Top 10 University in the World

Phụ trang Số 26

Harvard University

Stanford University

UC Berkeley

Cambridge University

MIT

CALTECH

Columbia University

Princeton University

The University of Chicago

Oxford University

Yale University

Cornell University

UCLA School of Law

UC San Diego

Pennsylvania State University

Washington Univ in St. Louis

Top 10 Đại học trên thế giới

Các bạn độc giả thân mến, Bổ sung số 26 chủ đề Du Học, Tạp Chí Phía Trước xin giới thiệu đến các bạn phụ trương 10 trường Đại Học nổi tiếng trên thế giới. Sự xếp hạng này dựa trên số liệu thống kê của Institute of Higher Education, Shanghai Jiao Tong University hoàn toàn mang tính tham khảo. Cũng cần nên biết là các thứ hạng thay đổi theo từng năm và theo cách đánh giá khác nhau của các viện nghiên cứu, thăm dò. Tốt nghiệp những trường trên là những sinh viên ưu tú, những cái đầu thông minh kiệt xuất, tấm bằng tốt nghiệp của những trường này là chìa khóa vàng đến các địa vị, chức vụ cao trong cơ quan chính phủ, các công ty đa quốc gia… Ngày nay hầu hết các trường này đều có các chương trình hợp tác với các quốc gia trên thế giới, cho nên có những sinh viên được thâu nhận trong chương trình trao đổi giữa các nước, các trường đại học với nhau. Tài liệu, hình ảnh sử dụng lấy từ Bách Khoa Toàn Thư mở Wikipedia. Tháng 9/2009

TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC
Web : tapchiphiatruoc.net Blog : phiatruoc.wordpress.com

BAN BIÊN TẬP Bảo Trâm-Khương Duy-Võ Thụy Nhu-Phan Thái Dương-Việt Quốc -Thanh Nguyên THIẾT KẾ TRÌNH BÀY Hậu Phú, Khương Duy, Tín Nghĩa

CỘNG TÁC VIÊN Mai Minh-Đông A-Elbi-Anh Thư

QUẢNG CÁO Quốc Bình-Chinh Nhân WEBSITE Kế Vũ
Châu Mỹ Tap Chi Phia Truoc PO Box 462220 Escondido, CA 92046 USA Châu Âu, Châu Á Tap Chi Phia Truoc 10 rue Louis Rossel 35000 Rennes FRANCE

Sự thật chưa hẳn là những gì tận mắt chứng kiến

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

1- Harvard University
Khẩu hiệu Thành lập Loại hình Tài trợ Hiệu trưởng Giảng viên Sinh viên Đại học Cao học Địa điểm Khuôn viên Thể thao Màu Biệt hiệu Trang chủ Veritas (tiếng Latin: Sự thật) 8 tháng 9, 1636 (OS), 18 tháng 9,1636 (NS)[1] Tư 28,8 tỉ USD[2] Drew Gilpin Faust 2.400 19.139 6.715 12.424 Cambridge, Mass., Hoa Kỳ nội thành, 380 acre/154 ha 41 đội Crimson Crimson www.harvard.edu

Đại

học Harvard là một trường đại học tư thục toạ lạc ở thành phố Cambridge, Massachu-

setts, Hoa Kỳ và là một thành viên của Ivy League. Được thành lập ngày 8 tháng 9 năm 1636 bởi cơ quan Lập pháp thuộc địa Massachusetts,[1] Havard là đại học lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, cũng là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên ở châu Mỹ. Nó cũng là tập đoàn đầu tiên tại Bắc Mỹ.[3] Đại học Harvard bao gồm 10 trường con. Với tên gọi ban đầu là "New College" hay "the college at New Towne", trường được đổi tên thành Harvard College vào ngày 13 tháng 3năm 1639, sau khi John Harvard, một mục sư trẻ tuổi ở Charlestown, hiến tặng cho trường một thư viện khoảng 400 đầu sách và 779bảng Anh (khoảng phân nửa tài sản của ông). Văn kiện đầu tiên đề cập đến Harvard với danh xưng "viện đại học"(university) là bản Hiến pháp Massachusetts năm 1780. Trong nhiệm kỳ kéo dài 40 năm (1869-1909) của mình, Viện trưởng Charles William Eliot thay đổi triệt để Harvard thành một đại học nghiên cứu. Các cải cách của Eliot bao gồm các khóa học nhiệm ý, mô hình lớp học nhỏ, và các kỳ thi tuyển. Mô hình của Harvard đã có ảnh hưởng trên nền giáo dục quốc gia Hoa Kỳ, ở cấp đại học và trung học. Thư viện Đại học Harvard với hơn 15 triệu đầu sách[4] là thư viện trường học lớn nhất thế giới, và đứng thứ tư trong số năm "thư viện hàng triệu" (mega-library) của thế giới (sau Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Thư viện Anh Quốc, và Thư viện quốc gia Pháp, nhưng xếp trước Thư viện Công New York).[5][6]

Lịch sử
Harvard thường xuyên có mặt ở hoặc gần vị trí đầu tiên trong các bảng xếp hạng giáo dục đại học quốc tế.Harvard cũng là tổ chức có nguồn cung ứng tài chính lớn thứ hai (sau Quỹ Bill & Melinda Gates), với khoảng 28,8 tỉ USD vào năm 2008.

Là học viện lâu đời nhất Hoa Kỳ, Harvard được thành lập chỉ 16 năm sau khi các di dân đầu tiên (Pilgrim Father) đặt chân lên Plymouth. Từ một nghị quyết của Hội đồng Khu Định cư Vịnh Massachusetts, Đại học Harvard (Harvard College) được gọi theo tên Mục sư John Harvard ở Charlestown, người đã hiến tặng nhà trường thư viện và một nửa tài sản của mình

trước khi qua đời ở tuổi 30 (năm 1638). Năm 1650, Thống đốc Massachusetts Thomas Dudley ký nghị định thành lập trường. Mục tiêu ban đầu của Harvard là đào tạo mục sư cho cộng đồng Thanh giáo.[12] Áp dụng mô hình đại học Anh, trong thời gian đầu trường dạy các môn học cổ điển phù hợp với triết lý Thanh giáo

Trang 3

Phụ trang - DU HỌC
của các cư dân đầu tiên ở vùng New England; và mặc dù không trực thuộc giáo phái nào, nhiều sinh viên tốt nghiệp Harvard trở thành mục sư cho các nhà thờ Thanh giáo trên vùng New England.[13] Phương châm ban đầu của Harvard là Veritas Christo et Ecclesiae ―Chân lý cho Chúa Cơ Đốc và cho Hội thánh.‖ Trong quyển chỉ nam sinh viên, nhà trường cho biết mục tiêu giáo dục là ―Mỗi sinh viên cần được hướng dẫn rõ ràng cũng như tự mình xem xét cẩn thận để biết rằng mục đích chính của cuộc sống và học tập là nhận biết Thiên Chúa và Chúa Giê-xu, đó chính là sự sống đời đời. Vì vậy cần phải xem Chúa Cơ Đốc là nền tảng duy nhất của mọi kiến thức đúng đắn.‖ Năm 1708, khi John Leverett trở thành viện trưởng đầu tiên của Harvard không phải là một chức sắc tôn giáo, được xem là thời điểm đánh dấu bước chuyển hướng của Harvard trở nên độc lập với ảnh hưởng Thanh giáo. Từ năm 1830 đến 1870, Harvard được “tư thục hóa”.[14] Harvard phát triển tốt trong giai đoạn đảng Liên bang kiểm soát chính quyền tiểu bang, nhưng đến năm 1824, đảng Cộng hòa-Dân chủ phong tỏa ngân sách dành cho các đại học tư. Khoảng năm 1870, các cựu sinh viên Harvard hiện thuộc giới thượng lưu ở Boston thế chỗ các chính trị gia và các mục sư là những người từng kiểm soát ban quản trị nhà trường, bắt đầu vận động gây quỹ cho trường bằng các khoản đóng góp của các cá nhân. Đó là giai đoạn phát triển tài chính chưa từng có của Harvard. Năm 1850, theo ghi nhận của Ronald Story, tổng tài sản của Harvard ―cao gấp năm lần Amherst và Williams cộng lại, gấp ba lần Yale…trong bốn thập niên từ năm 1815 đến 1855, các phụ huynh gởi con của họ đến Harvard, theo cách nói của Henry Adam, để có thể đạt địa vị cao trong xã hội.‖".[15] [16] Harvard cũng đi đầu trong việc tiếp nhận sinh viên từ các cộng đồng thiểu số. Theo nhận xét của Stephen Steinberg, tác giả quyển The Ethnic Myth, ―sinh viên Do Thái thường tránh những đại học có tiếng là cố chấp như Yale và Princeton….[trong khi đó] dưới quyền lãnh đạo của Viện trưởng Eliot, Harvard nổi tiếng là dân chủ và cấp tiến nhất trong số Ba Đại gia, nhờ vậy người Do Thái cảm thấy đường vào các đại học uy tín không đóng lại trước mặt họ.”[17] Năm 1870, năm cuối cùng của nhiệm kỳ Eliot, Richard Theodore Greener là người Mỹ gốc Phi đầu tiên tốt nghiệp Đại học Harvard. Bảy năm sau, Louis Brandies, tốt nghiệp Trường Luật Harvard, là người Do Thái đầu là thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Harvard lại trở nên thành trì của giới tinh hoa Kháng Cách – thường được gọi là giai tầng Brahmin của Boston – và tiếp tục như thế cho đến thế kỷ 20. Mặc dù từ giữa thập niên 1880, Harvard không còn đòi hỏi phải có nhà nguyện trong khuôn viên trường học, ngôi trường này vẫn đậm nét văn hóa Kháng Cách. Tuy nhiên, đến năm 1908, chín phần trăm sinh viên năm thứ nhất là người Công giáo. Từ năm 1906 đến 1922, số sinh viên gốc Do Thái tại Harvard từ 6% lên đến 20%. Trong thế kỷ 20, thanh danh quốc tế của Harvard tăng cao do uy tín của ban giảng huấn cùng số tiền hiến tặng cho nhà trường ngày càng lớn. Đó cũng là thời kỳ bùng nổ số sinh viên đại học với sự ra đời của nhiều trường cao học và sự nở rộ của nhiều chương trình cử nhân. Đại học Radcliffe, thành lập năm 1879 như là một học viện liên kết với Harvard, là một trong những đại học nữ nổi tiếng nhất Hoa Kỳ. Sau Thế chiến thứ hai, Harvard cải cách hệ thống tuyển sinh để trở nên đa dạng hơn. Mặc dù đa phần sinh viên các chương trình cử nhân ở Harvard đa phần là dân da trắng, thuộc thành phần thượng lưu đến từ những trường dự bị như Exeter và Andover, số sinh viên quốc tế, thành phần thiểu số, xuất thân từ tầng lớp lao động cũng gia tăng.[18] Sau khi Harvard và Radcliffe tuyển sinh chung vào năm 1977 (đến năm 1999 Radcliffe sáp nhập vào Harvard), tỷ lệ nữ sinh viên tăng cao.

