You are on page 1of 6

TÁC ĐỘNG HAI MẶT CỦA VỐN NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

Posted on 08/05/2009 by Civillawinfor TS. NGUYỄN MINH PHONG Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên to lớn của dòng vốn nước ngoài qua các kênh thu hút khác nhau, như bổ sung vốn đầu tư và gia tăng nguồn động lực mới, tích cực và mạnh mẽ hơn cho phát triển của đất nước, cải thiện cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế, công nghệ, thị trường, đội ngũ lao động và quản lý… vẫn cần tỉnh táo nhận diện những tác động mặt trái của chúng để có các giải pháp thích ứng. Tác động hai mặt Về vốn vay: Dù là nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) có điều kiện ưu đãi cao nhất, cho đến các khoản vốn vay thương mại thông thường trên thị trường tài chính quốc tế thì nghĩa vụ nợ (bao gồm trả lãi và nợ gốc) cũng luôn luôn đặt ra cho người vay. Một cơ cấu nợ mà chiếm tỷ trọng lớn nhất là những khoản vay thương mại “nóng”, lãi cao, và bằng những ngoại tệ không ổn định theo xu hướng “đắt” lên sẽ chứa đựng những xung lực lạm phát mạnh. Những xung lực này càng mạnh hơn nếu vốn vay không được quản lý tốt và sử dụng có hiệu quả, buộc con nợ phải tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới, với những điều kiện có thể ngặt nghèo hơn – chiếc bẫy nợ sập lại, con nợ rơi vào vòng xoáy mới: Nợ-vay nợ mới-tăng nợ-tăng vay… Vòng xoáy này sẽ dẫn con nợ đến sự vỡ nợ hoặc vòng xoáy lạm phát: Nợ-tăng nghĩa vụ nợ-tăng thâm hụt ngân sách-tăng lạm phát. Lúc này dịch vụ nợ sẽ ngốn hết những khoản chi ngân sách cho phát triển và ổn định xã hội, làm căng thẳng thêm trạng thái khát vốn và hỗn loạn xã hội. Hơn nữa, việc “thắt lưng buộc bụng” trả nợ khiến nước nợ phải hạn chế nhập và tăng xuất, trong đó có hàng tiêu dùng mà trong nước còn thiếu hụt, do đó làm tăng mất cân đối hàng tiền, tăng giá, tăng lạm phát. Nợ nước ngoài có thể làm sụp đổ cả một chính phủ, nhất là ở những nơi tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm là phổ biến của giới cầm quyền, đi kèm với việc thiếu những giải pháp xử lý mềm dẻo khôn ngoan với nợ (đàm phán gia hạn nợ, đổi nợ thành đầu tư, đổi cơ cấu và điều kiện nợ, xin xoá nợ từng phần…). Do vậy, sự chủ động và tỉnh táo khống chế nợ ở mức độ an toàn, theo những dự án đầu tư cụ thể, được luận chứng kinh tế – kỹ thuật đầy đủ, và chấp nhận sự kiểm tra, giám sát của chủ nợ để tránh hao hụt do tham nhũng hay sử dụng nợ sai mục đích là những nguyên tắc hàng đầu cần được tuân thủ trong quá trình vay nợ nước ngoài. Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới mọi dạng sẽ an toàn và tốt hơn việc trực tiếp vay nợ thương mại (kể cả dưới dạng mua hàng trả chậm theo L/C). Hơn nữa, điều này còn tránh cho nước tiếp nhận đầu tư những khó khăn, lúng túng ban đầu về thị trường, kinh nghiệm quản lý-kinh doanh quốc tế. Cùng với những bảo đảm pháp lý có tính quốc tế, bằng cách điều chỉnh những chiếc “van” như:

từ đó làm tăng tiềm lực xuất khẩu. Ngược lại. Thứ tư. “Hợp lực” của những yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng trưởng kinh tế gây ra. để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài. dòng vốn đầu tư này chỉ thực sự tích cực và góp phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung những hàng khan hiếm. tiền tệ. khả năng cạnh tranh. cải thiện cán cân thanh toán. đủ khối lượng cần thiết theo kế hoạch định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội của mình.Ưu đãi thuế. cả về chi phí tài chính.5 – 3 USD. do đó làm tăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước. các dự án xây dựng sân golf ở đồng bằng. Do đó. kích thích và thoả mãn những tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp nhận đầu tư. các nước chủ nhà có thể hướng dẫn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đúng chỗ. đúng lúc. hoặc không tương xứng với chi phí của nước chủ nhà bỏ ra. còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra. Thêm nữa. hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ không như mong đợi. nhân lực và môi trường. nếu việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”) không được thực hiện đầy đủ. nhất là trên thị trường chứng khoán. hành chính. khi đó nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ. tức “một tiền gà. hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu. cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự án FDI. Thứ hai. ba tiền thóc”. vùng đất màu mỡ và những dự án “bán bờ biển” cho các nhà kinh doanh du lịch nước ngoài rất dễ làm tổn thương đến lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai. tăng nhập siêu và làm mất cân đối tài khoản vãng lai. Đặc biệt. phát triển hạ tầng cứng-mềm. các thủ tục hải quan. thực tiễn thế giới cho thấy. tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà và giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế. sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế. Thứ ba. mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thì vương. theo tính toán của các chuyên gia thế giới. tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến. Về vốn đầu tư gián tiếp Một mặt. gây ô nhiễm môi trường lớn trong tương lai. nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0. thậm chí nhiều hơn. trong lĩnh vực tưởng chừng toàn những điều tốt lành này. tạo áp lực thất nghiệp và là nguồn phát thải. tạo những tác động tích cực: . thì về lâu dài. Ngoài ra. khả năng xuất khẩu. nhất là các dự án dùng nhiều đất nông nghiệp. thì mặc nhiên “những lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt. thương thì tội”. Song. nếu thiên về khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng. tài chính. những tác động mặt trái của FDI vẫn ẩn khuất đâu đó: Thứ nhất. lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền tệ lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng. Mặt khác.

kinh nghiệm. từ người dân. thị trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện hơn. kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu. Trên cơ sở đó. Nói cách khác. bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính. trước hết là các loại quỹ đầu tư. thậm chí đơn điệu. Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng đương nhiên vào tổng số dòng vốn này. cân đối và sôi động hơn. trống vắng và trầm lắng. khắc phục được sự thiếu hụt. hiện đại. nhà nước sẽ đa dạng hoá các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp. điều kiện và như là kết quả đi kèm với sự gia tăng dòng vốn này là sự phát triển nở rộ các định chế và dịch vụ tài chính – chứng khoán. trái phiếu và chứng khoán có giá khác của Việt Nam trên thị trường tài chính Việt Nam và nước ngoài. cũng như các cơ quan. xác định hệ số tín nhiệm. cũng như các dịch vụ tư vấn. chất lượng nguồn nhân lực nói chung. nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện. thông qua tác động vào thị trường tài chính. hội nhập quốc tế. Hệ thống luật pháp. Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường. phù hợp yêu cầu và điều kiện kinh doanh thị trường. Góp phần tích cực vào phát triển thị trường tài chính nói riêng. đặc điểm của thị trường này. hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung. năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung. Hơn nữa. dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng có thể gây ra một số tác động tiêu cực sau: . và các thể chế tài chính trung gian khác.Trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư trực tiếp của xã hội. Đồng thời. cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế. Hơn nữa. các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương” các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình. kiểm toán và thông tin thị trường. kỹ năng. kém hấp dẫn kéo dài của thị trường này trong thời gian qua. rèn luyện và bồi dưỡng kiến thức. cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông đảo người dân. nâng cao trình độ bản thân nói riêng. các doanh nhân đến các tổ chức và pháp nhân đầu tư chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp sẽ có thêm điều kiện lựa chọn sử dụng vốn của mình để đầu tư dưới các hình thức trực tiếp tự mình hay thông qua các định chế tài chính trung gian để mua – bán các cổ phiếu. trước hết trên thị trường chứng khoán… Tăng cường cơ hội và đa dạng hoá phương thức đầu tư. Việc gia tăng và phát triển bộ phận thị trường vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ làm cho thị trường tài chính (đặc biệt là thị trường chứng khoán) Việt Nam trở nên đồng bộ. khi vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước. bản lĩnh đầu tư. công ty tài chính. Đông đảo các nhà đầu tư nước ngoài và cả trong nước. Đồng thời còn kéo theo sự gia tăng yêu cầu và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường. Thông qua quá trình tham gia đầu tư gián tiếp này. kế toán. bổ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh doanh. các nhà đầu tư trong nước và người dân sẽ được dịp “cọ xát”. Mặt khác. bảo hiểm. kết quả tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên.

chúng còn làm mất uy tín nhà nước và gây sụp đổ một nội các chính phủ… Một số giải pháp thích ứng Trong thời gian tới. hoạt động tiếp vốn cho các kinh doanh phi pháp và hoạt động khủng bố. một sự đổ vỡ. Thậm chí trong một số trường hợp. nhất là các cổ phiếu. để tiếp tục duy trì về lượng và nâng cao hiệu quả thu hút vốn nước ngoài. tổ chức phát hành chứng khoán.Sự gia tăng tỷ lệ nắm giữ chứng khoán.Tăng mức độ nhạy cảm và khả năng bất ổn về kinh tế liên quan đến các nhân tố nước ngoài. cùng các loại tội phạm và các đe doạ an ninh phi truyền thống khác. kế hoạch. Sự cộng hưởng của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái của các dòng vốn kể trên. Đặc trưng nổi bật đó cũng chính là nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo và khuyếch đại độ nhạy cảm và chấn động kinh tế ngoại nhập của dòng vốn này đối với nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Thậm chí. khống chế và lũng đoạn tài chính đối với các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán. hoạt động rửa tiền. gồm cả các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (theo Luật Đầu tư) để áp dụng thống . sẽ ít nhiều. lạm phát cao. nhất là khi chúng diễn ra một cách “có tổ chức” của giới đầu cơ hay lực lượng thù địch chính trị quốc tế. hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác. nhất là dòng FDI . Tăng quy mô. mục tiêu riêng của mình. hoàn chỉnh và ban hành quy định quản lý các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế như: Hoạt động lừa đảo. được biểu quyết của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài đến một mức “vượt ngưỡng” nhất định nào đó sẽ cho phép họ tham dự trực tiếp vào chi phối và quyết định các hoạt động sản xuất – kinh doanh và các chủ quyền khác của doanh nghiệp. đặc biệt khi việc chuyển đổi và rút vốn đầu tư gián tiếp nói trên diễn ra theo kiểu “tháo chạy” đồng loạt trên phạm vi rộng và số lượng lớn… Trong tình huống như vậy. Khác với FDI. thậm chí lũng đoạn doanh nghiệp theo phương hướng. thậm chí là khủng hoảng kinh tế hết sức tệ hại và bất khả kháng là hoàn toàn có thể xảy ra đối với nước tiếp nhận đầu tư. Gia tăng nguy cơ bị mua lại. vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần tuý với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên thị trường tài chính. nếu không có và triển khai tốt các phương án phòng ngừa hiệu quả. một cuộc khủng hoảng đầu tư – tài chính – tiền tệ. Điều đó có nghĩa là. tính chất gián tiếp của vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển hoá thành tính trực tiếp. sáp nhập. cổ phần sáng lập. kể cả các hoạt động mua lại. ở địa phương khác tuỳ theo kế hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình. trực tiếp hay gián tiếp. Nhà đầu tư gián tiếp sẽ chuyển hoá thành nhà đầu tư trực tiếp. thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước. nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp. quá trình “diễn biến hoà bình” này đạt tới quy mô và mức độ nào đó còn có thể làm chuyển đổi về chất quyền sở hữu và tính chất kinh tế ban đầu của doanh nghiệp và quốc gia. về lô-gích. cần tập trung vào các giải pháp sau: Thứ nhất. sáp nhập doanh nghiệp. trước mắt và lâu dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành mạnh và làm tăng tính dễ tổn thương và có thể gây ra lạm phát cao của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

lãng phí và tham nhũng. đấu thầu… làm mất nhiều thời gian. đưa vào khai thác sử dụng phát huy được hiệu quả và có khả năng trả nợ. xây dựng các tuyến đường sắt đô thị. đôn đốc nhà đầu tư. thời gian trả nợ dài và có ân hạn) ưu tiên cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị đồng bộ. như hoàn thiện và nâng cấp các đường vành đai. Thứ ba. chính sách thích hợp nhằm khuyến khích áp dụng hình thức đầu tư mới có sử dụng vốn nước ngoài như BOT/BTO/BT. không thống nhất. cần chủ động xem xét và ban hành hướng dẫn cơ chế tài chính trong nước đối với nguồn vốn vay ODA. Tuy nhiên. tăng cường năng lực con người và an toàn trong lĩnh vực giao thông. bảo vệ môi trường. nhằm xúc tiến một số dự án lớn. tránh chạy theo lợi ích trước mắt. đổi mới căn bản phương thức quản lý và sử dụng vốn vay. cải thiện môi trường đô thị. chính sách đầu tư và danh mục dự án kêu gọi vốn nước ngoài trên các trang thông tin điện tử và in mới sách. một đầu mối liên thông cải cách thủ tục hành chính…). cam kết song phương đa phương…). tích cực phòng chống thất thoát. đĩa CDROM phát hành rộng rãi. Các cơ quan quản lý nhà nước cả cấp trung ương lẫn địa phương. tăng cường cung cấp thông tin. bổ sung nội dung thông tin mới về môi trường. hiện đại và phải được xây dựng đạt chất lượng cao nhất thông qua đấu thầu thực chất hơn và có chế tài thích hợp về đảm bảo.nhất cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài (như về quản lý đầu tư xây dựng. hiện đại. xây dựng cơ bản. quảng bá môi trường đầu tư. các cơ sở hạ tầng từ nguồn ODA phần lớn tồn tại và phát huy tác dụng tới nhiều năm sau. Rà soát và sửa đổi bổ sung. tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư nước ngoài. Ngành Trung ương cần phối hợp với các nhà tài trợ để tiếp tục hài hoà nhằm giảm bớt sự khác nhau về thủ tục để các dự án ODA được triển khai thuận lợi. nhiều vấn đề phải nghiên cứu làm rõ mới có thể thực hiện. xây dựng cơ chế. Chính phủ và các Bộ. cũng như minh bạch hoá các quy định về thuế liên quan đến dự án ODA nói . song song với cải cách thủ tục hành chính. địa phương và cá nhân. nên chưa thể mang lại kết quả ngay. ảnh hưởng đến tiến độ dự án. Sử dụng ODA không hoàn lại và các dự án hỗ trợ kỹ thuật ưu tiên cho các dự án không có khả năng hoàn vốn. liên tục và còn nhiều bất cập. vì vậy các dự án cần có công nghệ cao. tiếp tục điều chỉnh và ổn định các quy hoạch thu hút vốn nước ngoài theo hướng phát triển bền vững. Thứ hai. Sử dụng ODA có ưu đãi cao (lãi suất thấp. Đẩy mạnh áp dụng các phần mềm chuyên dụng hiện đại trong quản lý dự án có vốn nước ngoài. đặc biệt tập trung vào những nội dung vướng mắc về phê duyệt dự án. cập nhật. trọng điểm quốc gia và địa phương. hỏi đáp và đối thoại với các nhà đầu tư… Thứ tư. Tổ chức xúc tiến đầu tư tại các nước đang và sẽ có triển vọng trở thành nhà đầu tư lớn vào Việt Nam. phải chủ động bám sát dự án để kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc. các nghiên cứu phát triển thể chế. Đặc biệt. quy định trong gia nhập WTO. PPP… trong đầu tư xây dựng các công trình kết cầu hạ tầng kỹ thuật và cung cấp dịch vụ. rõ ràng (thủ tục đầu tư kinh doanh. nên cũng gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư và các cơ quan trong việc thực thi pháp luật để triển khai các dự án. đất đai. đồng thời đẩy mạnh việc nghiên cứu. Tình hình triển khai các dự án đầu tư có vốn nước ngoài cũng cần có nhiều chuyển động tích cực. hỗ trợ chuẩn bị dự án. môi trường. do môi trường pháp lý biến động nhiều.

có cơ chế và cấp kinh phí phù hợp cho công tác chuẩn bị dự án để nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị dự án để thu hút. quan tâm chỉ đạo các dự án đã được đưa vào danh sách ngắn. ban hành bổ sung các quy định cụ thể về định mức các khoản chi phí. Khắc phục sự chậm trễ của các dự án ODA đang triển khai. vận động các dự án ODA. cũng như về thủ tục thanh quyết toán đối với các dự án ODA cho phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định của các nhà tài trợ để tránh kéo dài thủ tục thanh toán. cần xúc tiến sự phối hợp giữa các bộ. khung giá đất. nhất là mức lương thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài. nhất là công tác giám sát cộng đồng và gắn công tác giám sát. cơ chế chính sách giải phóng mặt bằng… cho phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. sắp xếp lại các Ban quản lý dự án để đảm bảo đủ năng lực đáp ứng được yêu cầu và tính chuyên nghiệp trong quản lý dự án. đánh giá đầu tư với công tác thanh quyết toán vốn đầu tư. đặc biệt là các dự án sử dụng vốn ODA. sớm nghiên cứu ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể về lập định mức đơn giá trong hoạt động xây dựng cũng như thuê tư vấn nước ngoài đảm bảo sự thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. với chuyên gia…) cho phù hợp với các văn bản pháp quy mới ban hành. Kiện toàn. ngành có liên quan trong việc điều chỉnh. Các cấp chính quyền địa phương cần tiếp tục rà soát và sửa đổi bổ sung các quy định về quản lý đầu tư xây dựng. tránh sự chênh lệnh cao giữa các mức giá trong nước và nước ngoài. với nhà thầu. Ngoài ra. ký thoả ước… Đồng thời. Tăng cường công tác giám sát. điều chỉnh dự án… SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 16 ( 432) THÁNG 8/2008 .chung và đặc biệt các dự án ODA vay (với các chủ dự án. Đặc biệt. kiểm tra trong hoạt động đầu tư và xây dựng. làm ảnh hưởng đến hiệu quả dự án.