cao
hơn các trái phiếu trực tiếp của chính phủ T- bill, T- note, T- bong nhưng lại
thấp hơn lãi nhận được từ các chứng khoán nợ của công ty. Thời gian đáo
hạn của các chứng khoán trung gian thay đổi từ rất ngắn hạn cho đến tương
đối dài hạn. Việc chào bán áp dụng theo một bách phân trên mệnh giá và
được mua đi bán lại trước ngày đáo hạn.

Chứng khoán trung gian được bảo kê theo một số cách như: 1 bằng thế chấp
tiền mặt, trái phiếu của chính phủ và các chứng khoán nợ; 2 bằng sự bảo
đảm của Kho bạc Nhà nước; 3 bằng đặc quyền được vay tiền kho bạc dành

cho tổ chức trung gian, hoặc trong một số ít trường hợp 4 bằng quyền năng
về tài chính của chính phủ full faith & credit.

Tại Mỹ, người ta gọi loại chứng khoán này bằng vài cách tương tự nhau:
agencies, agency issues, agency securities. Ta có thể tạm dùng là "chứng
khoán tổ chức trung gian" hoặc "chứng khoán trung gian".

Ngoài các ý nghĩa về kinh tế xã hội thuộc phạm vi điều tiết vĩ mô của nhà
nước, về phương diện kỹ thuật, nó loại bỏ cách cho vay tài trợ đơn điệu, loại
bỏ sự ỷ lại có thể có của đối tượng mục tiêu được hưởng lợi, đồng thời tạo ra
một không gian kinh tế tương tác thể hiện trong cách thu xếp để các nghiệp
vụ chuyển hoá theo một logic cộng sinh.

Trong quá trình thực hiện các chính sách xã hội như vậy, nhà nước đóng vai
trò là tác nhân bảo kê cao nhất, những người đi vay là diện hưởng lợi từ
chính sách. Nhưng không đơn thuần chỉ có hai nhân vật chính này. Nhà
nước, chỉ với uy tín của mình đã có thể tạo ra một trung gian thu hút vốn và
hình thành thêm một kênh đầu tư hấp dẫn, thuận tiện và an toàn cao, lại hợp
khẩu vị của thị trường.

Chính những thứ này làm cho những người có tiền sẽ thực hiện đầu tư theo
đường lối bảo thủ với lãi suất không cần cao lắm vào các chứng khoán diện
nhà nước. Điều đó mặc nhiên nuôi dưỡng và phục vụ cho chính sách của nhà
nước, cụ thể hoá các chính sách thành một hiện thực đầy tính thuyết phục.
Nhà nước không cần trực tiếp bỏ tiền hoặc nhảy vào sự vụ. Quá trình đó còn
có sự tham gia của nhiều công ty hoặc định chế công ích, tài chính, ngân
hàng, và tạo được sự tương tác loang rộng, tồn tại theo nhịp độ của thị
trường.

Trái phiếu đô thị

Có thể đã hơn một lần ta được nghe nhắc đến trái phiếu đô thị, hoặc đâu đó
người ta đề cập đến loại trái phiếu công trình, ... Điều này cho thấy rằng đây
là một công cụ huy động tài chính không xa lạ lắm, hoặc có thể nói sẽ không
còn xa lạ nữa đối với đời sống kinh tế Việt Nam. Để có một sự hiểu biết đầy
đủ và không bị sai lệch, làm cơ sở tham khảo về trái phiếu đô thị, ta sẽ chọn
nguồn tiếp cận có gốc gác khai sinh và đã phát triển hiệu quả thành khuôn
mẫu chuyên nghiệp, được khái quát và đúc kết thành những quy chuẩn
chung có ý nghĩa ngành, chứ không còn là của riêng nước Mỹ.

Về mặt chất lượng, trái phiếu đô thị municipal bonds thuộc loại có niềm tin
cao nhất. Ở Mỹ, chứng chỉ đứng sau trái phiếu chính phủ và trái phiếu trung
gian chính phủ các agencies. Chứng khoán đô thị chủ yếu được các cấp
chính quyền trực thuộc chính phủ phát hành và quản lý với sự cho phép
bằng những khung quy định cụ thể của chính phủ. Ở Mỹ, đó là các lãnh thổ,
tiểu bang và các cơ quan thuế được phân quyền hợp pháp. Những nội dung
phải làm rõ trong một đợt phát hành gồm có:

- Xác định các điều kiện về món nợ của trái phiếu và lịch hoàn trả.
- Chứng minh năng lực phát hành hợp pháp của cấp chính quyền phát hành
trái phiếu.
- Liệt kê những đặc điểm cụ thể của đợt phát hành.
- Trình bày dự trù sử dụng tiền vay.
- Cung cấp thông tin tài chính về tình hình sức khoẻ kinh tế đối với địa
phương và cộng đồng.

You're Reading a Free Preview

Download
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->