P. 1
Bt Nhom Bao Ve Ben Cho Thue

Bt Nhom Bao Ve Ben Cho Thue

|Views: 4|Likes:
Published by Kinh Gongxanh

More info:

Published by: Kinh Gongxanh on Dec 26, 2011
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

12/26/2011

pdf

text

original

I.

Khái niệm thuê mua và hợp đồng thuê mua
1. Khái niệm thuê mua

Thuê mua là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động cho thuê tài sản có kèm theo ước hẹn mua tài sản- đối tượng của thuê mua, vì vậy nó liên quan đến vấn đề chuyển quyền sở hữu đối với tài sản này nếu như việc mua được đặt ra. Vì không phải bên cho thuê lúc nào cũng là chủ sở hữu của tài sản thuê mua nên trong thực tế, bên cho thuê có thể là bên tài trợ vốn để có được tài sản đó cho người thuê sử dụng Hiệp định thống nhất luật dân sự về tín dụng thuê mua quốc tế được ký kết tại Ottawa ( Canada) ngày 20/5/1998 đã cung cấp cách hiểu cụ thể về thuê mua. Tại khoản 1 Điều 1 Hiệp định này quy định: “ Hiệp định này điều chỉnh các giao dịch thuê mua được quy định tại đoạn 2 mà trong đó một bên ( người cho thuê ): a, Căn cứ vào yêu cầu của bên kia ( người thuê ) thiết lập một thỏa thuận ( hợp đồng cung cấp ) với một bên thứ ba ( nhà cung cấp ), theo đó người cho thuê mua máy móc, tài sản, hay thiết bị theo những điều kiện mà người thuê đã chấp nhận trong phạm vi liên quan tới quyền lợi của họ thu được từ thiết bị đó b, Thiết lập một thỏa thuận ( hợp đồng thuê mua ) với người thuê, chuyển giao cho người thuê quyền sử dụng thiết bị để nhận được những khoản tiền thuê” Theo Hiệp định này, tham gia vào các giao dịch thuê mua gồm Bên cho thuê, nhà cung cấp tài sản và Bên thuê. Bên cho thuê mua máy móc từ nhà cung cấp theo yêu cầu của Bên thuê ( yêu cầu về thiết bị, máy móc ) rồi sau đó mới ký kết hợp đồng để cho Bên thuê thuê máy móc đó. Giao dịch thuê mua gồm hai hợp đồng cụ thể là hợp đồng mua ( hợp đồng cung cấp ) thiết bị và hợp đồng cho thuê thiết bị đó ( hợp đồng thuê mua ) Theo định nghĩa về “ tiêu chuẩn hóa hạch toán kế toán” của Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (ISA 17, 1991/1992) thì thuê mua là sự thỏa thuận, trong đó Bên cho thuê chuyển cho người thuê quyền sử dụng một tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trong thời gian sử dụng nhất định. Thuê mua là hình thức cho thuê tài sản dài hạn mà trong thời hạn đó, Bên cho thuê dự tính thu hồi vốn tài trợ cùng với các chi phí tài chính có liên quan. Sau đó, tùy theo sự cam kết của các bên trong

1

Hợp đồng thuê mua là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa Bên cho thuê và Bên thuê theo đó. thường là các công ty thuê mua. Sau khi hết hạn hợp đồng. Trong thời hạn cho thuê. Bên cho thuê có thể bán lại tài sản đó cho Bên thuê vào bất kỳ lúc nào nhưng chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng thuê mua Từ những phân tích trên đây.hợp đồng thuê mua. Tại Điểm số 484 có quy định “ Điều kiện then chốt để thành lập một công ty tài chính 100% vốn nước ngoài.ngân hàng Trong văn kiện liên quan đến cam kết của Việt nam khi gia nhập WTO – phần liên quan đến lĩnh vực ngân hàng đã quy định các chính sách thương mại dịch vụ liên quan đến lĩnh vực ngân hàng. Các công ty này có thể là các công ty độc lập nhưng cũng có thể là công ty thành viên của một tập đoàn tài chính . phải chuyển quyền sử dụng tài sản – đối tượng của hợp đồng thuê mua. mà tài sản đó được mua từ nhà cung cấp – cho Bên thuê trong một thời gian nhất định. Trong quá trình thuê hoặc trước khi kết thúc quan hệ thuê mua. còn Bên thuê phải trả tiền thuê tài sản tính theo kỳ hạn.đối tượng của thuê mua cho người thuê trong khoảng thời gian đủ để người cho thuê có thể thu hồi lại vốn tài trợ và các chi phí tài chính có liên quan. có thể hiểu thuê mua là một loại hình hoạt động cho thuê tài sản. Bên cho thuê Các quy định hiện hành của Việt nam về chủ thể hợp đồng thuê mua là khá đầy đủ. các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng. Khái niệm hợp đồng thuê mua Hợp đồng là sự thỏa thuận. Hợp đồng thuê mua cũng vậy. theo đó người cho thuê. còn người thuê phải trả cho người cho thuê tiền thuê tài sản đó theo như đã thỏa thuận. việc cho thuê được tiến hành do các công ty thuê mua thực hiện. Bên cho thuê. Những quy định này theo thông lệ quốc tế. người cho thuê có thể bán lại tài sản này cho người thuê 2. sau này thường là các công ty thuê mua. một công ty tài 2 . theo đó các bên – chủ thể của hợp đồng xác định quyền và nghĩa vụ đối với nhau về một vấn đề nào đó. Bên thuê có thể mua lại ( hoặc không mua hoặc thuê tiếp ) tài sản đó theo sự thỏa thuận giữa hai bên hoặc theo quy định của pháp luật và phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên II. chuyển quyền sử dụng tài sản.

Để được cấp giấy phép hoạt động. có trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt động CTTC và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 3) Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng nhà nước trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày 4) Đăng báo trung ương. cá nhân có uy tin có năng lực tài chính. Bên cho thuê trong hợp đồng CTTC là công ty CTTC được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt nam. thành viên sáng lập là các tổ chức.1% mức vốn điều lệ. 3. là pháp nhân Việt nam. công ty CTTC phải khai trương hoạt động Trong hoạt động của công ty CTTC. một công ty CTTC 100% vốn nước ngoài hoặc một công ty CTTC liên doanh là tổ chức tín dụng nước ngoài phải có tổng tài sản trên 1o tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn. Để đi vào hoạt động. địa phương theo quy định của pháp luật về những nội dung ghi trong giấy phép 5) Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày cấp giấy phép thành lập và hoat động. người quản trị điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình độ chuyên môn phù hợp với hoạt động của công ty CTTC. công ty CTTC phải có đủ các điều kiện: 1) Điều lệ đã được Ngân hàng nhà nước chuẩn y 2) Có đủ vốn pháp định. đã có dự thảo điều lệ về tổ chức. đã có đủ vốn theo quy định của pháp luật. hoạt động phù hợp với quy định của Luật tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Điều 16 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP quy định các nghiệp vụ cụ thể . Mua và cho 3 . công ty CTTC Việt nam phải thỏa mãn các điều kiện: phải có nhu cầu hoạt động CTTC trên địa bàn xin hoạt động.chính liên doanh. công ty có phương án kinh doanh khả thi Về việc lập hồ sơ xin cấp giấy phép hoạt động đối với công ty CTTC được quy định cụ thể từ Điều 16 đến Điều 31 Nghị định 16/2001. Chính phủ Việt nam xem xét các điều kiện này về bản chất là mang tính thận trọng” Tại Việt nam. theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC thì công ty CTTC là tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Nghị định này quy định mức lệ phí cấp phép và gia hạn giấy phép thành lập và hoạt động bằng 0. trong đó có “ cho thuê tài chính.

Tư vấn cho khách hàng về những vấn đề có liên quan đến CTTC. thiết bị. địa phương 3 số liên tiếp bằng tiếng Việt theo quy định của pháp luật hiện hành. không vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động. Phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động cho thuê vận hành như: kho bãi. tỷ lệ nợ quá hạn tại thời điểm cuối quý trước dưới 5%. Được thực hiện cho thuê vận hành theo quy định của Ngân hàng nhà nước. công ty CTTC mua lại máy móc. công ty CTTC phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 9 của Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành. 6.3. Công ty CTTC hoạt động cho thuê vận hành phải đảm bảo các quy định về an toàn tại Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước. bảo dưỡng đối với tài sản cho thuê” Để tiến hành hoạt động cho thuê vận hành. Thực hiện các dịch vụ ủy thác. 6. quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt động CTTC. 5. Công ty CTTC phải gửi tới Ngân hàng nhà nước bản đăng ký của cơ quan đăng ký kinh doanh và các tài liệu có liên quan” . 8 . phương tiện vận chuyển và các động sản thuộc sở hữu của Bên thuê và Bên cho thuê lại chính các tài sản đó để bên thuê tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình. 6. các công ty CTTC được phép thành lập và hoạt động tại Việt nam muốn được thực hiện hoạt động cho thuê vận hành phải được Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản.thuê lại theo hình thức CTTC (còn được gọi là mua và cho thuê lại ). Tổng giá trị tài sản sử dụng cho thuê vận hành đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty CTTC.4. Theo hình thức này. 9. Có nhu cầu hoạt động cho thuê vận hành. Được bán các khoản phải thu từ hợp đồng CTTC cho các cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt nam” Trong hoạt động cho thuê vận hành. Có thời gian tối thiểu là 2 năm kể từ ngày chính thức khai trương hoạt động.1. Các hoạt động khác khi được Ngân hàng nhà nước cho phép” Trong Nghị định số 65/NĐ .2. Các công ty CTTC muốn được thực hiện nghiệp vụ cho thuê vận hành cần phải đáp ứng điều kiện được quy định tại Điều 6 của Quy chế tạm thời về cho thuê vận hành “ 6.CP ngày 19/5/2005 có bổ sung thêm “ 7. Đó là “trước khi thực hiện hoạt động cho thuê vận hành. Tổng giá trị tài sản của tài sản sử dụng cho thuê vận hành 4 . 4. Công ty CTTC phải tiến hành đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh và đăng báo trung ương. Hoạt động kinh doanh có lãi. 6.2.

thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà. bên thuê phải giao lại nhà cho bên cho thuê thì sẽ không có tranh chấp xảy ra hoặc nếu có. Quyền lợi của bên cho thuê và vấn đề bảo vệ quyền lợi của bên cho thuê 1. Điều 499 .không được vượt quá 5 lần vốn tự có của công ty CTTC. bên thuê mua nên quy định rõ thời hạn cho thuê nhà dựa trên cơ sở có sự thỏa thuận của 2 bên. Theo đó.2. công trình xây dựng. rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn. nếu hợp đồng không xác định thời hạn cho thuê thì hợp đồng chấm dứt sau sáu tháng. Bên cho thuê trong hoạt động cho thuê vận hành là các công ty CTTC được phép thành lập và hoạt động tại Việt nam III. thì việc giải quyết vấn đề sẽ đi theo hướng có lợi cho bên cho thuê. 5 . Theo điều 34 Luật kinh doanh bất động sản 2006. công trình xây dựng để cụ thể hóa quyền lợi của bên cho thuê trong hợp đồng thuê mua nói chung và trong hợp đồng thuê mua nhà ở. để tránh trường hợp khó khăn và kéo dài thời gian trong việc đòi lại nhà sau này. kể từ ngày bên cho thuê báo cho bên thuê biết về việc đòi nhà. đó là hợp đồng thuê mua nhà ở. công trình xây dựng nói riêng. 1. Lựa chọn và thỏa thuận với bên thuê mua trong hợp đồng về thời hạn cho thuê mua. quyền của bên cho thuê mua nhà ở. Nếu trong hợp đồng ấn định rõ một thời gian nhất định mà hết thời gian đó. công trình xây dựng gồm có 5 quyền 1. chỉ với một mục đích nhằm giúp người tiếp cận có một cách nhìn cụ thể. Thứ nhất là quyền người cho thuê trong hợp đồng thuê mua Nhóm chúng tôi xin lấy một hợp đồng thuê mua cụ thể. Yêu cầu bên thuê mua thanh toán tiền thuê mua theo thời hạn và phương thức thỏa thuận trong hợp đồng là một quyền cơ bản. Tuy nhiên.1.Bộ luật Dân sự 2005 có qui định về trách nhiệm của mỗi bên khi chấm dứt hợp đồng thuê nhà.

nếu không đạt được sự thỏa thuận. 1. Do đó. công trình xây dựng trong thời gian thuê mua. Bên cho thuê có thể thanh toán chậm.Thời hạn và phương thức thanh toán tiền thuê phải được quy định rõ trong hợp đồng một cách rõ ràng và cụ thể. quyền sử dụng nhà. thiệt hại về tài sản. 1. chưa đầy đủ hoặc theo phương thức khác với điều kiện có sự đồng ý của bên cho thuê.. Trong hợp đồng thuê mua cũng nên quy định rõ về vấn đề tình trạng thực tế nhà ở mức độ nào thì bên cho thuê có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng. Các quyền khác theo quy định của pháp luật 2. ví dụ như thiết bị. Yêu cầu bên thuê mua bồi thường thiệt hại do lỗi của bên thuê mua gây ra. bên A hoàn toàn có thể yêu cầu sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền.. Yêu cầu bên thuê mua cung cấp thông tin về tình trạng thực tế của nhà. công trình xây dựng thuộc về bán thuê nhưng quyền sở hữu vẫn thuộc về bên cho thuê. tài sản bị cháy nổ. Có những rủi ro bởi nguyên nhân khách quan.3. Nên khi có sự cố trong lúc vận hành tài sản. bên cho thuê hoàn toàn có quyền được biết và tình trạng thực tế của nhà và công trình xây dựng trong thời gian thuê mua. Rủi ro liên quan đến sở hữu tài sản là loại rủi ro đặc trưng của hợp đồng thuê mua vì quyền sở hữu tài sản thuộc về bên cho thuê.4.5. bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê phải thực hiện đúng những gì đã cam kết về những điều khoản này. thu nhập của công ty trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê mua. Trường hợp bên B không thanh toán đúng theo những gì đã cam kết trong hợp đồng. 1. gây mất mát.. nếu nhà hoặc công trình xây dựng bị hư hỏng sau khi bàn giao nhà và công trình xây dựng thì bên nào sẽ là người chịu trách nhiệm và vấn đề bồi thường thiệt hại khi tài sản bị hư hỏng cũng cần phải đề cập rõ trong hợp đồng để tránh trường hợp thiệt hại sẽ thuộc về bán cho thuê khu xảy ra hư hỏng mà bên thuê không có thiện chí khắc phục và sửa chữa. Trong thời gian cho thuê. Khi đã được quy định trong hợp đồng. có những rủi ro chứa trong tác nghiệp của hoạt động thuê mua gây ra. Bảo vệ quyền lợi của bên cho thuê Rủi ro xảy ra đối với các bên trong việc thực hiện hợp đồng thuê mua là sự xuất hiện những biến cố không mong đợi. gây hậu quả 6 .

Đây chính là những hạn chế tín dụng được quy định trong luật. chồng. vọ. c) Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật này sở hữu trên 10% vốn Điều lệ của doanh nghiệp đó. b) Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng.đến môi trường. Không phải bất cứ đối tượng nào có nhu cầu thuê tài sản là có thể Bên cho thuê tiến hành cho thuê ngay. Vì khi bên thuê không trả được nợ sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng trong hoạt động thuê mua và có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các công ty tài chính. công ty CTTC không được CTTC với điều kiện không được ưu đãi cho các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997. Đối với tổng giá trị tài sản cho thuê đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 điều 30 Nghị định 16 không được vượt quá 5% vốn tự có của công ty CTTC” Để đảm bảo an toàn cho giao dịch. tổng giám đốc ( giám đốc ). bố. mẹ. Bên cho thuê là chủ sở hữu tài sản có thể phải gánh chịu những thiệt hại. trừ trường hợp đối với những khoản CTTC từ các nguồn vốn ủy 7 . Vì vậy. Bên cho thuê tài sản cần phải lựa chọn Bên thuê để đảm bảo độ an toàn cho đồng vốn mà họ đầu tư cho tài trợ. thông báo tình hình tài sản theo yêu cầu của chủ sở hữu tài sản Rủi ro do bên thuê không trả được nợ . ban kiểm soát. con của thành viên HĐQT. chi phí phát sinh nào đó. Phó tổng giám đốc ( Phó giám đốc ) của công ty CTTC. mua bảo hiểm cho tài sản thuê. Tổng giám đốc ( giám đốc ). người thẩm định. cụ thể như sau: “ a) Tổng mức CTTC đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty CTTC.là loại rủi ro thường gây hậu quả nặng nề nhất trong hợp đồng thuê mua. kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng. kế toán trưởng. hạn chế những rủi ro bằng cách quy định cụ thể trong hợp đồng những điều khoản buộc bên thuê phải duy trì chế độ bảo dưỡng. công ty CTTC có giới hạn CTTC đối với một khách hàng được quy định tại khoản 2 Điều 31 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC. Công ty CTTC không được CTTC đối với những người sau đây “ Thành viên HĐQT. cụ thể như sau: “a) Tổ chức kiểm toán. xét duyệt cho thuê. Ban kiểm soát. thanh tra viên…. Vì vậy bên cho thuê – công ty tài chính để bảo vệ tốt quyền lợi của mình. phó tổng giám đốc ( phó giám đốc ) của công ty CTTC ) Để đảm bảo tính khách quan của giao dịch.

thiệt hại trong quá trình tiến hành thuê mua từ đó thiết lập trật tự ổn định tạo động lực thúc đẩy nhanh chóng quá trình phát triển đi đến hoàn thiện nghiệp vụ thuê mua ở Việt Nam. hợp đồng lại được thực hiện trong thời gian dài. Nói chung để bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng thuê mua pháp luật cần phải xây dựng pháp luật trong lĩnh vực thuê mua nhằm tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia hoạt động. phát huy tác dụng ngăn ngừa những gian lận có thể xảy ra trong quá trình cho thuê. hoặc chênh lệch về thời gian trả nợ. Để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của bên cho thuê cần bổ sung quy định cụ thể về đăng ký quyền sở hữu tài sản thuê và cụ thể hóa quy chế đăng ký tài sản cho thuê để hạn chế rủi ro cho bên cho thuê. Trong trường hợp đặc biệt. Để bảo về lợi ích khi tham gia hợp đồng thuê mua bên cho thuê cần chú ý năng lực thực hiện hợp đồng. Có như vậy các công ty CTTC sẽ quản lý chặt chẽ tài sản của mình để tránh những rủi ro trước những bạn hàng không trung thực. cần có biện pháp bảo đảm để việc thực hiện hợp đồng được an toàn hơn thông qua đó hạn chế được những rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng. Khi tiến hành đăng kí tài sản các quyền của bên cho thuê được khẳng định đối với bên thuê và người thứ ba. bảo vệ quyền. thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 79 Luật các tổ chức tín dụng” Rủi ro phát sinh từ sự dịch chuyển tài chính tiền tệ. Chính vì vậy khi tiến hành cho thuê công ty phải ước tính được thời gian chênh lệch để khi ký kết hợp đồng có thể hạn chế được rủi ro. của các tổ chức cá nhân hoặc khách hàng thuê là tổ chức tín dụng. Mặt khác công ty cho thuê tài chính cần phải quản lý chặt tài sản cho thuê – việc đăng ký tài sản với góc độ công khai khóa thông tin về giao dịch đối với người thứ ba có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu là CTTC. 8 . lợi ích cho các chủ thể giúp họ tránh và hạn chế những rủi ro.thác của Chính phủ. b) Trường hợp nhu cầu của một khách hàng vượt quá 30% vốn tự có của công ty CTTC hoặc khách hàng có nhu cầu thuê từ nhiều nguồn thì các công ty CTTC được cho thuê hợp vốn theo quy định của Thống đốc ngân hàng nhà nước.

Hiện nay. Nghị định 95/2008/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2008 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP đã phần nào khắc phục những hạn chế.IV. Như vậy có nghĩa rằng. cho phép ngân hàng thực hiện nghiệp vụ 9 . các ngân hàng trên thực tế đã thành lập các công ty cho thuê tài chính trực thuộc để tiến hành kinh doanh trong lĩnh vực này. Tuy nhiên. nhất là trong việc thu hồi tài sản CTTC. đồng thời khẳng định: Công ty cho thuê tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng (tại Điều 2 văn bản đã dẫn). theo chúng tôi cần gỡ bỏ rào cản. thiếu xót tuy nhiên vẫn chưa cho phép ngân hàng được phép hoạt động nghiệp vụ cho thuê tài chính. Thật khó lý giải một cách thuyết phục về việc ngân hàng không được thực hiện hoạt động cho thuê tài chính. hoạt động cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng có độ an toàn cao. nhưng xét dưới khía cạnh pháp lý. rõ ràng hoạt động kinh doanh này không phải do chính ngân hàng trực tiếp tiến hành. chứ hoạt động này không chỉ dành riêng cho công ty cho thuê tài chính như quy định tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP. trong khi các nhà làm luật và cũng như các nhà khoa học pháp lý đều thống nhất với nhau rằng. hiện nay hoạt động của công ty cho thuê tài chính (CTTC) đã được điều chỉnh bởi một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ. vướng mắc về cơ chế chính sách và khuôn khổ pháp luật cần tiếp tục được xem xét. xét về lý thuyết. Quy định như vậy là không công bằng đối với loại hình tổ chức tín dụng là ngân hàng. vẫn còn một số tồn tại. do vậy. đồng thời không phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng (văn bản pháp lý có hiệu lực cao hơn nghị định trên) trong điều chỉnh về hoạt động của tổ chức tín dụng nói chung cũng như hoạt động cho thuê tài chính nói riêng. Những hạn chế. Để “lách” qua quy định mâu thuẫn này. điều chỉnh. ngân hàng hoàn toàn có thể được thực hiện hoạt động cho thuê tài chính vì đây là một hình thức cấp tín dụng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. bất cập trong pháp luật về thuê mua hiện nay Có thể nói. gây khó khăn cho bên cho thuê tài chính Thứ nhất: Theo quy định của khoản 3 Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP: “Hoạt động cho thuê tài chính trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện qua các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam”.

nên chăng cần thiết phải sửa đổi Điều 73 Luật các tổ chức tín dụng theo hướng loại trừ hạn chế này đối với hoạt động cho thuê tài chính. hợp đồng cho thuê tài chính khi đã đăng 10 . Sở dĩ bất động sản không thể là đối tượng của hoạt động cho thuê tài chính là do quy định tại Điều 73 Luật các tổ chức tín dụng mà theo đó. hiện nay pháp luật chỉ cho phép tổ chức tín dụng tiến hành cho thuê tài chính với đối tượng là động sản.cấp tín dụng cho thuê tài chính. tăng cường khả năng sử dụng vốn có hiệu quả. không những đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật mà còn là điều rất hợp lý và công bằng cho các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. để tạo ra khả năng đầu tư tốt hơn cho nền kinh tế. Chúng tôi đồng tình quan điểm. Thứ hai. việc cho thuê bất động sản rõ ràng an toàn hơn nhiều so với cho thuê động sản vì đặc tính không thể di dời của nó cũng như khả năng đảm bảo quyền sở hữu thông qua việc đăng ký chứng nhận quyền sở hữu và đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. như vậy mới góp phần làm cho thị trường cho thuê tài chính phát triển tương xứng với tiềm năng của nó. Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn có quy định về việc đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính. đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó. Theo chúng tôi. việc để cho tổ chức tín dụng với sức mạnh tài chính vượt trội là người đứng ngoài cuộc sẽ không có lợi cho bất kỳ ai. Tuy nhiên trong phần này cũng có những vướng mắc gây bất lợi cho bên cho thuê tài sản Hậu quả pháp lý giữa trường hợp có đăng ký và trường hợp không đăng ký trong quá trình thu hồi tài sản thuê chưa rõ ràng. hiện nay. nhưng chưa phân định cụ thể hậu quả pháp lý giữa trường hợp hợp đồng cho thuê tài chính có đăng ký với trường hợp hợp đồng cho thuê tài chính không đăng ký. tổ chức tín dụng không được trực tiếp kinh doanh bất động sản.Nhưng xét dưới khía cạnh thực tế. thị trường cho thuê bất động sản mà chủ yếu là cho thuê văn phòng đang có nhu cầu rất lớn. Thứ 3: Vẫn còn vướng mắc trong các quy định của pháp luật liên quan đến đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính nhằm bảo vệ quyền hợp pháp của bên cho thuê tài chính Đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính: Cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên cho thuê tài chính. có lợi cho các doanh nghiệp trong kinh doanh. qua đó nâng cao năng lực cấp tín dụng của ngân hàng. triệt để.

cần nghiên cứu để có sự thay đổi về quan điểm lập pháp khi điều chỉnh hành vi của các bên ký kết hợp đồng cho thuê. Về vấn đề này. chính xác và công bằng quyền. lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản cho thuê tài chính. Việc pháp luật quy định rõ ràng. công khai. pháp luật cũng liệt kê cụ thể những lợi ích liên quan đến cơ quan nhà nước được ưu tiên thanh toán so với các chủ thể khác. trong nhiều trường hợp quyền. trung thực.ký theo quy định của pháp luật thì được Nhà nước bảo vệ quyền. lợi ích hợp pháp của các chủ thể (bao gồm cả Nhà nước) có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các giao dịch cho thuê tài chính. cá nhân phải được giải quyết trên cơ sở bình đẳng về mặt lợi ích. thực hiện minh bạch. đó là: áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn đối với những tranh chấp liên quan đến việc xử lý 11 . Tuy nhiên. Ngoài ra. vì nếu xác định “bên thứ ba” bao gồm cả cơ quan công quyền thì thứ tự thanh toán giữa Nhà nước và các tổ chức. vừa giúp các giao dịch cho thuê tài chính được ký kết. nhưng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc khách quan. ít tốn kém nhất. không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Thứ 4: Chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể (bao gồm cả Nhà nước) khi giải quyết những lợi ích liên quan đến tài sản thuê Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã quy định về xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản thuê trong trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản thuê (khoản 2 Điều 13 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP). Quy định nêu trên vừa bảo đảm tính khách quan trong việc giải quyết quyền lợi ích hợp pháp giữa các chủ thể. Tuy nhiên. lợi ích của chủ sở hữu tài sản cho thuê tài chính vẫn chưa được bảo vệ thỏa đáng. pháp luật hình sự hoặc khái niệm “bên thứ ba” có bao gồm cơ quan công quyền không. ví dụ như: tài sản cho thuê tài chính bị áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc bị tịch thu do bên thuê tài chính vi phạm pháp luật hành chính. chưa rõ ràng. pháp luật một số nước trên thế giới mà chúng tôi có điều kiện tiếp cận đã quy định bên thứ ba được hiểu bao gồm cả cơ quan nhà nước. từ đó có tác động tích cực đến thị trường vốn. Thứ 5: Chưa có cơ chế thuận lợi để bên cho thuê thực thi tốt nhất quyền năng trên thực tế Trong trường hợp bên thuê không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng thuê tài chính thì bên cho thuê phải có quyền thu hồi tài sản trong thời gian nhanh nhất.

Sau khi thu hồi tài sản cho thuê.Bên thuê vi phạm các điều khoản của hợp đồng cho thuê tài chính. giải thể. Việc áp dụng quy trình tố tụng giản lược giúp thời gian thu hồi tài sản trên thực tế được rút ngắn hơn rất nhiều so với việc áp dụng các biện pháp xét xử khác. . bên thuê có trách nhiệm thanh toán số tiền còn thiếu đó cho bên cho thuê. . theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 16/2001/NĐ-CP (được sửa đổi.Bên thuê bị phá sản. giải thể và bên cho thuê không chấp thuận đề nghị chấm dứt bảo lãnh hoặc đề nghị người bảo lãnh khác thay thế của bên thuê. nếu bên thuê không thanh toán đầy đủ tiền thuê thì: . Trong những trường hợp trên. thì bên cho thuê có quyền thu hồi tài sản thuê. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản cho thuê dùng để thanh toán khoản tiền còn thiếu của bên thuê và các chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi tài sản cho thuê. trong thời gian tối đa là 60 ngày.Công ty cho thuê tài chính có quyền thu hồi ngay lập tức tài sản cho thuê mà không chờ có phán quyết của Toà án và yêu cầu bên thuê phải thanh toán ngay toàn bộ số tiền thuê chưa trả theo hợp đồng. bổ sung bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP). . nếu số tiền thu được vượt quá số tiền thuê phải trả theo hợp đồng và các chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi tài sản cho thuê thì công ty cho thuê tài chính phải hoàn trả cho bên thuê số tiền chênh lệch đó. công ty cho thuê tài chính có thể chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước hạn trong những trường hợp sau đây: .Trường hợp bên thuê đã hoàn trả một phần số tiền thuê phải trả và công ty cho thuê tài chính đã xử lý xong tài sản cho thuê. Theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 16/2001/NĐ-CP. Nếu số tiền thu được không đủ thanh toán. bên cho thuê phải xử lý xong tài sản cho thuê.Bên thuê không trả tiền thuê theo quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính. 12 . biện pháp để bên cho thuê nhanh chóng tiếp cận và thu hồi tài sản hoặc chỉ cần xuất trình 02 chứng cứ là: (i) hợp đồng cho thuê tài chính hợp pháp và (ii) bên thuê vi phạm nghiêm trọng cam kết. .Người bảo lãnh bị phá sản. tăng cường cơ chế. .tài sản cho thuê tài chính. Thứ 6: quy định pháp luật hiện hành về phương thức xử lý tài sản thuê để thu hồi vốn trong trường hợp bên thuê không thanh toán đủ tiền thuê khi hợp đồng chấm dứt trước hạn theo chúng tôi là không hợp lý.

các trường hợp xử lý tài sản thuê tại khoản 1 Điều 28 được áp dụng cho tất cả các dạng cho thuê tài chính. không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của bên cho thuê. công ty Y không những được sử dụng xe mà còn được lợi số tiền 140 triệu đồng! Nguyên nhân của sự bất cập này được lý giải phần nào khi xem xét quá trình hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính. sau khi trừ đi số tiền thuê còn thiếu là 12 tháng x 10 triệu/tháng = 120 triệu. Trước khi ban hành Nghị định 65/2005/NĐCP. công ty cho thuê tài chính X có quyền thu hồi lại chiếc xe và đem bán đấu giá.. công ty cho thuê tài chính X phải trả cho công ty Y. bao gồm cả cho thuê tài chính không hoàn trả lại tài sản và cho thuê tài chính có hoàn trả lại tài sản. nếu bên thuê hoàn trả được toàn bộ số tiền thuê theo hợp đồng thì bên cho thuê chuyển quyền sở hữu tài sản thuê cho bên thuê như trường hợp đã hoàn thành hợp đồng thuê. số tiền còn lại là 260 triệu. Cũng tại Điều 28 Nghị định này. còn số tiền thu về chỉ là toàn bộ tiền thuê 240 triệu. chỉ có một trường hợp cho thuê tài chính mà theo đó. Từ quy định của khoản 1 Điều 27 cho thấy. Như vậy. Ví dụ: Công ty cho thuê tài chính X ký hợp đồng cho thuê tài chính với Công ty TNHH Y. theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP. Số tiền bán xe thu được là 380 triệu. tài sản thuê là chiếc xe ôtô TOYOTA trị giá 500 triệu. trong những trường hợp được quy 13 . Như vậy. Chỉ cần một tính toán đơn giản cũng có thể thấy sự vô lý nếu quy định trên đây được áp dụng. nội dung quy định tại khoản 1 Điều 28 thực chất chỉ phù hợp với dạng cho thuê tài chính mà tổng số tiền thuê ít nhất tương đương với giá trị của tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng (trong trường hợp này. không phù hợp với nguyên tắc cấp tín dụng và do đó.Trong thời gian bên cho thuê xử lý tài sản thuê. Số tiền mà công ty cho thuê tài chính X phải bỏ ra ban đầu là 500 triệu. Công ty Y thanh toán đầy đủ được 1 năm thì không trả tiền thuê nữa. Nếu quy định này được áp dụng trong trường hợp tổng số tiền thuê thấp hơn giá trị của tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng thì rõ ràng. Tuy nhiên. thông thường bên thuê không phải hoàn trả lại tài sản thuê khi chấm dứt hợp đồng thuê). thời gian thuê là 24 tháng. pháp luật chỉ bảo đảm cho khả năng thu hồi tiền thuê của bên cho thuê chứ không bảo đảm khả năng thu hồi nguồn vốn cấp tín dụng. tổng số tiền thuê phải tương đương với giá trị tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng. số tiền thuê hàng tháng là 10 triệu đồng. Nếu theo quy định trên.

Quy định này có sự bất cập ở chỗ. sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định thì về nguyên tắc. Đối với việc thuê tài sản cố định không thoả mãn điều kiện cho thuê tài chính thì được coi là thuê hoạt động (thuê vận hành) và trong trường hợp này. vướng mắc đặt ra là. Có thể nói. nhưng vẫn không được sở hữu tài sản thuê. Thứ 7: pháp luật còn có quy định bất cập về quản lý. bên cho thuê có quyền thu hồi tài sản cho thuê và đòi bồi thường nếu bên thuê không trả đầy đủ tiền thuê. bên nào (bên cho thuê hay bên thuê) sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trích khấu hao đối với tài sản thuê tài chính? Trong khi đó.định tại khoản 1 Điều 27. cần thiết phải sửa đổi Quyết định 206/2003/QĐ-BTC theo hướng bỏ việc định nghĩa thế nào là cho thuê tài chính. trong trường hợp tổng số tiền thuê lớn hơn giá trị của tài sản hoặc bên thuê được chuyển giao quyền sở hữu sau khi chấm dứt hợp đồng thuê. nên rất nhiều trường hợp là thuê tài chính theo sự sửa đổi của Nghị định 65/2005/NĐ-CP không được coi là cho thuê tài chính theo Quyết định này. sử dụng và trích khấu hao như đối với tài sản thuộc sở hữu của mình. các công ty CTTC gặp rất nhiều khó khăn. rõ ràng rất bất lợi cho bên thuê vì họ phải thanh toán toàn bộ tiền thuê (nghĩa là đã đảm bảo quyền lợi cho bên cho thuê). bên cho thuê có nghĩa vụ trích khấu hao chứ không phải bên thuê. tài sản cho thuê trong quá trình CTTC là tài sản thuộc sở hữu của bên cho thuê. Trong thời gian qua. trong Quyết định 206/2003/QĐ-BTC lại định nghĩa một cách rõ ràng về cho thuê tài chính y hệt như Nghị định 16/2001/NĐ-CP trước khi sửa đổi. theo Quyết định 731/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 15/6/2004 ban hành Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành của các công ty cho thuê tài chính thì đối với hoạt động cho thuê vận hành. nghĩa vụ thuế (có liên quan đến nghĩa vụ trích khấu hao tài sản cố định) của công ty cho thuê tài chính được thực hiện theo quy định của Bộ tài chính. Theo Quyết định 206/2003/QĐBTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính ban hành Chế độ quản lý. Điều 28 được sửa đổi theo Nghị định 65/2005/NĐ-CP đã khắc phục được bất cập này nhưng lại vướng vào một bất cập khác do một nguyên nhân là: Khái niệm cho thuê tài chính cũng được chính văn bản này sửa đổi theo hướng mở rộng hơn rất nhiều. vướng mắc trong việc theo dõi và xử lý tài sản cho thuê mặc dù 14 . sử dụng và trích khấu hao đối với tài sản cố định thuê tài chính. Theo quy định của pháp luật. Trong những trường hợp như vậy. Nên chăng. Vấn đề là ở chỗ. doanh nghiệp đi thuê tài chính tài sản cố định phải quản lý. để việc áp dụng được thuận lợi và rõ ràng hơn.

có trường hợp có quyết định thu hồi tài sản cho thuê của Tòa án từ cuối năm 2000 nhưng đến nay việc thu hồi tài sản cho thuê chưa thực hiện được… Những khó khăn. tạo lập môi trường pháp lý cho các công ty CTTC hoạt động an toàn. theo ý kiến của các công ty CTTC. Rà soát. ảnh hưởng tới việc thu hồi tài sản thuê. của các cơ quan nhà nước đối với việc thu hồi tài sản của công ty CTTC mặc dù đã có các quy định của Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-NHNN-BCABTP hướng dẫn thu hồi và xử lý tài sản CTTC của công ty CTTC. Kiến nghị 1. Có trường hợp công ty cho thuê đến thu hồi tài sản cho thuê thì người thuê đã bỏ trốn. việc giải quyết “xung đột” về lợi ích giữa bên cho thuê tài chính với người thứ ba ngay tình. chế tài xử lý như tài sản thuê không còn để ở nơi đăng ký sử dụng. hiệu quả V. hoàn thiện các quy định của pháp luật về cho thuê tài chính. bị cơ quan chức năng của nước ngoài thu giữ (tàu thủy)… Mặt khác. Theo Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Ngân hàng Nhà nước) Vũ Thế Vậc. bên thuê có thừa thời gian tẩu tán tài sản thuê. trước mắt sẽ xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty CTTC nói riêng và sự an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung. Ngoài ra. 15 . bên thuê đem tài sản thuê đi hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam. hậu quả pháp lý của việc đăng ký và không đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính. chưa có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật đối với hoạt động của công ty CTTC là rất cần thiết. trong thực tế thu hồi tài sản CTTC còn xảy ra một số trường hợp chưa có quy định. trong đó tập trung khắc phục những vướng mắc như: cơ chế bảo vệ chủ sở hữu tài sản thuê.tài sản này thuộc quyền sở hữu của công ty CTTC. Vì vậy. thời hạn tối đa (không quá 30 ngày) để bên thuê có nghĩa vụ giao tài sản cho thuê và các giấy tờ liên quan đến tài sản cho thuê là quá dài. vướng mắc này phát sinh từ tình trạng người thuê không hợp tác với công ty CTTC trong việc trả lại tài sản.

Cùng với sự phát triển của thị trường vốn. bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật. 3. mà chưa quy định đối tượng cho thuê tài chính là bất động sản. số lượng các trường hợp được đăng ký tại Trung tâm Đăng ký thời gian gần đây giảm mạnh. do đó chúng ta cần nghiên cứu.2. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật cho công ty cho thuê tài chính và các chủ thể có liên quan. cũng như pháp luật chưa khẳng định một cách “quyết liệt và rõ ràng” sự khác biệt giữa hợp đồng cho thuê tài chính được đăng ký với hợp đồng cho thuê tài chính không đăng ký. Mở rộng phạm vi tài sản là đối tượng trong hợp đồng thuê tài chính. trong thời gian tới. nhu cầu thuê tài chính của các DN ở nước ta ngày càng tăng./ 16 . thiết bị và các động sản khác. đồng thời tạo cơ sở pháp lý để giải quyết “xung đột” về lợi ích giữa các bên liên quan đến tài sản thuê. Thực tế đó một phần do chủ sở hữu tài sản thuê tài chính chưa nhận thức đúng giá trị pháp lý của việc đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính. đồng thời đấy cũng là hệ quả của công tác tuyên truyền chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn. vì pháp luật hiện hành của Việt Nam mới chỉ quy định đối tượng cho thuê tài chính là máy móc. vì qua theo dõi. chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt công tác tuyên truyền để chủ sở hữu tài sản thuê nhận thức được những “rủi ro” pháp lý có thể phát sinh do hợp đồng cho thuê tài chính không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. điều chỉnh vấn đề nêu trên. Bảo vệ triệt để. Do vậy. rõ ràng hơn so với hiện nay. Quy định về vấn đề này là cần thiết nhằm thúc đẩy các bên thực hiện nghĩa vụ đăng ký. do vậy việc hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính nói chung và đăng ký hợp đồng cho thuê tài chính nói riêng cần được chú trọng nhằm mang lại những lợi ích thiết thực cho các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực cho thuê tài chính. Điều này chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu của thị trường. Nguyên tắc tiếp cận hợp pháp tài sản thuê trong trường hợp hợp đồng thuê tài chính đã được đăng ký cần được quy định cụ thể. 4. tích cực quyền thu hồi tài sản của bên cho thuê trong trường hợp hợp đồng cho thuê tài chính đã được đăng ký theo quy định của pháp luật. chúng tôi nhận thấy.

Trần Thị Hồng 10. Nhữ Thị Hải Hà 8. Phạm Thị Sen 5. Mai Hương Thùy 17 . Nguyễn Văn Đạt ( nhóm trưởng ) 2. Nguyễn Văn Long 7.Danh sách thành viên: 1. Nguyễn Văn An 6. Phùng Viết Long 4. Đào Thị Phương Thảo 9. Đặng Xuân Công 3.

You're Reading a Free Preview

Download
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->