1

VÕ ĐẮC DANH

Thế giới người điên
Bút ký

















2
Ấn tượng bút ký
Võ Đắc Danh


Tôi ít khi viết bút ký, vì không đảm bảo nổi độ chính xác về người và
việc; kế đến là sự hay dở đâu chưa thấy, chớ rắc rối, phiền toái thì rất dễ ập
đến khi mình xông vào những vấn đề bùng nhùng, phức tạp. Ngược lại, tôi
rất thích đọc thể loại này, nhứt là những bài viết về thân phận đau buồn,
nghèo túng của những vùng quê hẻo lánh xa xôi, hoặc nỗi cay đắng của
không ít những con người mà không dễ gì ai cũng thấu hiểu và thông cảm.
Điều may mắn đó có thể ví như khi tôi dò gặp tần số: Bút ký Võ Đắc Danh.
Từ NỖI NIỀM U MINH HẠ đến ĐỒNG CỎ CHÁT và bây giờ là tập bút ký
thứ ba của anh. Vừa đọc tôi vừa mường tượng, hình như Võ Đắc Danh đang
vẽ tranh bằng chữ, loại tranh mà anh mê nhứt ấy lại là thứ sơn dầu thô ráp,
màu sắc mạnh mẽ.
Thời nào cũng vậy, con người luôn phải đương đầu với biết bao định
mệnh buồn vui, nào ai chọn được cho mình một cõi sống như mong đợi. Có
người bảo sao Danh không viết (hoặc ít viết) những cảnh đời đẹp đẽ mà lại
tìm chi những chuyện buồn cho cực? Danh mỉm cười. Không đời nào anh lại
trả lời những câu hỏi đại loại như vậy. Danh thường than vãn là không có
nhiều thì giờ. Danh chỉ biết chú tâm vào những gì mình bức xúc nhứt. Đọc
từng dòng bút ký của anh, nhìn sâu từng gương mặt nhân vật bằng xương
bằng thịt của anh: dù đó là người mẹ với nỗi oan khuất kéo dài đến mấy
chục năm trời, dù đó là người cha bị con cái vô tình vứt vào nhà dưỡng lão,
dù đó là những đứa con gái con trai niên thiếu bụi đời lang thang trong
Nam ngoài Bắc, dù đó là một phụ nữ thường dân đơn thân lao vào đối mặt
với những bất bình của nạn tham nhũng, hay đó là người mẹ điên nhưng biết
khát khao tình mẩu tử ... Ở đâu ta cũng gặp được những tâm hồn trong trẻo
đến thắt lòng.
Đúng là Võ Đắc Danh đang mê chơi sơn dầu bằng ngôn ngữ thứ
thiệt, bởi cách dùng màu của anh cũng khá là táo bạo. Anh chơi toàn màu
mạnh và rất sậm, không vì thế mà các bức tranh trơ nên u tối, trái lại, ánh
sáng của nó càng được ửng lên, lung linh hấp dẫn từ chính tấm lòng của
người viết. Tôi nghĩ, khi gõ từng con chữ không thể Võ Dắc Danh không
ướm thử đời mình vào mỗi hoàn cảnh, mỗi số phận của những nhân vật mà
mình đang mô tả. Và anh lại càng không thể không nghĩ tới, biết đâu có thế
lực lù mù nào đó đang rình rập, có ngày nó sẽ quật lại, hậu quả khôn lường.
Chính vì thế mà câu văn của Danh đanh nén, chắc lọi, không bị sa vào chi
tiết lặt vặt, không nhởn nhơ quẩn quanh tỉa tót hay thi vị hóa phong cảnh -
3
anh chỉ muốn mau mau bóc hết những lớp mục rữa, bầy nhầy để xông thẳng
vào cái lõi tươi nguyên của bi kịch cuộc đời.
Có người hỏi, sao không biến những chất liệu ấy thành truyện
ngắn hay tiểu thuyết, nó sẽ sang trọng hơn. Nhưng Võ Đắc Danh giải thích
rằng có hai lý do: Thứ nhất, anh không giàu trí tưởng tượng như một người
sáng tác, thứ hai, anh đã bị cuộc đời thực ám ảnh, cuốn hút quá nhiều và
một khi bản thân cuộc đời thực đã quá phong phú như thế thì cần gì phải
nhọc công hư cấu, thậm chí đôi khi còn làm giảm đi những giá trị có thực
cần phải được giữ gìn. Cho nên, anh chọn thể ký cũng có cái lý của riêng
anh.
Với bút ký, có người còn chia ra nào là bút ký báo chí và bút ký văn
học - ý muốn nói rằng bút ký văn học thì sang hơn, quý hơn. Tôi không biết
bút ký của Võ Đắc Danh nằm ở ranh giới nào. Mà hình như điều đó không
mấy cần thiết trong trường hợp này. Bởi cái đáng trân trọng ở đây là bút ký
của anh đã lay động được khá sâu nỗi lòng bạn đọc. Và thực sự nó đã đem
đến cho chúng ta một ấn tượng tốt đẹp với những trang viết đầy tình người,
chất người – BÚT KÝ VÕ ĐẮC DANH.


Nhà thơ LÊ CHÍ















4
Hoài niệm khoai lang

Gần đây, trước hiện tượng bùng nổ khoai lang nướng trên nhiều
đường phố Sài Gòn, đã không ít những ý kiến bàn tán khác nhau. Phàm, cái
gì lạ thì dễ gây chú ý, và ai cũng muốn tỏ rõ chính kiến của mình. Cuộc sống
vốn có nhiều tầng nhận thức và mỗi tầng nhận thức ấy nó phụ thuộc nhiều
thứ : Nguồn gốc xuất thân, học vấn, trình độ văn hóa, vị trí xã hội, cảm xúc
nhân văn . . . cho nên, trước củ khoai lang nướng xuất hiện đột ngột trên vỉa
hè của nhiều tuyến đường cũng trở thành . . . vấn đề nhận thức. Anh cảnh sát
giao thông, nhà quản lý đô thị, chuyên gia vệ sinh thực phẩm . . . mỗi người
có một cách nhìn và đánh giá khác nhau, thậm chí có người đặt thẳng vấn đề
với chính quyền là nên sắp xếp thế nầy thế nọ. Nhưng cuối cùng củ khoai
lang cũng chỉ là củ khoai lang.
Tôi không tham gia tranh cải dù có rất nhiều phe hỏi ý kiến tôi để
mong có thêm một sự đồng tình. Có gì đáng phải tranh cải trước củ khoai
lang trong khi cuộc sống còn quá nhiều nghịch lý.
Tôi im lặng. Im lặng ngay từ cái đêm đầu tiên tình cờ rong rủi trên
đường Nguyễn Thị Minh Khai, bất chợt nghe mùi khoai lang khét rồi giật
mình nhìn hai bên đường, thấy người ta vây quanh mấy cái bếp nướng khoai
lang. Già có, trẻ có, sang trọng có, bình dân có. Từ chỗ ngạc nhiên đến nghĩ
suy và tìm hiểu, tôi đã ngộ ra được một điều: Sài Gòn có hơn hai triệu dân
nhập cư, nghĩa là có hơn hai triệu nỗi niềm xa xứ. Và, những nỗi niềm ấy
đang vây quanh những cái bếp nướng khoai lang. Tất nhiên là trong số đó có
những người không có nỗi niềm gì cả.
*
Tôi sinh ra và lớn lên trên một cánh đồng có tên gọi là Đồng chó ngáp,
một cánh đồng năn mênh mông nằm ở cuối nguồn con sông Phụng Hiệp. Ba
tôi mất hồi năm tôi lên tám tuổi, và gót chân tôi ngấm bùn kể từ năm ấy. Tôi
còn nhớ, hôm ấy cả nhà tôi kéo xuống ruộng để làm cỏ lúa. Trước khi ra
đồng, mẹ tôi bắc một nồi khoai lang lên bếp , cái nồi làm bằng đất nung đen
mun được đậy nắp bằng lá chuối, úp lên cái nắp xoong nhôm rồi giằn thêm
hai cục gạch cho nó thật kín hơi. Thấy chúng tôi nhìn một cách thèm thuồng,
mẹ tôi nói nhổ cỏ xong rồi mới được ăn. Điều kiện của mẹ tôi đặt ra lúc ấy
thật hữu hiệu vô cùng. Vì để được ăn khoai mà mấy chị em tôi thi nhau làm
cỏ. Khi xong việc vào nhà thì cái nồi khoai đã bốc lên mùi khét. Mọi người
xót xa, tiếc rẻ vì thuở ấy nhà nghèo đến nổi mua được một ký khoai lang đâu
phải là chuyện dễ dàng. Cứ tưởng khét là bỏ, ai ngờ khi ăn hết mấy củ khoai
trên mặt rồi, ăn mót mấy củ khoai khét lại thấy ngon hơn, vừa bùi vừa thơm
một cách lạ lùng.
5
Từ đó, mỗi khi mẹ tôi đi chợ về, thấy có khoai lang là tôi ăn cắp. Quơ
vội mấy củ ném vào góc sàn giường. Tối tối mò ra một củ lận vào trong vạt
áo, chạy một cái vèo qua cửa, đi một mạch đến cái bếp un trâu bên nhà thằng
bạn rồi vùi vội củ khoai vào. Ngồi chờ đến khi mùi khét bay lên, bẻ một cây
lức khều ra, gói vào mấy cọng rơm cho đỡ nóng rồi mang ra ngồi một mình
trong bóng đêm trên bờ mẩu, vừa thổi vừa ăn một cách ngon lành.
Mấy năm sau đi học ngòai thị xã, mỗi sáng đến cổng trường thấy mấy
bà già ngồi bán khoai lang luộc. Khoai bột trắng mỗi củ năm cắc bạc, khoai
Dương Ngọc vỏ tím ruột trắng pha lớm đớm màu đỏ mỗi củ một đồng, khoai
bí vỏ đỏ ruột vàng thì cắt làm đôi, một đồng nửa củ. Thấy thèm nhưng chẳng
có tiền mua. Trong lớp tôi có mấy cô bạn gái con nhà nghèo, mỗi tối phải
phụ gia đình ra lề đường ngồi bán khoai lang nướng. Những củ khoai bằng
ngón chân cái được gọt sạch vỏ, đặt lên cái vỉ trên bếp than. Một đêm nọ
lang thang ngoài phố, nghe cái mùi khoai lang ấy lòng không chịu nổi cơn
thèm, đành bạo gan lấy năm cắc bạc ra mua. Nhưng ăn xong mới thấy tiếc
tiền, hối hận vì nó chẳng thay thế được cái mùi thơm và vị ngọt của củ khoai
lùi trong đống lửa un trâu. Lúc ấy, tôi cảm nhận được rằng, tuy cũng là củ
khoai nhưng sở dĩ không ngon là vì nó thiếu đi nhiều thứ : Đó là mùi khen
khét của vỏ khoai, mùi rạ, mùi rơm, mùi khói un trâu, mùi của đồng, của đất,
của làng xóm quê hương, và cái vị ngon tuyệt vời của củ khoai vụn trộm.
Ba mươi năm xa quê làm kẻ thị thành, nếm đủ thứ mùi đời và cả mùi
cao lương mỹ vị, tưởng sẽ không bao giờ còn nhớ củ khoai lang. Thế rồi bất
chợt, một đêm giữa Sài Gòn bổng nghe cái mùi khen khét ấy, tự nhiên tôi
cảm thấy mình như lạc lõng chơi vơi, thậm chí như mơ mơ hồ hồ không hiểu
mình đang là ai giữa cõi đời nầy.
Mấy ngày qua cứ mỗi buổi tối, dù đi đâu, trước khi về tôi cũng chạy
một vòng qua đường Võ Văn Tần và Nguyễn Thị Minh Khai, đoạn có nhiều
người bán khoai lang nướng. Người mua cứ mỗi tối lại đông thêm, đông đến
nổi phải xếp hàng chờ, có người chờ không được, gởi tiền trước với lời hẹn
một lúc sau quay lại lấy. Chẳng có gì lạ lùng đến nổi để người ta phải gọi là
hội chứng khoai lang, cũng chẳng có gì để bàn tán xôn xao và tranh cải, bởi
tôi cũng đã mua, đã ăn và đã hiểu rằng, Sài Gòn đang có hai triệu dân nhập
cư, không chỉ thế, hàng triệu người khác đã định cư thì cũng là dân Việt nam
đến từ mọi miền đất nước, có ai biết họ đang mua khoai lang hay mua cái sự
hoài niệm của mình !

Sài Gòn, ngày 3 tháng 10 năm 2003


6
Mùi rạ, mùi rơm

Hôm nọ, người bạn nhà ở ngọai thành bổng dưng gọi điện cho tôi, giọng
đầy cảm hứng khoe rằng ở chợ Bình Hưng Hòa có bán cá lóc nướng trui,
người ta xếp hàng mua không kịp. Hỏi bán như thế nào, anh ta nói cá lóc
bằng bắp tay, ai mua con nào thì bẻ cổ con đó, nướng rồi mang về. Hỏi
nướng bằng gì, anh ta nói nướng bằng bếp than. Hỏi cá đồng hay cá nuôi,
anh ta nói chắc là cá nuôi, con nào cũng mập ú, cả hai ba xịa đều một lứa với
nhau. Nghe nói cá lóc nuôi lại nướng bằng bếp than làm tôi mất hứng.
Nhưng sự cảm hứng của người bạn chịu tốn tiền điện thọai di động để khoe
sự kiện ấy với tôi cũng giống như một sự giãi bày, tìm sự chia sẻ về một
hòai niệm xa xôi. Tôi nghĩ, ngay cả cái anh chàng có sáng kiến bán cá lóc
nướng trui tại chợ kia chắc cũng là dân miệt vườn Nam bộ, đi tìm kế sinh
nhai bằng cách khai thác ký ức của đồng hương.
Tôi nhớ năm ngóai về quê, cậu Ba tôi làm cá lóc nướng trui đem ra nhậu,
nhưng chính ông lại cằn nhằn rằng không có rơm, nướng bằng lá dừa ăn
không đã, rồi ông lại nói, cá lóc nướng trui mà ăn trong nhà cũng không đã
bằng ăn ở bờ đìa. Ông nói với tôi mà như những lời tự sự của một lão nông
tri điền đang nuối tiếc những gì đã mất của đất đai, rằng kể từ khi hạt lúa rớt
giá, con tôm lên ngôi, đồng đất đã mất đi cái mùi rạ mùi rơm nướng cá, mùi
khói un trâu, mùi khói đốt đồng với ánh lửa lập lòe khi trời chạng vạng.
Cứ nghĩ, cá lóc nướng trui với mùi rạ mùi rơm thì có gì đâu mà mỗi khi
nhắc đến người ta lại thấy nao nao, bồi hồi và ngọt ngào trong ký ức. Lại
nhớ có lần nhà văn Sơn Nam nói với chúng tôi: “Hồi nhỏ cha mẹ cho ăn
món gì thì khi lớn lên, món ấy trở thành ngon nhất trên đời”.
Tôi lớn lên, khi biết ăn thì món ăn đầu tiên là cá lóc nướng trui. Cá lóc có
sẵn trên đồng, rạ rơm có sẵn trên đồng. Phải chăng đó là món ăn dễ làm ra
nhất trong thời kỳ hoang dã. Tôi nhớ hồi ấy, khi tôi lên mười tuổi thì đã
được xóm làng khen ngợi là một tay sát cá. Xóm tôi có bác Năm Phước là
người nổi tiếng có nhiều đất và có kinh nghiệm làm đìa. Ông có hơn chục
khẩu đìa mà đìa nào hàng năm cũng trúng cá. Cứ mỗi lần tát đìa là ông cho
tôi hay trước: “Ngày mai tao tát cái đìa trên hậu đất”. Chỉ một câu như thế,
chẳng có giao ước gì nhưng tôi hiểu mình phải làm gì và được gì. Sáng sớm
tôi xách cái thùng thiếc - lọai thùng dầu lửa con sò – băng đồng lên hậu đất
của ông. Công việc đầu tiên của tôi là tiếp ông dọn cỏ. Khi đìa sắp cạn thì
nhảy xuống lựa bắt vài chục con cá lóc bằng cườm tay bỏ vô giỏ mang lên,
rồi đi chặt cây lức, vạt nhọn hai đầu, một đầu lụi vào con cá, một đầu cặm
xuống đất, quơ gốc rạ khô chất lên đốt. Lúc ấy, cơm và muối ớt đã được dọn
sẵn trên bờ đìa. Năm mười phút sau cá chín, tôi khều tro ra ngòai, còn lại
7
những con cá xếp hàng, dựng đứng, vãy cháy đen thui. Bác Năm Phước cắt
mấy lá môn nước thật to mang đến, tôi dùng nắm rạ phủi lên mình con cá
cho sạch lớp vãy cháy đen rồi nhổ cây lức, nhẹ tay đưa từng con cá lên chiếc
lá môn. Bác Năm dùng chiếc đũa rọc một đường thẳng từ đầu xuống đuôi để
banh con cá ra làm hai, khói từ thịt cá bốc lên, mùi thịt thơm nồng lẫn với
mùi da khen khét. Trong đó chừng như có mùi rạ, mùi đất thơm thơm. Bác
Năm hái vội mấy đọt rau muống cằn cổi quanh bờ đìa, mấy lá bông súng
non cuối mùa còn sót lại dưới lung trâu. Ông ra lệnh tắt máy bơm, mọi
người mình mẩy bê bết đất bùn, ngồi xúm lại trên bờ đìa ăn bửa cơm thanh
đạm.
An cơm xong, mọi người xuống đìa bắt cá. Hàng tấn cá rọng trong thùng,
chất lên cộ cho trâu kéo về. Phần tôi, bác Năm Phước lấy vợt xúc nào cá lóc,
cá rô, cá trê đổ vô thùng dầu lửa con sò, khi nào tôi nói xách không nổi thì
ông ngưng lại, rồi tặng thêm một con cá lóc thật to, gọi là ca cháo, tức để
dành nấu cháo ăn.
Cứ mỗi lần bác Năm Phước tát đìa thì tôi lại đến làm công và mang về
một thùng cá như vậy. Năm tháng đi qua, thời niên thiếu đi qua, tôi không
nhớ mình đã nhận của ông bao nhiêu thùng cá, cùng ăn với gia đình ông bao
nhiêu bửa cơm đạm bạc với cá lóc nướng trui chấm muối ớt trên những bờ
đìa giữa cánh đồng Phong Thạnh.
Hơn ba mươi năm sau, cậu bé khét nắng hôi bùn ngày xưa được mời đi
tham dự chương trình Am thực khẩn hoang miền Nam tại làng du lịch Bình
Quới, tôi xếp hàng trong hàng chục người chen nhau để chờ nhận một khúc
cá lóc nướng trui, dường như ai cũng lo đến lượt mình sẽ hết. Có được cá
rồi, tôi lấy thêm dĩa rau và chén nước mắm me mang đến ngồi ăn cạnh một
đống rơm bên bờ sông, dưới một gốc dừa. Dẫu biết rằng đây là khu du lịch
giữa Sài Gòn, tất cả chỉ là phục chế, ngay cả tôi cũng đang diễn lại cái tôi cũ
của mình, nhưng chẳng hiểu sao không thể không làm như thế được.
Lúc ấy, tôi thật sự cảm thấy thương cái anh chàng nào đó đã bày ra cái
chuyện bán cá lóc nướng trui giữa chợ Bình Hưng Hòa.






8
Cá rô lội ngược

Quê vợ tôi ở kinh Trảng Cò, một con rạch nhỏ nằm ở ven rừng U
Minh hạ. Hai mươi năm trước, khi chúng tôi mới quen, mỗi lần muốn về
thăm, tôi phải đi xe đò từ Bạc Liêu xuống Cà Mau, rồi từ Cà Mau ngồi tàu
đò hơn ba tiếng đồng hồ mới tới Rạch Ráng. Từ rạch Ráng, lội bộ hơn bốn
cây số mới tới Trảng Cò. Nhưng những lần về thăm như vậy, ít khi tôi đi
vòng theo xóm mà hễ tàu đò vừa ghé chợ Rạch Ráng là tôi cứ nhắm hướng
rồi băng đồng. Ngay cả mùa mưa, dù phải lội mấy chục công đất cày nhưng
tôi vẫn lội để rút ngắn thời gian.
Mùa sa mưa, mỗi sáng tôi thường ra ngồi trên sàn nước, giáp với mé
ruộng phía sau nhà để câu cá rô con, cá mới đẻ chừng một hai tháng tuổi mà
dân quê thường gọi là cá rô thóc. Chặt một cành trúc nhỏ hoặc một nhánh tre
gai, cột sợi dây câu bằng cọng chỉ may quần áo se lại làm đôi. Lưỡi câu cũng
uốn bằng cây kim may quần áo, loại kim may tay thật nhỏ, không cần ngạnh.
Mồi câu là một con mắm sống, xé ra từng miếng nhỏ li ti. Vừa thả mồi
xuống là một bầy cá rô con bu lại. Chỉ cần gặt nhẹ là dính một con cá. Cứ
thế, chúng tôi vừa câu vừa tâm sự. Đến lúc cảm thấy cá dư một bửa ăn thì
cho vào cái rổ dầy, dùng miếng vỏ dừa khô chà qua chà lại mấy vòng cho cá
rô sạch dẩy rồi ngắt hầu rửa sạch. Bắc cái tô sành lên bếp, cho vào mấy
muỗng nước mắm ngon, một tí đường, một tí mỡ, một tí bột ngọt, một tí
tiêu. Khi nước mắm sôi ùn lên thì đổ cá rô vào, đợi cho sắc lại và dọn cơm ra
ăn liền khi cái tô cá còn sôi ụt ụt.
Tình cảm chúng tôi lớn dần theo những sinh hoạt chân quê như thế.
Mùa lúa trổ đòng đòng, mỗi lần về Trảng Cò thì tôi mua theo vài tay
lưới. Chiều xuống bơi xuồng ra ruộng, vét một đường rong trong kẽ lúa, kéo
tay lưới xuống đó. Sáng ra cá rô lôi liệt cả cặp đài, tay lưới cuốn tròn, không
còn chổ nào để gở, thậm chí thấy cá nhiều hơn lưới.
Mùa lúa chín, tôi vác dá ra đồng, chọn những khu đất trũng, đào một
cái hầm trên bờ mẩu, lấy đất bùn vuốt láng trên miệng hầm. Xong cứ bỏ đó
vô nhà, ngồi hút vài điếu thuốc rồi xách giỏ ra thăm. Cá rô nhảy đầy hầm
đến một mình không xách nổi.
Cá rô mùa lúa chín thì không còn gì phải nói. Do nó ăn những bông
lúa mới vừa ngậm sữa nên mỡ đầy bụng, thịt vừa béo, vừa thơm, vừa ngon
một cách lạ lùng. Ngoài món kho tộ truyền thống, cá rô mùa lúa chín còn
đặc biệt ngon hơn với món nướng trui và nấu canh chua cơm mẻ với bông so
đũa, bỏ vô một nắm rau tần.
Hình ảnh con cá rô phóng lên khỏi mặt nước chừng năm ba tấc để đớp
cho kỳ được hạt lúa vừa ngậm sữa đã trở thành quen thuộc với người dân xứ
9
U Minh. Nhưng có một thời nó trở thành chuyện trà dư tửu hậu trong làng
báo Cà Mau. Số là, lúc ấy anh Sáu Kiên làm Tổng biên tập báo ảnh Đất Mũi.
Một hôm, khi triển khai kế hoạch làm báo tết, anh giao cho tổ phóng viên
ảnh phải chụp cho được hình ảnh con cá rô đang phóng lên đớp bông lúa
chín. Sau đó dân trong làng ảnh Cà Mau biến cái ý tưởng của anh Sáu Kiên
thành mẩu chuyện hài. Nhưng rồi mọi người cũng bất ngờ khi nghệ sĩ nhiếp
ảnh Lê Nguyễn đã làm được điều kỳ diệu đó. Anh vác cái ông kính tele 500
xuống U Minh rình rập suốt cả tuần, tốn gần chục cuốn phim để thực hiện
một cách trọn vẹn ý đồ của Tổng biên tập.
Ơ Cà Mau, trong những lúc trà dư tửu hậu, hễ nhắc đến cá rô thì mỗi
người một chuyện, thi nhau mà kể, người sống nhiều thì kể nhiều, hàng ngàn
chuyện về sự trù phú của cá rô.
Có lần chú Sáu Dân về làm việc. Khi ngồi nghe một vị lãnh đạo tỉnh
báo cáo về các mô hình kinh tế, trong đó có mô hình nuôi cá chép, cá mè, cá
trắm cỏ. . . Chú Sáu gạt ngang: Ở xứ nầy phải nói rằng món ăn hàng đầu là
cá rô kho xoong đất, tại sao các anh không tính đến chuyện phát triển con cá
rô. Các loại cá công nghiệp hãy để cho xứ khác người ta làm.
Sau chuyện ấy, nhiều người giật mình nhớ ra chuyện khác. Hồi chú
Sáu Dân còn làm bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông đã chủ trương
cho người xuống Cà Mau mua hàng chục tấn trái đước về trồng ở Cần Giờ.
Gần hai mươi năm sau, khi ông đang làm Thủ tướng, lúc ấy rừng đước Cần
Giờ đã thành khu du lịch sinh thái nổi tiếng thì rừng đước Cà Mau cũng đến
hồi cạn kiệt. Trong một chuyến về Cà Mau, ông nói: Mấy anh có cần mua
trái đước về trồng lại rừng thì lên Cần Giờ tôi bán lại cho.
Chiều nay, bổng dưng anh Nguyễn Bé – Tổng biên tập báo Cà Mau –
gọi điện cho tôi, giọng anh vừa có hơi men rượu, vừa có chút nghẹn ngào.
Anh hỏi tôi còn nhớ câu chuyện chú Sáu Dân nhã ý bán trái đước giống của
Cần Giờ cho Cà Mau trồng lại rừng ngập mặn Năm Căn không, tôi nói sao
lại không, nhưng mà nhắc lại để làm gì. Nguyễn Bé không trả lời tôi mà nói
vắn tắt rằng, Cà Mau vừa xuất ngân sách ra mấy chục triệu đồng để lên tỉnh
Đồng Nai mua hai tấn cá rô giống về thả xuống các lâm trường ở rừng U
Minh hạ.
-Chỉ nói cho mầy nghe vậy thôi, cúp máy nghen !
Trong câu nói sau cùng, tôi biết bạn tôi đang khóc. Một người yêu quê
hương xứ sở , yêu ruộng đồng đến cuồng say, đến cực đoan như vậy thì
không thể nào chịu đựng nổi khi thấy con cá rô lội ngược từ xứ Đồng Nai về
để làm giống cho xứ U Minh.

10
Mùa trái mắm

Bắt đầu từ tháng mười âm lịch, trái mắm rụng đầy các kinh rạch
rồi theo nước ròng trôi ra sông Cửa Lớn, đổ ra cửa Ong Trang.
Trên đường đi, chúng tự nẩy mầm, ra rể và hút lấy phù sa. Khi
ra biển, gặp sóng, chúng tạt vào bãi và những hạt phù sa bám rễ
làm cho chúng nặng dần để tự xếp hàng đứng trên bãi biển. Cứ
thế, mỗi một mùa trái mắm là một dãi rừng mắm hình thành vài
trăm mét vươn ra biển tây để nối dài mũi đất Cà Mau.


Trước khi lên đường khởi quay bộ phim tài liệu “ Sông nước Cà Mau”,
đạo diễn Nguyễn Việt Hùng – Giám đốc hãng phim TFS – căn dặn chúng
tôi: “ Cố gắng quay cho được cái cảnh phóng lao cá dứa, làm phim về sông
nước xứ mình mà thiếu cảnh đó là tao xếp lọai C ráng chịu”.
Chúng tôi hiểu, lời đề nghị của anh không chỉ là một đòi hỏi về chất
liệu nghệ thuật cho một bộ phim mà nó xuất phát từ một nỗi hòai nhớ trong
ký ức xa xôi: Thời chiến tranh, anh là một nhà quay phim trẻ, từng bám theo
những mùa trái mắm, những trận săn tàu trên dòng sông Cửa Lớn – Năm
Căn
Sông Cửa Lớn – theo một tài liệu của Calipso – là một trong một trăm
dòng sông lớn nhất trên thế giới. Song, điều lạ lùng của con sông nầy là nó
không có thượng nguồn và cũng không có hạ nguồn. Nghĩa là nó bắt nguồn
từ biển đông – tức cửa Bồ Đề – và đổ về biển tây – tức cửa Ông Trang, cắt
khu rừng ngập mặn Năm Căn ra làm hai mảnh. Một mảnh giáp với đất liền,
một mảnh giáp với biển đông và biển tây như ốc đảo từ mũi Cà Mau đến
Thủ Tam Giang.
Trong chiến tranh, cái ốc đảo nầy là vùng căn cứ, là cái bến cuối cùng
của đường Hồ Chí Minh trên biển, để từ đó, vũ khí được cung cấp cho chiến
trường miền tây Nam bộ. Năm 1972, người Mỹ đã mở ra cái gọi là chiến
thuật hạm đội nhỏ trên sông. Nghĩa là bình quân 15 phút thì có một tàu
chiến chạy qua dòng sông Cửa Lớn để nã đạn pháo lên hai bên bìa rừng và
để phong tỏa dòng sông nhằm cắt đứt giao thông giữa các vùng dân cư với
vùng căn cứ. Cái cảnh cất nước từng lon, đói ăn trái mắm bắt đầu từ đó.
Trái mắm đã một thời thay cho lương thực. Nhưng để ăn được, người ta phải
luộc đi luộc lại năm bảy lần cho trái mắm không còn vị đắng rồi chế biến
thành nhiều thứ bánh, chè giống như bột đậu xanh.
11
Những bài hát, bài thơ về mùa trái mắm cũng từ đó ra đời.
Nhưng chuyện ấy rồi cũng mau quên. Mùa trái mắm giờ đây chỉ còn sâu
đậm trong ký ức của người Cà Mau xa quê vì nó gắn liền với mùa săn cá
dứa.
Cây mắm bắt đầu ra trái từ tháng sáu âm lịch và kéo dài cho đến cuối
năm. Hai tháng cuối cùng là mùa trái rụng. Đó cũng chính là mùa săn cá
dứa, mùa vui nhộn nhất trên sông Cửa Lớn, đặc biệt là ở Thủ Tam Giang,
đoạn sông lớn gần cửa Bồ Đề. Các cụ già ở đây kể rằng, vào khoảng tháng
mười âm lịch, trái mắm rụng trôi bèo sông, cá dứa từ biển kéo từng đàn vào
ăn trái mắm, chúng ăn rất hổn hào như cá tra nuôi. Trái mắm giàu đạm,
vitamin, chất béo và một lọai chất an thần nên khi ăm no, cá dứa bị say, nằm
đưa bụng lờ đờ trên mặt nước. Người thợ săn một tay lạo máy chèo, một tay
cầm cây lao, mắt đăm đăm nhìn về phía trước. Khi cây lao bay vút khỏi tầm
tay – người thợ tài nghệ có thể phóng chính xác từ tám đến mười hai mét –
mũi lao ba ngạnh đâm vào bụng cá dứa, nhìn cần lao tre lắc lư trên mặt
sông, người thợ săn cứ để con cá vẩy vùng đến khi đuối sức. Cá dứa mắc lao
thường là cá to, mỗi con từ năm bảy ký. Người thợ giỏi có thể săn được năm
bảy chục con trong một con nước lớn, tức từ lúc ban mai cho đến hết sương
mù.
Mùa trái mắm là thế.
Và hơn thế nữa, mùa trái mắm còn là dấu ấn bồi đắp cho mũi Cà Mau
mỗi năm dài thêm hàng trăm mét.
Nhiều người nói một cách hình tượng rằng, mắm là loài cây đi tiên
phong lấn biển để mở mang bờ cõi.
Các nhà khoa học lâm sinh thì nói rằng, trong quy luật diễn thế của rừng
ngập mặn, sự xuất hiện đầu tiên là cây mắm. Mắm có vai trò ổn định đất và
khi đất được ổn định thì rừng đước hình thành. Nhưng từ thế hệ rừng mắm
sang thế hệ rừng đước phải mất ba mươi năm. Đã có lần, người ta lập một dự
án điều chế rừng ngập mặn khá quy mô để rút ngắm quy luật diễn thế tự
nhiên ấy bằng cách chặt bỏ rừng mắm để trồng đước. Họ lý giải rằng sự tồn
tại của rừng mắm trong ba mươi năm ấy không mang lại hiệu quả kinh tế.
Song, không thấy ai đặt vấn đề ngược lại rằng nếu chặt bỏ rừng mắm thì lấy
đâu ra trái mắm để lấn biển, để mở đất và để ổn định đất cho rừng đước hình
thành, để tạo nên cái quy luật diễn thế tự nhiên đẹp như huyền thoại ấy ?
Như đã nói trên, bắt đầu từ tháng mười âm lịch, trái mắm rụng đầy các
kinh rạch rồi theo nước ròng trôi ra sông Cửa Lớn, đổ ra cửa Ông Trang.
Trên đường đi, chúng tự nẩy mầm, ra rể và hút lấy phù sa. Khi ra biển, gặp
12
sóng, chúng tạt vào bãi và những hạt phù sa bám rễ làm cho chúng nặng dần
để tự xếp hàng đứng trên bãi biển. Cứ thế, mỗi một mùa trái mắm là một dãi
rừng mắm hình thành vài trăm mét vươn ra biển tây để nối dài mũi đất Cà
Mau. Đứng từ biển khơi nhìn vào, ta có thể thấy những lớp rừng từ thấp đến
cao như những tầng ruộng bậc thang trên núi. Mỗi một tầng như thế là dấu
ấn của một mùa trái mắm, là cuộc hành trình của một loài cây như đoàn
quân đi mở cõi.
Đoàn phim chúng tôi trở lại Tam Giang, cửa Bồ Đề, cũng vào tháng
mười âm lịch. Nơi đây ngày xưa vào những sáng tinh mơ, khi sương mù
lãng đãng, dòng sông như ngày hội phóng lao. Rừng âm u, sương âm u, từng
giề trái mắm trôi lều bều trên mặt sông, từng tốp, từng tốp thợ săn, tay lạo
xuồng, tay cầm lao ẩn hiện trong màn sương tạo thành bức tranh lụa hòanh
tráng, mượt mà, lung inh, huyền ảo. Bây giờ, tất cả đã trở thành chuyện kể.
Rừng không còn, sương sớm cũng không còn, tái mắm cũng không còn.
Sông Cửa lớn ồn ào, tấp nập bởi ca-nô, vỏ tốc hành, vỏ compusic, máy xe,
máy Honda, Robin, BS đủ thứ mã lực thay nhau, đua nhau tung trắng nước
những dòng sông.
Chúng tôi đi tìm anh Lẹt, một tay sát thủ cá dứa và thú rừng một thời
vang bóng. Nhà của Lẹt ngày xưa khuất trong bạt ngàn cây mắm. Giờ nó
chơ vơ giữa những vuông tôm. Trước mắt chúng tôi, con “người rừng” ngày
xưa giờ mang đậm màu sắc thị trường: Đầu đinh, quần jean, áo thun sặc sở
đang ngồi dưới vỏ compusic, máy honda 11, tay cầm điện thọai di động,
miệng gào thét giá cả với chủ vựa tôm. Khi chúng tôi ngỏ lời nhờ anh đi
phóng lao cá dứa để quay phim, Lẹt cười khinh khỉnh: “ Các anh muốn
phóng cự ly bao nhiêu, tám mét hay mười lăm mét cũng được, miễn tìm cho
tôi một con cá dứa . . . chuyện đó xưa như trái đất rồi cha nội ơi !”. Nói
xong, Lẹt giật dây cho máy nổ rồi vẫy tay chào, để lại làn nước tung tóe phía
sau.
Suốt hai buổi chiều, chúng tôi thuê chiếc đò dọc dầm mưa bám theo
những chiếc ghe câu từ Tam Giang ra cửa Bồ Đề mới mua được hai con cá
dứa to chừng ba ký. Chiều hôm ấy, sau khi nhờ các anh ở ủy ban xã tìm
kiếm được hai anh thợ săn, hai chiếc xuồng chèo và hai cây lao, chúng tôi
nhét đầy mốp xốp vào bụng hai con cá dứa để chuẩn bị cho những khung
hình. Cuối cùng cũng có một trường đọan phóng lao cá dứa trên sông Cửa
Lớn.
Phim đã phát sóng nhiều lần, chúng tôi đã lừa được số đông khán giả.
Nhưng chắc chắn không thể lừa được những người đã từng sống qua những
mùa trái mắm ở Năm Căn.
13
Đi tìm mùa len trâu

Hồi ấy, trước nhà tôi là một cánh đồng năn ngút
ngàn xanh đến tận chân trời. Từ sau mùa cấy đến đầu mùa
gặt là khỏang thời gian con trâu được phép nghỉ ngơi. Chủ
trâu từ tứ xứ đưa chúng đến để hưởng thụ cỏ non, để bù
đắp công sức sau một mùa cày và để lấy sức cho mùa cộ
lúa.


Năm 1997, hãng phim Giải phóng giao cho chúng tôi thực hiện bộ
phim tài liệu về con trâu. Bấy giờ là mùa sa mưa, đồng ruộng bắt đầu loang
lóang nước. Chúng tôi thực hiện những cảnh quay đầu tiên tại ấp Đồng Sậy,
thuộc huyện Thới Bình – Cà Mau. Chiều hôm ấy, sau khi nghe chúng tôi
trình bày những yêu cầu về một hiện trường, anh Khánh – trưởng ban nhân
dân ấp – liền chèo xuồng đi rước mấy người chủ trâu trong xóm đến nhậu.
Sáng hôm sau, một cánh đồng vào mùa diễn ra y như thật: Trâu cày, trâu
bừa, trâu trục, trâu nhơi cỏ, tiếng ví thá vang đồng của người nông dân, tiếng
nghé ngọ của những chú mục đồng . . . tất cả chỉ là diễn, diễn mà như thật,
thật đến nổi diễn viên chuyên nghiệp chưa chắc đã diễn bằng.
Sau cảnh quay ấy, tất cả nông cụ được chuyển lên xuồng để đưa vào
kho, đàn trâu tự do ăn cỏ. Bất chợt, một chiếc máy cày chạy ra đồng, lao vào
giữa đàn trâu. Những con trâu hỏang hồn bỏ chạy, có con ngơ ngác đứng
nhìn chiếc máy cày. Chúng tôi thu được những khung hình vô cùng đắt giá
mà không hề tính trước, cũng không có trong kịch bản. Đó là hình ảnh “đi
chổ khác chơi” của một kiếp trâu khi cơ giới nông nghiệp ra đời.
Ba tháng sau, lúa phủ xanh đồng, sắp sửa vào mùa nước nổi, chúng
tôi về Hồng Dân, Bạc Liêu để quay cảnh mùa len trâu. Nhưng suốt ba ngày
lang thang trên cánh đồng chó ngáp, chúng tôi chẳng tìm đâu ra một cánh
đồng hoang, cánh đồng đầy trâu như thời thơ ấu của mình. Những vuông
tôm chằng chịt như bàn cờ, những dòng kinh, những bờ đê thẳng tấp, những
dãy nhà ngói đỏ giăng giăng. Những thằng Thành, thằng Lập, thằng Nam,
những bác Hai, chị Vân, chị Cúc của một thời chăn trâu khét nắng bây giờ
nói chuyện vàng cây vàng lá sau mỗi vụ tôm.
Hóa ra mình chính là người lạc hậu, cứ ngỡ về đây sẽ gặp lại mùa
len trâu như gặp lại tuổi thơ mình. Hồi ấy, trước nhà tôi là một cánh đồng
năn ngút ngàn xanh đến tận chân trời. Từ sau mùa cấy đến mùa gặt là
14
khỏang thời gian con trâu được phép nghỉ ngơi. Chủ trâu từ tứ xứ đưa chúng
đến để hưởng thụ cỏ non, để bù đắp công sức sau một mùa cày và để lấy sức
cho mùa cộ lúa. Ơ đây có những người chăn trâu chuyên nghiệp, mỗi người
có thể lãnh chăn một trăm, hai trăm con trâu tùy theo sức của mình. Chẳng
hiểu từ khi nào và lý do gì, người ta gọi đó là mùa len trâu. Khi trâu đã nhập
thành bầy, những con trâu đực cổ bắt đầu nghinh chiến, chúng đấu nhau
quyết liệt để giành ngôi vị cầm bầy, xem ra cũng giống hệt như những đại
ca tranh quyền cai trị trong giới xã hội đen. Lúc bấy giờ, người chăn trâu chỉ
cần quản con trâu cầm bầy là quản được tất cả. Và, bản thân chúng cũng tự
biết bầy đàn của mình để không lẩn lộn với những bầy trâu khác. Khi gió
bấc bắt đầu rao ngọn cũng là lúc trâu nhớ nhà nhớ chủ, chúng ngơ ngác,
ngóng trông rồi tự động tách bầy để lặn lội về quê. Người chăn trâu cực nhất
là lúc ấy, phải cột dây mũi chúng vào cọc để chờ ngày chủ đến đón. Trong
mối quan hệ giữa chủ trâu và người chăn trâu cũng có những quy định bất
thành văn. Ví dụ như trâu chết do dịch bệnh hay do bom đạn chiến tranh thì
chỉ cần báo ngay cho chủ biết mà không phải bồi thường. Công giữ mỗi con
trâu trong một mùa được tính bằng lúa, nếu trâu ốm sẽ bị trừ công và mùa
sau họ giao cho người khác giữ. Có những chủ trâu tốt bụng, khi đến đón
trâu về, họ tặng cho người chăn trâu áo quần và bánh mứt.
Hồi ấy tôi thèm có một đôi trâu nhưng chỉ là mơ ước. Người ta nói:
Nhịn thuốc mua trâu, nhịn trầu mua đất. Đất với trâu là thước đo giá trị tài
sản của nhà nông. Uy thế, địa vị của người nông dân trong làng xóm, trong
cộng đồng phụ thuộc vào số lượng trâu và đất. Không có đất, không có trâu,
tôi luôn luôn thấy mình thấp hèn, nhỏ bé trong quan hệ bạn bè.
Bây giờ, trở về quê cũ tìm trâu để quay phim, lại bị bạn bè xưa cười
chê mình ngây ngô, rồ dại. Thằng bạn tôi nói: : “Trâu hả, xưa rồi Diễm, ngay
cả chiếc máy cày, mấy mươi năm trước nó là niềm mơ ước của nông dân xứ
mình, bây giờ mầy thấy đó, chỉ là đống sắt vụn”. Nó vừa nói vừa chỉ tay ra
sau hè, chổ mái hiên che chiếc máy cày đầy nhện giăng và bụi bám.
Tôi nghe mừng cho bà con, một sự đổi đời mà tôi chưa bao giờ nghĩ
tới. Nhưng tiếc cho bộ phim của mình, nếu không có cảnh mùa len trâu thì
không thể gọi là phim.
May thay, một hôm tình cờ ghé vào một tiệm ảnh ở Cà Mau, thấy
nghệ sĩ nhiếp ảnh Nam Sơn phóng một cuốn phim tòan là trâu. Trời ạ, đúng
là trâu len ! Tôi hỏi ông chụp cái nầy ở đâu vậy. Sơn nói: “ Cũng tình cờ
thôi, hôm nọ về Cái Tàu mua đất, tình cờ gặp một cánh đồng hoang . . .” Rồi
Sơn nhìn tôi trân trân: “ Ông làm gì mà thấy trâu mừng hơn thấy vàng vậy
?”. Tôi nói: “ Thì vàng đây chớ còn gì nữa”.
Không cần phải báo với hãng phim, tôi thuê chiếc caméra M9000 rồi
nhờ anh phóng viên của đài truyền hình đi ngay xuống vàm Cái Tàu bằng đò
15
dọc. Thì ra, ở phía sau dòng sông Trẹm còn có một mùa len trâu “thu nhỏ”:
Một cánh đồng năn chật hẹp, một đàn trâu năm bảy chục con, một thằng bé
đầu tóc bù xù, vàng hoe bơi xuồng lùa trâu trong nắng chiều lấp lánh. Tôi
chợt nhớ đến Hòang Anh Việt, một nhà thơ đã gát bút về với ruộng đồng:
Có thể rồi tôi đi làm ruộng
Cây phảng trên vai, cơm nguội, mắm đồng
Nuôi con lớn khôn ba tôi chỉ cần có thế
Không vẩn đục cuộc đời, không gợn chút bon chen
Có thể rồi tôi đi giữ trâu len
Giữa mênh mông đồng cỏ năn, tôi với chiếc xuồng con làm bạn
Mái tóc bù tung vàng hoe cùng nắng
Nghe lỏm bỏm bước trâu về, lắng đọng những buồn vui.
Đó là bài thơ Việt viết cách nay gần hai mươi năm, trước khi anh bỏ
cơ quan Hội văn nghệ để về quê. Một bài thơ đẹp, một ước mơ đẹp. Nhưng
Việt bây giờ không phải làm ruộng, không phải giữ trâu len. Nghe nói anh
đang nuôi tôm sú ở Tân Thành, giàu lắm.














