You are on page 1of 5

Thị dân

­ tiểu thuyết Quốc Bảo [trích]

Một buổi sáng mưa gió thất thường. Trận mưa lớn đêm hôm trước khiến toàn bộ khu nhà 
tôi ở như bị nhấn chìm trong một dòng thác khổng lồ, tôi nhớ mình đã đi ngủ với nỗi lo 
sợ thấp thỏm bị cuốn đi theo dòng, trôi ra cống rãnh, trôi tít mù vào một đống rác ngoại 
ô nào đó. Buổi sáng, thức giấc với cái đầu nặng trịch và bộ mặt thảm hại, tôi mừng hơi 
sớm khi thấy mưa đã tạnh. Không, nó chỉ ngưng độ non tiếng đồng hồ, để rồi sau tách 
cà phê sáng vội vã của tôi ở nhà, cơn mưa lại tiếp tục, dai dẳng, u tối, chì chiết, không 
khác là bao với lòng thù hận của người đàn bà.
Giam mình trong nhà, ngó nghiêng qua cửa sổ chỉ thấy một màu xám ảm đạm vô hồn, 
tôi đốt một điếu thuốc trong gói thuốc méo mó vì sắp cạn, húp sạch tách cà phê đã 
nguội từ lâu. Thế rồi không biết trời xui đất khiến làm sao, hay chính cơn mưa bất tận ấy 
xui khiến, tôi nảy ra ý định viết một cuốn sách.
Một cuốn sách?
Tôi hoàn toàn thông cảm mối nghi hoặc của bạn, ai mà tin được một gã đàn ông ba 
mươi ba tuổi chết vợ không con lập trình viên vi tính một công ty quèn ở nhà thuê chung 
cư xó xỉnh mùa mưa thì úng ngập mùa nắng thì hầm hập lương tháng tính hoài vẫn 
không qua con số ba triệu mà dở dói viết sách.
Nhưng bạn tin tôi đi, tôi muốn viết. Hôm qua, giỗ đầu vợ tôi, người đàn bà đáng thương 
nhất trần gian.
Mặc dù việc kể về đoạn đời gắn bó giữa tôi và nàng cũng đủ là một thôi thúc lớn, tôi 
muốn viết sách lại xuất phát từ nhu cầu khác. Tôi lờ mờ hiểu điều ấy, mà không biết 
diễn đạt ra sao.
Có thể, vì cơn mưa chì chiết bất thường một ngày một đêm này.
Có thể, vì sáng nay tôi chợt nhận ra rằng mình có thể bỏ công việc cà khổ tối ngày dán 
mắt vào màn hình vi tính để thay bằng một công việc khác, đỡ cà khổ hơn, sang trọng 
hơn, là viết văn.
Mà cũng có thể, chẳng qua đến lúc tôi đứng trước một lối rẽ, và con đường trước mặt đã 
bít lối. Dù muốn dù không, tôi vẫn cứ phải ngoặt sang một nẻo khác.
Tôi sẽ tự pha cho mình một tách cà phê mới. Đội mưa mua một gói thuốc mới. Và bắt 
đầu viết.
Tôi sinh ngày hăm tám tháng tư năm một chín bảy lăm.
Dữ liệu ấy có thể xê xích đôi chút về phía trước, tức là đêm hăm bảy.
Tôi không có ngày giờ sinh chính xác. Mẹ tôi đã mất vì đạn lạc trên một góc phố khuất. 
Hiển nhiên như thế, tôi không thể biết cha ruột là ai. Tôi, đỏ hỏn, không khóc một tiếng, 
mắt mở trừng trừng, ngọ ngoạy hai bàn tay khi ông Ích, người đàn ông tốt bụng kia, 
trông thấy và bế tôi về.
Tôi gọi ông là bố.
Bố kể, bố và vợ bố có sáu người con, bố nguyên là nhân viên sở Mỹ. Trên đường ra tòa 
đại sứ Mỹ để di tản, vợ chồng con cái lạc nhau. Bố không tìm thấy gia đình, liền trở qua 
khu Gia Định, nơi có nhà người bạn thân, nhưng ông này đã đưa cả nhà rời khỏi đó. 