Số 26 - Tháng 9/2009
có 2 400 giáo sư, 1 715 sinh viên và 12 424 học viên cao học. Màu biểu trưng của Harvard là đỏ thẫm (crimson). Crimson cũng là tên của các đội thể thao của nhà trường, và tờ nhật báo của sinh viên, The Harvard Crimson. Trước đó có cuộc tranh tài giữa Harvard và Đại học Fordham để quyết định màu biểu trưng của nhà trường. Cả hai đều chọn màu đỏ tươi (magenta) và không ai muốn thay đổi màu biểu trưng của mình, nên họ đồng ý thi đấu để người thắng cuộc sẽ chính thức sử dụng màu đỏ tươi làm màu biểu trưng. Harvard thua cuộc nhưng lại bội ước tiếp tục giữ màu đỏ tươi. Fordham chọn màu nâu sẫm làm màu biểu trưng.[38] Năm 1900 đã có những cuộc thương thảo nhằm sáp nhập Harvard với MIT nhưng thất bại. Từ đó hai viện đại học này luôn là đối thủ với nhau trong tinh thần cạnh tranh thân thiện. Ngày nay, hai học viện đồng tổ chức các hội nghị và hợp tác trong các đề án như Khoa Khoa học và Kỹ thuật Y tế Harvard-MIT, Viện Broad, Trung tâm Dữ liệu Harvard-MIT, và Viện Dibner về Lịch sử Khoa học và Kỹ thuật. Hơn nữa, sinh viên và học viên cao học của hai trường có thể theo học những lớp liên thông mà không cần đóng thêm học phí. Mối thân hữu và sự gần kề về địa lý của Harvard và MIT được xem như một hiện tương; tờ Times Higher Education Supplement tại Luân Đôn viết, ―Hoa Kỳ có hai đại học hàng đầu thế giới theo đánh giá của chúng ta – Harvard và Học viện Công nghệ Massachusetts, kề cận nhau bên bờ sông Charles.‖[39] Harvard có nhiều cựu sinh viên là những người nổi tiếng, và vài người tai tiếng. Trong số những nhân vật thành danh có 8 tổng thống Hoa Kỳ: John Adams, John Quincy Adams, Theodore Roosevelt, Franklin Delano Roosevelt, Rutherford B. Hayes, John Fitzgerald Kennedy, George W. Bush, và Barack H. Obama[40] và các chính trị gia khác như John Hancock, và Pierre Trudeau; triết gia Henry David Thoreau và nhà văn Ralph Waldo Emerson; nhà thơ Wallace Stevens, T. S. Eliot và E. E. Cummings; nhà soạn nhạc Leonard Bernstein; nghệ sĩ cello Yo Yo Ma; diễn

Nhân sự
Đến niên khóa 2006-2007, Harvard

Trang 4

Phụ trang - DU HỌC
viên Jack Lemmon, Natalie Portman, và Tommy Lee Jones; kiến trúc sư Philip Johnson, Rage Against the Machine và Audioslave nghệ sĩ guitar Tom Morello, ca sĩ nhóm nhạc Weezer Rivers Cuomo, Unabomber Ted Kaczynski, và nhà lãnh đạo dân quyền W. E. B. Du Bois. Ban giảng huấn hiện thời của Harvard có các thành viên nổi tiếng như nhà sinh học James D. Watson và E. O. Wilson, khoa học gia Steven Pinker, nhà vật lý học Lisa Randall và Roy Glauber, nhà nghiên cứu ShakespeareStephen Greenblatt, nhà văn Louis Menand, nhà phê bình Helen Vendler, sử gia Niall Ferguson, kinh tế gia Amartya Sen, N. Gregory Mankiw, Robert Barro, Stephen A. Marglin, và Martin Feldstein, nhà triết học chính trị Harvey Mansfield và Michael Sandel, nhà khoa học chính trị Robert Putnam, Joseph Nye, Samuel P. Huntington, Stanley Hoffman, và Torben Iversen, nhà soạn nhạc và học giả Robert Levin và Bernard Rands, tỷ phú và nhà từ thiện Bill Gates.[41] Trong số những quán quân giải Nobel, 75 người có liên quan đến Đại học Harvard. Kể từ năm 1947, có 19 người đoạt giải Nobel và 15 người được trao tặng giải văn chương Mỹ, và Giải Pulitzer, từng phục vụ trong bản giảng huấn của Harvard. hạng 2 trong tuyển sinh (ngang với Yale, Princeton và MIT, chỉ sau Caltech), và hạng nhất trong số các đại học tốt nhất trên toàn quốc.[42] Cũng theo US News and World Report, tỷ lệ trúng tuyển vào Harvard là 14, 3% cho trường kinh doanh, 4, 5% cho trường Y tế, 12, 5% trường kỹ sư, 11, 3% cho trường luật, 14, 6% cho ngành giáo dục, và 4, 9% cho trường Y.[43]

Số 26 - Tháng 9/2009
điểm trung bình tối thiểu là 3.8.[53] [54][55][56] Trung tâm nghiên cứu Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching, tờ New York Times, và một số sinh viên lên tiếng chỉ trích Harvard đã phụ thuộc vào các trợ giảng trong một số môn học trong chương trình cử nhân; theo họ, điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng đào tạo.[57][58] Một bài viết đăng trên tờ New York Times cho thấy tình trạng này cũng phổ biến tại một số viện đại học thuộc Ivy League. Tờ Globe cho đăng kết quả khảo sát của Consortium on Financing Higher Education (COFHE) đối với 31 đại học hàng đầu,[59] trình bày những vấn đề như tính sẵn sàng của ban giảng huấn, chất lượng giảng dạy, chất lượng tham vấn, đời sống xã hội ở trường học, và tình cảm cộng đồng kể từ năm 1994. Tờ Harvard Crimson cũng đưa ra những phê phán tương tự.[60][61] Theo trích dẫn của Harvard Crimson, Hiệu trưởng Harvard College Benedict Gross tỏ ra quan tâm đến các vấn đề COFHE đã nêu, và hứa sẽ cải thiện tình hình.[62] Cựu Viện trưởng Harvard Larry Summer nhận xét, ―Tôi nghĩ vấn đề quan trọng duy nhất là mối quan hệ giữa bản giảng huấn và sinh viên, chúng ta đã để quá nhiều sinh viên cao học tham gia giảng dạy. Các lớp học quá đông đến nỗi giảng viên không biết tên sinh viên. Ít người có cơ hội trải nghiệm phương pháp học tập tích cực như vào phòng thí nghiệm, thảo luận trong lớp, đối thoại tại các hội nghị chuyên đề, hoặc làm việc theo nhóm trong văn khố."[63]

Những nhận xét về Harvard
Năm 1893, sách hướng dẫn của Baedeker gọi Harvard là ―học viện lâu đời nhất, giàu nhất, và nổi tiếng nhất ở Mỹ.‖ Hai chi tiết đầu đến nay vẫn còn chính xác; nhưng chi tiết thứ ba thì đang bị tranh cãi.[49] Đến năm 2007, Harvard vẫn giữ vị trí đầu trong tất cả bảng xếp hạng các viện đại học trên thế giới của THES-QS University Rankings,[50] và Academic Ranking of World Universities. Năm 2007, tờ U. S. News & World Report cũng xếp Harvard đầu bảng ―các đại học trong nước‖.[51] Tuy nhiên, Harvard cũng là mục tiêu của không ít chỉ trích, bị phê phán về tình trạng lạm phát điểm số giống các đại học khác.[52] Sau những chỉ trích từ các phương tiện truyền thông, Harvard hạn chế hạng danh dự từ 90% trong năm 2004 xuống còn 60% năm 2005, và tỏ ra chọn lọc hơn khi ban tặng các danh hiệu danh dự ―John Harvard Scholar‖ cho nhóm 5% đầu lớp và “Harvard College Scholar‖ cho nhóm 5% kế cận – với

Tuyển sinh
Chỉ có 7, 1% số người nộp đơn cho khóa 2012 được nhận vào Harvard College, con số thấp kỷ lục trong suốt lịch sử của trường. ―Những Đại học Tốt nhất nước Mỹ năm 2009‖ của US News and World Report xếp Harvard

Thư viện Tưởng niệm Harry Elkins Widener. Trang 5

Phụ trang - DU HỌC
Chú thích 1. An appropriation of £400 toward a "school or college" was voted on October 28th, 1636 (OS), at a meeting which initially convened on Sept. 8th and was adjourned to Oct. 28th. Some sources consider October 28th, 1636 (OS) (November 7, 1636, NS) to be the date of founding. In 1936, Harvard's multi-day tercentenary celebration considered September 18 to be the 300-year anniversary of the founding. (The bicentennial was celebrated on September 8th, 1836, apparently ignoring the calendar change; and the tercentenary celebration began on September 8th with President Conant's opening a package sealed by Josiah Quincy at the bicentennial). Sources: meeting dates, Quincy, Josiah (1860). History of Harvard University, 117 Washington Street, Boston: Crosby, Nichols, Lee and Co.., p. 586, "At a Court holden September 8th, 1636 and continued by adjournment to the 28th of the 8th month (October, 1636)... the Court agreed to give £400 towards a School or College, whereof £200 to be paid next year...." Tercentenary dates: ―Cambridge Birthday‖. Time Magazine (28 tháng 9 năm 1936). Truy cập 8 tháng 9 năm 2006.: "Harvard claims birth on the day the Massachusetts Great and General Court convened to authorize its founding. This was Sept. 8, 1636 under the Julian calendar. Allowing for the ten-day advance of the Gregorian calendar, Tercentenary officials arrived at Sept. 18 as the date for the third and last big Day of the celebration;" "on Oct. 28, 1636 ... £400 for that 'schoale or colledge' [was voted by] the Great and General Court of the Massachusetts Bay Colony." Bicentennial date: Marvin Hightower (2 tháng 9 năm 2003). ―Harvard Gazette: This Month in Harvard History‖. Harvard University. Truy cập 15 tháng 9 năm 2006., "Sept. 8, 1836 - Some 1.100 to 1.300 alumni flock to Harvard's Bicentennial, at which a professional choir premieres "Fair Harvard." ... guest speaker Josiah Quincy Jr., Class of 1821, makes a motion, unanimously adopted, 'that this assembly of the Alumni be adjourned to meet at this place on the 8th of September, 1936.'" Tercentary opening of Quincy's sealed package: The New York Times, September 9, 1936, p. 24, "Package Sealed in 1836 Opened at Harvard; It Held Letters Written at Bicentenary": "September 8th, 1936: As the first formal function in the celebration of Harvard's tercentenary, the Harvard Alumni Association witnessed the opening by President Conant of the 'mysterious' package sealed by President Josiah Quincy at the Harvard bicentennial in 1836." 2. http://www.boston.com/business/art icles/2008/1 2/04/ the_toll_on_harvard_81b/ 3. (See: Harvard Corporation)Rudolph, Frederick [1961] (1990). The American College and University, 3, Athens, Georgia: University of Georgia Press. ISBN 0820312843. With regard to age, several institutions founded in the mid-1700s have a difference of opinion over relative position, but none today explicitly challenges Harvard's "oldest" position. One possible challenger is Georgetown University, whose founding date is debated. In the past the university has taken 1634 as the date of its foundation (two years before that of Harvard),[1] this being the year that Jesuit education began on the site.[2] [3] It was not until 1789, however, the founding date currently recognized by the university, that the name Georgetown was taken for the institution. Another potential claimant, the College of William and Mary, describes itself, and is described by supporters, as "America's second-oldest college" and gives its year of "founding" as 1693[4]. A page of its website states, "The College of William & Mary... was the first college planned for the United States. Its roots go back to the College proposed at Henrico in 1619...." but notes that "The College is second only to Harvard University in actual operation."[5]. See Henricus for the University of Henrico, and Colonial colleges for a summary of relevant institutional dates. Unqualified characterizations of Harvard as "oldest" abound. The 1911 Encyclopedia Britannica article on Harvard University which opens with the line "HARVARD UNIVERSITY, the oldest of American educational institutions" (Volume 13, HAR-HUR, p. 38; also [6]). Baedeker's United States, in 1893 called Harvard "the oldest... of American seats of learning." Harvard's own choice of words is "Harvard University... is the oldest institution of higher learning in the United States."[7], thus recognizing the fact that fifteen universities existed in the Spanish dominions in the Americas, from Mexico to Cordoba in Argentina and Santiago in Chile. 4. See the FAQ on the Harvard-Google partnership. 5. “Speaking Volumes: Professor Sidney Verba Champions the University Library‖. Harvard Gazette (The President and Fellows of Harvard College). 1998-02-26. http://www.news.harvard.edu/gazette/1998/02.26/ SpeakingVolumes.html. Truy cập 19 tháng 2 năm 2007. 6. See the ranked list of U.S. libraries from the American Library Association. 7. the QS rankings 8. Academic Ranking of World Universities 9. The Top 100 Global Universities - 2006. Retrieved, August 30, 2008.