16
Nhớ đồng
Nhiều khi tôi tự vấn: tại sao mình không thể thiếu món cá trê kho khô
hoặc kho gừng trong mỗi bửa ăn, nhất là món cá trê kho sền sệt trong ui đất.
Dù là bạn bè mời đi ăn tiệc sang trọng ở nhà hàng, tôi cũng chỉ ăn qua loa
rồi lại quay về với cái mẻ cá trê kho.
Cứ mỗi lần đọc báo thấy bóng dáng của con cá đồng, và cứ mỗi năm
vào mùa gió chướng thì tôi lại nhớ đồng da diết. Trong nỗi nhớ miên man ấy
có một cái điểm dừng, cái dấu ấn sâu đậm nhất là đi bắt cá đồng vào buổi
chiều ba mươi tết, cách nay gần bốn chục năm.
Tôi lớn lên bên cánh đồng Chó Ngáp, cái tên ấy không biết có tự bao
giờ. Ba tôi giải thích rằng từ rất xa xưa, khi vùng đất nầy mới khẩn hoang,
có một gã thợ săn dẫn con chó đi qua đây, một cánh đồng năn mênh mông
đến nổi nhìn bốn phía chỉ thấy đường chân trời, con chó đi qua phải ngáp
vắn ngáp dài nên gã thợ săn ấy đặt tên là đồng Chó Ngáp.
Xóm tôi ở có tên gọi là Thất Giồng Bớm. Nguồn gốc của địa danh nầy
thì tôi không cần ai giải thích, bởi cách nhà tôi không xa là cái Tòa Thánh
Cao Đài Hậu Giang đã bị Pháp đánh bom sụp đổ, còn lại mấy bức tường, và
trên một bức tường cao có một cây gừa cổ thụ. Nó là dấu ấn của quê hương,
bởi những ai đi xa khi trở về thì hình ảnh đầu tiên lọt vô tầm mắt chính là
bóng dáng của cây gừa. Còn hai chữ Giồng Bớm thì là một giồng đất bên
cạnh Tòa Thánh mọc tòan là cây bướm gai. Gọi trại thành Giồng Bớm, hay
nói đúng hơn là dân quê thường hay bỏ bớt một vài phụ âm cho dễ gọi.
Tôi sống trên cánh đồng nầy từ năm ba tuổi cho đến hết chiến tranh,
cho nên mọi cái bắt đầu cho nhận thức của con người từ trực quan đến tư
duy cũng là cánh đồng nầy. Một cánh đồng của chiến tranh và nghèo khó.
Chiến tranh là tử-biệt-sinh-ly, ở đâu cũng thế. Nhưng sự nghèo khó thì
mỗi nơi mỗi khác, bởi cuộc mưu sinh nó gắn liền với sông nước, đất đai, cỏ
cây và sản vật của mỗi vùng. Sống với thiên nhiên, có cái gì ăn cái nấy nên
lớn lên đi xa, mỗi con người mang theo một quê hương với những hình ảnh
khác nhau.
Vậy thì xứ tôi, cái đồng Chó Ngáp ấy, sự giàu có nhất của thiên nhiên
là con cá trê vàng.
Khác với miệt vườn, đồng Chó Ngáp là xứ đồng khô cỏ cháy cho nên
gần Tết năm nào lũ trẻ chúng tôi cũng đổ xô đi tìm lá chuối lá dừa để gói
bánh mà chẳng đủ đâu. Tuy vậy, nhà nào cũng gói cho bằng được năm bảy
chục bánh ích để cúng ông bà, phần bột ướp đường mía còn lại đem đúc
trong cái dĩa nhôm rồi phơi khô, gọi là bánh tổ. An hết bánh ích, lấy bánh tổ
ra cắt từng miếng mỏng, bỏ vô chảo mỡ chiên cho mềm ra, hơi phồng lên
một chút, ăn cũng ngon lành qua ba ngày tết.
17
Thiếu bánh, thiếu mứt là vậy nhưng cá thì không bao giờ thiếu. Tôi
nhớ năm ấy hình như tôi khoảng năm sáu tuổi. Chiều ba mươi Tết, ba tôi dẫn
tôi ra ruộng bắt cá trê vàng về rọng để Tết ăn. Ông xách theo một cái thùng
thiếc, loại thùng dầu lửa con sò mà hồi ấy, hầu như nhà nào cũng có. Cánh
đồng lúc ấy lúa mùa đang chín tới, có chổ khô, chổ còn xem xép nước. Đứng
trên bờ mẫu, ba tôi chắp hai tay sau lưng, nhìn mênh mông như chiêm
nghiệm một điều gì. Tôi biết ở những chổ đất trũng, lúa sập, chổ nào cũng
đầy cá mắc cạn vì chúng không kịp xuống đìa. Nhưng ba tôi thì có nhiều
kinh nghiệm, ông biết được dưới những cái trũng ấy, chổ nào cá lóc, chổ nào
cá trê, chổ nào cá rô và cá sặc.
Nhìn một lúc, ông vẫy tôi lội xuống cái bàu cạn giữa ruộng của chú
Bảy Nhiều. Quả nhiên là ông đoán đúng. Đi gần tới đã nghe tiếng cá trê ục
ục. Một cái bàu cạn bằng ba cái nền nhà, nước còn xem xép chừng một tấc.
Nghe tiếng động, cá trê chui vào ém trong gốc lúa sập. Ba tôi chỉ làm một
động tác rất đơn giản: úp nhẹ hai bàn tay lên gốc lúa rồi từ từ moi ra một con
cá trê vàng, con nào con nấy lớn hơn bắp tay, mập ú và vàng như nghệ.
Mặt trời sắp lặn, nhìn thùng cá sắp đầy, ba tôi nói thôi, bắt một hồi
nữa làm sao xách nổi.
Khi tôi biết thế nào là Tết thì đó là cái Tết đầu tiên, ngày nào cũng ăn
cá trê vàng nướng dầm với nước mắm gừng.
Mẹ tôi nói rằng ba tôi là một người sát cá, đặc biệt là cá trê. Hồi luận
10/ 59 của Ngô Đình Diệm, ông ở tù với đầy đủ vật chứng của một cán bộ
nằm vùng, và để khỏi bị đưa lên máy chém, mẹ tôi phải chạy vay ba trăm giạ
lúa để lo hối lộ cho ty cảnh sát Bạc Liêu. Vậy mà khi ra tù, ba tôi chỉ giăng
hai mùa câu thì trả xong nợ. Theo mẹ tôi giải thích rằng vì cá trê vàng hồi ấy
có giá nhất trong các loại cá đồng. Đó là lý do vì sao ba tôi có kinh nghiệm
bắt cá trê vàng hơn các loài cá khác.
Có lần tôi thắc mắc rằng, giữa mênh mông đồng nước, khi miếng mồi
thả xuống thì có nhiều loài cá đến ăn, con nào đến trước thì ăn trước, làm
sao mà ba giăng câu chỉ dính toàn cá trê vàng. Ba tôi giải thích rằng: cá lóc,
cá rô thích ăn mồi chạy như cào cào, nhái, cua đồng nên chúng hay đi tìm
mồi cặp mé bờ và trên mặt nước. Con cá trê vàng hay vùi mỏ dưới bùn hoặc
quanh gốc lúa để tìm các loại côn trùng . Vì vậy, để miếng mồi câu chỉ dành
riêng cho cá trê, trước hết phải vét một vùng như cái lòng chảo, vuốt thật
láng, đặt miếng mồi ngay giữa. Vài phút sau bùn lắng xuống, che lấp miếng
mồi, các loài cá khác không nhìn thấy được, nhưng đó lại là chổ tìm mồi lý
tưởng của cá trê.
Thế rồi, một sáng tháng 5 năm 1967, sau một trận biệt kích của giặc,
mẹ tôi bảo mấy chị em tôi ở nhà vo gạo nấu cơm để bà đi thăm hàng xóm
coi có ai gặp mệnh hệ gì không. Bất ngờ tôi thấy mẹ tôi ngồi gục đầu trên bờ
18
đám mạ giữa cánh đồng. Chúng tôi chạy ùa ra. Mẹ tôi đang khoát nước tắm
cho ba tôi lần cuối cùng trên bờ mẩu. Ông mặc chiếc áo bà ba đen, hai mươi
vết đạn cạc-bin vừa xuyên qua ngực áo.
Những năm tiếp theo, tôi lao vào cuộc mưu sinh trên cánh đồng với
cái nghề cắm câu cá trê vàng do ba tôi để lại. Những chiều, khi xuống cần
câu sau cùng, tôi hay trở về nhẩn nha trên cái bờ mẩu ấy. Tôi lại ngồi trầm
ngâm giữa đồng lúa mênh mông nhưng không chỉ để chiêm nghiệm ra chổ
nào là nơi ẩn náo của cá trê, bởi cánh đồng giờ đây đã ghi thêm dấu ấn của
một kiếp người.
Hơn ba mươi năm xa quê, cứ mỗi lần đi chợ mua cá trê vàng, mỗi lần
lựa cá ngon, cá béo để mua, tôi cứ ngỡ như mình đang mua lại những con cá
của chính tôi. Bởi ngày xưa, sau mỗi buổi sáng thăm câu, tôi đều lựa những
con cá béo, cá ngon để bán, chừa cá dạt, cá chết lại ăn. Au đó cũng là quy
luật của cuộc mưu sinh, một quy luật bảo toàn sự sống.
Bây giờ thì tôi đã nghiệm ra, cái mẻ cá trê vàng kho sền sệt trước mặt
tôi trong mỗi bữa ăn, đó chính là sự tích tụ của cả một cánh đồng. Một cánh
đồng với mồi hôi nước mắt và cả máu của ba tôi, một cánh đồng của trọn
tuổi thơ tôi với bao mùa mưa nắng.

Sài gòn, tháng 11 năm 2003











19
Cái bếp và mối tình quê
Tháng chín năm ngoái, chúng tôi đi thực hiện bộ phim tài liệu về cuộc
đời sông nước ở miền Tây. Khi đến xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, chúng
tôi được chính quyền địa phương hướng dẫn đến nhà bác Hai Đường ở xóm
Bàu Dừa, một lão nông tri điền đã có mặt trên vùng đất nầy từ khi mới khẩn
hoang. Ngôi nhà bác Hai thuộc mẫu nhà truyền thống của vùng đồng bằng
sông Cửu Long, một ngôi nhà ngói ba gian kèm theo một căn chái đâm nóc
xuống sông mà dân gian hay gọi là nhà chữ đinh. Ơ nông thôn ngày nay,
nhiều gia đình khá giả xây nhà tường lợp ngói nhưng kiểu cách vẫn là sự
phiên bản từ ngôi nhà lá. Chỉ cần nhìn vào lối kiến trúc ấy thì ta có thể hiểu
ngay chủ nhân của nó là một lão nông tri điền.
Bác Hai Đường năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi, mái tóc trắng một
màu mây, gương mặt lúc nào cũng chứa đựng niềm vui và nụ cười đôn hậu.
Gặp chúng tôi, bác hỏi ngay những nhà quay phim lão thành thời chống Mỹ.
Bác nói, nhà bác ngày xưa giống như cái trụ sở của các cơ quan Văn học
Nghệ thuật khu Tây Nam bộ: Từ thông tấn báo chí đến điện ảnh, văn công
cứ đi về suốt ngày đêm, cái bếp lửa nhà bác không bao giờ tắt.
Khi tôi nói yêu cầu của chúng tôi đến đây là để nhờ bác giúp cho một số
cảnh quay, hình ảnh là một ông già tóc bạc bơi xuồng giăng lưới cá bổi dưới
kinh Bàu Dừa, nhưng cá mắc lưới phải thật nhiều như cái thời vàng son của
sông nước. Bác nói được thôi, nhưng phải làm cảnh giả chớ dưới sông bây
giờ làm gì còn cá bổi. Rồi bác bảo thằng Út mang tay lưới ra cái đìa cá nuôi
sau vườn giăng cá đem vô cho mấy anh mầy làm đạo cụ. Thực hiện xong
cảnh quay, bác bảo bác Hai gái và con dâu Út gở cá bổi ra chiên xù và nấu
canh chua.
Khi bắt đầu thân thiện như người nhà, tôi nhào vô làm bếp như một thói
quen. Và tôi giật mình nhận ra cái bếp nhà của bác Hai Đường, một mẫu bếp
quen thuộc mà kể từ khi làm dân thị thành đến giờ tôi không gặp: Cái khung
bếp đứng đóng bằng gỗ đước già bóng lộng, mặt bếp lót gạch tàu. Trên bếp
đặt một cái cà ràng và hai cái lò đất nung. Dưới bếp chất củi dừa thành hàng,
thẳng tấp. Từ chổ bếp nhìn lên mái nhà là một cái giàng treo lá dừa để dành
mồi lửa hoặc để nấu nước pha trà. Trên tấm vách bên phải là hai hàng chai
thủy tinh đựng muối và nước mắm. Tôi thử đếm có trên ba chục chai, mỗi
chai được úp lên một cái phễu bằng giấy tập học trò. Bên vách trái là một
dãy xoong, thau và chảo nhôm. Tất cả được xếp ngay hàng thẳng lối, cái lớn
theo hàng lớn, cái nhỏ theo hàng nhỏ. Dù chúng được nấu bằng củi nhưng
không thể tìm thấy cái xoong nào bị ám khói xung quanh. Tôi thử hỏi bác
gái vì sao đã có điện, có gas rồi mà vẫn còn xài bếp củi. Bác nói nhà có cả
20
nồi điện, bếp sas nhưng cất trong tủ, năm ngoái có xài mấy tháng nhưng thấy
bỏ củi vườn tiếc quá, vả lại chụm củi quen rồi.
Tôi gọi nhà quay phim Đào Anh Dũng ra ngoài để gợi ý về cái nhà bếp
của bác Hai Đường. Biết rằng những hình ảnh nầy sẽ không có trong những
thước phim về cuộc đời sông nước của chúng tôi, nhưng phải quay để dành
làm tư liệu, bởi lỡ mai kia mốt nọ khi cần, sẽ chẳng tìm đâu ra hình ảnh của
một cái bếp làng quê đúng nghĩa như thế nầy.
Lại thêm một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà phong phú. Khi chúng tôi
đang thực hiện những cảnh quay về cái bếp và chảo cá bổi chiên xù thì bác
gái sai con dâu Út lấy trái dừa ra nạo để hầm mấy nải chuối xiêm. Tiền cảnh
là nàng dâu và mẹ chồng, người lột chuối, người nạo dừa trên bộ ván, hậu
cảnh là cái bếp lửa bập bùng, một hàng xoong chảo lấp lánh phía sau.
Thấy chúng tôi làm việc có vẻ say sưa, quay cận cảnh từng chi tiết
trong nhà bếp, bác Hai gái nói: Hồi xưa, cũng vì cái bếp mà tao mới được về
làm vợ bác Hai mầy. Con dâu Út nhìn bà mẹ chồng rồi cười nói: Bởi vậy cho
nên bây giờ má vẫn bắt con nấu củi, không cho xài điện, xài gas. Bác gái lại
nói vui: Ráng chịu cực đi con, vài năm nữa má theo ông theo bà rồi muốn
xài cái gì đó thì xài. Con dâu Út lại nói như mắc cỡ: Nói chơi cho vui vậy
chớ nếu con không giỏi chuyện bếp nút thì còn lâu mới được về đây làm dâu
của má.
Đến lúc trà dư tửu hậu, men rượu ngây người, bác Hai Đường bắt đầu
tâm sự. Bác hỏi tôi có biết cô Năm Dung ngày xưa công tác ở Hội Phụ nữ
tỉnh không, tôi nói có phải cô Dung nhà ở Bạc Liêu, đã mất cách nay mấy
năm. Bác nói đúng rồi, hồi cô Dung mất, bác và bác Hai gái đứng ra tổ chức
đám tang, lo chôn cất chu đáo. Đối với bác, cô Dung là mối tình đầu mà suốt
cuộc đời bác không bao giờ quên được. Tôi chưa từng thấy ông già nào ở
từng tuổi ấy mà kể về mối tình đầu một cách ngậm ngùi như kẻ đang yêu, lại
kể trước mặt người vợ của mình. Thế nhưng bác Hai gái chẳng những không
buồn mà còn kể theo bằng tấm lòng chia sẻ: Cũng tại cái bếp, chớ nếu không
thì ổng với cô Dung thành vợ thành chồng rồi, đâu đến lượt tôi.
Bác Hai Đường kể, ngày xưa bác với cô Dung yêu nhau say đắm, mối
tình kéo dài hơn hai năm trời nhưng cha mẹ bác nhất quyết không cho cưới.
Bà lão nói rằng cô Dung tuy đẹp người đẹp nết nhưng chuyện bếp nút rất lôi
thôi. Bước vào nhà sau lúc nào cũng thấy bụi tro, củi tàn đầy trên bếp, cái
xoong một nơi, cái thau một nẽo, nồi niu dính đầy lọ nghẹ. Cơm thừa cá cặn
cứ để trong xoong trong chảo mặc cho mèo liếm, chó tha. Chén đũa thì tứ
tung, bừa bãi.
Ơ nông thôn, không chỉ ngày xưa mà ngay cả bây giờ, mấy ông già bà
cả luôn xem cái bếp là tiêu chuẩn hàng đầu để làm thước đo công-dung-
ngôn-hạnh của người con gái. Bác Hai Đường nói rằng cô Dung hồi ấy đúng
21
là hơi bê bối trong việc bếp nút, cô hay đi sớm về khuya, suốt ngày cứ thấy
cô trên chiếc xuồng chèo từ sông nầy qua rạch khác.
Một đêm nọ, cô Dung hẹn bác Hai Đường đến một ngã ba sông để chia
tay, không phải lấy chồng mà cô vào vùng căn cứ kháng chiến. Lúc bấy giờ,
bác Hai mới hiểu ra rằng cô Dung không phải là người phụ nữ của gia đình.
Dù đã muộn nhưng bác vẫn về thanh minh với mẹ cha. Nhưng bà cụ lại bảo:
Con gái mà làm cán bộ lại càng không được, nhà mình là nông dân, cần
phải có con dâu biết lo bếp nút. Cưới con dâu làm cán bộ, lâu lâu nó xẹt về
nhà hỏi bà già chồng “cái địa điểm gạo” ở đâu, làm sao tao chịu nổi.Một
năm sau, bác Hai bị ép đi cưới vợ, một người vợ có đủ tiêu chuẩn do cha mẹ
mình lựa chọn. Bác không chê vào đâu được, nhưng bác không yêu, bác vẫn
còn nhớ cô Dung. Một hôm, bác đưa vợ về quê thăm cha mẹ. Chèo được
một đoạn đường, bác ghé xuồng lại dưới một bóng cây và nghiêm chỉnh nói:
Mấy tháng qua, kể từ ngày cưới đến nay tôi chưa bao giờ đụng tới người em,
em có biết vì sao không ? Vì tôi không yêu em nên tôi muốn giữ cho em còn
nguyên vẹn để em lấy người chồng khác, em đừng trách tôi, hãy tha thứ cho
tôi. Tình cảm không thể nào miển cưỡng.
Người con gái ấy quẹt nước mắt bước lên bờ đi về nhà cha mẹ ruột. Bác
trở về thú thật với cha mẹ mình. Cuối cùng rồi ông bà cũng bỏ qua mọi
chuyện. Chỉ có cô Dung là bác không tìm lại được.
Gần ba năm sau, khi những chuyện phiền hà đã phôi pha, ông bà cụ mới
đi cưới cho bác Hai Đường người vợ khác, một cô gái cũng đẹp người đẹp
nết, chẳng những giỏi dang chuyện bếp nút, may vá, thêu thùa mà còn là cô
thợ cấy nổi tiếng ở xóm Bàu Dừa. Đó chính là bác gái bây giờ đang ngồi
cạnh chúng tôi. Bác kể, trước khi làm đám hỏi, bác trai đã tâm sự hết mọi
chuyện đã qua để bác cùng chia sẻ. Vì vậy mà khi về làm dâu, bác phải luôn
luôn chăm chút cái bếp để vừa ý cha mẹ chồng, vừa phải cố gắng bù đắp lại
những mất mác trong tình cảm của bác trai. Rồi bác nói vui : Nhờ vậy mà
ổng không giữ cho tao còn nguyên để đem xuống xuồng chở về trả cho cha
mẹ.
Bác trai cười ngượng ngùng rồi kể tiếp : Sau đồng khởi, xóm Bàu Dừa
được chọn làm vùng căn cứ, cô Dung có trở lại đôi lần, nhưng bây giờ mọi
sự đã đổi thay, ai cũng đã có chồng, có vợ và vợ chồng cô Dung trở thành
em kết nghĩa của vợ chồng bác Hai Đường.
Rồi chồng cô Dung hy sinh, để lại ba đứa con, một trai hai gái. Sau giải
phóng, cô về Bạc Liêu công tác, vừa nuôi con ăn học. Thỉnh thoảng, vợ
chồng bác Hai Đường vượt cả trăm cây số lên thăm, mang gạo, mang dừa,
mang khô bổi lên làm quà.
Tôi kể cho bác Hai nghe rằng hồi năm 1994, khi tôi làm bộ phim tài
liệu Tấm lòng Đất Mũi thì cô Năm Dung là một nhân chứng của nhiều câu
22
chuyện cảm động về sự hy sinh của người phụ nữ trong chiến tranh. Tôi có
đến nhà cô hai lần để thu hình, ăn hai bửa cơm. Tôi còn nhớ cái bếp nhà cô
cũng sạch đẹp và ngăn nắp giống như cái bếp nhà bác Hai Đường. Chỉ có
khác là cô xài than đước, ba cái lò than lộng trong xô nhôm trắng bóng.
Một năm sau, tôi được tin cô năm Dung qua đời vì chứng bệnh ung thư
gan, lúc ấy tôi đang ở xa nên không kịp về để tiễn cô, một người đã tận tình
để lại trong bộ phim của tôi những khung hình vô giá . Bác Hai Đường kể
rằng, ngày cô Dung lìa trần, bác và bác Hai gái đã trực tiếp đứng ra lo ma
chay tống táng.
Kể cho chúng tôi nghe câu chuyện tình gần năm mươi năm ấy, trong
đôi mắt trũng sâu của ông già vẫn còn đọng những ngấn nước long lanh. Bác
Hai gái ngồi cạnh ông, bà buông một câu trong sự ngậm ngùi: Tội nghiệp
mấy đứa nhỏ con cô Dung, cả năm rồi tôi không lên thăm tụi nó.
Trước lúc chia tay, tôi định hỏi bác gái rằng, việc bác cất cái nồi điện và
cái bếp gas trong tủ để xài bếp củi có liên quan gì đến câu chuyện tình năm
cũ của bác trai không. Nhưng ngẫm đi nghĩ lại rồi thôi, tôi không dám hỏi.














23
Đi lãnh nhuận bút với Nhà văn Sơn
Nam

Đúng hẹn để nhận bài cho báo Tết, tôi gọi điện thoại đến nhà truyền
thống quận Gò Vấp xin gặp nhà văn Sơn Nam. Bên kia đầu dây, ông trả lời
ngắn gọn: “Cho hẹn lại sáng mai nghen, sáng nay mắc ra báo Công an
mượn tiền xài, hiện giờ trong túi chỉ còn mấy chục đồng”. Tôi nói: “Vậy thì
tía ở đó đợi con vào chở tía đi”
Khi ngồi sau lưng tôi trên chiếc honda, ông nói: “ Sáng nay có mấy cô ký
giả trẻ đến hạch hỏi mấy tiếng đồng hồ, trả lời muốn khan cổ họng mà
chẳng có đồng xu. Nhưng kể ra cũng tội nghiệp tụi nó, sinh viên từ miền Tây
mới ra trường, đang thử việc, không có bài hay thì chủ báo không ký hợp
đồng nên ráng giúp tụi nó”.
Phỏng vấn, kể chuyện là phải trả tiền, gần như đó là nguyên tắc của ông –
một người cả đời chỉ sống bằng nghề viết – Bởi những tư liệu mà ông có
được, ông cũng phải tốn tiền. Ông kể, ngày xưa, ngay từ khi ông viết Lịch sử
khẩn hoang miền Nam, sở dĩ ông có nhiều tư liệu quý là vì mỗi khi vào thư
viện ông đều tặng phong bì cho thủ thư nên họ rất nhiệt tình. Ông nói cụ
Vương Hồng Sễn là một người rất sòng phẳng trong chuyện ấy, mỗi khi đến
nhà cụ để đọc và ghi chép tài liệu hoặc nhờ cụ trả lời một vấn đề gì, trước
khi ra về, dù ít hay nhiều cũng phải để lại một cái bao thư. Lý giải về sự
sòng phẳng ấy, ông nói rằng, mình viết bài đăng báo được lãnh nhuận bút thì
không lý do gì bắt người khác phải cung phụng cho mình.
Tôi kể cho ông nghe rằng cách nay ba ngày, trong một tham luận đọc tại
hội nghị những người viết văn trẻ của thành phố, nhà thơ Nguyễn Trọng Tín
có nói về một nền văn học ăn lương, đại khái rằng có những người suốt đời
được trả lương để làm văn học nhưng chưa hẳn là có lợi cho văn chương.
Nghe xong, ông cười có vẻ tâm đắc lắm: “ Cái thằng đó hay à ! Nói vậy là
nó loại trừ tôi ra”
Cả một đời gắn bó với văn chương, ông đã tự mình làm nên một Sơn
Nam cho nền văn học – nói theo nghĩa một nền văn học ăn lương của
Nguyễn Trọng Tín – bây giời, khi ông ngồi sau lưng tôi đi đến một Tòa báo
để mượn tiền xài, tôi chợt ngậm ngùi nhận ra ông thiếu đi nhiều thứ so với
một thường dân : Cả đời không biết chạy xe, dù là xe đạp, tròn năm mươi
năm qua sống trên đất Sài Gòn, ông chỉ biết đi bộ, đi xe buýt, xích lô và xe
honda ôm; không có nơi tiếp khách dù là khách của ông ngày nào cũng có;
không có điện thoại, dù là điện thoại bàn; cho đến bây giờ, ông vẫn viết bằng
24
tay hoặc chiếc máy chữ mini mà tuổi thọ của nó cũng xấp xỉ tuổi nghề của
ông.
Hồi tòa soạn báo Văn nghệ thành phố còn ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa,
mỗi sáng ông từ nhà tới đó ngồi uống café trong căn-tin đến 9 giờ, đó là
khoảng thời gian ông tiếp khách. Hay nói đúng hơn đó là văn phòng giao
dịch của ông để giao và nhận bài cho các cơ quan báo chí trong nước, và cả
nước ngoài. Khi báo Văn nghệ dời đi cũng là lúc ông bỏ nhà đi lang thang vì
chuyện cơm không lành, canh không ngọt. Từ đó văn phòng giao dịch của
ông dời về quán café trong khuôn viên nhà truyền thống quận Gò Vấp, gần
chục năm nay. Bây giờ ông đã trở về với mái ấm gia đình, nhưng địa chỉ văn
hóa của ông vẫn còn chỗ cũ. Mỗi sáng, lúc 7 giờ 30, ông lên xe honda ôm từ
Bình Thạnh ra Gò Vấp cũng giống như người ta đi đến cơ quan. Ơ đó có một
cô nhân viên thư viện chuyên làm công việc chữa bản thảo cho những bài
viết của ông, bởi do tuổi cao , mắt mờ, tay rung nên ông hay gõ sai nốt chữ.
Ai muốn gặp ông qua điện thoại thì cứ gọi vào số máy của nhà truyền thống,
nhân viên ở đây rất vui vẻ hỏi người gọi tên gì, ở đâu để chạy ra sân báo cho
ông. Ơ đây, ngoài những biên tập viên của các cơ quan báo chí tìm đến ông
đặt bài, nhận bài, trả nhuận bút, còn có những sinh viên báo chí, du lịch, ngữ
văn, những nghiên cứu sinh đang làm luận án Tiến sĩ cũng tìm đến ông như
để tra cứu một quyển từ điển sống, một kho địa chí văn hóa sài Gòn và đồng
bằng Nam bộ.
Tôi mạo muội hỏi ông: “ Nhà xuất bản Trẻ mua đứt bản quyền của tía
bao nhiêu ?”. Ông nói: “ Đây là chuyện tế nhị mà cả hai bên đã cam kết
rằng không ai được nói ra”. Rồi ông lại cười giòn và tấm tắt khen bài tham
luận của nhà thơ Nguyễn Trọng Tín mà tôi vừa kể với ông.
Đến Tòa soạn báo Công an, ông có vẻ thất vọng khi biết anh Trần Tử
Văn đi vắng. Ra trước sân, ông trầm ngâm đứng lặng. Tôi hỏi ông cần
khoảng bao nhiêu, ông nói khẽ: “ Càng nhiều càng tốt, mấy đứa nhỏ đang
gặp khó khăn, chứ bản thân tôi thì hề hấn gì”. Tôi đang nghĩ đến số nhuận
bút bên Thời báo Kinh tế sài Gòn, nhưng khi nghe ông nói “ mấy đứa nhỏ
đang gặp khó khăn” thì tôi biết ngay rằng nhuận bút của một vài bài báo sẽ
chẳng có nghĩa lý chi, phận mình mới chân ướt chân ráo lên Sài Gòn, cái nhà
còn chưa có ở . . . Nhìn ông già còm cõi, tem hem, môi rung, mắt mờ, chân
yếu trong cơn tuyệt vọng trước nợ áo cơm giữa chốn phồn hoa đô hội mà tôi
muốn rơi nước mắt. Một nhà văn bậc thầy, một tinh hoa của dân tộc mà thân
phận như thế nầy sao ? Lòng tôi xót xa tự vấn.
Trong lúc đầu óc tôi đang bối rối thì ông già giục đi. Tôi hỏi đi đâu, ông
bảo sang Hãng phim Giải phóng. Đi dọc đường, ông nói rằng ở bên đó ông
còn mấy ngàn đô-la nhưng không biết nó đã về tới bên nây chưa hay là còn
bên Mỹ. Tôi chở ông đi như sự cầu may.
25
Nhưng thật bất ngờ, khi vừa dừng trước cổng thì anh Trần Khải Hoàng,
phụ trách tài vụ vừa dắt xe ra, gặp ông, anh mừng rỡ: “ Trời ơi, tía ! Vô đây
con gởi tiền, con đợi tía mấy ngày nay !”
Anh Hoàng cho biết, một đạo diễn người Mỹ gốc Việt đã chuyển thể
truyện ngắn “Mùa len trâu” của ông thành phim truyện nhựa, họ trả nhuận
bút cho ông ba ngàn đô-la, tạm thời họ ứng trước cho ông một ngàn, số còn
lại sẽ trả sau khi phim phát hành hai tháng. Anh Hoàng nhờ tôi chuyển
chứng từ cho anh Phạm Sĩ Sáu ở nhà xuất bản Trẻ, bởi về mặt thủ tục, số
tiền nầy phải trả cho nhà xuất bản Trẻ vì bên ấy đã mua đứt bản quyền của
nhà văn Sơn Nam.
Trên đường đi, ông Sơn Nam tỏ ra phấn chấn: “ Thằng xuất bản Trẻ nầy
chơi ngon, bản quyền tôi đã bán cho nó rồi, vậy mà số tiền nầy nó vẫn để
cho tôi hưởng trọn, không lấy tiền cò mặc dù hợp đồng do nó ký”
Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu cho biết: Mục tiêu của nhà xuất bản Trẻ trong việc
mua bản quyền của ông là để sưu tầm, tập hợp và hệ thống lại các tác phẩm
của một nhà văn lớn, tránh tình trạng xé lẻ, chạy theo lợi nhuận rồi xuất bản
chồng chéo nhau của những người làm sách trên thị trường. Việc hệ thống
lại theo từng chủ đề sẽ tạo nên dấu ấn Sơn Nam và dấu ấn lịch sử, văn hóa
của vùng đất Nam Bộ. Tuy nhiên, sau khi ký hợp đồng mua bản quyền rồi
thì hai vấn đề khá phức tạp đặt ra đối với anh – Người chịu trách nhiệm khai
thác để tài và giao dịch quyền tác giả – Thứ nhất, làm cách nào để tìm được
hàng chục tác phẩm của nhà văn đã bị thất lạc, nói một cách nào đó thì mặc
dù nhà văn đã bán bản quyền nhưng trong tay ông không có cuốn sách nào
để bán ( Chỉ có hơn mười đầu sách do một độc giả tặng lại cho ông ). Cái
khó thứ hai là làm cách nào để cân đối cho nhà văn Sơn Nam mỗi tháng có
một khỏang tiền đủ sống từ nay cho đến cuối đời, khi ông gát bút. Việc mua
bản quyền thực chất chỉ là mua quyền xuất bản, còn trên mỗi đầu sách, phải
trả nhuận bút cho tác giả từ bốn đến tám phần trăm. Đó là cách tính toán như
một giải pháp giúp đỡ nhà văn.
Không họ hàng thân thuộc, thậm chí không phải gốc gác miền nam,
nhưng nhà thơ Phạm Sĩ Sáu cực với nhà văn Sơn Nam còn hơn cực với cha
ruột của mình. “Tía ơi tía xài vừa phải thôi, tiết kiệm lại một chút, lở tháng
sau sách ra trể thì làm sao con lo kịp tiền cho tía”. Có lần tôi thấy Phạm Sĩ
Sáu vừa đưa tiền, vừa nói với Sơn Nam như vậy. Anh biết tánh ông, cũng
chẳng phải ăn xài sang trọng gì, chủ yếu là cho tiền, mua tập vở, quần áo cho
trẻ em nghèo trong Gò Vấp. Phạm Sĩ Sáu kể, những lần cùng đi với ông đến
dự tiệc cuối năm ở các tòa báo, cuối giờ là thấy ông lui cui gom hết bánh
mứt, thịt quay, cơm chiên, chả giò . . . cho vào bọc xốp để mang về cho trẻ
con nghèo trong xóm.
26
Khi dừng lại một vỉ hè để uống café,ông nói: “Tôi còn mấy chuyện hây
lắm, nhưng về già mới viết được”. Nghe ông nói thế, tôi bật cười. Nhưng rồi
tôi bổng giật mình chợt nghĩ : ông có lẫm cẫm rồi chăng ? Gần tám mươi
tuổi rồi mà ông còn nghĩ “về già mới viết”.
Tôi nhìn kỹ ông và nhận ra làn da ông hơi mọng nước, đôi môi rung rẩy
nhiều hơn. Nhớ lại hồi sáng tôi phải dìu ông đi từng bước chậm xuống cầu
thang ở báo Công an thành phố.
Lạy trời và lạy trời . . . !


















27
Lên Sài Gòn, nhớ bác Tư Sâm

Năm ngoái, trước khi về hưu, nhà văn Ngọc Lương – Giám đốc cơ
quan thường trú của Đài TNVN tại ĐBSCL – trong lúc trà dư tửu hậu đã tâm
sự với tôi rằng, về Bắc lần nầy chắc không còn cơ hội trở vô Nam, cho nên
trước khi từ giã miền tây, anh muốn được làm quen với nhà văn Trang Thế
Hy, một người mà ông xem là thần tượng trong làng Văn học hiện đại của
nước nhà. Và anh Lương nhờ tôi làm mai mối.
Tôi gọi điện thoại qua Bến Tre để hỏi ý kiến Bác Tư, ông nói thì cứ
đến chơi tự nhiên, đâu cần phải quan trọng hóa như vậy.Thật ra không phải
tôi quan trọng hóa khi dẫn một người ngưỡng mộ đến thăm một người được
ngưỡng mộ. Nhưng vì thấy ông Lương quá mê truyện ngắn của ông già nên
tôi thấy cần phải bắn trước những thông tin về mục đích khá đặc biệt của
anh Lương.
Hơn nữa, tôi nhớ hồi Bác Tư còn ở Sài Gòn, hai bên vách nhà ông có
treo hai tờ giấy A4 với mấy chữ viết tay: KHI CÓ TIẾNG GÕ CỬA, KHÁCH KHÔNG
LÊN TIẾNG, ĐỂ CHU NHÀ TỰ XỬ LÝ. Ong giải thích rằng nếu tiếng gõ cửa đúng
ám hiệu thì là khách ruột, còn không đúng thì thôi, khỏi mở cửa. Hoặc phía
bên ngoài cửa nhà ông, thỉnh thoảng có treo mảnh giấy ghi đại khái : HẰNG !
CẬU ĐI HÓC MÔN, NGÀY MAI VỀ. Và ông dặn chúng tôi rằng, nếu có ghé nhà ông
mà thấy mấy chữ ấy thì cứ gỏ cửa, nhưng hai tiếng đầu thì gõ liên tục, ba
giây sau gõ tiếng thứ ba. Đó là ám hiệu. Một thứ ám hiệu của tình cảm, nếu
gõ đúng điệu thì cánh cửa sẽ mở ra.
Vì vậy mà tôi ngại, nếu lỡ có mệnh hệ nào thì tội nghiệp cho anh
Lương phải vượt đường xa, nên hỏi ý kiến trước cho chắc ăn.
Khi hai người gặp nhau, ngồi đối diện trên chiếc bàn gỗ đơn sơ dưới
gốc dừa bên hiên nhà, Bác Tư nói rằng với ông, một truyện ngắn được năm
ba người đọc thật sự là hạnh phúc rồi, cho nên ông rất cảm động trước
những tình cảm của anh Lương. Một thứ tình cảm hiếm hoi cho người làm
văn chương giữa thời buổi bây giờ. Suốt buổi trưa hôm ấy, dường như anh
Lương không nói gì, anh chỉ xúc động đến rưng rưng và nhìn ngắm ông già
như chiêm ngưỡng một nhà văn bằng xương bằng thịt mà bấy lâu nay anh
chỉ biết mê ông qua từng truyện ngắn. Trên đường về, anh chỉ nói một câu:
“Vậy là mình mãn nguyện rồi. Thấy thương ông già quá ! Đúng là một nhân
cách lớn !”.
Thật ra, chúng tôi ngày xưa cũng thế.
Một đêm nọ trên bờ biển Nha Trang, năm bảy thằng bạn đồng nghiệp
đang vui say bên chai rượu. Bất chợt, thấy mấy cô gái ăn sương qua đường,
nhà báo Sơn Tùng liền đọc vội mấy câu thơ:
28
. . . Bây giờ giữa đường đời,
Kỷ niệm ngày xưa xa mù khơi,
Gặp em chiều mưa lạnh
Hai đứa cùng sang trong bộ cánh.
Dung nhan em còn tươi
Anh mừng tưởng đâu đời em vui.
Nào hay đây là quán,
Em bẹo hình hài rao lên bán.
Giữa thời đông khách mua,
Chợ thịt còn sung được nhiều mùa.
Nghe nói anh cầm viết,
Nghệ thuật là gì em muốn biết.
Mùi tanh nói mùi thơm,
Cây bút cầm tay: cần câu cơm
Đó em ơi ! Nghệ thuật :
Nhắm mắt quay lưng chào sự thật . . .
Tôi hỏi thơ ai mà hay vậy, anh Sơn Tùng nói là thơ của ông Trang
Thế Hy.
Bài thơ như đổ vào trong tôi thêm một nỗi khát khao được làm quen
với Bác Tư. Nhưng lúc ấy có nhiều người hù tôi, nói ông già khó lắm.
Hồi ấy – cách nay hơn hai mươi lăm năm – chúng tôi chuyền tay nhau
bản thảo truyện ngắn Nợ nước mắt của ông đến nát nhừ, cái bản thảo đánh
máy trên giấy pelure tái sinh vào cái thời máy photocoppy chưa có. Tiếp
theo, chúng tôi được đọc các truyện Thèm thơ, Anh Thơm râu rồng, Sách và
chim, Con cá không biệt tâm . . . Mỗi truyện là một dấu ấn về sự đời để mỗi
khi va chạm với đời thì có chỗ để mình suy gẫm. Nhưng rồi như một phép
màu, chúng tôi được gặp ông bằng xương bằng thịt : Ông cùng với các nhà
văn thành phố làm một chuyến đi chơi xuống rừng đước Năm Căn.
Thật ra cuộc gặp gở đầu tiên ấy chúng tôi không được tiếp cận với
ông nhiều lắm. Nhưng đó là cái cớ để sau nầy mỗi lần lên Sài Gòn chúng tôi
tự tiện đến thăm ông.
Nói cho công bằng thì anh em chúng tôi đến với Bác Tư không chỉ là
sự ngưỡng mộ một tài năng, cũng chẳng có cái diễm phúc được ông chỉ bảo
một câu, một chữ nào trong viết lách. Ông đón nhận chúng tôi như một ông
già thương yêu đám trẻ, có lúc lại như bạn để trà dư tửu hậu. Ông từng nói
rằng khi ông làm bạn với ai, ông loại trừ hai tiêu chuẩn : Đó là tuổi tác và tài
năng. Điều đó được chứng minh qua những lần ông khóa cửa để chơi với
thằng em út của tôi từ sáng tới chiều bên chai rượu đế. Chính vì sự gần gủi
ấy mà chúng tôi đã được học ở ông những bài học vô giá, học làm người và
học làm nghề. Tất nhiên không phải là những bài rao giảng, mà bằng chính
29
những câu chuyện ông kể, những chuyện ông gặp trong đời, ngoài những
trang viết của ông.
Có lần ông kể với chúng tôi câu chuyện của một người có tài gài
chim trao trảo. Rằng hồi ấy ở căn cứ miền Đông có một ông già có sáng kiến
gài chim trao trảo rất độc chiêu : Ông làm một cái lờ bánh ú to hơn một ôm
tay, chiều dài hơn hai thước, hai đầu bỏ trống, không gắn hom. Ông treo cái
lờ trên ngọn cây gừa giữa rừng, trong đó cột vài ba nải chuối. Ngày đầu, vài
chục con chim trao trảo tìm đến ăn trái gừa, cây gừa hết trái, chúng vào lờ ăn
chuối chín, cứ ăn no rồi bay ra một cách an toàn, chúng báo hiệu cho cả
dòng họ đến ăn. Ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư cũng thế, ông cứ tiếp tục treo
thêm nhiều chuối chín. Khi ông quyết định gắn hom thì ngày hôm ấy hàng
trăm con trao trảo mắt kẹt trong lờ. Cả dòng họ chúng không còn sót một
con.
Khi mới nghe, chúng tôi chỉ cười chơi như một chuyện gài chim.
Nhưng đi qua những biến cố trong đời, những lúc vấp ngã mới thấm đòn về
câu chuyện ấy.
Năm 1993 tôi lên Sài Gòn, đó là lần sau cùng tôi nhậu với Bác Tư
Sâm trong căn hộ trên lầu hai, số 190 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Lần nầy
tôi được nghe một câu chuyện khác rằng, ông có quen thân với một nghệ sĩ
đàn cổ tên là Tư Chơi một thời vang bóng ở Sài Gòn. Một hôm, ông với ông
Tư Chơi ngồi nhậu, lúc bấy giờ ông Tư Chơi đã giải nghệ vì tuổi già. Tình
cờ, một anh thanh niên lạ mang đến tặng ông Tư Chơi một chai rượu và một
cây đàn kìm với lòng ngưỡng mộ. Anh ta muốn được nghe lại tiếng đàn của
ông Tư Chơi nhưng ông từ chối, trả lại khách chai rượu với cây đàn. Người
khách thất vọng ra về. Ông Tư Chơi giải thích, thà để cho người thanh niên
kia thất vọng, chớ cho anh ta nghe tiếng đàn của mình bây giờ, anh sẽ thất
vọng hơn. Ở đời, dù ở bất cứ cương vị nào cũng phải biết đi chổ khác chơi
đúng lúc.
Bác Tư Sâm chỉ kể với tôi câu chuyện ấy, thay cho lời giải thích vì
sao ông về Bến Tre, sống với mãnh vườn, ao cá.
Cách nay hai năm, chúng tôi hẹn nhau về Bến Tre thăm Bác. Hôm ấy
anh Lê Văn Thảo dẫn theo một ê-kip làm phim tài liệu. Đã biết trước rằng
ông không bao giờ chấp nhận làm phim chân dung về ông. Nhưng anh Thảo
cố tình nói dối rằng đoàn phim đang về Bến Tre để làm một bộ phim gì đó,
nhân tiện ghé chơi và cũng có ý định quay Bác Tư vài cảnh để dành làm kỷ
niệm. Nghe vậy, ông rất vui vẻ cho đạo diễn Lê Trí dàn dựng những cảnh
sinh hoạt bình thường như tưới cây, làm cỏ, đọc sách. Ông nói rằng ông
cũng cần vài phút hình để lại cho thằng cháu nội, khoảng bốn phút thoáng
qua thôi. Thế nhưng trong lúc say rượu, anh em sơ ý xầm xì với nhau làm lộ
ý đồ. Đoàn phim phải rút lui sau khi bị ông phản ứng.
30
Tiệc rượu hôm ấy dường như cũng mất vui bởi ai cũng thấy mình có
lỗi với ông già.
Biết rằng chuyện hợp tan vốn là quy luật. Nhưng khi anh em chúng tôi
trở thành cư dân Sài Gòn mà vắng bóng Bác Tư Sâm thì cảm thấy một sự
trống trải đến vô cùng. Trống trải mà không thấy lạnh, không thấy mất. Phải
chăng, chính vì cái sự “phải biết đi chỗ khác chơi đúng lúc” mà cái
phần tâm linh của Bác vẫn còn ở lại với đất Sài Gòn – rất đẹp.



















31
Ngậm ngùi phiên chợ trăm năm
Quê bà ở Bà Điểm, Hốc Môn, xứ sở của Mười Tám Thôn
Vườn Trầu nổi tiếng với những cô gái tóc dài, da trắng, đằm
thắm nết na. Hồi nhỏ, sáng nào bà cũng theo mẹ lên xe ngựa ra
chợ Cầu Muối để bỏ mối trầu cau. Đến năm 19 tuổi, bà phải
lòng ông Nguyễn Văn Ba, con trai bà chủ vựa hành, hẹ, rau
thơm rồi về chợ Cầu Muối làm dâu,bắt đầu cho một phiên chợ
gần trọn một đời người.

Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy tài liệu nào phản ánh
một cách đầy đủ về sự hình thành và phát triển của chợ Cầu Muối và chợ
Cầu Ông Lãnh dù nó vốn nổi tiếng và tồn tại song song hơn một thế kỷ qua.
Theo Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sễn thì chợ Cầu Muối có
từ triều Nguyễn. Hồi ấy, người ta đào một con kinh rẽ vào từ rạch Bến Nghé
– tức đường Nguyễn Thái Học bây giờ – và bắc một chiếc cầu dưới bờ kinh
để vận chuyển muối. Kho muối là những dãy nhà lá nằm dọc hai bên bờ
kinh. Muối từ Phan Thiết và Bạc Liêu được vận chuyển về đây để xuất qua
Campuchia. Đến khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn thì những kho muối trở
thành hoang phế. Dân tứ xứ chạy giặc về đây cư trú rồi dần dần họp chợ, gọi
là chợ Cầu Muối.
Theo nhà văn Sơn Nam thì chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối cùng
ra đời vào một thời điểm như nhau, khoảng cách chỉ vài trăm mét bởi một
dòng kinh. Cả hai chợ đều là “trên bến dưới thuyền” nhưng con kinh đào sau
nầy lấp lại nên chợ Cầu Muối trở nên xa với bến sông.
Vì sao gọi là chợ Cầu Ông Lãnh ? Một bài báo của Phong Vũ Trần
Văn Hai ( tức Khuông Việt ) đoạt giải nhất về cuộc thi lịch sử trên báo Tri
Tân xuất bản tháng 6/1942 đã kể lại rằng : Năm 1874, triều đình Huế ký hiệp
ước cắt đứt Nam kỳ giao cho Pháp, theo hiệp ước nầy thì chính quyền Pháp
được đặt lãnh sự quán ở Hà Nội và ngược lại, nhà Nguyễn được đặt lãnh sự
quán ở sài Gòn, trụ sở đóng tại góc đường Đề Thám-Trần Hưng Đạo ngày
nay, vị lãnh sự ấy là ông Nguyễn Thành ý ( hiện còn tên đường ở phường
ĐaKao, quận I ). Công việc chủ yếu của lãnh sự quán lúc bấy giờ là làm thị
thực cho người miền Trung vào Sài Gòn mua bán nên ông Nguyễn Thành Ý
thường đi chiếc xe song mã qua lại khu vực chợ dưới bến Chương Dương,
chỗ chiếc cầu neo đậu xuồng ghe của giới thương hồ. Từ đó mới có tên gọi
là chợ Cầu Ông Lãnh.
Năm 1875, chính quyền Pháp ở Sài Gòn chính thức cho phép thành
lập chợ Cầu Muối và Cầu Ông Lãnh. Nếu tính từ mốc thời gian ấy thì đến
32
nay đã tròn 125 năm, còn khoảng thời gian trước đó bao nhiêu năm nữa thì
vẫn chưa có lời giải đáp.
Trải qua hơn một trăm năm, lịch sử đầy biến cố nhưng chợ Cầu Muối
và Cầu Ông Lãnh vẫn tồn tại và phát triển không ngừng với vai trò đầu mối
tiêu thụ, giao lưu nông sản từ miền Trung đến miền Đông Nam bộ và đồng
bằng sông Cửu Long, cung cấp cho 36 chợ lớn nhỏ ở sài Gòn. Nó gắn liền
với sự phát triển của nền nông nghiệp và văn minh miệt vườn của khu vực
miền Nam.
Người ta gọi chợ Cầu Muối và Cầu Ông Lãnh là một phiên chợ trăm
năm vì nó hoạt động 24/24 giờ, không có phút giây ngừng nghỉ, không có
phiên sáng phiên chiều như nhiều chợ khác. Vì thế, suốt hơn trăm năm qua,
chợ Cầu Muối và Cầu Ông Lãnh là sự tiếp nối từ đời nầy sang đời khác với
những buồn vui, thăng trầm của bao thế hệ truyền lại cho nhau một cuộc
mưu sinh.
Bà Lê Thị Hoa, 76 tuổi, chuyên kinh doanh hành, hẹ, rau thơm gần
sáu chục năm nay, sau một ngày buôn bán ở chợ mới Tam Bình, bà trở về
chợ Cầu Muối, ngồi buồn hiu trước gian hàng cũ. Bà cho biết, nhà bà ở bên
quận Tư nhưng ít khi bà về bên ấy dù ở đây chật hẹp có mấy mét vuông. Khi
được hỏi về tâm trạng của bà khi dời chợ, bà nói một cách rất thật lòng: “
Thành phố chủ trương dời mười chợ đầu mối ra ngoại thành là chuyện
đương nhiên rồi. Nhưng ở đây cả đời, bây giờ ra đi cũng buồn lắm!”
Khi tôi hỏi duyên cớ nào để bà trở thành tiểu thương ở chợ Cầu Muối,
đôi mắt bà bổng sáng lên như xua tan nỗi buồn hiện tại. Bà kể, quê bà ở Bà
Điểm, Hốc Môn, xứ sở của Mười Tám Thôn Vườn Trầu nổi tiếng với những
cô gái tóc dài, da trắng, đằm thắm nết na. Hồi nhỏ, sáng nào bà cũng theo mẹ
lên xe ngựa ra chợ Cầu Muối để bỏ mối trầu cau. Đến năm 19 tuổi, bà phải
lòng ông Nguyễn Văn Ba, con trai bà chủ vựa hành, hẹ, rau thơm rồi về chợ
Cầu Muối làm dâu,bắt đầu cho một phiên chợ gần trọn một đời người. Và
bây giờ, khi đã về già, bà lại giao quyền làm chủ vựa lại cho con dâu. Cái
vòng đời ở đây là như thế.
Một buổi chiều mưa lắc rắc, trong quán cà phê vỉa hè trên đường
Nguyễn Thái Học, tình cờ tôi được trò chuyện với ông Sáu Măng, một người
có thâm niên trên bốn mươi năm hành nghề bốc vác. Quê ông ở Cái Bè, Tiền
Giang. Ông theo cha lên đây từ năm tám tuổi. Hồi ấy cha ông làm cạp-rằng
vệ sinh cho Tây ở chợ Cầu Ông Lãnh. Thuở ấy ông vừa đi học, vừa kiếm
sống bằng cách đi nhặt củ hành của tỏi rơi rớt trong chợ Cầu Muối về rửa
sạch và tách ra ngồi bán lẽ. Cho đến khi đủ sức lao động, ông xin vào làm
bốc vác cho đến bây giờ.
Cuộc đời ông là một phiên chợ hơn năm mươi năm. Bây giờ sắp nghỉ
hưu rồi giật mình nhìn lại mới thấy nó dài, mới thấy có ngày có đêm chớ
33
mấy chục năm qua gần như ông không thấy. Ông nói thông thường thì người
ta ngủ vào buổi tối và thức dậy vào buổi sáng, còn dân bốc vác ở chợ Cầu
Muối là thức hay ngủ tùy theo những chuyến hàng.
Hỏi chuyện xưa ở chợ Cầu Muối, ông sáu Măng kể rành mạch như kể
chuyện nhà mình. Hồi ông trở thành dân Cầu Muối thì cái chợ nầy còn đất
bùn lầy lội. Tiểu thương phải cặm cây, lót ván làm sạp, mái lợp bằng lá dừa
nước. Tuy chợ nhóm suốt đêm nhưng thắp sáng chủ yếu bằng đèn dầu, ngoại
trừ một số sạp lớn thì có đèn măng-xông. Bắt đầu từ sáu giờ chiều là xe
ngựa, xe bò từ các nơi chở hàng về tấp nập, vây kín các ngỏ đường. Phía bên
chợ Cầu Ông Lãnh thì xuồng ghe vấy kín một khúc sông. Hàng về dù trên
bờ hay dưới sông cũng đều được phân chia thành bến : Bến Mỹ Tho, bến
Long Xuyên, bến Sóc Trăng, bến Phan Thiết, bến Nha Trang, bến Huế . . .
và hầu hết các bến bãi đều do dân giang hồ quản lý, điều hành để thu tiền
bốc vác. Ai mạnh thì được, ai yếu thì thua. Đó là quy luật không chỉ của giới
giang hồ. Những cuộc tranh giành bến bãi bằng gậy gốc, đau kiếm xảy ra
liên tiếp. Cụm từ Dân Cầu Muối nổi tiếng khắp sài Gòn lục tỉnh cũng bắt
đầu từ đó.
Tuy nhiên, theo ông sáu Măng thì trong giới giang hồ ở chợ Cầu Muối
hồi ấy cũng rất nhiều người tốt. Những tên tuổi như Kim Anh, Xuân Cầu
Muối, Minh Cầu Muối là những tay anh chị vang bóng một thời ấy tuy hung
hăng với đối phương trong việc tranh giành bến bãi nhưng rất thương người
lao động nghèo. Bản thân ông Sáu Măng cũng từng được họ cưu mang, đùm
bọc trong những lúc khó khăn.
Dù nhìn ở góc độ nào đi nữa thì sự tồn tại của các chợ đầu mối nông
sản thực thẩm giữa lòng thành phố vẫn là điều nghịch lý. Và cái nghịch lý ấy
sẽ đi theo tỷ lệ nghịch với tốc độ phát triển của bất kỳ một thành phố văn
minh nào. Vấn đề vệ sinh môi trường, vấn đề trật tự giao thông và hàng loạt
các vấn đề xã hội khác càng ngày sẽ trở thành nan giải. Cho nên việc di dời
các chợ đầu mối nông sản thực phẩm ra ngoại thành đang là một vấn đề bức
xúc. Tuy nhiên, đã gọi là chợ thì việc di dời tiểu thương từ chợ nầy sang chợ
khác hoàn tòan không đơn giản như ta chuyển một hòn đá vô tri từ điểm A
sang một điểm B bởi hàng loạt vấn đề xã hội đã ăn sâu bám rể trong đời
sống con người. Càng không đơn giản đối với hai chợ Cầu Muối và Cầu Ông
Lãnh vốn đã mang đậm màu sắc lịch sử trên một trăm năm.
Ông Tư Bốn, 60 tuổi, kinh doanh nghề rau củ quả đang mang một nỗi
lo bế tắt : “ Cũng như hàng trăm tiểu thương ở đây, nếu tính đời con của tôi
nữa thì coi như ba đời gắn bó với cái chợ Cầu Muối nầy rồi. Nhưng bây giờ
tôi phải ở lại đây nhìn bà con ra đi mà muốn rơi nước mắt, còn mua bán tại
chỗ thì cứ phập phòng lo sợ không biết sẽ bị dẹp lúc nào !” Tôi hỏi lý do thì
được ông giải thích : “Năm 1995, nhà nước điều chỉnh quy hoạch lộ giới thì
34
trên tuyến đường nầy có 40 hộ bị xem là lấn chiếm lòng lề đường nên không
được cấp giấy phép kinh doanh. Thế nhưng, hàng năm chúng tôi vẫn được
bán môn bài và làm nghĩa vụ thuế đầu đủ. Vậy mà bây giờ khi dời chợ,
chúng tôi không được đăng ký mặt bằng ở chợ mới vì lý do không có giấy
phép kinh doanh ? !”
Chị Nguyệt, một tiểu thương chuyên bán cà chua còn cho chúng tôi
biết thêm, ngoài những đối tượng như ông Tư Bốn, ở đây còn có trên 400 hộ
mua bán nhỏ, không đăng ký kinh doanh nhưng mỗi ngày vẫn đóng hoa chi
10.000 đồng, bây giờ không biết phải về đâu, đăng ký sang chợ mới thì
không được giải quyết, mà ở lại thì không biết sẽ bị giải toả lúc nào.
Đó mới chỉ là những nghịch cảnh trong giới tiểu thương, còn các
thành phần lao động khác, theo ông sáu Măng thì . . . hàng hà sa số phận !
Ông Sáu Măng cho biết, chỉ tính riêng Hợp tác xã bốc xếp Cầu Ông
Lãnh thôi thì hiện đang có 396 người đang thất nghiệp. Mấy ngày qua, ông
cùng với Ban quản lý Hợp tác xã chạy đôn chạy đáo sang ba chợ đầu mối
mới là Tam Bình ( Thủ Đức ), Bình Điền ( Bình Chánh ) và Tân Xuân (Hốc
Môn) gặp các Ban quản lý chợ để tìm việc cho anh em. Nhưng ở đâu người
ta cũng trả lời rằng công việc bốc xếp không đủ giải quyết cho người địa
phương thì lấy đâu ra chỗ để giải quyết cho người quận khác. Ông nói lúc từ
giã ra về, tìm không được việc cho anh em đã buồn, khi nhìn thấy bà con
tiểu thương ở chợ Cầu Muối và cầu Ông Lãnh về bên ấy mà buồn muốn
khóc. Dù gì cũng đã gắn bó với nhau mấy chục năm qua.
Ngoài 396 công nhân bốc xếp là xã viên chính thức của Hợp tác xã
Cầu Ông Lãnh, ông Sáu Măng cho biết ở đây còn có trên 500 người chuyên
đẩy xe cho bạn hàng và gần 2.000 lao động chuyên làm các dịch vụ khác
như rửa rau, lặc rau, gọt củ, dọn hàng, đóng gói . . . đang bị mất việc không
biết sẽ sống ra sao.
Có lẽ đó là những yếu tố không được đưa vào bàn nghị sự của các nhà
làm quy hoạch chợ.
Buổi sáng ngày 23 tháng 10, tức 3 ngày sau khi kết thúc vai trò lịch sử
150 năm của hai khu chợ đầu mối nổi tiếng nầy, chúng tôi bước vào nhà
lồng chợ rau quả Cầu Ông Lãnh. Khu nhà vừa đang trở thành hoang vắng.
Trong cái sự hoang vắng sau một phiên chợ trăm năm ấy, tôi cảm nhận có
cái gì đó khác thường, một sự ngậm ngùi khó tả. Ngồi trong quán cà phê nhỏ
nhoi của ai đó mới bày ra, anh Nguyễn Minh Trung rầu rỉ nói: “ Hồi năm
1950, cha tôi đã đến đây làm nghề bốc vác. Ông qua đời từ năm 1980. Lúc
ấy tôi mới 20 tuổi nhưng phải bỏ học để tiếp tục nghề cha nuôi sống gia
đình. Bây giờ đến lượt hai thằng con trai và một thằng rể cũng nối nghiệp
tôi. Vậy mà đùng một cái, tất cả đều thất nghiệp. Mà một người thất nghiệp
thì ảnh hưởng đến năm bảy miệng ăn”. Anh Trần Quang Dũng đưa mắt nhìn
35
xuống bến sông, giọng như nghẹn lại : “Gia đình tôi cũng ba đời làm nghề
bốc vác ở cái chợ nầy. Tôi có hai đứa con trai, một đứa đang học lớp 12, một
đứa vừa thi đậu vào trường cao đẳng kỹ thuật công nghệ, tôi làm ngày làm
đêm để cho con ăn học với hy vọng đời nó sẽ khác hơn. Học phí của thằng
con lớn một năm 3 triệu đồng, tôi mới đóng được 1,3 triệu. Bây giờ mất
việc, hai đứa nó chắc sẽ không còn cửa nào để ăn học tiếp”.
Một lúc sau, từng tốp người kéo đến, kẽ ngồi người đứng vây kín
chiếc bàn. Tôi cố làm ra vẻ lạnh lùng rồi tìm cách rút lui bởi không biết phải
nói gì, làm gì trước bao nhiêu số phận.
Đứng trên cầu Ông Lãnh, nhìn xuống bến Chương Dương, tôi có thể
hình dung ra tương lai của một đại lộ Đông – Tây với bờ kè thênh thang đầy
cây xanh bóng mát. Và con rạch Bến Nghé rồi sẽ là một dòng sông lấp lánh
màu xanh soi bóng nền trời đầy mây trắng. Nhưng tương lai của mấy đứa
con anh Dũng, anh Trung thì tôi không thể nào hình dung ra được.