Trong lúc thất thần, bố Ích trông thấy một đứa bé sơ sinh nằm lặng yên bên xác mẹ. 
Ông đã định bỏ đi, thế rồi một cái gì đó buộc ông phải cúi xuống bế nó lên. Đôi mắt nó 
rất lạ, sáng trong đặc biệt, hệt như đôi mắt đứa con gái út của ông đang thất lạc. Bố Ích 
đưa tôi về nhà; ngôi nhà khá rộng nay chỉ còn mình ông, đâm ra thênh thang như lâu 
đài. Nhưng ông ­ và tôi ­ cũng chỉ sống thêm vài ngày ở ngôi nhà đó.
Những giọt sữa đầu đời tôi có tên Guigoz, loại sữa hộp rất nổi tiếng của Pháp mà người 
Sài Gòn ưa chuộng bậc nhất. Họ dùng hết sữa, còn để lại cái lon nhôm có nắp kín để 
cất các thức ăn khác cho khỏi kiến. Tôi được bố Ích nuôi bằng những lon Guigoz sau 
cùng nhà ông còn tích trữ.
Năm ngày sau, bố con tôi dọn ra một căn nhà nhỏ khu Bình Thới, vốn là nhà người tài 
xế bố Ích, đã di tản. Căn nhà to đẹp thì nhường cho các anh bộ đội.
Tài sản đem theo chỉ có một va li chứa đầy sách, một tay nải đựng quần áo, chiếc xe 
Honda dame cà tàng và thùng sữa Guigoz đã vơi một ít.
Số tôi ứng với những gì vơi một ít. Đấy là nói lạc quan, chứ phần nhiều, số tôi ứng với 
những gì sắp cạn.
Căn nhà nhỏ mạn Bình Thới không có lầu, chỉ một gác xép bắc bằng gỗ tạp, mối mọt 
đã ăn thủng lỗ chỗ. Khi biết leo trèo, tôi đòi trèo lên gác nhiều lần, cho đến một hôm 
ngã cầu thang, lúc ấy tôi chừng bốn tuổi, thì bố cấm hẳn. Gian gác không được sửa 
chữa, dần dà chỉ dùng chứa đồ phế thải, lon Guigoz, thùng các tông, quần áo giày dép 
cũ. Hai bố con sống dưới nhà, gọn trong một mặt bằng hai mét tám nhân bốn mét. Một 
bức tường lỡ lỡ ngăn gian ngoài với phần còn lại, chính là khu vực đáng kể nhất của căn 
nhà vì gồm toàn chức năng quan trọng: ngủ, học, ăn, nhà vệ sinh kiêm bếp; cả lối đi 
cũng tận dụng cất chiếc Honda cà tàng của bố lúc đêm hôm. Cửa rào phía ngoài đóng 
bằng những thanh gỗ vát đầu, thâm thấp, sơn xanh. Dàn hoa giấy của chủ trước ­ anh 
tài xế ­ trồng sẵn, leo lu bù che khuất cả hàng rào. Không có sân gạch trước nhà, chỉ có 
một khoảng trống rất nhỏ đủ để mấy đôi dép nhựa, thứ dép nhựa tái sinh xấu đến mức 
không sợ mất.
Nghề mới của bố Ích là công nhân hợp tác xã gia công bánh ngọt. Những chiếc bánh 
thuẫn làm bằng bột xấu, đường vàng, trứng vịt, ít bột nổi, trông quắt queo phát sợ, thỉnh 
thoảng dư ra ít cái móp méo đại lý không nhận, bố lại đem về cho tôi. Là thành bữa tối 
cải thiện. Số tôi ứng với những gì dã chiến. Góc phòng khách ­ gọi thế chứ nó có phải là 
phòng đâu ­ chất những thùng gỗ ọp ẹp đựng bánh, do bố nhận đi bỏ mối cho các xe 
bánh lề đường, kiếm thêm chút ít. Tôi thường nghịch ngợm xếp nắp một nơi thùng một 
nẻo, nắp thì còn lấy phấn vẽ bàn cờ tướng rủ bọn trẻ trong xóm đánh chơi. Bố không kể 
thì tôi không hề biết sau những lon Guigoz tích trữ cuối cùng kia, tôi sống bằng gì. Thì 
ra bố đem toàn bộ số tiền bỏ mối bánh ngọt gửi cho một bà nạ dòng có đến ba bốn xe 
bánh kề nhau, đổi lấy thứ sữa viện trợ xã hội chủ nghĩa vón cục vón hòn để nuôi tôi. 
