CÂU HỎI Câu 1: Cấu tạo của một phát ngôn ngữ vi cam kết ( sự mở rộng của biểu

thức ngữ vi) Câu 2: Nêu một số điểm tương đồng trong cách biểu thị hành vi cam kết của người Việt, người Trung Quốc và người Hàn Quốc.

BÀI LÀM
Câu 1: Trước khi chúng ta đi tìm hiểu cấu trúc của một phát ngôn ngữ vi cam kết, để có thể dễ dàng nắm bắt, ta cần phải đi tìm hiểu các khái niệm thế nào là một biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi, cam kết, hành vi cam kết và sự kiện lời nói cam kết. Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học tập hai, Nxb Giáo dục, H, 2009. GS.Đỗ Hữu Châu cho rằng: Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho hành vi ở lời. Xét về mặt cấu tạo nên những đơn vị lớn hơn, biểu thức ngữ vi là kết cấu lõi của phát ngôn ngữ vi. Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn – sản phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. Về mặt cấu tạo, phát ngôn ngữ vi tối thiểu là phát ngôn chỉ có biểu thức ngữ vi. Ngoài ra, phát ngôn ngữ vi thường mở rộng, có biểu thức ngữ vi và các thành phần mở rộng. Như vậy, cấu trúc của một phát ngôn ngữ vi sẽ bao gồm: Biểu thức ngữ vi và thành phần mở rộng. Từ cấu trúc này, chúng ta hoàn toàn có thể triển khai được cấu tạo của một phát ngôn ngữ vi cam kết. Nhưng để bạn đọc hiểu hơn về một cấu trúc của một phát ngôn ngữ vi cam kết, chúng ta cần đi tìm hiểu khái niệm cam kết và sự kiện lời nói cam kết là gì? Từ điển tiếng Việt, định nghĩa:“Cam kết” là chính thức cam đoan làm đúng những điều đã hứa.“Cam đoan” là nói chắc và hứa chịu trách nhiệm về lời nói của mình để cho người khác tin. “Hứa” là nói với ai, với ý thức tự ràng buộc mình là sẽ làm điều gì đó mà người ấy đang quan tâm. Còn trong lịch sử ngành ngôn ngữ thế giới, từ giữa thế kỷ XX, Austin và Searle đã tách cam kết thành một nhóm độc lập khỏi các nhóm hành vi ngôn ngữ. Austin cho rằng nằm trong nhóm cam kết là những hành vi ràng buộc người nói vào một chuỗi những hành động nhất định. Searle xác định nhóm hành vi cam kết bởi bốn tiêu chí: đích ở lời là trách nhiệm phải thực hiện hành động trong tương lai mà người nói bị ràng buộc. Như vậy chúng ta có thể hiểu “cam kết là ở những hoàn cảnh giao tiếp nhất định, người nói đưa ra một phát ngôn nhằm tự ràng buộc trách nhiệm trước người nghe

yên tâm hoặc tin tưởng. Một hành vi cam kết đích thực đòi hỏi người nói phải thực sự mong muốn và tự nguyện thực hiện điều nêu trong nội dung mệnh đề. Câu 2: Nghiên cứu hành vi cam kết trong ngôn ngữ của người Việt Nam. nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy nhiều nét tương đồng trong cách biểu thị hành vi cam kết của người Việt. cụ thể là: +Điều kiện nội dung mệnh đề: nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi ứng với hành vi cam kết là hành động trong tương lai của người nói. Nó chính là đơn vị hội thoại nằm giữa cặp thoại và đoạn thoại đánh dấu nội dung cam kết được người nói thực hiện trong quá trình giao tiếp. cùng với cấu trúc chung của một phát ngôn ngữ vi. Tuy nhiên. Hành động này phải mang lại lợi ích cho người nghe ở các mức độ khác nhau về vật chất hoặc tinh thần. + Điều kiện chuẩn bị: khi đưa ra một phát ngôn cam kết. những yếu tố mở rộng của biểu thức ngữ vi cam kết chịu sự chi phối của điều kiện chân thành thường có chức năng thuyết phục đối với người nghe và tăng hiệu lực cam kết cho phát ngôn. người nói thường cho rằng điều mình cam kết chính là cái mà người nghe đang chờ đợi hoặc quan tâm.về một hành động của mình trong tương lai mà người nói tin rằng người nghe có quan tâm và chờ đợi. Phát ngôn ngữ vi cam kết này chịu sự chi phối của các điều kiện trong quá trình tạo lập một phát ngôn. đặc trưng bởi hành vi chủ hướng cam kết của tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại trung tâm. mức độ ràng buộc trách nhiệm này trong những tình huống giao tiếp cụ thể có khác nhau. . + Điều kiện căn bản: người nói tự ràng buộc trách nhiệm phải thực hiện hành động nêu trong nội dung mệnh đề ngay khi đưa ra lời cam kết. người Trung Quốc và người Hàn Quốc. Đồng thời người nói cũng tin tưởng và mong muốn lời cam kết của mình sẽ làm người nghe hài lòng. Từ những khái niệm chúng ta đã làm rõ ở phần trên. Điều này có lẽ dễ giải thích khi dựa trên cơ sở văn hóa của ba nước được xếp vào nhóm “ba nước đồng văn” này. có thể kết luận rằng một sự kiện lời nói cam kết được hiểu là một cấu trúc bộ phận của đoạn thoại hoặc cuộc thoại. chúng ta có thể tạo lập một cấu trúc của một phát ngôn ngữ vi cam kết với tư cách là một tham thoại dẫn nhập trong sự kiện lời nói cam kết như sau: Phát ngôn ngữ vi cam kết bao gồm hành vi chủ hướng giao tiếp + các hành vi phụ thuộc + thành phần mở rộng. Từ khái niệm “cam kết” chúng ta đã làm rõ ở trên. Trong hoạt động ngôn ngữ. + Điều kiện chân thành: chỉ ra trạng thái tâm lí của người đưa ra hành vi cam kết.

Ngôn ngữ tồn tại và phát triển trong môi trường xã hội. Mức độ sử dụng ở mỗi nước có sự khác nhau. Ví dụ: “Nếu không trả nợ được cho anh thì tôi làm con chó”. Ví dụ như: . tài sản. Việt Nam và Hàn Quốc đều nhận sự trừng phạt về mình là nhịn cơm trong một số trường hợp. con số tương ứng là 25. Vì thế. Mặt khác. người nghiên cứu buộc phải nghiên cứu về vấn đề dân tộc trong tương quan với đối tượng cần nghiên cứu thuộc lĩnh vực nghiên cứu. Theo thống kê trong công trình nghiên cứu của Vũ Tố Nga.67% số người được hỏi cho rằng tùy theo tình huống giao tiếp cụ thể. nhưng thói quen nhận sự trừng phạt “không ăn cơm” của người thực hiện hành vi cam kết đều xuất hiện ở cả ba nước. Sự tương đồng ấy thể hiện cụ thể nhất ở việc nhận những thiệt hại về mình của người nói khi thực hiện hành vi cam kết đối với người nghe. rồi Hàn Quốc cho tới Nhật Bản. Ví dụ: “nếu tôi không làm xong việc này thì trưa nay tôi không ăn cơm”. nếu như tư duy thường mang tính nhân loại thì ngôn ngữ lại mang tính dân tộc.68%. Còn ở Việt Nam. Hàn Quốc hay Trung Quốc đều có có thói quen nhận về mình những tổn thất vật chất trong hành vi cam kết của mình. Người Hàn Quốc. Đặc điểm này của ngôn ngữ quy định trong khi đi nghiên cứu về ngôn ngữ. gắn với nền văn minh lúa nước vốn bắt nguồn từ Đông Nam Á rồi lan sang phía nam Trung Quốc. và tự nhận tổn thất rất lớn về mình nếu không thực hiện được lời thề bồi đó. Sự tường đồng giữa ba nước trong cách biểu thị hành vi cam kết còn được thể hiện trong việc lựa chọn những tổn thất của người nói để tăng thêm sự thuyết phục của lời cam kết đối với người nghe. Người Việt Nam. Từ những đặc điểm trên của ngôn ngữ. ta có thể dễ dàng lý giải được vì sao lại có nét tương đồng trong cách sử dụng hành vi cam kết trong ngôn ngữ của ba nước này. cả người Trung Quốc. Bên cạnh thói quen nhận sự trừng phạt là ‘nhịn cơm”. ở Trung Quốc con số tin tưởng hoàn hoàn là 12. Hàn Quốc. Trong cam kết. Sự khác biệt về tỷ lệ tin tưởng đối với thói quen sử dụng hành vi cam kết này thường do thói quen sử dụng của mỗi một môi trường xã hội có sự khác biệt. 23. người việt và người Trung Quốc đều sử dụng cam kết theo cấu trúc “nếu…thì…”. cách sử dụng ngôn ngữ…. nhà cửa. người nói còn có thể nhận sự trừng phạt bằng những thiệt hại vật chất lớn hơn như: một món tiền lớn. người ta dễ dàng nhận thấy những dấu ấn xã hội còn lưu lại rất rõ trong ngôn ngữ ở nhiều góc độ như: cấu trúc của ngôn ngữ.76% số người được hỏi cho rằng tùy theo tình huống giao tiếp cụ thể.94% số người được hỏi tin và 26. Việt Nam. và chịu sự chi phối. Một điều thú vị là. Điều này có thể lý giải do đồ ăn thiết yếu nhất trong cuộc sống là lúa gạo. ảnh hưởng của môi trường xã hội đó. xe cộ…trong lời cam kết của mình. người nói luôn bày tỏ sự quyết tâm thực hiện lời cam kết. cùng với những nét tương đồng về văn hóa giữa ba nước đồng văn Việt Nam.

70% người Trung Quốc và 28. Theo nghiên cứu của Vũ Tố Nga. người Hàn Quốc và người Việt đều xuất hiện lời cam kết theo dạng này. Nhận sự tổn thất về vật chất là một thói quen tiêu biểu trong lời cam kết.78% người Việt.“Nếu tôi không làm thì tôi mất cái nhà này cho anh” hay “nếu tôi đến muộn thì tôi biếu không anh con xe này”. mẹ là những gì thiêng liêng và cao quý nhất đối với mỗi con người. Bởi vì. không ít người còn tự giáng cấp mình đối với người nghe một cách mạnh mẽ hơn nữa. Tuy nhiên. khoảng cách thứ bậc trong giao tiếp đối với lời cam kết của người cam kết. . 24. Những tổn thất này thường xuất hiện nhiều trong thói quen sử dụng lời cam kết ở ba nước Trung Quốc. chỉ sử dụng lời cam kết đối với bạn bè. Có đến 72. Điều này. phẩm giá và bản ngã của mình trong xã hội. khác biệt với xã hội các nước phương Tây. Điều này xuất phát từ tâm lý xã hội luôn muốn mình là người đàng hoàng. cả người Trung Quốc.71% người Hàn Quốc tin vào những lời cam kết theo dạng “nếu không…thì tôi sẽ không dám nhìn mặt mọi người nữa”.84% người Việt và 35. xuất phát từ tâm thức đề cao chữ “hiếu” của người phương Đông. Những dạng cấu trúc thề bối thường thấy là: “nếu tôi thất hứa tôi sẽ gọi anh/chị/bạn/mày là cha mẹ” hoặc có thể mạnh hơn là “nếu…thì tôi sẽ là con của anh/chị/bạn/mày”. 50. Những tổn thất thường được người cam kết lựa chọn đó là xấu hổ với mọi người. người cam kết thường sử dụng những tổn thất về mặt tinh thần hơn là về vật chất trong những lời cam kết của mình. ở cả ba nước Trung Quốc. Điều này nói lên sự chi phối của mức độ thân cận. Cha. tự giáng cấp mình đối với người nghe. hoặc những nơi xuồng xã mà không nên sử dụng đối với thầy cô giáo hoặc cấp trên của mình. Thất hứa. Và giáng cấp cha mẹ là một điều vô cùng tối kỵ. tuy nhiên sự cam kết này có phần không thuyết phục đối với người nghe. Hàn Quốc và Việt Nam.57% người Hàn Quốc được hỏi đều cho rằng không nên nói như vậy. Để tăng thêm phần thuyết phục trong lời cam kết của mình. Điều ấy cũng đồng nghĩa với việc đánh mất tất cả những gì cao quý nhất mà mình có trên đời. Điều này. Người cam kết nhận những tổn thất như xấu hổ với mọi người trong lời cam kết thường là những lời thề bồi như: “nếu không…thì tôi sẽ không dám nhìn mặt mọi người nữa” hoặc “nếu…thì tôi sẽ không phải là tôi nữa”. Hàn Quốc và Việt Nam đều cho rằng vật chất không phải điều quan trọng nhất. Những cam kết này đều đem sự đường hoàng chính trực của bản thân và niềm tự hào bản ngã của mình ra để đảm bảo. chính trực. hạ thấp sự tự hào dân tộc của mình. xã hội ở cả ba nước Trung Quốc. so sánh mình với con vật. cũng chính là đánh mất sự tự trọng. Việt Nam và Hàn Quốc đều cho rằng. Vì lý do đó.

tổ tông là những thứ quý giá nhất mà con người ta được thừa hưởng từ cha mẹ. Nhưng đối với người Việt Nam. không ai muốn ví mình là chó.Một trong những hành vi cam kết tiêu biểu của người Trung Quốc. 2. bởi nó không chỉ đụng chạm đến bản thân. ở Trung Quốc.71% thường xuyên nói. cội nguồn của người Việt. Vì thế. Trung Quốc và Hàn Quốc lạ xuất hiện những lời cam kết dạng như” “nếu…thì tôi là con chó”. đôi khi trong giao tiếp.53% thỉnh thoảng và 3. nhiều người Việt. coi loài chó là bạn của con người. Đối với người Hàn Quốc và Trung Quốc. Vì thế. Lấy mình ngang bằng với loài chó là một tổn thất thường được người cam kết lựa chọn. ông bà. ở Việt Nam cũng như Trung Quốc và Hàn Quốc thường rất đề cao vai trò của người nỗi dõi tông đường. Việc so sánh mình ngang bằng với loài chó là một điều tối kỵ và nhục nhã đối với người phương Đông. người Trung Quốc và người Hàn Quốc. đem sự tự hào của dòng tộc ra thề bối sẽ khiến người nghe rất thuyết phuc.54% thỉnh thoảng nói và 19. Lời cam kết này. ở cả Việt Nam cũng như Hàn Quốc và Trung Quốc. người ta thường đem những thứ quý giá nhất của mình ra cam kết. thể hiện sự khí khái của người cam kết. 22. Ở Việt Nam. Trong tâm thức người Việt. Trung Quốc và Hàn Quốc còn thườn xuất hiện những lời thề bồi dạng như: “ nếu…thì tôi không phải người họ Lý/Nguyễn/Trần…” hay “ nếu…thì tôi theo họ anh/chị/bạn…”. Thì ở Việt Nam. Quan niệm này đã ăn sâu vào nếp nghĩ của biết bao thế hệ.61% số người được hỏi hiếm khi nói. Nên lời cam kết rất thuyết phục người nghe. chúng ta sẽ không hiếm gặp những lời cam kết như: “nếu…thì cả họ nhà tôi tiệt giống”. mất họ là nỗi đau. gia đình mà cả dòng tộc.57% số người được hỏi hiếm khi nói.82% thường xuyên nói. Hàn Quốc và người Việt thường dùng đó là so sánh mình với con vật. có lẽ là lời cam kết độc địa nhất. 28. Nhận về mình những tổn thất về vật chất và tinh thần. Sự giáng cấp niềm tự hào về dòng tộc của người cam kết xuất phát từ quan niệm thiêng liêng của dòng tộc. Còn ở Hàn Quốc.72% số người được hỏi hiếm khi nói. sự sỉ nhục lớn nhất mà con người gặp phải.9% số người Việt được hỏi mình thường xuyên nói. Vì thế.57% thình thoảng nói và 28. Bởi vậy. chó không phải là bạn mà là một con vật thấp kém. Tuy nhiên. Nếu như người phương Tây quý trọng chó. mặc dù ít người sử dụng những lời cam kết ấy. tổ tông. Bởi vì sức khỏe là vốn quý giá nhất đối với mỗi con người . Nên ở người Việt. Có 1. do hoàn cảnh lịch sử nên người Việt thường chú trọng đến dòng máu hơn là dòng họ. Những . những lời cam kết như: “Nếu…thì tôi theo họ anh/chị/bạn…thường ít được sử dụng. con số này tương ứng là 2. có đến 10. trở thành một lẽ sống tất nhiên trong thói quen xã hội. Trung Quốc và Hàn Quốc còn có thói quen nhận về mình những tổn thất về sức khỏe và tính mạng trong những lời cam kết của mình. Vì thế.

Người Việt ta thường có câu ‘còn người là còn của” để khẳng định tầm quan trọng của mạng sống mỗi người. “nếu…thì tôi sẽ bị sét đánh chết” hoặc “nếu…thì tôi chết không có chỗ chôn”. hay “nếu …thì tôi sẽ bị hộc máu mồm”. Điều này là phù hợp với tâm thức chung trong xã hội phương Đông. không ít người đem tính mạng va sức khỏe của mình ra để đảm bảo cho lời cam kết. hay người Trung Quốc thường nói: “nếu…thì tôi tình nguyện chịu phạt…” Mặc dù ở mỗi một xã hội. Xong ta không thể phủ nhận sự tương đồng về nhiều mặt trong cách sử dụng hành vi cam kết trong ba nước Việt Nam. vốn đã được coi là “ba nước đồng văn”. Hoặc để nâng tính đảm bảo cho lời cam kết của mình. không ít người đem tính mạng của mình ra đảm bảo cho lời cam kết trước người nghe. Bên cạnh việc nhận về mình những tổn thất nếu không thực hiện được lời cam kết. như : “nếu…thì tôi chết”. một dân tộc có một thói quen và tần xuất sử dụng lời cam kết khác nhau. Vì lẽ đó. Người Hàn Quốc thường dùng lời cam kết như: “nếu…thì bạn muốn làm gì tôi cũng được. Sư tương đồng này có thể được lý giải từ sự tương đồng về văn hóa của ba nước.lời cam kết thường gặp là : “nếu…thì tôi sẽ bị cụt chân”. Tính mạng là thứ cao quý nhất của mỗi con người. Trung Quốc và Hàn Quốc. . như một sự đền bù. cũng có người cam kết thường sẵn sàng làm theo ý muốn của người nghe nếu lời cam kết không được thực hiện. ngôn ngữ không thể tách rời khỏi văn hóa và tất nhiên ngôn ngữ chịu sự quy định của văn hóa trong chính xã hôi đó. Bởi ngôn ngữ tồn tại và phát triển trong xã hội.