You are on page 1of 57

Số 50 Tháng 09/2011

Số 50 Tháng 09/2011
Quý độc giả thân mến, Karl Marx (sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818) là

Quý độc giả thân mến,

Karl Marx (sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818) là một nhà tư tưởng, nhà cách mạng nổi tiếng của Đức. Marx đã trưởng thành trong một thời kỳ hỗn loạn, giữa lúc các cuộc cách mạng đang diễn ra tại châu Âu vào năm 1848.

Tại nước Ý có các cuộc nổi dậy đòi dân chủ, tại Pháp chế độ quân chủ bị tiêu diệt, đồng thời người dân Hung đang đấu tranh đòi tự do và độc lập khỏi nền cai trị của người Áo. Trong lúc thể chế tiền đại nghị (pre-parliamentary) tại Đức được thiết lập thì nội chiến đang tàn phá nước Thụy Sĩ và thành phố Prague – trung tâm của các hỗn loạn do việc thành lập liên minh thuần Slav (a paan-slavic alliance). Riêng tại nước Anh, phong trào đòi dân chủ Chartism đang đe dọa lật đổ chính quyền.

Người dân châu Âu vào thời kỳ này đòi hỏi các chính quyền và xã hội phải giảm bớt các lạm dụng xấu xa gây nên do cuộc kỹ nghệ hóa, và đòi hỏi hủy bỏ các tàn tích phong kiến. Đây là giai đoạn thích hợp cho các tư tưởng lật đổ, cấp tiến, và Marx đã quan sát cuộc Cách mạng Pháp năm 1848, đã coi Công xã Paris (the Paris Commune) diễn ra vào năm 1871, là một kiểu mẫu của xã hội vô sản.

Chủ nghĩa xã hội của Marx với học thuyết Duy vật biện chứng có sức ảnh hưởng lớn tại các nước đang phát triển và các nước thuộc địa. Học thuyết Marx với phong trào Quốc tế Cộng sản đã góp một phần không nhỏ trên con đường đấu tranh dành quyền lợi cho giai cấp vô sản mà cụ thể nhất là công nhân và nông dân.

Trong nửa đầu thế kỷ 20, bốn phần mười nhân loại đi theo lý thuyết của Marx và họ tôn vinh ông như một vị Thánh. Tuy nhiên, theo như lời bình luận của giáo sư kinh tế David L. Prychitko thì giấc mơ ấy đã sụp đổ trước khi thế kỷ 20 chấm dứt. Hơn nữa, sau khi bước sang thế kỷ 21 thì vẫn chưa có nước nào thực sự thành công trong việc áp dụng lý thuyết của Marx vào trong đời sống thực tế.

Với chủ đề Marx – Những gì còn lại…, Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC gửi đến quý độc giá các bài bình luận, nghiên cứu về lý thuyết Marx hiện đại của các tác giả phương Tây lẫn Việt Nam.

*******

Thời gian vừa qua, PHÍA TRƯỚC đã có một số thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của độc giả. Sau số 50, tất cả các bài viết mới sẽ đăng trực tiếp lên trang chính tại www.phiatruoc.info, sẽ được lưu lại dưới dạng PDF và phát hành mỗi ba tháng.

PHÍA TRƯỚC rất mong đón nhận các bài viết mới từ độc giả khắp nơi, gửi về contact.phiatruoc@gmail.com. Tạp chí chân thành cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng PHÍA TRƯỚC trong hơn 4 năm qua, và với tinh thần Ngòi bút của tri thức và Tinh thần của tuổi trẻ, PHÍA TRƯỚC sẽ tiếp tục cống hiến và chia sẻ đến quý độc giả những bài viết trung thực, phát huy sự sáng tạo, nâng cao ý thức về con người và xã hội, và – sẽ luôn là diễn đàn trao đổi ý kiến trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt.

Ban Biên TậpTạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚCTháng 9/2011

Ảnh bìa: Flickr—Tony Trần


 Tháng 9/2011 Ảnh bìa : Flickr—Tony Trầ n TẠP CHÍ THANH NIÊN PHÍA TRƯỚC Web

TẠP CHÍ THANH NIÊN PHÍA TRƯỚC

Web: phiatruoc.info Blog: phiatruoc.wordpress.com Facebook: facebook.com/phiatruoc Twitter: twitter.com/tapchiphiatruoc Email: contact.phiatruoc@gmail.com

BAN BIÊN TẬP

Võ Thụy Nhu-Hong Lan-Nhật Tân -Nguyên Ân-Đông A-Việt Quốc

THIẾT KẾ TRÌNH BÀY

Hậu Phú-Thanh Phong- Tín Nghĩa-Mai Khôi-Hồng Phúc

CỘNG TÁC VIÊN

Thiên Thai-Elbi-Tín Nghĩa-DBTT Ngọc Cầm-Miên Thy-Linh Sơn-Nhất Nam-Đặng Khương-Định Tường- Hiền Lƣơng-Đỗ Đăng Khoa

QUẢNG CÁO-AUDIO

Quốc Bình-Chinh Nhân-Tâm Kiên

WEBSITE

Kế Vũ-Thanh Phong

Châu Mỹ

Tap Chi Phia Truoc PO Box 462220 Escondido, CA 92046 USA

Châu Âu, Châu Á

10 rue Louis Rossel 35000 Rennes FRANCE

Mục lục Trung - Ấn: Va chạm từ biển Đông Bốn giai đoạn chính trong

Mục lục

Trung-Ấn: Va chạm từ biển Đông

Bốn giai đoạn chính trong quan hệ Việt-Trung

Sức mạnh của Internet

Giới trẻ và tự do thông tin

Chuyện bầu chọn “7 New Wonders of Nature”

Occupy Wall Street lan rộng khắp thế giới

Khảo sát tiến trình lịch sử triết học phƣơng Tây

Phê phán các chủ nghĩa: tƣ bản, xã hội, cộng sản

Tính không tƣởng của Chủ nghĩa Xã hội

Chủ nghĩa Mác

Những ngộ nhận về học thuyết Mác

Những tín đồ của Mác đã „giết‟ Mác

Marx—Những gì còn lại

Khoa học Việt Nam: Sự ra đi của những tài năng

Vấn đề giáo dục nhân cách ở Việt Nam hiện nay

Giáo dục Việt Nam: Điều gì đang diễn ra?

Ký ức về một ngã ba sông huyền thoại

Steve Jobs: 20 lời trích dẫn xuất sắc nhất

Steve Jobs: 20 lời trích dẫn xuất sắc nhấ t Chính trị Xã hội Kinh tế

Chính trị

Xã hội

Kinh tế

Tiêu điểm

Chuyên

mục

4

6

8

10

12

19

23

25

27

31

37

39

44

45

48

50

53

CHÍNH TR - XÃ HI

Ấn Trung
Ấn
Trung

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Va

chạm

từ

biển

Đông

Thủ tướng Trung Quốc (trái) và người đồng nhiệm Ấn Độ. Reuters
Thủ tướng Trung Quốc (trái) và người đồng nhiệm Ấn Độ. Reuters

Hồng Phúc dịch và biên tập

Tuần trước, một trong những tranh chấp vốn khó khăn nhất thế giới đã trở nên tệ hại hơn. Nhiều tin tức gần đây cho rằng tập đoàn Oil and Natural Gas Corporation (ONGC) thuộc Ấn Độ đang hội đàm với Chính phủ Việt Nam để cùng thăm dò và khai thác hydrocarbon ở biển Đông. Đây có thể là bước tiến bình thường ở nhiều nước khác trên thế giới nhằm phát triển các nền kinh tế năng động của họ cũng như thúc đẩy mối quan hệ song phương giữa hai nước. Tuy nhiên, biển Đông là vùng biển khác với nhiều nơi trên thế giới, vì thời gian qua đã có nhiều nước lên tiếng tuyên bố chủ quyền tại đây. Thêm nữa, ngoài các quốc gia Đông Nam Á, Trung Quốc cũng lên tiếng tuyên bố hầu như gần hết cả khu vực biển Đông với đường ―lưỡi bò 9-đoạn‖ và xoáy lên làn sóng căng thẳng trong khu vực. Các công ty khai thác dầu nhìn thấy cơ hội tràn ngập tại vùng biển này nhưng hầu hết chưa có công ty nào mạnh dạng đào sâu các nguồn tài nguyên, mặt khác, mối hỗn loạn chính trị lại là điều mà nhiều chuyên gia lo ngại.

Vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc đã kéo

dài từ nhiều thập kỷ qua. Nhưng mối căng thẳng gần đây nhất bắt đầu bùng lên trong mùa hè vừa qua sau khi một tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò một tàu địa chấn của Việt Nam. Và hiện nay với sự xuất hiện của Ấn Độ – nước duy nhất trong khu vực châu Á có thể xem là một thách thức lớn đối với Trung Quốc – thì sự hiện diện của họ chỉ làm tình hình thêm trầm trọng. Gần đây, một bài xã luận đăng trên báo Global Times dưới sự kiểm duyệt của Trung Quốc – một cơ quan ngôn luận dành cho các quan chức hiếu chiến trong nhóm lãnh đạo ở Bắc Kinh, đã nghiêm khắc lên tiếng cảnh báo rằng Ấn Độ ―không nên tiếp tục theo đuổi chương trình hành động trong khu vực này‖.

Bài báo còn tiếp, ―Ấn Độ nên nhớ rằng, các hành động của họ ở Biển Đông sẽ đẩy Trung Quốc đến giới hạn. Trung Quốc hoan nghênh tình hữu nghị Trung-Ấn, nhưng điều này không có nghĩa là Trung Quốc đặt nó lên trên hết…

Trung Quốc cố gắng duy trì nền hòa bình nhưng đồng thời cũng có giới hạng. Trung Quốc cần phải nhắc nhở họ về các giới hạn cũng như sức chịu đựng này.‖

Cả

nhấn

mạnh là họ có chủ quyền "không

Bắc

Kinh

Nội

là họ có chủ quyền "không Bắc Kinh Hà Nội thể chối ngoài biển Đông. Đài

thể chối

ngoài biển Đông. Đài Loan, Indonesia, Philippines, Brunei, và

Malaysia cũng đồng thời ra các tuyên bố tương tự. Tuy nhiên, do có lượng khoáng sản và dầu hỏa khổng lồ, và đồng thời cũng là mặt trận chiến lược và tuyến đường vận chuyển quan trọng bật nhất của thế giới, nên không có điều gì ngạc nhiên khi các quốc gia lân cận lên tiếng tuyên bộ lợi ích của họ tại đây.

Trong chuyến thăm châu Á năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton cũng lên tiếng yêu cầu giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông một cách hòa bình cũng như đảm bảo an toàn cho tuyến đường vận chuyển trong hải phận quốc tế. Đối với người Mỹ, cách nói "ưu tiên ngoại giao hàng đầu" là để tái khẳng định Washington có quyền can thiệp vào khu vực này.

Thời gian gần đây, Ấn Độ đã tăng cường các quan hệ quốc phòng với Việt Nam, và thành công trong việc tiếp cận các cảng hải quân cũng như giúp Hà Nội chuẩn bị một hạm đội tàu ngầm mới. Bắc Kinh đã hoảng sợ bởi sự hợp tác Việt-Ấn, nhưng ít nhất không phải vì sự gần gũi về mặt địa lý giữa Việt Nam đối với đảo Hải Nam – trụ sở của hạm đội tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc. Theo báo cáo xuất hiện vào cuối tháng

cãi" ở các quần đảo

Trang 4

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

H T R Ị - X Ã H Ộ I www.phiatruoc.info dãy núi gần H i

dãy

núi

gần H i m a

l

a

y a

.

Nhưng trong khi

sự khác

biệt có

nhiều

hay

ít

đang

bị

đóng

băng

trong

nhiều

thập

kỷ

qua thì cuộc đối đầu trên biển có

thể chứng minh nhiều điều khó

đoán

trước

được.

Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang và chủ nhà, Thủ tướng Manmohan Singh, tại Ấn Độ hôm 12.10.2011. Ảnh: AFP

Singh, tại Ấn Độ hôm 12.10.2011. Ả nh: AFP Việt Nam và Ấn Độ hôm 12/10/2011

Việt Nam và Ấn Độ hôm 12/10/2011 đã ký hiệp định hợp tác về thăm dò dầu khí ở vùng Biển Đông

bảy năm nay, một tàu Trung Quốc đã cố gắng chặn tàu chiến của Ấn Độ, Airavat INS, ngay ngoài khơi bờ biển của Việt Nam. Tàu Airavat lúc ấy đang thực hiện chuyến thăm thường xuyên đến cảng Hải Phòng. Trước đó hai tháng, một bế tắc xảy ra giữa các tàu hải quân Trung Quốc và tàu Việt Nam đã gây lên một mùa hè ầm ỉ mang tính lịch sử khi nhiều người Việt trong nước lẫn ngoài nước xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn.

Trung Quốc có một

sự hóa

đường

chung (và cũng có tranh chấp)

Ấn

Độ

biên giới

quân

Gwynne Dyer, một cựu chiến binh châu Á bình luận rằng, ―bạn có thể tấn công biên giới đất liền nếu bạn thực sự muốn, nhưng đó là một quyết định rất lớn với những hậu quả khôn lường: một là tuyên bố chiến tranh, hoặc ngược lại. Ngay cả các chính phủ kiêu ngạo hay hoang tưởng nhất cũng sẽ suy nghĩ thật

kỹ và gặp nhiều khó khăn trước khi bắt tay vào một quyết định như vậy, và thường họ kết thúc bằng cách quyết định không làm điều đó. Trong khi đó, trên biển, bạn có thể dễ dàng trôi dạt vào một cuộc đối đầu quân sự nghiêm trọng mà không bên nào có ý

định cả.‖

Và kịch bản có thể xảy ra (dù vô ý) xung đột giữa hải quân Trung- Ấn sẽ chỉ là vấn đề thời gian. Việc dự kiến của Ấn Độ tiến sâu vào khu vực biển Đông có thể là để đáp lại sau một loạt các dự án của Trung Quốc trải khắp các vùng Ấn Độ Dương và quanh Ấn

trải khắp các vùng Ấn Độ Dương và quanh Ấn S ố 5 0 - T

S 50 - Tháng 09/2011

Độ

"chuỗi ngọc trai". Theo một số nhà chiến lược Ấn Độ, Trung Quốc đã thiết lập lên các cơ sở hải quân và theo dõi diễn biến từ Miến Điện đến Việt Nam, với một cảng chiến lược trong vùng biển sâu đặt tại Hambantota, Sri Lanka.

Vì vậy, ông Harsh Pant, một học giả chuyên về các vấn đề quốc tế tại King University ở London, viết rằng Ấn Độ nên chơi các trò chơi tương tự.

Ông viết, ―Ấn Độ phải mạnh mẽ bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên toàn bộ biển Đông. Ấn Độ cũng phải xây dựng các mối quan hệ đối tác chiến lược đáng tin cậy với các quốc gia khác trong khu vực để ngăn chặn sự thống trị của Trung Quốc ở châu Á vì nếu không thì điều này sẽ làm suy yếu lợi ích an ninh Ấn Độ cũng như toàn khu vực.‖

Trên một khía cạnh chiến lược, nhận định của ông Pant rất đúng và mang nhiều ý nghĩa: các nước đang lên như Ấn Độ cũng như Trung Quốc nên thỏa hiệp quyền lợi riêng của họ để xoa dịu những nỗi sợ hãi ảo tưởng của các nước khác. Tuy nhiên, mặc dù sức mạnh của quan hệ kinh tế và tình bạn giữa hai nước thường xuyên xuất phát từ cả hai thủ đô, rất ít người nghi ngờ rằng sự nổi lên của Ấn Độ và Trung Quốc sẽ dẫn đến chiến tranh. Trong một khu vực nhiều phức tạp thì những va chạm thường không thể tránh khỏi. Và khi hai quốc gia có vũ khí hạt nhân với dân số bao gồm gần 1/3 của nhân loại va chạm thì tổn thất tất nhiên sẽ rất nặng – và hậu quả là khôn lường.

Ishaan Tharoor Nguồn: Time

- được

biết

đến với

tên gọi

19.09.2011

Trang 5

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Bốn giai đoạn chính trong quan hệ Việt-Trung* Nguyễn Hùng Phía Trước chuyển ngữ
Bốn giai đoạn chính trong
quan hệ Việt-Trung*
Nguyễn Hùng
Phía Trước chuyển ngữ
Nguyễn Hùng Phía Trước chuyển ngữ Biểu tình tại Hà Nội—14.08.11. Ảnh: Ba Sàm
Biểu tình tại Hà Nội—14.08.11. Ảnh: Ba Sàm
Biểu tình tại Hà Nội—14.08.11. Ảnh: Ba Sàm

Từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc đã trải qua khoảng bốn giai đoạn chính.

Giai đoạn đầu tiên, từ năm 1949 đến năm 1978, được đặc trưng bởi tình đồng chí xuyên qua nền tảng ý thức hệ, tin cậy và hỗ trợ lẫn nhau. Trong suốt cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp, sau đó là Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam, thì Trung Quốc đã đóng một vai trò vững chắc và không thể thiếu trong việc hỗ trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).

Giai đoạn thứ hai bắt đầu khi Việt Nam xâm lược Campuchia vào năm 1978 và chiến tranh biên giới Việt-Trung vào năm 1979, và sau đó kết thúc vào năm 1990. Đây là một trong những thời kỳ đặc trưng đối lập, chiến tranh và mất lòng tin lẫn nhau trong quan hệ Việt- Trung.

đầu vào

năm 1991, trong đó quan hệ ngoại giao giữa hai nước phục hồi đến năm 2007. Những năm đầu của thời kỳ này, sự cải thiện nhanh chóng trong quan hệ song

Giai đoạn

thứ ba

bắt

phương dựa trên ―mười sáu chữ vàng‖ đã được chứng kiến rõ ràng, ―láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai‖ nhằm thúc đẩy kinh tế và giải quyết các tranh chấp biên giới, theo chiều hướng có lợi cho phía Trung Quốc. Tuy nhiên, tinh thần hợp tác và tình hữu nghị này đã làm suy yếu trong giai đoạn sau đó do mối quan tâm của Việt Nam về sự lớn mạnh của Trung Quốc và các hành động mạnh bạo của họ ở biển Đông.

Giai đoạn thứ tư, bắt đầu vào năm 2008, thể hiện qua sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc chống lại các nỗ lực của Việt Nam trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ở biển Đông. Tương lai của quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phụ thuộc vào sự tương tác giữa hai nước (về địa lý và lịch sử) và hai biến số (chính sách của Trung Quốc và thay đổi trong mối quan hệ của các cường quốc).

Về mặt địa lý, Việt Nam là một đất nước nhỏ bé sống trong cái

Nam là một đất nước nhỏ bé sống trong cái bóng của một người hàng xóm

bóng của một người hàng xóm khổng lồ. Đó là việc bình thường đối với một nước lớn trong cuộc mưu tìm ảnh hưởng đối với một người hàng xóm nhỏ hơn, và việc nước nhỏ hơn nổ lực chống lại sự bành trướng để bảo vệ nền độc lập cho đến khi hai bên đạt được một thỏa hiệp có lợi thì cũng là chuyện dễ hiểu. Trong quá khứ, khi hai nước cùng chia sẻ một hệ tư tưởng và phải đối mặt chung một kẻ thù – những ‗đế quốc‘ chống chủ nghĩa cộng sản – thì mối quan hệ tất nhiên chặt chẽ và vững chắc. Nhưng sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu, và nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển mạnh cũng như hội nhập với thế giới thì các tư tưởng ý thức hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu suy yếu, đồng thời làm sống lại mối quan hệ theo dạng nước lớn-nước nhỏ, và chiến lược của Việt dần mất lòng tin vào Trung Quốc.

cảm

thấy bị đe dọa bởi các biến đổi triệt để trong thế giới cộng sản thì họ quay sang tìm kiếm đồng minh cộng sản với Trung Quốc

Năm

1990,

khi

Việt Nam

Trang 6

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

nhằm chống lại mối đe dọa ‗diễn biến hòa bình' của phương Tây. Nhưng Trung Quốc một mặt chấp nhật sự giải hoà, nhưng đã bác bỏ yêu cầu liên minh của Việt Nam. Vì không được sự hậu thuẫn chặc chẽ bởi Trung Quốc, nên Việt Nam bắt đầu có những bước đi khác nhằm định hướng lại chính sách đối ngoại đối với các nước láng giềng và phương Tây, cũng như cố gắng cải thiện hồ sơ của mình trên thương trường quốc tế. Thành công của chính sách này mang lại kết quả bình thường hóa mối quan hệ Việt-Mỹ, đưa Việt Nam hội nhập vào các hệ thống ASEAN, và vừa qua đã trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc trong năm 2008 và Chủ tịch của ASEAN trong năm 2010.

Nếu về mặt địa lý và lịch sử kết hợp để minh chứng cho sự mất lòng tin của Việt Nam đối với Trung Quốc trong quan hệ song phương cơ bản này thì hành động của Trung Quốc từ năm 2008 đã trực tiếp khẳng định điều này. Một mặt, Trung Quốc tăng tốc xây dựng hải quân trong khu vực biển Đông, trong khi đó thì các trang web Trung Quốc bắt đầu công bố "kế hoạch xâm lược" chống lại Việt Nam. Mặt khác, Trung Quốc bắt đầu cảnh báo các

công

ty

dầu

mỏ

nước

ngoài

không nên tiếp

tục khai

thác

năng

lượng trong

khu

vực mà

Việt Nam tuyên

bố chủ quyền

trong

khi

đó

thì

họ

vẫ

tiếp

tục

khai thác dầu

trong

khu

vực

tranh chấp với Việt Nam.

Gần đây hơn, trong năm 2009, Trung Quốc đơn phương áp đặt một lệnh cấm đánh cá trong vùng biển Đông, bắt giữ ngư dân Việt Nam và công khai tuyên bố chủ quyền với hơn 80% diện tích khu vực biển Đông – một tuyên bố đã vi phạm nghiêm trọng khu kinh tế độc quyền của Việt Nam. Việt Nam đã phản ứng bằng cách khuyến khích các tàu đánh cá Việt Nam tiếp tục đánh bắt cá trong khu vực tranh chấp, mua bán vũ khí để tăng cường phòng thủ, và bất chấp sự phản đối từ phía Trung Quốc, Việt Nam vẫn tiếp tục đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông và tìm kiếm sự hợp tác của các nước khác.

Hoa

ràng rằng họ không chia sẻ quan điểm về các tuyên bố của Trung Quốc ở biển Đông, và phản đối bất kỳ nỗ lực nào liên quan đến

việc đe dọa các công ty Mỹ ‗tham

gia vào hoạt động kinh

pháp‘ cũng như ngăn cản sự tự do duy chuyển trong vùng biển Đông. Tuy nhiên, những hành vi hung hăng của Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng khiến Hoa Kỳ tranh thủ quay lại châu Á, bao gồm cả Việt Nam. Quyết tâm mới này của

Hoa Kỳ nhằm khuyến khích sự tin tưởng đối với các quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam, phải mạnh mẽ phản đối Trung Quốc, như đã được phản ánh tại cuộc đối thoại Shangri-La trong tháng 6 năm 2010 trong Hội nghị

Kỳ đã

có những

ý kiến

tế hợp

Hội nghị rõ Kỳ đã có những ý kiến tế hợp Tổng bí thư Việt Nam

Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào tại Ðại sãnh đường Nhân dân ở Bắc Kinh trong chuyến thăm tháng 10/2011. Ảnh: Reuters

Kinh trong chuyến thăm tháng 10/2011. Ả nh: Reuters S ố 5 0 - T h

S 50 - Tháng 09/2011

thượng đỉnh châu Á Đông lần thứ năm và ADMM-Plus tại Hà Nội trong tháng 10 năm 2010.

Đồng thời, quan hệ quân sự Việt- Mỹ đã được cải thiện rõ rệt, thông qua các cuộc đối thoại chính trị-quân sự đầu tiên trong năm 2009 và tiếp theo là các cuộc đối thoại về chính sách quốc phòng trong năm 2010. Những hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông đã phần nào giúp hội tụ lại những lợi ích về mặt chiến lược giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và giúp đẩy mạnh mối quan hệ hữu nghị nhanh chóng, bất chấp nỗi lo sợ "diễn biến hoà bình" của Việt Nam.

Tất cả điều này cho biết, Việt Nam không muốn chống lại Trung Quốc nếu không cần thiết. Về ý thức hệ, Việt Nam vẫn cảm thấy thoải mái với Trung Quốc hơn so với Hoa Kỳ. Về kinh tế, Trung Quốc là một thị trường đầy tiềm năng, cũng là một nguồn hỗ trợ tài chính và một mô hình phát triển mà Việt Nam có thể học theo. Trở ngại lớn nhất đối với mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước hiện nay vẫn là các mâu thuẫn và tranh chấp xoay quanh khu vực biển Đông.

Việt Nam đã tuyên bố một phần rằng họ sẽ không nhượng bộ thêm nữa đối với những yêu cầu khó chấp nhận của Trung Quốc. Do đó, giải pháp hòa bình cho vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào sự kiềm chế và lòng hào hiệp của Trung Quốc. Nếu không thể đáp ứng như mong đợi, thì Trung Quốc sẽ chỉ đơn giản đẩy Việt Nam và các nước khác xa hơn và hợp tác chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ.

Nguyễn Hùng là giáo sư ngành chính phủ và quan hệ quốc tế tại Đại học George Mason.

Nguồn: The Diplomat

*Tựa đề do PHÍA TRƯỚC đặt

Trang 7

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Điều này không phải riêng ở các quốc gia độc tài. Các chính phủ trên khắp thế giới, trong đó có cả chỉnh phủ do dân bầu ra, đã nổ lực trong nhiều năm liên tiếp nhằm kiểm soát các phương tiện truyền thông Internet và mạng xã hội, bởi sự lo ngại về tiềm năng kích động bạo lực, lan truyền thông tin trái chiều, phát tán hình ảnh khiêu dâm và đặc biệt là các nhà bất đồng chính kiến.

trái chiều, phát tán hình ảnh khiêu dâm và đặc biệt là các nhà bất đồng
trái chiều, phát tán hình ảnh khiêu dâm và đặc biệt là các nhà bất đồng
Ảnh: RSF
Ảnh: RSF

Nhưng ở châu Á, nơi tất cả mọi thứ đều có – từ các nền dân chủ tự do đến chế độ độc tài toàn trị và cả những quốc gia hay thể chế nằm ở thế trung dung – đang ngày càng nhận ra rằng kiểm soát nội dung trực tuyến, bao gồm cả các bất đồng ý kiến, là việc hầu như không thể thực hiện được.

Ngay cả Trung Quốc, nơi mà có nhiều quy định mạnh mẽ về Internet cũng đang phải vật lộn và tìm cách làm thế nào để đối phó với các trang blog đang ngày càng trở nên phổ biến bởi hàng trăm hàng triệu người đọc, và việc ngăn chạn chúng là hoàn toàn rất khó để ngăn.

"Chính phủ đang cam kết khá nhiều nguồn lực và thời gian để ngăn chặn các trang web và tôi nghĩ rằng đó là một phản ứng hoảng loạn", ông Phil Robertson, Phó giám đốc bộ phận Châu Á của Human Rights Watch ở Bangkok cho biết.

"Họ có một số cách ngăn chặn tạm thời, nhưng về lâu dài, họ sẽ không có hiệu quả bởi vì mọi người vẫn sẽ tìm cách này hay cách khác để có được những tin tức mà họ muốn nghe.

"Một khi người dân đã được tiếp xúc với Internet và nhận ra

rằng sức mạnh thông tin miễn phí có thể hiện ra trước mắt của bạn thì đó là một cảm giác khác biệt để chế ngự thêm sực mạnh."

Sức mạnh đó đã được diễn ra trong năm nay tại Ai Cập, Libya và Tunisia, nơi chính phủ đã bị lật đổ bởi các phong trào do mạng Internet hỗ trợ. Hoa Kỳ đã cố gắng ngăn chặn phổ biến các loại cáp Wikileaks và Thủ tướng Anh David Cameron đe dọa sẽ tạm thời kiểm duyệt các trang mạng xã hội sau khi các cuộc bạo loạn xảy ra hồi tháng

8/2011.

Châu Á cũng đang ra sức học tập về sức mạnh phổ biến của thế giới Internet.

Tại Ấn Độ, chính quyền đã đi lùi lại một bước vào tháng trước khi chiến dịch chống tham nhũng được nhân rộng trên Facebook, Twitter và các trang nhiều mạng xã hội khác và đã thu hút hàng chục ngàn người đến các địa điểm biểu tình.

Nhưng cho tới nay thì hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy sự cố gắng của chính phủ có thể dập tắt được các chiến dịch trực tuyến.

mà nó đang phát

triển mạnh, tôi không nghĩ rằng

"Với tốc độ

chính phủ thực sự có thời gian làm bất cứ điều gì để cấm các phong trào đó", ông Vijay Mukhi, một chuyên gia an ninh mạng cho biết.

Vô ích

Mukhi cho biết chính phủ đã ngăn chặn một số trang web, nhưng với số lượng lớn người sử dụng Internet toàn cầu cùng với hàng trăm triệu kỹ sư công nghệ thì việc vượt qua những khó khăn ấy chưa phải là điều gì đó nghiêm trọng.

"Chính phủ Ấn Độ không nhận ra rằng ngăn chặn các trang

web là một nhiệm vụ vô ích bởi

việc truy cập các

trang bị cấm đã trở nên quá dễ dàng khi có thể dùng các chương trình [vượt tường]

khác," ông nói.

"Họ chỉ là giúp phổ biến thêm các trang web ấy với lưu lượng truy cập nhiều hơn mà thôi."

Một nghiên cứu dựa trên 37 nước tài trợ bởi Liên hợp Quốc do Freedom House thực hiện đầu năm nay, cho biết rằng Nam Triều Tiên, quốc gia với số khoảng 80% hộ gia đình có truy cập vào Internet, là một trong hai nền dân chủ trên thế giới ra sức ngăn chặn người dân truy cập vào một số trang mạng.

vì ngày nay

trên thế giới ra sức ngăn chặn người dân truy cập vào một số trang mạng.

Trang 8

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Nguồn: Freedon House
Nguồn: Freedon House

Hàn Quốc sàn lọc nhiều nội dung trực tuyến có liên quan đến Bắc Triều Tiên, vì trên thực tế thì họ vẫn đang trong tình trạng chiến tranh. Tuy nhiên, công dân Hàn Quốc ngày đêm vận động chính phủ và yêu cầu giảm mức độ ngăn chặn để họ có thể truy cập nhiều hơn.

chức

Tổng giám đốc

của

tổ

Electronic

Frontier

Foundation

viết

trong

một

thư

rằng,

"không có

nền dân

chủ lành

mạnh nào có

thể

tồn

tại nếu

như

tự

do

ngôn

luận

luôn

bị

xâm hại‖.

"Việc kiểm soát trên bình diện

biểu trực

tuyến ở Nam Hàn thiếu sự giám sát và rõ ràng là ngăn chặn người dân truy cập vào các tài liệu, nội dung lịch sử, chính trị

và nghệ thuật giá trị," bức thư nói.

Singapore ngăn chặn một danh sách khoảng 100 trang mạng chủ yếu là các trang với hình ảnh khiêu dâm, nhưng không thanh lọc bất kỳ trang web chính trị nào. Và mặc dù họ kiểm soát nghiêm ngặt trong

rộng các bài phát

các vấn đề thảo luận chính trị, nhưng họ cho phép công dân chỉ trích chính sách của chính phủ - rõ ràng nhất là trong thời gian năm gian chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử vừa qua.

Đảng Nhân dân Hành động có thể giành chiến thắng một cách dễ dàng trong cuộc bầu cử vừa rồi nhưng họ đã nhận được sự ủng hộ thấp nhất kể từ khi thành lập đảng, và phe đối lập đã thắng lớn trong lịch sử.

Nước láng giềng Malaysia cam kết trong năm 1996 rằng họ không áp đặt các điều khiển kiểm duyệt Internet và đã được khen thưởng đặc biệt với các khoản đầu tư từ những công ty công nghệ nước ngoài như Microsoft và Cisco Systems.

Quyết định trên đã dẫn đến nhiều lời bình luận chính trị trực tuyến sôi động. Các nhà phân tích nói rằng chính phủ Malaysia đã lặng lẽ xem xét một số hình thức sàn lọc thông tin trong các cuộc tranh luận, nhưng cuối cùng họ đã quyết định làm lại điều đó.

"Chính phủ cảm thấy hầu như

bất lực trong việc cố

gắng quản

ý

lý các

kiến bất đồng

trực

tuyến

bởi

các

phương pháp như đe dọa đóng cửa các tờ báo và nhắm mục tiêu vào các bloggers chỉ làm cho cư dân mạng tức giận hơn và dẫn đến

khả năng

kích

chống lại chính phủ,"

Ông Kian Minh,

tại

trường đại học UCSI

người đang dạy

đả

ở Kuala Lumpur cho biết.

"Cư dân mạng đã rõ

lệ

và chính

phủ rất khó để tìm cách để làm những gì ngược lại vì lo ngại các phản

rất nhiều

ràng được khích

ứng ngược, ông Ong nói.

Phần lớn châu Á đều cảm thấy rằng nếu tiếp tục gia tăng kiểm duyệt và áp đặt bất kỳ loại điều nào trên Internet có thể sẽ dẫn đến kết quả tiêu cực.

―Thường

chính phủ

nhắm vào một nhân vật hay nội dung nào đó thì tự động sẽ gây sự chú ý,‖ Cherian George, giáo sư tại đại học Công nghệ

thì

nếu

Nanyang ở Singapore cho biết.

"Phản ứng chung là blogger bị kiểm duyệt tự động trở nên nổi tiếng và được nhiều người biết đến.‖

mà các

chính

làm trong

ngắn hạn và phải thực hiện một

cách nhanh chóng là có thể dập

tắt

liên lạc nếu có bạo loạn xảy ra,

đó không

phải

giải

vững.‖

hiệu và bền

thượng sách hay một

nhưng như

kênh thông tin

"Tình hình duy

nhất

thể

phủ

tất

cả các

đã nói,

hữu

pháp

Đỗ Đăng Khoa chuyển ngữ

thể phủ có tất là cả các đã nói, hữu pháp Đỗ Đăng Khoa chuyển ngữ

Trang 9

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Những con số và sự tự do V iệt Nam là một trong những quốc
Những con số và sự tự do
V iệt Nam là một trong những
quốc gia có
tỉ
lệ người
sử
Không biết tự lúc nào tôi đã ghiền Internet, một thứ ghiền đã
mang tính phổ biến toàn cầu của thời đại công nghệ thông tin.
Internet ra đời là một bước tiến vĩ đại của nhân loại, nó mang
con người lại gần nhau hơn, kết nối những nền văn minh, và
đặc biệt chia sẽ thông tin tới từng ngõ nghách của cuộc sống.
Tất nhiên, về sự hữu ích của Internet đã có nhiều sách báo đã
đề cập nên người viết bài này không đi sâu mà chỉ trình bày vài
điều quan tâm từ Internet.
Thiên Thai
Giới trẻ và chính trị

dụng Internet vào loại cao so với thế giới. Việc này đã làm cho giới truyền thông trong nước rất tự hào và thường rêu rao khắp nơi. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc ở đó có tự do thông tin mà ngược lại, theo tổ chức Phóng viên Không biên giới (Reporters sans frontiers), lại là quốc gia được nhận định là một trong những kẻ thù của Internet. Tại sao có nghịch lý này?

Hiện nay, Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ rất đông so với các nước lân cận. Lẽ dĩ nhiên, họ chiếm phần lớn trong số những người sử dụng Internet. Ngày nay, con người nói chung và đặc biệt thế hệ trẻ nói riêng, do đó tiếp cận với thông tin và tri thức của nhân loại rất dễ dàng. Đó là một đặc quyền mà thế hệ đi trước không có. Vậy, họ thường lên mạng để làm gì?

Theo những con số thống kê không chính thức thì chủ yếu

Internet được dung để giải trí đơn thuần như đọc tin tức, những vụ án giật gân, xcăngđan của giới

nghệ sĩ, chat chit

chơi và nghiện game online như

những trò bắn, chém, giết mang

đầy tính bạo lực

hơn là đã có trờng hợp các ―game thủ‖ mang những cái học được từ game và những trò bạo lực đó vào cuộc sống. Nếu tranh thủ lướt qua những trang mạng ở Việt Nam thì cũng không thể trách các bạn trẻ được khi ở đó đầy rẫy những cám dỗ.

Và đặc biệt là

Nguy hiểm

Một câu hỏi đặt ra là, liệu giới trẻ có quan tâm tới chính trị, tình hình kinh tế xã hội của đất nước? Qua những tìm hiểu trực quan và vốn sống của người viết bài này cho thấy rằng họ có để ý nhưng rất mơ hồ và hời hợt, chỉ một số ít trong đó nghiêm túc tìm hiểu. ―Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước‖ rõ ràng là một nhân định không mới.

Tuy nhiên, học sinh thường được khuyên nhủ rằng hãy học cho

giàu cho

nước nhà – một trong những lời

khuyên rất chung chung. Vả lại, họ không được tạo một môi trường thuận lợi để nuôi dưỡng và phát huy tinh thần trách nhiệm công dân. Họ bị tuyên

giỏi

để sau

này làm

truyền,

định

hướng

trong

suy

nghĩ, bất cứ cấp học nào

– từ

thấp tới cao – người học cũng bắt buộc học mớ lý thuyết chính trị của chính đảng cầm quyền cùng

quan. Nó tao

tâm hồn

hệ

nên sự xơ cứng trong

người học. Và tất nhiên, mọi nổ

lực thoát ra vòng kiềm tỏa thường được khuyến cáo là không nên.

tư tưởng

liên

Chính trị là gì nếu không phục vụ

cho đời sống của nhân dân? Đấu tranh cho các quyền cơ bản của loài người là một quá trình lâu dài và gian khổ. Thật bất ngờ là trong khi nhiều nước thừa hưởng thành quả của nó thì Việt Nam vẫn còn định hình cho con đường của mình. Đảng phái, đa nguyên, tự do, dân chủ là một trong những đề tài cấm kỵ ở Việt Nam, đây hẳn là những chủ đề nhạy

cảm

Và bất cứ ai vô tình hay

hữu ý, công khai hay bí mật bàn luận (mang tính xây dựng hay kích động) sẽ dễ dàng bị quy chụp là những phần tử bất hảo và dễ dàng bị công an ― sờ gáy‖. Một ranh giới thật mong manh. Họ không được đóng bảo hiểm cho những hành động hay phát ngôn mang tính tương tự.

Tự do và “ông tổng biên tập”

Tự do thông tin là một yếu tố căn

bản dẫn tới một

bạch. Cho đến ngày nay, ở Việt

Nam chưa có điều này. Từ trung

ương tới

trăm tờ báo giấy báo mạng, tạp

dường như chỉ có một

vị tổng biên tập. [Vị này là ai hẳn chúng ta đã biết.] Những tờ báo cấp tiến bị đình bản vì dám đăng các thông tin chưa kiểm duyệt, vài trung tâm nghiên cứu xã hội

chí

có hàng

xã hội minh

địa

phương

nhưng

kiểm duyệt, vài trung tâm nghiên cứu xã hội chí có hàng xã hội minh địa

Trang 10

CHÍNH TR - XÃ HI

bị giải thể, nhiều website, blog đưa tin nhạy cảm bị chặn, đánh

sập

xã hội nổi tiếng vì sự hữu ích và được ca tụng trên toàn thế giới như Facebook cũng bị ngăn chặn ở Việt Nam, hay như Vietnamnet là một báo điện tử nối tiếng cũng bị tin tặc tấn công làm nhiều đợt và tới nay gần như ngừng hoạt động. Và để xác định thủ phạm dường như là công việc không

mấy khó khăn

Một thời bao cấp

chí như trang mạng

thậm

trong kinh tế đã đưa toàn dân tới

khủng hoảng trầm trọng, nay vẫn còn bao cấp trong tư tưởng và ngăn cản quyền tiếp cận thông tin của công dân. Điều này, rõ ràng đã đi ngược lại xu hướng

phát triển của nhân loại thế kỉ

XXI.

Tình yêu quê hương đất nước của mỗi người dân Việt Nam, qua chiều dài của lịch sử với những

www.phiatruoc.info

biến động, thăng trầm vẫn được chứng minh nó không hề phai nhạt, và đã được minh chứng qua 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở hai thành phố lớn của đất nước Hà Nội và Sài Gòn mùa hè vừa qua.

Tuy nhiên, lại một lần nữa dưới sức ép của gã hàng xóm khổng lồ tham lam và không muốn kéo dài ―tiền lệ xấu‖ dám coi thường ―sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng‖, những cuộc biểu tình yêu nước tạm thời kết thúc trong sự trấn áp mạnh mẽ và thô bạo. Đáng chú ý và phẫn nộ hơn là các chiến dịch tuyên truyền, bôi nhọ, xuyên tạc hành động ý nghĩa của nhân dân, chí sĩ, học giả, trí thức lại một lần nữa được truyền thông trong nước mang ra sử dụng. Điều này không những không mang tính giáo giục cho thế hệ trẻ mà làm lệch lạc đi cái

S 50 - Tháng 09/2011

nhìn về tình yêu nước nồng nàn, và vô hình chung gây ra hố sâu ngăn cánh nhân dân và chính quyền, khiến lòng người ly tán trong lúc cần huy động sức mạnh toàn dân tộc.

Tình hình thế giới trong thời gian gần đây có nhiều sự kiện xảy ra dồn dập, và Internet đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc mở rộng và cung cấp thông tin. Mùa xuân Ả-Rập ở Bắc Phi là một trong những minh chứng và hồi chuông cảnh tỉnh cho những chế

Sự

độ một đảng, độc tài còn lại

ràng buộc và kiểm duyệt thông tin trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay chỉ khuyến khích giới trẻ tìm ―mọi nổ lực thoát ra vòng kiềm tỏa‖ và tìm đến sự thật nhanh hơn.

T.T. © 2011 TCPT số 50

nổ lực thoát ra vòng kiềm tỏa‖ và tìm đến sự thật nhanh hơn. T.T. ©
nổ lực thoát ra vòng kiềm tỏa‖ và tìm đến sự thật nhanh hơn. T.T. ©

Trang 11

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Nếu quả thực Vịnh Hạ Long xứng đáng đẳng cấp địa danh du lịch hàng đầu, thì không cần đến danh hão, bằng chính thực lực vun đắp, quản lí, thu hút khách của các cơ quan chức năng cũng sẽ tạo được nhiều lợi ích kinh tế cho nước nhà. Nên có tầm nhìn xa, nếu quảng bá danh thơm lừng lẫy, kéo gọi khách đến mà khả năng tổ chức, quản lí yếu kém thì cái danh ấy không có tác dụng lâu dài… Với tôi, Vịnh Hạ Long thật tuyệt và đang chờ đợi những nhà quản lí có bản lĩnh, tầm nhìn để biến nó thành viên ngọc du lịch của Việt Nam! Thế Phong tng hp

T h ế P h o n g t ổ n g h ợ p Không
T h ế P h o n g t ổ n g h ợ p Không

Không có cơ sở khoa học

Hiện tại Việt Nam đang ráo riết vận động cuộc bầu chọn cho Vịnh Hạ Long trở thành 1 trong 7 Kì quan thiên nhiên của thế giới. Nhìn bề nổi, đó quả là một ―công cuộc‖ đầy hào hứng thể hiện tình yêu nước, lòng tự hào dân tộc và mang lại nhiều lợi ích to lớn cho kinh tế, văn hóa, du lịch nước nhà. Có vẻ như trước miếng bánh ngọt béo bở này, nhiều quốc gia đang cố lao vào ―trận chiến‖ bình chọn đầy khí thế mà đôi khi cái được chưa biết là bao nhiêu nhưng trước hết đã thấy nguy cơ tất cả chỉ là trò cười.

Năm 2007, theo nhiều tờ báo đưa tin, khi New Open World Corporation (NOWC) công bố danh sách 7 Kì quan thế giới mới, tổ chức UNESCO đã lên tiếng thẳng thừng phủ nhận kết quả này. Cùng

với

các chuyên gia nghệ thuật,

UNESCO cho rằng kết quả cuộc bầu chọn này không hề có tính học

thuật chuyên môn cao, không căn cứ theo một tiêu chí khoa học rõ ràng. Kết quả bầu chọn qua

Internet và điện thoại di động này chỉ phản ánh tính chất riêng tư, cảm tính và hoàn toàn phục vụ cho nhu cầu tự quảng bá quốc gia. Nó không có bất kỳ đóng góp nào về mặt ý nghĩa và bền vững cho việc phòng giữ các công trình được chọn.

Chiến dịch bầu chọn "7 Kỳ quan thế giới mới" là sáng kiến của người Thuỵ Sĩ Bernard Weber phát động năm 1999. Việc lựa chọn được tiến hành với các lá phiếu tự do và lá phiếu phải trả tiền qua hình thức điện thoại hay mạng Internet. Lá phiếu đầu tiên được tự do đăng ký thành viên và những lá phiếu sau có thể được mua thông qua một khoản quyên góp cho NOWC.

Ngoài việc bán phiếu bầu, NOWC dựa vào các khoản quyên góp từ

hàng hoá như áo phông, đồ lưu niệm và các khoản thu từ quảng

động.

cáo

một chuyên gia Ai Cập về di sản

thế giới

nhân, việc mua

để hoạt

phát biểu

bán

các loại

Nagib Amin,

rằng, "Ngoài

biểu bán các loại Nagib Amin, rằng, "Ngoài khía cạnh thương mại, lá phiếu không có

khía cạnh thương mại, lá phiếu không có cơ sở khoa học."

Vậy mà NOWC lại lên tiếng tuyên bố là tổ chức phi lợi nhuận! Điều này nhìn vào thật khó tin. Và bây giờ, đến cuộc bầu chọ 7 Kì quan thiên nhiên, nếu Vịnh Hạ Long của Việt Nam lọt vào top 7 thì bạn bè

thế giới có thật sự công nhận? Tôi đoán rằng, 7 công trình kiến trúc thế giới được công bố năm 2007, đến nay, mấy ai còn nhớ được

quá nổi

ngoại

bật như Vạn Lý Trường thành hay

Taj Mahal. (Và người ta cũng không quên rằng phần nhiều

top

những công trình

thuộc về những quốc gia có dân số đông nhất).

Ảo danh vô thực

cạnh

Hiện

phong trào bầu cho Vịnh Hạ Long

được gióng trống thổi kèn, một bộ phận cư dân trên mạng đã có những phản biện tinh ý, đầy cảnh

tổ

giác với NOWC. Đó có

chức phi lợi nhuận, hoạt động vì lợi ích cộng đồng? Đầu tiên vào

trừ những cái

tên

được

lọt

nay, ở Việt

Nam, bên

phải

Trang 12

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

www.new7wonders.com, người ta đã thắc mắc tại sao tên miền của website này không phải là ―.org‖ hay ―.net‖ mà lại là ―.com‖. Bạn hãy tự hỏi có bao giờ thấy website unesco.com, worldbank.com, hay greenpeace.com chưa?

Phi lợi nhuận nhưng lại có quy định đầy nghịch lý : ―Mỗi địa danh tham gia phải có một ủy ban hỗ trợ chính thức, có đủ tư cách pháp lý, phải ký hợp đồng và được NOWC chấp thuận, và phải đóng lệ phí là 5.000 USD mỗi tháng.‖

NOWC đã rất khéo léo biến ý tưởng đầy cảm hứng và tham vọng trục lợi của vài cá nhân trở thành

một hiện tượng toàn cầu bởi họ đã đánh rất trúng vào tâm lí dân tộc – nhất là với những nước đang phát triển, chưa có thương hiệu quốc gia về du lịch và có dân số đông. Còn một sự thật khác không ai ở

giới

truyền

ngây thơ và bị lừa thảm hại.

Cuộc bầu chọn này đã bị UNESCO tẩy chay và trên thực tế hình thức hoạt động của nó sẽ không thể đem lại một kết quả đáng tin cậy. Điều nực cười nhất chính là tất cả các nước được đề cử lao vào chiến dịch ―click chuột‖ điên cuồng cho địa danh đất nước họ. Nói thẳng ra

quá

Việt Nam muốn

đây là cuộc chạy đua của những quốc gia giỏi ―tự sướng‖! Bởi họ tin rằng, một khi địa danh nước họ được vinh danh, điều đó mang lại quá nhiều tự hào và thuận lợi cho thu hút du lịch.

Trong dòng thác bầu chọn rầm rộ đó, có khi nào người Việt chúng ta ―fairplay‖ thật sự bầu chọn cho địa danh của những quốc gia khác mà mình đánh giá cao? Và ngược lại cũng đừng hoang tưởng rằng người dân bất kì quốc gia nào bầu chọn cho Việt Nam. Tôi dám chắc một điều, 90% những người tham gia bầu chọn này đều chẳng hiểu biết bao nhiêu về địa danh của chính đất nước họ chứ đừng nói đến hiểu biết địa danh các nước khác. Nếu chỉ dựa vào thông tin quảng bá hời hợt qua vài tấm ảnh và các đoạn video thì nó chẳng phản ánh được điều gì thực tế cả.

Tôi mừng là trong vòng bình chọn cuối cùng này, Trung Quốc không có địa danh nào. Bởi tôi tin, người dân nước họ đã hiệu được bản chất vấn đề, cho dù bất kì địa danh nào của nước họ được công nhận trong top 7 thì đều không thuyết phục được thế giới. Thêm nữa, với sức mạnh về tìm năng thu hút du lịch của nước họ vốn chẳng cần một danh hão kiểu này. Còn Việt Nam

ta và Bangladesh thực chất đang quá khát khao danh hiệu, và quá ngây thơ cả tin.

„Hữu xạ tự nhiên hƣơng‟

Dường như thời đại càng phát triển, người Việt Nam đã quên rồi bài học về thuyết Chính danh mà Khổng Tử từng dạy. Việt Nam cùng những nước trong danh sách bầu chọn cuối cùng đang lao vào cuộc chạy đua, bất chấp tất cả để tự bầu chọn cho địa danh nước mình, mong đem lại lợi ích quốc gia. Nhưng rồi dù cho có đạt được như mong muốn, tôi tin chắc hào quang của nó, ồn ào của nó cũng chỉ ba chìm bảy nổi trên mặt báo trong vài tháng. Và do ai cũng quá hiểu bản chất lố bịch này thì ý nghĩa về du lịch, kinh tế cũng sẽ rất mong manh. Cộng đồng quốc tế sẽ không ngây thơ nghĩ rằng 7 địa danh được vinh danh thực sự là 7 kì quan thế giới tuyệt nhất.

cuộc

Việt

bình chọn và cũng không ít lần bẽ mặt với điều đó. Năm 2008, khi Tổ chức hoa hậu thế giới quyết định dành một vé vào top 16 cho thí

sinh có lượt bình chọn nhiều nhất,

Á hậu Thiên Lý của Việt Nam

dẫn đầu bình chọn. Thế nhưng đến phút chót bà Morley lại hủy đi kết quả và tế nhị đưa ra lý do chống chế rằng bộ phận kĩ thuật

trục trặc, nhưng sự

nói

ra

đã

thông Việt Nam

Nam là vua của những

đã

ra là đã thông Việt Nam Nam là vua của những đã Trang ―web www.new7wonders.com‖ -

Trang ―web www.new7wonders.com‖ - nơi đang bình chọn đang diễn ra cho đến ngày 11.11.2011. Ảnh: Chụp từ trang web

bị

thật

người dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế đều quá rõ. Đạt danh hiệu như vậy có thật sự đáng tự hào?

bản thân

thì

Mỗi người dân Việt Nam

luôn

khả năng của mình, có thể làm một điều nhỏ bé

nào đó để góp phần phát triển đất nước bằng nhiều cách. Tôi không cho rằng

lao vào cuộc

cả dân

bình chọn đầy kí trá này là thể hiện lòng yêu

nước, đem lại

tế như đã từng

nhiều lợi

ích kinh

ảo tưởng. Ông bà ta từng

cố gắng hết sức

tộc

dạy, hữu xạ tự nhiên hương. Nếu quả thực

bà ta từng vì cố gắng hết sức tộc dạy, hữu xạ tự nhiên hương .

Trang 13

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1

28 ―kỳ quan‖ được vào chung kết trên trang web NOWC. Ảnh: NOWC

Vịnh Hạ Long xứng đáng đẳng cấp địa danh du lịch hàng đầu, thì không cần đến danh hão, bằng chính thực lực vun đắp, quản lí, thu hút khách của các cơ quan chức năng cũng sẽ tạo được nhiều lợi ích kinh tế cho nước nhà. Nên có tầm nhìn xa, nếu quảng bá danh thơm lừng lẫy, kéo gọi khách đến mà khả năng tổ chức, quản lí yếu kém thì cái danh ấy không có tác dụng lâu dài.

Ở một phương diện khác, chính cái phong trào vận động bầu chọn rầm rộ, lôi kéo toàn dân, học sinh, sinh viên, viên chức quyết liệt ―click chuột‖ đã kéo theo cái hệ lụy làm xấu xí diện mạo bản chất con

người Việt Nam. Chúng ta không thể lấy lí do rằng tất cả các nước được lọt vào danh sách đề cử đều bầu chọn cho nước họ như vũ bão nên Việt Nam cũng cố dành lấy một suất. Hóa ra, người Việt đang cố làm trò cười, cố danh đoạt lấy một thành quả ảo ảnh vốn thực chất chiến thắng của nó không hề xứng đáng. Tôi không phủ nhận Vịnh Hạ Long rất tuyệt, song không có cơ sở nào để khẳng định Vịnh Hạ Long thực sự xứng tầm kì quan nhất hạng toàn cầu. Và cũng

thế

chẳng có địa danh nào trên

giới đủ đẳng cấp lấn át hết tất cả

để vào top 7. Bởi mỗi quốc gia, lãnh thổ, vùng miền, địa danh có một đặc trưng riêng. Tạo hóa vốn sòng phẳng, cái quyết đinh địa danh nào hơn hẳn nằm ở trình độ quản lí, chinh phục khách du lịch chứ không phải ở lời rao

Vịnh Hạ Long. Ảnh: aftab—Flickr
Vịnh Hạ Long. Ảnh: aftab—Flickr

rỗng

tổ

chức nào.

Cha ông người ta từng giễu

hiện

nhại

trống

của bất

ta từng giễu hiện nhại trống của bất kì tượng này bằng thành ngữ con hát

tượng này bằng thành ngữ con hát mẹ khen. Văn hóa đẹp của người Việt bao đời nay không thể chấp nhận sự dối trá này. Nếu những người quản lí và giới truyền thông Việt Nam vẫn đầy hào hứng đẩy nhân dân vào cuộc chơi xấu xí, trẻ con thì e rằng chỉ tạo ra cho căng tính dân tộc những thói hư tật xấu mới.

Trong nay mai, cuộc bình chọn của NOWC sẽ bị dư luận quốc tế quên lãng, thậm chí tẩy chay. Những quốc gia nào cố bình chọn cho địa danh nước mình lọt top 7 đang đánh mất đi lòng tự trọng dân tộc (chứ không hề có chút tự hào nào) và thiếu sót văn hóa ứng xử một cách fairplay!

Đừng để đạo đức xã hội Việt Nam bị méo mó như vậy! Với tôi, Vịnh Hạ Long thật tuyệt và đang chờ đợi những nhà quản lí có bản lĩnh, tầm nhìn để biến nó thành viên ngọc du lịch của Việt Nam!

Một dân tộc có văn hóa đẹp, có tầm nhìn trí tuệ sâu rộng thì không bao giờ chọn con đường phát triển đất nước một cách non kém, hời hợt mang tính thủ công đơn thuần này!

T.P. © 2011 TCPT số 50

Trang 14

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Những người biểu tình ở Phố Wall kiện thành phố New York

Miên Thy biên dịch và tổng hợp

Những người biểu tình ở Phố Wall kiện thành phố New York Miên Thy biên dịch

Người biểu tình ở Phố Wall bị bắt trong một cuộc tuần hành ngang qua cầu Brooklyn đã kiện Thị trưởng thành phố New York Michael Bloomberg, và Đại diện Sở cảnh sát Raymond Kelly với các buộc cho rằng thành phố và cảnh sát vi phạm các quyền hiến định của công dân.

Năm trong số những người biểu tình, đại diện cho khoảng 700 người bị bắt giữ trong ngày 01/10 vừa qua, đã đệ đơn khiếu nại về các quyền dân sự tại tòa án liên bang Manhattan. Họ tuyên bố rằng các nhân viên Sở cảnh sát thành phố New York đã bẫy họ vào một đoạn đường trên cầu Brooklyn và bắt giữ họ trái phép.

Trong đơn khiếu nại, một đoạn việt rằng, "sau khi hộ tống và dẫn một nhóm người biểu tình vào đường hướng về Brooklyn Bridge, cảnh

sát thành phố New

đột

ngột và ngăn chặn không cảnh báo trước và bắt giữ hàng trăm người biểu tình bất chấp những nguyên

r à n g ‖ .

n h â n

York

r õ

đã

k h ô n g

Những người

chống lại các vụ bắt giữ, và cho rằng cảnh sát đã vi phạm các quyền được quy định trong Hiến pháp Hoa Kỳ, cũng như yêu cầu thành phố không sử dụng các chiến

trong tương lai.

thuật tương tự

bố

biểu tình tuyên

Nhóm này cũng đòi hỏi thành phố phải bồi thường các thiệt hại liên

quan.

Cảnh sát cho biết rằng người biểu tình đã được cảnh báo không nên chặn đường và những người còn lại ở phía sau được phép rời khỏi hiện trường.

Không phục vụ

Muriel Goode Trufant, Trưởng phòng đặc biệt của thành phố về Bộ Luật tố tụng Liên bang, thông báo trong một báo e-mail cho biết rằng: "Chúng tôi đã không được đáp ứng đầy đủ với các giấy tờ pháp lý chính thức, nhưng chúng tôi sẽ xem xét kỹ những tuyên bố đó". Một ngày trước đó, thẩm phán liên bang đã từ chối ngăn chặn cảnh sát sử dụng các loại xe buýt thành phố để vận chuyển những người biểu tình bị bắt, cũng như từ chối các yêu cầu của công đoàn về một lệnh cấm [dùng xe buýt để chở người biểu tình về nơi giam giữ] có hiệu lực ngay lập tức trong khi vụ kiện tụng đang xảy ra.

Thẩm phán Paul Engelmayer đã bác bỏ yêu cầu của Công đoàn Lao động Vận tải thuộc địa phương số 100, trong lúc công đoàn tìm cách ngăn chặn cảnh sát sử dụng Hệ thống Vận chuyển thuộc thành phố New York dùng xe buýt để đưa người biểu tình về các nơi giam giữ. Thẩm phán đã từ chối ban lệnh cấm cố định theo yêu cầu của công đoàn.

Engelmayer biện hộ rằng các tài liệu hướng dẫn trong Hệ thống Vân chuyển cho phép người điều hành xe buýt cần phải làm gì khi có yêu cầu từ sở cứu hỏa hoặc sở cảnh sát.

„Mạnh mẽ cho thấy‟

Các tài liệu "mạnh mẽ cho thấy" rằng các tài xế đã nhận thức rằng trong điều kiện cần thiết thì họ có thể sẽ phải hỗ trợ sở cảnh sát. Ông Engelmayer cho biết rằng xe buýt đã từng được Cục cảnh sát thành

xe buýt đã từng được Cục cảnh sát thành phố New York yêu cầu hỗ trợ

phố New York yêu cầu hỗ trợ ít nhất trong ba sự kiện: thứ nhất là trong cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2011, sau đó xe buýt đã được dùng để đưa các nạn nhân bị thương ở các tòa nhà vào bệnh viện, và một lần khác là lúc sơ tán cư dân trong trận bão Irene cách đây vài tháng trước.

"Nhân viên cảnh sát và Hệ thống Vận chuyển là những công nhân công làm việc trong cùng một thành phố và có chung một nhiệm vụ chung", thẩm phán Engelmayer nhấn mạnh.

Công đoàn Lao động hiện có 38,000 thành viên, bao gồm cả 9,000 tài xế xe buýt, cho biết rằng họ cũng ủng hộ các cuộc biểu tình ở Phố Wall, trong lúc cuộc biểu tình ngày càng gây được nhiều sự chú ý trên khắp cả nước Mỹ, sau khi cảnh sát đã bắt giữ hàng loạt người vào đầu tháng 10 vừa qua trên cầu Brooklyn.

Một loạt xe buýt

Ông Arthur Schwartz, luật sư của Công đoàn, cho biết rằng cảnh sát đã yêu cầu điều động hàng loạt xe buýt đến trung tâm Brooklyn sau khi Department of Correction bị kẹt trong các tuyến đường giao thông. Các tài xế được lệnh trở lại xe của họ và chạy cầu lên Brooklyn để đưa những người biểu tình bị bắt về trụ sở cảnh sát ở One Police Plaza và các địa điểm khác.

Engelmayer không đồng ý với lập luận của Schwartz rằng cảnh sát có thể điều động xe buýt trong cuộc tuần hành vừa qua, và cho rằng đánh giá đó mang "tính tính toán cao" và rằng cảnh sát sẽ được

Trang 15

CHÍNH TR - XÃ HI

chuẩn bị kỹ lưỡng hơn trong các tuần sắp tới.

―Sự kiện hôm ngày 1 tháng 10 là rất khác thường," Arthur Larkin, một luật sư tại Vụ pháp luật thành phố cho biết trong một tuyên bố. "Tòa án cho rằng việc cảnh sát sử dụng xe buýt không phải là điều không hợp lý."

Cảnh sát thành phố New York "sẽ được chuẩn bị sẵn sàng" trong cuộc tuần hành sắp diễn ra và có khả năng họ sẽ không tái diễn tình trạng tương tự như hôm 1/10, ông Larkin cho biết. Ông cho biết ông không thể loại trừ khả năng rằng xe buýt có thể sẽ được sử dụng thêm một lần nữa.

„Thực hành từ lâu'

"Việc Hệ thống Vận chuyển Công cộng hỗ trợ Sở cảnh sát của thành phố và nhân viên chữa cháy khi có yêu cầu hỗ trợ khẩn cấp là điều mà chúng tôi đã thực hành từ lâu," ông Jeremy Soffin, phát ngôn viên của Sở Giao thông Vận tải, trong đó có cả thành phố York New, nói trong một e -mail. "Chúng tôi hài lòng rằng tòa án liên bang đã từ chối yêu cầu của Công đoàn Lao động".

Buổi điều trần tiếp theo dự kiện sẽ diễn ra vào ngày 1 tháng 11 sắp tới. Ông Shwartz nói rằng ông chưa quyết định có kháng nghị phán quyết vừa rồi hay không.

"Chúng

hướng khác nhau,‖ ông John Samuelsen, Chủ tịch Công đoàn Lao động thuộc địa phương số 100, nói với phóng viên sau khi sự kiện xảy ra.

các

tôi

đang

tìm

kiếm

Các cuộc biểu tình vẫn tiếp tục diễn ra ở phía nam của tòa án liên bang tại Zuccotti Park, thành phố New York. Số người biểu tình tăng lên đến 1,000 vào lúc cao điểm, tuy nhiên, không có người biểu tình nào đã bị bắt như lần trước.

Một vài

chức một cuộc họp hàng ngày

góc

tổ

chục người

tham

gia

"chiếm đóng" "sáng nay tại

đông bắc của công viên để thảo

luận về hậu cần.

„Chia sẻ niềm tin‟

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Một người đàn ông tại cuộc họp cho biết rằng một đề nghị không tham gia vào những hoạt động có thể hút sự chú ý của cảnh sát và cần vạch rõ hơn đó là các hoạt động gì…

"Phong trào của chúng tôi đang mở rộng một cách nhanh chóng và các cơ sở hạ tầng cũng được đáp ứng liên tục,‖ Julien Harrison, 29 tuổi, một trong những người tổ chức đến từ Eugene, Oregon, cho biết trong một cuộc phỏng vấn. Harrison cho biết thêm rằng ông đã có mặt ở hiện trường gần hai tuần lễ nay để chuẩn bị.

Gần đó, một nhóm sáu trẻ em và năm người lớn hát bài "We shall not be moved". Các em giăng cao một bảng màu vàng mang dòng chữ: "Chúng tôi tin vào: sự công bằng", "Chúng tôi tin vào: sự chia sẻ".

công

viên, một nhóm mang treo bảng với dòng chữ, "Cảnh sánh thành phố New York bảo vệ và phục vụ người giàu."

cuối

phía

tây của

'Không sợ'

Nader Vossoughian, 38 tuổi, một giáo sư kiến trúc sư tham gia biểu tình với con gái vừa được 2 tuổi nói rằng ông không sợ bị bắt. Gia đình ông, trong đó bao gồm một cặp song sinh 10 tháng tuổi, đã làm cho anh ta cảm thấy có trách nhiệm hơn đối với tương lai của các em nhỏ trong bối cảnh nghèo đói, bất bình đẳng và quản lý yếu kém của chính phủ.

"Nếu bất tuân dân sự là một phần trong cuộc trò chuyện với các con em của tôi, thì hãy để điều đó xảy ra, vì đó là những điều căn bản mà đất nước này dựa vào để xây dựng ngay từ thời lập quốc," ông Vossoughian nói thêm trong một cuộc phỏng vấn tại Lower Manhattan.

"Chính phủ Mỹ cần phải

tự vạch đầu họ ra khỏi các cửa kính trong các tòa nhà này,‖ Jason Moses, 25 tuổi, tốt nghiệp ngành luật tại Đại học Pace và cho biết vẫn chưa tìm được việc làm. Moss nói rằng ông sẵn sàng làm bất kỳ công việc gì liên quan đến ngành luật, và ước tính sẽ mất khoảng 15 năm mới có thể trả dứt số nợ mà ông đã vay mượn trong thời sinh viên.

Linnea M. Palmer Paton, một sinh viên tốt nghiệp tại Đại học New York, hiện đang là thực tập viên không lương, đồng thời cũng là người phụ trách liên lạc báo chí cho những người biểu tình. Cô ấy nói cô đến để phản đối các cuộc vận động hành lang và thiếu việc làm trong nền kinh tế nước Mỹ.

New York—Ảnh: PaulS
New York—Ảnh: PaulS
New York—Ảnh: PaulS
New York—Ảnh: PaulS
Trung tâm truyền thông của ―Chiếm Phố Wall‖, 30/09/2011. Ảnh: Matt McDermott
Trung tâm truyền thông của ―Chiếm Phố
Wall‖, 30/09/2011. Ảnh: Matt McDermott
PaulS Trung tâm truyền thông của ―Chiếm Phố Wall‖, 30/09/2011. Ảnh: Matt McDermott Trang 16

Trang 16

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Occupy Wall Street (Chiếm Phố Wall) là một cuộc biểu tình đang diễn ra tại Thành phố New York. Nhóm chống chủ nghĩa tiêu thụ Adbusters Canada ban đầu kêu gọi phản đối và lấy cảm hứng từ phong trào Mùa

xuân Ả Rập, đặc biệt là các cuộc biểu tình Quảng trường Tahrir ở Cairo mà bắt đầu cuộc Cách mạng Ai Cập

2011.

Mục đích của cuộc biểu tình là để bắt đầu chiếm đóng lâu dài Phố Wall, khu tài chính của Thành phố New York, lên án giới ngân hàng, thủ phạm của cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Phong trào này đã kêu gọi 20.000 người đến tập hợp để tràn ngập vào khu vực Hạ Manhattan vào ngày 17 tháng 9 năm 2011.

Hàng nghìn người biểu tình hàng ngày tại khu phố thương mại của New York. Những người biểu tình có mặt đông đảo trên Quảng trường Liberty Plazza. Người biểu tình Mỹ không đòi dân chủ, mà yêu cầu nhiều công bằng xã hội hơn. Đối tượng phản đối của họ là sự hung hãn và tham lam của giới tài chính, ảnh hưởng của giới tài chính lên nền chính trị Hoa Kỳ, ảnh hưởng của tiền và các tập đoàn đối với chế dân chủ, và một tác động trở lại về pháp lý và chính trị cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Những người tổ chức có ý định chiếm đóng Phố Wall sẽ kéo dài đến khi yêu cầu của họ đạt được. Các yêu cầu cụ thể đang trong quá trình triển khai. Trên các biểu ngữ, có thể đọc thấy hàng chữ: ―Tất cả các chủ ngân hàng đều là phát xít‖.

Có 1.500 người, trong đó có thanh niên và thành viên công đoàn tham gia biểu tình ngày 1 tháng 10. Khoảng 700 người biểu tình chống Phố Wall đã bị cảnh sát bắt giữ, giữa lúc họ đang chuẩn bị tuần hành qua cầu Brooklyn ở New York. Tuy nhiên, cảnh sát đã thả hầu hết số này một ngày sau đó. Vào ngày 1 tháng 10, các cuộc biểu tình tương tự đã được tổ chức tại Los Angeles, San Francisco, Boston, Chicago, Albuquerque, Tampa, Charlotte, Seattle, Denver, Nashville, và Portland, Maine.—Trích từ Wikipedia

Trên cầu Brooklyn, New York Boston, Massachusetts Seattle, Washington State Los Angeles, California Manhattan, New
Trên cầu Brooklyn, New York
Boston, Massachusetts
Seattle, Washington State
Los Angeles, California
Manhattan, New York
New York Boston, Massachusetts Seattle, Washington State Los Angeles, California Manhattan, New York Trang 17

Trang 17

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Berlin, Đức Quốc Thành phố Amman, Jordan Vancouver, Canada Brussels, Bỉ Mainila, Phiippines Paris, Pháp
Berlin, Đức Quốc
Thành phố Amman, Jordan
Vancouver, Canada
Brussels, Bỉ
Mainila, Phiippines
Paris, Pháp
Đài Bắc, Đài Loan
Tokyo, Nhật Bản
London, Anh Quốc
London, Anh Quốc
Seoul,Nam Hàn
Pháp Đài Bắc, Đài Loan Tokyo, Nhật Bản London, Anh Quốc London, Anh Quốc Seoul,Nam Hàn

Trang 18

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

S ự kiện văn hóa và lịch sử rất phức tạp có tên thời kỳ Phục hưng bắt đầu ở miền Bắc nước Ý vào thế kỷ 14 và lan truyền khắp Tây Âu trong suốt hai thế kỷ tiếp theo. Xã hội phong kiến đang chết dần, các thành thị trở nên quan trọng hơn và những thành viên của một giai cấp thương nghiệp hiện đại khích lệ những tư tưởng mới trong toán học, khoa học, và công nghệ. Một sự thay đổi lớn lao khác – phong trào Cải cách tôn giáo – cho phép những triết gia sống trong các quốc gia theo Tin lành đặt ra những câu hỏi triệt để hơn về

khoa học, chính trị và luân lý. Chủ nghĩa Nhân văn thời Phục Hưng có nghĩa là các triết gia có thể

suy tưởng về những thành tựu và những ý tưởng của con người, ít tập trung hơn vào sự hiện hữu và

bản chất của Thượng đế.

School of Athens - Raphael
School of Athens - Raphael
hơn vào sự hiện hữu và bản chất của Thượng đế. School of Athens - Raphael
hơn vào sự hiện hữu và bản chất của Thượng đế. School of Athens - Raphael
hơn vào sự hiện hữu và bản chất của Thượng đế. School of Athens - Raphael

Ngc Cm

hơn vào sự hiện hữu và bản chất của Thượng đế. School of Athens - Raphael
hơn vào sự hiện hữu và bản chất của Thượng đế. School of Athens - Raphael
hơn vào sự hiện hữu và bản chất của Thượng đế. School of Athens - Raphael

Eramus và Aristotle

nhầm cả lĩnh vực này.

Một triết gia âm thầm hỗ trợ việc khởi động phong trào Cải cách Tin lành là Eramus (1466 -1536) với tác phẩm Tụng ca điên rồ, đã hiên ngang phê phán sự lạm dụng của giáo hội Công giáo. Ông không coi trọng ai cả, càng không coi trọng

mọi triết gia. Giống như các nhà hoài nghi trước ông, Eramus cũng cho rằng sự minh triết của con người là chuyện ảo tưởng và không

bao giờ đạt đến được.

Eramus
Eramus

Bên cạnh đó là sự phát triển của các nhà lý thuyết chính trị. Aristotle đã thống trị hầu hết thần học, triết học, khoa học và bắt đầu phát hiện ra rằng Aristotle cũng thường mắc sai lầm khá ngoạn mục. Mặt trời không hề quay quanh Trái đất như ông nhìn nhận. Aristotle còn khẳng định rằng mục tiêu của mọi hoạt

động chính trị là để tạo ra những công dân ngay thẳng về mặt luân lý nhưng hai nhà triết học chính trị thời Phục hưng cho thấy ông cũng

Aristotle
Aristotle

Niccolo Machiavelli và Thomas Hobbes

Niccolo Machiavelli (1469-1527) quan sát cách hành xử tàn nhẫn của nhà cầm quyền Italy thời Phục hưng và kết luận trong tác phẩm Quân vương rằng luân lý và chính trị không hòa trộn với nhau được. Ông đã xác lập các nguyên tắc của một

xã hội dân sự thế thục và hiện đại. Lý thuyết này được bổ sung bởi Lý thuyết Khế ước

xã hội của Thomas Hobbes (1588-1679). Hobbes tin rằng xã hội cần một khế ước để đảm bảo an toàn cho các cá nhân. Nhưng một khế ước giữa những cá nhân chủ nghĩa tàn bạo thường nhất thiết phải được tăng cường bằng một khế ước được gọi là Khế

Machiavelli
Machiavelli
Hobbes
Hobbes

ước Nhà nước cho phép chính

quyền trừng phạt những ai vi phạm Khế ước xã hội. Ông khẳng định: ―Nhà nước có chủ quyền là điều kiện cho việc bảo tồn mạng sống con người và các giá trị văn minh. Luân lý không gì khác hơn là một thỏa thuận đầy hoài nghi giữa

và các giá trị văn minh. Luân lý không gì khác hơn là một thỏa thuận

Trang 19

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

những tên côn đồ.‖

Francis Bacon và Rene Descartes

Francis Bacon
Francis Bacon

Từ sự phát triển của khoa học mà mở đầu là Triết lý Khoa học của Francis Bacon (1561-1626) với tuyên bố: ―Tri thức là Sức mạnh‖, đã mở ra thời kỳ Triết học Hiện đại mà đại diện đầu tiên chính là Rene Descartes (1596 1650). Descartes là nhà toán học người

Pháp kiên quyết dựa vào sự tự trị của cá nhân và không chịu chấp nhận những lời giải triết học mang tính chính thống lúc bấy giờ. Ông nghiên cứu sự vận hành bên trong của đầu óc trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài và nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa tri giác và suy tưởng. Phương pháp ―hoài nghi có hệ thống‖ của ông có tính nội quan và tự truyện nhưng cũng hết sức khách quan và logic. Trong Các suy niệm siêu hình học của mình, ông đặt ra câu hỏi: có chăng một loại tri thức có thể nhận biết được một cách chắc chắn?

có thể nhận biết được một cách chắc chắn? Descartes Bằng cách áp dụng một kỹ

Descartes

Bằng cách áp dụng một kỹ thuật hoài nghi khoa học triệt để, ông nhận ra rằng mình có thể phá hủy niềm tin của mình về mọi thứ. Hoài nghi kiểu Descartes là tích lũy và tàn nhẫn. Nghi ngờ là một loại tư duy nên cố nghi ngờ rằng ta đang tư duy là điều không ổn. Với sự thức nhận ấy, Descartes tiến tới chứng minh rằng con người là thực

thể nhị nguyên kỳ lạ. Thuyết hoài nghi của Descartes là một loại trò chơi triết học được ông dùng để xác lập đâu là những loại nhận thức chắc chắn. Triết học Descartes đã mang lại lòng kính trọng mới mẻ đối với tín điều rằng nhận thức đích thực chỉ có thể rút ra từ lý tính với câu nói nổi tiếng: ―Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại‖. Điều này kích hoạt một cuộc tranh biện triết học kéo dài suốt hai thế kỷ sau đó và còn dài hơn thế nữa. Sau Descartes, các triết gia như B.Spinoza(1631-1677) với Thuyết Nhất Nguyên, G.WLeibniz (1646-1767) với Đơn tử luận… đã nối tiếp và phát triển rực rỡ, mở đường cho Phong trào Khai sáng.

Voltaire

Voltaire (1694-1778) là tên tuổi cự phách của phong trào Khai sáng – một kỷ nguyên của trào lưu cấp tiến xã hội và niềm tin mới mẻ vào sức mạnh lý

tính trước giáo điều, mê tín và chuyên chế. Cùng với nhà Bách khoa uyên bác như D.Diderot (1713 -1784) và các nhà triết gia khác của Pháp, Voltaire đã làm cho mọi người biến đến các nhà tiên phong của thuyết duy nghiệm người Anh như

Bacon, Newton và Locke; Thuyết duy tâm của Giám mục Berkeley (1685 – 1753) và Hume (1711-1776) với Thuyết hoài nghi

thường niệm.

Voltaire
Voltaire

Jean Jacques Rousseau

Một

Phong trào Khai sáng là Jean Jacques Rousseau (1712-1778). Ông là một nhà tư tưởng chính trị bác bỏ học thuyết của Hobbes về tính bác bẩm sinh của con người. Ông nhận định rằng: ―Cuộc sống

với

triết gia

có công

đặc biệt

Rousseau
Rousseau

của những người tự nhiên tiền văn

minh

người về nền văn

minh và tư hữu

Chính huyền thoại ―trở về với Tự nhiên‖ đã ảnh hưởng tới Phong trào văn hóa có tên là ―Trào lưu lãng mạn‖.

tuột dốc‖.

vui

khi

những phát minh lớn của

là cuộc

sống an

và nhân ái nhưng

con

xuất hiện, tất cả đều

Rousseau tin rằng luật lệ của xã hội phải là một sự diễn đạt của ―Ý chí chung‖ vốn lúc nào cũng đúng đắn. Ý chí chung này được xác lập như thế nào và khi nào thì nó phải được củng cố là những điều không rõ ràng. Thật không may các hoàn cảnh Cách mạng luôn lật đổ những kẻ duy tâm và cơ hội tàn nhẫn, rồi sẵn sàng tuyên bố rằng chính mình là hiện thân trực tiếp của cái thực thể trừu tượng kia, rồi tiếp tục áp đặt cái thực thể ấy lên những người khác một cách đầy bạo lực.

G.W. Friedrich Hegel

Trước đây, các triết gia vẫn cho rằng Aristotle đã khám phá ra logic học và quả đúng như thế. ―Nhưng có một logic học khác! Nhận thức có một lịch sử mang tính tiến hóa được nên nên từ những khái niệm chứ không phải từ những

mệnh đề sự kiện đúng hay sai một cách cô lập‖. Đó là nhận định của G.W.Friedrich

Friedrich Heghen
Friedrich Heghen
kiện đúng hay sai một cách cô lập‖. Đó là nhận định của G.W.Friedrich Friedrich Heghen

Trang 20

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Hegel (1770-1831) với Phép biện chứng nổi tiếng. Những ý niệm lớn lên và vận động từng bước tiến tới một sự nắm bắt tốt hơn về thực tại trong một tiến trình được nhà triết gia này gọi là Phép biện chứng: ―Khái niệm mới, đến lượt nó lại sản sinh phản đề của chính mình, và như thế, tiến trình sẽ tiếp tục một cách không khoan nhượng cho tới khi rút cục đạt tới ý niệm tuyệt đối‖. Đó là một sự tổng kết mang tính tiến hóa và tôn giáo về tinh thần và văn minh của con người: cả hai kinh qua nhiều cấp độ cho tới khi đạt được ―ý thức tuyệt đối‖ và sự hài hòa xã hội.

Arthur Schopenhauer

Schopenhauer
Schopenhauer

Một triết gia Đức thù địch với phương pháp của học thuyết của Hegel là Arthur Schopenhauer (1788 -1860). Ông cho rằng lòng tin của Hegel về một sự kết thúc có hậu cho lịch sử nhân loại là trò ba hoa nhảm nhí của một ―tay ngang ngu xuẩn và vụng về‖. Ông

đồng ý với Kant rằng con người chỉ có thể sống trong thế giới hiện tượng nhưng với Schopenhauer, thế giới hiện tượng là một thế giới

mộng ảo luôn bị ―ý muốn‖ kiểm soát. Ý muốn điều khiển mọi sinh vật, kể cả con người.

Schopenhauer có thể coi là triết gia phương Tây đầu tiên ảnh hưởng của Phật giáo với các luận điểm sau: ―Hoàn toàn là một sự vô mục đích, một loại sức đẩy buộc mọi sinh vật ăn nằm với nhau, sinh con đẻ cái và chết đi. Con đường duy nhất để thoát khỏi guồng cối xay ấy là hãy diệt bỏ đi ý muốn‖. Con người thích tin rằng đời sống cá nhân của chính mình có một loại ý nghĩa cao hơn nào đấy nhưng thực ra chẳng có gì trong cuộc đời họ ngoài sự thôi thúc phải thỏa mãn những dục vọng mới. Những ý chí hay dục vọng cá nhân khác nhau không tránh khỏi đi tới xung đột và đó là lý do tạo ra khổ đau của con người. Một phương cách là hãy dấn thân vào những hoạt động chiêm nghiệm hay nghệ thuật. Những tư tưởng của ông đã ảnh hưởng lớn đến các vĩ nhân như nhà soạn nhạc Richard Wagner (1813-1883) và triết gia Đức Nietzsche (1844- 1900) – kẻ chống Chúa.

Friedrich Nietzche

Friedrich Nietzche tuy lớn lên như một người theo phái Luther thuần thành giống như nhiều triết gia

Nietzche
Nietzche

Đức khác lại trở nên thù địch với Kito giáo và hoàn toàn bác bỏ những niềm tin vào bất kỳ thế giới ―siêu việt‖ hay ―tự thân‖ nào. Ông đã tuyên bố: ―Thượng đế đã chết và chính chúng ta đã giết ngài‖.

Giống như hầu hết các triết gia tiền bối, ông ra sức định nghĩa lại bản tính con người. Ông cho rằng khái quát hóa về bản tính của con người là sai lầm vì nó quy giảm con người thành một bản tính chung đầy xuyên tạc. Ông tiên tri rằng chủ nghĩa tư bản hiện và sự tiến bộ công nghệ sẽ chỉ tạo ra một thế giới tư sản của ―những con người mạt hầu‖ tầm thường, xoàng xĩnh‖.

Ludwig Feuerbach

Feuerbach
Feuerbach

Hơn 80 năm trời, triết học Đức kiên trì cho rằng thế giới được cấu tạo bằng những tư tưởng do họ không nhất trí với nhau về bản tính của những tư tưởng này và về nhận thức của con người đối với chúng, nhưng từ Ludwig Feuerbach (1804-1872), duy tâm đã chuyển sang duy vật.

Ông cho rằng: ―Ta phóng chiếu mọi sự hoàn hảo chưa thực hiện được cảu chính ta thành một thực tế tưởng tượng, không mang tính con người, tức Thượng Đế, thay vì quan tâm đến việc cải thiện có thể thực hiện được ở những con người đồng loại của ta‖. Về sau, ông chuyển từ sự phê phán theo kiểu ―Hegel cánh tả‖ về ảo tưởng tôn giáo sang thuyết duy vật cấp tiến. Ông bảo: ―Tôi ăn, vây tôi tồn tại‖, có nghĩa là nhu cầu vật chất là cái thứ nhất, tư tưởng là cái thứ hai. Cuộc hôn phối giữa thuyết biện chứng của Hegel và thuyết duy vật của Feuerbach đã mở đường cho chủ nghĩa Marx.

Karl Marx

Karl Marx (1813-1883) khởi đầu như một nhà ―Hegel cánh tả‖ trẻ tuổi nhưng lại phát triển một mô hình duy vật biện chứng mới mẻ về lịch sử. Triết học của ông là sự pha trộn của thuyết duy tâm Đức, kinh tế chính trị học Anh và Chủ

nghĩa Xã hội Pháp. Với Marx, lịch sử là một câu chuyện về một cuộc đấu tranh biện

chứng thường xuyên nhưng không phải giữa những

Marx
Marx
chuyện về một cuộc đấu tranh biện chứng thường xuyên nhưng không phải giữa những Marx

Trang 21

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

tư tưởng trừu tượng của Hegel mà là giữa mọi giai cấp và lực lượng kinh tế đều hết sức hiện thực. Cuộc chiến đấu biện chứng này tất yếu kết thúc bằng một cuộc Cách mạng của công nhân quốc tế, biến đổi xã hội và lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng cuộc Cách mạng này không hoàn toàn và lịch sử nhân loại vẫn cứ tiếp tục biện chứng.

Jeremy Bentham và John Stuart Mill

Bentham
Bentham

Cùng thời gian với Marx, ở Anh, một loại triế học vô thần và duy vật khác đã nảy mầm được gọi là Thuyết Ích dụng hay Thuyết Công lợi do Jeremy Bentham (1748 - 1832) sang lập và sau đó được John Stuart Mill (1806 -1873) cải tiến. Khác với Marx, hai triết gia

người Anh này cho rằng không có sai lầm tự thân nào trong chủ nghĩa tư bản, bởi chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi.

Bentham cho rằng: ―Hệ thống pháp luật của nước Anh được xây dựng trên một mớ bòng bong phản khoa học cảu tiên kiến lịch sử và sự mê tín tôn giáo. Đó là sự nhảm nhí đi cà kheo. Do đó, nhiệm vụ của bất kỳ chính quyền nào được bầu lên là phải đảm bảo sự hạnh phúc lớn nhất cho số đông người nhất.‖

tại.

Một nhà dân chủ nổi tiếng khác của Mỹ là John Dewey (1859-1952). Ông đã có những tư tưởng mới mẻ về xây dựng ý thức dân chủ cho con người từ thuở thiếu thời:

―Tôi đề nghị những nhà giáo dục không nên tiếp tục quan niệm trẻ em như là những bình đựng trống rỗng, thu động để ta tha hồ nhồi nhét đầy thông

tin vào đó. Trái lại phải xem trẻ em như là những người giải quyết vấn đề có tinh thần độc lập suy nghĩ cần được thử thách không ngừng.‖

John Dewey
John Dewey

là 10.000 triết

chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ. Họ vẫn cứ quan niệm triết học như một hoạt động thực tiễn bàn về những vấn đề của ý thức và vô số thứ khác: trí thông minh nhân thọ, y đức, nhân quyền, toán học, thuyết tương đối, logic học… Với tiến trình phát triển mạnh mẽ của triết học sau Phục hưng cho tới cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, xã hội nhân loại thực sự đã thay đổi đến chóng mặt. Và vẫn tiếp tục tiến trình ấy, các học thuyết Hậu hiện đại đã và

Hiện có

lâm và

ít nhất

gia hàn

đang được xây dựng để hoàn thiện dần tri thức nhân loại.

J.S.Mill
J.S.Mill

Vì thế, triết học chính trị phải tìm cách gia tăng sự vui sướng và giảm thiểu đau khổ. Triết học đó phải dân chủ. J.S.Mill đã cố điều chỉnh lại học thuyết của Bentham. Ông lo rằng học thuyết này sẽ dẫn tới ―sự độc tài của đa số‖. Trong quyển Bàn về tự do, ông biện hộ cho một sự bao dung

đối với những ý kiến và lối sống của thiểu số, miễn chúng không làm tổn hại đến những người khác. ―Một xã hội đa nguyên là một xã hội lành mạnh, một phần bởi vì nó mang lại một vũ đài trong đống chân lý rút cục sẽ chiến thắng sai lầm. Luân lý cần cái gì nhiều hơn là sự thống trị của đa số‖.

Tư tưởng dân chủ của Anh đặc biệt phát triển ở Mỹ với các nhà chính trị như Thomas Jefferson (1743- 1826) và Benjamin Franklin (1706-1790), và ở Mỹ đã hình thành một nước Cộng hòa dân chủ. Tại Mỹ, rất nhiều tư tưởng mâu thuẫn nhau đã cùng tồn

nhiều tư tưởng mâu thuẫn nhau đã cùng tồn (Còn nữa: Phần 2 – Chủ Nghĩa

(Còn nữa: Phần 2 – Chủ Nghĩa Hậu hiện đại)

tư tưởng mâu thuẫn nhau đã cùng tồn (Còn nữa: Phần 2 – Chủ Nghĩa Hậu

Trang 22

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Phê phán các chủ nghĩa:

Phê phán cá c chủ nghĩa: tư bản , xã hội và cộng sản

tư bản, xã hội và cộng sản

Phê phán cá c chủ nghĩa: tư bản , xã hội và cộng sản

Quan điểm

Chủ nghĩa tư bản – capital (tổng lượng sản xuất) nghĩa là vốn được sở hữu, hoạt động, và giao dịch với mục đích tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu tư nhân hoặc các cổ đông.

Chủ nghĩa xã hội – ―làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu‖.

Chủ nghĩa cộng sản – ―làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu‖.

Chủ nghĩa tư bản và cộng sản là hai trường phái đối lập khi nói

Chủ nghĩa tư bản và cộng sản là hai trường phái đối lập khi nói đến các tư tưởng kinh tế và xã hội học. Trong khi cụm từ chủ nghĩa xã hội đôi khi được dùng lẫn lộn với từ cộng sản, các cụm từ này không cùng nghĩa - chủ nghĩa cộng sản là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa xã hội.

Cả hai chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đã được nghiên cứu

Cả hai chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đã được nghiên cứu rộng rãi, và tùy thuộc mỗi nơi trên thế giới thì hai loại này mang một ý nghĩa triết lý cũng như giá trị khác nhau. Ví dụ, Hoa Kỳ là một nền dân chủ tư bản trong khi phần lớn các nước Bắc Âu và Tây Âu là những nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Các phê phán về chủ nghĩa tƣ bản

Những người chỉ trích thường cho rằng chủ nghĩa tư bản là liên kết với: phân phối của cải và quyền lực không công bằng và không hiệu quả; theo xu hướng thị trường độc quyền hoặc độc quyền theo nhóm (và cả chính phủ). Ngoài ra, cũng có nhiều ý kiến cho rằng chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, phản cách mạng và là một hình thức khác để khai thác kinh tế và văn hóa, đàn áp người lao động và đoàn viên, hay nặng hơn là hiện tượng xa lánh xã hội, sự bất bình đẳng, thất nghiệp, và bất ổn kinh tế. Nhiều tầng lớp thuộc chủ nghĩa xã hội xem chủ nghĩa tư bản là không hợp lý bởi quy chế sản xuất và lãnh đạo các nền kinh tế không có kế hoạch, do đó tạo ra nhiều bất đồng và mâu thuẫn nội bộ.

Trong những năm đầu thế kỷ 20, Vladimir Lenin lập luận rằng nhà nước sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ lợi ích tư bản chủ nghĩa ở nước ngoài là một hệ quả tất yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Kinh tế gia Branko Horvat đã từng phát biểu rằng, "sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trở nên nổi tiếng trong thời gian gần đây dẫn đến việc tập trung công ăn việc làm, vốn luyến và quyền lực; nhưng ít người biết rằng nó cũng dẫn đến sự phá hủy gần như hoàn toàn nền kinh tế tự do."

Giáo sư kinh tế Ravi

Batra

Southern Methodist

lập luận rằng sự bất bình đẳng giữa mức thu nhập quá đáng và sự giàu có là một

học

tại

Đại

trong

các

nguyên

nhân

bản

của

cuộc

khủng

hoảng

tài

chính

và suy

thoái

kinh

tế, hiện

tượn này sẽ dẫn đến

kinh tế, hiện tượn này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản
kinh tế, hiện tượn này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản

sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản và từ đó sẽ xuất hiện một trật tự xã hội mới.

Các nhà môi trường thì lập luận rằng chủ nghĩa tư bản đòi hỏi phải liên tục tăng trưởng kinh tế, và chắc chắn sẽ làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn của trái đất cũng như các nguồn lực khác đang được sử dụng rộng rãi ở khắp nơi. Các nhà sử học lao động và học giả, chẳng hạn như Immanuel Wallerstein, Tom Brass và sau này là Marcel van der Linden, thì lập luận rằng sự bất công trong lao động như nô lệ, các tù nhân, và những người bị cưỡng chế là tương thích với mối quan hệ tư bản chủ nghĩa.

Nhiều tôn giáo đã chỉ trích hoặc phản đối các yếu tố cụ thể của chủ nghĩa tư bản. Ví dụ như đạo Do Thái giáo truyền thống, Kitô giáo, và Hồi giáo cấm cho vay tiền với lãi suất, mặc dù phương pháp của ngân hàng Hồi giáo đã được phát triển. Riêng Kitô giáo là nguồn của cả hai bên khen chê chủ nghĩa tư bản, đặt biệt về khía cạnh vật chất của chủ nghĩa tư bản.

Các phê phán về chủ nghĩa xã hội

Về chủ nghĩa xã hội, các phê phán từ mô hình kinh tế và chính trị xã hội chủ nghĩa đều không hiệu quả hoặc không phù hợp với quyền tự do dân sự, thậm chí lên án cả các quốc gia theo xã hội chủ nghĩa. Có rất nhiều phê phán tập trung vào các hoạt động kinh tế và nhân quyền của những quốc gia Cộng sản, mặc dù vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh việc có nên tiếp tục phân loại các quốc gia ấy còn theo chủ nghĩa xã hội nữa hay không.

Trong các cuộc tranh luận về kinh tế, Friedrich Hayek lập luận rằng một nền kinh tế chỉ huy bởi xã hội chủ nghĩa khó có thể truyền tải thông tin về giá cả và hạn ngạch sản xuất đầy đủ do thiếu một cơ chế giá cả, và kết quả là nó không thể đưa ra các quyết định kinh tế hợp lý. Thêm nữa, Ludwig von Mises lập luận rằng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không thể tồn tại

Ludwig von Mises lập luận rằng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không thể

Trang 23

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

được, vì hàng hóa không thể được định giá hợp lý khi nhà nước là chủ sở hữu duy nhất vốn hàng hóa. Hayek tiếp tục lập luận rằng việc kiểm soát xã hội dựa trên phân phối của cải và tài sản cá nhân mà chủ nghĩa xã hội chủ trương là không thể đạt được trong lúc không giảm được sự thịnh vượng cho dân chúng nói chung, và mất quyền tự do chính trị và kinh tế.

Quan

Churchill trong một bài diễn văn được phát sóng trước

khi cuộc tổng tuyển cử ở Anh

bởi Winston

điểm của Hayek được

lặp

lại

vào năm 1945:

―…một chính sách xã hội chủ nghĩa là đáng ghê tởm đối với những ý tưởng tự do của Anh. Chủ nghĩa xã hội không thể tách rời được sự đan xen với chế độ độc tài và các đối tượng tôn thờ nhà nước. Nó sẽ quy định cho mỗi người những nơi họ làm việc, phải làm những gì, nơi họ có thể đi và những gì họ có thể nói. Chủ nghĩa xã hội là một cuộc tấn công vào quyền được sống thở tự do. Không có hệ thống xã hội chủ nghĩa nào có thể thành lập mà không có một cảnh sát trị. Ở một hình thức nào đó thì họ sẽ phải dựa lại mô hình của Gestapo 1 […]‖

Sự khác biệt trong nền kinh tế giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Trong một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, các phương tiện sản xuất và phân phối hàng hóa được sở hữu chung hoặc dưới hình thức chính phủ trung ương, trong đó họ thường xuyên lên kế hoạch và kiểm soát hoàn toàn nền kinh tế. Mặt khác, một xã hội cộng sản thường không có chính phủ trung ương – các tài sản thường thuộc sở hữu tập thể và tổ chức lao động dựa vào các lợi thế chung của tất cả những thành viên.

Để chuyển đổi từ một xã hội chủ nghĩa tư bản, bước đầu tiên cần là chủ nghĩa xã hội. Từ một hệ thống tư bản chủ nghĩa, các lý tưởng xã hội chủ nghĩa sẽ dễ dàng đạt được hơn, vì nó là nơi sản xuất phân phối theo thành tích (việc làm) của người dân (theo số lượng và chất lượng công việc thực hiện). Đối với chủ nghĩa cộng sản (phân phối sản xuất theo nhu cầu), điều kiện tiên quyết là phải có sản xuất cao nhằm chia đều cho các nhu cầu của mọi người. Trong một xã hội Cộng sản lý tưởng, mọi người làm việc không phải vì họ phải làm mà vì họ muốn làm và điều này đã vượt ra khỏi ý thức về trách nhiệm.

Khác biệt giữa xã hội chủ nghĩa và cộng sản về chính trị

Chủ nghĩa xã hội không chấp nhận một xã hội dựa trên tầng lớp giai cấp. Nhưng chủ nghĩa xã hội tin rằng họ có thể làm cho quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội mà không có một sự thay đổi cơ bản trong tính cách của nhà nước. Họ giữ quan điểm này bởi họ không nghĩ rằng một nhà nước dưới dạng tư bản chủ nghĩa như một tổ chức chủ yếu cho chế độ độc tài của các tầng lớp tư bản, mà là

độ độc tài của các tầng lớp tư bản, mà là một mảnh nhỏ trong bộ

một mảnh nhỏ trong bộ máy có thể được sử dụng vì lợi ích của bất cứ tầng lớp nào điều khiển được nó. Nếu như vậy thì giai cấp công nhân có quyền lực không cần đập vỡ bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa cũ và thiết lập riêng bộ máy của họ để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Để làm được điều này thì họ phải thực hiện từng bước một trong khuôn khổ của các hình thức dân chủ mà nhà nước tư bản chủ nghĩa đã có. Mặt khác, Cộng sản tin rằng ngay sau khi giai cấp công nhân và các đồng minh của họ chiếm được vị trí lãnh đạo thì họ cần phải thay đổi các tính cách cơ bản của nhà nước, phải thay thế chế độ độc tài tư bản chủ nghĩa bằng chế độ độc tài bởi giai cấp công nhân của người lao động như là bước đầu tiên trong quá trình mà theo đó phải kết thúc sự tồn tại của các nhà tư bản dưới hình dạng một tầng lớp (chứ không phải là một cá nhân) và một xã hội không còn giai cấp cuối cùng được mở ra.

Lời bình và kết luận

Bất kỳ hệ thống nào mà tất cả mọi người dân có tiếng nói chuẩn thuận thông qua một cách chính danh thì đều có thể tồn tại. Đó là bản chất khi chúng ta phấn đấu để thành công và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn bất kể những lĩnh vực bạn đang sinh hoạt là gì. Nhưng ngược lại, xã hội sẽ luôn có những người tận dụng lợi thế quyền lực để chèn ép và lấn áp các lợi ích của những người khác. Trong khi đó, các lý thuyết hứa hẹn những điều viễn vong huyền hoặc cung cấp cho tất cả mọi người các ―nhu cầu‖ mà không cần ―năng lực‖ thì thường đó không phải là những lý thuyết thực tế. Nếu không thì xã hội ngày nay là một xã hội hoàn hảo theo đúng nghĩa.

Chúng ta sống để cố gắng xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Một xã hội không tưởng như chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản khó có thể tồn tại lâu dài nếu không dựa vào một nền chính trị độc tài cùng với bố máy công an, an ninh cồng kềnh len lõi vào mọi hẻm hóc của tư tưởng con người.

Cuối cùng thì dù với chủ nghĩa nào thì chính quyền cũng phải được nhân dân chính thức trao quyền thông qua các cuộc bầu cử công bằng, minh bạch và tự do. Hơn nữa, bất kỳ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, hay chủ nghĩa tư bản thì xã hội cũng cần một bản hiến pháp dân chủ nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của công dân và giới hạn quyền lực của nhà nước, đồng thời phải được toàn dân phúc quyết thông qua một cách công khai và công minh. Một bản hiến pháp phù hợp với nguyện vọng của người dân sẽ sống lâu hơn bất kỳ một thứ chủ nghĩa nào khác.

Đăng Khƣơng biên dịch Tổng hợp từ nhiều nguồn

1. Gestapo là tên gọi tắt của Geheime Staatspolizei, là lực lượng cảnh sát bí mật (hoặc Mật vụ) của tổ chức SS do Đức Quốc xã lập ra.

lực lượng cảnh sát bí mật (hoặc Mật vụ ) của tổ chức SS do Đức

Trang 24

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1

Tháng 5 năm 1988, tờ báo Sự Thật (Pravda) cho đăng một bài viết tóm tắt tình trạng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Sô-viết: ―Không một lĩnh vực nào trong 170 lĩnh vực chủ đạo một lần hoàn thành được mục tiêu Kế hoạch đã đề ra trong

vòng 20 năm qua

ứng dây chuyền là sự gian khổ và thiếu cân bằng, dẫn đến tình trạng ‗hỗn loạn có kế

hoạch‘

đến từng lỗ chân lông của nền kinh tế, và đã trở

thành một huyền thoại.‖

điều này đã mang lại phản

sự mất thăng bằng này đã ảnh hưởng

phản sự mất thăng bằng này đã ảnh hưởng *Richard M. Ebeling, 09/1990 Thanh Thủy biên

*Richard M. Ebeling, 09/1990 Thanh Thủy biên dịch

nhà hoạch định kế hoạch xã hội chủ nghĩa, dù có ý tốt đi chăng nữa, cũng không biết phải làm gì.

Từ ngữ được sử dụng trong bài báo – ―sự hỗn loạn có kế hoạch‖ – đã nắm bắt được thực chất của chủ nghĩa xã hội. Nhưng nó cũng vang lên như minh chứng [sự đúng đắn] của một trong những chỉ trích xác đáng nhất về chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ 20: nhà kinh tế học người Áo, Ludwig von Mises. 17 năm về trước, năm 1920, kinh nghiệm của Sô-viết chỉ mới 3 năm tuổi đời. Nhưng ngay từ thời điểm đó, dưới tên ―Chiến tranh Chủ nghĩa Cộng sản,‖ những người Bôn--vích theo Lê-nin đã quốc hữu hóa công nghiệp, xóa bỏ giá cả và giá lương thị trường, tuyên bố kết thúc nền kinh tế đồng tiền và thiết lập kế hoạch dưới dạng kinh tế chỉ đạo được kiểm soát từ trung ương.

Cũng trong năm đó, 1920, Ludwig von Mises xuất bản một trong những bài luận quan trọng nhất trong lịch sử kinh tế: ―Tính toán Kinh tế trong Khối cộng đồng Xã hội chủ nghĩa‖ (Economic Calculation in the Socialist Commonwealth). Trong chưa đầy 50 trang, Mises đã chứng minh rõ ràng và không thể bác bỏ được, rằng chủ nghĩa xã hội tất sẽ thất bại. Ông đã kết hợp lý luận của bài này vào luận án Chủ nghĩa xã hội, một Phân tích Kinh tế và Xã hội học năm 1922. Trong đó, các nguyên lý kinh tế của hệ thống xã hội chủ nghĩa được phân tích trong bối cảnh rộng lớn hơn cùng với những chứng bệnh xã hội, kinh tế và văn hóa của chế độ tập thể chủ nghĩa.

Không phải ngẫu nhiên mà mọi thử nghiệm với chủ nghĩa xã hội đã tạo ra cái mà Sự Thật gọi là ―sự hỗn loạn được kế hoạch,‖ hoặc, như Mises đã đặt tên cho một trong những cuốn sách của ông những năm 1940, Những Hỗn mang được Kế Hoạch. Ngay cả khi chúng ta bỏ qua chuyện lãnh đạo các nước chủ nghĩa xã hội đã rất ít quan tâm đến an sinh của công dân của họ; ngay cả khi chúng ta không đặt nặng sự thiếu vắng động lực cá nhân trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; và ngay cả khi chúng ta không để ý sự thiếu quan tâm hoàn toàn về người tiêu dùng trong chủ nghĩa xã hội; vấn đề cơ bản vẫn còn nguyên: những

Tâm điểm trong lập luận của Mises về chủ nghĩa xã hội là kế hoạch tập trung của chính phủ phá hủy phương tiện cơ bản nhất – giá cả thị trường thiết lập qua cạnh tranh – qua đó con người trong xã hội đưa ra những quyết định kinh tế một cách có lý trí.

Một nền kinh tế hiện đại với hệ thống phân công lao động tiên tiến, với kỹ thuật tinh vi và nguồn vốn đa dạng phong phú là quá phức tạp để có thể tổ chức và quản lý bởi các nhà hoạch định. Quá nhiều kiến thức (và quá nhiều loại kiến thức) phân tán ở quá nhiều người. Nhà hoạch định không thể tập trung tất cả các thông tin xác đáng và thay đổi không ngừng của một xã hội phức tạp. Anh ta không thể dàn xếp mọi thứ trong một nền kinh tế theo đúng cách để ―cho nó chạy đúng bài bản.‖

Mises giải thích, trong nền kinh tế thị trường tự do (không có sự can thiệp của chính phủ), không tồn tại vấn đề mà nhà hoạch định xã hội chủ nghĩa phải đối mặt. Yếu tố then chốt là tài sản tư nhân và tự do cá nhân. Trong hệ thống phân chia lao động, trong đó mọi giao dịch đòi hỏi sự thoả thuận của người mua và người bán, tư lợi được chuyển hóa thành lợi ích chung (như Adam Smith đã lập luận từ lâu). Không ai có thể lấy được những gì người khác sở hữu, trừ phi, để đổi lại, anh ta mời chào cái gì mà người kia sẵn lòng hoán đổi. Như vậy, một cá nhân, để cải thiện điều kiện của anh ta, bắt buộc phải lưu tâm đến nhu cầu và mong muốn của những người đồng bào khác.

Nhưng trong một hệ thống phân công lao động bao la, bao trọn cả thế giới, trong đó những đối tác giao thương bị chia cắt bởi không gian và thời gian, làm thể nào để phát hiện ra những gì người ta cần sản xuất để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của những người khác? Và làm thế nào để sản xuất với hiệu năng cao, tức là với ít lãng phí kinh tế nhất?

Mises giải thích, chế định tài sản tư nhân sẽ biến tất

với ít lãng phí kinh tế nhất? Mises giải thích, chế định tài sản tư nhân

Trang 25

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

cả những điều đó thành có thể. Sở hữu và tự nguyện trao đổi tạo ra những cơ hội sinh lời từ buôn bán. Trả giá cạnh tranh và mời chào hàng hóa và dịch vụ đa dạng sinh ra giá cả thị trường – mức giá mà ở đó những giao dịch được thỏa thuận và hoàn tất. Tất cả những giá cả đó chuyển tải thông tin hữu ích cho tất cả mọi người trong thị trường về những hàng hóa đang có nhu cầu ở những nơi khác trên thế giới.

Ludwig von Mises Ảnh: Wikipedia
Ludwig von Mises
Ảnh: Wikipedia

Nhà hoạch định xã hội chủ nghĩa, như vậy, chỉ đạo nền kinh tế chủ nghĩa tập thể một cách mù quáng. Anh ta không thể biết hàng hóa nào cần sản xuất, số lượng tương đối là bao nhiêu, và cách thức kinh tế thích hợp nhất là gì để sản xuất với tài nguyên và lao động mà anh ta có dưới quyền lãnh đạo tập trung. Điều đó dẫn đến ―sự hỗn độn được kế hoạch,‖ như Mises đã gọi, hoặc ―trạng thái hỗn loạn được kế hoạch‖ mà báo Sự thật đã nhắc đến.

Cùng lúc đó, sở hữu tư nhân các phương tiện sản xuất cho phép thu mua và thuê các nguồn tài nguyên và lao động để sản xuất những mặt hàng người tiêu dùng có thể muốn mua. Việc trả giá cạnh tranh bởi các doanh nhân để mua được những phương tiện sản xuất đó làm nên giá cả thị trường cho các tài nguyên cần thiết. Các giá cả này tạo điều kiện cho doanh nhân đánh giá giá trị tương đối và tính sinh lời của việc sử dụng các phương tiện sản xuất theo những cách khác nhau. Về mặt kinh tế, chúng cung cấp phương tiện để xác định hàng hóa nào nên sản xuất ít tốn kém nhất.

Ludwig von Mises sinh ngày 29 tháng 9 năm 1881. Tháng 9 năm 1990 này đánh dấu sinh nhật lần thứ 109 của ông. (Ông qua đời ngày 10 tháng 10 năm 1973, 92 tuổi). Tác phẩm xuất sắc nhất của ông, Hành động của Con người, Một Luận án Kinh tế, được xuất bản ngày 10 tháng 9 năm 1949, tức 41 năm trước [khi tác giả viết bài này]. Trong cả cuộc đời, ông là một trong những nhà bảo vệ cương quyết sự tự do của con người và nền kinh tế thị trường tự do. Và ông cũng là một trong những nhà phê bình quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ 20.

Ngoài ra, vì tiền là phương tiện trung gian để hoàn tất các mối giao dịch, đồng thời cũng là giá trị thị trường của mọi hàng hóa, dịch vụ và mọi phương tiện sản xuất đều được chung quy lại theo mẫu số chung để tiện cho việc so sánh và đánh giá – giá trị tính bằng tiền trên thị trường.

Theo Mises, đó chính là điều biến ―tính toán kinh tế‖ trong nền kinh tế thị trường thành điều có thể. Mọi người đều có tự do trong việc lựa chọn. Giá thị trường xuất phát từ những lựa chọn đó, cho phép mỗi cá nhân mua và chia sẻ thông tin về nhu cầu của những người khác trong thị trường. Thị trường cung cấp phương thức qua đó người ta có thể ra quyết định tự do và kinh tế nhất. Cả quá trình này mang lại lợi ích cho toàn xã hội.

Vấn đề với chủ nghĩa xã hội, Mises nhấn mạnh, là nó rút ngắn quá trình ―tính toán kinh tế.‖ Và nó làm như vậy bằng cách bãi bỏ sở hữu các phương tiện sản xuất tư nhân, và loại trừ các mối trao đổi một cách hòa bình và tự nguyện. Vì thiếu quyền tư hữu luật định, nó sẽ không có khả năng lẫn động lực để mua bán; không có gì để mua bán, sẽ không có trả giá và mời chào hàng hóa và tài nguyên; không có trả giá và chào hàng, sẽ không có trao đổi được thực hiện; không có giao dịch được thực hiện, sẽ không có giá cả thị trường; và vì không có giá thị trường thể hiện các giá trị tương đối của hàng hóa và tài nguyên, sẽ không có phương cách duy lý để biết hàng hóa và tài nguyên có giá trị như thế nào đối với con người; do đó, doanh nhân không thể biết làm thế nào để hàng hóa và tài nguyên có thể được sử dụng một cách hiệu quả và năng suất để thỏa mãn nhu cầu và mong ước của công chúng tiêu dùng.

Nhưng trong cuộc đời, ông đã từng bị phỉ báng và hờn ghét bởi một phần lớn cộng đồng trí thức, trong đó có nhiều người trong ngành kinh tế, ở khắp nơi trên thế giới. ―Tội ác‖ của ông là gì? Trong một kỷ nguyên nơi ý thức hệ chủ nghĩa tập thể lên ngôi, dưới dạng này hay dạng khác, trong đó Nhà nước được thờ phụng như chúa trời, và trong đó sự phục tùng Nhà nước trước sau như một được đề ra, Ludwig von Mises cương quyết bảo vệ cá nhân và sự tự do cá nhân chống lại các chính phủ quyền lực vô hạn.

Nhưng ông đã làm nhiều hơn thế. Ông đã xé vụn ảo tưởng xã hội chủ nghĩa vốn từng tuyên bố thịnh vượng có thể đến từ nền kinh tế kế hoạch tập trung. Ông không chỉ chứng tỏ rằng thịnh vượng chỉ có thể đến qua sợ tự do và thị trường tự do. Chủ nghĩa xã hội như một phương thức cải thiện điều kiện sống của con người là điều không thể.

Chủ nghĩa xã hội đang suy thoái trên toàn thế giới. Những người đã từng sống dưới chủ nghĩa xã hội đang tìm cách khám phá lại những quy tắc và định chế của nền kinh tế thị trường. Ludwig von Mises đã cống hiến cuộc đời ông để chỉ ra tại sao chủ nghĩa xã hội phải tàn lụi và tại sao kinh tế tự do là không thể thay thế. Sự can đảm và tận tụy của ông đối với những nguyên tắc của tự do là hình mẫu và lý tưởng cho tất cả chúng ta noi gương trong các thế hệ tương lai.

* Giáo sư Ebeling là Giáo sư kinh tế danh hiệu Ludwig von Mises tại Đại học Hillsdale và cũng là Phó Chủ tịch phụ trách các vấn đề học thuật của Quỹ Tương Lai Tự Do.

© 2011 Bản tiếng Việt TCPT

phụ trách các vấn đề học thuật của Quỹ Tương Lai Tự Do. © 2011 Bản

Trang 26

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1

H ơn một thế kỷ sau cái chết của Karl Marx, ông vẫn được xem như là một trong những nhân vật

gây tranh cãi nhiều nhất trong thế giới phương Tây.

Marx không ngừng chỉ trích chủ nghĩa tư bản và hứa hẹn một tương lai xã hội chủ nghĩa hài hòa là không thể tránh khỏi, và sẽ là nguồn cảm hứng dẫn tới các cuộc cách mạng mang tính quy mô ở toàn cầu. Và dường như – với cuộc cách mạng Bolshevik ở Nga và sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản trên khắp Đông Âu – thì giấc mơ chủ nghĩa Mác đã bắt rễ vững chắc trong nửa đầu của thế kỷ XX.

Giấc mơ ấy đã sụp đổ trước khi thế kỷ XX chấm dứt. Người dân Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc, Đông Đức, Rumani, Nam Tư, Bulgaria, Albania, và Liên Xô đã bác bỏ ý thức hệ Mác-xít và bước vào quá trình chuyển đổi đáng kể đối với quyền sở hữu tư nhân và hệ thống kinh tế thị trường, mà cho đến ngày nay hệ thống này vẫn tiếp tục hoạt động mạnh mẽ. Khía cạnh nào của chủ nghĩa Mác đã tạo ra một lực lượng cách mạng mạnh mẽ như thế? Và phải giải thích như thế nào về sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác? Những câu trả lời lại nằm trong một số đặc điểm chung của chủ nghĩa Mác – kinh tế, lý thuyết xã hội, và tầm nhìn tổng thể.

David L. Prychitko* - Nguyên Ân biên dịch

Lý thuyết về giá trị lao động

Lý thuyết về giá trị lao động là một trụ cột chính trong nền kinh tế truyền thống của Marx, nó đã được thể hiện qua kiệt tác Capital (1867). Yêu cầu cơ bản của lý thuyết rất đơn giản: giá trị của một loại hàng hóa có thể được đo lường một cách khách quan bằng số lượng giờ lao động trung bình cần thiết để sản xuất rằng mặt hàng đó.

Ví dụ, nếu một đôi giày phải mất gấp đôi thời gian để sản xuất so với một cái quần thì đôi giày đó mang giá trị gấp hai lần so với cái quần. Về lâu dài, giá cả cạnh tranh của đôi giày sẽ mắc gấp hai lần giá của cái quần, bất kể giá trị của các yếu tố vật chất như thế nào.

Mặc dù lý thuyết về giá trị lao động đã được chứng minh là sai lầm, nhưng nó vẫn chiếm ưu thế trong số các nhà kinh tế cổ điển trong thời gian giữa thế kỷ 19. Ví dụ, Adam Smith đã ve vãn với lý thuyết về giá trị lao động trong các bài viết cổ điển bảo vệ chủ nghĩa tư bản, The Wealth of Nations [tạm dịch Sự giàu có của các quốc gia] (xuất bản năm 1776), và sau đó là David Ricardo đã hệ thống hóa lý thuyết trên qua tác phẩm Principles of Political Economy [tạm dịch Các nguyên tắc của kinh tế chính trị]

(xuất bản năm 1817), một văn bản mà nhiều thế hệ đã sử dụng để nghiên cứu nền kinh tế thị trường tự do.

Vì vậy, các lý thuyết về giá trị lao động không phải là điều duy nhất đối với chủ nghĩa Mác. Tuy nhiên, Marx đã cố gắng biến các lý thuyết ấy nhằm chống lại các lý thuyết về chủ nghĩa tư bản, thậm chí còn đẩy nó theo hướng để làm cho hầu hết các nhà kinh tế học cổ điển phải phân vân, lưỡng lự không biết phải làm thế nào. Marx lập luận rằng lý thuyết đó có thể giải thích các giá trị của tất cả mặt hàng, bao gồm cả hàng hóa mà công nhân bán cho nhà đầu tư để đổi lại số lương bổng. Marx gọi ấy là "sức lao động" hàng hóa.

Quyền lực lao động là khả năng của các công nhân trong việc sản xuất ra hàng hóa và các dịch vụ. Bằng cách sử dụng các nguyên tắc về kinh tế học cổ điển, Marx giải thích rằng giá trị của sức lao động phải phụ thuộc vào số giờ lao động mà xã hội cần để nuôi dưỡng, cung cấp thức ăn, quần áo, và nơi trú ẩn để nhân viên có khả năng làm việc. Nói cách khác, các công nhân làm việc dài hạn thường sẽ phụ thuộc vào số giờ lao động cần thiết trong quá trình sản xuất để họ làm việc cho phù hợp. Giả sử mỗi

lao động cần thiết trong quá trình sản xuất để họ làm việc cho phù hợp.

Trang 27

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

ngày phải mất năm giờ trong số giờ lao động để ăn uống, sắm sửa, và bảo vệ một công nhân để họ có sức làm việc cho buổi sáng hôm sau, và nếu một giờ lao động bằng một đồng đô la, thì mức lương đúng mức của họ sẽ là năm đô la mỗi ngày.

Marx sau đó đã đặt ra một câu hỏi tàn khóc rằng:

nếu tất cả các hàng hóa và dịch vụ trong xã hội tư bản chủ nghĩa có xu hướng bán với giá (tiền lương) qua đó phản ánh giá trị thực sự của các mặt hàng (được đo bằng giờ lao động), thì làm thế nào các nhà tư bản hưởng được lợi nhuận ngay cả khi chỉ trong thời gian ngắn hạn? Làm thế nào để các nhà tư bản vắt ra số thặng dư còn lại giữa tổng doanh thu và tổng chi phí?

Đáp án mà Marx giải thích là các nhà tư bản buộc phải được hưởng một số vị trí đặc quyền và mạnh mẽ với tư cách là chủ của những tư liệu sản xuất và do đó có thể tàn nhẫn bóc lột những công nhân khác. Mặc dù các nhà tư bản trả tiền lương xác đáng cho các công nhân của họ, nhưng bằng cách nào đó – Marx đã không giải thích rõ ràng ở đây – rẳng các nhà tư bản buộc các công nhân phải làm việc nhiều giờ hơn để gắng vắt sức lao động của họ. Nếu như các nhà tư bản trả tiền cho mỗi công nhân là năm đô la mỗi ngày, thì có thể nói rằng anh ta yêu cầu công nhân làm việc mười hai giờ mỗi ngày – một ngày làm việc có thể được xem là bình thường trong những năm mà Marx còn sống. Do đó, nếu một giờ lao động bằng một đồng đô la, mà công nhân sản xuất tổng cộng trị giá là mười hai đô la nhưng chỉ được trả năm đô la mỗi ngày. Điểm mấu chốt là: các nhà tư bản bòn rút ―giá trị thặng dư‖ từ những công nhân lao động và tận hưởng số tiền lợi nhuận.

Mặc dù Marx đã cố gắng sử dụng lý thuyết giá trị lao động để chống lại chủ nghĩa tư bản bằng cách khai thác hết khả năng của nó, nhưng ông vô tình đã chứng minh những lô-gic và các giả định cơ bản yếu kém của nó. Marx đã đúng khi ông cho rằng các nhà kinh tế cổ điển không giải thích đầy đủ về lợi nhuận của các nhà tư bản chủ nghĩa. Nhưng Marx cũng đã thất bại. Đến cuối thế kỷ 19, các giới kinh tế gia đã bác bỏ lý thuyết về giá trị lao động. Các kinh tế gia ngày nay tin rằng lợi nhuận không phải do các nhà đầu tư khai thác sức lao động của công nhân. Thay vào đó, họ tin rằng, các nhà đầu tư kinh doanh kiếm lợi nhuận bằng cách đoán trước được sức tiêu thụ hiện tại, bằng cách chấp nhận rủi ro, và bằng cách tổ chức sản xuất hiệu quả.

Sự tha hoá

Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác còn có nhiều ý nghĩa khác nữa so với lý thuyết về giá trị lao động và những lời chỉ trích của Marx về cách tìm kiếm các khoản lợi nhuận. Marx thu dệt nền kinh tế và triết học lại với

nhau nhằm xây dựng một lý thuyết lịch sử về con người và thay đổi xã hội. Khái niệm về sự tha hóa của ông, ví dụ, lần đầu tiên đưa ra trong Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 [Bản thảo Kinh tế và Triết học năm 1844], đã đóng một vai trò quan trọng liên quan đến những lời chỉ trích về chủ nghĩa tư bản.

Marx tin rằng mọi người, bởi bản chất, là tự do, là những thể chất sáng tạo hoàn toàn có thể biến đổi thế giới. Tuy nhiên, ông quan sát thấy rằng thế giới công nghệ hiện đại phát triển dường như ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Marx đã lên án các thị trường tự do là "hỗn loạn", hoặc bừa bãi [không có sự thống trị - ungoverned]. Ông cho rằng các nền kinh tế thị trường được điều phối – thông qua việc mua bán tự phát và tài sản tư nhân quyết định bởi luật cung và cầu – đã ngăn chặn khả năng kiểm soát số phận của những cá nhân và tập thể.

Marx đã lên án chủ nghĩa tư bản là một hệ thống xa lánh quần chúng. Lý luận của ông như sau: mặc dù công nhân sản xuất ra các mặt hàng trên thị trường, là lực lượng của thị trường, nhưng công nhân lại không phải là người nắm mọi quyền hành. Mọi người được yêu cầu phải làm việc cho các nhà tư bản có toàn quyền kiểm soát các phương tiện sản xuất và duy trì quyền lực tại nơi mà công nhân làm việc. Việc làm đó, ông nói, trở nên thoái hóa, đơn điệu, và chỉ phù hợp cho các loại máy móc chứ không phải cho những con người sáng tạo và tự do. Cuối cùng, công nhân tự trở thành đối tượng của cơ chế người máy bị mất cảm giác với bản chất con người, đưa ra những quyết định dựa trên sự lạnh nhạt của lợi nhuận, ít quan tâm đến giá trị và những cần thiết của con người. Marx kết luận rằng các khối tư bản đã ngăn chặn khả năng tạo ra một xã hội nhân đạo mà chúng ta đang sống.

Khái niệm về sự tha hóa của Marx dựa trên các giả định quan trọng nhưng hay dao động [không vững chãi]. Ông đưa ra giả định rằng con người có thể thành công xóa bỏ xã hội thị trường tân tiến, và thay vào đó bằng một xã hội hoàn toàn dân chủ theo kế hoạch. Marx tuyên bố rằng chúng ta đang tha hóa không chỉ bởi vì nhiều người trong chúng ta vất vả chùi đầu vào những công việc tẻ nhạt, thậm chí còn có thể làm giảm giá trị, hoặc bởi vì chúng ta cạnh tranh trên thị trường theo xu hướng đặt lợi nhuận trên nhu cầu của con người. Vấn đề ở đây không phải so sánh sự vất vả với hạnh phúc. Chúng ta đang thái hóa, ông biện luận, bởi vì chúng ta chưa thiết kế được một xã hội có đầy đủ kế hoạch và kiểm soát, một xã hội không có sự cạnh tranh, lợi nhuận và thua lỗ, tiền bạc, tài sản tư nhân, và vân

vân

chắc chắn phải xuất hiện khi thế giới tiến lên thông

– một xã hội mà theo Marx đã dự đoán, là

phải xuất hiện khi thế giới tiến lên thông – một xã hội mà theo Marx

Trang 28

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

qua lịch sử.

Đây là vấn đề lớn nhất đối với lý thuyết của Marx về sự tha hóa: ngay cả với những phát triển mới nhất trong công nghệ máy tính, chúng ta cũng không thể tạo ra một hệ thống toàn diện theo kế hoạch nhằm chấm dứt những tình trạng khan hiếm và tính bất định. Nhưng đối với những người theo Mác khi nói về sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản, thì họ phải đặt giả định rằng một thế giới có kế hoạch chắc chắn sẽ thành công. Marx tin rằng dưới chủ nghĩa tư bản, chúng ta đã "tha hoá" hoặc "tách biệt" những tiềm năng lập kế hoạch mang tính sáng tạo và kiểm soát số phận chung của chúng ta. Nhưng nếu kế hoạch xã hội chủ nghĩa toàn diện thất bại trong thực tế, nếu – và quả thật như vậy, nó là một điều không thể – như chúng ta đã học được từ Mises và Hayek, thì chúng ta không thể nào "tha hóa" theo cách sử dụng thuật ngữ của Marx. Chúng ta không thể nào ―tha hóa‖ từ ―tiềm năng‖ của chúng ta trong một kế hoạch kinh tế toàn diện nếu mà các quy hoạch toàn diện của Marx là điều không thực tế, là điều không có!

Khoa học

Xã hội chủ

nghĩa

sử - luật mà theo ông sẽ phơi bày được những mâu thuẫn về chủ nghĩa tư bản và sự cần thiết cho các cuộc đấu tranh giai cấp.

Marx dự đoán rằng sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư sẽ phát triển rất khốc liệt, cuối cùng, hầu hết các nhà đầu tư sẽ phá sản, chỉ còn lại một số ít các nhà tư bản độc quyền kiểm soát gần như tất cả các nền sản xuất. Vấn đề này, đối với Marx, là một trong những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản: sự cạnh tranh, thay vì tạo ra các sản phẩm tốt hơn với giá thấp cho người tiêu dùng, thì trong thời gian dài hạn lại tạo ra sự độc quyền, mà dựa theo đó thì các nhà tư bản lại bóc lột sực lao động của công nhân cũng như người tiêu dùng. Điều gì xảy ra với các nhà đầu tư trước đây? Họ lại rơi vào hàng ngũ của giai cấp vô sản, tạo thêm nguồn cung cấp lao động, dẫn đến mức lương bị tuột giảm, và điều mà Marx gọi là ‗sự tăng trưởng lực lượng thất nghiệp dự trữ‘. Ngoài ra, Marx nghĩ rằng, bản chất của nền kinh tế thị trường lại phức tạp, hỗn loạn, không có kế hoạch nên sẽ dễ dẫn đến khủng hoảng kinh tế nếu như nguồn cung và cầu trở nên không phù hợp, có thể gây biến động lớn trong hoạt động kinh doanh, và cuối cùng, là khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.

cuối cùng, là khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Theo một số ý kiến kiên cường

Theo một số ý kiến kiên cường chống lại chủ nghĩa duy tâm, thì Marx cho rằng những lời chỉ trích của ông về chủ nghĩa tư bản đều dựa trên những phát triển mới nhất trong khoa học. Ông gọi lý thuyết của ông là " khoa học xã hội chủ nghĩa" để phân biệt rõ ràng với các loại chủ nghĩa xã hội khác, chẳng hạn như Henri de Saint-Simon và Charles Fourier – những người dường như luôn nuôi giấc mơ về một xã hội lý tưởng trong tương lai mà không thấu hiểu xã hội hiện tại thực sự hoạt động như thế nào.

Khoa học Xã hội chủ nghĩa của Marx kết hợp cùng với kinh tế và triết lý, bao gồm cả lý thuyết về giá trị và khái niệm tha hóa, để chứng minh rằng trong suốt quá trình lịch sử nhân loại, một cuộc đấu tranh sâu sắc đã phát triển giữa các nhóm "có" và các nhóm ―không có". Marx cho rằng chủ nghĩa tư bản đã bị vỡ vào một cuộc chiến tranh giữa hai tầng lớp:

giai cấp tư sản (giai cấp tư bản sở hữu các phương tiện sản xuất) và giai cấp vô sản (giai cấp công nhân, giới mà bị các nhà tư bản thương xót). Marx tuyên bố rằng ông đã phát hiện ra quy luật của lịch

Marx biện luận rằng một nền kinh tế tư bản chủ

nghĩa càng tiến bộ thì những mâu thuẫn và xung đột lại càng nhiều. Chủ nghĩa tư bản càng tạo ra của

càng gieo hạt giống tự phá hủy càng

nặng. Cuối cùng, giai cấp vô sản sẽ nhận ra rằng họ

có thể dùng sức mạnh tập thể để lật đổ một số ít các nhà đầu tư còn lại, và sau đó, là toàn bộ hệ thống.

cải, thì

lại

Marx nghĩ rằng toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa – với những tài sản cá nhân, tiền bạc, thị trường, kế toán, tổn thất và lợi nhuận, thị trường lao động, và vân vân… – phải được bãi bỏ, và thay thế bằng một hệ thống với đầy đủ các kế hoạch cũng như tự quản lý nền kinh tế sẽ hoàn toàn chấm dứt sự bóc lột và tha hóa. Một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, theo lập luận của Marx, là không thể tránh khỏi.

Một thẩm định

Marx chắc chắn là một nhà tư tưởng sâu sắc, người đã giành vô số tình cảm ủng hộ của nhiều người

một nhà tư tưởng sâu sắc, người đã giành vô số tình cảm ủng hộ của

Trang 29

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

trên khắp thế giới. Tuy nhiên, dự đoán của ông đã không chịu đựng được sự thử thách của thời gian. Mặc dù các thị trường tư bản chủ nghĩa đã thay đổi trong vòng 150 năm qua, nhưng sự cạnh tranh không hề phân cấp thành các nhà tư bản độc quyền. Trên thực tế thì tiền lương đã tăng và tỷ lệ lợi nhuận đã không suy sụp. Và cũng không có sự hình hành về ‗tăng trưởng lực lượng thất nghiệp dự trữ‘ như Marx đã diễn tả. Đúng là chúng ta có những cuộc đọ sức với các chu kỳ kinh tế, nhưng ngày càng có nhiều các nhà kinh tế học tin rằng cuộc suy thoái và tình trạng trì trệ có thể là kết quả ngoài ý muốn của sự can thiệp của nhà nước (thông qua chính sách tiền tệ được thực hiện bởi ngân hàng trung ương và chính sách của chính phủ về thuế và chi tiêu) so với tính năng vốn có của các thị trường.

Chắc chắn rằng các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có xảy ra trên toàn thế giới, nhưng không bao giờ lý thuyết của Marx dự đoán nó có thể xảy ra trong các nước tư bản tiên tiến nhất. Ngược lại, chủ nghĩa xã hội đã cưỡng bức những người nghèo, ở những nơi thường được gọi là Các nước Thứ ba. Và những cuộc cách mạng thường vô tình bị quần chúng nghèo đói lên án vì họ phải sống trong các hệ thống và chế độ độc tài chính trị. Trong thực tế, chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn thất bại trong việc tạo ra các xã hội ‗phi tha hóa‘, tự quản lý, và được kế hoạch một cách đầy đủ. Nó không giải phóng được quần chúng và thay vào đó nghiền nát dân chúng với chế độ trung ương tập quyền, thống trị, và lạm dụng quyền lực nhà nước một cách kinh hãi.

các nhà sùng bái cũng như các cựu Mác-xít lại nghiêm túc đặt vấn đề về chủ nghĩa này. Ngày nay, một số người theo hậu chủ nghĩa Mác vẫn còn tồn tại, điển hình là các nhóm nỗ lực hoạt động không ngừng trong tạp chí nghiên cứu Rethinking Marxism [Cân nhắc lại chủ nghĩa Mác]. Thay vì cố gắng giải quyết các bí hiểm của lý thuyết giá trị lao động hoặc đề ra các mô hình, lý thuyết mới của nền kinh tế kế hoạch, nhiều ‗môn đệ‘ sắc nét nhất của chủ nghĩa Mác ngày nay lại đánh giá cao sự phân tích cận biên và những vấn đề kiến thức cũng như khuyến khích cùng hoạt động chung với nhau. Trong nền văn học mới này, Friedrich Hayek dường như có cách nhận thức tích cực hơn so với Marx. Thật khó biết trước những gì sẽ đến qua các loại phát triển này, nhưng chắc chắn nó không giống chủ nghĩa Mác của quá khứ.

* David L. Prychitko là giáo sư kinh Northern Michigan University, Hoa Kỳ.

tế tại

-----

Đọc thêm:

Boettke, Peter J. The Political Economy of Soviet Socialism: The Formative Years, 1918 1 9 2 8 . Boston: Kluwer, 1990.

Böhm-Bawerk, Eugen von. Karl Marx and the Close of His System. 1896. Reprint. Clifton, N.J.: Augustus M. Kelley, 1975.

Các quốc gia cho phép quyền sở hữu tư nhân và trao đổi thị trường một cách toàn diện, trái ngược với những "nước dân chủ cộng hòa xã hội chủ nghĩa" của thế kỷ XX, đã được hưởng mức tăng trưởng kinh tế dài hạn đáng khâm phục. Nền kinh tế thị trường tự do đã nâng quần chúng ra khỏi ngèo đói, và tổng thể đã tạo điều kiện và thể chế cần thiết cho một nền chính trị tự do.

Marx đã không hiểu được điều này. Và các môn đệ của ông ta cũng vậy. Lý thuyết về giá trị của Marx, triết học của ông về bản chất con người, và tuyên bố của ông về sự phát minh ra quy luật của lịch sử chỉ phù hợp với nhau nhằm cung cấp một tầm nhìn phức tạp và quy mô về trật tự trong một thế giới mới. Nếu trong ba quý đầu tiên của thế kỷ hai mươi cung cấp nền tảng cho việc thử nghiệm về những tầm nhìn đó, thì cuối thế kỷ hai mươi chúng đã chứng tỏ bản chất không tưởng thực sự và không thể thực hiện được.

Trong cơn trỗi dậy liên quan đến sự sụp đổ hàng loạt của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Mác truyền thống – chủ nghĩa mà các nhà kinh tế học chỉ trích không ngừng trong nhiều thập kỷ qua, thì hiện nay

Burczak, Theodore. Socialism After Hayek. Ann Arbor: University of Michigan Press, 2006.

Elliot, John E., ed. Marx and Engels on Economics, Politics, and Society: Essential R e a d i n g s w i t h Editorial Commentary. Santa Monica, Calif.:

Goodyear, 1981.

Hayek, Friedrich A. The Fatal Conceit: The Errors of Socialism. Edited by W. W. Bartley III. Chicago:

University of Chicago Press, 1988.

Kolakowski, Leszek. Main Currents of Marxism. 3 vols. New York: Oxford University Press, 1985.

Prychitko, David L.

Markets,

Planning,

and

Democracy:

Essays

After

the

Collapse

of

Communism. Northampton, Mass.: Edward

2002.

Elgar,

Prychitko, David L. Marxism and Workers‘ Self- Management: The Essential Tension. W e s t p o r t , Conn.: Greenwood Press, 1991.

Marxism and Workers‘ Self - Management: The Essential Tension. W e s t p o r

Trang 30

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Tất cả tư tưởng của Marx không ngoài mục đích làm xoay chuyển trở lại cái bánh xe Lịch Sử đã bị coi như dừng lại ở thời ông. Ngày nay, chúng ta cũng thấy "bánh xe lịch sử" bị bắt buộc phải ngừng quay trước "chân trời không thể vượt qua" của dân chủ đại nghị và kinh tế thị trường. Vì thế, tìm hiểu Marx, một cách chân thành, ngoài mọi thiên kiến, có thể là một nhu cầu tự nhiên ở vào thời đại của chúng ta. Nguyễn Hoài Vân

vào thời đại của chúng ta. Nguyễn Hoài Vân N gười ta đã nhân danh Marx
vào thời đại của chúng ta. Nguyễn Hoài Vân N gười ta đã nhân danh Marx

N gười ta đã nhân danh Marx sát hại trên dưới 100 triệu người, thừa đủ để học thuyết Marx bị đưa

vào thùng rác của lịch sử. Nhưng, hãy nghĩ lại: người ta đã nhân danh Thiên Chúa để giết hại không dưới 80 triệu thổ dân Mỹ Châu, chưa kể bao người vô tội tại các lục địa khác. Có cần đưa Thiên Chúa và Ky Tô Giáo vào thùng rác của lịch sử hay không?

Học thuyết Marx đã được tôn sùng thái quá bởi những guồng máy tuyên truyền tại các quốc gia toàn trị, và bởi đội ngũ trí thức ngự trị trên trường tư tưởng tại các nước tự do. Người ta còn nhớ câu nói của Sartre:

«những kẻ chống Cộng là đồ chó!» Ngày nay, đội ngũ trí thức quay lưng lại Marx, mặc dù chưa nhất quyết phải chạy theo cái gì. Trong sự trống vắng đó, dân chủ nghị trường cùng với kinh tế tự do mặc nhiên trở thành « điểm đến của Lịch Sử ». Như thể tất cả sẽ dừng lại ở đó: ở một hình thái dân chủ, và ở thị trường tự do. Điều quan trọng phải tự hỏi là những vấn đề trọng đại của nhân loại có hy vọng được giải quyết bởi các phương thuốc này hay không? Vấn đề môi sinh ô nhiễm, vấn đề chênh lệch giàu nghèo, vấn đề tài nguyên khánh kiệt… Địa cầu chỉ còn khoảng hơn 40 năm dự trữ dầu hoả, 70 năm khí đốt, 55 năm Uranium. Thêm vào đó, số lượng xe hơi và mức tiêu thụ năng lượng sẽ nhân đôi trong hai thập niên tới (1). Giả sử người ta thành công trong việc nâng cao mức sống của đại đa số dân trên thế giới hiện đang nghèo đói, đến mức ngang hàng với người dân Hoa Kỳ, thì tài nguyên của trái đất sẽ khánh kiệt trong vòng 10 năm, chưa kể đến vấn đề ô nhiễm. Thử tưởng tượng mọi người Trung Hoa đều có xe hơi, khói xe của họ sẽ làm ngộp thở toàn địa cầu! Dân chủ đại nghị, kinh tế duy lợi, có ngăn cản được người Trung Hoa mua xe hơi hay không? Có bắt nổi người Hoa Kỳ, vô địch trong lãnh vực lãng phí tài nguyên và gây ô nhiễm, phải bớt tiêu thụ, bớt hao phí tài nguyên, bớt gây ô nhiễm, hay không? Có bắt nổi người dân các nước giàu mạnh, phải giảm mức sống của mình để chia sẻ với nhân dân các nước nghèo đói hay không?

Marx cũng đã từng đứng trước một « điểm đến của Lịch Sử » ở thời ông. Xã hội thời Marx mang dấu ấn của cuộc cách mạng Pháp 1789. Với cuộc cách mạng ấy, người tư sản đã đoạt quyền kiểm soát xã hội, đã xây dựng một xã hội tư sản, rồi ngừng lại ở đó. Xã hội

tư sản không có mục tiêu nào khác hơn là sự trường tồn của nó. Triết học của giai đoạn đó, triết học Hegel, đồng hóa Thiên Chúa với toàn thể sự Hiện Hữu. Sự vật là Thiên Chúa trong không gian, và Lịch Sử là Thiên Chúa trong thời gian. Người ta có thể phối trí và xây dựng sự vật một cách thuần lý, để đạt đến một Lý Tưởng, đến Thiên Chúa, và con đường đưa đến trạng thái Lý Tưởng ấy, là Lịch Sử. Ở cuối cuộc hành trình của Ý Niệm, là điểm đến của Lịch Sử. Ở đó, Lịch Sử sẽ vĩnh viễn ngừng lại. Theo Hegel, xã hội tư sản vào thế kỷ 19 chính là cái kết cuộc này của Lịch Sử. Marx đã trưởng thành trong bối cảnh tư tưởng ấy. Ông đã từng quan sát « điểm đến của Lịch Sử » thời ông, như chúng ta đang nhìn « điểm đến của Lịch Sử » ở thời chúng ta. Tất cả tư tưởng của ông không ngoài mục đích làm xoay chuyển trở lại cái bánh xe Lịch Sử đã bị coi như dừng lại ấy. Vì thế, tìm hiểu Marx, một cách chân thành, ngoài mọi thiên kiến, có thể là một nhu cầu tự nhiên ở vào thời đại của chúng ta.

Mặt khác, cũng có thể nói tìm hiểu Marx, ở thời chúng ta, bắt đầu bằng việc nhìn ra những ngộ nhận về Marx. Các guồng máy tuyên truyền, Cộng sản cũng như chống Cộng, đã đưa vào đầu óc chúng ta quá nhiều xác quyết về Marx—những xác quyết sai lầm. Xin nêu lên ở đây vài ngộ nhận nền tảng, để cùng bạn đọc suy xét.

MARX VÀ THUYẾT ĐỊNH MỆNH (Déterminisme)

Quan điểm của Marx cho rằng ý thức của con người bị điều kiện hóa bởi môi trường sống, thường bị hiểu như « định mệnh chủ nghĩa ». Ngộ nhận này đưa đến những tuyên bố dao to búa lớn vạch ra cái gọi là « đường đi tất yếu của Lịch Sử », trong đó con người chỉ hiện diện như một bộ phận trong guồng máy. Theo lý thuyết này, ý thức của con người bị điều kiện hóa bởi cuộc sống, mà cuộc sống chuyển hóa trong thời gian, lại chính là Lịch Sử, nên, trong dòng Lịch Sử, con người bị nắm cổ lôi đi, mất hẳn tính cách tác nhân, chủ động. Thuyết định mệnh chính là quan niệm tương lai chẳng là gì khác hơn là hiện tại được nối dài, được « suy diễn » từ những quy luật, từ sự vận hành một cách máy móc, của những « dữ kiện », bao gồm không những các dữ kiện vật chất, mà cả ý thức, suy tư và hành động của con người. Với quan

các dữ kiện vật chất, mà cả ý thức, suy tư và hành động của con

Trang 31

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

điểm này, cách mạng không còn chỗ đứng. Cách mạng đòi hỏi đoạn tuyệt với một hiện trạng, không thể là sự nối dài của hiện trạng cho dù với bất cứ « quy luật tất yếu » nào.

Khi Marx trình luận án tiến sĩ, vào năm 1841, lúc ông vừa 23 tuổi, với đề tài « Khác biệt giữa triết học thiên nhiên của Démocrite và của Epicure », Marx đã đứng về phía Epicure, chống lại quan điểm « định mệnh » của Démocrite. Thêm vào đó, ông vạch ra tương quan biện chứng giữa tự do sáng tạo và sự quy định của những điều kiện thực tế. Nhiều năm sau, người ta đọc ông trong Tư Bản Luận: « Lịch Sử loài người khác với Lịch Sử thiên nhiên ở chỗ con người làm nên Lịch Sử của mình, chứ không phải thiên nhiên ». Đó là khía cạnh « Tự Do » trong sáng tạo. Nhưng ông cũng nói trong Le 18 Brumaire de Louis Bonaparte: « Con người làm nên lịch sử của mình, nhưng con người không thể làm lịch sử một cách độc đoán, theo những điều kiện mà mình chọn lựa, mà ngược lại, phải chiều theo những điều kiện trực tiếp kế thừa từ quá khứ ». Đó là khía cạnh « bị quy định » bởi thực tại.

Đến đây, chỉ nói đến khía cạnh « quy định » trong học thuyết Marx là phản bội Marx. Tinh hoa của tư tưởng của Marx là tổng hợp và vạch ra tương quan giữa hai yếu tố « tự do » và « quy định », trong tiến trình « sáng tạo Lịch Sử » của con người. Marx cho rằng sự khác biệt giữa nhà kiến trúc sư kém cỏi nhất và con ong tài ba nhất, là người kiến trúc sư xây dựng công trình của mình trong trí óc, trước khi thực hiện nó trong thực tế. Kết quả việc làm của nhà kiến trúc đã hiện hữu trong trí tưởng tượng của ông trước khi ông bắt tay vào việc (2). Hành động của con người thể hiện mục tiêu mà người ấy đã định trước trong ý thức của mình. Lịch Sử con người phát sinh từ ý thức ấy, ý thức dự phóng, ý thức mục đích. Tia sáng cùa cái « trí tuệ biết dự phóng » nơi con người chiếu rọi vào thời gian trước mặt, để cho thấy, không phải là một tương lai khả hữu duy nhất, mà nhiều tương lai khả hữu. Con người có khả năng chọn lựa giữa những tương lai khả hữu ấy. Không thấy đâu là « con đường tất yếu của Lịch Sử » cả! Xã hội Chủ nghĩa hoàn toàn không có tính tất yếu! Xã hội Chủ nghĩa chỉ là một tương lai khả hữu. Tư bản Chủ nghĩa, sau khi đã cho hết những ưu điểm của nó, có thể đưa đến Xã hội Chủ nghĩa hay một cái gì khác.

Lồng trong thuyết định mệnh, quan điểm « kinh tế quy định tất cả », cũng thường được gán cho Marx. Engels nói: « Chính Marx và tôi, phần nào phải lãnh trách nhiệm trong việc một số người trẻ nhiều khi gán cho khía cạnh kinh tế một tầm quan trọng quá đáng. Trước sự phủ nhận vai trò của kinh tế nơi những đối thủ của chúng tôi, chúng tôi đã phải nhấn mạnh đến khía cạnh ấy, và không phải lúc nào chúng tôi cũng tìm ra được thời giờ, nơi chốn, và dịp thuận tiện để

thời giờ, nơi chốn, và dịp thuận tiện để nêu lên chỗ đứng của những yếu

nêu lên chỗ đứng của những yếu tố khác (ngoài kinh tế), cùng tham gia vào tác động hỗ tương » (3).

Vấn đề « thượng tầng cấu trúc » cũng là một ngộ nhận thông thường đối với học thuyết Marx. Trong Idéologie Allemande, Marx cho rằng:

« … vì thế, luân lý, tôn giáo, siêu hình học (…) và những hình thái ý

thức liên hệ, mất đi bề ngoài độc lập, tự hữu ». Người ta hiểu rằng chúng hoàn toàn bị quy định, như « đời sống quy định ý thức, không phải ý thức quy định đời sống » (4). Tuy nhiên Marx cũng nói: « Điều khó hiểu, không phải là nhận biết rằng nghệ thuật (Cổ) Hy Lạp (…) gắn liền với những hình thái phát triển của xã hội thời ấy. Khó khăn nằm ở chỗ nghệ thuật Hy Lạp vẫn đem lại cho chúng ta, ngày nay, những cảm hứng mỹ thuật và vẫn còn (…) giá trị tiêu chuẩn, mô thức, không gì sánh

được »

politique). Nghệ thuật cũng thuộc « thượng tầng cấu trúc », và ở đây đã được Marx khảng định tính độc lập, trái với những gì người ta thường hiểu. Engels cũng đã điều chỉnh câu nói của Marx, rằng: « (thượng tầng cấu trúc) mất bề ngoài độc lập » (4), khi ông khẳng định tính « độc lập tương đối » của thượng tầng cấu trúc (3).

ĐIỀU

(DOGMATISME)

Không gì xa lìa học thuyết Marx hơn là chủ nghĩa giáo điều. Từ thiếu thời, Marx đã phá bỏ hai hình thái giáo điều chủ nghĩa, đó là: giáo điều chủ nghĩa duy tâm của Hegel, và giáo điều chủ nghĩa duy vật của Feuerbach. Feuerbach đảo ngược triết lý giáo điều duy tâm của Hegel, cho rằng trong triết học Hegel, con người đã phóng cái Lý Tưởng trong tâm thức mình ra bên ngoài mình, để làm nên Thiên Chúa, rồi tôn thờ, chạy theo cái lý tưởng gọi là Thiên Chúa ấy. Đó là một hiện tượng « vong thân ». Ông cho rằng thay vì đi tìm Thiên Chúa, phải tìm lại con người, để chữa lành căn bệnh vong thân kia. Ông đảo ngược triết lý của Hegel, nhưng vẫn giữ cái khung giáo điều của triết lý ấy, thay thế Thần Hoc bằng một « thần học » khác, một « thần học » duy vật. « Con người » mà Feuerbach muốn tìm lại, là một con người trừu tượng, không thật, lơ lửng trên cái không trung của một hệ thống triết học. Marx đem con người ấy vào xã hội, và gắn nó vào hiện thực bằng hành động. Vì con người hành động, nên con người tham dự vào cuộc sống, và với xã hội tính, con người có khả năng hành động tập thể. Con người hiện hữu bằng hành động, tác động trên hiện thực, nhưng cũng bị quy định bởi hiện thực. Gắn liền với hiện thực, bởi tương quan biện chứng, là chối bỏ « giáo điều chủ nghĩa ».

MARX

(Contribution à la critique de l‘économie

CHỦ

NGHĨA

GIÁO

Thật vậy, khi đề ra một lý thuyết, Marx luôn xác định phạm vi áp dụng của lý thuyết ấy, tức cái « hiện thực » trong đó lý thuyết này đúng, và những biến

của lý thuyết ấy, tức cái « hiện thực » trong đó lý thuyết này đúng,

Trang 32

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

đổi cho ra cái « hiện thực » khác sẽ phủ định nó. Thí dụ khi nói về « quy luật giá trị » (loi de la valeur), cho rằng lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị của

trong đó

cung và cầu đều vô hạn, và yếu tố máy móc chỉ

truyền lại chứ không can thiệp vào việc tạo ra giá trị. Trong bối cảnh máy móc chạy bằng hơi nước ở thời ông, Marx đã ý thức rằng quy luật giá trị sẽ trở thành sai, khi khoa học tiến bộ hơn và can thiệp trực tiếp vào khả năng sản xuất. Ông viết: « Cùng lúc với sự phát triển của đại kỹ nghệ, việc làm ra của cải càng ngày càng bớt lệ thuộc vào số lượng thời gian làm việc, và càng ngày càng lệ thuộc nhiều hơn vào hiệu năng của yếu tố cơ khí (…). Sản xuất sẽ lệ thuộc vào trình độ tiến triển của khoa học và kỹ thuật (…). Khi mà lao động, dưới dạng trực tiếp, không còn là nguồc gốc chính của phú hữu, thì thời gian làm việc cũng không còn là thước đo của sự phú hữu ấy

politique, t. II).

Ở một đoạn sau, Marx thêm vào yếu tố « tổ chức sản xuất » rằng: « mặc dù không thể thiếu được, (lao động trực tiếp) bị thâu hẹp vào một vai trò khiêm nhượng đối với tác động của khoa học (…) và năng lực sản xuất đến từ mô hình tổ chức xã hội của toàn thể lực lượng sản xuất ». Quy luật giá trị trở thành sai, dự đoán « lợi nhuận (của tư bản) luôn có khuynh hướng giảm sút » cũng sai. Tư bản sẽ không nhất thiết kẹt vào mâu thuẫn « càng tăng sản xuất càng kém lợi nhuận, và càng kém lợi nhuận càng tăng sản xuất ». Thêm vào đó, Tư bản còn có thể tạo ra những thị trường mới tùy khả năng sản xuất của mình, hay có thể nhận được từ chính quyền những giúp đỡ, trực tiếp hay gián tiếp, v.v… Những tuyên bố cường điệu kiểu như « Tư bản Chủ nghĩa đang dãy chết » trở thành vô nghĩa.

Sang một vấn đề khác. Người ta thường nói đến năm giai đoạn Lịch Sử được Marx nêu ra: cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản, và cộng sản văn minh. Trong thư trả lời Michailovski năm 1877, Marx chống lại những người đã « biến hóa sơ đồ mà tôi (Marx) đã vẽ lên để mô tả sự hình thành của Tư bản Chủ nghĩa tại Tây Âu, và biến sơ đồ ấy thành một lý thuyết lịch sử và triết học có tính phổ quát, áp dụng một cách tất yếu cho toàn thể mọi dân tộc, bất chấp những điều kiện lịch sử của các dân tộc ấy … ». Trong Lời Cuối của Tư Bản Luận ấn bản thứ hai, năm 1873, Marx trích dẫn một tạp chí Nga (Le Messager Européen), như sau: « … người ta nói rằng các quy luật của đời sống kinh tế luôn nhất quán, luôn bất biến : chúng áp dụng cho hiện tại cũng như cho quá khứ. Đây chính là điểm mà Marx chống lại: theo ông, các quy luật trừu tượng không có thật … Ngược lại, mỗi giai đoạn lịch sử có những quy luật riêng của giai đoạn ấy ».

LÝ THUYẾT NHÀ NƢỚC CỦA MARX

Trong Critique de la Philosophie de l‘Etat de

la

critique de l‘économie

hàng hóa, Marx giả định một môi trường

»

(Fondements

de

Hegel (1843), Marx đã vạch ra thực chất của cái Nhà nước Đức Phổ mà Hegel coi như cao điểm của Lý Trí. Hegel cho rằng Nhà nước là nguồn gốc của xã hội công dân (hay dân sự), do ở tính tiêu chuẩn, nền tảng, tượng trưng cho Lý Trí, của nó. Marx, ngược lại, khẳng định xã hội công dân cho ra Nhà nước. Xã hội công dân (hay dận sự), là sự tập hợp của những quyền lợi kinh tế và xã hội. Nó cho ra Nhà nước. Vậy Nhà nước đến từ những quyền lợi kinh tế xã hội. Nhà nước không đại diện cho một Lý Tưởng trừu tượng, mà đại diện cho quyền lợi kinh tế xã hội của thành phần ưu thắng. Theo phương pháp luận của Feuerbach, thì việc người dân cho ra xã hội công dân, cho ra Nhà nước, đặt nó lên đầu mình, rồi phục vụ nó, bị nó cai trị, chỉ huy, là một hiện tượng vong thân (một lý luận tương tự như với khái niệm Thiên Chúa). Giải pháp được Marx đề ra là một nền dân chủ thực thụ (tức ―tìm lại người dân‖, như ―tìm lại con người‖ nói ở trên), phá bỏ tư tưởng mù quáng cho rằng Nhà nước là hiện thân của một Lý Tưởng, là ―đỉnh cao của Trí Tuệ‖ …

Một Nhà Nước toàn trị, tập trung, càng ngày càng can thiệp vào mọi lãnh vực của đời sống, là một quan điểm hoàn toàn trái ngược với học thuyết Marx. Mặc dù vậy, người ta vẫn thường hay đồng hóa mô hình Nhà nước cồng kềnh, chỉ huy kinh tế, với Cộng sản, với học thuyết Marx. Trong Chỉ trích các chương trình Gotha và Erfurt , Marx và Engels (đồng tác giả), viết rằng: ―Với sự hình thành của xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhà Nước sẽ tự nó tan rã và biến mất‖.

Thay thế bằng cái gì? Ở thời ông, Marx chỉ có một thí dụ bộc phát trước mắt, đó là Công xã Paris. Marx và Engels rút tỉa ra từ thí dụ ấy, những ưu điểm mà người ta có thể tóm lược như sau: một chế độ tự quản, một hình thái Dân chủ trực tiếp, và một sự tản quyền rộng rãi có thể đưa đến chế độ liên bang nếu Công xã Paris thành công trong việc lan ra trên toàn nước Pháp.

VAI TRÒ CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG

―Đảng lãnh đạo‖ là một khẳng định phản lại học thuyết Marx. Đối với Marx, đảng là môi trường của ý thức chứ không phải là nơi tập trung quyền lãnh đạo. Nếu không thì đảng cũng sẽ rơi vào một trường hợp vong thân. Người lao động phóng ước vọng của mình ra ngoài mình, thành ra đảng lao động, rồi cắm cúi phục vụ nó, chính là vong thân, là để cho một thành phần của tâm trí mình, mà mình đã đánh mất, quay lại chỉ huy, đàn áp mình, như đã nói ở trên với Thiên Chúa và Nhà nước.

Marx viết: ―Chúng ta không thể (…) đi cùng đường với những kẻ tuyên bố rõ ràng rằng người lao động không đủ kiến thức để có thể tự giải phóng mình và cần được giải phóng từ bên trên‖ (thư gửi Brake, 17 tháng 9 năm 1879).

Marx cũng chống lại sự độc tôn của Xã hội Chủ nghĩa

trò của (đệ

trong giai cấp cần lao. Ông viết: ―Vai

sự độc tôn của Xã hội Chủ nghĩa trò của (đệ trong giai cấp cần lao.

Trang 33

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

nhất) Quốc tế (Cộng sản) là tổ chức, phổ biến, điều hành, những cao trào tự phát của giai cấp thợ thuyền, chứ không phải là chỉ huy hay áp đặt bất cứ hệ thống tư tưởng nào‖.

MARX VÀ THUYẾT “KHÔNG TƢỞNG” (UTOPIE)

Người ta thường nói học thuyết Marx là Xã hội Chủ nghĩa ―khoa học‖, đối nghịch lại với những Fourier, Saint Simon v.v… là Xã hội Chủ nghĩa ―hoang tưởng‖. Như đối với nhiều triết gia đi trước ông như Hegel, Feuerbach, Fitche, Moses v.v… và cả Epicure, Marx không dấu diếm ảnh hưởng của các nhà xã hội tiền phong trên tư tưởng của ông, mặc dù trên một số khía cạnh, ông chỉ trích họ. Engels nói, ―Chúng ta, những người Xã hội Đức, hãnh diện vì nguồn gốc của chúng ta không những đến từ Saint Simon, Fourier và Owen, mà từ cả Kant, Fichte, và Hegel‖.

Thật ra ―hoang tưởng" không hoàn toàn đối nghịch lại với học thuyết Marx. Như đã nói ở trên, Lịch Sử không dẫn đến một tương lai tất yếu. Tức là có nhiều tương lai khả hữu. Con người với ý thức mục tiêu trong hành động của mình, có thể hình dung một trong những tương lai khả hữu ấy như mục tiêu của hành động của mình. Tương lai được hình dung và được chọn làm mục đích ấy, có thể sẽ không xảy ra. Sự hình dung nọ trở thành hoang tưởng. Mặc dù vậy, nó không nhất thiết đối nghịch lại với học thuyết Marx. Sự hoang tưởng chỉ đối nghịch lại với học thuyết Marx khi nào nó hoàn toàn bị bứng rễ khỏi thực tại, khi nó phủ nhận tương quan biện chứng giữa tự do sáng tạo và ảnh hưởng của thực tại, khi nó trở thành hoàn toàn trừu tượng, sản phẩm của Lý Tưởng, của Ý Niệm thuần túy.

MARX VÀ CÁC TRIẾT HỌC DUY TÂM, DUY VẬT

Bị gọi là ―duy tâm duy ý chí‖ là một sỉ nhục đối với người Cộng sản. Thật ra, duy tâm và duy vật liên hệ với nhau bằng một tương quanhbiện chứng. Như đã nói ở trên, giữa những tương lai khả hữu, con người hướng đến một tương lai được coi như ―tốt‖, như ―lý tưởng". Đó là một quan điểm duy tâm. Marx không chống lại thái độ ấy, mà đem nó vào thực tại, qua trung gian của hành động. Hành động là ảnh hưởng trên những yếu tố cụ thể của thực tại. Qua hành động con người bắt buộc phải chịu « quy luật » của thực tại. Sáng tạo của « con người hành động » không thể không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện cụ thể. Điểm then chốt của học thuyết Marx là Hành Động. Một thái độ Lý Tưởng duy tâm có thể là một khởi điểm cho Hành Động, và như thế, nó trở về với thực tại, để thể hiện tương quan nền tảng của học thuyết Marx giữa một bên là sáng tạo tự do, bên kia là thực tế quy định. Cần nhớ là Marx không chỉ đơn thuần định nghĩa Xã Hội Chủ nghĩa qua những phương tiện của nó, kiểu

Chủ nghĩa qua những phương tiện của nó, kiểu như những hình thái sản xuất này

như những hình thái sản xuất này nọ (tức những điều chỉ có giá trị ở một thời và một chỗ), mà ông cũng định nghĩa Xã hội Chủ nghĩa qua cứu cánh của nó, qua mục đích đem lại cho con người sự nảy nở toàn diện, để « một em bé mang tài năng của Mozart hoặc của Raphael, có thể thực sự trở thành Raphael hoặc Mozart » (4). Đó là một lý tưởng, là duy tâm, và lý tưởng ấy là khởi điểm của triết học Hành Động của Marx …

Hegel là hiện thân của triết học Duy tâm. Thế mà Marx nói về Hegel như sau: « Liện hệ giữa tôi và Hegel rất đơn giản. Tôi là một đệ tử của Hegel, và những điều bá láp của những tên hậu sinh nghĩ rằng đã đến lúc có thể đem chôn nhà tư tưởng vĩ đại này, đối với tôi, hoàn toàn khôi hài » (2). Engels nói, trong lời mở đầu ấn bản 1874 của sách la Guerre des Paysans, rằng: « nếu trước đó không có trết học (duy tâm) Đức Quốc, nhất là triết học Hegel, thì Xã hội Chủ nghĩa khoa học đã không thể nào hiện hữu được ».

Mặt khác, Marx không phải là một nhà Duy vật giáo điều, mặc dù ông đã tiếp nhận di sản của các nhà Duy vật trước ông, đặc biệt là Feuerbach. Trong thư gửi Feuerbach ngày 11 tháng 8 năm 1844, Marx viết: « ông đã đem lại cho Xã hội Chủ nghĩa (…) nền tảng triết học ». Engels thì nói: « Tất cả chúng tôi, một thời, đều đã từng theo Feuerbach » (3).

Duy vật giáo điều cho rằng cái thực tại mà ta cảm nhận thấy có một sự hiện hữu tự thân. Thực tại trở thành « sự thật tuyệt đối », thành tiêu chuẩn, thay thế cái Lý tưởng, hay Ý Niệm của trường phái Duy tâm. Thực ra, thực tại mà ta nhận biết chỉ là một sự thật tương đối, được tâm trí chúng ta tạo thành qua sự hiểu biết, qua kinh nghiệm, qua tâm lý, qua những phương tiện quan sát và thực nghiệm mà khoa học kỹ thuật ở thời đại chúng ta cho phép. Con người tìm biết thực tại bằng giả thuyết và thực nghiệm. Bước đường tìm biết thực tại như thế, là vô cùng tận. Ở mỗi chặng đường, con người vẽ lên một bức tranh tạm thời hình dung thực tại, và đề ra những giả thuyết, những dự phóng về thực tại, cần được kiểm chứng qua hành động, qua thực nghiệm. Duy vật giáo điều quan niệm sự vận động của sự vật hiện hữu một cách tự thân, « tuyệt đối », quy định Lịch Sử và cho ra một tương lai tất yếu. Lịch Sử đã được viết sẵn. Học thuyết Marx, ngược lại, quan niệm nhiều giả thuyết về thực tại, và nhiều tương lai khả hữu. Sang trường phái Duy tâm thì chính sự vận động của Ý Niệm trên con đường vạch ra bởi biện chứng pháp, mang vai trò quy định Lịch Sử. Tuy nhiên, con người không tiếp cận với sự vật tự nhiên cũng như với những phạm trù ý niệm một cách trực tiếp, mà phải qua trung gian của đời sống, đời sống cá nhân, gia đình, và xã hội. Vì thế, với Marx, sự vận động của vật chất cũng như sự vận động của ý niệm đều phải hội nhập vào đời sống, qua triết lý Hành Động, để trở thành sự vận động của Lịch Sử.

Vài tháng trước khi ông qua đời, tôi có viết cho Trần

sự vận động của Lịch Sử. Vài tháng trước khi ông qua đời, tôi có viết

Trang 34

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Đức Thảo một bức thư trong đó có đoạn như sau :

« Bác đã trích dẫn Lénine để cho rằng: ‗Không có trình độ thấp nhất của vậy chất‘, tức vật chất không

có cái gì được nhìn nhận là đầu tiên để mà quy định mọi bước tiến hóa khác. Bác cũng cho rằng thế giới là ‗vật chất vô hạn đương vận động‘. Tựu trung, ta có thể hiểu, như Lénine, rằng: ‗Thiên Nhiên trong tất cả các bộ phận của nó không có gì đầu tiên và cũng không có gì kết thúc‘. Cái ‗vật chất‘ không có hạn chế và cũng không biết từ đâu ra như thế có còn là vật chất hay không? Chấp nhận sự hiện hữu của vật chất như vậy có còn thực sự là ‗duy

vật biện chứng‘ nữa hay không? Vì đến một lúc nào đó, ở chỗ vô hạn , hay ở chỗ khởi thủy không hiện hữu, sẽ không còn cái điểm tựa vật chất để mà biện chứng nữa, và sẽ chỉ còn là vận động khái niệm thuần túy, tức là duy tâm ».

Trả lời vấn nạn này rất đơn giản. Lénine, cũng như Marx, không lý luận như những nhà duy vật giáo điều, tức không bàn đến giới hạn hay khởi điểm của vật chất tự

thân, mà của vật chất được nhận biết được bởi con người. Sự tìm hiểu vật chất, Thiên Nhiên, cũng như Thế Giới, Vũ Trụ, là vô cùng tận, khám phá ra cái này nó lại lòi ra cái khác, mỗi giả thuyết khi áp dụng vào thực nghiệm lại đặt ra một số vấn đề, một số trục trặc, thúc đẩy người ta tìm ra những giả thuyết, những phát minh mới … « Vật chất được nhận biết bởi con người » được coi là vô hạn, vì con đường tìm biết môi trường vật chất là một con đường vô hạn.

MARX VÀ TÔN GIÁO

Người ta thường thu tóm quan điểm của Marx về tôn giáo trong câu: « tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng ». Marx viết câu ấy vào năm 1843, lúc ông 25 tuổi, trong tác phẩm Critique de la Philosophie du Droit de Hegel. Trong cùng một đoạn văn, ông cũng nói: « Tôn giáo một mặt phản ảnh sự cùng khổ của con người, mặt khác là sự đối kháng chống lại sự cùng khổ ấy ». Tức là tôn giáo cũng có thể là mầm mống của cách mạng …

Như đã bàn đến nhiều lần ở trên, mọi quan điểm của Marx đều phải được đăt trong bối cảnh Lịch Sử trong đó quan điểm ấy có thể áp dụng được. Marx chống lại tôn giáo ở thời ông, vì tôn giáo, vào lúc đó, đóng vai trò thành trì của các lực lượng bảo thủ, chống lại mọi sự thay đổi trong một xã hội đầy dẫy áp bức, bất công. Trên mặt triết lý, tôn giáo, theo mô hình mà Marx chứng kiến, là một hiện tượng vong thân. Con người phóng ra ngoài mình những ước vọng, sợ sệt, lý tưởng, rồi hệ thống hóa thành Thiên Chúa, để chạy theo thờ phượng (vong thân là đánh mất những gì

của mình và bị những thứ ấy thống trị ngược lại). Không những thế, với Hegel, người ta còn quan niệm Lịch Sử như một con đường dẫn đến Thiên Chúa, thông qua nhà nước Đức Phổ và xã hội tư sản. Tôn giáo trở thành « nút chặn » đối với sự vận hành của Lịch Sử. Nếu chúng ta là những người Ky Tô Hữu sống ở thời Marx, rất có thể chúng ta cũng chia sẻ một số nhận định của Marx về tôn giáo ?

Ở một giai đoạn Lịch Sử khác, Marx và Engels không

ngần ngại đề cao vai trò của tôn giáo trong công cuộc đấu tranh chống bất công xã hội. Trong Contribution à l‘Histoire du Christianisme

Primitif, Engels gọi các cộng đồng Ky Tô Giáo nguyên thủy là là những tổ chức Xã hội Chủ nghĩa đầu tiên. Ông cũng nhấn mạnh đến vai trò khai phóng của của Ky Tô Giáo trong xã hội Cổ La Mã đang trên đà rữa nát, mặc dù ước vọng về một sự đổi mới, trên nguyên tắc, sẽ chỉ thành sự thật sau sự sụp đổ của cái thế giới cùng khổ này, ở một « đời sau » tốt đẹp và hạnh phúc. Đến thế kỷ

16, nhà thần học Thomas Munzer quan niệm lời Chúa, Ý Chúa, không phải tìm ở bên ngoài, mà ở trong chính nội tâm con người. Vấn đề « vong thân‖ trong điều kiện đó không đặt ra nũa, và Engels gọi Munzer là « đấng Tiên Tri của Cách mạng ». Vì Ánh Sáng của Thiên Chúa soi chiếu nội tâm của mỗi người, giàu cũng như nghèo, quý phái cũng như cùng đinh, nên Thần Học của Munzer đưa đến bình đẳng, chống áp bức, bất công. Khi tham gia một cuộc nổi dậy của nông dân, ông viết trên lá cờ hiệu hàng chữ sau: « Lạy Chúa, xin hãy ủng hộ Công Lý của Ngài ». Engels cho rằng « Nước Chúa, đối với Munzer, là một xã hội không có giai cấp, không có tư hữu, và không có Nhà nước ».

Thử hỏi có bao nhiêu người Công Giáo thành thực nghĩ rằng Nước Chúa là một xã hội giai cấp, tư hữu, cai trị bởi một guồng máy Nhà nước ?

Marx và Engels cũng thừa nhận ảnh hưởng của Joachim de Flore, một tu sĩ sống ở thế kỷ 12, trên Xã hội Chủ nghĩa. Lý thuyết của ông này dựa trên sách Apocalypse, tức quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh Tân Ước. Joachim de Flore cho rằng giai đoạn một ngàn năm được nói đến trong Apocalypse, trong đó Đức Ky Tô sẽ trở lại ngự trị trên thế giới, chính là một sứ điệp hy vọng, một Tin Mừng theo nghĩa gốc của chữ Evangile (evagellion tiếng Hy Lạp là tin mừng). Đó cũng là một thôi thúc đấu tranh, liền trong hiện tại, cho sự hình thành của Nước Chúa, với Tình Yêu ngự trị trên mọi tương quan xã hội. Tư tưởng này đem tương lai vào hiện tại, và, như học thuyết Marx, nó có khả năng làm quay lại bánh xe Lịch Sử bị bế tắc. Thần học của người tu sĩ Joachim de Flore đã ảnh hưởng trên những nhà cách mạng sau đó, từ Jan Hus, qua Thomas Munzer, đến Marx và Engels.

― Ngày nay, tôn giáo, đặc biệt là Ky Tô Giáo, trong đại đa số
― Ngày nay, tôn giáo, đặc biệt là
Ky
Giáo,
trong đại
đa
số
trường hợp, không còn là công cụ
của áp bức nữa, mà ngược lại,
thường đứng về phía kẻ bị áp bức.
Những chính quyền đàn áp tôn giáo
đều là những chính quyền bảo thủ
và ở nhiều nơi trên thế giới, tôn
giáo chính là niềm hy vọng chủ yếu,
nếu không phải là duy nhất, trong
việc chuyển đổi những thể chế tệ
hại, tham nhũng, bất công, bóc
lột…
nhất, trong việc chuyển đổi những thể chế tệ hại, tham nhũng, bất công, bóc lột…

Trang 35

CHÍNH TR - XÃ HI

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

Trước tính áp bức bất công của Nhà nước Đức Phổ, gắn liền với Ky Tô Giáo ở thời ông, Marx nói trong la Question Juive: « Nhà nước tự nhận là Ky Tô Giáo thật ra chỉ là sự phủ nhận Ky Tô Giáo của Nhà nước ấy, và hoàn toàn không phải là sự thể hiện của Ky Tô Giáo trong chính trị ». Ông chủ trương đạt đến một xã hội trong đó « nền móng không phải là Ky Tô Giáo, mà là nền tảng nhân bản của Ky Tô Giáo »(5).

Ngày nay, tôn giáo, đặc biệt là Ky Tô Giáo, trong đại đa số trường hợp, không còn là công cụ của áp bức nữa, mà ngược lại, thường đứng về phía kẻ bị áp bức. Những chính quyền đàn áp tôn giáo đều là những chính quyền bảo thủ và ở nhiều nơi trên thế giới, tôn giáo chính là niềm hy vọng chủ yếu, nếu không phải là duy nhất, trong việc chuyển đổi những thể chế tệ hại, tham nhũng, bất công, bóc lột …

Đức Gioan Phao Lồ đệ nhị nói, năm 1995: « Tư bản phải phục vụ cho lao động, không phải lao động phục vụ cho Tư bản », tóm lược những ý tưởng đã được Ngài đề ra trong Sứ Điệp Centesimus Annus (1991), đưa đến nhận xét khôi hài của Benoit Duquesne:

« Đức Gioan Phao Lồ đệ nhị là người Marxiste cuối cùng !» (6).

CHỜ ĐỢI GÌ NƠI HỌC THUYẾT MARX?

Vào tháng 10 năm 2002, trang nhà của tự điển bách khoa danh tiếng Encyclopedia Britanica đăng một tài liệu của Peter Hudis về Marx (Marx trong toàn cầu

hóa - Marx in the mirror of globalisation), gọi Marx là

« vị tiên tri của Toàn Cầu Hóa ». Hudis trích dẫn John

Micklethwait và Adrian Wooldridge, hai nhà biên tập của tạp chí « The Economist », phát biểu trong tác phẩm A future perfect: the challenge and hidden promise of globalisation, cho rằng quan điểm của Marx về « liên hệ toàn cầu giữa các quốc gia » đã mô tả những vấn đề đặt ra bởi toàn cầu hóa, từ cách đây

150 năm! John Cassidy trong một bài báo năm 1977 The Return of Karl Marx (New Yorker) gọi Marx là « Nhà tư tưởng vĩ đại của tương lai » (the next big thinker), và trích dẫn một nhà tài phiệt cao cấp của Wall Street, như sau: « Càng kinh doanh lâu năm ở Wall Street, tôi càng vững tin rằng Marx có lý ».

Francis Wheen, trong Karl Marx, a life, phát biểu rằng: « Càng nghiên cứu Marx, tôi càng nhận ra tính chất hợp thời một cách không thể tưởng tượng được của ông. Những chuyên gia hay nhà chính trị thời nay thường tự hào là những nhà tư tưởng tiền phong khi không bỏ lỡ cơ hội nào để bàn đến vấn đề thời trang « toàn cầu hóa », mà không biết rằng Marx đã phân tích đề tài này từ năm 1848 ».

Thật ra, có lẽ không nên nhìn những phân tích của Marx từ năm 1848, mà nên nhìn phương pháp phân tích của ông. Áp dụng học thuyết Marx, ờ thế kỷ 21, không thể là sao chép những gì Marx đã đề ra vào cuối thế kỷ 19. Áp dụng học thuyết Marx, ở thế kỷ 21, là nối tiếp công trình nghiên cứu của Marx, là ứng dụng linh động phương pháp phân tích thực tại của ông, và từ đó đề ra những dự kiến vượt lên thực tại, để, qua Hành Động, làm chuyển vận trở lại bánh xe biện chứng bị ngưng trệ, ngõ hầu tham gia một cách ý thức và sáng tạo vào Lịch Sử.

Bạn có thể tự hỏi: « Tai sao tôi lại bỏ công phu tìm tòi biện hộ cho Marx? » Tôi cũng tự hỏi như vậy. Và, một buổi sáng nọ, tôi đã tìm ra câu trả lời, đó là : ở một trình độ rất khiêm nhượng, tôi có một cái gì chung với ông. Thật vậy, cũng như Marx, tôi không phải là người mác xít (7)!

N.H.V.

7/4/2004

Ảnh: marxistupdate.com
Ảnh: marxistupdate.com
mác xít (7)! N.H.V. 7/4/2004 Ảnh: marxistupdate.com Chú Thích : (1) www.decroissance.org (2) Tư Bản

Chú Thích :

(1) www.decroissance.org

(2)

Tư Bản Luận

(3)

Marx et Engels Etudes

Philosiophiques Ed Sociales

(4)

Idéologie Allemande – Ed Sociales

(5)

La Question Juive

(6)

Benoit Duquesne - La France en

Direct - Antenne 2 :15/1/1996

(7)

Marx, không phải là người Marxiste » – Thư Engels gửi Berstein - 3/11/1882

Marx nói với Lafargue : « Tôi, Karl

Nguồn: www.nguyenhoaivan.com

Trang 36

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

S au văn hóa Trung Quốc và văn hóa Pháp, chủ nghĩa Marx đã từng là một hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn tới xã hội Việt Nam. Thế nhưng, kể từ khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, và đặc biệt trong

thời kỳ đổi mới – hội nhập, thì lòng tin vào chủ nghĩa Marx đã bị suy sụp trên một đất nước mà Chủ nghĩa Cộng sản thắng thế. Mặc dù chủ nghĩa Marx vẫn được rao giảng đều đặn từ nhà trường tới xã hội, nhưng liệu nguyên nhân của hiện tượng suy giảm lòng tin này có phải chỉ đơn thuần vì chủ

nghĩa Marx sai lầm?

phải chỉ đơn thuần vì chủ nghĩa Marx sai lầm? Nhật Tân Chân lý tối thƣợng?
phải chỉ đơn thuần vì chủ nghĩa Marx sai lầm? Nhật Tân Chân lý tối thƣợng?
Nhật Tân
Nhật Tân
đơn thuần vì chủ nghĩa Marx sai lầm? Nhật Tân Chân lý tối thƣợng? Nhìn lại

Chân lý tối thƣợng?

Nhìn lại thế kỷ 19 và thế kỷ 20, ta không thể phủ nhận những hiệu quả mà chủ nghĩa Marx và Quốc tế Cộng sản đã làm được. Họ là một miếng ghép không thể thiếu trên bức hình hoàn hảo của nền tảng dân chủ. Trong khi giai cấp tư sản đang thắng thế và những người công nhân, nông dân phải chịu đựng một cuộc sống khốn khó về vật chất, không được đảm bảo các quyền làm người tối thiểu, thì Chủ nghĩa Marx đã giúp những người này ý thức được nhân quyền mà họ gần như đã lãng quên.

Trải qua quá trình phát triển của Quốc tế Cộng sản thứ 2 với chủ trương thỏa hiệp quyền lợi do Enghen đề xuất cho tới Quốc tế Cộng sản thứ 3 do Lenin đề xướng với chủ trương bạo động, Chủ nghĩa Marx đã đi đến đường lối cực đoan. Nhưng một hiệu ứng không ngờ, vượt ra khỏi suy tính của ―ba vị thánh‖ Cộng sản này, đó là Chủ nghĩa Cộng sản đã đạt được thành công lớn ở đa số các

nước thuộc địa. Tại đây, Chủ nghĩa Cộng sản đã cổ vũ người dân thuộc địa đứng dậy đòi chủ quyền cho dân tộc, chấm dứt hoàn toàn chế độ thực dân. Nhưng đáng nực cười là Chủ nghĩa cộng sản của Marx lại không hề thành công trong tiến trình xây dựng đất nước, mà cụ thể là ở Việt Nam. Tại sao vậy? Có phải vì Chủ nghĩa Marx là không đúng đắn?

Như đã nhận định ở trên, Chủ nghĩa Marx chỉ là một mảnh ghép của sự dân chủ hoàn hảo. Chủ nghĩa của một cá nhân hay một nhóm cá nhân, cho dù có xuất sắc thế nào cũng không phải là chân lý tối thượng để áp dụng ở mọi hoàn cảnh. Chủ nghĩa Marx có thể bảo vệ quyền lợi của người dân lao động chân tay, người nghèo, những người tận cùng xã hội… nhưng còn tầng lớp quý tộc, tầng lớp tư sản, tầng lớp trí thức… thì thế nào? Việc tước bỏ quyền lợi của các tầng lớp khác bằng bạo lực cách mạng chẳng khác nào như chặt tất cả các cây trong rừng cho bằng

bằng bạo lực cách mạng chẳng khác nào như chặt tất cả các cây trong rừng

Trang 37

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

với nhau! Phải chăng các tín đồ của Quốc tế Cộng sản thứ 3 quá thần tượng việc làm cướp người giàu chia cho người nghèo của vua trộm Robinhood? Việc làm ấy có thể đòi quyền lợi cho người lao động chân tay nhưng đồng thời cũng khiến họ trở nên lười biếng. Vậy thì, ngay chính với người vô sản, Chủ nghĩa Marx vẫn không hoàn toàn đặt đúng quyền lợi vào tay họ. Điều đó chứng tỏ, chủ nghĩa này cho đến sự phát triển của Lenin, không phải tối thượng.

„Chủ nghĩ‟ và „phi chủ nghĩa‟

Ngược lại, ở Việt Nam và một số các nước cộng sản khác, Chủ nghĩa Marx lại được xem như chân lý tối thượng. Nhớ lại lịch sử Châu Âu, đã từng có thời người ta coi Kinh thánh như chân lý tối thượng, và cũng từng có thời họ hạ nhục Kinh thánh, suy sụp lòng tin vào Thượng đế và Jesus. Lấy gì để đảm bảo rằng Marx đúng, Jesus sai hay ngược lại? Jesus không sai, Marx cũng không sai nhưng họ không đúng hoàn toàn. Việc mặc nhiên coi một chủ nghĩa hay tư tưởng nào đó là chân lý và cưỡng chế về mặt giáo dục của các tín đồ cực đoan đã giết chết những tên tuổi vĩ đại ấy.

Thứ nhất, thái độ giáo dục cực đoan và cưỡng chế đã kích thích cuộc chống đối mạnh mẽ hơn. Bản tính con người rất hay nghi ngờ, nhất là khi họ không được đảm bảo về quyền lợi. Những tư tưởng này, cho dù đúng đắn, nhưng rõ ràng không thể đảm bảo một đời sống hạnh phúc cho họ. Bởi vậy, họ bắt đầu nảy sinh nghi ngờ và phản biện. Họ lập tức gặp phải sự chống đối của

Nguồn: ToonPool
Nguồn: ToonPool

số đông cực đoan vùi dập và ngăn chặn tư duy mới mẻ của họ. Họ quên rằng quá trình phát triển của triết học chính là sự phản biện.

Hãy xem bài học của Thiên chúa giáo, những Galileo, Darwin, Nietzches, Freud… đều bị gọi là những kẻ chống Chúa và thực tế là họ đã làm suy sụp đức tin ở khắp thế giới phương Tây. Nếu như thời điểm ấy Thiên chúa giáo chấp nhận tư tưởng của ―những kẻ chống Chúa‖ và bổ sung vào hệ tư tưởng của Thiên chúa giáo thì chắc chắn rằng không xảy ra hiện tượng này. Từ đó, ta có thể suy ra luận điểm thứ hai.

Chính việc giáo dục cực đoan đã ngăn trở sự phát triển của Chủ nghĩa Marx và nó chấm dứt ở Lenin. Và cũng như bài học của Thiên chúa giáo, những nhà phản biện của Chủ nghĩa Cộng sản được gán cho hai tính từ ―phản động‖. Và như vậy, vẫn còn nguyên mãi sự bất toàn của Chủ nghĩa Marx. Những tín đồ của Marx đã quên rằng không có Heghen và Chủ nghĩa Xã hội không tưởng của Phurier - Owen thì không thể có Chủ nghĩa Marx. Và không có Enghen, Lenin thì Chủ nghĩa Cộng sản đã chẳng phát triển mạnh bạo trong lịch sử, vậy thì hà cớ gì lại chặn đứng sự phát triển bằng việc coi đó như chân lý tối thượng?

Đứng trước một địa cầu mà đường biên giới dường như bị xóa nhòa và mở cửa nhìn ra thế giới là hàng nghìn thứ giáo lý, chủ nghĩa, tư tưởng… Giống như rất nhiều quốc gia theo Chủ nghĩa Cộng Sản khác, nước ta sẽ có hai lựa chọn: Hoặc là chấp nhận Chủ nghĩa Marx là một miếng ghép của bức tranh toàn cảnh và chấp nhận bắt tay với các nhóm phản biện khác; hoặc là xây dựng một nước Việt Nam phi chủ nghĩa, một nước Việt dân chủ thực sự. Bởi người ta có thể gán cho nhiều phương pháp hai chữ ―chủ nghĩa‖, nhưng chưa thấy ai gọi dân chủ là một ―chủ nghĩa‖. Dân chủ là một hình thái xã hội hoàn hảo mà bất cứ chủ nghĩa nào từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều hướng tới.

N.T. © 2011 TCPT số 50

chủ nghĩa nào từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều hướng tới. N.T. ©

Trang 38

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1
S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1
S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1
S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1
S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1
S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1
S ố 5 0 - T h á n g 0 9 / 2 0 1

Bán mình cho quỷ dữ

Hans Röckle là một thiên tài chế tạo đồ chơi. Cửa hàng của anh đầy những búp bê tuyệt đẹp, những hoàng tử, công chúa, hiệp sĩ, người khổng lồ, chú lùn, nàng tiên, và vô số quái vật, bên cạnh rất nhiều ngựa, xe, lâu đài, bàn ghế, vật dụng đủ loại

Những món đồ chơi ấy ẩn dấu những phép màu kỳ diệu, và, trên các kệ hàng nơi chúng được trưng bày, những mối tình lâm ly, những cuộc đụng độ dữ dội, những trao đổi dí dỏm, những màn đấu phép ngoạn mục giữa các tác phẩm của Hans không ngừng diễn ra. Tuy vậy, mặc dù tài năng tuyệt vời của mình, Hans vẫn không đủ tiền để mua

thức ăn hàng ngày

Anh chìm trong nợ nần, và phải

bán dần các món đồ chơi màu nhiệm của mình cho Ác Quỷ. Thật là một thảm họa cho các nàng công chúa phải chia tay người yêu, rời xa cha mẹ, trao mình cho Quỷ dữ, và đau buồn thay, khi những người khổng lồ, hiệp sĩ và chú lùn phải giã từ bạn

hữu để rơi vào vực xâu đen tối của địa ngục! Các món đồ chơi tìm cách thoát khỏi định mệnh hãi hùng ấy, bằng những phản ứng mạnh bạo, hay ấu trĩ, khôi hài

Đây là một trong rất nhiều câu chuyện mà Marx ứng

khẩu kể cho ba cô con gái, để vừa nghe, vừa đi bộ dạo chơi, có khi rất xa (Souvenirs sur Marx Engels

– Moscou)

Có lẽ chúng mang nhiều ý nghĩa về

tâm lý của ông hơn bất cứ nghiên cứu hàn lâm nào. Đại đa số các câu chuyện ấy không được ghi lại và

đã biến mất

Như Hans, Marx làm ra những tác

phẩm mà ít người cảm nhận được giá trị, đến độ phải bán chúng cho Ác Quỷ, tức cho những kẻ sẽ sử dụng chúng cho ý đồ đen tối của họ. Thuyết « vong thân » của ông thể hiện rõ ràng qua câu chuyện này.

Tiến trình biện chứng vô biên

Giao một tác phẩm cho nhà xuất bản là điều mà Marx luôn ngần ngại. Có khi ông lần lựa hàng chục năm, sau khi đã nhận, và tiêu sạch, tiền ứng trước. Một tác phẩm lý thuyết, đối với ông, là một thực thể sinh động, biến hóa, xoay chuyển đồng nhịp với bánh xe biện chứng như ông quan niệm. Thật

vậy, biện chứng pháp đối với Marx là một tiến trình đi từ phủ định, tới phủ định của phủ định, và lại tiếp tục phủ định. Nó không có điểm dừng theo kiểu « hợp đề tối thượng » của biện chứng Hegel. Vì thế, cho xuất bản một tác phẩm lý thuyết là một nghịch lý. Vì khi vừa buông ra khỏi tay mình, nó đã cần phải cập nhật, sửa đổi.

Một lý do cụ thể hơn khiến Marx ngần ngại xuất bản một số lý thuyết của mình, đặc biệt là lý thuyết kinh tế, là ông vẫn chưa tìm ra một phương pháp toán học để kiểm nghiệm chúng. Sau 15 năm vật lộn với các phương trình (1), vào năm 1867, khi quyển đầu của Tư bản luận đã ra mắt, Marx vẫn chưa thấy được cách nào gắn liền giá trị duy nhất có thể đo lường được, là giá thị trường, với nền tảng của các quy luật kinh tế của ông, là « trị giá lao động ».

Marx dự trù sẽ viết 6 quyển Tư bản luận. Nhưng thực tế, chỉ có duy nhất quyển đầu được ông cho xuất bản, sau 20 năm thai nghén. Các quyển 2 và 3 đều do Engels góp nhặt từ những ghi chép tìm được sau khi Marx đã qua đời. Khi trút hıi thở cuối cùng, Marx đã sẵn sàng giao cho thế gian bị làm chủ bởi Ác Quỷ những suy tư sâu sắc và hệ trọng nhất của đời ông hay chưa? Trong tâm não ông, bao suy tư còn đang dang dở, còn chờ triển nở, hay đang trở thành, trong một tiến trình biện chứng vô biên

Muốn bất cứ gì, cũng phải

Khi nói về quyển đầu của Tư bản luận, Marx cho biết hai điều vượt trội nhất của tác phẩm này là – thứ nhất, chứng minh được rằng lao động mang hai tính chất, tùy theo nhìn nó d˝ới khía cạnh giá trị thực dụng hay giá trị trao đổi ; thứ nhì, phân tích « trị giá gia tăng » một cách biệt lập với các khía cạnh đặc biệt của nó như: lợi nhuận kỹ nghệ,

thương mại, lãi tức tài chính, lãi tức bất động sản

v.v

Những điều này thoạt nghe có vẻ bí hiểm nhưng thực ra nó chỉ diễn đạt một nguyên lý đın giản mà các bậc cha mẹ thường dạy cho con cái. Đó là, muốn

làm việc! Việc làm là

có bất cứ gì, cũng phải

làm việc!

(Marx - Engels: thư tín)

làm việc! Việc làm là có bất cứ gì, cũng phải làm việc! (Marx - Engels:

Trang 39

TIÊU ĐIM

www.phiatruoc.info

S 50 - Tháng 09/2011

nguồn gốc của tất cả

Thật vậy, tiền không "đẻ ra tiền" như người ta thường lầm tưởng. Muốn tạo thêm tiền, người ta phải "đầu tư" nó vào một số yếu tố, như nguyên liệu, kiến thức, máy móc, và một yếu tố quan trọng nhất, không thể thiếu, là sức làm việc. Chính sức làm việc tạo thêm phú hữu, chứ không phải bất cứ gì khác. Sức làm việc là "món hàng" duy nhất trong tất cả các hàng hóa, có thể đều đặn tự sản sinh ra chính nó. Người lao động làm việc mệt mỏi, nhưng chỉ cần ngủ nghỉ ăn uống, là sức lực phục hồi, lại có thể tiếp tục làm việc (2). Trong khi đó, các món "đầu tư" khác, như nguyên liệu, máy móc, kể cả

những kiến thức nhất định

càng suy giảm, hao mòn, mất giá trị.

Vì thế, nhà tư bản muốn vốn liếng của mình tnăg n, thì buộc phải "mua" lao động. Người làm công không bán hàng hóa, mà bán sức làm việc của mình. Tiền lương mà anh ta nhận lãnh cho phép đảm bảo đời sống của anh ta, để anh ta có thể mỗi

ngày mỗi tiếp tục tái tạo ra sức làm việc của mình. Tiền lương ấy, cộng với những đầu tư vào máy móc,

cho ra trị giá trao đổi

của một món hàng, khiến một cái bàn có thể "bằng" một số bộ áo, hay một số cân gạo chẳng hạn. Nhà đầu từ thêm vào đó một khoản lợi nhuận, rồi bán món hàng ấy ra trên thị trường. Một phần lợi nhuận này được chia cho người cho vay vốn (ngân hàng), người cho