Làm được ít lâu, bố phải nghỉ vì cụp xương sống. Ông bán xe máy, lấy vốn mở một tiệm 
hớt tóc bình dân ngay tại nhà. "Phòng khách" nay biến thành tiệm tóc, dĩ nhiên không 
có ghế gội đầu và nước máy thì yếu phát sợ, thợ chỉ giúp khách phủi tóc vụn trên người 
bằng một chiếc khăn lớn đã rách lỗ chỗ. Tiệm tóc bình dân là kế sinh nhai sau cùng của 
bố Ích, cho đến ngày ông qua đời.
Căn nhà xóm nhỏ của bố con tôi luôn ngập nước vào mùa mưa. Nước ngập lòng đường 
ngay cả khi mưa nhỏ, còn mưa to thì chỉ nửa tiếng đồng hồ là nước tràn vào nhà. Bố tôi 
kê chiếc đi văng ­ chỗ ngủ của hai bố con ­ lên mấy viên gạch thẻ để tránh nước ngập 
làm mục hết chân, cũng để lùa chổi vào gầm quét nước cho dễ. Bàn học của tôi cũng 
chính là chiếc đi văng ấy, lúc khô ráo thì ngồi xệp dưới sàn, sách vở bày lên đi văng; lúc 
nước ngập vào nhà thì nhảy lên đi văng, kê ghế đẩu làm bàn. Số tôi ứng với những gì dã 
chiến.
Dã chiến, nhưng quả thực, là diễm phúc của tôi. Tôi được uống sữa đến lúc vào lớp một, 
một diễm phúc thực sự, nếu như bạn nhớ lại những năm cuối thập kỷ bảy mươi, người ta 
phải ăn bo bo, mì sợi và bột mì nắm.
Tôi có vài đứa bạn thân. Một đứa, tên Thành, ở cách nhà tôi vài căn, cùng dãy. Thành 
người gầy nhỏ, khẳng khiu, lúc nào cũng ghẻ chốc đầy người. Bệnh ghẻ tràn lan khắp 
Sài Gòn như một thứ dịch, người người ghẻ nhà nhà ghẻ. Tôi cũng bị, nhưng ít hơn 
Thành, chỉ quanh quẩn ở hai ống chân. Thành ghẻ khắp lưng, ngực, chân tay, chỗ nào 
cũng sưng vù, chấm đầy thuốc xanh thuốc đỏ trông xa như bảng màu của họa sĩ siêu 
thực. Thành ghẻ nhưng tốt tính, hay giúp bố tôi dọn dẹp "tiệm" vào buổi tối, có khi còn 
phụ quét nhà, nấu nước. Tôi và Thành thường rủ nhau đánh cờ tướng trên cái bàn cờ là 
mặt thùng bánh thuẫn; bố tôi nghỉ làm ở hợp tác xã được hưởng "trợ cấp thất nghiệp" là 
mấy cái thùng, mà bố sẽ tận dụng làm thùng đựng tông đơ, lược, bàn chải, dao cạo. 
Thành đánh cờ bao giờ cũng thắng tôi. Nó biết tính trước nhiều nước, mấy bác lớn tuổi 
khen thằng nhỏ cao cờ, còn dạy nó giải cờ thế. Nhưng tôi vẫn thích chơi với nó, ép nó 
chấp khi thì một xe, khi pháo mã. Nó vẫn thắng dù chật vật hơn. Thắng rồi, rủ nhau ra 
đầu ngõ hóng mát, hoặc xin bố tiền mua kẹo kéo. Thuở nhỏ, tôi thèm ngọt kinh khủng. 