36
Hai mươi năm gánh ốc giữa Sài
Gòn


Tháng chín năm 1973, thành phố Hải Phòng tổ chức lễ mừng công phá
sạch thủy lôi mà người Mỹ đã thả xuống khu vực cảng. Kỹ sư hàng hải,
thuyền trưởng Nguyễn Thanh Bạch – một người Nam tập kết – là một trong
những người được tôn vinh công trạng ấy. Và cô giáo Trần Thị Mùi – một
trong những người đẹp mang hoa đến tặng các chiến sĩ hải quân – đã không
kịp đối phó khi Hai Bạch vừa nhận hoa, vừa ôm hôn cô ngay trên sân khấu.
Không kịp đối phó, thậm chí không kịp từ chối lời mời đi nghỉ mát ở Đồ
Sơn của Hai Bạch ngay trong ngày hôm ấy. Vậy là gần một năm sau, bé trai
Nguyễn Thanh Hải chào đời.
Năm 1975, chị Mùi ẳm con lên tàu theo chồng về sài Gòn công tác. Khi
cháu gái Nguyễn Thanh Hương tiếp tục chào đời, chị lại theo chồng chuyển
về Cà Mau – nơi chôn nhau cắt rốn của anh – Lúc này, Hai Bạch làm cán bộ
thanh tra Nhà nước. Cuộc sống tưởng sẽ bắt đầu ổn định ở quê chồng.
Nhưng rồi, vì một chuyện bất bình trong công tác chuyên môn, Hai Bạch nổi
trận lôi đình, chửi bới lung tung rồi bỏ việc, dắt díu vợ con trở lại Sài Gòn
với lời nguyền: hy sinh đời bố, củng cố đời con.
Cuộc sống mỗi ngày một khác, anh trở lại Sài Gòn thì mọi quan hệ đã đổi
thay, không còn nơi nương tựa để tìm được việc làm. Hai vợ chồng, hai đứa
con mọn cứ lang thang đi ăn nhờ ở đậu với bạn bè. Cũng may là anh còn
chiếc Honda để chạy xe ôm kiếm sống.
Khi bé Hải vào lớp một, bé Hương đi mẩu giáo, cuộc sống cần phải được
an cư, Hai Bạch bán chiếc Honda để mua lại một nửa căn nhà ổ chuột trong
một con hẻm trên đường lê Hồng Phong. Vì là chổ ở nên phải gọi là nhà,
thật ra nó chỉ là một cái mái hiên mười một mét vuông để che mưa che nắng.
Và khi đã có chỗ che mưa che nắng thì đã không còn chiếc xe làm phương
tiện mưu sinh. Để cho hai đứa con được no bụng, có sách vỡ và quần áo lành
lặn để đến trường thì cái bình thủy, cái quạt máy, cái chén kiểu, cái áo len,
áo gió . . . những vật kỷ niệm của anh chị từ cái thuở ban đầu ấy lần lượt ra
nằm ở chợ trời. Đến lúc trong nhà không còn hạt gạo và cũng không còn thứ
gì để bán thì chị mới lạnh tóat mồ hôi.
Sáng hôm ấy, cầm tờ giấy bạc năm mươi xu cuối cùng trên tay, chị cứ
mân mê không biết phải làm gì. Bất thần, như một thứ phản ứng sinh tồn, chị
chạy vội ra đầu hẻm mua một chục bánh ú rồi tiếp tục chạy thẳng ra công
viên, nơi có nhiều người đang tập dưỡng sinh. Bán xong, chị quay lại đầu
37
hẻm mua bánh rồi chạy ra bán tiếp. Cứ thế, ngày lại ngày, chị có đủ tiền để
mua một chiếc đòn gánh và đôi gióng thúng, khởi đầu cho cái nghiệp đi bán
ốc dạo suốt hai mươi năm.
Có lần tôi hỏi chị vì sao lại chọn cái nghề bán ốc mà không chọn nghề
khác. Chị nói bản thân chị cũng không hiểu. Lúc túng cùng, chợt nhớ thời
con gái hay cùng bạn bè ở Hải Phòng ngồi lề đường ăn ốc của mấy bà bán
dạo. Thấy ở sài Gòn không ai bán món ấy, mình bán thử xem, với lại không
có vốn thì biết làm gì khác.
Một đôi gánh, một bếp than, một nồi ốc luộc, vài chục trứng vịt lộn vùi
trấu để luôn luôn giữ nóng. Một cô giáo vốn rụt rè, nhút nhát chưa từng biết
va chạm với đời giờ phải lao vào cuộc mưu sinh giữa một thành phố lạ với
những môi trường đầy phức tạp. Khách hàng của chị chủ yếu là những người
lao động nghèo chuyên sống về đêm: những anh xích lô, những anh bốc xếp,
những chị bán chè, bán xôi, bán nước mía, bán vé số . . . kể cả những cô gái
đứng đường và bọn ma túy, lưu manh. Có khi, cả một nhóm thanh niên xúm
lại ăn rồi thản nhiên đứng dậy đi, không trả tiền mà cũng chẳng nói tiếng
nào; hoặc nhiều lúc năm bảy cô gái điếm đang ăn thì bất ngờ bị công an truy
quét, tất cả quăng đĩa bỏ chạy không kịp tính tiền, lúc ấy chị Mùi chỉ còn
ngồi khóc. Đêm đêm, chị đi từ đầu hôm cho đến năm, sáu giờ sáng mới về.
Nhiều khi bán ế, chị về trể, ở nhà không có tiền, bé Hương và bé Hải mang
bụng đói đi học. Anh Hai Bạch ở nhà thắt thỏm đợi chị về rồi mua hai ổ
bánh mì, hai vợ chồng lội bộ đến trường, đợi đến giờ chơi nhờ anh bảo vệ
mang vào cho con. Những lúc ấy, hai vợ chồng chị ngồi núp ngoài hàng rào,
nhìn hai đứa con ngồi ăn ngon lành trên ghế đá khuôn viên, chị đã rơi nước
mắt.
Những đêm mưa dầm vắng khách, chị thất vọng quảy gánh lội về. Trong
lúc đang buồn rầu vì lỗ vốn, không biết lấy gì để lo cho cuộc sống ngày mai
thì bất chợt khi vào nhà thấy Hải và Hương đang ngồi múc nước tắm cho hai
ông thần tài và thổ địa. Hải nói: “Trời mưa, nhìn qua nhà hàng xóm thấy
người ta quây quần xem tivi, con nhớ mẹ giờ nầy đang dầm mưa ngoài phố.
Nghe người ta nói khi trời mưa mình tắm cho ông địa thì trời mau tạnh, con
rủ em ra làm và khấn vái cho mẹ bán đắt để mau về”. Đêm ấy, chị không sao
ngủ được. Căn nhà vốn đã chật hẹp, mỗi khi trời mưa thì nước từ trên dột
xuống, nước từ đường mương, ống cống tràn lên, ngập cả chân giường, mùi
hôi bốc lên nồng nặc, muỗi bám đầy mùng, chuột cống bò lễnh nghễnh dưới
chân. Cứ thế chị sống và chịu đựng, sống trong niềm mơ ước về tương lai
của Hải và Hương.
Một hôm chị giật mình nhận ra một bờ vai chị đã chai sần, chiếc đòn
gánh đã bóng mòn đoạn giữa. Nhưng chị cũng nghe hạnh phúc trào dâng vì
38
Hải và Hương đã lớn khôn, có đủ hai yếu tố cần thiết nhất của con người: sự
thông minh và tốt bụng.
Năm 1993 – tức hai mươi năm sau cái ngày chị ôm hoa lên lễ đài tặng
cho Hai Bạch ở Hải Phòng để bất ngờ nhận cái hôn đầu tiên làm đổi đời con
gái – Hải vào Đại học Bách khoa. Năm 1995, Hương trúng tuyển vào Học
viện Ngân hàng. Cái gánh ốc ấy lại nặng oằn trên vai chị thêm nhiều năm
nữa cho đến khi Hương ra trường tìm được việc làm và Hải lấy bằng Thạc
sĩ.
Tôi trở lại thăm chị lần nầy, tất cả đã khác xưa. Con hẻm lầy lội, vô danh
ngày nào nay đã mang tên đường Hồ Thị Kỷ, đã tráng bê tông cao ráo. Căn
nhà ổ chuột của chị đã trở thành nhà đúc ba tầng dù vẫn trên cái nền mười
một mét vuông. Hai Bạch ngồi salon uống trà, vừa canh cái tủ yauor trước
cửa. Đã bảy mươi hai tuổi rồi mà trông anh vẫn còn tráng kiện, vẫn yêu đời,
vẫn nụ cười sang sảng. Chị Mùi mặc bộ veston từ trên lầu đi xuống. Ngoài
sân có mấy bà mặc áo dài đứng đợi. Sau mấy phút mừng vui thăm hỏi, chị
Mùi bảo tôi ở nhà chơi với anh, chị phải đi đám cưới. Cũng như bao nhiêu
lần trước, hễ gặp tôi là Hai Bạch khoe con như người giàu khoe của. Anh
cho biết, hiện nay có một công ty đang thuê Hương làm giám đốc với mức
lương khá hậu nhưng Hương còn đang đắn đo chưa muốn rời chỗ cũ vì cái
tình, cái nghĩa với người ta. Còn Hải thì bù đầu với bao công việc: vừa phụ
trách khoa địa lý môi trường ở Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn, vừa
giảng dạy, vừa quản lý phòng thí nghiệm của trường, vừa hướng dẫn sinh
viên nghiên cứu đề tài khoa học, vừa làm giáo viên thỉnh giảng của nhiều
trường Đại học ở khu vực Tây nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Và
mới đây, Hải đã trúng tuyển đi nghiên cứu sinh, làm luận án Tiến sĩ với đề
tài khoa học: Khảo sát sự ô nhiễm và lan tràn ô nhiễm các kim loại nặng tại
lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai.
Hai Bạch nói, hồi Hải còn nhỏ, mỗi sáng anh bắt Hải phải chạy bộ gần
bảy cây số từ Ngã Bảy đến hồ bơi Yết Kiêu, bơi xong rồi chạy về. Anh kể
cho Hải nghe rất nhiều chuyện, nhưng tất cả mọi chuyện nhằm mục đích cho
Hải nhận thức rằng, tất cả những vinh quang đều không nằm trên nhung
gấm. Sau nầy, khi đi giảng bài ở các Trung tâm Đại học tại chức, có một vị
cán bộ nọ thi rớt môn của Hải. Ông ta tìm gặp Hải và đặt thẳng vấn đề: Em
giúp anh, anh sẽ đền ơn em một cái nền nhà, có sổ đỏ và có luôn giấy phép
xây dựng. Hải lạnh lùng từ chối khéo: Anh thông cảm, kỳ thi vừa rồi em đi
công tác ở Tây nguyên nên không tham gia chấm thi.
Thế nhưng khi tôi hỏi Hải về cái chuyện đổi đất lấy điểm ấy thì hải lại
ngập ngừng nói: Cháu nghĩ ở môi trường nào cũng có sự phức tạp của nó.
Nhưng riêng về chuyện ấy thì . . . không có đâu chú ạ.Chính cái sự không
nói ra ấy đã làm cho tôi thấy hải lớn lao hơn.
39
Mỗi khi nhắc đến Hải, chị Mùi thường tâm sự: chị không uổng công hai
mươi năm gánh ốc để nuôi Hải trưởng thành. Với chị, sự thành đạt của con
về cấp bằng học vị không làm cho chị sung sướng, hãnh diện bằng sự hòan
thiện về nhân cách.
Thì ra, ngoài vai trò người mẹ hai mươi năm gánh ốc để nuôi con, trong
suy nghĩ của chị Mùi vẫn còn là một cô giáo.




















40
Đứa con nuôi

Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác, nó nặng đến nổi
một người không thể mang nổi mà phải cần đến sự giúp đỡ của
người khác. Anh giúp tôi, tôi giúp cho người khác, người khác lại
giúp cho người khác nữa, và cứ như thế cho đến vô cùng. Sao cho
cái chết của mỗi con người không đẩy chúng ta vào tình trạng cô
đơn trong cuộc sống.
( DUMBATZÉ)

CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT
Chuyện kể rằng, cậu bé Nguyễn Hữu An là con trai út trong một gia
đình có năm anh em ở khu Bào Trũng – ngọai ô thành phố Vũng Tàu. Cha
mẹ An – ông Nguyễn Hữu Thiền và bà Hòang thị Bích Vân – vì gia cảnh
quá nghèo nên không thể cùng một lúc nuôi năm đứa con ăn học, cho nên
khi An vừa học xong lớp sáu thì cha em gởi em lên chùa Tường Vân –
huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng – để An vừa làm công quả, vừa tiếp tục
học hành. Tuy mới mười hai tuổi nhưng An đã sớm ý thức được thân phận
và hòan cảnh của mình. Chẳng những em không buồn mà ngược lại, em
càng cảm thấy thương cha thương mẹ. Cứ mỗi hừng đông, cha em thức dậy
hì hục bên đám rau muống sau nhà, cắt, tỉa, bón phân, chở từng bó rau ra
chợ. Và cũng cứ mỗi hừng đông thì mẹ em đã khóat đôi gánh lên vai, cất
tiếng rao như lời ru dọc dài trong xóm: “ Ai ăn bánh bò, bánh ích trần hôn . .
. ?”
Khi ba người anh trai của An bước vào đại học thì từng thửa đất sau nhà
cũng lần lượt ra đi. Đôi gánh của mẹ em cũng mõi mòn theo năm tháng.
Sáu năm miệt mài đèn sách, sáu năm lầm lũi quét lá đa, tưới kiểng,
đánh chuông, tụng kinh, gõ mõ, An về quê làm hồ sơ thi đại học thì cũng là
lúc mẹ em quằn quại trong cơn bệnh ngặt nghèo: ung thư trực tràng và ung
thư gan ở giai đọan cuối. Năm anh em cùng với cha thay nhau đi tìm kiếm
bà con, họ hàng để vay tiền, đưa mẹ vào Sài Gòn nhập viện. Nhưng không
còn kịp nữa, ba tháng sau, người mẹ đã qua đời.

CÂU CHUYỆN THỨ HAI
Câu chuyện sẽ kết thúc với những dòng ngắn gọn trên đây nếu như
những tháng ngày vừa nuôi mẹ, vừa ôn thi trong bệnh viện Ung bứu,
Nguyễn Hữu An không có thêm người mẹ thứ hai, đó là: Má Phẳng !
41
Chị Phẳng sinh ra và lớn lên ở một vùng ven Buôn Ma Thuột. Cuộc đời
chị là cả một cuộc đời buồn: Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, chị đã mất cha.
Có lẽ vì mẹ chị đã “thề ở vậy nuôi con” nên khi lớn lên, chị cũng “thề ở vậy
nuôi mẹ” mà không chịu lấy chồng. Đến khi giật mình nhìn lại thì tuổi đã
quá năm mươi, sự cô đơn, nghèo khó đã đeo đẳng chị hết cả cuộc đời. Hai
mẹ con, một căn chòi xiêu vẹo, một sào ruộng với mùa lúa mùa khoai.
Ruộng không đủ sống, chị phải lên rừng lấy củi, lên rẫy làm thuê để nuôi mẹ
già nay đau mai ốm. Vậy mà, “nhà sập bìm leo”: Trong lúc mẹ chị nằm liệt
giường vì đau khớp thì chị nghe trong ngực mình có một khối u và từng cơn
đau nhói. Ra tỉnh siêu âm, người ta nghi ngờ chị bị ung thư vú, chị vội vã
vào Sài Gòn xét nghiệm thì kết quả không sai.
Bệnh viện ung bứu bảo chị phải nhập viện để mổ lấy khối u. Điều đó
thật quá sức so với cảnh tình của chị. Tiền đâu để mổ ? Rồi ai nuôi mẹ già
đang nằm liệt giường trong mấy tháng trời ? May thay, có một người hàng
xóm tốt bụng đã tình nguyện chăm nuôi mẹ chị, còn chi phí nhập viện, chị
bán sào ruộng được mấy chỉ vàng.
Năm 1992, phương pháp điều trị ung thư vẫn còn là vấn đề nan giải,
cho nên sau khi mổ xong, chị Phẳng cứ bình thản về quê mà không lường
được những hậu quả sau nầy. Suốt ba năm dài, chị cứ miệt mài làm thuê
nuôi mẹ mà không hay rằng bệnh đang tái phát, đã di căn qua phổi, qua
xương. Rồi một đêm trong căn chòi tối tăm, xiêu vẹo ấy, mẹ chị đã trút hơi
thở cuối cùng trong vòng tay của chị – vòng tay của một người con đang lâm
bệnh ung thư !
Trong nỗi buồn đau cô quạnh, căn bệnh lại hòanh hành. Chị nghe hơi
thở nặng từng cơn, đôi chân đau buốt. Không còn cách nào khác, chị bán vội
mãnh đất thổ cư với căn chòi mục nát, lên mộ mẹ thắp một nén nhang rồi từ
biệt xóm làng, từ biệt nơi chôn nhau cắt rốn, nặng nề từng bước lên xe đò
vào Sài Gòn nhập viện. Đến đây, sau kết quả xét nghiệm chị mới hay rằng
giữa chị với cái chết đang sắp sửa cận kề. Mạng sống được giữ lại bằng mấy
liều hóa chất, nhưng đồng tiền không đủ cho chị đi đến toa thuốc sau cùng.
Đành chịu ! Chị ngồi thẩn thờ bên gói hành lý nhỏ nhoi với hai hàng nước
mắt. Giờ biết phải về đâu ? Về quê thì xem như không có đường về. Mà ở lại
làm gì khi không còn tiền chữa bệnh ? “ Thôi thì má cứ ở lại đây. Giường
nào trống thì cứ nghỉ, một bửa cháo, hai bửa cơm thì có bếp ăn từ thiện,
chết thì cũng có tổ chức từ thiện chôn cất hẳn hoi”. Chị Thu Nga, hộ lý của
khoa khuyên chị như thế. Chị không hiểu vì sao chị Nga lại tốt với mình như
một người thân. Một má Phẳng, hai má Phẳng. Tới tháng lương, chị Nga nhỏ
to với các y bác sĩ trích lại cho má Phẳng một ít tiền. Rồi tới kỳ hòan máu, ai
cũng có những người thân tiếp máu người thân. Thấy chị Phẳng tủi thân ngồi
khóc, chị Nga lại tự nguyện hiến máu của mình.
42

CÂU CHUYỆN THỨ BA
Ong Thiền ở nhà chạy tiền chạy gạo, An cùng với bốn anh trai túc trực
trong bệnh viện nuôi mẹ trong cảnh nghèo khó tột cùng mà căn bệnh của bà
Bích Vân thì không còn đường cứu chữa. Lúc bấy giờ, bệnh viện quá tải,
người bệnh người nuôi chen chút nhau, không đủ chổ nằm, chị Phẳng phải
nằm chui dưới gầm giường của bà Bích Vân. Trong những ngày sức khỏe
tạm thời ổn định, chị Phẳng đã sẽ chia, chăm sóc bà Vân, làm thay những
công việc mà con trai không làm được. Hai người đã trở thành bạn thân với
nhau tự lúc nào không biết. Bà Vân chừng như hiểu được nỗi khát khao của
chị Phẳng về cái hạnh phúc của một người mẹ sắp lìa đời trong sự ấm áp
tình thương của năm đứa con trai hiếu thảo. Bà hay nói với An: “Khi mẹ
chết rồi, con hãy lo cho má Phẳng như mẹ ruột của con”. Rồi bà nói với chị
Phẳng: “Nếu tôi đi trước, chị đi sau, chị hãy coi thằng An như con của chị”.
Chẳng hiểu sao, lúc ấy chị Phẳng trở nên khỏe mạnh lạ thường, chị
đóng vai trò chỉ huy năm anh em của An trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng bà
Vân. Kể cả khi bà Vân qua đời, chị cũng ra tận Vũng Tàu lo mai táng.

CÂU CHUYỆN THỨ TƯ
Mẹ An mất vào tháng bảy năm 2002. Năm ấy Ân thi rớt đại học.
Sau tết, em trở vô Sài Gòn để tiếp tục ôn thi. Ghé vào bệnh viện ung
bứu, Ân thấy má Phẳng nằm liệt dưới gầm giường, người xanh xao, đôi chân
không còn cử động. Không một chút đắn đo, An ở lại dưới gầm giường với
má. Tại đây, An vừa ôn bài, vừa chăm lo cho má Phẳng. Sau bốn giờ sáng,
em thức dậy xuống bếp từ thiện nấu cháo với các sư cô chùa Bảo Vân.
Xong, em trở lên làm vệ sinh cho má – những công việc mà trước đây, với
mẹ em, má Phẳng đã làm thay. Bây giờ, bao nhiêu hiểu biết, bao nhiêu kinh
nghiệm tích lũy trong những tháng ngày nuôi dưỡng mẹ mình, em đã dành
cho má Phẳng – từ cơm cháo, thuốc thang, tắm giặt. Trong đó, có cả sự khát
khao làm mẹ mà má Phẳng đã từng nói bằng ánh mắt với mẹ em.
Cứ thế, rồi đến một ngày, câu chuyện ấy được kể lại trên một tờ báo.
Chị Phẳng đã vượt qua cơn đau bởi những tấm lòng hảo tâm bằng những
liều hóa trị. Có một anh kiến trúc sư tên Nguyễn Văn Trung đã vào bệnh
viện tìm An để giúp em ôn thi. Trung nói, mẹ anh cũng chết vì ung thư lúc
anh mới lên mười hai tuổi, giờ anh muốn làm một điều gì đó để chia sẻ với
An. Hàng đêm, dưới ánh đèn công cộng, trên chiếc ghế đá trong khuôn viên
bệnh viện, bên con đường Nơ Trang Long xe cộ ồn ào, có hai mái đầu chụm
vào nhau trên trang sách. Mùa thi ấy, An đã vào đại học.
Hơn một năm dài, sau giờ tan học, ai nấy đều trở về nhà trọ hoặc nhà
mình. Chỉ có An lầm lủi trở về dưới gầm giường trong bệnh viện.An những
43
bửa cơm từ thiện, uống nước từ thiện, mọi sinh họat, học hành gắn trong một
thế giới của bệnh tật, của đau đớn, rên la và chết chóc. Rồi bệnh viện quá tải
đến mức gầm giường cũng không đủ chỗ cho bệnh nhân, buộc An phải đưa
má Phẳng ra nhà trọ.
Tôi tìm gặp lại An, bây giờ em đã là sinh viên năm thứ ba. An trắng
trẻo, đẹp trai và lúc nào cũng nở một nụ cười nhân hậu. “Năm ngóai – An
nói – khi phân chuyên ngành, em chọn ngành văn hóa. Nhưng ngành văn
hóa chỉ có một lớp buổi sáng, mà buổi sáng thì em phải đưa má vào bệnh
viện nên không học được. Cuối cùng em chọn ngành du lịch để học buổi
chiều”.
An đi rồi, chị Phẳng nằm bẹp một mình trong căn phòng trọ, nước mắt
rưng rưng. Chị nói: “ Nó đi rồi tôi mới dám khóc, sợ nó thấy nó rầy. Khổ
vậy mà lúc nào cũng thấy nó cười. Tan học về tới nhà là nó la lên: “ Con về
nè má ơi”. Rồi nhào vô xoa bóp chân, rồi hỏi han đủ thứ. Hôm nào kẹt xe về
trể là nó lo, nó lo vì nó sợ tôi lo. Đêm nào nó cũng thức học bài cho đến một
hai giờ khuya, vậy mà nó vẫn dậy sớm, đỡ tôi ngồi dậy, lấy nước, lấy bàn
chải, nặng kem, nấu nước nóng cho tôi lau mình rồi lui cui làm đồ ăn sáng.
Dạo nầy mỗi tuần tôi chỉ đi bệnh viện một lần nên nó mới đi học thêm tiếng
Anh, tiếng Hàn, vi tính . . .”
Tôi đâm ra thắc mắc: Với mức thu nhập tối đa mỗi tháng 900 ngàn
đồng ở một nhà hàng tiệc cưới, nơi An làm việc ca đêm thì làm sao có thể
nuôi nổi một người mẹ ốm đau, rồi tiền trọ, tiền học phí, tiền ăn . . . An lấy
gì để học thêm tiếng Anh, tiếng Hàn và vi tính ? Trong khi bốn người anh
của An đã tốt nghiệp đại học mà đồng lương vẫn còn bấp bênh, lại phải nuôi
cha đang bệnh ở quê nhà. Chị Phẳng nói: “ Hình như mọi thứ đều do bên
chùa Bảo Vân họ giúp “
Sư cô Như Giác, quản trị chùa Bảo Vân ở Bình Thạnh kể: “ Tôi biết An
trong một dịp tình cờ khi lên chùa Tường Vân ở Đơn Dương, thấy một cậu
bé vừa chăm học lại vừa siêng năng làm công quả. Lúc ấy em nói em vừa
muốn đi tu lại vừa có khát vọng học hành. Tôi khuyên em phải cố gắng học
đến nơi đến chốn rồi sau nầy theo đạo hay theo đời cũng đều tốt cả. Vậy rồi
mấy năm sau, cũng tình cờ thấy em tham gia nấu cháo từ thiện trong bệnh
viện ung bứu, hỏi ra mới biết em vừa ôn thi vừa nuôi má Phẳng. Từ đó
chúng tôi đưa em vào trong chương trình từ thiện của nhà chùa, có một gia
đình Phật tử nhận giúp đỡ em. Trong câu chuyện của em và má Phẳng,
người đời cho rằng đó là cái tâm, là sự tốt bụng và lòng nhân ái. Còn theo
triết lý nhà Phật thì đó là một nhân duyên, biết đâu họ đã là mẹ con với nhau
từ kiếp trước”.
44
Tin vào triết lý ấy hay không tin, điều đó tùy tôi và tùy bạn. Nhưng
trước mắt tôi, chị Phẳng, chị Thu Nga, Hữu An và sư cô Như Giác là những
con người có thật đang hiện hữu giữa cuộc sống nầy.



































45
Người đàn bà lãng mạn

Chị Thanh hẹn với tôi bảy giờ sáng chị sẽ đến nhà đón tôi đi Củ Chi để
xem cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và trang trí nội thất bằng gáo dừa
của chị. Đúng hẹn, chị chạy honda đến và nói một cách thản nhiên: Mình lên
ngã tư An Sương, gởi xe ở đó và đi xe buýt lên Củ Chi, xong phải đi xe ôm
thêm sáu cây số nữa. Tôi thoáng chút ngạc nhiên vì đường đường là một bà
chủ của hai Công ty mà không hề tỏ ra ngại ngùng khi đưa khách đi tham
quan cơ sở sản xuất của mình bằng phương tiện . . . thô sơ và công cộng như
thế.
Dứt lời, chị lao nhanh như chớp giữa dòng người chen chút trên những
con đường vào giờ cao điểm. Thỉnh thoảng, chị dừng lại để gọi điện thoại
hỏi tôi tới đâu. Tôi cứ bám theo bộ đồ đỏ của chị, nhưng chỉ cần dừng lại ở
một ngã tư là chị lại mất hút, sau đó chị lại gọi điện hỏi tôi tới đâu.
Khi ngồi trên xe buýt, tôi cứ ái ngại vì sợ chị cười mình chạy xe dỡ thì
chị lại giải thích: Anh đừng cười tôi chạy nhanh, nhịp sống thị trường nó
buộc mình phải thế, riết rồi quen. Hơn nữa tôi là dân từng vượt Trường sơn
mà !
Một người phụ nữ còn trẻ trung và khá xinh như chị mà nói là dân
Trường sơn thì cũng khó tin. Nhưng chị kể: Cha mẹ chị là chiến sĩ Biệt
động Sài Gòn thời chống Mỹ. Năm 1969, cả ba chị em gái của chị đều được
đưa vào chiến khu rồi vượt trường sơn ra Bắc. Năm ấy chị mới mười ba tuổi.
Sau hòa bình, chị được ra quân và đi học ngành cơ khí ở Liên Xô. Chị
nói con người chị vốn ham học ham làm nhưng cuộc sống thời bao cấp cứ
đưa chị vào những vòng lẩn quẩn, chẳng tìm thấy lối ra. Làm lính quân báo
thấy không hợp, làm cơ khí lại càng không hợp. Chị đi học Đại học Nga văn
để làm phiên dịch cho Ban quản lý dự án dầu khí Việt – Xô, lại thấy không
hợp. Chị chuyển qua làm ở Công ty Naforimex và đăng ký vào học khoa
Châu Á của Đại học Tổng hợp. Nhưng cuối cùng cũng chẳng tìm thấy công
việc nào phù hợp với mình. Cuối cùng, đến năm 1996, chị đứng ra thành lập
Công ty Trúc Phương, chuyên ngành dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập
khẩu.
Sự lựa chọn lần nầy có lẽ phù hợp đối với chị. Chẳng bao lâu, Công ty
Trúc Phương đã tạo được uy tín với khách hàng. Nhưng cuộc sống có tiền lại
làm cho chị nảy sinh những nhu cầu khác: Chị thèm có một quê hương, có
một nơi thanh vắng để đi về trong những ngày thứ bảy, ngày lễ hay ngày tết
cổ truyền. Chị nói cha mẹ chị từ Hải Phòng di cư vào Nam từ thời còn trẻ,
chị thì sinh trưởng ở Sài Gòn nên trong lòng lúc nào cũng khát khao một
vùng quê yên tĩnh. Chị nhớ hồi mới vào chiến khu, được sống với bà con Củ
46
Chi, được đi làm rẩy, đi chăn bò, được ngồi hóng mát dưới bóng tre, bóng
dừa, được ngắm nhìn hoàng hôn xuống với những sợi khói lam chiều la đà
trên mái lá mái tranh . . .
Nhịp sống Sài Gòn càng sôi động bao nhiêu thì chị càng khát khao có
một làng quê như thế bấy nhiêu.
Chúng tôi xuống trạm xe buýt ở cầu vượt Củ Chi, chị Thanh gọi cho
mỗi người một chiếc honda ôm đi qua những đoạn đường đất đỏ ngoằn
ngoèo, những đồng lúa, bờ tre. Dọc hai bên đường, người ta bày bán những
trái bình bát chín. Mùi bình bát gợi nhớ trong tôi cái quê hương của một thời
xa lắc. Thì ra chị Thanh đã chọn nơi đây làm quê hương : Con kinh Thầy Cai
nước trong xanh biếc, những cánh đồng năn, những vườn dừa, bờ trúc, bờ
tre, những ngôi nhà chữ đinh, những khoảnh sân gạch tàu đỏ rực. . .
Bên bờ kinh, lẩn trong vườn cây ăn trái, ngôi nhà ba gian của chị Thanh
hiện ra một cách hài hòa, dung dị. Nhưng chị Thanh khẳn định một cách tự
tin rằng, ở Việt nam, và cả trên thế giới, chắc chắn chưa có ngôi nhà thứ hai
nào như vậy. Quả nhiên, khi bước vào nhà, tôi mới hiểu vì sao chị thanh
dám tự tin như vậy. Chẳng phải sơn son phết vàng, cũng chẳng phải là châu
báu hay kim cương mà nó được tạo bởi hơn một trăm cây dừa ghép lại. Cột
dừa bào tròn như gỗ miền đông, xuyên dừa, sạnh dừa, kèo dừa, đòn tay dừa,
gui dừa, vách ván dừa, cửa lá sách dừa, khuôn bông trang trí dừa, bức bình
phong và tranh treo vách cũng bằng dừa, tủ, bàn ghế, giường ngủ bằng gỗ
dán gáo dừa, và tất cả đồ gia dụng, đồ trang trí cũng bằng gỗ dừa và gáo dừa
. . . Nhưng mọi thứ không phải làm để mà chơi, chị Thanh nói, gỗ dừa trên
một trăm năm được xử lý hóa chất thì không có mối mọt nào phá được, độ
bền không thua các loại gỗ quý miền đông, còn gáo dừa thì bản thân nó
thuộc dạng sừng, có độ bền vĩnh cửu. Cho nên ngôi nhà nầy đến đời con đời
cháu của chị cũng chẳng ăn thua gì.
Rồi chị thở dài than vắn nói rằng, mục đích của chị mua đất cất ngôi
nhà nầy là để thõa mãn khát vọng có một quê hương, làm nơi hưởng nhàn
cho gia đình và thân tộc. Nhưng không ngờ chính ngôi nhà nầy đã đẩy cuộc
đời chị sang một trang mới, tất tả hơn, nhọc nhằn hơn, nhưng cũng thú vị
hơn.
Sau khi hòan chỉnh ngôi nhà dừa thì cái ý tưởng thành lập một Công ty
chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và trang trí nội thất từ cây dừa cũng
bắt đầu manh nha trong chị. Thế là Công ty Dừa Việt ra đời. Bao nhiêu vốn
liếng tích lũy được từ Công ty Trúc Phương, chị đầu tư hết vào Công ty Dừa
Việt. Trên năm mươi mặt hàng gia dụng và quà lưu niệm ra đời từ thân dừa
và gáo dừa vẫn không làm cho chị thoả mãng. Chị nói càng làm càng thấy
mê, cái vẻ đẹp tự nhiên của cái gáo dừa nó cứ thôi thúc chị phải làm một cái
gì đó, một cái gì đó vượt xa những mặt hàng mỹ nghệ. Mỗi một gáo dừa, tùy
47
theo điều kiện thổ nhưỡng của mỗi vùng đất, tùy theo tuổi tác nó có một vẻ
đẹp riêng, thậm chí ở mỗi vị trí trên một gáo dừa cũng có những cấu trúc,
những đường nét, những màu sắc khác nhau. Và khi chị thử gép chúng lại
thành một cái mặt bàn, một viên gạch lót nền nhà thì nó giống như một bức
tranh trừu tượng. Chị tiếp tục nghiên cứu thì càng phát hiện thêm những điều
lý thú: Gáo dừa thuộc dạng sừng hóa nên có độ bền vĩnh cửu, không cần
dùng sơn và hóa chất, những mau dẫn có độ đàn hồi cao, có khả năng cách
âm, cách nhiệt, chống thấm và lưu giữ mùi hương rất lâu nên rất thích hợp
để sản xuất những mặt hàng trang trí nội thất cao cấp như gạch lót nền, gạch
ốp lát, bàn ghế giả cổ, tủ ly, tủ sách . . .
Thế nhưng, để sản xuất thành hàng hóa cung cấp cho thị trường thì yếu
tố đầu tiên là phải nghiên cứu một quy trình công nghệ. Lúc nầy chị mới
thấy giá trị của những năm đi học nghề cơ khí ở Liên Xô. Hơn hai năm qua,
chị âm thầm nghiên cứu và mỗi tháng phải đầu tư hàng chục triệu đồng để
trả lương công nhân, mua sắm vật tư, thiết bị, cải tạo máy móc, sản xuất thử
nghiệm. Bây giờ thì chị đã hoàn tất quy trình công nghệ và đã nộp hồ sơ
đăng ký sở hữu công nghệ độc quyền.
Chị Thanh cho biết, một số sản phẩm ban đầu đã bán hết nhưng chị phải
dừng lại để đào tạo dội ngủ công nhân. Theo chị, mỗi công nhân của chị dù
là thợ thủ công hay thợ máy đềi phải là những nghệ nhân thực thụ bởi mỗi
sản phẩm làm ra đều có dáng dấp của một tác phẩm nghệ thuật. Thậm chí
ngay từ công đoạn đầu tiên và đơn giản nhất, tức là khi chọn gáo dừa, phải
biết cảm nhận mỗi mảnh gáo là chất liệu nghệ thuật chớ không đơn thuần là
nguyên liệu thô.
Chị vừa nói vừa dẫn tôi đến xem cái mặt bàn tròn có đường kính 1,5
mét đang dựng trên vách được kết lại bởi hàng trăm mảnh gáo dừa đủ cở.
Nhưng khi chị giới thiệu đây là mặt trống đồng thì tôi mới giật mình nhìn kỹ
và nhận ra. Đúng như chị đã nói ban đầu: Mỗi một mảnh gáo dừa có những
đường nét, màu sắc riêng, và khi ghép chúng lại, nó sẽ cho ta một bức tranh
trừu tượng.
Cuối năm 2004, chị Thanh tổ chức triển lãm 70 bức tranh gáo dừa tại
92 Lê Thánh Tôn. Tôi hỏi: “Làm cách nào để tạo nên những bức tranh lạ
như thế nầy, một thứ chất liệu chưa từng có trong lịch sử hội họa ?”. chị
Thanh cho biết, chị mang ý tưởng của mình đi mời một số họa sĩ lên phác
thảo rồi giao cho các em sinh viên trường Mỹ thuật công nghiệp Đồng Nai
phối hợp với nhóm thợ thủ công của Dừa Việt thực hiện.
Thật khó mà diễn tả được cảm xúc khi xem 70 bức tranh được kết nối
từ những mảnh gáo dừa. Cổng làng, điểm tựa, hoa nữ, nắng hạ, chăn trâu,
mùa vàng, trò đùa con trẻ, điều còn lại sau chiến tranh, vòng xóay cuộc đời .
. .những chiếc gáo dừa lăn lóc bên hè phố, bờ mương qua ý tưởng của chị đã
48
trở thành những đường nét, những hình khối tạo thành những dòng sông, bến
nước, mái nhà, phố chợ, làng quê, niềm hạnh phúc, nỗi lo toan, những trăn
trở, suy tư của thân phận con người. Một thứ ngôn ngữ lạ lùng đến mức chưa
ai có thể gọi đúng tên đây là tác phẩm nghệ thuật hay là hàng mỹ nghệ.
Nhưng với chị Thanh, có lẽ khái niệm thế nào cũng không quan trọng, điều
quan trọng với chị là ý tưởng tôn vinh chiếc gáo dừa, tôn vinh cây dừa Việt
Nam của chị đã được thực hiện.
Gần nửa năm sau cuộc triển lãm lạ lùng ấy, một hôm ngồi trong quán
cà-phê Sỏi đá ở 6B Ngô Thời Nhiệm, bất chợt tôi nhận ra chiếc bàn trước
mặt mình được làm bằng những mãnh gáo dừa, và trên vách tường cũng
chính là những bức tranh của chị. Tôi gọi điện hỏi thăm, chị nói chị vừa
nhận được hai giải thưởng của Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật thành phố.
Song, đó chỉ là giải thưởng, mơ ước của chị là tổ chức một cuộc triển lãm
lớn ở châu Au để cho cây dừa Việt Nam “nói một tiếng gì đó” với nước
ngòai. Nhưng . . .
Qua điện thọai, chị không nói nhiều nhưng tôi cảm nhận được đằng sau
chữ “nhưng” ấy là những tiếng thở dài với những chuyện không vui xoay
quanh chuyện cơm áo gạo tiền, vốn liếng đầu tư.
Tôi hiểu, để có những sản phẩm ấy, chị đã bỏ ra tiền tỷ nhưng mục tiêu
kinh doanh của chị vẫn mập mờ sau những ý tưởng đầy lãng mạn.
Biết nói thế nào được, bởi chị vốn là người phụ nữ lạ lùng.











49
Chị Phượng
Đi, ngắm nhìn, cảm nhận và ghi nhận : Những đồng lúa,
những bờ tre, những chiếc cầu, phiên chợ nổi, cánh đồng muối,
chùm bông điên điển, một buổi bình minh, một ánh nắng chiều,
một đàn trâu, một cánh diều . . . Tất cả đã trở thành quê hương,
quê hương đã làm dịu đi nỗi đau của người mẹ mất con. Và, quê
hương đã làm nên tác phẩm.


Với chiếc máy ảnh trên tay, chị đã đi, đi và đi mãi. Có khi người ta thấy
chị ngồi trên chiếc đò chèo bồng bềnh trên những vùng sông nước, có khi
chị lang thang giữa cánh đồng lúa chín, đeo bám theo những đứa trẻ thơ,
những cánh diều và những đàn trâu, có lúc lại ngồi lặng lẽ dưới bóng dừa
như để chờ đợi ai đó đi qua chiếc cầu tre. . . Và có lần từ miền tây, chị đã
làm cả một cuộc hành trình xuyên Việt.
Chị đi như để quên những nỗi đau quá lớn trong đời. Và cũng chính từ
trong nỗi đau ấy, chị đi với niềm say mê cuộc sống. Chị nói, chiến tranh đã
xô đẩy con người ta vào những ngã rẽ không lường, chỉ có điều là mình có
chịu đựng, có đối phó với hòan cảnh được hay không.
Năm 1967 chị lấy chồng. Người ta gọi đó là một đôi trai tài gái sắc.
Chồng chị – anh Lý Wầy – phóng viên nhiếp ảnh chiến trường. Còn chị –
Trịnh Thị Linh Phượng – diễn viên đòan văn công giải phóng tỉnh Hậu
Giang. Với tuổi mười chín trẻ trung xinh đẹp, lại đa tài: ca nhạc, ca cổ, dễn
kịch, múa, hát cải lương, môn nào chị cũng làm cho các chàng trai ngây
ngất. Nhưng rồi chị đã lọt vào ông kính của anh phóng viên nhiếp ảnh chiến
trường sau một đêm trình diễn văn nghệ mường xuân ở một miền quê giải
phóng có cái tên gọi thân thương là Bến Ruộng-Long Mỹ-Hậu Giang.
Cuộc đời tưởng sẽ tươi đẹp, sẽ hạnh phúc vô cùng khi đất nước thanh
bình, anh chị đã sinh được ba đứa con trai. Họ được cấp một căn nhà khá
rộng, cả hai vợ chồng cùng làm việc ở Ty Văn hóa thông tin. Chị vừa làm
thủ thư trong thư viện, vừa đi học bổ túc văn hóa, anh tiếp tục theo nghề
nhiếp ảnh. Cuộc sống bình dị mà hạnh phúc tuyệt vời, càng tuyệt vời hơn
khi ba đứa con trai càng khôi ngô tuấn tú. Nhưng rồi chỉ hơn hai năm sau
hòa bình, một tai họa như trời giáng xuống gia đình chị: cả ba đứa con trai
lần lượt ngã bệnh, các cháu bỏ ăn, bỏ uống, nằm liệt giường, rồi bị mù mắt,
điếc tai, người héo gầy teo tóp. Một chứng bệnh lạ lùng mà khi chị đưa đi
khám thì hầu hết từ bác sĩ chuyên khoa đến lương y nổi tiếng trong nước
đều lắc đầu, không định được tên, không tìm ra thuốc chữa. Gần sáu năm
50
trời, với mức sống khắc khổ của thời bao cấp, vợ chồng chị phải nuôi ba đứa
con quằn quại trên giường bệnh. Nước mắt chị đã đổ dài theo năm tháng,
trên từng bước đường chạy chữa cho con. Từ các bệnh viện chuyên khoa
trong nước đến các thầy thuốc gia truyền ở những vùng hẻo lánh xa xôi.
Nhưng tất cả đều vô vọng. Năm 1978, đứa con trai lớn qua đời, năm 1979,
đứa thứ hai cũng ra đi. Năm 1980, chị ẳm đứa con thứ ba lên tàu ra Hà Nội
với hy vọng cuối cùng. Sau ba tháng chờ xét nghiệm, Giáo sư Tôn Thất
Tùng đã gặp chị để chia buồn: “Bệnh nầy không chữa được vì chất độc màu
da cam đã hủy diệt tế bào trong cơ thể cháu bé, đây là nạn nhân chiến tranh,
chú xin chia sẻ nỗi đau với cháu”. Chị vừa ngã quỵ, vừa gào thét lên trong
cơn tuyệt vọng.
Ngày 20 tháng 3 năm 1982, đứa con cuối cùng của chị đã qua đời.
Không ai có thể thấu hiểu nỗi đau của người mẹ trong lúc nầy bằng chính
chị, và ngay cả bây giờ, sau một phần tư thế kỷ mang nặng nỗi đau ấy, chị
cũng không thể nào diễn tả bằng lời. Chị chỉ biết rằng lúc ấy chị không còn
sức sống, không còn thiết sống. Chị nằm vật vã mấy tháng trời không cháo,
không cơm. Bạn bè, người thân thay phiên nhau chăm lo, canh chừng sự
sống cho chị. Nhưng sẽ không ai ngăn nổi cái chết của chị nếu không có anh
Lý Wầy: “Nếu chết mà gặp được con thì anh với em cùng chết. Nhưng đó là
điều không thể có, cho nên phải sống !”
Phải sống ! Chị đồng ý với anh. Nhưng sống để làm gì khi một người mẹ
đã mất đi ba đứa con trai ? Trống vắng, hụt hẫng đến vô cùng khủng khiếp !
Chị nghe lời anh mà sống, sống mà như điên dại, lúc tĩnh lúc mê như ác
mộng chập chờn. Ba mươi ba tuổi đời, cái tuổi mà người ta có thể làm lại từ
đầu nếu phải lỡ bước sa chân với nhiều đau thương mất mác. Nhưng mất con
thì không thể nào tìm lại, và chị đã biết, di chứng của chất độc màu da cam
như tử thần đang rình sẵn . . . Đó là một nỗi đau phía trước mà cả anh và chị
đều không dám nghĩ tới, không dám nói ra . . .
Anh Wầy không dám rời xa chị dù chỉ một ngày.
Anh bắt đầu dạy chị chụp hình như một liệu pháp tâm lý.
Với nghề nhiếp ảnh, xưa nay mẹ con chị chỉ biết làm người mẫu cho anh.
Bây giờ, anh làm người mẫu cho chị thực tập từ những thao tác cơ bản về
nét, về tốc độ, khẩu độ cho đến ánh sáng, bố cục và các thủ pháp tạo hình.
Với chiếc xe cà tàng, hàng ngày anh chở chị đi chụp từ những vùng ngọai ô
lân cận dần dần đến các tỉnh xa xôi. Tối về, anh dạy chị tráng phim, phóng
ảnh. Cuộc sống nghèo khổ nhưng anh đã dành hết tiền lương và các khỏang
thu nhập để mua phim, mua giấy, mua hóa chất cho chị làm ảnh, mua xăng
và chi phí cho chị thực hiện những chuyến đi.
Anh không muốn cho chị – và cả anh nữa – phải quẩn quanh trong căn
nhà hiu quạnh. Anh chở chị đi khắp các tỉnh miền tây. Đi, ngắm nhìn, cảm
51
nhận và ghi nhận : Những đồng lúa, những bờ tre, những chiếc cầu, phiên
chợ nổi, cánh đồng muối, chùm bông điên điển, một buổi bình minh, một
ánh nắng chiều, một đàn trâu, một cánh diều . . . Tất cả đã trở thành quê
hương, quê hương đã làm dịu đi nỗi đau của người mẹ mất con. Và, quê
hương đã làm nên tác phẩm. Những tác phẩm Quê hương, Chăm học, Hồi
ức, Mùa nước nổi, Chợ về, Bán dạo, Phù sa, Vị mặn cuộc đời, Bến sông,
Tạm biệt mùa xuân . . . của chị lần lượt ra đời, lần lượt có mặt trong các
cuộc triển lãm trong nước và quốc tế đã mang lại cho chị nhiều giải thưởng.
Chồng chị, người đã động viên chị phải sống và tạo cho chị một sự sống
khác, nhưng, có lẽ anh đã linh cảm được rằng tử thần đang rình rập sự sống
của mình bởi di chứng chất độc màu da cam nên anh lo sợ chị phải sống cô
đơn. Một hôm, anh gợi ý với chị nên thành lập Câu lạc bộ nhiếp ảnh nữ
Đồng bằng sông Cửu Long để tạo ra một đội ngủ bạn bè đồng nghiệp, đồng
giới, đồng hội đồng thuyền. Chị đồng tình, anh thay chị chạy lo thủ tục hành
chánh, sọan thảo điều lệ, quy chế, thư ngỏ rồi chở chị đi khắp các tỉnh trong
khu vực để vận động chị em. Năm 1996, Câu lạc bộ chính thức ra đời, tổ
chức cuộc triển lãm đầu tiên với hàng trăm tác phẩm của gần năm mươi tay
máy nữ. Mái nhà chung của chị vừa mới xây xong thì anh Lý Wầy cũng vĩnh
viễn ra đi . . .
Trước giờ nhắm mắt, anh vẫn ra lệnh cho chị phải sống, sống để tiếp tục
xây dựng mái nhà chung cho chị em cầm máy ở miền tây thân yêu. Và, có
một công việc anh đang làm dỡ dang mà ngòai chị ra, không ai làm thay
được: Hơn mười ngàn tấm phim tư liệu chiến trường của anh và của đồng
đội anh đã hy sinh, anh đã giữ gìn, chống ẩm trong những thùng đạn và
mang theo suốt cuộc chiến tranh. Đó là nhân chứng của lịch sử, là tài sản vô
giá của quê hương đất nước, là xương máu của đồng chí đồng bào. Ước
nguyện của anh là phóng tất cả thành ảnh mẫu, hệ thống lại, chú thích lại và
bàn giao lại cho viện bảo tàng.
Gần mười năm qua, chị Phượng đã sống với hai công việc mà anh Lý
Wầy giao lại. Công việc thứ hai chị đã làm xong. Còn công việc thứ nhất chị
vẫn đang làm và sẽ làm mãi mãi, bởi chị hiểu ra rằng, đó chính là sự sống.
Cũng trong ngần ấy mười năm, Câu lạc bộ nhiếp ảnh nữ Đồng bằng sông
Cửu Long đã tổ chức gần hai mươi cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật trong khu
vực, tham gia nhiều cuộc triển lãm trong nước và quốc tế. Thiết nghĩ, cũng
bằng thừa nếu phải kể ra rằng các chị đã có bao nhiêu tác phẩm, bao nhiêu
giải thưởng. Bởi với chị Phượng, ngay từ khi cầm máy cho đến bây giờ – khi
chị đã đứng vào hàng ngủ của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam – chị chưa
bao giờ nghĩ rằng chiếc máy ảnh là phương tiện để chị thi thố tài năng mà nó
chỉ giúp chị vơi đi nỗi đau cũng như Dostoepski từng nói: Cái đẹp cứu cánh
sự sống .
52
Gã giang hồ lương thiện

Trường học lớn nhất của Lê Vũ Cầu là sân khấu, là
chuyện nhân tình thế thái trên sàn diễn. Những nhân vật
giang hồ hảo hớn sống bất cần đời trong những vỡ tuồng
kiếm hiệp đã tạo thêm chất hoang dã trong con người đã
trót giang hồ từ tấm bé của anh. Sân khấu đã biến anh
thành kẻ giang hồ lương thiện, nếu không, chẳng biết
cuộc đời sẽ đưa anh vào ngã rẽ nào.

Hàng ngày, cứ đến 11 giờ trưa, nhà hàng “Vợ thằng Đậu” – số 40
Đặng Văn Bi, Thủ Đức – trở nên đông nghẹt khách, có hôm lên đến gần hai
trăm người. Tuy nhiên, không phải khách hàng bình thường mà là những con
người cơ nhỡ tứ phương đến đây dùng bữa cơm chay từ thiện do nghệ sĩ Lê
Vũ Cầu đãi ngộ. Nói đến cơm chay từ thiện, người ta dễ hình dung đến một
sự bố thí qua loa của người có của dành cho kẽ nghèo hèn. Tôi thật sự bất
ngờ trước một bữa cơm từ thiện mà người ăn được đối đãi trân trọng như
thực khách của nhà hàng bởi nhân viên phục vụ luôn tỏ ra ân cần và lịch sự.
Khách đến cứ ngồi vào bàn, nhân viên mang ra một khay cơm và ba món ăn
chay gồm món canh, món xào và món mặn. Khách cần thêm cơm hoặc thức
ăn, cứ gọi người phục vụ. An xong, nếu khách muốn thêm một phần mang
về cho buổi chiều, cứ gọi người phục vụ.
Gần hai trăm người khách đến đây là gần hai trăm số phận, có những cụ
già neo đơn không nơi nương tựa, có những lão hành khất qua đường, có
những học sinh, sinh viên nghèo không đủ tiền ăn cơm tháng, có những đứa
trẻ mồ côi đi đánh giày, bán vé số bất chợt ghé qua, có những chị từng là
thanh niên xung phong thời chống Mỹ quê ở tận miền Trung nghèo khó, một
chiếc xe đạp không thắng không vè với chiếc cần xé giấy vụn, ve chai gồng
gánh cả đàn con ăn học
ở quê nhà . . . Cứ nhìn họ ăn ngon miệng, Lê Vũ Cầu cảm thấy ấm lòng. Đôi
khi có những ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt đến trong anh: Biết đâu trong số họ có
những người ngày xưa từng giúp đỡ mình, giờ thất cơ lỡ vận, làm sao mà
biết được những ngã rẽ của cuộc đời.
Lê Vũ Cầu tâm sự: “Của cho không bằng cách cho. Một bữa cơm không
đáng là bao nhưng cho không khéo chỉ làm người ta tủi phận. Cuộc đời mình
khổ quá nhiều rồi, cái mà mình sợ nhất trên đời nầy là sợ đói. Cho đến bây
giờ, cái đói vẫn còn ám ảnh trong những giấc mơ. Thời thơ ấu có những đêm
53
mưa nằm ngủ vĩa hè, một nửa người dựa vào tường dưới mái hiên, đôi chân
để ngòai mưa lạnh buốt, bụng đói đến cồn cào, đói như điên dại. Có lần đói
quá không chịu nổi, mình đánh liều ghé vào quán cơm bình dân trên vĩa hè
kêu một dĩa cơm dồi trường xào dưa cải. Có lẽ đó là dĩa cơm ngon nhất trên
đời. An xong, mình hồi hộp nói với bà chủ quán : “Dì ơi con lỡ hết tiền, dì
cho con thiếu, mai con quay lại trả”. Không ngờ bà chủ nhìn mình với một
nụ cười đôn hậu: “Không sao đâu con, hôm nào hết tiền thì cứ đến ăn, dì cho
thiếu”.
Một ngày cuối năm 1963, một chiếc phi cơ bị trúng đạn bay vòng vèo
qua thị xã Cà Mau, bất thần nó lũi vào một ngôi nhà bên bờ sông, cạnh cầu
sắt Phán Tề làm hai vợ chồng người chủ nhà bị vùi trong đất, bỏ lại sáu đứa
trẻ mồ côi, trong đó có Lê Vũ Cầu vừa lên tám tuổi. “Buổi sáng oan nghiệt
ấy –Lê Vũ Cầu kể – một chị của Cầu đi học, một chị dắt hai đứa em đi chơi
trong xóm, còn Cầu thì theo các bạn đi lượm đồ hộp của Mỹ ở sân bay.
Bổng nghe một tiếng nổ kinh hòang cùng với cột khói bốc lên từ phía nhà
mình, Cầu chạy về thì hởi ơi ! Ngôi nhà biến mất sau xác chiếc máy bay, ba
mẹ Cầu bị vùi trong lớp đất thật sâu, cuộn tròn trong lớp dây chì gai làm
hàng rào trước sân nhà”.
Nhà cửa không còn, cha mẹ không còn, chị em Cầu được bà con thân
tộc chia nhau mỗi người nuôi một đứa. Cầu theo bà nội về Tây Ninh được
một năm thì bỏ nhà đi bụi. “Ở nhà nội mình hay bị mấy ông anh con của
người bác ăn hiếp, vừa tủi thân, vừa tức giận. Một hôm giành nhau trái vú
sữa sau vườn, không nhịn nữa mình thoi vào mặt ông anh, xịt máu mũi.
Hoảng quá, nghĩ mình phận mồ côi, người ta có cha có mẹ, về nhà chắc chắn
sẽ bị ăn đòn, rồi sẽ bị mấy anh hành hạ dài dài, càng nghĩ mình càng sợ
không dám về nhà”.
Lê Vũ Cầu nhảy lên xe đò đi Sài Gòn, lang thang mấy ngày ở bến xe
Pétrust Ký. Một hôm, anh xin làm lơ cơm cho chiếc xe đò chạy tuyến miền
Trung mà chẳng biết điểm dừng của nó ở đâu. Cầu ngơ ngác trước những
làng mạc, đồng quê, núi đồi, đèo cao và biển cả. Anh cũng chẳng hiểu sao
mình lại chọn thành phố Quy Nhơn làm điểm dừng chân để bắt đầu một kiếp
sống bụi đời. Quê hương, nhà cửa, người thân, chén cơm, manh áo và những
câu hỏi về cuộc mưu sinh với cậu bé tám tuổi như Cầu chỉ là những khái
niệm rất mơ hồ. Sự sống là mạnh được, yếu thua. Chẳng bao lâu, Cầu nổi
danh là Cầu Sài Gòn trong những băng nhóm trẻ lang thang ở thành phố Quy
Nhơn. Từ ăn xin, đánh giày đến chôm chỉa, cướp giựt ở nhà ga xe lửa, đánh
Mỹ để bảo kê cho gái giang hồ . . . chuyện gì cũng làm được nếu nó mang
lại chén cơm. Cuộc sống trở nên sang trọng hơn khi Cầu phát hiện kho hàng
của căn cứ Mỹ. Ban đêm, bảy đứa trẻ, mỗi đứa một cây kềm cắt hàng rào
kẽm gai mò vô kho, gặp cái gì vác ra cái nấy, có khi là bơ sữa, thịt bò, thuốc
54
lá, có khi là cả một thùng lựu đạn hay súng K54. An quen bắt bén, một đêm
nọ vừa qua lớp hàng rào thứ ba thì bị lính canh phát hiện, đèn pha sáng một
vùng trời,đạn bắn xối xả như mưa. Cầu chạy bán mạng xuống bờ sông, chui
vào chiếc tàu cá. Sáng ra thấy chổ hiện trường người ta bu đông nghẹt. Cầu
lọ mọ đến xem. Một thảm cảnh kinh hòang: sáu đứa bạn của Cầu bị bắn chết
đêm qua nằm xếp hàng trên vũng máu, ngực mỗi người mang hai chữ VC.
Cú sốc về cái chết của sáu người bạn đã làm cho Lê Vũ Cầu trở nên bấn
loạn, khi thì âm thầm lặng lẽ với công việc đánh giày, lúc lại nổi cơn điên
lao vào dao búa. Hồi ấy, những đứa trẻ đánh giày ở Quy Nhơn đều phải chịu
sự chăn dắt và quản lý của một tên trùm anh chị gọi là đại ca, nghĩa là chiều
về phải nộp hết tiền cho đại ca mới được hành nghề. Hôm nào nộp ít thì bị
nghi ngờ là gian lận, giấu tiền, bị hạch sách, bị chửi mắng, thậm chí bị ăn
đòn. Buổi sáng hôm nọ, Cầu đang đói bụng rã rời mà trong túi thì không còn
tiền vì chiều hôm qua đã nộp hết cho đại ca,trong khi đó đại ca đang ngồi ăn
tô bún bò ngon lành, hắn vừa ăn vừa mắng Cầu dạo nầy nôp tiền quá ít.
Không kềm chế được, Cầu ném nguyên cái hộp đồ nghề bằng gổ vào mặt
hắn, máu tuôn xối xả. Từ hôm ấy, đại ca biến mất, trả lại tự do cho nhóm trẻ
đánh giày ở Quy Nhơn.
Rồi có một đêm nọ đoàn cải lương Minh Cảnh ra hát ở Quy Nhơn, Lê
Vũ Cầu cảm thấy lòng dạ bồi hồi khi nghe câu vọng cổ, cảm thấy lạc lõng,
chơi vơi nơi đất khách quê người. Và, dường như điệu đàn vọng cổ đã làm
cho anh chạnh lòng khao khát một quê hương dù quê hương trong anh không
có một hình ảnh rõ ràng, không một địa danh nào cụ thể. Chỉ biết một cách
mơ hồ rằng nơi đó có những dòng sông, những bến nước xuồng ghe dập dìu
tấp nập, những cánh đồng xanh biếc, những buổi chiều quê ngân nga tiếng
vọng cổ u buồn.
Được nhận vào đòan cải lương Minh Cảnh để làm nhân viên hậu đài và
sóat vé, Lê Vũ Cầu cảm thấy quá khủng khiếp khi nhìn lại năm năm sống ở
Quy Nhơn, anh cũng chẳng hiểu sao mình đến đó, chẳng ai ép, cũng chẳng
ai mời, cứ như từ trên trời rớt xuống để rồi cho và nhận từ mảnh đất nầy
trăm thứ đắng cay.
Cứ nghĩ, đi theo đoàn hát cho thỏa mãn kiếp giang hồ. Từ đoàn Minh
Cảnh sang Mây Tần, Hương Mùa Thu, Kim Chưởng, Phước Chung, Bông
Hồng, Cửu Long Giang . . . đi lưu diễn khắp miền trung đến miền tây. Từ
một nhân viên hậu đài, sóat vé, kéo micro, kéo màn, đấm bóp cho kép chính
rồi được đóng vai quân sĩ câm, quân sĩ cấp báo, dần dần lên vai phụ, kép độc
rồi kép chính. Từ cải lương sang kịch nói, Lê Vũ Cầu chẳng bao giờ hy vọng
mình trở thành một nghệ sĩ nổi danh. Ngay cả bây giờ cũng thế, chưa bao
giờ anh tự cho mình là một danh hài. Kiếp giang hồ đã tạo cho anh thành kẻ
khinh tài trọng nghĩa, sống hết mình, sống bản năng và hoang dã. Trường
55
học lớn nhất của Lê Vũ Cầu là sân khấu, là chuyện nhân tình thế thái trên
sàn diễn. Những nhân vật giang hồ hảo hớn sống bất cần đời trong những vỡ
tuồng kiếm hiệp đã tạo thêm chất hoang dã trong con người đã trót giang hồ
từ tấm bé của Lê Vũ Cầu. Sân khấu đã biến anh thành kẻ giang hồ lương
thiện, nếu không, chẳng biết cuộc đời sẽ đưa anh vào ngã rẽ nào.

Khi hài kịch bắt đầu lên ngôi thì diễn viên hài cũng bắt đầu có của ăn của
để, nhưng Lê Vũ Cầu dường như không có khái niệm tích lũy, hễ có tiền là
anh đi tìm bạn để nhậu đến đồng bạc cuối cùng. Anh nói cuộc đời mình đã
nhận nhiều hơn cho thì hà tất gì phải tích lũy,đồng tiền để trong túi chỉ làm
anh rai rứt.
Nhưng tạo hóa đôi khi cũng có luật bù trừ. Mồ côi cha mẹ, lưu lạc anh
em nhưng Lê Vũ Cầu lại gặp một người anh, một người không phải họ hàng
nhưng đối với anh còn hơn ruột thịt, đó là đạo diễn Thế Ngữ.
-Năm 1982, tôi đến dựng vỡ Cô lái xe và cái bình cổ cho đoàn kịch nói
Bông Hồng, thấy Cầu diễn rất thật nên tôi thương nó. Chỉ đơn giản vậy thôi.
Sau đó tôi về đài truyền hình làm chương trình Trong nhà ngòai phố, tôi mời
Cầu về cọng tác, rồi mời Cầu về nhà tôi ở. Tuy không cắt máu ăn thề nhưng
anh em thương nhau tự lúc nào không biết. Đó là những năm tháng đói khổ,
vừa làm cho nhà nước, vừa chạy sô khắp nơi kiếm sống. Tôi nhớ năm 1986,
tôi sinh đứa con gái đầu lòng, nghèo đến mức con bé bị suy dinh dưỡng. Lúc
ấy Lê Vũ Cầu đi soi từng con cóc về làm thịt, vã ra lấy nước nấu thay sữa
cho con bé.
-Năm 1992, anh Thế Ngữ vay 40 triệu để hùn với anh Bảo Quốc làm
phim Thủ môn từ trên trời rơi xuống, bán phim lời được 10 cây vàng, anh ra
Thủ Đức mua miếng đất, sau đó bán lại lời được 50 cây. Từ đó anh Ngữ trở
thành nhà kinh doanh đất. Anh bảo: “ Chú đi theo tôi, tôi thì lo mua, còn
chú thì lo bán, lời chia đôi”. Tôi cứ nghĩ ảnh nói vui vậy thôi, ảnh có đất,
mình giới thiệu người mua giúp ảnh, thậm chí không nghĩ đến tiền cò, ai ngờ
ảnh làm thiệt. Lần đầu tiên ảnh gọi tôi đến: “ Nầy nhé, miếng đất nầy ba
mẫu rưởi, tôi mua ba chục cây, mình bán ba mẫu, giá năm chục cây, lãi hai
chục cây, phần chú mười cây, tôi mười cây, còn lại năm ngàn mét vuông,
chú một nửa, tôi một nửa”.
Hai người đã nói về nhau như thế.
Khi kết thúc công việc làm ăn, Thế Ngữ chia cho Lê Vũ Cầu hơn một
trăm cây vàng và bảy lô đất, cộng lại hơn hai mẫu. Thế Ngữ nói đó là lộc
trời, phải chia cho anh em từng đồng cam cộng khổ, một thời hạt muối chia
đôi.
Lê Vũ Cầu mở quán Vợ thằng Đậu để làm một chốn đi về, làm nơi hội
ngộ những bạn bè thân hữu, để những đứa cháu ở thôn quê có cộng việc làm
56
ăn. Nhưng không ngờ cái thương hiệu Lê Vũ Cầu với chùm hài kịch Vợ
thằng Đậu đã làm nên thương hiệu quán. Có đất đai mênh mông, có tiền vô
dư dã, Lê Vũ Cầu nghĩ đến một cuộc chơi: Miếng đất hơn một mẫu ở ngã ba
Vũng Tàu, anh sẽ cắt ra chia cho những bạn bè chí cốt mỗi đứa một cái nền
rộng chừng vài trăm mét vuông để xây dựng nhà vườn, gom lại dăm bảy
thằng thành một khu nhà nghệ sĩ, cuộc đời như thế là quá đủ, anh chẳng cần
gì ngòai tình nghĩa bạn bè. Lê Vũ Cầu lặn lội ra Quảng Nam tìm mua nhà cổ
để chuẩn bị cho một cuộc chơi thì đùng một cái anh nghe cơ thể mình đau
đớn với những triệu chứng khác thường.
-Khi biết mình bị xơ gan không còn cách nào chữa trị, lẽ ra phải bỏ
rượu thì tôi lại nhậu nhiều hơn, nhậu để chết sớm cho rồi. Mà thật ra tôi đã
chết từ lâu nếu không có anh Thế Ngữ. Trong một cơn đau bất tĩnh, anh Ngữ
đã đưa tôi vào bệnh viện An Bình. Nằm ở đó một thời gian, bạn bè xúm lại
chuyển tôi qua bệnh viện Việt Pháp với hy vọng được điều trị tốt hơn. Nhưng
ở Việt Pháp họ quản lý quá nghiêm ngặt, không cho thân nhân vào chăm
sóc. Một đêm nọ nằm một mình buồn quá, tôi nghĩ đến cái chết. Nhưng sợi
dây cáp truyền hình không treo nổi thân tôi. Anh Thế Ngữ mang sợi dây ấy
về nhà làm kỷ niệm như một lời cảnh cáo rồi đưa tôi trở lại An Bình.
-Khi xem những vỡ Chuyện lạ, Bếp lò, Con ma . . . của Lê Vũ Cầu dàn
dựng, tôi thật sự cảm phục trước những ngón nghề đạo diễn, một sự sáng
tạo lạ lùng mà chỉ có ở những nghệ sĩ lang bạc, giang hồ, phóng khóang
như Lê Vũ Cầu mới có. Nhưng nhìn cái da vẽ bầm tím trên gương mặt Lê Vũ
Cầu tôi lại thấy ngậm ngùi. Một tài năng vừa phát tiết mà lại phát tiết ở một
con người đang mang bệnh ung thư trong giai đạn cuối. Có lẽ thế là hết.
Một ngày nọ trên giường bệnh ở An Bình, Lê Vũ Cầu nói với tôi về việc chia
đất cho bạn bè, trong đó có tôi. Tôi bảo tôi không cho chú thì thôi chứ sao
chú lại cho tôi. Những ngày sau đó Cầu lên cơn mê sảng, bác sĩ bảo lo lui.
Báo chí đưa tin Lê Vũ Cầu đang hấp hối, bạn bè, đồng nghiệp, người thân,
khán giả ùn ùn kéo đến. Hội sân khấu thành lập ban tang lễ, người lo điếu
văn, người lo mua hòm, người lo nhà tang lễ, người đi chùa nghệ sĩ xin đất
nghĩa trang, tôi với Hồng Vân và Tuấn Anh thay nhau túc trực suốt ba ngày.
Nhiều khán giả ngưỡng mộ Lê Vũ Cầu kéo nhau đi nhà thờ cầu nguyện,
những gia đình phật tử tổ chức cầu an.
Nhưng sau ngày thứ ba, chẳng hiểu phép mầu nào đã giựt Cầu sống lại.
Thế Ngữ kể tiếp:
-Cái sự tưng tửng của Cầu nhiều lúc làm tôi tức muốn điên. Lúc nằm ở
viện y học dân tộc, chú ấy mang theo chiếc xe du lịch, có người hỏi mua 120
triệu, chú không bán. Mấy hôm sau tôi vào thăm, chú gửi tôi 70 triệu đồng,
bảo vừa bán xe. Tôi hỏi sao có bấy nhiêu, chú bảo thấy thằng nầy dễ
thương, em bán rẻ cho nó. Mấy hôm sau lại bảo em cần tiền, anh đưa lại
57
cho em. Hôm khác chú gọi điện cho tôi bảo rằng “em đã về cà Mau, đang ở
trong vuông tôm của thằng em dưới rừng đước Năm Căn, anh đừng cho ai
biết, em không muốn làm phiền mọi người”. Tôi nghĩ thế thì cũng tốt, về nơi
yên tĩnh ấy có khi chú lại thanh thản hơn. Vậy rồi mấy hôm sau lại gọi cho
tôi: “Ở Năm Căn tàu chạy suốt ngày đêm không ngủ được, em về quán ở
Thủ Đức rồi”. Tôi chạy ra thăm mới hay rằng, chú mang tiền về quê cho hết
bà con hàng xóm, thấy ai nghèo cũng cho, không chừa một đồng nào. Mấy
hôm sau nữa, Lê Tuấn Anh gọi điện cho tôi báo tin khẩn cấp: “ Anh Cầu
đang hấp hối trong bệnh viện Việt Đức ở Nghệ An.” Tôi hốt hỏang, sao lại
tuốt noàii Nghệ An? Hóa ra chú ấy đọc báo thấy có một ông thầy chữa bệnh
ung thư gan bằng thuốc gia truyền nổi tiếng trên miền núi Nghệ An nên mới
mò ra đó. Ban đầu mua vé máy bay nhưng khi ra sân bay người ta thấy chú
quá yếu không cho đi nên chú mua vé xe lửa đi một mình mới ra nông nổi
ấy. Hôm ấy tôi bị bệnh không đi được nên cho người ra rước chú về. Sau
nầy tôi mới hay rằng khi đi chú mang theo 40 triệu đồng nhưng sau những
lần mê sảng dọc đường, tưởng mình không sống nổi nên cứ gặp người nghèo
là móc tiền ra cho dài dài, cho đến đồng bạc cuối cùng mà quên rằng lỡ
mình có chết cũng không có tiền chở xác về quê. Tôi đưa chú ấy trở lại bệnh
viện An Bình trong tình trạng nguy kịch, mặt mày thâm tím, người mê man,
bụng trướng lên, đôi chân xưng vù. Bác sĩ bảo nếu để chú ấy ngủ là sẽ đi
luôn nên chích thuốc không cho ngủ.
Vậy mà rồi chú ấy cũng sống!
Sống ! Tại sao mình lại sống? Sống bao lâu nữa? Và sống như thế nào?
Đó là những điều mà Lê Vũ Cầu luôn tự hỏi. Phải chăng có sự nhiệm
màu từ những lời cầu nguyện hay từ những liều thuốc gia truyền mà khán
giả đã cho anh ? Sau những ngày trãi qua cơn thập tử nhất sinh, Lê Vũ Cầu
bổng nhớ đến tiểu thuyết Quy luật của muôn đời, anh tâm đắc những điều
mà Dumbatze đã nói: “Đời người nên có một lần trãi qua cơn thập tử nhất
sinh” hoặc : “Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác, nó nặng đến nỗi
một người không mang nỗi mà phải cần sự giúp đỡ của người khác. Anh
giúp tôi, tôi giúp cho người khác, người khác lại giúp cho người khác nữa,
và cứ thế cho đến vô cùng, sao cho cái chết của mỗi con người không đẩy
chúng ta vào tình trạng cô đơn trong cuộc sống”.
Vậy là anh mở quán cơm từ thiện để giúp cho người khác, nhưng phải
bằng tấm lòng, bằng sự trân trọng thật sự như những tình cảm mà bạn bè và
khán giả đã giúp cho mình. Chính vì lẽ ấy, anh dạy nhân viên phục vụ không
được phân biệt đối xử giữa khách ăn cơm từ thiện và thực khách bình
thường. Thức ăn từ thiện phải sang trọng, sạch sẽ và thay đổi thực đơn liên
tục, phải bảo đảm chất lượng như sản phẩm kinh doanh.
58
Bây giờ, nếu có ai hỏi rằng anh có dự tính gì không, anh chỉ trả lời gọn:
“Nếu bán được đất, mình sẽ tiếp tục đầu tư cho quán cơm từ thiện, thế thôi.
Nhìn người ta ăn thấy thương lắm, chỉ tiếc rằng mình chưa đủ sức để làm
cho nó đàng hoàng hơn nữa”.





















59
Bà Chúa vỉa hè

Tiểu Hương không ngần ngại cho tôi xem những vết thẹo trên người.
Và, cô cũng không ngần ngại khi kể về lai lịch đau buồn của những vết thẹo
ấy: “Lần đầu tiên em bị bán vào động gái ở Vũng Tàu, em kiên quyết không
tiếp khách và tìm cách trốn ra khỏi nhà. Chúng bắt em lại, lột hết áo quần,
trói vào góc giường rồi dùng hai thanh sắt nung đỏ đốt hai bên hông. Chúng
đốt chổ nầy để mình không mặc được áo quần, vừa để cảnh cáo những cô
gái khác. Còn đây, hai vết thẹo nầy là do bọn du đảng ở bến xe Miền Đông
dùng dao cắt khi em kháng cự lại trò hiếp dâm tập thể của chúng. Em đã
sang Singapore làm thẩm mỹ mấy lần nên mới được như thế nầy, chớ hồi
xưa thấy ghê lắm !”
Tiểu Hương nói, trong cuộc đời gần hai mươi năm đi bụi của mình, cô
thề không với mấy điều: thứ nhất là không bán dâm, thứ hai là không chích
xì ke, thứ ba là không móc túi và trộm cắp, thứ tư là không nói dối, thứ năm
là không ăn xin. Ba điều sau cùng cô đã làm được, nhưng không bán dâm thì
cũng bị người ta bắt đem đi bán từ động nầy sang động khác, bị cưỡng dâm
còn tủi nhục hơn cả bán dâm. Không chích xì ke thì cũng bị bọn ma cô
cưỡng chích cho ghiền để chúng dễ dàng điều khiển theo luật giang hồ.
Hỏi cô hết nghiện từ bao giờ, cô nói có một đêm mưa ở công viên Lê
Lai, cô thấy mấy người bạn gái của mình vừa mắc mưa, vừa lên cơn nghiện,
lại bị ghẻ lở khắp người, họ nằm rên la dưới gốc cây. Tiểu Hương đến ôm
bạn khóc và lấy đá bỏ vào miệng mình nhai để tự cay nghiện, dành những
đồng bạc cuối cùng để đưa bạn vào bệnh viện.
Hỏi những câu chuyện buồn đau ấy xảy ra với cô vào những tháng năm
nào, Tiểu Hương không nhớ. Cô nói đối với dân giang hồ thì làm gì có thời
gian. Ngay cả tên tuổi, cha mẹ, quê hương, những điều được ghi hàng đầu
trong lý lịch của mỗi con người thì với cô lại hòan tòan không có. Cái tên
Tiểu Hương chỉ là một cái tên cuối cùng sau hàng chục cái tên mà cô đã
mang trên bước đường lưu lạc từ Trung ra Bắc, rồi từ Bắc vô Nam. Đã bao
lần cố nhớ, nhưng Tiểu Hương chỉ nhớ một cách mơ hồ rằng có một cụ già
mà cô gọi bằng bà nội từng dắt cô đi ăn xin trên một sân ga nhỏ ở miền
Trung. Trong những ngày sức mõi hơi tàn, bà trao đứa cháu cho hai vợ
chồng người hành khách trên một chuyến tàu ra Bắc. Nơi Hương ở người ta
gọi là Vĩnh Phú. Cô lớn dần trong bữa sắn bữa khoai, trong những trận đòn
không thương tiếc của người dưỡng mẫu. Nhưng Hương càng lớn lên càng
xinh đẹp. Và chính sắc đẹp ấy đã khiến người cha nuôi tước đọat sự trong
trắng của cô khi cô vừa đến tuổi dậy thì. Bị bấn lọan, bị suy sụp nhưng
Hương không biết chia sẻ với ai. Mét mẹ nuôi thì sợ bị cha nuôi giết chết –
60
ông đã dọa như thế – mà tiếp tục chiều chuộng ông thì cô không thể. May
thay, có vài người hàng xóm tốt bụng đã biết được chuyện ấy, họ gom lại
một ít tiền để giúp Hương bỏ trốn. Một bà lão dẫn Hương đến ga Am
Thượng, cô bước lên tàu mà chẳng biết mình sẽ phải về đâu. Từ đó, Hương
nhập băng với nhóm trẻ bụi đời ngược xuôi theo những chuyến tàu vào Nam
ra Bắc.
Thế nhưng, để bán được ly trà đá, một viên kẹo hay xin được chén cơm
thừa trên tàu hỏa, trên những nhà ga đối với cô bé giang hồ trong những
ngày đầu mới ra gàn không đơn giản. Nạn tranh bán, tranh ăn, ma cũ hiếp
ma mới, nạn hiếp dâm, đánh đập của bọn côn đồ. . . chẳng bao lâu đã làm
cho thân phận nhỏ bé của Hương trở nên bầm dập, những vết thẹo thù hận
đầy người. Tiểu Hương bỏ tàu hỏa, lần theo đường ô tô đi bộ từ Lạng Sơn
xuôi về phương Nam. Đi đến đâu, cô tìm cách kết bạn với những đứa trẻ
cùng số phận, thấy ai hợp gu thì rủ nhau đi tiếp. Đêm ngủ gốc cây, ngày trực
chờ trong hàng quán để vét từng miếng canh cặn cơm thừa. Trong cuộc hành
trình vô định ấy, chẳng biết tự lúc nào, Hương nhập băng với đòan quân đi
tìm trầm, đãi vàng lên tận Trường Sơn và Tây Nguyên với một khát vọng
đổi đời. Nhưng đời đã không thay đổi mà tủi nhục thì cứ chất chồng thêm.
Ngày thì quần quật đãi vàng trong bùn đất để đổi lấy chén cơm, đêm thì hầu
hạ bọn ma cô đầy thú tính. Bị cưỡng hiếp, bị đòn roi, bị sốt rét và bị đói đến
kiệt sức, hoa mắt, ù tai. Nửa đêm, Tiểu Hương bò ra rừng tìm lá cỏ non nhai
lấy sức rồi bỏ trốn.
Trốn. Nhưng trốn đi đâu để thóat kiếp đọa đày của một cô gái bơ vơ mà
nhan sắc đang trở thành cạm bẩy của chính mình ?
Vừa đến Vũng Tàu, Tiểu Hương lại bị bọn lưu manh bán vào động mại
dâm. Lại trốn. Nhưng lần nầy nghiệt ngã hơn, chúng bắt cô trói lại, lột hết
quần áo rồi dùng sắt nung đốt vào người. Bạn bè khuyên Hương nên chấp
nhận bán dâm để sống, hay ít ra cũng gọi là được sống, nhưng cô đã thề, thà
chết chớ không lấy thân xác làm phương tiện mưu sinh.
Thóat khỏi Vũng Tàu, Tiểu Hương vào Sài Gòn, cuộc sống đối với cô
chẳng khác nào tránh vũng bùn nầy lại gặp vũng bùn khác lớn hơn, hôi thúi
nhiều hơn. Nhưng có chăng là cô đã dày dạng hơn, có nhiều bản lĩnh hơn để
đối phó với những hiểm họa trong giới giang hồ. Cuộc đời mênh mông
nhưng đôi khi cũng vô cùng nhỏ hẹp, trong những ngày lang thang từ bến xe
Miền Đông đến Sài Gòn, Chợ Lớn, bến xe Miền Tây . . . Tiểu Hương gặp lại
nhiều bạn cũ đã từng kết nhau ở miền Bắc, miền trung. Họ vừa khóc vừa kể
cho nhau nghe những khổ đau trong những tháng ngày lưu lạc rồi chung
lưng đấu cật, dựa vào nhau để tiếp bước bụi đời. Sống giữa bạn bè, Tiểu
Hương nổi trội lên một đức tính, đó là đức tính thương bạn và sẵn sàng hy
sinh vì bạn. Việc cô tự cay nghiện xì ke để dành tiền lo cho bạn đã được giới
61
giang hồ truyền tụng với nhau. Hay trong những lúc đi kiếm ăn, đi trực chờ
trước quán để vét canh cặn cơm thừa, cô sẵn sàng đi đầu, đưa lưng ra chịu
những trận đòn túi bụi, nhưng khi đem được thức ăn ra ngòai, cô chia đều
cho bạn bè, đứa nhỏ trước, đứa lớn sau, có khi đến lượt mình thì chỉ còn là
những cặn bã trong cặn bã.
Trong những năm tháng khổ đau và tủi nhục ấy, có hai người đã lưu ý
đến sự tốt bụng của Hương, và sự lưu ý đó như một định mệnh với cô sau
nầy.
Trong những ngày sống ở bến xe Miền Đông, Hương tự nguyện làm
công việc lau dọn xe để được bố thí miếng ăn và được ngủ trong xe để tránh
mưa, đặc biệt là tránh những trò nham nhỡ của bọn lưu manh. Có một ông
chủ xe đò nhà ở Bến Hàm Tử đã nhận Hương làm con nuôi, ông đặt tên cô là
Hùynh Thị Mận thay cho đứa con gái của ông cùng trang lứa với Hương đã
mất tích, ông làm giấy chứng minh nhân dân cho Hương theo tên Mận của
con ông trong hộ khẩu, nhờ vậy mà Hương trở thành công dân chính thức
của Sài Gòn. Thế nhưng khi vào sống trong gia đình ông, Hương gặp phải sự
chì chiết của những người con ruột. Để tránh không khí lục đục ấy trong gia
đình, Hương đã lặng lẽ ra đi.
Trong những ngày bán thuốc lá dạo ở bến Bạch Đằng, có một thương
nhân Đài Loan đứng tuổi tên W. đã nhận Hương làm con nuôi, ông nói rằng
ông quý Hương là đứa trẻ cơ nhỡ nhưng đầy lòng nhân ái, biết hy sinh cho
những bạn đồng khổ của mình. Mỗi tối ông thường ra đó ngồi uống cà phê,
thay vì Hương đi bán thuốc kiếm lời thì ông cho cô hai ngàn đồng để cô ngồi
nghe ông dạy tiếng Hoa, rồi ông thuê cho cô căn phòng trên lầu 2 đường
Nguyễn Huệ. Thế nhưng Hương không ở mà mỗi tối cô kéo hàng chục đứa
bạn về tắm rửa rồi ra vĩa hè cùng ngủ với bạn bè. Thấy trẻ bụi đời ngày nào
cũng kéo về phòng trọ quá đông nên chủ nhà lo ngại không cho thuê nữa.
Ông W. bảo Hương về ở với ông trong căn nhà thuê khá to trên đường
Nguyễn Khắc Nhu. Cứ nghĩ đó là người cha nuôi tốt bụng, nhưng không ngờ
một hôm, Hương bị ông cưỡng hiếp. Bị tuyệt vọng trước một tình cảm cha
con mà cô cứ ngỡ thiêng liêng, không ngờ nó trở thành nhơ nhốp. Lòng tốt
con người chỉ là trò giã dối chăng ? Bao nhiêu người nhân danh là cha đã đi
qua đời cô như thế !
Trong lúc Tiểu Hương chụp lấy con dao toan tự tử thì lão W. bổng
dưng quỳ xuống, mặt mày hốt hỏang van xin cô tha thứ, ông hứa từ nay sẽ
không bao giờ dám nhìn mặt cô nữa và xin được gởi cô hai chục cây vàng để
mua nhà ở, tìm cơ hội làm ăn để giúp đỡ bạn bè.
Có một điệp khúc mà nhiều bài báo trên các mạng intenet kể rằng:
“Cầm 20 lượng vàng, Tiểu Hương đi mua một căn nhà trên đường Nguyễn
Văn Cừ, ngay sáng hôm sau có người mua lại 45 lượng, Tiểu Hương đã bán
62
và đi mua lại căn khác trên đường Lê Hồng Phong với giá 19 lượng, mấy
hôm sau bán lại 30 lượng, cứ thế cô trở thành người kinh doanh nhà đất . .
.”
Nhưng ít ai biết rằng, lúc đó Tiểu Hương đã kéo gần năm mươi người
bạn cơ nhỡ của mình vào cuộc kinh doanh. Và, cùng với công việc ấy, cô đã
thuê gần hai trăm phòng trọ ở rãi rác trong thành phố cho trẻ bụi đời làm nơi
tắm rửa. Cô nói, đối với dân bụi đời, nhất là con gái, chuyện bức xúc nhất
của mỗi ngày là tìm một nơi tắm rửa. Phải cho tụi nó có chổ tắm trước rồi
mới tính đến chổ ở, miếng ăn, học hành, nghề nghiệp để trở thành người tử
tế.
Ngay từ những năm đầu tiên của thập niên 90, khi sự nghiệp kinh doanh
mới bắt đầu phát triển, dù không có tư cách pháp nhân, nhưng Tiểu Hương
đã họach định một nguyên tắc trong nhóm bạn của mình theo luật giang hồ
rằng, trong mỗi thương vụ làm ăn, phải dành ra 30 phần trăm lợi nhuận để
giúp trẻ bụi đời. Từ những căn phòng nhỏ ban đầu làm nơi cho các em tắm
rửa, cô đổi sang những căn phòng trọ lớn hơn, mỗi phòng có thể ở được năm
bảy đứa, cô cấp gạo, cấp tiền ăn và dạy các em tự quản, đứa lớn chăm sóc
cho đứa nhỏ, đứa thì đi học văn hóa, đứa học nghề, đứa nào thích buôn bán
thì cô cấp vốn cho buôn bán. Từ đó, Tiểu Hương trở thành mẹ Hương của
hàng trăm đứa trẻ mồ côi, trong đó có hàng chục trẻ sơ sinh được cô nhặt về
từ bệnh viện, công viên, bến xe, vĩa hè, gốc cây, bãi rác . . .
Công việc kinh doanh và từ thiện của Hương cứ đan xen vào nhau một
cách âm thầm, lặng lẻ như thế cho đến mười năm sau – năm 2001 – người ta
biết đến khi Trung tâm nhân đạo Quê Hương ra đời cùng với hai công ty sản
xuất nước khóan và một công ty sản xuất phụ tùng xe gắn máy mà trong đó,
từ ban giám đốc cho đến công nhân, tất cả hơn 700 con người do Tiểu
Hương cưu mang, đào tạo từ những mãnh đời cơ nhỡ. Không thể không kể
đến trường hợp của Huỳnh Quốc Minh, một đứa trẻ mồ côi đã kết nghĩa chị
em với Hương từ thời niên thiếu, đã bao lần tan hợp trên bước đường lưu lạc
từ Bắc vô Nam, rồi gặp lại giữa Sài Gòn, được Hương cho đi học chữ, học
nghề và cấp vốn làm ăn. Bây giờ Minh trở thành một trợ thủ tòan quyền của
Hương tại Trung tâm, đồng thời, em cũng là chủ của 7 chiếc xe du lịch cho
thuê và có cổ phần trong hai công ty lớn ở Biên Hòa; một bé Anh Đào được
Hương nhặt trong thùng rác ở bến xe Miền Đông ngay từ những ngày
Hương còn bữa no bữa đói nhưng vẫn nhịn ăn để dành cho Đào từng ly sữa,
bây giờ Trung tâm của Hương đã có một cô giáo Anh Đào xinh đẹp dạy Anh
ngữ và Hoa ngữ cho trẻ mồ côi ; một bé Thùy Nhân được Hương nhận làm
em nuôi từ lúc lên mười, giờ đã tốt nghiệp đại học và đang làm trưởng
phòng kế tóan trong một công ty của Đài Loan. Những Văn Quý, Thu Cúc,
Văn Minh, Văn Thu . . . những đứa trẻ vô thừa nhận lớn lên từ gốc cây bụi
63
cỏ, bây giờ đã trở thành những nhân viên tài chính, chuyên viên kỹ thuật với
mức thu nhập năm ba triệu đồng mỗi tháng.
Nói về những người bạn của mình, Tiểu Hương cho biết, qua cuộc sàn
lọc bể dâu giữa chốn bụi đời, cô còn lại 46 người bạn gái. Sau những năm
tháng kinh doanh nhà đất, giờ mỗi người được chia một ngôi nhà, một lô đất,
một cơ sở kinh doanh rãi rác các tỉnh thành từ Nam ra Bắc, trong đó có một
số người thành lập công ty, có xe hơi đời mới. Ơ đó, mỗi người âm thầm
nuôi dưỡng vài nhóm trẻ mồ côi nhưng họ giấu biệt thân phận của mình. Tôi
hỏi vì sao vậy, Hương nói: “Tụi nó sống ở địa phương, bị ràng buộc nhiều
định kiến, mà quá khứ của tụi em đâu có khác gì nhau, thậm chí đời của
nhiều đứa còn buồn hơn em gấp mấy lần. Chỉ có mỗi mình em chẳng cần
giấu diếm điều gì, bởi em thấy đó là điều cần thiết, hơn nữa, em cũng chẳng
biết mình còn sống được bao lâu với chứng bệnh ung thư”
Nhắc đến hai tiếng ung thư, giọng Tiểu Hương như trùng xuống. Hương
nói rằng cô đã nhờ luật sư làm xong thủ tục hiến xác cho một cơ sở y học khi
cô qua đời. Đó là điều mà cô cảm thấy bình thản nhất, không cần mai táng,
không cần ai phải tiễn đưa. Cô nói chỉ tội nghiệp cho những đứa trẻ còn ở
lại, trong gần hai trăm đứa đang sống ở Trung tâm, có hơn 70 phần trăm em
khiếm thị, khát vọng lớn nhất của chúng là được nhìn thấy mặt mẹ Hương.
Chúng hay thì thầm với nhau: “Chắc là mẹ Hương của mình đẹp lắm, trắng
da dày tóc như một nàng tiên”. Hương nói: “Mỗi khi nghe chúng nói với
nhau như thế, em vừa thương chúng, vừa nghĩ trong lòng một cách đắng cay:
Ừ, mẹ Hương của tụi con là một nàng tiên mắc đọa”.










64
Nỗi niềm sinh tử bên rìa
“CÔNG THỔ QUỐC GIA”

Tôi hẹn với chị Tưởng và anh Minh trong quán thịt rừng, quán rất yên
tĩnh nằm trong khu vườn nhỏ bên bờ hồ Trị An. Mưa chiều lất phất. Chúng
tôi ngồi trong căn chòi lá với chiếc bàn đá và ghế đá đơn sơ. Chủ quán giới
thiệu thực đơn tòan đặc sản rừng: chồn, nhím, nai, cheo, heo rừng, đặc biệt
là rượu bao tử nhím. Chị Tưởng nói chổ chúng tôi đang ngồi, cách đây ba
mươi năm là rừng già, thú rừng chạy lọan xạ, cây rừng to đến hai ba tay ôm.
Anh Minh rót rượu, chúng tôi chạm ly, chị Tưởng cũng uống ngon lành.
Chị nói khỏang mười năm trước, lúc mới bị chồng bỏ, chị nhậu dữ lắm, một
mình uống cả lít không say.
-Tôi tuổi Sửu nên cực như trâu là phải. Ngày xưa trên mảnh đất nầy, tôi
là con trâu cái, anh Minh là con trâu đực. Cả làng ai mà chẳng biết, cứ sáng
ra là tôi với anh Minh đặt chiếc ách lên bụng, quàng sợi dây thừng lên vai
như hai con trâu khom lưng kéo, mẹ tôi cầm cày đi sau. Nhớ lại hồi ấy, cực
khổ, đói rách vậy mà vui. Sáng ra đồng kéo cày, chiều về họp tổ bình công,
tối chơi văn nghệ. Tôi rất mê bài Khúc hát người đi khai hoang: Ta đốt lửa
cho rừng khuya ấm mãi . . . hò ơ . . . ta về đây phá rừng hoang, gió mơn man
câu hò từ lán mới, vui rộn tiếng cười tươi trẻ trên nương . . .
Tôi hỏi sao chị với anh Minh không thành vợ chồng, chị nói: “ Tôi cũng
chẳng hiểu sao, cả hai chúng tôi không hề nghĩ tới điều đó. Thậm chí anh
Minh hẹn với bồ trong rừng, ảnh bảo tôi theo giữ ma, tôi cũng theo ngồi
canh cho hai người tâm sự. Mà dường như tôi không có cái thời con gái để
yêu đương. Anh Minh hồi ấy cứ gọi tôi bằng thằng cu dù lúc đótôi đã mười
tám tuổi. Có lẽ tại vì người tôi đen đúa, to cao như con trai, suốt ngày mặc
bộ đồ may bằng bao cát Mỹ lòng thòng lượm thượm chẳng giống ai nên anh
Minh ảnh chê.
Tôi hiểu chị Tưởng nói vậy không phải ngầm ý trách anh Minh. Ơ đời,
đâu phải hể cứ đồng cam cộng khổ là đi đến chuyện vợ chồng. Anh Minh
bây giờ vẫn gọi chị Tưởng là mầy tao, thậm chí có khi to tiếng như anh cả
trong nhà. Hai người chẳng phải đồng hương, chị Tưởng quê Quảng Trị, anh
Minh ở Quy Nhơn, năm 1972, chiến tranh tàn khốc, họ theo dòng người
chạy lọan vô Sài Gòn, sống lây lất trên các hè phố cho đến ngày hòa bình rồi
cùng với hàng trăm hộ dân trên mọi miền đất nước kéo nhau về đây phá
rừng, khẩn hoang theo chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới.
Chị Tưởng kể, hồi ấy nơi đây là rừng nguyên sinh, nổi tiếng là rừng
thiêng nước độc. Để trồng được cây lúa, củ khoai, cây bắp trên mảnh đất
65
nầy, con người phải trả một cái giá vô cùng cay đắng. Trước hết là cái ăn cái
mặc, thời ấy, những người an cư ở thành phố còn phải xếp hàng mua từng
ký gạo, mét vải, bọc xà bông . . . huống chi những con người tứ cố vô thân đi
xây dựng vùng kinh tế mới. Năm đầu tiên đến đây, sau khi dựng chòi lập
nghiệp, họ phải mua chịu từng ký khoai mì của dân địa phương các vùng lân
cận để ăn thay cơm, gạo phân phối lúc ấy, dù là gạo ẩm nhưng cũng chỉ dành
để nấu cháo cho người già và trẻ con. Củ mì, dù được chế thành nhiều món
như luộc, nướng, hấp, chiên nhưng vẫn là mì, ăn hòai không biết chán, mà
dẫu có chán cũng phải ăn, thậm chí đến vỏ khoai mì cũng phải tận dụng làm
dưa chua để ăn dù biết trong đó có nhiều độc tố. Cái ăn là vậy, còn cái mặc
cũng chẳng giống người: quần áo được may bằng bao cát Mỹ. Đêm lạnh thì
lấy bao bố kết lại làm mền.
Đói rách là vậy nhưng đó chưa phải là nỗi khổ tận cùng. Chị Nguyệt –
người chị lớn của chị Tưởng – trong lúc phá rừng, chị giơ cao cây rựa chặt
vào nhánh kè, nhánh kè có hai hàng gai bén như răng cưa từ trên cao rớt
xuống cứa ngang đầu chị, tét một đường dài, máu tuôn xối xả, để lại vết thẹo
suốt đời. Anh Hòang Minh bị vắt chui vào đường tiết niệu, mấy tháng sau
phải cắt bỏ dương vật vì họai tử, nhưng vẫn không khỏi, một thời gian sau
anh nghe ngứa ngáy và đau đớn trong nội tạng, bụng to dần lên. Nằm bệnh
viện Đồng Nai không chữa được, họ chuyển anh ra viện Ung bứu. Khi giải
phẩu mới hay rằng lũ vắt đã sinh sản đầy trong hai quả thận của anh. Hòang
Minh qua đời chưa được bao lâu thì người anh trai của anh – anh Hòang
Ngọc – lại chết vì sốt rét. Ong Nguyễn Văn Liêm trong khi đang làm rẫy thì
bị cây đè. Từ chổ nhà ông, người ta đặt ông lên võng khiêng đi gần mười cây
số mới ra đường cái, tới trạm y tế xã. Từ trạm y tế xã, đợi đến chiều mới có
một chuyến xe đò, nhưng chiếc xe chạy bằng than đá bò lê trên con đường
đất đỏ gồ ghề, đến Trảng Bom thì ông Liêm tắt thở.
Chị Tưởng nói, nỗi ám ảnh lớn nhất, kinh hòang nhất của người dân khai
hoang ở đây là sốt rét. Cũng như trường hợp của ông Liêm, mỗi lần có bệnh
nhân lên cơn sốt thì người thân hoặc láng giềng khiêng đi bằng võng gần
mười cây số ra trạm y tế xã, có khi khiêng đi nửa đường thì phải khiêng về
vì bệnh nhân đã chết. Chưa có con số thống kê chính xác về người chết vì
sốt rét nhưng dấu ấn của thảm họa nầy đã hình thành cả một nghĩa trang, có
những gia đình có đến hai, ba người nằm xuống vì sốt rét rừng. Và ngay cả
những người đang sống, sốt rét kinh niên đã làm cho họ không thể lập gia
đình như chị Nguyễn Thị Tâm, nhà có năm chị em nhưng người em trai chết
vì sốt rét, còn lại bốn chị em gái gần năm mươi tuổi nhưng vẫn sống cô đơn
vì sốt rét đã đeo bám họ đến suốt cuộc đời.
Chồng chị Tưởng – anh Nguyễn Quang Hưng cũng chết vì sốt rét, bỏ lại
hai đứa con gái. Nhưng bi thảm hơn, vài tháng sau một trận hỏa họan đã
66
thiêu trụi căn nhà của chị. Chồng chết, nhà cháy, tay trắng, chị Tưởng gạt
nước mắt ẳm hai đứa con đi tá túc bên nhà của người chị ruột giữa một biến
cố xảy ra làm xôn xao vùng kinh tế mới: Tỉnh Đồng Nai ra quyết định tạm
giao 480ha đất của dân kinh tế mới cho Ban quản lý công trình thủy điện Trị
An làm kho bãi tập kết vật tư thiết bị, nhà xưởng, lán trại để phục vụ cho
công trình.
Thế là, vừa an cư lạc nghiệp mấy năm lại phải di dân. Mỗi hộ được cấp
lại 1500 mét vuông để tái định cư, còn đất sản xuất nông nghiệp coi như mất
trắng. Nhưng, hầu như ai cũng xem đó là nghĩa vụ của mình trước một công
trình vĩ đại của quốc gia. Trị An thời bấy giờ như một tiếng gọi thiêng liêng,
như mệnh lệnh, cả nước hướng về Trị An, đến văn nghệ sĩ sân khấu nổi
tiếng cũng đi lưu diễn khắp nơi để bán vé thu tiền đóng góp cho Trị An . . .
Vì thế mà những người dân dù phải mất đất, dù phải lên rừng đào vàng, lấy
nhựa chai hay phải đi làm thuê, bán vé số để kiếm sống qua ngày, trong lòng
họ vẫn còn chút an ủi là mình đã đóng góp một phần cho dòng điện Trị An.
Một tuyến đường nhựa từ Bùi Chu băng rừng lên Trị An, khu kinh tế mới
Cây Gáo, một vùng rừng thiêng nước độc được nâng lên thành thị xã Vĩnh
An. Nhưng dân khai hoang, những người đã đổ mồ hôi và xương máu để tạo
nên mặt đất nầy bị đẩy lên hậu đất, gần giáp bìa rừng vì chính quyền địa
phương cho rằng họ là dân tứ xứ, không rõ nguồn gốc, cần phải đẩy vô trong
để bảo đảm an tòan cho các chuyên gia Liên Xô và tài sản xã hội chủ nghĩa.
Khi người dân hiểu ra rằng đó là lý do để cán bộ địa phương chiếm đất mặt
tiền thì những xung đột cũng bắt đầu.
Bà Ngô Thị Cón từ Quảng Trị dẫn tám người con vào đây khai phá, có ba
người con trai đã chết vì sốt rét rừng. Khi con đường nhựa cắt qua thửa đất
của bà, bà dựng lại căn nhà mặt tiền trên phần đất còn lại, chính quyền cho
công an đến giải tỏa, bà cùng con gái, con dâu cầm rựa ra tử thủ. Nhưng tất
cả đã bị bắt giam vì tội chống thi hành công vụ. Trường hợp chị Tưởng cũng
tương tự như vậy, sau thời gian tá túc bên nhà người chị ruột, chị xin một lô
đất của người bạn để cất tạm một căn chòi. Khi con đường bê tông chuyển
thành đường nhựa, lập tức chị bị chính quyền ra quyết định giải tỏa. Khi lực
lượng công an đến, một tay chị ẳm con, một tay cầm rựa, chị nói: “Tôi coi
như không còn gì để mất, các anh bước tới là tôi chém”.
May thay, chị đã giữ được cái nền nhà mà không phải đi tù.

*

Chị Tưởng lục từ trong tủ ra một đống hồ sơ, giấy tờ có liên quan đến
cuộc hành trình mười lăm năm đi kiện. Tất cả có thể vài ba ký lô, riêng hóa
đơn phát chuyển nhanh của bưu điện mà chị giữ lại sau mỗi lần gởi đơn thư
67
cũng lên đến hai chồng dầy cộm, ước chừng cũng hơn một ký. Chị nói : “ Đi
kiện đến nỗi bị chồng bỏ mà cũng chưa xong, chừng nào tôi còn sống là còn
đi đòi lại sự công bằng. Bà Cón ở đằng chợ cũng vậy, đời mẹ đi kiện đến gối
mõi chân mòn rồi đến đời con”.
Năm 1987, chị Tưởng tái giá với anh Thoa, công nhân lái xe cơ giới, sinh
thêm hai đứa con trai. Cuộc hôn nhân thứ hai sẽ êm đềm hạnh phúc nếu như
có những bất công, oan trái sau nầy.
Khi cả nước reo mừng cùng Trị An, trẻ con khắp nơi vỗ tay hô “ Có điện
! Có điện !”, người dân khai hoang ở Vĩnh An vừa tự hào vì sự đóng góp của
mình, vừa hy vọng được trở lại với mảnh vườn thửa ruộng, với nương rẫy
mà mình đã đổ bao nhiêu nước mắt, mồ hôi và xương máu, sẽ được nhận
những lời cảm ơn nồng nàn của những người mượn đất để xây dựng công
trình. Nhưng không, họ không được thừa nhận là chủ đất. Tất cả đơn thư
khiếu nại đòi lại đất đều được trả lời ngắn gọn rằng đất bây giờ là công thổ
quốc gia, không ai có cơ sở pháp lý để đòi lại. Đất đô thị sẽ được quy họach
làm đô thị, đất nông nghiệp sẽ giao cho kiểm lâm quản lý để phủ lại rừng.
Thị xã Vĩnh An sau đó đổi thành thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh
Cửu. Nhưng dù là thị xã hay thị trấn thì bộ mặt đô thị cũng đã hình thành,
đất đai không còn lạnh lùng như cái thời rừng thiêng nước độc. Gọi là công
thổ quốc gia, những người khẩn hoang bị cho rằng không có cơ sở pháp lý
để đòi lại đất, cứ ngày nầy qua tháng nọ họ ngậm đắng nuốt cay nhìn người
ta dùng quyền thế để phân phát cho nhau trên mảnh đất của mình. Từ ủy ban
huyện, công an, huyện đội, ủy ban thị trấn, nhà máy thủy điện, xí nghiệp
thủy lợi, công ty xây dựng, lâm trường, hạt kiểm lâm . . . tất cả các cơ quan
đóng trên địa bàn nầy đều có quyền ký giấy cấp đất cho cán bộ công nhân
viên và người thân của họ. Tự do phân phát, tự do lấn chiếm, tự do sang bán
để trục lợi .
Chị Tưởng dẫn tôi đi một vòng quanh thị trấn, bên cạnh nghĩa trang của
những người bị sốt rét rừng là trang trại 14 mẫu của ông Đỗ Hữu Tài, phó
giám đốc sở giáo dục tỉnh Đồng Nai; phía bên kia là 3,5 mẫu vườn của ông
Nguyễn Hòang Huynh, bí thư huyện ủy; còn bên nầy, giáp với hồ Trị An là
khu nhà hàng, khách sạn 1,5 mẫu của ông Hùynh Văn Hòang, giám đốc
công an tỉnh Đồng Nai. Tôi hỏi chị Tưởng về phần đất của chị, chị nói chị có
gần 1,5 mẫu, trong đó hơn 3.000 mét vuông đất thổ cư, phần đất thổ cư trước
đây là khu nhà tập thể của công nhân xí nghiệp xây dựng thủy lợi 4, sau khi
công trình thủy điện hóan thành, chị làm đơn xin lại đất thì mới hay người ta
đã cấp cho hai cán bộ của xí nghiệp. Phần đất rẫy của chị hơn một mẫu,
trước đây tạm làm kho bãi của công trình, sau đó chính quyền địa phương
cấp cho công an thị xã làm kinh tế phụ, bây giờ trở thành đất thổ cư của các
gia đình cán bộ công an.
68
Chúng tôi trở ra con đường chính của thị trấn rồi rẽ sang bên trái. Chỉ tay
về một ngôi biệt thự to đùng giữa vườn cây ăn trái mệnh mông, chị Tưởng
cho biết đây là nhà của ông Nguyễn Ngọc Chiến, nguyên chủ tịch ủy ban thị
trấn, vừa mới bị bắt giam vì tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng trong
quản lý đất đai. Khác với nhiều cán bộ khác bao chiếm đất nông nghiệp của
dân để làm trang trại, ông Chiến thâu tóm hơn 16 ngàn mét vuông đất mặt
tiền nội ô thị trấn, tòan những vị trí đẹp nhất.
Gần mười năm làm chủ tịch thị trấn, ông Chiến được xem như là vua đất
đai ở Vĩnh An. Được sự đỡ đầu của ông Nguyễn Hoàng Huynh, chủ tịch
huyện, ông Chiến lập quy họach các khu dân cư hàng chục ngàn mét vuông
để phân lô bán nền. Với tư cách là chủ tịch ủy ban kiêm chủ tịch hội đồng
xét duyệt cấp đất đai, ông Chiến đã trọn quyền ban phát cho mình, cho vợ,
cho con, cho em út và những người thân để sang bán làm giàu. Chỉ cần có
chữ ký chủa ông Chiến chuyển lên huyện là ông Huynh cấp sổ đỏ, bất kể đất
ấy có nguồn gốc từ đâu. Người dân Vĩnh An dường như ai cũng biết một câu
chuyện tưởng như đùa nhưng lại là có thật: Trong một tiệc nhậu, ông Chiến
cụng ly nói với một cán bộ ngồi đối diện: “ Mầy vô hết một trăm phần trăm,
tao cho mầy hai cái nền nhà”.
Chị Tưởng nói những năm ấy chỉ cần được lòng ông Chiến là có đất,
ngay như ông Nguyễn Ngọc Cung, em ruột ông Chiến cũng được cấp gần 10
ngàn mét vuông, ông Ngô Ngọc Nghinh, trưởng khu phố 8 cũng được gần
20 ngàn mét vuông, có sổ đỏ hẳn hoi, ông Nghinh cắt ra hơn hai ngàn mét
vuông phân thành bảy lô bán cho bảy hộ khác, thu lợi hàng trăm triệu đồng.
Người dân khai hoang kéo nhau đi kiện, nhưng tất cả chỉ là chuyện nước
đổ lá môn. Chỉ có chị Tưởng là kiên trì. Chị đi làm mướn làm thuê, làm cả
ngày lẩn đêm để ky cóp từng đồng làm lộ phí đi kiện. Tiền ít thì đi Đồng
Nai, khá một chút thì đi Sài Gòn, khá một chút nữa thì nhảy lên tàu đi Hà
Nội. Anh Thoa chồng chị khuyên lơn, ngăn cản không được, cuối cùng,
không thể chịu đựng nổi người vợ suốt tháng quanh năm chỉ lo kiện cáo, anh
bỏ nhà đi.
Bị chồng bỏ, mang thêm hai đứa con, nỗi oan mất đất vốn đè nặng tâm
can giờ chồng thêm gánh nặng gia đình. Sáng ra, nhổ vội củ mì sau nhà cắt
ra bốn khúc hấp chín phát cho bốn đứa con đi học, rồi chạy ra đồng rẫy hái
bắp thuê, được năm bảy ngàn đồng, buổi chiều chạy lên khu vực hồ Mã Đà
dọn cỏ hồ cá, cũng kiếm thêm được năm bảy ngàn. Tối về đạp xe chở nước
đá bỏ mối cho các hàng quán trong thị trấn. Rồi một đêm nằm ngủ, chị phát
hiện mùi thúi bốc lên từ bàn chân ê ẩm của mình. Đó là hậu quả của công
việc dọn cỏ, chị phải dùng rựa để chém những cây mắt mèo dầy đặc mọc lên
từ dưới đáy hồ, sau đó dùng chân đạp dùi chúng xuống bùn, bàn chân ngâm
nước đã mềm phải giẫm lên cây những đầu cây nhọn hoắc. Làm lụng suốt
69
ngày chị không chú ý, đến khi cảm giác được mùi thúi thì mới biết hai bàn
chân mình đã lở lóet,tưa tải thịt da. Không có tiền mua thuốc, chị nấu một
thau nước muối mang ra ngồi ngâm trong đêm tối. Xót xa và đau đớn.Nỗi
khổ nhọc cộng thêm nỗi đau đời đã đẩy chị vào những cơn say khướt mướt.
Nhiều đêm sau khi bỏ mối xong nước đá, chị mua một lít rượu trong bọc ni
lon, bột tay lái xe, một tay cầm bọc rượu, cắn một góc cho rượu chảy ra rồi
uống khang một mình, uống cho quên đi chuyện nhân tình thế thái, uống cho
say không còn biết trời đất là gì. Rồi chị lọang chọang đạp xe về trong bóng
đêm. Về đến nhà, gặp con chị đánh con, gặp đồ chị đập đồ. Cứ thế cho đến
một đêm nọ, cũng trong một cơn say quằn quại về nhà, bất chợt chị thấy bốn
đứa con chị ôm nhau ngồi thu mình trong một góc giường, đứa lớn đưa lưng
ra ngòai như chở che cho đứa nhỏ, mặt mài chúng vừa sợ hải, ánh mắt như
van xin. Lúc ấy, tình mẹ trong chị bổng dưng thức dậy lấn át cơn say, chị
nhàu đến ôm con, vừa khóc vừa xin con tha thứ. Từ đó, chị không còn uống
rượu nữa.
Nói về anh Minh. Ngay từ năm đầu tiên giao đất cho nhà nước, là người
có chút ít chữ nghĩa, anh lên làm việc trên lâm trường Hiếu Liêm. Mười năm
sau trở về, thấy cảnh chị Tưởng đi kiện trong sức yếu thế cô mà quan chức
địa phương thì càng ngày càng lộng hành xâu xé đất đai. Anh Minh bàn với
chị Tưởng, nếu tiếp tục đi khiếu nại đòi lại đất thì chẳng bao giờ có kết quả.
Tốt nhất là đi tố cáo những hành vi phạm pháp của các quan chức, phải đẩy
họ ra khỏi phạm vi quyền lực thì mới có cơ may đòi lại sự công bằng.
Chị Tưởng tự trang bị cho mình máy ảnh, máy ghi âm để đi điều tra
giống như thám tử. Những tin tức thu được chị mang về cho anh Minh viết
đơn tố cáo. Không ít lần chị bị ăn đòn vì rình mò sau hè nhà người ta để đặt
máy ghi âm. Nhưng việc làm của họ không phải không mang lại kết quả: báo
chí vào cuộc, thanh tra vào cuộc, sáu cán bộ huyện gồm bí thư, chủ tịch,
chánh thanh tra, trưởng phòng địa chính, trưởng phòng tài chính, trưởng
phòng kinh tế đã bị cách chức, ông Chiến, chủ tịch thị trấn và ông Sơn, cán
bộ địa chính thị trấn vừa bị bắt giam.
Chị Tưởng vừa sắp lại hồ sơ, vừa nói: “ Hôm công an bắt ông Chiến tôi
không hay, nếu hay được tôi sẽ mang máy đến chụp hình. Chiếm đất cho
nhiều rồi cuối cùng vô ở trong mấy mét vuông. Lòng tham đã làm cho con
người ta ngu muội đến thế là cùng”. Tôi hỏi dự định sắp tới chị làm gì ? Chị
nói : “ Tôi sẽ kiện ra tòa để đòi lại đất. Anh Minh đã nói đúng, đây không
phải là chuyện khiếu nại, kêu oan mà là cuộc đối đầu giữa cái thiện và cái
ác. Chỉ có đánh đổ cái ác thì mới mong tìm lại sự công bằng”.

70
Canh bạc

Năm 1999, anh T.N, bạn đồng nghiệp của tôi ở miền tây chuyển công
tác lên Sài Gòn. Anh ra khu vực Gò Mây – xã Bình Hưng Hòa – mua 180
mét vuông đất để cất nhà, đất nông nghiệp giá 230 ngàn đồng một mét
vuông, thủ tục sang tay, có hàng xóm làm chứng và chính quyền xã xác
nhận. Anh xây ngôi nhà kiên cố gần 100 mét vuông, cũng không phép tắc gì,
chỉ đóng 300 ngàn cho xã gọi là tiền phạt xây dựng trái phép. Vậy là an cư
lạc nghiệp. Ngày tân gia, bạn bè tới chúc mừng, nhưng do nhà không có địa
chỉ nên anh phải hẹn điểm đón tại cây xăng Vĩnh Lộc rồi dẫn bạn vào theo
những con đường mòn len lỏi dưới những lũy tre. Thời ấy có cụm từ chung
cho dân nhập cư là: Nhà không số, đường không tên, điện tự kéo, nước tự
bơm.
Thế rồi năm năm sau, một buổi sáng năm 2004, anh nhăn nhó báo tin:
Nhà bị giải tỏa vì nằm trong dự án khu đô thị mới Vĩnh Lộc. Bạn bè lo ngại
cho anh, đất không có giấy chủ quyền, nhà xây trái phép, hộ khẩu không có,
rất dễ bị trắng tay. Nhưng rồi mấy tháng sau gặp lại anh, anh cười khoe mọi
chuyện đã được dàn xếp, đất được tái định cư 98 phần trăm, nhà được bồi
thường 95 triệu đồng, cao hơn giá gốc, trong thời gian giải tỏa, chờ tái định
cư, anh được tạm cấp một căn hộ chung cư.
Hơn một năm sau, chúng tôi vào thăm anh, mọi chuyện thay đổi đến
không ngờ, bạn bè nói vui rằng anh có số đỏ, mà thật ra trên đời nầy chưa
thấy ai được may mắn như anh, từ chổ mua đất chui, xây nhà chui giữa một
vùng nông nghiệp hoang sơ giờ trở thành nhà mặt tiền trong khu đô thị mới,
đường xá thênh thang, cơ sở hạ tầng cao cấp. Chẳng những không tốn thêm
một xu nào mà hai lô đất của anh bây giờ trị giá gần cả tỷ đồng. Nhưng anh
ngậm ngùi nói: “Thật ra mình chẳng phải may mắn gì. Việc quy hoạch đất
đai hiện nay giống như một canh bạc. Ai biết thì thắng, ai thiếu hiểu biết thì
thua, thậm chí thua thiệt cả một đời người .
Để hiểu rõ hơn thế nào là chuyện ăn thua trong canh bạc quy hoạch nầy,
tôi giả dạng một người đi mua đất để lân la trong các quán cà phê.
Cô Hai Một kể rằng, gia đình cô có hai mẹ con, một con dâu, hai đứa
cháu nội, cả đời cô sống nghề ruộng rẩy, chẳng biết quy hoạch là gì. Năm
2000, có mấy ông cán bộ đến nhà cho biết, đất của cô nằm trong quy hoạch
khu đô thị mới, đã được Chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên, quyền lợi của cô
sẽ được bảo đảm tối đa, thậm chí cô có thể làm giàu. Sau khi tiến hành đo
đạc, cán bộ báo cho cô biết, tổng diện tích đất của cô là 13.000 mét vuông,
phần đất vườn được bồi hòan 90.000đ một mét vuông, phần đất trồng lúa
được bồi hòan 50.000đ một mét vuông, tính chung, kể cả tài sản trên đất, cô
71
sẽ được bồi hoàn 900 triệu đồng. Sau khi làm lộ xong, cô sẽ được cấp 196
mét vuông đất mặt tiền để tái định cư. Cô nghĩ, 13 công đất ông bà để lại, từ
đời cha cô cho đến đời cô, quần quật quanh năm cày sâu cuốc bẩm, bán mặt
cho đất, bán lưng cho trời, chưa bao giờ cầm trên tay được một lượng vàng.
Bây giờ, 900 triệu đồng, bằng 200 lượng vàng, lại được cái nền nhà mặt tiền
gần 200 mét vuông giữa khu đô thị, có điện, có nước, chẳng thua dân chợ.
Rõ ràng là một cuộc đổi đời. Cô ký biên bản thỏa thuận bồi hòan rồi lên Ban
quản lý dự án nhận 900 triệu đồng đem gởi ngân hàng, yên tâm chờ ngày
nhận đất tái định cư.
Năm năm sau.
Giá vàng từ 4,5 triệu đồng một lượng lên 10 triệu đồng một lượng, số
tiền cô gởi ngân hàng bổng dưng mất đi một nửa. Giá đất trong khu quy
hoạch từ 3 triệu đồng đến 7 triệu đồng một mét vuông. Cô nghe những người
biết chuyện nhẩm tính, giá thành của một mét vuông đất thổ cư trong khu
quy hoạch dao động từ 600 ngàn đến 1 triệu đồng, bao gồm chi phí đền bù
giải tỏa,san lắp mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi.
Với 13.000 mét vuông đất của cô, nếu trừ đi 50 phần trăm diện tích đất công
cộng, còn lại 6500 mét vuông đất nền nhân cho con số khiêm tốn là 3 triệu
đồng trên mỗi mét vuông (tức là cái giá thấp nhất trong khu đô thị Vĩnh Lộc
hiện nay mà Ban quản lý dự án đang mua lại của dân ), trừ lại chi phí đầu tư
thì ai sẽ thừa hưởng con số siêu lợi nhuận nầy ?
“Thua me gỡ bài cào”. Anh Trịnh Minh Thế, con trai của cô Hai Một đâm
đơn khiếu nại đòi quyền thừa kế phần đất của mẹ để được tái định cư. Sau
một cuộc giằn co, Ban quản lý dự án dàn xếp bằng cách trả lại cho cô Hai
1500 mét vuông để cô chia cho con, đồng thời cô phải thối lại cho Ban quản
lý dự án 135 triệu đồng, tính theo giá bồi hoàn đất vườn. Trên 1500 mét
vuông ấy, anh Thế được tái định cư 12 phần trăm, tức 180 mét vuông mà
không được nhận bồi hòan. Thôi thì của đổ hốt lại, được bao nhiêu hay bấy
nhiêu. Biên bản thỏa thuận bồi hòan mình đã ký, tiền bồi hòan mình đã
nhận, tất cả coi như ván đã đóng thuyền. Cô Hai Một buồn bã nói thế.
Người thứ hai thua đau đớn trong canh bạc nầy là ông Hai Tặc, một nông
dân ba đời sống ở Gò Mây. Cũng như cô Hai Một, ông Hai Tặc có 7500 mét
vuông đất trong quy hoạch, ông được bồi hoàn hơn 700 triệu đồng và 196
mét vuông đất tái định cư. Năm 2000, trước khi ký biên bản thỏa thuận bồi
hòan, có một người quen làm luật sư khuyên ông không nên ký, bởi hai lý
do: Thứ nhất, đây là dự án kinh doanh của một doanh nghiệp chớ không phải
là công trình phúc lợi xã hội, thứ hai, đây là biên bản thỏa thuận chớ không
phải quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước, vì vậy cần cân nhắc kỹ để
tiếp tục thỏa thuận về quyền lợi của đôi bên. Có thể giữa chủ đất và chủ
72
doanh nghiệp đi đến một thỏa thuận hợp tác, chuyển đất thành vốn để cùng
chủ đầu tư chia lợi nhuận.
Không thể hình dung nổi một canh bạc đầy phức tạp trong khi 700 triệu
đồng trước mắt ông đang là phần thắng trong tay. Vốn là một nông dân hiền
lành và tử tế, nghĩ 700 triệu đồng đây là công lao của mẹ cha để lại, ông Hai
Tặc mang đi chia cho ba người em gái, hai đứa cháu con của người em đã
chết, mỗi người được năm ba chục triệu đồng, còn lại là phần của sáu đứa
con, trong đó, ông đầu tư cho đứa con trai lớn một chiếc xe khách để kinh
doanh.
Bây giờ, sau sáu năm, ông đã nghiệm ra rằng không phải mình thua một
canh bạc mà thua cả một cuộc đời. Đất tái định cư chưa có, cũng không biết
nó nằm ở vị trí nào. Còn ngôi nhà ông đang ở thì coi như ông chỉ ở trọ trong
nhà mình vì tiền bồi hòan ông đã nhận của người ta, nó là của người ta,
không biết người ta sẽ cho xe ủi đến lúc nào. Tiền đã hết, chiếc xe thì bửa có
khách, bửa không, sáu đứa con đã lần lượt có vợ có chồng nhưng chẳng lẻ
cứ tiếp tục ở trọ trong căn nhà ông đang ở trọ ? Những câu hỏi cứ làm ông
rai rứt. Sáng sáng, tôi thấy ông ra ngồi lặng lẽ trong quán cà phê ở đầu con
đường mòn trước nhà, bên bụi tre gai, cái quán lá ấy cũng do ông cất trọ trên
chính phần đất của mình. Ong cứ ngồi đó, chết lặng nghe mấy anh cò đất rau
giá với khách mua. Ba triệu, bốn triệu, năm triệu, sáu triệu, bảy triệu đồng
một mét vuông . . .
Con trai ông Hai Tặc – anh Liệt – pha cà phê, thĩnh thoảng xề xuống nói
với tôi mà như trách ông già: “Nhiều người đất ít hơn tôi mà bây giờ được
năm bảy cái nền, tại vì họ biết chuyện, lúc vận động họ cương, không chịu
ký .Phải hồi đó ổng đừng ký thì bây giờ đâu đến nông nỗi nầy !”
Bạn tôi – anh T.N – trầm ngâm nói: “Có những người sau khi nhận một
cục tiền rồi không biết phải làm gì, cứ lay quay ở trọ trên đất mình, ăn hết
tiền rồi bán lúa non phần đất tái định cư cho cán bộ, nhân viên trong dự án
với giá ba bốn trăm ngàn một mét vuông, dắt díu vợ con ra ngoại thành mua
đất nông nghiệp ở tiếp . . . Than ôi ! Biết đến thuở nào người nông dân mới
tự quy hoạch được đời mình !”





73
Đất lên, tình người xuống

Đọc bài “Đất lên, tình người xuống” trên SGTT số 34, tôi cứ nghĩ rằng
có lẻ bài tác giả cũng “ám chỉ” tôi khi mà cuộc sống ngày thường với bao lo
toan bon chen, cơm áo gạo tiền khiến chúng ta có lúc như quên mất đi tình
nghĩa con người với con người. Đó là tình cảm gia đình, tình hàng xóm làng
giềng và cả tình bạn . . . Khi có vấn đề tiền bạc xen vào, những tình cảm
dường như thiêng liêng ấy lại chẳng còn giá trị là bao (!?). cảm ơn SGTT đã
có những bài báo hay, lay động lòng người, khiến chúng ta phải bình tâm để
quay về với những giá trị thiêng liêng, không tiền bạc gì mua được. . .
( Hà Quỳnh Như – Gò Vấp )

Hơn nửa thế kỷ trước, khi đặt chân đến vùng Bà Điểm, Hóc Môn nầy để
khẩn hoang, trồng trầu trồng cau lập nghiệp, hẳn ông Hai Bình – cũng như
nhiều cư dân khác – không thể hình dung ra rằng một ngày nào đó, mỗi mét
vuông đất ở đây sẽ được tính bằng vàng chỉ, vàng cây. Từng thập niên trôi
qua, Mười Tám Thôn Vường Trầu đã trở thành một địa danh lừng lẩy khắp
Nam kỳ lục tỉnh, là biểu tượng cho thiên-thời-địa-lợi-nhơn-hòa của Sài Gòn-
Gia Định. Ông Hai Bình hiểu và lấy làm tự hào về điều đó, cho nên, khi tám
người con của ông lần lượt trưởng thành, gã chồng hay cưới vợ, ông cất cho
một căn nhà bên cạnh để ra riêng. Ước nguyện của ông là sẽ có một xóm nhà
mà trong đó toàn là những người ruột thịt để cộng hưởng cái hòa khí của
làng mạc, đất đai. Nhưng ước nguyện ấy đã không thành. Khi bến xe An
Sương mở ra, cầu vượt An Sương mở ra, con đường xuyên Á mở ra, cả bốn
bề là đô thị, đất đai lên cơn sốt, người ta ầm ầm sang bán. Ông A, ông B,
ông C gần đó, cả đời ky cóp từng đồng từng cắc, nghèo xác nghèo xơ, giờ
cắt bán vài cái nền nhà đã trở thành tỷ phú. Con cái ông Bình sầm xì rằng
năm ngàn mét vuông đất của ông bây giờ giá chót cũng mười lăm tỷ, nếu
chia đều ra thì mỗi người cũng ngót nghét hai trăm lượng vàng. Biết trước sẽ
có chuyện chẳng lành, ông Bình họp các con lại bảo: “ Xưa nay ba không có
ý định chia đất, ba muốn các con sống chung và xem đất nầy là của chung,
để con cháu tụi bây sau nầy lập gia đình cũng có đất cất nhà. Nhưng giờ ba
thấy tình hình không ổn nên ba quyết định chia đều cho tám đứa bằng nhau,
cứ phân ra thành tám lô rồi bốc thăm, đứa nào trúng lô nào thì lấy lô đó”.
Nhưng quyết định của ông Hai Bình đã muộn. Chị Nguyễn Thị Phượng,
người con gái thứ tư phản đối : “Phần tôi hai ngàn mét vuông, tôi đã canh tác
bốn chục năm nay, chồng tôi đứng tên khai thuế từ năm 1975 đến giờ, tôi
không chia cho ai hết”. Thấy chị con đông, anh em trong nhà thống nhất chia
cho chị tám trăm mét vuông, nhưng chị kiên quyết không chịu. Thất vọng,
74
buồn tủi và bất lực, ông Bình sinh bệnh và chết. Những cuộc tranh chấp tiếp
tục diễn ra. Chị Phượng phân lô bán nền, anh em ngăn cản. Đất tranh chấp
không ai dám mua. Chị cất nhà trọ. Anh em cầm búa ra đập tường. Hai bên
ấu đả lẩn nhau. Những cuộc hoà giải của chính quyền xã không thành. Đất
vẫn là đất nhưng lạnh lùng, tê buốt và luôn ẩn chứa mầm móng của chiến
tranh. Mạnh ai nấy làm hàng rào, bít cả lối đi. Tôi chạy xe vào nhà chị
Phượng phải leo vòng lên hàng ba của nhà người khác. Dường như có ai đó
hiểu rằng tôi đi xác minh để bênh chị Phượng. Một người phụ nữ tranh thủ
đến nói nhỏ với tôi, giọng lạnh lùng và nghiêm khắc: “Cậu làm báo thì phải
khách quan, phải hiểu rõ nguồn gốc của đất nầy trước khi viết báo”. Chị nhìn
thẳng vào tôi rồi lặng lẽ bỏ đi.
Khác với cách tính toán của ông Hai Bình, bà Trần Thị Hớn cũng có
tám người con nhưng tất cả được bà nuôi cho học hành đỗ đạt thành một gia
đình trí thức có tiếng trong vùng. Bà có 1500 mét vuông đất hương quả.
Năm 1999, bà làm tờ tương phân cho tám người con, mỗi người từ 120 đến
150 mét vuông, riêng bà giữ lại 480 mét vuông để dưỡng già. Theo quan
niệm chia tài sản của người xưa, giàu Út ăn, khó Út chịu, hơn nữa bà sống
với con trai Út nên trước khi qua đời, bà lên xã lập giất ủy quyền phần đất
của bà cho người con trai Út để anh nầy lo thờ cúng tổ tiên. Thế nhưng, hai
năm sau khi bà Hớn qua đời, bảy anh chị của Út làm đơn kiện lên xã đòi
chia thừa kế phần đất dưỡng già của mẹ, mỗi người 59 mét vuông. Trong
cuộc họp hoà giải tại xã, họ cho rằng mặc dù Út ở với mẹ nhưng nuôi mẹ thì
tất cả cùng nuôi, có người lật sổ tay đọc vanh vách những ngày tháng và các
khoảng chi phí họ đi nuôi mẹ trong bệnh viện Trưng Vương. Anh cán bộ tư
pháp xã nói rằng: “Hòa giải cho bà con nông dân thì dễ, còn hoà giải cho
những người ăn học cao hơn mình rất khó, cuối cùng chúng tôi phải chuyển
hồ sơ lên toà án huyện, xử sơ thẩm không xong, huyện chuyển hồ sơ lên cấp
phúc thẩm, chưa biết kết quả ra sao, nhưng dù có ra sao đi nữa thì mình cũng
không ngờ nỗi những điều như vậy có thể xảy ra ở những người mệnh danh
là kỷ sư, nhà giáo”.
Chúng tôi tìm đến nhà của ông Nguyễn Quốc Hưng theo tờ đơn ông tố
cáo người con trai út của ông, anh Nguyễn Quốc Khang. Ơ xứ Bà Điểm nầy,
ông Hưng từng nổi tiếng là một người giàu có, nhiều ruộng nhiều vườn.
Theo ông trình bày, ông có bốn người con, hai thửa đất ở xa lộ Đại Hàn và
Trung Chánh ông chia cho ba người con lớn. Khang là con trai Út nên ông ở
với Khang trên phần đất hương quả 2500 mét vuông cùng với ngôi nhà ngói
ba gian thờ cúng ông bà. Thế nhưng vợ chồng Khang bất hiếu, ngược đãi
ông, thậm chí đánh đuổi ông ra khỏi nhà để giành đất. Tức giận, ông cắt cho
Khang 900 mét vuông ra ở riêng nhưng Khang vẫn không chịu, đòi giành
trọn phần đất của ông.
75
Câu chuyện tưởng vậy mà không phải vậy. Ngồi đối diện với tôi là một
ông già lẫm cẫm trên tám mươi tuổi và anh con trai hiền lành bốn mươi sáu
tuổi. Khang nói: “Tôi là con trai út, nhận nuôi cha trên đất hương quả là
chuyện bình thường. Nhưng từ khi đất đai lên giá, ổng cứ phân lô bán nền
liên tục để lấy tiền cung phụng cho bà bán vé số ở xóm trên. Ong nói rằng
ổng có con với bà ấy. Thử hỏi anh, ổng tám mươi hai tuổi rồi mà có con trai
năm tuổi, liệu có tin được không ?”. Ông già quát: “Tổ cha mầy, không phải
con tao sao nó thương tao, thỉnh thoảng nó tới ngủ với tao ?”. Khang thở dài:
“Tôi ngăn cản không cho ổng bán đất, ổng đuổi tôi ra khỏi nhà, tôi cất nhà
bên cạnh, ổng rào lại không cho tôi qua để ở một mình cho dễ bề quan hệ
với bà kia”. Ai đúng ai sai trong câu chuyện giữa hai người chưa phân giải.
Nhưng nhìn những tấm mê bồ, những cây tre và những sợi kẽm gai ngăn
cách tình cha con, ai cũng thấy não lòng.
Chị Cúc Hương, cán bộ tư pháp xã Bà Điểm nói rằng, ông bà xưa chia
đất cho con cháu không phải đo đạc phân lô, có khi chỉ nói đại khái miếng
A, miếng B nào đó, hoặc lấy cái bờ, con mương làm ranh giới. Nhưng rồi
khi giá đất vọt lên một mét vuông năm bảy triệu đồng thì một vài tấc ranh
cũng làm cho gia đình tan nát. Có những ranh đất chỉ đôi ba tấc thôi mà cán
bộ tư pháp xã hoà giải suốt năm sáu năm vẫn không thành, anh em ruột thịt
lại kéo nhau lên toà án huyện. Về pháp lý, cái ranh giới đất thì đã khó xác
lập, còn cái tình thì đến đời con cháu họ cũng chưa chắc gì xóa được sự cách
ngăn. Đất Hóc Môn là đất vốn có truyền thống dòng tộc lâu đời. Bởi vậy xưa
nay ngày giổ ở đây luôn được coi là quan trọng, là ngày tề tựu họ hàng thân
tộc, cháu con, chòm xóm. Nhưng bây giờ, sau những vụ tranh chấp đất đai,
có nhiều gia đình đến ngày giổ ông bà thì mạnh ai nấy cúng, ngôi nhà thờ trở
nên vắng vẻ, lạnh lùng.
Anh Thanh Hà, cán bộ thi hành án huyện Hóc Môn nói với tôi: “Nếu có
dịp, anh đến ngồi dự các phiên tòa dân sự về những vụ tranh chấp đất đai
trong họ hàng thân tộc, anh sẽ thấy rằng, đất càng lên giá bao nhiêu thì tình
người càng xuống giá bấy nhiêu”.






76
Nước mắt người già

Tôi đçc đi đçc lai "Nuóc màt nguòi già" trên trang 16 SGTT sô
33 mây lân, đê mà vùa thuơng, vùa túc giân. Thuơng cho thân
phân các cµ già vô phuóc, lê ra có môt gia đình vói con cái
phµng duõng tuôi già cúa ông bà. Nhung cũng phái thây ràng
suy nghĩ "sç ánh huóng đên công tác cúa con, sç mây đúa
cháu biêt đuçc chúng buôn phiên, nghĩ xâu vê cha mç" cũng đã
góp phân dung duõng cho nhûng ké bât hiêu, táng tân vói cha
mç thêm yên tâm vói hành vi cúa mình. Tuy nhiên, theo tôi pháp
luât cũng đã quy đjnh hình phat vói tôi nguçc đãi cha mç. Cân
xác đjnh tên tuôi cúa nhûng nguòi già bj bó rơi này đê quy tôi
đên nơi đên chôn nhûng đúa con bât hiêu cúa hç. Tôi cũng
muôn nhàn nhú hç ràng, dù khéo ranh ma, hç có thê lçt qua luât
đòi nhung luói tròi lông lông, coi chùng, sê khó lçt.
(L Chí Thiện - Tiền Giang)

Anh Lê Công Hùng, Giám đốc Trung tâm nuôi dưỡng người già & tàn
tật Thạnh Lộc cho biết, ở đây có gần ba trăm cụ già đến từ mọi miền đất
nước, khó mà biết được sự thật cuộc đời của các cụ ra sao vì trong hồ sơ chỉ
khai một cách chung chung rằng hoàn cảnh neo đơn, không nơi nương tực,
không có người thân, tứ cố vô thân. Thế nhưng, qua những câu chuyện tâm
tình giữa các cụ mà nhân viên ở đây vô tình nghe được thì đa số các cụ từng
có một mái ấm gia đình, có con cháu hẳn hoi nhưng vì bị chúng ngược đãi
đến mức phải ra đi, sống lang thang nơi đầu đường xó chợ, đến khi sức cùng
lực kiệt, chính quyền địa phương gởi vào đây.
*
Ông Huỳnh Sương, 76 tuổi, cán bộ hưu trí ở quận 5 đã vào đây sống
hơn mười năm. Ban đầu, ông khai là người tứ cố vô thân, không nơi nương
tựa. Nhưng rồi những tâm sự của ông với những người bạn già vào những
chiều, những đêm trên băng đá, người ta mới biết được rằng cụ đã có những
người con thành đạt, thậm chí đang có chức có quyền. Khi chúng tôi bày tỏ
sự cảm thông, chia sẻ thì nước mắt cụ rưng rưng và bộc bạch những lời tâm
sự, rằng cụ có tất cả sáu người con, một là thượng tá cảnh sát giao thông,
một là trung tá săn bắt cướp, một đang dạy tin học tại một trung tâm lớn trên
đường Pastuer, một là cán bộ toà án quận, một là trung úy cảnh sát hành
chánh, một là nhân viên bán vật liệu xây dựng. Hỏi vì sao cụ lại vào đây, cụ
ngập ngừng nói: “Tôi không muốn làm phiền con cái”. Hỏi vì sao cụ cố giấu
77
nhân thân, cụ nói: “Sợ ảnh hưởng đến công tác của các con, sợ mấy đứa
cháu nội, cháu ngoại biết được, chúng nó buồn phiền, nghĩ xấu về cha mẹ”.
Chỉ có vậy. Chúng tôi cố hỏi thêm về chuyện quan hệ gia đình, ông chỉ
cúi đầu im lặng. Hỏi quẩn hỏi quanh chuyện nhà cửa, ông lại vô tình hé ra
chi tiết: cách nay vài tháng, có một người khách đến rước ông về phường để
làm thủ tục chuyển quyền sử dụng căn nhà thuộc sở hữu của ông nhưng do
con gái ông đứng ra sang bán. Ông nói: “ Miễn sao nó nuôi con cái ăn học
đàng hoàng là được rồi, tôi đâu cần gì nữa”.
Anh Lê Công Hùng cho biết, có lần anh kể về những người con của ông
Sương trong một phóng sự truyền hình, sau đó anh nhận được những cú điện
thoại với những lời răng đe, hăm doạ.
Khác với ông Sương, ông Huỳnh Văn Mỹ, 83 tuổi, vừa nhập trại cách
đây hai năm đã không chút ngần ngại khi kể lại số phận của mình. Vợ chồng
ông sống với con gái và ba đứa cháu ngoại trong một con hẻm trên đường
Đề Thám, quận nhất. Khi người con rể ông ở bên Mỹ gởi tiền về để xây nhà
thì con gái ông bảo ông sang tên, ông nghĩ trước sau gì thì cũng là của con
nên ông không ngần ngại ký giấy sang tên cho con gái. Nào ngờ nhà vừa xây
xong vài tháng, con gái ông chết vì bệnh ung thư, lập tức ba đứa cháu ngoại
ném cho ông hai ngàn đô-la rồi đuổi vợ chồng ông ra đường. Không đi thì
chúng bỏ đói, mắng chửi, đánh đập và lăng nhục. Cùng đường, vợ chồng
ông cầm hai ngàn đô-la qua quận Hai thuê nhà trọ. Ơ được vài năm thì vợ
ông lâm bệnh, tiền bạc không còn. Không chịu đựng nổi đắng cay, cả hai vợ
chồng tự tử. Nhưng ông được cứu sống, còn vợ ông thì vĩnh viễn ra đi. Ong
về nhờ chùa Thiên Hậu ở cạnh ngôi nhà cũ lo quả táng cho vợ ông. Xong,
ông xin vào trung tâm dưỡng lão. Ông ngậm ngùi nói: “ Không hiểu sao, cả
ba đứa cháu ngoại tôi đều có học, thậm chí học rất giỏi, một đứa vào đại học,
hai đứa đang học cuối cấp ba mà sao chúng nó lại xử sự với ông bà như vậy
!”
Anh Hùng cho tôi xem bộ hồ sơ của một người quá cố, có lẽ đây là mộ
hồ sơ duy nhất thể hiện khá rõ về tấn thảm kịch của một con người: Ông
Nguyễn Đình Chiến, sinh năm 1919 ở phường 26 quận Bình Thạnh, sau khi
bán căn nhà mấy chục lượng vàng để chia thừa kế cho năm người con, ba gái
hai trai, cứ tưởng họ sẽ thay phiên nhau nuôi dưỡng ông như đã hứa. Nhưng
rồi vài tháng sau, cả năm người con cứ đùn qua đẩy lại. Buồn chán, ông lang
thang ra hè phố làm kẽ ăn mày. Chính quyền địa phương đã năm lần mời họ
đến lập biên bản, buộc phải có trách nhiệm nuôi dưỡng người cha. Nhưng
rồi đâu lại vào đấy. Một đêm nọ, người ta phát hiện ông Chiến nằm ngất xỉu
trên vĩa hè vì đói khát. Chính quyền địa phương đưa ông đi cấp cứu rồi làm
thủ tục gởi ông lên Trung tâm Thạnh Lộc. Thế nhưng gần hai tháng sau, khi
ông Chiến qua đời, cả năm người con của ông kéo lên khóc lóc và tranh
78
dành tử thi để đem về mai táng. Trong lúc giành nhau, có một người khôn
ranh hơn đã đưa ra giấy chứng nhận của chính quyền địa phương rằng anh ta
là con ruột nên được ưu tiên nhận xác cha. Lúc mang ra taxi, do thi hài ông
Chiến đã cứng nên người thừa ra ngoài gần một nửa, người con trai ấy đã
vội vã đến mức không ngần ngại bẻ quắp đôi chân người cha ém vào, đóng
sầm cửa lại và cho xe nổ máy. Cả Trung tâm nhìn theo, ai cũng lắc đầu rơi
nước mắt. Một người con trai còn lại gặng hỏi anh Hùng rằng: “ Lúc cha tôi
vào đây, nghe nói có một doanh nghiệp cho hai triệu đồng, giờ còn được bao
nhiêu ông trả lại cho tôi !”
Anh Hùng nói rằng, trên ba trăm cụ già ở đây là trên ba trăm câu
chuyện đời đầy bi kịch nếu như có máy ghi âm đặt bên các băng ghế đá để
thu lại những dòng tâm sự của các cụ vào những buổi chiều. Một trong
những câu chuyện mà anh vô tình nghe rất nhiều lần là ông Trương Văn
Minh, 80 mươi tuổi, đến từ Tân Tạo, Bình Chánh. Cả đời ông sống bằng
nghề nông lam lũ, nuôi con lớn khôn bằng cây lúa cọng rau. Thế rồi đùng
một cái, các khu công nghiệp mọc lên, đất đai sốt giá, làng xóm ùn ùn thi
nhau bán đất, các con ông cũng bị lăn tròn vào cơn sốt ấy. Chúng kéo nhau
thúc bách ông một hai phải bán. Bán xong, chúng ấu đả chửi bới, đánh đập
nhau để tranh giành quyền lợi. Xong, mỗi đứa ném cho ông vài trăm ngàn
đồng rồi đẩy ông vào đây. Hai năm sau, ông lâm bệnh nặng và qua đời trong
bệnh viện.
Hỏi, gần năm năm làm Giám đốc Trung tâm, anh tâm đắc những gì về
chuyện thế thái nhân tình ? Anh Lê Công Hùng nói, tâm đắc thì nhiều lắm,
mỗi một ông cụ, bà cụ đến đây đều mang theo những thước phim đời đầy
nước mắt. Nhưng điều day dứt hàng năm là những ngày tết đến, khi đón giao
thừa, Trung tâm tổ chức lửa trại cho các cụ quây quần lại với nhau, nghe
Chủ tịch nước đọc thư chúc mừng năm mới, chúc cho mỗi gia đình được no
ấm, yên vui và hạnh phúc. Lúc ấy, trên gương mặt gìa nua, nhăn nheo của
các cụ ánh lên hai dòng nước mắt lăn dài. Lúc ấy, mấy chục anh chị em của
Trung tâm dù cố kềm chế cũng phải khóc theo.
Nghịch lý thay – anh Hùng nói – chính giờ phút ấy lại là niềm vui trọn
vẹn của mỗi gia đình trong xã hội.




79
Thế giới người điên
1.

Má ơi ! Con muốn điên rồi,
Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi
. . .
Ầu ơ . . .
Ví dầu con Má có sao
Có điên, có dại Má nào bớt thương
Đó là những câu thơ của nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Ngu Í (
1921 – 1979 ) bật lên trong những ngày điên loạn. Giữa ngổn ngang hiện vật
trong phòng lưu trữ của nhà thương điên Biên Hòa, chúng tôi tìm thấy bút
tích lời kêu cứu của ông viết vào năm 1976 như sau:
Tôi là Nguyễn Hữu Ngư, 58 tuổi, bút hiệu Nguyễn Ngu Í, là nhà văn,
nhà giáo, nhà báo nông chuyên nghiệp, hiện là bệnh nhân ở khu 3, bệnh viện
tâm thần Biên Hòa ( tức nhà thương điên Biên Hoà ). Xin có lời kêu cứu với
các bạn, các thầy, học trò cũ và những người quen biết:
Tôi mắc bệnh cuồng não tuần hoàn từ năm 18 tuổi. Lúc trẻ, năm bảy
năm bệnh tái phát một lần, càng có tuổi chu kỳ càng hẹp. Biến cố lịch sử tết
Mậu Thân xúc động tôi quá mạnh, tôi lên cơn dữ dội. Nay chu kỳ bệnh lại
công phạt, cứ vài tháng là bệnh cũ tái phát trở lại, tôi phải sống nhờ cơm của
nhân dân, lấy bệnh viện làm nhà. Vừa rồi tôi suýt chết, tôi thấy sức lực tôi đã
mòn nhiều, sống ráng độ vài năm nên tha thiết yêu cầu người quen giúp
phương tiện để tôi có thể: 1-Mua một kính cận thị bị anh em quận đội đánh
bể vì tôi đột nhập vào quận đội nửa đêm tết năm ngoái. 2-Làm một hàm răng
giả ( tôi phải ăn nuốt trọng từ một năm nay ). 3-Tái bản quyển “Sống vôvi”,
“Có những bài thơ”, “Hạnh phúc chính nơi bạn”. 4-Xuất bản hai tập hồi ký
“Nếu tôi nhớ kỹ” và “Những bức thư tình tưởng không bao giờ viết”.
Bác sĩ Nguyễn Gia Khanh sau khi đọc cho tôi ghi lời kêu cứu của
Nguyễn Ngu Í, ông nói: “ Một người điên mà biết trăn trở vì sống nhờ hạt
cơm của nhân dân thì quả là một người điên cực kỳ tử tế”.
Trong hồ sơ bệnh lịch của Nguyễn Ngu Í nhập viện hồi năm 1964 có
đoạn viết: “Bệnh khởi phát từ năm 1940 với triệu chứng nói nhiều, chửi bới,
lui tới lăng xăng. Đã điều trị ở bệnh viện Chợ Quán một đợt sáu tháng, được
choáng điện nhiều lần, khi về đi dạy học được. Đến năm 1947, bệnh tái lại,
điều trị ở trại an trí Quảng Ngãi sáu tháng, bệnh giảm, vài tháng bệnh trở lại,
đến Biên Hoà, ra vào 12 lần, mỗi lần hai ba tháng. . .
Theo nhà văn Sơn Nam thì Nguyễn Ngu Í là một nhà văn nổi tiếng
yêu nghề và yêu nước, luôn xót xa vì chuyện đất nước chia đôi. Dường như
80
cả một đời dạy học và hoạt động báo chí ở Sài Gòn, Nguyễn Ngu Í lúc nào
cũng trong trạng thái nửa tĩnh nửa điên. Có lần, chính quyền sài Gòn tổ chức
hội nghị triển khai kế hoạch bình định cấp tốc vùng đồng bằng sông Cửu
Long tại căn cứ Đồng Tâm, có cả cố vấn Mỹ tới dự. Nguyễn Ngu Í cũng tới
dự với tư cách nhà báo. Ong mặc áo sơ mi trắng, thắt cà-vạt nhưng lại mang
guốc vông. Chính điều đó đã biểu hiện một trạng thái bất thường. Sau bài
phát biểu của một cử toạ, Nguyễn Ngu Í xin phát biểu cảm tưởng của một
nhà báo. Hội trường vang lên tiếng vỗ tay. Ông nghiêm mắt nói: “Làm công
việc bình định đồng bằng sông Cửu Long nhưng vị quận trưởng có mặt tại
đây là một người đạo đức giả, là kẻ gian phu ! Ong ta thông dâm với tất cả
những nữa giáo viên xinh đẹp trong vùng. Trong số gái mất nết ấy, vài người
hiện có mặt tại đây . . .”
Nguyễn Ngu Í vừa nói vừa chỉ vào mặt viên quận trưởng, vừa lia lia
ngón tay về phí các cô giáo. Trước tình thế quá căng thẳng, một viên chức
địa phương phải lên phân trần với cố vấn Mỹ và các quan chức chủ toạ rằng
đó là một nhà báo mắc bệnh thần kinh đang lên cơn. Có lẽ vì Nguyễn Ngu Í
mang đôi guốc vông không giống ai nên ông thoát nạn.
Trong phòng lưu trữ của nhà thương điên Biên Hoà, chúng tôi còn tìm
thấy tờ đơn xin nghỉ phép của Nguyễn Ngu Í đề ngày 13 tháng 8 năm 1976,
ông viết : “ Kinh xin bác sĩ cho tôi được về phép ngày chúa nhật 15/8/76 để
đến thăm gia đình một bạn thân ở tỉnh lỵ Biên Hoà, anh Nguyễn Văn
Thuyết, con trai cố bác sĩ Nguyễn Văn Hoài (Giám đốc bệnh viện tâm trí
Biên Hoà từ 1945-1955 – NV )
Nguyễn Ngu Í là bạn thân với nhà văn Bình Bình Lộc, mà Bình
Nguyên Lộc lại có người con trai là bác sĩ Tô Dương Hiệp làm giám đốc
bệnh viện tâm trí Biên Hoà những năm 2972-1973. Bản thân nhà văn Bình
Nguyên Lộc cũng từng là bệnh nhân của nhà thương điên Biên Hoà trong
những năm chống Pháp. Chính vì mối quan hệ nầy mà nhà văn Nguyễn Ngu
Í từng được bác sĩ Tô Dương Hiệp trực tiếp chăm sóc như một người thân.
Hoạ sĩ Lê Thành Vinh, phụ trách phòng hội hoạ trong bệnh viện cho biết,
những lúc tĩnh táo, Nguyễn Ngu Í thường bắt bác sĩ Hiệp ra ngồi đánh cờ
tướng với ông hàng buổi. Thắng thì vui vẻ, thua thì nổi cơn điên. Có lần ông
cầm bàn cờ đập lên đầu bác sĩ Hiệp, thủng cả bàn cờ , tròng xuống cổ, mặt
mài đầy máu nhưng bác sĩ Hiệp vẫn vui, vì đó không chỉ là một bệnh nhân
mà còn là bạn chí cốt của cha mình.
Bác sĩ Hiệp mất năm 1973 vì bệnh ung thư, an táng tại nghĩa trang
bệnh viện. Nguyễn Ngu Í mất năm 1979, tại tư gia ở sài Gòn. Bình Nguyên
Lộc sang California chữa bệnh năm 1985 và từ trần bên ấy năm 1987.
Chưa tìm được mối quan hệ nào trong nhà thương điên Biên Hoà giữa
Nguyễn Ngu Í, Bình Nguyên Lộc và Bùi Giáng. Căng cứ vào hồ sơ lưu trữ
81
thì Bùi Giáng nhập viện hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào
năm 1977, thời gian nầy Nguyễn Ngu Í vẫn còn trong bệnh viện, hai người
cùng ở khu 3 nhưng chúng tôi không tìm được thông tin về mối quan hệ của
họ như thế nào. Đây cũng là một việc đáng tiếc.
Bệnh án của Bùi Giáng có đoạn ghi: “Bệnh tái phát từ tháng 4 năm
1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la
thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề
chính trị, văn hóa trọng đại, có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn
chương. Tháng 3 năm 1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vỡ quý báu nên
đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn . . .”
Bùi Giáng để lại trong bệnh viện rất nhiều bút tích, chủ yếu là thơ.
Nhưng hầu hết những bài thơ ông không ghi ngày tháng, và, cũng chẳng ai
hiểu ông muốn gởi gắm những điều gì qua những vầng thơ nửa tĩnh nửa
điên:
Tờ thư bí mật hôm nay
Gửi em nói chuyện dằng dai đuôi đầu
Đầu tiên gió gác trăng lầu
Cuối cùng đuôi đứt mối sầu trường sinh
Hình dung mộng tưởng chênh vênh
Trăm năm rút gọn gập gềnh tử sinh
Tam bành tuyệt đối đinh ninh
Rồi ra tứ trướng bất thình lình điên
Thư về bí mật liên miên
Té ra toàn thể là thiên thu khùng
( Tờ thư bí mật )
Nỗi buồn như chiếc lá rơi
Từ cành rụng xuống chốn nơi nào là
Nỗi buồn gieo giọt sương hoa
Cho tim máu động chan hoà một phen
Nỗi buồn chắp cánh bay lên
Vi vu mười hướng bay lên bốn trời
Buồn vui cũng thế mà thôi
Tình thương mơ mộng muôn đời một mai
Ấy người, ấy kẻ, ấy ai
Trận buồn chếnh choáng than dài nỗi vui
Chia nhau một chút ngậm ngùi
Hình dung mộng tưởng ra ngoài trăm năm
( Nỗi buồn )
Thưa em từ bữa xa xưa
Ngẫu nhiên tao ngộ một mùa đa mang
82
Tình yêu cậy cánh hoa lan
Giãi giùm tinh thể đá vàng đầu tiên
Em người xứ sở thần tiên
Lạc loài để rớt cõi miền đi đâu
Chờ em suốt mấy trăng thâu
Bầu tiên chuốc rượu nguyệt lầu vô phương
Bổng dưng tình huống dị thường
Thình lình một ngã ba đường tẻ ra
( Ngẫu nhiên )
Gần một trăm năm qua, nhà thương điên Biên Hoà đã có hàng chục
vạn bệnh nhân đến và đi, tất nhiên đi về đâu của bước chân người điên thì
chẳng ai biết được. Có một nghĩa trang phía sau dành cho hàng ngàn người ở
lại. Có một phòng bảo tàng rất khiêm tốn dành cho những giá trị mà họ để
lại. Ơ đó có những bút tích, những bài thơ, những bức tranh cũng hết sức
khiêm tốn, nhưng, nói theo bác sĩ Nguyễn Gia Khanh thì xin chớ vội coi
thường bởi điên mà còn biết trăn trở khi ăn hạt cơm của nhân dân như nhà
văn Nguyễn Ngu Í thì quả là một người điên cực kỳ tử tế.

2.

-Dạ, em tên là Lê Viết Tuấn, em xin nhắc lại là Lê Viết Tuấn chớ
không phải là Lê Việt Tuấn, sinh năm 1961, tại . . . Cha em là bác sĩ . . . Em
bị rối lọan ngôn ngữ nên em tìm đến hội họa là để khẳng định lại giá trị
trong ký tự ABC của Alexandr de Rhoes . . .
Mọi người cố nín cười. Tôi mời Tuấn điếu thuốc. Tuấn khom người
đưa hai tay đỡ lấy và cảm ơn rối rít rồi cúi chào bước ra. Người Tuấn dường
như lúc nào cũng co ro, khiêm tốn, trầm lặng với dáng đi lầm lũi, nhẫn nhục
và chịu đựng trông thật đáng thương. Bác sĩ Nguyễn Gia Khanh, trưởng
khoa họat động liệu pháp – Bệnh viện tâm thần Trung ương II – cho biết,
cách đây hơn hai mươi năm, Tuấn đang học đại học năm thứ ba ngành mỏ-
địa chất thì phát bệnh, bỏ nhà đi lang thang, miệng nói huyên thuyên về
những ý tưởng lạ lùng không ai hiểu. Những lúc tĩnh táo, Tuấn hay kể với
bác sĩ Khanh về những quyển sách triết học mà anh đã đọc thời sinh viên,
trong đó có quyển tâm lý học của Sigmund Freud, quyển sách nầy có một
chi tiết phân tích tâm lý của một chàng trai lọan luân với mẹ ruột, anh ta đã
giết chết người cha và tự móc mắt mình. Nỗi ám ảnh tội ác và sự kinh dị ấy
làm cho Tuấn bị căng thẳng thần kinh, anh đã ba lần nhảy lầu tự tử nhưng
nhờ nhà thấp nên thóat chết, chỉ bị gảy tay.
Theo bác sĩ Khanh thì chứng bệnh của Tuấn gọi là ngộ độc triết học
dẫn đến hoang tưởng bị tội. Cha mẹ Tuấn đã lần lượt qua đời, hiện Tuấn chỉ
83
còn người anh đang sống ở Sài Gòn, nhưng vì không đủ điều chăm sóc nên
ký gởi cho Tuấn ở lâu dài trong bệnh viện, thỉnh thoảng anh vào thăm và hay
chở Tuấn đi chơi trong những ngày lễ tết. Ơ đây, Tuấn luôn được sự chia sẻ
của bác sĩ Khanh và anh đã lao vào hội họa như một nhu cầu bộc lộ tâm tư,
như tìm thấy một lối thóat nên không còn ý định tự tử như trước nữa.
Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi xuống phòng hội họa thì gặp Tuấn đang
ngồi vẽ, Tuấn vẽ một người con gái đang bấu víu vào người con trai. Tôi hỏi
vẽ cái gì vậy, Tuấn nói: “ Hồi sáng em đọc báo thấy có một bài viết về sự
đột quỵ nên em vẽ bức tranh nầy”. Chẳng ai hiểu gì về bức tranh và lời giải
thích của Tuấn. Khi tôi bảo anh giải thích về những bức tranh của mình đang
treo trên tường, Tuấn rất nhiệt tình. “ Bức tranh nầy có tên là lương tâm, em
nhớ có một quyển sách nói về một nhạc sĩ người Nga kéo đàn violon, khi
đàn bị đứt dây, ông ta móc ruột mình ra để làm dây đàn”. Lời giải thích của
Tuấn chẳng ăn nhập gì với bức tranh vẽ nội tạng con người, trong đó cái bao
tử được ráp lại bởi hai hàm răng lởm chởm. Tuấn nói tiếp: “Em cũng chẳng
hiểu sao em vẽ người mà lại không có cáo đầu, có lẽ vì em là người điên”.
Rồi Tuấn dẫn tôi sang bức tranh khác và giải thích : “Đây là hình con gà, em
vẽ bức tranh nầy vào năm At dậu, con gà tượng trưng cho sức mạnh để đá
độ. Nhưng em lại nhớ đến nạn đói năm At dậu 1945, miền Bắc của chúng ta
chết hàng triệu người . . .”
Trong phòng treo hơn mười bức tranh của Tuấn, bức nào cũng đẹp,
táo bạo và đầy ấn tượng. Thật khó mà hình dung rằng đây là tranh của một
người điên.
Bệnh nhân thứ hai mà chúng tôi gặp ở đây – cũng rất tình cờ – lại có
một câu chuyện hòan tòan ngược lại với Lê Viết Tuấn. Đó là Nguyễn Văn
Hòang. Nhưng anh ta tự đặt cho mình biệt danh là Tony Hòang cho nó sang
trọng hơn, phù hợp hơn với tính cách của một tay chơi. Trong bệnh án của
Hòang có đọan: “ Khởi bệng từ tháng 11 năm 2002, mất ngủ, luôn nghĩ
mình tài giỏi, tiêu xài hoang phí. Bệnh nhân đang học trường nhạc được
chín năm, đến năm cuối thì bỏ học. Sau đó làm nhiều việc linh tinh nhưng
không làm gì đến nơi đến chốn, ăn xài phun phí, tự cho mình là giàu có, hay
yêu sách, nếu không thỏa mãn thì đập phá đồ đạc trong nhà và hăm dọa
đánh cha mẹ. Bệnh nhân không có công ăn việc làm nhưng đến các báo
đăng quảng cáo tuyển nhân viên khiến gia đình phải giải quyết hậu quả . . .
Chúng tôi gặp Hòang đang làm việc trong khu vực sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ, Hòang hỏi: “Anh là nhà báo ?”, tôi gật đầu, Hòang hỏi tiếp:
“Anh vô đây làm phóng sự ?”. Thấy Hoàng rất vui vẻ và tĩnh táo như một
người bình thường, tôi hỏi: “ Em bị bệnh gì ?”, “Dạ, bệnh tiêu xài hoang
phí”, “Xài như thế nào mà gọi là hoang phí ?”, “Mỗi đêm em xài hết tám
triệu đồng”, “Xài cái gì mà dữ vậy ?”, “Thì nhà hàng, vũ trường, bao mấy
84
em”, “Em có bồ không”, “Nhiều, khỏang tám cô”, “Mấy cô ấy có yêu em
không”, “ Em cũng không biết mấy cổ yêu em hay yêu tiền của em”. Rồi
Hoàng kể tên mấy cô bồ của mình, nào MT, THV, TH, MA . . . tòan những
diễn viên điện ảnh và người mẫu nổi tiếng. Hòang cho tôi một lô số điện
thọai, địa chỉ nhà và nói: “ Vài hôm nữa em xuất viện, em sẽ chở anh đi chơi
và bao anh trọn gói. Nhưng kỳ nầy mình chơi á hậu thôi chớ không thèm
chơi hoa hậu, tốn kém lắm”.
Bác sĩ Khanh cho biết, bệnh của Hoàng gọi là hoang tưởng tự cao dẫn
đến rối lọan nhân cách, lúc nào cũng thấy mình hơn thiên hạ và cho rằng
người khác phải có bổn phận cung phụng cho mình. Trong hồ sơ của Hoàng
có một mảnh giấy mà tình cờ bác sĩ Khanh phát hiện trong túi Hòang: “Tony
Hoàng, 37 tuổi, độc thân, cao 1,73m, nặng 70kg, trình độ đại học, nghề
nghiệp: Kinh doanh địa ốc, điện thọai di động, bán vé máy bay trong và
ngòai nước, làm visa, hộ chiếu, cho vay lãi suất 4%. Có nhà riêng, xe ô tô.
Hiền, vui tính. Rất hân hạnh được làm quen với các cô”.
Cách đây mấy hôm, Hoàng chuẩn bị xuất viện thì tình cờ bác sĩ
Khanh phát hiện cũng trong túi của Hòang có mấy tờ giấy khác, trong đó
Hoàng kê ra chi tiết trong một năm Hoàng nằm bệnh viện, tiền lương và tiền
điện thọai hàng tháng mà mẹ và anh trai phải truy trả sau khi Hoàng xuất
viện là gần 40 triệu đồng, chưa kể tiền lì xì tết và các ngày lễ trong năm. Thế
là, Hoàng phải ở lại để điều trị tiếp.
Bác sĩ Khanh nói rằng, Hoàng vẫn là kẻ đáng thương hơn đáng trách.
Tuy mỗi người biểu lộ một tính cách khác nhau nhưng suy cho cùng, tất cả
đều là nạn nhân của một căn bệnh ngặt nghèo, bi kịch cho đời họ và làm khổ
người thân.
Chúng tôi gặp chị Lan, nhà ở Gò Vấp vào thăm đứa con trai tên Võ
Văn Khôi, 26 tuổi. Khôi to lớn như kẻ bị béo phì, ngồi gục gặt, mắt đờ đẫn
vì dùng thuốc an thần liều cao để chặng đứng cơn kích động. Chị Lan buồn
bã kể rằng, vợ chồng chị có hai đứa con, một gái một trai, cả hai đều rất
ngoan và học giỏi. Khôi lớn lên trong sự đầm ấm của gia đình, đặc biệt là
tình thương của bà ngọai. Ngọai đưa đón Khôi đi học từ nhỏ cho đến hết cấp
hai. Thậm chí những ngày Khôi đi học võ, ngọai dắt Khôi đến nơi rồi ngồi
chờ ngòai cổng cho đến hết giờ vì bà không yên tâm với môn học dễ xảy ra
tai nạn. Thế rồi một hôm, bà ngọai về quê và chết ở quê. Trước sự mất mác
mà không lý giải được, Khôi bị mắc bệnh trầm cảm, rồi từ trầm cảm trở nên
cộc cằn, hung hăng và nổi lọan. Mỗi khi lên cơn, gặp ai Khôi cũng đánh, bất
kể đó là cha mẹ ruột của mình. Mỗi ngày Khôi bắt cha phải chở đi đúng năm
tiếng đồng hồ vòng quanh thành phố, phải đi đúng tuyến đường và ghé đúng
những quán cà phê mà Khôi quy định. Suốt mười năm qua, Khôi đã hành hạ
85
cha mình như thế. Mỗi năm Khôi vào bệnh viện một lần, mỗi lần vài tháng,
nhưng vừa xuất viện thì bệnh lại tái phát.
Hai mẹ con ngồi cạnh nhau, Khôi cao to nhưng vô hồn như tượng gỗ,
chị Lan tiều tụy, héo gầy, khắc khổ nhưng vẫn nhân hậu, ngọt ngào: “Có
những lần hai vợ chồng tôi đưa cháu vào đây, tôi ở lại, ảnh ra về. Bất chợt
cháu nhìn theo cha rồi khóc nấc lên, cháu nói: “ Cha đã già, tóc đã bạc, đã
khổ vì con quá nhiều, vậy mà con cứ đày đọa cha”. Lúc ấy tôi cứ tưởng đâu
cháu tĩnh. Nhưng không ngờ khi về nhà thì chứng nào tật nấy”.
Chị Lan vừa nói vừa nhìn con. Tôi nghĩ đến sự chịu đựng mười năm,
có lẽ chị đã khô nước mắt !

3.
Nghe nói chị Huệ có một bức tranh bán cho bảo tàng Đồng Nai, tôi hỏi
chị vẽ cái gì trong đó, chị rụt rè nói: “Tôi vẽ sự cô đơn”.
Bác sĩ Khanh nói mấy năm trước chị Huệ vẽ khá nhiều. Đúng là tranh
của chị thường mô tả sự cô đơn. Những năm gần đây, bệnh tái phát trở lại,
chị không vẽ nữa. Trong hồ sơ của chị còn lại bệnh án của chế độ cũ đã úa
vàng với tiêu đề “Bệnh viện tâm trí Biên Hòa”, số 291/73, tức chị là bệnh
nhân thứ 291 của năm 1973, cách nay đã 33 năm. Bệnh lịch có đọan ghi:
“Bệnh nhân Đinh Thị Huệ, nghề nghiệp thư ký, quê quán Khánh Hòa. Bệnh
tái phát cách nay 3 năm, triệu chứng: Buồn cha có vợ nhỏ, bỏ mẹ không có
tiền, bệnh nhân uống thuốc mê, cắt lưỡi, rạch bụng, nhảy lầu. Khi vào
viện,bệnh nhân hay viết lên giấy mấy chữ:Trông cha về chắc hết bệnh”. Một
bệnh án khác ghi tiếp: “Nhập viện ngày 29 tháng 6 năm 1976, do cán bộ
thương binh phường đưa đến vì phá phách ngòai chợ”.
Y tá Nguyễn Thị Ngoan Hiền, người trực tiếp chăm sóc chị Huệ cho
biết, những dòng ngắn gọn như thế nhưng ẩn chứa bao nhiêu uẩn khúc của
cuộc đời. Những lúc tĩnh táo, chị Huệ theo phụ với Hiền chăm sóc những
bệnh nhân khác, chị thường hay tâm sự rằng chị từng có một gia đình ấm
êm, hạnh phúc. Năm 1970, chị thi đậu tú tài, đi làm thư ký được một năm thì
phát bệnh. Đến năm 1975, hết bệnh, chị về quê học cao đẳng sư phạm được
một năm thì bệnh tái phát. Vậy là suốt ba chục năm qua, cô sinh viên sư
phạm xưa đã trở thành một bà già điên lọan. Thỉnh thỏang chị hay mời các
bác sĩ và điều dưỡng viên trong khoa đến để giảng bài và cho điểm từng
người một. Tôi hỏi chị giảng những bài gì, chị nói giảng về cuộc đời ở ba thế
giới khác nhau. Đó là đia ngục, trần gian và cõi thiên đàng, các bác sĩ ở đây
chỉ mới thành tiên thôi chớ chưa thành Phật, muốn thành Phật để lên tới tầng
trên cùng của thiên đàng phải thêm vài năm nữa.
Tôi hỏi chị có viết văn không, chị gật đầu rồi chạy về phòng mang lên
cuốn tập học trò. Ở trang đầu, chị vẽ chân dung cô y tá Hiền rất đẹp và trang
86
trọng. Tiếp theo là những tạp văn. Trong bài “Tình muộn”, chị viết: “Tôi
ghé thăm anh một chiều vàng nhạt, khi ánh thái dương đã tắt sau đồi. Anh
ra tiếp tôi với nụ cười rạng rỡ nở trên môi. Tóc anh đã hoa râm nhưng hồn
anh vẫn trẻ. Anh bâng khuâng dí giày trên cát. Tôi đến với anh đã muộn
màng vì anh đã có vợ rồi. Tôi yêu anh với tình yêu trong trắng của một thiếu
nữ đã lớn khôn, hay hơn thế nữa là đã quá tuổi trung niên rồi. Tôi chẳng
biết nói gì cùng anh, tôi cũng bâng khuâng dí giày trên cát, cát trắng của
miền Biên Hòa xứ bưởi.
Thôi anh ạ, nếu chúng mình còn có duyên với nhau xin làm đôi bướm
trắng bay giữa bầu trời xanh đầy ước mơ.
Thân tặng anh Nguyễn Văn Chiến – 1977.
Tôi hỏi Chiến là ai, chị rụt rè nói: “Hồi xưa ảnh ở khoa nam, rất đẹp
trai, hát hay. Tôi yêu ảnh nhưng thấy ảnh có nhiều bạn gái quá nên thôi,
không nói.” Y tá Hiền cho biết, ông Chiến là một bệnh nhân đã xuất viện lâu
rồi, có lần vào thăm chị Huệ, hai người ôm nhau khóc sướt mướt.
Những tạp văn của chị Huệ thường gởi gấm tình cảm của mình với đức
Phật, ca ngợi tình người. Một bác sĩ Trần Lâm Cao nào đó đã cưới một cô
gái lầm lỡ về làm vợ, “Tôi yêu tâm hồn cao quý của anh,những người như
anh trên đời nầy thật hiếm có, tôi nguyện kiếp sau sẽ gặp lại anh, hai ta sẽ là
một, anh là bác sĩ hộ sinh, tôi là bác sĩ chuyên khoa mổ . . .”; Hay một
người thầy cũ mà chị hết lòng tôn kính, một ông anh họ, một người chị dâu,
một mùa xuân tuyệt đẹp ở quê nhà. Trong bài “Một chuyến về thăm”, chị kể
chuyện về quê gặp lại mẹ, gặp lại các em, các cháu trong trạng thái mừng
mừng tủi tủi, nước mắt rung rưng, gặp lại quê hương “với bờ biển về đêm
lấp lánh những ngọn đèn, gió thổi lồng lộng nghe hồn mình lâng lâng vui
sướng”. Nhưng tất cả chỉ là hoang tưởng như chính tên gọi căn bệnh ngặt
nghèo của chị. Khi tôi hỏi chị có nhớ nhà, nhớ quê không, chị nói: “Nhà ấy
đâu phải là nhà tôi, nơi ấy có còn ai thương tôi nữa đâu mà nhớ”. Bác sĩ
trưởng khoa Lê Văn Hiến nói rằng, suốt ba mươi năm qua, chị Huệ cũng như
hàng trăm số phận của những bệnh nhân bị thân nhân ruồng bỏ, chỉ có
những người thầy thuốc trong bệnh viện nầy là người thân của chị. Thỉnh
thỏang, có ai đó chạnh lòng cho chị một ít tiền, chị đi mua bánh kẹo, trà đá
mời tất cả các thầy thuốc trong khoa, ai từ chối là chị giận. Lúc tĩnh, chị theo
các nhân viên điều dưỡng đi làm vệ sinh hoặc chăm sóc cho những bệnh
nhân khác. Nói chung, chị Huệ là một người điên tử tế.
Y tá Hiền kể với chúng tôi một câu chuyện khá đau lòng rằng, cách đây
mấy tháng, có một cô giáo rất đẹp ở Vũng Tàu được chồng đưa vào nhập
viện. Nhưng khi xuất viện thì cha cô vào rước. Hiền hỏi chồng cô ấy đâu,
ông lão nghèn nghẹn trả lời: “Nó bị chồng bỏ từ khi mới phát bệnh, hôm
trước chồng nó đưa vào chẳng qua vì tình vì nghĩa mà thôi”. Ở đây có rất
87
nhiều bộ hồ sơ gọi là “vô danh nữ”, không tên, không tuổi, không quê quán,
không cha mẹ, người thân. Bác sĩ Nguyễn Gia Khanh kể với chúng tôi rằng
cách nay hai năm, từ khoa nữ chuyển qua khoa hoạt động liệu pháp của ông
một nữ bệnh nhân với bọ hồ sơ như thế. Bệnh án chí có mấy dòng ngắn gọn:
bệnh nhân bị người nhà bỏ rơi trước cổng trong tình trạng bấn lọan, đi lang
thang, miệng nói lãm nhãm, lúc khóc lúc cười, bảo vệ đưa vào nhập viện vào
lúc 8 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 7 năm 2002. Rồi như một sự bất ngờ, bác sĩ
Khanh nói vui rằng đó là một ngày đẹp trời của tháng 10 năm 2004, tức sau
hơn hai năm điên lọan, chị tĩnh hẳn ra với những tâm sự như nhận diện chính
mình: “ Tôi tên là Phạm Kim Thoa, sinh năm 1948, quê xã Xuân Thành,
huyện Xuân Thủy, Nam Định . . . năm 1988, tôi theo người chú vô Vũng
Tàu rồi lập gia đình với anh Tăng Tự Phi, chúng tôi sống với nhau rất hạnh
phúc nhưng không có con. Thế rồi một đêm nọ, tôi nghe có tiếng gọi bên tai,
tôi bỏ nhà ra đi như một người mộng du. Hôm sau chồng tôi tìm gặp và chở
chở tôi đến bỏ trước cổng bệnh viện”. Tôi hỏi chị có nhớ nhà không, chị nói
nhớ, nhất là nhớ chồng. “Nhưng có lẽ ảnh bỏ tôi rồi nên không thấy tới
thăm”.
Y tá Nguyễn Thị Ngọc Hương kể một câu chuyện buồn về bệnh nhân
của mình – chị Phan Thị Bích, quê ở Hòn Đất, Kiên Giang – rằng khi Bích
vừa phát bệnh thì chồng bỏ nhà đi, để lại cho chị đứa con trai ba tuổi. Sự
phản bội của chồng đã làm cho bệnh tâm thần của Bích nặng thêm. Chiều
chiều chị hay ẳm con ra tắm dưới sông, một hôm, trong lúc giỡn với con, chị
đã trấn nước thằng bé mà không hề hay biết. Từ đó, trong mắt người thân và
hàng xóm, Bích như người phạm tội giết con. Sau hơn một năm điều trị
trong bệnh viện, Bích được xuất viện nhưng không ai đến đón, chị Hương
phải đưa Bích về quê. Từ Biên Hòa về đến nhà Bích phải đi bảy chuyến xe
đò và một chiếc đò ngang, mất cả ngày đường. Thế nhưng khi đến nơi thì
gặp phải sự xua đuổi quyết liệt của hàng xóm, hàng chục người dưới đò
không cho Bích qua sông, chị Hương phải nhờ công an can thiệp. Đến khi
đưa được Bích qua sông thì lại bị người nhà từ chối, cho rằng chị là một
người điên, không được trở lại gia đình. Một lần nữa, chị Hương phải nhờ
công an can thiệp theo luật. Vậy rồi vài hôm sau, Bích lại xuất hiện trước
cổng bệnh viện tâm thần trong cơn điên lọan. Không còn cách nào khác,
Bích nhập viện lần nầy sẽ không có đường về.
Bác sĩ Khanh kết luận rằng, ông làm việc ở đây ba mươi năm nay
nhưng chỉ thấy những người vợ âm thầm, nhẫn nhục đi nuôi chồng chớ chưa
thấy người chồng nào đi nuôi vợ dù trong hàng trăm hồ sơ bệnh nhân nữ có
ghi rõ tên và địa chỉ của chồng. Có chăng là những ông chồng chở vợ đến bỏ
trước cổng bệnh viện vào lúc nửa đêm rồi biến mất. Nên chăng xem lại tích
xưa về chuyện con cua cái hại con cua kình để giảm án cho người phụ nữ !
88

4.
Bác sĩ Khanh kể rằng, trong những dịp tết, bệnh viện tổ chức xe đưa
những bệnh nhân bình ổn về đòan tựu gia đình. Căn cứ vào địa chỉ trong hồ
sơ và sự hướng dẫn của bệnh nhân mà xe đưa đến. Nhưng hỡi ơi ! khi đến
nơi thì gặp phải những ánh mắt từ chối lạnh lùng của người nhà, rằng đây
không phải là người thân của tôi, hoặc nhà nầy đã sang cho chủ khác. Khi
bệnh nhân gọi tên người thân thì họ cho rằng đó là do người điên ngộ nhận.
Khi công an địa phương xác nhận và can thiệp thì bệnh nhân mới được bước
vào nhà trong sử ghẻ lạnh của người thân.
Khi tâm trí bệnh nhân bình ổn thì người nhà phải nhận. Đó là quy định
của pháp luật. Và khi bệnh nhân tái phát thì bệnh viện phải cho nhập viện.
Đó cũng là quy định của pháp luật. Nhưng có một quy luật tất yếu đối với
bệnh tâm thần là khi họ không tìm thấy sự chia sẻ tình cảm hoặc bị ngược
đãi thì bệnh tái phát. Đó chính là lý do mà bệnh nhân sau một thời gian hồi
gia rồi cũng phải quay lại, chọn bệnh viện làm nhà, chọn thầy thuốc làm
người thân.
Bác sĩ Phan Văn Tiếng nói rằng, trong bệnh viện nầy có 1650 bệnh
nhân là 1650 số phận khác nhau, họ nhập viện hay ra viện như thế nào,
người điên không có quyền lựa chọn. Ví dụ như bà Lưu Thị Tám, nhập viện
từ năm 1999 do người con trai đưa đến, bảy năm nay không thấy anh ta trở
lại thăm, khi bệnh viện liên hệ với chính quyền địa phương để xác minh thì
hóa ra địa chỉ anh ta khai trong hồ sơ là một địa chỉ ma. Thế là, người mẹ ấy
dù muốn hay không muốn rồi cũng sẽ chọn bệnh viện làm nhà. Chúng tôi
gặp bà Hùynh Thị Hương, gần tám mươi tuổi, bà cho biết, bà đã sống hơn
nửa cuộc đời trong cơn mê điên lọan và đã ở trong bệnh viện nầy gần bốn
chục năm. Ngày xưa, bà đã từng có một gia đình hạnh phúc, nhưng rồi bổng
dưng phát điên, bị chồng đuổi ra khỏi nhà, bà lang thang trong khu chợ Bàn
Cờ -Sài Gòn thì cảnh sát đưa bà vô bệnh viện. Có một lần tĩnh táo, bà tìm về
nhà của một người em nhờ nhắn tin hai đứa con đến cho bà gặp mặt. Đứa
con gái thì tỏ ra xúc động khi biết mình còn mẹ, nhưng thằng con trai thì từ
chối một cách phủ phàng. Bà ngậm ngùi quay vào bệnh viện. Những ngày
tháng sau đó, những lúc bình phục, trong nỗi khát khao làm mẹ, bà nhận một
bệnh nhân nữ rất trẻ làm con nuôi. Không ngờ, hai người lại gắn bó với nhau
như tình mẩu tử. Cô gái ấy sau khi xuất viện đã xin phép gia đình rước bà về
chăm sóc. Nhưng chẳng bao lâu, cô ta xuất cảnh, bà lại trở vào bệnh viện.
Từ đó đến nay, chuyện con ruột con nuôi cứ làm xao động lòng bà.
Bệnh nhân Phạm Văn Hòai, tóc trắng màu mây nhưng không biết mình
bao nhiêu tuổi. Ông kể rằng ông nhập viện từ năm 1968, cách nay gần bốn
chục năm, lúc ấy ông còn tuổi thiếu niên, mắc bệnh động kinh. Sau khi mẹ
89
mất, cha lấy vợ khác, không hiểu ông đã làm gì mà bị cha đánh và đuổi ra
đường. Ông vừa đi vừa khóc, cảnh sát Sài Gòn bắt ông bỏ lên xe và đưa vô
bệnh viện. Ông sống ở đây như gần trọn một cuộc đời. Ông nói nhờ bệnh
viện cho học nghề cắt tóc nên hàng ngày ông có việc làm, có bạn, rất vui.
Những người như ông Hoài, bà Hương đều được các bác sĩ, y tá, nhân
viên điều dưỡng gọi bằng ba bằng má một cách ngọt ngào, thân thiện. Có lẽ
nhờ vậy mà họ bớt cô đơn. Chưa có con số thống kê chính xác nhưng ở khoa
nào cũng có vài ba chục mãnh đời cô độc, bị bỏ rơi như thế. Họ lặng lẽ sống
và lặng lẽ chết, có một mãnh đất phía sau bệnh viện dành riêng cho họ.
Chúng tôi gặp anh Nguyễn Hùng Hiệp, người quản lý nhà xác của bệnh
viện suốt hai chục năm qua. Công việc của anh là trực chờ khi tử thần cướp
lấy sinh mạng của bệnh nhân thì anh sẽ làm công việc tiếp theo là tiễn họ
vào lòng đất. Hỏi trong hai chục năm qua, anh đã giúp cho bao nhiêu bệnh
nhân có mồ yên mả đẹp, anh nói hàng trăm, làm sao nhớ nổi. Hiệp nghiệm
ra một điều khác lạ trong công việc của mình rằng, nó đơn điệu và buồn hơn
nhân viên mai táng ở các công ty. Các công ty mai táng gởi vào lòng đất đủ
mọi thành phần, vô cùng phong phú, từ quan chức đến thường dân, từ học
giả đến một tên lưu manh, trộm cướp, lại có tang lễ rình rang, có những
dòng người đưa tiễn. Còn anh, chỉ lặng lẽ một mình anh với người chết, mà
người chết chỉ một thành phần duy nhất: người điên. Cứ sau 24 giờ ngồi
canh xác chết, không ai đến nhận thì Hiệp đưa vào hòm, rồi lặng lẽ đào
huyệt, nhờ một bệnh nhân gần nhất tiếp khiêng một đầu hòm đưa vào lòng
đất. Anh nói nhiều khi buồn lắm, tiễn một kiếp người mà không có lấy một
nén nhan. Cái chết của người điên là như thế. Rồi Hiệp lật sổ tử đọc cho tôi
ghi vài con số, những con số ngẩu nhiên trong cuốn sổ nhàu nát, ngã màu:
Năm 1983 chết 101 người nhưng chỉ có sáu người được thân nhân nhận xác;
năm 1984 chết 150 người nhưng chỉ có 13 người được thân nhân nhận xác.
Tôi bảo Hiệp thôi đừng đọc nữa, tôi không muốn nghe những con số đầy ta
thán chuyện nhân tình. Hiệp nói nghĩa trang gần bốn hécta nhưng đã chật hết
rồi, bây giờ phải chèn kẻ để mà chôn.
Song, nghĩ đi rồi nghĩ lại, dù là sống bị người thân ruồng rẫy, chết trong
lặng lẽ cô đơn, nhưng ít ra cũng có một nơi để họ sống ra người, được chăm
sóc đến giờ phút cuối cùng và chết cũng được yên mồ yên mã. Nếu không có
những người thầy thuốc tử tế trong bệnh viện nầy thì hàng ngàn thân phận
ấy biết mục rã nơi đâu.
Bác sĩ Nguyễn Gia Khanh nói rằng, ông đã sống với người điên gần
trọn ba mươi năm. Ngẫm ra thấy mình hạnh phúc nhiều hơn họ. Nhiều khi
nhìn họ mà trộm nghĩ rằng, cái ranh giới giữa vinh quang và tủi nhục trong
cuộc đời nó rất mong manh. Biết đâu những người như Tuấn, như Hòang,
như chị Huệ . . . nếu họ không điên, giờ đây họ là những con người thành
90
đạt, làm được nhiều việc hơn mình. Càng nghĩ càng thấy thương họ. Bác sĩ
Tiếng kể rằng, có một bệnh nhân nữ có tình ý với anh tự lúc nào không biết,
một hôm anh đang khám bệnh thì bất ngờ cô ấy cầm hai nắm phân vuốt lên
người anh, cô giận giữ nói: “Em yêu bác sĩ mà bác sĩ lại yêu cô khác”. Lúc
ấy, anh chỉ biết cười. Ya tá Ngọc Hương kể, có lần một bệnh nhân nữ lên
cơn cắn chị gần đứt lìa ngón tay áp phải, và một lần khác, chị đang tắm cho
một bệnh nhân nam thì bất ngờ anh ta thoi vào mặt chị, sụp xương má trái
phải ra bệnh viện Chợ Rẩy điều trị cả tuần. Ở đây, hầu như mỗi bác sĩ, y tá,
điều dưỡng viên đều bị bệnh nhân hành hung ít nhất đôi ba lần. Nhưng khi
hỏi chuyện ấy, họ đều kể lại như một chuyện vui, một kỷ niệm đạp trong
nghề. Bác sĩ Tiếng nói rằng, chẳng có gì phải tôn vinh, chẳng có gì phải thổi
phồng như một tấm lòng cao cả. Thật ra, không ai lựa chọn bệnh viện tâm
thần làm nơi lập nghiệp. Nhưng sống với bệnh nhân riết rồi thấy quen dần và
thấy yêu thương họ, một tình cảm cần chia sẻ giữa con người với con người.
Và, tình cảm ấy đã trưởng thành theo năm tháng, nó đã dẫn đường cho
những thế hệ tiếp theo để tất cả cùng đi trên con đường tử tế.
















91
Huyền thoại thầy rắn hổ

Về Cà Mau, nhân một bữa nhậu thịt rắn, tình cờ được nghe những câu
chuyện nửa thực nửa hư, đầy chất huyền thọai về những ông thầy rắn hổ
chuyên hành hiệp chữa bệnh cứu người. Mặc dù là những câu chuyện mang
màu sắc huyền bí nhưng lại là những con người thật, có tên tuổi và địa chỉ
hẳn hoi nên tôi quyết định làm một cuộc hành trình tìm kiếm những ông thầy
ấy xem hư thực ra sao.
Trước tiên là câu chuyện về ông Bảy Còi, ở ấp Nhà Phấn, xã Lương
Thế Trân, huyện Cái Nước, cách trung tâm thị xã Cà Mau gần 20 cây số.
Người ta kể rằng cách nay mấy năm, có chị Thu Vân chuyên nghề bán rắn ở
cầu Mới bị rắn hổ cắn, lúc đang nằm cấp cứu trong bệnh viện, các y bác sĩ
bảo người nhà của chị đi rước ông Bảy Còi ra cứu chữa vì bệnh viện không
có thuốc đặc trị, chỉ truyền dịch cầm hơi. Lúc ấy người nhà của chị Vân chia
nhau đi tìm thầy thuốc rắn, đã rước được hai người, riêng ông Bảy Còi, ban
đầu ông từ chối vì cho rằng chị Vân bị rắn cắn vào giờ thọ tử, không cứu
được, nhưng người nhà nạn nhân khóc lóc van xin nên ông buộc lòng phải
đi. Đến nơi, hai người đồng nghiệp tỏ ra bất lực và cầu cứu ông, ông nhìn
dấu răng trên tay nạn nhân rồi lắc đầu nói: “Con rắn nầy có 23 khoan, trên
lưng nó có dấu chỉa cách đầu khỏang một gang tay, thuộc lọai rắn hổ mang,
cực kỳ độc, hiện giờ nó còn ở trong nhà của người mua, cách nhà chị Vân ba
căn về hướng tây”. Gia đình chị Vân cho người đi mua lại con rắn ấy mang
vào bệnh viện. Ông Bảy Còi thò tay vào bao bắt ra, một con rắn giống y như
lời ông mô tả. Ông khẳn định lại một lần nữa là bệnh của chị Vân không cứu
được rồi xin lỗi gia chủ ra về. Đúng 10 giờ trưa hôm ấy, chị Vân tắt thở.
Tôi nhờ Nguyễn Tiến Trình, phóng viên báo Đất Mũi chở tôi đi tìm ông
Bảy Còi vì được biết mẹ củ Trình, chị Tám Thẩm, từng bị rắn hổ cắn sắp
chết đã được ông Bảy Còi cứu sống. Trình kể: “ Buổi tối hôm ấy mẹ em
đang giặt đồ phía sau nhà thì bất thần bị rắn hổ quặp vào chân. Lúc mượn
được xuồng máy chở đi thì mẹ em đang nguy kịch, người co giật và lạng
cóng, đàm trào lên cổ, mắt trắng đờ. Khi ghé nhà ông Bảy Còi thì thấy ông
và mấy người hàng xóm đang ngồi nhậu như trong tư thế đợi chờ, xuồng vừa
cặp bến thì nghe họ bảo: “Tới rồi kìa !”. Và họ tức tốc xuống khiêng mẹ em
lên, cứu sống ngay trong đêm ấy.”
Trên đường đi tôi cứ hình dung ông Bảy Còi là một người rất khác đời,
từ cách ăn mặc, tóc râu, diện mạo phải đầy huyền bí như những câu chuyện
về ông. Nhưng khi đến nơi, thấy ông ngồi sửa xe gắn máy trước cửa nhà
cùng hai đứa con trai, hóa ra ông cũng là một nông dân bình thường như bao
nhiêu người khác. Hơn thế nữa, ông còn là một phó công an xã, khá lừng lẩy
92
trong việc trấn áp các tệ nạn cờ bạc, đá gà ở xã Lương Thế Trân. Trên tấm
vách lá nhà ông treo nhiều giấy khen, bằng khen của địa phương về thành
tích chữa bệnh cứu người, nổi cộm nhất là tấm Huy chương “Vì sự nghiệp
nhân đạo” của hội Chữ Thập đỏ Việt Nam. Ông cho biết, cả dòng họ bên nội
ông đều làm thầy thuốc rắn, nổi tiếng từ Bến Tre đến Cà Mau. Riêng ông
hành nghề từ năm 20 tuổi, đến nay đã 33 năm, bình quân mỗi năm cứu sống
khỏang 30 mạng người. Trong hơn 30 năm hành nghề, ông đã từ chối ba ca
mà theo ông thì đó là số mạng của những người sanh nghề tử nghiệp, trong
đó có chị Vân vừa kể trên.
Tôi hỏi vì sao ông biết con rắn cắn chị Vân có 23 khoan và một vết chỉa
trên lưng, cách đầu một gang tay ? Bảy Còi nói rằng đó là do Tổ nghiệp báo
trước. Ông giải thích: thông thường, bất kỳ ca bệnh nào Tổ nghiệp cũng báo
mộng trước ba ngày để mình không nên đi xa. Ngay cả những ca không cứu
được, Tổ cũng báo trước để mình từ chối, sợ mất uy tín nghề nghiệp. Nói về
ca bệnh của chị Tám Thẩm, mẹ của Tiến Trình, ông cho rằng đó là một
trường hợp đặc biệt trong cuộc đời hành hiệp của ông.
-Xin lỗi nhà báo – ông nói – mình là cán bộ, đảng viên, lại là cán bộ
ngành công an mà nói chuyện duy tâm nghe kỳ quá. Hôm ấy Tổ báo mộng
rằng có một ca bệnh nặng. Thông thường thì Tổ cho hay có cứu được hoặc
không. Nhưng lần nầy ông bảo mình hãy cố gắng, vì nếu như nạn nhân nầy
có tích đức của cha ông thì sẽ qua khỏi, bằng không thì sẽ không cứu được.
Tôi rất băn khoăn nên tối hôm ấy tôi làm con gà cúng Tổ và mời mấy ông
già hàng xóm qua nhậu để giải bày, vì nếu lỡ không cứu được thì cũng có
người lớn tuổi cảm thông, chia sẻ với mình. Chúng tôi vừa nhậu lai rai vừa
chờ bệnh nhân tới. Khi thấy cặp mắt của chị Tám trắng đục, đàm lên cứng cổ
thì tôi nghĩ hết cách rồi. Đổ hết bốn liều thuốc cũng không ăn thua, xài hết
bốn chữ bùa cũng không ăn thua. Tôi mệt lã người như bất lực, bèn lên
giường nằm nhắm mắt lại, cố nhớ chữ bùa cuối cùng mà cha tôi truyền lại
trong cơn hấp hối, nét nhớ nét quên. Tôi ngồi bật dậy, cố họa theo những gì
trong trí nhớ. Nhưng không ngờ khi vừa đổ xong, đàm xuống một cái ọt đến
nổi ai cũng nghe được. Lúc ấy đã hơn hai giờ sáng, tôi gần như kiệt sức.
Nhìn căn nhà của Bảy Còi trống trơ vách lá, tôi hỏi hình như ai làm
thầy rắn hổ cũng nghèo ? Ông nói “không nghèo sao được, xài tòan thuốc
quý hiếm mà đã theo nghiệp tổ thì cứu nhơn không được lấy tiền. Ngày xưa
cha tôi giỏi đến nổi các ông chủ tiệm thuốc bắc mời ra xem mạch kê toa, vừa
hưởng lương vừa hưởng hoa hồng, nhưng ông kiên quyết từ chối. Bây giờ
tôi truyền nghề lại cho con tôi cũng thế. Đã theo nghiệp tổ thì phải luôn tu
tâm dưỡng tánh, không được vụ lợi, dù có nghèo đến cạp đất ăn cũng phải
xem việc cứu người là bổn phận của mình”.
93
Nhà văn Sơn Nam nói rằng, ngay từ buổi bình minh của lịch sử khẩn
hoang miền Nam, dường như tạo hóa đã ban cho mỗi làng xã một bà mụ
vườn, một ông thầy lang và một ông thầy rắn hổ để cứu nhơn độ thế. Sự
phân bổ nầy không theo địa giới hành chánh mà theo khoảng cách không
gian tương ứng với thời gian chuyển bệnh bằng phương tiện xuồng chèo một
cách an toàn. Ví dụ như khi bị rắn cắn thì phải tìm thầy gần nhất để cứu kịp
trong thời gian một tiếng rưởi đồng hồ.
Anh Năm Rí, trưởng công an huyện U Minh dẫn tôi đến nhà ông Sáu
Thuận, 67 tuổi, chuyên trị vùng Nguyễn Phích, Biện Nhị, Khánh Lâm suốt
47 năm qua. Cũng như Bảy Còi, ông Sáu Thuận là một nông dân hiền lành,
chất phác, nói năng từ tốn từng câu. Khi khách đến, các con ông cúi đầu
chào hỏi, pha trà rồi rút lui làm cho chúng tôi thầm nể phục một gia đình có
gia phong nề nếp. Ông sáu Thuận cho biết, cha ông là Phạm Văn Cử, một
thầy thuốc rắn nổi tiếng ở vùng nầy. Ông Cử lại là học trò của hai ông Tư
Lục và Tám Rớt, hai bậc thầy thuộc hàng cao thủ với nhiều huyền thọai còn
truyền lại ở U Minh. Ông Thuận kể rằng Tư Lục ngày xưa xây nò bắt cá
khắp các kinh rạch trong vùng nhưng chẳng ai dám trộm cá vì mỗi cái nò
ông sai khiến bốn con rắn hổ mây ngày đêm canh giữ. Năm 1945, Tư Lục bị
ông H. một cán bộ huyện bắt giam một tuần vì cho rằng ông hành nghề mê
tín di đoan. Khi Tư Lục được trả tự do mấy ngày thì ông H. bị rắn cắn, gia
đình rước hai ba ông thầy đến chữa nhưng không khỏi, rước Tư Lục thì ông
từ chối. Đến khi người ta đóng hòm chuẩn bị liệm ông H. thì Tư Lục tới, ông
cầm nhan họa một chữ gì đó lên chỗ vết răng rắn trên chân ông H. và thổi
một cái phù, vài phút sau đàm xuống một cái ọt, ông H. sống lại trong sự
kinh hãi của dân làng, cuối cùng ông H. đem cái hòm ra đốt bỏ.
Về phần người cha của mình, ông Sáu Thuận cho biết, năm 1960, ông
Cử chữa một ca bệnh không thành, ông tuyên bố bỏ nghề và truyền lại cho
ông Thuận, bởi vì theo nguyên tắc của nghiệp Tổ, trước mỗi bệnh nhân đều
được Tổ báo mộng trước ba ngày, hoặc là từ chối, hoặc là chữa khỏi. Ông
Cử nhận chữa nhưng bệnh nhân tử vong, ông cho rằng Tổ không còn độ ông
nữa, đành phải giao lại cho con. Trong 47 năm qua, ông Thuận đã cứu chữa
cho hàng ngàn người nhưng ông chưa hề nhận của ai một đồng xu, trừ
những trường hợp người ta mang gà vịt đến cúng tổ, ông nhận nhưng cũng
mời hàng xóm đến nhậu để chung vui, mừng cho bệnh nhân thóat nạn. Ông
nói trong 47 năm hành hiệp, ông đã từ chối ba ca theo lệnh tổ, cả ba người
ấy đều hành nghề mua bán rắn nên không cứu được. Khi được hỏi về
phương pháp điều trị, ông Sáu Thuận bình thản nói:
-Có chú Năm đây là trưởng công an huyện, tôi cũng xin nói thật chẳng
giấu giếm điều gì. Cái nghề nầy có sự kết hợp giữa âm dương, giữa duy tâm
và duy vật. Ngày xưa tôi trị thuốc là chính, bùa ngãi là phụ. Nhưng sau năm
94
75, thuốc bắc khan hiếm, thuốc giả tràn ngập thị trường, tôi lên Châu Đốc
tìm học cách chữa theo phương pháp duy tâm của một ông thầy An Độ.
Ông Sáu Thuận dẫn chúng tôi sang một gian nhà nhỏ bên cạnh, cửa
đóng kín, trong đó có hai bàn thờ trùm vải đỏ, mỗi bàn thờ có một lư hương.
Ông nói đây là cái am thờ 12 vị Tổ Lèo. Hàng năm ông cúng Tổ vào ngày
mồng ba tháng giêng và mồng năm tháng năm âm lịch.
Anh Năm Rí là người quen biết rất nhiều thầy rắn hổ ở U Minh, kể cả
những giai thọai ly kỳ về những ông thầy đã chết. Khi tôi hỏi những chuyện
huyền bí về các thầy rắn hổ, như ông sáu Thuận chẳng hạn, Năm Rí cũng trả
lời rất thật thà: “ Đúng là khó hiểu, nhưng rõ ràng là họ chỉ làm phước,
không lợi dụng mê tín dị đoan để trục lợi”.
Theo anh Năm Rí thì thầy rắn hổ có hai lọai thầy: thầy chữa bệnh và
thầy bắt rắn. Thầy bắt rắn thường kiêm luôn nghề chữa bệnh, nhưng cuối đời
hầu như tất cả đều chết vì rắn cắn. Còn thầy chữa bệnh tuy vẫn có tài bắt rắn
nhưng dường như để tránh hậu quả sanh nghề tử nghiệp, họ không lấy việc
săn bắt rắn để mưu sinh.
Anh Sáu Nguyên, một thầy rắn hổ còn khá trẻ ở Rạch Dinh, con trai
thầy Tư Biên một thời nổi tiếng ở U Minh cho biết, cha anh dạy nghề cho
anh nhưng cấm anh bắt rắn, mặc dù rắn hổ gặp anh phải cúi đầu. Có lần Sáu
Nguyên đi tàu đò ra Cà Mau, dọc đường, bao rắn của một hành khách bị sút
dây, những con rắn hổ bò ra, phùng mang làm cho hành khách trên tàu hốt
hỏang đổ dồn về phía sau. Thấy tàu sắp chìm, Sáu Nguyên ra hiệu cho bà
con bình tĩnh rồi bước tới bao rắn, những con rắn đang hung hãn bổng dưng
cuối đầu nằm co lại. Sáu Nguyên bắt từng con bỏ vô bao rồi cột miệng trả lại
sự an tòan.
Ở U Minh hầu như ai cũng biết câu chuyện thầy Năm Ngọc có tài đến
mức điều khiển rắn đi cắn người khác. Nhưng chính Sáu Nguyên là người
xác nhận câu chuyện ấy vì Năm Ngọc là thầy của cha anh. Sáu Nguyên nói
Năm Ngọc nổi tiếng cả hai lĩnh vực chữa bệnh rắn cắn và bắt rắn. Hàng
năm, sau ngày cúng tổ ( Mồng 5 tháng 5 âm lịch ), Năm Ngọc cho hay năm
nay ông tiếp bao nhiêu bệnh nhân và chữa được mấy người, còn mấy người
tử nạn. Trong nghề bắt rắn, Năm Ngọc không cần đào hang mà chỉ cần vỗ
nhẹ vào miệng hang thì lập tức rắn hổ bò ra nộp mạng cho ông. Hồi nhỏ, Sáu
Nguyên từng theo làm học trò Năm Ngọc nhưng cha anh không cho vì hai
lẽ: thứ nhất là cấm anh không được bắt rắn để mưu sinh, thứ hai, năm Ngọc
từng mang tai tiếng dùng nghề nghiệp để hại người. Sáu Nguyên kể, hồi năm
1970, Năm Ngọc đã làm một chuyện để đời cho đến bây giờ: Ong bị kẻ trộm
lấy hai con cá ngát, tức giận ông tuyên bố: “Thằng nào ăn cá của tao phải trả
lại con heo”. Mấy hôm sau anh M. ở đầu kinh bị rắn hổ cắn. Hai người học
trò của Năm Ngọc chữa không được, bèn rước Năm Ngọc đến cầu cứu. Năm
95
Ngọc bảo phải vái con heo và phải trả lễ đúng ba ngày sau khi hết bệnh. Gia
đình nạn nhân làm theo. Khi M tĩnh dậy, Năm Ngọc ra lệnh: “Mầy phải quỳ
xuống thề độc là từ nay về sau không được ăn cắp trái cà trái ớt, con cá cọng
rau của ai thì tao mới bảo đảm sinh mạng cho mầy”. M. quỳ xuống, mặt
không còn chút máu. Ba ngày sau anh đi mua con heo mang qua cúng tổ tại
nhà Năm Ngọc. Ông Tư Biên – cha của Sáu Nguyên – lấy làm thắc mắc bèn
bỏ mấy ngày ra điều tra xem anh M có lấy trộm cá của Năm Ngọc hay
không. Cuối cùng, một người ở kinh Hàng Gòn xác nhận có mua của M một
con cá ngát nặng hơn hai kg và thấy M mang về một con.
Từ đó cả vùng U Minh không ai dám làm mất lòng ông Năm Ngọc. Về
già, ông bị tâm thần và chết thảm hại trong ngôi miếu hoang.
Nói về ông Tám Rớt, thầy của cha mình, Sáu Nguyên kể: Tám Rớt là
một người lang bạt không nhà, một thân một mình với chiếc xuồng và cái
thùng đựng rắn. Ông thường tá túc ở nhà của những học trò ruột của mình,
mà chủ yếu là nhà Tư Biên – tức cha của Sáu Nguyên. Thuở ấy, Sáu Nguyên
mới 15 tuổi. Một hôm, Tám Rớt và Tư Biên đang ngồi uống trà, bổng Tám
Rớt gọi Sáu Nguyên đến bảo anh đi rửa thùng rắn hổ. Sáu Nguyên chết
điếng người khi nhìn thấy trong thùng hàng trăm con rắn đang phùng mang
trong tư thế tấn công. Tám Rớt bảo anh cứ bắt hết rắn thả ra sân rồi múc
nước rửa thùng. Đang muốn học nghề và biết ông thầy đang thử thách lòng
dũng cảm của mình, Sáu Nguyên đánh liều làm theo. Nhưng anh ngạc nhiên
khi Tám Rớt ho một tiếng thì những con rắn hổ đang phùng mang ấy bổng
cúi đầu ngoan ngoãn. Khi anh bắt chúng thả ra sân, những con rắn lại phùng
mang và bò đi tứ phía, Tám Rớt lại ho một tiếng, chúng liền mọp xuống, co
mình nằm khoanh một chỗ. Cứ thế, Sáu Nguyên hốt sạch hàng trăm con rắn
trong thùng thả ra sân, rửa thùng xong, anh lại hốt chúng bỏ vào. Những con
rắn cứ hiền lành như dây chuối.
Như để chứng tỏ tài nghệ của mình, chiều chiều Tám Rớt thường bắt
con rắn hổ quấn lên cổ và dẫn Sáu Nguyên đi chơi trong xóm. Lúc trà dư tửu
hậu, ông bảo con rắn bò lên mình bất cứ người nào mà ông muốn. Rồi có
một ngày, Tám Rớt bơi xuồng về nhà Tư Biên trong tư thế rã rời, mặt mày
tái nhợt. Biết chuyện gì đã xảy ra, Tư Biên thắp nhang lên bàn thờ Tổ và bảo
Sáu Nguyên đi rước thêm một ông thầy trong xóm nhưng Tám Rớt bảo: “
Khỏi chữa, hết thời rồi ! Chính nó, chính con rắn chúa trong miễu mà tôi
từng sợ nhất nhưng vẫn không thóat khỏi nó”.
Sáu Nguyên tổng kết rằng hầu hết những người sống bằng nghề bắt
rắn và mua bán rắn khi về già tâm trí không bình thường, kẻ thì nát rượu,
người thì lãm nhãm như điên, và cuối cùng đa số họ chết vì rắn hổ chúa.
Tôi gặp thầy Ba Ớt ở ấp 4 xã Khánh Lâm, tuy mới 50 tuổi nhưng trông
anh già khọm, giọng nói khàn khàn, người lúc nào cũng ngà ngà say. Ba Ớt
96
cho biết, lúc đi bộ đội ở biên giới Tây Nam, anh học nghề bắt rắn của một
ông lão người Chăm, khi xuất ngũ về quê, anh sống bằng nghề bắt rắn cho
đến bây giờ. Vào những năm 80, rừng U Minh còn mù mịt, Ba Ớt bắt một
ngày hàng trăm ký rắn. Hỏi có bí quyết gì, Ba Ớt nói anh không có khả năng
vỗ miệng hang cho rắn bò ra như Năm Ngọc và Tám Rớt, chỉ có điều rắn hổ
gặp anh là phải cúi đầu nằm im một chổ. Anh chìa hai bàn tay cho chúng tôi
xem, hai bàn tay sần sùi như da cóc, anh nói đã bị rắn hổ cắn hơn mười lần
nhưng chẳng ăn thua gì. Hỏi khi bị rắn cắn thì chữa bằng cách nào, Ba Ớt
nói: “ Nếu là rắn hổ mây thì hái đọt mây nhai với phèn chua, nuốt nước, lấy
xác đắp lên vết cắn. Còn rắn hổ đất thì quay lưng lại, bước đúng bảy bước,
lấy bất kỳ cỏ gì có thể lấy được, cũng nhai, nuốt nước, lấy xác đắp lên,
nhưng phải nút máu bầm chỗ vết cắn”. Ngừng một lát, Ba Ớt nói tiếp: “ Nói
gì thì nói nhưng tại mình chưa tới số thôi, trước sau gì tôi cũng gặp con rắn
chúa. Sanh nghề tử nghiệp mà !”
Hỏi về sự huyền bí trong nghề, Ba Ớt nói rằng trước khi đi phải thắp
nhang trước bàn thờ Tổ và vái: “ Xin ba mươi sáu vị lục Tổ, chúa sơn lâm,
rừng, thần sơn, thần đất . . . cho tôi đi xóm”.
Chúng tôi định mang những câu chuyện đầy màu sắc huyền bí ở U
Minh về đối chiếu với trại rắn Đồng Tâm – Mỹ Tho, một trung tâm nghiên
cứu, bảo tồn và phát triển các lòai rắn độc có một không hai ở Việt Nam mà
người sáng lập nó là một thầy rắn hổ nổi tiếng ở miền tây nam bộ: Đại tá,
bác sĩ quân y Trần Văn Dược. Nhưng ông Tư Dược đã qua đời cách nay 17
năm, những huyền thọai về ông cũng đã kết thúc khi khoa học kỹ thuật và
nhiều công trình nghiên cứu đã được ứng dụng từ trại rắn nầy.
Thượng tá Nguyễn Quang Khải, phó giám đốc trại rắn cũng kể một
cách mập mờ về ông Tư Dược: “ Nghe nói ngày xưa, chú Tư được một ông
thầy An Độ dạy nghề điều khiển rắn và chữa rắn cắn bằng những phương
pháp gia truyền, nhưng kể từ khi trở thành bác sĩ và xây dựng trại rắn nầy,
ông hướng công việc chăn nuôi và chữa rắn cắn thành các đề tài khoa học,
những huyền thọai lần lượt mất đi”.
Trước cổng trại rắn Đồng Tâm là một trung tâm cấp cứu và điều trị các
bệnh do rắn độc. Bình quân mỗi năm tiếp nhận khỏang 500 bệnh nhân ở các
vùng lân cận. Thiếu tá bác sĩ Phan Văn Phát, phó giám đốc trung tâm giải
thích: Khi bị rắn độc cắn, nọc rắn theo đường máu của bệnh nhân, tác động
đến thần kinh trung ương, tăng tiết đàm giải mà dân gian thường gọi là trào
đờm, sau đó bệnh nhân sẽ bị cứng hàm, sụp mi mắt, trong vòng 90 phút thì
tắt đường hô hấp. Những năm trước đây, tỷ lệ tử vong tại trung tâm cấp cứu
rất cao vì dùng thuốc gia truyền, tác dụng chậm nên không cứu được những
bệnh nhân vận chuyển đường xa. Từ năm 2001 đến nay, trại rắn Đồng Tâm
kết hợp với viện Pastuer Nha Trang nghiên cứu thành công việc dùng nọc
97
rắn hổ với máu ngựa để bào chế ra lọai vacxin tiêm trực tiếp vào mạch máu
của bệnh nhân. Kết quả nầy đã giảm tối đa tỷ lệ tử vong tại trung tâm cấp
cứu, nếu bệnh nhân chưa tắt thở trước khi vào cổng.Bác sĩ Phát cũng cho
biết thêm, giá của mỗi liều thuốc như vậy là hai trăm ngàn đồng, mỗi bệnh
nhân phải được tiêm từ 5 đến 20 liều tùy theo nọc độc của mỗi lọai rắn. Tuy
nhiên, so với các phương pháp điều trị dân gian thì lọai vacxin nầy không
ngăn được sự họai tử ở vết thương nên bệnh nhân phải vá da. Song, cho dù
phải tốn kém thời gian và chi phí đến đâu cũng không thể so sánh với một
mạng người. Chỉ có điều, vì những lý do nào đó mà lọai vacxin quý hiếm
nầy chỉ cung cấp cho bệnh viện Chợ Rẫy và trại rắn Đồng Tâm thì những
miền quê xa xôi vẫn chưa kết thúc những huyền thọai bí ẩn về những thầy
rắn hổ.
Chúng tôi ghi lại những câu chuyện nầy một cách tự nhiên – cái tự
nhiên vốn có như huyền thọai. Không cổ súy, cũng không bài bác. Biết nói
thế nào được khi cuộc sống cứ luôn tồn tại những điều bí ẩn.














98
Chữ tình của người quân tử

1. KÝ ỨC TUỔI THƠ
Tình cờ một người bạn đồng nghiệp – cháu gọi ông Phan Văn Xoàn
bằng ông chú – cho tôi xem bản thảo tập hồi ký của ông, mặc dù còn ở dạng
tư liệu thô nhưng tập hồi ký đã lôi cuốn tôi từ trang đầu đến trang cuối với
những tình tiết hấp dẫn về một cuộc đời. Đọc xong, tôi liền gọi điện thoại
cho ông, tôi nói rõ là tôi xin gặp ông khoảng hai ngày để nghe ông kể cụ thể,
đầy đủ chi tiết mà trong tập hồi ký ông đã lướt qua. Từ đầu máy bên kia, ông
Xòan cười sảng khóai và vui vẻ cho tôi ngày hẹn, ông nói, nếu cần thì ghi
thành đề cương rối fax cho ông để ông chuẩn bị trước, bởi già rồi, chuyện cũ
có khi phải lật lại hồ sơ trong trí nhớ rất lâu, sợ mất thời gian cho cả đôi bên.
Đúng ngày hẹn, chúng tôi gặp nhau trong phòng làm việc của ông, gọi
là phòng Tổng Giám đốc nhưng trông khá giản dị trong một tòa nhà bình
thường trên con đường Võ Văn Tần, không khoa trương bề thế như nhiều
công ty tư nhân khác. Bản thân ông cũng thế, ông mặc bộ đồ bốn túi màu
nâu đã cũ. Chỉ có điều làm tôi ngạc nhiên là một ông già tám mươi tuổi mà
trông ông còn rất mạnh khỏe từ thể chất đến tinh thần, phong thái vẫn còn
hiên ngang của một vì tướng và giọng nói, nụ cười vẫn rất ung dung, đầy
nhân hậu của một ông già Nam bộ.
Cầm tờ fax của tôi trên tay, ông bắt đầu kể:
Tôi sinh ngày 19 tháng 2 năm 1924 tại Cà Mau, quê tôi là một con
kinh nhỏ không tên tẻ ra từ dòng sông Rạch Rập, gần ngôi đình Tân Hưng,
cách thị xã Cà Mau chừng năm cây số. Ba tôi qua đời từ năm tôi lên sáu
tuổi, nhà tôi nghèo lại không có ruộng đất, vì vậy mà cả ba người chị tôi lớn
lên đều đi ở đợ để nuôi sống gia đình. Một hình ảnh quen thuộc qua nhiều
năm tháng đã trở thành dấu ấn trong tôi là hễ sáng sớm, khi mẹ tôi lấy khúc
cây chống cánh cửa cái lên là ba người chị tôi xếp hàng ra đi đến nhà chủ,
khi trời chạng vạng tối mới lần lượt trở về. Vậy mà vẫn không đủ sống, ngày
nào cũng có người tới nhà đòi nợ, họ mắng, họ chửi đủ thứ những lời đanh
đá, chanh chua. Mẹ tôi cứ năn nỉ, cứ khất dần. Ban đêm, mẹ tôi hay nằm ôm
tôi vào lòng, vừa khóc thúc thít, vừa lần gở những con chí trên đầu tôi. Đến
mùa cấy, mẹ tôi đi cấy mướn để trừ tiền công ứng trước cho chủ nợ. Cứ
hừng sáng ra đi, đến khi mặt trời lặn, cúm núm kêu vang đồng bà mới lầm
lủi trở về, và lần nào bà cũng mang về mấy vắt cơm gói trong chiếc lá môn
cho mấy chị em tôi ăn, bà nói đó là bà xin phần cơm thừa của chủ.
Căn nhà của tôi hồi ấy gọi là nhà nhưng thật ra nó chỉ là căn chòi lá
rách nát, vách phên tơi tả, mèo chó gà vịt tự do ra vào, nhìn lên nóc thì ánh
99
sáng trời lốm đốm. Những đêm mưa thì cả nhà thức dậy, xúm nhau ngồi co
cụm lại một góc, hoặc lấy lá chầm che lên nóc mùng mà ngủ.
Có hôm ở nhà một mình buồn quá, tôi lội lang thang đến nhà ông chủ
Tuấn, nơi chị Hai tôi ở đợ. Chị ôm tôi vào lòng, hôn hít, vuốt ve, bắt chí cho
tôi một lúc rồi bổng dưng chị bảo: “ Thôi em về đi, và từ rày về sau đừng
đến đây chơi nữa !”. Tôi hỏi lý do, chị nói: “ Chị sợ người ta nghĩ em đến
đây xin xỏ, hoặc nghi ngờ chị ăn cắp đồ đạc lòn đút cho em rồi người ta sẽ
khi dễ nhà mình”. Tôi nghe lời chị ra về, lúc ngoái lại tôi thấy chị nhìn theo
mà rơi hai hàng nước mắt.
Ở xứ tôi có thầy giáo Thường, ở rễ cho gia đình ông Hương quản
Diệu. Là một người giàu có và sang trọng thuộc bậc trung lưu nhưng thầy
Thường luôn tỏ ra gần gủi và chia sẽ với người nghèo, không phân biệt đối
xử. Một hôm thầy ghé nhà nói với mẹ tôi: “ Thằng Xoàn đã lên tám tuổi rồi,
chị phải cho nó đi học, có khó khăn gì thì em lo giúp, chớ để nó dốt nát rồi
mai mốt lớn lên cũng phải đi ở đợ như mấy chị nó thôi”. Mẹ tôi mừng muốn
rơi nước mắt, bà đội ơn thầy Thường, bà nói rằng đây là cơ hội ngàn vàng và
cũng chính là lời trăn trối của ba tôi, trước khi lìa đời, ba tôi dặn mẹ tôi rằng
không để cho tôi đi ở đợ mà phải cho tôi đi học để biết chữ, để khỏi bị người
ta ăn hiếp. Từ đó tôi luôn luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của thầy
Thường, ông tỏ ra rất quý trọng những đứa học trò nghèo hiếu học. Cứ mỗi
buổi tan trường, tôi với thầy cùng về chung con đường chừng hơn cây số. Đó
là khoảng thời gian mà thầy truyền bá cho tôi những điều bổ ích, thầy giải
thích về những chuyện mê tín dị đoan, những điều thuộc về nhân-nghĩa-lễ-
trí-tín, rằng vì sao phải tiên học lễ, hậu học văn, vì sao trên đời nầy lại có kẻ
áp bức và người bị áp bức, v.v. . .
Vào ngày rằm và ngày ba mươi hàng tháng, mẹ tôi đi chùa thắp nhang
niệm Phật và thỉnh kinh về bảo tôi đọc cho bà nghe vì bà không biết chữ. Từ
đó mà tôi thuộc rất nhiều kinh và biết trân trọng những điều Phật dạy, những
điều cần phải tránh và những điều cần phải làm để lấy đức cho bản thân và
người thân.
Năm 13 tuổi tôi ra Cà Mau thi tiểu học. Trước ngày hôm ấy, tôi thấy
cả nhà tỏ ra lo lắng khác thường. Chị Hai tôi đến nhà ông chủ Tuấn ứng
trước mấy cắc bạc tiền công, mẹ tôi đi mượn chiếc xuồng chèo, nhưng mọi
người vẫn còn lo vì tôi chưa có quần áo vải để mặc đi thi. Hồi ấy cả nhà tôi
mặc đồ bố tời do chị Hai tôi dệt. Mẹ tôi ngồi chóng tay lên càm mà rơi nước
mắt, cuối cùng, chị Hai tôi lại đánh liều đi mượn bộ bà ba đen bằng vải của
anh Thủ, con trai ông chủ Tuấn cũng là bạn học với tôi.
Sáng sớm hôm sau chị chèo xuồng đưa tôi ra Cà Mau, vừa bước lên
chợ, chị móc túi lấy đồng xu ra mua cho tôi hai củ khoai lang luộc, tôi để
100
nguyên vỏ mà ăn ngấu nghiến một cách ngon lành trong cơn đói. Chị Hai tôi
nhìn tôi đăm đắm trong vẻ xót thương.

2. GIẤC MƠ KÉP HÁT
Theo hồi ký của ông Xoàn thì ở Cà Mau hồi ấy chưa có trường Trung
học, cho nên sau khi học xong bậc tiểu học, ai muốn học tiếp phải lên Sài
Gòn hoặc Cần Thơ, điều kiện ấy tất nhiên là chỉ dành cho con nhà giàu và
một số ít con nhà nghèo học giỏi được người Pháp cấp học bổng. Ong Xòan
tuy lấy được bằng tiểu học nhưng bị rớt môn tiếng Pháp nên không được xếp
loại ưu. Còn ông Thủ, người cho ông Xoàn mượn bộ đồ bà ba đen để đi thi
hôm ấy thì lại thi rớt. Cũng trong tập hồi ký, ông Xoàn ghi lại một chi tiết
khá cảm động rằng, mấy hôm sau ngày thi, chị Hai ông lại mượn chiếc
xuồng chèo chở ông ra Cà Mau xem kết quả. Cả hai chị em hồi hộp từng
phút lắng nghe thầy Giám thị đọc thông báo những người trúng tuyển, khi
nghe có tên Phan Văn Xoàn, chị Hai ông mừng quá nhưng không biết làm
gì, bèn dẫn ông ra ngoài mua hai cái bánh bò để thưởng cho ông. Có lẽ, hai
cái bánh bò và hai củ khoai lang mà chị Hai ông đã mua cho ông bằng
những đồng xu ứng trước tiền công ở đợ đã làm ám ảnh ông suốt một cuộc
đời.
Cái bằng tiểu học tuy chẳng làm được việc gì, chỉ đem về cất trong căn
nhà đổ nát. Nhưng phải thừa nhận rằng so với trình độ dân trí của một đất
nước tối tăm trong những đêm dài nô lệ thì nó có giá trị lớn lao trong nhận
thức của con người. Với cái tuổi mười ba, suốt ngày chỉ lặn hụp dưới đồng
sâu bắt ốc, mò cua, câu cá, hái rau nuôi mẹ nhưng chữ nghĩa đã nung nấu
trong ông một ước mơ mà chính ông cũng không hiểu là những ước mơ gì,
chỉ biết rằng mình phải làm một cái gì đó để cho mẹ mình hết nghèo hết khổ,
để cho chị mình thôi ở đợ. Rồi thời gian trôi qua, có một mơ ước hình thành,
Phan Văn Xòan mơ trở thành kép hát, hát để được rày đây mai đó, hát để
được đứng trên sân khấu trước sự ngưỡng mộ của mọi người, hát để có tiền
nuôi mẹ và chuộc ba người chị ra khỏi kiếp tôi đòai. Có nhiều đêm ông ngồi
ngoài sân nhà ông hương quản Diệu để nghe lén những bài ca phát ra từ
trong máy đĩa : . . .Ôi vì thương mà phải bỏ ngai vàng, vì thương mà thành
chim hóa đá, thương thì phải khổ, nhưng càng khổ lại càng thương . . . ơ ! . .
.” hoặc: “ Từ là từ phu tướng, bảo kiếm sắc phong lên đàng, vào ra luống
trông tin nhàn, đêm năm canh mơ màng, vào ra luống trông tin nhàn, ngày
mõi mòn hóa đá vọng phu, vọng phu vọng luống trông tin chàng, em luống
trông tin chàng, ôi gan vàng oặn đau ý a ! . . .”
Cứ thế, ông vừa nghe lóm vừa lẩm bẩm ca theo cho đến thuộc lòng,
ông ca suốt ngày, ở đâu cũng ca, từ nấu cơm trong bếp đến câu cá ngoài
đồng. Nhưng ca một mình hòai cũng chán, ông tìm đến những người biết
101
đờn biết ca trong xã và các vùng lân cận để tập hợp lại thành một nhóm đờn
ca tài tử, tất cả được sáu người gồm Tư Ngự đờn cò, Năm Bính và Tám Rồ
đờn kìm, Tư Sa và Út Quang đờn guita. Trong nhóm ai cũng biết ca nhưng
ông Xoàn là giọng ca chính. Ban ngày họ lao vào cuộc mưu sinh trên đồng
ruộng, ban đêm họp lại đờn ca. Những bài ca: Mỗi độ thu về, Văng vẳng
tiếng chuông chùa, Dạ cổ hoài lang…. trước đây hiếm hoi người ta mới
được nghe qua đĩa hát của những nhà giàu, nay được ông Xòan phục vụ mỗi
đêm. Tiếng lành đồn xa, dần dần nhóm của ông được các đám cưới trong
vùng mời đến để giúp vui. Chẳng bao lâu, giọng ca của ông trở thành nổi
tiếng, làm rung động không biết bao nhiêu trái tim của những cô gái trong
làng. Nhưng chính điều đó lại càng làm cho ông đau khổ, những cô gái tìm
đến ông, ông đều lẩn trốn chỉ vì ông không có bộ quần áo nào cho ra hồn để
mặc ngoài manh khố dệt bằng bố tời.
Năm 1938, Mặt trận Bình dân công khai diễn thuyết ở Tân Hưng và
nhiều vùng nông thôn khác ở Cà Mau, ông Xòan cảm thấy đây chính là con
đường đổi đời thực sự cho gia đình mình chớ không phải là ánh đèn sân
khấu. Thế là, ông quên mất giấc mơ trở thành kép hát để gia nhập vào phong
trào thanh niên phản đế. Trong một đoạn hồi ký, ông viết: Năm 1940, tôi
được giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí khác chuẩn bị cho cuộc khởi
nghĩa Nam kỳ. Tôi bỏ việc nhà và khẩn trương đi tập hợp quần chúng để
chuẩn bị làm một cuộc bạo động ở xã, vạch kế hoạch bắt bọn hội tề và xáp
chiến với lính khố xanh từ thị xã Cà Mau vào đàn áp. Không biết công việc
có thành công hay không nhưng ai cũng nghĩ rằng mình làm việc nầy vì
chân lý, là dũng cảm, là thay trời đổi đất, chấm dứt lầm than cơ cực cho
người nghèo. Tất cả chúng tôi đều không có súng ống gì cả, chỉ bí mật rèn
kiếm, dao gâm và phi tiêu để tự vệ và chiến đấu.
Đêm ấy trước khi lên đường, tôi bí mật lội sông và lẽn qua vườn chuối
để vào nhà thăm mẹ vì tôi nghĩ rằng đây là cuộc chiến đấu một mất một
còn, biết đâu mình không còn gặp mẹ.Vừa bước vào nhà, mẹ tôi đã ôm chầm
lấy tôi và khóc nức nở. Tôi chỉ kịp giải thích đôi điều rồi vội vã ra đi, mẹ tôi
vừa níu áo tôi lại vừa nói: Mẹ không cho con đi đâu cả, bọn lính đang rình
rập dữ lắm, nếu lỡ tụi nó bắt con thì mẹ biết làm sao ? Tôi biết tình thế nầy
không thể khuyên can được nên giật mạnh vạt áo mà mẹ tôi đang nắm chặt
rồi chạy thẳng ra vườn. Đi một đoạn, tôi dừng lại và núp bên bụi chuối nhìn
vào nhà, mẹ tôi vừa khóc thúc thít vừa thắp nhang lên bàn thờ ba tôi. Tôi
kiên quyết ra đi mà ngậm ngùi rơi nước mắt.
Tháng 6 năm 1940, cũng tại vườn chuối sau nhà ấy, trong một đêm tối
trời, ông Phan Văn Xoàn được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
3. MỐI TÌNH ĐẦU VÀ CUỘC CHIA TAY LỊCH SỬ
102
Trong tập hồi ký cũng như qua những câu chuyện kể của ông Xòan, ít
khi ông kể đến công trạng của ông, hay nói đúng hơn là ông không hề kể về
một thành tích cá nhân nào, chỉ thấy bóng dáng ông lúc nào cũng hòa quyện
cùng đồng chí, đồng bào từ cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đến Cách mạng tháng
Tám, đặc biệt là Mặt trận Tân Hưng lịch sử ở Cà Mau. Tôi hỏi vì sao không
thấy chú kể về những chiến công của mình trong khi chú là một trong những
người lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu cùng thời với ông Võ Văn Kiệt và ông Trần
Văn Sớm ?
- Nói là lãnh đạo cùng thời thì không chính xác. Năm 1948, tôi từ bí thư
huyện ủy Cà Mau được bầu vào ban chấp hành tỉnh ủy Bạc Liêu để sang làm
chính trị viên tỉnh đội thì lúc đó anh Trần Văn Sớm đã là bí thư Tỉnh ủy, anh
Châu Văn Đặng và anh Võ Văn Kiệt đã là ủy viên Thường vụ. Tôi nghĩ
trong chiến tranh, mỗi người đều chấp nhận hy sinh, mình còn sống được là
điều may mắn. Mọi công trạng rồi cũng qua đi, kể lể làm gì. Chỉ có những
dấu ấn của sự gian truân, dấu ấn của những buồn vui trong tình đời là còn ở
lại, cái đó nó giúp cho tâm hồn ta lớn lên, nó luôn nhắc nhở ta hàng ngày
trong đối nhân xử thế. Chớ cứ ôm khư khư những thành tích cách mạng
trong đầu như thứ tài sản cá nhân thì mình dễ trở thành con người ích kỷ, cái
đó Đảng ta gọi là bệnh công thần, dễ hư lắm cháu ạ !
Thì ra là vậy. Ở cái tuổi tám mươi mà ông Xoàn vẫn còn say sưa kể về
chuyện tình yêu của thời trai trẻ, kể về mối tình đầu và cuộc chia tay lịch sử
của ông với bà Trần Thị Xinh mà ông cho là một cô gái đẹp nhất ở Cà Mau
thời ấy. Năm 1948, ông vừa tròn 24 tuổi, lúc ấy đang làm bí thư huyện ủy
Cà Mau. Một hôm, ông đi thăm ông Trần Hợi, một cán bộ lão thành Cách
mạng vừa vượt ngục từ Côn Đảo trở về đang trong cơn bạo bệnh. Ông Trần
Hợi nói như lời trăn trối sau cùng của một người sắp ra đi, rằng ông muốn
gởi đứa con gái út của ông cho huyện ủy dưỡng nuôi, đào tạo thành người
của Đảng. Cô Xinh lúc ấy mới 16 tuổi. Ông Xoàn nhận lời nhưng chưa dắt
cô Xinh đi ngay mà phải về họp ban thường vụ huyện ủy để báo cáo. Mấy
ngàu sau, ông cho người đến rước và gởi cô vào học trường Lý Tự Trọng –
một trường văn hóa của khu tây Nam bộ trong rừng U Minh, gần căn cứ của
huyện úy. Lúc đầu, hai người cứ xem nhau như tình anh em ruột thịt, nhưng
rồi cái gì đến phải đến . . . Trong tập hồi ký của ông Xoàn có đọan viết: “
Phải nói rằng em gái của tôi là một cô gái xinh đẹp nhất tỉnh, em có mái tóc
màu đen óng gợn như một làn suối chảy uốn quanh, có nước da trắng mịn,
có đôi môi đỏ và gương mặt diệu hiền. Vẻ đẹp ấy cứ lớn dần trong tôi theo
năm tháng”
Đến tháng 3 năm 1950, Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu kéo dài suốt ba
mươi ngày trong rừng đước Năm Căn. Cô Xinh từ rừng tràm U Minh chèo
xuồng đến thăm ông và ở lại đó chăm sóc cho ông suốt thời gian ấy. Lúc nầy
103
hai người mới thực sự hiểu ra rằng họ đã yêu nhau. Nhưng nghịch cảnh cũng
lại sắp diễn ra: cuối Đại hội, ông Xoàn được thông báo của xứ ủy Nam kỳ
chuẩn bị lên đường đi học bên Trung Quốc. Kể về giai đoạn nầy, ông Xoàn
viết: “ Tháng 6 năm 1950, cơ quan và hai gia đình đồng ý cho chúng tôi tiến
hành lễ cưới. Chúng tôi sống với nhau được hơn ba tháng thì tôi nhận kệnh
lên đường. Lúc bấy giờ, Xinh đã mang thai. Thật khó mà tả nổi cái tâm
trạng lúc chia tay của một cặp vợ chồng đang tràn trề hạnh phúc, chúng tôi
không muốn rời nhau nửa bước, không muốn vắng mặt nhau một giờ. Thế
mà tôi phải ngậm ngùi ra đi vì trách nhiệm Đảng giao. Xinh đòi theo tôi để
lúc nào cũng có vợ có chồng, cùng chia vui sẻ khổ, nhưng điều kiện nào cho
phép . . .”
Rạng sáng ngày 23 tháng 9 năm 1950, người cận vệ của ông Xoàn chèo
chiếc xuồng tam bản chở hai vợ chồng ông để làm một cuộc chia ly của đôi
vợ chồng trẻ mà họ không thể hay rằng đó là lần chia ly vĩnh viễn. Họ khởi
hành từ đầm Thị Tường qua sông Ông Đốc, đến sông Trèm Trẹm qua kinh
xáng Chắc Băng rồi qua Rạch Giá, mất cả hai ngày đêm, chiều hôm sau mới
vượt sông Hà Tiên đến đồi Đá Dựng. Theo ông Xoàn kể lại thì đi đến đâu
cũng nghe hai bên bờ sông người ta hát bài : Mùa Thu rồi, ngày hăm ba, ta
đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến, rền khắp trời, lời hoan hô . . . nhưng hai
vợ chồng ông thì lặng chìm trong nỗi niềm ly biệt. Ông nói rằng ông không
thể nào tả nổi cái buổi chiều hôm ấy, buổi chiều bên bờ sông Hà Tiên, dưới
chân đồi Đá Dựng giáp biên giới Campuchia, vợ ông không nói với ông
được một lời nào, cứ nắm chặt bàn tay mà tuôn hai dòng nước mắt, đến nổi
anh Giỏi, người cận vệ cũng khóc theo. Cứ như thế cho đến khi mặt trời lặn
mất, vầng trăng mười sáu nhô lên, lúc ấy, ông mới chợt nhớ, giờ nầy trên đất
bạn, nơi điểm hẹn có năm người đồng chí đang chờ.
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường!
Ong Xoàn nói rằng, mãi đến sau nầy, khi đọc truyện Kiều, tình cờ gặp
mấy câu thơ ấy, lòng ông bổng rụng rời nhớ lại cuộc chia ly.
Sang Campuchia, đòan cán bộ của ông được quân đội bạn dẫn đường và
bảo vệ, họ đi theo phương châm đêm đi ngày nghĩ để tránh rủi ro. Nhưng
chẳng may, ngay trong đêm đầu tiên, đến đoạn đường bắt buộc phải chạy
nhanh để tránh sự truy kích của địch thì ông Xòan xụp phải lổ chân trâu làm
104
chân trái của ông bị bong gân và chệch khớp, nhưng ông vẫn phải cố chạy,
vừa chạy vừa lê lất để kịp theo đòan cho đến sáng.


4. SÁU THÁNG ĐƯỜNG RỪNG
Đến đêm thứ ba thì ông Xoàn không còn đi được nữa. Cái chân trái đã
xưng vù, ông cố lê từng bước một để kịp theo đòan, nhưng mỗi bước đi của
ông phải bậm môi để không rơi nước mắt vì đau đớn. Cuối cùng đòan quyết
định để ông ở lại đi sau và cắt ra một tiểu đội của bạn để hộ vệ cho ông.
Trong những ngày nằm lại giữa rừng trên đất bạn, tâm trạng ông Xòan có
những mâu thuẩn trái ngược nhau, lúc cơn đau hòanh hành đến sốt lên thì
ông lại nghĩ rằng có thể đây là cơ hội để quay về gặp vợ; khi giảm đau thì lại
đấu tranh kiên quyết lên đường. Cuối cùng thì lý trí của ông đã thắng. Lúc
đầu bộ đội bạn chạy lo cho ông được một chiếc xe bò. Đi được mấy ngày
đường, đến vùng núi rừng trắc trở, họ lại tìm cho ông được một con voi. Đây
là lần đầu tiên ông được nhìn thấy voi và biết cởi voi, nhưng lại là một con
voi độc đáo. Theo lời anh quản voi cho ông biết thì con voi nầy đã có nhiều
thành tích trong việc tải đạn cho quân đội Campuchia, đã từng được lãnh
Huân chương chiến công. Tuy tuổi nó già, quân đội đã cho nó nghỉ hưu
nhưng trông nó hãy còn nhanh nhẹn, đặc biệt là trí khôn, ông Xòan không
thể tưởng tượng được một loài vật nào lại khôn đến thế. Ông còn nhớ, ngày
đầu tiên ông cùng với vị chủ tịch huyện ngồi trên lưng nó, khi đi qua đường
có những cành cây to chắn ngang, áng chừng có thể gạt phắc ngang người,
nhưng con voi đã dừng lại dùng vòi bẻ gảy những cành cây quăng sang một
bên làm trống lối đi. Một lần khác, con voi đang đi thì bổng nhiên dừng lại,
anh quản voi vừa đánh vừa hò hét nhưng nó vẫn không chịu đi, cuối cùng,
anh quản voi hiểu ý, anh hỏi những người ngồi trên lưng voi có đánh rớt cái
gì không, mọi người xem đi xem lại và bảo rằng không có rơi cái gì cả. Anh
quản voi lại thúc nó đi, nhưng nó vẫn không đi dù phải chịu bao nhiêu là roi
vọt. Anh quản voi thấy vậy tỏ ra nghi ngờ nên đi ngược trở lại chừng năm
chục mét để tìm kiếm, thì ra là ông chủ tịch huyện đánh rớt cái nồi đồng.
Khi anh quản voi trao cái nồi đồng cho chủ và nhảy lên lưng voi và bảo đi
một tiếng thì lập tức con voi thản nhiên đều bước. Một lần khác, khi qua
dòng suối sâu nước đang chảy siết, ông Xoòan lại thêm một trận ngạc nhiên
trước một lòai vật có trí khôn kỳ diệu : con voi đưa hai chân trước đứng
thẳng xuống nước, còn hai chân sau thì quỳ xuống cho tấm lưng nó được
thăng bằng để người ngồi trên lưng nó không bị ngả, cứ thế mà nó lê chân
dần xuống suối sâu và bơi sang bờ bên kia. Và khi sang bờ bên kia thì hai
chân trước quỳ xuống, hai chân sau đứng thẳng để bò lên, người ngồi trên
lưng voi cứ thế mà yên tâm qua suối.
105
Đến chiều khi đòan người dừng lại nấu cơm thì con voi lại đi lấy củi,
nó dùng vòi quật ngã những cây khô chừng vài chục mét rồi cũng dùng vòi
cuốn lại mang về, sau đó, nó dùng chân dẫm lên rồi lại dùng vòi bẻ ra từng
khúc ngắn. Sau đó anh quản voi lại điều khiển nó đi lấy măng tre, nó dùng
vòi thọc vào bụi tre rồi lấy ra từng khúc măng non một cách nhẹ nhàng.
Kể đến đây, ông Xòan bổng dưng xúc động, ông dừng lại rất lâu rồi
đổi sang giọng khác:
- Chúng tôi đi chưa đến điểm hẹn thì con voi ngả bệnh, nó không còn
đi được nữa, nó nằm quỵ xuống, đầu nó gật gật, nuớc mắt trào ra hai bên
khóe, anh quản voi nói với chúng tôi rằng chắc nó không qua khỏi, nó già
lắm rồi, chúng ta đành vĩnh biệt nó thôi. Tôi thầm nói lời cảm ơn con voi đã
giúp tôi những ngày đau chân không đi được rồi lặng đi trong giây phút ấy
để vĩnh biệt một ân nhân, một người bạn đồng hành vừa thông minh vừa tốt
bụng.
Ông Xoàn nhẩm tính, cuộc hành trình từ Campuchia qua Thái Lan, từ
Thái Lan qua Lào, từ Lào qua Nghệ An và từ Nghệ An lên chiến khu Việt
Bắc mất tròn sáu tháng, chủ yếu là lội bộ. Bây giờ, mỗi khi nằm đêm nhớ lại,
có những chuyện dù đã hơn nửa thế kỷ qua nhưng vẫn còn ám ảnh ông, làm
ông cảm thấy rợn người, ông không hiểu sao lúc ấy mình có đủ can đảm để
vượt qua. Ông kể: khi đến khu rừng già nơi biên giới Campuchi giáp với
Thái Lan, đòan dừng lại ở đó mười lăm ngày để học tiếng Thái và chờ liên
lạc từ Thái Lan qua đón, bộ đội bạn đã dựng sẵn những ngôi nhà gỗ nhỏ trên
những ngọn cây cổ thụ để lên ở đó phòng tránh thú rừng. Ban ngày thì rất
bình yên, nhưng đêm đêm, từng đàn voi rừng kéo đến, chúng la hét hầm hự
vang động cả khu rừng, rồi chúng dùng vòi quấn lấy thân cây giật qua giật
lại làm cho căn chòi nhỏ bé trên ngọn cây lắc lư, nghiêng ngã. Suốt mười
lăm đêm kinh hòang như thế, cho đến khi ghe buồm của liên lạc từ Thái Lan
qua rước, cả đòan mới thở phào tin rằng mình thóat chết. Nhưng rồi qua đêm
sau, khi thuyền buồm đang lênh đênh trên biển thì gió lớn thổi lên, sóng to
ập tới, cả đòan bị say sóng, kẻ nôn mữa, người ngất ngư vì hầu hết anh em
chưa từng đi biển, chỉ riêng ông còn khá tỉnh táo nhưng phải ôm lấy cột
buồm. Bất thần, cột buồm bị gãy, người lái thuyền sau giây phút hốt hoảng
bèn ra lệnh cho ông Xoàn đến cầm lái thay anh để anh sửa lại cột buồm.
Cuối cùng, sau một ngày một đêm vượt sóng, con thuyền cũng dần dần cập
bến vào một ngôi làng nhỏ trên đất Thái Lan.
Khi sang đất Lào, sự tấn công của lũ vắt rừng cũng là một cảnh tượng
vô cùng khủng khiếp. Ông nói, loài vắt nhỏ xíu chỉ bằng cây tăm, nhưng khi
đánh được hơi người, chúng di chuyển trên lá cây nghe lào xào như cơn mưa
nhỏ, chúng chực chờ sẵn, khi người đi qua là chúng lao thẳng xuống, bám
khắp người và hút máu no nê.
106
5. MỐI TÌNH TUYỆT VỌNG VÀ NGƯỜI VỢ THỨ HAI
Sao đầy trời, sao sáng suốt đêm,
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền.
Trời còn có bửa sao quên mọc,
Anh chẳng đêm nào không nhớ em !
Suốt cuộc hành trình, trong hành trang của ông Xoàn luôn mang nặng
nỗi nhớ thương dành cho người vợ trẻ. Nhiều lúc ông cứ nghĩ Nguyễn Bính
đã nói về ông, nói thay ông tất cả nỗi niềm trong bốn câu thơ ấy dù ông đã
đọc nó trong những ngày ông đang tuyệt vọng, chán chường.
Đã là chiến tranh thì mọi chuyện làm sao có thể diễn ra như người ta dự
tính. Ngày ra đi, cả ông và lãnh đạo cấp trên đều nghĩ rằng cử ông đi học để
mang kiến thức về phục vụ cho giải phóng quê nhà. Tháng 3 năm 1953, tốt
nghiệp trường chính trị Mác-lê-nin phương Đông Trung Quốc trở về chiến
khu Việt Bắc, lòng ông khắp khởi, nôn nao trở lại miền Nam. Suốt cả ngày
đêm, ông cứ hình dung cái cảnh gặp lại người vợ trẻ, tay ẳm con thơ ra đón
ông mà nước mắt tuôn trào vì vui sướng. Nhưng rồi trong lúc mọi người
đang hối hả chuẩn bị hành trang thì lệnh của Xứ ủy Nam kỳ điện ra chỉ đạo :
Mỗi đồng chí phải ở lại nghiên cứu sâu về một chuyên ngành để khi về Nam
tập huấn lại cho cán bộ địa phương. Ong Xòan thất vọng nhưng lại nghĩ đó
là điều cần thiết cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Vậy là mỗi người được
phân công theo một lĩnh vực khác nhau: từ dân vận, địch vận, quân sự, điền
địa, tư tưởng văn hóa . . . Ông Xoàn được phân công sang Bộ Công an để
nghiên cứu về nghiệp vụ an ninh và nghiệp vụ bảo vệ các cơ quan đầu não.
Ông cố nén nỗi nhớ nhà để lao vào công việc suốt ngày đêm. Đến năm 1954,
lại một lần nữa đòan cán bộ của ông chuẩn bị về Nam thì đất nước lại sang
trang sử mới: chiến thắng Điện Biên phủ, ký Hiệp định Gienève, đất nước
tạm thời chia cắt. Biết mình không thể về Nam, ông Xòan gởi điện về Tỉnh
ủy Bạc Liêu yêu cầu tổ chức giải quyết cho mẹ và vợ con ông ra Bắc theo
đường tập kết.
Những ngày sau đó, ông Xòan vinh dự được Bộ Công an giao nhiệm vụ
bảo vệ Bác Hồ từ bến phà Hòa Bình về thị xã Sơn Tây, và từ Sơn Tây, ông
bí mật đưa Bác vào thủ đô Hà Nội. Lúc ấy ông vừa tròn ba mươi tuổi.
Trong những ngày sôi động của không khí tiếp quản thủ đô, trong cái
niềm vui chung lớn lao của dân tộc, lòng ông cứ phập phòng hy vọng sẽ
được gặp mẹ, gặp vợ, gặp con giữa lòng thủ đô Hà Nội, có lẽ sẽ không còn
hạnh phúc nào hơn. Thế nhưng đến khi gặp các đồng chí trong Tỉnh ủy Bạc
Liêu ra tập kết thì ông mới hay tin sét đánh: vợ ông lấy chồng khác sau khi
ông đi khoảng hai năm, lúc ấy đứa con gái của ông vừa tròn một tuổi. Sau
giây phút mừng vui hội ngộ, mọi người đều dành cho ông những lời chia sẻ.
107
Lúc ấy dường như nỗi thất vọng và đớn đau không kềm chế được, ông cảm
thấy như đất trời xụp đổ, ông đâm ra oán ghét tất cả những người con gái
miền Nam. Ông nghỉ rằng một cô gái đẹp đẽ, nết na, dịu dàng, nhân hậu ngư
vợ ông, một đôi mắt mỗi lần nhìn ông đều nói lên hai chữ chung tình thế mà
đành phản bội thì trên đời nầy ông không còn tin ai nữa.
Những ngày tháng ấy, ông chỉ còn biết lao hết mình vào công việc để
tìm sự lãng quên. Những lúc đơn độc một mình, ông nghiền đi ngẫm lại, ông
tự an ủi mình, tự tha thứ cho vợ ông bằng những lý lẽ của chiến tranh. Một
người phụ nữ trẻ đẹp như cô ấy làm sao chịu nổi cảnh chinh phụ đợi chinh
phu không hẹn ngày trở lại. Thôi thì đành vậy, cứ cho đó là số phận không
may mắn của mỗi con người vốn sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến loạn ly
nầy.
Ngày 1 tháng 5 năm 1955, Chính phủ làm lễ ra mắt Quốc dân tại quảng
trường Ba Đình, một lần nữa, ông Xòan vinh dự được Bộ Công an giao
nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo Đảng và Chính
phủ tại lễ đài lịch sử nầy.
Cuối năm ấy, từ trưởng phòng bảo vệ cơ quan của Bộ Công an, ông
Xòan được điều sang làm trưởng phòng bảo vệ chuyên gia, một đơn vị có
trên 500 chiến sĩ chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ các chuyên gia nước ngòai
sang giúp ta khai thác tài nguyên và xây dựng các công trình kinh tế, quân
sự ở miền Bắc. Lúc bấy giờ, ông Lê Giản, Tổng Giám đốc Nha công an,
người thủ trưởng trực tiếp của ông Xoàn thường hay tỏ ra quan tâm và chia
sẻ với ông. Một hôm ông Giản nói với ông Xoàn: Chuyện vợ con của mầy
hơi đâu mà buồn mà khổ hòai như thế, có khổ đến mấy cũng không tìm lại
được, phải nghĩ đến chuyện xây dựng lại hạnh phúc cho mình. Mấy ngày
sau, ông Giản lại nói: Tao có hai đứa con gái và một đứa em gái vừa đi học
sư phạm bên Trung Quốc về, để tao giới thiệu cho mầy làm quen, hễ mầy
đồng ý đứa nào thì tao gả đứa đó.
Thật ra, lúc nầy ông Xoàn không quan tâm đến chuyện ấy, hơn nữa ông
gọi ông Giản bằng anh, lẽ nào lại gọi anh bằng bố nên ông nghĩ ông Giản
thương mình mà nói thế thôi. Nhưng rồi, theo ông Xoàn, có lẽ đó cũng là
duyên số, chính sự dịu dàng đôn hậu của cô Hồng Thu – con gái ông Giản -
đã làm lành lại vết thương lòng trong ông qua những lần gặp gỡ, cô hiểu và
chia sẻ nổi đau mất mác của ông, chia sẻ sự cắt chia giữa hai miền đất nước.
Là một giáo viên dạy sử, cô tỏ ra am hiểu và yêu quý miền Nam. Chính điều
đó đã làm cho cô trở thành chổ dựa tình cảm của ông Xoàn. Tết nguyên đán
năm 1956, hai người chính thức làm lễ cưới , và họ sống hạnh phúc với nhau
cho đến bây giờ.
108
6. TRỞ THÀNH CẬN VỆ CỦA BÁC HỒ
Năm 1958, ông Xoàn được bổ nhiệm làm cục phó cục Cảnh vệ. Đến
năm 1960, ông được Bộ Công an phân công ông làm cận vệ cho Bác Hồ
kiêm trưởng phòng bảo vệ phủ Chủ tịch thay cho ông Phan Lê Ninh đi học
nước ngoài.
Tôi hỏi, trong quá trình đi bảo vệ Bác Hồ, có sự cố nào xảy ra mà
người cận vệ phải đối phó hay không, ông nói có một sự cố rất là hi hữu, lần
ấy Bác đi thăm đoàn văn công Nam bộ ở Cầu Giấy, Từ Liêm. Lúc ra xe thì
bất thần có một thanh niên nhào ra xô anh cảnh vệ sang một bên và ôm chầm
lấy Bác, cảnh vệ bắt ngay và khám người anh ta không thấy có vũ khí, định
giải anh ta đi thì Bác ngăn lại và hỏi thăm, anh ta thật thà trả lời: “ Thưa Bác,
cháu tên là Suốl, cán bộ vệ quốc đoàn tỉnh Bạc Liêu, hiện công tác ở trường
Nguyễn Ai Quốc. Cháu nghe tin Bác đến, chờ mãi mà không cách nào đến
gần được nên đành phải làm liều, mong Bác tha lỗi”. Kể đến đây ông Xoàn
bổng đổi sang giọng khác:
-Đêm đó chúng tôi biết là Bác không ngủ được, hình ảnh và cử chỉ của
anh cán bộ ấy làm cho Bác cứ trằn trọc với miền Nam.
Trong những trang hồi ký của ông Xoàn về những ngày sống với Bác
Hồ, có những đoạn ông viết:
Là một vị lãnh tụ, không dễ có ai quan tâm đến từng vùng đất, con
người một cách cụ thể và sâu sắc như Bác. Những chuyến đi công tác về địa
phương của Bác cứ được tiến hành liên tục. Bác đi đâu, đến đâu đều chuẩn
bị kỹ lưỡng, chu đáo chương trình làm việc nhưng không hề báo trước.
Người giải thích đơn giản: “ Bác muốn đi để thấy cảnh người thật việc thật
chứ đâu muốn đi để thấy cảnh được đón tiếp”. Đi đến đâu, làm việc xong là
Bác về ngay, chẳng bao giờ Bác nhận tiệc tùng chiêu đãi. Bác nói đi công
tác thì cốt lo cho xong việc, không nên làm phiền các địa phương. Chúng tôi
thường hộ tống Bác đi với bảy người bằng hai ô tô. Có khi sáng sớm từ Hà
Nội ra đi, làm việc ở Phúc Yên xong, thấy còn sớm, Bác bảo cho xe qua
Vĩnh Phú, tranh thủ làm việc cho hết buổi sáng. Trưa, Bác thường bảo chúng
tôi kiếm một ngọn đồi vắng, một ngôi chùa xa nào đó để nghỉ ngơi, chiều
tiếp tục hành trình. Bác không ăn cơm tại nhà khách các tỉnh với lý do: Đất
nước mình còn nghèo, dân còn khổ, chỉ bảy người đến mà để người ta phải
giết bò, mổ lợn là phí phạm lắm.
Hồi tưởng lại những bửa cơm trưa của Người trên đường đi công tác,
tôi vẫn còn thấy xúc động: chỉ có cơm nắm cắt khoanh, cá khô đạm bạc,
chúng tôi bày ra và Bác cháu cùng ăn như một gia đình, không hề có sự phân
biệt. An cơm xong, Bác thường chọn một gốc cây to, trãi nilon, cuộn áo
109
bông lên rễ cây nằm ngủ một giấc ngon lành chừng ba mươi phút rồi lại dậy
đi tiếp. Rừng thông Phúc Yên, những ngọn đồi ở Ba Vì là những nơi Bác
thường nghỉ ngơi trên đường đi công tác. Vì quá lo cho Bác nên có lần anh
Vũ Kỳ chuẩn bị sẵn giường xếp, chăn chiên và gối bông, ăn cơm xong anh
bày ra mời Bác nghỉ. Bác khen: “ Chú Kỳ chu đáo thật. Buổi trưa mà được
thế nầy thì còn gì bằng. Nhưng chỉ mỗi một bộ thôi à ?” Anh Kỳ đáp: “ Dạ
thưa Bác, xe chật nên chúng cháu chỉ mang theo được một bộ, mời Bác nghỉ
lưng cho khỏe”. Bác cười: “ Tốt, nhưng ai chu đáo, biết lo xa thì người đó
được hưởng. Thôi, chú Kỳ lên đó nghỉ đi, Bác nằm nilon cũng quen rồi”.
Bác nói vậy và trãi nilon ra nằm, năn nỉ thế nào Bác cũng không nghe. “
Chùng nào lo được cho tất cả mọi người từ Nam ra Bắc thì Bác có chỗ của
mình trong đó”. Bác nói vậy và kiên quyết bắt anh Kỳ phải lên giường xếp.
Cuối cùng, không còn cách nào khác, anh Vũ Kỳ phải lên nằm. Trưa hôm
ấy, anh em chúng tôi cứ trằn trọc, cứ im lặng nhìn nhau mà tuôn trào nước
mắt.
Nhiều năm sống bên Bác, những kỷ niệm về Người tôi không thể nào
kể hết. Sự vĩ đại của Bác Hồ không phải là những gì xa xôi được thần thánh
hóa. Bác vĩ đại chính vì sự giản dị, chan hòa trong cách sống, trong quan hệ
với mọi người. Tôi còn nhớ năm 1960, anh Nguyễn Văn Hiếu và nhà thơ
Thanh Hải được đi trong đòan đại biểu đầu tiên của Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam ra thăm Bác. Anh Hiếu tặng Bác một chiếc lọ hoa bằng vỏ
đạn và nói: “ Nhân dân miền Nam luôn luôn hướng về Bác”. Cùng tiếp đòan
hôm ấy còn có anh Phạm Văn Đồng và anh Xuân Thủy, anh Thủy hỏi Bác:
“Bác có quà gì tặng miền Nam không ạ ?”Bác im lặng một lúc rồi đưa tay
chỉ về phía trái tim: “ Quà tặng miền Nam Bác chỉ có cái nầy”. Anh Hiếu và
anh Thanh Hải xúc động đến không kềm được nước mắt.
Hồi ấy, hàng năm đến ngày 19 tháng 5, tại phủ Chủ tịch, các cơ quan,
đòan thể, học sinh, sinh viên kéo đến mừng sinh nhật Bác như một ngày hội
lớn. Bác không ngăn cấm, nhưng cũng không muốn điều ấy trở thành thông
lệ, gây tốn kém và lãng phí thời gian nên những năm về sau, hễ gần đến
ngày sinh nhật của mình thì Người lại xếp lịch đi công tác xa. Điều ấy tuy
Bác khôngnói ra nhưng tôi với anh Vũ Kỳ hiểu được. Đến ngày 19 tháng 5
năm 1965, cũng trong một chuyến đi công tác xa như thế, anh Vũ Kỳ bàn
với tôi là bí mật tổ chức cho lực lượng Công an vũ trang đến mừng sinh nhật
Bác. Vừa sáng tinh mơ, thấy Công an vũ trang bồng súng xếp hàng đón Bác.
Bác vừa tỏ ra ngạc nhiên vừa hỏi: “ Ai bày ra vậy ? Để làm gì ?” Anh Vũ Kỳ
thú thực, Bác nói nghiêm khắc: “ Bác đã tránh Hà Nội, lên đây lại gặp
chuyện nầy thật phiền phức”. Bác ra lệnh giải tán ngay, sau đó gọi anh em
chúng tôi lại và ôn tồn nói: “ Vì miền Nam, chúng ta gắn sức mỗi người làm
110
việc bằng hai. Các chú đừng có hình thức, đừng bắt Bác phải trở thành một
biệt lệ”.


7. GẶP LẠI NGƯỜI XƯA
Trong cuộc đời làm cảnh vệ của ông Xoàn, ngoài cái hạnh phúc lớn
lao được làm cận vệ cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều đồng chí lãnh đạo
cao nhất của Đảng và Chính phủ, ông còn được đi hàng chục nước trên thế
giới, đi công tác, đi học tập và đi huấn luyện công tác cảnh vệ cho một vài
nước bạn. Từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 1 năm 1973, ông Xoàn dược phân
công làm trưởng đòan cảnh vệ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội
nghị Paris – một cuộc Hội nghị dài nhất trong lịch sử Hội nghị đàm phán
quốc tế: 4 năm 8 tháng – Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1968, Đòan đại biểu
miền Bắc họp với Đoàn đại biểu Mỹ, chấm dứt cuộc chiến tranh leo thang
phá hoại miền Bắc của Mỹ; từ tháng 1 năm 1969 tiến hành cuộc họp bốn bên
mà theo ông Xoàn là họp theo công thức, nghĩa là cứ họp chung giữa 4 Đòan
mấy hôm rồi lại họp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Mỹ
Kissinger, đến tháng 1 năm 1973 mới kết thúc bằng Hiệp định Paris.
Ngày 25 tháng 4 năm 1975, ông Xòan được lệnh vào Nam, lòng ông
nôn nao được trở lại quê nhà sau 25 năm xa cách, được gặp lại mẹ già, các
chị và đứa con gái yêu quý của ông, đứa con mà ngày ông ra đi nó chỉ mới
tượng hình trong bụng mẹ, bây giờ không biết nó đang sống ra sao trên một
nửa đất nước đầy chiến tranh và cạm bẩy? Còn người ấy nữa ? Ong đã từng
không còn nhớ đến, nhưng giờ sao vẫn cứ phập phồng dù biết rằng bến với
thuyền đã vĩnh viễn cách ngăn. Trên những chặng đường về Nam, đi đến
đâu cũng gặp cảnh hoang tàn đổ nát, những vết tích của chiến tranh hủy diệt
sao mà khủng khiếp đến rợn người, không biết nơi quê mẹ bây giờ có như
thế nầy chăng ?
Ngày 1 tháng 5 ông vào đến Biên Hòa, ngày hôm sau vào Sài Gòn
trong khí thế của đòan quân chiến thắng. Nhưng rồi công việc của người sĩ
quan cảnh vệ đối với một thành phố vừa giải phóng lại ràng buộc trách
nhiệm của ông. Đến cuối tháng 5, ông được lệnh đi miềy tây để tổ chức lực
lượng cảnh vệ cho các vị lãnh tụ vào công tác. Đến Cần Thơ, gặp lại những
đồng chí cũ, ông vừa làm việc vừa bày tỏ nỗi nhớ nhà, không ngờ hôm ấy,
Tỉnh ủy Cần Thơ gọi đện về Tỉnh ủy Cà Mau nhờ đưa chị Hai ông lên gặp
ông. Hai chị em gặp nhau, lúc lại cười, khi lại khóc, giờ đây ông mới có đủ
thông tin về chuyện gia đình: mẹ ông vẫn còn khoẻ mạnh, người chị thứ ba
qua đời, cuộc sống của mọi người vẫn còn nghèo khổ. Ngày các chị ông lấy
111
chồng, bên nhà trai phải ra tiền chuộc về từ nhà chủ nợ. Nghe đến đó mà ông
không cầm được dòng nước mắt. Còn người ấy, sau khi ông đi chưa được
hai năm thì đã sang bến đổi thuyền, mặc dù gia đình cô ấy cản ngăn quyết
liệt, thậm chí chị Hai cô ấy phải ra tay hành hung vì phẩn nộ. Chồng cô ấy là
một cán bộ phụ trách thanh niên trong xã, sau đồng khởi, ông ấy chiêu hồi
và giữ một trọng trách tại Ty chiêu hồi tỉnh An Xuyên. Đứa con gái ông rất
đẹp và dễ thương, nó được vợ chồng cô ấy nuôi dạy đàng hòang, học xong
trung học, nó ra làm việc tại ty canh nông tỉnh An Xuyên, hiện giờ vẫn ở
chung với vợ chồng cô ấy ngang nhà thương lớn.
Ông Xoàn sắp xếp công việc rồi theo chị về Cà Mau, gặp mẹ, gặp con,
cả nhà đòan tựu tại nhà khách Tỉnh ủy. Người đầu tiên ôm ông gào lên khóc
là mẹ ông, rồi đến con gái ông, nó thét lên một tiếng B. . .a, một tiếng thét
như tiếng của 25 năm dồn nén lại. Cả văn phòng Tỉnh ủy Cà Mau hôm ấy ai
cũng khóc.
Trọng trách của người sĩ quan cảnh vệ trong những ngày đầu giải
phóng chỉ cho phép ông Xoàn đoàn tựu với gia đình khi chưa kịp lau khô
dòng nước mắt mừng vui của cuộc hội ngộ sau 25 năm.
Về Sài Gòn ổn định công việc xong, một tháng sau ông trở lại Cà Mau
và chủ động tìm đến nhà người ấy với hy vọng xin được mang theo đứa con
gái của ông và sẽ đưa mẹ ông lên Sài Gòn để phụng dưỡng. 25 năm xa với
bao nhớ thương, oán giận và cả sự lãng quên, giờ đối diện nhau vẫn cảm
thấy bồi hồi. Cô ấy bây giờ đã 43 tuổi, 12 đứa con nhưng vẫn còn phảng
phất cái nét quyến rủ của những ngày đã từng làm cho ông ngây ngất. Cô
ngồi đó, chồng cô cũng ngồi đó, cả hai cúi đầu lặng lẽ, mỗi người chìm trong
một mặc cảm riêng, ông Xoàn đọc được tất cả nhưng ông không tỏ ra mình
là người chiến thắng, ông trầm tĩnh nói: Chiến tranh đã làm tan nát biết bao
nhiêu gia đình, chỉ trong phạm vi những người đi tập kết thôi cũng biết bao
nhiêu là bi kịch, có những người vợ chung thủy đợi chờ suốt hai mươi ba
năm, vượt qua cả tù đày và cạm bẩy ở miềm Nam thì ở ngòai kia người
chồng lại xây tổ ấm với người khác, và ngược lại, . . ., tôi nghĩ những
chuyện ngang trái nầy khó có thể trách nhau. Riêng tôi cũng xin báo cho cô
chú biết rằng tôi đã cưới vợ hai năm sau khi hay tin cô Xinh lấy chồng, bây
giờ tôi được bốn đứa con. Nay tôi tìm đến đây trước là để thăm và cảm ơn cô
chú, cảm ơn vì trong 25 năm qua cô chú đã nuôi dưỡng con gái tôi nên
người. Phải nói rằng nó được học hành, được ngoan ngoãn trong môi trường
xã hội miền Nam như thế nầy thì tôi không biết lấy gì để đền đáp công ơn
dạy dỗ của cô chú. Còn điều thứ hai, tôi xin phép cô chú cho cha con tôi
được đòan tựu để bù đắp sự thiếu thốn tình cha con ruột thịt suốt hai mươi
mấy năm qua, ở đây tôi nói thật kòng chớ tôi không ép, nếu cô chú thuuận
tình thì tôi mãi mãi mang ơn.
112
Người chồng cô ấy nói: Thú thật với anh rằng mấy chục năm qua tôi
vẫn coi nó như con ruột. Nay anh trở về, anh muốn đem cháu đi thì tôi cũng
không có quyền từ chối. Và tôi nghĩ rằng mẹ nó cũng thế thôi. Cô ấy nói:
Tôi cũng biết chuyện nầy sẽ xảy ra nên tôi đã nói với Thu Hoa rồi, nếu con
muốn thì cứ theo ba con về Sài Gòn. Điều sau cùng, ông Xoàn nói: Vậy thì
tôi xin hứa sau nầy sẽ đền đáp công lao của cô chú. Còn bây giờ, giữa chúng
ta, những người có mối quan hệ ràng buộc trong quan hệ qua con gái tôi, mà
tôi là người thọ ơn cô chú, tôi xin nói thật điều nầy: Đối với chú, một cán bộ
đã chiêu hồi mà lại cộng tác với giặc tại Trung tâm Chiêu hồi thì Cách mạng
xem tội ấy rất nặng, sẽ đi học tập cải tạo từ sáu năm trở lên. Nhưng với riêng
tôi chú là người ơn, hơn nữa cô chú có tới 12 đứa con, nếu chú đi cải tạo
trong thời gian dài như vậy thì cô ở nhà làm sao sống nổi. Tôi sẽ cố gắn hết
lòng, đem hết uy tín của mình ra xin với Ủy ban Quân quản giảm cho chú
còn lại hai năm.
Anh mắt của hai vợ chồng cô ấy bổng rạng rỡ lên. Họ nhìn nhau rồi lại
nhìn ông. Họ thay nhau gắp thức ăn bỏ vào chén ông trong bửa cơm chiều
thân mật.

8. CHỮ TÌNH CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ
Tôi không có điều kiện tiếp xúc với nhiều vị Tướng nên không hiểu
phong cách chung của các vị Tướng ra sao, kể cả lúc cầm quân và lúc sống
giữa đời thường. Qua phim ảnh của nhiều nước trên thế giới, các nhà đạo
diễn đã làm cho các diễn viên khi đã là Tướng thì phải có một cái gì đó khác
thường, từ trận mạc cho đến lúc nhảy đầm hay đi tắm biển với người yêu
cũng rất là . . . Tướng. Và tôi đã mang ấn tượng ấy trước khi đến gặp ông
Xoàn. Cuối cùng thì không phải vậy. Tôi chỉ có cảm giác mình đối diện với
một ông già nhân hậu, một ông già đang sống bằng hồi ức và những trang
hồi ức ấy đầy ắp tình người.
Tôi hỏi sau bửa cơm chiều hôm ấy thì sao, ông nói ông về nhà khách
tỉnh ủy, để cô con gái ở lại thu xếp hành trang và để nói những điều mà mẹ
con cô ta cần nói, chắc hẳn sẽ có nhiều điều tâm sự sau hai mươi lăm năm
sống trong tình mẫu tử qua những thăng trầm.
Sáng hôm sau, hai cha con ông về quê thăm lại xóm làng. Tất cả bây
giờ đã kác xưa, đình Tân Hưng mang đầy vết đạn, những thân dừa tả tơi vì
miểng pháo, chỉ có dòng sông, con rạch còn giữ nguyên hình dáng cũ, có
khác hơn đôi chút là do phù sa bồi lắng làm cho nó cạn đi. Thấp thoáng đâu
đó hình bóng ông một thời lặn hụp, móc đất vò đạn bắn cu ly, nặn những
chiếc tù và. Người đầu tiên ông tìm thăm là thầy giáo Thường, người đã mở
đường chữ nghĩa cho ông, dạy ông những điều hay lẽ phải trên đường đê sau
mỗi buổi tan trường. Nhưng tìm mãi không ai biết, cuối cùng mới hay ông
113
giáo Thường đã bỏ xứ về Long Xuyên mười mấy năm qua. Người thứ hai
ông tìm là ông chủ Tuấn, người đã cho chị Hai ông ứng trước mấy cắc bạc
tiền công để ông có được củ khoai lang và chiếc bánh bò trong những ngày
đi thi tiểu học, nhưng ông chủ Tuấn đã qua đời. Người thứ ba ông tìm là ông
Thủ, con trai ông chủ Tuấn, người đã cho ông mượn bộ đồ vải để mặc đi thi,
nếu không có bộ đồ vải ấy thì ông đã bỏ cuộc thi dù cái bằng tiểu học cũng
chẳng giúp cho ông được việc gì. Cái ơn ấy tuy rằng không lớn lắm nhưng
nó trở thành một thứ kỷ niệm ngọt ngào. Cuối cùng gặp dược ông Thủ,
nhưng ông Thủ không nhận ra ông, phải nhắc một hồi lâu ông mới nhớ, còn
chuyện cho mượn bộ đồ bà ba thì ông Thủ hoàn toàn không nhớ được một
chút gì. Kể đến đây, bổng dưng ông Xòan trở nên buồn bả thở dài: “ Lúc sắp
về hưu tôi có về thăm anh ấy một lần nữa, ảnh mừng lắm và ảnh đã nhớ ra
chuyện bộ đồ. Nhưng tội nghiệp, ảnh bây giờ nghèo quá ! Tôi định lần sau
về sẽ giúp ảnh một số tiền”.
Cũng trong chuyến về quê ấy, ông Xoàn mò mẫm qua tận Long
Xuyên và tìm gặp ông giáo Thường. Hai thầy trò ôm nhau, rưng rưng nước
mắt. Ông Thường tuổi già, mắt mờ, sức yếu nhưng vẫn còn nhận ra người
học trò cũ, ông nói: “ không ngờ em còn nhớ và tìm đến thăm thầy”. Ông
Xoàn thì nói theo cái lý lẽ giản dị của ông: “ Làm sao em quên được thầy,
bởi không có thầy đến tận nhà bảo mẹ em cho em đi học thì em không biết
chữ, mà không biết chữ thì hồi ấy làm sao được cử đi học Trung Quốc, cuối
cùng là không thể có ngày hôm nay”. Ông Thường xúc động nói: “ Có được
người học trò vừa thành đạt, vừa biết lễ nghĩa như em, thầy có nhắm mắt
xuôi tay cũng mãn nguyện lắm rồi !”.
Niềm hạnh phúc nhất của ông Xòan là sau chuyến về quê ấy được gặp
lại những người thân, được đưa mẹ và con gái ông về chung sống ở Sài Gòn.
Còn một điều nữa làm cho ông cảm thấy lương tâm mình thanh thản là Uy
ban Quân quản Cà Mau chấp nhận đề nghị của ông, chỉ ký quyết định cho
chồng cô ấy đi học tập cải tạo trong thời hạn hai năm, đúng như lời ông hứa.
Khi ông đưa con gái của ông về sống ở Sài Gòn, có đôi lần người ấy
lặn lội từ Cà Mau đến thăm con, ông biết rằng người ta nhớ con thật sự,
nhưng chồng người ta ở nhà liệu có yên tâm ? Biết đâu, xét về mặt chiến
tranh, anh ta có thể mang mặc cảm mình là người chiến bại, còn ông là kẻ
chiến thắng để rồi dẫn đến nghi ngờ rằng đứa con gái có thể là sợi dây níu
kéo lại tình xưa nghĩa cũ giữa hai người. Rồi mâu thuẩn vợ chồng họ có thể
xảy ra, oan cho cô ấy và khổ cho cả anh ta. Nghĩ thế, ông gọi cô ấy đến và
nói nghiêm túc: “ Tôi xin đặt thẳng với cô một điều kiện, từ nay về sau, nếu
cô lên thăm con thì phải dẫn chú ấy cùng đi”. Rồi ông giải thích bằng những
lý lẻ trên. Vậy là chuyến đi thăm con lần sau, họ đi cả hai người.
114
Trong lúc chúng tôi đang trò chuyện với ông thì có chuông điện thoại
bàn, ông bước sang đàm thoại một cách thân mật rồi bảo: “ Tụi con lên đây
có chuyện một chút !”.
Vài phút sau có một chàng trai và hai cô gái bước lên với vẻ e dè
ngòai cửa kiếng. Ông Xoàn bước ra mở cửa mời họ vào ngồi và vui vẻ giới
thiệu với chúng tôi:
- Đây là cháu Thanh Tâm, đây là cháu Thu Nga, đây là cháu Ngọc
Hiếu, cả ba anh em tụi nó là con của cô ấy, chú nhận vào làm vệ sĩ từ khi
mới thành lập công ty. Bây giờ đứa nào đứa nấy võ thuật ngon lành lắm
nghe, thằng Tâm lập được nhiều thành tích bảo vệ khách hàng, vừa lên chức
đội phó, còn con Hiếu mới cho mấy thằng lưu manh ở Biên Hòa một trận
đòn nổi tiếng. Cả ba đứa đều lập gia đình ở Sài Gòn hết rồi, cuộc sống tạm
ổn, tất nhiên là khá hơn nhiều so với ở dưới quê.
Tôi không muốn bình phẩm về cái nghĩa cử nầy của ông Xoàn, chợt
nhớ rằng mỗi khi nhắc đến người ấy, ông hay than thở: “ Cô ấy có tới mười
hai đứa con, khổ quá”.
Giới thiệu xong, ông bảo chúng tôi ngồi đợi rồi ông dẫn ba người ra
ngồi trên nghế ngòai hành lang xúm xít lại tâm sự nhỏ to những điều gì đó.
Bất ngờ, tôi chụp được một bức ảnh giống hệt như tình cha con.

9. HƠN NỬA THẾ KỶ VÀ CỦ KHOAI LANG
Năm 1980, ông Xoàn được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Cảnh vệ,
năm 1989, ông được phong hàm Thiếu Tướng, giữ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh
Cảnh vệ thuộc Bộ Công an, năm 1992 ông được nghỉ hưu ở tuổi 68, nghĩa là
ông tiếp tục cống hiến thêm tám năm so với chế độ chính sách hiện hành.
Cuộc đời ông sẽ lặng lẽ trôi đi ở tuổi xế chiều như bao nhiêu vị Tướng về
hưu khác nếu không có sự ra đời của Công ty Long Hải – một công ty bảo
vệ tư nhân đầu tiên của Viết Nam ra đời dưới sự sáng lập của một người
đang ở tuổi thất thập cổ lai hy mà nó tồn tại và phát triển trong sự ngưỡng
mộ của mọi người. Bây giờ, lực lượng vệ sĩ của ông cũng tương đương với
lực lượng cảnh vệ của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ ngày trước và ông vẫn đường
đường là vị Tư lệnh, có khác chăng là phương thức hoạt động, mục tiêu của
nghiệp vụ và chức danh Tổng Giám đốc của ông.
Hỏi về ý tưởng nào cho sự ra đời của Công ty Long Hải, ông nói rất
bình thường: ông về hưu trong lúc đất nước đang thời kỳ mở cửa, tất cả các
thành phần kinh tế đều có nhu cầu ổn định an ninh trật tự trong sản xuất kinh
doanh trong khi ngành Công an không thể đáp ứng mọi nhu cầu ấy. Sự ra
đời của Long Hải là mô hình lạ với đất nước ta nên được dư luận quan tâm
nhưng thật ra nó là một dịch vụ rất bình thường đối với nhiều nước trên thế
giới mà ông đã có dịp tìm hiểu trong những chuyến đi công tác nước ngoài.
115
Để hoàn tất các thủ tục pháp lý, ông phải thế chấp ngôi nhà vay 200
triệu đồng gởi vào ngân hàng để đăng ký vốn pháp định và trang trãi các chi
phí ban đầu như đào tạo vệ sĩ, trả lương và thuê trụ sở làm việc, mua sắm
thiết bị văn phòng. Khởi sự cuộc đời doanh nghiệp của ông là như thế.
Ông còn nhớ ngày 7 tháng 12 năm 1995, ngày đầu tiên ông đến trụ sở
với tư cách là Giám đốc. Sáng hôm ấy sau khi đánh quần vợt về, ông tắm
rửa rồi thay bộ đồ Cảnh vệ, đeo lại quân hàm Thiếu Tướng và tự pha ly café
đen, uống xong, ông ra ngoài mua bốn củ khoai lang, gói lại để trong cặp rồi
gọi chiếc xích lô đến trụ sở Công ty. Ông có cảm giác như trong trạng thái
tâm lý ông có cái gì đó khác thường. Ông nhớ lúc chạy lo thủ tục thành lập
Công ty, có một đồng chí cán bộ đã khuyên ông rằng không nên thành lập
Công ty bảo vệ tư nhân, cả cuộc đời mình hy sinh theo Đảng, đi bảo vệ lãnh
tụ, bây giờ chẳng lẽ vì đồng tiền lại đi bảo vệ cho bọn giàu có. Lời khuyên
ấy tuy xuất phát từ tấm chân tình nhưng cách nhìn nhận như vậy làm ông
giận lắm. Ông không giải thích, cũng không tranh cải, ông chỉ đáp lại bằng
một nụ cười thân thiện. Ông nghĩ, cuộc sống vốn nhiều tầng nhận thức, lời
khuyên vừa rồi chứng tỏ người bạn của ông chỉ mới nhận thức đến tầng thứ
nhất mà thôi.
Ngẫm nghĩ một lúc rồi ông mở cặp lấy củ khoai lang ra ăn, suốt ngày
hôm nay, ngày đầu tiên ngồi làm Giám đốc, ông sẽ ăn khoai lang trừ cơm
với nhiều lý lẽ, trước hết là để tưởng nhớ đến cái ngày cách đây 54 năm,
ngày ông đi thi tiểu học, chị Hai ông mua cho ông củ khoai lang bằng
những đồng xu ứng trước tiền công ở đợ, ông để nguyên vỏ ăn mà cảm thấy
như của ngon vật lạ trên đời. Cái lẽ thứ hai, ông nhớ có một nhà văn Nga đã
nói: “ Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn trả lại
anh bằng đại bác”. Ông thấy nhiều Giám đốc Công ty tư nhân chỉ biết chạy
theo đồng tiền, bất chấp lẽ phải rồi trở thành tội ác, ỷ mình chủ cả rồi khinh
miệt công nhân, tập tành lối sống thượng lưu dù họ cũng là kẻ xuất thân từ
tầng lớp cơ hàn. Ông sợ, biết đâu một ngày nào đó đồng tiền lại trở thành
khẩu súng lục để mình bắn vào quá khứ nên ông mặc cảnh phục là để nhắc
nhở cái quá khứ đáng trân trọng của mình.
Nghĩ thì nghĩ vậy là để phòng thân, để lo xa, còn thực tại ông vẫn
đang là kẻ trắng tay, mọi thứ tạo ra hôm nay chỉ bằng tiền vay bạc hỏi. Bốn
mươi bốn vệ sĩ đào tạo xong giờ vẫn ở không ăn lương chờ việc. Gần sáu
tháng trôi qua mà chẳng thấy một khách hàng nào tìm tới dù ông đã tốn khá
nhiều tiền quảng cao, có lẽ thị trường lao động chưa cần tới dịch vụ bảo vệ
tư nhân chăng ?
Gần nửa năm sau, có một cuộc Hội chợ triển lãm quốc tế khá lớn tổ
chức ở đường Hòang Văn Thụ, ông đến xin lãnh làm dịch vụ bảo vệ và đăng
ký một gian hàng giới thiệu Công ty Long Hải. Đúng ngày Hội chợ khai
116
mạc, ông thuê hai chiếc xe mui trần chở 44 vệ sĩ dưới sự điều khiển của một
võ sư. Tất cả vệ sĩ đều mặc đồng phục, đeo cầu vai, đội kết có phù hiệu riêng
của Long Hải, nai nịch gọn gàng, bên hông mang gậy bấm có bao da trông
thật lạ lùng và oai vệ. Khi vừa cắt băng khai mạc xong, ông cho xe dừng
ngay trước cổng, anh võ sư ra lệnh:
-Tất cả xuống xe !
-Tất cả xếp thành hai hàng dọc, nhìn trước, thẳng !
-Chỉnh đốn trang phục !
-Vào vị trí !
Mọi người tuân lệnh một cách răm rắp.
Hàng trăm, hàng ngàn khách hàng trong và ngoài nước đến tham dự
Hội chợ tỏ ra hết sức ngạc nhiên, họ không hiểu đây là đội quân gì mà lạ
lùng, mà oai phong đến thế ? Suốt mười ngày Hội chợ, người ta thấy những
vệ sĩ ấy làm việc ở các chốt bảo vệ, họ vừa lịch sự, vừa nghiêm túc, rồi đến
xem gian hàng của Công ty Long Hải, được xem cataloge, được đọc các tài
liệu nói về nhu cầu và dịch vụ bảo vệ, được nghe thuyết minh . . . Trong khi
Hội chợ chưa kết thúc thì Công ty Fujisu – một doanh nghiệp chuyên sản
xuất linh kiện điện tử của Nhật Bản tại khu công nghiệp Biên Hòa đã tìm
đến Long Hải ký hợp đồng thuê 50 vệ sĩ.
Một thờ cơ đã đến với ông Xoàn.

10. CHỮ TÂM
Đến nay, Công ty Long Hải đã có trong tay một đội quân gần ba ngàn vệ
sĩ với bảy chi nhánh hoạt động từ bắc chí nam – một đội quân tương đương
với lực lượng cảnh vệ thời ông Xòan làm tư lệnh - hợp đồng bảo vệ dài
hạng cho 150 Công ty lớn của nước ngòai. Ông Xoàn thuê một người
Canada làm Giám đốc tiếp thị và một cựu đại úy cảnh sát Pháp làm cố vấn
nghiệp vụ bảo vệ.
Sau mười năm khởi nghiệp – khởi nghiệp ở tuổi bảy mốt – ông đã trở
thành nhà tỷ phú, nhưng người ta vẫn thường thấy ông đi làm bằng xe honda
ôm. Có người bảo ông trùm, giàu mà không biết hưởng thụ. Ông chỉ cười
đôn hậu: “Mình sống khắc khổ quen rồi !”
Mười năm – kể từ ngày ăn bốn củ khoai lang – ông đã trở thành một
doanh nhân nổi tiếng. Mười năm, nộp thuế trên sáu mươi tỷ đồng, một con
số không lớn so với nhiều doanh nghiệp. Nhưng một con số nói được nhiều
điều về một ông già tám mươi tuổi đang lãnh lương hưu, một con số quá lớn
so với bốn củ khoai lang của mười năm trước.

Song, dường như ông Xoàn không quan tâm với những điều ấy, cái hạnh
phúc lớn nhất của ông là Long Hải đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ
117
trật tự xã hội. Ở tuổi tám mươi nhưng ông vẫn còn nhiều mơ ước, mơ ước
một trung tâm huấn luyện nghiệp vụ, mơ ước thành lập một lực lượng giải
cứu con tin, và nếu Nhà nước cho phép, ông sẽ mở thêm nghiệp vụ thám tử
tư nhân. Theo ông, đây là một nghề rất cần thiết cho một xã hội đang có
nhiều diễn biến phức tạp.
Ông kể, có một nữ giám đốc của một Công ty lớn đến nhờ ông theo dõi
cậu con trai của bà với lý do là nó xài tiền như nước, nó kê ra đủ thứ học phí
nhưng kết quả học tập thì chẳng ra gì, bà thì suốt ngày bận rộn kinh doanh
nên không quản lý được. Sau một hồi suy nghĩ, ông Xòan trả lời : Công ty
của tôi không được phép làm thám tử, nhưng trong trường hợp của bà thì tôi
có thể giúp đỡ bằng cách ký một hợp đồng bảo vệ cho cậu con trai của bà,
tôi sẽ cho người bí mật theo dõi để cung cấp cho bà những thông tin cần
thiết. Vậy là một tuần sau, người mẹ ấy có đủ những thông tin về đứa con
của mình với từng ngày từng giờ cụ thể ở những tụ điểm ăn chơi. Cậu con
trai ấy bây giờ đã trở thành người tốt.
Sẽ có rất nhiều chuyện ly kỳ trong quá trình hoạt động của những vệ sĩ
Long Hải, tôi có ý định tìm đến những nơi từng xảy ra sự cố mà các vệ sĩ
phải đối phó, đặc biệt là những nữ vệ sĩ đã trừng phạt những kẻ côn đồ.
Nhưng tôi thất vọng vì sự từ chối của anh Phan Hồng Nam, phó tổng giám
đốc, là con trai của ông Xoàn. Nam nói:
- Anh khai thác những chuyện ấy sẽ rất có lợi cho Long Hải, nhưng thật
lòng thì tôi không muốn vì làm như thế sẽ có nhiều bạn đọc hiểu lầm rằng
anh mượn thiên ký sự nầy để quảng bá thương hiệu cho Long Hải, như vậy
sẽ làm giảm đi ý nghĩa nhân văn trong bài viết của anh.
Suốt buổi trò chuyện, Nam không hề nói về Công ty Long Hải mà chỉ
anh say sưa tâm sự về người cha. Nam kể, khi vào Sài gòn sống trong khu
tập thể của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, anh rất ngạc nhiên vì sao tất cả mọi người
xung quanh đều tỏ ra quý mến và kính trọng cha mình, họ khuyên Nam nên
học theo tấm gương của của cha. Thời gian trôi qua, khi đến tuổi trưởng
thành Nam mới có khái niệm thế nào là nhân cách, lúc ấy anh đã tự lý giải vì
sao cha anh được tất cả mọi người ngưỡng mộ.
Có một chuyện mà ông Xoàn không hề tiết lộ với tôi, và nếu không gặp
Nam thì tôi cũng không thể nào biết được: Bà Hồng Thu, mẹ của Nam mắc
chứng bệnh ngặt nghèo hơn ba chục năm qua, lúc thì bà bị trầm cảm, sống
im lặng và xa lánh mọi người, khi thì hưng phấn, cười nói huyên thuyên
hoặc phản ứng quyết liệt với mọi người xung quanh một cách vô lý. Hơn ba
mươi năm qua, ông Xoàn âm thầm chịu đựng và chia sẻ với bà. Lúc bà bị
trầm cảm thì ông cố tìm mọi cách để xốc lên cho bà có những niềm vui, khi
bà quá hưng phấn thì ông cũng tìm mọi cách để bà kềm chế bớt. Sự gắn bó
xẻ chia ấy đối với ông Xoàn như đã là một thói quen, ông không hề tỏ ra nãn
118
lòng mà ngược lại, ông sống hồn nhiên với vợ mà mọi người chung quanh
không thể nào lý giải. Nhưng chính ông Xòan đã từng tâm sự với Nam rằng,
sau khi Nam chào đời cũng là lúc ông đi bảo vệ hội nghị Paris gần năm năm,
khoảng thời gian ấy Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, mẹ Nam ở
quê nhà phải dắt díu đàn con đi sơ tán, vừa dạy học, vừa nuôi con trong sự
nghèo đói và hiểm họa chiến tranh, bà đã chịu đựng và vượt qua tất cả để
sống thủy chung, làm tròn trách nhiệm của người vợ, người mẹ và một cô
giáo mẫu mực. Sự nghiệp của ông Xoàn luôn luôn có bóng dáng của bà
trong đó, cho nên ông luôn nghĩ rằng sự bù đắp của ông so với sự hy sinh
của bà vẫn chưa xứng đáng.
Về công việc, Nam nói, mỗi lớp huấn luyện vệ sĩ, ông Xoàn đều sắp xếp
một khoảng thời gian để giảng những bài học về đạo đức. Nhưng không phải
là sự rao giảng về đạo đức một cách khô cứng, chung chung, ông chỉ nói về
những điều đơn giản nhất, gần gũi nhất nhưng lại đầy thuyết phục, ví dụ ông
nói điều kiện cần và đủ cho mỗi con người là sự thông minh và tốt bụng, nếu
trao sự thông minh cho một người không tốt bụng thì sự thông minh ấy dễ
trở thành cái ác . . . Gần hai ngàn vệ sĩ của ông hầu hết là bảo vệ cho doanh
nghiệp nước ngòai, ông luôn nhắc nhở họ về tinh thần dân tộc, ngòai trách
nhiệm, phải biết làm cho người ngoại quốc nể phục tư cách và lòng tự trọng
của người công dân Việt Nam . . .
Có lần, chị Thu Hoa – người con riêng của ông Xoàn – nói với tôi rằng:
-Chiến tranh đã gieo cho gia đình tôi không ít những bi kịch, nhưng
chính cha tôi là người xóa đi những bi kịch ấy. Mẹ tôi với ông có một quá
khứ đẹp, dù không thể nối lại tình xưa nhưng trước cuộc sống khắc khổ của
mẹ tôi, ông sẻ chia bằng cách đem ba đứa em một mẹ khác cha của tôi lên
làm ở Công ty Long Hải, ông đùm bọc chúng nó như con ruột. Với con cái,
ông vừa thể hiện tính nghiêm khắc của một người cha, vừa gần gũi và dân
chủ như một người bạn. Hồi mới giải phóng, trước khi đưa tôi lên Sài Gòn,
ông nói: Cha khao khát được đem con về sống với cha, nhưng đi hay không
là quyền của con. Hai mươi lăm năm cha con mới biết nhau, khoảng cách
của thời gian, không gian và bối cảnh lịch sử cũng có khi chính là khoảng
cách trong suy nghĩ, trong cách sống của cha con mình. Vậy con tạm thời đi
với cha một tháng, sau đó cha cho con quyền lựa chọn. Nhưng chỉ đi có mấy
ngày, tôi đã cảm nhận ở ông có tất cả những đức tính của một người cha mà
tôi từng mơ ước. Ông từng lấy câu Kiều của Nguyễn Du để dạy chúng tôi
rằng:
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

119
MỤC LỤC

1-HOÀI NIỆM KHOAI LANG
2-MÙI RẠ MÙI RƠM
3-CÁ RÔ LỘI NGƯỢC
4-MÙA TRÁI MẮM
5-ĐI TÌM MÙA LEN TRÂU
6-NHỚ ĐỒNG
7-CÁI BẾP VÀ MỐI TÌNH QUÊ
8-ĐI LÃNH NHUẬN BÚT VỚI NHÀ VĂN SƠN NAM
9-LÊN SÀI GÒN NHỚ BÁC TƯ SÂM
10-NGẬM NGÙI PHIÊN CHỢ TRĂM NĂM
11-HAI MƯƠI NĂM GÁNH ỐC GIỮA SÀI GÒN
12-ĐỨA CON NUÔI
13-NGƯỜI ĐÀN BÀ LÃNG MẠNG
14-CHỊ PHƯỢNG
15-GÃ GIANG HỒ LƯƠNG THIỆN
16-BÀ CHÚA VỈA HÈ
17-NỖI NIỀM SINH TỬ BÊN RÌA CÔNG THỔ QUỐC GIA
18-CANH BẠC
19-ĐẤT LÊN, TÌNH NGƯỜI XUỐNG
20-NƯỚC MẮT NGƯỜI GIÀ
21-THẾ GIỚI NGƯỜI ĐIÊN
22-HUYỀN THỌAI THẦY RẮN HỔ
23-CHỮ TÌNH CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