P. 1
bài tập lớn chuyển mạch mềm

bài tập lớn chuyển mạch mềm

|Views: 1,523|Likes:
Published by kimhaivh
tài liệu hay
tài liệu hay

More info:

Categories:Types, Speeches
Published by: kimhaivh on Nov 25, 2011
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/13/2014

pdf

text

original

Sections

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của VoIP đã gây nên một sự chú ý đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông thế giới, lợi ích mà nó mang lại là rất lớn. Đối với khách hàng, lợi ích đầu tiên mà họ đạt được là chi phí cuộc gọi sẽ rẻ hơn đáng kể. Còn đối với các nhà sản xuất, cung cấp và khai thác mạng, truyền thoại qua mạng Internet mở ra những thách thức mới nhưng cũng hứa hẹn khả năng lợi nhuận đáng kể. Đây cũng là một bước đột phá trong việc tiến tới một xu thế mạng viễn thông mới. Công nghệ VoIP có rất nhiều ưu điểm như: giảm cước phí dịch vụ thoại đường dài; hỗ trợ nhiều cuộc gọi với băng tần thấp hơn; nhiều hơn và tốt hơn các dịch vụ nâng cao; sử dụng có hiệu quả nhất giao thức IP… Tuy nhiên vẫn tồn tại một số nhược điểm về bảo mật và kĩ thuật phức tạp. Với tình trạng phát triển nhanh của các dịch vụ mạng, dải địa chỉ IPv4 đang ngày càng cạn kiệt, VoIP không thể phát huy hết sức mạnh vốn có của nó. Để tận dụng hết những ưu điểm của truyền thoại qua mạng Internet đồng thời giải quyết được nhược điểm của cả VoIP thế hệ cũ và IPv4, thì việc nghiên cứu và thử nghiệm truyền thoại qua IPv6 đã được rất nhiều công ty, tổ chức trên thế giới chú ý. Ở Việt Nam dù vẫn còn nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng và nguồn lực song không thể nằm ngoài xu thế phát triển chung đó của thế giới.

Đà Nẳng, tháng 11 năm 2011 Sinh viên : Nguyễn Kim Hải.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

1

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt VOIP TCP/IP LAN WAN PSTN SIP PBX RTP RTCP RSVP TCP UDP IPv4 IPv6 PC GSM PCM ETSI GK GW SCN ISDN

Từ tiếng anh Voice over Internet Protocol Transport control protocol / Internet protocol Local Area Network Wide Area Network Public Switched Telephone Network Session Inititation Protocol Private Branche Xchange Real Time Transport Protocol Real Time Transport control Protocol Reservation Protocol Transmission Control Protocol User Datagram Protocol Internet Protocol version 4 Internet Protocol version 6 Personnal Computer Global System for Mobie Pulse Code Modulation European Telecommunications Standards Institute Gatekeeper Gateway Switching Network Integrated Service Digital Network

Nghĩa tiếng việt Hình thức truyền thoại qua Internet Giao thức truyền và sửa lỗi đối với Các dữ liệu. Mạng vùng cục bộ Mạng rộng Mạng điện thoại công cộng Giao thức khởi tạo phiên Tổng đài chi nhánh riêng Vận chuyển thời gian thực Điều khiển truyền thời gian thực Giao thức giữ trước tài nguyên Giao thức điều khiển truyền tin Dữ liệu người sử dụng Giao thức Internet phiên bản 4 Giao thức Internet phiên bản 6 Máy tính cá nhân Hệ thống toàn cấu cho điện thoại di động Điều chế mã xung Tiêu chuẩn viễn thông châu âu Cổng quản lý mạng Cổng nối mạng Mạng chuyển mạch Mạng dịch vụ tích hợp số

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

2

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6 DSL OAM MGW DTMF SGW RAS QoS DRQ HTTP IETF UA ACK SDP SMTP ITU RTT OPS OSP CPL NAT ID MAC DNS ISP ARP RFC MSN DAD ICMP NS RA Digital Subcribe Line Operation And Maintenance Management Media Gateway Dual Tone Multi Frequency Singnalling Gateway Registration Admission And Status Quality of Service Data Read Queue Hypertext Tranfer Protocol Internet Engineering Task Force User Agent Acknow Ledgement Sesion Descripion Protocol Simple Mail Tranfer Protocol International Telecommunication Union Radio Teletype Operations Per Second Operator Station Test Character Per Line Network Address Translation Information Divce Media Access Control Domain Name Server Internet Service Provider Address Resolution Protocol Request For Comments Multicast Solicited Node Duplicate Address Detection Internet Control Manager ment Protocol Network services Repeat to Address Đăng ký kỹ thuật số dòng Vận hành quản lý và bảo dưỡng Cổng trung gian Cổng báo hiệu Tình trạng đăng nhập Chất lượng dịch vụ Hàng đọc dữ liệu Giao thức chuyển siêu văn bản Nhiệm vụ kỹ thuật Internet Đại diện người sử dụng Ghi nhận Phiên bản mô tả giao thức Di chuyển giao thức đơn giản Liên đoàn viễn thông quốc tế Máy vô tuyến điện báo Hoạt động phụ Nhà điều hành trạm thử nghiệm Ký tự trên dòng Công nghệ thay thế địa chỉ Thiết bị thông tin mạng Kiểm soát truy cập phương tiện truyền thông Hệ thống tên miền Cung cấp dịch vụ Internet Giao thức phân giải địa chỉ Tài liệu chuẩn cho Internet Trưng cầu nút Dò tìm địa chỉ trùng lặp Chữa giao thức quản lý Internet Mạng lưới dịch vụ Lặp lại đến địa chỉ
3

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6 DHCP MTU
API ATM B-ISDN CS CoS GSM HLR

Dynamic Host Configuration Protocol Maximum Transmition Unit
application programming interface asynchronous transfer mode broadband ISDN Canadian Standard Corporation for Open Systems Global System for Mobile Communications Home Location Register interexchange carrier

Giao thức cấu hình địa chỉ động Đơn vị tối đa có thể truyền được
giao diện lập trình ứng dụng phương thức truyền dẫn không đồng bộ Mạng số đa dịch vụ băng rộng Chuẩn Canada Tập đoàn các hệ thống mở Hệ thống toàn cầu cho thông tin di động Đăng kí vị trí nội vùng nhà khai thác liên tổng đài

IAX

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KỸ THUẬT CHUYỂN MẠCH 1.1. Một số khái niệm cơ sở 1.1.1. Khái niệm chuyển mạch Chuyển mạch là một quá trình thực hiện đấu nối và chuyển thông tin cho người sử dụng thông qua hạ tầng mạng viễn thông. Nói cách khác, chuyển mạch trong mạng viễn thông bao gồm chức năng định tuyến cho thông tin và chức năng chuyển tiếp thông tin. 1.1.2. Hệ thống chuyển mạch Quá trình chuyển mạch được thực hiện tại các nút mạng, trong mạng chuyển mạch kênh các nút mạng thường được gọi là hệ thống chuyển mạch (Tổng đài), trong mạng chuyển mạch gói thường được gọi là thiết bị định tuyến (Bộ định tuyến). Trong một số mạng đặc biệt, phần tử thực hiện nhiệm vụ chuyển mạch có thể vừa đóng vai trò thiết bị đầu cuối vừa đóng vai trò chuyển mạch và chuyển tiếp thông tin. 1.1.3. Phân loại chuyển mạch Các hệ thống chuyển mạch cấu thành mạng chuyển mạch, ta có hai dạng mạng chuyển mạch cơ bản: Mạng chuyển mạch kênh và mạng chuyển mạch gói. Tuy nhiên, dưới góc độ truyền và xử lý thông tin, chuyển mạch còn có thể

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

4

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
phân thành bốn kiểu: chuyển mạch kênh, chuyển mạch bản tin, chuyển mạch gói và chuyển mạch tế bào. Mạng chuyển mạch kênh thiết lập các mạch (kênh) chỉ định riêng cho kết nối trước khi quá trình truyền thông thực hiện. Như vậy, quá trình chuyển mạch được chia thành 3 giai đoạn phân biệt: thiết lập, truyền và giải phóng. Để thiết lập, giải phóng và điều khiển kết nối, mạng chuyển mạch kênh sử dụng các kỹ thuật báo hiệu để thực hiện như một thành phần bắt buộc. Ngược lại với mạng chuyển mạch kênh là mạng chuyển mạch gói, dựa trên nguyên tắc phân chia các lưu lượng dữ liệu thành các gói tin và truyền đi trên mạng chia sẻ, mỗi gói tin là một thực thể độc lập chứa các thông tin cần thiết cho quá trình xử lý thông tin trên mạng. Các giai đoạn thiết lập, truyền và giải phóng sẽ được thực hiện đồng thời trong một khoảng thời gian và quyết định đường đi được xác lập bởi thông tin trong tiêu đề gói tin. 1.1.4. Kỹ thuật lưu lượng TE Kỹ thuật lưu lượng TE (Traffic Engineering) được coi là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong khung làm việc của hạ tầng mạng viễn thông. Mục đích của kỹ thuật lưu lượng là để cải thiện hiệu năng và độ tin cậy của các hoạt động của mạng trong khi tối ưu các nguồn tài nguyên và lưu lượng. Nói cách khác, TE là công cụ sử dụng để tối ưu tài nguyên sử dụng của mạng bằng phương pháp kỹ thuật để định hướng các luồng lưu lượng phù hợp với các tham số ràng buộc tĩnh hoặc động. Mục tiêu cơ bản của kỹ thuật lưu lượng là cân bằng và tối ưu các điều khiển của tải và tài nguyên mạng thông qua các thuật toán và giải pháp kỹ thuật. 1.1.5. Báo hiệu trong mạng viễn thông Báo hiệu sử dụng các tín hiệu để điều khiển truyền thông, trong mạng viễn thông báo hiệu là sự trao đổi thông tin liên quan tới điều khiển, thiết lập các kết nối và thực hiện quản lý mạng. Các hệ thống báo hiệu có thể phân loại theo đặc tính và nguyên tắc hoạt động gồm: Báo hiệu trong băng và báo hiệu ngoài băng, báo hiệu đường và báo hiệu thanh ghi, báo hiệu kênh liên kết và báo hiệu kênh chung, báo hiệu bắt buộc, v..v. Các thông tin báo hiệu được truyền dưới dạng tín hiệu điện hoặc bản tin. Các hệ thống báo hiệu trong mạng chuyển mạch điện thoại công cộng PSTN (Public Switched Telephone Network) được đánh số từ No1-No7. 1.1.6. Mạng tích hợp dịch vụ số băng rộng B-ISDN Mạng tích hợp dịch vụ số băng rộng có nhiệm vụ cung cấp các cuộc nối thông qua chuyển mạch, các cuộc nối cố định hoặc bán cố định, các cuộc nối từ điểm tới điểm hoặc từ điểm tới đa điểm và cung cấp các dịch vụ yêu cầu, các dịch vụ dành trước hoặc các dịch vụ yêu cầu cố định. Cuộc nối trong B-ISDN phục vụ cho các dịch vụ chuyển mạch kênh, chuyển mạch gói theo kiểu đa phương tiện, đơn phương tiện, theo kiểu hướng liên kết hoặc phi liên kết và theo cấu hình đơn hướng hoặc đa hướng.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

5

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
1.2. Các tổ chức tiêu chuẩn Các tiêu chuẩn cho phép các nhà cung cấp thiết bị phát triển các sản phẩm theo một tập các đặc tính chung và người sử dụng cũng như các nhà cung cấp dịch vụ có thể lựa chọn được các thiết bị từ nhiều nhà cung cấp. Hệ thống tiêu chuẩn được chia thành hai loại: Tiêu chuẩn thực tế và tiêu chuẩn pháp lý. Tiêu chuẩn thực tế được phát triển bởi một nhà cung cấp thiết bị hoặc một nhóm các nhà cung cấp được chấp thuận bởi các tổ chức tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn pháp lý được lập bởi thỏa thuận chung giữa các tổ chức tiêu chuẩn Quốc gia hoặc Ủy ban tiêu chuẩn Quốc tế. Các tiêu chuẩn liên quan tới lĩnh vực chuyển mạch thuộc về cả hai loại tiêu chuẩn trên, nhưng tập trung chủ yếu trong hệ thống tiêu chuẩn pháp lý. Dưới đây là một số tổ chức tiêu chuẩn và diễn đàn chính. 1.2.1. Liên minh viễn thông Quốc tế ITU Liên minh viễn thông Quốc tế ITU (International Telecommunication Union) là một tổ chức liên chính phủ gồm có các Quốc gia thành viên và Thành viên lĩnh vực. Liên minh viễn thông Quốc tế ITU gồm 3 lĩnh vực chính: Lĩnh vực thông tin vô tuyến ITU-R (Radiocommunication); Lĩnh vực tiêu chuẩn hóa viễn thông ITU-T (Telecommunication Standardization); Lĩnh vực phát triển viễn thông ITU-D (Development). ITU-T được tổ chức bởi 15 nhóm nghiên cứu kỹ thuật và đưa ra các tiêu chuẩn dưới dạng khuyến nghị. Các khuyến nghị của ITU-T trong series Q liên quan tới báo hiệu và chuyển mạch. Ví dụ, Q.2931 mô tả thủ tục báo hiệu sử dụng để thiết lập kênh ảo điểm-điểm qua giao diện người sử dụng-mạng trong môi trường ATM. 1.2.2. Tổ chức tiêu chuẩn Quốc tế ISO Tổ chức tiêu chuẩn Quốc tế ISO (International Organization for Standardization) gồm các Ủy ban tiêu chuẩn của các Quốc gia. Nhiệm vụ của tổ chức tiêu chuẩn Quốc tế ISO là xúc tiến việc tiêu chuẩn hóa và các hoạt động liên quan trên toàn cầu nhằm tạo điều kiện thuận tiện trong trao đổi hàng hóa và dịch vụ, phát triển sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Tiêu chuẩn ISO đưa ra các tiêu chuẩn hóa bao trùm tất cả các lĩnh vực kỹ thuật, trong lĩnh vực viễn thông mô hình hệ thống kết nối hệ thống mở OSI là một tiêu chuẩn phổ biến của ISO. ISO hợp tác với Ủy ban điện tử Quốc tế IEC (International Electronical Commission) để phát triển các tiêu chuẩn trong mạng máy tính và lập ra Ủy ban liên kết kỹ thuật JCT1 để phát triển các tiêu chuẩn trong lĩnh vực công nghệ thông tin. 1.2.3. Viện kỹ thuật điện và điện tử IEEE IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineering) là cộng đồng chuyên gia kỹ thuật lớn nhất trên thế giới phát triển các tiêu chuẩn trong lĩnh

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

6

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
vực điện-điện tử và máy tính thông qua hiệp hội tiêu chuẩn IEEE-SA (Standards Association). 1.2.4. Tổ chức đặc trách kỹ thuật Internet IETF IETF (Internet Engineering Task Force) là một cộng đồng mở Quốc tế của các nhà thiết kế mạng, điều hành mạng, các nhà cung cấp thiết bị và các nhà nghiên cứu liên quan tới sự phát triển của kiến trúc Internet. Một số vùng chức năng cơ bản của IETF như: Ứng dụng, Internet, quản lý mạng, các yêu cầu điều hành, định tuyến, bảo mật, truyền tải và dịch vụ người sử dụng. 1.2.5. Viện tiêu chuẩn viễn thông châu Âu ETSI ETSI (European Telecommunications Standards Institute) là tổ chức tiêu chuẩn hóa viễn thông, phi lợi nhuận và độc lập của châu Âu cũng như của thế giới. Mục tiêu của ETSI nhằm hỗ trợ quá trình tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông toàn cầu thông qua các diễn đàn, tạo điều kiện cho các thành viên chủ chốt đóng góp ý kiến xây dựng các tiêu chuẩn. 1.2.6. Diễn đàn chuyển mạch đa phương tiện MSF MSF (The Multimedia Switching Forum) cung cấp các tiêu chuẩn cho chuyển mạch đa dịch vụ dựa trên nền tảng ATM, hỗ trợ các kiểu dịch vụ gồm các dịch vụ IP và dịch vụ ATM cũng như là các dịch vụ khác. 1.2.7. Diễn đàn IP/MPLS Diễn đàn IP/MPLS là một tổ chức Quốc tế phi lợi nhuận của các nhà cung cấp dịch vụ, các nhà cung cấp thiết bị, các trung tâm đo kiểm và người dùng xí nghiệp. Mục tiêu của diễn đàn tập trung vào các giải pháp phát triển và ứng dụng trên hạ tầng công nghệ IP/MPLS. 1.3. Quá trình phát triển của kỹ thuật chuyển mạch Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ 20, xuất hiện sản phẩm tổng đài điện tử số là sự kết hợp giữa công nghệ điện tử với kỹ thuật máy tính. Tổng đài điện tử số công cộng đầu tiên ra đời được điều khiển theo chương trình ghi sẵn SPC (Stored Program Control). Trong những năm 70 hàng loạt các tổng đài thương mại điện tử số ra đời. Một trong những tổng đài đó là tổng đài E10 của CITAlcatel được sử dụng tại Pháp. Năm 1976 Bell giới thiệu tổng đài điện tử số công cộng 4ESS. Năm 1980 tổng đài DMS100 của Northem Telecom dùng toàn bộ kỹ thuật số đầu tiên trên thế giới. Hệ thống 5ESS của hãng AT&T đưa vào năm 1982 đã cải tiến rất nhiều từ hệ thống chuyển mạch 4ESS và đã có các chức năng tương thích với các dịch vụ mạng số tích hợp dịch vụ ISDN (Integrated Service Digital Network). Khoảng năm 1996 khi mạng Internet trở thành bùng nổ trong thế giới công nghệ thông tin, nó đã tác động mạnh mẽ đến công nghiệp viễn thông và xu hướng hội tụ các mạng máy tính, truyền thông, điều khiển. Hạ tầng mạng viễn thông đã trở thành tâm điểm quan tâm trong vai trò hạ tầng xã hội. Một mạng

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

7

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
có thể truyền băng rộng với các loại hình dịch vụ thoại và phi thoại, tốc độ cao và đảm bảo được chất lượng dịch vụ QoS (Quality Of Service) đã trở thành cấp thiết trên nền tảng của một kỹ thuật mới: Kỹ thuật truyền tải không đồng bộ ATM (Asynchronous Transfer Mode). Các hệ thống chuyển mạch điện tử số cũng phải dần thay đổi theo hướng này cùng với các chỉ tiêu kỹ thuật, giao thức mới. Một ví dụ điển hình là các hệ thống chuyển mạch kênh khi cung cấp các dịch vụ Internet sẽ có độ tin cậy khác so với các cuộc gọi thông thường với thời gian chiếm dụng cuộc gọi lớn hơn rất nhiều. Sự thay đổi của hạ tầng mạng chuyển đổi sang mạng thế hệ sau NGN đã và đang tác động rất lớn tới các hệ thống chuyển mạch, sau đây trình bày một số vấn đề liên quan tới mạng NGN và các đặc điểm của quá trình hội tụ mạng của hạ tầng mạng công cộng. Mạng chuyển mạch kênh công cộng PSTN và IP (Internet Protocol) đang dần hội tụ tới cùng một mục tiêu nhằm hướng tới một hạ tầng mạng tốc độ cao có khả năng tương thích với các ứng dụng đa phương tiện tương tác và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Hình 1.1. chỉ ra xu hướng hội tụ trong hạ tầng mạng công cộng:

Hình 1.1. Xu hướng hội tụ công nghệ mạng công cộng Từ những năm 1980, PSTN chuyển hướng tiếp cận sang phương thức truyền tải bất đồng bộ ATM để hỗ trợ đa phương tiện và QoS, sau đó chuyển hướng sang công nghệ kết hợp với IP để chuyển mạch nhãn đa giao thức hiện nay. Trong khi đó Internet đưa ra một tiếp cận hơi khác với PSTN qua giải pháp triển khai kiến trúc phân lớp dịch vụ CoS (Class Of Service) và hướng tới đảm bảo chất lượng dịch vụ QoS thông qua mô hình tích hợp dịch vụ IntServ và phân biệt dịch vụ DiffServ, các chiến lược của Internet theo hướng tương thích với IP, mạng quang và hướng tới mạng chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS (Generalized MultiProtocol Label Switch). Công nghệ

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

8

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS ra đời vào năm 2001 là sự nỗ lực kết hợp hai phương thức chuyển mạch hướng kết nối (ATM, FR) với công nghệ chuyển mạch phi kết nối (IP). Trong môi trường mạng hiện nay, sự phân cấp hệ thống thiết bị biên (nội hạt), thiết bị quá giang và thiết bị lõi trong mạng cung cấp các dịch vụ PSTN vẫn đang tồn tại. Các mạng bao trùm như FR, ATM và Internet đang được triển khai song song và tạo ra nhu cầu kết nối liên mạng. Các truy nhập cộng thêm gồm cáp đồng, cáp quang và truy nhập không dây đang được triển khai làm đa dạng và tăng mật độ truy nhập từ phía mạng truy nhập. Sự tăng trưởng của các dịch vụ truy nhập đã tạo nên sức ép và đặt ra 3 vấn đề chính đối với hệ thống chuyển mạch băng rộng đa dịch vụ: Truy nhập băng thông rộng, sự thông minh của thiết bị biên và truyền dẫn tốc độ cao tại mạng lõi. Với môi trường mạng PSTN trước đây, các thiết bị lõi mạng chịu trách nhiệm chính trong điều hành và quản lý và điều này được thay đổi chức năng cho các thiết bị gờ mạng trong môi trường NGN. Các hệ thống chuyển mạch phải có độ mềm dẻo lớn nhằm tương thích và đáp ứng các yêu cầu tăng trưởng lưu lượng từ phía khách hàng. Vì vậy, cơ chế điều khiển các hệ thống chuyển mạch đã được phát triển theo hướng phân lớp và module hóa nhằm nâng cao hiệu năng chuyển mạch và đảm bảo QoS từ đầu cuối tới đầu cuối. Hướng tiếp cận máy chủ cuộc gọi CS (Call Server) và hướng triển khai phân hệ đa dịch vụ IP (IMS) được trình bày dưới đây chỉ ra những sự thay đổi lớn trong lịch sử phát triển hệ thống chuyển mạch. 1.3.1. Chuyển mạch mềm và hướng tiếp cận máy chủ cuộc gọi CS Hướng tiếp cận máy chủ cuộc gọi CS được hình thành trong quá trình chuyển đổi các hạ tầng mạng chuyển mạch kênh sang chuyển mạch gói trong mạng PSTN. Để thực hiện quá trình chuyển đổi và truyền thoại trên nền IP, một giải pháp có thể thực thi là tạo ra một thiết bị lai có thể chuyển mạch thoại ở cả dạng kênh và gói với sự tích hợp của phần mềm xử lý cuộc gọi. Thiết bị bộ điều khiển cổng đa phương tiện MGC (Media Gateway Controller) được coi là thành phần mấu chốt trong giải pháp kỹ thuật chuyển mạch mềm Softswitch. Thực chất của khái niệm chuyển mạch mềm chính là phần mềm thực hiện chức năng xử lý cuộc gọi trong hệ thống chuyển mạch có khả năng chuyển tải nhiều loại thông tin với các giao thức khác nhau. Theo thuật ngữ chuyển mạch mềm thì chức năng chuyển mạch vật lý được thực hiện bởi cổng đa phương tiện MG (Media Gateway), còn xử lý cuộc gọi là chức năng của bộ điều khiển cổng đa phương tiện MGC. Chuyển mạch mềm thực hiện các chức năng tương tự chuyển mạch kênh truyền thống nhưng với năng lực mềm dẻo và tính năng ưu việt hơn. Các ưu

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

9

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
điểm của chuyển mạch mềm mang lại là do việc chuyển mạch bằng phần mềm dựa trên cấu trúc phân tán và các giao diện lập trình ứng dụng mở. Trong chuyển mạch truyền thống, phần cứng chuyển mạch luôn đi kèm với phần mềm điều khiển của cùng một nhà cung cấp. Điều này làm tăng tính độc quyền trong việc cung cấp các hệ thống chuyển mạch, không cung cấp một môi trường kiến tạo dịch vụ mới, làm giới hạn khả năng phát triển các dịch vụ mới của các nhà quản trị mạng. Khắc phục điều này, chuyển mạch mềm đưa ra giao diện lập trình ứng dụng mở API (Application Programable Interface), cho phép tương thích phần mềm điều khiển và phần cứng của các nhà cung cấp khác nhau. Chuyển mạch mềm được xây dựng trên cơ sở mạng IP, xử lý thông tin một cách trong suốt, cho phép đáp ứng nhiều loại lưu lượng khác nhau. Được xây dựng theo cấu hình phân tán, tách các chức năng khác khỏi chức năng chuyển mạch cũng làm cho nhiệm vụ chuyển mạch trở nên đơn giản hơn và do đó năng lực xử lý mạnh mẽ hơn. Công nghệ chuyển mạch mềm làm giảm tính độc quyền của các nhà cung cấp, góp phần tăng tính cạnh tranh và do đó giảm giá thành của hệ thống chuyển mạch mềm. 1.3.2. Hướng tiếp cận phân hệ đa phương tiện IP (IMS) Để thực hiện hội tụ giữa mạng di động với mạng cố định theo hướng IP hóa hoàn toàn, mạng thế hệ kế tiếp NGN ứng dụng tới mạng 3G trong nhiều cách. Vào năm 2000, 3GPP (3rd Generation Partnership Project) đã thiết lập các đặc tính của WCDMA R4 (Wireless Code Division Multiple Access Release 4), đó là lần đầu tiên đưa ra khái niệm chuyển mạch mềm vào trong hệ thống mạng lõi di động. Sự thay đổi này ảnh hưởng tới kiến trúc mạng, các giao diện mạng, sự phát triển của các dịch vụ trong hệ thống thông tin di động hướng sự phát triển của 3G tới NGN. NGN và 3G đưa ra rất nhiều giao thức. 3G và NGN không chỉ cung cấp các dịch vụ như thoại mà còn là các dịch vụ đa phương tiện thông qua các giao diện dịch vụ mở. 1.4. Vai trò và vị trí của hệ thống chuyển mạch trong mạng viễn thông 1.4.1. Các thành phần của mạng viễn thông (Telecommunications network) Là một tập hợp bao gồm các nút mạng và các đường truyền dẫn kết nối giữa hai hay nhiều điểm xác định để thực hiện các cuộc trao đổi thông tin giữa chúng. Mạng viễn thông cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ viễn thông cho khách hàng, từ những dịch vụ truyền thống như điện thoại, Fax, truyền số liệu cho đến các dịch vụ mới như Internet, VOD, thương mại điện tử, … 1.4.1.1. Thiết bị đầu cuối Thiết bị đầu cuối là các trang thiết bị của người sử dụng để giao tiếp với mạng cung cấp dịch vụ. Hiện nay có nhiều chủng loại thiết bị đầu cuối của nhiều hãng khác nhau tùy thuộc vào từng dịch vụ (ví dụ như máy điện thoại, máy fax, …). Thiết bị đầu cuối thực hiện chức năng chuyển đổi thông tin cần trao đổi thành các tín hiệu điện và ngược lại.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

10

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 1.2. Các thành phần của mạng viễn thông 1.4.1.2. Hệ thống chuyển mạch Hệ thống chuyển mạch là thành phần cốt lõi của mạng viễn thông có chức năng thiết lập đường truyền giữa các thuê bao (đầu cuối). Tùy theo vị trí của hệ thống chuyển mạch trên mạng, người ta chia thành tổng đài chuyển tiếp quốc tế, tổng đài chuyển tiếp liên tỉnh và tổng đài nội hạt hoặc router biên, router lõi. 1.4.1.3. Thiết bị truyền dẫn Thiết bị truyền dẫn được sử dụng để nối các thiết bị đầu cuối hay giữa các tổng đài với nhau và truyền các tín hiệu một cách nhanh chóng và chính xác. Thiết bị truyền dẫn được phân loại thành thiết bị truyền dẫn thuê bao, nối thiết bị đầu cuối với một tổng đài nội hạt, và thiết bị truyền dẫn chuyển tiếp, nối giữa các tổng đài. Dựa vào môi trường truyền dẫn, thiết bị truyền dẫn có thể được phân loại gồm thiết bị truyền dẫn hữu tuyến sử dụng cáp kim loại, cáp sợi quang và thiết bị truyền dẫn vô tuyến sử dụng không gian làm môi trường truyền dẫn. 1.4.2. Vai trò của hệ thống chuyển mạch trong mạng viễn thông Hệ thống chuyển mạch (tổng đài, Node chuyển mạch) có chức năng chính là thiết lập đấu nối giữa thiết bị đầu cuối phát với thiết bị đầu cuối thu dựa vào địa chỉ mạng (số thuê bao). Hệ thống chuyển mạch được đặt ở các vị trí nút mạng. Nó bao gồm tập hợp các phương tiện kỹ thuật để thực hiện việc thu, xử lý và phân phối các thông tin chuyển tới từ các kênh thông tin kết nối với hệ thống chuyển mạch. Các chức năng được thực hiện bởi một hệ thống chuyển mạch, hay một phân hệ của nó cung cấp các tính năng dịch vụ cho khách hàng. Khi hạ tầng

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

11

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
mạng thay đổi, việc thiết kế các hệ thống chuyển mạch càng trở nên phức tạp hơn để có thể cung cấp các phương tiện bổ sung cho phép các mạng có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ phong phú và chất lượng tới khách hàng và giúp cho việc vận hành cũng như bảo dưỡng trở nên dễ dàng hơn. Mặc dù các hệ thống chuyển mạch hiện đại có phức tạp nhưng nó vẫn thực hiện đầy đủ các chức năng cơ bản của một hệ thống chuyển mạch. Hệ thống chuyển mạch trong mạng viễn thông đã trở thành một thành phần phức tạp nhất, tập trung cao nhất hàm lượng công nghệ hiện đại, hàm lượng chất xám và hàm lượng các chức năng xử lý thông tin. 1.4.3. Vị trí của hệ thống chuyển mạch trong mạng viễn thông 1.4.3.1. Vị trí của hệ thống chuyển mạch trong mạng PSTN

GW TE HLE REL Sub

Hình 1.3. Vị trí của tổng đài trong mạng PSTN : Gateway – Tổng đài quốc tế : Transit Exchange – Tổng đài chuyển tiếp quốc gia : Host Local Exchange – Tổng đài nội hạt : Remote Local Exchange – Tổng đài xa (Tổng đài vệ tinh : Subcriber – Thuê bao

Mạng PSTN là mạng viễn thông công cộng được chuẩn hóa do ITU, công nghệ nền tảng là công nghệ chuyển mạch kênh. Hệ thống chuyển mạch được đặt tại các node mạng và được gọi là tổng đài. Tùy theo vị trí, chức năng của tổng đài mà trong mạng phân chia thành các loại: − Tổng đài cổng quốc tế − Tổng đài chuyển tiếp vùng Toll − Tổng đài chuyển tiếp nội hạt Tandem − Tổng đài nội hạt Local 1.4.3.2. Vị trí của các hệ thống chuyển mạch trong mạng GSM

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

12

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Chức năng chuyển mạch chính trong mạng thông tin di động toàn cầu GSM được thực hiện bởi hệ thống con chuyển mạch (SS). Nó bao gồm một số các khối chức năng: Tổng đài chuyển mạch trung tâm MSC: Thực hiện các công việc liên quan đến thiết lập/giải phóng cuộc gọi, quản lý thuê bao, đấu nối với các mạng khác để thực hiện các cuộc gọi liên mạng. MSC quản lý các BTS và được trang bị các cơ sở dữ liệu cho phép nhanh chóng cập nhật các thông tin về thuê bao, vị trí thuê bao để có các đáp ứng phù hợp (HLR, VLR). Tổng đài chuyển mạch cửa ngõ GMSC: Kết nối với các mạng khác như mạng điện thoại cố định hay mạng Internet. GMSC thực hiện điều khiển các cuộc gọi từ mạng di động vào mạng điện thoại cố định và ngược lại.

Hình 1.4. Vị trí của tổng đài trong mạng GSM 1.4.3.3. Vị trí của các hệ thống chuyển mạch trong mạng NGN

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

13

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 1.5. Cấu trúc mạng NGN Công nghệ nền tảng của NGN là chuyển mạch gói, vì vậy các hệ thống chuyển mạch trong mạng NGN là các thiết bị định tuyến Router. Các khối trong tổng đài hiện nay được phân chia thành các lớp mạng riêng lẽ, các lớp này liên kết với nhau qua các giao diện mở tiêu chuẩn. Sự thông minh của xử lý cuộc gọi cơ bản trong chuyển mạch PSTN đã được tách ra từ phần cứng của ma trận chuyển mạch. Sự thông minh đó nằm trong một thiết bị tách rời gọi là chuyển mạch mềm hay bộ điều khiển cổng phương tiện MGC (Media Gateway Controller) hay tác nhân cuộc gọi (Call Agent), đóng vai trò phần tử điều khiển trong kiến trúc mạng mới. . Đặc điểm của NGN Sử dụng công nghệ chuyển mạch mềm (Softswitch) thay thế các thiết bị chuyển mạch phần cứng (Hardware) cồng kềnh. Các mạng của từng dịch vụ riêng rẽ được kết nối với nhau thông qua sự điều khiển của một thiết bị tổng đài duy nhất, thiết bị tổng đài này dựa trên công nghệ Softswitch được ví như “trái tim” của NGN. Mạng hội tụ thoại và dữ liệu, cố định và di động. Các loại tín hiệu được truyền tải theo kỹ thuật chuyển mạch gói, xu hướng sắp tới đang tiến lên sử dụng mạng IP với kỹ thuật QoS như MPLS. Mạng băng thông rộng cung cấp đa dịch vụ: mạng truyền dẫn quang với công nghệ WDM (Wavelength Division Multiplexing) hay DWDM (Dense Wavelength Division Multiplexing).

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

14

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
2.4. Cấu trúc NGN

Hình 1.6. Cấu trúc lớp mạng của NGN Cấu trúc NGN bao gồm 5 lớp chức năng: − Lớp truy nhập dịch vụ (service access layer). − Lớp truyền tải dịch vụ (service transport/core layer). − Lớp điều khiển (control layer). − Lớp ứng dụng/dịch vụ (application/service layer). − Lớp quản lý (management layer). Lớp truy nhập dịch vụ: Bao gồm các thiết bị truy nhập cung cấp các kết nối với các thiết bị đầu cuối thuê bao qua hệ thống mạng ngoại vi cáp đồng, hoặc cáp quang, hoặc thông qua môi trường vô tuyến (thông tin di động, vệ tinh, truy nhập vô tuyến cố định …). Lớp truyền tải dịch vụ: Bao gồm các nút chuyển mạch (AMT+IP) và các hệ thống truyền dẫn (SDH, WDM) thực hiện chức năng chuyển mạch, định tuyến cuộc gọi giữa các thuê bao của lớp truy nhập dưới sự điều khiển của thiết bị điều khiển cuộc gọi thuộc lớp điều khiển. Lớp điều khiển: Bao gồm các hệ thống điều khiển nối cuộc gọi giữa các thuê bao qua việc điều khiển các thiết bị chuyển mạch (AMT+IP) của lớp truyền tải và các thiết bị truy nhập của lớp truy nhập. Lớp điều khiển có chức năng kết nối cuộc gọi thuê bao với lớp ứng dụng/dịch vụ. Các chức năng như quản lý, chăm sóc khách hàng, tính cước cũng được tích hợp trong lớp điều khiển.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

15

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Lớp ứng dụng/dịch vụ: Cung cấp các ứng dụng và dịch vụ như dịch vụ mạng thông minh IN (Intelligent Network), trả tiền trước, dịch vụ giá trị gia tăng Internet cho khách hàng thông qua lớp điều khiển … Trong môi trường phát triển cạnh tranh sẽ có rất nhiều thành phần tham gia kinh doanh trong lớp này. Lớp quản lý: Đây là lớp đặc biệt xuyên suốt các lớp trên. Các chức năng quản lý được chú trọng là: quản lý mạng, quản lý dịch vụ, quản lý kinh doanh. 2.5. Các thành phần của NGN Mối tương quan giữa cấu trúc phân lớp chức năng và các thành phần chính của NGN được mô tả trong hình 2.2.

Hình 1.7. Cấu trúc phân lớp và các thành phần chính trong NGN Theo hình 2.2. ta nhận thấy, các thiết bị đầu cuối kết nối đến mạng truy nhập (Access Network), sau đó kết nối đến các cổng truyền thông (Media Gateway) nằm ở biên của mạng trục. Thiết bị quan trọng nhất của NGN là Softswitch nằm ở tâm của mạng trục (hay còn gọi là mạng lõi). Softswitch điều khiển các chức năng chuyển mạch và định tuyến qua các giao thức. Hình 2.3. liệt kê chi tiết các thành phần NGN cùng với các đặc điểm kết nối của nó đến mạng công cộng (PSTN).

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

16

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 1.8. Các thành phần chính trong NGN Thiết bị Softswitch: Là thiết bị đầu não trong mạng NGN. Nó làm nhiệm vụ điều khiển cuộc gọi, báo hiệu và các tính năng để tạo một cuộc gọi trong mạng NGN hoặc xuyên qua nhiều mạng khác (PSTN, ISDN). Softswitch còn được gọi là Call Agent (vì chức năng điều khiển cuộc gọi của nó) hoặc Media Gateway Controller – MGC (vì chức năng điều khiển cổng truyền thông Media Gateway). Thiết bị Softswitch có khả năng tương tác với mạng PSTN thông qua các cổng báo hiệu (Signalling Gateway) và cổng truyền thông (Media Gateway). Softswitch điều khiển cuộc gọi thông qua các báo hiệu, có hai loại chính: − Ngang hàng (peer-to-peer): Giao thức giữa Softswitch và Softswitch, giao thức sử dụng là BICC hay SIP. − Điều khiển truyền thông: giao tiếp giữa Softswitch và Gateway, giao thức sử dụng là MGCP hay Megaco/H.248. Cổng truyền thông: Nhiệm vụ của cổng truyền thông (MG-Media Gateway) là chuyển đổi việc truyền thông từ một định dạng truyền dẫn này sang một định dạng khác, thông thường là từ dạng mạch (circuit) sang dạng gói (packet), hoặc từ dạng mạch analog/ISDN sang dạng gói. Việc chuyển đổi này được điều khiển bằng Softswitch. MG thực hiện việc mã hóa, giải mã và nén dữ liệu. MG cung cấp phương tiện truyền thông để truyền tải thoại, dữ liệu, fax và hình ảnh giữa mạng truyền thống PSTN và mạng IP. Cổng truy nhập: Cổng truy nhập (AG – Access Gateway) là một dạng của MG. Nó có khả năng giao tiếp với máy PC, thuê bao của mạng PSTN, xDSL và giao tiếp với mạng gói IP qua giao tiếp STM. Trong NGN, cổng truy nhập

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

17

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
được điều khiển từ Softswitch qua giao thức MGCP hay Megaco/H.248. Lúc này, lưu lượng thoại từ thuê bao sẽ được đóng gói và kết nối vào mạng trục IP. Cổng báo hiệu: Cổng báo hiệu (Signalling – Gateway – SG) đóng vai trò như cổng giao tiếp giữa mạng báo hiệu số 7 (SS7 – Signalling System 7, giao thức được dùng trong PSTN) và các điểm được quản lý bởi thiết bị Softswitch trong mạng IP. Lưu ý rằng SG chỉ điều khiển SS7, còn MG điều khiển các mạch thoại thiết lập bởi cơ chế SS7. Mạng trục IP: Mạng trục được thể hiện là mạng IP kết hợp công nghệ ATM hoặc MPLS. Vấn đề sử dụng ATM hay MPLS còn đang tách thành hai xu hướng. Các dịch vụ và ứng dụng trên NGN được quản lý và cung cấp bởi các máy chủ dịch vụ (server). Các máy chủ này hoạt động trong mạng thông minh (IN – Intelligent Network) và giao tiếp với mạng PSTN thông qua SS7.

Chương 2 TỔNG QUAN VỀ VoIP 2.1 Khái niệm VoIP : VoIP (viết tắt của Voice over Internet Protocol – nghĩa là “truyền giọng nói trên giao thức IP”) là truyền tiếng nói của con người (thoại) qua mạng thông tin sử dụng bộ giao thức TCP/IP

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

18

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 2.1: mã hóa âm thanh VoIP là một công nghệ mà cho phép tạo cuộc gọi dùng kết nối băng thông rộng thay vì dùng đường dây điện thoại tương tự (analog). VoIP cho phép thực hiện cuộc dùng máy tính qua mạng dữ liệu như Internet. VoIP chuyển đổi tín hiệu thoại từ điện thoại tương tự analog vào tín hiệu số (digital) trước khi truyền qua Internet, sau đó chuyển đổi ngược lại ở đấu nhận. Khi tạo một cuộc gọi VoIP dùng điện thoại với một bộ điều hợp, chúng ta sẽ nghe âm mời gọi, quay số sẽ xảy ra sau tiến trình này. VoIP có thể cũng sẽ cho phép tạo một cuộc gọi trực tiếp từ máy tính dùng loại điện thoại tương ứng hay dùng microphone. VoIP cho phép tạo cuộc gọi đường dài qua mạng dữ liệu IP có sẵn thay vì phải được truyền qua mạng PSTN.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

19

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 2.2 Mô hình truyền thoại qua IP Nguyên tắc của VoIP bao gồm việc số hóa tín hiệu tiếng nói, thực hiện việc nén tín hiệu số, chia nhỏ các gói nếu cần và truyền gói tin này qua mạng, tới nơi nhận các gói tin này được ráp lại theo đúng thứ tự của bản tin, giải mã tín hiệu tương tự phục hồi lại tiếng nói ban đầu. Để thực hiện việc này, điện thoại IP thường được tích hợp sẵn các nghi thức báo hiệu chuẩn như SIP hay H.323, kết nối tới một tổng đài IP ( IP PBX ) của doanh nghiệp hay của nhà cung cấp dịch vụ. Điện thoại IP có thể ở dạng như một điện thoại thông thường ( chỉ khác là thay vì nối với mạng điện thoại qua đường dây thì điện thoại IP nối trực tiếp vào mạng LAN qua cáp Ethernet ) hoặc phần mềm thoại (soft-phone) cài trên máy tính. Cấu trúc phân lớp của hệ thống VoIP phổ biến hiện nay được mô tả giống như cấu trúc phân lớp của mô hình TCP/IP và được biểu diễn như sau: H.323 RTP, RTCP, RSVP TCP, UDP

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

IPv4, IPv6

20

Network, Access

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 2.3 cấu trúc phân lớp của hệ thống VoIP 2.2 Đặc điểm của điện thoại IP và mạng VoIP:

Giảm chi phí cuộc gọi: Ưu điểm nổi bật của điện thoại IP so với dịch vụ điện thoại hiện tại là khả năng cung cấp những cuộc gọi đường dài giá rẻ với chất lượng chấp nhận được.

• •

Tích hợp mạng thoại, mạng số liệu và mạng báo hiệu: Trong điện thoại IP, Khả năng mở rộng: Nếu như các hệ tổng đài thường là những hệ thống kín,

tín hiệu thoại, số liệu và ngay cả báo hiệu đều có thể đi trên cùng một mạng IP. thì rất khó để thêm vào đó những tính năng thì các thiết bị trong mạng Internet thường có khả năng thêm vào những tính năng mới. Chính tính mềm dẻo đó mang lại cho dịch vụ điện thoại IP khả năng mở rộng dễ dàng hơn so với điện thoại truyền thống.

Không cần thông tin điều khiển để thiết lập kênh truyền vật lý: Gói thông tin

trong mạng IP truyền đến đích mà không cần một sự thiết lập kênh nào. Gói tin chỉ cần mang địa chỉ của nơi nhận cuối cùng là thông tin đó có thể đến được đích.

Quản lý băng thông: Trong điện thoại chuyển mạch kênh tài nguyên băng

thông cung cấp cho một cuộc thoại là cố định, nhưng trong điện thoại IP việc phân chia tài nguyên cho các cuộc thoại linh hoạt hơn nhiều.

Nhiều tính năng dịch vụ: Cho biết thông tin về người gọi tới hay một thuê

bao điện thoại IP có thể có nhiều số liên lạc mà chỉ cần một thiết bị đầu cuối duy nhất.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

21

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Khả năng multimedia: Trong một cuộc gọi người sử dụng có thể vừa nói

chuyện vừa sử dụng các dịch vụ khác như truyền file, chia sẻ dữ liệu, xem hình ảnh của người nói chuyện bên kia…. Tuy nhiên công nghệ IP cũng có những hạn chế như:

Kỹ thuật phức tạp: Để có được một dịch vụ thoại chấp nhận được cần phải có

một kỹ thuật nén tín hiệu đạt được những yêu cầu khắt khe như: tỉ số nén lớn, tốc độ xử lý của các bộ Codec (Coder and Decoder-bộ mã hóa và giải mã) phải đủ nhanh. Đồng thời cơ sở hạ tầng của mạng cũng cần được nâng cấp lên các công nghệ mới để có tốc độ cao hơn và có cơ chế thực hiện chức năng QoS (Quality of Service-chất lượng dịch vụ).

Vấn đề bảo mật: Mạng Internet là mạng có tính rộng khắp và hỗn hợp, trong

đó có rất nhiều loại máy tính khác nhau, các dịch vụ khác nhau cùng sử dụng chung một cơ sở hạ tầng.

Ngoài ra: VoIP có thể gặp những vấn đề như không thể sử dụng được dịch

vụ khi cúp điện, không thể kết nối đến các dịch vụ khẩn như: cấp cứu, báo cháy...

∗ ) Ứng dụng của VoIP:
+ Internet Telephone: là thiết bị giống như điện thoại thông thường nhưng có thể kết nối vào mạng máy tính đồng thời có thể hỗ trợ hoặc không hỗ trợ kết nối vào mạng điện thoại công cộng PSTN. Internet Telephone còn có khả năng truyền và nhận tín hiệu âm thanh trực tiếp từ các mạng số liệu. + Gateway IP – PSTN: Để có thể sử dụng mạng VoIP với mạng điện thoại công cộng PSTN thì gateway IP – PSTN là một cổng kết nối cho phép trao đổi các thông tin trên hai mạng. Gateway có thể trực tiếp hai mạng nói trên hoặc có thể sử dụng kết hợp với các PBX. Gateway IP – PSTN có hai giao diện chính đó là: giao diện với mạng PSTN và giao diện với mạng Internet. + Các ứng dụng mở rộng: Trên cơ sở gateway IP – PSTN, chúng ta có thể phát triển thiết kế gateway IP – mobile để có thể trực tiếp trao đổi thông tin giữa mạng di động với mạng Internet. Ngoài ra có thể phát triển các ứng dụng VoIP như truyền hình hội thảo hay điện thoại có hình.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

22

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
2.3 Các hình thức truyền thoại qua IP 2.3.1 Mô hình PC to PC Trong mô hình này, mỗi máy tính cần được trang bị một sound card, một microphone, một speraker và được kết nối trực tiếp với mạng Internet thông qua modem hoặc card mạng. Mỗi máy tính được cung cấp một địa chỉ IP và hai máy tính, vậy là đã có thể trao đổi tín hiệu thoại với nhau thông qua mạng Internet. 2.3.2 Mô hình PC to phone Mô hình PC to phone là một mô hình được cái tiến hơn so với mô hình PC to PC. Mô hình này cho phép người sử dụng máy tính có thể thực hiện cuộc gọi đến mạng PSTN thông thường và ngược lại. 2.3.3Mô hình phone to phone Đây là mô hình mở rộng của mô hình PC to phone, sử dụng Internet làm phương tiện liên lạc giữa các mạng PSTN. 2.4 Cơ chế làm việc của VoIP: Khi nói vào ống nghe hay microphone, giọng nói sẽ tạo ra tín hiệu điện từ, đó là những tín hiệu analog. Tín hiệu analog được chuyển sang tín hiệu số dùng thuật toán đặc biệt để chuyển đổi. 2.4.1 Số hóa tín hiệu Analog: Biểu diễn tín hiệu tương tự thành dạng số là công việc khó khăn. Vì bản thân dạng âm thanh như giọng nói con người ở dạng analog do đó cần một số lượng lớn các giá trị digital để biểu diễn biên độ, tần sốvà pha, chuyển đổi những giá trị đó thành dạng số nhị phân là rất khó khăn. Cần thiết cần có cơ chế dùng để thực hiện sự chuyển đổi này và kết quả của sự phát triển này là sự ra đời của những thiết bị được gọi là codec hay là thiết bị mã hóa và giải mã.
2.4.2

Lấy mẫu (Sampling):

Tín hiệu âm thanh trên mạng điện thoại có phổ năng lượng đạt đến 10Khz. Tuy nhiên, hầu hết năng lượng đều tập trung ở phần thấp hơn trong dải này. Do đó để tiết kiệm băng thông trong các hệ thống truyền được ghép kênh theo FDM và cả TDM. Các

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

23

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
kênh điện thoại thường giới hạn băng tần trong khoảng từ 300 đến 3400Hz. Tuy nhiên trong thực tế sẽ có một ít năng lương nhiễu được chuyển qua dưới dạng các tần số cao hơn tần số hiệu dụng 3400Hz. Vì thế phổ tẩn số có thể được mở rộng đến 4Khz.
2.4.3

Lượng tử hoá (Quantization):

Tiến trình kế tiếp của số hóa tín hiệu tuần tự là biểu diễn giá trị chính xác cho mỗi mẫu được lấy. Mỗi mẫu có thể được gán cho một giá trị số, tương ứng với biên độ (theo chiều cao) của mẫu. Sau khi thực hiện giới hạn đầu tiên đối với biên độ tương ứng với dải mẫu, đến lượt mỗi mẫu sẽ được so sánh với một tập hợp các mức lượng tử và gán vào một mức xấp xỉ với nó. Qui định rằng tất cả các mẫu trong cùng khoảng giữa hai mức lượng tử được xem có cùng giá trị. Sau đó giá trị gán được dùng trong hệ thống truyền. Sự phục hồi hình dạng tín hiệu ban đầu đòi hỏi thực hiện theo hướng ngược lại.
2.4.4

Mã hóa (Encoding):

Mỗi mức lượng tử được chỉ định một giá trị số 8 bit, kết hợp 8 bit có 256 mức hay giá trị. Qui ước bit đầu tiên dùng để đánh dấu giá trị âm hoặc dương cho mẫu. Bảy bít còn lại biểu diễn cho độ lớn; bit đầu tiên chỉ nửa trên hay nửa dưới của dãy, bit thứ hai chỉ phần tư trên hay dưới, bit thứ 3 chỉ phần tám trên hay dưới và cứ thế tiếp tục. Ba bước tiến trình này sẽ lặp lại 8000 lần mỗi giây cho dịch vụ kênh điện thoại. Dùng bước thứ tư là tùy chọn để nén hay tiết kiệm băng thông. Với tùy chọn này thì một kênh có thể mang nhiều cuộc gọi đồng thời.
2.4.5

Nén giọng nói(Voice Compression):

Mặc dù kĩ thuật mã hóa PCM 64 Kps hiện hành là phương pháp được chuẩn hóa, nhưng có vài phương pháp mã hóa khác được sử dụng trong những ứng dụng đặc biệt. Các phương pháp này thực hiện mã hóa tiếng nói với tốc độ nhỏ hơn tốc độ của PCM, nhờ đó tận dụng được khả năng của hệ thống truyền dẫn số. Chắc hẳn, các mã hóa tốc độ thấp này sẽ bị hạn chế về chất lượng, đặt biệt là nhiễu và méo tần số.
2.4.6

Packetizing voice:

Mỗi khi giọng nói đã được số hoá và được nén lại, nó phải được chia thành những phần nhỏ, để đặt vào gói IP, VoIP thì không hiệu quả cho những gói tin nhỏ, trong khi những gói tin lớn thì tạo ra nhiều độ trễ, do ảnh hưởng của vài loại

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

24

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
header mà kích thước của dữ liệu thoại (voice data ) cũng sẽ ảnh hưởng. Số lượng dữ liệu thoại bên trong gói tin cần cân bằng giữa sự hiệu quả trong sử dụng băng thông và chất lượng của cuộc thoại. 2.5 Các vấn đề chất lượng của VoIP: Đòi hỏi cơ bản nhất của hệ thống VoIP là phải có chất lượng thoại tương đương với chất lượng thoại trong mạng PSTN. Có 3 tham số chính quyết định chất lượng thoại đó là : trễ, trượt và mất gói.

Chất lượng như nói chuyện trực tiếp Chất lượng điện thoại Có thể hiểu được ý nhưng chất lượng chưa tốt lắm Không hiểu hết từ nhưng hiểu ý của người nói Không hiểu được từ và ý của người nói Hình 2.4 Các mức độ đánh giá chất lượng thoại • Trễ (Delay): Trễ là một nhân tố ảnh hưởng nhiều đến chất lượng thoại, thời gian trễ lớn làm giảm chất lượng thoại rất nhiều. Thời gian trễ được phân chia thành 2 loại là thời gian trễ cố định (như thời gian trễ truyền dẫn) và trễ biến đổi (như thời gian trễ do xếp hàng đợi ở router). Yêu cầu giảm trễ là rất cần thiết trong hệ thống VoIP để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ. • Trượt (Jitter): Trượt là sự chênh lệch về thời gian đến của các gói trong mạng gây ra do sự chênh lệch thời gian truyền dẫn của các gói thoại theo các đường khác nhau từ nguồn đến

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

25

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
đích. Để có thể tái tạo tiếng nói một cách chính xác trung thực thì bên bên thu cần phải loại bỏ Jitter. Phương pháp được sử dụng để loại bỏ Jitter hiện đang được sử dụng là dùng bộ đệm • Mất gói (packet loss): Mạng Internet không thể đảm bảo rằng tất cả các gói tin đều được chuyển giao. Yêu cầu tỉ lệ mất gói là nhỏ hơn 10%. Để duy trì chất lượng thoại ở múc chấp nhận được mặc dù không thể tránh khỏi các nguyên nhân bất thường trong mạng, một số kỹ thuật đã được đưa ra. Đó là kỹ thuật thay thế các gói tin mất bằng những khoảng im lặng.

CHƯƠNG 3 KIẾN TRÚC HỆ THỐNG VoIP 3.1.1 Kiến trúc và các giao diện của mạng VoIP : 3.1.1 Kiến trúc của mạng VoIP : Theo tiêu chuẩn của tổ chức ETSI, cấu hình chuẩn của mạng VoIP có thể gồm các phần sau:

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

26

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Thiết bị đầu cuối kết nối với mạng IP. Mạng xương sống, mạng truy nhập Ip. Gateway điều khiển phương tiện. Gateway phương tiện. Gateway báo hiệu. Gatekeeper (GK). Mạng chuyển mạch (SCN). Thiết bị đầu cuối kết nối với mạng điện thoại SCN. Các dịch vụ đầu cuối (Back-end service).

3.2 -

Các thành phần của mạng VoIP: 3.2.1 Thiết bị đầu cuối: Một thiết bị đầu cuối là một nút trong cấu hình chuẩn của mạng VoIP. Một thiết bị đầu cuối có thể cho phép một thuê bao trong mạng IP thực hiện một cuộc gọi tới một thuê bao khác trong mạng chuyển mạch. Các cuộc gọi sẽ được nằm dưới sự giám sát của Gk của thiết bị đầu cuối mà thuê bao đã được đăng ký.

3.2.2

Mạng truy nhập IP:

Mạng truy nhập IP cho phép thiết bị đầu cuối, gateway, gatekeeper truy nhập vào mạng IP thông qua cơ sở hạ tầng sẵn có. Một vài loại giao diện chuẩn truy nhập IP được sử dụng trong cấu hình chuẩn của mạng VoIP là: Truy nhập PSTN Truy nhập ISDN Truy nhập LAN Truy nhập cáp, DSL Truy nhập GSM

Trên đây không phải là tất cả các giao diện truy nhập IP, bởi còn một vài loại khác đang được nghiên cứu để sử dụng trong mạng VoIP. Đăc điểm của các giao diện này có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng và tính bảo mật của cuộc gọi VoIP.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

27

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
3.2.3 Gatekeeper: 3.2.4 Gatekeeper là phần tử mạng chịu trách nhiệm quản lý việc đăng ký Gateway: chấp nhận trạng thái của các thiết bị đầu cuối và gateway. Một gateway có thể kết nối vật lý một hoặc nhiều mạng IP với một hoặc nhiều mạng SCN. Một gateway có thể bao gồm: gateway báo hiệu, gateway điều khiển phương tiện và gateway phương tiện. Một hay một số chức năng này có thể thực hiện bởi GK hoặc một GW khác. 3.3 Giao thức báo hiệu H.323: Giao thức H.323 là chuẩn do ITU-T phát triển cho phép truyền thông đa phương tiện qua các hệ thống dựa trên mạng chuyển mạch gói (ví dụ như Internet). H.323 cung cấp nền tảng kĩ thuật cho truyền thoại, hình ảnh, số liệu một cách đồng thời qua mạng IP, giải quyết các ứng dụng cốt lõi của điện thoại IP. H323 bao gồm cả chức năng điều khiển cuộc gọi, quản lý thông tin đa phương tiện, quản lí băng thông, cung cấp giao diện giữa mạng LAN và các mạng khác.

Hình 3.1 cấu trúc H.323

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

28

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 3.1 sơ đồ khối thiết bị đầu cuối H.323 3.3.1 Giao thức RAS (Registration Admission and Status): Các bản tin RAS được dùng để trao đổi giữa các đầu cuối và các Gatekeeper cho các chức năng như tìm Gatekeeper, đăng kí, quản lí băng thông… Kênh báo hiệu RAS được tải đi trong gói tin UDP mang thông điệp dùng trong quá trình tìm Gatekeeper và đăng ký. 3.3.2 Giao thức báo hiệu cuộc gọi H225 (Q.931): H225 được dùng để thiết lập liên kết giữa các điểm cuối H323 ( đầu cuối, gateway ), qua liên kết đó dữ liệu thời gian thực sẽ được truyền đi. Do yêu cầu tin cậy nên các thông báo của H225 sẽ được truyền đi trong gói tin TCP. 3.3.3 Giao thức vận chuyển thời gian thực RTP/RTCP: • RTP: Là một thủ tục dựa trên kĩ thuật IP tạo ra các hỗ trợ truyền tải các dữ liệu yêu cầu thời gian thực. RTP được coi như một giao thức truyền từ đầu cuối đến đầu cuối (end to end) phục vụ truyền dữ liệu thời gian thực như audio và video.

• RTCP:
RTCP là giao thức hỗ trợ cho RTP, giám sát chất lượng của quá trình phân phối dữ liệu và cung cấp thông tin phản hồi về chất lượng truyền dữ liệu. 3.3.4 Giao thức giữ trước tài nguyên (RSVP):

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

29

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Giao thức RSVP được sử dụng như một giao thức báo hiệu hỗ trợ cho RTP, mục đích của RSVP là cung cấp một cơ chế đảm bảo băng thông cho các hoạt động của các ứng dụng.
3.3.5 Hoạt động của H.323:

Hình 3.2 mô tả hoạt động của H.323

• Hoạt động phát hiện gatekeeper:
Là hoạt động bắt buộc đối với mỗi điểm cuối khi nó đăng nhập mạng. Đầu cuối gửi bản tin yêu cầu gatekeeper (GRQ), gatekeeper đáp ứng lại với bản tin xác nhận (RCF), nếu Gatekeeper chọn không làm Gatekeeper cho điểm cuối sẽ gửi bản tin GRJ.

• Hoạt động đăng ký với gatekeeper:
Khi hoạt động phát hiện gatekeeper xảy ra, tiến trình đăng ký bắt đầu. Hoạt động này định nghĩa một điểm cuối tham gia vào một vùng như thế nào và cung cấp cho Gatekeeper số cổng và địa chỉ của nó.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

30

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 3.3 tiến trình đăng ký với gatekeeper

• Thiết lập kênh media:
Kênh điểu khiển H.245 được thiết lập giữa gateway A và gateway B, Gateway A sử dụng H.245 để đưa ra khả năng của nó bằng cách gửi bản tin Terminal Capability Set đến Gateway B.

Hình 3.4 tiến trình thiết lập kênh media

• Hoạt động thay đổi băng thông:
Các điểm cuối (hoặc Gateway) cũng có thề yêu cầu thay đổi băng thông. Gatekeeper phải quản lý các yêu cầu thay đổi băng thông này (tăng hoặc giảm).

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

31

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 3.5 Tiến trình thay đổi băng thông

• Thiết lập cuộc gọi Gatekeeper nội vùng:

Hình 3.6 tiến trình thiết lập cuộc gọi nội vùng 1: • Thiết lập cuộc gọi gatekeeper liên vùng: Khác với nội vùng là có sự liên kết giữa hai Gatekeeper trên mạng để thiết lập cuộc gọi cho hai thuê bao đầu cuối.

Hình 3.7 thiết lập cuộc gọi liên vùng

• Ngắt kết nối giữa hai đầu cuối H.323 liên vùng:

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

32

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 3.8 tiến trình ngắt kết nối liên vùng 3.4 Giao thức báo hiệu SIP: SIP là giao thức điều khiển báo hiệu thuộc lớp ứng dụng, được phát triển như là một chuẩn mở RFC 2543 của IEFT. Khác với H.323, nó dựa trên nguồn gốc Web (HTTP) và có thiết kế kiểu modul, đơn giản và dễ dàng mở rộng với các ứng dụng thoại SIP. SIP là một giao thức báo hiệu để thiết lập, duy trì và kết thúc các phiên đa phương tiện như: thoại IP, hội nghị và các ứng dụng tương tự khác liên quan đến việc truyền thông tin đa phương tiện. 3.4.1 Các thành phần của SIP:

Hình 3.9 cấu trúc của SIP Giao thức SIP gồm hai thành phần: đại lý trạm của người sử dụng (user agent) và máy chủ mạng (network server). User agent là một ứng dụng kết cuối hệ thống mà nó bao gồm cả user agent client (UAC) khởi tạo cuộc gọi và user agent server (UAS) nó sẽ trả lời cuộc gọi. Cả UCA và UAS đều có thể kết thúc cuộc gọi. 3.4.2 Các bản tin trong giao thức SIP và phản hồi:

• Các bản tin:
SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B
33

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
INVITE: Khi một UAC muốn khởi tạo một phiên mới như: video, audio hay

game thì nó sẽ tạo ra một bản tin INVITE. Bản tin này gửi yêu cầu về server cho phép thiết lập một phiên làm việc. Bản tin này có thể được gửi qua các proxy, các UAS. Các UAS sẽ kiểm tra thường xuyên xem người sử dụng có đồng ý lời mời không. Nếu đồng ý (nghĩa là phiên làm việc được thiết lập) thì các UAS sẽ gửi bản tin phản hồi 2xx về. Còn nếu lời mời không dược chấp nhận thì phản hồi 3xx, 4xx, 5xx hay 6xx sẽ được gửi đi tùy theo lý do từ chối. Trước khi gửi tín hiệu phản hồi cuối cùng này, UAS còn gửi kèm một bản tin 1xx để thông báo UAC tiếp tục giữ quá trình liên lạc với người được gọi. ACK: bản tin này khẳng định máy trạm đã nhận được bản tin trả lời bản tin INVITE. SIP thực thi quá trình bắt tay qua ba bước: Phía gọi gửi bản tin INVITE; Phía được gọi gửi bản tin ACK chấp nhận yêu cầu; Phía gọi gửi bản tin ACK để thông báo quá trình bắt tay đã hoàn tất và quá trình thiết lập cuộc gọi bắt đầu. Cho dù bản tin INVITE đầu tiên bao gồm gói tin SDP (Session Description Protocol) hay không thì bản tin ACK đầu tiên sẽ có SDP của phía được gọi. Các bản tin ACK khác được gửi đi để kết thúc quá trình bắt tay và bao gồm SDP cần để thiết lập cuộc gọi. BYE: Được sử dụng để kết thúc một phiên làm việc cụ thể hoặc một phiên làm CANCEL: Giống như tên gọi, bản tin CANCEL được sử dụng để hủy yêu cầu việc tạm thời. trước đó được gửi từ phía cilent. Nó yêu cầu UAS tạm dừng xử lý yêu cầu và tạo ra một phản hồi lỗi cho yêu cầu đó. Bản tin này sẽ không có tác dụng đối với yêu cầu mà UAS gửi đi phản hồi cuối cùng.Vì vậy bản tin này sẽ rất có ích đối với những yêu cầu mà server mất nhiều thời gian để phản hồi. Do đó, bản tin CANCEL thích hợp nhất với bản tin INVITE, là bản tin mất nhiều thời gian để phản hồi. REGISTER: Bản tin này sử dụng để đăng ký UA với UAS. OPTIONS: Bản tin này cho phép một UA xác định khả năng có thể của Proxy Ngoài ra còn một số giao thức khác nữa được sử dụng như: INFO, NOTIFY,

Server hay UA khác. SUBCRIBE, UNSUBCRIBE, UPDATE, MESSAGE, REFER…

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

34

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

• Các phản hồi:
cầu. 4xx (CLIENT ERORR): thông báo yêu cầu chứa cấu trúc sai hoặc không được 5xx (SERVER ERORR): thông báo server không thể đáp ứng được yêu cầu có đáp ứng ở server. cấu trúc hợp lệ. - 6xx (GLOBAL FAILURE): thông báo yêu cầu không thể xử lý được ở bất cứ server nào. 3.4.3Các bước thiết lập, duy trì và hủy cuộc gọi: 3.4.4 Đăng ký, khởi tạo và xác định vị trí người dùng. Xác định băng thông cần thiết được sử dụng. Xác định sự sẵn sàng của phía được gọi, phía được gọi phải gửi một bản tin phản Cuộc gọi được thiết lập. Chỉnh sửa cuộc gọi (chuyển cuộc gọi và duy trì). Kết thúc cuộc gọi. Hoạt động của SIP: +) User : tên người dùng hoặc số điện thoại. +) Host: tên miền hoặc địa chỉ mạng. Mỗi địa chỉ SIP là duy nhất. • Mô tả cuộc gọi SIP: +) Hoạt động của máy chủ ủy quyền (proxy server): Cuộc gọi SIP được định tuyến qua Proxy server. 1xx ( PROVISIONAL): phản hồi tạm thời, cho biết đã nhận được yêu cầu , tiếp 2xx (SUCCESS): thông báo đã nhận được đầy đủ, hiểu và chấp nhận. 3xx (REDIRECTION): thông báo cần có các bản tin khác để hoàn thành yêu tục quá trình yêu cầu.

hồi thể hiện cuộc gọi (chấp nhận hay từ chối).

• Địa chỉ SIP tồn tại dưới dạng user@host. Trong đó:

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

35

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 3.10 thiết lập cuộc gọi qua Proxy server +) Hoạt động của máy chủ chuyển đổi địa chỉ (Redirect Server):

Hình 3.11 thiết lập cuộc gọi qua Redirect Server 3.5 So sánh giao thức SIP và H.323: H.323 được xây dựng nhằm tạo ra một hệ thống hoàn chỉnh, không những hoạt động tốt trong vấn đề truyền tiếng nói qua mạng IP mà còn có khả năng kế thừa và tương thích tốt với các hệ thống trước đây So sánh cụ thể như sau:

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

36

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
SIP IETF Ngang cấp Kế thừa cấu trúc HTTP SIP Proxy Server Redirect Server Location Serve Khuôn dạng Trễ thiết lập cuộc gọi Giám sát trạng thái cuộc gọi Registrar Server Text, UTF-8 1.5 RTT Có hai lựa chọn: - trong thời gian thiết lập cuộc gọi. - suốt thời gian cuộc gọi. Báo hiệu quảng bá Sử dụng các giao thức khác Chất lượng dịch vụ như: RSVP, OPS, OST để đảm bảo chất lượng dịch vụ Đăng ký tại Registrar server Bảo mật có xác nhận đầu cuối và mã Getaekeeper điều khiển băng thông. H.323 khuyến nghị dùng RSVP để lưu dữ tài nguyên mạng. Chỉ đăng ký khi trong mạng có gatekeeper, xác nhận và mã hóa theo tiêu chuẩn H.232 Định vị đầu cuối sử dụng E.164 hoặc tên ảo H.323 và phương Định vị đầu cuối và định tuyến cuộc gọi Dùng SIP-URL để đánh địa chỉ. Định tuyến nhờ sử dụng Redirect và Location Server pháp ánh xạ địa chỉ nếu trong mạng có gatekeeper. Chức năng định tuyến do gatekeeper đảm nhiệm. Được thiết kế nhằm hỗ trợ Có hỗ trợ Nhị phân 6.7 RTT hoặc hơn Máy chủ phải giám sát trong suốt thời gian cuộc gọi và phải giữ trạng thái kết nối TCP. Điều này hạn chế khả năng mở rộng và giảm độ tin cậy. Không H.323 ITU-T Ngang cấp Kế thừa Q.931, Q.SIG H.323 H.323 Gatekeeper

Nguồn gốc Quan hệ mạng Khởi điểm Đầu cuối Server

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

37

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Hỗ trợ các tính năng của Tính năng thoại cuộc gọi cơ bản rất nhiều tính năng hội nghị, kể cả thoại, hình ảnh và dữ liệu, quản lý tập trung nên có thể gây Tạo tính năng và dịch vụ mới Khả năng mở rộng 3.6 Giao thức SGCP (Simple Gateway Control Protocol): Giao thức này cho phép các thành phần điều khiển cuộc gọi, có thể điều khiển kết nối giữa trung kế, các thiết bị đầu cuối với các gateway. Các thành phần điều khiển được gọi là call Agent. SGCP được sử dụng để thiết lập, duy trì và giải phóng các cuộc gọi qua mạng IP. Call Agent thực hiện các chức năng báo hiệu cuộc gọi và gateway thực hiện chức năng truyền tín hiệu âm thanh. SGCP cung cấp 5 lệnh điều khiển chính như sau: Notification Request: yêu cầu gateway phát các tín hiệu nhấc đặt máy và các tín Notifi: gateway sử dụng lệnh này để thông báo với call Agent về các tín hiệu Create Connection: Call Agent yêu cầu khởi tạo két nối giữa các đầu liên lạc Modify Connection: Call Agent dùng lệnh này để thay đổi các thông số về kết hiệu quay số DTMF. được phát ở trên. trong GW. nối đã được thiết lập. Lệnh này cũng có thể dùng để điều khiển luồng cho các gói tin RTP đi từ GW này sang GW khác. Delete Connection: Call Agent sử dụng lệnh này để giải phóng các kết nối đã Năm lệnh trên đây điều khiển GW và thông báo cho call agent về sự kiện xảy ra. Mỗi lệnh hay yêu cầu bao gồm các thông số cụ thể cần thiết để thực thi các phiên làm việc. được thiết lập. Dễ dàng, sử dụng SIP-CGI và CPL Dễ dàng tắc nghẽn ở gatekeeper. H.450.1 Hạn chế

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

38

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
3.7 Giao thức MGCP: Giao thức MGCP cho phép điều khiển lệnh các Gw thoong qua các thành phần điều khiển nằm bên ngoài mạng. MGCP sử dụng mô hình kết nối tương tự như SGCP dựa trên các kết nối cở bản giữa thiết hị đầu cuối và GW. Các kết nối có thể là kết nối điểmđiểm hoặc kết nối đa điểm. Ngoài chức năng điều khiển như SGCP, MGCP còn cung cấp thêm các chức năng sau: Endpoint Configuration: Call Agent dùng lệnh này để yêu cầu GW xác định kiểu Auditendpoint và Auditconnection: Call Agent dùng lệnh này để kiểm tra trạng Restartin-progress: GW dùng lệnh này để thông báo với Call Agent khi nào các mã hóa ở phía đường dây kết nối đến thiết bị đầu cuối. thái và sự kết nối ở thiết bị đầu cuối. thiết bị đầu cuối ngừng sử dụng dịch vụ và khi nào quay lại sử dụng dịch vụ.

CHƯƠNG 4 TỔNG QUAN ĐỊA CHỈ IPv6 4.1 Sự ra đời của IPv6: 4.1.1 Sự cạn kiệt của địa chỉ IPv4: Những thập kỷ vừa qua, do tốc độ phát triển mạnh mẽ của Internet, không gian địa chỉ IPv4 đã được sử dụng trên 60%. Những tổ chức quản lý địa chỉ quốc tế đặt mục tiêu sử dụng hiệu quả lên hàng đầu. Những công nghệ góp phần giảm nhu cầu địa chỉ IP như NAT (công nghệ biên dịch để có thể sử dụng địa chỉ IP private), DHCP (cấp địa chỉ tạm thời) được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu tăng địa chỉ rất lớn: Những dạng dịch vụ mới đòi hỏi không gian địa chỉ IP cố định (tỉ lệ địa chỉ/khách hàng là 1:1) và kết nối dạng đầu cuối – đầu cuối: dịch vụ DSL, cung cấp dịch vụ Internet qua đường cáp truyền hình, việc phát triển các mạng giáo dục, game trực

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

39

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
tuyến, thiết bị di động tham gia vào mạng Internet, truyền tải thoại, audio, video trên mạng. 4.1.2 Hạn chế về công nghệ và nhược điểm của IPv4: IPv4 hỗ trợ trường địa chỉ 32 bit, IPv4 ngày nay hầu như không còn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của mạng Internet. Hai vấn đề lớn mà IPv4 đang phải đối mặt là việc thiếu hụt các địa chỉ, đặc biệt là các không gian địa chỉ tầm trung (lớp B) và việc phát triển về kích thước rất nguy hiểm của các bảng định tuyến trong Internet. Để giảm nhu cầu tiêu dùng địa chỉ, hoạt động mạng IPv4 sử dụng phổ biến công nghệ biên dịch NAT. Mô hình sử dụng NAT của địa chỉ IPv4 có một vài nhược điểm như: Không có kết nối điểm - điểm và gây trễ ; Việc gói tin không được giữ nguyên tình trạng từ nguồn tới đích, có những điểm trên đường truyền tải tại đó gói tin bị can thiệp, như vậy tồn tại những lỗ hổng về bảo mật. Bên cạnh những giới hạn đã nêu ở trên, mô hình này còn có một hạn chế nữa chính là sự thất thoát địa chỉ nếu sử dụng các lớp địa chỉ không hiệu quả. Mặc dù lượng địa chỉ IPv4 hiện nay có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng trên thế giới, nhưng cách thức phân bổ địa chỉ IPv4 không thực hiện được chuyện đó. Nguy cơ thiếu hụt địa chỉ IPv4 cùng những hạn chế của nó đưa ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu để đưa ra một giao thức Internet mới, khắc phục những hạn chế của giao thức IPv4 và đem lại những đặc tính mới cần thiết cho dịch vụ và cho hoạt động mạng thế hệ tiếp theo. IETF đã đưa ra quyết định thúc đẩy thay thế cho IPv4 là IPv6 giao thức địa chỉ Internet phiên bản 6 còn được gọi là giao thức IP thế hệ mới. Địa chỉ Internet phiên bản 6 có chiều dài gấp 4 lần so với phiên bản 4: 128 bit địa chỉ. 4.2 Sơ lược một số đặc điểm của IPv6: Khi phát triển phiên bản mới, IPv6 hoàn toàn dựa trên nền tảng IPv4. Nghĩa là tất cả những chức năng của IPv4 đều được tích hợp vào IPv6. Tuy nhiên, IPv6 cũng có một vài điểm khác biệt:

• Tăng kích thước của tầm địa chỉ: IPv6 sử dụng 128 bit địa chỉ trong khi IPv4 chỉ
sử dụng 32 bit; nghĩa là IPv6 có tới 2128 địa chỉ khác nhau; 3 bit đầu luôn là 001 được dành cho các địa chỉ khả định tuyến toàn cầu (Globally Routable Unicast –GRU).

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

40

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

• Tăng sự phân cấp địa chỉ: IPv6 chia địa chỉ thành một tập hợp các tầm xác định
hay boundary: 3 bit đầu cho phép biết được địa chỉ có thuộc địa chỉ khả định tuyến toàn cầu (GRU) hay không, giúp các thiết bị định tuyến có thể xử lý nhanh hơn. Top Level Aggregator (TLA) ID được sử dụng vì 2 mục đích: thứ nhất, nó được sử dụng để chỉ định một khối địa chỉ lớn mà từ đó các khối địa chỉ nhỏ hơn được tạo ra để cung cấp sự kết nối cho những địa chỉ nào muốn truy cập vào Internet; thứ hai, nó được sử dụng để phân biệt một đường (Route) đến từ đâu. Thứ hai, chúng ta cũng muốn cho phép các khách hàng nhận được đầy đủ bảng định tuyến nếu họ muốn, để tạo việc định tuyến theo chính sách, cân bằng tải...

• Đơn giản hóa việc đặt địa chỉ Host: IPv6 sử dụng 64 bit sau cho địa chỉ Host,
trong 64 bit đó có cả 48 bit là địa chỉ MAC của máy, do đó, phải đệm vào đó một số bit đã được định nghĩa trước mà các thiết bị định tuyến sẽ biết được những bit này trên subnet. Ngày nay, ta sử dụng chuỗi 0xFF và 0xFE (:FF:FE: trong IPv6) để đệm vào địa chỉ MAC.

• Địa chỉ Anycast: IPv6 định nghĩa một loại địa chỉ mới: địa chỉ Anycast. Một địa
chỉ Anycast là một địa chỉ IPv6 được gán cho một nhóm các máy có chung chức năng, mục đích. Khi packet được gửi cho một địa chỉ Anycast, việc định tuyến sẽ xác định thành viên nào của nhóm sẽ nhận được packet qua việc xác định máy gần nguồn nhất.

• Việc tự cấu hình địa chỉ đơn giản hơn: Một địa chỉ Multicast có thể được gán cho
nhiều máy, địa chỉ Anycast là các gói Anycast sẽ gửi cho đích gần nhất (một trong những máy có cùng địa chỉ) trong khi Multicast packet được gửi cho tất cả máy có chung địa chỉ (trong một nhóm Multicast).

• Header hợp lý: Header của IPv6 đơn giản và hợp lý hơn IPv4. IPv6 chỉ có 6
trường và 2 địa chỉ, trong khi IPv4 chứa 10 trường và 2 địa chỉ. IPv6 Header có dạng:

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

41

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Hình 4.1 định dạng IPv6 header

• Bảo mật: IPv6 tích hợp tính bảo mật vào trong kiến trúc của mình bằng cách giới
thiệu 2 Header mở rộng tùy chọn: Authentication Header (AH) và Encrypted Security Payload (ESP) Header. Hai Header này có thể được sử dụng chung hay riêng để hỗ trợ nhiều chức năng bảo mật.

• Tính di động: IPv6 hỗ trợ tốt các máy di động như laptop. IPv6 giới thiệu 4 khái
niệm giúp hỗ trợ tính toán di động gồm: Home address; Care-of address; Binding; Home agent. Trong IPv6 thì các máy di động được xác định bởi một địa chỉ Home address mà không cần biết hiện tại nó được gắn vào đâu. Khi một máy di động thay đổi từ một subnet này sang subnet khác; nó phải có một Care-of address qua một quá trình tự cấu hình. Sự kết hợp giữa Home address và Care-of address được gọi là một Binding. Khi một máy di động nhận được một Care-of address, nó sẽ báo cho Home agent của nó bằng gói tin được gọi là Binding update để Home agent có thể cập nhật lại Binding cách của Home agent về Care-of address của máy di động vừa gửi. Home agent sẽ duy trì một ánh xạ giữa các Home address và Care-of address và bỏ nó vào Binding cáche. Một máy di động có thể được truy cập bằng cách gửi một packet đến các Home address của nó.

• Hiệu suất: IPv6 cung cấp các lợi ích sau:
Giảm được thời gian xử lý Header, giảm Overhead vì chuyển dịch địa chỉ. Giảm được thời gian xử lý định tuyến:
42

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Tăng độ ổn định cho các đường: Giảm Broadcast: Multicast có giới hạn Không có checksum. 4.3.1 Cách viết địa chỉ IPv6: Địa chỉ IPv6 128 bit được chia thành 8 khối mỗi khối 16 bit, mỗi khối này được chuyển sang dạng số hexa 4 bit và được phân biệt với nhau bằng dấu hai chấm. Ví dụ : cho 1 địa chỉ IPv6 dưới dạng nhị phân như sau: 0010000111011010000000001101001100000000000000000010111100111011000000 1010101010000000001111111111111110001010001001110001011010 Địa chỉ này được chia ra thành các khối 16bit như sau: 0010000111011010 0000000011010011 0000000000000000 0010111100111011 0000001010101010 0000000011111111 1111111000101000 1001110001011010 Mỗi khối này được chuyển sang chữ số hexa và chia cách nhau bằng dấu hai chấm, kết quả là: 21DA:00D3:0000:2F3B:02AA:00FF:FE28:9C5A Việc viết địa chỉ IPv6 có thể đơn giản hóa bằng cách xóa bỏ 0 đứng đầu trong mỗi khối 16 bit. Tuy nhiên mỗi khối phải có ít nhất một số đơn. Trong ví dụ trên, địa chỉ trên được đơn giản hóa thành: 21DA:D3:0:2F3B:2AA:FF:FE28:9C5A 4.3.2 Prefix của IPv6: Prefix là một phần của địa chỉ IPv6, nó chỉ ra các bit có giá trị cố định hoặc là các bit đóng vai trò là ID của mạng. Các prefix cho định danh mạng con của IPv6, các tuyến, các vùng địa chỉ được biểu diễn như trong ký hiệu CIDR (classless Inter-Domain Routing) cho IPv4. Ví dụ 21DA::/48 cho một địa chỉ Prefix tuyến và 21DA:D3:0:2F3B::/64 cho 1 prefix mạng con. Trong đó IPv6 chỉ dùng prefix chứ không dùng mặt nạ mạng con như IPv4. 4.3.3 Các dạng địa chỉ IPv6:

4.3 Địa chỉ IPv6:

• Địa chỉ unicast: Một địa chỉ unicast xác định một giao diện đơn trong phạm vi của
loại địa chỉ unicast.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

43

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

• Địa chỉ multicast: Một địa chỉ multicast xác định nhiều giao diện. Với topo định
tuyến thích hợp thì các gói được đánh địa chỉ multicast sẽ được chuyển tới tất cả các giao diện mà được xác định bởi địa chỉ này. Một địa chỉ multicast được dùng trong truyền thông một-nhiều, được chuyển đến nhiều giao diện.

• Địa chỉ anycast: Một địa chỉ Anycast xác định nhiều giao diện. Với topology định
tuyến thích hợp thì các gói được đánh địa chỉ anycast được chuyển đến một giao diện đơn gần nhât được xác định bởi địa chỉ anycast này. Khái niệm giao diện gần nhất được xác định gần nhất trong giới hạn khoảng cách định tuyến. Địa chỉ anycast được dùng trong truyền thông 1-1 trong nhiều. 4.4 Hoạt động của địa chỉ Ipv6: 4.4.1 Phân giải địa chỉ: Trong địa chỉ Ipv4, quy trình này được đảm nhiệm bởi thủ tục ARP. Node cần phân giải địa chỉ sẽ gửi gói tin truy vấn tới địa chỉ đích là địa chỉ broad cast, tác động đến mọi node khác trên đường link. Trong địa chỉ của Ipv6, đây là một trong số những quy trình thủ tục Neighbor Discovery đảm nhiệm. Để phục vụ cho việc phân giải tương ứng địa chỉ lớp mạng và địa chỉ vật lý, các node IPv6 đều duy trì một bảng cache thông tin về các node lân cận gọi là “neighbor cache”. Trong hệ điều hành window, chúng ta có thể xem thông tin trong bảng này với lệnh “nesth>interface ipv6>show neighbors”. Khi một IPv6 node cần tìm địa chỉ lớp link – layer (ví dụ địa chỉ MAC trên đường link Ethernet) tương ứng với một địa chỉ unicast IPv6 nào đó, thay vì gửi gói tin truy vấn tới địa chỉ multicast mọi node phạm vi link (FF02::1) để tác động tới mọi node trên đường link tương đương địa chỉ broadcast trong IPv4, node đó chỉ gửi tới địa chỉ Multicast Solicited Node tương ứng địa chỉ unicast cần phân giải. Như chúng ta cũng biết, một node IPv6, khi được gắn một địa chỉ unicast, ngoài việc lắng nghe lưu lượng tại địa chỉ unicast đó, node IPv6 sẽ lập tức nghe và nhận lưu lượng của một dạng địa chỉ multicast tương ứng là Multicast Solicited Node tương ứng địa chỉ unicast này.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

44

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Như vậy, trong quá trình phân giải địa chỉ của IPv6, chỉ những node đang nghe lưu lượng tại địa chỉ MSN phù hợp mới nhận và xử lý gói tin. Điều này giảm thiểu việc tác động đến mọi node trên đường link, tăng hiệu quả hoạt động. Để thực hiện quy trình phân giải địa chỉ, hai node IPv6 trong một đường link trao đổi thông điệp Neighbor Solicitation và Neighbor Advertisement. Khi một node cần phân giải địa chỉ, nó gửi đi trên đường link thông điệp Neighbor Solicitation: - Địa chỉ nguồn: địa chỉ IPv6 của giao diện gửi gói tin. - Địa chỉ đích: địa chỉ IPv6 MSN tương ứng địa chỉ unicast cần phân giải địa chỉ. - Thông tin chứa trong phần dữ liệu có chứa địa chỉ lớp link- layer của nơi gửi (trong Option Source Link-layer Address) Trên đường link, node đang nghe lưu lượng tại địa chỉ MSN trùng với địa chỉ đích của gói tin sẽ nhận được thông tin. Nó thực hiện những hành đọng sau: - cập nhật địa chỉ lớp link-layer ( địa chỉ MAC trong trường hợp kết nối Ethernet) của nơi gửi vào bảng neighbor cache. - gửi thông điệp Neighbor Advertisement đáp trả tới địa chỉ đích là địa chỉ nguồn đã gửi gói tin, thông tin trong phần dữ liệu có lớp địa chỉ lớp link-layer của nó (chứa trong Option Target Link-Layer Address). Khi nhận được thông điệp Neighbor Advertisement, node cần phân giải địa chỉ sẽ sử dụng thông tin trong đó để thực hiện liên lạc đồng thời cập nhật thông tin vào bảng neighbor cache của mình. 4.4.2 Kiểm tra trùng lặp địa chỉ: Tự động cấu hình địa chỉ là một trong nhưng đặc tính nổi bật của thế hệ địa chỉ IPv6. Đặc tính này có được nhờ việc node IPv6 có khả năng tự cấu hình 64 bit định danh giao diện (Interface ID) từ địa chỉ của card mạng, hoặc nhận ID là một con số ngẫu nhiên. Do 64 bit định danh giao diện có thể là con số ngẫu nhiên, hoàn toàn có khả năng trên đường kết nối, địa chỉ IPv6 node dự định sử dụng đã được một node khác sử dụng rồi. Do vậy chúng cần một quy trình để kiểm tra sự trùng lặp địa chỉ trong đường link. Đó là quy trình DAD.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

45

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
DAD cũng sử dụng hai thông điệp ICMPv6 Neighbor Solicitation và Neighbor Advertisement. Tuy nhiên một số thông tin của gói tin này khác với gói tin sử dụng trong quá trình phân giải địa chỉ. Khi một node cần kiểm tra trùng lặp địa chỉ, nó gửi gói tin Neighbor Solicitation: - Địa chỉ IPv6 nguồn: là địa chỉ unspeccified “::”. Điều này sẽ hiểu, địa chỉ dự định được gắn cho giao diện sẽ chưa thể được sử dụng chừng nào chưa kiểm tra là không có sự trùng lặp. - Gói tin Neighbor Solicitation sẽ chứa địa chỉ IPv6 đang được kiểm tra trùng lặp. Sau khi gửi NS, node sẽ đợi, nếu không có phản hồi thì có nghĩa là địa chỉ này chưa được sử dụng, còn nếu địa chỉ này đã được mọt node nào đó sử dụng rồi , node này sẽ gửi thông điệp Neighbor Advertisement đáp trả: - Địa chỉ nguồn: Địa chỉ IPv6 node giao diện gửi gói tin - Địa chỉ đích: Địa chỉ IPv6 multicast mọi node phạm vi link (FF02::1) - Gói tin sẽ chứa đại chỉ bị trùng lặp Nếu node đang kiểm tra địa chỉ trùng lặp nhận được thông điệp RA phản hồi lại RS mình đã gửi, nó sẽ hủy bỏ việc sử dụng địa chỉ này. 4.4.3 Kiểm tra tính có thể đạt tới của node lân cận: Thông điệp Neighbor Solicitation và Neighbor Advertisement được sử dụng trong quá trình phân giải địa chỉ, kiểm tra trùng lặp địa chỉ cũng được sử dụng cho những mục đích khác như: quá trình kiểm tra tính có thể đạt tới của một node lân cận. Các IPv6 node duy trì bảng thông tin về các neighbor của mình gọi là neighbor cache, và sẽ cập nhật bảng này khi có sự thay đổi tình trạng mạng. Bnagr này lưu thông tin đối với cả router và host. Biết được node lân cận có thể đạt tới hay không rất quan trọng đối với một node vì nó sẽ điều chỉnh cách thức cư xử của mình theo kết quả nhận được, Ví dụ nếu biết một node lân cận không đạt tới được, host sẽ ngừng gửi gói tin, biết một router đang không thể đạt tới được, host có thể thực hiện quy trình tìm kiếm một router khác. Nếu một host muốn kiểm tra tình trạng có thể nhận gói tin của node lân cận, nó gửi thông điệp Neighbor Solicitation. Nếu nhận được Neighbor Advertisement phúc đáp,

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

46

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
nó biết tình trạng của node lân cận là đạt tới được và cập nhật bảng neighbor cache tương ứng. Tất nhiên tình trạng này chỉ được coi là tạm thời và có một khoảng thời gian dành cho nó, trước khi node cần thực hiện kiểm tra lại trạng thái neighbor. Khoảng thời gian quy định này cũng như một số các tham số hoạt động khác host sẽ nhận được từ thông tin quảng bá Router Adertisement của router trên đường kết nối. 4.4.4 Tìm kiếm router: Đối với hoạt động của địa hcir IPv6, sự trao đổi giữa các host với nhau, giữa host với router là rất quan trọng. Trong mạng router là thiết bị đảm nhiệm việc chuyển tiếp lưu lượng củ các host từ mạng này sang mạng khác. Một host phải nhờ vào router để có thể gửi thông tin tới những node nằm ngoài đường kết nối của mình. Do vậy, trước khi một host có thể thực hiện các hoạt động giao tiếp với các mạng bên ngoài, nó cần tìm một router và học được những thông tin quan trọng về router, cũng như về mạng. Trong thế hệ địa chỉ IPv6, để có thể cấu hình địa chỉ, cũng như có những thông số cho hoạt động, IPv6 host cần tìm thấy router và nhận được những thông tin từ router trên đường kết nối. Router IPv6 ngoài việc đảm trách chuyển tiếp gói tin cho host, nó còn đảm nhiệm một hoạt động không thể thiếu là quảng bá sự hện diện của mình và cung cấp các tham số trợ giúp host trên đường kết nối cấu hình địa chỉ và các tham số hoạt động. Thực hiện những hoạt động trao đổi thông tin giữa host và router là một nhiệm vụ rất quan trọng của thủ tục Neighbor Discovery. Quá trình tìm kiếm, trao đổi giữa host và router thực hiện dựa trên hai dạng thông điệp sau: - Router Solicitation được gửi bởi host tới các router trên đường link. Do vậy, gói tin được gửi tới dịa chỉ đích multicast mọi router phạm vi link (FF02::2). Host gửi thông điệp này để yêu cầu router quảng bá ngay các thông tin nó cần cho hoạt động. - Router Advertisement chỉ được gửi bởi các router để quảng bá sự hiện diện của router và các tham số cần thiết khác cho hoạt động của các host. Router gửi định kỳ thông điệp này trên đường kết nối và gửi thông điệp này bất cứ khi nào nhận được router solicitation từ các host trong đường kết nối.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

47

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
4.4.5 Cấu hình tự động địa chỉ cho IPv6 node: Địa chỉ IPv6 được cải tiến để có thể giảm thiểu những cấu hình nhân công, 64 bit cuối cùng của địa chỉ IPv6 luôn dành để định danh giao diện, 64 bit định danh này có thể tự động cấu hình từ địa chỉ card mạng hoặc gán một cách tự động. Nhờ quy trình giao tiếp trên đường link của thử tục Neighbor Discovery, IPv6 host có thể liên lạc với router trên đường kết nối để nhận các thông tin về prefix trên link và những tham số hoạt động khác. Do vậy, các node trong IPv6 có hai cách thức cấu hình địa chỉ: cấu hình địa chỉ bằng tay, hoặc cấu hình địa chỉ tự động. IPv6 node có hai cách thức cấu hình tự động địa chỉ cho giao diện: - Tự động cấu hình có trạng thái (stateful): Đây là cách thức cấu hình địa chỉ cho host dựa vào sự trợ giúp của DHCPv6 server. Cách thức cấu hình này tương tự như việc sử dụng DHCP của IPv4. Hiện nay, các RFC dành cho DHCPv6 đã được IETF hoàn thiện đầy đủ. Máy chủ DHCPv6 sẽ cung cấp cho host địa chỉ và các thông tin để host cấu hình, nên được gọi là cấu hình có trạng thái (stateful). - Tự động cấu hình không trạng thái (stateless): Đây là cách thức tự động trong đó, một host sẽ tự thực hiện cấu hình địa chỉ cho giao diện không cần sự hỗ trợ của bất kỳ một máy chủ DHCP nào. Host thực hiện cấu hình địa chỉ từ khi chưa có một thông tin nào hỗ trợ cấu hình (stateless) và qua trao đổi với router IPv6 trên đường kết nối. 4.4.6 Đánh số lại thiết bị IPv6: Đánh số lại mạng IPv4 là điều mà những nhà quả trị rất ngại. Nó ảnh hưởng tới hoạt động mạng lưới và tiêu tốn nhân lực cấu hình lại thông tin cho host, node trên mạng. Đối với địa chỉ IPv6, dựa trên nguyên tắc cấu hình tự động , các host trên mạng có thể được đánh số lại nhờ thông báo của router đặt thời gian hết thời hạn có thể sử dụng cho một network prefix. Sau đó, router thông bao prefix mới để các host tạo lạ địa chỉ IP. Trên thực tế, các host có thể duy trì sử dụng địa chỉ cũ trong một khoảng thời gian nhất định trước khi xóa bỏ hoàn toàn. 4.4.7 Phân mảnh gói tin IPv6:

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

48

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Mạng quy mô lớn hay nhỏ, bao gồm các đường kết nối vật lý khác nhau. Mỗi đường kết nối có một giá trị giới hạn về kích thước thông tin truyền tải trên đó, được gọi là MTU. Trong hoạt động của thế hệ địa chỉ IPv4, trong quá trình forward gói tin, nếu IPv4 router nhận được gói tin lớn hơn giá trị MTU của đường kết nối, router sẽ thực hiện phân mảnh gói tin. Sau quá trình truyền tải, gói tin được xây dựng lại nhờ nhũng thông tin trong header. Địa chỉ IPv6 áp dụng một mô hình khác để phân mảnh gói tin, việc phân mảnh gói tin được thực hiện tại host nguồn, nơi gửi gói tin. Mọi IPv6 router không tiến hành phân mảnh gói tin, nhờ đó tăng hiệu quả, giảm thời gian xử lý gói tin. Trong header cơ bản IPv6, các trường hỗ trợ cho việc phân mảnh va kết cấu lại gói tin của IPv4 header đã được bỏ đi. Nhũng thông tin trợ giúp cho việc phân mảnh và tái tạo gói tin IPv6 được để trong header mở rộng của gói tin IPv6. Giá trị MTU tối thiểu mặc định trên đường link IPv6 là 1280 byte. Router sẽ gửi cho các IPv6 host trên đường link giá trị MTU mặc định của đường link đó. Tuy nhiên , để đến được được đích, gói tin sẽ đi qua nhiều đường kết nối có giá trị MTU khác nhau, việc phân mảnh gói tin được thực hiên tai host nguồn, không thực hiện bởi các router trên đường truyền tải. Để truyền được tới đích, gói tin cần phải có kích thước phù hợp với giá trị MTU nhỏ nhất trên toàn bộ đường truyền từ nguồn tới đích. Nhằm phục vụ cho host nguồn phân mảnh gói tin, phải có một cách thức nào đó để host nguồn quyết định giá trị MTU sử dụng khi gửi gói tin. Trong địa chỉ IPv6 tồn tại hai khai niệm: LinkMTU: giá trị MTU trên đường kết nối trực tiếp của host PathMTU: giá trị MTU nhỏ nhất trên toàn bộ đường truyền Host nguồn có thuật toán tìm Path MTU trên toàn bộ đường truyền gọi là Path MTU Discovery, và sẽ lưu giữ giá trị này để sử dụng trong giao tiếp.

CHƯƠNG 5 THIẾT KẾ HỆ THỐNG VoIPv6

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

49

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, ứng dụng của Internet phát triển nhằm cung cấp dịch vụ cho người dùng notebook, cellualar modem và thậm chí nó còn thâm nhập vào nhiều ứng dụng dân dụng khác như TV, máy pha cà phê… Để có thể đưa những khái niệm mới dựa trên cơ sở TCP/IP này thành hiện thực, TCP/IP phải mở rộng. Nhưng một thực tế mà không chỉ giới chuyên môn, mà ngay cả các ISP cũng nhận thức được đó là tài nguyên mạng ngày càng hạn hẹp. Việc phát triển về thiết bị, cơ sở hạ tầng, nhân lực… không phải là một khó khăn lớn. Vấn đề ở đây là địa chỉ IP, không gian địa chỉ IP ngày càng cạn kiệt, càng về sau địa chỉ IP (IPv4) không thể đáp ứng nhu cầu mở rộng mạng đó. Bước tiến quan trọng mang tính chiến lược đối với kế hoạch mở rộng này là việc nghiên cứu cho ra đời một thế hệ sau của giao thức IP, đó chính là IP version 6. IPv6 ra đời không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn IPv4 (công nghệ mà hạ tầng mạng chúng ta đang dùng ngày nay). Vì là một phiên bản hoàn toàn mới của công nghệ IP, việc nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn luôn là một thách thức rất lớn. Một trong những thách thức đó liên quan đến khả năng tương thích giữa IPv6 và IPv4, liên quan đến việc chuyển đổi từ IPv4 lên IPv6, làm thế nào mà người dùng có thể khai thác những thế mạnh của IPv6 nhưng không nhất thiết phải nâng cấp đồng loạt toàn bộ mạng (LAN, WAN, Internet…) lên IPv6. 5.1 Mô tả hệ thống: Hệ thống VoIPv6 gồm có 3 tổng đài Asteriskv6, 3 tổng đài này có thể là cùng một dải mạng để chia sẻ quản lý các tài khoản điện thoại. Cũng có thể là ở 3 khu vực địa lý khác nhau để có thể cùng một công ty hoặc ở các công ty khác nhau. Mỗi tổng đài quản lý số lượng tài khoản nhất định. Ba tổng đài nói chuyện với nhau bằng giao thức IAX, các softphone nói chuyện với tổng đài bằng giao thức SIP. Yêu cầu đặt ra của hệ thống là các tài khoản đăng ký cùng 1 tổng đài có thể gọi được cho nhau:

↔ IPv6 (cả hai chiều) IPv4 ↔ IPv4 (cả hai chiều)
IPv4

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

50

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
IPv6

↔ IPv6 (cả hai chiều)

Các tài khoản đăng ký ở các tổng đài khác nhau cũng có thể gọi được cho nhau:

↔ IPv6 (cả hai chiều) IPv4 ↔ IPv4 (cả hai chiều) IPv6 ↔ IPv6 (cả hai chiều)
IPv4 IPv4

Và từ tài khoản có địa chỉ ipv4, IPv6 gọi ra được mạng PSTN và ngược lại:

↔ PSTN (cả hai chiều) IPv6 ↔ PSTN (cả hai chiều)

5.2

Thực hiện: Tổng đài Asteriskv6 PBX 1 cài Fedora Core 10, hai tổng đài còn lại cài trên CentOS

5. Các máy trạm cảu các tài khoản cài Ubuntu 8.10 hoặc Windows XP2, các trạm có thể dùng softphone là Linphone sử dụng cả địa chỉ IPv6 và IPv4 hoặc X-lite chỉ sử dụng địa chỉ IPv4. Dùng GW SPA3102 để giao tiếp với mạng PSTN. Sử dụng phần mềm Wireshark để bắt gói tin trên mạng Internet. Asteriskv6 PBX 1: Có 4 tài khoản: 101, 102, 103, 104. Mỗi tài khoản có thể nhận 1 trong 4 địa chỉ sau: địa chỉ IPv6 là 2001:dc9::110/64 địa chỉ IPv4 là 192.168.1.111/24 địa chỉ IPv4 là 192.168.1.112/24 địa chỉ IPv6 là 2001:dc9::113/64 Asteriskv6 PBX 2: Có 2 tài khoản 202, 203. Mỗi tài khoản có thể nhận một trong hai địa chỉ sau: địa chỉ IPv6 là 2001:dc9::114/64 địa chỉ IPv4 là 192.168.1.115/24 Asteriskv6 PBX 3: Có hai tài khoản là 304, 305. Mỗi tài khoản có thể nhận được một trong hai địa chỉ sau: địa chỉ IPv6 là 2001:dc9::116/64 địa chỉ IPv4 là 192.168.1.117/24
51

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Gateway có địa chỉ 192.168.1.4 nối với Asteriskv6 PBX 1 5.3 Kết quả đạt được: Cuộc gọi IPv4 tới IPv4, IPv6 trong cùng một tổng đài và khác tổng đài thành công tốt đẹp cả hai chiều do cùng trên một hạ tầng mạng IPv4 hoặc IPv6. Nhưng cuộc gọi giữa IPv4 và IPv6 diễn ra phức tạp hơn vì có sự chuyển đổi địa chỉ trên server. Qua kết quả khảo sát cho thấy: + Asteriskv6 PBX 1 đã kết nối được với 2 tổng đài còn lại bằng giao thức IAX2 trên port 4569. + Các tài khoản do Asteriskv6 PBX 1 quản lý đã đăng ký thành công với tổng đài. + Tài khoản 104 có địa chỉ 192.168.1.111 gọi cho tài khoản 102 có địa chỉ 2001:dc9::110 trong cùng 1 tổng đài Asteriskv6 PBX 1 có địa chỉ 192.168.1.100 hoặc 2001:dc9::110. Quá trình cụ thể như sau: Khi tài khoản 104 bấm phím gọi cho tài khoản 102 trong cùng tổng đài, bản tin INVITE được gửi từ địa chỉ 192.168.1.111 tới tổng đài. Tổng đài trao đổi với tài khoản 104 bằng địa chỉ 192.168.1.100 và trao đổi thông tin với tài khoản 102 bằng địa chỉ IPv6 2001:dc9::100 bằng cách mở port cho IPv6 hoạt động lắng nghe các kết nối của cả 2 định dạng giao thức địa chỉ. Tài khoản 104 có địa chỉ 192.168.1.111 gửi bản tin INVITE tới tổng đài Asteriskv6 PBX 1 yêu cầu thiết lập phiên kết nối tới tài khoản 102 cùng thuộc tổng đài với 104. Tổng đài gửi trả bản tin 100 Trying báo đã nhận được bản tin INVITE do 104 gửi tới và đang thiết lập kết nối. Tổng đài gửi bản tin INVITE yêu cầu thiết lập phiên cuộc gọi tới 102 có địa chỉ Tài khoản 102 gửi lại tổng đài tín hiệu chuông chờ và tổng đài lại chuyển tiếp Khi 102 nhấc máy, bản tin 200 OK xác lập cuộc gọi thành công được gửi tới 2001:dc9::110 và gửi tra 104 bản tin 180 Ringing là tín hiệu chuông chờ. đến tài khaonr 104. tổng đài. Tổng đài gửi tín hiệu trả lời ACK trở lại cho tài khoản 102 và gửi bản tin 200 OK thiết lập phiên kết nối thành công tới tài khoản 104. Lúc này phiên kết nối được xác lập giữa hai tài khoản.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

52

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
-

Khi có một tài khoản dập máy trước thi bản tin BYE được gửi tới tổng đài, tổng

đài chấp nhận ngắt kết nối bằng bản tin 200 OK và gửi bản tin BYE tiếp tục tới tài khoản 104  tài khoản 104 gửi trả bản tin 200 OK chính thức kết thúc phiên kết nối giữa hai tài khoản. + Tài khoản 305 có địa chỉ 192.168.117 ở Asteriskv6 PBX 3 gọi sang tài khoản 103 có địa chỉ 2001:dc9::110, quá trình như sau: Khi tài khoản 305 có địa chỉ 192.168.117 do Asteriskv6 PBX 3 quản lý gọi sang tài khoản 103 có địa chỉ 2001:dc9::110 do Asteriskv6 PBX 1 quản lý, thì tổng đài Asteriskv6 PBX 3 trao đổi thông tin với tài khoản 305 và Asteriskv6 PBX 1 bằng địa chỉ IPv4, không sử dụng port cho IPv6. Giao tiếp từ tài khoản 305 tới Asteriskv6 PBX 3 hoàn toàn là IPv4, nhưng Asteriskv6 PBX 2 trao đổi với tài khoản 103 bằng địa chỉ IPv6. Hai tổng đài trao đổi thông tin bằng giao thức IAX 2. -

Tài khoản 305 gửi bản tin INVITE tới server Asteriskv6 PBX 3 yêu cầu thiết lập Asteriskv6 PBX 3 gửi bản tin 100 Trying vè tài khoản 103 báo rằng nó đã nhận Server Asteriskv6 PBX 3 biết tài khoản 103 do Asteriskv6 PBX 1 quản lý nên

phiên với tài khoản 103 . Tài khoản 305 sử dụng softphone X-lite. được bản tin INVITE và đang thiết lập kết nối, gửi tín hiệu chuông chờ. trao đổi thông tin với Asteriskv6 PBX 1  Asteriskv6 PBX 1 gửi bản tin INVITE tơi tài khoản 103 yêu cầu thiết lập phiên kết nối. Các server vẫn tiếp tục trao đổi thông tin bằng đường Trunk sử dụng giao thức IAX 2. Tài khoản 103 có địa chỉ 2001:dc9::110 gửi tín hiệu chuông chờ cho Asteriskv6 PBX 1 đến khi nhấc máy gửi bản tin 200 OK và chấp nhận kết nối. Các server lại trao đổi thông tin và Asteriskv6 PBX 3 gửi thông tin 200 OK thành công tới tài khoản 305 và thiết lập luồng RTP hai chiều tới Server rồi được chuyển tiếp tới các tài khoản. Ví dụ khi 305 dập máy trước, bản tin BYE được gửi tới Asteriskv6 PBX 3, server gửi lại bản tin OK chấp nhận yêu cầu kết thúc cuộc gọi. Và tiếp tục chuyển yêu cầu kết thúc cuộc gọi tới Asteriskv6 PBX 1, Asteriskv6 PBX 1 gửi bản tin BYE tới tài khoản 103.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

53

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
công. + Tài khoản 101 có địa chỉ 2001:dc9::110 gọi ra tài khoản 1111 PSTN, quá trình diễn ra như sau: Tài khoản 101 co địa chỉ 2001:dc9::110 gửi bản tin INVITE yêu cầu thiết lập phiên kết nối với tài khoản 1111 tới Asteriskv6 PBX 1 có địa chỉ 2001:dc9::100. Asteriskv6 PBX 1 trả lại bản tin 100 Trying báo rằng nó nhận được bản tin INVITE và đang thiết lập cuộc gọi. Server nhận thấy đây là cuộc gọi PSTN nên nó chuyển tiếp bản tin INVITE đến gateway SPA3102 có địa chỉ IP là 192.168.1.4, nhưng nó trao đổi thông tin với gateway bằng địa chỉ 192.168.1.100 của mình vì gateway có địa chỉ IPv4.
-

103 gửi bản tin OK tới Asteriskv6 PBX 1 chấp nhận ngắt phiên kết nối thành

Gateway gửi bản tin 100 Trying về server báo rằng nó đã nhận bản tin INVITE

do server gửi tới và đang thiết lập cuộc gọi. Sau đó gateway gửi tín hiệu đổ chuông về cho server  server chuyển tiếp tín hiệu đổ chuông về cho máy có tài khoản 101.
-

Gateway nhận được thông tin trả về từ mạng điện thoại tương tự, nó sẽ gửi bản

tin 200 OK và thiết lập luồng RTP hai chiều tới server và được chuyển tiếp tới thuê bao 101. Sau khi nhận được bản tin này thì luồng RTP được thiết lập trước đó được chuyển thành hai chiều và gửi bản tin ACK xác nhận đi  cuộc gọi đã được thiết lập. Ví dụ khi thuê bao PSTN dập máy trước, bản tin BYE được gửi đi từ 1111 tới server Asteriskv6 PBX 1. Sau đó server gửi lại bản tin 200 OK chấp nhận ngắt kết nối với tài khoản 1111. Quá trình gửi bản tin BYE tương tự từ server tới 101 và sau đó phiên kết nối kết thúc. Kết quả thu được ở trên cho thấy hoạt động cụ thể của VoIPv6, VoIPv6 hoàn toàn có khả năng triển khai song song và thích ứng với hạ tầng mạng IPv4 hiện tại. Với những tính năng vượt trội của IPv6 so với IPv4 thì việc triển khai IPv6 là hoàn toàn cần thiết cà chắc chắn sẽ phải diễn ra trong tương lai không xa. Trên đây là một hệ thống cơ bản có thể phát triển trong mạng nội bộ của một công ty hoặc giữa các chi nhánh ở các khu vực địa ký khác nhau.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

54

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

KẾT LUẬN Trên đây là bài làm của em về đề tài “nghiên cứu và thiết kế hệ thông VoIPv6”. Bài làm tập trung nghiên cứu về giao thức truyền thoại qua mạng Internet VoIPv6, trình bày về đặc điểm của hệ thống VoIP, VoIPv6 – những ưu điểm nổi bật của IPv6 so với IPv4. Và việc ứng dụng VoIPv6 trong tương lai là một xu thế tất yếu trong vài năm tới. Vấn đề là với sự phổ biến rộng khắp của công nghệ hiện nay, IPv6 sẽ tồn tại song song với hạ tầng mạng IPv4.

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

55

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6
Tuy nhiên do điều kiện kiến thức còn hạn hẹp và tài liệu hạn chế và thời hian nghiên cứu không được nhiều nên bài làm của em còn sơ sài và có thiếu sót. Mong cô chỉ dạy thêm để em được hiểu biết sâu hơn về hệ thống VoIP. Hạn chế của bài làm là chưa khảo sát được hoạt động thực tế của quá trình kết nối các cuộc gọi từ IPv4 sang IPv4/Ipv6 và từ IPv6 sang mạng thoại tương tự PSTN.

TÀI LIỆU THAM KHẢO http://forum.saobacdau-acad.vn/showthread.php?p=943#post943 http://forum.saobacdau-acad.vn/showthread.php?t=785 http://vi.wikipedia.org/wiki/Triple_play

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

56

Nghiên cứu và thiết kế hệ thống VoIPv6

Giáo trình-Bài giảng : cơ sở thoại Internet Signaling in Telecommunication Networks (2ND). Tác giả: John G. van Bosse, Fabrizio U. Devetak http://www.ebook.edu.vn/?page=1.6&view=4330 Nghiên cứu ứng dụng công nghệ điện thoại trên Internet (Internet Telephony). Tác giả: Phạm Việt Dũng Network Protocols Handbook - Javvin Technologies Nghiên cứu công nghệ truyền thoại qua internet sử dụng giao thức TCP/IP (VoIP) - Bùi xuân Hạnh Voice over IP Fundamentals – Cisco http://www.tapchibcvt.gov.vn/News/PrintView.aspx?ID=17296 http://www.ptithcm.org/forum/showthread.php?t=4296

SVTH: Nguyễn Kim Hải VT2B

57

You're Reading a Free Preview

Download
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->