Số 26 - Tháng 9/2009
10. Professional Ranking of World Universities 11. “Performance Ranking of Scientific Papers for World Universities”. Truy cập 30 tháng 8 năm 2008. 12. Harvard Charter of 1650, Harvard University Archives, harvard.edu 13. The Guide 14. Baltzell, D. E. & Schneiderman, H. G. (1994). Judgment and Sensibility: Religion and Stratification." Transaction Publishers, ISBN 1-56000048-1. The material cited is a review of a book by Ronald Story (1980), The Forging of an Aristocracy: Harvard and the Boston Upper Class, 18001870, Wesleyan University Press, ISBN 0-8195-5044-2. 15. Story, R. (1980). The Forging of an Aristocracy: Harvard and the Boston Upper Class, 1800-1870. Wesleyan University Press, ISBN 0-8195 -5044-2 (p. 50: Harvard's explosive growth from 1800 to 1850 separate it from other colleges) 16. Story, R. (1980). op. cit. p. 97, (1815-1855 as the era when Harvard began to be perceived as socially advantageous) 17. Steinberg, S. (2001). The Ethnic Myth. Beacon Press, ISBN 0-80704153-X. (Harvard most democratic of the Big Three under Eliot, p. 234) 18. Malka A. Older. (1996). Preparatory schools and the admissions process. The Harvard Crimson, January 24, 1996 19. :en:Charles River|Sông Charles ở bang Masachusetts, Hoa Kỳ, phân cách Boston với Cambridge và Charlestown. Các viện đại học Brandies, Harvard, Boston và MIT đều nằm dọc bờ sông Charles. 20. O'Brien, R. D. (2004). Kerry Tops Crimson Poll. The Harvard Crimson, October 29, 2004. 21. "Harvard School of Engineering and Applied Sciences,", February 2007 22. "Dean's Letter on Growth and Renewal of the faculty,", April 2007 23. Letter to the Harvard community regarding Hurricane Katrina 24. Bombardieri, M. (2005). Summers' remarks on women draw fire. The Boston Globe, January 17, 2005. 25. "Faust Expected To Be Named President This Weekend," The Harvard Crimson, 8 February 2007 26. "Harvard names Drew Faust as its 28th president," Office of News and Public Affairs, 11 February 2007 27. Saudi Gives $20 Million to Georgetown & Harvard 28. Prince Alwaleed Bin Talal donates $20 million to support the Harvard University Islamic Studies Program 29. Saudi in the Classroom 30. The Saudi Fifth Column On Our Nation's Campuses 31. $125 million gift is Harvard's largest, The Record. Published October 8, 2008. Retrieved October 15, 2008. 32. Alum gives Harvard $125 million, MSNBC. Published October 7, 2008. Retrieved October 15, 2008. 33. Harvard gets largest ever donation from an individual: $125-million, The Globe and Mail. Published October 7, 2008. Retrieved October 15, 2008. 34. Chinlund, Christine. Harvard gets $125 million for biological engineering institute, The Boston Globe. Published October 7, 2008. Retrieved October 15, 2008. 35. Harvard alum donates record $125M, USA Today. Published October 7, 2008. Retrieved October 15, 2008. 36. Alum gives Harvard $125M for bioengineering center, The Washington Post. Published October 7, 2008. Retrieved October 15, 2008. 37. Hechinger, John. “Harvard Hit by Loss as Crisis Spreads to Colleges”, Wall Street Journal, 4 tháng 12 năm 2008, tr. A1. 38. University Colors 39. Times Higher Education Supplement World Rankings 2006 40. The Harvard Guide 41. Bill Gates nhập học Harvard College năm 1973, nhưng bỏ học 2 năm sau đó. Đến năm 2007, ông được Harvard tặng bằng Tiến sĩ Danh dự. Xem en:Bill Gates 42. “America's Best Colleges 2007”. Truy cập 20 tháng 3 năm 2007. 43. U.S. News & World Report (2006). In 2005, only 8.9% of a record of over 22000 applicants were accepted - making it the most competitive year in history.The Best Graduate Schools 2006. 44. Rogers, M. F. (1991). Novels, Novelists, and Readers: Toward a Phenomenological Sociology of Literature. SUNY Press, ISBN 0-7914-0603 -2. 45. Burr, T. (2005) 46. Reel Boston. The Boston Globe, February 27, 2005. 47. Jampel, C. E. (2004). Ruffling Religious Feathers. The Harvard Crimson, February 12, 2004. 48. Catalano, N. M. (2004). Harvard TV Show Popular in Korea. The Harvard Crimson, December 13, 2004. 49. Baedeker, Karl [1893] (1971). The United States, with an Excursion into Mexico: A Handbook for Travellers, New York: Da Capo Press. ISBN 0 -306-71341-1., p. 83. (Facsimile reprint of original, published in Leipzig

Trang 6

Phụ trang - DU HỌC
and New York) 50. [8] — A 2008 ranking from the THES - QS of the world’s research universities. 51. US News and World Report. (2006). National Universities: Top Schools. 52. Rosane, O. (2006). College Administrators Take On Inflated Grade Averages. Columbia Spectator, March 20, 2006. 53. No author given. (2003). Brevia. Harvard Magazine, JanuaryFebruary 2003. 54. Milzoff, R. M., Paley, A. R., & Reed, B. J. (2001). Grade Inflation is Real. Fifteen Minutes March 1, 2001. 55. Bombardieri, M. & Schweitzer, S. (2006). "At Harvard, more concern for top grades." The Boston Globe, February 12, 2006. p. B3 (Benedict Gross quotes, 23.7% A/25% A- figures, characterized as an "all-time high."). 56. Associated Press. (2004). Princeton becomes first to formally combat grade inflation. USA Today, April 26, 2004. 57. Hicks, D. L. (2002). Should Our Colleges Be Ranked?. Letter to [The New York Times, September 20, 2002. 58. Merrow, J. (2004). Grade Inflation: It's Not Just an Issue for the Ivy League. Carnegie Perspectives, The Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching. 59. Bombardieri, M. (2005). Student life at Harvard lags peer schools, poll finds. The Boston Globe, March 29, 2005. 60. Adams, W. L., Feinstein, B., Schneider, A. P., Thompson, A. H., & and Wasserstein, S. A. (2003). The Cult of Yale. The Harvard Crimson, November 20, 2003. 61. Feinstein, B., Schneider, A. P., Thompson, A. H., & Wasserstein, S. A. (2003). The Cult of Yale, Part II. The Harvard Crimson, November 20, 2003. 62. Ho, M. W. & Rogers, J. P. (2005). Harvard Students Less Satisfied Than Peers With Undergraduate Experience, Survey Finds. The Harvard

Số 26 - Tháng 9/2009
Crimson, March 31, 2005. 63. Summers talks of legacy, need for change at Harvard - CNN 29-062006

Sân vận động Harvard

Harvard Yard Trang 7

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

2– Stanford University
Khẩu hiệu Tên gọi ban đầu Thành lập Loại hình Địa điểm Sáng lập Chủ tịch Nhân viên Đại học Cao học Biệt hiệu Trang chủ Ngọn gió của Tự Do thổi bay - Le vent de la liberté souffle Leland Stanford Junior University 1891 Tư Palo Alto, États-Unis Leland et Jane Stanford John L. Hennessy 1771[1] 6689 8201 Cardinal / Tree http://www.stanford.edu/

Đại học Leland Stanford Junior, thường được gọi là Đại học Stanford hay chỉ Stanford,[1] là trường đại học tư thuộc khu vực thống kê Stanford, California (Hoa Kỳ). Khu trường sở chính của đại học này rộng rãi và đẹp đẽ, nằm cách San Francisco 60 kilômét về phía đông nam, nó ở phần chưa được sát nhập của Quận Santa Clara bên cạnh thị trấn Palo Alto, và nằm ở trung tâm Thung lũng Silicon cả về vị trí địa lý và lịch sử. Là đại học có diện tích lớn thứ hai trên thế giới, Đại học Stanford có chương trình đầy đủ cho sinh viên đại học cũng như học viên sau đại học, cùng với một trung tâm y khoa nổi tiếng và nhiều trung tâm nghiên cứu và dự án phục vụ. Cùng với Đại học Harvard, Đại học Yale và Đại học Princeton, Đại học Stanford nằm trong nhóm những đại học tốt nhất của Hoa Kỳ.

Trang 8

Phụ trang - DU HỌC Lịch sử
Đại học Stanford được thành lập bởi Leland Stanford, trùm tư bản về đường xe lửa và Thống đốc California, và vợ ông, Jane Stanford. Trường được đặt theo tên người con duy nhất của hai vợ chồng, Leland Stanford, Jr., anh chết do bệnh thương hàn khi còn trẻ. Những người dân địa phương và các thành viên của trường thường gọi trường là The Farm ("Trại"), vì trường nằm tại địa điểm đã từng là trại nuôi ngựa của Leland Stanford. Giấy phép thành lập Đại học Stanford được viết ngày 11 tháng 11 năm 1885 và được chấp nhận bởi Ban Quản trị đầu tiên ngày 14 tháng 11. Viên đá móng được đặt xuống ngày 14 tháng 5 năm 1887, và trường mở cửa chính thức ngày 1 tháng 10 năm 1891 đón 559 sinh viên. Học phí được miễn. Có 15 giáo sư, trong đó bảy giáo sư đến từ Đại học Cornell. Trường được thành lập với danh nghĩa cơ sở đào tạo hỗn hợp cho cả nam và nữ, nhưng trong nhiều năm, họ vẫn hạn chế số sinh viên nữ nhập học. Khẩu hiệu chính thức của Đại học Stanford, do gia đình Stanford lựa chọn, là Die Luft der Freiheit weht. Dịch từ tiếng Đức, câu nói này của Ulrich von Hutten có nghĩa "Gió của tự do thổi." Vào lúc trường được thành lập, tiếng Đức vừa mới thay thế tiếng Latinh trong vai trò ngôn ngữ chính của khoa học và triết học (và nó giữ vị trí đó cho đến Đệ nhị thế chiến).

Số 26 - Tháng 9/2009
trường sở và các kiến trúc, bác bỏ vị trí vào sườn đồi để xây trên đất bằng phẳng thiết thực hơn. Sau đó Charles Allerton Coolidge phát triển khái niệm này theo kiểu của người dậy nghề, Henry Hobson Richardson, đó là trường phái Richardsonian Romanesque, biểu thị kiến trúc hình chữ nhật xây bằng đá và được nối bằng những lối có mái vòm bán nguyệt. Khu trường sở đầu tiên cũng được xây theo kiểu thuộc địa Tây Ban Nha thường có ở California được gọi Mission Revival. Các mái ngói đỏ và công trình bằng sa thạch chắc có bề ngoài khác biệt của Ca Li và phần nhiều của những công trình xây về sau giữ mặt ngoài như vậy. Các mái ngói đỏ và trời xanh của miền này là sự phối hợp đẹp nổi tiếng. Phần lớn của những công trình đầu tiên bị động đất San Francisco 1906 tàn phá nhưng đại học này vẫn còn Sân chính, Nhà Hóa học cũ, và Nhà Encina (được cho là nơi cư trú của John Steinbeck trong thời ở Stanford). Sau khi động đất Loma Prieta phá thêm vào năm 1989, Đại học thực hiện dự án có vốn bằng tỷ đô la để trang bị và sửa sang những công trình cũ để sử dụng kiểu mới. Khu dự trữ sinh quyển luống Jasper (Jasper Ridge Biological Preserve) ở ngoài trường là khu vực cấm săn có đại học này làm chủ và được các nhà sinh học nghiên cứu ở đấy. Trạm Hàng hải Hopkins (Hopkins Marine Station) tại Pacific Grove, California, là trung tâm nghiên cứu về sinh học biển của đại học từ năm 1892. Đại học cũng có sân golf riêng và hồ từng mùa (Lagunita, thực sự chứa đựng nước để tưới cỏ), hai nơi này có cá cóc California Tiger Salamander nguy cấp. Chú thích 1 Người Mỹ gốc Việt địa phương thường đọc là "Xtan-phò".

Khu Trường sở
Vào mùa hè năm 1886, khi đang đặt kế hoạch cho khu trường sở, ông Stanford mang chủ tịch Học viện kỹ thuật Massachusetts, Francis Amasa Walker, và Frederick Law Olmsted, kiến trúc sư người Boston nổi tiếng về phong cảnh, về miền tây để bàn bạc. Olmsted đặt khái niệm chung về khu

Stanford University Hoover Tower

Stanford University Quad Memorial Church Trang 9

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

3– University of California, Berkeley
Khẩu hiệu Thành lập Loại hình trường Tài trợ Hiệu trưởng danh dự Giảng viên Đại học Cao học Địa điểm Khuôn viên nội thành, Thể thao Linh vật Trang chủ Fiat lux (Hãy tạo ra ánh sáng) 23 tháng 3 năm 1868 công 2,18 tỉ (2006) Robert Birgeneau 1.950 22.144 8.125 Berkeley, California, 1.232 acre (5 km²) California Golden Bears Oski www.berkeley.edu

Đại học California tại Berkeley (University of California, Berkeley; còn được biết dưới các tên Cal, UCB, UC Berkeley, hoặc Berkeley) là một đại học công lập nằm trong khu vực vịnh San Francisco, tại thành phố Berkeley, California. Đây là trường đầu tiên và nổi tiếng nhất của hệ thống Đại học California (University of California), do đó được gọi tên truyền thống là Cal (tên này được dùng nhiều trong các giải thể thao). Được thành lập năm 1868 do sát nhập trường tư thục Đại học California (College of California) và trường công lập Đại học Cơ khí, Mỏ và Nông nghiệp (Agricultural, Mining, and Mechanical Arts College), UC Berkeley đã có những đóng góp quan trọng về khoa học tự nhiên (với 54 giáo sư và cựu sinh viên đoạt các giải Nobel) và các hoạt động xã hội (phong trào chống Chiến tranh Việt Nam trong thập niên 1960). Berkeley có hệ thống giáo dục bậc cử nhân rất đa dạng và được xem là trung tâm nghiên cứu của rất nhiều ngành học. Trường đạt nhiều thành tích về vật lý, hóa học và các ngành sinh học trong thế kỷ 20, như sáng chế ra máy cyclotron, cách ly thành công vi khuẩn bại liệt ở người, phát triển khái niệm tia laser, giải thích nguyên lý của quang hợp, thiết kế thí nghiệm chứng minh định lý Bell, tạo ra hệ điều hành BSD Unix, và phát hiện ra 17 nguyên tố hóa học, trong đó có Plutonium, Berkelium và Californium. Trường cũng đạt được nhiều giải thưởng về Toán, giải Nobel Kinh tế và giải Nobel Văn học. Các nhà vật lý của Berkeley nằm trong nhóm khoa học gia phát triển Dự án Manhatttan chế tạo bom nguyên tử trong Thế chiến thứ nhất và bom hiđrô không lâu sau đó. Berkeley tham gia các cuộc thể thao giữa sinh viên các trường với tên California Golden Bears (Những con gấu vàng của California), đạt nhiều danh hiệu quốc gia trong các môn như bóng bầu dục Mỹ, bóng rổ nam, bóng chày, bóng nước, v.v. cũng như đã giành được hơn 100 huy chương Olympic. Màu áo chính thức của trường và đội thể thao là màu xanh dương và màu vàng.

Trang 10

Phụ trang - DU HỌC Lịch sử___________________________
Thành lập Năm 1866, vùng đất bây giờ là khuôn viên của đại học Berkeley được mua bởi trường tư College of California. Bởi vì không đủ kinh phí để vận hành, cuối cùng nó sát nhập với trường công lập với tên gọi Cao đẳng Nông nghiệp, Khai mỏ, Cơ khí, Nghệ thuật để trở thành Đại học California. Văn bản thành lập trường được kí bởi Thống đốc bang California Henry H. Haight vào 23 tháng 3 năm 1868 và Henry Durant, người sáng lập ra College of California, trở thành Hiệu trưởng đầu tiên. Trường đại học mở ra vào năm 1869 sử dụng các tòa nhà trước đây của College of California ở Oakland như là nơi tạm thời trong khi một campus mới đang được xây dựng[1]. Với sự hoàn tất của North và South Halls vào năm 1875, trường dời về địa điểm hiện nay ở Berkeley với 167 sinh viên nam và 222 sinh viên nữ[2]. Phát triển ban đầu Trường đại học này đã trưởng thành dưới quyền lãnh đạo của Benjamin Ide Wheeler, người là Hiệu trưởng trường từ 1899 đến 1919. Danh tiếng của trường nổi lên khi Hiệu trưởng Wheeler đã thành công trong việc thu hút các giáo sư nổi tiếng về trường và thu hút được nhiều ngân sách cho việc nghiên cứu và cấp học bổng[1]. Campus bắt đầu có dáng vẻ của một đại học tầm cỡ đương thời với các tòa nhà Beaux-Arts và neoclassical, bao gồm California Memorial Stadium (1923) được thiết kế bởi kiến trúc sư John Galen Howard[3]; những tòa nhà này tạo thành phần chính campus của Đại học Berkeley hiện nay. Thế chiến thứ hai Trong Thế chiến thứ hai, Ernest Orlando Lawrence lãnh đạo Phòng thí nghiệm phóng xạ ở trên các dãy đồi bên trên Berkeley bắt đầu các hợp đồng với Quân đội Hoa Kỳ để phát triển bom nguyên tử, có liên quan đến các nghiên cứu tiên phong trong vật lý hạt nhân ở Berkeley, bao gồm cả việc khám phá ra plutonium (lúc đó được xem là bí mật quốc gia) của Glenn Seaborg (Phòng 307 tòa nhà Gilman Gilman Hall, nơi Seaborg khám phá ra plutonium, sau này là một địa điểm lịch sử cấp quốc gia). Giáo sư vật lý của UC Berkeley J. Robert Oppenheimer được cử làm người đứng đầu về khoa học của Dự án Manhattan vào năm 1942[4][5]. Cùng với hậu duệ của Phòng thí nghiệm phóng xạ, bây giờ là Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence tại Berkeley (Lawrence Berkeley National Laboratory), Đại học California cũng quản lý hai phòng thí nghiệm khác có cùng độ tuổi, Los Alamos National Laboratory và Lawrence Livermore National Laboratory, được thành lập vào 1943 và 1952. Các ảnh hưởng chính trị trong những năm 1950 và 1960

Số 26 - Tháng 9/2009
Trong thời McCarthy vào năm 1949, Hội đồng quản trị đã đưa ra lời thề trung thành với chủ nghĩa chống cộng sản được kí tất cả bởi các nhân viên của Đại học California. Một số lớn các giáo sư phản đối lời thề này đã bị cho thôi việc[6]; mười năm trôi qua trước khi họ được khôi phục lại vị trí cũ với lương cũ[7]. Một trong số đó, Edward C. Tolman— một nhà tâm lý học so sánh nổi tiếng — đã có một tòa nhà đặt theo tên ông là nơi của khoa tâm lý và giáo dục. Lời thề "ủng hộ vào bảo vệ Hiến pháp Hoa Kì hiến pháp tiểu bang California chống lại tất cả các kẻ thù, trong nước và ngoài nước" vẫn còn bắt buộc đối với tất cả các nhân viên của Đại học California[8][9].
1 http://www.berkeley.edu/about/history/ 2 http://sunsite.berkeley.edu/uchistory/general_history/ campuses/ucb/overview.html 3 http://sunsite.berkeley.edu/CalHistory/brief-history.2.html 4 http://www.atomicarchive.com/History/mp/chronology.shtml 5 http://www.childrenofthemanhattanproject.org/HISTORY/H06c11.htm 6 http://sunsite.berkeley.edu/uchistory/archives_exhibits/ loyaltyoath/timelinesummary.html 7 http://www.dailycal.org/article.php?id=535 8 http://www.leginfo.ca.gov/.const/.article_20 9 http://www.dailycal.org/sharticle.php?id=542

UCBerkeleyCampus

Cờ Berkeley

Trang 11

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

4– Cambridge University
Khẩu hiệu Hinc lucem et pocula sacra Nghĩa đen: "Từ đây, ánh sáng và các văn kiện quý"; nghĩa bóng: ―Từ nơi này chúng ta có được sự khai sáng và kiến thức cao quý". khoảng 1209 Công lập 4,1 tỉ bảng Anh (2006, bao gồm tất cả các trường) Hoàng thân Philip, Công tước Edinburgh Giáo sư Alison Richard 25.465[1] 16.295[1] 9.170 [1] Cambridge, Anh surroundings Historic landmark Russell Group, Coimbra Group, EUA, LERU, IARU http://www.cam.ac.uk Thành lập Loại hình Tài trợ Hiệu trưởng danh dự Giám đốc Sinh viên Đại học Cao học Địa điểm University Thành viên Trang chủ

Đại học Cambridge là một trường đại học tại thành phố Cambridge, Anh. Đây là trường đại học cổ xưa thứ hai tại các nước nói tiếng Anh, chỉ sau Đại học Oxford. Năm 1209, do xung đột giữa các sinh viên và dân thành thị, nhiều học giả của Đại học Oxford đã chạy đến thành phố Cambridge và lập nên Đại học Cambridge. Ngày nay, Đại học Cambridge là một trong những trường đại học danh tiếng nhất Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cũng như của thế giới. Trường thành lập khoảng 1209 với loại hình là trường công lập. Trường bao gồm 31 khoa, trong đó có 3 khoa dành riêng cho phụ nữ
Trước đây, để được nhận vào học tại đây học viên cần phải có trình độ cao về hai sinh ngữ : Latin và Hy lạp, đây là những môn được giảng dạy trong các trường bán công tại Anh quốc, Do vậy trường quy tụ số đông là những sinh viên ưu tú của vương quốc. Kể từ năm 1960, việc xét tuyển thay đổi hẳn, dựa vào điểm số ưu hạng cũng như thí sinh cần phải gây ấn tượng cho Ban Giám Khảo. Một trong những truyền thuyết nổi tiếng liên quan đến trường là chiếc cầu Toán Học của Queens‘College, được xây dựng bởi Isaac Newton với mục đích không sử dụng đinh ốc. Chiếc cầu này sau đó đã bị dở ra bởi một số các sinh viên hồi đó vì quá tò mò nhưng sau đó họ không thể nào lắp ráp lại được. Câu chuyện này xem ra khó tin vì cây cầu xây 22 năm sau khi Newton mất, người ta cho rằng sỡ dĩ có câu chuyện trên là do nó được xây với số đinh ốc ít và khó thấy nhất so với những cây cầu khác. Trên bình diện thế giới, Đại Học Cambridge được sắp thứ hai trên thế giới xét về tất cả các môn, (sau Harvard và trước Stanford) nhưng người ta cho rằng Cambridge đứng hạng nhất trong lãnh vực khoa học đặc biệt là Vật Lý, Hóa Học và Sinh học. Với 83 giải Nobel được trao (cho 70 sinh viên của trường), Cambridge ngôi thứ nhứt về số giải Nobel dành được của một trường Đại Học, còn hơn cả trường Oxford, Paris, Yale cộng lại.
Trang 12

Phụ trang - DU HỌC
Các thành viên nổi tiếng Charles Babbage (Trinity, Peterhouse) Sir Francis Bacon (Trinity) Sir William Lawrence Bragg (Trinity) Subhash Chandra Bose (Fitzwilliam) Lord Byron (Trinity) James Chadwick (Gonville & Caius) Thái tử Charles (Trinity) John Cleese (Downing) Samuel Taylor Coleridge (Jesus) Francis Crick (Gonville & Caius) Oliver Cromwell (Sidney Sussex) Charles Darwin (Christ‘s) Paul Dirac (St John‘s) Desiderius Erasmus (Queens‘) Rosalind Franklin (Newnham) Germaine Greer (Newnham) William Harvey (Gonville & Caius) Stephen Hawking (Trinity Hall, Gonville & Caius) Ted Hughes (Pembroke) Allama Mohammad Iqbal (Trinity) Jinyong (Louis Cha) (St John‘s) Lord Kelvin (Peterhouse) John Maynard Keynes (King‘s) Kim Dae-Jung (Clare Hall) C. S. Lewis (Magdalene) Christopher Marlowe (Corpus Christi)

Số 26 - Tháng 9/2009
James Clerk Maxwell (Peterhouse, Trinity) Ian McKellen (St Catharine‘s) A. A. Milne (Trinity) John Milton (Christ‘s) Vladimir Nabokov (Trinity) Jawaharlal Nehru (Trinity) Isaac Newton (Trinity) William Pitt the Younger (Pembroke) Sylvia Plath (Newnham) Bertrand Russell (Trinity) Ernest Rutherford (Trinity) Fred Sanger (St John‘s) Siegfried Sassoon (Clare) Simon Schama (Christ‘s) Amartya Sen (Trinity) Manmohan Singh (St. John‘s) Alfred, Lord Tennyson (Trinity) J. J. Thomson (Trinity) Emma Thompson (Newnham) Alan Turing (King‘s) James D. Watson (Clare) William Wilberforce (St John‘s) Maurice Wilkins (St John‘s) Ludwig Wittgenstein (Trinity) William Wordsworth (St John‘s) Lý Quang Diệu (Fitzwilliam

Trang 13

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

5– Massachusetts Institute of Technology
Khẩu hiệu Tên nguyên thủy Thành lập Loại hình Sáng lập Giám đốc Giáo viên Sinh viên Đại học Cao học Địa điểm Trang chủ Khối óc và Bàn Tay (Mind and Hand) Massachusetts Institute of Technology of Boston 1861 Tư thục William Barton Rogers Susan Hockfield 1008 10220 4172 6048 Cambridge, Massachusetts, USA http://www.mit.edu

Học viện Công nghệ Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology, viết tắt là MIT ) là học viện nghiên cứu và giáo dục ở thành phố Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ. MIT trở thành nổi tiếng trong khoa học công nghệ, cũng như là các lĩnh vực khác, trong đó có quản lý, kinh tế, ngôn ngữ, khoa học chính trị và triết học. Trong các lĩnh vực tiềm năng nhất và trường đào tạo là Lincoln Laboratory, và phòng thực hành trí tuệ nhân tạo và khoa học vi tính, phòng thực hành truyền thông MIT, học viện Whitehead và trường quản lý Sloan của MIT. Các cựu sinh viên và giáo sư gồm cả các nhà chính trị nổi tiếng, quản lý doanh nghiệp, nhà văn, nhà nghiên cứu không gian, khoa học và nhà phát minh. Có 61 thành viên hiện tại và trước đây của trường MIT đã đạt giải Nobel.

Lịch sử__________________________________________________________
Năm 1861, Cộng đồng bang Massachussets tán thành ý kiến thành lập "Học viện kĩ thuật Massachussets và Khoa học xã hội và tự nhiên Lịch sử Boston" được đệ trình bởi nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng William Barton Rogers. Đây là bước quan trọng đầu tiên mà Rogers hi vọng thành lập một học viện độc lập có thúc đẩy sự tăng trưởng công nghiệp Hoa Kì. Được sự đồng ý, Rogers đã lập nên quỹ hỗ trợ, phát triển chương trình giảng dạy đánh giá các công trình kiến trúc thích hợp. Các nỗ lực của ông bị đình trệ bởi cuộc nội chiến Mỹ, và kết quả là những lớp học đầu tiên mở trên không gian mướn của khu Mercantile trong khu vực trung tâm Boston năm 1865. Toà nhà đầu tiên của MIT được hoàn thành đầu tiên ở Boston's Back Bay năm 1866. Các năm kế tiếp, đã thiết lập một tên tuổi giá trị trong khoa học và trong ngành kĩ thuật, tuy nhiên vẫn còn trong thời kì kinh tế khó khăn. Hai yếu tố trên thích hợp với một số người có quan điểm là kết hợp với Đại học Harvard, vốn rất nhiều tiền nhưng yếu về khoa học hơn là trong lĩnh vực nghệ thuật phổ thông. Vào những năm 1900, một đề nghị kết hợp với Harvard được đề nghị, nhưng sau đó bị hoãn lại do sự phản đối của các cựu sinh viên MIT. Năm 1916, MIT chuyển sang khu vực Cambridge hiện tại. Sự lỗi lạc của MIT sau khi thế chiến thứ 2 khi chính phủ Hoa Kì bắt đầu tài trợ cho các dự án của các trường nghiên cứu trong các lĩnh vực phòng vệ hay an ninh quốc gia (xem Vannevar Bush, Lincoln Laboratory, và Charles Stark Draper Laboratory. Trong suốt lịch sử, MIT tập trung vào phát minh. Minh họa năm 1997 cho thấy tổng hợp thu nhập do các công ty lập

Trang 14

Phụ trang - DU HỌC
nên bởi MIT đứng hàng 24 lớn nhất trong nền kinh tế thế giới. Năm 2001, MIT thông báo rằng sẽ dự tính đưa tài liệu lớp học lên mạng như là một phần của dự án OpenCourseWare. Cùng năm đó thì chủ tịch trường Charles Vest đã thạo nên lịch sử khi lần đầu tiên một viên chức đại học đã công nhận rằng học viện của ông đang có hạn chế lớn đối với nữ giới, và ông hứa rằng sẽ tạo bước tiến với vấn đề trên. Tháng 8 năm 2001, Susan Hockfield, nhà thần kinh học, được bổ nhiệm là phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ chủ tịch. Bà chính thức đảm nhiệm chức vụ ngày 6 tháng 12 năm 2004 như là chủ tịch thứ 16 của học viện. Các trường của MIT

Số 26 - Tháng 9/2009

Tổ chức_________________________
MIT được tổ chức thành 6 trường thành viên:

Trường Đại học Kiến trúc và Quy hoạch, gồm có các ngành: Kiến trúc; Nghệ thuật và Khoa học Truyền thông; Quy hoạch và Nghiên cứu Đô thị...

Trường Đại học Kỹ thuật, gồm có các ngành: Hàng không và Vũ trụ; Kỹ thuật Sinh học; Kỹ thuật Hóa học; Kỹ thuật Nguyệt san Atlantic năm 2004 xếp hạng MIT như là một Môi trường và Dân dụng; Kỹ thuật Điện và Khoa học Máy trong những đại học khó vào nhất Hoa Kì. Theo US News tính; Những hệ thống kỹ thuật; Khoa học và Kỹ thuật Vật và World Report's annual ranking của đại học Hoa Kì thì, liệu; Kỹ thuật Cơ khí; Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân... MIT là 1 trong 5 trường xếp hạng cao nhất, cùng với Harvard, Stanford, Yale, Princeton. MIT xếp hạng thứ 7 chung Trường Đại học Khoa học Xã hội, Nghệ thuật, và Nhân văn, cuộc năm 2004. Trong năm 2005, quỹ đóng góp của MIT là gồm có các ngành: Nhân loại học; Truyền thông học So $6.7 tỷ, hạng thứ 6 Hoa Kì. sánh; Kinh tế; Ngôn ngữ và Văn học Nước ngoài; Lịch sử; Ngôn ngữ học; Triết học; Văn học; Âm nhạc và Nghệ thuật Giáo dục sau Đại Học_______________ sân khấu; Khoa học Chính trị; Khoa học, Kỹ thuật và Xã Khác với hầu hết các trường đại học trên thế giới, tại MIT, hội; Nghiên cứu Nhân văn; Báo chí... số lượng sinh viên sau đại học nhiều hơn sinh viên đại học (chiếm khoảng 60% tổng số sinh viên). Nhiều chương trình sau đại học được xếp trong số 10 chương trình hàng đầu của toàn nước Mỹ. Các sinh viên sau đại học của MIT có thể làm tiến sĩ (Doctor of Philosophy hay Ph.D. và Doctor of Science hay Sc.D.), thạc sĩ khoa học (Master of Science hay M.Sc.), thạc sĩ kỹ thuật (Master of Engineering hay M.Eng.), thạc sĩ kiến trúc (Master of Architecture hay M.Arch.), thạc sĩ quản trị kinh doanh (Master of Business Administration hay MBA) tùy thuộc vào ngành học. Trường Đại học Quản lý Sloan. Trường Đại học Khoa học, gồm có các ngành: Sinh học; Não bộ và các ngành khoa học nhận thức; Hóa học; Các ngành khoa học về khí quyển trái đất và hành tinh; Toán; Vật lý. Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Y tế Whitaker.

MIT Main
Trang 15

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

6 - California Inst Tech
Khẩu hiệu Thành lập Loại hình Tài trợ Hiệu trưởng
"The truth shall make you free"

1891 Tư thục 1,9 tỷ đô la 30/06/2008 Jean-Lou Chameau 293 professorial faculty

Giảng viên Đại học Cao học Địa điểm Khuôn viên Đô thị, Màu Linh vật Trang chủ

979 other faculty 864 1222 Pasadena, CA, U.S. Urban, 124 acres (0.5 km²) Cam và trắng Beaver www.caltech.edu

Đây cũng là một trường nổi tiếng được xếp vào hàng thứ 6 của Hoa Kỳ, thành lập năm 1891.Trường tọa lạc ở thành phố Pasadena vùng ngoại ô của Los Angeles, thuộc bang California nơi có cộng đồng người Việt Nam sinh sống. Viện đã nhận được khoảng 30 giải Nobel và 4 giải Crafoord, là cái nôi của hàng chục người nổi tiếng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

Mục đích của Viện Công Nghệ California là mở rộng kiến thức nhân loại bằng cách đưa ra những vấn đề nghiên cứu vào việc giảng dạy, những ẩn số khoa học kĩ thuật được đưa ra cho các sinh viên dưới một góc nhìn mới mẻ và sáng tạo. Viện Công Nghệ có khoảng 500 giáo sư và nhà nghiên cứu, và một kí túc xá với khoảng 2700 sinh viên. Viện chứa luôn cả Jet Propulsion Laboratory(JPL) của Nasa, gồm khoảng 5200 người.

thế giới. Ông gia nhập thành phần ban điều hành của trường năm 1907 với tư cách là tổng Giám đốc của Đài Quan Sát trên đồi Wilson. Nhân cơ hội đó, ông tận dụng để dựng nên ở Pasadena một viện nghiên cứu để tiến hành trên những vấn đề khoa học và kĩ thuật. Sau đó ông thuyết phục được hai nhà khoa học nổi tiếng vào thời đại là Arthur Amos Noyes và Robert Andrews Millikan về giảng dạy và cùng tham dự vào công trình xây dựng nên một trung tâm nghiên cứu khoa học kĩ thuật quy mô này. Dưới sự điều hành của Hale, Noyes và Millikan, Viện trở nên nổi tiếng từ những năm 1920. Năm 1923, Millikan nhận được giải Nobel về Vật lý. Điều đó làm cho Viện được biết đến nhiều hơn và đã mời được thêm nhiều nhà khoa học nổi tiếng gia nhập. Đến năm 2008, Caltech đã được xếp hạng thứ 4 trên thế giới, theo một nghiên cứu của Đại Học Jiao Tong ở Thượng Hải, trong lĩnh vực khoa học.

Lịch sử: _______________________
Được thành lập năm 1891 bởi Amos Gager Throop, một nhà chính trị gia trong vùng với sự hợp tác của Andrew Carnegie. Ban đầu Viện có tên là Throop College of Technology, sau đó lấy tên chính thức như hiện nay vào năm 1920. Nhờ nhà phi hành gia George Ellery Hale, Caltech từ một ngôi trường dạy nghề thủ công đã trở thành một trung tâm khoa học được biết đến trên

Trang 16

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

Những người xuất thân từ trường đã từng đoạt giải Nobel
Robert Andrews Millikan Thomas Hunt Morgan Carl David Anderson Edwin Mattison McMillan Linus Carl Pauling Linus Carl Pauling William Bradford Shockley George Wells Beadle Donald Arthur Glaser Rudolf Ludwig Mössbauer Charles Hard Townes Richard Phillips Feynman Murray Gell-Mann Max Delbrück Leo James Rainwater David Baltimore Renato Dulbecco Howard Martin Temin William Lipscomb Robert Woodrow Wilson Roger Sperry Kenneth Geddes Wilson William Alfred Fowler Rudolph A. Marcus Edward B. Lewis Douglas Osheroff Robert C. Merton Ahmed H. Zewail Leland H. Hartwell Vernon Lomax Smith H. David Politzer Robert H. Grubbs Physique Médecine Physique Chimie Chimie Paix Physique Médecine Physique Physique Physique Physique Physique Médecine Physique Médecine Médecine Médecine Chimie Physique Médecine Physique Physique Chimie Médecine Physique Économie Chimie Médecine Économie Physique Chimie 1923 1933 1936 1951 1954 1962 1956 1958 1960 1961 1964 1965 1969 1969 1975 1975 1975 1975 1976 1978 1981 1982 1983 1992 1995 1996 1997 1999 2001 2002 2004 2005 Professeur Professeur Professeur Élève Professeur Élève Professeur Élève Professeur Élève Professeur Professeur Professeur Élève Professeur Professeur Élève Élève Élève Professeur Élève Professeur Professeur Professeur Élève Élève Professeur Élève Élève Professeur Professeur

Trang 17

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

7– Columbia University
Khẩu hiệu In lumine Tuo videbimus lumen Chúng ta sẽ nhìn thấy ánh sáng trong ánh sáng của Ngài 1754 tư thục $5,19 tỉ[1] Lee Bollinger 3.224 5.530 14.692 New York, New York, Hoa Kỳ 36 acre (0.15 km²) Morningside Heights Campus, 26 acre (0.1 km²) Khu liên hợp thể thao Baker Field, 20 acre (0.09 km²) Medical Center, 157 acre (0.64 km²) Lamont Doherty Earth Observatory 29 đội thể thao những con sư tử www.columbia.edu Thành lập Loại hình Tài trợ Hiệu trưởng Nhân viên Đại học Cao học Địa điểm

Khuôn viên nội thành Thể thao Biệt hiệu Trang chủ

Đại học Columbia là một đại học tư ở khu vực Morningside Heights thuộc Borough của Manhattan ở thành phố New York. Trường là một thành viên của Ivy League. Trường này được thành lập vào năm 1754 như là King's College và một trong những trường cổ xưa nhất của giáo dục bậc cao ở Mỹ. Trong suốt những năm đầu trong lịch sử của trường, Alexander Hamilton, John Jay, Gouverneur Morris, và Robert Livingston đã học tại trường Columbia. Vào năm 1784, sau Cách mạng Mỹ, tên nguyên thủy King's College được đổi thành Columbia College trong tinh thần yêu nước của thời đại đó. Vào năm 1896, tên của trường được đổi thành Đại học Columbia trong thành phố New York để phân biệt trường nguyên thủy Columbia College dành cho học sinh từ năm nhất đến năm thứ tư và toàn bộ trường đại học, vào thời điểm bao gồm một trường đại học kỹ thuật và các khoa sau đại học trong các lãnh vực kỹ thuật, khoa học, y khoa, luật, sư phạm, khoa học chính trị, và triết học, thêm vào Columbia College.

Low Memorial Library Columbia University NYC

Archetypal Columbia man, from a 1902 poster Trang 18

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

8– Princeton University
Khẩu hiệu Thành lập Loại hình Tài trợ Hiệu trưởng Nhân viên Đại học Cao học Địa điểm Dei sub numine viget (Trường phát triển dưới quyền lực của Chúa) 1746 tư thục $11,3 tỉ đôla Mỹ[1] Shirley M. Tilghman 1.103 4.635 1.975 Borough of Princeton, Xã Princeton, và Xã West Windsor, New Jersey, Hoa Kỳ 38 đội thể thao Hổ Tập tin:Princeton university tiger mascot.jpg www.princeton.edu

Thể thao Biệt hiệu Trang chủ
Đại học Princeton là một trường đại học tư tọa lạc ở Princeton, New Jersey.

Đó là trường xếp thứ tư trong các trường đại học cổ xưa nhất ở Hoa Kỳ[2] và một trong tám trường đại học của Ivy League. Nơi thành lập nguyên thủy là Elizabeth, New Jersey vào năm 1746 như là Cao đẳng New Jersey, trường được dời về vào năm 1756 và được đặt tên lại là "Đại học Princeton" vào năm 1896. Princeton cung cấp các nghiên cứu sau đại học (đáng kể nhất là chương trình Ph.D.), và xếp hạng tốt nhất trong nhiều ngành, bao gồm toán, vật lý, thiên văn và vật lý plasma, kinh tế, lịch sử và triết học. Tuy vậy, trường không có một loạt các khoa đào tạo sau đại học như nhiều đại học khác — ví dụ, Princeton không có trường y khoa, trường luật khoa, hay trường quản trị kinh doanh. Khoa chuyên ngành nổi tiếng nhất là Woodrow Wilson School of Public and International Affairs (thường được học sinh gọi là "Woody Woo"), thành lập năm 1930 như là School of Public and International Affairs và được đặt tên lại vào năm 1948. Trường cũng đào tạo các bậc sau đại học trong các ngành kỹ thuật, kiến trúc và tài chính. Thư viện của đại học này có hơn 11 triệu đầu sách; thư viện chính của trường, Thư viện Firestone, chứa khoảng 4 triệu cuốn sách, là một trong những thư viện đại học lớn nhất trên thế giới (và trong các thư viện lớn nhất có "các kệ sách mở" đã từng tồn tại). Trong bộ sưu tập của nó có cả những bản sách vô giá như là MS. 71, s.x/xi, thường được biết đến như là "Blickling homilies". Thêm vào Firestone, nhiều ngành riêng có các thư viện riêng, bao gồm kiến trúc, lịch sử nghệ thuật, nghiên cứu Đông Á, kỹ thuật, địa lý, ngoại giao và chính sách công và nghiên cứu Cận Phương Đông.

Princeton University Nassua tigers

Nassau

Trang 19

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

9– University of Chicago
Khẩu hiệu Thành lập Loại hình Tài trợ Hiệu trưởng Giảng viên Nhân viên Đại học Cao học Địa điểm Khuôn viên Đô thị, Màu Biệt hiệu Linh vật Trang chủ Crescat scientia; vita excolatur (Latin for "Let knowledge grow from more to more; and so be human life enriched.")[1] 1890 by John D. Rockefeller Tư nhân nondenominational coeducational US $6.091 tỷ[2] Robert J. Zimmer 2.160 12.460 (bao gồm Các bệnh viện) 4.391 9.110 Chicago, Illinois, Hoa Kỳ 211 acres (850.000 m²) Maroon và trắng Maroons Phượng hoàng www.uchicago.edu

Đại học Chicago (tiếng Anh: University of Chicago) là một trường đại học tư nằm chủ yếu ở khu vực phố Hyde Park của Chicago, Illinois. Trường này được thành lập bởi Hội Giáo dục Baptist Mỹ và nhà tỷ phú dầu mỏ John D. Rockefeller năm 1890, Đại học Chicago tổ chức lớp học đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1892. Đại học Chicago là một trong những trường đại học đầu tiên của Mỹ kết hợp giữa cao đẳng nghệ thuật tự do đa nghành (liberal arts college) Mỹ và đại học nghiên cứu của Đức. Trường này đã có 81 người nhận giải Nobel và được xem là một trong các trường đại học hàng đầu thế giới. Trường này nổi tiếng có các phong trào học thuật gây ảnh hưởng như Trường phái kinh tế học Chicago, trường phái xã hội học Chicago, Trường phái phê bình văn học Chicago, và phong trào luật và kinh tế học trong phân tích pháp lý. Đại học Chicago là nơi thực hiện phản ứng hạt nhân nhân tạo tự lực đầu tiên của thế giới, trường này cũng có đại học báo chí lớn nhất Hoa Kỳ.[3]
1 About the University”. The University of Chicago (2007). Truy cập 20 tháng 4 năm 2007. 2 University of Chicago”. The University of Chicago (2007). Truy cập 31 tháng 5 năm 2007. 3 Duffy is named Director of the University Press‖. The University of Chicago Chronicle (April 27, 2000). Truy cập 30 tháng 4 năm 2006.

Rockefeller Chapel Entire Structure

Trang 20

Phụ trang - DU HỌC

Số 26 - Tháng 9/2009

10– Oxford University
Khẩu hiệu Thành lập Loại hình Tài trợ Hiệu trưởng Giám đốc Sinh viên Đại học Cao học Địa điểm Dominus Illuminatio Mea "The Lord is my Light" không rõ, giảng dạy từ khoảng cuối thế kỉ 11 (1096) công lập £3.6 billion (inc. colleges)[1] danh dự Lord Chris Patten Dr John Hood 23.620[2] 15.650[2] 7.970[2] Oxford, Anh

Đại học Oxford là một trường đại học tại thành phố Oxford, Anh. Đây là trường đại học cổ nhất trong các nước nói tiếng Anh. Theo xếp hạng của The Timesnăm 2007, đây là trường đại học tốt nhất Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Đại học Oxford là một trong những trường đại học danh tiếng nhất thế giới. Đại học Oxford có 39 học viện (college), mỗi học viện có một cấu trúc và hoạt động riêng. Người đứng đầu chính thức của Đại học Oxford là một hiệu trưởng danh dự, là một nhà chính trị xuất sắc được Hội đồng đại học của trường bầu suốt đời. Hội đồng đại học Oxford gồm những người có bằng thạc sỹ. Hiệu phó của trường được bầu nhiệm kỳ 4 năm và là người đứng đầu bộ phận điều hành của Đại học Oxford. Thành phố Oxford đã trở thành một trung tâm học thuật quan trọng từ cuối thế kỷ 12 trở đi. Các giáo sư từ châu Âu lục địa đã đến và định cư tại đây và công tác giảng dạy đã được bắt đầu từ năm 1117. Trong một thời gian cuối thế kỷ 12 việc Đại học Paris trục xuất các giáo sư nước ngoài đã khiến nhiều học giả bỏ nước Pháp đến định cư tại Oxford.

Trang 21

Phụ trang - DU HỌC Lịch sử________________________
Trường Đại học Oxford là trường đại học đầu tiên thành lập ở Anh vào khoảng thế kỷ 13. Niên đại chính xác không rõ nhưng sử ghi là năm 1201 có tuyển vị viện trưởng (chancellor) đầu tiên. Năm 1231 thì universitas được công nhận là một công hội với một công ước riêng. Ðại học Oxford thành lập với mục đích chính là đào tạo tu sĩ và linh mục cho Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã. Nhiều dòng tu như dòng Đa Minh, dòng Phanxicô, và dòng Carmel tụ tập gần trường, cung cấp chỗ ở cho các tu sinh trọ học. Mục đích đào tạo tu sĩ được theo đuổi cho đến khi phong trào Kháng cách nổi lên vào thế kỷ 16 thì truyền thống giáo dục ở Oxford mới đổi hướng. Các môn học nguyên thủy là bảy môn nhân văn. Phải mất bảy năm mới học xong bảy môn nhân văn. Sau đó mất ba năm nữa học ba môn triết: luân lý, trừu tưởng và thiên nhiên học; và 2 môn ngôn ngữ: Hipri và Hy Lạp. Học xong ba năm này thì được cử nhân. Sau đó học giả có thể chọn ngành học chuyên môn. Có thể học Luật hay Y học, nhưng trổi hơn hết là học Thần học. Tính cả thảy phải hết 13 năm mới học xong tất cả. Ðó là lối giáo dục thời Trung Cổ tại Oxford, cũng như tại Âu châu. Cho nên sinh viên ở thời Trung Cổ hầu hết vẫn là các tu sĩ và một số khác là thuộc con nhà vua chúa giàu có và uy quyền. Sự hình thành của Oxford không phải không có trở ngại trong thời gian đầu. Sinh viên sớm sinh sự với các người dân làng qua các vụ cãi lộn đánh nhau. Sự bất hoà này bùng nổ thành một bi thảm vào ngày lễ mừng Thánh Scholastica mồng 10 tháng Hai năm 1354. Trận đánh đã gây ra cái chết bi thảm của 62 sinh viên và số còn lại bị đuổi ra khỏi thành phố. Một ngày lễ đã trở thành một ngày đổ máu trong lịch sử Đại học Oxford. Khi Oxford vừa thành lập những sinh viên đến học họ thường cư trú tại các nhà trọ hay với dân làng, hoặc một nhóm mướn nhà ở chung. Tuy họ cư trú rãi rác khắp thành phố nhưng họ đều là thành viên của Đại học Oxford. Lúc này chưa có các trường đại học nội trú. Hệ thống các trường đại học nội trú Oxford có thể nói là do sự xuất hiện của các tu sĩ dòng Ðaminh. Cũng trong thế kỷ 13 dòng Ðaminh chuyên môn về giáo dục đã đặt chân đến đất Oxford để trao dồi khiến thức qua học hành và huấn giáo. Họ cho các sinh viên cư trú chung, nhưng sau một thời gian sự cư trú chung không thể tồn tại được bởi hai lối sống quá khác biệt. Cho nên các trường nội trú đời được thành lập riêng, giống như bên trường Pari. Ðó là sự hình thành các trường đại học nội trú. Ðiều này cũng nói lên Oxford càng ngày càng phát triển. Bên cạnh sự bành trướng của các trường đại học Oxford chung quanh cái thành phố nho nhỏ nằm cạnh sông Thames, đại học Oxford ngay từ ban đầu đã cống hiến cho cho xã hội Anh Quốc biết nhiêu nhân tài như Parley, John Lock... Oxford không chỉ nổi tiếng về văn hoá lỗi lạc mà còn mang nặng tính chất sâu đậm về tôn giáo. Chính nơi đây vào thời Cải Cách, ba giáo sĩ lừng danh Anh giáo là tổng giám mục Cranmer và hai giám muc Latimer và Ridley đã bị thiêu sống trên cọc tại Oxford dưới bàn tay nữ hoàng Mary thứ Nhất. Câu chuyện này vẫn truyền kể lại cho du khách ngày qua ngày cho tới hôm nay. Oxford còn là nơi nảy sinh ra đạo Giám lý (Methodist), người sáng lập là hai anh em John và Charles Wesley. Cũng chính nơi đây đã tảo ra phong trào gọi là Phong

Số 26 - Tháng 9/2009
Trào Oxford. Phong trào Oxford là một phong trào ở thế kỷ 19 của một nhóm người Anh Giáo tại Oxford muốn phục hồi lại những giáo lý truyền thống Công giáo trong giáo hội Anh giáo. Phong trào gồm ông John Keble, John Henry Newman và Edward Pusey. Họ hoạt động bằng cách truyền đơn. Phong trào nhấn mạnh về đặc tính của bí tích và tông đồ giáo hội, về linh mục, về thăng tiến phụng vụ của truyền thống Công giáo, phục vụ người bần cùng và khuyến kích thành lập các dòng tu nam nữ Anh giáo - mở đường cho các dòng tu Anh giáo ra đời trên toàn lãnh thổ. Phong trào sinh hoạt khoảng 10 năm và giải tán khi Newman đã quyết định rời Anh giáo và gia nhập đạo Công giáo năm 1845. Ngoài ra còn có nhiều nhóm tôn giáo khác cũng đã và đang hoạt động tại đây. Tóm lại, văn hóa tại đây bay bướm bao nhiêu thì tôn giáo cũng thăng tiến con người sống đạo bấy nhiêu. Hiện nay đại học Oxford có cả thảy 45 trường độc lập. Có trường lớn như Trinity College, Christ Church, Merton College và có trường nhỏ thì gọi là Hall chảng hạn như St Edmund‘s Hall... Trong các trường đời này vẫn còn các trường của các nhà tu như trường của các tu sĩ Biển Ðức: St Benet‘s Hall, trường của các tu sĩ Ðaminh: Blackfriars Hall, trường của các tu sĩ Phaxico: Greyfriar, trường của các tu sĩ dòng Tên: Campion Hall. Các sinh viên cư trú riêng tại mỗi trường của họ và học riêng nhưng có một vài đều họ làm chung. Tất cả sinh viên chưa tốt nghiệp đều đi thi tại Trường Thi (Examination Schools) và nhận bằng tốt nghiệp tại nhà hát Sheldonian. Năm học tại đây có ba kỳ mỗi kỳ học chỉ có 8 tuần không hơn không kém. Kỳ một gọi là kỳ Michaelmas; kỳ hai gọi là Hilary; kỳ ba gọi là Trinity. Ngoài kỳ học chính thức ra các sinh viên vẫn có thể ở lại Oxford để tự học. Các thuyết trình tại Oxford còn có lợi ích cho sinh viên rất đáng kể. Tất cả các bài thuyết trình được thông báo cho tất cả các sinh viên, do đó sinh viên nào cần cù ham học sẽ tiếp thu được nhiều môn trong mọi lĩnh vực. Ðại học Oxford còn có thư viện nổi tiếng Bodleian. Ðây là một trong số ít các thư viện lưu chiểu của Vương quốc Anh, nhận được tất cả các sách xuất bản tại nước này.

The Radcliffe Camera, built 1737-1749

Trang 22

Phụ trang - DU HỌC
Không giống như thư viện Cambridge, thư viện Bodleian trung tâm không cho mượn sách. Sách chỉ được đọc tại thư viện thành viên chẳng hạn như tại Radcliffe Camera, bởi thế không có tình trạng không thấy sách mình muốn, dĩ nhiên là các sách xuất bản tại Anh. Tuy vậy ngoài thư viện chính Bodleian này ra Oxford còn có các thư viện nhỏ tại từng khoa hoặc phân viện, tại các thư viện nhỏ này sách có thể mượn về. Sinh viên Oxford đến từ năm châu. Các sinh viên có bằng tốt nghiệp rồi muốn học thêm một bằng nữa thì dễ xin vào hơn bởi vì họ thích những sinh viên có ngòi bút cứng rắn và bay bướm. Cuộc sống tại đây nhộn nhịp và lý thú. Ngoài học hành ra các sinh viên có thể tham gia các nhóm sinh hoạt khác nhau như thể thao đủ loại, hay tham gia các nhóm tôn giáo hoạt động tông đồ hay thăng tiến tôn giáo mình qua các cuộc đàm luận. Ðường phố Oxford luôn luôn tấp nập những khuôn mặt đầy sức sống của thanh niên nam nữ. Thêm vào đó những toà nhà cổ có nhiều chóp nhọn làm cho cả thành phố khác hẳn. Bởi thế Oxford có biệt danh là thành phố mơ mộng. Vào những ngày Chúa nhật cả thành phố oanh ỏi với những tiếng chuông chiều ngân vang đây đó khiến cho bầu không khí Oxford vui nhộn, tưởng nhớ lại một thời xa xưa khi mọi người già trẻ đã lần theo tiếng chuông tiến tới thánh đường để quỳ gối cảm tạ ngày hồng ân của Chúa. Những tiếng chuông chiều quen thuộc này tuy không còn có sức thu hút bao nhiêu nhưng cũng nói lên rằng Oxford là một thành phố Thiên Chúa Giáo. Hôm nay Oxford vẫn là nơi đào tạo các tu sĩ nam nữ và linh mục. Các sinh viên tại đây thường các giám mục Anh giáo nhắc nhở rằng: học hành không chỉ để giúp tìm nghề nghiệp nhưng qua học hành chúng ta thấy được ý nghĩa và chân giá trị của cuộc sống con người. Học hành là đi tìm sự khôn ngoan. Nhưng chúng ta đừng để cho sự khôn ngoan của ta đạt được chỉ phục vụ cho chính bạn thân nhưng cần dùng sự khôn ngoan này để phục vụ anh em bạn bè, hàng xóm và xã hội. Qua phục vụ chúng ta có thể tự hào với Ðấng Khôn ngoan, Ðức Kitô, người hằng truyền cho chúng ta: ‗anh em hãy yêu mến nhau như Thầy yêu thương anh em.‘

Số 26 - Tháng 9/2009
Đứng đầu trường là hiệu trưởng, nhưng cũng như các trường đại học Anh quốc khác, chức vụ hiệu trưởng chỉ là chức vụ danh nghĩa, hiệu trưởng được bầu bởi hội đồng trường đại học, là tổ chức gồm tất cả các thành viên đã tốt nghiệp của trường, và giữ chức vụ cả đời. Hiệu trưởng không trực tiếp quản lí công việc của trường. Người đứng đầu thực sự là phó hiệu trưởng, dưới phó hiệu trưởng là 5 phó khác phụ trách các mảng công việc riêng như: giáo vụ, nghiên cứu, kế hoạch và cơ sở vật chất, phát triển và đối ngoại, nhân sự. Hội đồng trường đại học là cơ quan bao gồm phó hiệu trưởng, các trưởng khoa và các thành viên khác được bầu bởi đại hội đồng trường, và có quan sát viên của hội sinh viên. Đại hội đồng trường bao gồm 3700 thành viên của trường gồm cả thành phần học thuật và thành phần quản lí, hành chính. Đại hội đồng có quyền hạn thảo luận và thông báo các quy định, chính sách được hội đồng đề xuất. Trường Oxford cũng như Cambridge là những trường duy nhất có cách thức quản lí dân chủ độc đáo này. Hai tổng giám thị được bầu luân phiên hàng năm từ hai trong số các trường thành viên chịu trách nhiệm quản lí các ngành ở cấp đại học. Tất cả các giáo sư của trường được gọi là các giáo sư biên chế của trường đại học Oxford. Những người này rất có ảnh hưởng đối với chương trình sau đại học. Các khoa, bộ môn, viện nghiên cứu được tổ chức thành 4 phân ban, có người đứng đầu riêng và có bộ máy riêng được tạo ra bằng bầu cử. Đó là phân ban nhân văn, phân ban khoa học xã hội, phân ban toán lí và khoa học về sự sống, phân ban y khoa.

Trường thành viên_______________
Các trường thành viên của đại học Oxford đều có cấu trúc và hoạt động riêng. Tất cả các học viên và phần lớn các giáo sư đều trực thuộc một trường nào đấy. Người đứng đầu một trường này có nhiều tên gọi khác nhau tùy vào mỗi trường như warden, provost, principal, president, rector, master, dean. Các trường này tổ chức Hội nghị các trường để thảo luận công việc và giải quyết các vấn đề quản lí chung. Các trường này ngoài việc tạo điều kiện ăn ở cho sinh viên còn tổ chức các hoạt động văn hóa xã hội, nghỉ ngơi giải trí cho các học viên. Các trường cũng tự nhận sinh viên hệ đại học và tổ chức dạy học. Hệ sau đại học thì thuộc về trách nhiệm của bộ môn.

Cấu trúc tổ chức_________________
Đại học Oxford là dạng đại học gồm nhiều trường hợp lại, có thể xem như là một liên hiệp gồm 39 trường đại học "con" (college) và 7 "trường tư" (hall), các trường này đều tự quản, nhưng có một bộ phận quản lí chung đứng đầu bởi Phó Giám đốc. Các khoa chuyên ngành cũng nằm tập trung trong cơ quan này mà không lệ thuộc vào bất kì một trường nào cả. Các bộ môn tổ chức nghiên cứu, hỗ trợ giảng dạy, tổ chức các buổi thuyết trình, hội thảo. Chương trình học và giáo án chung cũng do bộ môn tự biên soạn. Các trường con sẽ dựa vào đó mà tổ chức dạy cho sinh viên. Các thành viên của một bộ môn làm việc ở các trường khác nhau. Tuy rằng một số trường có môn thế mạnh của mình, nhưng nhìn chung các trường có rất nhiều ngành học chuyên môn. Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học chẳng hạn thư viện có ở nhiều cấp: có thư viện trung tâm (Bodleian), thư viện khoa (ví dụ thư viện khoa Anh ngữ, khoa Sinh học...), thư viện trường, các thư viện này đều là thư viện tổng hợp.

Giảng dạy và bằng cấp____________
Việc dạy học của hệ đại học chủ yếu là học theo kiểu phụ đạo, trong đó mỗi giáo sư phụ trách từ 1 đến 4 học viên làm việc hàng tuần khoảng 1 giờ tùy thuộc vào ngành học mà nội dung buổi học là về một bài luận hoặc bài tập. Mỗi tuần sinh viên thường có khoảng 2 buổi học kiểu này, các giáo sư có thể thay đổi tùy theo yêu cầu của môn học hoặc lĩnh vực chuyên môn, có thể đến từ các trường khác trong đại học Oxford. Ngoài ra sinh viên còn học bổ sung bằng các buổi nghe giảng, lên lớp, hội thảo được tổ chức theo chuẩn của bộ môn. Các học viên sau đại học thì thường được hướng dẫn thông qua các buổi lên lớp và các hội thảo, nhưng tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu cá nhân. Trường đại học chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc thi và cấp bằng. Để đạt văn bằng cấp độ 1 học viên phải vượt

Cấp quản lý trung ương___________

Trang 23

Phụ trang - DU HỌC
qua 2 kì thi. Kì thi thứ nhất gọi là kì thi sơ khảo thường tổ chức vào cuối năm học thứ nhất hoặc sau 2 học kì đối với học viên ngành luật, 5 học kì đối với các ngành nhân văn cổ điển. Kì thi thứ hai tổ chức vào cuối khóa học. Các thí sinh sẽ nhận bằng danh dự hạng nhất, hạng hai hoặc hạng ba tùy theo kết quả của kì thi này. Trường cũng cấp văn bằng thạc sĩ và tiến sĩ ở tất cả các môn nào có giảng dạy ở bậc đại học. Năm học Mối năm học được chia ra 3 học kì căn cứ theo nội quy trường: học kì Michaelmas từ tháng 10 đến tháng 12, học kì Hilary từ tháng 1 đến tháng 3, học kì Trinity từ tháng 4 đến tháng 6. Trong các học kì đó, hội đồng trường sẽ quyết định mỗi năm sẽ có 8 tuần gọi là Full Terms, là thời gian dạy cho cấp đại học, thời gian 8 tuần là ngắn hơn nhiều so với các trường đại học Anh quốc khác, do vậy học viên buộc phải học rất nhiều trong các kì nghỉ (Giáng sinh, Easter và kì nghỉ dài).

Số 26 - Tháng 9/2009
Thời gian trong học kì được xác định dựa vào thời điểm bắt đầu học kì, tức là tuần bắt đầu của Full Terms gọi là tuần thứ nhất, tuần kết thúc là tuần thứ tám.

Trên đây là Oxford của Anh Quốc được xếp hàng thứ 10. Mong rằng qua sự giới thiệu này quý bạn sinh viên gần 10 trường được xem là quan trọng nhất.Trong 10 trường thì có 09 trường của Hoa Kỳ và một trường ở Anh quốc. Mong là sẽ giúp đỡ được các bạn gần xa có ý định du học sẽ chọn cho mình một trường như ý .

1.Biillion-pound boost for British universities. Observer article. Truy cập 11 tháng 2 năm 2007. 2. Table 0a - All students by institution, mode of study, level of study, gender and domicile 2005/06. Higher Education Statistics Agency online statistics. Truy cập 31 tháng 3 năm 2007.

Christ Church college Quadrangle Oxford

Trang 24

Đón xem Tạp Chí Phía Trước số 27 Ra vào trung tuần tháng 10/2009

www.tapchiphiatruoc.net

Thanh Niên & Tự Do Tôn Giáo

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful