ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT BẬC THẤP TRÊN NÚI ĐÁ VÔI KHU VỰC HƯƠNG

SƠN, MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
ThS. Trương Ngọc Kiểm Khoa Sinh học, Đại học Khoa học Tự nhiên I. MỞ ĐẦU Cách trung tâm Hà Nội 62km về phía tây nam, Hương Sơn không chỉ nổi tiếng như là một địa danh lịch sử, văn hóa gắn liền với tín ngưỡng đạo Phật của người dân Việt Nam mà còn bởi cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú. Không giống bất kỳ nơi nào, Hương Sơn là một tập hợp nhiều đền chùa hang động gắn liền với núi rừng mà tạo hóa đã khéo bày đặt núi non sông nước hiền hòa để trở thành một quần thể thắng cảnh rộng lớn, với một kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và con người . Hàng năm cứ mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách bốn phương lại nô nức trẩy hội Chùa Hương, hành trình về một miền đất phật. Được thiên nhiên ban tặng cho cảnh “Kỳ sơn tú thuỷ”, theo các nhà nghiên cứu, dãy núi đá vôi Hương Sơn có cách ngày nay khoảng hơn 200 triệu năm, núi Chùa Hương không hùng vĩ chất ngất nhưng có vẻ đẹp tự nhiên với những tên gọi mang tính bí ẩn của thuyết phong thuỷ như: Núi Long - Ly - Quy - Phượng hay mộc mạc dân giã gắn liền với nhân dân lao động như: núi Con Trăn, núi Mâm Xôi, Núi Con Gà, Núi Con Voi …. Suối ở Hương Sơn không sâu nhưng quanh co uốn lượn bao quanh những khu rừng với các kiểu thảm thực vật và nhiều loài động vật phong phú, quý hiếm, tạo nên môi trường sinh thái độc đáo, có tính đa dạng sinh học cao. Con người đã có mặt ở Hương Sơn từ rất sớm, và chính sức sáng tạo thông qua các hoạt động lao động của con người đã làm cho thiên nhiên vùng Hương Sơn trở lên trường cửu. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở hang Sũng Sàm, Hang Luộn những chứng tích của người xưa cách ngày nay trên một vạn năm . Khi phật giáo truyền bá và phát triển ở Việt Nam, các bậc Thiền sư đã về đây dựng thảo am, mở chùa - động thờ phật. Từ những thảo am sơ khai, Chùa Hương đã trở thành một Sơn môn lớn quy tụ một hệ thống 18 các đền chùa hang động nằm ở 4 thôn: Yến Vĩ, Hội xá, Đục Khê, Phú Yên. Các chùa động ở đây phần lớn được xây dựng từ thế kỷ XV đến XIX, đa số dựa lưng vào sườn núi hoặc nằm dưới thung lũng, những nơi có địa thế đẹp để kiến tạo. Tất cả những yếu tố thuận lợi đó đã tạo cho Hương Sơn nét đặc trưng “tiểu sơn lâm mà có đại kỳ quan” và hình thành lên những di tích có giá trị lịch sử văn hoá tín ngưỡng lâu đời và một lễ hội văn hoá lớn của cả nước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khu vực Hương Sơn đang bị xâm hại một cách nghiêm trọng. Việc bùng phát các tệ nạn xã hội và suy thoái chất lượng môi
1

trường đang là những vấn đề đang gây nhức nhối và xôn xao dư luận. Bên cạnh đó, nhiều khu vực rừng bị chặt phá nhường chỗ cho những hoạt động canh tác nông nghiệp hoặc phát triển du lịch, tăng sinh kế cộng đồng; nhiều loài sinh vật đứng trước nguy cơ biến mất hoàn toàn tại khu danh thắng này... Rõ ràng để đánh giá đúng mức giá trị của quần thể di tích Hương Sơn, ngoài giá trị về tôn giáo và danh thắng thì việc nghiên cứu và đánh giá sâu sắc giá trị của hệ thực vật và thảm thực vật, nhân tố làm nên vẻ đẹp “sơn thủy hữu tình” của Hương Sơn là rất cần thiết. Bằng cách đó, chúng ta mới hiểu rõ bản chất và quy luật tự nhiên của quá trình hình thành và phát triển của quần thể di tích, từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ, tôn tạo và khai thác đúng mức, hợp lý, đảm bảo tính bền vững và cân bằng của hệ sinh thái rừng Hương Sơn. Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tính đa dạng của thực vật bậc cao có mạch trên núi đá vôi tại khu vực Hương Sơn, Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1. Nội dung nghiên cứu: Do hạn chế về mặt thời gian, kinh phí nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu này tại khu vực Hương Sơn với nội dung sau:
• • •

Khảo sát thành phần loài, xây dựng bản danh lục của hệ thực vật bậc cao có mạch tại khu vực Hương Sơn Phân loại và mô tả cấu trúc các kiểu thảm thực vật theo hệ sinh thái. Phân tích và lập phổ dạng sống, các yếu tố địa lý của hệ thực vật theo các hệ sinh thái Điều tra và đánh giá tiềm năng tài nguyên thực vật.

• Đánh giá tính đa dạng sinh học của hệ thực vật.
• •

Xác định các loài thực vật có giá trị kinh tế cao, đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý, bảo tồn đa dạng thực vật. 2. Phương pháp nghiên cứu: 2.1. Phương pháp kế thừa: Để có cơ sở đánh giá hiện trạng đa dạng thực vật tại khu vực núi đá vôi Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, chúng tôi đã tiến hành khảo sát sơ bộ và tập hợp các tài liệu và thông tin hiện có từ các công trình nghiên cứu, chương trình, đề tài, dự án, … đã tiến hành từ trước tới nay và các vấn đề có liên quan để đánh giá bước đầu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và giá trị nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. 2.2. Phương pháp điều tra, nghiên cứu thực địa:
2

Chúng tôi còn tiến hành 02 đợt khảo sát thực địa nhằm thu thập mẫu vật, kiểm tra, bổ sung cơ sở dữ liệu, xây dựng danh lục thực vật tại khu vực khảo sát. Thời gian tiến hành nghiên cứu: tháng 12/2010 và 3/2011 Quy trình điều tra nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật (1997) và Hệ sinh thái rừng nhiệt đới (2004): + Xác định tuyến nghiên cứu và điểm nghiên cứu: Dựa vào bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng sử dụng đất của khu vực Hương Sơn, tiến hành vạch tuyến khảo sát đi qua các hệ sinh thái. Sử dụng la bàn, máy định vị vệ tinh GPS và bản đồ để xác định vị trí của tuyến thu mẫu, các điểm nghiên cứu ngoài thực địa để từ đó có thể định dạng chính xác ranh giới các quần xã thực vật trong nghiên cứu thảm thực vật. Các hệ sinh thái tiêu biểu trong khu vực Hương Sơn - Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi - Hệ sinh thái rừng trên núi đất - Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa - Hệ sinh thái trảng cỏ - Hệ sinh thái nông nghiệp - Hệ sinh thái khu dân cư - Hệ sinh thái thủy vực - Hệ sinh thái rừng trồng và cây ăn quả lâu năm Thống kê tất cả các loài gặp được (đã biết tên khoa học) trong phạm vi 10m mỗi bên của tuyến khảo sát. Với những loài chưa biết tên khoa học, có thể ghi tên gọi của địa phương (nếu có). Trường hợp hoàn toàn chưa biết thì lấy mẫu để xác định sau. Cố gắng thu các mẫu có hoa, quả. Cùng với việc thống kê tên loài, cần ghi đặc điểm dạng sống (cây gỗ, cây bụi, cây thảo). Nếu là cây gỗ thì phải ghi cả chiều cao, đường kính thân. Nếu là cây ký sinh, phụ sinh hay dây leo thì phải ký hiệu a, b, c để đánh dấu. + Tiến hành nghiên cứu chi tiết tại các quần xã thực vật chính: lập ô tiêu chuẩn với kích thước 40 x 50 m trên những khu vực điển hình đại diện cho các kiểu quần xã. Sau đó dùng dây nilon có màu để định vị chu vi của ô. Đối với những sườn dốc thì có thể nghiên cứu các ô tiêu chuẩn có diện tích nhỏ hơn thường là 10 x 50 m. Các ô tiêu chuẩn được chọn một cách ngẫu nhiên và mang tính đại diện cho các kiểu thảm thực vật đặc trưng của khu vực nghiên cứu. + Đo đếm ô tiêu chuẩn: Để mô tả ô tiêu chuẩn trước hết phải thu mẫu và xác định tên cây rồi đo đường kính ngang ngực, đo đường kính tán cây, chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành của các cây gỗ có đường kính từ 10 cm trở lên trong ô tiêu chuẩn. Đối với các mẫu thực vật của lớp thảm xanh mặt đất: tiến hành mô tả các loài
3

cây, thu mẫu, xác định số cá thể và độ che phủ của mỗi loài cây của lớp thảm xanh bao theo các ô kích thước nhỏ hơn (thường là 2 x 2 m ). Từ đó ước lượng độ che phủ của thảm thực vật trong ô tiêu chuẩn.

Hình 1: Cách đo các thông số của cây khi nghiên cứu Ô tiêu chuẩn + Vẽ lát cắt đứng: trong ô tiêu chuẩn chọn 1 diện tích với kích thước 10 x 50 m để vẽ lát cắt. Để vẽ lát cắt, trong nghiên cứu thực địa, ngoài đo các chỉ số ở trên, chúng tôi còn đo vị trí của mỗi gốc cây theo 2 trục: trục hoành 50 m và trục tung 10 m, bán kính tán mỗi cây đo theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Sau đó, căn cứ trên số liệu đã thu được, dùng giấy kẻ ly để xây dựng sơ đồ lát cắt đứng. + Bản mô tả cho từng ô: Bao gồm vị trí của ô, diện tích, độ dốc, điều kiện đất đá - thổ nhưỡng, độ ẩm, hướng phơi, thành phần loài, số tầng, các loài trong từng tầng, số họ / 1ô, số loài / 1ô, số cây gỗ / ha, diện tích gốc cây gỗ /ha, chỉ số độ tán che: ĐTC / ha, số loài cây con / 1ô, trung bình cây con / 1ô con, trung bình cây con / m2, số trung bình của các loài cây con trong mỗi m2. Tính độ che phủ ĐTC = Tổng diện tích của tất cả các cây thuộc tầng cây gỗ / diện tích của lát cắt (50 x 10 m). Độ che phủ càng lớn chứng tỏ tính đa dạng càng cao. Để đánh giá sự khác nhau của từng kiểu thảm thực vật chúng ta có thể so sánh số loài / ha để thấy rõ tính đa dạng của từng kiểu, số loài ưu thế, tỷ lệ diện tích gốc các cây gỗ/ ha và tỷ lệ % diện tích của gốc các cây gỗ so với diện tích ô tiêu chuẩn. + Phướng pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ mẫu ngoài thực địa: các mẫu thu phải có đủ cả cả bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản và được gắn Etyket để ghi lại các thông tin sơ bộ ngoài thực địa, các thông tin này sẽ được chép vào sổ thu mẫu. Sau đó các mẫu nhỏ được bỏ trong túi nilon kín có kẹp miệng còn các mẫu khác được gói
4

trong tời giấy báo xếp thành từng chồng và cho vào túi nilon lớn hơn chứa dung dịch pha cồn để bảo quản. + Chụp ảnh: trong với quá trình thu mẫu, sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài (ghi lại số hiệu mẫu cùng với số thứ tự ảnh trong sổ tay để tiện cho việc tra cứu sau này) và các sinh cảnh cùng với những hoạt động của tập thể trong quá trình nghiên cứu. 2.3. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm : Các mẫu vật được thu thập bổ sung trong quá trình thực địa được mang về phân tích và xử lý trong phòng thí nghiệm để phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng như lưu trữ gồm các bước: - Phân loại sơ bộ: các mẫu vật được phân loại theo các taxon từ ngành tới họ, thậm trí là tới chi dựa trên các tài liệu hiện có và tham khảo ý kiến của các chuyên gia về thực vật học. - So mẫu và xác định tên loài: so sánh với bộ mẫu chuẩn hiện có tại Bảo tàng Thực vật để có tên khoa học sơ bộ dựa vào các đặc điểm của cành, lá, hoa, quả…đặc biệt là các đặc điểm của cơ quan sinh sản và có ý nghĩa đặc trưng cho loài. Để xác định tên khoa học, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp như phân tích mẫu, tra khoá phân loại, nghiên cứu các tài liệu hiện có, tham khảo ý kiến của các chuyên gia...để xác định tên khoa học. - Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, chúng tôi tiến hành kiểm tra lại các tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót. Chúng tôi đã hiệu chỉnh theo hệ thống của Brummitt trong "Vascular Plant Families and Genera" (1992), điều chỉnh tên loài theo các tài liệu "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000), "Tạp chí Sinh học - chuyên đề Thực vật" (1994 - 1995), "Thực vật chí Việt Nam" (các họ Lamiaceae, Annonaceae, Myrsinaceae, Cyperaceae…) và "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" (2002 - 2005) và chỉnh tên tác giả theo tài liệu "Authors of Plant Names" của Brummitt R.K. và C. E. Powell (1992). - Lập bảng danh lục hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu: các thông tin thu được trong quá trình phân tích mẫu được tập hợp trong bảng danh lục hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu theo từng ô tiêu chuẩn cho các đai độ cao khác nhau. Bảng danh lục thực vật được xây dựng theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992) trong đó các ngành được xếp theo hướng tiến hóa tăng dần; các họ trong một ngành, các chi trong một họ, các loài trong một chi được xếp theo trật tự chữ cái đầu từ A đến Z.

