You are on page 1of 17

Trong hệ thống điều khiển bằng điện trên ô tô không thể thiếu các linh kiện

bán dẫn. Các linh kiện bán dẫn làm nhiệm vụ hạn dòng, chỉnh lưu, điều khiển
đóng ngắt mạch điện, cảm nhận các thay đổi về dòng và điện áp trong mạch
điện... Các linh kiện thông dụng và rất cơ bản trong một mạch điều khiển bằng
điện tử gồm có điện trở, diode, zener diode, tụ điện, transitor, photo diode,
photo transistor, hall sensor…

1. Điện trở (R- Resistor)

Mỗi mạch điện đều có điện trở để hoạt động. Điện trở thường được đưa vào trong
mạch điện để làm giảm dòng, tạo điện áp rơi, hoặc phục vụ những hoạt động riêng.
Tất cả các điện trở được đánh giá dựa trên trị số Ohm của điện trở và công suất Watts
(Watt = Volts x Amps). Có 3 loại điện trở cơ bản thường được dùng trong mạch điện
ô tô:
-Cố định.
-Phân đoạn.
-Biến đổi.
Mỗi loại có đặc điểm khác nhau và sử dụng từ phạm vi mạch quạt đơn giản đến
mạch máy tính (ECU).
a. Điện trở cố định:
Điện trở Trị số cố định được chia thành hai loại: loại cacbon metan oxit và loại ống
dây.

Loại cacbon
Các điện trở cacbon thường được sử dụng trong các hệ thống điện. Cacbon được
pha trộn với các chất, càng nhiều cacbon thì điện trở càng thấp. Điện trở cacbon có trị
số dòng cố định và được dùng để hạn dòng. Chúng được phân loại theo công suất và
hầu hết có vòng màu để chỉ trị số điện trở. Một điện trở điển hình có công suất từ
0.125 đến 2 W.
Chú ý: loại phin mêtan oxit thường dùng thay thế cho cacbon. Trong khi cacbon chỉ
chịu được khoảng trên 0.5W thì loại phin mêtan Oxit có thể chịu được nhiệt độ cao
hơn, nó được dùng cho điện trở khoảng 1-2W.
Vòng màu điện trở:
Hai vòng đầu tiên chỉ hai số đầu của trị số điện trở. Vòng thứ 3 còn được gọi là
vòng bội số chỉ số lượng số 0 được thêm vào hoặc bớt đi sau hai chữ số đầu. Vòng
cuối cùng chỉ dung sai của điện trở.

Đen (black): trị số 0


Nâu (brown): trị số 1
Đỏ (red): 2
Cam (orange): 3
Vàng (yellow): 4
Xanh lá: 5
Xanh da trời: 6
Tím, tía (violet, purpl): 7
Xám (grey): 8
Trắng (white): 9
Vàng thật (Gold): -1 (lùi dấu phẩy lại 1 chữ số)
Bạc (silver): -2 (lùi dấu phẩy lại 2 chữ số)
Cách đọc vòng màu
Dùng hình minh họa bên dưới:
Vòng đầu tiên màu Xanh lá là số 5
Vòng thứ hai màu Đỏ là số 2
Vòng thứ ba màu Đen là số 0 (nghĩa là không có số 0 nào được cộng thêm vào
vòng 1 và 2)
Vậy trị số điện trở là 52 Ohm
Ví dụ điện trở có các vòng màu lần lượt là: nâu, đen, vàng thật, vàng thật thì đọc
được trị số là 1 ohm, dung sai 5%.
Ví dụ điện trở có các vòng màu lần lượt là: đỏ, đỏ, bạc, vàng thật thì đọc được trị
số là 0,22 ohm, dung sai 5%.
Dung sai
Điện trở thay đổi trong một khoảng dung sai. Trị số dung sai thông thường là 20%,
10%, 5%, 2% hoặc 1%. Đơn giản nó là phần trăm sai lệch lớn nhất có thể của Trị số
điện trở thực so với trị số điện trở thiết kế. Một điện trở 1% thì chất lựong cao hơn cái
có tỉ lệ 20%.
Vòng dung sai (Vòng cuối) màu bạc thì Trị số là 10%. Vì vậy Trị số điện trở sẽ là
52 Ohm thêm vào hoặc trừ bớt 5.2 Ohm (từ 46.8 đến khoảng 57.2 Ohm).
Không màu: ± 20%
Bạc: ± 10%
Vàng: ± 5%
Đỏ: ± 2%
Nâu: ± 1%
Điện trở cố định thường được sử dụng trong các mạch phân áp (xem hình)

Chú ý hai điện trở R1 và R2 được gắn nối tiếp. Điện trở R1 được coi như điện trở
cầu trên (pull-up resistor), được dùng để tạo ra điểm sụt áp (voltage drop point). Khi
điện trở R2 của cảm biến nhiệt độ nước thay đổi, tạo ra điện áp rơi trên nó. Sự thay
đổi này cũng làm thay đổi điện áp rơi trên R1. Một mạch theo dõi ở bên trong sẽ đo
Trị số điện áp rơi này giữa hai điện trở.
Điện trở loại ống dây
Được làm từ những cuộn dây có điện trở (wire-wound resistors are made with coils
of resistance wires). Thường có thêm gốm giúp tản nhiệt và bảo vệ dây điện trở, giúp
điện trở hoạt động tốt và nhiệt ổn định. Trị số điện trở thường cố định. Điện trở ống
dây sử dụng trong mạch công suất cao thường từ 2W hoặc hơn. Điện trở ổn định lửa
là một ví dụ về điện trở loại ống dây.

Loại điện trở phân đoạn


Một điện trở phân đoạn có hai hay nhiều hơn những nút cố định tạo thành những trị
số điện trở khác nhau. Những nút này cho dòng điện chạy qua toàn bộ hoặc một phần
điện trở, làm thay đổi độ lớn dòng qua mạch.

Điện trở phân đoạn cũng có thể được lồng vào gốm sứ và không có nhiều các điện
trở cố định mắc nối tiếp nhau ở đầu ra của điện trở phân đoạn (hình minh họa trên
cho thấy có 1 điện trở cố định mắc nối tiếp ở đầu ra điện trở phân đoạn)
Một ví dụ về hoạt động của điện trở phân đoạn là mạch môtơ quạt giàn lạnh như chỉ
ra hình bên dưới.
Chú ý là hộp điện trở quạt giàn lạnh mắc nối tiếp với môtơ quạt giàn lạnh. Điện trở
nối tiếp nhau càng cao thì dòng càng nhỏ, vì vậy mà sự cản trở của điện trở quạt giàn
lạnh càng cao thì tốc độ quạt càng chậm.
Ở tốc độ thấp, dòng sẽ chạy qua toàn bộ điện trở từ chân số 3 đến chân số 1 rồi về
mass (đường màu xanh dương). Môtơ sẽ quay tốc độ chậm vì có quá ít dòng điện
chạy qua.
Công tắc điều khiển tốc độ quạt xoay đến vị trí N2 (normal -2 là tốc độ trung bình
mức 2) sẽ mở đường cho dòng điện về mass qua chân số 4. Dòng chạy qua chân số 3
và đi ra chân số 4 về mass (đường màu xanh lá). Dòng chỉ đi qua một phần của điện
trở. Vì vậy ở tốc độ trung bình mức 2 môtơ quạt giàn lạnh quay nhanh hơn vì có
nhiều dòng điện đi mạch hơn.
2. Đi ốt chỉnh lưu (Rectifier diode)
a. Cấu tạo diode chỉnh lưu

Diode được cấu tạo từ Silic (Si) hoặc Germanium (Ge) và có hai cực dương (P-
Positive) và âm (N- Negative).
Khi diode được đặt đúng cực vào mạch điện, ta nói nó phân cực thuận. Khi diode
đặt ngược chiều vào mạch điện, ta nói nó phân cực ngược.
Diode chỉ cho dòng điện chạy qua theo chiều thuận.
Nếu điện áp quá lớn sẽ làm diode bị thủng (khi đó diode sẽ thông mạch hoặc bị nổ
đứt)
Diode được ứng dụng để chỉnh lưu bán kỳ hoặc toàn kỳ. Sau này khi phân tích mạch
điện hệ thống nạp điện ắc quy trên ô tô chúng ta sẽ thấy rõ công dụng chỉnh lưu toàn
kỳ của diode.
b. Đặc tính kỹ thuật
• Điện áp trên Diode loại Silic là VSi=0,6V (Vmax= 0,8V)
Germanium là VGe= 0,2V (Vmax= 0,4V)
• Dòng điện thuận cực đại, dòng bão hòa nghịch cực đại, và điện áp nghịch cực đại.

c. Cách thử Diode (diode test)


• Dùng Ohm kế để đo
Si điện trở thuận vài trăm Ω. Điện trở nghịch vô cùng lớn
Ge điện trở thuận vài trăm Ω. Điện trở nghịch vài trăm KΩ
• Dùng vị trí đo Diode

3. Đi ố ổn áp (Z- Zenner diode)


Có cấu tạo giống như diode chỉnh lưu, nhưng các chất bán dẫn được pha vào một tỷ
lệ tạp chất cao hơn.
ZENER DIODE
P- Positive N- Negative

Khi phân cực thuận thì diode zener hoạt động như diode chỉnh lưu.
Khi phân cực nghịch thì dòng sẽ tụt qua zener diode, giữ cho điện áp không thay
đổi ở một trị số nào đó.

Ứng dụng:
Được dùng ổn định điện áp trong các mạch có điện áp nguồn thay đổi: mạch đánh
lửa,mạch tiết chế.
4.Tụ điện (C- Capacitor)
• Được chế tạo từ hai bản cực dẫn điện đặt song song nhau, ở giữa có một lớp cách
điện gọi là điện môi.
C

• Tụ không cho dòng điện một chiều đi qua. Khi nối vào mạch, cực dương của tụ sẽ
tích điện dương của nguồn, cực âm sẽ tích điện âm của nguồn.
Phân loại
Có 3 nhóm tụ chính:
• Tụ mica: hoạt động ở tần số cao, do đó loại này có khả năng tích điện thấp.
• Tụ gốm, giấy: hoạt động ở tần số trung bình, có khả năng tích điện vài trăm pF đến
vài trăm nF.
• Tụ hóa học: trong các mạch tần số thấp, khả năng tích điện đến đơn vị μF.
Cách đo kiểm
Dùng vị trí đo Ohm ()
• Tụ >100μF dùng thang đo x1
• Tụ từ 10 ÷100μF dùng thang đo x10
• Tụ từ 100nF÷10μF dùng thang đo x1K
• Tụ từ 1nF÷100nF dùng thang đo x10K
• Tụ từ 100pF÷1nF dùng thang đo x1M
• Tụ <100pF dùng thang đo x10M
Đo 2 lần (mỗi lần đảo ngược chiều tụ lại). Nếu kim nhảy lên rồi trả về hết là tụ còn
tốt.
5.Transitor lưỡng cực (Bipolar transistor)
Có hai loại:
a. Transistor thuận PNP

b.Transitor nghịch NPN


Transisitor có thể được sử dụng như một bộ khuếch đại để điều khiển tốc độ motor
điện chẳng hạn như motor quạt lạnh AC hoặc như một công tắc bán dẫn điều khiển
kim phun.
Transisitor được chế tạo từ vật liệu kiểu N hoặc kiểu P như diode và nguyên lý hoạt
động cũng tương tự. Tuy nhiên transistor có hai mối nối PN thay vì chỉ một như
diode,và với hai mối nối cho phép transistor hoạt động nhiều chức năng hơn diode.
Transistor lưỡng cực được chế tạo gồm có ba phần: cực phát E, cực góp (cực thu) C
và cực nền (cực gốc) B. Có hai kiểu transistor lưỡng cực: PNP và NPN. Trong kiểu
PNP thì cực phát của transisitor được chế tạo từ vật liệu kiểu P, cực nền kiểu N và
cực góp kiểu P. Transisitor kiểu PNP hoạt động khi cực phát được cấp dương còn cực
nền và cực góp nối ra mass.
Transisitor kiểu NPN có cực phát E được làm từ vật liệu kiểu N, cực nền kiểu P còn
cực góp kiểu N. Transistor NPN hoạt động khi cực phát E nối mass còn cực nền và
cực góp được cấp dương. Tuy khác nhau về các chân E, C, B nối vào mạch nhưng
nguyên lý hoạt động của hai loại transistor này hoàn toàn giống nhau.

Dòng chạy qua cực phát E và cực góp C nhờ dòng điều khiển chạy qua cực nền B.
Cực E là nơi cho dòng điện chạy qua nhiều nhất và tùy vào kiểu vật liệu loại N hay P
mà nó cho dòng điện chạy ngược lại. Cực góp có cường độ dòng đi qua nhỏ hơn và
cực nền có dòng đi qua rất bé. Kết quả là với kiểu transistor này sẽ cho dòng đi qua
cực phát- cực góp lớn hơn rất nhiều so với dòng đi qua cực phát- cực nền. Thông việc
điều chỉnh dòng đi qua cực phát- cực nền sẽ điều khiển được dòng đi qua cực phát-
cực góp.
Ký hiệu transistor NPN và PNP cũng khác nhau, việc phân biệt được dựa vào dấu
mũi tên bên phía cực phát chỉ chiều của dòng điện. Cực nền ký hiệu trông giống như
chữ T và cực đối diện với cực phát luôn là cực góp.
Transistor NPN có ký hiệu mũi tên quay về phía cực phát còn transistor PNP có
mũi tên hướng vào trong.
Ứng dụng phổ biến nhất của transistor trên ô tô là làm một công tắc điều khiển. Nó
đặt tại các cổng tín hiệu điều khiển bên trong hộp ECU, ECM, hộp điều khiển lạnh,
ABS, IC đánh lửa, IC tiết chế… chẳng hạn như điều khiển kim phun trong hệ thống
EFI, điều khiển đóng mở đèn pha, gương chiếu hậu… Khi một transistor NPN được
sử dụng như một công tắc, cực phát E nối mass và cực nền được cấp dương. Nếu điện
áp dương ngừng cấp cho cực nền thì dòng cũng không còn chạy từ cực phát E đến
cực C nữa và transistor ngừng hoạt động. Khi cực nền có một điện áp đủ lớn thì dòng
lại chạy qua giữa cực E và C. Về cơ bản, transistor dùng một dòng nhỏ để điều khiển
dòng lớn giống như rờle đề: một dòng nhỏ chạy qua cuộn dây rờle sẽ mở cho dòng
lớn chạy tới máy khởi động.
NGƯỠNG CỦA TRANSISTOR
Chúng ta biết rằng dòng chạy qua cực phát- nền sẽ điều khiển dòng chạy qua cực
phát- cực góp. Vì vậy mà cường độ dòng đi qua cực phát- nền sẽ ảnh hưởng đến
cường độ dòng đi qua cực phát- góp. Tỷ lệ giữa hai cường độ dòng này gọi là ngưỡng
của transistor. Ngưỡng này cho phép ta điều khiển một dòng lớn thông qua một dòng
rất nhỏ giống như cách hoạt động của rờle. Ví dụ: nếu một transistor có ngưỡng là
100 nghĩa là chỉ cần dòng qua cực phát- nền là 10mA thì ta có được dòng qua cực
phát– góp là 1000mA. Việc tăng dòng này diễn ra cho tới khi transistor đạt trạng thái
bão hòa. Lúc này dòng qua cực phát- nền tăng nhưng không làm tăng dòng qua cực
phát-góp thêm nữa.
Transistor được dùng làm công tắc (digital transistor hoặc switch transistor) sẽ hoạt
động ở trạng thái bão hòa, còn transistor dùng để khuếch đại sẽ làm việc trong giai
đoạn từ lúc bắt đầu được kích cho tới lúc bắt đầu bão hòa.
Một ứng dụng khác của transistor là khuếch đại. Trạng thái làm việc này là sự liên
hệ giữa dòng qua cực phát- nền với dòng qua cực phát-góp. Vì việc thay đồi dòng
nhỏ qua cực phát- nền sẽ ảnh hưởng đến dòng qua cực phát- góp nên ta có thể sử
dụng transistor để tăng độ lớn của các tín hiệu nhỏ trong radio hoặc thực hiện những
điều khiển khác nhau lên motor.
Trên một số đời Toyota, transistor đựơc dùng điều khiển các tốc độ khác nhau của
motor chẳng hạn như của motor quạt giàn lạnh của Cressida và motor điện kéo bơm
trợ lực lái trên MR2 1991. Bằng cách thay đổi dòng trên cực phát-nền của transistor
làm dòng chạy qua motor thay đổi, vì vậy thay đổi tốc độ của motor.