Thiếu đường mà. Vét keo đường tán mà mút soàn soạt là chuyện thường ngày.
Tôi cứ nhớ mãi lúc lên năm, lần đầu đời được sờ vào bánh xà bông thơm. Xà bông cục 
mua phân phối theo tổ, toàn thứ hôi rình rình, rửa bát không sạch, tắm thì không ghẻ 
cũng thành ghẻ. Lúc đó, nhà Thành nhận quà nước ngoài. Người cô hay bà dì gì đó của 
nó, di tản, giờ gửi đồ tiếp tế. Thành hơn tôi một tuổi, đã vào lớp một, một buổi sáng nó 
ghé ngang nhà tôi trước khi đến trường, rì rầm, tao có xà bông thơm. Nó khỏi cần khoe, 
tôi cũng đã ngửi thấy. Nó cách nhà tôi hai mét đã thấy thơm rồi. Tôi bảo, mày cho tao sờ 
một cái. Nó hẹn đến tối. Tối đó, tôi sang nhà nó, hai bàn tay nhúng nước cho ướt nhem, 
nó nhìn quanh quất không thấy người lớn mới lôi trong túi quần ra cục xà bông. Camay, 
màu xanh xanh. Còn nguyên vỏ hộp. Dân Sài Gòn thời đói khổ không dám xé bỏ cái 
giấy gói, chỉ lận cho cục xà bông chui ra, dùng xong lại nhét vào vỏ. Thành lận cục xà 
bông khoe tôi. Ngay lập tức, nhanh như bắt dế, tôi chụp hai bàn tay ướt vào vật linh 
thiêng màu xanh xanh ấy. Xoa thật mạnh. Tay trơn, cục xà bông tuột đi văng xuống sàn. 
Thành hét lên, bò lăn ra đất nhặt, lấy áo phủi cho hết cát dính rồi nhét nhanh vào vỏ 
hộp. Nó quắc mắt định la tôi, nhưng tôi đã nhanh chân chạy về.
Về nhà, tôi chui vào nhà tắm, hai bàn tay cứ xoa vào nhau miết không thôi. Thơm gì mà 
thơm thế! Thơm ngất ngây, thơm như ở cõi tiên. Cả phòng tắm thơm lựng, tôi rúc mãi 
trong đó không ra, không dám rửa tay sợ bay mùi. Bố tôi phát hiện ngay sự lạ khi ông đi 
vệ sinh. Này, con ăn cắp xà bông ở đâu thế? Con không ăn cắp, thằng Thành cho con 
sờ thôi. Bố tôi cười phá lên, vỗ vỗ vào trán tôi.
Chúng tôi sống cơ hàn như thế cho đến khi tôi học lớp năm. Vợ con bố Ích, vốn đã sang 
Mỹ trong lần chạy loạn năm xưa, nay bắt liên lạc được với người chồng người cha tội 
nghiệp. Bà vợ, dĩ nhiên đã đi bước nữa, nghĩ thương ông chồng cũ nghèo đói, gửi về 
mấy thùng quà toàn quần jeans Levi's, Texwood với máy cassette hiệu Sharp. Kèm theo 
là một bức thư ngắn, thông báo bà đã có chồng mới, đồng thời xin tạ tội với bố vì không 
đem được cả sáu đứa con sang Mỹ: hai đứa út bị rơi xuống biển khi tàu ra hải phận 
quốc tế. Bố tôi đi lãnh thùng đồ, đem thẳng ra chợ trời. Số tiền gom được đủ cho bố mở 
một sổ tiết kiệm kha khá tiền, lấy lãi để đi chợ, để mua sách vở cho tôi. Mớ sách bố 
khuân từ nhà cũ sang tuyệt nhiên không được động đến, tránh được cả mấy lần thanh 
niên tình nguyện Phường vào nhà vận động giao nộp văn hóa phẩm độc hại. Mớ sách 
và chiếc xe đạp là của cải bố tôi để lại cho tôi.
Tôi tập xe đạp năm lên mười. Chiếc xe cà khổ của bố, lâu không chăm sóc, không thay 
đồ mới, đến phiên tôi chạy thành thứ của nợ. Động vào là tuột xích, gãy pê đan, vẹo ghi 
đông, xì bánh. Tôi tập đạp xe bằng chiếc xe vẹo vọ, đâm ra quen, sau này cầm ghi 
đông thẳng thớm lại thấy khó. Số tôi ứng với những gì vẹo vọ.
Ngay bức tường mong mỏng, thâm thấp ngăn cách "tiệm" và nhà, bố tôi đóng một cái 
trang thờ. Trên đó, ông bày một loạt ảnh chân dung: ông bà nội tôi, tức bố mẹ ông, thì 
đã đành; nhưng loạt chân dung còn lại mới đáng sợ ­ ảnh vợ ông và sáu người con. Ông 
cho rằng họ đã chết. Khi nhận quà biếu và thư của vợ rồi, ông vẫn không hạ những bức 
ảnh ấy xuống. Ông thường chỉ cho tôi ảnh Thư, đứa con gái út, hơn tôi một tuổi, đứa nhỏ 
có đôi mắt đen láy rất lạ, sáng trong đặc biệt, trông như hai hạt châu. Đôi mắt là một ám 
ảnh lớn với bố, nhờ có đôi mắt giống thế tôi mới được bố bế ra khỏi xác mẹ, đem về.
Bố tôi dạy tôi tiếng Anh vào những buổi trưa vắng khách. Trên tay cuốn English for 
Today cũ được thay mấy lần giấy bao cho tươm tất, ông đọc to từng câu, từng đoạn, tôi 
vừa nhắc lại vừa chép vào vở. Ở trường, tôi học tiếng Nga mất vài năm đầu cấp hai, chỉ 
ít lâu sau thứ tiếng ấy đã không biết dùng vào đâu. Tôi biết ơn bố trong chuyện tiếng 
Anh nhiều lắm.
Tôi hiện đang sống giữa Sài Gòn. Mẹ ruột tôi, chắc cũng người Sài Gòn, hoặc từ một 
vùng nghèo miền Trung lưu lạc vào Sài Gòn, vào để chết. Nhưng bố Ích, là người Bắc 
năm tư. Ông lưu giữ một thứ tiếng nói Hà Nội cổ, thứ tiếng cảnh vẻ, thư thái và sang cả, 
để rồi ngấm dần vào tôi. Theo dòng sữa Guigoz sơ sinh mà ngấm vào tôi. Có khi ngấm 
cả cái tâm sự ủ ê xa xứ. Tôi đã thực sự xa Sài Gòn bao giờ đâu, thế mà vẫn cứ nhớ 
nhung Sài Gòn. Như kẻ tha hương, sao lạ làm vậy?
Sài Gòn đẹp lắm ư? Tôi cho là Sài Gòn không hề đẹp. Nó cũng không hề xấu. Nó ở đó, 
để người ta sống. Lúc nào người Sài Gòn cũng vội vã sống, như thể ngày mai mọi thứ 
sẽ đổ sập. Mặc kệ Sài Gòn đẹp xấu, hãy cứ sống. Tình yêu của người Sài Gòn dành 
cho thành phố này, là thứ tình yêu bày tỏ bằng khát vọng sống. Không cần ngắm, chỉ 
cần sống. Nhà cao tầng mọc lên nguy nga, kệ, cũng thế. Nước sông dềnh lên dơ dáy, 
đường đào nát năm này qua tháng nọ, kệ, cũng thế. Miễn là được sống, còn sống. Cách 
yêu thành phố của dân Sài Gòn có vẻ gì đó giông giống cách yêu của những gã đàn 
ông. Được rồi, là quên hết xấu đẹp, quên hết phận sự ca ngợi, yêu chiều âu yếm. Kệ. 
Nàng ở đó, là được. Sài Gòn cứ yên đó, là được.
Sài Gòn như một người đàn bà có duyên ngầm. Như cơn mưa. Bốc đồng, dai dẳng, u 
tối, chì chiết, mà không ai quên. Không ai xa.
Trừ khi nàng chết đi.
Như vợ tôi, trừ khi nàng chết đi. Nhưng đấy là đoạn sau này.