Office3_Task1-2-3-4

Vận chuyển nhựa vào kho -> trộn nhựa với xăng công nghiệp -> cho hỗn hợp vào

khuôn -> khoá lại cẩn thận -> đợi trong vòng 15 phút -> dùng búa chuyên dụng để lấy mẫu ra khỏi khuôn -> mài sản phẩm -> chà giấy nhám -> sơn -> đóng gói.

Trong ngày các công nghiệp hiện nay rất cần có sự an toàn về lao động. Điều này sẽ đảm bảo rằng công nhân sẽ làm việc lâu dài với chúng ta nếu công ty chúng ta có một sự bảo vệ cho họ trong vấn đề an toàn trong lúc làm việc. Đây cũng là một việc làm cần thiết để bảo vệ người lao động và bảo vệ chính chúng ta. Do đó công ty cần phải có những khoá học ngắn hạn về an toàn lao động trước khi cho một nhân viên vào làm việc. Mục đích là giúp người lao động được an toàn và tránh thiệt hại cho công ty. Có một công nhân mới được tuyển vào làm trong khâu “mài sản phẩm”: 1. Trước tiên giới thiệu với họ về quy định an toàn lao động trong xưởng o Vào xưởng phải đeo khẩu trang. o Mặc đồng phục bảo hộ lao động. o Không được hút thuốc trong kho nhiên liệu.
o Chỉ được ở trong phòng mài 2 tiếng.

o Phải nghỉ giải lao 15 sau 3 tiếng làm việc. o Tắt cầu dao điện sau khi ngưng làm việc. o Không để trang thiết bị lung tung. o Đeo khẩu trang chống độc do công ty cấp.

2. Sau đó giải thích cho công nhân về trách nhiệm, quyền lợi của họ và của người

chủ o Trách nhiệm và nghĩa vụ của công nhân  Đi làm đúng giờ  Hoàn thành công việc được giao  Bảo vệ tài sản chung  Giữ gìn vệ sinh tập thể  Báo cáo những mối nguy và rủi ro cho người quản lý o Quyền lợi của công nhân  Được công ty đóng bảo hiểm xã hội.  Tạo điều kiện về chỗ ở nếu ở tỉnh.  Có phương tiện đưa rước.  Được thưởng nếu hoàn thành công việc sớm. o Trách nhiệm và nghĩa vụ của ông chủ  Cung cấp đồ bảo hộ lao động cho công nhân  Cho công nhân đi khám sức khoẻ định kỳ  Tạo điều kiện thuận lợi để công nhân đạt được năng suất cao.  Thông báo cho công nhân về những thay đổi tiến trình làm việc  Có những khoá học về an toàn khi làm việc
3. Phân tích những rủi ro và mối nguy có thể xảy ra đối với một công nhân ở khâu

mài. o Bộ phận mài là nơi có rất nhiều bụi do đó bệnh về phổi rất dễ xảy ra do đó biện pháp khắc phục là phải đeo khẩu trang phòng chống độc của công ty. o Bụi nhiều sẽ ảnh hưởng tới tầm nhìn của mắt, nó làm cho chúng ta không thấy, điều này rất nguy hiểm nó có thể gây ra những chấn thương do vấp

ngã và bệnh về mắt. Biện pháp là công nhân chỉ được làm việc tối đa 2 tiếng trong phòng mài o Do làm việc trực tiếp với máy mài, công nhân cần cẩn thận vì máy mài rất bén, nó có thể gây nguy hiểm đến tính mạng và gây ra những vết thương nghiệm trọng. Biện pháp là công nhân cần tuân thủ về cách cầm máy, mở máy, tắt máy, kỹ thuật mài mà người quản lý hướng dẫn. o Rủi ro về điện cũng rất cao, nếu không chú ý chúng ta có thể bị điện giật trong lúc cắm điện máy mài. Biện pháp là phải chú ý và cẩn thận khi cắm điện. o Vận chuyển sản phẩm vào kho mài cần phải quan sát kĩ những sản phẩm khác để tránh tình trạng đổ, ngã. Những sản phẩm này rất nặng và có thể gây ra chấn thương nghiêm trọng cho chúng ta. o Trong phòng mài do không gian chật hẹp nên không được hút thuốc vì tàn thuốc có thể gây ra cháy nỗ. Vì đây là những vật liệu rất dễ cháy, công nhân cần phải bỏ thói quen hút thút tuỳ tiện. 4. Cung cấp cho nhân viên một tiến trình đúng để họ có thể làm việc. o Đeo khẩu trang, mắt kính, đồ bảo hộ lao động, găng tay. o Vận chuyển sản phẩm vào và sắp xếp ngay ngắn o Cắm điện máy mài cẩn thận. o Mài theo đúng kỹ thuật. o Sau khi mài xong xếp theo thứ tự để dể vận chuyển ra ngoài. o Rút điện máy mài ra trước. o Vận chuyển sản phẩm ra ngoài.

5. Bên cạnh đó cần cung thêm một số tiến trình đối với những tình trạng khẩn cấp

o Nếu có xảy ra cháy nổ cần phải thông báo khẩn cấp cho người quản lý hoặc dùng những thiết bị phòng cháy của công ty. o Nếu xảy ra nhưng chân thương nghiêm trọng về điện cần phải cúp cầu giao chính, sơ cứu nạn nhân, thông báo cho người quản lý. 6. Những quy trình để theo dõi, kiểm soát những mối nguy và rủi ro. o Kiểm tra những phích cắm điện 2 tháng một lần o Thường xuyên kiểm tra dây điện của máy mài và một số dây khác. o Đồ bảo hộ lao động, mắt kính, găng tay, khẩu trang cần phải làm vệ sinh hằng ngày. o Quyét dọn sạch sẽ những mảnh vụn để trách bị xước chân, tay. o Sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ để không bị đổ, ngã. 7. Cuối cùng là những cam kết của người lao động o Chấp hành đúng nội quy công ty o Tiến hành đúng tiến trình trong lúc sản xuất
o Hạn chế tối đa mức thiệt hại cho bản thân và công ty.

Nguyên Nhân: - Trong quá trình công nhân vận chuyển hàng hoá vào kho do trời mưa và vật liệu thừa của tổ chà giấy nhám đã làm cho sàn nhà trở nên trơn hơn bình thường. Ngay lúc đó công nhân vận chuyển hàng hoá không để ý và kết quả là xảy ra một tai nạn. Nhân viên đã bị trặc chân và xây xác nhẹ phần tay. Do trong quá trình vận chuyển nhân viên Văn đã không mang đồ bảo hộ lao động nên bị xây xác nhẹ phần tay. Giải pháp: Sữa chữa lại những chỗ bị mưa tạt vào. Rút ngắn thời gian vận chuyển hàng vào kho. Vệ sinh sạch sẽ sau khi chà giấy nhám xong. Mang đồ bảo hộ lao động Chú ý khi đi trên nền nhà bị trơn.

1. Trong vai trò là người quản lý. Vấn đề sẽ có cách giải quyết như sau: + Xác định lại các thông tin một cách cẩn thận: Hỏi các nhân viên về diễn biến của sự việc. Không vội vàng kết luận bất cứ vấn đền nào. Nhận xét về mức độ logic của vấn đề + Mức độ sự việc vi phạm vào luật OHS như thế nào. Xem xét các vấn đề dựa trên bộ luật của OHS xem nó thuộc phạm vi hoặc khung hình phát nào. Để có biện pháp xử lý và áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể. + Tiến hành điều tra lại những điểm còn nghi vấn. Điều này sẽ giúp chúng ta giảm thiểu sai sót trong vấn đề ra quyết định. + Đưa vấn đề ra và thảo luận với đại diện của OHS để có được những thông tin cần thiết. Họ là những người đã đưa ra các quy định do đó họ có thể hỗ trợ cho chúng ta trong vấn đề ra mức hình phạt phù hợp. + Sau khi đã ra quyết định cần phải tuân theo luật do đại diện OHS một cách triệt để. Không làm trái với bất kì quy định nào. Ngoài ra đây cũng là làm gương cho những người khác. 2. Nếu suốt ngày có nhiều nhân viên phàn nàn về nhức đầu, đỏ mắt, và có mùi khó chịu trong không khí. Đồng thời đã tiến hành kiểm tra những nhân viên ở các bộ phận khác và họ cũng khẳng định rằng có những vấn đề tương tự xảy ra. Tôi sẽ đề ra phương pháp xử lý như sau: - Xác định các nguồn thông tin. + Sự phàn nàn của công nhân về sự việc.

+ Toàn bộ nội dung mà đã thu thập từ công nhân về sự việc. + Những nguồn có thể gây ra nguyên nhân về đỏ mắt, có mùi khó chịu trong không khí. + Vấn đề này có xảy ra lần nào hay chưa. Nếu có thì sẽ xử lý theo phương pháp cũ và có những biện pháp khắc phục triệt để, không cho sự việc xảy ra giống như lần này nữa. Nếu chưa bao giờ xảy ra thì cần phải nhờ sự hỗ trợ của các đơn vị OHS + Mức độ nguy hiểm đang ở tình trạng khẩn cấp hay bình thường. - Đánh giá mức độ nguy hiểm và rủi ro ảnh hưởng tới công nhân và công ty. + Tình trạng này là lần đầu tiên xảy ra tại công ty chúng ta. + Chưa có trường hợp nào tương tự xảy ra. + Có ảnh hưởng rộng. Gồm nhiều khu vực của công ty. + Nơi làm việc của công nhân bị đe doạ, rất cấp thiết. + Sự cố này chỉ mới xảy ra được vài giờ. Mức độ thiệt hại đối với công nhân là không đáng kể, nhưng vẫn phải có biện pháp khắc phục ngay. - Các biện pháp xử lý vấn đề. + Thu thập dữ liệu về toàn bộ sự việc và trình bày chi tiết cho người đại diện của OHS và xin ý kiến của họ về việc xử lý. + Toàn bộ nhân viên trong công ty cần phải được sơ tán để tránh vấn đề về sức khoẻ trở nên nghiêm trọng hơn. + Tạo điều kiện tối đa để nhân viên được đi khám sức khoẻ, tránh rủi ro sau này cho công nhân. + Quyết định đưa ra giải pháp vệ sinh toàn bộ công ty và yêu cầu bên OHS đảm nhận việc này. + Bên cạnh đó cần phải chuẩn bị một báo cáo chi tiết về sự việc cho ban giám đốc công ty. Để họ biết được tình trạng hiện giờ của công ty. + Thường xuyên kiểm tra về trường hợp này trong vòng 1 tháng, xem nó còn xảy ra nữa hay không. 3. Khi tôi đến công ty và được thông báo rằng có người đã làm đổ cà phê hoặc cái gì đó trên sàn nhà. Và không ai đứng ra nhận trách nhiệm về vấn đề này.

- Điều này đã vi phạm vào phần trách nhiệm của người lao động của “Occupational Health, Safety and Welfare Act 1986.” - Giải pháp đưa ra cho vấn đề: + Có những quy định về thời gian cho nhân viên sử dụng phòng giải lao. Để có thể kiểm soát được toàn bộ nhân viên trong công ty. + Có những buổi học để nâng cao ý thức của mọi người về việc giữ gìn vệ sinh chung. Nhất là nhũng nơi công cộng. + Bên cạnh đó là đưa ra những mức phạt nếu phát hiện ra những người cố tình không chấp hành các quy định. + Tạo mọi điều kiện về các thiết bị vệ sinh. Trong trường hợp có đổ cà phê hoặc bất cứ thứ gì thì họ cũng có dụng cụ để làm vệ sinh. Điều này tránh được trường hợp họ rất muốn làm vệ sinh nhưng không có trang thiết bị. + Phổ biến những quy định mới cho toàn bộ nhân viên trong công ty biết. 4. Nếu một nhân viên cấp dưới cần sự giúp đỡ về những vấn đề liên quan đến quấy rối tình dục. Những sự giúp đỡ liên quan đến vấn đề này: - Cung cấp một số thông tin cho nhân viên cấp dưới biết được thế nào là một hành động quấy rối tình dục. Nó sẽ bao gồm những hình thức và các hành động sau: + Đưa ra những lời mời về tình dục hoặc những yêu cầu về giới tính. + Có những lời gợi ý hoặc đùa giỡn về giới tính một các tự nhiên. + Liếc nhìn đểu hoặc huýt sáo. + Đặt những câu hỏi riêng tư về đời sống cá nhân. + Lăng mạ hoặc mắng nhiếc trên cơ sở giới tính. - Những gì cần phải làm nếu bị quấy rối tình dục: + Chấm dứt các tình huống đó một cách nhanh chóng bằng các giải thích cho người quấy rối là những hành động của họ đã vi phạm luật. + Liên hệ với công đoàn. Họ sẽ giúp bạn giải quyết bất cứ tình huống nào liên quan đến quấy rối tình dục.

+ Gửi yêu cầu lên “Equal Opportunity Commission”. Họ sẽ giải quyết cho bạn về các vấn đề về quấy rối tình dục. 5. Mỗi tháng đều có cuộc thảo luận về sức khoẻ và an toàn. Hầu hết mọi người xác định rằng công ty không có sự chuẩn bị về việc sơ tán cho nhân viên trong những trường hợp khẩn cấp. để vấn đề trên được cải tiển thiện một cách tốt hơn, những người tôi có thể hỏi ý kiến và sau đó là đưa ra một tiến trình sơ tán là: - Sau đây là người có thể cho tôi những ý kiến chính xác nhất: + Những nhà tư vấn OHS: họ là những người đã có kinh nghiệm trong việc sơ tán cũng như đưa ra những quyết định đối với những trường hợp khẩn cấp. + Nhân viên cấp: họ là những người tiếp xúc trực tiếp với các mối nguy và họ cũng có những kinh nghiệm về tiến trình làm việc của mình. - Đây là một tiến trình để có thể hỏi ý kiến: 1. Tổ chức một cuộc hội thảo về sức khoẻ và an toàn cho toàn bộ nhân viên và có cả đại diện của OHS, ban giám đốc công ty. 2. Báo cáo cho mọi người biết về tình trạng sơ cứu hiện nay. Từ đó sẻ thấy được những khuyết điểm để dễ dàng khắc phục hơn. 3. Tạo mọi điều để mọi người thảo luận về chính sách và cách thức để sơ tán trong trường hợp khẩn cấp. 4. Trong khi thảo luận cần phải đưa ra một chính sách và cách thức sơ tán chung. Để mọi người có cơ hội đóng góp những ý kiến của mình. 5. Nhận thông tin phản hồi về phương án được chọn. Chọn lựa những thông tin có giá trị để chuận bị cho một án cuối cùng. 6. Tổng hợp lại lần cuối để đưa ra một phương án tối ưu nhất.

1.Ở phần nào trong luật nói rằng các đại diện an toàn sức khoẻ về OHS phải công việc có tính chất nguy hiểm lại để đảm bảo an toàn và sức khoẻ cho công nhân. Đó là những trường hợp nào? Sau khi đã tham khảo SA OHS&W Act 1986. Tôi hoàn thành việc tìm ra làm rằng HSR có thể hướng dẫn công nhân làm việc, cho tới khi quá trình đảm bảo sức khoẻ và an toàn được thực hiện. Điều này nằm trong Section 36 (Action where the health and safety of worker is threatened) Division 4; Part 4. Trong phần này có hướng dẫn rất rõ ràng tuỳ theo từng mức độ nguy hiểm của vấn đề mà có những biện pháp thích hợp. Ví dụ một số trường hợp sau đây: Mối nguy hiểm đe doạ đến tính mạng của công nhân, các điều kiện môi trường bị ô nhiễm nặng. 2.Vai trò chính của người chủ dưới luật OHS là gì?Liệt kê phần nào của luật nói về điều đó? Để công việc được thực hiện một các thuận lợi. HSR cần phải hợp tác với ông chủ và công nhân. Đồng thời yêu cầu họ phải có trách nhiệm về những gì mình làm. Đó là phần trách nhiệm được liệt kê trong Section 19 (Duties of Employers) Part 3. 3.Ở phần nào của luật có đề ập đến việc bảo vệ về mặt danh nghĩa cho những đại diện về OHS. Tránh tình trạng là nạn nhân của người chủ. Chúng ta có thể xem phần này trong Section 30 Division 2 Part 4.

4.Phần nào trong luật bắt buộc người chủ phải hỏi ý kiến của Đại diện OHS về an toàn và sức khoẻ. Trong luật của OHS có đề cập đến vấn đề là người chủ phải hỏi ý kiến của HSR trước khi ra quyết định gì có liên quan đến an toàn sức khoẻ. Có thể xem vấn đề này ở Section 34 (Responsibilities of Employers) Division 3; Part 4. Ông chủ cần phải có những ràng buộc về An Toàn và Sức Khoẻ với đại diện của OHS 5. Kể những chức năng của người đại diện OHS và chức năng này thể hiện phần nào của luật? Một số chức năng của người đại diện OHS: - Kiểm tra tất cả những nơi làm việc, đảm bảo nó thật sự an toàn cho công nhân. - Có mặt trong suốt quá trình kiểm tra. - Điều tra những phàn nàn liên quan đến sức khoẻ nghề nghiệp. - Đưa ra những lời tư vấn thích hợp cho người chủ. Vấn đề này được trình bày chi tiết ở Section 32 (Functions of Health and Safety Representatives) Division 3; Part 4. 6. Khi một nhân viên kiểm tra từ môt tổ chức khác được yêu cầu gíup đở để giải quyết vấn đề về an toàn sức khoẻ. Khi đó, đại diện OHS chống lại đề nghị của người kiểm tra đưa ra. Ở chương nào của luật thể hiện điều này? Sự xuất hiện của thanh tra đến từ một tổ chức khác của Úc, không phải là HSR xem ở section 37 (Attendance by inspector) Division 3; Part 4. Phần đó giải thích như sau: bất cứ nhân viên nào hoặc HSR không bằng lòng với các hành động của thanh tra có thể đưa yêu cầu lên Toà Án Úc. Vì vậy một HSR không có quyền chống lại những quyết định được đưa ra từ thanh tra. 7.Nhiệm vụ của người công nhân là gi?và ở điều khoản nào thì những nhiệm vụ này được liệt kê ra?

Sau đây là phần trách nhiệm của người công nhân. Các vấn đề chính được liệt kê trong Section 21 (Duties of Workers) Part 3. Nội dung chính trong phần này là: công nhân cần phải biết tự chăm sóc chính mình và tuân theo những chỉ dẫn hợp lý, xác định rõ ràng về các công việc thích hợp khi mà tiếng anh không phải là ngôn ngữ chính của mình. 8. Hãy nói những tình huống phạt do vi phạm luật và nguyên tắc OHS. 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. Division 1: the penalty is the fine which is not exceed over $200,000. Division 2: the penalty is the fine which is not exceed over $100,000. Division 3: the maximum penalty will be not exceeding over $40,000. Division 4: the fine is not exceeding over $30,000. Division 5: the fine is not exceeding over $20,000. Division 6: the fine is not exceeding over $10,000. Division 7: the fine is not exceeding over $5,000.

9. Người đại diện về an toàn và sức khoẻ có thể bị truy tố hoặc giam giữ về mặt pháp luật do không thực hiện chức năng của họ và thực hiện không đầy đủ. Ở phần nào thể hiện rỏ điều này?

Điều này được thể hiện rõ trong Section 32 (Functions of health and safety
representatives) of the Act makes this clear.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful