Nhận xét

:
Từ bảng và biểu đồ cho ta thấy sự phân loại trẻ ở mức độ (yếu, trung bình, khá, tốt)
ở hai nhóm đối chứng và thực nghiệm sau thực nghiệm có sự chênh lệch nhau. Số
trẻ đạt điểm khá tăng lên (từ 16% đến 46%) và số trẻ xếp loại trung bình ở nhóm
thực nghiệm so với nhóm đối chứng đã giảm xuống (từ 61% xuống 42%), mức độ
yếu cũng giảm xuống (từ 11% xuống 3%). Sau thực nghiệm có 5 trẻ xếp loại tốt về
mức độ kể truyện sáng tạo của trẻ mẫu giáo ( 5- 6 tuổi) (chiếm 9$).
Về điểm trung bình của cả hai nhóm thực nghiệm và đối chứng, nhóm thực nghiệm
có điểm số lớn hơn. Điều đó chứng tỏ cho thấy sau thực nghiệm với việc vận dụng
các phương pháp đã dẫn đến điểm số thực hiện các tiêu chí của trẻ tăng lên đáng
kể.
Từ các số liệu trên cho thấy kết quả thực trạng mức độ kể truyện sáng tạo của trẻ
trước thực nghiệm là như nhau (cả thực nghiệm và đối chứng) còn sau thực nghiệm
cả hai nhóm đều tăng so với trước thực nghiệm trong đó mức độ kể truyện sáng tạo
của trẻ ở nhóm thực nghiệm cao hơn hẳn so với nhóm đối chứng.
Điều đó chứng tỏ tính khả thi và hiệu quả của các phương pháp mà luận văn xây
dựng.

Tóm lại: Sự tăng lên của các điểm số ở các tiêu chí đã chứng tỏ việc xây dựng các
phương pháp làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo (5 – 6 tuổi) là phù hợp với hứng thú
và nhận thức của trẻ.
Bảng 3:Tổng điểm và phân loại mức độ kể truyện sáng tạo của trẻ mẫu giáo trường
Mầm non Quyết thắng - T.X Sơn La.

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30

Nhóm đối chứng
TC1 TC2 TC3
5
2
3
5
3
5
5
2
5
5
2
5
2
2
2
3
3
3
5
3
5
5
2
5
5
2
5
5
2
3
5
3
3
5
3
5
3
2
2
5
2
5
3
3
3
5
2
5
3
3
3
5
3
3
3
2
3
3
2
5
3
3
5
3
2
2
3
3
3
3
3
3
5
3
3
5
3
3
3
3
3
5
3
3
5
3
3
5
3
3

TC4
3
2
2
3
2
3
2
2
3
3
2
3
2
2
3
3
3
2
2
3
2
2
3
3
3
3
3
2
3
3


13
15
14
15
8
12
15
14
15
13
13
16
9
14
12
15
12
13
10
13
13
9
12
12
14
14
12
13
14
14

Nhóm thực nghiệm
MĐ TC1 TC2 TC3 TC4
TB 5
5
5
5
K
5
3
3
2
TB 5
3
5
2
K
5
2
5
2
Y
5
3
5
3
TB 3
3
3
3
K
5
5
3
5
TB 5
2
5
2
K
5
2
3
2
TB 5
5
3
5
TB 5
3
3
2
K
5
5
5
2
Y
3
3
3
3
TB 3
3
3
3
TB 5
2
5
2
K
5
2
5
2
TB 5
3
5
3
TB 5
3
2
3
Y
5
5
5
2
TB 3
3
3
3
TB 5
3
5
2
Y
5
3
5
2
TB 5
3
5
3
TB 5
2
5
2
TB 3
3
3
3
TB 5
2
5
2
TB 5
3
2
3
TB 3
3
3
3
TB 5
3
3
2
TB 5
3
5
2


20
13
15
14
16
12
18
14
13
18
13
17
12
12
14
14
16
13
17
12
15
15
16
14
12
14
13
12
13
15


T
TB
K
TB
K
TB
T
TB
TB
T
TB
K
TB
TB
TB
TB
K
TB
K
TB
K
TB
K
TB
TB
TB
TB
TB
TB
K

Bảng 4: Tổng điểm phân loại mức độ phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo trường
Mầm non Hoa Ban – T.P Điện Biên
STT Nhóm đối chứng
Nhóm thực nghiệm
TC1 TC2 TC3 TC4 TĐ MĐ TC1 TC2 TC3 TC4 TĐ MĐ
1
5
2
5
2
14
TB 5
3
5
3
16
K
2
5
3
5
3
16
K
5
5
5
5
20
K
3
5
2
5
2
14
TB 5
5
5
2
17
K
4
5
3
3
2
13
TB 3
3
3
3
12
TB
5
2
2
2
2
8
Y
5
5
5
2
17
K
6
5
2
3
3
13
TB 3
3
3
3
12
TB
7
5
3
5
3
16
K
5
3
5
3
16
K
8
5
3
2
3
13
TB 5
3
5
5
15
K
9
3
3
3
3
12
TB 5
2
5
5
16
K
10
5
3
5
2
15
K
5
5
5
3
15
TB
11
3
3
3
3
12
TB 5
5
5
2
17
TB
12
5
3
5
3
16
K
5
3
5
5
20
T
13
5
3
3
2
13
TB 5
3
3
2
13
TB
14
5
3
3
2
13
TB 5
2
3
2
13
TB
15
3
2
2
2
9
Y
5
3
5
3
15
TB
16
5
2
5
2
14
TB 3
3
3
3
12
TB
17
5
3
5
3
16
K
5
2
5
3
16
K
18
3
3
3
3
12
TB 5
2
5
2
14
TB
19
5
3
5
2
15
K
5
3
5
2
14
TB
20
5
2
5
2
14
TB 3
3
3
3
12
TB
21
5
5
5
2
17
K
5
3
5
2
15
K
22
5
2
5
2
14
TB 3
3
3
3
12
TB
23
5
5
5
2
17
K
5
3
5
2
15
K
24
5
5
5
2
17
K
5
3
2
2
13
TB
25
5
2
3
3
13
TB 5
3
5
3
16
K
26
5
3
5
3
16
K
5
2
3
3
13
TB
Qua bảng tổng điểm và phân loại mức độ kể truyện sáng tạo của trẻ mẫu giáo (5 6 tuổi) của hai trường mầm non mà chúng tôi thực nghiệm nhận thấy số điểm của
hai nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm có sự chênh lệch: Mỗi tiêu hí 5 điểm/1
trẻ, vậy 56 trẻ sẽ có 280 điểm, cụ thể như sau:
Nhóm đối chứng:
TC1 đạt 244 điểm

TC2 đạt 152 điểm
TC3 đạt 214 điểm
TC4 đạt 140 điểm
Nhóm thực nghiệm:
TC1 đạt 258 điểm
TC2 đạt 176 điểm
TC3 đạt 231 điểm
TC4 đạt 164 điểm
Ta có thể thấy rõ hơn qua bảng sau:
Bảng 5: Khả năng thực hiện các tiêu chí đánh giá mức độ kể truyện sáng tạo của
trẻ mẫu giáo (5 – 6 tuổi)
TC1
TC2
TC3
TC4
MỨC ĐỘ
(%)
(%)
(%)
(%)
Tốt
Khá
TB
Yếu
ĐC
87.1
54
76.4
50
0
16
34
6
TN
92.1
63
82.5
59
5
20
31
0
Bảng 3 đã thể hiện cụ thể khả năng thực hiện các tiêu chí của hai nhóm đối chứng
và thực nghiệm sau thực nghiệm. Điểm số thực hiện các tiêu chí (tính %) của trẻ
lớp thực nghiệm cao hơn hẳn lớp đối chứng ở cả 4 tiêu chí, đặc biệt là ở tiêu chí 2
và tiêu chí 4 khả năng thực hiện 2 tiêu chí này của lớp đối chứng là rất ít chiếm
50% và 54% tổng số điểm còn nhóm thực nghiệm chiếm 63% và 59% tổng số
điểm.
Mức độ đặt được của lớp đối chứng chưa cao còn có yếu (6 trẻ) không có tốt, chủ
yếu alf đạt mức độ TB (34 trẻ) và khá (16 trẻ), nhưng lớp thực nghiệm có sự thay
đổi đáng kể đã có trẻ đạt mức tốt ( 5 trẻ), khá tăng (20 trẻ) TB giảm (31 trẻ) không
còn có yếu.
TÓm lại, sự tăng lên của các điểm số ở các tiêu chí đã chứng tỏ việc xây dựng các
phương pháp kể truyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là phù hợp với nhận
thức và gây được hứng thú đối với trẻ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG III
1) Qua việc áp dụng 4 phương pháp kể truyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi trong giờ học và ngoài giờ học qua 4 tiêu chí thì nhóm trẻ thực nghiệm
cao hơn nhóm trẻ đối chứng và có xu hướng phát triẻn tốt qua kết quả: Số trẻ
xếp ở 4 mức độ ở nhóm thực nghiệm có sự thay đổi rõ đa số trẻ đạt được ở
mức độ khá và có cả mức độ tốt.
2) Sau khi tác động 4 phương pháp giúp trẻ kể truyện sáng toạ trẻ thực hiện các
tiêu chí dễ dàng hơn. Qua từng phương pháp thực nghiệm chúng tôi tiến
hành ghi chép hình thức thực nghiệm trong luận văn này khác nhau:
Ở phương pháp “Tạo môi trường gần gũi phù hợp với tác phẩm” chúng tôi
đã ghi theo tiến trình bài giảng.
Ở phương pháp “Cho trẻ xem tranh, vật thật” chúng tôi đã trình bày dưới
hình thức giáo án.
Ở phương pháp trò chơi chúng tôi trình bày dưới hình thức liệt kê các trò
chơi đã thực nghiệm.
Ở phương pháp “Ngồi ghế kể truyện” chúng tôi đã trình bày dưới hình thức
ghi lại những mẩu truyện khi trẻ ngồi trên ghế kể truyện. Dù trình bày dưới
hình thức nào chúng tôi đều mong muốn hình thức đó làm rõ nhất phương
pháp đưa ra và ghi đầy đủ kết quả sau mỗi phương pháp thực nghiệm.
3) Các kết quả thực nghiệm trên cho phép kết luận giả thuyết khoa học của đề
tài hoàn toàn đúng đắn, khả thi và hiệu quả.Nhưng cũng phải thấy sau thực
nghiệm số trẻ xếp ở mức độ tốt còn ít (5/112 chiếm 9%), như vậy các
phương pháp mà chúng tôi đưa ra chỉ phù hợp với trẻ ở mức độ trung bình.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful