3.1. Hiện trạng chất lượng nước kênh mương thủy lợi trên địa bàn Gia Lâm 3.1.1.

Hiện trạng cơ sở hạ tầng hệ thống thủy lợi huyện Gia Lâm Gia Lâm là huyện cửa ngõ Đông Bắc của Hà Nội với diện tích 114,79 km2, dân số khoảng 227.600 người (năm 2009). Vị trí địa lý của Huyện Gia Lâm: phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh; phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên; phía Tây giáp quận Long Biên và quận Hoàng Mai; phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đông Anh. Sau khi Nghị định 132/2003/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 6/11/2003 được thực hiện, huyện Gia Lâm còn lại 22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2 thị trấn Yên Viên và Trâu Quỳ; 20 xã: Lệ Chi, Đình Xuyên, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Trung Màu, Dương Hà, Yên Thường, Yên Viên, Kim Lan, Cổ Bi, Bát Tràng, Đa Tốn, Dương Xá, Kiêu Kỵ, Văn Đức, Đông Dư, Dương Quang, Phú Thị, Đặng Xá, Kim Sơn. Gia Lâm hiện nay là khu vực phát triển đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh, là đầu mối của nhiều công trình giao thông và hạ tầng kỹ thuật quan trọng của thành phố cũng như quốc gia. Bên cạnh đó, đây cũng là khu vực phát triển các cơ sở công nghiệp quy mô, các trung tâm dịch vụ, thương mại lớn. Toàn huyện hiện có 3 siêu thị lớn, 17 chợ, trong đó có 13 chợ quy mô bán kiên cố; có 890 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, với số vốn hơn 3.300 tỷ đồng, thu hút 13.118 lao động (năm 2009). Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh năm 2008 đạt gần 603 triệu đồng. Hết quý I/2009, giá trị sản xuất các ngành kinh tế tăng 10,96% so với quý I năm 2008, trong đó thương mại dịch vụ 16,7%, công nghiệp xây dựng tăng 12,2%. Là khu vực nông nghiệp ngoại thành Hà Nội, sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm năm sau cao hơn năm trước: trồng trọt tăng bình quân 1,5%, chăn nuôi tăng 5,6%, thủy sản tăng 10,2%; diện tích rau an toàn đạt gần 60%. Hiện nay Gia Lâm đang trong tiến trình phát triển nông nghiệp theo hướng thay thế các loại cây trồng hiệu quả kinh tế thấp bằng các loại cây đặc sản có hiệu quả cao hơn. Trong địa bàn huyện cũng đã hình thành các vùng sản xuất rau an toàn tập trung tại các xã Văn Đức, Lệ Chi, Đặng Xá, Đông Dư... Huyện Gia Lâm phấn đấu đến năm 2010, 100% diện tích rau trên địa bàn đều được sản xuất theo quy trình rau an toàn. Nằm trong vùng giao thoa của văn hóa Thăng Long và văn hóa Kinh Bắc nên tại Gia Lâm hiện nay còn gìn giữ và phát triển được nhiều di tích lịch sử-văn hóa có giá trị.

Trong 3 năm trở lại đây, đời sống của người dân huyện Gia Lâm được nâng lên một cách rõ rệt. Năm 2008 đã có hơn 10.000 lao động của huyện được tạo việc làm và có thu nhập ổn định; số hộ nghèo giảm còn 2,3%; xóa xong nhà dột nát; 100% xã, thị trấn có trạm y tế đạt chuẩn; 22 trường học đạt chuẩn quốc gia; 100% các đường liên thôn, liên xã được bê tông hóa. Huyện Gia Lâm tập trung nhiều làng nghề truyền thống như Bát Tràng (sản xuất gốm sứ), Kiêu Kỵ (dát bạc, sơn son thếp vàng, đồ gỗ), Ninh Hiệp (thuốc Bắc, buôn bán vải vóc)…

Hình 3.1. Đặc điểm một số thông số khí tượng năm 2010 địa bàn Gia Lâm Nguồn: Trạm khí tượng HUA-JICA, 2010 Khí hậu Gia Lâm mang nhiều đặc trưng khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng với nền nhiệt độ và độ ẩm cao. Nhiệt độ không khí trung bình năm là 24,15 oC cao nhất vào tháng 7 (nhiệt độ trung bình tháng là 30,09oC) và thấp nhất vào tháng 1 (16,29oC). Độ ẩm không khí dao động từ 73,6 đến 96,4%. Lượng mưa trong khu vực tương đối dồi dào, là nguồn cung cấp nước thường xuyên cho sản xuất nông nghiệp trong đó, tổng lượng mưa trong năm 2010 là 951 mm trong khi tổng lượng bay hơi là 735 mm. Lượng mưa cao nhất tập trung vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 với giá trị dao động trong khoảng 110 ÷ 155 (mm/tháng), những tháng còn lại từ tháng 10 đến tháng 5 rơi vào mùa khô với lượng mưa thấp hơn 115 (mm/tháng). Số giờ nắng trung bình ngày là 3,75 giờ và tổng số

giờ nắng trung bình tháng dao động trong khoảng 25,9 ÷ 164 (giờ) tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng đặc biệt là lúa và rau vụ đông. Căn cứ vào hiện trạng thủy văn, địa bàn nghiên cứu hai khu vực chính: cụm Bắc Đuống và cụm Nam Đuống. Năm 2006, trên địa bàn huyện Gia Lâm có diện tích mặt nước là 625,27 ha gồm có ao, hồ, đầm, kênh mương có khả năng nuôi trồng thủy sản, đó là chưa kể đến một diện tích khá lớn các khu vực ruộng trũng chỉ sản xuất lúa một vụ. Trong đó, diện tích đã nuôi trồng thủy sản là 77,1% (tỷ lệ này gần tương đương với cả nước là 78,85%). Diện tích mặt nước không sử dụng cho nuôi trồng thủy sản trên toàn huyện là 143,2 ha tương ứng 22,9% trong đó hơn 17,7% diện tích thủy vực nước đứng (ao, hồ, đầm) và hơn 57,2% diện tích thủy vực nước chảy (kênh, mương, sông) không được sử dụng cho mục đích này (bảng 3.1). Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng mặt nước huyện Gia Lâm
Tiêu chí Địa bàn Toàn huyện ha % ha % ha % ha % Tổng diện tích mặt nước Tổng 625,3 100,0 76,4 12,2 287,5 46,0 261,4 41,8 Ao, hồ 543,1 86,9 55,7 72,9 264,8 92,1 222,7 85,2 Mương 82,2 15,1 20,7 37,2 22,7 8,6 38,7 17,4 Diện tích mặt nước NTTS Tổng 482,1 77,1 68,4 89,5 212,8 74,0 200,9 76,8 Ao, hồ 446,9 82,3 53,7 96,4 200,3 75,7 192,9 86,6 Mương 35,2 42,8 14,7 71,0 12,5 54,9 8,0 20,7

Các xã Bắc Đuống

Các xã Nam Đuống

Các xã ven đê

Nguồn: Phòng Kế hoạch và phát triển nông thôn huyện Gia Lâm, 2006 Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội hiện nay nhận nước từ hai hệ thống thủy lợi là hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải và hệ thống thủy lợi Bắc Đuống. Hai hệ thống này cấp nước cho 8.255 ha đất nông nghiệp (chiếm 47,5% diện tích của toàn huyện) trong đó lúa và cây hàng năm chiếm 43,3 %, thủy sản chiếm 3,4%, còn lại là đất cây lâu năm, vườn tạp và đất trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc.

Hệ thống thủy lợi Bắc Đuống hiện có 59 trạm bơm với 642 máy bơm, loại lớn nhất công suất 14.400 m3/h, loại bé nhất 1.000m3/h và hàng trăm cống đập (có 48 cống dưới đê), hàng nghìn km kênh mương. Trong địa bàn huyện Gia Lâm, hệ thống này cấp nước cho các đơn vị hành chính: Thị trấn Yên Viên, Yên Thường, Dương Hà, Ninh Hiệp, Đình Xuyên, Phù Đổng, Lệ Chi, Trung Mầu, Dương Xá… Hệ thống này lấy nước từ sông Đuống, một nhánh của sông Hồng với các sông đào thủy lợi nổi bật như sông Thiên Đức, sông Ngũ Huyện Khê. Trong thời kỳ đổi mới (từ 1985 đến nay), hệ thống thủy lợi Bắc Đuống chịu sự quản lý của Công ty khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống, trong thời gian này công ty đã tiến hành nâng cấp, xây dựng mới nhiều trạm bơm như Đặng Xá, Phấn Động 2, Tân Chi 2, Kim Đôi 2 trong đó, có những trạm bơm đã đạt tới mức độ khá hiện đại như trạm bơm Tân Chi 2. Do cơ sở vật chất có những bước nhảy vọt nên việc cung cấp nước được đảm bảo hơn, tổng lưu lượng bơm nước của hệ thống tăng trung bình trên 26.950 m3/giờ/năm, gấp gần 3 lần thời kỳ 1970-1985. Diện tích tưới nước giai đoạn 1985-2000 đạt 41.000 ha, tăng 5.000 ha so với giai đoạn trước. Hiệu quả của hệ thống không những đạt về số lượng mà còn luôn đảm bảo để nhân dân trong vùng cấy trồng trong thời vụ tốt nhất. Tuy nhiên, đi đôi với những phát triển về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống thủy lợi Bắc Đuống phải đối mặt với nguy cơ suy giảm hiệu quả cấp và thoát nước. Hệ thống được xây dựng từ thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước, một mặt do sự xuống cấp ở nhiều địa điểm, mặt khác do ảnh hưởng phân thủy của hồ thủy điện Hòa Bình nên hiện nay chỉ còn 70 – 80% lưu lượng thiết kế. Trên toàn bộ hệ thống, trục dẫn nước chính Long Tửu – Trịnh Xá (12 km), hai trục tưới chính là mương Bắc và mương Nam đều là mương đất (60 km) và mới chỉ bê tông hóa được 2,5 km. Các mương này chịu ảnh hưởng thường xuyên bởi quá trình bồi lắng bùn cát, chỉ tính riêng trên trục Long Tửu – Trịnh Xá, mỗi năm lượng bùn cát phát sinh là 15.000 đến 20.000 m3 và hiện không còn diện tích đất trống làm bãi đổ sau khi nạo vét. Các mương tiêu của hệ thống phần lớn tận dụng từ trục tiêu cổ chưa hoàn chỉnh như các trục tiêu Ngũ Huyện Khê, Tào Khê, Trịnh Xá, Kim Đôi,

Đặng Xá... không chỉ chưa đảm bảo khả năng tiêu úng cho các cánh đồng vào mùa mưa lũ mà còn rơi vào tình trạng suy giảm nghiêm trọng về chất lượng nước. Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng từ năm 1958 cấp nước cho tỉnh Hưng Yên, phần lớn tỉnh Hải Dương, một phần tỉnh Bắc Ninh và Hà Nội (quận Long Biên, huyện Gia Lâm), nằm giữa các sông Hồng (phía Tây), sông Đuống (phía Bắc), sông Thái Bình (phía Đông), sông Luộc (phía Nam). Vùng có hình tứ giác, mỗi chiều khoảng 50 ÷ 70 km, diện tích 200.230 ha trong đó hơn 110.000 ha là đất nông nghiệp, dân cư đông đúc, nhiều đô thị và khu công nghiệp lớn. Đây là hệ thống thuỷ lợi lớn nhất của đồng bằng Bắc Bộ nước ta. Trên địa bàn huyện Gia Lâm, hệ thống Bắc Hưng Hải cấp nước cho các đơn vị hành chính: Thị trấn Trâu Quỳ, Cổ Bi, Đông Dư, Đa Tốn, Bát Tràng, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Văn Đức, Đặng Xá, Phú Thị, Dương Quang, Kim Sơn, Lệ Chi với sông chính là sông Cầu Bây. Đại công trình thuỷ nông Bắc Hưng Hải hoàn thành năm 1962 là niềm tự hào của ngành thủy lợi lúc bấy giờ, sau khi hoàn thiện hệ thống bao gồm các công trình chính: cống Xuân Quan, Báo Đáp, Kênh Cầu, Lực Điền, Lạc Cầu, Đồng Than, Bằng Ngang, Cống Tranh, Neo, Bá Thuỷ, Cầu Xe, An Thổ và âu thuyền thành phố Hải Dương. Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Bắc Hưng Hải quản lý 225km sông chục chính và 240 km bờ kênh chính Bắc Hưng Hải với nhiệm vụ tạo dòng tiêu thoát cho 185.600 ha; cung cấp nước tạo nguồn cấp cho 150.000 ha lúa và cho công nghiệp, dân sinh trong vùng. Hệ thống lấy nước từ sông Hồng chủ yếu qua cống Xuân Quan (rộng 19m, 4 khoang cửa, lưu lượng 75m3/s). Nước tiêu chủ yếu qua các cống Cầu Xe (rộng 56m, 7 khoang cửa, lưu lượng 230m3/s), An Thổ (rộng 56m, 6 khoang cửa và 1 âu thuyền, lưu lượng 105m3/s). Ngoài ra hệ thống còn có một số trạm bơm kết hợp tưới - tiêu trực tiếp tại những vùng hẹp ven các sông Đuống, Luộc, Thái Bình. Theo nhiệm vụ đề ra, hệ thống Bắc Hưng Hải phải đảm bảo hệ số tưới là 0,75 lít/s/ha thêm vào đó với điều kiện thủy văn thất thường trong thời gian gần đây, hệ số tưới phải đạt từ 1,2 đến 1,4 lít/s/ha. Hệ số tiêu của hệ thống hiện chỉ đạt từ 3 đến 3,3 lít/s/ha trong khi để tiêu úng triệt để, hệ số phải đạt từ 8 đến 10 lít/s/ha. Nhưng trên thực tế hiệu quả của hệ thống thường chỉ đạt ở mức 70% dẫn đến tình trạng khi mưa ít thì hạn, mưa

nhiều lại ngập úng. Mặt khác, không chỉ hiện trạng chất lượng nước mà ngay cả hiện trạng công trình của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải đang có những dấu hiệu suy giảm nặng nề. Trên địa bàn huyện Gia Lâm, những dấu hiệu rõ rệt nhất cho quá trình này là nguy cơ sập cống đệm Báo Đáp và suy giảm chất lượng nước trầm trọng trên sông Cầu Bây. Cống Báo Đáp nằm cách cửa cống đầu nguồn Xuân Quan 3 km đóng vai trò đảm bảo an toàn cho cống Xuân Quan khi mực nước ngoài sông lên mức báo động ba (11m). Sau khi có hồ Hoà Bình, ít khi mực nước sông Hồng lên mức 11m. Vì thế, người ta đã lợi dụng cống này vào mục đích lấy phù sa từ nước sông Hồng vào mùa lũ. Nhưng đi liền với đó, phù sa lắng đọng nhiều làm ách tắc dòng chảy ở các hệ thống mương đất cũng như mương bê tông. Sông Cầu Bây bắt nguồn từ hồ Kim Quan (phường Việt Hưng – quận Long Biên) đến cống Xuân Thuỵ có chiều dài 12.064m làm nhiệm vụ tiêu thoát nước trong mùa mưa, đồng thời còn dự trữ nước phục vụ cho công tác chống hạn vụ Đông Xuân. Qua nhiều năm khai thác, hiện nay sông Cầu Bây bị bồi lắng, ô nhiễm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến công tác tưới tiêu và chất lượng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Như vậy, do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan và do hầu hết các hệ thống kênh mương đều lợi dụng hệ thống thủy lợi cổ hoặc kênh mương tự nhiên nên đa số các hệ thống kênh mương đều chịu nhiều ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài. Các nguồn ảnh hưởng tới chất lượng hệ thống kênh mương thủy lợi bao gồm: tác động của con người, súc vật và tự nhiên. Ở cả hệ thống Bắc Đuống và hệ thống Bắc Hưng Hải đều thấy xuất hiện các trường hợp vi phạm Pháp lệnh công trình thủy lợi như xây dựng trái phép các công trình, đổ rác thải làm ách tắc dòng chảy, xả thải trái phép nước thải công nghiệp, làng nghề, nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý… Trong các nguồn thải ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nước hệ thống kênh mương thủy lợi, nước thải từ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, sinh hoạt của người dân sống trong lưu vực là những nguồn thải phổ biến.

3.1.2. Hiện trạng chất lượng nước hệ thống thủy lợi trên địa bàn nghiên cứu Từ đặc điểm phân bố hệ thống thủy lợi của huyện Gia Lâm, nghiên cứu này lựa chọn một số kênh mương thủy lợi điển hình thuộc hai hệ thống thủy lợi trên. Trong đó với các xã Phù Đổng, Trung Màu, Dương Xá đại diện cho chất lượng nước hệ thống Bắc Đuống lấy nước trực tiếp từ kênh Nam, sông Đuống và sông Thiên Đức; các xã Cổ Bi, Đa Tốn, Kiêu Kỵ, Sài Đồng và Trâu Quỳ đại diện cho chất lượng nước hệ thống Bắc Hưng Hải lấy nước từ sông đào Bắc Hưng Hải, sông Cầu Bây. Các mẫu nước trên được lấy vào cùng một thời điểm tháng 3 khi nước được cấp cho toàn bộ hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất lúa vụ xuân năm 2007. Bảng 3.2. Hiện trạng chất lượng nước hệ thống thủy lợi trên địa bàn Gia Lâm
Thông số Địa bàn Dương Xá Phù Đổng Trung Màu Sông Thiên Đức Sông Đuống Cổ Bi Đa Tốn Kiêu Kỵ Sài Đồng Trâu Quỳ Sông Cầu Bây Bắc Hưng Hải Số mẫu 28 11 6 4 3 12 14 12 8 36 6 3 pH 6.64 ÷ 7,89 7,43 ÷ 7,88 6,97 ÷ 7,57 7,15 ÷ 7,40 7,04 ÷ 7,18 7,22 ÷ 7,54 7,66 ÷ 7,79 7,23 ÷ 7,92 7,48 ÷ 7,65 6,68 ÷ 8,25 7,32 ÷ 7,65 7,18 ÷ 7,43 Eh mV 119 124 143 148 183 118 141 129 113 135 107 165 3,6 5,2 4,3 5,9 4,8 4,9 6,1 4,9 4,8 5,5 3,0 5,4 1,12 2,24 1,48 2,18 2,43 0,98 1,23 1,74 2,02 2,47 0,77 1,67 3,16 3,25 2,07 1,85 1,12 0,95 1,18 2,11 2,82 1,65 3,11 0,80 DO NO3NH4+ PO43mg/l 1,89 1,14 0,64 1,07 0,80 0,31 1,59 2,18 1,53 0,84 1,60 0,24 23,5 18,9 20,0 22,1 18,4 16,1 19,6 26,5 19,8 18,0 23,8 14,7 44 79 49 48 37 30 43 49 92 46 45 31 BOD5 COD

Nguồn: Hiện trạng chất lượng nước mặt một số xã thuộc huyện Gia Lâm, 2007 Kết quả đánh giá chất lượng nước tại một số hệ thống thủy lợi trên địa bàn Gia Lâm cùng với các hệ thống sông chính cấp nước cho chúng được trình bày trong bảng 3.2. Kết quả này cho phép chúng ta rút ra một số nhận xét sau:

Giá trị pH dao động trong khoảng 6,64 đến 7,92 mặc dù đảm bảo TCVN 5942 – 1995 cột B (cho thời điểm trước 2008) cũng như QCVN 08 – 2008 cột B1 (sau 2008) nhưng đã có dấu hiệu nhiễm bẩn. Như chúng ta đã biết, nước thải từ hoạt động canh tác lúa làm giảm pH của các hệ thống kênh mương tiếp nhận, quá trình chua hóa môi trường này được ghi nhận là một trong những tác động quan trọng của việc lạm dụng phân bón hóa học. Trái ngược với xu hướng này, giá trị pH trong các hầu hết hệ thống kênh mương thủy lợi thuộc 8 xã nghiên cứu cao hơn so với các hệ thống sông cấp nước cho chúng, nguyên nhân có thể là do ảnh hưởng của các nguồn thải có pH cao như nước thải sinh hoạt, nước thải và chất thải chăn nuôi. Nồng độ oxy hòa tan trung bình của tất cả các mẫu nước đạt ở mức 4,86 mg/l, cùng với đó giá trị thế oxy hóa khử (Eh) thường ở mức lớn hơn 100 mV cho thấy trạng thái môi trường hầu hết ở mức oxy hóa đảm bảo tiêu chuẩn cho phép cũng như đảm bảo cho các hoạt động sinh học tự nhiên trong thủy vực. Chất lượng nước của toàn bộ các hệ thống kênh mương thủy lợi và một số thủy vực nước mặt khác đang có dấu hiệu nhiễm bẩn thông qua một số các yếu tố khác nhau: Giá trị DO và Eh rất thấp ở một số kênh mương thuộc Dương Xá, Phù Đổng, Kiêu Kỵ và sông Cầu Bây đặc biệt tại những vị trí chịu ảnh hưởng bởi các cống thải. Tại các kênh mương chịu ảnh hưởng từ nước thải, một số vị trí lấy mẫu cho DO thấp hơn 4 mg/l có những mẫu thấp dưới 2 mg/l đồng thời giá trị Eh âm cho thấy quá trình khử yếm khí các chất chiếm ưu thế. Đặc điểm này không chỉ dẫn tới tình trạng suy giảm oxy cục bộ ở nhiều địa điểm mà còn là nguyên nhân phát sinh các chất độc đối với cây trồng cũng như sức khỏe của người dân sống trong khu vực lân cận. Hàm lượng chất hữu cơ thể hiện thông qua giá trị BOD 5 và COD cho thấy dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ ở nhiều hệ thống kênh mương, đa số các vị trí lấy mẫu không đảm bảo QCVN 08 – 2008. Cá biệt ở nhiều vị trí kênh mương tiêu nước chảy qua khu vực dân cư, tiếp nhận các nguồn thải chăn nuôi lợn, trâu, bò kéo và bò sữa ở một số địa phương như Dương Xá, Đa Tốn, Phù Đổng hoặc tiếp nhận nước thải rỉ rác từ bãi rác Kiêu Kỵ, nhu cầu oxy sinh hóa cũng như hóa học có thể tăng đến hàng trăm mg/l vượt tiêu chuẩn cho phép từ một vài lần đến vài chục lần. Hàm lượng dinh dưỡng hòa tan ở dạng NO3-,

NH4+ và PO43- trong các hệ thống kênh mương kể cả mương cấp và đặc biệt ở các mương tiêu cao hơn so với trong các sông cấp nước cho chúng đồng thời ở nhiều vị trí vượt quá TCCP cho thấy ảnh hưởng nghiêm trọng của các nguyên nhân gây suy giảm chất lượng nước trong các hệ thống này. Eh (mV)

NH4+ (mg/l)

PO43- (mg/l)

BOD5 (mg/l)

Hình 3.2. Biến động một số thông số chất lượng nước theo địa điểm nghiên cứu Chất lượng nước trong hệ thống kênh mương thủy lợi không chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chất lượng nước hệ thống sông cấp nước cho chúng mà còn chịu ảnh hưởng bởi các tác nhân gây ô nhiễm phát sinh trên chính hệ thống kênh mương này. Sự khác biệt đáng kể giữa chất lượng nước trong các mương tiêu và mương cấp là minh chứng rõ ràng nhất cho vấn đề này. Tại các hệ thống kênh mương có chức năng như mương cấp, chất lượng nước có liên quan mật thiết với chất lượng nước trước trạm bơm. Kết quả đánh giá chất lượng nước tại các kênh mương đã được bê tông hóa (mương cấp tại Đa Tốn, Kiêu Kỵ, Cổ Bi…) phản ánh rõ nhất cho quy luật này. Ngược lại, nồng độ dinh

dưỡng và hữu cơ trong mương tiêu thường cao hơn rất nhiều so mương cấp do tại đây đã có ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài ví dụ nồng độ cao của chất rắn lơ lửng, hữu cơ, amoni và photphat. Đối với hệ thống thủy lợi chịu ảnh hưởng từ các hoạt động kinh tế vùng nông thôn, các nguồn thải chính bao gồm nước thải từ hoạt động canh tác lúa mang tính thời vụ, phát sinh vào khoảng tháng 5, 6 của vụ xuân và tháng 10, 11 của vụ mùa; nước thải từ hoạt động của khu dân cư bao gồm nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi (có hoặc không có biogas) mang tính liên tục theo thời gian và phân bố rải rắc theo không gian; ngoài ra còn một lượng rất lớn nước chảy tràn qua đồng ruộng và khu dân cư với những tính chất tương tự như nước thải canh tác và nước thải sinh hoạt. Khi tiếp nhận các nguồn thải này, chất lượng nước của hệ thống kênh mương có những biến đổi khác nhau trong đó nước thải canh tác làm tăng trực tiếp nồng độ các chất dinh dưỡng do phân bón, tăng độ đục và chất rắn lơ lửng trong khi nước thải sinh hoạt và chăn nuôi làm tăng đột biến hàm lượng chất hữu cơ và pH. Để thấy rõ biến động chất lượng nước do ảnh hưởng của nguồn thải, tiến hành so sánh hai hệ thống mương tiêu đều là mương đất, mương thứ nhất là mương nội đồng tiếp nhận nước thải từ canh tác lúa, mương thứ hai chảy qua khu dân cư, tiếp nhận một lượng lớn nước thải từ khu vực này bao gồm nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi chưa qua xử lý. Kết quả được thể hiện trong bảng 3.3: Bảng 3.3. So sánh chất lượng nước mương tiếp nhận các nguồn thải khác nhau
Mương tiêu nước canh tác Mương nhận nước thải sinh hoạt Đối tượng Thông số Khoảng biến động Trung bình Khoảng biến động Trung bình pH Eh DO NO3NH4+ PO43BOD5 mV mg/l 6,64 ÷ 7,79 173 ÷ 237 4,9 ÷ 6,3 0,52 ÷ 2,83 0,56 ÷ 2,64 0,47 ÷ 2,88 9,4 ÷ 27,3 210 5,7 1,29 1,63 0,86 17,5 6,7 ÷ 8,02 -24 ÷ 243 3,2 ÷ 7,7 0,38 ÷ 1,93 0,47 ÷ 3,57 1,01 ÷ 2,60 12,9 ÷ 50,7 124 5,6 1,31 2,04 1,80 20,2

COD

44 ÷ 172

69

26 ÷ 422

134

Nguồn: Hiện trạng chất lượng nước mặt xã Dương Xá, 2007 Mương chịu ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi có biểu hiện gia tăng mức độ trung bình của các thông số ô nhiễm dinh dưỡng và hữu cơ, giảm nồng độ oxy hòa tan và thế oxy hóa khử của mẫu đồng thời tăng pH. Cụ thể là, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi làm giảm Eh trong mương xuống 1,7 lần, tăng nồng độ NH4+ và PO43- lên lần lượt 1,3 và 2,1 lần, giá trị BOD5 và COD tăng lên lần lượt 1,2 và 1,9 lần so với đoạn mương chỉ nhận nước thải canh tác. Bên cạnh đó, nguồn thải từ sinh hoạt và chăn nuôi có sự biến động rất mạnh theo thời gian, địa điểm xả thải và bản chất của nước thải do đó tác động của chúng còn bao gồm kéo giãn khoảng biến động của các yếu tố ô nhiễm trong nước. Như vậy, có thể rút ra kết luận rằng việc lạm dụng các hệ thống kênh mương thủy lợi tại các vùng nông thôn là nguyên nhân dẫn tới nhiễm bẩn hoặc ô nhiễm nghiêm trọng của chúng. Do đó, tồn tại những quy luật chung ảnh hưởng tới chất lượng nước các hệ thống kênh mương thủy lợi trên địa bàn Gia Lâm. Một là chất lượng nước mương phụ thuộc vào đặc điểm nguồn cấp nước tức là phụ thuộc vào hệ thống thủy lợi mà chúng thuộc về. Hai là chất lượng nước chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi nguồn thải bao gồm loại nguồn thải, lưu lượng xả thải và mức độ ô nhiễm của nguồn. Từ những đặc điểm này, tôi tiến hành lựa chọn và nghiên cứu chi tiết trên hai hệ thống kênh mương thủy lợi điển hình cho hệ thống thủy lợi Bắc Đuống và Bắc Hưng Hải. Trên các hệ thống kênh mương thủy lợi này, tiến hành lấy mẫu tại các vị trí tại đó điển hình cho áp lực từ nước thải: canh tác, chăn nuôi và nước thải sinh hoạt. 3.1.3. Hiện trạng chất lượng nước trên các hệ thống kênh mương điển hình Trên hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, lựa chọn hệ thống kênh mương thủy lợi nội đồng thuộc các khu vực nghiên cứu và sản xuất trong trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội tiếp nhận nước cấp từ sông Cầu Bây. Hệ thống này gồm nhiều mương nhỏ nối với nhau ở mương tiêu nước ra sông Cầu Bây nằm phía Tây của trường. Trên hệ thống này, đoạn mương thuộc khoa Nông Học nhận nước thải từ cánh đồng lúa và nước chảy tràn, vì thế có thể coi đó là mương tiêu nước của khu vực canh tác lúa. Với kích thước nhỏ,

mương có chiều dài 75 m, rộng từ 4 đến 5 m, chiều sâu từ 0,75 đến 1 m nên để đảm bảo mực nước trong ruộng lúa, mực nước mương được giữ ổn định trong suốt hai vụ (vụ xuân và vụ mùa) trừ thời gian trước và sau khi gặt, thời gian từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 1 mỗi năm, mương có thể cạn hoàn toàn hoặc cạn một phần. Đoạn mương thuộc khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản là nơi tiếp nhận hai nguồn thải tách biệt: nước thải chăn nuôi quy mô trang trại nhỏ, nước thải sinh hoạt của một cụm dân cư. Mương có vai trò cung cấp nước tưới cho vườn cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản theo hình thức quảng canh (tức là mật độ thả giống thấp và không cung cấp thêm thức ăn). Mương gồm một dòng chính (dài 120 m) và 16 dòng nhánh (dài 40 đến 60 m), chiều rộng trung bình 6 – 8 m (đối với dòng chính) và 4 – 6 m (đối với nhánh). Một mặt, do mương được sử dụng cho nuôi trồng thủy sản, mặt khác do mương cấp nước theo chế độ tự ngấm vào đất vườn nên mực nước của mương được giữ ổn định, ít có sự lưu thông với các hệ thống thủy lợi khác trừ những thời điểm mực nước trong mương lên cao, nước sẽ được bơm chống úng ra sông Cầu Bây. Trên hệ thống thủy lợi Bắc Đuống, tiến hành nghiên cứu ở mương tiêu nội đồng thuộc địa phận xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm. Đoạn mương nghiên cứu có chiều dài 1.260 m, rộng trung bình 7 đến 16 m bắt đầu từ khu vực bể hút chống úng của hệ thống mương tiêu Phù Đổng ra sông Đuống. Hệ thống này gồm có 12 dòng nhánh có những đặc trưng khác nhau về kích thước và loại nguồn thải đưa vào mương. Trên các dòng nhánh này, tùy đặc điểm sử dụng và quản lý mà chúng tiếp nhận các dạng nguồn thải: nước thải sinh hoạt, chăn nuôi với quy mô và mức độ khác nhau bên cạnh đó, hầu hết các nhánh mương đều có chức năng tiêu nước canh tác lúa và hoa màu cho diện tích sản xuất nông nghiệp của xã. Kết quả quan trắc của các thông số theo dõi trên hai hệ thống kênh mương đại diện của Bắc Hưng Hải và Bắc Đuống không có nhiều điểm khác biệt về mức độ trung bình cũng như biến động theo thời gian (PHỤ LỤC 3). Tuy nhiên, sự khác biệt đáng kể xuất hiện giữa các vị trí tiếp nhận các loại nguồn thải khác nhau. Giá trị trung bình của các thông số quan trắc trong 46 tuần (đối với các đoạn mương nhận nước thải canh tác (CT) do trong thời gian từ tháng 12 đến tháng 1 các đoạn mương này cạn nước) và 52 tuần đối

với các đoạn mương khác (chăn nuôi (CN) và sinh hoạt (SH)) được trình bày trong bảng 3.4; chi tiết về kết quả được trình bày trong phần PHỤ LỤC 4. Kết quả này cho thấy chất lượng nước mương như sau: Bảng 3.4. Chất lượng nước thông qua một số thông số lý hóa
Đối tượng Thông số pH Eh (mV) DO (mg/l) N-NH4+ (mg/l) N-NO3- (mg/l) P-PO43- (mg/l) BOD5 (mg/l) COD (mg/l) Mương nhận nước thải Canh tác Biến động -24÷290 TB 176±62 Mương nhận nước thải Chăn nuôi Biến động -134÷276 TB 149±80 Mương nhận nước thải Sinh hoạt Biến động -197÷236 TB 109±105

6,32÷8,08 7,28±0,41 6,82÷8,31 7,41±0,31 6,81÷8,18 7,33±0,77 1,20÷7,52 3,44±1,52 1,22÷7,14 3,57±1,53 0,67÷7,05 2,74±1,58 0,01÷20,5 2,80±4,08 0,43÷20,8 5,02±4,20 0,13÷28,9 7,44±6,81 0,03÷1,05 0,20±0,21 0,04÷1,30 0,32±0,34 0,01÷0,75 0,21±0,15 0,01÷1,46 0,36±0,32 0,02÷2,53 0,70±0,62 0,04÷2,06 0,62±0,48 1,8÷33,8 16÷129 16,5±5,8 54±25 9,9÷59,0 17÷158 24,4±9,9 62±26 8,4÷51,9 16÷157 20,7±8,4 61±31

Ghi chú:

Khoảng biến động biểu diễn bằng: giá trị nhỏ nhất ÷ giá trị lớn nhất Giá trị trung bình biểu diễn bằng: trung bình ± độ lệch chuẩn Nhiệt độ nước trung bình trong suốt thời gian quan trắc của ba đối tượng nghiên

cứu lần lượt là 19,49oC; 21,86oC và 21,22oC nằm ở mức cao và tương đối ổn định do ảnh hưởng của mực nước thường xuyên thấp hơn 1m. Mặc dù có chênh lệch về nhiệt độ giữa các hệ thống mương do khác nhau về mức độ che bóng của thực vật ven bờ (cao nhất ở đoạn mương nhận nước thải canh tác từ cánh đồng thí nghiệm khoa Nông học thuộc Bắc Hưng Hải) và độ đục (cao hơn ở mương nhận nước thải Chăn nuôi và Sinh hoạt) song khác biệt này không đáng kể. Do chịu ảnh hưởng của một số tính chất thủy vực nước đứng nên giá trị pH của các hệ thống mương đều ở mức trung tính hơi kiềm và nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08 – 2008. Trong đó giá trị pH thường xuyên cao hơn ở những vị trí nhận nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và thấp nhất ở những đoạn mương chỉ nhận nước thải canh tác phản ánh ảnh hưởng của nguồn thải tới pH của mương.

Giá trị DO của cả ba đối tượng đều ở mức trung bình, thường xuyên biến động trong khoảng 2,74 đến 3,57 mg/l thấp hơn so với TCCP (lớn hơn 4 mg/l). Nếu chỉ xét đến giá trị nồng độ oxy hòa tan, chất lượng nước tốt nhất ở mương nhận nước thải nông nghiệp (với 39% thời điểm quan trắc đạt TCCP), tiếp đó là mương nhận nước thải chăn nuôi (với 36%) và thấp nhất ở mương nhận nước thải sinh hoạt (với 81% thời điểm không đạt TCCP). Mặt khác, một số đoạn mương còn có chức năng như một ao nuôi trồng thủy sản thì mức oxy hòa tan thấp hơn 5 mg/l (theo TCVN 6674 – 2000) không đảm bảo cho sinh trưởng của một số động vật thủy sinh. Mức độ biến động các chất dinh dưỡng hòa tan và các chất hữu cơ dễ phân hủy khá lớn trong suốt thời gian quan trắc. Nồng độ chất dinh dưỡng hữu cơ được xác định thông qua nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5). Kết quả trung bình các thời điểm quan trắc cho thấy giá trị oxy cần thiết để phân hủy chất hữu cơ theo con đường sinh hóa của các hệ thống kênh mương đều rất cao lần lượt là 16,5; 24,4 và 20,7 mg/l vượt 1,1; 1,6 và 1,4 lần so với TCCP. Tổng chất hữu cơ trong đó bao gồm chất hữu cơ khó phân hủy thể hiện thông qua nhu cầu oxy hóa học (COD) cũng có xu hướng tương tự. Như vậy, nồng độ hữu cơ cao nhất ở mương nhận nước thải chăn nuôi, tiếp đó là mương nhận nước thải sinh hoạt và thấp nhất ở mức gần đảm bảo TCCP là mương nhận nước thải canh tác lúa. Hàm lượng chất dinh dưỡng ở trạng thái hòa tan trong nước cũng rất cao đặc biệt là NH4+ và PO43–. Giá trị N – NH4+ và P – PO43– lần lượt là 2,8 và 0,36 mg/l đối với mương nhận nước thải canh tác; 5,02 và 0,7 mg/l đối với mương nhận nước thải chăn nuôi; 7,44 và 0,62 đối với mương nhận nước thải sinh hoạt. Hàm lượng dinh dưỡng N tính theo NH4+ vượt nhiều lần so với TCVN cho nước mặt loại B1 và loại B2, đối với mương nguồn thải nông nghiệp thì điều này là do ảnh hưởng của nước chảy tràn và nước thấm từ ruộng với phân bón là tác nhân chủ yếu, còn với các đối tượng còn lại, quá trình phân hủy chất hữu cơ trong chất thải sinh hoạt và chăn nuôi là nguyên nhân chính. P là yếu tố quan trọng nhất quyết định quá trình phú dưỡng, theo OECD (1982) thì khi giá trị P hòa tan trong nước vượt quá 0,1 mg/l thì thủy vực có nguy cơ bị phú dưỡng. Căn cứ vào đó thì giá trị P tính theo PO43– của các hệ thống kênh mương đã vượt quá 3,6; 7,0 và 6,2 lần so với mức phú dưỡng.

Chất lượng nước trong các hệ thống kênh mương phụ thuộc vào loại nguồn thải gây tác động và mức độ tác động của các nguồn thải đó. Hiện tượng nhiễm bẩn hữu cơ phản ánh rõ rệt nhất ở hệ thống kênh mương nhận nước thải của hoạt động chăn nuôi, tiếp đó là nước thải sinh hoạt trong khi hiện tượng nhiễm bẩn các chất dinh dưỡng hòa tan quan trọng nhất là NH4+ và PO43– không cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các đối tượng nghiên cứu. Khi đánh giá theo đặc tính các nguồn thải, nguồn thải chăn nuôi gây ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và suy giảm oxy hòa tan nghiêm trọng nhất tiếp đó là nguồn sinh hoạt và trồng trọt. Bên cạnh đó, biến động của các thông số trong suốt thời gian quan trắc (thông qua khoảng biến động và độ lệch chuẩn tập hợp mẫu) cho thấy nguồn thải chăn nuôi gây ảnh hưởng mạnh đến chất lượng nước kênh mương tiếp nhận nhưng ổn định ở mức cao trong khi nguồn thải sinh hoạt gây ảnh hưởng ở mức độ thấp song lại biến động mạnh theo thời gian. Để thấy rõ hơn biến động về mức độ ảnh hưởng chất lượng nước của các nguồn thải tại ba đối tượng kênh mương nghiên cứu, chúng ta tiến hành đánh giá diễn biến chất lượng nước (hình 3.3, trong đó I, II, III và IV lần lượt là các mùa trong năm).

Eh (mV)

pH

DO (mg/l)

Hình 3.3. Diễn biến các thông số Eh, pH và DO của các đối tượng theo mùa Lượng oxy hòa tan các hệ thống thủy lợi quan trắc thường ở mức trung bình, cao nhất dao động xung quanh giá trị 7 mg/l đo được ở ba hệ thống mương vào tháng 2 và tháng 4 (với các giá trị 7,52; 7,14 và 7,05). Trong khi đó, giá trị thấp nhất (tương ứng 1,20; 1,22 và 0,67) xuất hiện vào tháng 4 và tháng 10. Như vậy ngoại trừ thời điểm nồng độ oxy thấp vào tháng 10 đối với mương nhận nước thải sinh hoạt thì ở cả ba hệ thống thủy lơi, giá trị cực tiểu và cực đại về nồng độ oxy hòa tan đều nằm vào mùa Xuân, nguyên nhân của diễn biến đó có thể là do quá trình nở hoa của tảo, và thời gian này cũng nằm trong mùa sinh trưởng của nhiều loài thực vật khác. Trong quá trình này, hàm lượng dinh dưỡng tăng cùng với gia tăng hàm lượng oxy hòa tan do hoạt động quang hợp của tảo, ngược lại, khi chúng chết đi dẫn tới hoạt động phân hủy mạnh trong thủy vực, gây suy giảm oxy hòa tan. Giá trị pH vào thời kì cuối Hè sang Thu và đầu Đông thấp hơn so với mùa Xuân và đầu Hè. Thế pH của mương một lần nữa khẳng định chúng mang nhiều đặc điểm của thủy vực nước đứng hơn so với các thủy vực nước chảy. Giá trị pH cao này xuất phát từ nguyên nhân là hoạt động bón vôi cho lúa và cho cây giống, ngoài ra còn liên quan chặt chẽ tới nguồi xả thải vào mương. pH mương chịu ảnh hưởng của nước thải chăn nuôi và sinh hoạt luôn luôn cao hơn 7 (tương ứng với 92 và 90% các thời điểm quan trắc), và điều này hoàn toàn trái ngược với mương chịu ảnh hưởng của nước thải canh tác lúa (chỉ có 71% số giá trị nằm trong khoảng này). Tuy nhiên, giá trị pH trung tính đến hơi kiềm này gần với giá trị pH của hầu hết các ao hồ nuôi trồng thủy sản và gần với ngưỡng thích nghi pH của đa số cá nước ngọt. Những thay đổi giá trị thế oxy hóa khử của các hệ thống thủy lợi có xu hướng khác biệt ở mương nhận nước thải sinh hoạt, chất lượng tốt nhất đạt được vào mùa Xuân trong khi đó các khoảng biến động mạnh nhất của chất lượng nước lại rơi vào các mùa Hè, Thu và Đông. Xu hướng biến động tương đồng nhau xuất hiện ở các đoạn mương nhận nước thải canh tác và chăn nuôi thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải, tại đó, chất lượng môi trường theo thông số Eh tốt hơn vào mùa Xuân và Hè và khá xấu vào mùa Thu và Đông. Thế oxy hóa khử của nước phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn thải trong đó những yếu

tố ảnh hưởng mạnh nhất tới chất lượng nước thông qua giá trị Eh là quá trình phân hủy chuyển hóa hữu cơ cũng như trạng thái tồn tại của nhiều hợp chất vô cơ trong đó có dinh dưỡng hòa tan. Giá trị Eh của môi trường thay đổi mạnh theo thời gian cũng như theo loại nguồn thải đồng thời có xu hướng tương tự với nồng độ oxy hòa tan. Điều này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì Eh cao trong quản lý chất lượng nước thủy lợi.

BOD5 (mg/l)

COD (mg/l)

N-NH4+ (mg/l)

N-NO3- (mg/l)

P-PO43- (mg/l)

Hình 3.4. Diễn biến các thông số hữu cơ và dinh dưỡng theo mùa So sánh đồng thời diễn biến hàm lượng chất dinh dưỡng trong các loại hình thủy vực thể hiện ảnh hưởng của nguồn thải tới các hoạt động tự nhiên ví dụ hoạt động sinh học. Ảnh hưởng khác nhau ở các loại nguồn thải vào thủy vực với một bên là nước chảy tràn và nước thấm qua đất của ruộng lúa có hàm lượng hữu cơ rất thấp trong khi chất vô cơ hòa tan có thể ở mức cao còn bên kia là nước thải sinh hoạt hoặc chăn nuôi có hàm lượng hữu dễ phân hủy từ vài chục đến vài trăm mg/l. BOD5 là một ví dụ tiêu biểu cho quy luật này, BOD5 của mương nhận nước thải sinh hoạt và chăn nuôi thường cao hơn nhiều so với mương nhận nước thải trồng trọt và biến động mạnh hơn theo thời gian. Biến động mạnh mẽ nhất của chất hữu cơ đối với nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi cao nhất vào mùa khô (cuối Thu đến đầu Xuân) và tăng lên theo mức độ phức tạp của nguồn thải theo thời gian. Nồng độ các chất hữu cơ (thể hiện qua giá trị BOD5 và COD) cao ổn định ở các đoạn mương nhận nước thải sinh hoạt và chăn nuôi phụ thuộc vào lượng mưa khi chia thời gian trong năm ra hai mùa mưa và khô. Trong khi đó, biến động về chất hữu cơ của mương nhận nước thải trồng trọt ít hơn nhưng phức tạp hơn theo thời gian do có tính thời vụ: cấp và tiêu nước. Đối với mương chỉ nhận nước thải từ hoạt động nông nghiệp, biến động về cuối Thu và đầu Đông rất thấp do mực nước thấp cùng với việc giảm nhu cầu sử dụng mương trong thời gian này. Tương tự, hàm lượng NH4+ và NO3– ở trong nước vào mùa Xuân và đầu Hè có xu hướng cao hơn nhiều so với thời gian khác một phần do tác động của nguồn thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, mặt khác do ảnh hưởng của các hoạt động khoáng hóa, phân hủy hợp chất hữu cơ trong thủy vực mạnh hơn vào thời gian này. Nồng độ NH4+, NO3– và PO43– trong thời gian cuối tháng 8 đến tháng 12 có xu hướng biến động tương đồng nhau ở cả ba loại nguồn thải mà các hệ thống kênh mương phải tiếp nhận, điều này cho thấy mức độ ảnh hưởng của nguồn thải tới chất lượng nước là tương tự như nhau đặc biệt vào mùa khô (khi lượng mưa không phải là yếu tố chi phối chất lượng nước). Trái ngược với xu hướng này, từ đầu tháng 2 đến giữa tháng 8, chất lượng nước biến động ở ba đối tượng nghiên cứu theo những quy luật khác nhau: Diễn biến chất dinh dưỡng cao bất thường vào các thời điểm xả nước từ cánh đồng đối với mương nhận nước thải trồng trọt

trong khi các đối tượng còn lại tương đối ổn định. Như vậy, không chỉ có loại nguồn thải và tỷ lệ mức độ tác động của các nguồn thải khác nhau mới quyết định nồng dinh dưỡng và hữu cơ trong mương, chế độ quản lý và sử dụng cũng đóng một vai trò quyết định đến biến đổi chất lượng nước theo thời gian do đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tổng lượng nước trong các hệ thống thủy lợi này. Nhìn chung, qua 46 tuần quan trắc đối với các đoạn mương chỉ nhận nước thải từ canh tác lúa và 52 tuần quan trắc với các loại nguồn thải còn lại chỉ có thông số nhiệt độ là khá ổn định, các thông số khác đều thể hiện sự biến đổi liên tục theo thời gian quan trắc với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên cũng cần nhắc lại, một số biến động trong số đó là do có ảnh hưởng từ biến động thất thường của thời tiết vào các thời kì chuyển mùa không liên quan tới ảnh hưởng của nguồn thải và không được xem xét trong nghiên cứu này. Mặc dù có nhiều đặc điểm khác nhau, trong tất cả các hệ thống kênh mương tiến hành theo dõi, chất lượng nước đều cho thấy dấu hiệu phú dưỡng cả theo nghĩa hẹp (giàu dinh dưỡng đặc biệt là dinh dưỡng N và P vô cơ hòa tan và hữu cơ vượt nhiều lần mức cho phép) và theo nghĩa rộng (nước đục, nồng độ oxy hòa tan thấp, có dấu hiệu nở hoa của tảo). Chất lượng môi trường hiện nay thường được đánh giá bằng các tính chất vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng ở một trạng thái nhất định và so sánh với TCCP để xác định mức độ nhiễm bẩn hoặc ô nhiễm của yếu tố đó. Tuy nhiên, việc đánh giá và kết luận về bản chất môi trường chỉ dựa trên những thông số không phản ánh được hết tính chất môi trường và các quá trình diễn ra. Ví dụ: không thể dựa vào một vài thông số để kết luận mức độ ô nhiễm của đối tượng này so với đối tượng khác hoặc thời gian này so với thời gian khác. Trong khi đó, nhu cầu quản lý chất lượng môi trường nói chung và chất lượng nước nói riêng yêu cầu phải có một công cụ lượng hóa chính xác tình trạng môi trường của khu vực nghiên cứu. Chỉ số môi trường phản ánh đúng bản chất của môi trường đang diễn ra vì môi trường là một tập hợp của rất nhiều yếu tố trong một thể thống nhất. Do vậy, trong quan trắc môi trường, không thể xem xét đánh giá riêng biệt từng thông số mà bỏ qua mối quan hệ giữa chúng. Chỉ số môi trường phản ánh được mức độ ô nhiễm của môi trường

trong đó cần đánh giá dựa trên cơ sở 2 tiêu chí: giá trị đo đạc được của các chất ô nhiễm và khả năng ảnh hưởng của các chất ô nhiễm. Chính vì vậy, để đưa ra kết luận về mức độ ô nhiễm môi trường, phải nhìn nhận một cách tổng hợp dựa trên cơ sở nồng độ các thông số môi trường và các yếu tố chi phối tới nó và việc sử dụng các chỉ số môi trường có ý nghĩa trong trường hợp này. Các chỉ số môi trường và phạm vi áp dụng của chúng phụ thuộc chặt chẽ vào số lượng, thành phần và đặc tính của thông số tham gia xây dựng chỉ số. Chính vì thế việc áp dụng chỉ số môi trường trên thế giới tương đối rộng rãi nơi có số liệu thứ cấp đầy đủ với nhiều thông số khác nhau, trong khi ở Việt Nam các nghiên cứu dạng này chưa được tiến hành nhiều với lý do số liệu quan trắc theo các thông số không đáp ứng được với nhiều chỉ số môi trường. Chính vì vậy, nghiên cứu này sử dụng chỉ số CCME WQI là một chỉ số với mã nguồn mở về các thông số cũng như tiêu chuẩn đánh giá. Chỉ số này được xây dựng dựa trên việc lựa chọn các thông số tuỳ theo mục đích quan trắc, các giá trị đầu vào của phần mềm tính chỉ số này bao gồm: giá trị của các thông số theo thời gian quan trắc và giá trị tiêu chuẩn của các thông số đó (có thể theo một hoặc nhiều QCVN hoặc TCCP khác theo mục đích của người nghiên cứu). Kết quả đánh giá chất lượng nước theo giá trị WQI cho các đối tượng nghiên cứu trong thời gian quan trắc cho kết quả như sau:

Phân bố WQI (%) Nước thải CT

Nước thải CN

Nước thải SH

Hình 3.5. Phân bố giá trị WQI của các đối tượng nghiên cứu Giá trị WQI của các hệ thống thủy lợi trong nghiên cứu này nằm trong khoảng 22,2 ÷ 79,3%. Trong phần lớn thời gian quan trắc, chất lượng nước ở mức độ xấu đến rất xấu (tương ứng với WQI < 65 và WQI < 45%), một số ít thời điểm chất lượng nước ở mức độ ô nhiễm trung bình (WQI = 65 ÷ 79%) trong khi chỉ có một thời điểm duy nhất chất lượng nước đạt mức tốt xảy ra với các đoạn mương nhận nước thải canh tác (WQI = 79,3% vào ngày 2/10/1010). Giá trị WQI trung bình của các đối tượng nghiên cứu lần lượt là 54,1; 37,7 và 39,8% cho thấy mương nhận nước thải nông nghiệp có chất lượng nước tốt nhất, tiếp đó là mương nhận nước thải sinh hoạt và chất lượng nước xấu nhất rơi vào mương nhận nước thải chăn nuôi. Điều này phù hợp với những hiểu biết về nguồn thải đi vào các đối tượng này lần lượt là nước thải có dinh dưỡng vô cơ cao, hữu cơ cao và rất cao. Để thấy rõ hơn xu thế này, chúng ta xem xét phân bố giá trị WQI của các hệ thống kênh mương khác nhau về đặc tính nguồn thải (hình 3.5): Mương nhận nước thải canh tác lúa có giá trị WQI dao động trong khoảng 24,9 đến 79,3% tập trung ở khoảng ô nhiễm: 50 – 60%. Mương nhận nước thải chăn nuôi dao động trong khoảng 23 đến 55,2% phần lớn nằm trong ở mức ô nhiễm rất nặng với WQI

tập trung tại 30 - 45%. Chất lượng nước mương nhận nước thải sinh hoạt có phần cải thiện hơn so với mương nhận nước thải chăn nuôi khi dao động trong khoảng 22,2 đến 65% tập trung ở mức ô nhiễm nặng nhưng cao hơn với phần lớn giá trị WQI rơi vào khoảng 35 – 45%. So sánh đồng thời chất lượng nước thông qua chỉ số WQI của cả ba đối tượng nghiên cứu theo thời gian (PHỤ LỤC 5) cho thấy sự tương đồng đáng kể giữa mức chất lượng nước tổng hợp và mức độ nhiễm bẩn theo thông số riêng lẻ: Với đối tượng thứ nhất, chất lượng môi trường xấu nhất vào mùa Thu và mùa Đông ở các đoạn mương nhận nước thải sinh hoạt và chăn nuôi cho thấy ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng vào mùa khô khi lượng mưa thấp, không có hoạt động cấp nước trong khi lượng thải không thay đổi. Với đối tượng thứ hai, chất lượng nước vào cuối năm ở mương nhận nước thải từ hoạt động canh tác không lại có phần cải thiện hơn so với phần thời gian còn lại trong năm do việc giảm mức độ sử dụng của các hệ thống kênh mương. Mặt khác, trong các đoạn mương nghiên cứu chỉ có mương nhận nước thải chăn nuôi có chất lượng ổn định ở mức ô nhiễm nghiêm trọng, các hệ thống còn lại có biến động khá lớn theo thời gian. Như vậy, việc sử dụng chỉ số đánh giá tổng hợp chất lượng nước cho thấy những biến động tương đồng với đánh giá dựa trên 8 thông số đơn lẻ về đối tượng nguồn thải cũng như thay đổi theo thời gian.