5

2.4. Phương pháp phân tích cấu trúc và đánh giá đa dạng thảm thực vật Chúng tôi dựa theo khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã được Phan Kế Lộc áp dụng vào Việt Nam (1985) để gọi tên và mô tả sơ bộ các kiểu thảm thực vật của khu vực nghiên cứu trên cơ sở những ghi chép thực địa. Việc đánh giá các kiểu rừng, kiểu thảm dựa theo ô tiêu chuẩn và thang phân loại thảm thực vật được GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn chỉnh sửa năm 1997 trên cơ sở các thang phân loại trước đó của Thái Văn Trừng (1978), Phan Kế Lộc (1985) kết hợp với việc phân tích các chỉ số đo đạc được bằng phương pháp ô tiêu chuẩn, phân tích sinh thái của các ô từ đó xác định được kiểu thảm của các ô tiêu chuẩn đại diện và qua đó khái quát nên các kiểu tham đặc trưng của khu vực này. Các chỉ số được sử dụng trong đánh giá thảm thực vật như sau: %N: Là tỷ lệ % số cá thể của một loài so với tổng số cá thể trong ô tiêu chuẩn. %BA: Là tỷ lệ % tiết diện ngang ngực của các cây gỗ của một loài có đường kính ngang ngực (DBH) trên 10 cm so với tổng diện tích ngang ngực của tất cả các cây gỗ trong ô có DBH trên 10 cm. F: Là mức độ gặp lại của một loài, tính bằng việc gặp được loài đó trong tổ hợp tất cả các loài trong tất cả các ô. CAI: là độ quan trọng, tính bằng tổng của %N, %BA và F. Chỉ số này quyết định nên vai trò của các loài trong kiểu thảm hoặc ưu hợp mà ô tiêu chuẩn là đại diện (tổng của tất cả các CAI bằng 300%). Trong một ô, độ quan trọng tính tương đương với tổng chỉ số của %BA và %N. Để đạt được những phân tích chính xác về thành phần loài và xác định được các loài ưu thế trong cấu trúc thảm thực vật thì tất cả các loài được đo đạc trong ô phải được thu mẫu. Tuy nhiên, trong nghiên cứu thực địa nếu có thể xác định được chính xác tên khoa học của của các loài thì có thể không cần thu mẫu, tuy nhiên việc có mẫu để phân tích vẫn đảm bảo độ tin cậy cao hơn và bổ sung cho nghiên cứu về đa dạng loài. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Tính đa dạng về thành phần loài thực vật: Từ kết quả thu được qua khảo sát thực địa và tham khảo tài liệu cho thấy hệ thực vật bậc cao trên núi đá vôi khu vực Hương Sơn có 822 loài thuộc 540 chi, 182 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch. Mặc dù kết quả này chưa phản ánh hết số loài hiện có ở Hương Sơn nhưng hệ thực vật này đã chiếm 7,9% tổng số loài; 22,3% tổng số chi và 59,6% tổng số họ của hệ thực vật Việt Nam.
6

Bảng 1: Thành phần loài thực vật bậc cao có mạch của khu vực Hương Sơn STT 1 2 3 4 5 6 Ngành Khuyết lá thông Cỏ tháp bút Thông đất Dương xỉ Hạt trần Hạt kín Lớp Một lá mầm Lớp Hai lá mầm Tổng số Số họ 1 1 2 22 5 151 182 Số chi 1 1 2 28 7 501 540 Số loài 1 1 4 40 8 768 822

Như vậy, hệ thực vật Hương Sơn có đầy đủ 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó đáng chú ý có ngành Khuyết lá thông (còn gọi là ngành Lá thông) là ngành thực vật rất cổ, hiện trên thế giới cũng chỉ có 1 họ, 2 chi và trên 10 loài còn sót lại. Ngành Hạt kín chiếm đa số với 151 họ, 501 chi và 768 loài, chiếm 82,9% tổng số họ; 92,7% tổng số chi và 93,4% tổng số loài của hệ thực vật Hương Sơn. Sự ưu thế về tỉ trọng số loài của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Hương Sơn phù hợpvới kết quả nghiên cứu của một số hệ thực vật ở Việt Nam. Ví dụ, ở hệ thực vật Lâm Sơn (huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình), tỉ trọng này là 89,5%, ở hệ thực vật Cúc Phương là 91,5%; ở hệ thực vật Bắc Việt Nam (tính từ vĩ tuyến 170 Bắc) là 90,7% và ở hệ thực vật Việt Nam là 90,9%. Tỉ trọng số loài giữa lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm là 4,12 (nghĩa là cứ 4,12 loài thuộc lớp Hai lá mầm mới có 1 loài thuộc lớp Một lá mầm), tỉ trọng này rất gần với hệ thực vật Lâm Sơn (tỉ lệ là 4:1), tương đối gần với hệ thực vật Cúc Phương (tỉ lệ là 3,8:1). 2. Tính đa dạng về phổ dạng sống: Từ kết quả phân tích thu được cho thấy, nhóm cây chồi trên đất có 439 loài chiếm 53,3% tổng số loài của hệ thực vật. Trong nhóm cây chồi trên đất hầu hết là cây gỗ, nhưng cũng có tới 67 loài thuộc các dạng sống đặc thù. Đó là 6 loài thuộc dạng sống ký sinh, 13 loài thuộc dạng sống bì sinh, 32 loài là dây leo thân gỗ và 16 loài là thân gỗ giả. Đây là những dạng sống đặc trưng của hệ thực vật thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Xếp sau nhóm cây chồi trên đất là nhóm cây chồi sát đất với 115 loài chiếm 14,0% tổng số loài của hệ thực vật. Trong 115 loài thuộc nhóm cây chồi sát đất có 29 loài dây leo, nhưng khác với các loài dây leo thuộc nhóm cây chồi trên đất đều là dây leo thân gỗ, còn ở nhóm cây chồi sát đất, toàn bộ 29 loài dây leo đều là dây leo thân thảo.
7

Nhóm cây chồi nửa ẩn có 113 loài chiếm 13,7% tổng số loài của hệ thực vật, trong đó có 6 loài bì sinh và 2 loài dây leo thân thảo. Chiếm vị trí thứ tư là nhóm cây sống một năm có 94 loài, chiếm 11,4% tổng số loài của hệ thực vật. Nhóm cây sống một năm có 5 loài dây leo thân thảo. Xếp cuối cùng là nhóm cây chồi ẩn có 62 loài chiếm 7,6% tổng số loài của hệ thực vật, có 12 loài dây leo thân thảo. Sự ưu thế của nhóm dạng sống cây chồi trên đất phù hợp với kết quả nghiên cứu một số hệ thực vật vùng nhiệt đới. Bảng 2: So sánh phổ dạng sống các hệ thực vật Việt Nam, Lâm Sơn và Hương Sơn Nhóm dạng sống Hệ thực vật Việt Nam Lâm Sơn Hương Sơn Cây chồi trên đất 54,6 51,3 53,3 Cây chồi sát đất 10,0 13,7 14,0 Cây chồi nửa ẩn 21,4 17,9 13,7 Cây chồi ẩn 10,6 7,2 7,6 Cây chồi một năm 5,6 9,9 11,4

3. Tính đa dạng thảm thực vật: Kết quả khảo sát thực địa cho thấy ở Hương Sơn hiện có các kiểu thảm thực vật sau: • Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển ở thung lũng và chân núi đá vôi • Rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển trên sườn núi đá vôi • Rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ phát triển trên các đỉnh núi đá vôi hoặc ở sườn vách núi có độ dốc lớn • Trảng cỏ phát triển trên sườn, vách núi đá vôi • Rừng thưa, trảng cây bụi trên núi đất • Rừng trồng • Thảm thực vật thủy sinh và ngập nước Quá trình diễn thế của thảm thực vật tại khu di tích Hương Sơn Quá trình diễn thế của thảm thực vật tại khu vực di tích thắng cảnh Hương Sơn bao gồm cả 2 dạng: diễn thế tự nhiên và diễn thế thứ sinh nhân tác, trong đó diễn thế thứ sinh nhân tác chiếm vai trò chủ yếu. Diễn thế tự nhiên diễn ra chủ yếu ở khu vực thung Lá Và, thung Mây, động Hương Tích. Còn lại, hầu hết khu vực văn hóa lịch sử
8

Hương Sơn đã và đang diễn ra quá trình diễn thế thứ sinh nhân tác. Có thể tóm tắt quá trình diễn thế của thảm thực vật Hương Sơn như sau:

Diễn thế thứ sinh nhân tác (tác động mạnh)

Diễn thế thứ sinh nhân tác (tác động nhẹ)

Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển ở: thung lũng và chân núi đá vôi sườn núi đá vôi trên núi đất

Diễn thế tự nhiên
Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng

Rừng thứ sinh phục hồi

Trảng cây bụi Phục hồi

Vận dụng kết quả nghiên cứu của các nhà sinh thái học Việt nam, chúng tôi phân chia khu vực di tích thắng cảnh Hương Sơn gồm các hệ sinh thái sau đây:
Trảng cỏ

• • • • • • • •

Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Hệ sinh thái rừng trên núi đất Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa Hệ sinh thái trảng cỏ Hệ sinh thái nông nghiệp Hệ sinh thái khu dân cư Hệ sinh thái thủy sinh Hệ sinh thái rừng trồng

Thống kê thành phần loài theo các hệ sinh thái: Sự phân bố thành phần loài theo các hệ sinh thái rất khác nhau. Bảng 3. Số lượng loài thực vật phân bố theo hệ sinh thái STT Hệ sinh thái
9

Số loài

1 2 3 4 5 6 7 8

Rừng trên núi đá vôi Rừng trên núi đất Trảng cây bụi, tre nứa Trảng cỏ Nông nghiệp Khu dân cư Thủy sinh Rừng trồng

154 282 165 85 119 199 41 26

Phân tích phổ dạng sống của các hệ sinh thái Phổ dạng sống của các hệ sinh thái rất khác nhau. Có 5 hệ sinh thái, nhóm dạng sống cây chồi trên đất chiếm ưu thế, đó là hệ sinh thái rừng trồng (85,8%), hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi (62,79%), hệ sinh thái rừng trên núi đất (58,10%), hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa (56,40%) và hệ sinh thái khu dân cư (49,7%). Hệ sinh thái trảng có có nhóm cây chồi nửa ẩn chiếm ưu thế (38,10%). Hệ sinh thái thủy sinh có nhóm cây chồi ẩn chiếm ưu thế (56,10%) và nhóm cây sống một năm chiếm ưu thế trong hệ sinh thái nông nghiệp (46,20%). Phổ dạng sống đã phản ánh đúng bản chất sinh thái của các hệ sinh thái. Sau đây là phổ dạng sống của các hệ sinh thái ở hệ thực vật Hương Sơn. Bảng 4. Phổ dạng sống của các hệ sinh thái Dạng Nhóm cây sống chồi trên đất Số loài 95 164 93 10 9 99 Tỉ lệ (%) 62,79 58,1 56,4 12,1 7,6 49,7 Nhóm cây chồi sát đất Số loài 21 48 29 17 10 25 Tỉ lệ (%) 13,7 17,1 17,6 21,1 8,4 12,5
10

Nhóm cây chồi nửa ẩn Số loài 17 46 33 32 27 17 Tỉ lệ (%) 11,1 16,3 20,0 38,1 22,6 8,5

Nhóm cây chồi ẩn Số loài 19 17 5 2 18 25 Tỉ lệ (%) 12,4 6,1 3,0 0,2 15,2 12,5

Nhóm cây sống một năm Số loài 2 7 5 24 55 33 Tỉ lệ (%) 0,01 2,4 3,0 28,6 46,2 16,8

Hệ sinh thái Rừng trên núi đá vôi Rừng trên núi đất Trảng cây bụi, tre nứa Trảng cỏ Nông nghiệp Khu dân cư

Thủy sinh Rừng trồng

7 22

17,1 85,8

-

-

4 2

9,7 7,6

23 1

56,1 3,3

7 1

17,1 3,3

4. Tính đa dạng về giá trị nguồn tài nguyên thực vật: 4.1. Đa dạng về giá trị sử dụng: Để xác định chính xác số loài cây có ích, dựa vào các tài liệu hiện có, chúng tôi đã thống kê được 519 loài (chiếm 63,1% số loài) là các cây có ích, trong đó phần lớn là cây thuốc. Đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị cần được khai thác, sử dụng hợp lý, một mặt phục vụ cuộc sống của người dân, mặt khác tránh khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng môi trường sống, đặc biệt là ảnh hưởng đến cảnh quan thiên nhiên của Hương Sơn. Bảng 5: Đa dạng về giá trị tài nguyên thực vật khu vực Hương Sơn STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Nhóm công dụng Nhóm cây làm thuốc Nhóm cây cho gỗ Nhóm cây làm thức ăn, để uống, để nhai cho người Nhóm cây làm cảnh, bóng mát Nhóm cây làm thức ăn cho gia súc Nhóm cây cho tinh dầu, nhựa Nhóm cây làm vật liệu xây dựng, đồ mỹ nghệ, để gói Nhóm cây cho tanin, thuốc nhuộm Nhóm cây cho sợi Nhóm cây có chất độc Số loài 263 130 127 119 53 24 14 9 9 8 Tỷ lệ (%) 32,1 15,8 15,5 14,5 6,5 2,9 1,7 1,1 1,1 1,0

Đáng chú ý, trong số các loài có giá trị sử dụng, một số loài không chỉ có một giá trị sử dụng mà có thể là hai hoặc là ba. Ví dụ cây trúc đào (Nerium oleander) vừa là cây thuốc, cây cảnh, đồng thời cũng là cây có chất độc. Cây đinh lăng (Polyscias fruticosa) vừa làm thức ăn cho người, làm thuốc và làm cây cảnh. Cây trám trắng (Canarium album) cho quả làm thức ăn cho người, đồng thời cho gỗ và cho nhựa. Cây trám đen (Canarium tramdenum) cũng như vậy. Cây gai (Boehmeria nivea) vừa làm thức ăn cho người, vừa làm thuốc và cho sợi... 4.2. Đa dạng các loài quý hiếm: Căn cứ vào danh lục thực vật của khu vực Hương Sơn, chúng tôi đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam và trong Nghị định 32/CP của Chính phủ. Bảng 6. Danh sách các loài thực vật quý hiếm ở Hương Sơn TT Tên khoa học
11

Tên Việt Nam

Độ quý hiếm

1 2 3 4 5 6 7 8 9

Psilotum nudum (L.) Griseb. Cibotium barometz (L.) J. Smith D. fortunei (Kunze ex Mett.) J. Sm. Cycas revoluta Thunb. C. szechuannesis Sheng S L. K. Fu Nageia wallichiana (C. Presl.) Kuntze Podocarpus pilgeri Foxw. Erythrophleum forrdii Oliv. Pterocarpus macrocarpus Kurz

Khuyết lá thông Lông cu li Tắc kè đá Fortun Vạn tuế Thiên tuế Kim giao núi đất Thông tre lá ngắn Lim xanh Giáng hương quả to Sưa Trai lý Lát hoa Bình vôi hoa đầu Dây mối Bình vôi Nghiến Lan kim tuyến Lan một lá Rau sắng Thổ phục linh

10 Dalbergia tonkinensis Prain 11 Garcinia fagraeoides A. Chev 12 Chukrasia tabularis A. Juss 13 Stephania cepharantha Hayata Stephania hernandiifolia (Willd.) Spreng 15 Stephania rotunda Lour. Burretiodendron brillettii (Gagnep) 16 Kosterm. 14 17 Anoectochilus setaceus Blume 18 Nervilia fordii (Hance) Schlecter. 19 Melientha suavis Pierre 20 Smilax glabra Wall. ex Roxb.

K K T IIA (NĐ 32/CP) IIA (NĐ 32/CP) V R IIA (NĐ 32/CP) K; IIA (NĐ 32/CP) V; IA (NĐ 32/CP) V; IIA. NĐ 32/CP K V; IIA. NĐ 32/CP IIA. NĐ 32/ CP IIA (NĐ 32/CP) V; IIA. NĐ 32/CP E; IA. NĐ 32/ CP IIA (NĐ 32/CP) K V

Chú thích: E: đang nguy cấp (đang bị đe dọa tuyệt chủng) T: bị đe dọa V: sẽ nguy cấp (có thể bị đe dọa tuyệt chủng) K: Không biết chính xác R: hiếm (có thể sẽ nguy cấp) IA: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại IIA: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại 4.3. Một số loài thực vật có giá trị kinh tế cao: Hệ thực vật khu di tích, danh thắng Hương Sơn có một số loài thực vật quý hiếm có giá trị kinh tế cao. Có thể nêu ra một số loài sau đây: 4.3.1. Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain)
12

Hiện nay, sưa được xem là cây có giá trị kinh tế rất cao. Trong phạm vi khu di tích thẳng cảnh Hương Sơn, sưa có nhiều ở khu vực đền Trình. Ngoài ra, tại vườn của Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn cũng có trồng một số cây sưa. Một số cây sưa ở đền Trình có đường kính khá to (khoảng 40 - 50cm), nhưng do nằm trong khu vực nhà chùa nên được bảo vệ tốt. Để tránh nguy cơ tuyệt chủng cần khai thác hợp lý tức là chỉ khai thác những cây hết khả năng tăng trưởng. Sưa tái sinh tự nhiên bằng hạt hoặc lấy quả gieo trong vườn ươm tạo cây con rồi đem trồng. Đây là biện pháp bảo tồn sưa có hiệu quả nhất. 4.3.2. Trai lý (Garcinia fagraeoides) Trai lý cũng là cây gỗ quý hiện được đánh giá cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Là cây sống trên núi đá, trai lý tái sinh không dễ dàng. Hiện nay ở khu vực Hương Sơn số lượng trai lý còn rất ít. Cần hạn chế tối đa việc khai thác trai lý. Để có thể bảo tồn được trai lý, cần áp dụng thêm việc nhân giống bằng cành hom. Đây là biện pháp hiện được áp dụng khá phổ biến để bảo tồn các loài quý hiếm ít có khả năng tái sinh tự nhiên. 4.3.3. Nghiến (Burretiodendron tonkinensis) Hiện ở Hương Sơn số cá thể nghiến còn rất ít. Nghiến cũng khó tái sinh tự nhiên, nhất là nguồn cây giống hầu như chỉ còn 2, 3 cá thể. Vì vậy, một mặt phải nghiêm cấm việc khai thác, mặt khác nên tiến hành ngay việc nhân giống bằng cành hom. Đây là việc cần làm sớm, bởi vì nếu những cây nghiến còn sót lại bị chặt nốt thì sẽ không còn nguồn để nhân giống. 4.3.4. Lát hoa (Chukrasia tabularis) Lát hoa cũng là đối tượng được đánh giá cao vì gỗ tốt, vân đẹp. Hiện lát hoa được gây trồng ở vườn của Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn. Việc trồng lát hoa đã được thực hiện từ lâu và có nhiều kết quả, không quá khó khăn khi gieo ươm, do vậy, việc bảo tồn lát hoa bằng gây trồng là hoàn toàn khả thi. 4.3.5. Rau sắng (Melientha suavis) Rau sắng hiện là cây có giá trị kinh tế cao, nhất là trong thời gian lễ hội. Rau sắng cũng có khả năng tái sinh tự nhiên. Nhưng để phát triển rau sắng có thể áp dụng biện pháp nhân giống bằng hom. Tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, rau sắng được nhân giống bằng hom có kết quả rất tốt. 4.3.6. Thổ phục linh (Smilax glabra) Thổ phục linh là cây thuốc bổ, đang có nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức. Thổ phục linh có khả năng tái sinh bằng củ. Để tránh nguy cơ tuyệt chủng, một mặt hạn chế khai thác, mặt khác có thể gây trồng bằng củ. 4.3.7. Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus)
13

Hiện loài này đang bị thu mua để xuất sang Trung Quốc. Để bảo tồn cần nghiêm cấm khai thác. Mặt khác phải bảo vệ môi trường cho lan kim tuyến tồn tại, đó là sinh cảnh rừng trên núi đá. 4.3.8. Lan một lá (Nervilia fordii) Cũng là cây thuốc, hiện cũng được thu mua để xuất sang Trung Quốc. Lan một lá tái sinh bằng củ. Vì vậy, có thể lấy củ để gây trồng. 5. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững: Để công tác bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ các hệ sinh thái có hiệu quả, cần thiết phải thực hiện các giải pháp sau đây: 5.1. Nâng cao đời sống cho nhân dân Đây là giải pháp hàng đầu cần được quan tâm. Bởi vì nếu người dân hàng ngày phải đối mặt với việc phải lo kiếm sống thì không có cách nào khác, họ phải tận dụng mọi điều kiện có thể có để có được củi để đun, gạo để ăn, quần áo để mặc và mọi chi phí khác. Nếu các cấp chính quyền tạo được công ăn việc làm, đầu tư cho khoa học kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là tận dụng các nguồn thu về dịch vụ trong dịp lễ hội, thì chắc chắn tác động tiêu cực đến thảm thực vật, đến đa dạng sinh học, đến các hệ sinh thái sẽ giảm. Điều này đã được thực tế chứng minh vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước, rừng ở Hương Sơn đã phải lên tiếng kêu cứu. Nguy cơ vùng đất Phật “Nam thiên đệ nhất động” không còn rừng là khó tránh khỏi nếu các cấp chính quyền không vào cuộc, người dân phải hàng ngày đối mặt với cái đói, cái nghèo. Rất may, sự đổi mới của đất nước đã mang đến cho Hương Sơn nói riêng nhiều cơ hội tưởng chừng như không bao giờ có. Nếu trước đây, việc người dân Hương Sơn hàng ngày phải vào rừng kiếm củi đun là điều đương nhiên, thì ngày nay hầu như không còn. Nhiều dạng nhiên liệu đã thay thế củi. Nhưng quan trọng hơn là người dân đã có tiền để có thể mua các loại nhiên liệu khác, sử dụng vừa thuận lợi, văn minh, vừa khỏi phải vào rừng lấy củi, khó khăn vất vả, lại ảnh hưởng đến môi trường. 5.2. Nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học cho người dân Mặc dù rừng là nhân tố hết sức quan trọng, tạo nên vẻ đẹp hấp dẫn khách du lịch, nhưng không phải ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người dân đều ý thức việc phải bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ các hệ sinh thái. Như đã trình bày ở trên, vào thời điểm đất nước khó khăn, tình trạng rừng bị xâm hại đã diễn ra không chỉ ở Hương Sơn mà ở bất kỳ đâu có rừng. Khi tình trạng đói nghèo đã bị đẩy lùi, áp lực tiêu cực đến rừng ngày càng giảm, nhưng không có nghĩa rừng hoàn toàn không còn bị xâm hại. Có thể không còn hiện tượng vào rừng lấy củi, lấy gỗ, nhưng khả năng người dân khai thác các loại lâm sản khác như cây thuốc, cây
14

cảnh... cũng chưa chấm dứt hoàn toàn. Vì vậy, cần phải tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức để người dân nhận rõ trách nhiệm bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học. Một khi người dân đã nhận thức được rằng bảo vệ rừng cũng là bảo vệ cuộc sống của chính mình thì chắc chắn hiệu quả của công tác bảo vệ rừng sẽ cao hơn rất nhiều. 5.3. Thực hiện nghiêm chỉnh Luật bảo vệ rừng Cùng với hai giải pháp đã nêu, việc thực thi nghiêm chỉnh luật pháp của Nhà nước là rất cần thiết. Rừng ở Hương Sơn có những loại gỗ quý, giá trị kinh tế rất cao, những loài cây cảnh đẹp, quý hiếm như sưa, lan kim tuyến, lan một lá. Cần phải sử dụng luật pháp để xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm mới đủ sức răn đe đối với những kẻ cố tình vi phạm. Tất nhiên, bên cạnh các biện pháp nghiêm khắc, cần quan tâm công tác giáo dục, phòng ngừa để hạn chế tình trạng do thiếu hiểu biết hoặc do không cố ý. 5.4. Tuyên truyền, bảo vệ các loài quý hiếm Ở Hương Sơn hiện có 20 loài thực vật có trong Sách đỏ hoặc Nghị định 32 của Chính phủ. Tuy nhiên, không phải mọi người dân đều biết đấy là các loài quý hiếm, đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, cần bảo vệ. Vì vậy, cần phổ biến rộng rãi để trước hết mọi người dân ở Hương Sơn biết và có ý thức bảo vệ. Sau đó cũng nên giới thiệu rộng rãi với du khách, giúp họ biết thêm một nguồn tài nguyên quý giá của cả nước mà Hương Sơn đang sở hữu. Việc làm này một mặt làm tăng thêm tính hấp dẫn của khu di tích Hương Sơn, mặt khác cũng góp phần nâng cao ý thức bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm cho mọi người. Kinh nghiệm ở nhiều nơi cho thấy, việc in các tờ rơi có ảnh của 20 loài thực vật quý hiếm kèm theo một số thông tin như tên khoa học, tên Việt Nam, mức độ quý hiếm... sau đó phân phát đến tay người dân, là một trong những hình thức tuyên truyền, giáo dục hiệu quả. Một cách làm khác cũng đã được áp dụng ở nhiều nơi, đó là làm các biển có ghi tên khoa học, tên Việt Nam, mức độ quý hiếm, sau đó gắn vào cây cần bảo vệ. Hình thức này vừa mang tính phổ biến tuyên truyền, giáo dục, nhưng đồng thời cũng là hình thức mang tính pháp lý nếu ai cố tình vi phạm. 5.5. Xây dựng kế hoạch giám sát thực vật cho khu vực Hương Sơn trong những năm tiếp theo Để giám sát thực vật khu vực Hương Sơn trong những năm tới có hiệu quả, chúng ta nên bắt đầu bằng việc quản lý các hệ sinh thái. Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, vấn đề cần quan tâm khi khai thác và sử dụng các hệ sinh thái, đó là tính bền vững. Phát triển bền vững là sự phát triển làm tăng chất lượng cuộc sống của con người trong khả năng có thể cung cấp của các hệ sinh thái, sự phát triển mà không làm suy giảm khả năng phục hồi của tự nhiên. Có một số nguyên tắc được đề xuất và thực hiện, đó là:
15

- Bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. - Bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái được gắn kết chặt chẽ với việc phát triển kinh tế - xã hội. ở Hương Sơn có 8 hệ sinh thái. Tuy nhiên trong thời gian tới, nên tập trung nghiên cứu, theo dõi giám sát thực vật ở 4 hệ sinh thái. Đó là: • Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi • Hệ sinh thái rừng trên núi đất • Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa • Hệ sinh thái trảng cỏ. Các hệ sinh thái này đều có các kiểu thảm thực vật nằm trong chuỗi diễn thế tự nhiên và diễn thế thứ sinh nhân tác. Do đó, việc quan sát thành phần loài, cấu trúc của thảm thực vật, theo dõi vật hậu học của các loài sẽ thuận lợi. Sau đây chúng tôi đề xuất kế hoạch giám sát thực vật cho khu di tích Hương Sơn như sau: • Tại mỗi hệ sinh thái chọn 1 ô nghiên cứu định vị có diện tích 1 ha (mỗi chiều 100m x 100m hoặc 200m x 50m tùy điều kiện địa hình). • Ô nghiên cứu định vị đặt tại nơi có kiểu thảm thực vật đặc trưng cho mỗi hệ sinh thái. Ví dụ: đối với hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi chọn kiểu thảm rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng. Đối với hệ sinh thái rừng trên núi đất chọn kiểu rừng thưa cận nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng. Với 2 hệ sinh thái còn lại, chọn kiểu trảng cây bụi và trảng cỏ. • Dùng lưới thép mắt cáo, cọc sắt để rào bảo vệ xung quanh ô định vị. • Nội dung theo dõi quan sát + Thống kê đầy đủ chính xác thành phần loài thực vật trong ô định vị từng năm để theo dõi biến động về loài. + Xác định dạng sống của các loài theo 5 nhóm dạng sống chính và 4 nhóm dạng sống phụ của Raunkiaer. + Mô tả cấu trúc của thảm thực vật, vẽ biểu đồ phẫu diện và chiếu tán của thảm thực vật. + Đo đếm kích thước (chiều cao, đường kính ngang ngực, chiều cao phân cành, diện tích tán) của các loài cây gỗ có đường kính từ 10 cm trở lên hàng năm để theo dõi sự tăng trưởng của cá thể. + Theo dõi vật hậu học: thời gian ra hoa, kết quả, thời gian rụng lá và ra lá non. + Thời gian quan trắc: thực hiện theo 2 mùa: mùa mưa và mùa khô (có thể vào mùa giữa mùa mưa và gần cuối mùa khô hàng năm).
16

Tại mỗi ô cần định vị nên có thiết bị đo mưa đơn giản để theo dõi lượng mưa hàng năm. Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn đã lập các tổ bảo vệ rừng, đang hoạt động có hiệu quả. Để nâng cao trách nhiệm, có thể nâng cao chế độ đãi ngộ cho tổ bảo vệ rừng. 5.6. Đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý, bảo tồn tái sinh tự nhiên và gây trồng đối với một số loài quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam Tại Hương Sơn, 2 loài thông tre lá ngắn và kim giao núi đất chưa gặp trong tự nhiên mà được gây trồng ở vườn của Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn, do đó vấn đề bảo tồn với 2 loài này cần được thực hiện bằng cách tiếp tục nhân giống theo phương pháp giâm hom. Đây là phương pháp đang được áp dụng rộng rãi ở nước ta, không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn về công tác bảo tồn mà còn mang lại hiệu quả kinh tế, tiết kiệm thời gian. Đối với các loài dây mối, bình vôi hoa đầu, bình vôi, tắc kè đá, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải đảm bảo môi trường sống. Nếu rừng bị chặt phá, độ tàn che giảm, kéo theo là độ ẩm thấp và chất dinh dưỡng nghèo kiệt sẽ làm cho các loài này không phát triển được. Trừ tắc kè đá có ở núi đá vôi, vừa có ở núi đất, ba loài còn lại chỉ có ở núi dá vôi. Do đó, để các loài này tồn tại và phát triển được, hơn bao giờ hết cần phải bảo vệ rừng. Mất rừng, đồng nghĩa với việc mất môi trường sống và hậu quả các loài kể trên bị loại khỏi danh sách hệ thực vật Hương Sơn là điều khó tránh khỏi. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ rừng, cần giám sát chặt chẽ việc khai thác các loài này với mục đích thương mại vì đây là những loài cây thuốc đã đợc người dân biết đến từ lâu. Điều may mắn là các loài dây mối, bình vôi hoa đầu, bình vôi đều có thể gây trồng bằng củ tương đối dễ. Cuối cùng giải pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm cho người dân. Một khi ý thức của người dân được nâng cao, chắc chắn công tác bảo tồn các loài quý hiếm sẽ hiệu quả. IV. KẾT LUẬN 1. Hệ thực vật Hương Sơn theo số liệu điều tra đến thời điểm hiện nay (2011) có 822 loài thuộc 540 chi, 182 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch. Như vậy, hệ thực vật Hương Sơn có đầy đủ số ngành của hệ thực vật Việt Nam, đặc biệt là sự có mặt của ngành Khuyết lá thông, một ngành thực vật cổ nhất trong các ngành thực vật hiện đang tồn tại. Trên thế giới, ngành này cũng chỉ có 1 họ, 2 chi với trên 10 loài. Mặc dù con số 822 loài thực vật bậc cao đã thống kê được của hệ thực vật Hương Sơn chưa phải là con số cuối cùng về số loài của hệ thực vật này, nhưng nó cũng đã chiếm tới 7,9% tổng số loài; 22,3% tổng số chi và 59,6% tổng số họ của hệ thực vật Việt Nam. Đây là tỷ lệ mà không phải bất kỳ hệ thực vật nào với diện tích, điều kiện tự nhiên tương tự như Hương Sơn có được.
17

2. Hệ thực vật Hương Sơn có 8 hệ sinh thái, trong đó có các hệ sinh thái đặc thù như hệ sinh thái núi đá vôi, hệ sinh thái thủy sinh (bao gồm cả phần đất ngập nước). Các hệ sinh thái là một trong ba thành phần quan trọng tạo nên đa dạng sinh học. 3. Hệ thực vật Hương Sơn qua phân tích các yếu tố địa lý cho thấy có 27 loài đặc hữu Bắc Bộ, chiếm 3,5% tổng số loài đặc hữu Bắc Bộ của hệ thực vật Việt Nam, có 11 loài đặc hữu Việt Nam, chiếm 3,9% tổng số loài đặc hữu Việt Nam của hệ thực vật Việt Nam. Đây cũng là một khía cạnh nói lên tính đa dạng sinh học của hệ thực vật Hương Sơn nếu chúng ta biết rằng, Việt Nam được đánh giá là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới với 21,7% số loài thực vật là đặc hữu. 4. Hệ thực vật Hương Sơn có 14 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Nếu kế cả 6 loài được ghi trong Nghị định 32 của Chính phủ thì con số này là 20. Với những dẫn liệu vừa nêu, Hương Sơn thực sự là một hệ thực vật có nhiều nguồn gen quý hiếm. 5. Kết quả nghiên cứu chỉ rõ, hệ thực vật Hương Sơn có đến 519 loài cây có ích, chiếm 63,1% tổng số loài của hệ thực vật. Trong 10 nhóm giá trị sử dụng, nhóm cây làm thuốc nhiều nhất, có 263 loài , chiếm 32,1% tổng số loài của hệ thực vật. Tỷ lệ này tương đương như tỷ lệ về số loài cây thuốc mà TS. Võ Văn Chi đã công bố (1996) đối với hệ thực vật Việt Nam. Trong số các loài cây thuốc, nhiều loài có giá trị kinh tế cao như thổ phục linh (Smilax glabra), bổ cốt toái hay còn gọi là tắc kè đá (Drynaria fortunei), cẩu tích hay lông cu li (Cibotium barometz)... Nhóm cây gỗ có số loài nhiều thứ hai với 13 loài, chiếm 15,8% tổng số loài của hệ thực vật. Nhiều loài cây gỗ quý có giá trị kinh tế cao như sưa (Dalbergia tonkinensis), lát hoa (Chukrasia tabularis), nghiến (Burretiodendron brillettii)... Điều đáng tiếc là hiện nay số lượng các loài gỗ quý còn rất ít. Vì vậy, hơn bao giờ hết cần phải quan tâm bảo vệ, tránh nguy cơ các loài này bị tuyệt chủng. Một loài tuy không phải là cây thuốc, cũng không phải là gỗ quý mà chỉ là cây làm thực phẩm thông thường, nhưng lại gắn với lễ hội chùa Hương nên được khách thập phương ưa chuộng, trở nên có giá trị kinh tế cao, đó là cây rau sắng. Theo người dân địa phương cho biết, mùa lễ hội năm nay rau sắng bán được từ 200.000đ đến 300.000đ/kg. Nếu phát triển tốt, chắc chắn rau sắng cũng đem lại nguồn thu đáng kể cho người dân địa phương. Một loài cây nữa cũng là cây lương thực, thực phẩm nhưng ở chùa Hương trở nên có giá trị là củ mài (Dioscorea persimilis). Bên cạnh việc dùng làm lương thực, thực phẩm, củ mài cũng được dùng làm thuốc với tên gọi là hoài sơn. Như vậy, hệ thực vật Hương Sơn một mặt có tính đa dạng sinh học cao, mặt khác còn là nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế cao.
18

6. Khu di tích Hương Sơn là tài sản chung của quốc gia, vì vậy, cả nước có trách nhiệm tôn tạo, bảo vệ, giữ gìn để không chỉ phục vụ cho thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ mai sau. Một trong những giải pháp hàng đầu, có hiệu quả trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường là phải bằng mọi cách nâng cao đời sống cộng đồng cư dân. Vì vậy, các cấp chính quyền cơ sở cố gắng tạo điều kiện để người dân có được cuộc sống ngày càng tốt hơn. Đã đếnlúc cần phải làm cho người dân biết họ đang sở hữu một nguồn tài nguyên quý giá, một mặt nâng cao lòng tự hào về quê hương, mặt khác họ sẽ góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên ấy. V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1996), Sách đỏ Việt Nam. Phần thực vật, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 2. Nguyễn Tiến Bân (1991), Hương Sơn - Cảnh quan thiên nhiên và tài nguyên sinh vật, Báo cáo Viện khoa học Việt Nam. 3. Lê Trần Chấn (Chủ biên, 1999), Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 4. Lê Trọng Cúc (Chủ biên, 2001 - 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập I, II, III, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. 5. Phan Kế Lộc và nnk (2005), Thông Việt Nam - nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội. 6. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. 7. Trường Đại học Lâm nghiệp (2003), Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề rừng đặc dụng Hương Sơn - Mỹ Đức - Hà Tây. 8. Viện Điều tra quy hoạch rừng (1999), Bảo vệ và phát triển bền vững rừng và đa dạng sinh học trên vùng núi đá vôi của Việt Nam, Trung tâm in và đo vẽ bản đồ Thanh Trì, Hà Nội. 9. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Quy hoạch phát triển khu di tích thắng cảnh Hương Sơn. 10. Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn (2005), Thuyết minh tổng hợp “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích thắng cảnh Hương Sơn đến năm 2020”. 11. Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn (2005), Thuyết minh tổng hợp “Đánh giá tác động môi trường đồ án quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích thắng cảnh Hương Sơn”.

19

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful