Trang Văn Học Việt Nam

Nguyễn Trãi Phan Khôi Hàn Mặc Tử Vũ Hoàng Chương Đinh Hùng

Nguyễn Công Trứ Nguyễn Nhược Pháp Đồ Phồn Nguyễn Bính Cung Trầm Tưởng

Trong trang này: Nguyễn Khuyến Thế Lữ TTKh Huy Cận Thanh Tâm Tuyền

Hồ Dzếnh Quách Tấn Vũ Đình Liên Hữu Loan Nguyên Sa

Nguyễn Trãi

(1380-1442) Ông hiệu là Ức Trai, người xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay là Thường Tín) tỉnh Hà Đông, đậu Thái Học Sinh năm 21 tuổi (1400 Hồ Quí Ly, Thánh-nguyên năm đầu)

làm Ngự Sử Đài Chánh Chưởng. Sau khi nhà Minh đánh bại họ Hồ và bắt cha ông là Nguyễn Phi Khanh đem về Tàu, ông theo vua Lê Lợi và trong 10 năm bình định, ông giúp mưu hoạch và giữ việc từ mệnh. Khi bình định xong, ông được đổi lấy họ vua (Lê Trãi), phong tước hầu và giữ chức Nhập Nội Đại Hành Khiển (tương đương thủ-tướng). Năm 60 tuổi (1439), ông về trí sĩ ở Côn Sơn (thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Năm 1442, vì cái án Thị Lộ, ông bị giết cùng với cả họ, thọ 63 tuổi. Ông để lại nhiều tác phẩm bằng cả Hán-văn lẫn Việt-văn nhưng hầu hết đã thất truyền chỉ còn lại những tác phẩm sau: - Hán-văn: Ức Trai Thi Tập gồm có 6 truyện - Việt-văn: Gia Huấn Ca gồm có 6 bài ca: (1) Dạy vợ con; (2) Dạy con ở cho có đức; (3) Dạy con gái; (4) Vợ khuyên chồng; (5) Dạy học trò ở cho có đạo; và (6) Khuyên học trò phải chăm học. Phép Dạy Con 221 Ngày con đã biết chơi biết chạy Đừng cho chơi cầm gậy, trèo cao Đừng cho chơi búa chơi dao Chơi vôi, chơi lửa, chơi ao có ngày Lau cho sạch, không hay dầm nước Ăn cho vừa, đừng ước cao lương (1) Mùa đông, tháng hạ thích thường (2) Đừng ôm ấp quá, đừng suồng sã con Dạy từ thuở hãy còn trứng nước Yêu cho đòn (3), bắt chước lấy người Trình, thưa, vâng, dạ, đứng ngồi Gái trong kim chỉ, trai ngoài bút nghiên Gần mực đen, gần đèn thì sáng Ở bầu tròn, ở ống thì dài 235 Lạ gì con có giống ai Phúc đức tại mẫu là lời thế gian Làm mẹ chớ ăn càn, ở dữ Với con đừng chửi rủa quá lời

Hay chi thô tục những người Hôm nay cụ cụ, ngày mai bà bà Gieo tiếng ra gẫy cây gẫy cối (5) Mở miệng, nào có ngọn có ngành (6) Đến tai bụt cũng không lành Chồng con khinh dể thế tình mỉa mai 245 Ấy những thói trên đời ngoa dại Khôn thời chừa mới phải đứng người Sinh con thời dạy thời nuôi Biết câu phải trái, lựa lời khuyên răn Chú thích: (1) Cao là thịt béo, lương là gạo ngon: nói chung về thức ăn ngon và quí (2) Thích thường: hợp với mực thường: vừa phải (3) Yêu cho đòn: tục ngữ có câu "yêu cho vọt, ghét cho chơi" (4) Phúc đức tại mẫu: phúc ở mẹ, ý nói người mẹ mà nhân từ và có đức độ thì người con cũng bắt chước (5) Gẫy cây gẫy cối: ý nói lời nói nặng nề, hung tợn (6) Có ngọn có ngành: ý nói thâm độc Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Nguyễn Công Trứ (1778-1858)

Ông Nguyễn Công Trứ hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Thân sinh ông là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê. Lúc thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông đậu Tú-tài năm 1813 và Giải Nguyên năm 1819. Hoạn lộ của ông nhiều bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi làm đến chức Binh Bộ Thượng Thư nhưng cũng có lắm lúc bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn dẹp được các cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành. Ông cũng từng giữ chức Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828). Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chánh quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu. Ông Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm bằng Hán Văn cũng như Quốc Văn. Chí Làm Trai Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc Nợ tang bồng vay trả, trả vay Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể Nhân sinh tự cổ thùy vô tử Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh (1) Đã chắc rằng ai nhục ai vinh

Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong Chí những toan xẻ núi lấp sông Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ Đường mây rộng thênh thang cử bộ Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo Thảnh thơi thơ túi rượu bầu (1) Đây là hai câu thơ trong bài Quá Linh Đinh Dương của Văn Thiên Tường đời Tống: người ở đời ai mà không chết, phải làm sao lưu lại tấm lòng son soi trong sử xanh. Chữ Nhàn Thị tại môn tiền: náo Nguyệt tại môn hạ: nhàn So lao tâm lao lực cũng một đàn Người trần thế muốn nhàn sao được Nên phải giữ lấy nhàn làm trước Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài Cuộc nhân sinh từng bảy tám chín mười mươi Mười lăm trẻ, năm mươi già không kể Thoát sinh ra thì đà khóc choé Trần có vui sao chẳng cười khì? Khi hỉ lạc, khi ái ố, lúc sầu bi, Chứa chi lắm một bầu nhân đức Tri túc, tiện túc, đại túc, hà thời túc Tri nhàn tiện nhàn, đại nhàn, hà thời nhàn? (1) Cầm kỳ thi tửu với giang sơn Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế Ngã kim nhật tại toạ chi địa Cổ chi nhân tàng tiên ngã toạ chi (2) Ngàn muôn năm âu cũng thế ni Ai hay hát mà ai hay nghe hát

Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất Để ông Tô riêng một thú thanh cao (3) Chữ nhàn là chữ làm sao? (1) Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ. Biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao giờ mới nhàn? (2) Hai câu này ở bài tựa truyện Tây Sương Ký của Vương Thục Phủ đời Nguyên. Ý nói: chỗ ta đang ngồi ngày nay đây, người xưa đã từng ngồi trước ta rồi. (3) Tô Thức tức Tô Đông Pha đời nhà Tống thường hay cùng bạn thả thuyền chơi trên sông Xích Bích. Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Nguyễn Khuyến Cụ tên thật là Nguyễn Văn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Minh Chi, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835 tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam (quê nội của cụ là làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Thân sinh cụ là Nguyễn Tông Khởi (1796-1853), thường gọi là Cụ Mền Khởi, đỗ ba khoá tú tài và làm nghề dạy học. Thân mẫu cụ là Trần Thị Thoan (1799-1874), con cụ Trần Công Trạc, từng đỗ sinh đồ (Tú-tài) thời Lê Mạt. Thuở nhỏ, cụ cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên 1864-1865) là bạn học ở trường cụ Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị. Năm 1864, cụ đỗ đầu Cử Nhân (tức Hương Nguyên) trường Hà Nội. Năm sau cụ trượt thi Hội và thi Đình nên phẫn chí ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1871 cụ mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên. Từ đó, cụ thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Năm 1873, cụ được bổ làm Đốc Học rồi thăng Án Sát tỉnh Thanh Hoá. Năm 1877 được thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, cụ bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toàn tu Quốc Sử Quán. Cụ cáo quan về ở ẩn tại Yên Đổ vào mùa thu 1884 và qua đời tại đấy ngày 5 tháng 2 năm 1909. Cụ để lại cho hậu thế các tập thơ văn Quế Sơn Thi-tập, Yên Đổ Thi-tập, Bách Liêu Thivăn-tập, Cẩm Ngữ và nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế và câu đối.

Thu Vịnh Trời thu xanh ngát mấy tầng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc ánh trăng vào Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào Nhân hứng cũng vừa toan cầm bút Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào (1) (1) Đào Tiềm

Thu Điếu Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Gió vàng trước gió sẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối, buông cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo Thu Ẩm Năm gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt Làn ao lóng lánh bóng trăng loe Da trời ai nhuộm mà xanh ngát Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy Độ năm ba chén đã say nhè

Khóc Bạn Bác Dương (1) thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta Nhớ từ thuở đăng khoa (2) ngày trước Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau Kính yêu từ trước đến sau: Trong khi gặp gỡ, khác đâu duyên trời. Cũng có lúc chơi nơi dặm khách Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo Có khi từng gác cheo leo Khúc vui con hát lựa chiều cầm xoang Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp Chén quỳnh tương (3) ăm ắp bầu xuân Có khi bàn soạn câu văn Biết bao đông bích điển phần (4) trước sau Buổi dương cửu (5) cùng nhau hoạn nạn Miếng đẩu thăng (6) chẳng dám than trời Tôi già, bác cũng già rồi Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là. Đường đi lại tuổi già thêm nhác Trước ba năm, gặp bác một lần Cầm tay, hỏi hết xa gần Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can Tuổi tôi kể còn hơn tuổi bác Tôi lại đau trước bác mấy ngày Làm sao bác vội về ngay Chợt nghe tôi những chân tay rụng rời! Ai chẳng biết chán đời là phải Vội vàng chi đã mải lên tiên Rượu ngon, không có bạn hiền Không mua, không phải không tiền không mua

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa Giường kia treo những hững hờ (7) Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn! Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương Tuổi già, hạt lệ như sương        Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan? Bản chép khác: Câu 2: ...ngậm ngùi lòng ta. Câu 7: ...cùng nơi dặm khác. Câu 10: Thú vui... Câu 15-16: Bước ly loạn gặp đâu sơ cố. Miếng đẩu thăng ai có tham trời. Câu 19: Muốn đi lại... Hoặc: Những đi lại... Câu 20: Gặp nhau ba năm trước... Câu 22: bác cũng... Câu 23: Kể tuổi tôi... Câu 24: Mà tôi đau... Câu 25: Sao mà... Câu 26: ... tôi bỗng... Câu 31: Thơ muốn viết, đắn đo chẳng viết. Câu 33: ... treo cũng... Câu 34: Đàn kia muốn gảy... Câu 36: Tôi chẳng thương dẫu dở (dử) nào thương. Câu 38: Hơi đâu mang lấy... Chú thích: (1) Bác Dương: tức là Dương Khuê, người làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, tỉnh Hà Nội (nay thuộc phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông), đậu tiến sĩ năm 1868 về đời vua Tự Đức (bởi thế, tục thường gọi là cụ nghè Vân Đình), làm quan đến chức Tổng Đốc. Cụ là bạn thân của cụ Nguyễn Khuyến và cũng là một bậc hay nôm thời cận kim. (2) Đăng Khoa: đi thi đỗ. Cụ Nguyễn Khuyến và cụ Dương Khuê cùng đậu thi hương một khoa vào năm 1864. (3) Quỳnh tương: (quỳnh: tên một thứ ngọc quí; tương: hồ, nước cơm) rượu quí. (4) Đông Bích điển phần: Đông bích nghĩa là vách phía đông, chữ lấy ở trong thơ của Trương Thuyết "Đông bích đồ thư phủ" nghĩa là kho tranh và sách ở phương đông. Điển (nghĩa đen là phép tắc) tức là ngũ điển, tức là năm sách điển của các vua Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Cao Tân, Đường Nghiêu và Ngu Thuấn bên Tàu đời xưa. Phần (nghĩa đen là lớn) tức là tam phần, tức là ba sách phần của vua Phục Hi, Thần Nông bên Tàu đời xưa nói về đạo lớn. Cả bốn chữ chỉ chung các sách vở cũ. (5) Dương Cửu: lúc có tai ách. (6) Đẩu thăng: đấu và thưng (phần mười của đấu); nghĩa bóng là lương bổng ít ỏi của một ông quan (lương các quan ngày xưa một phần trả bằng gạo, lấy đấu thưng mà đong là lương bổng rất ít). (7) Giường kia treo những hững hờ: xưa Trần Phôn, người đời Hậu Hán, có một cái giường để dành tiếp người bạn quí là Từ Trĩ, hễ bạn đi, lại treo lên. Ý câu này nói: nay bạn đã chết, cái giường để dành tiếp bạn cứ treo mãi không bao giờ đặt xuống cả. Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Bút tích Hồ Dzếnh

Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Tình Già Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa, Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở: - "Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn là không đặng Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi bằng sớm liệu mà buông nhau!" - "Hay nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ? Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng, mà tính chuyện thủy chung!" Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau: Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được? Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi. Phan Khôi. Phụ Nữ Tân Văn, số 122, ngày 10 tháng 3 năm 1932 Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Chùa Hương Hôm nay đi chùa Hương Hoa cỏ mờ hơi sương Cùng thầy me em dậy Em vấn đầu soi gương. Khăn nhỏ, đuôi gà cao Lưng đeo giải yếm đào Quần lĩnh, áo the mới Tay cầm nón quai thao Mẹ cười: "Thầy nó trông! Chân đi dôi dép cong Con tôi xinh xinh quá! Bao giờ cô lấy chồng?" Em tuy mới mười lăm Mà đã lắm người thăm Nhờ mối mai đưa tiếng Khen tươi như trăng rằm Nhưng em chưa lấy ai Vì thầy bảo người mai Rằng em còn bé lắm Ý đợi người tài trai

Em đi cùng với me Me em ngồi cáng tre Thầy theo sau cưỡi ngựa Thắt lưng dài đỏ hoe

Thầy me ra đi đò Thuyền mấp mênh bên bờ Em nhìn giòng nước chảy Đưa cánh buồm lô nhô Mơ xa lại nghĩ gần Đời mấy kẻ tri âm? Thuyền nan vừa lẹ bước Em thấy một văn nhân Người đâu thanh lạ thường! Tướng mạo trông phi thường Lưng cao dài, trán rộng Hỏi ai nhìn không thương? Chàng ngồi bên me em Me hỏi chuyện làm quen: "Thưa, Thầy đi chùa ạ? Thuyền đông, giời ôi chen!" Chàng thưa: "Vâng, thuyền đông!" Rồi ngắm giời mênh mông

Xa xa mờ núi biếc Phơn phớt áng mây hồng Giòng sông nước đục lờ Ngâm nga chàng đọc thơ Thầy khen hay, hay quá Em nghe, ngồi ngẩn ngơ Thuyền đi, bến Đục qua Mỗi lúc gặp người ra Em thẹn thùng không nói "Nam Mô A-Di-Đà" Réo rắt suối đưa quanh Ven bờ, ngọn núi xanh Nhịp cầu xa nho nhỏ Cảnh đẹp gần như tranh Sau núi Oản, Gà, Xôi Bao nhiêu là khỉ ngồi Tới núi con voi phục Có đủ cả đầu đuôi Chùa nấp sau rừng cây, Thuyền ta đi một ngày Lên cửa chùa em thấy Hơn một trăm ăn mày Em đi, chàng theo sau Em không dám đi mau Ngại chàng chê hấp tấp Số gian nan không giàu Thầy me đến điện thờ Trầm hương khói toả mờ Hương như là sao lạc Lớp sóng người lô nhô Chen vào thật lắm công Thầy me em lễ xong

Quay về nhà ngang bảo: "Mai ta vào chùa trong" Chàng hai má đỏ hồng Kêu với thằng tiểu đồng Mang túi thơ bầu rượu: "Mai ta vào chùa trong" Đêm hôm ấy em mừng Mùi trầm hương bay lừng Em nằm nghe tiếng mõ Rồi chim kêu trong rừng Em mơ, em yêu đời Mơ nhiều..., viết thế thôi Kẻo ai mà xem thấy Nhìn em đến nực cười Em chưa tỉnh giấc nồng Mây núi đã pha hồng Thầy me em sắp sửa Vàng hương vào chùa trong Đường mây đá cheo veo Hoa đỏ, tím, vàng leo Vì thương me quá mệt Săn sóc, chàng đi theo Mẹ bảo: "Đường còn lâu Cứ vừa đi vừa cầu Quan Thế Âm Bồ Tát Là tha hồ đi mau" Em ư? Em không cầu Đường vẫn thấy đi mau Chàng cũng cho như thế (Ra ta hợp tâm đầu) Khi qua chùa Giải Oan Trông thấy bức tường ngang Chàng đưa tay lẹ bút Thảo bài thơ liên hoàn Tấm tắc thầy khen hay Chữ đẹp như rồng bay

(Bài thơ này em nhớ Nên chả chép vào đây) Ôi! Chùa trong đây rồi! Động thẳm bóng xanh ngời Gấm thêu trần thạch nhũ Ngọc nhuốm hương trầm rơi Mẹ vui mừng hả hê: "Tặc! Con đường mà ghê!" Thầy kêu mau lên nhé, Chiều hôm nay ta về Em nghe bỗng rụng rời Nhìn ai luống nghẹn lời Giờ vui đời có vậy Thoáng ngày vui qua rồi Làn gió thổi hây hây Em nghe tà áo bay Em tìm hơi chàng thở Chàng ôi, chàng có hay Đường dây kia lên giời Ta bước tựa vai cười Yêu nhau, yêu nhau mãi Đi, ta đi, chàng ôi Ngun ngút khói hương vàng Say trong giấc mơ vàng Em cầu xin Giời Phật Sao cho em lấy chàng. Nguyễn Nhược Pháp 8-1934 Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Thế Lữ Hổ Nhớ Rừng (1936) (Tặng Nguyễn Tường Tam) Gặm một nỗi căm hờn trong cũi sắt Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi, Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi, Với cặp báo chuồng bên vô tư lự... Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi, Với khi thét khúc trường ca dữ dội, Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc. Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi Ta biết ta chúa tể của muôn loài Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi, đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội Tiếng chim ca, giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? - Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu Ghét những cảnh không đời nào thay đổi Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối: Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng; Giải nước đen giả suối, chẳng thông giòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém; Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm, Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu Của chốn ngàn năm cao cả, âm u. Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ! Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị, Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa Nơi ta không còn được thấy bao giờ Có biết chăng trong những ngày ngao ngán, Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn, Để hồn ta phảng phất được gần ngươi, - Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi! Thế Lữ, 1936 Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Hàn Mặc Tử

Bút tích Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, tỉnh Đồng Hới. Ông học trung học tại Huế (1928-1930), sau đó làm viên chức Sở Đạc Điền Qui Nhơn (1932-1933). Năm sau, ông vào Sài Gòn làm báo rồi lại trở ra Qui Nhơn (1935). Ông mắc bệnh phong từ năm 1937 phải vào nhà thương Qui Hoà tháng 9 năm 1940 và hai tháng sau thì mất. Ông hưởng dương 28 tuổi. Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ rất sớm với thể thơ Đường Luật và các bút danh Minh Duệ Thị, Phong Trần; nổi tiếng vì được Cụ Phan Bội Châu hoạ thơ và đề cao. Từ năm 1935 ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh rồi Hàn Mạc Tử và cuối cùng là Hàn Mặc Tử. Các tác phẩm tiêu biểu của ông gồm có các thi tập Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản khi ông còn sinh tiền), Thơ Điên (hay Đau Thương, Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên và Chơi Giữa Mùa Trăng. Hàn Mặc Tử đem đến cho Thơ Mới một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh những tác phẩm bình dị, trong trẻo và chan chứa tình quê là những tác phẩm đầy những cảm hứng lạ lùng và huyền bí. Đêm Không Ngủ Non sông bốn mặt ngủ mơ màng Thức chỉ mình ta dạ chẳng an Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối Gió thu lọt cửa, cọ mài chân Khóc dùm thân thế: hoa rơi lệ Buồn giúp công danh: dế dạo đàn Chuỗi dậy, nôm na vài điệu cũ Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.

Cuối Thu Lụa trời ai dệt với ai căng Ai thả chim bay đến Quảng Hàn Và ai gánh máu đi trên tuyết Mảnh áo da cừu ngắm nở nang Mây vẽ hằng hà sa số lệ Là nguồn ly biệt giữa cô đơn Sao không tô điểm nên sương khói Trong cõi lòng tôi buổi chập chờn Đây bãi cô liêu lạnh hững hờ Với buồn phơn phớt, vắng trơ vơ Cây gì mảnh khảnh run cầm cập Điềm báo thu vàng gầy xác xơ

Thu héo nấc thành những tiếng khô Một vì sao lạ mọc phương mô? Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ? Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?

Lang Thang (Tặng Hoàng Trọng Quy) Lãng tử ơi! Mi là tiên hành khất May không chết lạnh trước lầu mỹ nhân Ta đi tìm mộng tầm xuân Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây Rượu nàng uống vào thì say Áo ta rách rưới trời không vá Mà bốn mùa trăng mặc vải trăng Không ai chết cả sao lòng buồn như tang Cho tôi mua trọn hàm răng Hàm răng ngà ngọc, hàm răng đa tình Một chắc ta lại với mình Có ai vô đó mà mình hổ ngươi Lãng tử ơi! Mi là tiên hành khất May không hộc máu chết rồi còn đâu Trời hỡi! Nhờ ai cho khỏi đói! Gió trăng có sẵn làm sao ăn? Làm sao giết được người trong mộng Để trả thù duyên kiếp phũ phàng

Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Quách Tấn Trơ Trọi Tình cũng lỡ mà bạn cũng lỡ Bao nhiêu khắng khít bấy ơ hờ! Sầu mong theo lệ, khôn rơi lệ Nhớ gởi vào thơ, nghĩ tội thơ! Mưa có canh dài ngăn lối mộng Bèo mây bến cũ quyện lòng tơ... Hỏi thăm tin tức bao giờ lại Con thước qua sông lại ỡm ờ!

Trở về đầu trang

Phần Việt Ngữ Từ Điển

English Version/Phần Anh Ngữ

Hai Sắc Hoa Ty-Gôn Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn Nhặt cánh hoa rơi, chẳng thấy buồn Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc Tôi chờ người đến với yêu đương Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng Giải đường xa vút bóng chiều phong Và phương trời thẳm mờ sương cát Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi Thở dài trong lúc thấy tôi vui Bảo rằng: "Hoa dáng như tim vỡ, Anh sợ tình ta cũng thế thôi!" Thuở đó nào tôi có hiểu gì Cánh hoa tan tác của sinh ly Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng Là chút lòng trong chẳng biến suy" Đâu biết lần đi một lỡ làng Dưới trời gian khổ chết yêu đương Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm Trong một ngày vui pháo nhuộm đường Từ đấy, thu rồi, thu lại thu Lòng tôi còn giá đến bao giờ Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ Người ấy, cho nên vẫn hững hờ Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

Mà từng thu chết, từng thu chết Vẫn giấu trong tim một bóng người Buồn quá, hôm nay xem tiểu thuyết Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa Như hồng tựa trái tim tan vỡ Và đỏ như màu máu thắm pha Tôi nhớ lời người đã bảo tôi Một mùa thu trước, rất xa xôi Đến nay tôi hiểu thì tôi đã Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi Tôi sợ chiều thu phố nắng mờ Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu Gió về lạnh lẽo chân mây trắng Người ấy sang sông đứng ngóng đò Nếu biết rằng tôi đã có chồng Trời ơi! Người ấy có buồn không? Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ Tựa trái tim phai, tựa máu hồng TTKh, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 179 ngày 30 tháng 10 năm 1937 Bài Thơ Thứ Nhất Thuở trước hồn tôi phơi phới quá Lòng tôi nguyên vẹn một làn hương... Nhưng nhả nghệ sĩ từ đâu lại Êm ái trao tôi một vết thương Tai ác ngờ đâu gió lạ qua Làm kinh giấc mộng những ngày hoa Thổi tan âm điệu du dương trước Và tiễn Người đi bãi cát xa Ở lại vườn thanh có một mình Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành Và một ngày kia tôi phải yêu Cả chồng tôi nữa lúc đi theo

Những cô áo đỏ sang nhà khác - Gió hỡi! Làm sao lạnh rất nhiều? Từ đây không mong không dám hẹn Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ Người ấy ghi lòng: "Vẫn nhớ em!" Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên Bỗng ai mang lại cánh hoa tim Cho tôi ép nốt dòng dư lệ Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên? Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ! Tóc úa giết dần đời thiếu phụ Thì ai trông ngóng, chả nên chờ! Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa: - "Cố quên đi nhé, câm mà nín Đừng thở than bằng những giọng thơ!" Tôi run sợ viết; lặng im nghe Tiếng lá thu khô siết mặt hè Như tiếng chân người len lén đến Song đời nào dám gặp ai về! Tuy thế tôi tin vẫn có người Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi Biết đâu... tôi: một tâm hồn héo Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi! TTKh, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 182 ngày 20 tháng 11 năm 1937

Bài Thơ Cuối Cùng Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ? Một mùa thu cũ, một lòng đau Ba năm ví biết anh còn nhớ Em đã câm lời, có nói đâu! Đã lỡ, thôi rồi! chuyện biệt ly Càng khơi càng thấy lụy từng khi

Trách ai mang cánh ty gôn ấy Mà viết tình em, được ích gì? Chỉ có ba người đã đọc riêng Bài thơ "Đan áo" của chồng em Bài thơ "Đan áo" nay rao bán Cho khắp người đời thóc mách xem Là giết đời nhau đấy, biết không? ... Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung Giận anh, em viết dòng dư lệ Là chút dư hương: điệu cuối cùng! Từ đây, anh hãy bán thơ anh Còn để yên tôi với một mình Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét Thì đem mà đổi lấy hư vinh Ngang trái đời hoa đã úa rồi Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp Đi nhớ người không muốn nhớ lời! Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây Tôi run sợ viết, bởi rồi đây Nếu không yên được thì tôi chết Đêm hỡi! Làm sao tối thế này? Năm lại qua năm cứ muốn yên Mà phương ngoài gió chẳng làm quên Và người vỡ lỡ duyên thầm kín Lại chính là anh? anh của em Tôi biết làm sao được hỡi trời? Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi! Mưa buồn, mưa hát trong lòng người Sợ quá đi anh... "có một người!" TTKh, Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 217, ngày 23 tháng 7 năm 1938 Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Nhật Hoàng Khóc Hít-le Đồ Phồn Hít-le thôi bác toi rồi Bom bay đạn nổ tơi bời lòng ta Nhớ từ thuở xông pha ngày trước Trục Tam Cường tôi bác cùng nhau Tưởng rằng đè bẹp năm châu Ngờ đâu lụn bại ai hay cơ trời Vẫn biết rằng bỏ đời là phải Vội vàng chi bác mải ra ma Chợt nghe tôi những xót xa Đương thân bách thắng hoá ra thua dồn Cờ chữ Vạn không còn phấp phới Ai người đem thế giới nhuộm đen? Máu tanh không có bạn hiền Say sưa chẳng phải không phiền không lo Thơ phát-xít đắn đo không viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa Trời Âu vừa tạnh gió mưa Sóng dồn bể Thái khổ chưa hỡi Trời! Quân đổ bộ khắp nơi tua tủa Thành Đông Kinh khói lửa mịt mùng Nào Anh nào Mỹ tấn công Nào Nga cũng chực vào vòng đánh hôi Bác biết trọn cái đời của bác Trục mình tôi gánh vác sao đang Sóng dâng ngập cả ngai vàng Khóc tôi khóc bác hai hàng chứa chan! Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Ông Đồ Già

Vũ Đình Liên Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Mài mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua người thuê khen tài: "Hoa tay thảo những chữ Như phượng múa rồng bay" Nhưng mỗi năm mỗi vắng, Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu... Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay Bao nhiêu viết Tấm tắc ngợi

Năm nay hoa đào nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?

Trở về đầu trang

Phần Việt Ngữ Từ Điển

English Version/Phần Anh Ngữ

Cố Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương sinh ngày 5 tháng 5 năm 1916 tại Nam Định (Chánh quán làng Phù Ủng, tỉnh Hưng Yên). Thuở nhỏ ông theo học trường Albert Sarraut, Hà Nội và đậu Tú Tài năm 1937. Năm sau ông vào học Trường Luật nhưng một năm sau bỏ học đi làm Phó Kiểm Soát Sở Hoả Xa Đông Dương.. Năm 1941, ông bỏ việc để học toán tại Hà Nội rồi đi dạy học ở Hải Phòng và cùng thời gian, ông viết thơ và kịch. Năm 1954, ông di cư vào Sài Gòn, tiếp tục sáng tác cho đến 1975 ông bị Việt Cộng bắt đi tù cải tạo và mất trong tù (1976). Tác phẩm tiêu biểu: Các thi tập Thơ Say (1940); Mây (1943); Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961); Lửa Từ Bi (1963); Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1970); Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau (1973) và kịch thơ Trương Chi (1974).

Vũ Hoàng Chương

Thủ bút Vũ Hoàng Chương Đời Vắng Em Rồi Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu Lênh đênh thương nhớ giạt trời Âu Thôi rồi tay nắm tay lần cuối Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau Trai lỡ phong vân gái lỡ tình Ngày đêm tri ngộ xót điêu linh Niềm quê sực thức lòng quan ải Giây phút dừng chân cuộc viễn trình Tóc xoã tơ vàng, nệm gối nhung Đây chiều hương ngát lả hoa dung Sóng đôi kề ngọn đèn hư ảo Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng Quán rượu liền đêm chuốc đắng cay Buồn mưa trăng lạnh nắng hoa gầy Nắng mưa đã trải tình nhân thế Lưu lạc sầu chung mộng hướng say Gặp gỡ chừng như truyện Liêu Trai Ra đi chẳng hứa một ngày mai

Em ơi lửa tắt bình không rượu Đời vắng em rồi say với ai? Phương Âu mờ mịt lối quê nàng Trăng nước âm thầm vạn dặm tang Ghé bến nào đây người hải ngoại Chiều sương mặt bể có mơ màng Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không Mà đây lòng trắng một mùa đông Tương tư nối đuốc thâu canh đợi Thoảng gió trà mi động mấy bông. Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Nguyễn Bính Ông tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 tại làng Thiện Vinh, huyện Vũ Bảng, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, tự học ở nhà và bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi. Ông được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn năm 1937 với thi tập Tâm Hồn Tôi. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Việt, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc cho Hội Văn Nghệ. Năm 1958 ông làm chủ bút báo Trăm Hoa. Ông mất ngày 20 tháng 1 năm 1966 tại Hà Nội. Thủ bút Nguyễn Bính Tương Tư Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người Gió mưa là bệnh của giời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng Hai thôn chung lại một làng Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng Bảo rằng cách trở đò giang Không sang là chẳng đường sang đã đành Nhưng đây cách một đầu đình Có xa xôi mấy mà tình xa xôi Tương tư thức mấy đêm rồi Biết cho ai biết, ai người biết cho! Bao giờ bến mới gặp đò? Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? Nhà anh có một giàn giầu Nhà anh có một giàn cau liên phòng Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Cù Huy Cận (1919-) Ngậm Ngùi Nắng chia nửa bãi, chiều rồi Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu Sợi buồn con nhện giăng mau Em ơi! Hãy ngủ, anh hầu quạt đây

Lòng anh mở với quạt này Trăm con chim mộng về bay đầu giường Ngủ đi em mộng bình thường Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ Cây dài bóng xế ngẩn ngơ Hồn em đã chín mấy mùa thương đau Tay anh em hãy tựa đầu Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Màu Tím Hoa Sim Nàng có ba người anh Đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói Khi tóc nàng đang xanh Tôi người Vệ-quốc-quân Xa gia đình Yêu nàng Như tình yêu em gái Ngày hợp hôn Nàng không đòi may áo cưới Tôi mặc đồ quân nhân Đôi giày đinh Bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh Bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi Từ chiến khu ba Nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến chinh Mấy người trở lại Lỡ khi mình không về

Thì thương người vợ chờ Bé bỏng chiều quê Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người em gái nhỏ hậu phương... Tôi về không gặp nàng Mà tôi ngồi bên mộ con Đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới Thành bình hương Tàn lạnh vây quanh... Tóc nàng xanh xanh Ngắn chưa đầy búi Em ơi! Giây phút cuối Không được nghe nhau nói Không được trông thấy nhau một lần Ngày xưa... Nàng yêu hoa sim tím Áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa Một mình Đêm khuya Bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa Một chiều rừng mưa Ba người anh Từ chiến trường Đông Bắc Được tin em gái mất Trước khi em lấy chồng Gió sớm thu về Rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng trông ảnh chị Khi gió sớm thu về Cỏ vàng chân mộ chị Chiều hành quân

Qua những đồi sim Những đồi sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim Tím chiều hoang biền biệt Nhìn áo rách vai Tôi hát trong màu hoa "Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu" Hữu Loan

Trở về đầu trang

Phần Việt Ngữ Từ Điển

English Version/Phần Anh Ngữ

Đinh Hùng Cố Thi-sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3 tháng 7 năm 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Ông dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm, và Hoài Diệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Sau khi đậu tiểu học, ông làm thơ và viết văn với sự dẫn dắt của Thế Lữ và bắt đầu nổi tiếng nhờ thi phẩm Kỳ Nữ mà Thế Lữ đăng trong truyện Trại Bồ Tùng Linh. Đinh Hùng di cư vào Sài Gòn năm 1954, chủ trương nhật báo Tự Do. Ông mất ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại Sài Gòn vì bệnh ung thư ruột. Những tác phẩm tiêu biểu: - Thi tập Mê Hồn Ca (1954); - Thi tập Đường Vào Tình Sử (1961- Đoạt Giải Thưởng Thi Ca Văn Chương Toàn Quốc 1962). - Tiểu thuyết dã sử Cô Gái Đò Ôn Khâu, Người Đao Phủ Thành Đại La. Tự Tình Dưới Hoa

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng: Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng Mắt xanh là bóng dừa hoang dại, Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay Ôi mộng nào hơn giấc mộng này? Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ Nửa như hoài vọng nửa như say

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ Thương hàng gió núi động hàng mi Tâm tư khép mở đôi tà áo Hò hẹn lâu rồi - Em nói đi Em muốn đôi ta mộng chốn nào Ước mộng đã có gác trăng sao

Chuyện tâm tình: dưới hoa thiên lý Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ Nắng trong hoa, với gió ven hồ Dành riêng em đấy. Khi tình tự Ta sẽ đi về những cảnh xưa Rồi buổi u sầu, em với tôi Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời Vai kề một mái thơ phong nguyệt Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười

Gặp Em Huyền Diệu I Em tự ngàn xưa chuyển bước về Thuyền trao sóng mắt dẫn trăng đi Những dòng chữ lạ, buồn không nói Nét lửa bay dài, giấc ngủ mê Em đến, mong manh vóc ngọc chìm Tàn canh hồn nhập bóng trăng im Ta van từng đoá sao thùy lệ Nghe ý thu sầu vút cánh chim Mười ngón tay dâng lửa nguyện cầu Hỡi ôi! Hồn chuyển kiếp về đâu? Ta giữ cho trọn lòng trinh bạch Ngưỡng vọng em như Nữ Chúa Sầu Em đến từ trong giấc hỗn mang Lời ca không mở cửa thiên đàng Thời gian bốn phía nhoà gương mặt Ảo tưởng nghiêng vầng trán khói sương Em với ta chung một hạn kỳ Hoá thân vào nét chữ cuồng si Chiếm bao động gót giầy mê hoặc Trang giấy bay mùi tóc ái phi

Nét chữ hoang sơ hiện dáng người Ta ngừng hơi gọi: Diệu Huyền ơi! Mắt ai tinh lạc xanh vần điệu? Tuyết gợn làn da bóng nguyệt trôi II Em đến vầng trăng bỗng toả hương Quen nhau, ngờ truyện rất hoang đường Trang thư xoã tóc cười e lệ Nét chữ thu gầy, vóc ngậm sương Thăm thẳm chìm sâu cõi mộng nào? Nửa chiều huyền hoặc, nửa thần giao Mắt xanh em đến như màu khói Một thoáng hồng nhan ngọn gió trao Cặp mắt nhìn nhau có hẹn thề? Não lòng - ôi khóc ngọc lưu ly! Bài thơ khát vọng thành mưa gió Anh gửi vào trong những giấc mê Giấy mực say nồng hương tóc em Thương qua giòng chữ ngón tay mềm Vệt son loáng nét môi cuồng vọng Lắng tiếng xuân cười, chết mỗi đêm Chết giữa mùa xuân, lạ cuộc đời Tên em còn đượm ngát vành môi Lung linh sao rụng, mưa hàng chữ Chợt sáng hồn em đáy mắt tôi Trăng bỗng huyền, nắng cô sơ Em về, nếp áo rộng hư vô Khói sương thạch động xa vầng trán Ta lạc vào trang tiểu thuyết xưa Mây quấn vào lưng, tóc xoã vai Hồn lên thao thức búp tay dài Khoá xuân trinh bạch trăng làm gái Em lẩn vào Thơ, trốn Mộng hoài Gối rợn mình hoa, ửng má hồng Lòng em - ôi bí mật thâm cung

Thịt da hương phấn, ngây dòng mực Nét bút đa tình, cánh bướm rung Trắng muốt tâm linh vạt áo sầu Canh gà chưa rụng đã xa nhau Thương cho xác bướm hai lần mộng Đành hẹn bài thơ gửi kiếp sau Tôi sẽ đi như giấc mộng buồn Và đi như vệt nắng cô đơn Kinh thành hoang phế, em ngồi lặng Mái tóc còn vương một chút hồn Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Mùa Thu Paris Mùa thu Paris Trời buốt ra đi Hẹn em quán nhỏ Rưng rưng rượu đỏ tràn ly Mùa thu đêm mưa Phố cũ hè xưa Công trường lá đổ Ngóng em kiên khổ phút, giờ Mùa thu âm thầm Bên vườn Lục-xâm Ngồi quen ghế đá Không em buốt giá từ tâm Mùa thu nơi đâu? Người em mắt nâu Tóc vàng sợi nhỏ Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris Tràn dâng đôi mi Người em gác trọ Sang anh, gót nhỏ thầm thì Mùa thu không lời Son nhạt đôi môi Em buồn trở lại Hờn quên, hối cải cuộc đời Mùa thu! Mùa thu! Mây trời âm u Yêu người độ lượng Trông em tâm tưởng, giam tù Mùa thu!... Trời ơi! Tình thu! Cung Trầm Tưởng Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Thanh Tâm Tuyền Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dư Văn Tâm, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1936 tại Vinh. Năm mới 18 tuổi, ông cùng các bạn Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp chủ trương nguyệt san Lửa Việt (1954). Sau đó, ông trở thành một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo từ 1956 đến 1960. Ông nhập ngũ năm 1962, giải ngũ năm 1964 rồi tái ngũ năm 1968 sau biến cố Tết Mậu Thân. Sau 1975, ông bị bắt đi tù cải tạo ngoài Việt Bắc. Ông qua đời lúc 11 giờ 15 ngày 23 tháng Ba 2006 tại Minnesota, Hoa Kỳ, hưởng thọ 70 tuổi. Tác phẩm tiêu biểu: - Các thi tập Tôi Không Còn Cô Độc (1956), Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (1964), Thơ Ở Đâu Xa (1990); - Các tập truyện Bếp Lửa (1957), Khuôn Mặt (1964), Tiếng Động (1970). Lệ Đá Xanh Tôi biết những người khóc lẻ loi Không nguôi một phút Những người khóc lệ không rơi ngoài tim Em biết không Lệ là những viên đá xanh Tim rũ rượi Đôi khi anh muốn tin Ngoài trời chỉ còn trời sao là đáng kể Mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em Đến ngày cuối Đôi khi anh muốn tin Ngoài đời thơm phức những trái cây của Thượng Mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em Nguồn sữa mật khởi đầu Đôi khi anh muốn tin Ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết Mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em

Vòng ân ái Đôi khi anh muốn tin Ôi những người khóc lẻ loi một mình Đau đớn lệ là những viên đá xanh Tim rũ rượi Ngã Trên Núi Việt Hồng Ở Yên Báy Khi Đi Vác Nứa Tuột dốc té nhào trên hẻm núi Chết điếng toàn thân trong giây lâu Mưa rơi đều hạt mưa phơi phới Ngày đang tàn hiu quạnh rừng sâu Duỗi soải chân tay gối trên nứa Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau Tưởng chừng thi thể ai thối rữa Hồn viễn vông chẳng chút oán sầu Mưa giăng tấm lưới trắng dầy khít Làng xóm dưới núi ở phương nào Gió lạnh tái tê bó liệm chặt Lả thiếp người quên bẵng sướt đau Đầm mình trong lạnh của ẩn mật Mắt hoen nhoà hứng giọt thiên thâu Dò dẫm tối về đêm tối mịt Sông xa núi thẳm quê nhà đâu? Yên Báy, 1979 Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ

Nguyên Sa Trần Bích Lan (1932-2003)

Paris Có Gì Lạ Không Em? Paris có gì lạ không em? Mai anh về em có còn ngoan

Mùa xuân hoa lá vươn đầy ngõ Em có tìm anh trong cánh chim? Paris có gì lạ không em? Mai anh về giữa bến sông Seine Anh về giữa một giòng sông trắng Là áo sương mù hay áo em? Em có đứng ở bên bờ sông? Làm ơn che khuất nửa vừng trăng Anh về có nương theo giòng nước Anh sẽ tìm em trong bóng trăng Anh sẽ thở hơi trong sương khuya Mỗi lần ta một chút sương sa Bao giờ sáng một trời sao sáng Là mắt em nhìn trong gió đưa Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay Tóc em anh sẽ gọi là mây Ngày mai hai đứa mình xa cách Anh vẫn được nhìn mây trắng bay Anh sẽ chép thơ trên thời gian Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen Vì em hay một vùng trăng sáng Đã đắm trong lòng cặp mắt em? Anh sẽ đàn những phím tơ trùng Anh đàn mà chẳng có thanh âm Chỉ nghe gió thoảng niềm thương nhớ Để lúc xa vời đỡ nhớ nhung... Paris có gì lạ không em? Mai anh về mắt vẫn lánh đen Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm Chả biết tay ai làm lá sen?

Áo Lụa Hà Đông Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung Bày vội vã vào trong hồn mở cửa Gặp một bữa anh đã mừng môt bữa Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn Thơ học trò anh chất lại thành non Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu Em không nói đã nghe lừng giai điệu Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh Em đã trông lên bằng đôi mắt chung tình Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại Để anh giận mắt anh nhìn vụng dại Giận thơ anh đã nói chẳng nên lời Em đi rồi, sám hối chạy trên môi Những ngày tháng trên vai buồn bỗng nặng Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng

Chân Dung Nhà Văn: Lời Bàn: Gấu, Nhà Văn

Nhân Vật Lịch sử

CHÂN DUNG CÁC NHÀ VĂN

Tác Giả - Tác Phẩm

1. Hồ Phương Trên biển lớn mênh mông sóng nước Ngó trông về xóm mới khuất xa Cỏ non nay chắc đã già Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem. 2. Nguyễn Đình Thi Xung kích tràn lên nước vỡ bờ Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ

Bay chi mặt trận trên cao ấy Quên chú nai đen vẫn đứng chờ. 3. Tô Hoài Dế mèn lưu lạc mười năm Để O Chuột phải ôm cầm thuyền ai Miền tây sen đã tàn phai Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang. 4. Nguyên Hồng Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay Cơn bão đến động rừng Yên thế Con hổ già uống rượu giả vờ say 5. Nguyễn Công Hoan Bác Kép Tư Bền rõ đến vui Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi Bới tung đống rác nên trời phạt Trời phạt chửa xong bác đã cười. 6. Nguyễn Tuân

Vang bóng một thời đâu dễ quên Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên Chén rượu tình rừng cay đắng lắm Tờ hoa lại trót lỡ ưu phiền. 7. Huy Cận Các vị La hán chùa Tây phương Các vị gày quá tôi thì béo Năm xưa tôi hát vũ trụ ca Bây giờ tôi hát đất nở hoa Tôi hát chiến tranh như trẩy hội Không nên xấu hổ khi nói dối Việc gì mặt ủ với mày chau Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu! 8. Xuân Diệu Hai đợt sóng dâng một khối hồng Không làm trôi được chút phấn thông Chao ơi ngói mới nhà không mới Riêng còn chẳng có, có gì chung.

9. Tế Hanh Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu Tình còn dang dở tận Hàng Châu Khúc ca mới hát sao buồn thế Hai nửa yêu thương một nửa sầu. 10. Chế Lan Viên Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn Ta nghĩ tới vàng son từ thuở ấy Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa Thay đổi cả cơn mơ, ai dám bảo con tầu không mộng tưởng Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng Lòng ta cũng như tầu, ta cũng uống Mặt anh em trong suối cạn Hội nhà văn 11. Nguyễn Thi

Trăng sáng soi riêng một mặt người Chia ly đôi bến cách phương trời Ước mơ của đất anh về đất Im lặng mà không cứu nổi đời. 12. Kim Lân Nên danh nên gía ở làng Chết về ông lão bên hàng xóm kia Làm thân con chó xá gì Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn. 13. Tú Mỡ Một nắm xương khô cũng gọi mỡ Quanh năm múa bút để mua cười Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi. 14. Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn) Phất rồi ông mới ăn khao Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời Ông đồ phấn, ông đồ vôi

Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng. 15. Hoài Thanh Vị nghệ thuật nửa cuộc đời Nửa đời sau lại vị người ngồi trên Thi nhân còn một chút duyên Lại vò cho nát lại lèn cho đau Bình thơ tới thuở bạc đầu Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình Giật mình mình lại thương mình Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan 16. Vũ Tú Nam Vốn cùng nhân dân tiến lên Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào Con về nấp bóng ca dao Giật mình nghe một tiếng chào: Văn Ngan 17. Hữu Mai Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết

Trong cặp còn hồ sơ điệp viên Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên. 18. Đỗ Chu Đám cháy ở sau lưng Đám cháy ở trước mặt Than ôi mày chạy đâu Dưới vòm trời quen thuộc Đốt bao nhiêu cỏ mật Không bay mùi thơm tho Càng hun càng đỏ mắt Quay về thung lũng cò 19. Xuân Quỳnh Mải hái hoa dọc chiến hào Bỏ quên chòi biếc lúc nào không hay Thói quen cũng lạ lùng thay Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn 20. Phạm Tiến Duật

Trường sơn đông em đi hái măng Trường sơn tây anh làm thơ cho lính Đời có lúc bay lên vầng trăng Lại rơi xuống chiếc xe không kính Thế đấy! giữa chiến trường Nghe tiếng bom cũng mạnh! 21. Nguyễn Thành Long Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà Lặng lẽ giữa khoảng trong xanh ấy Để mối đùn lên đến lúc già. 22. Đào Vũ Trời thí cho ông vụ lúa chiêm Ông xây sân gạch với xây thềm Con đường mòn ấy ông đi mãi Lưu lạc đâu rồi mất cả tên 23. Nguyễn Bính Hai lần lỡ bước sang ngang

Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi Trăm hoa thân rã cành rời Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ. 24. Nguyễn Văn Bổng Nhọc nhằn theo bước con trâu Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng Mỗi bước đi một bước dừng Mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh. 25. Nguyên Ngọc Mấy lần đất nước đứng lên Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm Hại thay một mạch nước ngầm Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu 26. Vũ Thị Thường Từ trong hom giỏ chui ra Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi Định đem cái lạt buộc người Khổ thay ông lão vịt trời phải chăn

27. Quang Dũng “Sông Mã xa rồi tây tiến ơi” Về làm xiếc khỉ với đời thôi Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm Sống tạm cho qua một kiếp người Áo sờn thay chiếu anh về đất Mây đầu ô trắng, Ba vì xanh Gửi hồn theo mộng về tây tiến “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” 28. Mai Ngữ Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật Biết ông sòng phẳng tự bao giờ Cái con thò lò quay sáu mặt Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ 29. Nguyễn Khải Cha và con và... họ hàng và... Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn

Họ sống chiến đấu càng khó khăn Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa Tháng tư lại đi xa hơn nữa Đường đi ra đảo đường trong mây Những người trở về mấy ai hay Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt Muốn làm cách mạng nhưng lại dát1 30. Hoàng Trung Thông Đường chúng ta đi trong gió lửa Còn mơ chi tới những cánh buồm Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm 31. Chính Hữu Tấm áo hào hoa bạc gió mưa Anh thành đồng chí tự bao giờ Trăng còn một mảnh treo đầu súng Cái ghế quan trường giết chết thơ. 32. Thanh Tịnh

Bao năm ngậm ngải tìm trầm Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang Bạc đầu mới biết lạc đường Tay không nay lại vẫn hoàn tay không Mộng làm giọt nước ôm sông Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay. 33. Chu Văn Một con trâu bạc già nua Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây Trâu ơi ta bảo trâu này Quay về đất mới kéo cày cho xong. 34. Ngô Tất Tố Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên Chia xôi chia thịt lại chia quyền Việc làng việc nước là như vậy Lộn xộn cho nên phải tắt đèn. 35. Nam Cao Anh còn đôi mắt ngây thơ

Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai Thương cho Thị Nở ngày nay Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo. 36. Xuân Thủy Xoắn mãi dây tình thơ bật ra Paris thì thích hơn ở nhà Đông y ắt hẳn hơn tây dược Xe tải không bằng xe Vonga Trên đời kim cương là quý nhất Thứ đến tình thương dân nghèo ta Em chớ chê anh già lẩm cẩm Còn hơn thằng trẻ lượn Honđa. 37. Lưu Trọng Lư Em không nghe mùa thu Mùa thu chỉ có lá Em không nghe rừng thu Rừng mưa to gió cả Em thích nghe mùa xuân

Con nai vờ ngơ ngác Nó ca bài cải lương. 38. Nguyễn Khoa Điềm Một mặt đường khát vọng Cuộc chiến tranh đi qua Rồi trở lại ngôi nhà Cất lên ngọn lửa ấm Ngủ ngon a Kai ơi Ngủ ngon a Kai à... 39. Nguyễn Kiên Anh Keng cưới vợ tháng mười Những đứa con lại ra đời tháng năm Trong làng kháo chuyện rì rầm Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đày kho. 40. Anh Thơ Ấy bức tranh quê đẹp một thời Má hồng đến quá nửa pha phôi Bên sông vải chín mùa tu hú

Khắc khoải kêu chi suốt một đời. 41. Xuân Thiều “Đôi vai” thì gánh lập trường Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn Nghe anh kể chuyện đầu nguồn Về nhà thấy mất cái hồn của em. 42. Nguyễn Thị Như Trang Nhá nhem khoảng sáng trong rừng Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua Xác xơ mầu tím hoa mua Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày. 43. Bùi Đức Ái (Anh Đức) Chị Tư Hậu đẻ ra anh Ví như hòn đất nặn thành đứa con Biển xa gió dập sóng dồn Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ. 44. Nguyễn Thế Phương Đi bước nữa rồi đi bước nữa

Phấn son mưa nắng đã tàn phai Cái kiếp đào chèo là vậy đó Đêm tàn bến cũ chẳng còn ai. 45. Vũ Trọng Phụng Đã qua đi một thời giông tố Qua một thời cơm thầy cơm cô Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ. 46. Xuân Thiêm Thơ ông tang tính tang tình Cây đa bến nước mái đình vườn dâu Thân ông mấy lượt lấm đầu Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm. 47. Đào Hồng Cẩm Bắt đầu từ lão nghị hụt Cầm dao giết mạng người Chị Nhàn phải đi bước nữa Lấy đại đội trưởng của tôi

Cuộc đời mấy phen nổi gió Phải đem tổ quốc thề bồi Lần này ông ra ứng cử Chắc hẳn là trúng nghị viên thôi. 48. Nguyễn Quang Sáng Ông Năm Hạng trở về đất lửa Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy Ông biến thành thằng nộm hình rơm. 49. Hoàng Văn Bổn Có những lớp người đi vỡ đất Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô Lại gieo hạt bông hường bông cúc Trên mảng đất này hoa héo khô. 50. Phù Thăng Chuyện kể cho người mẹ nghe Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang Đứa con nuôi của trung đoàn

Phá vây xong lại chết mòn trong vây. 51. Nguyễn Thị Ngọc Tú Đất làng vừa một tấc Bao nhiêu người đến cày Thóc giống còn mấy hạt Đợi mùa sau sẽ hay 52. Vũ Cao Sớm nay nhấp một chén trà Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi Những người cùng làng với tôi Muốn sang đèo trúc muộn rồi đừng sang 53. Phan Tứ Bên kia biên giới anh sang Trước giờ nổ súng về làng làm chi Mẫn và tôi tính chi li Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh. 54. Nguyễn Huy Tưởng Anh chẳng còn sống mãi

Với thủ đô luỹ hoa Để những người ở lại Bốn năm sau khóc oà. 55. Thu Bồn Chim Chơ rao cất cánh ngang trời Tình như chớp trắng cháy liên hồi Đám mây cánh vạc tan thành nước Mà đất ba dan vẫn khát hoài. 56. Bùi Hiển Sinh ra trong gió cát Đất Nghệ an khô cằn Bao nhiêu năm “nằm vạ” Trước cửa hội nhà văn. 57. Võ Huy Tâm Đem than từ vùng mỏ Về bán tại thủ đô Bị đập chiếc cán búa Hoá ra thằng ngẩn ngơ.

58. Nông Quốc Chấn Tưởng anh dọn về làng xưa Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà Sướng cái bụng lắm lắm à Đêm là đèo gió, ngày là hồ Tây. 59. Thế Lữ Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt Mở ra dòng thơ mới cho đời Bỏ rừng già về vườn bách thú Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi. 60. Nguyễn Minh Châu Cửa sông cất tiếng chào đời Rồi đi ra những vùng trời khác nhau Dấu chân người lính in mau Qua miền cháy với cỏ lau bời bời Đọc lời ai điếu một thời Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu? 61. Phạm Huy Thông

Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô Liệu Hạng Vũ có lên ngôi hoàng đế Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu Cơ Đời chẳng còn gì, và thơ cũng thế. 62. Giang Nam “Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm” “Có những ngày trốn học bị đòn roi” Nay tôi yêu quê hương về có ô che nắng Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui. 63. Bằng Việt Nhen lên một bếp lửa Mong soi gương mặt người Bỗng cơn giông nổi đến Mây che một khung trời Đất sau mưa sụt lở Mầu mỡ trôi đi đâu Còn trơ chiếc guốc vàng Trăng mài mòn canh thâu.

64. Nguyễn Trọng Oánh Một chút hương thơm trải bốn mùa Mười năm lăn lội chốn rừng già Quay về không chịu ơn mưa móc Đất nắng mưa rồi đất lại khô. 65. Nguyễn Xuân Sanh Xưa thơ anh viết không người hiểu “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” Nay anh chưa viết người đã hiểu Sắp sáng thì nghe có tiếng gà. 66. Thâm Tâm “Người đi, ờ nhỉ, người đi thật” Đi thật nhưng rồi lại trở về Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu Mà đắm hồn người trong tái tê. 67. Nguyễn Huy Thiệp Không có vua thì làm sao có tướng Nên về hưu vẫn phải chết tại chiến trường

Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương. 68. Phùng Quán Hồn đã vượt Côn đảo Thân xác ở trong lao Bởi nghe lời mẹ dặn Nên suốt đời lao đao. 69. Tố Hữu Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng Mắt trông về tám hướng phía trời xa Chân dép lốp bay vào vũ trụ Khi trở về ta lại là ta Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát Trông về Việt Bắc tít mù mây Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt Máu ở chiến trường, hoa ở đây. 70. Dương Thu Hương Tay em cầm bông bần ly

Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng Chuyện tình kể trước lúc rạng đông Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ Thiên đường thì quá mù mờ Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma Hành trình thơ ấu đã qua Hỡi người hàng xóm còn ta với mình. 71. Hữu Thỉnh Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố Bị lạc đường về hội nhà văn Ờ nhỉ bao giờ quay trở lại Với năm anh em trên một chiếc xe tăng. 72. Trần Bạch Đằng Ván bài lật ngửa tênh hênh Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi Thay tên đổi họ mấy hồi Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ 73. Nguyễn Duy

Mẹ và em đang ở đâu Giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa Ổ rơm teo tóp ngày mùa Xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi Bờ tre kẽo kẹt liên hồi Bầu trời vuông với một ngôi sao dời Đánh thức tiềm lực suốt đời Ai? Chẳng ai đáp lại lời của tôi. 74. Nguyễn Mạnh Tuấn Anh đã đứng trước biển Cù lao Chàm kia rồi Nhưng khoảng cách còn lại Xa vời lắm anh ơi. 75. Trần Mạnh Hảo Ôi thằng Trần Mạnh Hảo Đi phỏng vấn Chí Phèo Lão chết từ tám hoánh

Đời mày vẫn gieo neo Còn cái lão Bá Kiến Đục bản in thơ mày Bao giờ mày say rượu Bao giờ mày ra tay 76. Hoàng Cầm Em ơi buồn làm chi Em không buồn sao được Quan họ đã vào hợp tác Đông hồ gà lợn nuôi chung Bên kia sông Đuống em trông Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng. 77. Lê Lựu Người về đồng cói người ơi Phía ấy mặt trời mọc lại Một thời xa vắng, xa rồi Phủ Khoái xin tương oai oái Ở đời gặp may hơn khôn

Nào ai dám ghen dám cãi Người đã đi Mỹ hai lần Biết rồi, khổ lắm, nói mãi1 78. Vũ Quần Phương Anh đứng thành tro... em có biết Hôm qua lại gặp chuyến xe bò Vẫn anh đi trong vầng trăng cũ Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ. 79. Hữu Loan Ôi màu tím hoa sim Nhuốm tím cuộc đời dài đến thế Cho đến khi tóc bạc da mồi Chưa làm được nhà còn bận làm người Ngoảnh lại ba mươi năm Tìm mãi nghìn chiều hoang biền biệt

80. Lý Văn Sâm Kiên Trì dấn bước đường chinh chiến Nửa gánh giang hồ nửa ái ân Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh Tráng sĩ có về với bến xuân. 81. Tản Đà Văn chương thuở ấy như bèo Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời Giấc mộng lớn đã bốc hơi Giộc mộng con suốt một thời bơ vơ Tiếc chi cụ sống tới giờ Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn. 82. Lưu Quang Vũ Cũng muốn tin vào hoa hồng Tin vào điều không thể mất Cả tôi và cả chúng ta Đứng trong đầm lầy mà hát Ông không phải là bố tôi

Con chim sâm cầm đã chết Ông không phải là bố tôi Con chim sâm cầm ai giết1 83. Hà Minh Tuân Bốn mươi tuổi mới vào đời Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ Giữa hai trận tuyến ngu ngơ Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu? 84. Minh Huệ Vỡ lòng câu thơ viết Mời bác ngủ bác ơi Đêm nay bác không ngủ Nhà thơ ngủ lâu rồi 85. Văn Cao Thiên thai - từ giã về dương thế Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ Uống rượu say rồi hát quốc ca

86. Ma Văn Kháng Khi xuôi anh mang theo Đồng bạc trắng hoa xòe Với một mối tình sơn cước Mùa lá rụng trong vườn Năm này qua năm khác Đám cưới vẫn không thành Vì giấy gía thú chửa làm xong 87. Vũ Bão Sắp cưới bỗng có thằng phá đám Nên ông chửi bố chúng mày lên Đàu chày đít thớt đâu còn ngán Không viết văn thì ông viết phim. 88. Hồ Dzếnh Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay Quê nhà vẫn lẩn khuất trong mây Lui về ký ức chân trời cũ Uống chén rượu buồn không dám say.

89. Hoàng Phủ Ngọc Tường Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi Cái nợ lên xanh rũ sạch rồi Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi Sử thi thành cổ buồn nao dạ Chuyện mới Đông hà tái nhợt môi Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi! 90. Phạm Thị Hoài Dẫu chín bỏ làm mười hay mười hai cũng mặc Chẳng ai dung thiên số đất này Dụ đồng đội vào trong mê lộ Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày. 91. Thanh Thảo Giặc dã yên rồi về xoay khối vuông Ru bích

Đoán vận rủi may Thưa quý vị, xin mời1 Xanh tím trắng đỏ vàng đều rõ hết Ta cùng vào cuộc chơi. Không gian bốn năm chiều, thời gian xin tuỳ thích Đảo lộn tùng phèo thật gỉa trắng đen “Tôi như cục xà bông thứ thiệt” Cứ đổ rượu vào hình quý vị sẽ hiện lên. 92. Trần Dần Người người lớp lớp xông ra trận Cờ đỏ mưa sa suốt dặm dài Mở đợt phá khẩu tiến lên

nhất định thắng Lô cốt mấy tầng đè nát vai Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng Hồn vẫn treo trên Vọng hải đài. 93. Khương Hữu Dựng Ba lô trên vai từ đêm mười chín “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” Thì cứ khắc đi rồi khắc đến Sao còn ngồi đấy cụ già Khương? 94. Bùi Minh Quốc Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ Lại xung phong vào Nam đánh giặc Với bà cụ đào hầm đầu bạc phơ phơ Hoà bình rồi tiến lên đổi mới Bất ngờ ngã ngựa chốn non cao

Dẫu thân thể mang đày thương tích Thì cuộc đời vẫn đẹp sao Tình yêu vẫn đẹp sao1 95. Ý Nhi Trái tim với nỗi nhớ ai Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng Như người đàn bà ngồi đan Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng. 96. Yến Lan Ra đi từ bến My Lăng Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng Tuổi già về lại bến sông Trăng xưa đã lớn, phải chong đèn dầu 97. Phan Thị Thanh Nhàn Dấu một chòm thơ trong chiếc khăn tay Em hăm hở đi tìm người trao tặng Những kẻ phong lưu, những tên du đãng Mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê.

98. Trần Đăng Khoa Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát Hát thành thơ như nước triều lên Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa “Biển một bên và em một bên”. 99. Hoàng Lại Giang Người đàn bà một thời tôi ao ước Trên vành đai Mỹ những năm xưa Tình yêu đã lụi tàn cùng ký ức Nhưng còn đây tàn lụi đến bao giờ? 100. Xuân Sách (Tự hoạ) Cô giáo làng tôi đã chết rồi Một đêm ra trận đất bom vùi Xót xa đình Bảng người du kích Đau đớn Bạch đằng lũ trẻ côi Đường tới chiến công gân cốt mỏi Lối vào lửa sởn tóc da mồi Mặt trời ảm đạm quê hương cũ

Ở một cụm đường rách tả tơi.

Lời cuối sách Tiếp theo cuốn Thương nhớ tài hoa của Nguyễn Vũ Tiềm, phác thảo chân dung của năm mươi nhà thơ, nhà văn đã quá cố, những cây bút có những đóng góp đặc sắc cho nền văn học của đất nước, hôm nay Nhà xuất bản Văn học gửi tới bạn đọc một tập hợp khác về chân dung các nhà văn. Đây là những kí hoạ có tính đặc tả của Xuân Sách, những chân dung vốn đã khá phổ biến trong và ngoài giới văn học suốt vài chục năm qua. Tác giả không nêu đích danh ai, nhưng dưới nét bút phác thảo, những độc giả quan tâm tới văn học và người làm văn học, vẫn có thể nhận ra từng đối tượng. Dĩ nhiên thể loại này thường cố ý phóng to các đặc điểm và khi nhìn vào nét đặc tả ấy - tuy mất cân đối và đôi khi phiến diện - vẫn dễ dàng nhận ra diện mạo, cốt cách từng nhân vật. Chất vui, hóm và nhất là khả năng chơi chữ có thể khiến người ta ngạc nhiên một cách thú vị, nhưng cũng có thể gây nên những sự không hài lòng đây đó... Chúng tôi chỉ coi đây là những nét tự trào của giới cầm bút, cười đấy nhưng cũng tự nhận ra những xót xa, hạn hẹp của chính mình, những gì chưa vượt qua được trên những chặng đường quanh co của lịch sử và thời đại. Tự soi mình hoặc hiểu mình thêm qua cái nhìn của người cùng hội, cùng thuyền lắm khi cũng hữu ích. Cái cười trong truyền thống dân gian vốn là vũ khí, ngày nay còn có thể là sức mạnh thúc đẩy đi tới phía trước. Với ý nghĩ ấy, chúng tôi mong bạn đọc và các nhà văn thông cảm cho những gì bất cập hoặc chưa lột tả được thần thái của từng chân dung. Dù sao đây cũng là 100 bức tranh nhỏ về những người có công trong văn học, những người nổi tiếng trong làng văn, trong bạn đọc bằng chính những

tác phẩm có giá trị của mình. Rất mong bạn đọc và các nhà văn nhận ra mối chân tình trong cuộc vui của làng văn, và lượng thứ cho những khiếm khuyết. Nhà xuất bản Văn học Nguồn: Theo bản in của Nhà xuất bản Văn học, in tại nhà in Bộ Nội Vụ tháng 3 năm 1992, bản đăng trên talawas có sự đồng ý của tác giả. Tâm sự của Xuân Sách Những bài thơ chân dung các nhà văn của tôi ra đời trong trường hợp rất tình cờ. Hôi ấy bước vào thập kỷ 60, tôi đang độ tuổi và mới từ đơn vị được chuyển về Tạp chí Văn nghệ quân đội ở ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế, Hà nội. Ngoài công việc của toà soạn tờ báo ra thời gian của chúng tôi dành nhiều cho học tập chính trị. Những vấn đề thời sự trong nước, thế giới, những đường lối, chỉ thị, nghị quyết, những vấn đề tư tưởng lâu dài và trước mắt... đều phải học tập nghiêm túc, có bài bản. Học một ngày, hai ngày, có khi cả tuần, cả tháng. Lên lớp, thảo luận, kiểm điểm, làm sao sau mỗi đợt học, nhận thức và tư tưởng từng người phải được nâng cao lên một bước. Những buổi lên lớp tập trung tại hội trường gồm hàng ngàn sĩ quan, anh em văn nghệ, các nhà văn, các hoạ sĩ, nhạc sĩ... thường ngồi lập trung với nhau ở những hàng ghế cuối hội trường thành một “xóm” văn nghệ. Để chống lại sự mệt mỏi phải nghe giảng về hai phe, bốn mâu thuẫn, về ba dòng thác cách mạng, về kiên trì, tăng cường, nỗ lực, quyết tâm... mấy anh văn nghệ vốn quen thói tự do thường rì rầm với nhau những câu chuyện tào lao hoặc che kín cho nhau để hút một hơi thuốc lá trộm, nuối vội khói, nhiều khi ho sặc sụa. Nhưng rồi những chuyện đó cũng bị phát hiện, bị nhắc nhở phê bình. Vậy phải thay đổi chuyển sang “bút đàm”. Vào năm 1962 có đợt học tập quan trọng, học nghị quyết 9, nghị quyết chống xét lại, chống tư tưởng hoà bình chủ nghĩa, và dĩ nhiên văn nghệ là một đối tượng cần chú ý trong đợt học này. Hội trường tập trung đông, trời nắng, hơi nóng từ cái sân láng xi măng hắt lên như thiêu như đất. Quân đội đang tiến lên chính quy hiện đại, ăn mặc phải tề chỉnh đầy dủ cân đai bối

tử, đi giầy da, những đôi giẫy cao cổ nặng như cùm. Bọn tôi trừ vài trường hợp như Vũ Cao, Nguyễn Khải có đôi chân quá khổ, có cớ chưa có giầy đúng số để đi dép, nhưng cũng là những đôi dép có quai hậu, ngồi học cũng không được tụt quai. Nhân đây tôi xin nói thêm về Vũ Cao. Ông là người biệt danh “quanh năm đi chân đất”, ở nhà số 4 các phòng sàn ván đều được lau bóng để đánh trần nằm xuống mà viết. Quy định ai vào phòng phải bỏ giầy dép trừ... Vũ Cao, bởi để ông đi dép vào phòng còn sạch hơn đi chân trần. Giờ đây ngồi học được ưu tiêu đi dép vẫn là nỗi cực khổ đối với ông. Trong buổi lên lớp căng thẳng như thế, Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá Tam Đảo viết một bài thơ chữ Hán trao cho tôi. Ở Văn nghệ quân đội, Oánh được gọi là ông Đồ Nghệ giỏi chữ Hán và tôi được gọi là Đồ Thanh bởi cũng vỏ vẽ đôi ba chữ thánh hiền. Oánh bảo tôi dịch bài thơ Oánh viết vịnh Xuân Thiều. Xuân Thiều cũng ở lứa tuổi chúng tôi nhưng trông già dặn vì cái đầu hói, tóc lơ thơ. Con dường văn chương mới bước vào còn lận đận. Mới in được tập truyện ngắn đầu tay “Đôi Vai”, tập tiểu thuyết “chuyển vùng” viết về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Bình Trị Thiên mà Thiều tham dự, đã sửa chữa nhiều lần, đưa qua nhiều nhà xuất bản chưa “nhà” nào chịu in. Tôi thấy bài thơ Oánh viết rất là hay và dịch: Văn nghiệp tiền trình khả điếu quân Mao đầu tận lạc tự mao luân Lưỡng kiên mai hếu phong trần lý Chuyển địa hà thời chuyển đắc ngân Dịch nghĩa: Con dùng văn nghiệp khá thương cho ông Lông đầu ông đã rụng trơ trụi Đôi vai lầm lủi trên con đường gió bụi

Chuyển vùng đến bao giờ thì chuyển thành tiền được? Dịch thơ: Con đường văn nghiệp thương ông Lông đầu rụng hết thư lông cái gầu Đôi vai gánh mãi càng đau Chuyển vùng nào nữa làm sao thành tiền? Dịch song tôi chuyển bài thơ cho anh em đọc. Oánh tỉnh bơ với bộ mặt lạnh lùng cố hữu còn mọi người phải nén cười cho khỏi bật thành tiếng. Nguyễn Minh Châu gục xuống bàn kìm nén đến nôi mặt đỏ bừng và nước mắt dàn dụa. Tự nhiên trong đầu tôi lóe lên cái ý nghĩ mà người ta thường gọi là “tia chớp”. Thơ chân dung! Trong bài thơ của Oánh phác hoạ một Xuân Thiều với hình dáng và văn nghiệp bằng cách dùng nghĩa kép của tên tác phẩm: “Đôi Vai” “Chuyển Vùng”. Và sau chốc lát, tiếp tục trò đùa của Oánh tôi viết bài thơ về Hồ Phương, đang ngồi cạnh tôi, và bài thơ số một về chân dung các.. nhà văn ra đời. Hồi đó Hồ Phương đã là tác giả in nhiều tác phẩm, đã được một số giải thưởng các cuộc thi sáng tác văn học. Tôi dùng tên các tập truyện của anh: “Trên biển lớn” “Xóm mới” “Cỏ non” và tên cái truyện ngắn đầu tay vẫn được nhắc đến: “Thư nhà”. Tôi viết bài thơ ra mẫu giấy: Trên biển lớn lênh đênh sóng nước Ngó trông về xóm mới khuất xa Cỏ non nay chắc đã già Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem

Tôi đưa bài thơ cho Nguyễn Khải. Anh đọc xong trên mặt có thoáng chút ngạc nhiên và nghiêm nghị chứ không cười như tôi chờ đọi, anh bỏ bài thơ vào túi chứ không chuyển cho người khác. Đến giờ giải lao chúng tôi ra ngồi quanh gốc cây sấu già, Nguyễn Khải mới đưa bài thơ cho Hồ Phương đọc. Mặt Hồ Phương hơi tái và cặp môi mỏng của anh hơi run. Nguyễn Khải nói như cách sỗ sàng của anh: -Thằng này (chỉ tôi) ghê quá, không phải trò đùa nữa rồi! Tôi hơi hoảng, nghĩ rằng đó chỉ là trò chơi chữ thông thường. Sau rồi tôi hiểu ngoài cái nghĩa thông thường bài thơ còn chạm vào tính cách và đánh giá nhà văn. Mà đánh giá nhà văn thì có gì quan trọng hơn là tính cách và tác phẩm. Bài thơ ngụ ý Hồ Phương có viết nhiều chăng nữa văn không vượt được tác phẩm đầu tay và vẫn cứ: buồn tênh lại giở thư nhà ra xem...” Trước đây khi còn là lính ở địa phương, cái xã hội nhà văn đối với tôi đầy thiêng liêng bí ẩn. Đấy là những con người dị biệt rất đáng ngưỡng mộ, rất đáng yêu mến dường như họ là một siêu tầng lớp trong xã hội. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, lời nói của họ đều có thể trở thành giai thoại, và cả tật xấu nữa, dường như cũng đứng ngoài vòng phán xét thông thường. Tóm lại đó là một thế giới đầy sức hấp dẫn đối với người say mê văn học và tập tễnh nuôi mộng viết văn như tôi. Khi tôi được về Hà nội vào một cơ quan văn nghệ dù là ở quân đội (hoàn cảnh nước ta quân đội có một vị trí đặc biệt trong xã hội kể cả lĩnh vực văn chương) tôi bắt đầu đi vào cái thế giới mà trước kia tôi mơ ước. Điều tôi nhận ra là ngoài cái phần tôi hiểu trước đây thì thế giới nhà văn còn có những chuyện khác. Đó là cái mặt đời thường, cái mặt rất chúng sinh và chúng cũng góp phần quan trọng làm nên các tác phẩm và tính cách nhà văn. Vì vậy chân dung của họ không thể bỏ qua. Hơn nữa nếu “vẽ” được chính xác những bức chân dung đó, thì bộ mặt xã hội của thời dại họ đang sống cũng qua đó mà hiện lên. Có thể, tôi nghĩ, không có tầng lớp nào hơn các nhà văn thể hiện rõ nhất bộ mặt tinh thần của dân tộc qua từng giai đoạn. Những điều này tôi nhận ra sau một thời gian dài khi những bài thơ chân dunglần lượt được ra đời, được phổ biến một cách không chính thức nhưng sâu rộng và dai dẳng, vượt cả sự mong

muốn của tôi. Cũng chính các nhà văn giúp tôi nhiều trong sáng tác cũng như phổ biến các bài thơ. Bởi khi nhận định về tính cách con người, tính cách các nhà văn thì không ai sắc sảo bằng các nhà văn. Người giúp tôi nhiều nhất là anh Nguyễn Khải. Anh có mối quan hệ rộng rãi trong giới, có lối nhận xét người rất sắc sảo, chính xác dù có đôi lúc cực đoan. Anh không mấy thích thơ, nhưng anh lại thích những nhà văn chân dung. Anh có nói đại ý là các nhà văn chúng ta quen đánh giá nhận xét mọi tầng lớp người trong xã hội thì cũng cần tự đánh giá mình, cũng đều có cái tốt cái xấu như ai. Về sau thêm anh Vương Trí Nhàn về Văn nghệ quân đội. Nhà phê bình văn học trẻ tuổi này hết sức cổ suý tôi, đôi khi anh còn thách đố. Chúng tôi thường ngồi trong cái phòng “toilet” khoảng ba mét vuông, do hệ thống bơm nước lên tầng hai bị hỏng nên cái phòng vệ sinh đó biến thành phòng văn. Nó được ốp gạch men trắng bóng, lau sạch ngồi thật mát và thoải mái kín đáo. Có những hôm Nhàn mua sẵn vài ba điếu thuốc lá lẻ, vài cái kẹo lạc, một ấm trà ngon rồi thách thức tôi viết ngay tại chỗ. Và đã có nhiều bài thơ ra đời như thế. Nhàn nói: “Những bài thơ này ông Sách viết ra khi có quỷ ám vào ông ấy”. Bởi Nhàn đánh giá tôi có một giọng điệu khác hẳn trong những sáng tác không phải thơ chân dung. Nhàn là người rất thuộc thơ, và khi bài thơ tôi vừa làm xong thường anh là người phổ biến rộng rãi. Một số anh em trẻ khác như các anh Định Nguyễn, Trần Hoàng Bách thường đem những bài thơ đi phổ biến để được chiêu đãi bia hơi. Có thể nói đó là “nhuận bút” đầu tiên, nhưng không thuộc về người sáng tác mà thuộc về người phát hành. Tất nhiên những bài thơ đó được phổ biến rộng trong giới. Lúc dầu còn kín đáo, nhưng dần dần thành công khai và nhất là thành một “tiết mục” không thể thiếu trong những liên hoan của anh em văn nghệ. Có một buổi cũng khá đông đủ các nhà văn, khi vào tiệc rượu, mọi người yêu cầu tôi đọc thơ về các nhà văn có mặt, trong không khí như vậy thì dù các anh các chị ấy có giận cũng cười xoà làm vui. Riêng tôi thấy mình làm được trò vui cho mọi người cũng hay chứ sao. Tôi nhớ sau buổi vui, anh Nguyễn Đình Thi có nói đại ý nên đem cái tài đó làm những việc có ích hơn là châm chọc nhau. Ngay đó một anh ngồi bên cạnh rỉ tai tôi: “châm chọc cũng cần có tài và có ích lắm chứ “ Những bài thơ cũng được lan truyền sang các giới khác. Hồi đó tướng Lê

Quang Đạo là phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị, cấp trên của giới văn nghệ trong quân đội, ông rất thích những bài thơ chân dung, thường trong giờ nghỉ những buổi họp với giới văn nghệ ông đề nghị đọc cho ông nghe. Sự thích thú tuy có tính cách cá nhân nhưng rất hay cho tôi. Tôi cũng nhận được nhiều phản ứng khác nhau, có khi khen quá lời, có khi bực tức. Tôi kể ra vài trường hợp đặc biệt. Khi tôi đã tìm hiểu được những ứng xử những lính cách của các nhà văn, ngoài những tác phẩm mà tôi thường ngưỡng mộ tôi cứ băn khoăn tự hỏi: “Sao thế nhỉ? Với bề dày tác phẩm thư thế, với vị trí trong xã hội như thế, trong lòng ngườí đọc như thế, sao họ còn ham muốn những thứ phù phiếm đến thế một chức vụ, một quyền lực, một chuyến đi nước ngoài... Mà đã ham muốn thì phải mưu mẹo, phải dối trá và nhất là phải sợ hãi”. Một lần trên báo đăng một bài thơ dài của một nhà thơ có tên tuổi viết theo thời tiết chính trị, quay ngược lại với những điều vừa viết chưa lâu, Nguyễn Khải chỉ bài thơ nói với tôi: “Rất tiếc một tài năng lỡ tàu!” Tôi không nghĩ mình đứng ra ngoài cuộc để phán xét, muốn làm cặp mắl thứ hai trong một bài thơ để tự bạch, tự cảm thông với mình và cũng tự giận mình. Tôi vốn yêu thích và kính phục tài thơ Chế Lan Viên, nhưng bài thơ tôi viết về ông lại nói khía cạnh khác. Mỗi lần gặp lại tôi ông lại tỏ ra rất thân thiện. Điều đó làm cho tôi bối rối, phải chăng ông đã hiểu điều gì đó về ông về tôi. Lúc ông Hoài Thanh già yếu phải vào bệnh viện, tôi đến thăm ông. Ông không giận tôi nữa, còn cho tôi là người có tình và ông thấy những gì tôi viết về ông có phần đúng. Ông đề nghị chữa một chữ trong bài thơ. Khi ông mất, tôi đi viếng, nhìn khuôn mặt ông qua lấm kính, và các con ông oà khóc, tôi bỗng cảm thấy mình như người có tội. Một lần gặp Xuân Diệu trong quán bia hơi, tôi nâng cốc bia chúc mừng ông vừa được bầu làm viện sĩ của Viện hàn lâm nghệ thuật nước CHDC Đức, ông chạm cốc: - Chúc mừng họ Ngô nhà ta, những bài thơ của cậu đi vào cõi bất tử. Điều tôi không ngờ là cụ Đặng Thai Mai cho người gọi tôi đến nhà bảo tôi đọc thơ chân dung cho cụ nghe. Con người nổi tiếng uyên bác thâm trầm ấy ngồi đặt cầm lên đầu gối cười khục khục. Đột ngột cụ ngước cặp mắt

tinh anh lên nhìn tôi: “Thế còn Đặng Thai Mai?” Tôi lúng túng: “Viết về bác rất khó, cháu đang suy nghĩ thưa bác”. Dường như ông cụ không tin lời tôi. Ít lâu sau cụ lại gọi đến: “Anh viết về tôi rồi chứ?” Trước tôi chỉ nghĩ cụ không để ý đến cái trò chơi chữ ngông nghênh này, hoá ra cụ quan tâm thật sự khiến tôi vừa cảm động vùa thích thú. Nhưng biết sao được, viết về cụ thật là khó và đến nay tôi vẫn chưa viết được. Còn cụ Nguyễn Tuân, con người vốn thích đùa một cách... cao sang và thâm trầm thích ăn nem rán nóng bỏng thì gắp lên đặt xuống cái nem nghe thơ và phán: “Hóm, thằng này hóm”. Nói về đồng nghiệp cũng là nói về mình. Cái hay cái dở của một người cũng là của một thời. Câu thơ: “Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất. Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm” đâu chỉ là số phận của một nhà thơ. Hơn ai hết tôi nghĩ, nhà văn là đại diện của một thời, là lương tri của thời đại. Đã dành là khó ai vượt được thời đại mình đang sống, không dễ nói hết nói công khai những điều suy nghĩ. Nhưng cũng thật đau lòng và xấu hổ khi những nhà văn bán rẻ lương tâm, cong lưng quỳ gối trước quyền uy, mê muội vì danh lợi. Có lẽ đó là động cơ thúc đẩy tôi viết, nếu có nói quá cũng dễ hiểu, cái con “quỷ ám” nếu có thì cũng là ảnh hưởng của những cảm xúc ấy, nỗi đau chung ấy. Nhiều nghịch lý vốn tồn tại trong cuộc đời cũng như nghệ thuật. Tiếng cười nhiều khi xuất phát từ nỗ đau. Những bài thơ chân dung đã có cuộc sống riêng của không phải kỳ lạ nhưng cũng độc đáo. Nó được lưu truyền đến đã ba mươi năm. Đã có nhiều bài “khảo dị” nhiều bài ngoài luồng cũng được gán cho tác giả. Bây giờ in ra cũng coi như một sự đính chính. Nó cũng là “một cái gì đó” như có người đã nói nên mới tại được nếu nó có ích thì tác giả cũng lấy làm mãn nguyện. Ngày Xuân năm Nhâm Thân