Kiến thức chứng khoán

Phân loại Chủ đề Từ điển chứng khoán A AAA : Trái phiếu được sắp hạng cao nhất về mức an toàn. Trái phiếu đô thị, và công ty được đánh giá cao nhất, được chi trả vốn và lãi đầy đủ như mong đợi khi đáo hạn. Standard & Poor's đánh giá trái phiếu theo thứ tự AAA, AA, A và Moody's Investors Service đánh giá theo Baa, và cao hơn như Aaa. Đây là loại trái phiếu được xem là có cấp độ đầu tư an toàn, phù hợp để ngân hàng và tổ chức tiết kiệm mua để làm chứng khoán đầu tư. ABANDON : Xoá bỏ - Huỷ bỏ. Hành động từ bỏ quyền mua hay bán một số cổ phần của công ty trước ngày đáo hạn ABANDONMENT : Sự từ bỏ. Tự ý từ bỏ tài sản hay quyền hạn đối với tài sản, không cố gắng đòi lại tài sản hay chỉ định người thừa kế. Trong hầu hết các tiểu ban, quyền sở hữu tài sản bị từ bỏ được trao cho liên bang hưởng lợi ban đầu, hay giao cho tiểu bang nếu không tìm thấy người sở hữu. Trong luật phá sản, việc từ bỏ tài sản là biện pháp để trả lại thế chấp cho chủ nợ đã được bảo đảm với sự đồng ý của người thụ uỷ phá sản. ABA TRANSLT NUMBER : Mã số chuyển ABA. Mã số dùng trong việc giao hoán chi phiếu giữa các ngân hàng. Môi giới ngân hàng và tổ chức tiết kiệm có mã số ABA riêng do American Bankers Association thiết lập. Mã số chuyển có hai phần cách nhau bằng dấu trừ (-) Phần đầu cho biết thành phố, tiểu bang hay địa phận nơi ngân hàng toạ lạc, phần thứ nhì xác định chính ngân hàng. mã số chuyển nằm phía góc phải phía trên chi phiếu dưới dạng tử số của phân số. Mẫu số là ký hiệu Tuyến Chi Phiếu (Check Routing Symbol) xác định Ngân Hàng Dự trữ Liên Bang của tổ chức tiết kiệm. AGREEMENT : Thoả hiệp ABC. Thoả hiệp giữa công ty môi giới và một trong các nhân viên của công ty. chấp (satisfaction or mortgage) chứng nhận nợ đã được trả đủ. ACROSS THE BOARD : Cùng hướng - Toàn diện. Biến chuyển thị trường chứng khoán có ảnh hưởng đến hầu hết chứng khoán theo cùng một hướng. Khi thị trường tăng toàn bộ thì tất cả chứng khoán cũng đều tăng theo. ACROSS-THE-BOARD (ATB) TARIFF REDUCTION : Gia giảm toàn bộ quan thuế biểu. Cũng còn gọi là gia giảm quan thuế biểu theo đường thẳng (linear tariff reduction), đây là công cụ dùng trong các cuộc thương lượng mua bán quốc tế nhằm tránh sự thương lượng gia giảm theo từng hạng mục. Các quốc gia đồng ý tuân theo sự gia giảm phần trăm trong tỷ lệ quan thuế đối với những hàng hoá ấn định. ACTING IN CONCERT : Thông đồng. Hai hay nhiều nhà đầu tư cùng làm việc với nhau để cùng đạt một mục tiêu đầu tư. Thí dụ, họ cùng mua tất cả cổ phần của công ty mà họ muốn tiếp thu. Những nhà đầu tư này phải báo cho Hiệp Hội Chứng Khoán (SEC -- Securities and Exchange . Commission - uỷ Ban Chứng Khoán là thị trường chứng khoán) nếu họ có ý định loại trừ thành phần lãnh đạo công ty mà họ muốn tiếp thu hay có ý định nắm quyền kiểm soát công ty. hành động này sẽ bất hợp pháp nếu như họ thông đồng để lôi kéo giá chứng khoán lên để hưởng lợi. ACTIVE ACCOUNT : Tài khoản hoạt động tích cực. Tài khoản có số ký thác và số rút tiền thường xuyên cập nhật trong thời khoảng kế toán. Ngoài ra, đó là tài khoản thẻ tín dụng hay Mức Tín Dụng Ngân hàng (Bank line or credit) cho biết số vốn và số chi trả tiền lãi đáo hạn trên báo cáo tài khoản khách hàng. Ngược lại là Inactive Account. ACTIVE BOND CROWD : Nhóm mua bán trái phiếu tích cực. Nhân viên phòng trái phiếu NYSE có trách nhiệm về số lượng lớn nhất trái phiếu đang mua bán. Ngược lại nhóm tích cực

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

1

là nhóm dự phòng (carbinet crowd) tức là nhóm mua bán loại trái phiếu ít khi được đưa ra mua bán. Nhà đầu tư mua bán trái phiếu trong nhóm tích cực sẽ có cơ hội mua chứng khoán t trái phiếu giá tốt hơn là trong thị trường trì trệ vì ở thị trường này chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán rất xa ACTIVE BOX : Trong kho tồn trữ năng động - tính năng động của chứng khoán thế chấp. Thế chấp có sẵn để bảo đảm cho số tiền vay của Broker hay cho vị thế tài khoản margin của khách hàng (Margin account - tài khoản vay tiền để mua chứng khoán), để ở một nơi - gọi là hộp an toàn (box) tức là nơi chứng khoán của khách hàng của broker hay của chính brokerdealer (broker mua bán cho chính mình) được giữ an toàn. Chứng khoán trái phiếu dùng để thế chấp phải do công ty sở hữu hoặc do khách hàng thế chấp cho công ty, sau đó broker thế chấp cho ngân hàng cho vay. Đối với tiền vay trong tài khoản margin, khách hàng phải thế chấp chứng khoán cho broker. ACTIVE MARKET : Thị trường năng động, thị trường mua bán tích cực. Thị trường mua bán một số lượng lớn chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá. Chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán không cách xa mấy trong thị trường năng động, ít hơn trong mua bán âm thầm. Ngoài ra ,số lượng chứng khoán mua bán trên thị trường theo từng khối .các nhà quản lý tiền thuộc tổ chức thích loại thị trường như thế vì việc mua bán theo từng khối lớn chứng khoán sẽ ít có ảnh hưởng làm xáo trộn biến chuyển giá cả khi việc mua bán có tính tích cực.. ACTIVE TRUST : Uỷ thác toàn quyền. Tài khoản uỷ thác trong đó người thụ uỷ (trustee) có bổn phận đặc biệt đã ấn định để thực hiện uỷ thác di chúc (Testamentary trust) do một chúc thư đề ra. Người thụ uỷ có thầm quyền bán tài sàn để trả đủ cho người chủ nợ và phân phối tài sản cho những người thừa kế. Nó ngược lại với uỷ thác của người bảo trợ (grantor trust) hay uỷ thác thụ động, nghĩa là không được tự do quyết định thực hiện. ACTIVITY CHARGE : Phí hoạt động. Lệ phí trả vào tài khoản ngân hàng để thanh toán giá phí dịch vụ. Vài phí hoạt độ sẽ tăng vọt lên khi số cân đối tài khoản rớt xuống thấp hơn một mức nào đó, thí dụ như phí dịch vụ hàng tháng trên tài khoản chi phiếu.Các phí khác là phí giao dịch mua bán dựa trên việc sử dụng tài khoản, thí dụ phí từng hạng mục trong việc viết chi phiếu hay phí dịch vụ trong việc rút tiền bằng máy tự động. ACT OF BANKRUPTCY : Thừa nhận bị vỡ nợ. Hành động (hay cách ứng xử) được xem là thừa nhận bi vỡ nợ - thường là không có khả năng trả nợ khi đáo hạn. Người cho vay nợ, người tin tưởng người vay đã phạm phải hành động phá sản có thể đệ trình kiến khăn việc tài trợ sản xuất bằng số tiền vay mới. điếu này làm tăng các thủ đoạn khác nhau để loại bỏ điều khoản bảo đảm bổ sung như thu hồi hay chuyển đổi trái phiếu hoặc thay đổi trong thoả thuận giao kèo. AFTER DATE (A.D) Từ thời điểm đã ghi trở đi. Sau thời điểm đã ghi (thông báo). Một thông báo đính kèm theo hối phiếu hay giấy báo trả tiền cho biết rằng công cụ sẽ được chi trả sau thời điểm được ghi trong thông báo đó (thí dụ, 30ngày sau thời điểm đã ghi). Một công cụ loại này là hối phiếu có kỳ hạn (định kỳ) có thể đáo hạn trước khi được thế chấp. AFTER HOURS DEAL : Giao dịch mua bán sau giờ chính thức (sau giờ đóng cửa). Giao dịch mua bán trên thị trường chứng khoán đã kết thúc sau khi đóng cửa cửa chính thức mua bán. Thông thường mua bán này được ghi nhận báo cáo vào ngày hành chính kế tiếp. AFTER SIGHT : Sau khi đã thấy, sau khi trình ra. Thông báo rằng hối phiếu hay giấy báo trả tiền sẽ được chi trả sau khi nó được trình ra để nhận chi trả. Người bán vẫn còn quyền sở hữu số hàng hoá đang vận chuyển cho đến khi chứng từ vận chuyển được trình cho ngân hàng chi trả và ngân hàng này chấp nhận. AFTERMARKET : Thị trường sau khi phát hành. Mua bán cổ phần trên thị trường chứng khoán sau khi công ty phát hành cổ phần ra công chúng. Giá cả của cổ phần lúc này tăng

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

2

hay giảm tuỳ theo thị trường cung cầu, không còn theo giá căn bản như lúc công ty mới phát hành cổ phần. AFTERTAX BASIS : Tỷ lệ căn bản sau khi đóng thuế. Tỷ lệ căn bản để so sánh lợi nhuận của trái phiếu công ty (phải đóng thuế) và trái phiếu đô thị (miễn thuế). Thí dụ, trái phiếu công ty chi trả 10% sẽ có lợi nhuận sau khi đóng thuế là 7,2% đối với người nằm trong khung thuế 28%. Vì thế bất cứ trái phiếu đô thị nào trả cao hơn 7,2% sẽ cho hoa lợi cao hơn loại trái phiếu công ty chi trả 10%. AFTERTAX REAL RATE OF RETURN : Tỷ lệ lợi nhuận thực sau khi đóng thuế. Số tiền mà nhà đầu tư có được sau khi đã điều chỉnh theo lạm phát. Số tiền này xuất phát từ lợi tức và tư bản kiếm được (capital gains) trong các vụ đầu tư. Trong lạm phát mỗi dollar đều mất đi một phần giá trị vì thế nhà đầu tư phải theo dõi tỷ lệ lợi nhuận thực sau khi đóng thuế kể từ khi ông ta cam kết về vốn. Nói chung, nhà đầu tư tìm một tỷ lệ lợi nhuận tương xứng nếu không nói là vượt hơn tỷ lệ lạm phát. ALLOCATION : Vị thế, số lượng tỷ lệ cổ phần đầu tư. Số lượng cổ phần được mua trong một danh mục đầu tư (portfolio) theo một tỷ lệ so sánh với Bonds, với tiền mặt v.v... Merill Lynch increased the stock allocation in his benchmark portfolio to 50%: Công ty đầu tư Merill Lynch đã gia tăng tỷ lệ đầu tư cổ phần chứng khoán trong danh mục đầu tư của họ lên tới 50%. ALLONGE: Phiếu bảo chứng. Chứng tự kèm theo công cụ chi trả (negotiable instrument) để thêm bảo chứng như khi ký chi phiếu trả cho bên thứ ba. Khi ngân hàng vay tại phòng Cho Vay Có Chiết Khấu (Discount Window) của Ngân Hàng Dự trữ Liên Bang , ngân hàng phải bổ sung vào một phiếu kèm theo giấy hứa trả nợ , hối phiếu, hoá đơn được giao cho ngân hàng Dự Trữ Liên Bang để thế chấp. ALLOTMENT: Phân bổ. Số chứng khoán chia ra cho mỗi thành viên trong tập đoàn ngân hàng đầu tư được thành lập để bao tiêu phân phối chứng khoán mới, gọi là người đăng ký bao tiêu (subscribers.) hay người được phân phối (allottees). Trách nhiệm tài chính của người đăng ký bao tiêu được ghi trong thông thông báo phân bổ do nhà quản lý bao tiêu soạn thảo. ALLOWANCE: Tiền chiết khấu, tiền trợ cấp, tiền khấu trừ. 1. Kế toán: Tài khoản để điều chỉnh trị giá tài sản thông qua phí của lợi tức hiện hành, đây là số dự trữ cho khấu hao. 2. Ngân hàng: Dự trữ tiền vay bị mất (Loan loss Reserve) dùng cho số phí sẽ mất theo dự kiến đối với nợ khó đòi. 3. Uỷ thác: Chứng thực (di chúc) quyết định của an toàn cho người thụ uỷ tài sản ; thí dụ như tiền trợ cấp cho người goá bụa. 4. Mua bán: Khấu trừ trị giá hoá đơn được người bán hàng hoá chấp nhận để bù đắp vào số hư hại hay thiếu sót. ALPHA: Hệ số Alpha. 1. Hệ số đo lường phần lợi nhuận đầu tư có phát sinh rủi ro đã tính tới. Nói cách khác, hệ số alpha là phương pháp toán học ước tính số lợi nhuận mong muốn có từ giá trị vốn có của đầu tư, như tỷ lệ phát triển lợi nhuận cho môi cổ phần. Nó khác số lợi nhuận có được do biến động giá (volatility) , loại này được tính bằng hệ số Beta. Thí dụ, hệ số alpha là 1,25 cho biết chứng khoán có dự kiến tăng 25% trong một năm khi lợi nhuận trên thị trường và hệ số Beta của chứng khoán đều bằng không. Một vụ đầu tư có giá thấp tính theo hệ số alpha bị đánh giá dưới giá trị, nhưng đây được xem là một lựa chọn tốt. (Đầu tư tốt vì có tiềm năng tăng giá sau này). Trong trường hợp quỹ hỗ tương đầu tư, alpha đo lường mối quan hệ giữa diễn biến của quỹ và hệ số Beta trong 3 năm. 2. Tại thị trường chứng khoán Luân , từ ngữ alpha stocks dùng cho các công ty mua bán lớn nhất và tích cực nhất có thể so sánh với từ Blue Chips của Hoa Kỳ. Việc cải cách xuất phát

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

3

từ Big Bang (xem phần sau) năm 1986 đưa đến kết quả là các cổ phần có giá trị nhất thường đem lại doanh thu 80%, đều chịu các luật lệ mua bán nghiêm ngặt hơn là chứng khoán Beta hay Gamma. ALTERED CHECK : Chi phiếu bị sửa đổi. Chi phiếu hay công cụ chi trả khác có ngày đáo hạn, số dollar hay tên người được trả tiền bị sửa đổi hay bôi xoá , thường là mục đích lừa đảo. Ngân hàng có thể từ chối chi trả phiếu nếu nghi ngờ có sự cạo sửa tự ý . ALTERNATIVE MINIMUM TAX (AMT) : Thuế tối thiếu lựa chọn. Là loại thuế liên bang được đạo luật Tax Refrom Act of 1986 cải tiến lại nhằm mục đích bảo đảm rằng các cá nhân hay công ty giàu có phải chi trả thêm ít nhất một số lợi tức . Đối với cá nhân, AMT được tính bằng cách cộng các mục được ưu đãi thuế như thua lỗ thụ động (passive losses), lãi được miễn thuế của trái phiếu có mục đích riêng (Private-purpose Bond) phát hành sau ngày 7.8 l986 và số khấu trừ đối với đóng góp từ thiện bằng chứng khoán, bất động sản, tác phẩm nghệ thuật, và các tài sản tăng giá theo lợi tức gộp có điều chỉnh, sau đó trừ cho $ 40.000 cho một cặp vợ chồng cùng nộp chung hay $ 30.000 nếu nộp riêng ; 24 % số còn lại sẽ chịu thuế. Số được miễn thuế được huỷ bỏ theo cách 25 xu cho 1 dollar đối với lợi tức AMT vượt quá $150.000 cho cặp vợ chồng cũng nói ( $ 112.500 đối với cá nhân ) AMT của công ty cũng được miễn thuế nhưng với tỷ lệ 20 % sổ sách (báo cáo tài chính) cao hơn tổng số lợi tức chịu thuế cộng với với các mục ưu tiên thuế khác như tăng giá trị số đóng góp từ thiện được miễn thuế miễn thuế , số thặng dư khấu hao tăng tốc của tài sản được đưa vào phục vụ sau năm 1986 , lãi được miễn thuế của trái phiếu có mục đích riêng phát hành sau 1.7.1986 và các ưu đãi công nghiệp đã ấn định . Sau năm l984 AMTcủa công ty được thiết lập dựa trên định nghĩa của thuế và tiền kiếm được và lợi nhuận chứ không phải dựa trên lợi tức sổ sách. AMERICAN BANKERS ASSOCIATION (ABA) : Hiệp hội Ngân hàng Hoa Kỳ. Hiệp hội mậu dịch quốc gia của các ngân hàng thương mại thương mại ở Hoa Kỳ được thành lập năm1875. Phần lờn trong số l4.000 ngân hàng Hoa Kỳ là hội viên của hiệp hội, là tổ chức bảo trợ cho các hội nghị và hội thảo chuyên đề và khuyến khích phát triển khả năng chuyên môn trong hoạt động ngân hàng thông qua các trường ngân hàng ABA và một chi nhánh giáo dục của ABA đó là Học Viện Ngân HàngHoa Kỳ (American Institute of Banking).ABA cũng đại diện cho ngànhh ngân hàng trước quốc hội và các cơ quan thành lập liên bang. AMERICAN DEPOSITARY RECEIPT: Biên nhận ký thác tại Hoa Kỳ (ADR) Biên nhận cho các cổ phần của công ty nước nước ngoài,các cổ phần này được ngân hàng Hoa Kỳ giữ trong hầm an toàn và cho phép cổ đông có quyền nhận cổ tức và tư bản kiếm được. Thay vì phải mua cổ phần của công ty nước ngoài ở các thị trường nước ngoài, người dân Hoa Kỳcố thể mua các cổ phần này ngay tại Hoa Kỳ dưới hình thức ADR. ADR có cả hàng trăm loại cổ phần của nhiều quốc gia khác nhau. ADR được tính bằng dollar và được mua bán trên thị trường chứng khoán và thị trường tự do(Over-the-Counter) theo cùng cách như chứng khoán phát hành tại Hoa Kỳ. AMERICAN STOCK EXCHANGE (AMEX): Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Thị trường chứng khoán số lượng mua bán đứng thứ nhì tại Hoa Kỳ. Toạ lạc tại số 86 Taivity Place ở cuối Manhattan, mãi đến năm 1921 người ta vẫn được biết Amex với cái tên Curb và mãi đến ngày nay nó vẫn ám chỉ là Curb. Nói chung, các chứng khoán và trái phiếu mua bán tại Amex là thuộc các công ty từ nhỏ đến bậc trung , ngược lại với các công ty khổng lồ có cổ phần mua bán tại NYSE (New York Stock Exchange), cá biệt , một phần lớn các công ty dầu hoả và gas mua bán tại Amex.Amex cũng là nơi mua bán các hợp đồng options của nhiều loại chứng khoán ở NYSE và một vài loại chứng khoán ở thị trường ngoài danh mục .ở Amex, cổ phần nước ngoài được mua bán nhiều hơn ở bất cứ thị trường nào ở Hoa Kỳ. AMERICAN STOCK EXCHANGE AUTOAMOS : Hệ thống Autoamos tại Amex. AMEX(American Stock Exchange) sử dụng hệ thống Automatic Amex Option Switch để mua bán hợp đồng options. Autoamos được dùng để mua bán hằng ngày từ các đại diện mua bán (broker) tới các chuyên viên Amex rồi chuyển ngược các báo cáo đã thực hiện được của chuyên viên (Specialist) về cho broker. Autoamos tự động thực hiện mua bán từ 4 đến 6 loại

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

4

cổ phần được người mua bán nhiều nhất của Standard & Poor's 100 index option. Đồng thời Autoamos có khả năng thực hiện những lệnh mua hợp đồng từ broker lên đến 20 hợp đồng cổ phần. AMERICAN STOCK EXCHANGE AUTOPER: Hệ thống Autoper ở Amex. Amex sử dụng hệ thống Autoper qua đường dây tự động hằng ngày từ broker đến chuyên viên tại hiện trường mua bán (floor) và gửi báo cáo của chuyên viên về lại broker sau khi đã thực hiện các lệnh mua bán của broker. AMERLIAN-STYLE OPTION: Hợp đồng option theo kiểu Hoa Kỳ. Mua bán hợp đồng option bất cứ lúc nào miễn là trước ngày đáo hạn, khác với kiểu châu Âu là phải đợi đến ngày đáo hạn chứ không được mua bán trước. AMORTIZATION SCHEDULE: Thời biểu chi trả dần. Bảng thông thường dùng trong thế chấp và tiền vay chi trả dần, cho biết số chi trả đáo hạn, số tiền đáo hạn trong mỗi kỳ chi trả dần, giảm số cân đối vốn , số năm cần để thanh toán hết số nợ. Chi trả dần trong một năm đối với tiền vay $ $1000 lãi 10%.Chi trả hằng tháng (P&l) : 87,92. Đạo luật Bank Merger Act of 1960 cho các cơ quan lập pháp ngân hàng quyền chấp thuận hay không chấp thuận sát nhập ngân hàng hay sát nhập các công ty cha thuộc ngành ngân hàng. Justice Deprartment có thể can thiệp vào nếu nó không đồng ý. Một lãnh vực liên quan đến luật chống Trust là ý niệm quyền lực thị trường (market power) liên quan đặc biệt đến hoạt động liên doanh (JointVenture) giữa các nhóm tổ chức tài chính như hệ thống máy trả tiền tự động .Theo quan điểm phổ biến, qua kinh nghiệm phân xử các vụ kiện cáo cho rằng những người điều hành hệ thống không thể ngăn cản những ngân hàng ngoài hội viên nếu như dịch vụ cung cấp (thí dụ, quyền sử dụng ATM do các ngân hàng khác sở hữu) được dân chúng chấp nhận rộng rãi vì giới hạn sự tham gia của ngân hàng sẽ gây thiệt hại cho các ngân hàng muộn tham gia. APPARENT AUTHORITY: Thẩm quyền hiển nhiên. Theo luật pháp chung thì người chủ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của nhân viên mình. Khi bên thứ ba đã tín nhiệm sự đại diện của nhân viên, thì người chủ không thể nói rằng nhân viên của mình thiếu thầm quyền để bào chữa cho việc làm trái luật pháp. APPORTIONMENT: Sự phân chia. Phân chia giới tuyến các quyền, sở hữu chủ hay chi phí giữa người mua và người bán trong chuyển nhượng tài sản. Trong uỷ thác và tài sản, đây là sự phân chia lợi tức và chi phí quản lý giữa hai hay nhiều tài khoản, thí dụ vốn và lợi tức tiền lãi hay phân chia thuế tài sản giữa những người thụ hưởng tài sản. Ngược lại phân chia là phân bổ, là lợi nhuận kiếm được hay chi phí được đưa vào một tài khoản độc nhất nhằm để kết toán. APPRAISAL : Đánh giá ước định. Bảng ước tính trị giá thị trường của tài sản do chuyên viên đánh giá thiết lập dựa trên phân tích các dữ kiện xác thực.Trị giá thị trường của tài sản thường dùng làm căn bẳn xác định trị giá thế chấp để ngân hàng cho vay, nó có thể dựa trên chi phí thay thế, số bán so với tài sản hay lợi tức ước định trong từng tương lai từ số tài sản phát sinh ra lợi tức. APPRAISED VALUE: Trị giá đã được thẩm định . Trị giá thị trường của một tài sản đã được thẩm định viên đủ tiêu chuẩn đánh giá. Trị giá thẩm định chia một hạng mục có thể cao hơn hay thấp hơn giá người ta chi trả cho nó, điều này tuỳ thuộc vào giá thị trường của tài sản tương đương với hạng mục đó. Việc thẩm định dựa trên giá phí thay thế hạng mục hay trị giá bán lại đã tăng hay giảm (theo thời gian ). APPRECLATION: Tăng giá trị. 1.Tăng trị giá tài sản do tăng giá trị trên thị trường, được đánh giá tăng, hay tăng lợi tức kiếm được khi so với thời kỳ trước. 2.Tăng giá trị một loại tiền tệ nào đó so với loại tiền tệ khác mà không có bất cứ thay đổi trị giá chính thức nào có nghĩa là do nhu cầu thị trường đòi hỏi chứ không phải do phá giá tiền tệ. APPROVED LIST : Bảng liệt kê (danh sách) được thừa nhận. 1. Ngân hàng: trái phiếu hay chứng khoán mà ngân hàng có thể giữ lại để đầu tư, thông thường căn cứ trên việc đánh giá của công ty đánh giá trái phiếu như Standard Poor's, Moody's, Fitch's và các công ty khác. Luật lệ dự trữ liên bang giới hạn số đầu tư của ngân hàng quốc gia trong việc chỉ được đầu tư vào trái phiếu chứng khoán có cấp độ đầu tư đã được các công ty dịch vụ đánh giá xác định. Thí dụ các trái phiếu chứng khoán đã được. Standard Poor's đánh giá từ B (BBB) trở lên. Các ngân hàng cấp tiểu bang (có giấy phép

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

5

kinh doanh cấp tiểu bang) cũng chịu lệ thuộc quy định đầu tư như thế, giống ngân hàng quốc gia theo đạo luật dự trữ liên bang. 2.Đầu tư: bảng danh sách đầu tư được quyền giao cho người thụ uỷ tài sản theo quy chế tiểu bang hay do ban quản trị quỹ hỗ tương đầu tư thực hiện APPROVED PREFERRED SHARE TRUST (ADST) : Uỷ thác cổ phần ưu đãi được chấp thuận. Tại Anh, uỷ thác được công ty lập ra vì lợi ích của công nhân và được tài trợ bằng cách mua cổ phần của chính công ty. Thuế đánh trên cổ tức ADST được hoãn cho đến khi bán cổ phần và được và được trả theo tỷ lệ có giảm. ARBITRAGE: Mua bán song hành Lợi nhuận có được từ chênh lệch giá khi mua và bán chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá cùng loại cùng lúc trên hay hay nhiêu thị trường. Thí dụ nhà mua bán song hành cùng lúc mua một hợp đồng về vàng tại thị trường New York và bán cùng lúc một hợp đồng về vàng tại thị trường Chicago họ kiếm được lợi nhuận vì lúc đó giá ở hai thị trường khác nhau (Người mua bán song hành có giá bán cao hơn giá mua). Mua bán song hành theo chỉ số sẽ khai thác chênh lệch giá giữa hợp đồng futures chỉ số chứng khoán và giá chứng khoán cơ sở. Bằng cách tận dụng chệch lệnh giá tiền giữa các thị trường, nhà mua bán song hành thực hiện chức năng kinh tế làm cho mua bán tại các thị trường này có hiệu quả hơn. ARBITRAGE BONDS: Trái phiếu song hành. Trái phiếu do nhà nước đô thị phát hành để có được lãi suất thích hợp bằng cách tái tài trợ trái phiếu có lãi suất cao trước khi đáo hạn. Số tiền thu được từ chi phiếu tái tài trợ với lãi suất thấp được đầu tư vào công phiếu cho đến khi trái phiếu lãi suất cao đáo hạn. Trái phiếu song hành luôn luôn đặt vấn đề miễn thuế, đạo luật Tax Reform Act of 1986 đã huỷ bỏ việc này từ lâu . ARBITRAGEUR: Nhà mua bán song hành. Người làm dịch vụ mua và bán cùng lúc cùng một loại cổ phần, tiền tệ... nhằm vào sự chênh lệch giá cả giữa hai thị trường để kiếm lời. ARBITRATION: Trọng tài phân xử. Một hình thức khác thay cho vụ kiện tài toà án, nhằm dàn xếp tranh chấp giữa broker và khách hàng cũng như giữa các công ty môi giới chứng khoán. Theo thông lệ các điều khoản phân xử trước các tranh chấp đã có ghi trong thoả hiệp tài khoản với broker, nó đảm bảo rằng các tranh chấp sẽ được phân xử bởi bên thứ ba có tính khách quan và không đưa ra toà án. Năm 1989, SEC (Securities and Exchange Commission) chấp thuận các thay đổi bao quát yêu cầu broker thông báo rõ ràng khi có các điều khoản này, ngăn cấm bất cứ một giới hạn nào về quyền của khách hàng trong việc đệ đơn xin phân xử và đặt ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về trọng tài phân xử. Xem: Board of Arbitration. ARM'S LENGTH TRANSACTION: Giao dịch mua bán ngoài - Giao dịch mua bán giữa những người chưa biết nhau. Giao dịch mua bán giữa các bên không quen biết nhau (trước đây không có liên hệ hay không ở cùng một đơn vị (unaffiliated) đó là trường hợp một người mua sẵn sàng mua và một người bán sẵn sàng bán, mỗi bên đều vì lợi ích của riêng mình. Giá cả trong giao dịch mua bán này căn cứ trên trị giá thị trường công bằng (theo giá thị trường). Giao dịch mua bán giữa công ty cha và các công ty con không phải là loại mua bán ngoài. Giao dịch mua bán theo loại này sẽ tránh được những xung đột quyền lợi.Thí dụ, theo luật lệ hiện hành, cha mẹ có thể cho con thuế bất động sản và vẫn có quyền đòi các khấu trừ số tài sản miễn là họ. ASSUMABLE MORTGAGE: Thế chấp nợ được sang tay. Thế chấp cho người vay có quyền ký chuyển nhượng số nợ còn thiếu trong số nợ của ông ta, đến người khác trên số bán tài sản thế chấp, mà không bị trả tiền phạt trước. Người mua chấp nhận chi trả số tiền vay đúng thời hạn và các điều khoản cho phần còn lại của thế chấp và người bán vẫn chịu trách nhiệm thứ nhì đối với số nợ. Thế chấp của Department or Veterans Affairs và thế chấp do Federal Housing Administration thường là loại được người mua chấp nhận theo tính cách trên. ASSUMED INTEREST RATE: Lãi suất được thừa nhận. Tỷ lệ lợi tức đầu tư được tuỳ thuộc vào cách chọn lựa phương thức bảo hiểm nhân thọ - để duy trì trả tiền không có gì thay đổi khi chết. ASSUMPTION: Đảm nhiệm - Đảm đương. Liên đới chịu trách nhiệm các món nợ của người khác,thường thường bằng thoả hiệp đảm nhiệm (assumption agreement) trong trường hợp đảm nhiệm về thế chấp, người bán chịu trách nhiệm thứ nhì trừ khi người cho vay không bắt buộc. AT PAR: Theo mệnh giá. Giá bằng với mệnh giá hay giá danh nghĩa của chứng khoán. AT LIMIT : Theo giá giới hạn. Nhà đầu tư chỉ thị cho broker mua hay bán chứng khoán hay

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

6

hàng hoá theo giá ấn định. Theo giao dịch mua bán với giá giới hạn (at-limit transaction), nhà đầu tư cũng cho biết thời hạn để broker mua bán (thí dụ, trong vòng 2 ngày). AT RISK: Đang có rủi ro. Cho thấy có nguy cơ thua lỗ. Nhà đầu tư góp vốn trách nhiệm hữu hạn có thể đòi quyền được khấu trừ thuế chỉ khi nào họ có thể chứng minh rằng họ có khả năng nhận biết những cái không thể nhận biết được về lợi nhuận và thua lỗ trong đầu tư. Không thể thực hiện được khấu trừ nếu thành viên góp vốn không được thông báo đầy đủ về rủi ro kinh tế thí dụ, nếu Tổng thành viên bảo đảm sẽ trả lại toàn bộ vốn cho thành viên góp vốn dù cho việc kinh doanh mạo hiểm sẽ thua lỗ. AT SIGHT: Cụ thể thấy trước mắt Cho thấy một công cụ trả như hoá đơn bán hàng hay hối phiếu để được chi trả khi trình cho người chi trả (drawee). AT THE CLOSE: Vào lúc đóng cửa thị trường chứng khoán. Lệnh mua và bán chứng khoán trong 30 giây cuối của một vụ mua bán tại thị trường chứng khoán. Broker không bảo đảm các lệnh như thế sẽ được thực hiện. AT THE MARKET: Theo thị trường. Mua bán theo giá thị trường khi đang thực hiện giao dịch mua bán. AT THE MONEY: Có giá tương đương - Hoà vốn. Theo giá hiện hành, như trường hợp một hợp đồng option có giá thực hiện (Exercise price - giá điểm, giá thực thi) tương đương hay gần ứng giá chứng khoán hay hợp đồng futures cơ sở. AT THE OPENING: Vào lúc mở cửa thị trường chứng khoán. Lệnh của khách hàng đưa cho broker để mua hay bán chứng khoán theo giá lúc thị trường mở cửa. Nếu lệnh không được thực hiện vào lúc này thì sẽ tự động huỷ bỏ. ATTACHMENT: Tịch biên tài sản. Lệnh (trát) được quyền thu giữ tài sản sau khi toà án quyết định phán quyết chi trả cho chủ nợ. Sau khi toà án xét xử và quyết định công bố, chủ nợ phải có giấy xử lý tài sản được quyền thu giữ một phần lương công nhân (garnishment) hay giấy thu giữ tài sản cá nhân trong phạm vi quyền hạn nơi người vay cư trú thường là đô thị hay phân khu tiểu bang (county). Giấy được quyền giữ tài sản thế chấp, giấy này nói rằng sẽ có quyền tịch thu tài sản của người vay thay cho số tiền đã cho vay hay số tiền đã ứng trước dựa trên mức độ tín dụng. ATTEST: Chứng thực. Văn kiện cam kết chắc chắn về một sự kiện hay tình trạng, bổn phận hay trách nhiệm do người làm ra văn kiện ký, thường là có sự hiện diện của công chúng viên hay một người khách quan nào đó. Trong trường hợp chúc thư, người làm di chúc ký tên với sự hiện diện của hai hay nhiều người chứng hay trước một công chứng viên. ATTORNEY AT LAW: Luật sư - Người được uỷ quyền về luật pháp người được tiểu bang cấp giấy chứng nhận hoạt động về luật pháp, được phép tư vấn và đại diện cho khách hàng trước toà án trong các vụ kiện hay trước cơ quan hành chánh. Thông thường đó là luật sư. ATTORNEY IN FACT: Người được uỷ nhiệm theo thực tế sự việc. Người được người khác chỉ định để làm việc như một người trung gian dưới danh nghĩa của người chỉ định .Văn kiện uỷ nhiệm là loại viết tay, và thường là văn kiện uỷ nhiệm quyền hạn của người uỷ nhiệm và có thể có tính tổng quát hay giới hạn ở một số hoạt động nào đó đã được ấn định. AUCTION MARKET: Thị trường đấu giá. Hệ thống mua và bán chứng khoán thông qua Broker trên các thị trường chứng khoán, nó khác với thị trường ngoài danh mục (Over-thecounter thị trường tự do) đây là nơi mua bán bằng thương lượng. Thị trường chứng khoán New York (New York Stock Exchange-NYSE) là thí dụ tiêu biểu nhất, thị trường có hệ thống đấu giá đôi hay thị trường song phương (two- sided market) lý do là vì không giống với cuộc đấu giá thông thường theo truyền thống là chỉ có một người ra giá và nhiều người mua (trả giá) ở đây chúng ta có nhiều người bán và nhiều người mua. Trong bất cứ cuộc đấu giá nào, giá được đặt ra là do đấu giá cạnh tranh giữa các brokers hoạt động như người trung gian cho người mua và người bán. Hệ thống này có những chức năng theo một trật tự nhờ một vài luật lệ mua bán như sau: 1. Giá đặt mua hay giá đặt bán đầu tiên theo giá đã định thì ưu tiên hơn giá đặt mua và đặt bán khác có cùng mức giá. 2. Giá mặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất được đấu giá giữa các brokers ở sàn mua bán. 3. Cuộc đấu giá mới bắt đầu khi nào không còn tất cả giá đặt bán và giá đặt mua theo giá đã cho. 4. Các vụ mua bán bí mật đều bị ngăn cấm. 5. Giá đặt mua và giá đặt bán phải được xướng lên rõ ràng cho mọi người đều nghe. Ngoài

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

7

ra, đấu giá có cạnh tranh cũng dùng cho việc bán công khố phiếu ngắn hạn. AUCTION-RATE PREFERRED STOCK: Chứng khoán ưu đãi theo lãi suất đấu giá. AUTHORIZED INVESTMENT: Đầu tư được uỷ nhiệm. Đầu tư do người được uỷ quyền hay người thụ uỷ thực hiện sau khi có chỉ thị viết trong công cụ uỷ thác. Đối chiếu với đầu tư hợp pháp tuân theo luật lệ của các cơ quan thẩm quyền về ngân hàng tiểu bang hay luật lệ tiểu bang liên quan đến các đầu tư được phép thực hiện bởi các người được uỷ quyền và ngân hàng tiết kiệm hỗ tương đầu tư. AUTHORIZED SETTLEMENT AGENT: Người trung gian được uỷ quyền thanh toán. Ngân hàng được uỷ quyền để đệ trình chi phiếu hay chi phiếu giao ngay (Cash items) cho ngân hàng dự trữ liên bang để thu nhận. Trong lĩnh vực thẻ ngân hàng, ngân hàng được uỷ quyền để thanh toán hối phiếu cho việc thanh toán trao đổi mua bán. AUTHORIZING RESOLUTION: Nghị quyết uỷ quyền. Vụ kiện cho phép cơ quan địa phương hay chính quyền địa phương phát hành công phiếu. AUTHORIZED SHARES (STOCKS): Cổ phần có thẩm quyền phát hành. Số cổ phần tối đa thuộc bất cứ hạng loại nào trong công ty được phép phát hành theo các điều khoản thành lập công ty. Thông thường một công ty trong tương lai tăng chứng khoán có thẩm quyền phát hành tuỳ theo các cổ đông phiếu quyết định. Công ty không cần phải phát hành tất cả các cổ phần có thẩm quyền phát hành và có thể ngay từ lúc đầu giữ lại tối thiểu số cổ phần đã phát hành để hạ bớt thuế và chi phí . Nó còn được gọi là chứng khoán có thầm quyền được phát hành. AUTOMATED CLEARING HOUSE (ACH): Nhà giao hoán thanh lý được tự động hoá. Phương tiện giao hoán thanh lý (clearing) dựa trên hệ thống vi tính đối với trao đổi bên Nợ và bên Có theo hệ thống điện tử giữa các tổ chức tài chánh . Dữ liệu nhập của ACH có thể được thay thế cho chi phiếu trong việc chi trả qua lại như thế chấp, hoặc trong đóng góp ký thác trực... AVAILABLE CREDIT: Tín dụng có sẵn. Tín dụng sẵn sàng được dùng để mua mới một cái gì, đôi khi còn được gọi là mua để ngỏ. Trong lãnh vực thẻ ngân hàng, có sự khác biệt giữa số cân đối chưa trả bình quân (average outstanding balance - số cân đối hiện hành bình quân) và mức giới hạn tín dụng đã được công nhận trước của người có thẻ. ngoài ra, đây là phần chưa được sử dụng của mức tín dụng ngân hàng (line or credit). AVAILABLE FUNDS: Quỹ có sẵn. 1. Loại quỹ ngân hàng có thể dùng để đáp ứng yêu cầu về số trên vay hay được giữ trong danh mục đầu tư, tuỳ thuộc vào sự cạnh tranh thị trường, nhu cầu tín dụng lãi suất thị trường và các yếu tố khác. Tổng số quỹ tương đương với số tiền mặt có trong tay (vault cash) và chi phiếu được các ngân hàng khác chi trả (tiền mặt và tiền phải trả từ các ngân hàng trên bảng cân đối tài khoản) cộng với tổng số tiền vay và đầu tư. 2. Số cân đối đã có trong tài khoản người ký thác, đây là số có thể sẵn sàng dễ đầu tư, đem chi trả cho người tín dụng hay chuyển vào tài khoản khác. AVAILABLE RESERVE: Dự trữ có sẵn. Chênh lệch thuần giữa số cân đối dự trữ thặng dư được lưu trữ tại tài khoản dự trữ tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang hay tại văn phòng chi nhánh và quỹ đã mượn tại phòng cho vay có chiết khấu (Discount Window) AVAL: Đảm bảo chi trả của bên thứ ba. Từ ngữ Châu Âu có nghĩa là bảo đảm chi trả của bên thứ ba cho hoá đơn hàng hoá hay giấy hứa trả nợ, người bảo đảm phải ký tên bối thự. AVERAGE: Chỉ số trung bình. Trung bình cộng số học tương ứng và có điều chỉnh của các chứng khoán đã được lựa chọn để tính chỉ số này. Nó cho ta biết biến chuyển tổng quát của thị trường hay các lãnh vực quan trọng của thị trường. Trong số các chỉ số thông dụng nhất có chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, chỉ số trung bình vận tải của Dow Jones. Bởi vì việc đánh giá chứng khoán cá nhân liên quan đến việc đo lường chiều hướng giá cả của chứng khoán nói chung hay của một nhóm công nghiệp nên các chỉ số trung bình nhiều loại khác nhau là công cụ phân tích rất quan trọng. AVERAGE ANNUAL YIELD: Lợi nhuận trung bình hàng năm. Lợi nhuận trung bình mỗi năm trong suốt thời hạn của chứng chỉ ký thác (Certificate or Deposit - CD) nhiều năm, với giả định rằng trên lãi kết hợp vẫn giữ trong ký thác. Hoa lợi trung bình năm của CD sẽ cao hơn hoa lời hằng năm thực tế bởi vì nó bao gồm tiền lãi có được trong khoảng thời gian dài hơn . AVERAGE BALANCE: Cân đối bình quân. AVERAGE COLLECTED BALANCE : Số cân đối thu trung bình. Số dollar trung bình trong số ký thác ở tài khoản chi phiếu trong suốt thời gian kế toán, tương đương với các số cân đối

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

8

hàng ngày trong sổ cái trừ cho chi phiếu chưa thu chia cho số ngày. AVERAGE DAILY BALANCE: Số cân đối trung bình hằng ngày. 1. Số trung bình trong tài khoản ký thác, tương đương với tổng số cân đối ký thác hằng ngày trong suốt thời gian kế toán, thường là một tháng, chia cho số ngày. 2. Phương pháp tính phí tài chánh thẻ tín dụng, tính bằng cách lấy số cân đối bắt đầu mỗi ngày cộng cho phí mới trong ngày đó, trừ cho chi trả dùng để mua, lấy tổng số kết quả chia cho số ngày trong thời gian làm hoá đơn và nhân cho phí tài chánh. AVERAGE DAILY FLOAT: Số bình quân thả nổi hằng ngày. Trị giá dollar bình quân của chi phiếu hay hối phiếu đang được thu nhưng chưa ghi vào bên có của tài khoản như quỹ đã thu hay quỹ đã có sẵn. Ngoài ra nó còn ám chỉ các hạng mục đang thu (items in collection). AVERAGE DOWN: Trung bình theo chiều xuống. Chiến thuật nhằm hạ thấp giá trung bình phải trả cho cổ phần công ty. Thí dụ một nhà đầu tư muốn mua 1.000 cổ phần có thể mua 400 cổ phần theo giá thị trường hiện hành và mua chia làm 3 lần, mỗi lần 200 cổ phần khi giá rớt. Như thế giá phí trung bình sẽ thấp hơn nếu mua một lần tất cả 1.000 cổ phần. Nhà đầu tư cũng kéo giá trung bình xuống để bớt thiện thòi về thuế. Hãy nói thí dụ như sau : một người nào đó mua cổ phần với giá $20/cổ phần, sau đó giá rớt xuống còn $10. Thay vì không làm gì cả, nhà đầu tư có thể mua với giá $10 sau đó bán lỗ cổ phần đã mua với giá $20, như thế có thể dùng để bù trừ cho số tiền khác đã kiếm được trong thời gian tính thuế. Tuy nhiên theo quy luật Mua Bán Phủi Tay (wash sale) nói rằng để được quyền khai là đã thua lỗ, nhà đầu tư không được bán chứng khoán đã mua với giá $20 ít nhất là 30 ngày sau khi mua chứng khoán với giá $10. AVERAGE EQUITY: Vốn trung bình. Số cân đối trung bình hằng ngày trong tài khoản mua bán. Công ty môi giới chứng khoán tính vốn hàng ngày của khách hàng như là một phần phương cách để theo dõi lời và lãi trong giao dịch mua bán chưa hoàn tất, nó được gọi là điều chỉnh theo thị trường (mark to market).Khi các giao dịch mua bán kết thúc, số lợi nhuận và thua lỗ được ghi lại vào tài khoản của mỗi khách hàng cùng với hoa hồng của công ty môi giới . Dù cho vốn biến động hằng ngày là chuyện bình thường, nhưng vốn trung bình là chỉ dẫn hữu ích để thực hiện các quyết định mua bán và đảm bảo có đủ vốn để đáp ứng các quy định về tài khoản Margin (tài khoản vay tiền để mua chứng khoán). AVERAGE LIFE: thời gian hữu dụng trung bình. Số năm tính đến thời điểm khi 1/2 dollar trị giá vốn của chứng khoán sẽ được chi trả .Thời gian hữu dụng trung bình là một phương pháp tốc ký tính thời điểm thu hồi trái phiếu, nó xác định hoa lợi khi đáo hạn của trái phiếu. Cách tình này chỉ có tính phỏng chừng bởi vì nó căn cứ trên số chi trả trước của người vay và các yếu tố khác .Thí dụ, thế chấp thông thường 30 năm sẽ chi trả trước nhanh hơn nhiều so với các thể chế khác. Phân nửa thời gian hữu dụng của trái phiếu công ty và đô thị thường được xác định bằng số chi trả trước nhanh hơn nhiều so với các thế chấp khác phân nửa thời gian hữu dụng của trái phiếu công ty và đô thị thường được xác định bằng số chi trả trước vào quỹ dự phòng chi trả (Sinking Fund). Ngoài ra nó còn được gọi là thời gian hữu dụng tính theo trung bình (Weighted AverageLife) trong lãnh vực chứng khoán được thế chấp bảo đảm hay đáo hạn trung bình (Average Matusity) trong lãnh vực trái phiếu công ty và trái phiếu đô thị. AVERAGE OUTSTANDING BALANCE: Số cân đối trung bình chưa chi trả (số cân đối trung bình đang hiện hành) Số cân đối trung bình chưa chi trả trong danh mục đầu tư thẻ tín dụng, bao gồm số cân đối chi trả tiền lãi được hoãn lại không tính trong các thời kỳ làm hoá đơn trước đây. Số cân đối trung bình chưa chi trả là một phương pháp đo lường khả năng lợi nhuận và cách dùng tài khoản, nó tương đương với tổng số tài khoản chia cho số tài khoản có số cân đối này AVERAGE TICKET: Thẻ trung bình. Giao dịch mua bán thương nghiệp trung bình trong chương trình thẻ ngân hàng. Nó còn được gọi là hối phiếu trung bình. Nó được tính bằng cách chia tổng số phí dollar được tính trong một khoảng thời gian cho số bán hối phiếu. Nó biểu hiện hoạt động của tài khoản và gián tiếp đo lường lệ phí trao đổi thẻ ngân hàng do các ngân hàng khác chi trả. AVERAGE UP: Trung bình theo chiều lên. Mua chứng khoán lên thị trường đang tăng giá để hạ thấp tổng số giá phí, thí dụ, mua từng đợt cùng một số lượng cổ phần theo từng giá $50, $52, $54, $58 như vậy giá phí trung bình sẽ là $53,50, đây là một thực tế toán học nhưng nó không xác định được chứng khoán có đáng mua theo giá đó hay không. AVERSIO: Trọn gói.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

9

1. Trong thương mại, đây là việc bán một đơn vị có khối lượng lớn thay vì bán từng phần. 2. Trong bảo hiểm, aversio periculi có nghĩa bảo hiểm toàn bộ thua lỗ, mất mát. AWARD: Quyết định - Chấp nhận 1. Quyết định của hội đồng trọng tài sau khi nghe các lời tranh cãi của các bên trong một vụ tranh chấp theo tính cách hoặc ủng hộ bên này hay ủng hộ bên kia. 2. Chấp nhận giá đặt mua có cạnh tranh trong mua bán tại thị trường đấu giá đối với công khố phiếu Hoa Kỳ hay trái phiếu đô thị. AWAY FROM THE MARKET: Chưa đúng giá thị trường Cách diễn tả được sử dụng khi giá đặt mua của lệnh có giới hạn (limit order) thấp hơn hay giá đặt bán cao hơn giá thị trường hiện hành của chứng khoán. Lệnh có giới hạn chưa đúng giá thị trường sẽ được chuyên viên giữ lai để sau này thực hiện tiếp trừ khi có lệnh mua hoặc huỷ bỏ (Fill Or Kill - FOK) Chủ đề B

BABY BOND: Trái phiếu có mệnh giá nhỏ Trái phiếu nợ khả hoán hay trực tiếp có mệnh giá dưới $1.000 dollar, thường từ $25 đến $500. Trái phiếu có mệnh giá nhỏ làm cho thị trường trái phiếu vừa tầm với nhà đầu tư nhỏ (ít tiền), vì lẽ đó mở ra một nguồn quỹ thích hợp với các công ty không đủ điều kiện tham gia vào các thị trường tài chánh lớn . Nhưng ngược lại, trái phiếu đòi hỏi phí quản lý cao hơn (tương ứng với tổng số tiền được tăng) đối với việc phân phối và tiến trình thực hiện và không có thị trường lớn và năng động để bảo đảm khả năng chuyển đổi ra tiền mặt (khả năng thanh toán) như các trái phiếu thông thường. BACK CONTRACTS: Hợp đồng còn lâu mới đáo hẹn Hợp đồng futures còn lâu mới đáo hạn. Nó được gọi là Back months hay Distant contracts (hợp đồng còn nhiều tháng nữa mới đáo hạn). Ngược lại với front contracts (hợp đồng gần đến ngày đáo hạn). BACKDATING: Ghi lùi ngày tháng Tổng quát: Sắp đặt ngày tháng (thời điểm) văn kiện giấy tờ chi phiếu hay các công cụ khác sớm hơn ngày đã ấn định. Quỹ hỗ tương đầu tư : đặc tính cho phép người trong quỹ được sử dụng sớm hơn một số tiền ấn định trong một khoảng thời gian ấn định. Với phí bán được giảm. Định lùi lại ngày tháng, thường đi kèm với một vụ giao dịch mua bán lớn, là làm cho một trị giá có hiệu lực từ trước để mua trước thời điểm nhằm đáp ứng các quy định của số trên đã hứa chi trước hay các quy định của thư xác định (mua hay vay). BALANCE SHEET: Bản cân đối tài khoản Báo cáo tài chánh còn gọi là báo cáo tình hình hay báo cáo vị thế tài chánh, cho biết tình trạng tài sản của công ty, nợ và vốn cổ đông vào một thời điểm ấn định, thường là lúc cuối tháng. Đây là một cách để xem xét một công ty kinh doanh dưới dạng một khối vốn (tài sản) được bố trí dựa trên nguồn của vốn đó (nợ và vốn cổ đông). Vốn tương đương với nợ và vốn cổ đông nên bản cân đối tài khoản là bản liệt kê các hạng mục sao cho hai bên đều bằng nhau. Không giống với bản báo cáo lời lỗ là bản cho biết kết quả của các hoạt động trong một khoảng thời gian, bản cân đối tài khoản cho biết tình trạng các sự kiện kinh doanh tại một thời điểm. Nó là một ảnh chụp (tĩnh) chứ không phải là một cuốn phim (động) và phải được phân tích dựa trên sự so sánh các bản cân đối tài khoản trước đây và các báo cáo hoạt động khác. BALANCE SHEET RATIOS: Các tỷ lệ cân đối tài khoản 1. Tỷ lệ dùng để xác định tình trạng tài chánh và các thay đổi vị thế tài chánh của công ty dựa trên các dữ kiện báo cáo trong bản cân đối tài khoản. Một số tỷ lệ đặc biệt được áp dụng trong ngân hàng. Quan trọng nhất là tỷ lệ vốn (đo lường tỷ lệ vốn cổ đông đối với tổng tài sản) và tỷ lệ thanh toán (đo lường khả năng ngân hàng để trang trải số tiền ký thác được rút ra và chi trả quỹ nhằm thoả mãn nhu cầu tín dụng của người vay). Các tỷ lệ hữu ích khác là tỷ lệ tiền vay đối với số ký thác (tổng số tiền vay chia cho tổng số ký thác) tỷ lệ thanh lý (charge-off ratio), tỷ lệ xoá nợ vì khó đòi (số xoá sổ thuần được tính theo số phần trăm của tổng số tiền cho vay). Tỷ lệ dự trữ tiền vay mất đứt (số dự trữ tiền vay mất đứt đối với trên vay có khả năng mất đứt tính theo số phần trăm tổng số trên cho vay) và tỷ lệ tiền cho vay chưa trả (Nonperforming loans - tiền vay quá hạn chưa trả) đối với tổng số tiền cho vay. 2. Tỷ lệ kế toán do nhân viên tín dụng ngân hàng dùng để đánh giá sức tín dụng của người vay. Các tỷ lệ thường được sử dụng rộng rãi nhất là : tỷ lệ đo lường sức chứng khoán (Acid test ratio) hay tỷ lệ thử biết ngay (quick ratio) (tài sản ngắn hạn chia cho nợ hiện hành), tỷ lệ hiện hành (current ratio) (tài sản hiện hành chia cho nợ hiện hành) và tỷ lệ trang trải nợ

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

10

(vốn lưu động chia cho nợ dài hạn). Tỷ lệ tài chánh có thể được đo lường dựa trên các tỷ lệ trong các năm trước hay các chỉ số công nghiệp để tính cho nhanh và dễ so sánh. các tỷ lệ quan trọng như tỷ lệ. BID BOND: Cam kết của bên đấu thầu Cam kết thực hiện của bên đấu thầu về một hợp đồng dự án quốc tế. Sự cam kết được yết thị như là bằng chứng về khả năng của người đấu thầu có thể thực hiện các điều khoản trong hợp đồng. Tín dụng thư hỗ trợ là một phương pháp thông thường để thông báo cam kết của bên đấu thầu. BID - TO - COVER RATIO: Tỷ lệ giá đặt mua trúng thầu vô giá đặt mua khác Số giá đặt mua đạt được trong cuộc đấu giá công trái khi so sánh với số giá đặt mua được chấp nhận. Tỷ lệ cao (trên 2,0) cho biết là việc đặt giá mua rất năng nổ và cuộc đấu giá coi như thành công : Tỷ lệ thấp cho biết nhà nước có khó khăn trong việc bán trái phiếu, và thông thường kéo theo cái đuôi "Tail" dài, có nghĩa là có chênh lệch lớn giữa hoa lợi trung bình và hoa lợi cao (giá đặt mua trung bình và giá đặt mua thấp nhất được chấp nhận) BlD WANTED (BW): Bố cáo đấu giá Thông báo của người có chứng khoán, trái phiếu muốn bán và sẵn sàng xem xét các giá đặt mua. Bởi vì giá cuối cùng tuỳ thuộc vào thương lượng nên giá đặt mua theo bố cáo đấu giá không cần phải ấn định trước. Bố cáo đấu giá thường có trên các tờ yết giá được phát ở các thị trường. BIDDING UP: Giá đặt mua tăng Giá đặt mua chứng khoán liên tiếp được nâng lên vì ngại rằng giá đang tăng vọt sẽ làm cho các lệnh mua bán không thể thực hiện được. Nhà đầu tư muốn mua một số lượng lớn cổ phần trong thị trường đang tăng giá lúc đó người nay đang dùng lệnh có giới hạn (lệnh mua theo giá ấn định hoặc thấp hơn) để đảm bảo được giá có lợi nhất, tuy nhiên vì lệnh đặt bán đang tăng trên thị trường, nên nhà đâu tư phải tăng mức giới hạn trong lệnh mua lên để tiếp tục tích luỹ cổ phần. Đến một mức độ nào đó người mua tạo ra giá mua tăng gây áp lực trên chứng khoán, nhưng lúc đó hầu hết giá đã tăng ngoài vòng kiểm soát của ông ta. BIG BANG: Bùng nổ cải tổ Sự điều chỉnh của các thị trường chứng khoán ở London vào ngày 27-10-1986, biến cố nay có thể so sánh với biến cố May Day ở Hoa Kỳ. Nó đánh dấu giai đoạn quan trọng tiến đến một thị trường tài chánh thế giới duy nhất. BIG BLUE : Công ty IBM Tên thông dụng của Interational Business Machines Corporation (công ty IBM), do bảng hiệu của công ty sơn màu xanh. BlG BOARD: Thị trường chứng khoán New York Tên thông dụng của New York Stock Exchange (NYSE). BATCH: Một mẻ - Đợt Nhóm chi phiếu, hối phiếu hay các công cụ chi trả được tập hợp thành một đơn vị để Văn Phòng Điều Hành xử lý sau đó trong suốt ngày làm việc. Nó còn được gọi là "khối" (Block). Hãy đối chiếu với On-line Processing. BATCH HEADER RECORD: Số sách tập hợp các danh mục chính 1. Sổ sách có 94 danh mục địa chỉ ngân hàng để gởi sổ chi trả ACH (Automated Clearing House). Mã này có thể không cùng với mã số chuyển ABA nếu số chi trả được tiến hành thông thường thông qua một ngân hàng tương tác. 2. Mã số nhận dạng một nhóm tài khoản được xử lý như một đơn vị. BD FORM : Tờ khai BD Hồ sơ của công ty môi giới chứng khoán phải cập nhập hoá và nộp cho SEC, trong đó ghi chi tiết về tài chính và cán bộ công nhân viên. BEAR: Người đầu cơ giá xuống BEAR BOND: Trái phiếu trong thị trường chiều xuống Trái phiếu được xem như là có thể tăng trị giá trong thị trường có chiều xuống, có nghĩa là lúc lãi suất thị trường tăng. Trái phiếu điển hình chi trả cho nhà đầu tư một loạt tiền mặt cố định theo trị giá dollar và theo thời điểm chi trả, nó sẽ giảm giá khi lãi suất thị trường tăng. Thí dụ, một vài loại trái phiếu nào đó như chứng khoán thế chấp có lãi suất tách riêng (interest-only strip) chỉ lấy theo lãi suất hay chứng khoán được thế chấp bảo đảm - chi trả tiền lãi theo khả năng tăng trị giá trong thị trường chiều xuống bởi vì số chi trả lại của số thế chấp cơ sở đã bị chậm lại, việc trả lại chậm này làm tăng tổng số tiền mặt mà nhà đầu tư mong nhận được trong thời gian hiệu lực của đầu tư. BEAR HUG: Bí quá phải làm (bị con gấu ôm) Giá đặt mua cao (Takeover - giá đặt mua nhằm mua lại một công ty - giá đặt mua để tiếp quản công ty) vì thế có giá và các đặc tính hấp dẫn ban giám đốc công ty bị mua (target company), ban giám đốc có thể phản đối vì các l› do khác nhưng phải chấp nhận nếu không muốn bị các cổ đông phản đối BEAR MARKET: Thị trường rớt giá lâu dài -Thị trường theo chiều hướng xuống Giá rớt trong

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

11

một thời khoảng kéo dài. Thị trường chứng khoán theo chiều xuống dẫn đến việc người ta dự báo hoạt động kinh tế sẽ giảm và thị trường trái phiếu theo chiều xuống là hậu quả của lãi suất thị trường gia tăng. BEAR RAID: Đột kích của người đầu cơ giá hạ Nhà đầu tư nỗ lực đầu cơ giá chứng khoán bằng cách bán khống một số lượng lớn cổ phần. Những người đầu cơ khống bỏ túi số chênh lệch giữa giá ban đầu vô giá mới thấp hơn giá ban đầu sau khi thực hiện đầu cơ giá. Việc này trái với luật lệ của SEC, theo luật SEC chỉ được bán khống theo giá tăng một gạch (uptick) (giá sau cùng cao hơn giá trước đó) hay theo giá cộng gạch o (zero plus tick) (giá sau cùng không thay đổi nhưng cao hơn giá sau cùng trước giá khác). BEAR SPREAD: Mua bán theo chênh lệch trong thị trường giá hạ - Chênh lệch do đầu cơ giá hạ Sách lược trong thị trường option nhằm kiếm lời khi giá chứng khoán hay . hàng hoá bị rớt giá. Người theo sách lược này có thể mua phối hợp hợp đồng Call Options và Put Options cùng một loại chứng khoán theo giá điểm (giá thực thi) khác nhau - để kiếm lợi khi giá rớt. Hoặc là nhà đầu tư có thể mua hợp đồng put options ngắn hạn và hợp đồng put options dài hạn để kiếm lời từ số chênh lệch giữ hai hợp đồng khi giá hạ. BEAR SQUEEZE: Nhà đầu cơ giá hạ bị nghiền nát Sự can thiệp chính thức của ngân hàng trung ương và thị trường ngoại hối để buộc nhà đầu cơ tiền tệ bán không tiền tệ (bán tiền tệ vay mượn) phải bảo kê vị thế của họ, nhằm ngăn chặn nhà đầu cơ tìm cách kiếm lời thật nhanh. Thông thường việc này được thực hiện bằng cách cấm mua tiền tệ địa phương nhiều hơn số có sẵn trong thị trường ngoại hối và thường làm. cho nhà đầu cơ tiền tệ thua lỗ nặng. BEARER BOND: Trái phiếu thuộc người giữ Trái phiếu chi trả cho người giữ (mang) hơn là trả cho người sở hữu có đăng ký trong sổ của ngân hàng phát hành hay đơn vị đại lý phát hành. Trái phiếu này là công cụ chi trả không căn cứ vào bản ghi quyền sở hữu. Người được chi trả là người có trái phiếu và giữ nó một cách trung thực (hợp pháp) . Tiền lãi trái phiếu được trả nửa năm một lần khi phiếu lãi (coupon) được cắt ra và trình cho ngân hàng để lãnh tiền lãi, giống như chi phiếu. ngược lại với trái phiếu đăng ký (Registered Bond): BEARER DEPOSITARY RECEIPT (BDR): Biên nhận tồn trữ ký thác thuộc người mang Biên nhận số tồn kho được thịết lập cho người mang. BDR được phát hành cho số cổ phần trong các công ty nước ngoài. BEARER DEPOSIT NOTE (BDR): Chứng chỉ ký thác thuộc người mang Chứng chỉ thuộc người mang được phát hành cho số ký thác ngân hàng. Trong khi chứng chỉ ký thác (CD Certificate of deposits) là loại ký thác có lãi thì BDR là loại công cụ có chiết khấu (khấu trừ). BEARER FORM: Thể thức trái phiếu thuộc người mang Loại trái phiếu không đăng ký trong sổ sách của công ty phát hành và vì thế có thể chi trả cho người nào có trái phiếu. Trái phiếu thuộc người mang có phiếu lãi đinh kèm (coupon) trái chủ sẽ gởi hay trình phiếu lãi này vào ngày đáo hạn lãi để nhận lãi, vì thế có tên khác là Coupon Bond. Chứng chỉ chứng khoán thuộc người mang có thể chi trả mà không cần bối thự mà chỉ cần được chuyển giao. Cổ tức được chi trả bằng cách trình phiếu lãi, nó đã được định ngày chi trả và số chi trả. Hầu hết các chứng khoán phát hành ngày nay, ngoại trừ chứng khoán nước ngoài, đều dưới hình thức đăng ký, kể cả trái phiếu đô thị phát hành từ năm 1983. BED AND BREAKFAST: Bán trễ mua sớm Chứng khoán được bán vào cuối ngày trên thị trường chứng khoán sau đó được mua lại vào buổi sáng kế tiếp. Nhà mua bán có ý định tạo ra một vụ thua lỗ để bù trừ vào số tư bản kiếm được bị đánh thuế. Nếu giá mua lại ngay kế tiếp rớt giá mạnh so với giá bán thì nhà mua bán không bị lỗ do đó không được bù trừ vào thuế. BELLY UP: Phá sản Tiếng lóng nói về một người vay, công ty hay dự án phát triển bị phá sản và không có khả năng chi trả cho chủ nợ. Ngoài ra, một ngân hàng hay tổ chức tiết kiệm và cụ thể là tổ chức tài chánh bị cơ quan lập pháp tài chánh đóng cửa. BELLWETHER: Chứng khoán đầu đàn Chứng khoán được xem như là kim chỉ nam của chiếu hướng thị trường. Trong lãnh vực chứng khoán, chứng khoán IBM (International Business Machines) trong một thời gian dài được xem là kim chỉ nam (chứng khoán đầu đàn) bởi vì các nhà đầu tư thuộc tổ chức sở hữu rất nhiều chứng khoán này và những người này có nhiều khả năng kiểm soát cung và cầu trên thị trường chứng khoán. Các hoạt động mua bán của các tổ chức tài chánh có khuynh hướng ảnh hưởng đến các nhà đầu tư nhỏ và do đó ảnh hưởng đến thị trường nói chung. Trong lãnh vực trái phiếu, trái phiếu kho bạc dài hạn 20 năm được xem là trái phiếu đầu đàn (kim chỉ nam), nó biểu thị chiều hướng mà tất cả các trái phiếu khác có khả năng biến chuyển theo.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

12

BELOW MARKET RATE: Lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường Lãi suất thấp hơn lãi suất thông lệ trong một thị trường đã biết, nó có thể lập ra để giúp đỡ cho người mua có lợi tức thấp hay bình thường, như lãi suất trong thế chấp được trái phiếu Doanh Thu Có Thế Chấp (Mortgage Revenue Bonds) tài trợ, đó là lãi suất ban đầu thấp trong thế chấp có lãi suất điều chỉnh còn gọi là Teaser Rate. BELOW PAR: Dưới mệnh giá BENCHMARK: Định chuẩn, căn bản cho lãi suất, giá cá trên thị trường Mức chuẩn xác cho giá cả, lãi suất của chứng khoán trên thị trường khi so sánh với mức lên xuống của lãi suất đối với trái phiếu nhà nước. Other benchmark Treasury issues increased more sharply. (lãi suất căn bản khác của trái phiếu kho bạc nhà nước tăng mạnh hơn nữa). tuần một lần sẽ thanh toán thế chấp 30 năm dứt điểm trong vòng khoảng 17 năm, làm giảm đáng kể số lệ phí tài chánh cho người vay. Xem : Alternative Mortgage Instruments. BLACK FRIDAY: Ngày thứ sáu đen tối Thị trường tài chánh rớt giá trầm trọng. Ngày thứ sáu đen tối đầu tiên xảy ra vào ngày 2l-9-1869 khi một nhóm nhà tài chánh cố gắng cô lập (ép giá -corner) thị trường vàng do đó đẩy mạnh sự hỗn loạn kinh doanh tiếp theo sau khủng hoảng (depression - suy thoái kinh tế). Khủng hoảng năm 1873 cũng bắt đầu vào ngày thứ sáu và từ đó từ ngữ ngày thứ sáu đen tối dùng để chỉ sự thất bại nào làm ảnh hưởng đến các thị trường tài chánh. BLACK KNIGHT: Hiệp sĩ đen, người tiếm quyền Một nhà đầu tư sắp tới sẽ tham gia vào một vụ tiếp thụ (takeover) (Tiếm quyền có hữu ý xấu hay đặt giá mua không ai mong để cố mua các cổ phần có quyền kiểm soát trong công ty). BLACK MARKET: Chợ đen Thị trường hàng lậu và dịch vụ bất hợp pháp. Chợ đen nổi lên khi thị trường tiêu thụ phát triển (consumer market - thị trường tiêu thụ nhiều hơn sản xuất) hàng cấm hay hàng hiếm. Thị trường chợ đen tăng trưởng mạnh trong nền kinh tế hoạch định và trong những giai đoạn khẩn cấp của quốc gia. BLACK MONDAY: Ngày thứ hai đen tối Ngày 19-10-1987 khi chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones rớt xuống đến mức kỷ lục là 508 điểm mà tuần trước đó cũng đã rớt mạnh rồi, nguyên do là vì nhà đầu tư lo lắng mức giá chứng khoán bị thổi phồng (quá cao), ngân sách liên bang và cán cân thương mại bị thâm hụt, và ảnh hưởng của hoạt động thị trường nước ngoài. Nhiều người đã đổ tội cho chương trình mua bán bằng hệ thống vi tính đã đưa đến sự lên xuống bất bình thường (bất ổn định) cực điểm này. BLACK-SCHOLES OPTIONS PRICING MODEL: Công thức toán học được dùng rộng rãi để định giá các hợp đồng option. Mô hình do Fisher Black và Myron Scholes triển khai để phán đoán hợp đồng options có được định giá công bằng hợp lý không. Mô hình liên kết các yếu tố như : bất ổn định (tăng giảm bất thường) của lợi nhuận công ty, mức lãi suất thị trường, mối tương quan của giá chứng khoán cơ sở với giá điểm (strike price - giá thực thi) của hợp đồng option đáo hạn. Các định giá hiện nay sử dụng mô hình này được Options Monitor Service. BLUE LIST: Bản danh sách xanh (Trái phiếu đô thị). ấn bản tài chánh hàng ngày liệt kê các trái phiếu được đem ra bán bởi khoảng 700 nhà mua bán và các ngân hàng, có mệnh giá hơn 3 tỷ dollar. Bản danh sách xanh phần lớn có nội dung về các dữ kiện thuộc trái phiếu đô thị Với những tin tức về giá hoa lợi và các dữ kiện đúng, bản danh sách xanh là nguồn tin tức đầy đủ để hiểu các hoạt động và khối lượng trong thị trường cấp hai của loại trái phiếu được miễn thuế. Một vài loại trái phiếu công ty do cùng những người buôn bán này đưa ra mua bán cũng được liệt kê trên bản danh sách xanh. Tên đầy đủ của nó là Blue list of Current Municipal Offerings. BLUE SKY LAWS: Luật bảo vệ nhà đầu tư Tên thông dụng của luật lệ chứng khoán được thiết lập nhằm bảo vệ nhà đầu tư không mua nhầm chứng khoán vô giá trị. Luật lệ này thay đổi theo từng tiểu bang nhưng có chung những điều ngăn cấm tương tự về lừa đảo và quy định đăng ký hầu hết các cổ phần được đem ra bán ngoại trừ trái phiếu đô thị. Nhiều tiểu bang theo khuôn mẫu luật liên bang. BOARD: Hội đồng 1. Bộ phận lãnh đạo chính thức của một tổ chức ; Hội Đồng Quản trị (Board of Directors) của ngân hàng hay công ty, Hội Đồng Thụ uỷ (Board of Trustees) của ngân hàng tiết kiệm hỗ tương hay Hiệp Hội Tiết Kiệm và Cho Vay. 2. Chữ tắt của Hội Đồng Thống Đốc (Board or Governors) của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang. 3.Tên thông dụng của thị trường chứng khoán, đặc biệt dùng cho NYSE (New York Stock Exchange) hay còn gọi là Big Board.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

13

BOARD BROKER: Người môi giới ở thị trường Chicago Nhân viên của Chicago Board Options Exchange (thị trường mua bán hợp đồng options ở Chicago) người này điều hành các lệnh mua bán chưa phù hợp với thị trường, nên các lệnh này chưa thể thực hiện ngay, lúc đó họ sẽ thông báo cho các thành viên thị trường để những người này thi hành các lệnh đó. BOARD OF ARBITRATION: Hội đồng trọng tài Nhóm 3 người hay vài người được chỉ định để phán quyết các vụ kiện giữa các công ty chứng khoán và các khách hàng đòi quyền bồi thường do khách hàng đệ trình. Phân xử hai bên (trọng tài phân xử - arbitration) là phương thức được thừa nhận bởi NASD (National Association of Securities Dealers), Municipal Securities Rule Making Board (Hội Đồng Làm Luật về Trái Phiếu Đô Thị) và các thị trường để giải quyết các vụ tranh chấp, nó được áp dụng cho cả công ty thành viên lẫn công ty không là thành viên. BULGE: Tăng nhất thời Giá cả tăng nhanh và tạm thời - áp dụng cho tất cả hàng hoá hay thị trường chứng khoán, hoặc một loại hàng hoá hay chứng khoán cá nhân nào đó . BULK FILING: Xử lý nhanh hồ sơ chi phiếu Hoạt động xử lý chi phiếu liên quan đến phân loại thật nhanh chi phiếu và số tồn của các chi phiếu được huỷ theo chu trình soạn sẵn bản kê khai (statement preparation cycle) hơn là theo số tài khoản. Xử lý hàng loạt sẽ tiết kiệm thời gian và sức lao động bởi vì chi phiếu được xếp thành nhóm chỉ một lần theo số tài khoản của khách hàng khi in và phát cho khách hàng các báo cáo tài khoản chi phiếu. BULL: Người đầu tư giá tăng Người nghĩ rằng giá sẽ tăng. Người ta có thể lạc quan về triển vọng của một loại chứng khoán cá nhân, trái phiếu hay hàng hoá, một mảng của một ngành công nghiệp hay toàn thể thị trường. Trong ý nghĩa tổng quát hơn, bunish có nghĩa là lạc quan, vì thế người ta có thể lạc quan về tổng thể kinh tế. BULL BOND: Trái phiếu có chiều lên Trái phiếu được gọi là khả năng tăng trị giá trong thị trường có chiều lên (bull market) có nghĩa là khi lãi suất thị trường đang giảm. Trong thực tế hầu hết các trái phiếu sẽ tăng trị giá trong một thị trường có lãi suất giảm, các trái phiếu đặc biệt diễn biến tốt trong thị trường chiều lên là loại trái phiếu riêng về phần vốn có thế chấp bảo đảm (principal only strip mortgage - backed securities) (PO). PO bao gồm toàn thể số chi trả vốn thế chấp hoạt động tốt trong thị trường lãi suất giảm bởi vì người thế chấp tái tài trợ tiền vay của họ theo lãi suất thị trường thấp hơn. Nhà đầu tư được chi trả lại số đầu tư ban đầu nhanh hơn, làm tăng hoa lợi lượng tiền mặt của trái phiếu. BULL NOTE: Trái phiếu theo chiều lên - trái phiếu có bảo hộ giá Tại Anh, trái phiếu có kèm hợp đồng option bảo hộ giá. Trị giá trái phiếu dựa trên chỉ số tài chánh hay giá hàng hoá vào thời điểm thu hồi. Trị giá thu hồi của loại trái phiếu này cao hơn vốn nếu giá cơ bản (reference price - giá tham khảo) tăng nhưng thấp hơn vốn nếu giá cơ bản giảm. BULL MARKET: Thị trường theo chiều lên Giá lên của chứng khoán, trái phiếu hay hàng hoá kéo dài nhiều ngày.Thị trường theo chiều lên thường kéo dài ít nhất một vài tháng và có đặc tính là số lượng mua bán cao. BULL SPREAD: Mua và bán theo chiếu lên Sách lược về hợp đồng option được thực hiện bằng hợp đồng put option và call option - cách này sẽ đem lại lợi nhuận nếu như chứng khoán cơ sở tăng giá. Có 3 loại mua và bán song hành theo chiều lên như sau : - Mua và bán song hành theo chiều đứng: cùng lúc mua và bán hợp đồng options cùng loại với giá điểm (strike price - giá chọn lựa) khác nhau nhưng cùng ngày đáo hạn. - Mua và bán song hành theo lịch: cùng lúc mua và bán hợp đồng option cùng loại, cùng giá nhưng khác ngày đáo hạn. - Mua và bán đong hành theo đường chéo: phối hợp mua và bán song hành theo chiều đứng và theo lịch, theo đó nhà đầu tư mua và bán hợp đồng options cùng loại, nhưng khác giá điểm và khác ngày đáo hạn. Thí dụ, nhà đầu tư tin tưởng rằng chứng khoán XYZ sẽ tăng, có thể là tương đối, nhà đầu tư mua một hợp đồng call option XYZ, giá điểm 30 với phí mua option 11 /2 và bán một hợp đồng call option XYZ giá điểm 35 với phí option 1/2 cả hai hợp đồng đều chưa có lời (out of the money) giá phí thuần của chênh lệch hay chênh lệch giữa hai phí mua options là $1. Nếu chứng khoán tăng lên 35 trước khi đáo hạn, hợp đồng call option giá điểm 35 không còn giá trị và hợp đồng call option 30 có giá trị $5. Vì thế chênh lệch này cho lợi nhuận $4 trên số đầu tư $1. Mặt khác nếu giá chứng khoán giảm, cả hai hợp đồng đáo hạn và không còn giá trị, nhà đầu tư mất toàn bộ phí option. BLULLDOG BOND: Trái phiếu Bulldog Tại Anh, trái phiếu do con nợ nước ngoài phát hành (người nước ngoài vay tiền phát hành). Trái phiếu Bulldog được tính theo đơn vị đồng Pound Anh, tỷ lệ lợi nhuận cố định và thường chi trả lãi từng 1/2 năm.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

14

BLLET: Chi trả một lần một - ấn định một lần một 1. Trong tài chánh, chi trả lại số cân đối tiền vay trong một kỳ (trong một lần). 2. Trong thị trường chứng khoán, trái phiếu hay giấy nợ được cung cấp theo một lãi suất đã ấn định trước với thời điểm đáo hạn cố định. Chủ đề C

CALENDAR: Lịch (thời biểu) bán chứng khoán Danh sách các chứng khoán sẽ được đưa ra bán. Trái phiếu đô thị trái phiếu công ty, công phiếu, các chứng khoán mới đều có lịch riêng cho mỗi loại. CALENDAR SPREAD: Mua và bán song hành theo lịch Sách lược mua bán hợp đồng options bằng cách mua 2 hợp đồng option có cùng loại chứng khoán nhưng khác ngày đáo hạn. Nếu giá điểm (exercise price= strike price = giá thi hành) giống nhau thì gọi là chênh lệch theo chiều ngang (horizontal spread). Nếu giá thi hành khác nhau thì gọi là chênh lệch theo đường chéo (diagonal spread). Nhà đầu tư lời hay lỗ là do chênh lệch giá hẹp hay rộng (ít hay nhiều). CALL: Lệnh gọi (Lệnh thu hồi) hợp đồng option theo chiều lên 1. Ngân hàng : người cho vay yêu cầu chi trả sớm số tiền vay bởi vì người vay đã không làm đúng các cam kết trong hợp đồng như duy trì số bảo hiểm tương xứng hay chi trả đúng định kỳ, hoặc trong tiền vay hoạt kỳ (Demand Loan) người cho vay thực hiện quyền của người cho vay là yêu cầu chi trả lại đủ số tiền vay vào bất kỳ thời điểm nào. 2. Lệnh gọi của tổng kiểm soát dược tổng kiểm soát viên tiền tệ gởi cho ngân hàng quốc gia để lập báo cáo theo lệnh gọi (call report) hay báo cáo tình hình (Report of Condition). 3. Lệnh của cơ quan lập pháp gởi cho một ngân hàng đang khó khăn yêu cầu ngân hàng huy động thêm vốn, đôi khi gọi là lệnh gọi vốn. 4. Quyền thu hồi trái phiếu đang lưu hành trước khi đáo hạn. Thời điểm đầu tiên khi nhà phát hành có thể ra lệnh gọi trái phiếu có ấn định trong tập quảng bá mỗi kỳ phát hành trái phiếu, trong giao kèo có ghi điều khoản về lệnh gọi. 5. Quyền mua một số lượng cổ phần đã ấn định theo một giá ấn định và theo thời điềm cố định. CALL BUYER: Người mua hợp đồng Call Option. Nhà đầu tư mua một hợp đồng chứng khoán trong một thời gian ấn định với giá ấn định của một loại cổ phần. Nếu giá cổ phần lên, người mua lời, ngược lại người mua lỗ. CALL DATE: Thời điểm có lệnh gọi CALL FEATURE: Đặc tính có lệnh gọi (lệnh thu hồi) Một phần trong thoả thuận giữa nhà phát hành trái phiếu với người mua được gọi là indenture (giao kèo) trong đó có ghi thời biểu và giá thu hồi trái phiếu trước thời hạn. Hầu hết trái phiếu công ty và (trái phiếu đô thị đều có đặc tính là sau 10 năm thì có để có lệnh gọi (trái chủ thường gọi là "call protection") trái phiếu nhà nước thì không có. CALL LOAN: Lãi suất của broker cho khách hàng vay, được đăng trên báo. CALL MONEY: Tiền sẵn sàng để sử dụng - Tiền để sẵn Ký thác hoạt kỳ, số ký thác đầu tiên đặt trong quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn (money - market funds). Nó còn được gọi là money at call, là tiền có thể chi trả lại theo yêu cầu. Tại Đức, Pháp, Nhật và Anh tiền có sẵn là tài sản dự trừ khi được ngân hàng trung ương đặt để cho cơ quan chiết khấu hay các tổ chức tài chánh tương tự. CALL LOAN RATE: Lãi suất Brokers cho khách hàng vay ở ngân hàng để cho khách hàng vay. CALL OPTION: Hợp đồng Call Option. Hợp đồng mua hay bán theo giá đi lên. Quyền được mua 100 cổ phần của một loại chứng khoán hay chỉ số chứng khoán nào đó với giá đã ấn định trước, trước khi đến ngày đáo hạn cũng đã định trước, đổi lại người mua hợp đồng call option phải trả một phí mua (premium). Nếu giá chứng khoán đi đúng hướng theo dự đoán của người mua hợp đồng call option tức là hướng đi lên thì người mua sẽ có lời trong khi chỉ đầu tư một số tiền nhỏ (phí mua hợp đồng) hơn là phải bỏ nhiều tiền để thực sự mua số chứng khoán. Đối với người bán, hợp đồng này có thể đem lại lợi tức phụ. Người bán sẽ bỏ quyền sở hữu chứng khoán nếu như hợp đồng option được thực thi. CALL PREMLUM: Phí mua Call Option - Phí trả cho hợp đồng. CALL (chiều đi lên) Số tiền mà người mua hợp đồng Call option phải trả cho người bán để có quyền mua một loại chứng

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

15

khoán hay chỉ số chứng khoán theo giá đã ấn định và theo thời hạn đã ấn định. Trong lãnh vực trái phiếu (ưu đãi, khả hoán) đây là số tiền trên mệnh giá mà nhà phát hành phải trả cho nhà đầu tư để thu hồi trái phiếu trước thời hạn. CALL PRICE: Giá thu hồi theo lệnh gọi (thu hồi) Giá mà nhà phát hành chi trả để thu hồi trái phiếu hay chứng khoán ưu đãi theo điều khoản có lệnh gọi hay đặc tính có lệnh gọi (tức thu hồi trước thời hạn). Nó còn được gọi là Redemption Price (giá chuộc lại) để bù đắp cho người sở hữu trái phiếu hay chứng khoán bị thiệt thòi về lợi tức và không còn quyền sở hữu, giá theo lệnh gọi thường cao hơn mệnh giá chênh lệch này là phí trả cho lệnh gọi (call premium). CALL PROTECTION: Khoảng thời gian không có lệnh thu hồi Khoảng thời gian trong đó nhà phát hành không được thu hồi trái phiếu. Trái phiếu nhà nước Hoa Kỳ thường không có đặc tính lệnh gọi, trừ một ngoại lệ là trái phiếu dài hạn 30 năm có thể có lệnh gọi sau 25 năm. Trái phiếu công ty và đô thị thường có thời gian không có lệnh gọi là 10 năm. Nhà đầu tư sống bằng lợi tức trái phiếu phải chắc rằng nó có bảo đảm thời gian không có lệnh gọi bởi vì nếu không có bảo đảm, trái phiếu có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào như đã ấn định trong giao kèo. CALL PROVISION: Điều khoản về lệnh gọi (thu hồi) Điều khoản thoả thuận giữa công ty phát hành trái phiếu và cổ phần ưu đãi với người mua về việc thu hồi lại trái phiếu và cổ phần trước ngày đáo hạn với giá đặc biệt trong trường hợp đặc biệt. CALL REPORT: Báo cáo theo lệnh gọi (yêu cầu). 1. Báo cáo lợi tức và tình hình hàng quý theo quy định của cơ quan giám sát đầu ngành tổ chức tài thánh : Ngân Hàng Quốc Gia báo cáo cho Tổng kiểm soát tiền tệ, ngân hàng thành viên tiểu bang báo cáo cho Ngân Hàng Dự Trữ liên Bang v.v... 2. Báo cáo phát triển kinh doanh của viên chức phụ trách lệnh gọi của ngân hàng (bank calling officer). CALL SPREAD: Mua và bán đồng thời hợp đồng Call Option Nhà đầu tư cùng lúc mua một hợp đồng call option và bán một hợp đồng call option cùng loại chứng khoán, khác ngày đáo hạn. CALL WRITER: người bán hợp đồng Call option Người viết (bán) hợp đồng chứng khoán theo giá hợp đồng và thời gian ấn định trước để người mua có thể căn cứ vào đó để mua theo giá và thời gian đó. CAPITAL TURNOVER: Quay vòng vốn Số bán hằng năm chia cho vốn cổ đông bình quân (trị giá thuần) khi được so sánh trong một thời khoảng, nó sẽ cho biết mức độ công ty có thể phát triển mà không cần phải đầu tư thêm vốn. Tổng quát, công ty có lợi nhuận biên tế cao thì có vốn quay vòng thấp và ngược lại. Nó còn được gọi là quay vòng vốn cổ đông. CAPPING: Bán giựt giá Tung ra bán để kéo giá xuống. Bán nhiều cổ phiếu một lúc để gây hoang mang, áp lực mọi người bán ra giá rẻ. CAPITALIZATION RATIO: Tỷ lệ tư bản hoá Phân tích cơ cấu vốn của công ty để biết nợ, chứng khoán ưu đãi, chứng khoán thường, vốn cổ đông - mỗi thứ chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số vốn công ty. Tỷ lệ rất hữu ích để ước tính rủi ro tương đối và mức hỗ trợ tài chánh mà người sở hữu chứng khoán ở các mức độ tương ứng có được. Xem Bond Ratio. CAPITALIZE: Tư bản hoá 1. Chuyển lợi tức đã liệt kê thành số vốn, gọi là trị giá tư bản hoá, bằng cách chia cho lãi suất. 2. Phát hành cổ phần để tài trợ cho chi tiêu vốn (hiếm khi thực hiện). 3. Ghi phần chi tiêu vốn (capital outlays - kinh phí vốn) như là phần thêm vào tài khoản tài sản, chứ không phải như là chi phí. CASH MANAGEMENT BILL: Phiếu nợ quản lý tiền mặt Công cụ nợ ngắn hạn do công khố Hoa Kỳ phát hành có thời hạn 50 ngày, nó là một dạng khác của phiếu kho bạc (treasury notes) hay trái phiếu kho bạc ngắn hạn. Phiếu nợ quản lý tiền mặt được bán cho các nhà đầu tư thị trường tiền tệ theo đơn vị tối thiểu là 1 triệu dollars. Phiếu nợ được phát hành để trang trải cho thiếu hụt lên mặt tạm thời, thí dụ ngay trước khi đến ngày đáo hạn thu thuế chủ yếu - như 15 tháng 4 hay 15 tháng 6. CASH MARKET: Thị trường tiền mặt. Giao dịch mua bán bằng tiền mặt hay thị trường tại chỗ được hoàn tất, có nghĩa là quyền sở hữu hàng hoá được chuyển từ người bán sang người mua và việc chi trả thực hiện ngay lúc giao hàng hoá. Thị trường tiền mặt khác với thị trường hợp đồng futures, trong đó hợp đồng hoàn tất vào thời điểm ấn định trong tương lai.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

16

CASH POSITION: Vị thế tiền mặt 1. Tài sản tiền mặt trong ngân hàng, đồng nghĩa với khả năng thanh toán bằng tiền mặt (liquidity). Nói đúng là vị thế tiền mặt là mức đo lường tiền mặt có trong tay bao gồm tiền mặt trong kho an toàn và tiền mặt trong máy trả tiền, tiền mặt có từ việc bán tài sản ngắn hạn như chứng chỉ ký thác, trái phiếu nhà nước, thoả thuận mua lại v.v... Ngoài ra còn bao gồm số cân đối tài khoản dự trữ thặng dư, số ký thác ở các ngân hàng khác, các chi phiếu đang thu. 2. Vị thế dự trữ trong tài khoản dự trữ của ngân hàng tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang hay ngân hàng tương tác. CASH RATIO: Tỷ lệ tiền mặt Tỷ lệ tiền mặt và chứng khoán dễ mua bán đối với nợ hiện hành, cốt lõi của tỷ lệ thanh lý nhanh (quick ratio). Tỷ lệ tiền mặt cho biết mức độ nợ có thể được thanh lý nhanh như thế nào. Đôi khi nó còn được gọi là tỷ lệ thanh lý CASH RESERVE: Dự trữ tiền mặt 1. Tiền mặt trong kho an toàn của ngân hàng có thể được dùng để thoả mãn các quy định dự trữ của ngân hàng hội viên. Tiền mặt có trong tay bao gồm tiền giấy và tiền đồng, có thể được dùng để đáp ứng các quy định dự trữ theo luật pháp. 2. Xoay tua mức tín dụng tối đa (line of credit) kèm theo tài khoản chi phiếu cho phép người tiêu thụ viết chi phiếu có số lượng cao hơn số cân đối tài khoản mà không phải chi trả phí thấu chi. Nó còn được gọi là Cash Reserve Checking hay Overdraft Protection CASH SETTTEMENT: Sắp xếp chi trả bằng tiền mặt - Thanh lý bằng tiền mặt 1. Điều khoản chi trả trong vài hợp đồng option và futures không yêu cầu giao chứng khoán hàng hoá cơ sở. Đối với hợp đồng options, chênh lệch giữa giá chi trả cho chứng khoán cơ sở và giá thực thi của hợp đồng sẽ được chi trả bằng tiền mặt cho người mua option vào thời điểm thực thi hợp đồng. Đối với hợp đồng futures, thị trường thiết lập giá khi trả vào ngày cuối cùng mua bán và tất cả số chưa giải quyết còn lại được điều chỉnh theo thị trường căn cứ vào giá đó. 2. Trong chứng khoán mua bán theo hợp đồng option việc giao chứng khoán được mua theo thời điểm mua bán chứ không theo thời điểm chi trả. CASH SECURITIES EQUIVALENT: Chứng khoán tương đương tiền mặt Bất cứ loại chứng khoán của ngân khố, chứng chỉ ký thác sẵn sàng được chuyển thành tiền mặt. CASH SURRENDER VALUE: Trị giá không còn là tiền mặt Trong lãnh vực bảo hiểm, số tiền công ty bảo hiểm sẽ giao lại cho người mua bảo hiểm để huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm. Đôi lúc được viết tắt CSVLI (Cash Surrender Value of line Insurance), nó được ghi như là một tài sản trên trên bảng cân đối tài khoản của một công ty có bảo hiểm nhân thọ lấy trên số vốn. COMMODITY-BACKED BOND: Trái phiếu có hàng hoá bảo đảm Trái phiếu liên quan chặt chẽ với giá hàng hoá cơ sở. Nhà đầu tư có trái phiếu liên quan với giá bạc hay vàng sẽ nhận tiền lãi tuỳ theo giá kim loại hiện hành chứ không phải theo trị giá dollar cố định. Theo ý nghĩa này trái phiếu là rào cản chống lại lạm phát vì nó theo giá chung của hàng hoá (chứ không theo giá tiền giấy). COMMODITY CREDIT CORPORATION: Công ty tín dụng hàng hoá Công ty nhà nước tài trợ cho số trợ giá nông phẩm. Cơ quan tài trợ để bảo đảm tín dụng thư ngân hàng nhằm trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu. COMMODITY PAPER: Chứng từ cam kết bằng hàng hoá Tiền vay để tồn kho hay tiền ứng trước được hàng hoá bảo đảm. Nếu hàng hoá quá cảnh, vận đơn được thực hiện bởi một người bình thường mang nó (common carrier). Nếu hàng hoá được tồn kho, biên nhận uỷ thác thừa nhận là hàng hoá đang tồn kho và tiền thu được từ việc bán hàng hoá sẽ được thông báo đến người cho vay, đây cũng còn là biên nhận kho liệt kê hàng hoá. Đó là các chứng từ (vận đơn, biên nhận uỷ thác, biên nhận kho) có thể được dùng để bảo đảm cho số tiền vay hay tiền ứng trước. COMMODITY PRICE INDEX (CPI): Chỉ số giá hàng hoá Một tham khảo có giá trị về giá tiền mặt tại chỗ của hàng hoá hay giá hợp đồng Futures. Chỉ số giá hàng hoá do các cơ quan nhà nước soạn thảo hay do các thị trường riêng - để theo dõi biến chuyển giá thị trường. Chỉ số giá cả dùng năm cơ bản để đo lường biến chuyển giá cả trong một khoảng thời gian cố định, thường là hằng ngày, hàng tháng và hàng năm.ở Hoa Kỳ chỉ số giá bán sẽ là chỉ số chính thức của giá nông nghiệp và công nghiệp. COMMODITY TRADING ADVISER (CTA): Nhà tư vấn Mua bán hàng hoá (hợp đồng) COMMON LAW: Luật theo tập tục - Tiền lệ Bộ phận luật dựa trên các quyết định pháp luật

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

17

và tiền tệ. Ngày nay nhiều ý niệm luật pháp bao gồm cả luật lệ về hợp đồng đều rút từ luật theo tập tục và tiền lệ. COMMON MARKET: Thị trường chung Âu Châu COMMON STOCK: Chứng khoán thường, cổ phần đại chúng Các đơn vị sở hữu của công ty cổ phần (public company). Sở hữu chủ (cổ đông) có quyền bỏ phiếu bầu hội đồng quản trị hay các vấn đề quan trọng khác cũng như được nhận cổ tức của chứng khoán. Trong trường hợp công ty bị phá sản, chủ nợ có bảo kê hay không có bảo kê, trái chủ và cổ đông có chứng khoán ưu đãi sẽ được ưu tiên hơn các cổ đông có chứng khoán thường. Tuy nhiên, nói chung chứng khoán thường có nhiều tiềm năng kiếm lời hơn. COMMON STOCK EQUIVALENT: Tương đương chứng khoán thường Chứng khoán ưu đãi (preferred stock) hay trái phiếu có thể chuyển sang chứng khoán thường hay chứng chỉ (warrant) mua chứng khoán với giá đặc biệt hay giá thấp hơn giá thị trường. Chứng khoán dùng để chuyển qua chứng khoán thường có tiềm năng làm loãng trị giá của cổ đông sở hữu chứng khoán thường đang lưu hành và việc hoán chuyển hay thực hiện được người ta nhận biết khi thấy tỷ lệ lợi nhuận/cổ phần bị giảm hoàn toàn. COMMON STOCK FUNDS: Quỹ chứng khoán thường, quỹ hỗ tương đầu tư chỉ đầu tư vào chứng khoán thường. COMMON STOCK RATIO: Tỷ lệ chứng khoán thường Số phần trăm tổng số tư bản hoá tiêu biểu bằng chứng khoán. Theo quan điểm chủ nợ, tỷ lệ cao tiêu biểu có một khoảng cách an toàn trong trường hợp thanh lý. Tuy nhiên, trên quan điểm nhà đầu tư, tỷ lệ cao có nghĩa là thiếu đòn bẩy tài chánh (leverage). Những gì tỷ lệ sẽ phải tuỳ thuộc phần lớn thì đó là sự ổn định của lợi nhuận. Công ty phục vụ công cộng về điện có thể hoạt động với tỷ lệ thấp vì lợi nhuận được ổn định. Theo quy luật chung, khi tỷ lệ chứng khoán công ty công nghiệp dưới 30%, nhà phân tích sẽ kiểm tra mức ổn định lợi nhuận và mức trang trải phí ổn định trong khoảng thời gian khó khăn cũng như trong khoảng thời gian thuận lợi . COMMON TRUST FUND: Quỹ uỷ thác có tính cách chung COMMUNITY BANK: Ngân hàng phục vụ cộng đồng CUM DIVIDEND: Có kèm cổ tức Kèm theo cổ tức, dây nói về một chứng khoán mà người mua có quyền nhận một cổ tức đã được thừa nhận. Các chứng khoán có kèm cổ tức là chứng khoán được mua bán vào ngày thứ năm hay trước đó tính từ ngày ghi sổ trở về trước (record date - xem phần sau). Khi đã thông báo ngày ghi sổ về cổ tức đó, thì các vụ mua bán từ ngày thứ năm trở đi sẽ không có cổ tức nữa (phải chờ đến kỳ hạn sau). CUM RIGHTS: Chứng khoán có quyền kèm theo Cổ đông với chứng khoán có các quyền, nghĩa là muốn nói về các chứng khoán cho phép người mua, mua một số lượng đặc biệt các chứng khoán chưa được phát hành. Ngày chấm dứt là ngày chứng khoán chuyển từ chứng khoán có đặc quyền (cum rights) sang chứng khoán không có đặc quyền, nó được quy định trong bản quảng bá (prospectus) cùng với bản phân phối các đặc quyền. CUMULATIVE PREFERRED: Chứng khoán ưu đãi tích luỹ Chứng khoán ưu đãi có cổ tức bị huỷ bỏ vì thiếu lợi nhuận hay vì lý do nào khác, sẽ được tích luỹ lại cho đến khi nào có đủ tiền trả. Nó được ưu tiên hơn cổ tức thường (cổ tức của chứng khoán thường): cổ tức tích luỹ được trả trước rồi mới đến cổ tức thường. Ngày nay, hầu hết chứng khoán ưu đãi đều có tính chất tích luỹ. CURRENCY BOARD: Ban tiền tệ Một tổ chức định chế phát hành giấy nợ ngân hàng nội địa được bảo đảm bằng tài sản dự trữ. Giấy nợ ngân hàng được trao đổi theo lãi suất cố định. Ban tiền tệ không nhận ký thác hay phát hành trái phiếu, tiền hay các công cụ nợ khác. Không giống ngân hàng trung ương, các Ban Tiền Tệ không dùng công cụ tiền tệ hoá nợ để quản lý tài sản dự trữ. CURRENCY EXPOSURE: Phải gánh chịu thiệt hại về tiền tệ Chênh lệch giữa món nợ tính bằng một loại tiền tệ và tài sản lưu động bằng một loại tiền tệ khác khi giao dịch mua bán được thanh toán bằng nhiều loại tiền tệ. Người nợ phải gánh chịu thiết thời nếu tài sản của ông ta bị đánh giá theo loại tiền tệ có giá trị không xác định lúc kết thúc giao dịch. Nếu người nợ bán tài sản để trả nợ, số tiền thu được có thể thấp hơn mệnh giá của món nợ. CURRENCY FUTURES: Hợp đồng futures tiền tệ Hợp đồng trong thị trường futures về cung ứng một loại tiền tệ như đông dollar Mỹ, đồng pound Anh, đồng franc Pháp, đồng mark Đức, đồng franc Thuỵ Sĩ, đồng yên Nhật. Các công ty nào có bán sản phẩm khắp thế giới có thể bảo vệ rủi ro tiền tệ bằng cách mua các hợp đồng futures. CURRENCY IN CIRCULTION: Tiền tệ luân chuyển Tiền giấy và tiền đồng luân chuyển

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

18

trong kinh tế. Được xem như thành phần của tổng số tiền luân chuyển có cả tài khoản ký thác rút khi có yêu cầu (Demand Deposit- tài khoản hoạt kỳ) trong ngân hàng. Chủ đề D

DAILY INTEREST: Lãi hàng ngày. Lãi kiếm được từ thời điểm ký thác cho đến thời điểm rút ra. Ngoài ra, tiền lãi tài khoản ký thác được kết hợp hàng ngày và được ghi vào bên có tài khoản ký thác được kết hợp hàng ngày và được ghi vào tài khoản của người ký thác thời khoảng khác nhau.Thí dụ, ký thác $100 trong 1năm (365 ngày) sẽ kiếm được $ 0,84 tiền lãi kết hợp hàng ngày trong vòng 30 ngày, $2,53 trong 90 ngày, $5,13 trong 180 ngày và $10,67 sau khi tròn năm. Xem Compound Interest. DAILY TRADING LIMIT: Giới hạn mua bán hàng ngày. Số tối đa mà thị trường hàng hoá và hợp đồng option được phép tăng hay giảm. Khi thị trường đạt đến mức giới hạn sớm và giữ như vậy suốt ngày, nó được nói là đang ở mức giới hạn cao nhất hay thấp nhất trong ngày. Thị trường thường áp đặt giới hạn mua hay bán hằng ngày trong mỗi hợp đồng. Thí dụ, Chicago Board of Trade giới hạn bằng 2 điểm ($2000 cho mỗi hợp đồng) tăng hay giảm trong hợp đồng option của future về công phiếu. DAISY CHAIN: Mua bán giữa người đầu cơ giá thị trường (market manipulators) để tạo ra một nhu cầu giả tạo về số lượng mua bán như mồi nhử lôi cuốn nhà đầu tư hợp pháp. Khi những người mua bán này tăng giá lên, nhà đầu cơ giá tung những chứng khoán trái phiếu ra, sau đó bỏ mặc cho những nhà đầu tư thiếu cảnh giác ôm số chứng khoán khoán đó vì không có người mua lại. DATA CAPTURE: Hệ thống thu dữ kiện Hệ thống điện tử thu hồi phiếu bán thẻ ngân hàng thương mại nhận trực tiếp từ hệ thống chi trả mua bán lẻ của thương buôn hay máy đăng ký tiền mặt điện tử (Electronic cash register). Hệ thống thu dữ kiện của ngân hàng còn được gọi là draft capture (hệ thống thu hồi phiếu) làm tăng tốc độ thu quỹ cho các ngân hàng thương nghiệp xử lý thẻ và các tài khoản thương nghiệp của họ bằng cách loại bỏ thời gian trôi nổi của thư tín trong việc xử lý phiếu ghi thẻ ngân hàng. DATA ENCRYPTION STADARD (DES): Tiêu chuẩn mã hoá dữ kiện Được ngành tài chính thừa nhận nhằm bảo vệ các thông tin giao dịch mua bán bảo mật (sensitive transaction information) bao gồm số cân đối tài khoản, mã số chứng minh ngân hàng (còn gọi là khoá số của nhà phát hành) và mã số mở tài khoản của người sử dụng (consumer account access codes). DES là tiêu chuẩn chung do Nation Institute of Standards and Technology phát hành và cũng được biết dưới tên DEA (Data Encryption Algorithm) và được ngành tài chánh chấp nhận. DATE DRAFT: Hối phiếu cố định thời điểm Hối phiếu hoạt kỳ được chi trả theo thời điểm ấn định,không liên quan gì tới thời điểm chấp nhận. DATE OF RECORD: Ngày báo sổ Ngày tháng đó cổ đông phải sở hữu chính thức để được hưởng cổ tức.Thí dụ, hội đồng quản trị công ty tuyên bố có cổ tức và ngày 1/11 và trả ngày1/12 đối với cổ đông được báo sổ ngày 15/11. Sau ngày báo sổ, chứng khoán không có cổ tức (ex-dividend). DATED DATE: Ngày đã ghi sổ - Ngày bắt đầu tính lãi. Ngày tháng theo đó lãi tích luỹ được tính trên trái phiếu mới hay các phương thức nợ khác. Người mua trả cho nhà phát hành một số tương đương với lãi suất tích luỹ kể từ ngày đã ghi sổ đến ngày thanh toán trái phiếu. Tiền chi trả lãi suất đầu tiên của trái phiếu được làm lại cho người mua. DATED SECURITIES: Chứng khoán có định thời điểm cố định để thu hồi (chuộc lại). DATING: Thời gian gia hạn Trong giao dịch thương mại, đó là khoảng thời hạn mà nhà cung cấp dành cho khách hàng .Thí dụ, 90 ngày thay vì 30 ngày. Trong các ngành có tính thời vụ cao và có khoảng cách thời gian dài, thời gian được gia hạn (dating) phối hợp với tài trợ bằng tài khoản thu, giúp cho nhà sản xuất có vốn yếu có thể tiếp tục sản xuất. Dating còn gọi là gia hạn theo thời vụ (Seasonal dating) hay gia hạn đặc biệt (special of dating). DAY CYCLE: Chu kỳ ban ngày Chu kỳ tiến hành ban ngày để chuyển bên nợ hay bên có của trung tâm của trung tâm giao hoán thanh toán tự động giữ các hiệp hội giao hoán trong vùng, thường từ 8 giờ sáng đến 1 giờ trưa. DISINTERME DIATION: Bỏ trung gian ngân hàng Chuyển quỹ từ tài khoản hoa lợi thấp ở các tổ chức ngân hàng truyền thống sang đầu tư có hoa lợi cao trong thị trường chung. Thí dụ, rút quỹ từ tài khoản sổ tiết kiệm trả hoa lợi 5,5% để mua công phiếu ngắn hạn có hoa lợi 10%. Ngược lại, ngân hàng có thể trả lãi suất cao hơn cho người ký thác, sau đó tính với

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

19

người mượn cao lên, điều này đưa đến tình trạng tiền bị hạn chế và hoạt động kinh tế bị giảm xuống. Do điều chỉnh này của ngân hàng, việc bỏ trung gian ngân hàng không còn là vấn đề kinh tế nữa. DISINVESTMENT: Đầu tư giảm Giảm đầu tư tư bản vốn hoặc là bằng cách thanh lý hàng hoá tư bản (như nhà máy và trang thiết bị) hay bằng cách không duy trì hoặc không thay thế tài sản tư bản sắp sửa dùng hết hay đã cũ kỹ. DISPOSABLE INCOME: Lợi tức sử dụng tuỳ ý Lợi tức cá nhân còn lại sau khi đóng, các sắc thuế và các phí nhà nước không có tính cách thương mại. Tiền này có thể tiêu dùng cho các nhu cầu thiết yếu hay không thiết yếu hay có thể tiết kiệm. DISPROPORTIONATE SHARING ARRANGEMENT: Thoả thuận phân chia không đồng đều Trong thoả thuận này, tổng thành viên sẽ chịu một phần giá phí của chương trình nhưng sẽ nhận tỷ lệ doanh thu cao hơn (không đồng đều). Thông thường trong thoả thuận, tổng thành viên chịu 10% giá phí chương trình và nhận 25% lợi thuận. Tổng thành viên chỉ chịu một loại giá phí còn nhà đầu tư phải chịu cả hai loại giá phí: giá phí khấu trừ vào thuế và giá phí không được khấu trừ vào thuế. DISSECTING: Phân tích thời gian mua bán chứng khoán trong ngày Trong một ngày mua bán ở thị trường chứng khoán New York, từ 9 :30 sáng tới 4:00 chiều, tính tỷ lệ số lượng mua bán cổ phần chứng khoán từng giờ một, tỷ dụ từ 9:30 sáng tới 10:30, số lượng mua bán là 30 triệu cổ phần, từ 10:30 tới 11:00, số lượng mua bán là 45 triệu cổ phần DISTANT CONTRACT: Hợp đồng còn lâu mới đáo hạn Đây nói về hai hay nhiều hợp đồng futures có thời gian tính đến ngày đáo hạn lâu nhất. đầu tư độc nhất để có quyền sở hữu hơn 10% chứng khoán có có quyền bầu hiện hành trong một công ty. DIVESTMENT: Cởi bỏ bớt Chính sách của Nhà Nước nhằm bán các xí nghiệp Nhà nước cho doanh nghiệp tư nhân. Các xí nghiệp thông thường được bán đứt theo từng giai đoạn. Việc bán này được sắp xếp thông qua một công ty vô vi lợi được thiết lập vì mục đích này. DIVESTITURE: Tái bố trí tài sản - Từ bỏ Bố trí lại tài sản hay đầu tư bằng cách bán đứt, bán hết cổ phần cho nhân viên, thanh lý v.v... Ngoài ra nó còn có nghĩa là một công ty được lệnh phân tán một số lượng lớn chứng khoán của Công ty khác mà trước đây đã giữ để đầu tư. Thí dụ, toà án đã ra lệnh cho Dupont phải tử bỏ (bán hết) chứng khoán General Motors. DIVIDED ACCOUNT: Tài khoán được phân ra. DIVIDEND: Cổ tức. Phân phối lợi nhuận cho cổ đông theo hạng loại của chứng khoán và được trả bằng hình thức tiền mặt, chứng khoán tạm thời (strips) hoặc sản phẩm hay tài sản công ty (hiếm khi). Hội đồng quản trị quyết định số cổ tức và thường được trả hằng quý. Cổ tức phải được công bố rõ ràng như lợi tức trong năm mà người ta được nhận. Cổ tức quỹ đầu tư hỗ tương được trả dưới dạng lợi tức, thường là từng quý theo đầu tư của quỹ. Thuế đánh trên cổ tức tuỳ theo đó có phải là tiền phân phối từ lợi tức tư bản, lợi tức tiền lãi hay cổ tức nhận được hay không. Những phân biệt này phần lớn đã không còn từ năm 1988 bằng đạo luật Tax Reform Act of 1986. DIVIDEND CAPTURE: Cách mua bán để thu lợi cổ tức DIVIDEND DISCOUNT MODEL: Mô hình khấu trừ cố tức Mô hình toán học dùng để xác định giá chứng khoán sẽ phải bán dựa trên trị giá khấu trừ của kế hoạch chi trả cổ tức tương lai. Nó được dùng để nhận biết chứng khoán dưới trị giá thị trường (undervalued stock) tiêu biểu cho tiềm năng lợi nhuận tư bản. DIVIDEND EXCLUSION: Miễn thuế cố tức ở Hoa Kỳ, điều khoản trước khi có đạo luật Tax Reform Act of 1986 cho phép trừ vào cổ tức có tiêu chuẩn như lợi tức có thuế theo qui định của lnternal Revenue Service - $100 cho cá nhân và $200 cho 1 cặp vợ chồng cùng khai thuế. Năm 1986 Tax Act đã loại bỏ việc này và có hiệu lực từ năm thuế l987. Các công ty nội địa có thể được miễn thuế lợi tức 80% của số cổ tức nhận từ các công ty nội địa khác. trước khi có đạo luật 1986, họ được trừ 85%. DIVIDEND lN ARREARS: Cổ tức trong số nợ còn khất lại- Cổ tức tích luỹ Cổ tức tích luỹ của chứng khoán ưu đãi tích luỹ, sẽ được trả cho sở hữu chủ hiện hành. Chứng khoán ưu đãi trong tình hình công ty phát hành đã phục hồi lại triển vọng kiếm lời sẽ hấp dẫn người mua khi được bán với giá hạ (giá đã khấu trừ) và có cổ tức tích luỹ (cổ tức nằm trong số nợ sẽ trả sau ) DIVIDEND PAYING AGENT: Nhân viên chi trả cổ tức Nhân viên công ty, thường là ngân hàng thương mại được chỉ định chịu trách nhiệm chi trả cổ tức hàng quý cho cổ đông có tên trong danh sách. Người này có thể hoặc không thể giống như nhân viên chuyển giao (Transfer Agent) là người theo dõi thu hồi và phát hành chứng khoán mới. DIVIDEND PAYOUT RATIO : Tỷ lệ trả cổ tức Phần trăm lợi nhuận trả cho cổ đông bằng tiền

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

20

mặt. Thông thường, tỷ lệ chi trả càng cao chừng nào thì chứng tỏ công ty càng trưởng thành chín chắn chừng đó. Công ty dịch vụ về điện và điện thoại có khuynh hướng tỷ lệ chi trả cao nhất. Trong khi các công ty đang phát triển nhanh thường tái đầu tư tất cả lợi nhuận nên không chi trả cổ tức. DIVIDEND RECORD: Bản báo cáo cổ tức Standard & Poor's Corporation công bố tin tức về các chính sách của công ty và quá trình chi trả cổ tức. DIVIDEND REINVESTMENT PLAN: Kế hoạch tái đầu tư cố tức Tự động tái đầu tư cổ tức của cổ đông có nhiều cổ phần trong công ty. Vài công ty thẩm thấu hầu hết hay tất cả phí môi giới chứng khoán tương ứng, vài công ty hạ thấp (khấu trừ) giá chứng khoán. Kế hoạch tái đầu tư cổ tức cho phép cổ đông tích luỹ tư bản trong một thời gian dài sử dụng trung bình giá phí dollar (dollar cost average). Đối với công ty, kế hoạch tái đầu tư cổ tức là phương tiện tăng quỹ vốn mà không phải sử dụng giá phí thả nổi trong việc phát hành chứng khoán trái phiếu mới. DIVIDEND REQUIREMENT: Quy định về cổ tức Số lượng lợi nhuận hằng năm cần để chi trả cổ tức quy định trong hợp đồng về chứng khoán ưu đãi. DIVIDEND ROLLOVER PLAN: Kế hoạch xoay qua cổ tức Phương pháp mua và bán chứng khoán gần ngày công ty tuyên bố chứng khoán được chia cổ tức để thu cổ tức và mua bán lại để kiếm một ít lợi nhuận. Điều này đòi hỏi phải mua cổ phần khoảng 2 tuần trước khi chứng khoán ở vào vị thế không có cổ tức. Sau ngày chưa được chia cổ tức (ex-dividend) giá sẽ giảm xuống vào khoảng bằng trị giá cổ tức, sau đó sẽ trở lại giá cũ. Bằng cách bán hơi cao hơn giá mua, nhà đầu tư có thể trang trải giá phí môi giới, thu lại cô tức, và có một lợi nhuận nhỏ trong 3 hay 4 tuần. Kế hoạch này còn gọi là nắm bắt cổ tức (dividend capture). DIVIDEND WARRANT: Chứng chỉ cổ tức Chi phiếu về cổ tức có ghi trên mặt chi phiếu số cổ tức và số thuế được trừ ra. trong một vài quốc gia chứng chỉ cổ tức được nộp cho cơ quan thuế để đòi trả lại tiền khi bản thân người có chứng chỉ không có nợ thuế. DIVIDEND YIELD: Hoa lợi cổ tức Tỷ lệ phần trăm lợi nhuận hàng năm mà nhà đầu tư nhận được trên số cổ phần thường hay cổ phần ưu đãi. Hoa lợi dựa trên số cổ tức hằng năm chia cho giá thị trường của cổ phần (vào thời điểm mua). DIVIDENDS PAYABLE: Số cổ tức được trả Số Dollar trị giá cổ tức sẽ được chi trả như đã báo cáo trong bản báo cáo tài chánh. Cổ tức này trở thành một món nợ khi hội đồng quản trị đã công bố và được liệt kê như món nợ trong báo cáo hàng năm và hàng quý. DOCUMENTARY COLLECTLON: Thu theo chứng từ Còn gọi là tiền mặt căn cứ trên chứng từ (cash against documents), một hình thức khác của tài trợ tín dụng thư. DOCUMENTARY COMMERCIAL BILL: Hoá đơn (hối phiếu) thương mại có kèm chứng từ Hối phiếu được ngân hàng chấp nhận, có vận đơn và các chứng từ khác đính kèm. Ngược lại với clean draft (hối phiếu không kèm chứng từ). Chứng từ đính kèm được giao cho người chi trả khi người này chấp nhận hay chi trả hối phiếu DOCUMENTARY CREDIT: Tín dụng có chứng từ Tín dụng thư thương mại do ngân hàng cấp để chi trả theo tên người thừa hưởng, thường là người bán hàng hoá dựa trên chứng từ giao nhận đã ấn định trong tín dụng. DOCUMENTARY DRAFT: Hối phiếu có kèm chứng từ. Trong ngoại thương, đây là hối phiếu có kèm theo vận đơn và các chứng Chủ đề E

EARNING ASSETS: Tài sản sinh lợi Tài sản làm phát sinh tiền lãi hay sản sinh ra lợi tức nguồn chính yếu của lợi tức thuận của ngân hàng. Bao gồm trong loại tài sản này là: tiền cho vay và hợp đồng thuê mướn, ngoại trừ lợi tức tiền lãi chưa hưởng (unearned interest income) ; trái phiếu Nhà nước, công ty, đô thị được lưu giữ như chứng khoán đầu tư (investment securities-), chứng khoán mua theo thoả thuận bán lại (thoả thuận mua lại Repurchase agreement); tài khoản ký thác định kỳ tại ngân hàng khác, ngân quỹ Liên Bang bán cho ngân hàng khác và tài sản trong tài khoản mua bán. EARNING THE POINTS: Điểm lời - Thu được điểm Trong thị trường hối đoái, đây là tình trạng thị trường khi giá mua của một loại tiền tệ trong thị trường tương lai rẻ hơn giá thị trường tiền mặt (spot market price - giá thị trường tại chỗ). Thí dụ, khi tỷ lệ thị trường tiền mặt (tại chỗ nghĩa là giao và nhận thanh toán ngay) là 1 dollar ăn 1,6500 mark Đức, một tháng sau đó $1 ăn 1,6450 mark Đức, chênh lệch là 0,0050. Người buôn bán lúc bán theo giá tại chỗ và sau đó 1 tháng mua lại với giá rẻ hơn như vậy là kiếm được điểm (điểm lời). Ngược lại là losing the points.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

21

EARNINGS BEFORE TAXES: Thu nhập chưa trừ thuế Lợi nhuận công ty sau khi trả lãi cho trái chủ, nhưng chưa đóng thuế. EARNINGS CREDIT: Tín dụng có lãi Yếu tố điều chỉnh để làm giảm chi phí dịch vụ ngân hàng của tài khoản ký thác, thí dụ tài khoản chi phiếu được tính bằng cách nhân số cân đối bình quân hàng ngày cho thừa số chung trong một khoảng thời gian kế toán. Các ngân hàng lớn thường cố định lãi suất tín dụng theo lãi suất công khố phiếu. EARNINGS MOMENTUM: Lợi nhuận tăng tốc Kiểu tăng tỷ lệ phát triển trong lợi nhuận mỗi cổ phần (Earnings per Share) từ thời khoảng này đến thời khoảng khác, thường làm cho giá chứng khoán tăng. Thí dụ, một công ty có lợi nhuận cho mỗi cổ phần tăng đến 15% năm này và 35% cho năm kế tiếp tức là có lợi nhuận tăng tốc và sẽ thu thêm được lợi nhuận trong giá chứng khoán đó. EARNINGS PER SHARE: Lợi nhuận mỗi cố phần Phần lợi nhuận công ty phân bố cho mỗi cổ phần của chứng khoán thường. EQUIPMENT TRUST CERTIFICATE: Chứng chỉ uỷ thác trang thiết bị Trái phiếu thường được công ty vận chuyển phát hành như công ty đường sắt công ty vận chuyển tàu biển, trái phiếu dùng để chi trả cho trang thiết bị mới. Chứng chỉ cho phép trái chủ được quyền đầu tiên đối với trang thiết bị trong trường hợp vốn và lãi không được trả khi đáo hạn. Quyền sở hữu tài sản đối với trang thiết bị được lưu giữ theo tên của người thụ uỷ thường là ngân hàng, cho đến khi trái phiếu được trả hết. EQUITY: Vốn cổ đông, tiền vốn EQUITY COMMITMENT NOTES: Giấy nợ cam kết về vốn Giấy nợ vốn do ngân hàng hay công ty chủ quản ngân hàng phát hành. Quy định một lúc nào đó sẽ được thu hồi trước ngày đáo hạn bằng số tiền thu được từ số chứng khoán thường mới phát hành. Đây là loại trái phiếu được xem như là nợ trên quan điểm kế toán, nhằm chi trả cho tiền lãi được khấu trừ vào thuế và tính vào tỷ lệ quy định vốn/tài sản của nhà phát hành. EQUITY CONTRACT NOTES: Giấy nợ cho hợp đồng vốn Giấy nợ hay giấy nợ không có thế chấp bảo đảm (debenture do ngân hàng hay công ty chủ quản ngân hàng phát hành, có thể chuyển đổi sang chứng khoán thường với giá chuyển đổi ấn định vào thời điểm trong tương lai. Nó còn được gọi là giấy nợ vốn. Giấy nợ vốn với điều khoản khả hoán quy định (mandatory convertible), quy định nhà phát hành sẽ đổi giấy nợ ra cổ phần chứng khoán thường, có đủ tiêu chuẩn là vốn cấp hai hay vốn ở lớp hai (tier 2 capital - vốn ở tầng hai) theo hướng dẫn vốn có rủi ro (risk- based capital) được cơ quan lập pháp ngân hàng chấp nhận. EQUITY FINANCING: Huy động thêm vốn cổ đông - tài trợ thêm vốn Tăng số tiền bằng cách phát hành cổ phần thường hay chứng khoán ưu đãi. Thường thực hiện khi giá chứng khoán cao và khi chỉ cần phát hành cổ phần với số lượng ít nhất cũng đủ có nhiều vốn. EQUITY FUNDING: Gây quỹ vốn cổ đông Loại đầu tư phối hợp giữa hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và quỹ hỗ tương đầu tư. Cổ phần trong quỹ được dùng thế chấp cho số tiền vay để trả phí bảo hiểm, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư về bảo hiểm nhân thọ và có thêm tiềm năng nâng cao đầu tư. EQUITY INTEREST: Quyền lợi trong vốn cổ đông Khi được dùng đối với công ty thì nó có nghĩa là chứng khoán thường và bất cứ loại chứng khoán nào có thể chuyển đổi, trao đổi hoặc sử dụng như chứng khoán thường. Khi được dùng trong lãnh vực dự phần (chung vốn) thì nó có nghĩa là quyền lợi trong số vốn hoặc lời hoặc lỗ trong việc góp vốn . EQUITY KICKER: Ngườl kích thích vốn đầu tư Đóng góp phần sở hữu trong một vụ kinh doanh có liên quan đến số tiền cho vay. Thí dụ, góp vốn trách nhiệm hữu hạn vào bất động sản thế chấp cho người xây cất bất động sản mượn, dưới dạng đồng sở hữu một phần nhỏ trong xây dựng nhà cao tâng có trị giá gia tăng theo thời gian. Khi toà nhà được bán, thành viên góp vốn trách nhiệm hữu hạn sẽ nhận lại được số chi trả cao hơn. Đổi lại việc làm này, người cho vay thường là tính phí lãi suất tiền cho vay thấp hơn lãi suất bình thường. Hợp đồng futures khả hoán và chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán là loại kích thích vốn đầu tư, nó làm cho chứng khoán hấp dẫn người đầu tư. EQUITY OF REDEMPTION: Vốn chuộc lại Quyền của người vay có thế chấp được chuộc lại tài sản sau khi đã mất khả năng chi trả và để tránh bán đấu giá tài sản bị tịch thu, bằng cách chi trả số vốn còn lại (chưa trả) cộng tiền lãi và các phí khác cho người giữ thế chấp. EQUITY PARTICIPATION: Tham gia vào việc huy động vốn EQUITY REIT: Vốn cổ đông bất động sản Cơ quan uỷ thác đầu tư bất động sản giữ vị thế

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

22

sở hữu bất động sản mà nó đầu tư. Cổ đông trong vốn cổ đông REIT có cổ tức từ lợi nhuận cho thuê nhà cao tầng và có mức thu tăng nếu tài sản được bán để kiếm lời. Ngược lại với cho vay để đầu tư bất động sản. EQUITY SECURITY: Chứng khoán vốn của cổ đông Chứng khoán : Cổ phần thường và ưu đãi. Chứng chỉ dự phần (góp vốn) trong thoả thuận phân chia lợi nhuận. Chứng chỉ tổ chức trước, đăng ký mua trước, cổ phần khả chuyển, chứng chỉ uỷ thác bỏ phiếu hoặc chứng chỉ ký thác cho chứng khoán vốn cổ đông . Quyền lợi dự phần có giới hạn, quyền lợi trong liên doanh hoặc chứng chỉ quyền lợi trong uỷ thác doanh nghiệp. Chứng khoán khả hoán, đặc quyền đăng ký mua chứng khoán hoặc chứng chỉ đặc quyền. Hợp đồng Put, Call Option được quyền ưu tiên trong việc mua hay bán chứng khoán vốn cổ đông. Nếu giá thị trường của chứng khoán đang nói đến ở trên có chiều hướng theo giá chứng khoán thường thì nó là chứng khoán vốn cổ đông. EQUIVALENT BOND YIELD: Lợi nhuận của trái phiếu tương đương So sánh hoa lợi trái phiếu đã khấu trừ (trái phiếu bán dưới mệnh giá) và hoa lợi trái phiếu có Coupon (giấy lãi suất), Cũng còn gọi là tỷ lệ tương đương coupon. Thí dụ: nếu công phiếu ngắn hạn 90 ngày, 10% lãi suất và có mệnh giá $10.000 bán giá $9.750 thì hoa lợi trái phiếu tương đương sẽ là : $250/$9750 x 365/90=10,40% EQUIVALENT TAXABLE YIELD: Lợi nhuận có thuế tương đương So sánh hoa lợi có thuế của trái phiếu công ty và hoa lợi miễn thuế của trái phiếu đô thị. Tuỳ theo thuế biểu, lợi nhuận đã trừ thuế của nhà đầu tư đối với trái phiếu đô thị có thể lớn hơn trái phiếu công ty có lãi suất cao hơn. Thí dụ, một người nằm trong khung thuế 20% thì trái phiếu đô thị lãi suất 10% sẽ có hoa lợi có thuế tương đương là 13,9%. Xem Yield Equivalence để biết phương pháp tính. ERROR RESOLUTION: Giải quyết sai sót Tiến trình sửa chữa lại các giao dịch gây tranh cãi đối với tài khoản ngân hàng của người sử dụng. Một người tuyên bố rằng ngân quỹ đã bị một người không có thẩm quyền chuyển đi mà chưa có sự đồng ý trước hay giao dịch mua bán đã bị nhập vào không rõ ràng vì sai sót của kế toán ngân hàng, thì người này có thể sửa lại sai sót bằng cách báo cho tổ chức giữ lại tài khoản đó. Một khi đã được thông báo, tổ chức tài chánh có từ 10 đến 45 ngày để thẩm tra lời khiếu nại và ghi lại bên có số ngân quỹ đã ghi bên nợ vì sai sót. EVERGREEN FUND: Ngân quỹ liên tục (luôn luôn mới) Đầu tư khởi đầu trong một công ty mới. Không giống như vốn đầu tư có tính rủi ro (mạo hiểm), ngân quỹ này được tiêm vào từng giai đoạn sau đầu tư ban đầu trong suốt những năm đầu tăng trưởng của công ty. EX-ALL: Không có gì cả Bán chứng khoán không có cổ tức, các quyền, chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán (wạrrant) hay bất cứ đặc quyền nào kèm theo chứng khoán. EX-COUPON: Không có phiếu lãi (coupon) (lãi của trái phiếu) EX-DIVIDEND: Không có cổ tức Thời khoảng giữa thông báo có cổ tức và chi trả cổ tức kế tiếp. Nhà đầu tư mua cổ phần trong thời khoảng này sẽ không có cổ tức. Giá chứng khoán sẽ tăng theo số cổ tức khi thời điểm không có cổ tức đến gần và sau đó sẽ giảm theo số cổ tức sau thời điểm đó. EX-DIVIDEND DATE: Thời điểm không có cổ tức Thời điểm chứng khoán không có cổ tức, tiêu biểu là 3 tuần trước khi cổ tức được trả cho cổ đông trong bản liệt kê danh sách. Các cổ phần liệt kê trên NYSE không có cổ tức 4 ngày hành chánh trước thời điểm liệt kê danh sách. Các thị trường khác thường theo quy luật này của NYSE. EX-LEGAT: Chưa có tính pháp luật Trái phiếu đô thị không có ý kiến hợp pháp của cơ quan về luật trái phiếu in lên trái phiếu đó, như hầu hết các trái phiếu đô thị đều có. Khi loại trái phiếu này được mua bán, người mua phải được báo là trái phiếu chưa có tính luật pháp. EX- PIT TRANSACTION: Mua bán không chính thức - Mua bán ngoài thị trường Mua bán hợp đồng hàng hoá ngoài hiện trường mua bán của thị trường nơi hàng hoá thường được mua bán, và có những thời hạn đã ấn định. EX-POST MONITORING: Theo dõi về trước Sau khi đo lường số ứng trước tín dụng nhằm đáp ứng các luật lệ về nghiệp vụ ngân háng. Để đủ tiêu chuẩn có được mức tối đa thấu chi (overdraft cap), ngân hàng phải có hệ thống theo dõi bằng vi tính để kiểm soát việc xuất nhập ngân quỹ trong tài khoản khách hàng.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

23

EX-RIGHTS: Không có quyền (đăng ký mua trước chứng khoán) Không có quyền đăng ký trước (right) để mua chứng khoán công ty với giá hạ đơn giá thị trường hiện hành cho đến thời điểm cụ thể nào đó. Sau thời điểm này các quyền đăng ký trước được mua bán tách ra khỏi chính chứng khoán đó. xem :Ex-Warrants. EX-STOCK DIVIDENDS: Không có cố tức bằng chứng khoán Trong khoảng giữa thời điểm bố cáo và chi trả cổ tức. Nhà đầu tư mua cổ phần trong thời khoảng này không được hưởng cổ tức chứng khoán đã bố cáo; thay vào đó, người bán cổ phần lại được hưởng, đây là người sở hữu chứng khoán có thời điểm ghi sổ cuối cùng trước khi khoá sổ và lúc đó chứng khoán sẽ là chứng khoán không cổ tức chứng khoán. Chứng khoán sẽ có lại cổ tức chứng khoán sau thời điểm chi trả. EX-WARRANTS: Không có chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán Chứng khoán bán cho người mua không còn có quyền đối với chứng chỉ đặc quyền kèm theo chứng khoán. Chứng chỉ đặc quyền cho phép người sở hữu mua chứng khoán vào các thời điểm trong tương lai với giá đặc biệt. Người nào mua chứng khoán vào ngày 3/6 mà chứng khoán này đã nằm trong thời điểm 1/6 tức thời điểm không có kèm chứng chỉ đặc quyền thì sẽ không nhận được chứng chỉ nàỵ. Nó thuộc tài sản của cổ đông của sổ báo ngày 1/6. EXACT INTEREST: Lãi chính xác Lãi do ngân hàng hay tổ chức tài chánh khác trả và được tính theo một năm 365 ngày, ngược lại là lãi thường chỉ tính có 360 ngày. Tỷ lệ chênh lệch là 1,0139 - có thể rất quan trọng khi lãi tính theo ngày được tính trên một khối lượng tiền lớn. EXCEPTION ITEM: Công cụ chi trả ngoại lệ Chi phiếu không thể chi trả vì lý do này hay lý do khác, như lệnh ngừng EXEMPT TRANSACTION: Giao dịch mua bán không bị ràng buộc theo luật lệ Giao dịch mua bán ngoại lệ là những giao dịch mua bán được miễn các quy định về đăng ký và quảng bá. Nó bao gồm các giao dịch như sau : + Giao dịch mua bán của một đơn vị đơn độc, riêng biệt không phải là nhà phát hành chứng khoán. + Giao dịch mua bán không thuộc nhà phát hành về các chứng khoán hiện hành (mua bán trong thị trường thông thường). + Giao dịch mua bán với các tổ chức tài chánh (ngân hàng, tổ chức tiết kiệm, công ty uỷ thác, công ty bảo hiểm, kế hoạch hưu trí và phân chia lợi nhuận, các broker-dealer v.v...) Giao dịch tự nguyện (không theo yêu cầu) + Giao dịch uỷ thác tài sản. Giao dịch theo thoả thuận riêng. Giao dịch giữa nhà phát hành và nhà bao tiêu. + Giao dịch với nhân viên nhà phát hành, người góp vốn (thành viên) hay với ban quản trị nếu không có hoa hồng gián tiếp hay trực tiếp cho sự móc nối này. Sự miễn trừ theo các quy định về đăng ký và quảng bá không có nghĩa là giao dịch này được miễn trừ các điều khoản về việc chống lừa đảo. EXERCISE: Sử dụng quyền thi hành hợp đồng chứng khoán Sử dụng quyền có ghi trong hợp đồng chứng khoán. Trên quan điểm mua bán hợp đồng options, người mua hợp đồng call option có thể thực hiện quyền mua cổ phần cơ sở với giá theo hợp đồng bằng cách báo cho người bán option. Quyền của người mua put option được thực hiện khi người mua put options bán cổ phần cho người bán put option với giá đã thoả thuận trong hợp đồng options. EXERCISE LIMIT: Giới hạn sử dụng (thực hiện) Giới hạn số hợp đồng option của bất cứ 1 loại nào có thể thực hiện trong khoảng thời gian ngắn 5 ngày hành chính. Đối với hợp đồng option chứng khoán, giới hạn thực hiện thường là 2.000 hợp đồng. EXERCISE NOTICE: Thông báo thực hiện hợp đồng chứng khoán Thông báo của broker cho biết một khách hàng muốn thực hiện quyền mua chứng khoán cơ sở trong hợp đồng option. Thông báo như thế được chuyển đến người bán option (option seller) thông qua corporation clearing. Chủ đề F

FACE-AMOUNT CERTIFICATE COMPANY: Công ty phát hành chứng chỉ theo mệnh giá Chứng chỉ (công cụ nợ) do công ty đầu tư phát hành cam kết trả cho nhà đầu tư một số tiền như đã công bố (mệnh giá) vào thời điểm ấn định. Nhà đầu tư cho chứng chỉ (mua chứng chỉ) từng số tiền theo từng giai đoạt hoặc trả một lần tiền.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

24

FACE-AMOUNT CERTICATE: Chứng chỉ theo mệnh giá Loại trái phiếu nợ của công ty chuyên phát hành chứng chỉ theo mệnh giá, một trong ba loại quỹ hỗ tương đầu tư được đạo luật Investment Company Act of 1940 giải thích rõ. Sở hữu chủ trả cho nhà phát hành theo từng thời kỳ và người phát hành hứa sẽ trả cho người mua theo mệnh giá khi đáo hạn hay trị giá bỏ cuộc (surrender value) nếu như chứng chỉ được giao lại trước thời hạn. FACE VALUE: Mệnh giá Trị giá trái phiếu, tín phiếu (note), thế chấp hay các chứng khoán đã có ghi trên chứng chỉ hay công cụ đó. Trái phiếu công ty thường được phát hành với mệnh giá $1.000. Trái phiếu đô thị với mệnh giá $5.000,trái phiếu nhà nước liên bang $10.000. Mặcdù giá trị trái phiếu biến động từ lúc phát hành đến lúc thu hồi, nhưng nó vẫn được thu hồi theo mệnh giá khi đáo hạn, trái chủ thường nhận được một chênh lệch nhỏ thêm vào mệnh giá là trị giá căn cứ trên đó để tính lãi suất. Vì thế trái phiếu 10% lãi suất với mệnh giá $1000 thì trái chủ có tiền lãi là $100 mỗi năm. Mệnh giá còn được gọi là Par Value hay Nominal Value. FACILITIMES MANAGEMENT: Điều hành phương tiện Hoạt động của phòng xử lý dữ kiện của ngân hàng phục vụ do bên thứ 3 thực hiện, thông thường là theo thoả thuận hợp đồng trong nhiều năm. Điều nay giúp cho ngân hàng bớt được gánh nặng phải duy trì một hệ thống hợp máy vi tính và để cạnh tranh với các công ty khác trong lãnh vực chuyên môn xử lý dữ kiện, đồng thời giúp cho ngân hàng dễ dàng đáp ứng đầy đủ quy định về an toàn EDP. FIREWALLS: Luật lệ phòng ngừa Luật lệ nói về việc để riêng phần bao tiêu chứng khoán của một ngân hàng ra khỏi các hoạt động thu gom và cho vay số ký thác. Luật lệ này bao gồm việc giới hạn chia sẻ thông tin giữa ngân hàng và đồng ngân hàng của nó có chứng khoán phát hành, các quy định về chia riêng nhân viên và giới hạn số chứng khoán bán cho khách hàng ngân hàng. FIRM COMMITMENT: Cam kết chắc chắn. Thoả thuận bao tiêu chứng khoán theo đó ngân hàng đầu tư mua đứt chứng khoán của nhà phát hành để cung ứng ra công chúng, còn gọi là firm commitment underwriting (cam kết chắc chắn bao tiêu). Người bao tiêu, tức là ngân hàng đầu tư như theo thoả thuận gọi như thế sẽ kiếm được lợi nhuận do chênh lệch giữa giá mua với giá đã được ấn định theo giá cạnh tranh hay giá thương lượng - và giá cung ứng cho công chúng (giá bán ra thị trường). Bao tiêu có cam kết chắc chắn khác với các thoả thuận có điều kiện để phân phối chứng khoán, trái phiếu, như cam kết ủng hộ và cam kết làm hết sức mình. Từ ngữ bao tiêu thường không dùng trong các cam kết có điều kiện như thế, nó chỉ được dùng chính xác trong bao tiêu có cam kết chắc chắn, đôi khi gọi là thoả mua. FIRM ORDER: Đặt hàng cố định Cung ứng để bán hàng hoá hay dịch vụ trong một giai đoạt quy định. Nếu người mua chấp nhận sự cung ứng trong thời gian quy định thì người bán buộc phải bán theo các điều khoản đã đưa ra. Ngược lại, nếu người mua không chấp nhận (trả lại) thì việc cung ứng của người bán không còn hiệu lực. FIRM QUOTE: Báo giá cố định Danh từ ngành chứng khoán liên quan đến giá đặt mua lố tròn hay giá cung ứng chứng khoán do người tạo thị trường (market maker) đưa ra và không đồng nhất với bản định giá danh nghĩa (hay định giá tạm thời) (nominal quote-subject quote). Theo luật lệ thực hiện của National Association of Securitises Dealer's (NASD) các bản định giá cần thương thảo hay xem xét lại nhiều hơn để đồng nhất với bản định giá danh nghĩa. FIRREA: Luật cải tổ cơ chế công ty tài chính FIRST BOARD: Bảng thứ nhất Ngày tháng giao hợp đồng futures do Chicago Board of Trade và các thị trường futures thiết lập. FIRST CALL DATE: Thời điểm có lệnh gọi thứ nhất- Thời điểm có lệnh gọi đầu tiên Ngày đầu tiên ấn định trong giao kèo của công ty hay trong hợp đồng trái phiếu đô thị theo đó một phần hay toàn bộ trái phiếu đô thị được thu hồi với giá đã ấn định. Thí dụ, trái phiếu XYZ đáo hạn năm 2010 có thể có lệnh thứ nhất vào ngày 1-5-1993, có nghĩa là nếu XYZ muốn, XYZ có thể trả dứt điểm cho cổ đông bắt đầu từ ngày tháng đó năm 1993. Các broker môi giới trái phiếu định giá các hoa lợi của trái phiếu như thế bằng cả hai hoa lợi: hoa lợi khi đáo hạn (tức năm 2010) và hoa lợi đến khi có lệnh gọi (1993). FIRST- CLASS PAPER: Chứng từ (giấy nợ) cấp cao nhất, loại 1 Cũng còn gọi là Fine paper, chi phiếu hay hối phiếu được rút ở Ngân hàng hay Trung Tâm Tài Chánh chính (trọng yếu nhất, cấp cao nhất ).% FIXED ECHANGE RATE: Tỷ giá hối đoái cố định Tỷ giá hối đoái đã định giữa tiền tệ các nước. Tại hội nghị tiền tệ quốc tế ở Bretton Woods năm 1944, một hệ thống tỷ giá hối đoái

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

25

thiết lập, hệ thống tồn tại đến thập niên 1970 khi hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi được công nhận. FIXED-INCOME INVESMENT: Đầu tư lợi tức cố định Chứng khoán trả theo tỷ lệ lợi nhuận cố định. Đó là loại công phiếu, trái phiếu công ty, đô thị trả lãi suất cố định khi đáo hạn và chứng khoán ưu đãi trả cổ tức cố định. Các đầu tư như thế thuận tiện trong thời gian lạm phát thấp, nhưng không bảo vệ sở hữu chủ chống lại việc giảm sức mua trong giai đoạn lạm phát gia tăng, bởi vì trái chủ hay cổ đông của chứng khoán ưu đãi chỉ nhận được số lãi hay cổ tức như đã ấn định trong khi giá hàng hoá tăng lên. FIXED PRICE: Giá cố định Đầu tư : trong việc phát hành chứng khoán trái phiếu mới ra công chúng, giá theo đó ngân hàng đầu tư trong nhóm bao tiêu đồng ý bán ra công chúng. Giá này duy trì cố định cho đến khi nào nhóm bao tiêu (syndicate) không còn hiệu lực nữa. Từ riêng của loại hệ thống này là hệ thống cung ứng giá cố định (fixed price offerring system). Trái lại, trái phiếu Âu Châu cũng được bán thông qua nhóm bao tiêu (underwriting syndicate - đại lý bao tiêu) nhưng được cung ứng trên cơ sở là cho phép khách hàng xét lựa chọn. Thí dụ, chênh lệch bao tiêu có thể được điều chỉnh để phù hợp với người mua cá biệt nào đó. Hợp đồng : loại hợp đồng có giá đã định trước và không thể thay đổi bất chấp giá thực tế của sản phẩm. FIXED RATE (LOAN): Tiền cho vay có lãi suất cố định Loại tiền cho vay có lãi suất không biến chuyển theo các điều kiện thị trường chung. Loại này gồm có tiền vay có thế chấp theo lãi suất cố định (fixed rate mortgage) (còn gọi là tiền vay có thế chấp thông thường conventional mortgage) và tiền vay của người tiêu thụ trả theo từng kỳ (consumer installment loan) cũng như tiền vay kinh doanh có thế chấp lãi suất cố định (fixed rate business loan). Tiền vay lãi suất cố định thường có lãi suất gốc cao hơn trên vay lãi suất linh hoạt như tiền vay thế chấp lãi suất điều chỉnh (ARM) bởi vì người cho vay không được bảo vệ khi phí tiền tệ tăng lúc họ lập lãi suất cố định tiền cho vay. FLOOR OFFICIAL: Viên chức tại sàn giao dịch Nhân viên thị trường mua bán chứng khoán, người có mặt tại hiện trường mua bán chứng khoán để dàn xếp các sự việc trong phương thức đấu giá như vấn đề về quyền ưu tiên trong việc đấu giá. Viên chức tại hiện trường thi hành các quy định ngay tại chỗ và những phán quyết của họ thường được người ta chấp nhận . FLOOR PLANNING: Hoạch định cho hàng kho Tiền vay ngân hàng dùng để tài trợ cho hàng kho của người mua bán. Người mua bán phát ra một biên nhận uỷ thác (trust receipt) cho ngân hàng và chi trả cho ngân hàng khi hàng kho được bán. Loại hoạch định này có chênh lệch lợi nhuận thấp hơn và ít được thích hơn các hình thức cho vay thương mại khác. Ngoài ra còn có rủi ro, ngân hàng phải gánh chịu mất mát tiền bạc nếu như người mua bán bán hàng hoá mà không thông báo với người cho vay (ngân hàng) đó gọi là selling out of trust. Việc tài trợ cho người mua bán loại này thường được thực hiện chỉ khi nào hàng hoá được nhiều người yêu cầu. FLOOR TlCKET: Phiếu hiện trường giao dịch Tóm tắt thông tin được đại diện có đăng ký đưa vào phiếu lệnh khi nhận được lệnh mua hay bán từ khách hàng. Phiếu hiện trường cho broker tại hiện trường những thông tin cần có để điều hành mua chứng khoán. Quy luật ngành chứng khoán quy định rõ phải có các thông tin trên phiếu hiện trường. FLOOR TRADER: Người buôn bán tại sàn giao dịch Thành viên của thị trường chứng khoán hay thị trường hàng hoá, đây là người buôn bán cho chính họ hay bằng tài khoản của riêng họ. Người buôn bán tại hiện trường phải tuân thủ luật lệ mua bán tương tự như các chuyên viên thị trường là người mua bán với tư cách đại diện cho người khác. Đừng lẫn lộn từ ngữ này với floor broker. FLOATATION COST: Giá phí thả nổi Giá phí của chứng khoán hay trái phiếu mới phát hành. Giá phí thay đổi theo số bao tiêu rủi ro và công việc phân phối cụ thể. Nó bao gồm 2 yếu tố: 1. Số bù đắp kiếm được của nhà ngân hàng đầu tư (người bao tiêu) do chênh lệch giữa giá phải trả cho nhà phát hành (công ty hay cơ quan nhà nước) và giá cung ứng ra công chúng. 2. Chi phí của nhà phát hành (dịch vụ luật pháp, kế toán, in ấn và các chi phí ngoài dự kiến) . Các nghiên cứu SEC cho biết là giá phí thả nổi của chứng khoán cao hơn trái phiếu, có nghĩa là thường thường chứng khoán được phân phối rộng rãi hơn và có nhiều bất ổn hơn đối với trái phiếu là loại thường được bán từng khối lớn cho một vài nhà đầu tư. SEC cũng nhận thấy rằng giá phí thả nổi có số phần trăm trong tổng số tiền kiếm được lớn hơn đối với

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

26

nhà phát hành nhỏ nếu so với nhà phát hành lớn hơn . Điều này là vì dịch vụ pháp lý của nhà phát hành và các chi phí khác có khuynh hướng tương đối lớn và cố định. Ngoài ra, số phát hành nhỏ thường thuộc nhà phát hành kém ổn định nên đòi hỏi nhiều chi phí để phát triển quảng bá và tiếp thị. Một chứng khoán được phát hành bao gồm đặc quyền cung ứng (right offering) thì việc bán và bao tiêu rủi ro không đáng kể do đó phí thả nổi nhỏ, đặc biệt nếu giá dưới giá (under- pricing) đáng kể. Chênh lệch bao tiêu là điểm then chốt làm giá phí thả nổi thay đổi, đóng khung từ 23,7% của tầm mức phát hành nhỏ chứng khoán thường đến mức thấp 1,25% của mệnh giá trái phiếu cấp cao. Mức chênh lệch được xác định bằng thương lượng lẫn giá đặt mua cạnh tranh. FLOW OF FUNDS: Dòng chuyến dịch của quỹ. FLOW-THROUGH: Lưu lượng trôi nổi. Từ ngữ dùng để diễn tả cái cách lợi tức, số giảm trừ và số tín dụng bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh được sử dụng như thế nào đối với thuế cá nhân và chi phí cho lợi nhuận mặc dù mỗi loại đã phải chịu trực tiếp số lợi tức và giảm trừ. FUNDS STATEMENT: Báo cáo ngân quỹ. Đây là loại báo cáo tài chánh nhằm phân tích tại sao vốn hoạt động của công ty gia tăng hay giảm đi. FUNDS TRANSFER: Chuyển ngân quỹ. 1. Chuyển ngân quỹ giữa các tài khoản có liên hệ hay cho tài khoản bên thứ ba. 2. Chuyển ngân quỹ bên ngoài giữa một tổ chức tài chánh nơi xuất phát ngân quỹ và một tổ chức tài chánh nơi nhận ngân quỹ đó. FUNGIBILITY: Tương đương như nhau. Có cùng giá trị hay chất lượng. Một chứng khoán tự do chuyển đổi với một loại chứng khoán khác và có thể dùng thay cho chứng khoán đã được mua bán thì chứng khoán có được xem là chứng khoán tương đương. FUNGIBLES: Có thể chuyến đổi - Có thể hoán đổi. Công cụ mang tay, chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá có trị giá tương đương, có thể thay thế cho nhau, có thể hoán đổi với nhau. Các hàng hoá như đậu nành hay lúa mì, cổ phần thường của cùng một công ty, giấy bạc dollar tất cả thuộc loại có thể hoán đổi. Đặc tính có thể hoán đổi với nhau của các hợp đồng option, dựa theo ngày đáo hạn thông thường và giá điểm, mà người mua và bán có thể bán tống bán tháo vị thế của họ bằng cách mua bán bù qua sớt lại thông qua công ty giao hoán thanh lý hợp đồng options (Options Clearing Corporation - công ty giao hoán và thanh lý về options). FURTHEST MONTH: Tháng xa nhất Trong mua bán hàng hoá và hợp đồng option, tháng xa nhất tính từ lúc thiết lập hợp đồng. Thí dụ, hợp đồng futures công khố phiếu có thể có những hợp đồng đang được giữ gồm hợp đồng 3, 6 và 9 tháng. Hợp đồng 9 tháng là hợp đồng có tháng xa nhất và hợp đồng 3 tháng là hợp đồng tháng gần nhất FUTURE ADVANCE: ứng trước cho tương lai Điều khoản trong thoả thuận tiền vay có thế chấp cho phép người cho vay . ứng trước ngân quỹ sau khi tiền cho vay đầu tiên đã chấm dứt và đã chi hết ngân quỹ cho số tiền vay này, mà không cần phải có chứng từ thế chấp khác hay phải thêm thế chấp. Thí dụ, hầu hết trong lãnh vực tài trợ xây dựng, tiền vay có thế chấp để xây dựng được bảo đảm bằng chính công trình xây dựng đã được tài trợ. Tiền ứng trước để xây dựng được thực hiện theo từng công đoạn xây dựng đã được ấn định theo thời khoá biểu lập trước và thường theo thứ tự ưu tiên đối với khách hàng đã liệt kê sau thời điểm hoàn tất cho vay nhưng trước khi chi thêm ngân quỹ. FUTURE DATING: Định thời điểm trong trong lai FUTURE ESTATE: Tài sản trong tương lai FUTUR INTEREST: Quyền lợi tương lai Quyền lợi trong đất đai hay tài sản cá nhân cho người giữ có quyền được . sở hữu (right of possession) mặc dù không phải là chủ sở hữu (ownership). 'Có quyền lợi" (a vested interest - quyền lợi được giao cho) mang ý nghĩa là có quyền đòi chi trả như : đòi khi trả vào một thời điểm ấn đinh, đòi chi trả số tài sản đã: uỷ thác, thí dụ - quyền lợi của công nhân trong kế hoạch hưu trí của công ty, tiền chi trả khi hưu trí. quyền lợi phụ thuộc này chỉ chuyển được chủ quyền sở hữu (ownership) khi nào có biến cố đặc biệt xảy ra thí dụ như khi người bảo trợ hay người lập ra uỷ thác chết. Xem Remainderman. FUTURES COMMISSION MERCHANT (FCM): Người mua bán hợp đồng futures để có hoa hồng Công ty hay cá nhân tham gia chào mời hay chấp nhận các lệnh mua hay bán hợp đồng futures. Người này chấp nhận lấy tiền mặt hay chứng khoán để mua bán kiếm chênh lệch (margin trading) và phải theo các luật lệ trong thị trường hợp đồng futures. FUTURES CONTRACT: Hợp đồng Futures Thoả hiệp mua và bán một số lượng đặc biệt

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

27

hàng hoá hay công cụ tài chánh với giá riêng nào đó theo ngày đáo hạn trong tương lai đã được ấn định. Giá được thiết lập giữa người mua và bán tại hiện trường thị trường hàng hoá sử dụng hệ thống la to để báo giá. (open outcry báo giá bán hay giá mua bằng cách la to lên) . Một hợp đồng futures cam kết cho người mua được mua hàng hoá làm cơ sở trong hợp đồng và người bán phải bán, trừ khi hợp đồng được bán cho người khác trước khi thiết lập ngày tháng hợp đồng, điều này xảy ra khi người mua bán muốn kiếm một lợi nhuận hay chặn đứng thua lỗ. Các hợp đồng mua bán option theo đó người mua option có thể chọn hoặc là có hay là không thực hiện option theo ngày tháng thực hiện. FUTUES MARKET: Thị trường hợp đồng futures Thị trường hàng hoá nơi hợp đồng futures được bán mua. Mỗi thị trường mua bán khác nhau những loại hợp đồng cá biệt. Các thị trường chính là Amex Commodity Exchange, The Commodity Exchange Inc (Comex), the New York Coffee, Sugar and Cocoa Exchange, The New York Cotton Exchange, The New York Mercantile Exchange và New York Futures Exchange tất cả ở New York, The Chicago Board of Trade, The International Monetary Market, the Chicago Mercantile Exchange, The Chicago Rice and Cotton Exchange và Mid America Commodity Exchange of Trade, tại thành phố Kansas, Mo ; và Minneapolis Grain Exchange tại Minneapolis. FUTURES OPTION: Hợp đồng Futures có chọn giá theo ý muốn. Hợp đồng option trên một hợp đồng future. FVO (FOR VALUATION ONLY): Chỉ để đánh giá. Chủ đề G

GOOD MONEY: Tiền có giá trị nội tại cao Ngân quỹ: quỹ liên bang, có giá trị thanh lý cùng ngày ngược lại với quỹ thanh lý nhà. Quỹ này được hiểu ngầm theo hai cách: 1. Quỹ đòi hỏi 3 ngày để thanh lý. 2. Quỹ dùng để thanh lý các giao dịch trong đó có một ngày thả nổi. Luật Gresham's: lý thuyết cho rằng tiền có giá trị nội tại cao hơn, tiền tốt sẽ dần dần được rút ra khỏi vòng lưu chuyển và thay thế bằng đồng tiền có giá trị nội tại kém hơn. GOOD-THIS- MONTH ORDER (GTM): Lệnh đến cuối tháng Lệnh mua hay bán chứng khoán trái phiếu (thường với giá giới hạn hay giá ngưng do khách hàng định) có giá trị đến cuối tháng. Trong trường hợp giá giới hạn, khách hàng chỉ thị cho broker hoặc là mua với giá giới hạn hoặc giá cao hơn. Trong trường hợp giá ngưng, khách hàng chỉ thị broker đăng ký thị một khi có một dịch vụ mua bán chứng khoán thực hiện theo giá ngừng đã ấn định. GOOD THROUGH: Lệnh suốt. Lệnh mua hay bán chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá theo giá đã ấn định trước vào thời khoảng đã định, trừ khi huỷ bỏ, thực hiện hay thay đổi. Nó là loại lệnh có giới hạn và có thể là GTW đã xác định, GTW trong thời khoảng ngắn hơn dài hơn. GOOD-TILL- CANCELED ORDER (GTC): Lệnh đến khi nào huỷ bỏ. Lệnh của khách hàng công ty môi giới để mua và bán chứng khoán, thường (chưa đánh vào) GROSS REVENUES: Tổng doanh thu của tài sán góp vốn. Tất cả doanh thu có từ hoạt động sinh lợi của các tài sản do thành viên góp vốn sở hữu. Từ ngữ Gross Revenues không bao gồm doanh thu có từ lợi tức tiền lãi hay thương vụ bán, tái tài trợ hay do bố trí khác về các tài sản thuộc thành viên góp vốn. GROSS SALES: Số bán gộp. Tổng số bán thuần theo trị giá bảng liệt kê hàng hoá, không có khấu trừ số bớt giá cho khách hàng, lợi nhuận hay tiền lãi hoặc bất cứ một điều chỉnh nào khác. Xem Net Sales. GROSS SPREAD: Chênh lệch gộp. Chênh lệch giữ giá chứng khoán cung ứng cho công chúng và giá mà nhà báo tiêu trả cho nhà phát hành. Số chênh lệch này được chia cho phí điều hành, khấu trừ của người mua bán (hay của người bao tiêu) và hoa hồng cho nhóm bán selling concession) (khấu trừ cho nhóm bán). Xem Concession, Flotation (floatation) Cost. GROSS YIELD: Hoa lợi gộp. Hoa lợi của trái phiếu trước khi trừ thuế. GROUP BANKING: Nhóm nghiệp vụ ngân hàng. Hình thức của công ty mẹ (công ty chủ quản) trong đó một nhóm quản lý có quyền kiểm soát một vài ngân hàng đang tồn tại. Mỗi ngân hàng trong nhóm có Hội đồng Quản Trị riêng, công ty chủ quản liên kết các hoạt động của tất cả các ngân hàng trong nhóm và nắm đa số chứng khoán vốn trong các ngân hàng thành viên. Xem Banker's bank, Chain Banking, lnterlocking Directorate.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

28

GROUP NET ORDER: Thứ tự thuần của nhóm. Một thứ tự được tập đoàn bao tiêu chấp nhận vì quyền lợi của tập đoàn. Các loại hoa hồng được chi trả cho thành viên tuỳ theo sự góp phần của họ trong tập đoàn bao tiêu. GROUP OF SEVEN: Nhóm G-7 . Một nhóm quốc tế hay gồm cán bộ trưởng tài chánh của 7 quốc gia công nghiệp hàng đầu, gặp nhau để liên kết chính sách kinh tế và tiền tệ. Nhóm này còn gọi là nhóm G-7 gồm Nhật, Tây Đức, Pháp, Anh, ý, Canada, và Hoa Kỳ được tổ chức năm 1986. GROUP OF TEN: Nhóm 10 Mười nước kỹ nghệ hoá chính yếu, cố gắng phối hợp tiền tệ và các chính sách tài chánh để tạo ra một hệ thống kinh tế thế giới ổn định hơn Chủ đề H

HEAVY MARKET: Thị trong nặng nề (giá đi xuống). Thị trường chứng khoán, trái phiếu hàng hoá bị rớt giá do cung ứng ồ ạt để bán nhiều hơn lệnh đặt mua. HEDGE/HEDGING: Phòng hộ giá - Bảo hộ giá. Chiến lược dùng để bù đắp lại rủi ro đầu tư. Một bảo hộ toàn hảo là một bảo hộ loại bỏ khả năng kiếm lời lẫn thua lỗ trong tương lai. Thí dụ cổ đông rất lo âu về giá chứng khoán sụt, họ có thể lập rào cản bảo hộ các chứng khoán bằng cách mua Put Option về chứng khoán hay bán call option. Một người nào đó có 100 cổ phần chứng khoán XYZ đang bán với giá $70 cổ phần, có thể bảo hộ vị thế của mình bằng cách mua put option cho phép ông ta quyền được bán 100 cổ phần với giá $70 vào bất cứ thời điểm nào trong vòng vài tháng kế tiếp. Nhà đầu tư này có thể phải trả một số tiền nào đó gọi là phí mua option để có quyền này. Nếu chứng khoán XYZ trong thời gian này bị rớt giá, nhà đầu tư có thể thực hiện option, có nghĩa là bán chứng khoán với giá $70 theo đó bảo vệ được giá $70 cho các chứng khoán XYZ. Các cổ đông cùng có chứng khoán XYZ cũng có thề bảo hộ vị thế của họ bằng cách bán Call Option. Trong việc mua bán này, ông ta bán quyền để mua chứng khoán XYZ với giá $70 cổ phần cho vài tháng tới . Đổi lại ông ta nhận được phí mua bán option. Nếu chứng khoán XYZ rớt giá, lợi tức có từ phí option sẽ bù lại khoảng rớt giá của chứng khoán. Bán khống (bán chứng khoán vay mượn) là cách khác được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật bảo hộ giá. Nhà đầu tư thường cố gắng bảo hộ giá chống lại lạm phát bằng mua tài sản vì nó tăng giá nhanh hơn lạm phát. Các công ty thương mại lớn muốn bảo đảm giá họ sẽ nhận hay chi trả một loại hàng hoá, sẽ bảo hộ vị thế của họ bằng cách mua và bán đông lúc trong thi trường hợp đông futures. Thí dụ Hershay's công ty socola sẽ bảo hộ nguồn cung cấp cacao trong thị trường hợp đồng futures để giới hạn rủi ro do giá cacao tăng lên. HEDGE CLAUSE: Điều khoán bảo hộ. Điều không được khẳng định thường thấy trong văn kiện thị trường, các bản báo cáo nghiên cứu chứng khoán hay văn bản khác phải làm để đánh giá đầu tư, nó có ý miễn cho người viết trách nhiệm về tính chính xác của thông tin có được từ nguồn đáng tin cậy. Bất chấp các điều khoản này có thể làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý, người viết vẫn có thể chịu trách nhiệm vì tính cẩu thả khi sử dụng thông tin. Ngôn ngữ điển hình cho điều khoản bảo hộ là : "thông tin được cung cấp ở đây là thông tin lấy được từ các nguồn đáng tin cậy nhưng tính xác thực thì không được đảm bảo . HEDGE FUND: Quỹ bảo hộ. Từ ngữ ngành chứng khoán dùng để mô tả quỹ hỗ tương đầu tư nào đó dùng các kỹ thuật bảo hộ. Thí dụ, quỹ Prudential-bache Option Growth đã sử dụng hợp đồng futures về chỉ số thị trường chứng khoán và bán khống với hợp đồng option chứng khoán để giới hạn rủi ro (có nghĩa "kiếm tiền trong bất cứ hoàn cảnh thị trường nào"). Xem Hedge/Hedging. HEDGE RATIO: Tỷ lệ bảo hộ giá. Tỷ lệ hợp đồng option so với hợp đồng Futures mà người mua đã mua để loại trừ rủi ro trong giao dịch mua bán. Tỷ lệ dựa trên hệ số delta của hợp đồng option. Thí dụ, nếu hợp đồng Future thay đổi $1 thì sẽ làm thay đổi phí option là $0,5, tỷ lệ sẽ là 2 hợp đồng option cho mỗi hợp đồng futures. HEDGED TENDER: Đặt giá thầu có bảo hộ. Bán khống (Selling short - bán chứng khoán vay mượn) một số lượng cổ phần đang được đặt giá thầu để bảo vệ giá không rớt trong trường hợp tất cả cổ phần này không được chấp nhận (chấp nhận theo giá đặt mua thầu). Thí dụ, công ty ABC hay công ty khác muốn mua công ty ABC tuyên bố giá đặt thầu là $52/ cổ phần khi cổ phần ABC đang bán với giá thị trường là $40. Bây giờ giá thị trường cổ phần -

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

29

ABC tăng dần bằng giá đặt thầu (giá đặt mua cao hơn giá thị trường - Tender offer) là $52. Nhà đầu tư muốn bán tất cả 2000 cổ phần với giá $52 nhưng không thể chắc chắn bán được 2000 cổ phần. Với giá đề nghị $52/ cổ phần, nhà đầu tư nghĩ rằng chắc chỉ bán được 1.000 cổ phần do đó ông ta sẽ bán khống 1.000 cổ phần được chấp nhận theo giá đó và khi giá đặt thầu hết hiệu lực (hết hạn) và giá thị trường cổ phần ABC bắt đầu rớt giá thì nhà đầu tư vẫn bán được hết 2.000 cổ phần với giá $52 hoặc là sát với giá đó. Một nửa cho người đã đặt giá thầu và một nửa thì đã bán khống. HEMLINE THEORY: Lý thuyết gấu váy cho thị trường. ý kiến kỳ quặc cho rằng giá chứng khoán biến chuyển cùng chiều hướng tổng quát như hemlines (gấu váy) của váy dài phụ nữ. Váy ngắn trong thập niên 1920 và thập niên 1960 được xem là dấu hiệu của chứng khoán tăng giá, trong khi đó váy dài trong thập niên 1930 và 1940 được xem là biểu thị giá hạ. Dù đôi lúc nó kỳ lạ như lời tiên tri, lý thuyết gấu váy phiếu như thế được lập ra cho danh mục đầu tư thiên về trái phiếu (bond-oriented portfolios) với Kicker - phần lợi thêm - của việc chuyển đổi ra chứng khoán, dự trù để bảo hộ chống lại lạm phát. HIGH RATIO LOAN: Tiền vay có tỷ lệ cao. Tiền vay có thế chấp có số lượng được người cho vay ứng trước gần bằng với trị giá tài sản đã được đánh giá. Thông thường, tỷ lệ tiền vay/trị giá tài sản thế chấp cao hơn 80% được xem là tiền vay có tỷ lệ cao. Người cho vay trong trường hợp này thường yêu cầu người vay phải có bảo hiểm tiền vay có thế chấp. HIGH-TECH STOCK: Chứng khoán công ty kỹ thuật cao. Chứng khoán của các công ty liên quan đến các lãnh vực kỹ thuật máy vi tính, bán dẫn, kỹ thuật sinh học, ngành rô-bốt, chứng khoán kỹ thuật cao thành công có lợi nhuận phát triển trên mức trung bình và vì thế giá chứng khoán rất hay thay đổi. HIGH-YLELD BOND: Trái phiếu hoa lợi cao. Trái phiếu được xếp loại BB hay thấp hơn và trả hoa lợi cao để bù đắp lại rủi ro cao. Xem Junk Bond. HIGHLY LEVERAGED TRANSACTION: Giao dịch mua bán có hỗ trợ tài chánh cao. Tiền vay ngân hàng tài trợ cho việc thụ đắc một công ty, tái tư bản hoá hay mua lại cổ phần công ty với sự hỗ trợ tài chánh (leveraged buyout - mua lại cố phần công ty để tiếp quản công ty đó với sự hỗ trợ tài chánh bên ngoài mà lúc đó việc tài trợ này dẫn đến việc số nợ của người vay tăng gấp đôi và tỷ lệ nợ/tài sản trên 50% hoặc khi người vay có tổng số nợ (kể cả chứng khoán ưu đãi) vượt quá 75% tổng số tài sản. Ngoài ra, số tiền vay có thể được lập ra với sức bật (hỗ trợ tài chánh) cao nhờ sự điều chỉnh nghiệp vụ ngân hàng hay nhờ đơn vị bao tiêu. HIGHS : Giá chứng khoán đạt giá cao mới. Chứng khoán đạt đến giá cao mới trong mua bán hằng ngày suốt 52 tuần hiện tại nó được liệt kê bằng chữ highs trong báo hằng ngày). Các nhà phân tích kỹ thuật xem tỷ lệ giữa chứng khoán có giá cao mới và chứng khoán có khung giá thấp mới trong thị trường chứng khoán là một điều rất đáng quan tâm để vạch ra các chiều hướng đầu tư trong thị trường chứng khoán. HIRE PURCHASE (HP): Đặt trước lấy sau. Một giao dịch buôn bán trong đó người mua ký thác trước (đặt cọc) số mua hàng hoá và trở thành người sở hữu khi số đối còn lại được trả (khi trả đủ số còn thiếu lại). Không giống như người mua theo tín dụng, HOLDING COMPANY AFFILIATE: Công ty nhập vào công ty chủ quản (công ty mẹ). Ngân hàng hay công ty ngoài ngân hàng thuộc sở hữu của công ty chủ quản ngân hàng hay công ty chủ quản tiết kiệm và cho vay. Các hoạt động ngoài ngân hàng như điều hành một công ty cho vay có thế chấp hay công ty con xử lý dữ kiện có thẩm quyền hoạt động nếu được quyết định là "có liên quan chặt chẽ với dịch vụ ngân hàng" và "kèm theo một sự việc đích thực" (thực sự có công việc để làm). Xem : Holding Company. HOLDING PERIOD: Thời gian lưu giữ. Khoảng thời gian một tài sản được chính phủ lưu giữ. ở Hoa Kỳ, các tài sản vốn được lưu giữ 6 tháng hay hơn nữa thì được hưởng thuế đặc biệt về vốn kiếm được. Xem Anticipated Holding Period, Investment Letter. HOLDING THE MARKET: Duy trì thị trường - lưu giữ thị trường. Tham gia thị trường bằng lệnh mua đủ để đỡ giá chứng khoán hay hàng hoá nhằm ổn định chiều hướng đang xuống. Quan điểm SEC xem "lưu giữ" là hình thức vận động bất hợp pháp, ngoại trừ trường hợp ổn định việc phát hành chứng khoán mới đã thông qua SEC trước đó bệnh viện hay bệnh xá. Bệnh xá loại này sau đó được điều hành theo hợp đồng thuê mướn bởi tổ chức không vụ lợi hay một công ty hoạt động kinh doanh như công ty bệnh viện Hoa Kỳ. Trái phiếu doanh thu bệnh viện, là một loại khác của trái phiếu phát triển công nghiệp, được miễn thuế, nhưng việc miễn thuế cũng có giới hạn. Xem Revenue Bond. HOT CARD: Thẻ ngân hàng không còn hiệu dụng. Thẻ ngân hàng không thể dùng để chi

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

30

trả, thường là vì thẻ đã được báo cáo là mất hay bị đánh cắp hay do nhà phát hành đã huỷ bỏ. . HOT ISSUE: Phát hành nóng - Trái phiếu nóng. Trái phiếu mới phát hành được đa số công chúng mua. Theo thường lệ, trái phiếu phát hành nóng tăng vọt giá trong lần phát hành đầu tiên, vì số cầu nhiều hơn số chứng khoán có sẵn. Theo luật lệ của National Association or Securities Dealers thì việc phân phối trái phiếu phát hành nóng do nhóm bao tiêu ngân hàng đầu tư thực hiện. Xem Underwrite. HOT MONEY: Tiền nóng. Quỹ đầu tư luôn thay đổi cách kiếm hoa lợi cao, ngắn hạn. Người mượn theo tiền nóng, như ngân hàng phát hành chứng chỉ ký thác có hoa lợi cao, sẽ phải bị loại bỏ ngay khi có người mượn khác trả lãi suất cao hơn. HOT STOCK: Chứng khoán nóng. 1. Chứng khoán bị đánh cắp 2. Chứng khoán mới phát hành mà giá đã nhanh chóng tăng lên. HOTS: Trái phiếu kho bạc ngắn hạn mới phát hành. Trái phiếu nóng. Tại Anh, đây là từ ngữ thân mật để chỉ Trái Phiếu Kho Bạc ngắn hạn vào ngày phát hành. HOUSE: Tự doanh - Thị trường chứng khoán London. 1. Công ty hay cá nhân tham gia kinh doanh với tư cách broker tự mình mua bán trong hoạt động ngân hàng đầu tư hay chứng khoán và các dịch vụ tương quan . 2. biệt danh của London Stock Exchange. HOUSE ACCOUNT: Tài khoản của công ty môi giới chứng khoán. Tài khoản được xử lý tại trụ sở chính của công ty môi giới hay được quản lý bởi ban điều hành của công ty. Nói cách khác tài khoản này được phân biệt với tài khoản thông thường do nhà buôn điều hành trong khu vực. Thường thì nhà buôn không nhận hoa hồng trên tài khoản của công ty môi giới mặc dù tài khoản nằm trong khu vực của họ. . HOUSE CALL: Lệnh gọi của công ty môi giới. Thông báo của công ty môi giới cho biết là vốn của khách hàng trong tài khoản vay mượn chứng khoán ở dưới mức cho phép. Nếu vốn khách hàng dưới mức này, broker phải có lệnh gọi khách hàng để nộp thêm tiền mặt hay chứng khoán. Nếu khách hàng không cung ứng theo mức chênh lệch yêu cầu, vị thế của họ sẽ bị thanh lý. Mức giới hạn của lệnh gọi công ty môi giới thường cao hơn mức của National Association of Secunties Dealers (NASD), nhóm tự điều chỉnh (self-regulatory group) và các thị trường chính có phạm vi quyền hạn vượt trên các luật lệ này. Một quy định duy trì chênh lệch như thế được bổ sung vào các quy định ban đầu về chênh lệch được thiết lập bởi đạo luật T của Hội Đồng Dự Trữ Liên Bang. Xem House Maintenance Requirement, Margin Call. HOUSE MAINTENANCE REQUIREMENT: Quy định duy trì của công ty môl giới chứng khoán. Các luật lệ thiết lập trong nội bộ và được thông qua của các công ty môi giới chứng khoán trong chứng khoán tín phiếu có liên quan đến tài khoản vay mượn chứng khoán (tài khoản margin của khách hàng) các quy định duy trì của nhà môi giới thiết lập mức độ vốn phải được duy trì để tránh gia tăng vốn thêm vào hay đem bán hết thế chấp. Mức này thường cao hơn mức NASD và thị trường chứng khoán đòi hỏi. Xem House Call, Minimum Maintenance. HOUSE OF ISSUE: Công ty bao tiêu phát hành. Công ty ngân hàng đầu tư bao tiêu việc phát hành chứng khoán hay trái phiếu và bán trái phiếu, chứng khoán ra công chúng. Xem Underwrite. HOUSE PAPER: Giấy nợ trong nhà, giấy nợ nội bộ. Hối phiếu do công ty cha hay công ty con rút ra và một công ty sát nhập (công ty con) chấp nhận. HOUSE REQUIREMENT: Quy định của công ty môi giới chứng khoán. Số lượng vốn tối thiểu mà khách hàng phải duy trì trong tài khoản Margin (tài khoản vay tiền để mua chứng khoán) tuỳ theo luật lệ của từng công ty môi giới chứng khoán (hầu hết các công ty đều có quy định duy trì cao hơn quy định nhà nước). HOUSE RULES: Luật lệ công ty môi giới. Thuật ngữ ngành chứng khoán nói về luật lệ nội bộ và các chính sách của công ty môi giới liên quan đến việc mở và điều hành tài khoản của khách hàng và các hoạt động của khách hàng trong các tài khoản như thế. Luật lệ công ty môi giới được thiết lập để bảo đảm là công ty có điều kiện thuận tiện tuân thủ các quy định của giới chức thẩm quyền về Theo luật thuế của Mỹ năm 1984, tính bình quân lợi tức được sử dụng khi lợi tức của một người trong năm hiện tại vượt quá 140% lợi tức trung bình đóng thuế trong 3 năm trước. Đạo luật Tax Reform Act of 1986 huỷ bỏ cách tính bình quân lợi tức.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

31

Chủ đề

I

INCOME BOND: Trái phiếu lợi tức. Món nợ theo đó việc chi trả lãi suất phụ thuộc vào lợi nhuận có đủ từ năm này sang năm khác. Trái phiếu như thế được mua bán phẳng (flat) có nghĩa là không có lãi suất tích luỹ - và đây thường là một cách lựa chọn khác thay vì tuyên bố phá sản . Xem : Adjustment Bond. INCOME CAPITAL CERTIFICATE (ICC): Chứng chỉ vốn có lợi tức. Công cụ tài chánh do nhà nước lập ra để giúp đỡ các tổ chức tiết kiệm đang gặp khó khăn. Các tổ chức tiết kiệm cần huy động vốn sẽ phát hành ICC cho nhà nước để đổi lấy tiền mặt hay giấy hứa trả nợ. Chứng chỉ này sẽ được thu hồi khi tổ chức tiết kiệm phục hồi lại được vốn thuần và có lại được sức mạnh tài chánh. INCOME DISTRIBUTION: Số phân phối lợi tức. Lợi nhuận trả cho nhà đầu tư trong quỹ hỗ tương đầu tư hay uỷ thác theo đơn vị. Lợi tức được phân phối theo tỷ lệ sở hữu cổ phần, tính từ tổng lợi nhuận trừ cho lệ phí quản lý và thuế. INCOME EFFECT: Hiệu quả của lợi tức. Tác động của thay đổi giá cả trên sức mua của người tiêu thụ. Khi giá của một loại sản phẩm giảm thì người tiêu thụ có lợi tức ổn định sẽ có nhiều trên hơn đế có thể chi tiêu các sản phẩm khác. Trong khi hiệu quả của lợi tức tạo nên sự phát triển trong một vài lĩnh vực thì một ngành nào đó có giá đang hạ lại kiếm được lợi nhuận kém hơn. INCOME FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư về lợi tức. Một loại quỹ hỗ tương đầu tư nhằm tìm một lợi tức hiện hành ổn định từ việc đầu tư vào các trái phiếu chi trả tiền lãi. INCOME INVESTMENT COMPANY: Công ty đầu tư kiếm lợi tức. Công ty quản trị, điều hành quỹ hỗ tương đầu tư nghiêng về kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư, những người đánh giá lợi tức sẽ phát triển thêm lên. Các quỹ này có thể đầu tư trái phiếu hay chứng khoán có cổ tức cho hay có thể viết (bán) Call Option có bảo kê bằng chứng khoán. xem lnvestment Company. INCOME LIMITED PARTNERSHIP: Tổ chức góp vốn trách nhiệm hữu hạn, nhằm kiếm lợi tức. Góp vốn trách nhiệm hữu hạn về bất động sản, dầu hoả, gas, trang thiết bị thuê mướn, mục đích là kiếm lợi tức cao, hầu hết có thể bị đánh thuế. Góp vốn như thế được lập ra là để cho các tài khoản có điều kiện để tránh thuế giống như tài khoản hưu trí cá nhân, tài khoản kế hoạch Keogh hay kế hoạch hưu trí. INCOME LIMITS: Các giới hạn của lợi tức. Mức tối đa mà các gia đình có lợi tức bình thường hay thấp có thể kiếm được, đủ để trả tiền nhà hay tiền vay có thế chấp lãi suất thấp. Mức giới hạn dựa trên tầm cỡ gia đình và địa điểm địa lý. INCOME PROPERTY: Tài sản có lợi tức. Bất động sản được mua vì nó có phát sinh ra lợi tức. Tài sản có thể trong phần góp vốn trách nhiệm hữu hạn có lợi tức, hay do cá nhân hoặc do công ty sở hữu. Người mua cũng hy vọng kiếm được lợi nhuận tư bản khi bán tài sản. INCOME PROPERTY MORTGAGE: Tiền hay có thế chấp tài sản có phát sinh lợi tức xem Conlmercial Mortgage. INCOME SHARES: Cổ phần lợi tức. Một trong hai loại hay hạng loại của chứng khoán vốn do quỹ mục đích kép (dual purpose fund) phát hành hay do công ty đầu tư phân đôi, loại kia là cổ phần vốn (catpital shares). Người giữ cổ phần lợi tức nhận cổ tức của cả hai hạng loại cổ phần, xuất phát từ lợi tức (cổ tức và lãi suất) do danh mục đầu tư mang lại, trong khi đó người giữ cổ tức tư bản (vốn) nhận lợi nhuận tư bản chi trả cho cả hai hạng loại. Cổ phần lợi tức thông thường có một bảo đảm lợi tức ít nhất, nó có tính tích luỹ. INCOME STATEMENT: Xem Profit and Loss Statement. Báo cáo lợi tức. Báo cáo tài chính cho biết tóm tắt các hoạt động tài chánh của một công ty trong một thời khoảng ấn định, kể cả lời lỗ thuần trong thời khoảng đã nêu. Báo cáo này thường có kèm theo Bản Cân Đối Tài Khoản liệt kê tài sản và nợ của công ty trong cùng thời khoảng. Báo cáo được lập hằng quý và hằng năm sau đó nộp cho SEC . INCOME STOCK: Chứng khoán lợi tức. Loại chứng khoán cấp cao (blue-chip) được mua để kiếm lợi nhuận đều đặn và lâu dài . khác vì họ có số lượng lệnh vượt quá khả năng thực hiện, hay cho các công ty không có người mua bán tại hiện trường. Những broker này được gọi là broker 2 dollars bởi vì hoa hồng của họ cho một cuộc mua bán lố tròn là bấy nhiêu. Broker độc lập được các broker kia bồi dưỡng bằng các lệ phí mà trước đây được quy định cố định nhưng nay có thể thương lượng. Xem Give Up. INDEX: Chỉ số. Phức hợp thống kê dùng để tính những biến đổi trong kinh tế hay trong thị trường tài chánh, thường được diễn tả bằng số phần trăm thay đổi dựa trên năm căn bản hay dựa vào tháng trước. Thí dụ, chỉ số giá tiêu thụ sử dụng năm 1967 làm năm căn bản, chỉ số này được thiết lập trên số hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ chính yếu, nó chuyển biến lên xuống

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

32

khi tỷ lệ lạm phát biến chuyển. Khoảng đầu thập niên 1980, chỉ số đã tăng từ 100 năm 1967 đến gần khoảng 300, có nghĩa là giỏ hàng hoá mà chỉ số dựa vào để tính đã tăng giá hơn 200% Các chỉ số cũng tính toán mức lên xuống của thị trường chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá, phản ánh giá cả thị trường và số cổ phần trong công chúng của các công ty. Một vài chỉ số nổi tiếng là chỉ số NYSE, chỉ số AMEX, chỉ số Standar & Poor's và chỉ số Value Line. Các chỉ số ít quan trọng hơn thuộc các nhóm công nghiệp như ngành đồ uống, đường sắt hay máy vi tính cũng được theo dõi. Các chỉ số thị trường chứng khoán hình thành nền tảng cho mua bán trong hợp đồng options chỉ số. Xem : Stock Indexes and Averages. INDEX ARBITRAGE: Mua và bán song hành theo chỉ số. Xem Abitrage. INDEX FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư về chỉ số. Quỹ hỗ tương đầu tư có danh mục đầu tư gắn liền với chỉ số có tầm rộng như chỉ số Standard & Poor's và vì thế các diễn biến của nó phản ảnh toàn cảnh thị trường. Nhiều nhà đầu tư thuộc tổ chức, nhất là những người tin tưởng lý thuyết năng lực thị trường, đầu tư vào quỹ chỉ số với giả định rằng việc cố gắng phá vỡ chỉ số trung bình thị trường trong suốt việc đầu tư là điều vô ích và các đầu tư của họ trong các quỹ này ít nhất cũng theo kịp thị trường. INDEX CLAUSE: Điều khoản điều chỉnh theo chỉ số. Còn gọi là điều khoản duy trì trị giá (maintenance- of-value), một điều khoản trong hợp đồng quốc tế nhằm bảo vệ các bên không bị tác động bởi biến động tỷ giá hối đoái. Điều khoản có những điều chỉnh quy định trong giá hợp đồng trong trường hợp có các thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến. INDEX OF LEADING INDICATORS: Xem Leading lndicators. Chỉ số của các biểu thị hàng đầu. INDEX OPTIONS: Hợp đồng option về chỉ số. Hợp đồng Call option và Put option về chỉ số chứng khoán. Các loại hợp đồng này được mua bán tại New York, Mỹ và ở Chicago Board Options Exchanges. Các chỉ số có tầm rộng bao gồm một phạm vị rộng lớn các công ty và các ngành công nghiệp, trong khi đó các chỉ số tầm hẹp bao gồm chứng khoán trong một ngành công nghiệp hay một khu vực của kinh tế. Hợp đồng option chỉ số cho phép nhà đầu tư mua bán trong một thị trường riêng biệt hay một nhóm công nghiệp mà không phải mua theo cá nhân tất cả chứng khoán. Thí dụ, một người nào đó nghĩ rằng chứng khoán dầu hoả sẽ rớt giá họ có thể mua một put option về chỉ số dầu thay vì bán khống cổ phần trong nửa tá công ty dầu hoả. INDEX PARTICIPATION: xem Basket. INDEXED INVESTMENT: Đầu tư theo chỉ số. Xem Gold indexed Investment, Market index deposit. INDEXING: Lập mục lục - Tính chỉ số. 1. Hướng danh mục đầu tư của một người gắn liền với chỉ số có tầm rộng như Standard & Poor's cũng như tương ứng với diễn biến của nó - hoặc mua cổ phần trong một quỹ chỉ số. 2. Kết hợp trên lương, thuế, hay các lợi suất khác với một chỉ số. Thí dụ, một hợp đồng lao động có thể yêu cầu tính chỉ số tiền lương đối với số giá tiêu thụ để bảo vệ chống lại sự thiệt hại sức mua trong thời gian lạm phát gia tăng. INDICATED YIELD: Hoa lợi được báo trước. Tỷ lệ lãi Coupon hay cổ tức theo tỷ phần trăm của giá thị trường hiện hành. Đối với chi phiếu lãi suất cố định, nó giống như hoa lợi hiện hành. Đối với chứng khoán thường, nó là giá thị trường chia cho cổ tức hằng năm. Đối với chứng khoán ưu đãi, nó là giá thị trường chia cho cổ tức theo hợp đồng. INDICATION: Sự báo hiệu. ước chừng những gì mà phạm vi mua bán của chứng khoán sẽ phải là (giá đặt mua và giá đặt bán) khi mua bán lại tiếp tục sau khi việc mua bán bị đình hoãn hay bị ngưng vì bất quân bình của các lệnh hay vì lý do khác, cũng còn gọi là thị trường được báo hiệu INSIDE MARKET: Thị trường nội bộ Bản báo giá đặt mua và giá đặt bán giữa những người mua bán cho hàng kho của nâng họ. Khác với thị trường bán lẻ, ở đây bảng báo giá là giá mà khách hàng trả cho người mua bán. Nó còn được gọi là lnterdealer Market, Wholesale Market (thị trường mua bán sỉ) . INSIDER: Người trong nội bộ. Người có cơ hội biết những tin tức then chốt (quan trọng) trước khi tin tức được thông báo ra công chúng. Thường thường từ ngữ này muốn nói đến các thành viên hội đồng quản trị, các viên chức cao cấp và các công nhân then chốt nhưng theo định nghĩa mở rộng hợp pháp thì nó cũng bao gồm cả thân nhân và những người có một vị trí có thể khai thác dự liệu trên tin tức nội bộ này. Luật pháp cấm những người trong nội bộ mua bán nhờ những hiểu biết nội bộ. INSIDER LENDING: Cho nguời trong nội bộ vay Tiền cho các giám đốc và các viên chức ngân hàng vay. Luật ngân hàng quy định rằng số tiền cho người nội bộ vay phải cùng lãi suất và

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

33

các điều khoản tín dụng như cho khách hàng vay. INSOLVENCY: Không có khả năng thanh toán. Không có khả năng trả nợ khi đáo hạn. Xem Bankruptcy. Crash Flow, Solvency. INSTALLMENT CONTRACT: Hợp đồng trả dần (trả góp). thoả thuận chi trả cho hàng hoá đã mua, số chi trả vốn và lãi được thực hiện theo từng thời khoảng kế tiếp nhau. Nó còn được gọi là Installment Sales Paper và Installment Paper (giấy nợ trả góp) . INSTALLMENT CREDIT: Tín dụng trả dần dần, trả từng kỳ. Tiền vay được chi trả lại cùng với tiền lãi số vốn vay và tiền lãi được chi trả lại theo các thời khoảng bằng nhau. Đây là loại tiền vay được trả lại dán dần cho đến hết theo một thời biểu chi trả dần đã ấn định. Loại tiền vay này được bảo đảm bằng tài sản cá nhân thí dụ tiền vay mua xe hơi - chứ không phải hàng bất động sản. bán lẻ và cung ứng thêm nhiều dịch vụ tài chánh có liên quan. Xem : Floatation Cost, Secondary Distribution, Underwrite. INVESTMENT BANKING: Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Bán và phân phối số chứng khoán mới phát hành do một đơn vị trung gian tài chánh thực hiện (tức ngân hàng đầu tư) người này mua chứng khoán (cổ phần) từ nhà phát hành dưới dạng mình là người chủ và chấp nhận rủi ro khi phân phối chứng khoán cho các nhà đầu tư. Tiến trình mua và phân phối cổ phần (chứng khoán) được gọi là bao tiêu (underwriting). Thông thường, vài ngân hàng đầu tư tham gia vào việc cung ứng (bán) cổ phần (chứng khoán), môi ngân hàng đồng ý bán một phần cổ phần đã được đề nghị đem ra bán, đổi lại họ sẽ nhận một phần lệ phí bao tiêu gọi là Spread. INVESTMENT BANKING (SECURITIES) BUSINESS: Doanh nghiệp nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Doanh nghiệp được thực hiện bởi broker, dealer hay người chuyên mua bán trái phiếu đô thị, trái phiếu nhà nước của loại trái phiếu mới phân phối, mới được bao tiêu - với tư cách là người mua bán cho chính mình hoặc mua hay bán trái phiếu theo lệnh và vì lợi ích của người khác với tư cách là người trung gian môi giới (broker). INVESTMENT CERTIFICATE: Chứng chỉ đầu tư Chứng chỉ chứng minh có đầu từ trong một hiệp hội tiết kiệm và cho vay và cho biết số tiền đầu tư. Chứng chỉ đầu tư không có quyền bỏ phiếu và không có dính líu gì đến trách nhiệm cổ đông. Nó còn được gọi là chứng chỉ vốn hỗ tương đầu tư. Xem Mutual Association. INVESTMENT CLUB: Câu lạc bộ đầu tư. Nhóm người góp chung tài sản để phối hợp các quyết định đầu tư. Mỗi thành viên của câu lạc bộ đóng góp một số vốn nhất định cộng thêm số tiền được đầu tư mỗi tháng hay mỗi quý các quyết định mua chứng khoán hay trái phiếu nào sẽ do các thành viên bỏ phiếu. Ngoài việc giúp mỗi thành viên có nhiều kiến thức hơn về đầu tư, các câu lạc bộ này giúp những người có ít tiền tham gia vào các đầu tư lớn hơn mà chỉ trả ít hoa hồng hơn. National Association of Investment Clube đóng tại Royal Oak, Michigan. INVESTMENT COMPANY: Công ty đầu tư. Công ty, có tính phí điều hành, đầu tư các quỹ góp vốn chung của các nhà đầu tư nhỏ vào chứng khoán trái phiếu tương ứng với các mục tiêu đầu tư đã đề ra. Nó cung cấp cho các người góp vốn các dịch vụ quản lý chuyên nghiệp, đa dạng hoá và linh hoạt mà nếu là cá nhân thì khó mà thực hiện được. Có hai loại công ty đầu tư cơ bản : 1. Công ty đầu tư mở rộng, thường được biết là quỹ hỗ tương đầu tư, có một số lượng cổ phần thả nổi trong công chúng (vì thế mới có tên là mở rộng) và sẵn sàng để bán hay thu hồi theo trị giá tài sản thuần hiện hành của chứng khoán trái phiếu đó. 2. Công ty đầu tư có giới hạn người tham gia (closed end) được biết với cái tên uỷ thác đầu tư, giống như công ty kinh doanh, nó có một số cổ phần cố định trong công chúng và được mua bán như chứng khoán, thường là trên các thị trường chính. -Các công ty theo kiểu mở rộng được chia ra làm hai loại, dựa trên các chính sách giá phí bổ sung. 1. Quỹ có phí (chứng khoán trái phiếu) được bán trong thị trường ngoài danh mục (thị trường không chính thức) bởi broker tự mua bán, người này không nhận hoa hồng thương vụ, thay vào đó họ cộng "phí tải" (loading fee) vào trị giá tài sản thuần vào lúc mua. Phí này tiêu biểu là 8,5% có khấu trừ cho số lượng có mức thấp 4%. Không có lấy phí khi cổ phần của quỹ được bán. .. 2. Quỹ không có phí, được các công ty bảo trợ bán trực tiếp. Các công ty như thế không tính phí tải, dù sao cũng có thu các phí nhỏ nhưng không có gì là bất bình thường. Các nhà buôn bán trong công ty đầu tư có giới hạn kiếm được doanh thu thương vụ từ số hoa hồng làm trung gian bình thường, hợp pháp. Cả hai công ty đầu tư mở rộng và giới hạn đều tính phí điều hành hàng năm, thông thường định mức từ 1/2 % đến 1%) trị giá đầu tư. Theo đạo luật

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

34

công ty đầu tư 1940, bản báo cáo đăng ký và bản quảng bá của mỗi công ty đầu tư phải cho biết các mục tiêu đầu tư đặc biệt. Theo cơ bản, các công ty được xếp loại như sau : quỹ chứng khoán thường đa loại hoá, quy cân đối (bao gồm trái phiếu chứng khoán thường, chứng khoán ưu đãi), quỹ chứng khoán ưu đãi và trái phiếu (có đặc điểm lợi tức cố định), quỹ đặc biệt (trong ngành công nghiệp, nhóm công nghiệp, tầm cỡ (công ty), quỹ lợi tức (chứng khoán trái phiếu có hoa lợi cao), quỹ hiệu suất (performance fund) (chứng khoán phát triển) ; quỹ mục tiêu kép (một hình thức của công ty có giới hạn cho người ta cơ hội chọn lựa hoặc là cổ phần có cổ tức hay cổ phần tư bản kiếm được) và quỹ thị trường tiền tệ (các công cụ thị trường tiền tệ). INVESTMENT COUNSEL: Cố vấn đầu tư Người có trách nhiệm cung cấp tư vấn cho khách hàng và điều hành các quyết định đầu tư. Xern Portfoho Manager. INVESTMENT CREDIT: Tín dụng đầu tư Sự gia giảm trong nợ thuế lợi tức qua nhiều năm do nhà nước cho phép đối với các công ty thực hiện các đầu tư mới trong các hạng loại tài sản nào đó, cho trang thiết bị ban đầu. Nó ,cũng gọi là tín dụng thuế đầu tư. Tín dụng đầu tư được thiết lập để khuyến khích kinh tế bằng cách tăng cường chi tiêu tư bản, kể từ 1960 nó là một đặc điểm của luật thuế lúc có lúc không. Vì số phần trăm cũng thay đổi. Năm 1985 số phần trăm là 6% hay l0% của giá mua, tuỳ thuộc vào thời gian tồn tại của tài sản. Giống như tín dụng, tín dụng đầu tư được khấu trừ từ hoá đơn thuế chứ không từ lợi tức trước khi đánh thuế: và độc lập với trị giá giảm theo thời gian (khấu hao). Đạo luật Tax Reform Act or 1986 thường huỷ bỏ tín dụng đầu tư có hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) cho các tài sản đã thực hiện sau ngày 1-1- 1986 . Đạo luật 1986 cũng cho phép gia giảm 35% trị giá tín dụng mang sang từ những năm trước. INVESTMENT GRADE: Cấp độ đầu tư Trái phiếu được đánh giá từ hạng AAA đến BBB. Xem Junk Bond. INVESTMENT HISTORY: Trong quá trình đầu tư Nội dung kinh nghiệm có từ trước, lập nên "thông lệ đầu tư" liên quan đến tầm quan trọng của mối liên hệ giữa công ty và khách hàng. Thí dụ, luật lệ thực hiện công bằng của NASD cấm bán chứng khoán trái phiếu mới cho thành viện trong gia đình của người buôn bán đang phân phối, nhưng nếu có đủ tiền trong quá trình đầu tư trong đó có mối liên hệ đặc biệt giữa người buôn bán và khách hàng, thì thương vụ trên không vi phạm luật pháp. INVESTMENT IN PROPERTIES: Đầu tư trong tài sản. Số đóng góp vốn thực tế được chi trả hay phân bổ vào các tài sản mua, phát triển, xây dựng hoặc cải thiện theo quy định của chương trình. Số lượng có sẵn cho đầu tư tương đương tổng số tiền thu được đã được huy động trừ cho lệ phí ban đầu chỉ chi một lần) (front-end fees). INVESTMENT INCENTIVE: Phần khuyến khích cho đầu tư. Trợ cấp tài chánh, ưu đãi thuế hay giảm bớt luật lệ quy định với ý định khuyến khích đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Trong ngoại thương, các quốc gia thường dùng các phần khuyến khích cho nhà đầu tư nước ngoài để thiết lập các nhà máy sản xuất làm tăng lợi tức xuất khẩu. Nhưng du lịch thì ngoài lệ nếu có phần khuyến khích thì cũng có ít chỉ dành cho các ngành phục vụ du lịch, ngành này sử dụng (tiêu thụ) nhiều vốn nội địa hơn là chúng có. INVESTMENT INCOME: Lợi tức đầu tư Lợi tức từ chứng khoán trái phiếu và các đầu tư khác ngoài kinh doanh; như cổ tức, tiền lãi chênh lệch về hợp đồng option, lợi tức từ tác quyền hay trợ cấp hàng năm (annuity), và lợi nhuận tư bản trên chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option, future kim loại quý. Theo đạo luật Tax Reform Act or 1986 tiền lãi trên tài khoản vay chứng khoán để bán có thể được dùng để bù vào lợi tức đầu tư mà không có giới hạn. Lợi tức đầu tư kiếm được do các hoạt động thụ động không được tính theo các lợi tức thụ động khác. Lợi tức đầu tư còn gọi là lợi tức thực tế chưa có (unearned income) và lợi tức theo danh mục đầu tư (Portfolio income). INVESTMENT LETTER: Thư có chủ định đầu tư: Mua bán riêng chứng khoán mới, thư khẳng định (letter of intent) giữa nhà phát hành chứng khoán và người mua được thiết lập để nói rằng chứng khoán hiện đang được mua dưới dạng đầu tư chứ không phải mua để bán lại. Đây là điều cần thiết nhằm tránh đăng ký chứng khoán với SEC (theo các điều khoản của SEC: Điều 144, người mua chứng khoán như thế rốt cuộc có thể bán lại chứng khoán cho công chúng nếu như hội đủ các điều kiện đặc trưng, kể cả phải có một thời gian lưu giữ ít nhất là 2 năm). Sự sử dụng thư chủ định đầu tư làm phát sinh ra các từ ngữ : chứng khoán thư và trái phiếu thư ám chỉ các chứng khoán trái phiếu không đăng ký. Xem : Letter Security. INVESTMENT MANAGER: Nhà quản lý đầu tư: Cũng còn gọi là nhà quản lý quỹ, một người quản lý quỹ đầu tư như là quỹ hưu trí hay quỹ hỗ tương đầu tư. Nhà quản lý sẽ xác định các tiêu chuẩn đầu tư thí dụ như hoa lợi cao hay phát triển đều đặn.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

35

INVESTMENT PERFORMANCE REQUIREMENTS (IPR): Các quy định thực hiện đầu tư: Các điều kiện đặt ra cho đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Một quốc gia có thể quy định rằng nhà đầu tư nước ngoài đồng ý trước là sẽ đầu tư theo một số tối thiểu tiền tệ mạnh, tuân thủ các luật lệ có trong nước chủ nhà hoặc cung cấp một số phần trăm cố định công việc cho nước chủ nhà. IPR được xem là phần đổi lại của một quốc gia đã đầu tư vốn vào hạ tầng cơ sở và các phương tiện hoạt động kinh doanh. Đối với ngoại thương, IPR là một loại rào cản không sử dụng quan thuế biểu, nhưng nó được nhiều quốc gia sử dụng đến. INVESTMENT SECURITIES: Chứng khoán đầu tư: Chứng khoán dễ mua bán do ngân hàng giữ trong danh mục đầu tư của tài khoản trong bản cân đối tài khoản. Chứng khoán đầu tư cùng với số tiền cho vay là nguồn chính yếu của lợi nhuận ngân hàng, và thường có 2 chức năng then chốt : là nguồn thanh toán của ngân hàng hay là nguồn ngân quỹ để thoả mãn nhu cầu tiền vay hoặc nhu cầu tiền mặt của khách hàng và là nguồn bổ sung lợi nhuận từ số tư bản kiếm được cụ thể khi đem bán chứng khoán. Chứng khoán ở cấp độ đầu tư của ngân hàng có thể được chấp nhận làm thế chấp để đáp ứng các quy định bảo đảm về số dự trữ phải lưu giữ. Chứng khoán đầu tư của ngân hàng được tính như trị giá sổ sách (kế toán) được chi trả dần hay giá phí mua ban đầu trừ cho số chi trả dần hoặc số bù dần vào mệnh giá. Tài sản trong tài khoản mua bán được tách riêng khỏi danh mục đầu tư chứng khoán đầu tư và các chứng khoán khác mà ngân hàng có đủ điều kiện để bao tiêu và bán lại cho công chúng hay tổ chức tài chánh và cũng tách rời khỏi chứng khoán được lưu giữ theo thoả thuận mua lại. Tài sản trong danh mục đầu tư mua bán được điều chỉnh theo trị giá thị trường hằng ngày. Xem Barbell Portfolio, Bond Swap, Laddered Portfolio. INVESTMENT SERVICE BUREAU: Văn phòng dịch vụ cho nhà đầu tư: Dịch vụ công cộng của NYSE nhằm đáp ứng thư tra vấn về tất cả các loại đầu tư có liên quan đến chứng khoán trái phiếu. INVESTMENT SERVICE CENTER (ISC): Trung tâm dịch vụ đầu tư: Còn gọi là Trung Tâm Đầu Tư, một cơ quan được thiết lập trong một quốc gia đang phát triển để xử lý các đơn xin đầu tư của nước ngoài trong các dự án hay các phương tiện trong nước. Trong một vài quốc gia, ISC có thể cấp giấy cho phép nhập khẩu và đầu tư nhưng thẩm quyền của Trung Tâm thường bị giới hạn theo các yêu cầu thông thường. INVESTMENT STRATEGY: Sách lược đầu tư: Lập kế hoạch phân bố tài sản giữa các lựa chọn như chứng khoán, trái phiếu, những chứng cụ tương đương tiền mặt và bất động sản. Một sách lược đầu tư phải được vạch ra dựa trên quan điểm của nhà đầu tư về lãi suất, lạm phát, phát triển kinh tế và các yếu tố khác, cũng phải kể đến tuổi tác nhà đầu tư, sức chịu đựng rủi ro, số tư bản(vốn) có sẵn để đầu tư và nhu cầu tương lai cho tư bản như tài trợ cho việc giáo dục cấp trung học cho con cái hay mua một căn nhà. Nhà tư vấn đầu tư sẽ giúp nghĩ ra một sách lược như thế. Xem Investment Advisory Service. INVESTMENT STRATEGY COMMITTEE: Uỷ ban sách lược đầu tư: Uỷ ban trong phòng nghiên cứu của công ty môi giới. Uỷ ban thiết lập toàn bộ sách lược đầu tư mà công ty sẽ giới thiệu đến khách hàng. Giám đốc nghiên cứu, nhà kinh tế chủ chốt và vài nhà phân tích hàng đầu đều có chân trong uỷ ban này. Nhóm sẽ tư vấn cho khách hàng về số lượng tiền đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hay các công cụ tương đương tiền mặt, cũng như những nhóm công nghiệp, chứng khoán cá nhân hay trái phiếu có vẻ hấp dẫn cá biệt. INVESTMENT TAX CREDIT: Tín dụng thuế đầu tư. Xem Investment Credit. INVESTMENT TRUST: Uỷ thác đầu tư. Xem Investment Company. INVESTMENT VALUE OF A CONVERTIBLE SECURITY: Trị giá đầu tư của một chứng khoán khả hoán. Giá ước tính theo đó chứng khoán khả hoán sẽ được định giá bởi thị trường nếu nó không có đặc điểm khả hoán. Trị giá đầu tư chứng khoán khả hoán của công ty được xác định bởi các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư và theo lý thuyết sẽ không bao giờ thấp hơn giá của chứng khoán đã nói. Người ta tính được trị giá này bằng cách ước tính giá bán của trái phiếu bất khả hoán (thẳng straight) hay cổ phần ưu đãi của cùng công ty phát hành. Trị giá đầu tư phản ánh lãi suất vì thế thị trường của chứng khoán tăng khi lãi suất hạ và ngược lại. Xem Premium Over Bond Value. INVESTOR RELATIONS DEPARTMENT: Phòng quan hệ với nhà đầu tư Trong các công ty quan trọng đã liệt kê, đây là vị trí của một ban chịu trách nhiệm về các quan hệ với nhà đầu tư và báo cáo đến trưởng phòng tài chánh hay giám đốc ngoại giao (giám đốc về quan hệ bên ngoài). Nhiệm vụ thực tế có thể thay đổi tuỳ vào công ty có giữ được mối quan hệ chung về tài chánh bên ngoài hay không. Các trách nhiệm tổng quát như sau : -Để biết rằng công ty được thông hiểu, trong phạm vi hoạt động và mục tiêu của công ty và được xem như có thuận lợi trong thị trường tài chánh và tư bản, điều này có nghĩa là phải có

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

36

dữ liệu đưa vào bản báo cáo hàng năm và cho các tài liệu phát hành khác, phối hợp các diễn văn của ban điều hành cấp cao và các báo cáo chung với nỗ lực tạo quan hệ với cộng đồng tài chánh và thường xuyên tăng cường tính nhất quán và tạo hình tượng một công ty tích cực. -Để đảm bảo đầy đủ và đúng thời điểm các thông tin tài liệu cho dân chúng biết và làm việc với ban pháp chế trong việc tuân thủ Chủ đề J

JUNIOR MORTGAGE: Thế chấp cấp thấp (về thứ tự) Thế chấp có giá trị thứ tự thấp hơn các thế chấp khác. Thí dụ thế chấp cấp 2, cấp 3. Nếu người nợ bị vỡ nợ, thế chấp cấp 1 sẽ được giải quyết trước rồi mới đến thế chấp cấp thấp. JUNIOR REFUNDING: Chi trả bằng trái phiếu mới. Chi trả hoàn lại nợ nhà nước có đáo hạn từ 1- 5 năm bằng cách phát hành trái phiếu mới có đáo hạn từ 5 năm trở lên. JUNIOR SECURITY: Chứng khoán cấp thấp (về thứ tự). Chứng khoán có quyền ưu tiên thấp hơn chứng khoán cấp cao trong việc đòi tài sản hay lợi tức. Thí dụ, chứng khoán ưu đãi thì ưu tiên sau giấy nợ, nhưng giấy nợ - một loại trái phiếu không bảo đảm lại thấp hơn trái phiếu thế chấp. Chứng khoán thường thì lại thấp hơn tất cả chứng khoán công ty. Một vài công ty như công ty tài chánh có chứng khoán trái phiếu thấp hơn cấp cao (trung cao) và thấp hơn cấp thấp, cái trước ưu tiên hơn cái sau nhưng cả hai thấp hơn nợ cấp cao. JUNK BOND: Trái phiếu cấp thấp về giá trị. Trái phiếu có giá trị tín dụng xếp loại BB hay dưới BB do các cơ quan đánh giá xếp loại. Mặc dù đã được sử dụng thông thường nhưng từ này làm người ta liên tưởng đến một nghĩ xấu nên các nhà phát hành và người sở hữu thích dùng từ trái phiếu hoa lợi cao hơn là dùng từ trên. Các trái phiếu giá trị cấp thấp được phát hành bởi các công ty không có các bảng ghi nhận theo dõi lâu dài về thương vụ và lợi nhuận hay bởi các công ty có khả năng tín dụng có vấn đề. Nó là phương tiện thông thường của việc tài trợ để mua đứt công ty khác. Vì nó có nhiều bất ổn và trả hoa lợi cao hơn trái phiếu cấp độ đầu tư, nên nhiều nhà đầu tư các chứng phiếu nhiều rủi ro đặc biệt chú tâm mua bán trái phiếu này. Các tổ chức có những trách nhiệm về uỷ thác tài sản (fiduciary) không được đầu tư vào loại trái phiếu này (are regulated). Xem Fallen Angels. JURISDICTION: Pháp quyền, phạm vi quyền hạn. Được American Bankers association định nghĩa là "quyền pháp định, quyền hay thẩm quyền nghe và quyết định một vụ kiện, như quyền hạn của toà án". Từ này thường được đề cập trong các cuộc tranh cãi về tài chánh và đầu tư có liên quan đến phạm vi quyền hạn của các giới chức khác nhau có quyền quy định trên lãnh vực này. Thí dụ, hội đồng dự trữ liên bang, không phải SEC (như người ta tưởng) có quyền hạn trong vụ kiện Chủ đề K

KEY MANAGEMENT: Quản lý bộ khoá (mã số). Trong tiến trình xử lý dữ kiện và chuyển ngân quỹ bằng điện tử, đây là việc kiểm soát mã số nhận dạng độc nhất cho mỗi tổ chức tài chánh trong mạng lưới. Ngân hàng không bao giờ chuyển bộ khoá rõ ràng - vì như vậy thì coi như không được mã hoá, nên sẽ dùng công thức mã hoá được chấp nhận chung để ngăn ngừa những việc không được giao cho thẩm quyền . Các ngân hàng thay đổi mã số từng thời kỳ gọi là bộ khoá của nhà phát hành (keys) vì lý do an toàn. KEY RATE: Lãi suất then chốt. Lãi suất kiểm tra trực tiếp hay gián tiếp lãi suất cho vay của ngân hàng và giá phí tín dụng mà người vay phải trả. KEY RATIO: Tỷ lệ then chốt. Tỷ lệ do nhà phân tích tài chánh dùng để đánh giá bản báo cáo tình trạng tài chánh và lợi tức của ngân hàng. Các tỷ lệ được xác định bao gồm: tỷ lệ vốn/ tài sản ; tỷ lệ số dự trữ cho tiền cho vay bị mất/ tổng số tiền cho vay ; tỷ lệ thanh toán và tỷ lệ thực hiện như tỷ lệ lợi nhuận / tài sản (ROA - Return on Assets), lợi nhuận / vốn cổ đông (ROE- Return on Equity) và tỷ lệ lợi nhuận của mỗi cổ phần. Tỷ lệ then chốt là một biểu thị tổng quát cho ta biết diễn biến hoạt động của ngân hàng và có thể đem so sánh với số liệu năm trước. KEYNESIAN ECONOMICS: Kinh tế theo phái Keynes. Nội dung tư tưởng kinh tế xuất phát từ nhà kinh tế học người Anh và là nhà cố vấn nhà nước John Maynard Keynes (1883-1946), tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt, The General Theory of Employment Interest anh

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

37

Money, được xuất bản năm 1935. Viết suốt thời kỳ đại khủng khoảng, Keynes tin rằng sự can thiệp tích cực của nhà nước trong thị trường là phương pháp duy nhất để bảo đảm kinh tế phát triển và ổn định. Ông ta giữ lập luận cơ bản là số cầu không đủ sẽ gây ra nạn thất nghiệp và số cầu quá mức gây ra lạm phát. Vì thế nhà nước sẽ phải tác động lôi kéo mức độ của toàn thể số cầu bằng cách điều chỉnh mức chi tiêu của nhà nước và thuế khoá. Thí dụ, để tránh giảm phát Keynes ủng hộ gia tăng chi phí nhà nước và có chính sách tháo khoán tiền tệ (easy money) sẽ đưa đến kết quả là có nhiều đầu tư hơn, công ăn việc làm nhiều hơn và gia tăng tiêu thụ. Kinh tế theo phái Keynes đã có ảnh hưởng rất lớn đối với các chính sách kinh tế chung của các quốc gia công nghiệp, kể cả Mỹ. Tuy nhiên trong thập niên 1980 sau các giai đoạn suy thoái liên tục, phát triển chậm, tỷ lệ lạm phát cao tại Mỹ, người ta có một quan điểm ngược lại, các nhà chủ trương chính sách tiền tệ và phái cung cấp (supply siders) đã buộc tội việc can thiệp quá mức của nhà nước đã gây ra những rắc rối cho nền kinh tế. Xem Aggregate Supply, Laisser-Faire, Macroeconomics, Monetarist, Supply-side Economics. KICKBACK: Tiền đút lót, tiền cò. Tài chánh: cách thực hiện theo đó các công ty thương vụ tài chánh thưởng cho những người buôn bán bằng tiền mặt, những người đã giảm giá chứng từ mua trả góp thông qua họ. Nhà nước và các hợp đồng tư : người bán chi trả bí mật cho một người nào đó có công trong việc đưa cho hợp đồng hay thực hiện một thương vụ - đây là tiền đút lót bất hợp pháp. Quan hệ lao động : việc làm bất hợp pháp theo đó người chủ đòi chi lại phần trăm tiền lương đã được luật pháp hay hợp đồng công đoàn lao động quy định, nếu công nhân còn muốn tiếp tục làm việc. KICKER: Tác nhân khuyến khích. Đặc điểm thêm vào cam kết nợ thường lập ra để tăng cường tính thị trường, bằng cách cung cấp triển vọng góp vốn cổ đông. Thí dụ, trái phiếu có thể chuyển đổi thành chứng khoán nếu cổ phần đạt đến mức giá nào đó. Điều này làm cho trái phiếu hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư bởi vì trái chủ có tiềm năng hưởng lợi ích an toàn vốn cổ đông cộng thêm tiền chi trả lãi. Ngoài ra, đặc điểm này là có được những đặc quyền và chứng chỉ ưu tiên mua chứng khoán. Vài loại tiền cho vay có thế chấp cũng có những đặc điểm khuyến khích này dưới dạng tham gia sở hữu dưới hình thức phần trăm thu nhập ròng (Tổng thu nhập) Kickers (đặc điểm khuyến khích) còn được gọi là Sweeteners. KILLER BEES: Người bảo vệ kẻ yếu. Những người giúp đỡ công ty tự vệ chống lại các nỗ lực muốn tiếm quyền của một công ty khác (takeover bid - đặt giá mua cao hơn giá thị trường nhằm tiếm quyền công ty kia). Killer Bees thường là những ngân hàng đầu tư lập ra các sách lược nhằm làm cho mục tiêu tiếm quyền trở nên kém hấp dẫn hay khó mà thụ đắc. KITING: Mánh khoé (tài chánh) thả bổng, nâng trị giá. Hoạt động ngân hàng thương mại : 1. Ký thác và rút chi phiếu trong các tài khoản tại hai hay nhiều ngân hàng, theo đó hưởng được lợi thế thả nổi, có nghĩa là, hưởng được khoảng thời gian ngân hàng ký thác thu tiền từ ngân hàng chi trả. 2. Lừa đảo bằng cách thay đổi các con số trên chi phiếu để tăng mệnh giá chi phiếu. Chứng khoán trái phiếu : kéo giá chứng khoán lên mức cao bằng những phương pháp mua bán theo mánh khoé lôi kéo (vận động). Chủ đề L

LAST TRADING DAY : Ngày mua bán sau cùng. Ngày mua bán cuối cùng, trong ngày này một hợp đồng future có thể được thanh toán. Nếu hợp đồng không được bù trừ thì hoặc là một thoả hiệp giữa bên mua và bên bán phải được thoả thuận hoặc là hàng hoá vật chất phải được người bán giao cho người mua. LATE CHARGE: Phí phạt do chậm trả. Tiền phạt do chi trả chậm tiền vay có thế chấp hay tiền vay chi trả từng kỳ sau khi đã hết thời gian gia hạn. Lệ phí phạt do trả chậm được tính theo số phần trăm của số cân đối chưa trả (số nợ chưa trả) và nếu không được trả thì không thể cộng vào số nợ lãi của tiền vay (Tính riêng ra). LATE TAPE: Lên bảng chậm. Chậm lên màn hình các biến chuyển giá vì việc mua bán trên một thị trường chứng khoán đặc biệt quá bề bộn. Nếu trên màn hình chậm hơn 5 phút thì con số đầu tiên của một giá sẽ bị xoá bỏ. Thí dụ, mua bán với giá 62 3/4 được báo cáo là 2 3/4. Xem Digit Deleted. LATENT DEFECT: Khuyết điểm tiềm ẩn. Tình trạng không hoàn hảo của bản chất, đặc tính sản xuất hay cấu trúc của một sản phẩm làm cho việc kiểm nhận chuyên sâu, hợp lý không

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

38

thể thực hiện rõ ràng được. LAUNDERED MONEY: Tiền được tẩy. Xem Money Laundering. LAW OF ONE PRICE: Quy luật một giá. Lý thuyết kinh tế cho rằng sự cạnh tranh làm cân bằng giá cả của các sản phẩm giống hệt nhau, được bán trong các quốc gia khác nhau khi loại bỏ hàng rào mậu dịch và không tính giá phí vận chuyển. Quy luật một giá là tiền đề căn bản của lý thuyết mậu dịch tự do. LAY OFF: Làm giảm rủi ro - Giãn công nhân. Ngân hàng đầu tư: làm giảm rủi ro trong cam kết hỗ trợ theo đó nhà ngân hàng đồng ý mua và bán lại cho công chúng bất cứ phần nào của chứng khoán phát hành không được cổ đông, những người đang giữ quyền mua, đăng ký đặt mua. Rủi ro này là trị giá thị trường sẽ hạ trong suốt từ 2 đến 4 tuần khi cổ đông đang quyết định thực hiện hay bán các quyền của họ hay không. Để giảm thiểu tối đa rủi ro, nhà ngân hàng đầu tư : 1. Mua tất cả các quyền đang đem bán, cùng lúc đó bán các cổ phần tiêu biểu cho các quyền này. 2. Bán khống một số lượng cổ phần tương đương với các quyền có thể là không muốn thực hiện - tiêu biểu có thể lên đến 1/2% số phát hành. Nó còn gọi là Laying Off. Lao động: không ghi tên công nhân trong bảng lương một thời gian dài hay tạm thời vì kinh tế đang xuống hay sản xuất bị cắt bớt chứ không phải do họ làm việc yếu hay vi phạm các quy định của công ty. LEAD BANK: Ngân hàng chủ trì. 1 Ngân hàng trù liệu, sắp xếp một nhóm cho vay (loan syndication), trong đó có một số ngân hàng mua phần tham gia cho mình. Ngân hàng chủ trì sẽ thu lệ phí quản lý cho việc tập hợp nhóm cho vay và trù liệu các điều khoản tài trợ. Trong thị trường trái phiếu Châu âu, ngân hàng hoạt động như một đơn vị trung gian cho các thành viên trong tập đoàn (hay nhóm) bao tiêu. 2. Ngân hàng đầu tư quản lý việc bao tiêu chứng khoán. Nó còn gọi là nhà quản lý hàng đầu hay nhà bao tiêu quản lý. LEADER: Hàng đầu. 1 Chứng khoán hay các nhóm chứng khoán ở tuyến đầu trong một thị trường đang vọt lên hay rớt xuống. Tiêu biểu là các chứng khoán tuyến đầu được các tổ chức mua hay bán thật mạnh vì họ muốn chứng tỏ vai trò lãnh đạo của họ trong thị trường thuộc ngành của họ. 2 Sản phẩm có nhiều cổ phần trong nhiều thị trường. LEADING INDICATORS: Các biểu thị hàng đầu. Thành tố của chỉ số được Commerce Department's Bureau of Economic Analysis Mỹ phát ra hằng tháng. Năm 1985 số thành tố là số trung bình tuần lễ làm việc của các công nhân sản xuất, số trung bình hàng tuần của các trái quyền (quyền được hưởng chi trả) về bảo hiểm thất nghiệp, những lệnh mới đặt hàng tiêu thụ và nguyên vật liệu; hiệu suất bên bán (các công ty nhận cung ứng từ từ chậm dần từ bên cung cấp) ; thành lập kinh doanh thuần (net business formation), các hợp đồng về nhà máy và trang thiết bị, các giấy phép xây dựng mới, các thay đổi hàng kho, các giá nguyên vật liệu dễ thay đổi, giá chứng khoán, nguồn cung cấp tiền tệ (M2) và số vay mượn kinh doanh, tiêu thụ. Chỉ số của các biểu thị hàng đầu, có các thành tố chỉ số được điều chỉnh theo lạm phát, dự đoán rõ ràng sự lên lên xuống xuống của chu kỳ kinh doanh. LIMIT ORDER: Lệnh giới hạn. Lệnh mua hay bán chứng khoán theo giá ấn định hay giá tốt hơn, broker sẽ thực hiện việc mua bán trong một giới hạn giá. Thí dụ, khách hàng đặt lệnh giới hạn mua chứng khoán công ty XYZ với giá 30 khi chứng khoán đang bán giá 32. Dù giá chứng khoán là 30 1/8 broker sẽ không thực hiện việc mua bán. Tương tự, nếu khách hàng đặt lệnh giới hạn bán chứng khoán XYZ với giá 33 khi giá hiện tại là 31, broker cũng không thực hiện mua bán cho đến khi giá chứng khoán là 33. LIMIT ORDER INFORMATION SYSTEM: Hệ thống thông tin lệnh giới hạn. Hệ thống điện tử thông báo tin tức cho những người đăng ký các chứng khoán trái phiếu đã được mua bán trên các thị trường hiện hành nơi họ mua bán , cho biết về chuyên gia mua bán, số lượng các lệnh, giá đặt bán và giá đặt mua. Điều này giúp cho những người đăng ký mua được giá thích hợp nhất. LIMIT PRICE: Giá có giới hạn. Giá trong lệnh có giới hạn. Thí dụ một khách hàng có thể đặt ra một lệnh có giới hạn để bán cổ phần với giá 45 hay mua với giá 40. Broker sẽ thực hiện lệnh theo giá có giới hạn này hay giá tốt hơn (bán từ 45 trở lên, mua từ 40 trở xuống). LIMIT UP, LIMIT DOWN: Giới hạn cao nhất - thấp nhất Biến chuyển giá tối đa được cho

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

39

phép trong hợp đồng futures hàng hoá trong suốt một ngày mua bán. Trong trường hợp cá biệt thị trường biến chuyển mạnh, giá hợp đồng futures có thể tăng đến mức giới hạn tối đa hay hạ đến mức tối đa trong khoảng thời gian vài ngày liên tiếp. LIMITED COMPANY: Công ty hữu hạn. Hình thức kinh doanh thông dụng nhất ở Anh, công ty đăng ký theo đạo luật công ty có thể so sánh với tổng công ty (incorporation - liên hiệp công ty) theo đạo luật tiểu bang ở Mỹ. Viết tắt : Ltd hay PLC. LIMITED DISCRETION : Tự do quyết định có giới hạn. Thoả hiệp giữa broker và khách hàng cho phép broker thực hiện một số mua bán nào đó mà không cần hỏi ý kiến khách hàng - Thí dụ, bán một vị thế hợp đồng option đến ngày đáo hạn hay bán một chứng khoán vừa mới có tin không thuận lợi. LIMITED PARTNERSHIP: Góp phần (vốn) có trách nhiệm giới hạn về nợ và quyền hạn (góp vốn trách nhiệm hữu hạn). Tổ chức được thành lập bởi tổng thành viên góp vốn (General Partner), người quản lý một dự án và những thành viên góp vốn, người đầu tư tiền bạc nhưng có trách nhiệm hữu hạn về nợ và không tham gia vào việc điều hành quản lý hằng ngày và thường không thể thua lỗ hơn số vốn mà họ đóng góp. Thường thường thành viên góp vốn nhận lợi tức tư bản kiếm được, lợi thế về thuế ; còn tổng thành viên thì thu phí theo số phần trăm tư bản kiếm được và lợi tức. Góp vốn trách nhiệm hữu hạn nằm trong lãnh vực thuê mướn bất động sản, dầu hoả và gas, trang thiết bị nhưng nó cũng có ở ngành tài chánh công nghiệp điện ảnh, nghiên cứu và phát triển, và các dự án khác. Góp vốn trách nhiệm hữu hạn công cộng được bán thông qua công ty môi giới với đầu tư tối thiểu $5.000, trong khi góp vốn trách nhiệm hữu hạn tư nhân tập hợp với nhau khoảng dưới 35 thành viên, mỗi thành viên đầu tư hơn $20.000. Xem : Income Limited Partnership, Master Limited Partnership, Oil and Gas Limited Partnership, Passive, Research and Development Limited Partnership, Unleveraged Program. LIMITED PRINCIPAL: Chuyên viên trọng yếu (người tạo thị trường) có trách nhiệm hữu hạn, trong các lãnh vực đặc biệt. Người đã qua kỳ thi khả năng chuyên môn để được chứng nhận có đủ kiến thức và chuyên môn tư vấn công việc kinh doanh của một hội viên trong một hay nhiều lãnh vực chuyên môn cao đặc biệt (có giới hạn từng khu vực. Nếu chuyên viên trọng yếu trong lãnh vực đặc biệt muốn có vai trò chức năng trong một hay nhiều lãnh vực chuyên môn tổng quát dành cho tổng chuyên viên trọng yếu về chứng khoán thì họ phải được LIQUIDITY PREFERENCE THEORY: Lý thuyết ưu tiên cho khả năng thanh toán tiền mặt. Lý thuyết thích tiền mặt. Theo lý thuyết phái Keynes thì nhà đầu tư mong muốn giữ tiền bằng tài sản lưu động (tài sản dễ chuyển đổi ra tiền mặt) thí dụ như tài khoản chi phiếuhơn là giữ tiền trong tài sản không linh hoạt (khó chuyển ra tiền mặt) (thí dụ như chứng khoán, trái phiếu, bất động sản). Việc ưa thích này được giải thích bằng: 1. Động cơ thúc đẩy giao dịch mua bán hay sự mong muốn có tiền sẵn để chi dùng khi cần. 2. Động cơ phòng xa, có đặc tính là người ta lưỡng lự khi để tiền dính cứng vào tài sản khó chuyển đổi ra tiền mặt. 3. Động cơ đầu cơ, họ tin rằng lãi suất thị trường có thể tăng trong tương lai. Theo lý thuyết phái Keynes, tiền lãi là số chi trả đối với nhà đầu tư, nó thuyết phục nhà đầu tư từ bỏ khả năng thanh toán bằng tiền mặt của họ,vì thế các vụ đầu tư dài hạn sẽ làm cho lãi suất cao hơn lãi suất của đầu tư ngắn hạn. Chênh lệch này được gọi là chênh lệch khả năng thanh toán tiền mặt. Lý thuyết này khác với thuyết kì vọng(Expectation Theory). LIQUIDITY RATIO: Tỷ lệ khả năng thanh toán bằng tiền mặt. Tính khả năng của một công ty có thể đáp ứng các món nợ ngắn hạn đến ngày đáo hạn. Xem Current Ratio, Net Quick Assets, Quick Ratio. LIQUIDITY RISK: Rủi ro về thanh lý Rủi ro khi ngân hàng phải bán lỗ tài sản để đáp ứng nhu cầu tiền mặt. Thí dụ, người ký thác yêu cầu có tiền mặt ngay. Rủi ro về thanh lý thường được giải nghĩa theo tỉ lệ khả năng thanh lý có sẵn và số yêu cầu về ngân quỹ. LIS PENDENS: Vụ kiện đang xử Tiếng La tin để chỉ một vụ kiện đang xử, đây là thông báo theo luật định báo cho tất cả các bên là đang có một vụ kiện cáo có thể ảnh hưởng đến các quyền liên quan đến một tài sản nào đó. Thông báo này được đăng trên nhật báo. LISTED OPTION: Hợp đồng option đã liệt kê. Put option hay Call option mà thị trường đã có thẩm quyền mua bán, gọi chính xác là hợp đồng option đã mua bán trên thị trường. LISTED SECURITY: Chứng khoán, trái phiếu đã đăng ký. Chứng khoán hay trái phiếu được công nhận mua bán bởi một trong các thị trường có tổ chức và đăng ký ở Mỹ, thị trường này liệt kê hơn 6.000 loại chứng khoán trái phiếu của khoảng 3.500 công ty. Tổng quát, lợi ích

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

40

của việc được đăng ký là: 1. Có một thị trường trật tự. 2. Khả năng thanh toán bằng tiền mặt. 3. ấn định giá công bằng hợp lý. 4. Báo cáo số bán và báo giá liên tục và chính xác. 5. Thông tin về các công ty có liệt kê. 6. Luật lệ nghiêm ngặt bảo vệ sở hữu chủ chứng khoán trái phiếu. Mỗi thị trường có quy định liệt kê riêng, trong số đó NYSE là chặt chẽ nhất. Chứng khoán trái phiếu liệt kê bao gồm chứng khoán, trái phiếu, trái phiếu khả hoán, chứng khoán ưu đãi, chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán, các quyền ưu tiên mua chứng khoán, và các hợp đồng options, tuy nhiên không phải tất cả hình thức nào của chứng khoán trái phiếu đều được chấp nhận trên tất cả các thị trường. Các chứng khoán trái phiếu không liệt kê được mua bán trên thị trường ngoài danh mục. Xem Listing Requirements, Stock Exchange. LISING REQUIREMENTS: Các quy định về liệt kê. Một chứng khoán phải hội đủ các điều kiện về luật lệ trước khi được liệt kê để mua bán trên một thị trường. Trong số các quy định của NYSE có: công ty phải có tối thiểu 1 triệu cổ phần do dân chúng giữ và có trị giá thị trường tổng cộng tối thiểu 1,6 triệu dollars cũng như lợi tức thuần hàng năm trên 2,5 triệu dollars chưa trừ thuế lợi tức liên bang. LIVING TRUST: Uỷ thác giữa những người còn sống. Xem Inter Vivos Trust. LOAD: Phí (tính vào người mua) - Phí bán. Phí bán do nhà đầu tư trả tức là người mua cổ phần trong quỹ hỗ tương đầu tư có phí hay trợ cấp hằng năm. Người ta tính loại phí này khi cổ phần hay số đơn vị cổ phần được mua; phí để rút tiền gọi là phí chặn hậu (Back-End Load) (hay Rear-End Load). Quỹ nào không tính phí này gọi là quỹ không phí bán. Xem: Investment Company. LOADING: Tính thêm phí. Phần tính thêm lệ phí rủi ro nhiều loại khác nhau của ngân hàng để chiết khấu. LONG BOND: Trái phiếu dài hạn. Trái phiếu có thời hạn trên 10 năm. Vì trái phiếu này lưu giữ tiền của khách hàng một thời gian dài nên nó có nhiều rủi ro hơn trái phiếu ngắn hạn có cùng chất lượng do đó thường có hoa lợi cao hơn. LONG COUPON: Lãi coupon trả lâu. 1. Lần chi trả đầu tiên của trái phiếu phát hành có thời khoảng dài hơn các kỳ chi trả còn lại, hay lâu hơn chính trái phiếu phát hành. Các thời biểu theo thông lệ thì yêu cầu chi trả theo từng kỳ 6 tháng nên lãi coupon trả lâu là kết quả của việc trái phiếu được phát hành hơn 6tháng trước khi đến ngày đáo hạn chi trả đợt đầu tiên theo thời khoá biểu. Xem: Short Coupon. 2. Trái phiếu có lãi, có thời gian đáo hạn trên 10 năm. LONG DATE FORWARD: Thời điểm còn lâu. Hợp đồng thị trường hối đoái có tính đầu cơ liên quan đến các vị thế sau hơn một năm. Giao dịch mua bán có rủi ro cao vì có thể có một bên đối tác sẵn sàng ở vào vị thế đối nghịch. LONG HEDGE: Bảo hộ giá lâu dài -Mua hợp đồng để bảo hộ giá. 1. Hợp đồng futures được mua để bảo vệ chống lại sự tăng giá phí thanh toán một cam kết tương lai. Cũng còn gọi là mua bảo hộ giá. Người bảo hộ giá được hưởng lợi từ chênh lệch cơ bản thấp (chênh lệch giữa giá tiền mặt hiện tại và giá tương lai) nếu mua hợp đồng future dưới giá tiền mặt hiện tại, và từ chênh lệch cơ bản lớn nếu mua hợp đồng future cao hơn giá tiền mặt hiện tại. 2. Mua hợp đồng futures hay call option để đề phòng lãi suất giảm, cũng như để giữ cứng hoa lợi hiện tại của chứng khoán lợi tức cố định. LONG LEG: Bên mua- Đứng về bên mua. Một phần của mua và bán song hành hợp đồng option ( option spread) tiêu biểu một cam kết mua chứng khoán cơ sở. Thí dụ, nếu mua và bán song hành bao gồm mua call option và bán put option thì mua call gọi là đứng về bên mua. LONG MARKET VALUE (LMV): Trị giá thị trường hiện hành (đứng về phía người mua).. Trị giá thị trường hiện hành của chứng khoán do một khách hàng sở hữu, căn cứ trên giá đóng cửa của ngày hôm trước. Đồng nghĩa với Current Market Value. LONG POSITON: Vị thế sở hữu - Vị thế mua. 1. Quyền sở hữu chứng khoán, cho người đầu tư quyền chuyển giao quyền sở hữu cho người khác bằng cách bán hay tặng, quyền nhận bất cứ lợi tức nào có từ chứng khoán và quyền

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

41

nhận lời hay lỗ khi trị giá chứng khoán thay đổi. 2. Quyền sở hữu chứng khoán trái phiếu của nhà đầu tư do công ty môi giới giữ. LONG SPREAD: Mua và Bán song hành nghiêng về bên mua. Tất cả việc mua và bán song hành có thể phân biệt thành hai loại "Long" (mua) và "Short" (bán). Mua và bán song hành nghiêng về bên mua hay bên bán tuỳ thuộc vào hợp đồng người mua và bán song hành nghiêng về bên mua hay nghiêng về bên bán, nghĩa là hợp đồng đó gần hay xa thời điểm giao nhận. Thí dụ: Mua và bán song hành theo chiều lên (bull spread) (còn gọi là long spread) xảy ra khi nhà đầu tư mua một hợp đồng gần đến ngày đáo hạn và bán một hợp đồng còn lâu mới đáo hạn. LONG STRADDLE: Mua hàng hai. Mua một Call Option và một Put Option của cùng chứng khoán cơ sở, cùng giá điểm và tháng đáo hạn. LONG TERM: Dài hạn 1. Thời gian lưu giữ 6 tháng hay hơn, tuỳ theo đạo luật Tax Refrom Act of 1986 và có thể được áp dụng để tính thuế tư bản kiếm được (mãi đến năm 1988) 2. Phương thức đầu tư trong thị trường chứng khoán trong đó nhà đầu tư muốn tăng giá trị bằng cách lưu giữ chứng khoán chừng một năm trở lên. 3. Trái phiếu có thời hạn từ 10 năm trở lên.Xem Long Bond, Long Term Debt, Long Term Financing, Long- Term Gain, Long- Term Loss. LONG-TERM DEBT: Nợ dài hạn. Nợ có thời hạn từ một năm trở lên. Thường thường, tiền lãi được trả từng kỳ trong suốt thời hạn của tiền cho vay, và số vốn có thể được trả khi giấy nợ hay trái phiếu đáo hạn. Tương tự, trái phiếu dài hạn có thời hạn từ 10 năm trở lên. LONG- TERM FINANCING: Tài trợ dài hạn. Nợ và tất cả vốn cổ đông không thể hoàn trả trong 1năm. Xem Long-Term Debt. LONG-TERM GAIN: Tiền kiếm được (tiền lời) dài hạn. Chủ đề M

MARKET ECONOMY: Kinh tế thị trường. Nền kinh tế nơi giao dịch thương mại phần lớn nằm trong lãnh vực tư. Vốn, lao động, nguyên vật liệu v.v... phần lớn được phân bố theo cùn và cầu và sự can thiệp của nhà nước vào giá cả và các hoạt động kinh tế ở mức độ tối thiểu. Tuy nhiên trong thực tế, sự can thiệp của nhà nước trong thị trường thương mại là vấn đề của mức độ. Theo mức độ tối thiểu, tất cả Nhà nước đều thiết lập các tiêu chuẩn môi trường, sức khoẻ và lao động, điều chỉnh một vài giá cả trong lãnh vực công. MARKET IF TOUCHED ORDER (MIT): Mua bán khi lệnh đến mức. Lệnh đến mức mua bán. Lệnh mua hay bán chứng khoán hay hàng hoá ngay khi đạt đến giá thị trường đã định trước, tới điểm này nó trở thành lệnh thị. Khi bắp đang bán giá $4,75/bashel một người nào đó có thể tham gia thị trường nếu Lệnh Đến Mức để mua là $4,50. Ngay khi giá giảm còn $4,50 hợp đồng sẽ được mua với danh nghĩa khách hàng theo bất cứ giá thị trường nào đang hiện hành khi lệnh được thực hiện. MARKET INDEX: Chỉ số thị trường. Các con số tiêu biểu cho các trị giá nghiêng về thành tố nào đó tạo nên chỉ số. Thí dụ, chỉ số thị trường chứng khoán thì nghiêng về phần giá cả và số cổ phần đang hiện hành (do cổ đông và người mua giữ) của các loại chứng khoán. Chỉ số chứng khoán Standard and Poor's 500 là một trong những chỉ số thông dụng nhất, nhưng vẫn có vô số các chỉ số khác theo dõi chứng khoán trong các nhóm công nghiệp khác nhau. MARKET INDEX DEPSIT: Ký thác theo chỉ số thị trường. Tài khoản tiết kiệm hay chứng chỉ ký thác trả lãi suất theo chỉ số hàng hoá hay chỉ số thị trường MARKET LEADER: Công ty hàng đầu trong thị trường. Một công ty có thị phần lớn nhất trong một ngành công nghiệp. Công ty hàng đầu ấn định giá cả của ngành và tiêu chuẩn dịch vụ bằng cách đặt một khuôn mẫu cho ngành công nghiệp. MARKET LETTER: Bản tin thị trường. Bản tin cung cấp cho khách hàng công ty môi giới hay bản viết của một nhà phân tích đầu tư độc lập, đã đăng ký với SEC như là một cố vấn đầu tư và bán các bản tin cho người đăng ký mua. Các bản tin này ước định chiều hướng lãi suất, kinh tế, và thị trường nói chung. Bản tin của công ty môi giới đăng lại các đề xuất của các phòng ban nghiên cứu thuộc công ty. Các bản tin độc lập tuỳ thuộc cá tính của người viết thí dụ, chỉ tập trung vào chứng khoán đang tăng giá hay các đề nghị của họ dựa trên phân tích kỹ thuật bản đánh giá Hulbert là bản đánh giá thuộc thể loại này. MARKET MARKER: Nhà tạo thị trường. Người sẵn sàng đứng ra thực thi các lệnh mua và

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

42

bán theo danh nghĩa khích hàng hay cho tài khoản của riêng ông ta, hay theo sổ ghi nhận các lệnh mua bán. Nhà tạo thị trường là một người nào đó chấp nhận rủi ro mua bán bằng chấp nhận sở hữu tài sản được mua bán, và thực thi các giao dịch mua bán theo giá đã thông báo trong công chứng. Chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán của nhà tạo thị trường không quá lớn để phải loại trừ các giao dịch mua bán theo giá đã báo. Trong thị trường có tổ chức. như thị trường chứng khoán hay thị trường hợp đồng Futures nhà tạo thị trường (được cơ quan nhà nước hay chính trị trường cấp giấy phép. . Xem make a Market. MARKET-NOT-HELD ORDER (MARKET NH): Lệnh tự do quyết định. Lệnh thị có tầm mức lớn về số lượng chứng khoán cho phép broker tại sàn mua bán được tự do quyết định về giá cả hoặc định thời điểm thực hiện lệnh thị. MARKET ORDER: Lệnh thị. Lệnh mua hay bán chứng khoán với giá tốt. nhất đang có. Hầu hết các lệnh được thực hiện trên thị trường chứng khoán đều là lệnh thị. MARKET OUT CLAUSE: Mua bán ngoài điều khoản. Điều khoản giải toả đôi lúc được ghi vào thoả thuận bao tiêu theo loại cam kết, chắc chắn, cơ bản là cho phép người bao tiêu không bị rằng buộc với cam kết mua nếu như có các biến chuyển phát triển ngược chiều quan trọng (phát triển không lợi) làm ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán trái phiếu nói chung. Việc này hiếm thấy ở các nhà ngân hàng đầu tư lớn, họ ít khi viết "outs" (các ngoại lệ) tăng các thoả thuận vì trị giá của bàn cam kết của họ là một vấn đề được quan tầm tối đa (giá trị bản cam kết được đặt lên hàng đầu). MARKET PRICE: Giá thị trường. Giá được báo cáo sau cùng của chứng khoán được bán trên một thị trường. Đối với chứng khoán trái phiếu bán trên thị trường ngoài danh mục, các giá đặt bán và giá đặt mua hiện hành được phối hợp vào một thời điểm đặc biệt sẽ tạo ra giá thị trường cho chứng khoán. Đối với chứng khoán không được mua bán tích cực, nhà định giá (kiểm định viên) hay các nhà phân tích có thể xác định giá thị trường loại chứng khoán này khi cần - thí dụ như để thanh lý một tài sản. Trong thế giới kinh doanh chung, giá thị trường ám chỉ giá đã được bên mua và bên bán đồng ý về một sản phẩm hay dịch vụ và được xác định bằng số cùng và cầu. MARKET RATE OF INTEREST: Lãi suất thị trường. 1 . lãi suất được xác định bằng số cung và cầu ngân quỹ trong thị trường tiền tệ. Lãi suất thị trường tăng giảm tuỳ thuộc số cầu ngân quỹ, điều kiện thị trường và chinh sách tiền tệ. 2. lãi suất của ngân hàng nhằm hấp dẫn người ký thác, nó có thể tương ứng hay cao hơn lãi suất của những người cạnh tranh. MARKET RESEARCH: nghiên cứu thị trường. Khảo sát tầm mức, đặc tính và tiềm năng thị trường trước khi phát triển sản phẩm hay dịch vụ mới để biết dân chúng muốn gì. Nghiên cứu thị trường là bước đầu tiên của tiếp thị - Phạm vi bao gồm từ khái niệm ban đầu về sản phẩm đến phân phối cuối cùng đến người tiêu thụ. Trong thị trường chứng khoán, nghiên cứu thị trường liên quan đến các yếu tố phân tích kỹ thuật như số lượng, giá cả tăng giảm, tầm rộng thị trường. Các nhà phần tích căn cứ vào các yếu tố này để tiên đoán chiều hướng giá cả. MARKET RISK: Rủi ro về thị trường. Khả năng đầu tư sẽ thay đổi giá khi các điều kiện trong thị trường thay đổi. Chứng khoán bất ổn định hay đầu cơ sẽ có tiềm năng lớn hơn về giá lời hay giá lỗ so với các đầu tư có giá ổn định. Xem Systematic Risk. MARKET SEGMENTATION THEORY: Lý thuyết phân mảng thị trường. Lý thuyết về lãi suất thị trường nói rằng các thị trường ngắn hạn và dài hạn hoạt động độc lập với nhau và nhà đầu tư có những sở thích thời gian đáo hạn cố định khác nhau. Nó còn gọi Segmented Marketes Theory (Lý thuyết thị trường được phân mảng). Những người ủng hộ lý thuyết này cho rằng lãi suất ngắn hạn và dài hạn có thị trường riêng của nó, mỗi thị trường có người mua và bán riêng của nó, và không dễ gì thay đổi lần nhau. MARKET VALUE ON THE TRADE DATE: Trị giá thị trường vào thời điểm mua bán. Tổng số lượng mua để giữ lại (kể cả hoa hồng) hoặc tiền thu được thuần của bán khống (bán chứng khoán vay mượn). MARKET VALUE-WEIGHTED INDEX: Chỉ số nghiêng về trị giá thị trường. Chỉ số có những thành tố hướng theo tổng trị giá thị trường của các cổ phần đang hiện hành (do cổ đông và người mua giữ). Nó cũng còn được gọi là : chỉ số nghiêng về tư bản hoá (capitalizationweighted index). Sự thay đổi giá cả của một thành tố có tác động tương ứng đối với toàn thể trị giá thị trường của chứng khoán trái phiếu. Thí dụ, chỉ số kỹ thuật vi tính đượ mua bán

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

43

trên thị trường AMEX (American Stock Exchange) có 30 chứng khoán thành tố. Tỷ trọng của mỗi chứng khoán chuyển biến liên tục dùng với những thay đổi giá cả chứng khoán và số lượng cổ phần đang hiện hành . Chỉ số biến chuyển cùng với giá chứng khoán thay đổi. MARKETABILITY: Tính thị trường (dễ dàng mua bán nhanh chóng). Đặc tính của một loại chứng khoán cá biệt nào đó có thể mua và bán nhanh chóng và dễ dàng. Một loại chứng khoán có số lượng lớn cổ phần đang lưu hành và được mua bán tích cực được xem là thích hợp mua bán và cũng dễ đổi ra tiền mặt (dễ thanh toán bằng tiền mặt). Theo cách dùng thông thường, tính thị trường có thể đổi thành tính dễ chuyển đổi ra tiền mặt (dễ thanh toán bằng tiền mặt) nhưng tính dễ thanh toán bằng tiền mặt nhấn mạnh đến sự bảo tồn (giữ vững) trị giá khi chứng khoán được mua bán. MARKETABLE SECURITIES: Chứng khoán trái phiếu dễ bán. Chứng khoán trái phiếu được bán dễ dàng. Trong bảng cân đối tài khoản công ty, nó là tài sản có thể sẵn sàng dễ đổi ra tiền mặt. Thí dụ, chứng khoán trái phiếu nhà nước chứng từ chấp nhận của ngân hàng, giấy nợ thương mại. Để giữ việc thực hành kế toán theo lối cũ, những cái này được tính theo giá phí hay trị giá thị trường, hễ giá nào thấp hơn thì tính theo giá đó. MARKETING: tiếp thị. Chuyển dịch hàng hoá và dịch vụ từ người cung cấp đến người tiêu thụ. Điều này bao hàm nguồn gốc sản phẩm, thiết kế, phát triển, phân phối, quảng cáo, kích thích (khuyến mãi), thông báo rộng rãi cũng như phân tích thị trường để biết rõ thị trường nào tương hợp. MATCHED ORDERS: Kết hợp lệnh. 1. Kỹ thuật lỏi kéo bất hợp pháp bằng cách bù đắp lệnh mua và lệnh bán để tạo ra ấn tượng (giả tạo) hoạt động của chứng khoán, nhờ đó tạo cho giá tăng lên làm lợi cho những người tham gia vào mưu đồ này. 2. Hành động của nhà chuyên môn tạo ra một giá mở cửa hợp lý sát với giá đóng cửa trước đây. Khi việc tích luỹ một loại lệnh hoặc mua hay bán - đây nên trì trệ trong việc mở rộng mua bán trên một thị trường, nhà chuyên môn cố gắng tìm cách cân bằng ngược lại các lệnh hoặc mua giữ lại hoặc bán từ số chứng khoán tồn của riêng họ để làm giảm mức chênh lệch. MATCHED SALE-PURCHASE TRANSACTION: Giao dịch mua bán kết hợp (ở Hoa Kỳ). Phương thức của Uỷ ban Thị Trường Mở Rộng Liên Bang theo đó Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang ở New York bán chứng khoán trái phiếu nhà nước cho người buôn bán không thuộc diện ngân hàng dựa trên số chi trả trong quỹ liên bang. Thoả hiệp yêu cầu người buôn bán bán trở lại chứng khoán trái phiếu vào một thời điểm đặc biệt trong khoảng từ 1 đến 15 ngày. Fed chi trả cho người buôn bán lãi suất bằng lãi suất chiết khấu. Giao dịch này cũng còn gọi là thoả hiệp mua lại ngược chiều, nó làm giảm số cung ứng tiền trong những thời khoảng tạm thời vì làm giảm số cân đối trong ngân hàng của người buôn bán và do đó làm tăng thêm quỹ dự trữ. Vì thế Fed có thể điều chỉnh mức bành trướng tiền tệ bất bình thường vì lý do thời vụ hay các lý do khác. Xem Repurchase Agreement. MATCHING ORDERS: Các lệnh phối hợp ăn khớp. Hoạt động của các lệnh tham gia cùng lúc ban đầu để mua hay bán một loại chứng khoán nhằm tạo ra một diễn biến mang vẻ mua bán tích cực trong chứng khoán (có tính bất hợp pháp). MATERIAL INFORMATION: Thông tin cụ thể. Bất cứ dữ kiện nào tác động đến quyết định của nhà đầu tư để mua một loại chứng khoán nào đó. MATRIX TRADING: Mua bán ma trận. Đánh đổi trái phiếu, theo đó người buôn bán tạm cách lợi dụng sự lầm lạc tạm thời trong khác biệt chênh lệch hoa lợi giữa các trái phiếu trong cùng một loại nhưng mức độ giá trị khác nhau hay giữa các trái phiếu ở các hạng loại khác nhau. MATURE ECONOMY: Kinh tế sung mãn. Kinh tế của quốc gia có dân số ổn định hay đang giảm, và chẳng bao lâu kinh tế phát triển thật mạnh. Nền kinh tế như thế có đặc tính là: giảm chi tiêu về đường sá và nhà máy, gia tăng tương đối chi tiêu tiêu thụ. Nhiều nền kinh tế Tây Âu được xem là sung mãn hơn kinh tế Mỹ và ngược hẳn với các nền kinh tế đang phát triển nhanh ở Viễn Đông. MATURITY DATE: Ngày tháng đáo hạn. 1. Ngày tháng theo đó số vốn của giấy nợ, hối phiếu, chứng từ chấp nhận (của ngân hàng) trái phiếu hay các công cụ nợ khác đến ngày đáo hạn và được chi trả. Cũng giống như thế, đó là ngày kết thúc hay ngày đáo hạn theo đó nợ trả từng kỳ (trả góp) phải được trả hết. 2. Trong việc chuyển giao sở hữu tài khoản thu (factoring), ngày tháng đáo hạn là ngày tháng đáo hạn trung bình của tài khoản thu được chuyển giao, khi người được chuyển giao

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

44

(factor) gửi trực tiếp tiền hằng tháng đến người bán số tài khoản thu đã bán. MATURITV GAP: Thời gian đáo hạn cách khoảng. Xem Gap, Gapping. MATURITY TICKLER: Sổ đăng ký số tiền cho vay. Xem Loan Register. MAXIMUM CAPITAL GAINS MUTUAL FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư nhằm có tư bản kiếm được tối đa. Quỹ có mục tiêu sẽ đem lại tư bản kiếm được lớn cho cổ đông Trong thị trường giá lên (đầu cơ giá lên - bull market) nó hầu như tăng nhanh hơn thị trường chung hay quỹ đầu tư hỗ tương theo lối thông thường. Nhưng trong thị trường đang rứt giá, nó hầu như rớt giá nhanh hơn mức trung bình của thị trường. Sự bất ổn định có hướng gia tăng này là kết quả của chính sách đầu tư trong các công ty nhỏ, phát triển nhanh có chứng khoán mang đặc tính bất ổn định hơn các chứng khoán trong các công ty lớn có tổ chức, điều hành tốt. MAXIMUM LOAN VALUE: Trị giá tiền cho vay tối đa. Số lượng tối đa mà một Broker-dealer có thể cho một khách hàng vay để mua chứng khoán căn cứ theo quy định của nhà nước. MAY DAY: Ngày 1 tháng 5. Ngày 1-5-1975 khi không còn hoa hồng môi giới tối thiểu cố đinh ở Mỹ. Thay vào đó là tỷ lệ uỷ thác để thực hiện các vụ mua bán trao đổi, các broker được phép tính phí theo ý của họ. May Day có kèm theo nhưng thay đổi như công ty môi giới giá hạ thực hiện các lệnh mua hay bán với hoa hồng thấp nhưng không có tư vấn đầu tư. Sự chấm dứt hoa hồng cố định cũng đánh dấu sự ra đời của ngành môi giới được đa dạng hoá bằng các dịch vụ tài chánh có tầm rộng, tận dụng kỹ thuật vi tính và các hệ thống truyền thông tân tiến. MEAN PRICE: Giá trung bình cộng. Trong thị trường tiền tệ, hàng hoá và chứng khoán, đây là giá trung bình giữa giá đặt mua và giá đặt bán. MEAN RETURN: Lợi nhuận trung bình. Trong phân tích chứng khoán, trị giá mong đợi hay trung bình của tất cả lợi nhuận có thể có trong các đầu tư thuộc danh mục đầu tư. Trong việc lập ngân sách tư bản (vốn), nó là trị giá trung bình của số lợi nhuận phân phối có thể có. Danh mục đầu tư tiếp cận với phân tích đầu tư nhằm định lượng mối liên hệ giữa rủi ro và lợi nhuận. Nó giả định rằng trong khi các nhà đầu tư có những sở thích về mức độ rủi ro khác nhau thì nhà đầu tư sáng suốt sẽ luôn luôn tìm kiếm tỷ lệ lợi nhuận tối đa theo mỗi mức độ rủi ro có thể chấp nhận được. Đó là lợi nhuận trung bình hay mong đợi mà nhà đầu tư cố gắng tối đa hoá theo mỗi mức độ rủi ro. Nó còn được gọi là Lợi Nhuận Kỳ Vọng (Expected Return). Xem Capital Asset Pricing Model, Efficient Portfolio, Portfolio Theory. MECHANIC'S LIEN: Quyền giữ thế chấp về xây dựng. Quyền giữ thế chấp trên các nhà cao tầng hay các công trình xây dựng, được nhà nước cho phép đối với các nhà thầu, chủ công nhân và các nhà cung cấp nguyên vật liệu dùng trong xây dựng hay sửa chữa. Quyền giữ thế chấp có hiệu lực cho đến khi những người này được chi trả đầy đủ và trong trường hợp thanh lý họ được chi trả ưu tiên trước những chủ nợ khác. MEDIUM-TERM BOND: Trái phiếu có thời hạn trung bình. Trái phiếu có thời hạn đáo hạn từ 2 đến 10 năm. Xem lntermediate Term, Long Term, Short Term. MEMBER BANK: Ngân hàng thành viên (ở Hoa Kỳ). Ngân hàng là thành viên của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, bao gồm tất cả các ngân hàng có giấy phép quốc gia (national chartered banks) và các ngân hàng có giấy phép tiểu bang. Đây là điều kiện để có tư cách thành viên và để được chấp nhận . Ngân hàng thành viên được quy định mua chứng khoán trong Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang trong khu vực tương đương 6% vốn cơ bản nội bộ (Paid-in Capital) hay thặng dư cơ bản nội bộ. Phân nửa đầu tư này được lưu giữ như tài sản của ngân hàng thành viên, còn phân nửa còn lại có thể có lệnh gọi của Fed bất cứ lúc nào. Ngân hàng thành viên cũng được yêu cầu duy trì một số phần trăm ký thác để dự trữ dưới hình thức tiền tệ trong kho an toàn và duy trì số cân đối ký thác ở Ngân Hàng Dự Trữ liên Bang trong khu vực của ngân hàng thành viên. Số cân đối dự trữ này có thể tạo nên một phạm vi chuyển dịch tiền và các dịch vụ khác bằng cách sử dụng hệ thống mạng thông tin Fed để nối các ngân hàng ở các nơi trong nước. MEMBER FIRM: Công ty thành viên. Công ty môi giới có ít nhất một tư cách thành viên trên một thị trường chính, dù sao theo quy luật thị trường tư cách thành viên là tư cách dưới danh nghĩa của một nhân viên chứ không phải cho chính bản thân công ty. Một công ty như thế được hưởng các quyền và các đặc quyền của thành viên như quyền bỏ phiếu về chính sách mua bán trao đổi cùng với các cam kết của thành viên như cam kết giải quyết các tranh chấp với khách hàng thông qua phương thức trọng tài về thị trường (mua bán trao đổi). MEMBER ORDER: Lệnh của thành viên. Lệnh của một thành viên bao tiêu đối với một

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

45

khách hàng lẻ hay thuộc tổ chức. Mỗi thành viên bao tiêu nhận hoa hồng theo các lệnh do nhà quản lý bao tiêu giao. Các lệnh của thành viên thông thường có thứ tự ưu tiên thấp nhất trong giai đoạn thực hiện lệnh (so với lệnh của khách hàng) . MEMBER SHORT SALE RATIO: Tỷ lệ bán khống của thành viên. Tỷ lệ tổng số cổ phần được bán khống cho các tài khoản của các thành viên NYSLE trong một tuần chia cho tổng số bán khống cùng tuần. Bởi vì nhà chuyên môn, người buôn bán tại hiện trường, và người buôn bán ngoài hiện trường mua bán cho tài khoản các thành viên thường được xem như là người có đầu óc tốt nhất trong lãnh vực kinh doanh, nên tỷ lệ mà họ dùng là một biểu thị có giá trị để biết chiều hướng thị trường. Tỷ lệ 82% ( hay cao hơn được xem như có tính đầu cơ giá hạ (giá hạ một thời gian dài), tỷ lệ 68% hay thấp hơn thì có tính tích cực và giá lên lâu dài (đầu cơ giá lên). Tỷ lệ bán khống của thành viên được đăng cùng với số thống kê lố tròn của NYSE trong ấn bản ngày thứ hai báo Wall Street và trong tuần báo tài chánh Barron. MEMO ENTRY: Số liệu nhập để ghi nhớ. Ghi vào bên nợ hay bên có của tài khoản khách hàng, số liệu này được ghi vào sổ nhật ký giao dịch của ngân hàng vào một thời điểm khác với thời điểm giao dịch mua bán thực sự xảy ra. Số liệu trong sổ nhật ký được nhập vào tổng số cái vào cuối ngày. MEMORANDUM INVOICE: Bản liệt kê hàng hoá để ghi nhớ. Thông báo của người bán gửi cho người mua, trong đó có ghi số lượng, trị giá, chi tiết vận chuyển, giao nhận vv.... Bản liệt kê ghi nhớ có thể trở thành hồ sơ xác định các điều khoản giao dịch mua bán. MUNICIPAL BOND INSURANCE: Bảo hiểm trái phiếu đô thị. Các chính sách bao tiêu bởi nhà bảo hiểm tư, bảo đảm trái phiếu đô thị trong trường hợp) vỡ nợ (không đủ tiền chi trả). Hoặc là thực thể nhà nước phát hành hoặc là nhà đầu tư mua bảo hiểm này. Nó dự phòng trái phiếu do nhà (đầu tư mua theo mệnh giá có thể bị vỡ nợ. Một số công ty bảo hiếm lớn đều có loại bảo hiểm này, nhưng phần lớn do hai tổ chức : Ambec Indemnity Corporation (trước đây gọi là American Municipal Bond Assurance Corporation) một vài đơn vị của Citicorp, và Municipal Bond Assurance Corporation (MBAC), vốn chung của các nhà bảo hiểm tư. Trái phiếu đô thị có bảo hiểm thường được đánh giá cao nhất do có tính thị trường cao (mua bán dễ và nhanh) và giá phí phát hành thấp. Tuy nhiên, theo quan điểm của nhà (đầu tư, hoa lợi của nó thấp hơn trái phiếu không bảo hiểm có tương tự giá trị vì giá phí bảo hiểm bị nhà phát hành chuyển qua cho nhà đầu tư. Một vài đơn vi uỷ thác đầu tư và quỹ hỗ tương đầu tư dành riêng trái phiếu đô thị có bảo hiểm cho nhà đầu tư sẵn sàng mua bán với hoa lợi thấp hơn đôi chút bù lại là có thêm an toàn MUNICIPAL BOND INSURANCE ASSOCIATION: Hiệp hội Bảo Hiểm Trái Phiếu Đô Thị. Xem Municipal Bond lnsurance. MUNICIPAL IMPROVEMENT CERTIFICATE: Chứng chỉ về cải thiện đô thị. Chứng chỉ do nhà nước địa phương phát hành thay cho trái phiếu để tài trợ cho các cải thiện và dịch vụ của đô thị, như mở rộng vỉa hè, lắp đặt hệ thống cống rãnh, sửa chữa, đường phố. Các cam kết nợ như thế được chi trả lấy từ loại thuế ấn định đặc biệt đánh trên những người được hưởng lợi từ các cải thiện này, và số tiền chi trả có thể được giao cho nhà thầu thực hiện công trình. Tiền lãi trên chứng chỉ thường được miễn thuế nhà nước Xem General Obligation Bond. MUNICIPAL INVESTMENT TRUST (MIT): Uỷ thác đầu tư trái phiếu đô thị. Đơn vị uỷ thác đầu tư mua trái phiếu đô thị và chuyển lợi tức miễn thuế đến cổ đông. Trái phiếu trong danh mục uỷ thác đầu tư thường được giữ lại cho đến ngay đáo hạn, không giống như các trái phiếu liên tục mua bán trong danh mục đầu tư trái phiếu đô thị mở rộng. MIT được bán thông qua broker, phí vào khoảng 3% số vốn được chi trả, với số đầu tư nhỏ nhất là $1000. Uỷ thác này có tính chất đa dạng hoá, danh mục đầu tư được quản lý chuyên nghiệp, có chi tiền lãi hằng tháng, có thể so sánh với tiền chi trả hằng nửa năm của trái phiếu đô thị cá nhân ở Hoa Kỳ, nhiều quỹ MIT chỉ đầu tư chứng khoán trái phiếu trong một tiểu bang. Thí dụ, các cư dân tại California chỉ mua MIT của California, tất cả tiền lợi được miễn thuế liên bang, tiểu bang và địa phương. Ngược lại một cư dân California mua MIT quốc gia có thể phải đóng thuế tiểu bang và địa phương trên số trên lãi có từ trái phiếu ngoài tiểu bang trong danh mục đầu tư của quỹ. MUNICIPAL NOTE: Giấy nợ đô thị. Theo cách dùng thông thường, đây là cam kết nợ của đô thị có ngày đáo hạn gốc là 2 năm hay ngắn hơn. MUNICIPAL REVENUE BOND: Trái phiếu thu nhập đô thị. Trái phiếu được phát hành để tài trợ cho các công trình công cộng như cầu, đường hầm hay hệ thống cống rãnh và được hỗ

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

46

trợ trực tiếp từ các thu nhập của các kế hoạch này. Thí dụ, nếu trái phiếu thu nhập đô thị được phát hành để xây một cây cầu, phí cầu đường thu từ người đi xe sử dụng cầu này được đem chi trả hết cho trái phiếu. Trừ khi có những quy định đặc biệt trong giao kèo, người giữ trái phiếu không có quyền đòi nợ trên các nguồn khác của nhà phát hành. MUNICIPAL SECURITIES RULEMAKING BOARD: Hội đồng đặt luật lệ cho trái phiếu đô thị. Xem Self-Regulatory - Organization. MUTUAL ASSOCIATION: Hiệp hội hỗ tương đầu tư. Hiệp hội tiết kiệm và cho vay được tổ chức như hợp tác xã do các hội viên sở hữu. Các ký thác của hội viên tiêu biểu cho số cổ phần. Cổ đông bỏ phiếu về các vấn đề của hiệp hội và nhận lợi tức dưới hình thức cổ tức. Không giống công ty cấp tiểu bang S & L, thiểu số trong ngành công nghiệp, các hiệp hội hỗ tương đầu tư không được phép phát hành chứng khoán. Và nó thường do Office Of Thrit Supervision (OTS) cấp giấy phép hoạt động (chartered) và tuỳ thuộc vào Savings Association Insurance Fund (SAIF). Các ký thác theo nguyên tắc kỹ thuật phụ thuộc vào một thời khoảng chờ đợi trước khi được rút ra, mặc dù trên thực tế số tiền được phép rút ra theo yêu cầu, khả năng thanh toán bằng tiền mặt của hiệp hội được bảo đảm bằng khả năng mượn từ Federal Home Loan Bank dùng thế chấp nhà làm vật thế chấp. MUTUAL COMPANY: Công ty hỗ tương đầu tư Công ty có quyền sở hữu và lợi nhuận được phân phối cho các hội viên theo tỷ lệ của số công việc mà họ làm cho công ty. Các hình thức thông dụng nhất là : 1. Công ty bảo hiểm hỗ tương, có các hội viên là người nắm giữ chính sách, có quyên chỉ định các giám đốc và những người được uỷ thác và nhận cổ tức hay phần khấu trừ trên số phí bảo hiểm sau này (future premiums). 2. Ngân hàng tiết kiệm hỗ tương theo điều khoản tiểu bang, có các hội viên là người ký thác được chia lợi nhuận thuần nhưng không tham gia vào việc quản trị. 3. Hiệp hội tiết kiệm và cho vay liên bang, hiệp hội hỗ tương đầu tư có hội viên là người ký thác có quyền bỏ phiếu và nhận cổ tức. MUTUAL EXCLUSION DOCTRINE: Học thuyết loại bỏ có tính hỗ tương (ở Hoa Kỳ). Học thuyết này chủ trương loại bỏ thuế liên bang đối với tiền lãi của trái phiếu đô thị. Học thuyết cho rằng các tiểu bang và chính quyền địa phương không được đánh thuế các tài sản nhà nước (trung ương). Nhà nước liên bang sẽ đáp lại bằng cách không đánh thuế liên bang đối với tài sản nhà nước địa phương. Đồng nghĩa với Mutual Reciprocity, Reciprocal Immunity. MUTUAL FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư. Quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đông option, hàng hoá hay các chứng khoán thị trường tiền tệ. Các quỹ này giúp nhà đầu tư được lợi thế đa dạng hoá và được sự quản lý chuyên môn. Vì các dịch vụ này mà họ phải tính phí điều hành, tiêu biểu từ 1% trở xuống của tài sản hằng năm . Quỹ hỗ tương đầu tư (có thể đầu tư theo) kiểu năng động mạo hiểm (cấp tiến) hay thận trọng dè dặt (bảo thủ). Nhà đầu tư sẽ phải đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro của họ trước khi quyết định xem quỹ nào tương xứng với họ. Ngoài ra, việc định thời điểm mua hay bán còn tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế, tình trạng thị trường chứng khoán trái phiếu, lãi suất và các nhân tố khác. MUTUAL FUND CUSTODIAN: Người giám hộ quỹ tương đầu tư ngân hàng thương mại hay công ty uỷ thác cung ứng dịch vụ giữ an toàn cho các chứng khoán trái phiếu thuộc sở hữu của quỹ hỗ tương đầu tư và cũng có thể đóng vai trò nhân viên chuyển giao, thực hiện chi trả hay thu nhận đầu tư từ cổ đông. Người giám hộ quỹ tương đầu tư phải tuân thù các luật lệ được nhà nước quy định. MUTUAL IMPROVEMENT CERTIFICATE: Chứng chỉ cải thiện hỗ tương. Xem Municipal Improvement Cerrificate. Chủ đề N

NAKED RESERVE: Không có theo quy định về dự trữ: Không cần có số dự trữ căn cứ trên số ký thác (không cần có chứng chỉ về vàng) NAKED TRUST: Uỷ thác thụ động- (không theo di chúc). Xem Grantor Trust. NARROW MARKET: Thị trường hạn hẹp. Thị trường chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá có đặc tính mua bán yếu ớt, giá có nhiều biến động ảnh hưởng đến khối lượng hơn trường hợp mua bán năng động tích cực. Thị trường của một loại chứng khoán nào đó bị nói là hạn hẹp nếu như giá cả rớt xuống hơn một điểm giữa các mua bán lố tròn mà không có sự giải thích rõ ràng

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

47

nào, nó nói lên tình trạng kém tiền lãi và có quá ít lệnh đặt mua bán. Từ ngữ thị trường mỏng (thin và thị trường kém tích cực (inactive market) đồng nghĩa với thị trường hạn hẹp. NARROW MONEY: Số tiền dùng ngay (tính năng động nhất). Tổng số gộp linh hoạt nhất trong nguồn cùng tiền tệ của một quốc gia. Các nước khác nhau có các phương cách thanh toán khác nhau, nhưng số tiền để dùng ngay thường nằm ở khung M0 đến M1. NARROW-RANGE SECURITY: Trái phiếu trong khung hạn chế. Tại Anh, trái phiếu nợ có lãi cố định. Luật Nhà nước ấn định tính chất của đầu tư do người thụ uỷ tài sản thực hiện, theo Luật này gần một nửa số đầu tư phải là đầu tư vào trái phiếu (đầu tư có bảo đảm). NARROWING THE SPREAD: Thâu hẹp chênh lệch. Thu hẹp mức chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán của một chứng khoán. Đây là kết quả của việc đặt mua và cung ứng của các nhà tạo thị trường và các chuyên viên. Thí dụ giá đặt mua một chứng khoán mà hầu hết mọi người đều sẵn lòng chi trả là $10/cổ phần và giá đặt bán - giá thấp nhất mà ai cũng sẵn sàng bán là $10 3/4 . Nếu broker hay nhà tạo thị trường ngỏ ý mua cổ phần với giá $ 10 1/4 trong khi giá đặt bán vẫn ở mức $10 3/4 thì có nghĩa là chênh lệch đã được thu hẹp lại. NASD: National Association of Securities Déaler - Hiệp hội quốc gia của người mua bán chứng khoán. Tổ chức không vụ lợi được thành lập dưới sự liên kết hỗ trợ của Investment Banker's Conference và Securities and Exchange Commission nhằm tuân thủ theo đạo luật Maloney. Các thành viên NASD bao gồm hầu hết các nhà ngân hàng đầu tư và các công ty đầu tư có liên quan mua bán trên thị trường ngoài danh mục. Hoạt động dưới sự giám sát của SEC, các mục tiêu cơ bản của NASD là: 1. Tiêu chuẩn hoá các thực hiện trong lãnh vực. 2. Thiết lập các tiêu chuẩn đạo đức luân lý trong mua bán chứng khoán trái phiếu. 3. Cung cấp một bộ phận đại diện để cố vấn cho nhà nước và nhà đầu tư về các vấn đề lợi ích chung. 4. Thiết lập và củng cố các luật lệ công bằng và hợp lý về mua bán chứng khoán. 5. Thiết lập một bộ phận kỷ luật có khả năng thực thi các điều khoản trên. NASD cũng quy định các thành viên phải duy trì một số tài sản ứng phó nhanh, số tài sản này phải nhiều hơn số nợ hiện hành vào bất cứ thời điểm nào. Chỉ đạo kiểm tra và kiểm toán định kỳ để bảo đảm mức độ khả năng thanh toán cao và tính trung thực tài chánh trong các thành viên. Phòng đặc trách về các công ty đầu tư chuyên quan tâm đến các vấn đề của các công ty đầu tư và có trách nhiệm xem xét lại tài liệu thương vụ công ty trong mảng đó của ngành chứng khoán trái phiếu. NASD FORM FR-1: Tờ khai thể thức 1-NASD. Thể thức quy định cho những nhà mua bán nước ngoài trong việc đăng ký chứng khoán trái phiếu đối với các phát hành trái phiếu chứng khoán trong tiến trình phân phối, theo đó họ đồng ý tuân theo các luật lệ của NASD liên quan đến phát hành nóng (hot issue). Theo luật Fair Practice của NASD, các công ty tham gia vào việc phân phối phải cung ứng ra công chúng một cách ngay thẳng hợp pháp với giá cung ứng chung. Bất cứ một thương vụ bán nào được lập ra nhằm đầu tư vốn trên việc phát hành nóng- như trong ngày đầu tiền mua bán lại bán với số chênh lệch quá lớn theo giá vượt giá cung ứng chung thì sẽ vi phạm luật lệ của NASD. Các vụ vi phạm bao gồm bán cho các thành viên trong gia đình những người mua bán hay cho công nhân, giả định rằng các thương vụ bán như thế không được bảo vệ như "thực hiện đầu tư thông thường". NASD Form FR-1 còn gọi là tờ khai xác nhận tổng thể (blanket certification form). NASDAQ: National Association of Securities Dealers Automated Quotations System, thuộc National Association of Securities Dealers và do cơ quan này điều khiển. NEW ISSUE: Phát hành mới. Chứng khoán hay trái phiếu lần đầu tiên phát hành ra công chúng, sự phân phối này phải theo các luật lệ của nhà nước. Phát hành mới có thể lần đầu tiên được cung ứng bởi công ty trước đây thuộc tư nhân hay là các chứng khoán trái phiếu được phát hành thêm bởi công ty đã cổ phần hoá và có liệt kê thường xuyên trên các thị trường chứng khoán . Việc cung ứng mới ra công chúng phải đăng ký với nhà nước. Các mua bán riêng không đăng ký với nhà nước trong trường hợp thư xác nhận thực hiện (letter of intent) khẳng định là chứng khoán trái phiếu được mua để đầu tư chứ không để bán lại cho công chúng. Xem Hot Issue, Letter Security Underwrite. NEW MONEY : Có số tiền mới. Số tài chánh dài hạn có thêm do phát hành trái phiếu chứng khoán mới hay do số chứng khoán trái phiếu vượt quá số CKTP đang đáo hạn hoặc do CKTP đang được trả lại. NEW MONEY PREFERRED: Số tiền mới được ưu đãi. Chứng khoán ưu đãi được phát hành

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

48

sau khi Nhà nước loại bỏ thuế cho nhà đầu tư nhân cổ tức chứng khoán ưu đãi đã được tăng từ 60% đến 85%, bằng với số loại bỏ thuế trên số cổ tức chứng khoán thường. Sự thay đổi đã làm lợi cho các tổ chức tài chánh, như công ty bảo hiểm đã giới hạn số lượng chứng khoán thường mà họ có khả năng giữ tiêu biểu là 5% tài sản. Việc ưu đãi cho số tiền mới đã cho cơ hội có được các lợi thế về thuế trong đầu tư trái phiếu có tiền lãi phải đóng thuế đầy đủ. Sự huỷ bỏ thuế cho công ty về số cổ tức đã giảm xuống còn 80% bắt đầu từ năm1982. NEW TIME: Thời điểm mới. Mô tả giao dịch mua bán một loại chứng khoán trong suốt hai ngày mua bán sau cùng trong tài khoản. Giao dịch mua bán vào thời điểm mới được thanh toán trong giai đoạn kế tiếp. Khi broker hay nhà tạo thị trường không được thông báo về ý định của nhà đầu tư muốn hoãn thanh toán thì xem như là nhà đầu tư muốn thanh toán trong tài khoản hiện hành. NEW YORK CLEARING HOUSE ASSOCIATION: Hiệp hội trung tâm giao hoán thanh lý New York. Hiệp hội ngân hàng giao hoán thanh lý lâu đời nhất và lớn nhất ở Hoa Kỳ. Trung tâm thuộc 11 ngân hàng trung tâm tiền tệ, là người điều hành CHIPS (Clearing House Interbank Payments System - Hệ thống chi trả liên ngân hàng của trung tâm giao hoán thanh lý), nó điều hành khoảng Chủ đề O

OFFER BY PROSPECTUS: Cung ứng bằng tập quảng bá. Xem Inital public Offering OFFER DOCUMENT: Tài liệu về cung ứng tiếp quản. Thông báo của công ty đến cổ đông bao gồm các chi tiết giá đặt mua để tiếp quản của công ty khác. Thông báo cho biết giá mỗi cổ phần và giải thích mục tiêu tiếp quản sẽ đem lợi như thế nào cho cổ đông. OFFER FOR SALE: Cung ứng để bán. Xem Inital public Offering OFFER LIST: Danh sách để nghị riêng. Trong thương lượng mậu dịch quốc tế, danh sách các sản phẩm không lệ thuộc vào thương lượng, hay sản pơhẩm có thuế quan được giảm hay huỷ bỏ. OFFERING: Cung ứng ra công chúng: Xem public Offering OFFERING CIRCULAR: Tài liệu về cung ứng. Xem Prospectus. OFFERING DATE: Ngày tháng (thời điểm) cung ứng. Thời điểm chứng khoán hay trái phiếu đầu tiên được bán ra công chúng. Xem: Dated Date, Public Offering. OFFERING PRICE: Giá cung ứng. Giá mỗi cổ phần lúc chứng khoán trái phiếu mới (lần đầu ) được cung ứng hay cung ứng lần thứ hai để bán ra công chúng. Thí dụ, nếu chứng khoán XYZ mới phát hành được định giá là $ 40/cổ phần thì giá cung ứng $40. Khi cổ phần quỹ hỗ tương đầu tư đã có trong dân chúng, cổ phần được bán với trị giá thuần tài sản cũng gọi là giá cung ứng hay giá đặt bán công với chi phí bán nếu có. Trong quỹ không phí, giá cung ứng bằng với trị giá tài sản thuần. Trong quỹ có tính phí, phí tính được cộng vào trị giá tài sản thuần để có giá cung ứng. Xem Offer OFFRING SCALE: Giá cung ứng theo tỉ lệ thời hạn. Giá của loại trái phiếu có ngày đáo hạn khác nhau do nhà bao tiêu cung ứng ra công chúng. Giá cung ứng này cùng có thể diễn đặt bằng từ ngữ: hoa lợi khi đáo hạn. OFFER WANTED (OW): Thông báo cần người cung ứng (cần mua). Bố cáo của một người có khả năng mua chứng khoán cho biết ông ta đang tìm một người có khả năng cung ứng chứng khoán. Chữ viết tắt OW thường thấy trong Tờ Hồng (tờ liệt kê chứng khoán) và Tờ Vàng (liệt kê trái phiếu công ty) được NQB phát hành dành cho loại chứng khoán trái phiếu do người buôn bán trên Thị Trường Ngoài Danh Mục mua bán. Xem Bid Wanted. OFFICIAL LIST: Danh sách chính thức. Trong thị trường chứng khoán, danh sách chứng khoán mua bán trên thị trường cấp một, còn gọi thị trường chính. Danh sách chính thức được phát hành hằng ngày cùng với thông báo về các giao dịch mua bán trong suốt một ngày hành chính. Danh sách bao gồm giá chứng khoán, số phất hành mới, thời điểm có cổ tức.v.v... OFFICIAL NOTICE OF SALE: Bố cáo chính thức về thương vụ bán. Bố cáo của chính quyền đô thị mời ngân hàng đầu tư đệ trình cuộc đấu thầu cạnh tranh cho việc phát hành trái phiếu sắp tới. Bố cáo cho biết tên của viên chức đô thị để biết thêm chi tiết và cho biết các thông tin cơ bản về việc phát hành như mệnh giá và các điều kiện quan trọng. Báo Bond Buyer thưòng đăng các như cáo như thế. OFFICIAL STAFF COMMENTRY: Chú giải của Ban Cán Bộ. Bản chủ giải được Ban Cán Bộ

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

49

Nhà Nước soạn thảo nhằm giải thích các vấn đề trong những phần quan trọng của luật lệ bảo vệ người tiêu dùng. OFFICIAL STATEMENT: Báo cáo chính thức. Bản báo cáo chi tiết để phát hành trái phiếu đô thị. Thông báo tài chính của nhà nước đang hoạt động cung ứng trái phiếu đô thị trong đó có ghi mục đích của việc phát hành và nhà đầu tư sẽ được chi trả lại như thế nào. Báo cáo chính thức cho biết rõ các thông tin thích đáng về tình trạng tài chính của nhà phát hành OFFICIAL STAEMENT: Báo cáo của viên chức, báo cáo chính thức. Xem legal Opinion. OFFSET: Bù đắp, bù trừ, cân đối. Thanh toán hợp đồng Option Kế toán : 1. Số lượng tương đương hay số cân bằng ngược với số lượng khác bên phần đối xứng trong cùng số cái hay trong sổ cái tài khoản khác. Xem Absorbed. 2. Số lượng làm triệt tiêu hay giảm một món nợ. Ngân hàng: 1. Quyền hợp pháp của ngân hàng giữ lại quỹ ký thác để trang trải cho số tiền cho vay không được trả - gọi là quyền bù lỗ (right of offset). 2. Con số chứa trong thẻ ngân hàng kết hợp với mã số do người giữ thẻ nhớ sẽ tiêu biểu cho số chứng minh của người ký thác - gọi là Pan- Pin Pari. Chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá, hợp đồng option: Chấm dứt giao dịch liên quan đến mua hay bán một option có cùng những đặc điểm khi đã nắm giữ một hợp đồng. Bảo hộ giá, như bán khống (bán chứng khoán vay mượn) một chứng khoán OPTION: Hợp đồng mua hoặc bán dựa vào giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số. Tổng quát : quyền mua và bán tài sản đổi lại để được một số trên dựa trên thoả thuận. Nếu quyền này không được thực hiện sau một thời khoản ấn định, hợp đồng option đáo hạn và người mua option sẽ thiệt mất tiền. Xem : Exercise. Chứng khoán trái phiếu : thoả thuận giao dịch chứng khoán trái phiếu liên quan mật thiết với chứng khoán, hàng hoá hay chỉ số chứng khoán. Hợp đồng option được mua bán trên nhiều thị trường. 1. Call option cho người mua quyền được mua 100 cổ phần của chứng khoán cơ sở với giá cố định trước thời điểm được ấn định trong tương lai - thường là 3,6 và 9 tháng. Để được quyền này, người mua Call Option trả cho người bán, gọi là người viết (tác giả - writer), một phí gọi là premium (phí mua option) phí này sẽ bị mất nếu người mua không thực hiện option trước thời điểm ấn định theo thoả thuận. Vì thế người mua Call sẽ dự đoán giá cổ phần cơ sở sẽ tăng trong thoảng thời gian ấn định. Thí dụ, một Call Option trên 100 cổ phần XYZ có thể giao cho người mua quyền được mua các cổ phần này với giá $100/cổ phần bất cứ lúc nào trong vòng 3 tháng kế tiếp. Để mua option đó, người mua có thể phải trả phí option là $2/cổ phần hay $200/100 cổ phần. Nếu lúc đó hợp đồng option XYZ đang bán với giá $95/cổ phần, người mua option sẽ có lợi nếu giá chứng khoán XYZ tăng, nếu XYZ tăng vọt lên $120/cổ phần trong 2 tháng, người mua option có thể thực hiện option để mua 100 cổ phần với giá $100 và sau đó bán lại với giá $120/cổ phần, giữ lại số chênh lệch đó làm lợi nhuận (trừ phí $2/cổ phần). Ngược lại, nếu XYZ rớt xuống dưới $95 và giữ nguyên trong 3 tháng, vào cuối thời điểm này Call option đáo hạn và người mua Call sẽ không phận lại được $2/cổ phần phí option đã bỏ ra (tổng cộng là, $200). 2. Ngược lại Call Option là Put option, nó cho người mua quyền được bán một số cổ phần ấn định với một giá ấn định trong một thời khoảng ấn định. Người mua Put Option kỳ vọng giá chứng khoán cơ sở sẽ rớt. Một người nào đó nghĩ rằng giá chứng khoán XYZ sẽ rớt có thể mua một Put option chứng khoán XYZ có giá trị 3 tháng gồm có 100 cổ phần với giá $100/cổ phần và trả phí option là $2 . Nếu XYZ rớt xuống còn $80/cổ phần, người mua Put sau đó có thể thực hiện quyền bán 100 cổ phần XYZ với giá $100, trước hết người mua sẽ mua 100 cổ phần với giá $80 cổ phần và sau đó bán cho người bán Put option (người viết - tác giả) với giá $100/cổ phần như thế kiếm lời được $l8/cổ phần (lời $20/cổ phần trừ cho phí option ) . Thực tế, hầu hết các Call và Put Option ít khi được thực hiện. Thay vào đó, nhà đầu tư mua và bán option trước khi đáo hạn, họ mua bán nhằm vào giá phí option tăng hay giảm. Bởi vì người mua option chỉ phải đặt một số tiền nhỏ phí option) cho một số lượng lớn chứng khoán nên mua, bán option sẽ cho ta nhiều đòn bẩy tài chánh (hỗ trợ tài chánh) và có thể đạt được lợi nhuận khổng lồ. Các nhà buôn bán option có thể viết option có bảo kê trong đó họ có chứng khoán cơ sở, hoặc là viết option khống ( có rất nhiều rủi ro) trong trường hợp họ không có chứng khoán cơ sở: Thông thường, người buôn bán option thua lỗ nhiều phí option

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

50

vì mua bán không thành công trước khi đạt được mua bán có nhiều lợi nhuận . Các nhà buôn bán thành thạo hơn thì lại kết hợp Call là Put Option khác nhau theo vị thế rải ra và hàng hai. Họ lời hay lỗ là do mức chênh lệch rộng hay hẹp (ít hay nhiều) giữa giá cả option. Option chứng khoán thưởng được trao cho các nhà điều hành công ty nếu như công ty đạt được những mục tiêu tài chánh nào đó, như đạt được mức bán hay lợi nhuận mong đợi. Nhà điều hành được tặng option mua chứng khoán công ty với giá thấp hơn giá thị trường và bán chứng khoán này ra thị trường để kiếm lời. Xem Call, Coverea option Deep In (Out Of) The Money, In The Money, Naked Option, Option Writer, Out of Money. OPTION AGREEMENT: Thoả thuận option. Tờ khai của khách hàng công ty môi giới khi mở tài khoản option. Nó ghi chi tiết các thông tin tài chánh về khách hàng, người đống ý tuân theo các luật lệ mua bán Option Thoả ước này còn gọi là tờ khai thông tin option, nó đảm bảo với broker là các nguồn tài chánh của khách hàng,đủ để chịu đựng được thua lỗ có thể xảy ra trong mua bán option . Khách hàng phải nhận được một bản quảng bá từ OCC (Options Clearing Corporation) trước khi bắt đầu mua bán OPTIONAL DIVIDEND: Lựa chọn cổ tức. Cổ tức được trả bằng tiền mặt hay bằng chứng khoán. Cổ đông có quyền lựa chọn loại chi trả cổ tức. OPTIONAL PAYMENT BOND : trái phiếu được chi trả theo lựa chọn. Trái phiếu có vốn và lãi được trả tuỳ theo lựa chọn của trái chủ hoặc là bằng một hay nhiều loại tiền tệ nước ngoài hay bằng tiền tệ nội địa. OPTION HOLDER: Người còn giữ option, sở hữu chủ hợp đồng option. Người nào đó mua một Call hay Put option nhưng chưa thực hiện hay bán nó. Người giữ Call muốn giá chứng khoán cơ sở tăng, còn người giữ Put thì muốn giá chứng khoán cơ sở giảm. OPTION MUTUAL FUND: Quỹ hỗ trong đầu tư option. Quỹ hỗ tương đầu tư mua hay bán option để tăng trị giá cổ phần của quỹ. Quỹ hỗ tương đầu tư option có thể theo đường lối bảo thủ (dè dặt thận trọng) hay cấp tiến (năng động mạo hiểm). Thí dụ, quỹ bảo thủ có thể mua chứng khoán và tăng lợi tức cổ đông bằng phí option do bán Call và Put option theo số chứng khoán trong danh mục đầu tư. Loại quỹ này được gọi là quỹ lợi tức option Hoàn toàn ngược lại là quỹ phát triển option mua Call và put option theo chứng khoán mà nhà quản lý quỹ nghĩ rằng sẽ rớt giá hay tăng giá mạnh, nếu nhà quản lý đúng thì sẽ kiếm được thật nhiều lợi nhuận thông qua việc thực hiện option. Đòn bẩy tài chánh trong option sẽ giúp quỹ có thể tăng lợi nhuận theo bội số nhân gấp mấy lần. OPTION PREMIUM: . Phí option. Số tiền cho mỗi cổ phần mà người mua option trả cho người bán option để có quyền mua (call) hay bán (Put) chứng khoán cơ sở theo một giá ấn định trong một thời khoảng đã ấn định. Giá phí option được định giá theo số tăng 1/8 hay 1/16 của 1% và được in trong bảng option của các nhật báo. Phí option $5/cổ phần có nghĩa là người mua option sẽ phải trả $500 cho một option l00 cổ phần. Xem Call Option. Put Option. OPTION SERIES: Loạt option. Các option cùng hạng loại (Call option hay Put option cùng chứng khoán cơ sở) và cũng có cùng giá thực hiện và tháng đáo hạn . Thí dụ tất cả Call option 80 tháng 10 XYZ là một sê ri cũng như tất cả Put option 100 tháng7 ABC xem Option. OPTION SPREAD: Rải option ra - Mua và bán song hành hợp đồng option. Mua và bán option cùng hạng loại vào cùng một lúc. Nhà đầu tư áp dụng sách lược mua và bán song hành option hy vọng đạt được lợi nhuận từ số chênh lệch nhiều hay ít (rộng hay hẹp) giữa các option khác nhau. Mua và bán song hành option có thể được thực hiện có lợi nhuận trong cả thị trường lên hay xuống. Thí dụ: 1. Tham gia hai option với cùng giá thực hiện, nhưng có thời điểm đáo hạn khác nhau. Thí dụ, nhà đầu tư có thể mua Call option 60 tháng từ XYZ (hợp đồng Call option giá thực hiện $60/ cổ phần đáo hạn tháng 7 theo chứng khoán công ty XYZ). 2. Tham gia hai option có giá điểm (giá thực hiện) khác nhau nhưng có cùng thời điểm đáo hạn. Thí dụ, nhà đầu tư mua Call 60 tháng 4 XYZ và bán Call 70 tháng 4, theo chứng khoán công ty XYZ) Luật pháp : hướng dẫn xuất phát từ toà án pháp quyền court of jurisdiction) hay quy tắc luật lệ. Các công cụ chi trả : yêu cầu của người chi trả đối với người thực hiện, như trên chi phiếu ghi "trả theo lệnh của (khi được đại diện bởi) John Doe" . Mua bán : yêu cầu mua, bán, giao nhận hàng hoá hay dịch vụ mà nhà phát hành lệnh đã cam kết theo các thời điểm ấn định. ORDER MEMORANDUM: Phiếu ghi lệnh hay còn gọi là Order Ticket. Bản kê khai đăng ký các lệnh bao gồm các chỉ dẫn của khách hàng liên quan đến việc sắp xếp (thoả thuận) một

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

51

lệnh mua hay bán). Bản ghi nhớ các lệnh bao gồm các thông tin như tên và số tài khoản khách hàng, thứ loại chứng khoán, loại giao dịch (mua, bán, bán khống v.v. . .) và các chỉ dẫn đặc biệt (như thời điểm hoặc các giới hạn về giá). Nó đồng nghĩa với Order Memo, Order Ticket. ORDER ROOM (ORDER DEPARTMENT); Phòng đặt lệnh (mua hay bán). Phòng trong công ty môi giới chứng khoán chịu trách nhiệm chuyển lệnh đến một thị trường thích hợp để thực hiện. ORDER TICKET: Phiếu lệnh. Thể thức được một đại diện có đăng ký (người thực hiện tài khoản) của công ty môi giới hoàn tất dựa trên chỉ thị của khách hàng. Nó cho biết lệnh là lệnh mua hay bán, số đơn vị, tên chứng khoán, loại lệnh (lệnh thị, lệnh giới hạn hay lệnh ngưng) tên khách hàng và mã số. Sau khi thực hiện lệnh trên hiện trường mua bán hay phòng thương vụ công ty (nếu ngoài danh mục), giá được viết và khoanh tròn trên phiếu lệnh và người broker hoàn tất được chỉ danh bằng số. Phiếu lệnh phải được giữ lại trong một thời gian theo quy định của luật. ORDINARY INCOME : Lợi tức thông thường. Lợi tức có từ các hoạt động thông thường của cá nhân hay công ty kinh doanh, nó khác với tư bản kiếm được có từ việc bán tài sản. Trước khi có luật thuế nhà nước, thuế tư bản kiếm được dài hạn thấp hơn thuế lợi tức thông thường. Luật thuế sau này xoá bỏ thuế suất ưu đãi này, nhưng nó vẫn giữ từ ngữ ấn định riêng này để có thể trong tương lai gia tăng thuế suất lợi tức thông thường. ORDINARY INTEREST: Lãi thông thương. Lãi được tính theo 360 ngày một năm thay vì 365 ngày cách tính sau gọi là lãi chính xác) Chủ đề P

PAPERLESS ENTRY: Mục nhập không cần đến giấy tờ. 1. Chuyển ngân quỹ bằng điện thoại hay bằng chỉ thị từ máy vi tính chứ không phải bằng chi phiếu hay hối phiếu. 2. Ký thác chi trả bằng máy điện tử từ cơ quan nhà nước hay tổ chức tư nhân vào tài khoản của người ký thác. PAR: Theo mệnh giá. Tương đương với trị giá danh nghĩa hay trị giá trên mặt của chứng khoán. Thí dụ, một trái phiếu bán theo mệnh giá nghĩa là có cùng giá trị số trên đã được phát hành hay số tiền sẽ được trả khi đến ngày đáo hạn như trái phiếu mệnh giá $1000. Đối với cổ phần thường, mệnh giá do công ty phát hành thiết lập. Có thời, mệnh giá tiêu biểu cho đầu tư nguyên thuỷ nằm sau mỗi cổ phần chứng khoán về hàng hoá, tiền mặt, dịch vụ, nhưng ngày nay không còn như vậy nữa. Thay vào đó, mệnh giá là một số lượng được quy cho cái gì (như $1 cho một cổ phần), được dùng để tính toán trị giá tính bằng tiền của các cổ phần thường trong bằng cân đối tài khoản công ty. Mệnh giá không có liên hệ gì với trị giá thị trường, trị giá này được xác định bởi các tính toán về trị giá tài sản thuần, hoa lợi và các kỳ vọng của nhà đầu tư về lợi nhuận tương lai. Một vài công ty phát hành chứng khoán không mệnh giá. Xem Stated Value. Mệnh giá càng quan trọng đối với trái phiếu và chứng khoán ưu dãi. Lãi suất của trái phiếu dựa trên số phần trăm của mệnh giá trái phiếu -- một trái phiếu lãi suất 10% sẽ trả hàng năm l0% mệnh giá trái phiếu. Cổ tức chứng khoán ưu đãi thường, thường được trả theo số phần trăm mệnh giá của chứng khoán ưu đãi đã phát hành. PAR BOND: Trái phiếu theo mệnh giá. Trái phiếu đang bán theo mệnh giá, ngang bằng với trị giá danh nghĩa hay trị giá bề mặt của trái phiếu. Một trái phiếu công ty có thể được thu hồi ( chuộc lại ) vào ngày đáo hạn với giá $100 là một trái phiếu theo mệnh giá khi nó mua bán trên thị trường với giá $1000. PAR EXCHANGE RATE: Tỷ giá hối đoạn danh nghĩa (theo lý thuyết). Xem par of exchange. PAR GRADE: Cấp độ cơ' bản. Xem basis grade. PAR VALUE: Mệnh giá. Xem PAR.. PORTFOLIO: Danh mục đầu tư. Kết hợp sở hữu từ hai trở lên các đầu tư Chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá, bất động sản, công cụ tương đương tiền mặt, hay các tài sản khác bởi một cá nhân hay nhà đầu tư thuộc tổ chức. Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa loại hoá đầu tư. Xem Portfolio Beta Score, Portfolio Theory.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

52

PORTFOLIO BETA SCORE: Hệ số Beta danh mục đầu tư Sự bất ổn định của toàn thể danh mục đầu tư chứng khoán trái phiếu của cá nhân, được đo lường bằng hệ số Beta của chính chứng khoán trái phiếu đó. Hệ số Beta đo lường bất ổn định của một loại chứng khoán liên quan đến toàn thể thị trường giống như chỉ số Standard & Poor's 500. Beta bằng 1 có nghĩa là chứng khoán bất ổn định cùng mức với thị trường. PORTFOLIO INCOME: Lợi tức trong danh mục đầu tư. Xem Investment Income. PORTFOLIO INSURANCE: Bảo hiểm danh mục đầu tư. Người quản lý danh mục đầu tư sử dụng hợp đồng futures về chỉ số chứng khoán để bảo vệ danh mục đầu tư chứng khoán chống lại thị trường giảm giá. Thay vì bán chứng. khoán khi bị giảm giá, nhà quản lý bán hợp đồng futures với giá hạ hơn, dùng lợi nhuận chênh lệch này bù lại cho số trong danh mục đầu tư chứng khoán. Các thị trường nào không có khả năng vào ngày Thứ Hai Đen (Black Monday) để xử lý một số lượng lớn chứng khoán trái phiếu một cách có hiệu quả và thường xuyên làm gián đoạn buôn bán (circuit breaker) thì xem như việc bảo hiểm danh mục đầu tư không còn tác dụng. Xem Program Trading. PORTFOLIO INVESTMENT: Đầu tư không đủ để kiểm soát công ty. Đầu tư quá ít không đủ để cho nhà đầu tư kiểm soát một phần hay toàn bộ một công ty nghĩa là dưới 51% PORTFOLIO LENDER: Người cho vay giữ nguyên danh mục cho vay. Người cho vay thường là người đầu tiên cho vay có thế chấp, người này giữ số tiền cho vay trong danh mục cho vay của mình cho đến khi đáo hạn (cho đến khi người vay trả nốt nợ) và không bán số tiền cho vay này cho nhà đầu tư trong thị trường cấp hai. Người cho vay này hưởng lợi tức thuần từ chênh lệch cho vay tức chênh lệch giữa tài sản sinh lãi. và nợ ký thác, ngược lại với ngân hàng cho vay có thế chấp, người này có lợi nhuận từ lệ phí. PORTFOLIO MANAGER: Nhà quản lý danh mục đầu tư Chịu trách nhiệm chuyên môn về Danh Mục Đầu Tư Chứng Khoán cho cá nhân hay nhà đầu tư thuộc tổ chức. Họ còn được gọi là nhà quản lý tiền bạc (money manager), nhất là khi có các dịch vụ cá biệt thì gọi là Cố Vấn Đầu Tư (investment counsel). Nhà quản lý có thể làm việc cho quỹ hỗ tương đầu tư, quỹ hưu trí, kế hoạch chia lợi nhuận, phòng uỷ thác ngân hàng, công ty bảo hiểm. Để được trả phí quản lý này, nhà quản lý có trách nhiệm của người được uỷ thác tài sản nhằm quản lý tài sản một cách thận trọng và chọn lựa cơ hội đầu tư chứng khoán, trái phiếu, công cụ tương đương tiền mặt, bất động sản sao cho đạt được lợi nhuận tốt nhất vào bất cứ thời điểm nào. Xem Portfolio Theory, Prudent--Man rule. PORTFOLIO THEORY: Lý thuyết về danh Mục Đầu Tư Phương thức quyết định đầu tư khôn ngoan nhất cho phép nhà đầu tư phân loại xếp hạng, đánh giá, và kiểm soát được lợi nhuận và rủi ro. Nó cũng còn gọi là Lý thuyết Quản Lý Danh Mục Đầu Tư hay Lý Thuyết Hiện Đại Về Danh Mục Đầu Tư. Cơ bản của lý thuyết là thẩm định mối tương quan giữa rủi ro. Lý thuyết bắt đầu bằng việc phân tích chứng khoán theo như thông lệ, chuyển trọng tâm phân tích đặc tính đầu tư cá nhân bằng xác định mối tương quan số liệu giữa các loại chứng khoán trái phiếu trong toàn thể danh mục đầu tư. Phương thức lý thuyết có 4 giai đoạn : - Đánh giá chứng khoán trái phiếu : mổ tả toàn thể bối cảnh tài sản trong phạm vi rủi ro và lợi nhuận. - Quyết định phân bố tài sản : xác định tài sản sẽ được phân bố như thế nào giữa các loại đầu tư, trái phiếu hay chứng khoán. - Tối ưu hoá danh mục đầu tư : điều hoà rủi ro và lợi nhuận khi chọn lựa trái phiếu chứng khoán để đầu tư, như xác định danh sách chứng khoán nào cho lợi nhuận tốt nhất với mức độ rủi ro vừa phải. - Đo lường hiệu suất (performance measurement) : chia mức hiệu suất mỗi chứng khoán (rủi ro) thành các loại liên quan đến thị trường (hệ thống và liên quan đến ngành công nghiệp (số dư). POSLTION : Vị thế. 1 . Ngân hàng : Số cân đối thuần của ngân hàng trong lãnh vực ngoại tệ. 2. Tài chánh : điều khiển tài chánh công ty. PREFERRED ORDINARY SHARE: Cổ phần thưởng được ưu tiên. Vốn có quyền về cổ tức ở giữa khung cổ phần ưu đãi và cổ phần thường. PREFERRED STOCK: Chứng khoán ưu đãi. Loại chứng khoán vốn (capital stock) chi trả cổ tức theo lãi suất ấn định và ưu tiên hơn chứng khoán thường trong việc chi trả cổ tức và thanh lý tài sản. Chứng khoán ưu đãi thường không có quyền bỏ phiếu. Hầu hết chứng khoán ưu đãi là loại tích luỹ, nghĩa là nếu cổ tức bị cho qua (không được chi trả vì lý do nào

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

53

đó), nó sẽ được tích luỹ lại và phải được chi trả trước cổ tức của chứng khoán thường. Cổ tức bị cho qua đối với chứng khoán ưu đãi không tích luỹ (noncumulate preferred stock) thì coi như là không bao giờ có lại. Chứng khoán ưu đãi có dự phần (participating preferred stock) cho cổ đông có quyền chia lợi nhuận cao hơn số cổ tức đã được tuyên bố cùng với các cổ đông thường, nó khác với chứng khoán ưu đãi không dự phân có cổ tức quy định theo giới hạn. Chứng khoán ưu đãi điều chỉnh (adjustable-preferred stock) chi trả cổ tức có điều chỉnh, thường theo từng quý, dựa trên sự thay đổi lãi suất công khố phiếu hay lãi suất thị trường tiền tệ. Chứng khoán ưu đãi khả khoán (convertible preferred stock ) là loại có thể đổi ra một số cổ phần thường đã ấn định và vì thế biến) động hơn chứng khoán bất khả hoán, loại này giống với trái phiếu lợi tức cố định Xem Convertible, Cumulative Preferred, Par- ticipating Preferred, PIK Securities ; Prior-preferred Stock. PREFERRED STOCK RATIO: Tỷ lệ chứng khoán ưu đãi. Chứng khoán ưu đãi theo mệnh giá được chia cho đổng số tư bản hoá. Kết quả là số phần trăm tư bản hoá - trái phiếu và trị giá thuần được tiêu biểu bằng chứng khoán ưu đãi. PRELIMINARY INVOICE: Bản hoá đơn trù bị, sơ bộ. Tài liệu do người bán gởi trước cho người mua trong đó đề xuất các điều khoản mua bán trong giai đoạn đầu của một giao dịch mua bán. Bản hoá đơn trù bị có thể là cơ bản cho các thương lượng sau này hoặc có thể được người mua chấp nhận là tài liệu chung cuộc về điều khoản mua bán. PRELIMINARY PROSPECTUS: Bản quảng bá sơ bộ. Tài liệu đầu tiên do nhà bao tiêu số phát hành chứng khoán mới phổ biến cho các nhà đầu tư sắp sửa đầu tư. Tài liệu cho biết chi tiết tài chánh về việc phát hành nhưng không bao gồm tất cả thông tin như bản quảng bá sau cùng hay bản quảng bá theo luật định và một phần tài liệu có thể được thay đỏi trước khi phát hành bản quảng bá sau cùng. Bởi vì một phân bìa của bảng quảng bá sơ bộ in bằng mực đỏ nên nó được gọi là red herring (cá trích đỏ). PREMIUM: Tiền thưởng - Chênh lệnh cao hơn mệnh giá - Phí mua option- Phí bảo hiểm. 1. Tổng quát : số chi trả thêm như là tiền thưởng. 2. Trái phiếu: a) Số tiền có được do trái phiếu bán cao hơn mệnh giá. Thí dụ, trái phiếu mệnh giá $1.000 khi bán được $1.100 thí tiền chênh lệch (premium) là $100. Điều này cũng áp dụng cho loạt chứng khoán ưu đãi. Xem Premium Bond b) Số tiền (trị giá) có được khi giá thu hồi của nhà phát hành vượt quá mệnh giá trái phiếu được thu hồi. Xem Call Premium. Bảo hiểm: phí trả cho công ty bảo hiểm để thực hiện bảo hiểm. Số chi trả 1 lần hay nhiều lần cần thiết lập nên quỹ trợ cấp hàng năm. Hợp đồng option: (hợp đồng đặt giá trước) : giá phí mà người mua put option hay call option phải trả cho người bán hợp đồng option. Phí mua option được xác định bởi các lực lượng cùng và cầu của thị trường. Chứng khoán: a) Phí được trả bởi người bán khống bán chứng khoán vay mượn - short seller) khi mượn chứng khoán để bán khống. b) Trị giá của giá một chứng khoán cao hơn chứng khoán khác. Thí dụ, nhà phân tích chứng khoán có thể nói là chứng khoán công ty thực phẩm XYZ bán với giá chênh lệch hơn 15% của chứng khoán công ty thực phẩm khác, có nghĩa là chứng khoán này có trị giá cao hơn chứng khoán cùng ngành. Tuy nhiên, nó không nhất thiết là chứng khoán vượt giá. Thật ra, nó cho biết là: công chúng đầu tư chỉ có thể nhận biết tiềm năng thị trường của nó khi nó tiếp tục tăng giá. Tương tự như thế, nhà phân tích có thể nói rằng chứng khoán ngành thực phẩm đang bán chênh lệ 20% đối với chỉ số Standard & Poor's 500, cho biết giá tương đối mạnh đối với toàn thể thị trường. c) Trong phát hành chứng khoán trái phiếu mới, trị giá giá mua bán cổ phần cao hơn giá phát hành . d) Trị giá cao hơn trị giá thị trường được chi trả trong việc đưa ra giá đệm để tiếp quản (tender offer). xem Premium Raid. PREMIUM BOND: Trái phiếu có chênh lệch giá cao hơn. Trái phiếu có giá bán cao hơn mệnh giá hay giá thu hồi. Thí dụ trái phiếu có mệnh giá $1.000 được gọi là trái phiếu có chênh lệch giá nếu được bán với giá $1.050. PRICE-DIVIDEND RATIO (P/D): Tỷ lệ giá cổ tức. Giá thị trường của chứng khoán chia cho cổ tức mỗi cổ phần vào năm trước Tỷ lệ P/D xác định trị giá tài sản của một loại chứng

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

54

khoán đã có trong danh mục đầu tư của nhà đầu tư. PRICE/EARNINGS RATIO (P/E): Tỷ lệ giá/lợi nhuận. Giá chứng khoán chia cho lợi nhuận mỗi cổ phần. Tỷ lệ P/E có thể hoặc là sử dụng lợi nhuận được báo cáo trong năm sau cùng (gọi là tỷ lệ P/E theo dõi : trailing P/E tỷ lệ P/E đã qua) hoặc là dùng dự đoán của nhà phân tích và lợi nhuận năm tới (gọi là tỷ lệ P/E sắp tới : forward P/E). Tỷ lệ P/E đã qua được liệt kê cùng với giá chứng khoán và hoạt động mua bán trong báo hằng ngày. Thí dụ, chứng khoán đang bán giá $20/cổ phần có lợi nhuận $1 trong năm qua thì có tỷ lệ P/E đã qua là 20. Nếu cùng chứng khoán đó dự trù có lợi nhuận $2 năm tới, nó sẽ có tỷ lệ giá/1ợi nhuận ( P/E ) sắp tới là 10 . Tỷ lệ P/E cũng còn gọi là bội số, nó cho nhà đầu tư ý niệm là họ đang chi trả bao nhiêu cho sức kiếm lợi nhuận của công ty. Tỷ lệ P/E càng cao thì nhà đầu tư càng chi trả nhiều và vì thế họ mong rằng càng cần có nhiều lợi nhuận Chứng khoán có tỷ lệ P/E cao với bội số cao hơn 20 là loại chứng khoán của công ty trẻ đang phát triển nhanh. Chứng khoán này có nhiều rủi ro hơn chứng khoán có tỷ lệ P/E thấp bởi vì kỳ vọng phát triển cao dễ bị biến động hơn phát triển thấp. Chứng khoán tỷ lệ P/E thấp thường ở trong các ngành phát triển thấp, đã chín chắn (trưởng thành) hay ở trong nhóm chứng khoán không còn được chiếu cố tức là ở các công ty chất lượng cao, tổ chức tốt và thuộc loại lão làng có lợi nhuận ổn định và thường xuyên trả cổ tức. Thông thường chứng khoán có tỷ lệ P/E thấp có hoa lợi cao hơn chứng khoán có tỷ lệ P/E cao và chứng khoán này thường không trả cổ tức (dùng cổ tức để phát triển thêm). PRICE ESCALATION: Giá leo thang, nâng giá. Giá sản phẩm hay dịch vụ tăng cao hơn bình thường. Thường thường sự gia tăng này là do có thêm giá phí. Thí dụ, hàng xuất khẩu có giá cao hơn hàng nội địa vì có thêm phí vận chuyển, phí tài chánh. Lương lao động cao hơn hay giá phí bộ phận rời cũng làm cho giá leo thang (làm nâng giá). PRICE GAP: Lỗ hổng của giá. Từ ngữ được dùng khi giá chứng khoán hoặc là vọt lên hay rơi tuột xuống khung giá mua bán sau cùng mà không có gối đầu. Thí dụ, chứng khoán có thế tăng vọt vượt lên giá đóng cửa $20 cổ phần, trong khi khung giá ngày hôm đó là $18 - $20. Qua ngày hôm sau khung giá mở cửa là $22 -$24 vì có tin sẽ có công ty khác tiếp quản (Takeover Bid). Hoặc là khi công ty báo cáo lợi nhuận thấp hơn mong đợi và do đó khung giá $18 - $20 sẽ rớt xuống khung giá $13 - mà không có khung giá nào nằm giữa hai khung giá trên. Các nhà phân tích kỹ thuật, xem lỗ hổng giá cả là nhưng chuyển biến quan trọng, họ ghi nó lên biểu đồ bởi vì lỗ hổng này thường biểu thị vị thế mua hay bán quá mức. PRICE INDEX: Chỉ số giá cả. Chỉ số trung bình giá bán lẻ và giá bán buôn (bán sỉ) của hàng hoá hay dịch vụ . Chỉ số này dùng để đo lường lạm phát, nó tính theo số phần trăm giá trung bình căn cứ trên năm cơ bản nào đó. Chỉ số giá tiêu thụ (consumer cusdexes) thường được gọi là chỉ số giá bán lẻ (Retail price Index - RPI) hay CPI (Cousumer price index). Chỉ số bán buôn (bán sỉ) (Wholesale indexes) thường được gọi là chỉ số giá sản xuất (Producer price index - PPI) hay chỉ số giá bán buôn (Wholesale price index - WPI) PRICE LEADER: Công ty làm chủ giá cả. Đầu sỏ giá cả. Công ty có đủ sức mạnh thị trường trong một ngành công nghiệp để có thể phá vỡ (không bị ảnh hưởng, cạnh tranh giá cả. Công ty làm chủ giá cả sẽ ấn định giá trong tập đoàn đầu sỏ chuyên ngành (oligopoly) và các đối thủ cạnh tranh phải theo để tránh chiến tranh giá cả. Việc định giá không phạm pháp nhưng khi các đối thủ cạnh tranh âm mưu hợp lực hạ giá đến mức tối thiểu, thì cuộc chiến giá cả sẽ phát triển. Trong hầu hết các quốc gia việc này là bất hợp pháp. PRICE LEVEL ADJUSTED MORTGAGE (PLAM): Tiền vay có thế chấp được điều chỉnh theo mức giá. Một hình thức tiền vay có thế chấp chi trả tăng dầu (graduated payment mortgage) trong đó lãi suất chi trả được giữ cố định nhưng số cân đối hiện hành được điều chỉnh theo lạm phát tuỳ thuộc chỉ số giá cả tương ứng. theo từng giai đoạn, tuỳ theo thời biểu định kỳ được cả hai người vay và người cho vay chấp thuận số cân đối hiện hành đang nợ được xem xét lại để tương ứng với trị giá tài sản và số chi trả hàng tháng cũng được xem xét lại theo cách tính tương ứng này. Xem Alternative Mortgage Instrument. PRICE LIMIT : Giới hạn về giá. Xem Limit Price. PRICE METHOD: Phương thức giá. Xem Piece rote. PRICE-NET TANGIBLE ASSETS RATIO: Tỷ lệ giá/tài sản hữu hình thuần. cho tài sản hữu hình thuần của nó PURPOSE LOAN: Tiền vay có mục đích. Tiền vay được chứng khoán trái phiếu bảo đảm và được dùng để mua chứng khoán trái phiếu khác theo luật lệ tín dụng và tài khoản margin

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

55

của nhà nước. PURPOSE STATEMENT: Báo cáo mục đích. Tờ khai do người vay đệ trình có ghi chi tiết mục đích vay có chứng khoán trái phiếu bảo đảm. Người vay đồng ý không dùng tiền vay để mua chứng khoán trái phiếu trái với quy định của nhà nước. Xem : Nonpurpose Loan, Regulation U. PUT : Hợp đồng Put option. Xem Put option. PUT BOND: Trái phiếu có quyền trả lại trước ngày đáo hạn. Trái phiếu cho phép người giữ trái phiếu thu hồi (chuộc) số tiền theo các thời khoản ấn định trước ngày đáo hạn và nhận đầy đủ mệnh giá. Trái chủ được phép giao lại trái phiếu cho nhà phát hành một lần trong thời gian còn hiệu lực phát hành hoặc lâu hơn. Đổi lại đặc quyền này: trái chủ phải chịu thiệt thòi một ít hoa lợi khi chọn trái phiếu put thay vì chọn trái phiếu có lãi suất không thể chuộc lại ( thu hồi ) trước thời hạn . PUT BUYER: người mua hợp đồng Put option. Nhà đầu tư trả phí mua hợp đồng option theo một thời gian ấn định để có quyền bán chứng khoán cơ sở theo giá đã ấn định. PUT OPTION: Hợp đồng Put option (mua, bán chứng khoán theo chiều xuống). -Trái phiếu : quyền của trái chủ thu hồi mệnh giá trái phiếu trước thời hạn . xem : Put Bond . Hợp đồng option : hợp đồng cho quyền bán một một số trái phiếu đã ấn định theo giá ấn định trong một thời hạn nhất định. Người mua hợp đồng put option được quyền này, đổi lại họ phải chi trả phí mua option (option premium). Người bán put option cho người mua quyền này, để đổi lại họ được nhận phí mua option. thí dụ, người mua hợp đồng option công ty XYZ giá điểm 70 đáo hạn tháng 5 (XYZ May 70 Put) có quyền bán 100 cổ phần công ty XYZ với giá $70 cho người bán hợp đồng put option bất cứ lúc nào cho đến ngày đáo hạn tháng 5. Người mua put option hy vọng chứng khoán sẽ rớt giá trong khi đó người bán hợp đồng put option lợi hy vọng chứng khoán sẽ đứng giá, tăng giá hay rớt xuống một giá ít hơn lợi nhuận do phí mua option mang lại . PUT SPREAD: Mua và bán song hành hợp đồng put option. Nhà đầu tư mua một hợp đồng Put Option của một loại chứng khoán nào đó và bán một hợp đồng put option của cùng loại chứng khoán nhưng khác ngày đáo hạn, giá điểm hoặc cả hai. PUT THROUGH: Xong xuôi, thành tựu. Giao dịch mua bán cùng lúc kết thúc (do một nhà buôn bán thực hiện trên một thị trường chứng khoán ). Trong buôn bán hoàn tất (put through sale), một khách hàng bán và một khách hàng mua một khối lượng lớn một loại chứng khoán. PUT TO SELLER : Bán lại cho người bán. Nhóm từ ngữ được sử dụng khi hợp đồng put option được thực hiện. Người viết ( hay bán ) hợp đồng option (option writer) cam kết mua lại cổ phần cơ sở theo giá đã thoả thuận. Thí dụ, hợp đồng put option XYZ tháng 7 - 40 (XYZ June 40 Put - hợp đồng put option công ty XYZ giá $40, đáo hạn tháng 7) "Put to seller" (được bán lại cho người bán), người viết sẽ phải mua lại 100 cổ phần công ty XYZ với giá $40/ cổ phần của người giữ hợp đồng ( người đã mua hợp đồng put option) cho dù trị giá thị trường hiện tại của cổ phần công ty XYZ có thể thấp hơn $40/ cổ phần PUT WRITER: Người bán hợp đồng Put option. Nhà đầu tư nhận phí mua hợp đồng option theo một thời gian ấn định và cam kết mua chứng khoán cơ sở theo giá đã ấn định khi người mua hợp đồng put option muốn bán. PYRAMIDING : Tiến hành theo kiểu hình kim tự tháp. . Tổng quát : hình thức bành trướng kinh doanh bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chánh để xây dựng cơ cấu công ty phức hợp Lừa đảo : mưu đồ trên số trị giá không tồn tại, thường tiến hành theo dạng hình học với một chuỗi chặt chẽ , ngày nay bị xem là bất hợp pháp. Một thí dụ nổi tiểng là trường hợp lừa đảo của Ponzi vào cuối thập niên l920 người đầu tư được Ponzi trả lợi nhuận bằng số tiền của người đầu tư mới cho đến khi sự việc bị đổ bể Đầu tư : sử dụng lợi nhuận không có thực của một vị thế chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá làm thế chấp để mua thêm vị thế bằng quỹ mượn của Broker. Chủ đề Q

Q- TIP TRUST: Uỷ thác Q-tip. Uỷ thác lợi ích tài sản kết thúc có đủ tiêu chuẩn. Loại uỷ thác này cho phép được chuyển tài sản giữa vợ với chồng. Người uỷ thác Q- Tip chuyển thẳng lợi

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

56

tức của tài sản đến người phối ngẫu suốt đời nhưng có quyền phân phối tài sản khi người phối ngẫu mất. Loại uỷ thác này cho người uỷ thác có đủ tiêu chuẩn được khấu trừ không giới hạn nếu có người phối ngẫu mất trước. Uỷ thác Q-Tip dùng để cung cấp cấp dưỡng cho người phối ngẫu trong khi vẫn giữ tài sản của mình riêng ra ngoài tài sản của người phối ngẫu kia (như là thành viên hôn nhân tương lai) nếu như người uỷ thác mất trước. QUADRATIC PRICING MODEL: Biểu mẫu định giá bình phương QUADRATIC PRICLNG MODEL : Biểu mẫu đánh giá tài chánh cho biết thị trường tối ưu cho sản phẩm hay dịch vụ mới và giá/hoa lợi tối ưu của một sản phẩm mới. Tiềm năng lợi nhuận cao nhất thuộc về các sản phẩm quen thuộc dành cho một nhóm khách hàng đặc biệt được ấn định thí dụ như công ty môi giới phục vụ trọn gói, dịch vụ ngân hàng riêng tư, ở đây dịch vụ thường là sản phẩm có tính hàng hoá thí dụ như công ty môi giới giá thấp hay thẻ tín dụng. QUADRILATERAL TRADE AGREEMENT: Thoả thuận mậu dịch hỗ tương bốn bên. Thoả thuận mậu dịch quá cảnh giữa 4 quốc gia. QUALIFIED ACCEPTANCE: Chấp nhận có đủ tiêu chuẩn. Một giới hạn trong các điều khoản chấp nhận bởi người sở hữu hối phiếu. Những người ra lệnh chi trả hay người bối thự được giải toả khỏi số nợ khi sự chấp nhận có đủ tiêu chuẩn trừ khi có thông báo trước là người sở hữu từ chối chấp nhận nó. QUALIFIED BLOCK POSITIONER: Người có đủ tư cách mua bán từng khối lượng lớn chứng khoán. Người mua bán tham gia vào việc mua hay bán từng khối lượng lớn chứng khoán với khách hàng và người mua bán này hội đủ tất cả điều kiện quy định về vốn đầu tư thuần tối thiểu. QUALIFIED ENDORSEMENT: Bối thự có tiêu chuẩn hạn định. Bối thự (ký vào mặt sau chi phiếu hay công cụ chi trả - Negotiable Instrument) để chuyển một số tiền cho một người khác chứ không phải cho người được trả, nó muốn nói đến sự giới hạn số nợ của người bối thự. "Không có nguồn hỗ trợ'" (without recourse) là thí dụ dễ thấy nhất trong việc bối thự, nó có nghĩa là nếu công cụ không được chấp nhận thì người bối thự không có trách nhiệm. Bối thự có tiêu chuẩn là loại có giới hạn (như "chỉ để ký gửi) do đó người ta thích dùng từ ngữ bối thự có giới hạn (restricted endorsements). QUALIFIED INDEPENDENT APPRAISER: Người định giá độc lập có đủ tư cách (hội đủ tiêu chuẩn). Một người có thể là kỹ sư dầu mỏ độc lập hội đủ tiêu chuẩn hay nhà định giá bất động sản có đủ tư cách và tính độc lập, người này tự mình đảm trách việc đánh giá một loại tài sản nào đó và là người : A. Được cấp giấy chứng nhận và đăng ký để thực hiện nghiệp vụ tới bộ phận chuyên viên tương ứng hoặc bộ phận pháp định, nếu có thể nói là đúng theo hoạt động công việc của ông ta như theo yêu cầu. Ông ta là người có thể chứng tỏ chính ông ta có đủ tiêu chuẩn khả năng đánh giá loại tài sản mà ông ta tự đảm nhận B. Được hoàn toàn độc lập, trong đó : - Ông ta được thông tin về mục đích được đánh giá và sẽ dựa trên chương trình vì mục đích chung. - Ông ta đã dựa vào chứng từ đây đủ, xác thực về trị giá và đã dựa trên đánh- giá theo kinh nghiệm và phán đoán của riêng ông ta. - Ông ta không có quyền lợi hiện tại hay quyền lợi dự tính trong tương lai, hợp pháp và có lợi, trong tài sản được đánh giá. - Ông ta không có quyền lợi trong giao dịch được đề xuất liên quan đến tài sản hoặc ở trong các bên đang thực hiện giao dịch mua bán đó. - Việc thuê mướn ông ta và tiền công không phụ thuộc vào trị giá đã được ông ta thiết lập hoặc phụ thuộc vào bất cứ điều gì hơn là cung cấp bản báo cáo để hưởng lệ phí đã được định trước. - Ông ta không phải là người của tổng giám đốc thành viên (sponsor). QUALIFIED OPINION: ý kiến theo tiêu chuẩn. ý kiến của kiểm toán viên kèm theo bản báo cáo tài chánh yêu cầu xem xét lại giới hạn của kiểm toán hay những ngoại tệ mà nhà kiểm toán đưa vào bản báo cáo. Lý do có ý kiến này là : một vụ kiện cáo nếu như thua sẽ ảnh hưởng nặng nề đến tình trạng tài chánh công ty; nợ thuế chưa giải quyết liên quan đến một vụ chuyển giao không bình thường ; không có khả năng xác định một phần hàng kho vì không đến được địa điểm. Xem : Accountant's Opinion. QUALIFIED OTC MARKET MAKER: Nhà tạo thị trường đủ tiêu chuẩn trong thị trường ngoài danh mục (thị trường tự do). Nhà mua bán tạo một thị trường bằng chứng khoán mua bằng tài khoản Margin ở thị trường ngoài danh mục (margin - tài khoản vay tiền để mua

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

57

chứng khoán) và người này hội đủ điều kiện theo quy định số vốn đầu tư thuần tối thiểu. QUALIFIED PLAN OR TRUST: Kế hoạch hay uỷ thác theo tiêu chuẩn . Kế hoạch hoãn thuế do người chủ thiết lập cho công nhân theo luật lệ Nhà nước. Kế hoạch này thường có đóng góp của người chủ - thí dụ, kế hoạch phân chia lợi nhuận hay hưu trí - và cũng có thể có đóng góp của công nhân. Số tiền này được dành tiết kiệm và sẽ được chi trả khi về hưu hay thôi việc. Công nhân chỉ đóng thuế khi nào rút tiền. Khi người chủ chi trả cho các kế hoạch như thế, họ sẽ được khấu trừ khi đóng thuế và có các lợi thế thuế khác. Xem : 401 (K) Plan, Salary Reduction Plan. QUALIFIED THIRD - MARKET MARKER: Nhà tạo thị trường cấp ba đủ tiêu chuẩn. Người mua bán tạo một thị trường bằng chứng khoán được liệt kê trên thị trường và hội đủ điều kiện theo quy định vốn đầu tư tối thiểu. QUALIFYING ANNUITY: Tiền trợ cấp hàng năm đủ tiêu chuẩn. Tiền trợ cấp hàng năm được mua theo (hay thiết lập ra) chương trình đầu tư cho tài khoản hưu trí cá nhân, một loại như kế hoạch hay uỷ thác đủ tiêu chuẩn đó là kế hoạch hưu trí và phân chia lợi nhuận. Xem: Keogh Plan QUALIFYING RATIO: Tỷ lệ theo tiêu chuẩn. Tổng số chi phí nhà cửa hằng tháng bao gồm số chi trả lại vốn, thuế và bảo hiểm được tính bằng số phần trăm tổng lợi tức hàng tháng; hoặc là tổng số nợ hàng tháng tính theo số phần trăm tổng lợi tức hàng tháng. Tỷ lệ theo tiêu chuẩn, theo kinh nghiệm người cho vay, sẽ xác định khả năng chi trả của người vay. QUALIFYING SHARE: Cổ phần có đủ tư cách. Sở hữu cổ phần chứng khoán thường đủ để có tư cách là giám đốc một công ty phát hành. QUALIFYING STOCK OPTION: Hợp đồng option chứng khoán có đủ tiêu chuẩn. Đặc quyền thưởng cho một công nhân công ty, nó cho phép công nhân được mua một số cổ phần của chứng khoán vốn với giá đặc biệt theo các điều kiện được chấp nhận trong luật nhà nước. Theo luật thì: 1. Kế hoạch hợp đồng option này phải được cổ đông chấp nhận. 2. Không được chuyển nhượng. 3. Giá điểm (exercise price - giá thực hiện) phải thấp hơn giá thị trường vào thời điểm hợp đồng option được phát hành. 4. Người được thưởng không sở hữu quá 5% số chứng khoán có quyền bỏ phiếu hay 5% trị giá tất cả các loại chứng khoán hiện hành (10% nếu vốn cổ đông dưới $1 triệu dollar - ở Hoa Kỳ). Công nhân được thưởng không phải đóng thuế lợi tức vào thời điểm được thưởng hay vào thời điểm thực hiện hợp đồng option. Nếu giá thị trường xuống dưới giá option thì có thể phát hành hợp đồng option khác có giá điểm thấp hơn. Mỗi công nhân giới hạn trong $100.000 trị giá chứng khoán bao gồm trong hợp đồng option được thực hiện trong một năm theo lịch (calendar year). QUALIFYING UTILITY: Công ty tiện ích công cộng theo tiêu chuẩn (ở Hoa Kỳ). Công ty tiện ích công cộng trong đó cổ đông có thể được hoãn thuế khi tái đầu tư $750 cổ tức ($1.500 cho cặp vợ chồng cùng đăng ký) vào chứng khoán công ty. Mãi đến cuối năm 1985 chỉ tính thuế khi bán chứng khoán. Kế hoạch này được đạo luật Economic Recovery Tax Act of 1981 ban hành như là phương tiện giúp cho các công ty tiện ích công cộng gia tăng vốn đầu tư. Hầu hết các công ty có tư cách để lập kế hoạch này đều là các công ty về điện. QUALITATIVE ANALYSIS: Phân tích định tính. Tổng quát: phân tích để đánh giá các nhân tố quan trọng không thể đo lường chính xác được. Phân tích chứng khoán và tín dụng: phân tích liên quan đến các câu hỏi về kinh nghiệm, đặc tính, năng lực tổng quát của ban quản trị, đạo đức công nhân và tình trạng mối quan hệ lao động chứ không liên quan đến các dữ kiện tài chánh thực tế của công ty. QUALITATIVE MARKET RESEARCH: Nghiên cứu định tính thị trường. Dùng phương pháp phỏng vấn người tiêu thụ và tập trung vào những nhóm để xác định một sản phẩm đã biết có hấp dẫn thị trường không hay tại sao lại hấp dẫn thị trường. Sự chính xác của các kết quả tùy thuộc vào tầm mức lại tính chất của mẫu. Nghiên cứu định tính thường dùng để kiểm nghiệm các ý niệm về sản phẩm mới. QUALITY ADJUSTMENT: Điều chỉnh chất lượng. Trong hợp đồng futures hàng hoá thì bất cứ hợp đồng nào cũng đều có ấn định khung cấp độ có thể chấp nhận được của hàng hoá, cấp độ cơ bản (base grade) được thừa nhận khi tính giá hợp đồng và điều chỉnh chất lượng

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

58

khi tính giá thanh toán để giao theo các cấp độ khác có thể chấp nhận được. Số giá thanh toán được điều chỉnh trong giao dịch mua bán hợp đồng futures khi hàng hoá cung ứng khác với quy định trong hợp đồng ban đầu. QUALITY ALLOWANCE: Trợ cấp cho chất lượng. Xem Allowance. QUALITY AUDIT: Kiểm tra chất lượng. Tiến trình chứng nhận chất lượng sản phẩm . QUALITY CIRCLE: Nhóm chất lượng. Kỹ thuật quản lý công ty áp dụng đầu tiên tại Nhật. Các nhóm chất lượng bao gồm các nhóm công nhân làm việc với nhau để xác định vị thế của vấn đề, quản lý kiểm tra chất lượng, cải tiến năng suất. QUALITY CONTROL: Kiểm soát chất lượng. Tiến trình bảo đảm rằng sản phẩm làm ra phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng cao. Giám sát hàng hoá vào nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình sản xuất do người hay máy móc thực hiện là một phần quan trọng trong tiến trình kiểm soát chất lượng. QUALITY OF EARNINGS: Chất lượng lợi nhuận. Nhóm từ ngữ mô tả lợi nhuận công ty có được do gia tăng số bán và kiểm soát giá phí nó khác với lợi nhuận giả tạo do trị giá hàng kho tăng vì lạm phát hay do có các tài sản khác. Trong thời kỳ lạm phát cao, chất lượng lợi nhuận có hướng giảm bởi vì phần lớn lợi nhuận công ty bắt nguồn từ trị giá hàng kho tăng. Trong thời kỳ lạm phát thấp, công ty đạt được số bán cao và giữ được giá phí thấp sẽ có chất lượng lợi nhuận cao - một nhân tố thích hợp cho nhà đầu tư, những người sẵn sàng chi trả cao để có lợi nhuận chất lượng cao. QUANT: Nhà phân tích. Người có kỹ năng toán học và tin học chuyên cung cấp dịch vụ hỗ trợ bằng số liệu và phân tích trong ngành chứng khoán. QUANTITATIVE ANALYSIS: Phân tích định lượng. Phân tích liên quan đến các nhân tố có thể đo lường được, nó khác với phân tích định tính như phân tích về đặc tính của ban quản trị hay tình trạng đạo đức của công nhân. Trong phân tích tín dụng và chứng khoán trái phiếu, phân tích định lượng là phân tích về trị giá tài sản, giá phí vốn các khuôn mẫu thương vụ được dự trù và đã có một quá trình, giá phí, lợi nhuận, có tính toán theo phạm vi lớn trong các lãnh vực kinh tế, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán trái phiếu. Mặc dù các nhân tố định lượng và định tính khác nhau nhưng chúng ta có thể kết hợp chúng lại để có những đánh giá tài chánh và kinh doanh có cơ sở và hoàn chỉnh. Xem: Qualitative Analysis. QUANTITATIVE MARKET RESEARCH: Nghiên cứu định lượng thị trường. Dùng phương pháp lập bản câu hỏi theo đường bưu điện, để xác định số người tiêu thụ của một sản phẩm. Các biểu mẫu được chia thành các hạng loại như lợi tức hay tuổi tác, để đo lường sự hấp dẫn của sản phẩm đối với các nhóm dân số đã chọn lựa. Sách lược sản phẩm hay quảng cáo có thể thiết lập dựa trên các dữ kiện nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu định lượng được áp dụng cơ bản cho các sản phẩm đang có. QUANTITY THEORY OF MONEY: Lý thuyết về lượng tiền.Lý thuyết nhằm cố gắng đặt mối tương quan giữa số lượng tiền và giá cả trong nền kinh tế. Nó tìm cách giải thích lạm phát có thể được kiểm soát bằng chính sách tiền tệ như thế nào nghĩa là kiểm soát bằng nguồn cùng tiền tệ. Lý thuyết này đã bị tấn công bởi sự hiện diện của công cụ gần như là tiền tệ (quasi- money hay near money) là khả năng của các tổ chức tài chánh ngoài ngân hàng nhằm phát triển và giới thiệu các hình thức mới của tín dụng. QUARTERLIES: Các báo cáo hàng quý. Các báo cáo tài chánh chuyển tiếp về tình trạng của một công ty cổ phần, báo cáo được lập ra từng quý trong năm tài chánh của công ty. QUARTERLY: Hằng quý. Tổng quát: mỗi ba tháng. Chứng khoán: thời gian cơ sở để lập báo cáo lợi nhuận gửi cho cổ đông, nó cũng là khung thời gian để chi trả cổ tức. QUARTERLY SECURITIES COUNT: Kiểm tổng số chứng khoán hằng quý. Mỗi brokerdealer (công ty môi giới) phải thực hiện kiểm soát việc kiểm tổng số chứng khoán, thẩm tra các chứng khoán đang chuyển đi, so sánh các kết quả tổng số với bản ghi nhận chứng khoán và ghi lại tất cả số chênh lệch chứng khoán chưa giải quyết ít nhất là từng quý. QUARTER STOCK: Chứng khoán 1/4. Chứng khoán có mệnh giá .$25/cổ phần. QUASI AUTONOMOUS GOVERNMENT ORGANIZATION (QUANGO): Tổ chức Nhà Nước Bán Tự Quản. Một bộ phận bán chính thức được một cơ quan nhà nước tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ công cộng. Các quango thường là các uỷ

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

59

ban được chỉ định để đảm trách các công tác trong một thời gian giới hạn. Các uỷ ban thường được thiết lập để làm đề xuất chính sách không phổ cập, sau đó các viên chức được lựa chọn trong uỷ ban sẽ được tự do thực hiện. Chi phí cho quango do dân chúng trả. QUASI - CONTRACT: Hợp đồng bán chính thức. Một hợp đồng được các bên ngầm đồng ý thực hiện, mặc dù chưa hoàn tất một thoả thuận. QUASI - MONEY: Tiền để đó sử dụng sau - Tiền chưa dùng. Xem Broad Money. Quasi money là tiền đang có và số ký thác tiết kiệm cộng với số ký thác ngoại tệ. QUASI-PUBLIC CORPORATION: Công ty bán công. Công ty điều hành theo tư cách tư và thường có chứng khoán mua bán trong công chúng, nhưng cũng có uỷ thác công và thường được nhà nước hỗ trợ cho các món nợ trực tiếp của công ty. Thí dụ, COMSAT (Communications Satellite Corporation - công ty truyền thông vệ tinh) được quốc hội Hoa Kỳ bảo trợ để tăng cường phát triển không gian, FNMA (Fannie Mae - Federal National Mortgage Association) được thành lập để phát triển thị trường thế chấp cấp hai (the second mortgage market). QUICK ASSETS: Tài sản dễ đổi ra tiền mặt. Tài sản hiện hành của một doanh nghiệp trừ hàng tồn kho, nó có thể đổi ra tiền mặt khi cần chỉ trong một thời gian ngắn, thường từ một năm trở lại. Nó còn gọi là tài sản lưu động (liquid assets - tài sản dễ đổi ra tiền mặt). QUICK RATIO: Tỷ lệ chuyển đổi nhanh. Tiền mặt, chứng khoán dễ mua bán (marketable Securities) và tài khoản thu chia cho số nợ hiện hành, không kể đến hàng kho, tỷ lệ dễ chuyển đổi ra tiền mặt quan trọng này tập trung vào tài sản dễ chuyển đổi ra tiền mặt (liquid assets - tài sản lưu động) của công ty và nó giải quyết vấn đề: "Nếu việc mua bán ngừng, công ty này có đủ sức thanh toán nợ hiện hành bằng số tài sản khả hoán đang có trong tay", Giả định rằng không có việc gì xảy ra làm chậm trễ hay cản trở số tiền thu về, tỷ lệ chuyển đổi nhanh bằng 1 hay gần bằng 2 là đạt yêu cầu. Nó cũng được gọi là tỷ lệ thử acid, tỷ lệ chuyển đổi nhanh tài sản. QUID PRO QUO: Đổi chác. Tổng quát: theo từ latin có nghĩa là " Một cái gì đó cho một cái gì đó" (cho cái gì đi để lấy lại cái gì đó - bánh ích đi bán quy lại). Theo thoả thuận hỗ tương, một bên cung cấp hàng hoá hay dịch vụ đổi lại họ nhận hàng hoá hay dịch vụ khác. Ngành chứng khoán: thoả thuận giữa một công ty sử dụng công trình nghiên cứu để thực hiện tất cả thương vụ mua bán với công ty cung cấp công trình nghiên cứu đó, thay vì chi trả trực tiếp cho công trình này. Đây được gọi là chi trả bằng dollar mềm (soft dollars) . QUIET PERIOD: Thời kỳ chờ đợi. Thời kỳ nhà phát hành đang trong giai đoạn đăng ký ("in registration") và chịu lệnh cấm của nhà nước trong việc xúc tiến bán ra công chúng. Nó định ngày tháng từ lúc có quyết định bao tiêu đến 40 hay 90 ngày sau ngày tháng có hiệu lực. QUIET TITLE ACTION: hành động xoá bỏ êm thắm quyền sở hữu hành động hợp pháp dẫn đến việc loại bỏ bất cứ quyền lợi hay quyền đòi chi trả của người khác trên một tài sản. Đây là phương thức dùng để xoá bỏ các khiếm khuyết quyền sở hữu bất động sản khi văn kiện tước quyền đòi chi trả không thể thực hiện. QUITCLAIM DEED: Văn kiện tước quyền đòi chi trả. tài liệu trong đó chủ quyền, quyền đòi chi trả hay quyền sở hữu tài sản hoặc bất động sản bị tước bỏ khỏi một người khác mà không cần trình bày là chủ quyền như thế là có hiệu lực. Thông thường đây là trường hợp không có giao kèo hay giấy bảo đảm dựa trên quyền đòi chi trả hiện hành của người có quyền giữ thế chấp trước đó. QUOTA: Hạn ngạch. Cũng còn gọi là hạn mức số lượng (QR - quantity restriction), sự giới hạn do Nhà nước áp đặt cho các hạng mục mậu dịch. Hạn ngạch nhập khẩu được thực thi để bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa khỏi bị cạnh tranh làm thiệt hại. Hạn ngạch xuất khẩu thường được dùng bởi các quốc gia lệ thuộc vào các tập toàn hàng hoá, để kiểm soát lượng chảy ra của sản phẩm và duy trì - giá cả hoặc để kiểm tra tính đồng nhất của người sử dụng sau cùng hàng nhập khẩu. Hạn ngạch có thể có tính toàn cầu nghĩa 1à áp dụng đồng đều cho tất cả các quốc gia. Nếu hạn ngạch có tính tuyệt đối, thì số lượng được cố định trong một thời khoảng ấn định. Nếu hạn ngạch linh động thì giới hạn số lượng sẽ được điều chỉnh khi hoàn cảnh thay đổi. Khi hạn ngạch tỷ lệ quan thuế biểu nhập khẩu được áp dụng thì số đơn vị không giới hạn của hạng mục trong hạn ngạch có thể tham dự vào thị trường nhập khẩu nhưng sẽ tính theo thuế quan cao hơn đối với số đơn vị vượt quá số đã ấn định trước. QUOTA PRORATION: Theo tỷ lệ hạn ngạch. Phương tiện điều chỉnh hàng nhập vượt quá hạn ngạch. Sự điều chỉnh được thực hiện - tại cảng nhập. Số hàng nhập vượt mức hạn

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

60

ngạch sẽ được tồn kho tạm thời. Khi hàng hoá được phép nhập vào, số phân bổ trong hạn ngạch tương lai sẽ bị trừ bớt. QUOTA-SHARE TREATY: Hiệp ước phân chia hạn ngạch. Một hợp đồng tái bảo hiểm. Thoả thuận phân chia hạn ngạch xác định phần trăm rủi ro được nhà tái bảo hiểm đảm nhận. QUOTATION: Định giá - báo giá. Kinh doanh: ước tính giá trên dự án hay giao dịch thương mại. Đầu tư: giá đặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất đang hiện hành của chứng khoán hay hàng hoá. Khi nhà đầu tư hỏi về giá chứng khoán công ty XYZ (xin báo giá) thì có thể được trả lời là "60 đến 60 1/2" có nghĩa là giá đặt mua (giá cao nhất mà người mua nào cũng muốn chi trả) hiện hành là $60/ cổ phần và giá đặt bán (giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chấp nhận) là $60 1/2. Giá này là giá mua bán lố tròn tức là một lố là 100 cổ phần chứng khoán. QUOTATION BOARD: Bảng báo giá. Bảng báo giá điều khiển bằng điện tử tại công ty môi giới chứng khoán cho biết các bảng giá hiện hành và các dữ kiện tài chánh khác như cổ tức, khung giá chứng khoán và số lượng mua bán hiện hành QUOTED COMPANY: Công ty đã được định giá. Công ty cổ phần hay công ty đã được liệt kê. QUOTED PRICE: Giá đã báo. Giá bán và mua sau cùng của chứng khoán hay hàng hoá đã có Chủ đề Chưa có Chủ đề S R

SECOND-PREFERRED STOCK: Chứng khoán ưu đãi hạng nhì. Chứng khoán ưu đãi dưới mức chứng khoán ưu đãi khác liên quan đến quyền ưu tiên được cổ tức và tài sản khi thanh lý. Cổ phần ưu đãi hạng nhì thường được phát hành kèm đặc tính khả hoán hay chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán warrant để thêm phần hấp dẫn nhà đầu tư. Xem : Junior Security, Preferred Stock, Prior- Preferred Stock, Subscription Warrant. SECOND ROUND: Vòng nhì. Giai đoạn trung gian của tài trợ vốn mạo hiểm venture capital - vốn đầu tư liều lĩnh tiếp theo sau tiền đầu tư gốc ( seed money, hay tiền đầu tư ban đầu start - up) và các giai đoạn vòng đầu trước giai đoạn lưng chừng (mezzanine level), khi công ty đã đến điểm chín mùi để thành một công ty tiếm quyền (mua đứt một công ty khác bằng tiền vay - leveraged buyout - mua đứt có đòn bẩy tài chánh) bằng ban quản lý hay bằng việc cung ứng đầu tiên cổ phần ra công chúng ( IPO ) - Initial Public Offering. SECONDARY DISTRIBUTION: Phân phối cấp hai. Bán ra công chúng số chứng khoán trái phiếu đã phát hành trước đây do các nhà đầu tư lớn thường là các công ty, tổ chức hay những công ty được sát nhập đang giữ, nó khác với chứng khoán trái phiếu mới phát hành hay phân phối đầu tiên, lúc này người bán là công ty phát hành. Giống như cung ứng đầu tiên, việc cung ứng lần thứ nhì cũng do Ngân Hàng Đầu Tư xử lý, hoặc là một mình hay cùng nhóm bao tiêu nghĩa là họ mua của người bán với giá thoả thuận sau đó bán lại số chứng khoán trái phiếu đó, thỉnh thoảng với sự giúp đỡ của nhóm bán, với giá cung ứng ra công chúng cao hơn để kiếm lợi nhuận chênh lệch gọi là spread. Bởi vì việc cung ứng phải đăng ký với nhà nước, nên nhà quản lý nhóm bao tiêu củng cố hay giữ giá thị trường một cách hợp pháp bằng cách đặt mua ( đấu thầu ) cổ phần trong thị trường tự do (thị trường mở rộng). Người mua chứng khoán cung ứng theo cách này không phải trả hoa hồng vì tất cả giá phí do người bán chịu. Nếu loại chứng khoán có liên quan này được liệt kê thì bảng tổng hợp sẽ thông báo việc phát hành suốt ngày mua bán, mặc dù lúc đó việc cung ứng chưa được thực hiện cho đến khi thị trường đóng cửa. Trong lịch sử phân phối lần thứ hai cấp độ thật lớn có trường hợp cung ứng của Ford Foundation về chứng khoán công ty Ford Motor năm l956( khoảng $658 triệu ) do 7 công ty xử lý theo thoả hiệp liên kết quản lý và số bán cổ phần của Howard Hughes ($566 triệu) thông qua Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith năm 1966. Một hình thức tương tự với phân phối lần thứ 2 được gọi là cung ứng đặc biệt (special offering), nó giới hạn số thành

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

61

viên của NYSE và hoàn tất trong ngày mua bán. Xem: Exchange Distribution, Registered Secondary Offering, Securities and Exchange Commission Rules 144 and 237. SECONDARY EXCHANGE MARKET(SEM) : Thị trường hối đoái cấp hai(thứ cấp). Thị trường không chính thức của hối đoái trong quốc gia có hệ thống tỷ giá hối đoái kép (dual exchange - rate system). SEM là thị trường hợp pháp nhưng có tỷ giá dành cho loại giao dịch không được ưu tiên, không thuận lợi bằng tỷ giá hối đoái chính thức dành cho các giao dịch mua bán được ưu đãi. Trong quốc gia đang phát triển tiền của công nhân từ nước ngoài gởi về thường thường được chuyển đổi theo SEM. SECONDARY LIABILITY: Nợ thứ cấp( cấp hai). Nợ hợp pháp phụ thuộc, thí dụ nợ của người bối thự khi hối phiếu không được chi trả hay khi người viết hối phiếu không trả được nợ. Xem Contingent Liability. SECONDARY MARKET: Thị trường Cấp II. l. Thị trường chứng khoán và thị trường ngoài danh mục nơi chứng khoán được mua và bán tiếp theo sau lần phát hành đầu tiên(phát hành gốc) tức là lần thực hiện ở Thị Trường Cấp I. Số tiền thu được ở Thị Trường cấp II thuộc về người mua bán và nhà đầu tư chứ không thuộc về công ty đầu ty đầu tiên phát hành chứng khoán trái phiếu. 2.Thị trường nơi mua bán các công cụ thị trường tiền tệ ngắn hạn giữa các nhà đầu tư. SECONDARY MORTGAGE MARKET: Thị Trường Thế Chấp Cấp II. Mua bán, trao đổi số tiền vay có thế chấp đang hiện hành và chứng khoán trái phiếu có thế chấp bảo đảm. Như thế người cho vay gốc (đầu tiên) có thể bán số cho vay trong danh mục đầu tư của mình để có tiền mặt cho vay thêm. Tiền vay có thế chấp của người cho vay được cơ quan nhà nước (ở Hoa Kỳ như Federal Home Loan Morgage Corporation và Federal National Mortgage Association) và các ngân hàng đầu tư mua. Các cơ quan và ngân hàng này đến lượt họ lập ra một thế chấp chung để gói gọn thành chứng khoán có thế chấp bảo đảm sau đó bán cho nhà đầu tư, nó được gọi là Chứng khoán qua trung gian bảo đảm (Pass- Through Securities hay Chứng Chỉ Dự Phần (Partcipation certificates). Vì thế Thị Trường Thế Chấp Cấp II bao gồm tất cả các hoạt động bên ngoài Thị Trường Cấp I, nó đứng giữa người mua nhà và người cho vay có thế chấp đầu tiên. SECONDARY OFFERING: Cung ứng cấp hai. Xem Secondary Distribution. SECONDARY RESERVES: Số dự trữ cấp hai( thứ yếu). Tài sản đầu tư trong trái phiếu ngắn hạn dễ mua bán thường là công phiếu ngắn hạn hay trái phiếu nhà nước ngắn hạn. Số dự trữ theo luật định trong ngân hàng nhà nước không sinh lợi, nhưng số dự trữ cấp hai là nguồn bổ sung để thanh toán (dễ, chuyển ra tiền mặt). Tiền lãi của dự trữ này có thể dùng để điều chỉnh vị thế dự trữ của ngân hàng. Nếu số cầu tiền vay thấp, ngân quỹ ký thác thường được đầu tư vào trái phiếu ngắn hạn và dễ đổi ra tiền mặt. Số dự trữ cấp hai không được liệt kê thành hạng mục trong bàn cân đối tài khoản riêng lẻ. SECONDARY STOCKS: Chứng khoán cấp II. Dùng theo cách thông thường để chỉ chứng khoán có số tư bản hoá thị trường nhỏ (market capitalization), chất lượng kém, có nhiều rủi ro hơn chứng khoán cấp cao (blue chip) theo chỉ số Dow Jones. Chứng khoán cấp II thường có hoạt động khác hơn chứng khoán cấp cao, nó được theo dõi bằng chỉ số trị giá thị trường Amex (Amex Market Value Index), chỉ số tổng hợp NASDAQ, các chỉ số được sử dụng rộng rãi như S&P. Chứng khoán cấp II còn được gọi là second - tier stocks (chứng khoán lớp thứ hai) . SECTOR: Khu vực (chứng khoán ) chuyên ngành. Một nhóm cá biệt chứng khoán làm nền tảng cho một ngành. Nhà phân tích chứng khoán thường theo dõi một khu vực cá biệt trong thị trường chứng khoán như chứng khoán ngành hàng không hay hoá chất. SECTOR FUND: Quỹ đầu tư theo khu vực chuyên ngành. Quỹ hỗ tương đầu tư chuyên đầu tư vào một ngành. SECULAR : Dài hạn thông thường. Dài hạn (10-50 năm hay lâu hơn), khác với khung thời gian theo vụ mùa hay chu kỳ. SECURED BOND: Trái phiếu có bảo đảm. Trái phiếu được bảo đảm bằng thế chấp tài sản, công cụ nợ hay quyền giữ thế chấp. Tính chất xác thực của chứng khoán phải được nói rõ trong giao kèo. Trái phiếu có bảo đảm khác với trái phiếu không bảo đảm gọi là giấy nợ (debenture - giấy chứng nhận nợ) . SECURED CREDIT: Tín dụng được bảo đảm. Xem Secured Loan. SECURED CREDIT CARD: Thẻ tín dụng được bảo đảm. Thẻ tín dụng ngân hàng được bảo đảm bằng tài khoản tiết kiệm. Nhà phát hành sẽ giữ thẻ tín dụng tương đương với mức tín

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

62

dụng của người có thẻ và được quyền dùng tài khoản ký thác để trả hoá đơn tính tiền thẻ tín dụng nếu người có thẻ không thể chi trả. Thẻ tín dụng có bảo đảm chỉ được phát hành cho những người có khả năng chi trả dựa trên quá trình tín dụng của ông ta không có gì trục trặc. SECURED CREDITOR: Chủ nợ được bảo đảm. Một bên có giữ thế chấp hay có quyền đòi chi trả trên tài sản. Người cho vay có thế chấp được giữ một quyền lợi an toàn trong thế chấp nơi cư trú của người vay. Ngân hàng nào có quyền lợi an toàn trong tài sản của người vay được xem là chủ nợ được bảo đảm . SECURED DEBT: Nợ có bảo đảm. Nợ được bảo đảm bằng thế chấp tài sản hay vật thế chấp. Xem : Assign, Hypothecation . SECURED LOAN: Tiền cho vay được bảo đảm. Tiền cho vay được bảo đảm bằng việc chuyển nhượng quyền giữ tài sản và một quyền lợi an toàn trong tài sản cá nhân hay tài sản thực. Người vay có thế chấp giao cho người cho vay một thế chấp trong tài sản đã được tài trợ. Tiền cho vay kinh doanh có thể được bảo đảm bằng tiền mặt, hàng kho. Tài khoản thu, trái phiếu dễ mua bán, và các thế chấp có thể chấp nhận. Trong trường hợp người vay không thể chi trả theo các điều khoản tín dụng ban đầu, người cho vay có thể được quyền hợp pháp đòi chi trả và bán thế chấp. Ngược lại với tiền vay không bảo đảm, nó chỉ được bảo đảm bằng lời hứa chi trả bằng giấy hứa trả nợ. Xem : Asset- Based Lendir. ,Finacing Statement, Security Agreement, Side Collateral. SECURITIES ANALYST: Nhà phân tích chứng khoán. Cá nhân thường do công ty môi giới, ngân hàng hay tổ chức đầu tư thuê mướn, người này thực hiện nghiên cứu đầu tư và khảo sát điều kiện tài chánh của công ty hay một nhóm công ty trong một ngành và khảo sát bối cảnh các thị trường chứng khoán. Nhiều nhà phân tích chuyên về một ngành độc nhất hay một khu vực và đề xuất mua, bán, giữ lại đầu tư trong lãnh vực đó. Trong số các biểu thị tài chánh của công ty, các nhà phân tích theo dõi chặt chẽ doanh số và phát triển lợi nhuận, cơ cấu vốn, khuynh hướng của chứng khoán, tỷ lệ P/E (giá/lợi nhuận), số chi trả cổ tức, lợi nhuận từ đầu tư vốn. Nhà phân tích chứng khoán đẩy mạnh việc phổ biến tài chánh công ty bằng các cuộc hội thảo có hỗ trợ thông qua các hiệp hội địa phương. Xem Forcasting, Fundamental Analysis. SECURITIES LOAN: Cho vay chứng khoán. 1. Broker cho một người khác vay chứng khoán thường là để trang trải ( bảo kê ) bán khống (short sale - bán chứng khoán vay mượn) của khách hàng. Broker cho vay được bảo đảm bằng tiền thu được do việc bán chứng khoán đó. 2. Theo ý nghĩa tổng quát, tiền cho vay được thế chấp bằng số chứng khoán có tính thị trường (dễ mua bán) số vay này bao gồm số tiền khách hàng vay của Broker- Dealers để mua hay giữ chứng khoán. Số tiền vay phải theo luật lệ của nhà nước về tài khoản Margin (tài khoản vay tiền để mua chứng khoán), cũng như số tiền cho vay của ngân hàng và của người cho vay khác phải theo luật nhà nước. Số tiền do ngân hàng cho Brokers vay để bảo kê vị trí khách hàng cũng được thế chấp bằng chứng khoán nhưng số tiền vay như thế được gọi là tiền vay của Broker hay tiền vay theo lệnh gọi (call loans). Xem : Hypothecation, SECURITlZATION: Trái phiếu hoá (chuyển ra trái phiếu). Chuyển đổi tiền cho vay ngân hàng và tài sản khác ra trái phiếu dễ mua bán để bán cho nhà đầu tư. Tổ chức tồn trữ ký thác hay nhà đầu tư ngoài ngân hàng có thể mua loại trái phiếu này. ở mức độ rộng hơn, tài trợ cho công ty bằng giấy nợ có lãi suất thả nổi và chứng từ nợ thương mại Châu Âu thay thế tiền vay của ngân hàng như là phương tiện cho vay, là một hình thức trái phiếu hóa. Bằng cách hàng phiếu hoá tiền cho vay ngân hàng và tài khoản thu tín dụng, tổ chức tài chánh thay thế tài sản ngân hàng trong bảng cân đối tài khoản nếu hội đủ một số điều kiện nào đó - làm tăng tỷ lệ vốn và lập ra tiền cho vay mới bằng số tiền thu được do bán trái phiếu cho nhà đầu tư. Tiến trình này nối kết có hiệu quả thị trường tín dụng (thị trường thế chấp trong đó người cho vay lập ra tiền cho vay mới) và thị trường vốn bởi vì tài khoản thu của ngân hàng gom lại thành trái phiếu được bảo đảm bằng tập hợp các thế chấp, tiền vay mua ô tô, tài khoản thu của thẻ tín dụng, cho thuê, và các loại nợ tín dụng khác khi ngân hàng mong nhà đầu tư với tư cách người giữ nợ sau cùng thì ngân hàng có khuynh hướng nghiêng về hoạt động với tư cách người bán tài sản hơn hơn là người cho vay theo danh mục đầu tư (nghĩa là tất cả tiền cho vay của họ đều nằm trong danh mục đầu tư của riêng họ). Trái phiếu hoá (chứng khoán hoá) cũng định nghĩa lại ý nghĩa chất lượng tài sản về phương diện ngân hàng, tiêu chuẩn bảo kê tiền vay vì người cho vay sẽ xem chất lượng tiền cho vay

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

63

trong ý nghĩa khả năng dễ mua bán của nó trong thị trường vốn chứ không phải theo khả năng có thể chi trả lại của người vay. Với mục đích báo cáo theo luật định, tiền cho vay được chuyển sang một loại trái phiếu và được bán như trái phiếu có tài sản bảo đảm thì có đủ tiêu chuẩn để xem đó là thương vụ bán tài sản. Người bán không còn chịu rủi ro thua lỗ từ số tài sản đã chuyển đổi và không phải chịu trách nhiệm với người mua vì người vay bị vỡ nợ hay có sự thay đổi trị giá thị trường của trái phiếu đã bán. Sự chuyển đổi tài sản trong đó người mua có nguồn hỗ trợ (recourse) dựa vào tổ chức bên bán thì được xem là số vay mượn hay tài trợ được tài sản bảo đảm. SECURITY: Bảo đảm thế chấp - Chứng khoán (cổ phần thường, ưu đãi, trái phiếu). Tài Chánh : vật thế chấp do người nợ giao cho người cho vay để đảm bảo số nợ, nó được gọi là thế chấp bảo đảm Collateral Security. Thí dụ, vật bảo đảm cho số tiền vay có thế chấp là bất động sản đang được mua bằng số tiền vay. Nếu không trả được nợ, người cho vay có thể giữ bất động sản bảo đảm đó và bán đi. Cá nhân bảo đảm (personal security) ám chỉ một người hay một công ty bảo đảm cho số nợ cam kết đầu tiên của một người khác. Đầu tư : công cụ cho biết có một vị thế sở hữu trong công ty (chứng khoán ), một chủ nợ có liên hệ với một công ty hay một bộ phận nhà nước (trái phiếu ), hay có quyền về sở hữu trong các công cụ tiêu biểu bằng hợp đồng option, quyền đăng ký mua, chứng chỉ đặc quyền đăng ký mua. SECURITY AGREEMENT: Thoả thuận về sự an toàn. Chứng từ cho người cho vay có một quyền lợi an toàn trên số tài sản được thế chấp. Thoả thuận này do người vay ký, nó cho biết đầy đủ chi tiết về tài sản thế chấp và địa điểm để người cho vay có thể nhận diện nó và người vay ký chuyển nhượng cho người cho vay quyền được bán hay phát mãi tài sản thế chấp nếu người vay không thể trả nợ. Thoả thuận an toàn có thể bao gồm giao kèo cho vay để điều hành việc ứng trước ngân quỹ và có một thời biểu chi trả lại vốn và lãi hoặc yêu cầu người vay phải bảo hiểm tài sản thế chấp. Thỏa thuận an toàn có thể bao gồm quyền giữ thế chấp nhưng không sở hữu đối với tài sản vô hình như khoản thu của tài khoản hay quyền giữ thế chấp có quyền sở hữu (possessory lien ) trong đó người cho vay giữ tài sản thế chấp thí dụ như chứng chỉ chứng khoán cho đến khi tiền cho vay được trả đầy đủ. Trong vài loại tiền vay, thoả thuận an toàn cũng là hồ sơ tài trợ để nạp cho cơ quan có thẩm quyền nếu như có chữ ký của hai bên, người vay và người cho vay. SECURITY INTEREST: Quyền lợi an toàn. Quyền đòi chi trả đối với tài sản được người vay thế chấp để bảo đảm cho số chi trả món nợ. Quyền lợi của người cho vay được gọi là quyền giữ thế chấp, nó gắn liền với tài sản của người vay và bao gồm 2 quyền : quyền tịch biên và quyền ưu tiên hàng đầu. Người cho vay đệ trình hồ sơ tài trợ, thường giống như chứng từ thoả thuận an toàn sẽ được cơ quan thẩm quyền thông báo cho các chủ nợ khác biết. Tiến trình này được gọi là hoàn thiện quyền giữ thế chấp, thông thường được thực hiện trong loại tiền vay thương mại có quyền giữ thế chấp nghĩa là có quyền hợp lệ hơn các chủ nợ khác và hơn bên thứ ba. Xem Perfected Lien . SECURITY MARKET LINE: Giới tuyến an toàn thị trường. Mối liên hệ giữa tỷ lệ lợi nhuận theo quy định trong đầu tư và các rủi ro thông thường của chứng khoán cùng loại (systematic risk trong đầu tư đó. SECURITY RATINGS: Đánh giá chứng khoán. Ước tính về rủi ro tín dụng và đầu tư của việc phát hành chứng khoán do các cơ quan ước tính thương mại thực hiện. SEED MONEY: Tiền gốc. Số đóng góp đầu tiên của nhà tư bản mạo hiểm vào số tài chánh hay vốn theo yêu cầu để bắt đầu kinh doanh (start -up business). Số tiền này thường dưới hình thức vay nhưng thường được xem là không quan trọng hay dưới hình thức đầu tư bằng trái phiếu khả hoán hay chứng khoán ưu đãi. Số tiền gốc làm căn bản cho việc tư bản hoá thêm (đầu tư thêm vốn) nhằm điều chỉnh sự phát triển được ăn khớp. Xem : Mezzanine Level, SEEK A MARKET: Tìm kiếm thị trường. Tìm người mua (nếu là người bán) hay tìm người bán chứng khoán (nếu là người mua). SEGMENTATION: Sự phân thành từng mảng. Phân chia tập hợp thế chấp thành các nhóm có lãi suất và các đặc tính chi trả giống nhau như cam kết nợ có thế chấp được bảo đảm, tiền cho vay của ngân hàng được trái phiếu hoá hay tài sản ngân hàng được chuyển thành trái phiếu dễ mua bán để bán trên thị trường cấp hai. Điều này làm nâng cao trị giá trái phiếu đối với nhà đầu tư khi trái phiếu được bán để nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn hơn loại chứng chỉ qua trung gian bảo đảm bằng thế chấp SELLING, GENERAL, AND ADMINISTRATIVE (SG&A) EXPENSES: Chi phí bán, tổng

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

64

quát và quản lý. Nhóm chi phí báo cáo trong bản báo cáo lời lỗ của công ty giữa giá phí hàng bán (cost of goods sold) và khấu trừ lợi tức (income deduction). Chi phí này bao gồm các mục như : lương và hoa hồng cho nhân viên bán hàng, quảng cáo và cổ động, du lịch và giải trí, lương và chi phí khối văn phòng, lương ban điều hành . Chi phí SG&A không bao gồm các mục như tiền lãi hay khấu trừ dần tài sản vô hình, những phần này được liệt kê trong phần khấu trừ lợi tức. Xem Operating Profit (or Loss). SELLING GROUP: Nhóm bán. Nhóm người mua bán (dealers) do viên chức quản lý (giám đốc) nhóm bao tiêu chỉ định, hoạt động như một bộ phận hay nhân viên làm việc cho các nhà bao tiêu khác để bán chứng khoán mới phát hành hay phát hành lần thứ hai ra công chúng. Nhóm bán thông thường bao gồm các thành viên của nhóm bao tiêu nhưng khác nhau về tầm vóc số người và mức độ phát hành, đôi khi nhóm bán bao gồm hàng trăm Dealers . Nhóm bán làm việc theo chỉ đạo của thoả thuận nhóm bán còn gọi là thoả thuận của Dealer được chọn lựa (selected dealer agreement. Thoả thuận công bố các mục và mối quan hệ, thiết lập hoa hồng thường gọi là hoa hồng cho nhóm bán - selling concession giảm giá bán cho nhóm bán và thời hạn hoạt động của nhóm, thường là 30 ngày. Nhóm bán có thể hay không thể bị buộc phải mua cổ phần không bán được. SELLING OFF: Bán tống bán tháo. Bán chứng khoán hay hàng hoá vì áp lực phải tránh giá càng giảm xuống nữa. Nhà phân tích kỹ thuật gọi đó là sell-off bán tống bán tháo . Xem Dumping. SELLING ON THE GOOD NEWS: Bán theo thời điểm có tin tốt. Bán chứng khoán ngay sau khi có thông báo tin tức lạc quan về việc phát triển. Hầu hết các nhà đầu tư vui mừng vì có tin sản phẩm mới được thành công hay có lợi nhuận cao, họ sẽ mua chứng khoán vì nghĩ rằng nó sẽ lên cao hơn, do đó làm cho giá chứng khoán tăng. Một vài người nào đó bán chứng khoán theo thời điểm có tin tốt tin tưởng rằng chứng khoán sẽ lên đến giá tột đỉnh khi người ta được khích lệ vì kinh tế phát triển nên sẵn sàng mua chứng khoán. Do đó, tốt hơn hết là bán ngay vào thời điểm này hơn là chờ có thêm tin tốt hay giữ chứng khoán, vì có thể thông báo kế tiếp sẽ là thông báo đầy thất vọng. So sánh với Buying On The Bad News (mua theo thời điểm có tin xấu). SELLING SHORT: Bán khống. Bán hợp đồng futures chứng khoán hay hàng hoá mà bản thân người bán không có chứng khoán, hàng hoá. Kỹ thuật này dùng để: 1. Kiếm lợi nhuận khi đoán giá sẽ hạ. 2. Bảo vệ lợi nhuận trong vị thế mua xem (Selling Short Against The Box). Nhà đầu tư mượn chứng chỉ chứng khoán để giao vào thời điểm bán khống. Nếu sau đó người bán có thể mua loại chứng khoán đó với giá thấp hơn thì người bán được lợi nhuận, tuy nhiên nếu giá tăng người bán sẽ lỗ. Hàng hoá được bán khống có nghĩa là người bán hứa sẽ giao hàng hoá theo giá đã ấn định vào một thời điểm trong tương lai. Hầu hết hàng hoá bán khống đều có bảo kê trước khi giao. Thí dụ về việc bán khống chứng khoán: Nhà đầu tư tiên đoán giá cổ phần công ty XYZ sẽ giảm, ông ta chỉ thị cho broker của ông ta bán khống 100 cổ phần XYZ khi đang có giá $50/cổ phần. Sau đó broker cho nhà đầu tư vay 100 cổ phần XYZ bằng số chứng khoán tồn kho của riêng ông ta hoặc cổ phần trong tài khoản Margin của chủ hàng khác hoặc cổ phần mượn của broker khác. Các cổ phần này dùng để thanh lý với broker mua trong vòng 5 ngày của giao dịch bán khống, và tiền thu được sẽ đảm bảo cho số tiền vay. Bây giờ nhà đầu tư ở vào vị thế gọi là vị thế bán (short position) nghĩa là nhà đầu tư vẫn không sở hữu 100 cổ phần XYZ và lúc nào đó phải mua cổ phần trả lại cho broker đã cho mượn. Nếu giá thị trường cổ phần XYZ rớt xuống còn $40/cổ phần, nhà đầu tư có thể mua 100 cổ phần với giá $4.000 trả lại cho broker đã cho mượn như thế đã trang trải được việc bán và được lợi nhuận $1.000 hay $10/cổ phần. ở Hoa Kỳ, luật T của Federal Reserve Board quy định luật lệ về việc bán khống. Xem : Lending at a Rate, Short Sale Rule. SELLING SHORT AGAINST THE BOX: Bán khống dựa trên hộp an toàn. Bán khống ,chứng khoán mà người bán thực sự có chứng khoán nhưng được giữ trong hầm an toàn (safe keeping) gọi là Box trong hầm của Phố Wall . SETTLEMENT DATE: Thời điểm thanh lý. Thời điểm lệnh thực hiện phải được thanh lý hoặc là người mua chi trả chứng khoán bằng tiền mặt, hoặc là người bán giao chứng khoán và nhận tiền bán chứng khoán này. Trong cách cung ứng thông thường chứng khoán và trái phiếu, thời điểm thanh lý là 5 ngày hành chánh sau khi việc mua bán đã được thực hiện . Đối với hợp đồng option có liệt kê và chứng khoán nhà nước, việc thanh lý được quy định là ngày hành chánh kế tiếp. Xem : Seller's Option .

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

65

SETTLEMENT OPTION : Lựa chọn thanh lý. 1. Thị trường hối đoái: hợp đồng trong đó người bán có lựa chọn để thanh lý một hợp đồng tương lai (forward contract vào bất cứ thời điểm nào trong một khoảng thời gian ấn định . 2. Chứng khoán, trái phiếu : sự lựa chọn của người bán nhằm cung cấp trái phiếu, chứng khoán vào bất cứ lúc nào từ 5 ngày sau thời điểm giao dịch (theo cách thanh lý thông thường của công ty đến trễ nhất là 60 ngày sau thời điểm giao dịch . SETTLEMENT PRICE: Giá thanh toán. Trong hợp đồng futures, con số được xác định bằng khung giá kết thúc và được dùng để tính lời, lỗ mua bán . Giá thanh toán dùng để xác định lời lỗ lệnh gọi margin (lệnh yêu cầu đóng thêm tiền vào tài khoản vay tiền để mua chứng khoán, giá hoá đơn hàng hoá cung ứng. Ngoài ra, đây là giá một công cụ tài chánh làm cơ sở cho hợp đồng option khi hợp đồng được thi hành giá điểm, giá thực thi. SETTLOR : Người tặng, uỷ thác. Người lập ra uỷ thác giữa những người còn sống (Inter Vivos Trust) khác với uỷ thác theo di chúc (testamentary Trust - uỷ thác chỉ có hiệu lực khi người uỷ thác mất). Người biếu tặng (người uỷ thác) còn được gọi là Donor, G rantor, SEVERALLY BUT NOT JOINTLY: Riêng rẽ, không liên đới, phần nào ra phần đó. Hình thức thoả thuận dùng để thiết lập trách nhiệm về việc bán một phần chứng khoán được bao tiêu . Thàn h viên nhóm bao tiêu đồng ý mua một phần chứng khoán phát hành (riêng ra) nhưng không đồng ý chịu trách nhiệm pháp lý chung (jointly) đối với các cổ phần không được các thành viên khác của nhóm bao tiêu bán. Một hình thức ít thông dụng hơn về thoả thuận bao tiêu được gọi là thoả hiệp riêng rẽ và chịu trách nhiệm chung, thành viên nhóm bao tiêu không những đồng ý bán số cổ phần đã phân bổ, cho họ mà còn chịu trách nhiệm về số cổ phần không được số thành viên còn lại bán

Chủ đề

T

T CALL: Lệnh gọi đóng thêm tiền hay chứng khoán. Xem Margin Call. TAIL: Khoảng cách thời gian, chênh lệch, đuôi. Bảo hiểm: thời khoảng giữa lúc nhận lợi tức phí bảo hiểm và chi trả theo quyền đòi chi trả. Thí dụ, công ty tái bảo hiểm có thời khoảng từ lúc nhận phí bảo hiểm đến lúc phải trả bảo hiểm (tail) dài hơn khi so sánh với công ty bảo hiểm tai nạn. Đấu giá trái phiếu kho bạc : chênh lệch giá giữa giá đặt mua có cạnh tranh thấp nhất (lowest competitive bid) được công khố Hoa Kỳ chấp nhận đối với trái phiếu kho bạc ngắn, trung và dài hạn với giá đặt mua trung bình của tất cả công phiếu cung ứng, để mua các công phiếu như thế. Xem Treasuries. Bao tiêu: số thập phân đặt phía sau số tròn dollar của giá đặt mua do một nhà bao tiêu tương lai trong đấu thầu có cạnh tranh đặt bao tiêu. Thí dụ, trong giá đặt mua là $97,3347 của một loại trái phiếu phát hành nào đó, thì số đuôi thập phân là 0,3347. TAILGATING: Đi cửa hậu - Ăn có. Một hoạt động không đạo đức của một broker, sau khi khách hàng đã đặt lệnh mua hay bán một chứng khoán nào đó thì broker cũng đặt một lệnh cùng một loại chứng khoán như thế cho tài khoản của riêng mình. Broker hy vọng kiếm được lợi nhuận hoặc là nhờ các thông tin mà khách hàng đã biết hay đoán biết, hoặc là nhờ việc mua của khách hàng với số lượng đủ để tạo áp lực trên giá chứng khoán. TAKE: Lợi nhuận, tiền xổ số, tiền hối lộ, tịch thu, chấp nhận. Tổng quát: 1. Lợi nhuận hiện thực (nhận được) trong một vụ giao dịch. 2. Tổng số thu của công ty xổ số hay đánh bài. 3. Bắt đầu hối lộ, như trong câu "đang hối lộ" (being on the take). Luật pháp: tịch thu tài sản. Khi con nợ không thể trả nợ có thế chấp bảo đảm thì người cho vay sẽ tịch thu vật thế chấp này. Chứng khoán: chấp nhận giá cung ứng trong một vụ giao dịch giữa brokers và dealers (người mua bán cho chính mình). TAKE A BATH: Đi tắm - Thua sạch sẽ. Chịu thua lỗ nặng trong một vụ đầu cơ hay đầu tư như trong câu "tôi đã thua sạch sẽ số chứng khoán công ty XYZ stock...).

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

66

TAKE A FLIER: Đầu cơ, có tham vọng kiếm lời, mạo hiểm. Đầu cơ, có nghĩa là mua chứng khoán với ý thức là vụ đầu tư này có rất nhiều rủi ro. TAKE A POSITION: Giữa một vị thế. 1. Mua chứng khoán trong công ty với ý định giữ một thời gian dài hoặc nếu có thể chiếm quyền kiểm soát công ty. Một người thụ đắc chiếm vị thế có từ 5% trở lên số chứng khoán đang lưu hành của công ty phải trình bản thông tin đến nhà nước cũng như việc mua bán với công ty bị tiếp quản đó. 2. Từ ngữ được sử dụng khi broker/dealer lưu giữ chứng khoán, trái phiếu trong kho, vì thế họ có thể ở vị thế mua hay bán (long or short). Xem Long Position Short Position. TAKE DELIVERY: Nhận số giao. 1. Kết thúc một giao dịch chứng khoán vào thời điểm thanh toán. Người mua nhận phần giao theo cách thanh toán thông thường, nghĩa là trong vòng 5 ngày theo thời điểm giao dịch mua bán. 2. Hành động thanh lý một giao dịch mua bán hợp đồng Futures bằng cách nhận số hàng hoá cơ sở. Nhà mua bán ít khi thanh lý hợp đồng Futures, thay vào đó họ bán hợp đồng trước khi đáo hạn. TAKE- OR- PAY CONTRACT: Hợp đồng nhận trực tiếp hay trả lại. Thoả thuận giữa người mua và người bán cam kết rằng người mua trả một số tiền tối thiểu để mua sản phẩm hay dịch vụ chưa được giao. Loại hợp đồng này thường được sử dụng trong ngành tiện ích công cộng để hỗ trợ trái phiếu tài trợ cho các nhà máy điện mới. Hợp đồng này có điều kiện là người mua điện sau này sẽ nhận lượng điện từ nhà phát hành trái phiếu, nếu công trình không hoàn tất sẽ trả lại cho trái chủ số tiền họ đã đầu tư. Hợp đồng nhận hay trả là cách thông thường nhất để bảo vệ trái chủ. TAKE-OUT COMMITMENT: Cam kết mua rút ra trong tương lai (mua tiền vay ngắn hạn). Thoả thuận giữa ngân hàng thế chấp và nhà đầu tư dài hạn, theo đó nhà đầu tư đồng ý mua tiền vay có thế chấp vào thời điểm ấn định trong tương lai. Nhà đầu tư được gọi là take-out lender, tiêu biểu như công ty bảo hiểm hay tổ chức tài chánh. Xem : Take-out Lender, Take-out Loan. TAKE-OUT LENDER: Người cho vay dài hạn mua tiền vay ngắn hạn có thế chấp. Tổ chức tài chánh cung cấp tiền cho vay có thế chấp dài hạn dựa trên tài sản thực, dùng để thay thế số tài trợ chuyển tiếp ngắn hạn, hoặc tiền cho vay xây dựng của đơn vị tiết kiệm và cho vay, ngân hàng hay ngân hàng thế chấp. Tổ chức cấp tiền cho vay dài hạn hay tài trợ thường xuyên thường là công ty bảo hiểm hay nhà đầu tư thuộc tổ chức sẵn sàng đầu tư dài hạn trong tài sản sinh lợi hiện thực bằng số tư bản kiếm được từ số bán cuối cùng của tài sản, ngoài ra còn có lượng tiền mặt từ số tiền chi trả thuê mướn của người thuê tài sản. TAKE OUT LOAN: Tiền cho vay dài hạn lấy lần lần. Tài trợ dài hạn thường được hoạch định như tiền vay có thế chấp chi trả dần dần và cố định cho dự án xây dựng nhà cửa, phát triển văn phòng hoặc là được kết hợp sử dụng tài sản có sinh lãi. Hình thức mới gần đây là tiền vay có thế chấp lãi 0, trong đó tiền lãi được trả ngay một kỳ hay được trả dồn một lần (balloon payment) khi đáo hạn. TAKE THE OFFER: Chấp nhận giá đặt bán. Cách diễn tả người mua sẵn sàng chấp nhận giá đặt bán của người bán đang báo giá ngược lại với Hit the Bid (chấp nhận giá đặt mua). TAKEDOWN: Phần chia, giá có hạ (có khấu trừ). 1. Phần chia chứng khoán theo tỷ lệ cho ngân hàng đầu tư có dự phần khi phát hành lần đầu tiên hay lần thứ hai các chứng khoán. 2. Giá của chứng khoán được phân bố cho thành viên nhóm bao tiêu, đặc biệt là trong phát hành trái phiếu đô thị. Xem Underwrite. TAKEOUT: Rút tiền, thay thế ngắn hạn bằng dài hạn. Tài chánh bất động sản: tiền vay có thế chấp dài hạn dùng để chi trả cho tiền vay xây dựng ngắn hạn (Interim loan). Xem Standby Commitment. Chứng khoán: rút số tiền mặt từ tài khoản công ty môi giới, sau một vụ mùa hay bán phát sinh ra một số cân đối dư thuần (net credit balance-kết số dư tín dụng thuần). TAKEOVER: Giành quyền kiểm soát, tiếm quyền. Thay đổi quyền kiểm soát lợi tức của một công ty. Việc giành quyền kiểm soát có thể là một

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

67

thụ đắc thân thiện hay một đấu thầu không thiện ý (hay đặt giá mua) một công ty đang là mục tiêu để tiếm quyền (target company) và có thể phải đối đầu với kỹ thuật chống cá mập (sharp repellent-mùi hôi chống cá mập). Một hành động tiếm quyền có ác ý (nhằm mục tiêu thay thế ban điều hành hiện tại) thường được cố thực hiện bằng cách đưa ra giá đệm (tender offer-đưa ra giá mềm-giá mua cao hơn giá thị trường). Các phương thức khác có thể là các đề xuất sát nhập tự nguyện các uỷ viên ban quản trị (directors), gom góp (tích luỹ) dần dần các cổ phần trong thị trường tự do hay tìm cho được những quyền uỷ nhiệm (proxy rights) để thiết lập một ban quản trị mới. TAKEOVER ARBITRAGE: Sách lược song hành tiếm quyền. Xem Risk Arbitrage. Taking delivery : Nhận cung ứng. 1. Tổng quát: chấp nhận nhận hàng hoá từ phương tiện chuyên chở thông thường hay phương tiện vận chuyển bằng tàu, thông thường lập chứng từ bằng cách ký vào vận đơn hay các giấy biên nhận khác. 2. Hàng hoá: chấp nhận cung ứng hàng hoá cụ thể theo hợp đồng futures (spot market-thị trường trả ngay bằng tiền mặt). Các quy định về giao hàng (cung ứng) như tầm mức của hợp đồng và số lượng hàng hoá cần thiết, được thiết lập theo thị trường nơi hàng hoá mua bán. 3. Chứng khoán: chấp nhận nhận chứng chỉ chứng khoán hay trái phiếu mới mua gần đây hay mới chuyển từ tài khoản khác tới. TALON: Phần chia còn lại. Một hình thức được cổ đông áp dụng cho phiếu lãi (coupon) thuộc người mang (bearer bond coupons) khi một nguồn cùng đang có lại bị cạn. TAN: Giấy nợ trả trước thuế. Xem : Tax Anticipation Note. TANDEM LOAN: Tiền vay được bao cấp. Chương trình tiền vay có thế chấp được trợ cấp (bao cấp) trong đó nhà nước mua tiền vay có thế chấp theo giá cao hơn giá thị trường công bằng hợp lý, và bán lại cho một cơ quan nhà nước. Chương trình nhằm trợ giúp tài chánh cho nhà xây dựng phát triển của dự án xây dựng chung cư không vì mục đích kiếm lợi. Nhà nước sẽ trả phần chênh lệch-giữa giá mua và giá bán-sử dụng việc đánh giá tín dụng để đảm bảo cho phần khấu trừ (chênh lệch) mà các cơ quan xây dựng chung cư không đủ sức gánh vác và đổi lại họ sẽ chấp nhận một số thua lỗ (nếu có trong giao dịch này). TANGIBLE ASSET: Tài sản hữu hình. Bất cứ tài sản nào không hội đủ điều kiện của định nghĩa tài sản vô hình (intangible asset) là loại quyền không cụ thể đối với những thứ được xem là tiêu biểu cho một quyền lợi trên thị trường như nhãn hiệu cầu chứng, bản quyền. Vì thế tài sản hữu hình rõ ràng là những thứ tồn tại cụ thể như tiền mặt, bất động sản, máy móc. Tuy nhiên trong kế toán, các tài sản như tài khoản thu được xem là tài sản hữu hình mặc dù nó không giống tính cách cụ thể hơn gì môn bài hay hợp đồng cho thuê, cả hai loại này được xem như tài sản vô hình. Nói tóm lại, nếu một tài sản có một hình thức cụ thể thì nó là hữu hình nếu không thì phải tham khảo bản danh sách mà các nhà kế toán đã quyết định cái nào là tài sản vô hình. TANGIBLE COST: Giá phí hữu hình- Giá phí thực tế. Từ ngữ dùng trong lãnh vực khoan dầu và gas có nghĩa là giá phí của những hạng mục có thể sử dụng qua một thời gian như: các túi dầu (casings), các thiết bị lắp ráp tốt, đất đai, bể chứa, nó khác với giá phí vô hình như khoan dầu, thử nghiệm và chi phí địa chất. Trong thoả thuận phân chia thành viên góp vốn trách nhiệm hữu hạn (limited partnership) được mọi người sử dụng thì giá phí hữu hình do giám đốc thành viên gánh vác còn giá phí vô hình thì do thành viên chịu, thường thường được thực hiện nhằm mục đích giảm thuế. Tuy nhiên trong trường hợp giếng dầu cạn, tất cả trở thành giá phí vô hình. Xem Intangible Cost. TANGIBLE NET WORTH: Trị giá thuần hữu hình. Tổng số tài sản trừ đi tài sản vô hình và tổng số nợ, nó còn được gọi là tài sản hữu hình thuần (net tangble asset). Tài sản vô hình bao gồm các lợi ích không cụ thể như danh tiếng, bản quyền, quyền sao chép, và nhãn hiệu cầu chứng. TAP STOCK: Trái phiếu viền vàng (cấp cao) dưới mức đăng ký mua. Trái phiếu này được bán trong thị trường mở rộng, nó có thể ngắn hạn (short taps) hay dài hạn (long taps). Nó còn được gọi là undersubscripbed gilts. TAPE: Băng truyền thông tin. 1. Dịch vụ báo cáo giá cả và mức độ các vụ giao dịch trên các thị trường chính. Nó còn được

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

68

gọi là băng truyền thông tổng hợp (composite tape) hay ticker tape (băng điện báo) (bởi vì âm thanh phát ra khi máy in vào băng trước khi xử lý tính toán). 2. Dịch vụ truyền thông của Dow Jones và mạng điện thoại điện toán khác, thường được gọi là Broad Tape. Xem Consolidate Tape. TARGET BALANCE: Số cân đối có mục đích. Số cân đối đạt tiêu chuẩn để được miễn lệ phí. Số cân đối mong muốn trong tài khoản ký thác để có đủ các tiêu chuẩn tối thiểu đạt được lợi nhuận, hay hoa lợi huề vốn (break-even yield). Có nhiều loại công thức để định giá tài khoản ký thác có khả năng trang trải phí dịch vụ. Nếu tài khoản chi phiếu được định giá riêng ra khỏi các tài khoản ký thác khác, thì ngân hàng có thể khẳng định rằng khách hàng nào giữ được số cân đối tối thiểu trong tài khoản thường xuyên thì có đủ điều kiện để miễn lệ phí viết chi phiếu. Ngân hàng cũng có thể miễn phí dịch vụ cho khách hàng nào có số cân đối tài khoản tiết kiệm cao. Thí dụ như chứng chỉ thị trường tiền tệ ngắn hạn, kết hợp với các tài sản được lưu giữ ký thác, số cân đối bù đắp do một công ty giữ có giá trị cao hơn mức ấn định. TARGET COMPANY: Công ty mục tiêu của sự tiếp quản. Công ty được chọn là mục tiêu hấp dẫn để tiếp thu. Người thụ đắc (người tiếp quản) trong tương lai có thể mua hơn 5% chứng khoán của công ty sẽ bị tiếp quản mà không thông báo ra công chúng, nhưng họ phải báo cáo tất cả các vụ giao dịch mua bán và cung cấp các thông tin khác cho nhà nước, cho thị trường nơi công ty bị tiếp quản có liệt kê, và cho chính công ty mục tiêu tiếp quản một khi đã thụ đắc hơn 5%. Xem Stockhold Purchase, Schedule 13D, Sleeping Beauty, Tender Offer, William Act. TARGET PRICE: Giá để tiếp quản; giá có lời. Tài chánh: giá theo đó nhà tiếp quản (acquirer-người thụ đắc) nhắm vào để mua một công ty trong hoạt động tiếm quyền (takeover). Hợp đồng options: giá của chứng khoán cơ sở mà sau đó một hợp đồng option sẽ trở nên có lợi cho người mua nó. Thí dụ, người nào đó mua một hợp đồng call option của công ty XYZ, giá điểm $50 (XYZ call 50) với phí mua option là $200 có thể được giá có lợi (giá đạt được mục tiêu kiếm lời-target price) là $52, sau giá này người ta có thể bù lại phí mua option (premium) đã trả cho người bán và hợp đồng call option sẽ có lời khi thực hiện. Chứng khoán: giá mà nhà đầu tư hy vọng chứng khoán mà ông ta vừa mới mua sẽ tăng lên trong một thời khoảng ấn định. Nhà đầu tư có thể mua chứng khoán công ty XYZ là $20 thì giá có lời (target price) có thể là $40 trong vòng một năm. TARGET RATE: Tỷ lệ có mục đích. 1. Tỷ lệ do uỷ ban tài sản- nợ của ngân hàng thiết lập, là mục tiêu mong muốn để tái định giá số ký thác hay tiền cho vay đang đáo hạn. 2. Tỷ lệ lợi nhuận nội tại còn được gọi là tỷ lệ rào cản (hurdle rate- tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu) trong việc lập ngân quỹ vốn. TARIFF: Quan thuế biểu, thuế biểu. 1. Thuế nhà nước đánh trên xuất khẩu và nhập khẩu, thường là để tăng doanh thu (gọi là quan thuế biểu doanh thu- revenue tariff), hay để bảo vệ các công ty nội địa chống lại sự cạnh tranh nhập khẩu (gọi là hàng rào quan thuế biểu- protective tariff- quan thuế biểu bảo vệ). Quan thuế biểu cũng có thể được thiết lập để điều chỉnh lại sự mất cân đối chi trả. Tiền thu được bằng quan thuế biểu được gọi là duty hay customs duty (thuế hải quan). 2. Biểu thuế hay biểu phí thường dùng cho hàng hoá vận chuyển. TAX ABATEMENT: Giảm thuế. Chánh quyền đô thị hay khu vực giảm thuế bất động sản tính theo trị giá (ad valorem) lý do là vì vùng đó đang ở trong tình trạng đặc biệt như bị thiên tai hay vì lý do khác. TAX AND LOAN ACCOUNT: Tài khoản thuế và cho vay (ở Hoa Kỳ). Tài khoản trong tổ chức ký thác khu vực tư nhân, dưới danh nghĩa của ngân hàng dự trữ liên bang cùng với tư cách là cơ quan tài chánh của Hoa Kỳ, phục vụ như một kho chứa tiền mặt lưu động sẵn sàng cho ngân khố Hoa Kỳ. Số thuế lợi tức thu được, số đóng góp của người chủ vào quỹ bảo hiểm xã hội và số chi trả chứng khoán nhà nước Hoa Kỳ theo thường lệ, đều nhập vào tài khoản thuế và cho vay. TAX AND REVENUE ANTICIPATION NOTE (TRAN): Giấy nợ trả trước thuế và doanh thu. Đây là trái phiếu nợ ngắn hạn của đô thị. Xem Tax Anticipation Note. TAX ANTICIPATION BILL (TAB): Công phiếu ngắn hạn trả thuế trước, dự phòng thuế.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

69

Cam kết nợ ngắn hạn do ngân khố đưa ra trong đấu thầu có cạnh tranh với khung đáo hạn từ 23 đến 273 ngày. Tiêu biểu thì TAB đáo hạn trong vòng từ 5 đến 7 ngày sau ngày đáo hạn hàng quý số chi trả thuế của công ty nhưng các công ty có thể bỏ thầu theo mệnh giá theo thời hạn cuối cùng của thuế trong việc chi trả thuế mà không làm thiệt thòi quyền lợi về lợi tức. Sau này, TAB đã được bổ sung bằng công phiếu ngắn hạn quản lý tiền mặt (cash management bills), đáo hạn từ 30 ngày trở xuống và được phát hành từng khối có giá trị tối thiểu 10 triệu dollars. Các công cụ này được định thời điểm trùng khớp với ngày đáo hạn của các trái phiếu đang lưu hành, cung cấp thêm cho ngân khố khả năng linh động trong việc quản lý tiền mặt trong khi giúp đỡ một số lớn nhà đầu tư đầu tư an toàn vào các quỹ đầu tư tạm thời. TAX ANTICIPATION NOTE (TAN): Giấy nợ dự phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn của nhà nước hay chính quyền đô thị nhằm tài trợ cho chi phí tiêu dùng hiện hành trong khi chờ đợi số tiền thuế sẽ nhận được. TAN sẽ rải đều lượng tiền mặt và được thu hồi một khi nhận được doanh thu thuế cá nhân và công ty. TAX AVOIDANCE: Tránh thuế. Dùng các phương tiện hợp pháp để giảm nợ thuế. Hoạch định cách đóng thuế hay dùng cách ẩn thuế là những công cụ tránh thuế được phép. (Tax planning and Tax shelters). TAX BASIS: Căn bản tính thuế. Tài chánh: phí gốc của một tài sản trừ đi khấu hao tích luỹ sau đó sẽ tính lời hay lỗ để tính thuế. Vì thế một tài sản thụ đắc giá $100.000 được khấu hao khoảng $40.000 thì sẽ có thuế căn bản dựa trên $60.000 với giả định là không có một điều chỉnh nào ; số bán tài sản đó được $120.000 thì vẫn chịu thuế tư bản kiếm được dựa trên $60.000 Đầu tư: giá theo đó người ta mua chứng khoán hay trái phiếu cộng với hoa hồng của công ty môi giới. Luật quy định rằng chênh lệch giá (premium) trả cho việc mua một công cụ đầu tư thì được trả dần. TAX BRACKETTAX AND REVENUE ANTICIPATION NOTE (TRAN): Giấy nợ trả trước thuế và doanh thu. Đây là trái phiếu nợ ngắn hạn của đô thị. Xem Tax Anticipation Note. TAX ANTICIPATION BILL (TAB): Công phiếu ngắn hạn trả thuế trước, dự phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn do ngân khố đưa ra trong đấu thầu có cạnh tranh với khung đáo hạn từ 23 đến 273 ngày. Tiêu biểu thì TAB đáo hạn trong vòng từ 5 đến 7 ngày sau ngày đáo hạn hàng quý số chi trả thuế của công ty nhưng các công ty có thể bỏ thầu theo mệnh giá theo thời hạn cuối cùng của thuế trong việc chi trả thuế mà không làm thiệt thòi quyền lợi về lợi tức. Sau này, TAB đã được bổ sung bằng công phiếu ngắn hạn quản lý tiền mặt (cash management bills), đáo hạn từ 30 ngày trở xuống và được phát hành từng khối có giá trị tối thiểu 10 triệu dollars. Các công cụ này được định thời điểm trùng khớp với ngày đáo hạn của các trái phiếu đang lưu hành, cung cấp thêm cho ngân khố khả năng linh động trong việc quản lý tiền mặt trong khi giúp đỡ một số lớn nhà đầu tư đầu tư an toàn vào các quỹ đầu tư tạm thời. TAX ANTICIPATION NOTE (TAN): Giấy nợ dự phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn của nhà nước hay chính quyền đô thị nhằm tài trợ cho chi phí tiêu dùng hiện hành trong khi chờ đợi số tiền thuế sẽ nhận được. TAN sẽ rải đều lượng tiền mặt và được thu hồi một khi nhận được doanh thu thuế cá nhân và công ty. TAX AVOIDANCE: Tránh thuế. Dùng các phương tiện hợp pháp để giảm nợ thuế. Hoạch định cách đóng thuế hay dùng cách ẩn thuế là những công cụ tránh thuế được phép. (Tax planning and Tax shelters). TAX BASIS: Căn bản tính thuế. Tài chánh: phí gốc của một tài sản trừ đi khấu hao tích luỹ sau đó sẽ tính lời hay lỗ để tính thuế. Vì thế một tài sản thụ đắc giá $100.000 được khấu hao khoảng $40.000 thì sẽ có thuế căn bản dựa trên $60.000 với giả định là không có một điều chỉnh nào ; số bán tài sản đó được $120.000 thì vẫn chịu thuế tư bản kiếm được dựa trên $60.000 Đầu tư: giá theo đó người ta mua chứng khoán hay trái phiếu cộng với hoa hồng của công ty môi giới. Luật quy định rằng chênh lệch giá (premium) trả cho việc mua một công cụ đầu tư thì được trả dần. TAX BRACKET: Khung thuế. Điểm trên biểu thuế suất lợi tức nơi lợi tức có thuế hạ, nó còn được gọi là khung thuế biên tế (marginal tax bracket - khung thuế tăng theo số tiền kiếm thêm). Nó được tính bằng số phần trăm áp dụng cho số tiền kiếm thêm vượt ra ngoài số căn bản trong khung thuế đó. Theo hệ thống thuế tăng dần theo lợi tức (progressive tax), việc

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

70

tăng lên của số lợi tức có thuế đưa đến thuế biên tế cao hơn theo hình thức các khung thuế ở mức cao hơn. TAX CLEARANCE: Khoảng trống của thuế - Khe hở của thuế. ý kiến tư vấn của cơ quan thuế cho biết một hoạt động hay giao dịch ấn định nào đó sẽ không tạo ra nợ thuế (trách nhiệm về thuế). TAX CREDIT: Tín dụng thuế. Trực tiếp giảm theo số tiền trong nợ thuế, khác với khấu trừ thuế là loại giảm thuế chỉ tính theo phần trăm của khung thuế của người đóng thuế. (Thí dụ, người đóng thuế trong khung thuế 31% sẽ nhận được 31 xu cho mỗi khấu trừ $1 dollar). Trong trường hợp tín dụng thuế, người đóng thuế nợ $10.000 tiền thuế sẽ nợ $9.000 nếu như ông ta được hưởng tín dụng thuế $1.000. Theo một vài điều khoản, những tín dụng thuế được cấp cho người hồi hưu trên 65 tuổi, thuế lợi tức trả cho nước ngoài, chi phí chăm sóc trẻ em, phục hồi tài sản lịch sử nổi tiếng, hướng dẫn nghiên cứu và phát triển, xây dựng nhà cho người có lợi tức thấp, cung cấp việc làm cho những người không có điều kiện kinh tế (những người kém kinh tế). TAX-DEDUCTIBLE INTEREST: Tiền lãi có thể khấu trừ vào thuế. 1. Số chi trả lãi trên tiền vay thế chấp lần thứ nhất, mức tín dụng trên vốn nhà và tiền vay thế chấp lần thứ hai phụ thuộc vào vốn - giá mua gốc của người vay cộng với chi phí sửa chữa. Tiền vay vốn được lấy ra để dùng vào y tế hay học hành không lệ thuộc vào những giới hạn này. 2. Số chi trả lãi của người tiêu thụ. TAX DEFERRED: Thuế được hoãn. Từ ngữ diễn tả một vụ đầu tư có lợi nhuận tích luỹ (lợi nhuận thu dần dần) được miễn thuế cho đến lúc nào nhà đầu tư thực hiện cụ thể quyền sở hữu chúng (lấy lợi nhuận ra). Thí dụ, người có tài khoản hưu trí cá nhân được hoãn chi trả thuế trên số tiền lãi, cổ tức, tư bản tăng giá, nếu ông ta chờ cho đến sau 59 1/2 tuổi mới nhận số tiền này. Các loại công cụ đầu tư được hoãn thuế bao gồm : kế hoạch Keogh, trợ cấp hàng năm, bảo hiểm nhân thọ có thể thay đổi (variable life insurance), bảo hiểm suốt đời, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phổ thông, mua chứng khoán cho công nhân hay kế hoạch tái đầu tư cổ tức và loạt trái phiếu tiết kiệm EE và HH của Hoa Kỳ. TAX-DEFERRED ANNUITY: Trợ cấp hàng năm được hoãn thuế. Phương tiện đầu tư thường được dùng để tạo lợi tức cho người hưu trí, thường được bán thông qua công ty bảo hiểm, kế hoạch trợ cấp hàng năm chi trả một tỷ lệ lợi nhuận có đảm bảo và số tiền đầu tư vào kế hoạch này được miễn thuế nhà nước cho đến khi hưu trí. Kế hoạch trợ cấp hàng năm có thể là loại chi trả một lần hay nhiều lần và có thể được sắp xếp để trả cho người thừa hưởng còn sống theo sự chỉ định của người giữ hợp đồng. TAX-DEFFERED SAVINGS: Số tiết kiệm được hoãn thuế. Kế hoạch tiết kiệm hay đầu tư cho phép cá nhân để riêng ra một phần lợi tức hiện hành trong kế hoạch tiết kiệm đã định, và được hoãn chi trả thuế lợi tức trên số vốn và tiền lãi kiếm được. Tài khoản hưu trí cá nhân (individual retirement account - IRA) cho phép cá nhân có tổng lợi tức hàng năm là bao nhiêu thì được để riêng biệt một số lợi tức ấn định hàng năm vào tài khoản tiết kiệm hay đầu tư và sẽ rút tiền ra vào lúc được 59 1/2 tuổi. Số tiền rút ở tài khoản sẽ được tính thuế theo thuế suất ban đầu. Xem All Savers Certificate. TAX EVASION: Trốn thuế. Sử dụng các phương tiện bất hợp pháp để giảm nợ thuế. Lẩn tránh thuế thường liên quan đến việc không công bố rõ ràng lợi tức và nộp tờ khai thuế không đúng sự thật. Người trốn thuế sẽ bị phạt hành chánh hay hình sự. TAX-FREE ROLLOVER: Số mang sang được miễn thuế. Tái đầu tư tài khoản tiết kiệm đã được hoãn thuế như tài khoản hưu trí cá nhân (IRA - Individual Retirement Account). Nhà nước có quy định trong vòng bao nhiêu ngày thì được tái đầu tư mà không bị phạt. Số nào không tái đầu tư thì phải chịu phạt theo tỷ lệ nhà nước ấn định. TAX-EXEMPT MONEY MARKET FUND: Quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn được miễn thuế. Quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn được đầu tư vào trái phiếu đô thị ngắn hạn, các trái phiếu này được miễn thuế và vì thế phân phối lợi tức miễn thuế cho cổ đông. Các quỹ này chi trả lợi tức thấp hơn quỹ có thuế và phải được định giá trên căn bản sau khi đóng thuế. TAX-EXEMPT SECURITY: Trái phiếu được miễn thuế. Cam kết nợ có tiền lãi được miễn thuế nhà nước. Nó thường được gọi là trái phiếu đô thị (hay đơn giản là Municipal) dù là nó có thể do nhà nước, một cơ quan, quận, thị xã hay các khu vực, phân khu chính trị phát hành. Trái phiếu được Full Faith And Credit bảo trợ (trái phiếu được chi trả bằng tiền thu thuế, số vay mượn và các doanh thu khác- có nghĩa là rất đảm bảo) hay do doanh thu trước

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

71

của cơ quan phát hành bảo đảm. ở Hoa Kỳ lợi tức có từ loại trái phiếu đô thị được miễn thuế này thì được miễn thuế lợi tức liên bang cũng như miễn thuế trong phạm vi quyền hạn nơi trái phiếu phát hành. Vì thế, cam kết nợ của thành phố New York được miễn thuế 3 lần (triple tax-exempt) đối với cư dân thành phố có lợi tức bị chịu thuế liên bang, tiểu bang và địa phương. (Không ai trong số cư dân mà không phải chịu thuế đô thị ngoại trừ trái phiếu được miễn thuế). (ở Hoa Kỳ) quỹ hỗ tương đầu tư (mutual funds) đầu tư riêng về trái phiếu miễn thuế chuyển giao phần thuận lợi về thuế này cho cổ đông. Tuy nhiên, trong khi cổ tức của quỹ được hoàn toàn miễn thuế trong bảng khai thuế Liên bang của cổ đông thì họ chỉ được miễn thuế lợi tức của tiểu bang một phần đối với số lợi tức bắt nguồn từ tiểu bang nơi ở của người đóng thuế (taxpayer's home state), giả định rằng không có các thoả thuận liên tiểu bang dành riêng được nói đến. Lợi nhuận từ nhà đầu tư có từ trái phiếu được miễn thuế thì thấp hơn trái phiếu công ty, bởi vì số miễn thuế đã là số bù đắp thêm. Khung thuế của nhà đầu tư cao chừng nào thì sự chọn lựa loại miễn thuế càng trở nên hấp dẫn hơn. Hoa lợi trái phiếu đô thị thay đổi tuỳ theo các nhân tố kinh tế địa phương, khả năng nhận thức của nhà phát hành khi chi trả và mức đánh giá chất lượng chứng khoán do một trong cơ quan đánh giá thiết lập. Xem: Moral Obligation Bond. TAX HAVEN: Nơi ẩn trú thuế. Quốc gia hay vương quốc có thuế suất thấp. Các công ty nước ngoài sẽ thiết lập cơ sở ở đây để tiết kiệm được thuế. Bahamas, quần đảo Cayman, Liechtenstein là những nơi ẩn trú thuế nổi tiếng. TAX HOLIDAY: Khoảng thời gian được miễn thuế. Một thời khoảng giới hạn trong việc miễn thuế dành cho các xí nghiệp tiên phong. Khoảng thời gian dùng để miễn thuế này dùng để lôi cuốn đầu tư trong các ngành có giá trị cao. TAX INVOICE: Bản kê khai hàng hoá có thuế. Bản kê khai hàng hoá do người bán có đăng kí xuất ra để thu thuế trị giá gia tăng (Value- added taxes-VAT). Bản kê khai hàng hoá (hoá đơn hàng hoá) cho biết giá mua hàng hoá hoặc dịch vụ và thuế tăng thu đánh trên hàng hoá đó, nó được người mua dùng để khai số giảm trừ thuế đầu vào từ số VAT. TAX LIEN: Quyền giữ tài sản vì lý do thuế. Quyền giữ tài sản bắt buộc vì không trả thuế lợi tức hay thuế tài sản. Quyền giữ tài sản vì thuế ưu tiên hơn quyền giữ tài sản của ngân hàng để bảo đảm với cùng tài sản đó, đặt người cho vay vào vị thế thấp hơn để có thể thu nợ của người vay đã trễ hạn mà người này cũng là người đang nợ thuế. TAX LOSS CARRYBACK, CARRY FORWARD: Mang lui thua lỗ, mang sang thua lỗ để giảm thuế. Trong thuế có một thuận lợi là nó cho phép một công ty hay cá nhân được dùng số thua lỗ để giảm số nợ thuế. Công ty có thể bù đắp vốn năm hiện hành hay thua lỗ hoạt động thuần (net operating losses) dựa trên lợi nhuận trong 3 năm ngay trước đó, với năm đầu tiên gần nhất. Sau khi mang lui, nó có thể mang sang (còn gọi là carryover) số thua lỗ vốn 5 năm và số thua lỗ hoạt động thuần lên tới 15 năm. Sau đó nó sẽ xem như đã phục hồi lại sức tài chánh. Các cá nhân có thể mang sang thua lỗ vốn cho đến khi họ sử dụng hết số năm không giới hạn để bù đắp (thay cho) tư bản kiếm được. Tuy nhiên, không giống như công ty, cá nhân thường không thể mang lui thua lỗ để áp dụng vào bản khai thuế năm trước. Đạo luật nhà nước kiềm chế mua đứt (buyout- mua một số phần trăm quyền kiểm soát công ty) vì động cơ thuế bằng cách giới hạn việc sử dụng NOL khi một công ty bị thua lỗ đã có quyền sở hữu thay đổi từ 50% trở lên trong thời gian 3 năm. Có một số điều khoản trong luật lệ phức hợp nói về việc mang lui thua lỗ trong giao dịch mua bán các hợp đồng futures hàng hoá. TAX OPINION: ý kiến về thuế ý kiến hợp pháp của luật sư về thuế của nhà phát hành trái phiếu tuyên bố (để tính thuế nhà nước) rằng cam kết nợ có thế chấp được bảo đảm (CMOCollateralized Mortgage Obligation) sẽ được người giữ nó xử lý như thế nào. Trong lãnh vực trái phiếu đô thị, ý kiến về thuế cũng nói rằng trái phiếu tuân thủ theo quy chế nhà nước sẽ được miễn thuế lợi tức nhà nước trên số tiền lãi của trái phiếu. TAX-ORIENTED LEASE: Hợp đồng cho thuê nghiêng lợi thế về thuế. Xem True Lease. Tax planning: Hoạch định về thuế. Tối thiểu hoá nợ thuế thông qua việc hoạch định tài chánh cá nhân, đầu tư vào các vụ đầu tư được hoãn thuế, trái phiếu miễn thuế hoặc tìm cách tránh thuế cho tư bản kiếm được trong phần đầu tư thụ động như uỷ thác bất động sản. Nó khác với trốn thuế (tax evasion) là cố tình không trả thuế đã nợ. TAX PREFERENCE ITEMS: Hạng mục thuế ưu đãi. Hạng mục được luật thuế xác định rằng người đóng thuế phải tính vào khi tính toán thuế tối thiểu có lựa chọn (AMT- Alternative Minium Tax). Theo đạo luật nhà nước các hạng mục ưu đãi bao gồm: 100% trị giá thua lỗ

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

72

thụ động thuần (net passive losses) (có nghĩa là không có giao dịch mua bán quyền lợi mà theo luật thông thường cho phép đối với quyền lợi đã có trước khi thông qua); lợi ích từ khấu hao tích luỹ (được tính theo nhiều cách khác nhau đối với tài sản cá nhân hay tài sản thực); vài giá phí vô hình nào đó, số thặng dư của trị giá thị trường công bằng vào thời điểm thực hiện đối với giá phí Option của hợp đồng Option chứng khoán tặng thưởng (incentive stock options); tiền lãi được miễn thuế trên trái phiếu vì mục đích riêng (private purpose bonds) của chính quyền đô thị phát hành và số trị giá gia tăng không tính thuế của tài sản được đóng góp vào các việc từ thiện. Các ưu đãi cho công ty thường giống như của cá nhân nhưng có thêm: chi phí tăng số dự trữ nợ khó đòi khi chúng vượt quá mức kinh nghiệm thực tế (có thể áp dụng cho các ngân hàng nhỏ và các tổ chức tài chánh khác), số lợi nhuận căn cứ trên số phần trăm hoàn tất kết toán đối với các hợp đồng dài hạn được thực hiện, tiền kiếm được do bố trí tài sản người buôn bán trong năm có bố trí (ngược lại với phương pháp kế toán trả dần- và trị giá tương đương 50% chênh lệch giữa lợi tức trong sổ sách công ty và nợ thuế tối thiểu có lựa chọn (AMT- Alternative minium tax). Ưu đãi sau cùng là nhằm vào lợi nhuận báo cáo đến cổ đông nhưng không đánh thuế thường xuyên. TAX RETURN: Tờ khai thuế. Tờ khai do người đóng thuế soạn để liệt kê từng mục lợi tức và chi phí trong thời khoảng thuế ấn định. Việc định thuế dựa trên các thông tin trong tờ khai. TAX SELLING: Bán để được trừ thuế. Bán các chứng khoán, thường vào cuối năm, để bù đắp thua lỗ trong danh mục đầu tư, nó có thể dùng để bù đắp vào tư bản kiếm được và do đó hạ thấp số nợ thuế của nhà đầu tư. Xem: Long Term Gain, Long Term Loss, Selling Short Againts The Box, Short Term Gain or Loss, Swap, Thirty-day Wash Rule. TAX SHELTER: Nơi tránh thuế- Chỗ dựa để tránh thuế. Phương pháp do nhà đầu tư sử dụng để tránh hay giảm nợ thuế một cách hợp pháp. Chỗ dựa tránh thuế hợp pháp bao gồm những phương thức sử dụng khấu hao tài sản như bất động sản hoặc trang thiết bị, trợ cấp cạn kiệt trong việc khai thác dầu hoả và gas. Góp vốn trách nhiệm hữu hạn theo thông lệ cũng là cách giúp cho nhà đầu tư hạn chế nợ và thuế bao gồm thua lỗ hoạt động "chảy qua" (flow through) có thể dùng để bù đắp lợi nhuận từ các nguồn khác. Đạo luật nhà nước đã hạn chế việc này bằng cách quy định rằng thua lỗ thụ động chỉ có thể bù đắp cho lợi tức thụ động (passive income- lợi nhuận của người không tham gia trực tiếp đầu tư), bằng cách kéo dài thời biểu khấu hao, mở rộng các luật lệ về chứng minh rõ ràng rủi ro (at risk) để kể thêm các đầu tư về bất động sản. Các công cụ cho phép phát triển vốn được hoãn thuế như IRA (tài khoản hưu trí cá nhân- individual retirement account) và kế hoạch Keogh (nó cũng cho khấu trừ thuế hiện hành đối với người đóng thuế có đủ tiêu chuẩn), kế hoạch khấu trừ lương, bảo hiểm nhân thọ đóng phí một lần một (single premium life insurance), cũng là những nơi tránh thuế phổ biến như là trái phiếu đô thị được miễn thuế. TAX SPARING: Thời gian tiết kiệm được thuế. Một loại Tax Holiday (khoảng thời gian được miễn thuế), thường thường được quốc gia đưa ra như một phần ưu đãi đầu tư. Khoảng thời gian của Tax Holiday có thể vô hạn, kéo dài suốt thời gian hoạt động của xí nghiệp hoặc cho đến khi được huỷ bỏ. TAX STRADDLES: Mua bán hàng hai để tránh thuế. Kỹ thuật theo đó hợp đồng options hay futures được dùng để loại bỏ rủi ro kinh tế trong khi vẫn tạo ra một vị thế thuận lợi về thuế. Cách thông dụng nhất là nhà đầu tư có tư bản kiếm được sẽ phải chiếm một vị thế tạo ra một bù đắp thua lỗ "nhân tạo" (giả tạo) trong năm thuế hiện hành và trì hoãn lợi nhuận cho đến năm thuế sau. Đạo luật nhà nước dần dần loại bỏ việc này bằng cách quy định những người buôn bán điều chỉnh trị giá theo thị trường (mark to the market)vào cuối năm và phải kể thêm lợi nhuận chưa hiện thực vào lợi tức có thể chịu thuế. Đạo luật nhà nước đề xuất một thay đổi theo đó có một ngoại lệ cho người viết (bán) hợp đồng Call Options có bảo kê bị phủ nhận nếu người đóng thuế không giữ được hợp đồng call option trong vòng 30 ngày sau khi chứng khoán có liên hệ bị thua lỗ, hoặc là nếu cuối cùng có lợi nhuận hay có sắp xếp lại hợp đồng Option thì được đưa vào năm tới. TAX SWAP: Chuyển đổi thuế. Xem Bond Swap. TAX UMBRELLA: Chiếc dù thuế- Che thuế. Số lỗ thuế được mang sang, xuất phát từ các thua lỗ của công ty trong những năm qua, nó bảo vệ (che chắn) lợi nhuận trong năm hiện hành hay những năm kế tiếp khỏi bị đóng thuế. Xem: Tax Loss Carryback, Carryforward. TAXABILITY: Khả năng có thể bị đánh thuế. Rủi ro của lợi tức đầu tư bị xói mòn vì phải chịu thuế. TAXABLE EQUIVALENT YIELD: Hoa lợi tương đương có thuế. Tổng số lợi tức, kể cả lợi tức

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

73

kiếm được trên số trái phiếu được miễn thuế (trái phiếu đô thị). Lợi tức không thuế được tính lại này là lợi tức kiếm được trong danh mục đầu tư trên căn bản là có thể so sánh với lợi tức có thuế trước khi thực sự trả bất cứ thuế nào. TAXABLE ESTATE: Tài sản (bất động sản) có thuế. Một phần tài sản thừa hưởng phải chịu thuế tài sản sau khi khấu trừ các chi phí được cho phép đã phải gánh chịu khi thanh lý tài sản, kể cả chi phí làm đám tang, thuế còn nợ, các khoản khấu trừ về hôn nhân, từ thiện. TAXABLE INCOME: Lợi tức có thuế. Số lợi tức (sau khi trừ đi các khoản khấu trừ được cho phép và các điều chỉnh lợi tức) phải chịu thuế. Trong bản khai thuế lợi tức nhà nước của một cá nhân, lợi tức có thuế là tổng lợi tức đã điều chỉnh (tổng số tiền lương công nhân, nhân viên, cổ tức tiền lãi, tư bản kiếm được, lợi tức kinh doanh v.v...trừ đi số điều chỉnh của phần đóng góp vào tài khoản hưu trí cá nhân, chi phí vận chuyển, chi phí kinh doanh chưa trả), trừ đi các khoản khấu trừ đã liệt kê hay các khoản khấu trừ tiêu chuẩn và tổng số miễn thuế cá nhân. Một khi đã biết số lợi tức có thuế, cá nhân người đóng thuế sẽ tìm tổng số thuế lợi tức phải đóng để biết khung thuế của ông ta, bằng cách soát lại trong bảng thuế nhà nước hay bằng cách tính thuế theo bảng thuế suất. Tín dụng thuế giảm nợ thuế theo đơn vị tiền, lợi tức thuần của một cá nhân làm việc cho chính mình (tự làm chủ - self proprietorship) và các khoản đóng góp vào thành viên góp vốn được tính trong tổng lợi tức đã điều chỉnh và vì thế là loại lợi tức có thuế do đó phải làm tờ khai thuế cá nhân. Lợi tức có thuế của một liên doanh còn gọi là lợi tức thuần trước khi đóng thuế (net income before taxes) bao gồm tổng doanh thu trừ phí hàng hoá đã bán, chi phí bán và quản lý, tiền lãi và các hạng mục bất thường khác. TAXABLE MUNICIPAL BOND: Trái phiếu đô thị có thuế (ở Hoa Kỳ). Cam kết có thuế của nhà nước hay một thực thể nhà nước địa phương, đây là một phát sinh khác của đạo luật Tax Reform Act of 1986 (đạo luật giới hạn việc phát hành các trái phiếu được miễn thuế như thông lệ). Trái phiếu đô thị có thuế được phát hành như loại trái phiếu có mục đích riêng (private purpose bond) nhằm tài trợ cho các dự án bị hạn chế như sân vận động thể thao, như trái phiếu doanh thu đô thị có nguồn thu (caps apply), như trái phiếu có mục đích chung (public purpose bonds) khi vượt quá giới hạn 10% phục vụ cho mục đích riêng. TAXPAYER IDENTIFICATION NUMBER (TIN): Số chứng minh của người đóng thuế (ở Hoa Kỳ). Số chứng minh IRS cần có trước khi mở những tài khoản. Đối với cá nhân hay người chủ thì số thuế là số an toàn xã hội của cá nhân. Số chứng minh thuế doanh nghiệp là số chứng minh của người chủ. TEAR SHEET: Tờ xé rời. Tờ giấy lấy từ một trong các sổ rời (loose-leaf book : sổ gồm các giấy rời) tập trung các báo cáo chứng khoán của S&P. Tờ này cung cấp các dữ kiện tài chánh và bối cảnh cơ bản của hơn 4.000 công ty. Broker thường xé rời tờ này và gửi cho khách hàng (do đó mới có tên tờ xé rời). TEASER RATE: Lãi suất như đùa. 1. Lãi suất ban đầu của tiền vay có thế chấp mà người cho vay tính với tiền vay có thế chấp có lãi suất điều chỉnh (adjustable rate mortgage). Lãi suất này ít hơn lãi suất tính với tiền vay có thế chấp lãi suất cố định theo tiêu chuẩn và còn thấp hơn lãi suất theo chỉ số đầy đủ tính trên tiền vay có thế chấp với lãi suất điều chỉnh . Đến lượt số chi trả thấp này sẽ làm cho việc tài trợ tiền vay có thế chấp càng thuận lợi hơn cho nhiều người sắp sửa mua nhà. Lãi suất được định lại theo lãi suất thị trường sau một thời khoảng vài tháng đến một năm. 2. Lãi suất ban đầu cao được đề nghị với người ký thác đầu tư trong tài khoản tiết kiệm chi trả theo lãi suất thị trường tiền tệ ngắn hạn. Khi tài khoản ký thác theo thị trường tiền tệ ngắn hạn (money market deposit account - MMDA) được giới thiệu với công chúng, một vài ngân hàng đã đề nghị lãi suất cao đến 21% thông qua hợp đồng mua lại và đã được chuyển vào MMDA khi tài khoản có lãi suất cao này trở thành hợp pháp. TECHNICAL ANALYSIS: Phân tích kỹ thuật. Nghiên cứu số cùng và cầu chứng khoán và hàng hoá dựa trên các nghiên cứu số lượng và giá cả. Nhà phân tích dùng các biểu đồ hay chương trình vi tính để nhận dạng và lập kế hoạch chiều hướng giá trong thị trường, chứng khoán, hay hàng hoá tương lai. Hầu hết các phân tích được thực hiện để phân tích ngắn và trung hạn, nhưng một vài nhà phân tích cũng tiên đoán các chu kỳ dài hạn dựa trên biểu đồ và các dữ kiện khác. Không giống nhà phân tích cơ bản, nhà phân tích kỹ thuật không quan tâm đến vị thế tài chánh của công ty. TECHNICAL RALLY: Phục hồi có tính kỹ thuật. Giá hợp đồng futures hàng hoá hay chứng khoán tăng nhẹ trong chiều hướng tổng quát đang giảm. Việc phục hồi như thế có thể xảy ra

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

74

bởi vì nhà đầu tư đang săn lùng các giao kèo hay vì nhà phân tích đã lưu ý ta về một mức giá đỡ (support level) đặc biệt nào đó, ở mức này chứng khoán sẽ nảy lên (tăng lên). Tuy nhiên phục hồi có tính kỹ thuật không kéo dài và ngay sau đó giá lại tiếp tục sụt giảm. TECHNICAL SIGN: Dấu hiệu có tính kỹ thuật. Chiều hướng ngắn hạn mà nhà phân tích kỹ thuật có thể xác định là rất quan trọng trong chuyển biến giá cả chứng khoán hay hàng hoá. Xem : Technical Analysis. TECHNOLOGY TRANSFER: Chuyển giao kỹ thuật. Tiến trình chia sẻ kiến thức và kỹ năng kỹ thuật đạt được do nghiên cứu và triển khai, thường thông qua giấy phép bản quyền hay thông qua thoả thuận liên doanh. Trong ngoại thương, chuyển giao kỹ thuật thì được cho rằng có giá trị hơn là đầu tư tư bản nước ngoài vì lúc đó chúng ta không thể không học hỏi về kỹ thuật. TELEPHONE BILL PAYMENT: Chi trả hoá đơn qua điện thoại. Dịch vụ ngân hàng cho phép khách hàng chi trả thương phiếu (merchant bill), xác minh số cân đối tài khoản, chuyển ngân quỹ giữa các tài khoản bằng lời nói chỉ thị đến đại diện dịch vụ của khách hàng hoặc là dùng điện thoại trực tiếp. Nó còn được gọi Bank-by-phone hay pay-by-phone trong lãnh vực dịch vụ tài chánh, chi trả hoá đơn bằng điện thoại hấp dẫn một số nhỏ khách hàng ruột (trung thành) nhưng không hấp dẫn nhiều người sử dụng phần lớn là vì nó giới hạn số chi trả hoá đơn và số chuyển ngân quỹ. Ngoài ra hầu hết các khách hàng không xem việc chi trả hoá đơn bằng chi phiếu là bất tiện. Chi trả hoá đơn bằng điện thoại rất phổ biến vào thập niên 1970 trong các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, họ muốn cung cấp cho khách hàng các tài khoản giao dịch mà trong lúc đó họ không được phép cung cấp tài khoản chi phiếu, vì thế số chi trả được lấy thay từ tài khoản tiết kiệm. Nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tiết kiệm cung cấp dịch vụ chi trả hoá đơn bằng điện thoại với hy vọng rằng chi phiếu sau cùng rồi cũng có thể được thay thế bằng hệ thống điện tử chuyển ngân quỹ, dù sao cho đến nay việc thay thế chi phiếu vẫn chưa được thực hiện bao nhiêu. TELEPHONE ORDER: Lệnh qua điện thoại. 1. Chỉ thị bằng miệng (bằng lời nói) để chuyển ngân quỹ từ tài khoản ngân hàng này sang tài khoản khác hay từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. 2. Lệnh mua theo đường bưu điện được tính vào thẻ ngân hàng hay thẻ du lịch-giải trí, không cần có chữ ký và khách hàng có quyền và có trách nhiệm như khi mua với tư cách cá nhân. Xem Signature on File. TELEPHONE SWITCHING: Chuyển đổi bằng điện thoại. Tiến trình chuyển tài sản từ một quỹ Hỗ Tương Đầu Tư hay Danh Mục Đầu Tư Trợ Cấp Hàng Năm Có Thay Đổi (Variable Annuity Portfolio) đến quỹ, danh mục đầu tư khác bằng điện thoại. Việc chuyển này có thể thực hiện giữa chứng khoán, trái phiếu hay quỹ thị trường tiền tệ của riêng một họ quỹ (family of funds) hay từ một quỹ trong một họ đến quỹ trong họ khác. Việc chuyển đổi liên quan đến các danh mục đầu tư trong hợp đồng trợ cấp hàng năm không bị đánh thuế lợi nhuận như chuyển đổi quỹ Hỗ Tương Đầu Tư. TELEPHONE TRANSFER: Chuyển bằng điện thoại. Chuyển số cân đối tài khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác hay từ người trả sang người nhận bằng điện thoại chứ không bằng giấy uỷ quyền viết tay hay công cụ chi trả như thông lệ, tài khoản đang ghi nợ có thể là tài khoản chi phiếu, tiết kiệm hoặc nếu chỉ có vài ba cuộc chuyển bằng điện thoại thì nó có thể là tài khoản ký thác theo thị trường tiền tệ ngắn hạn (MMDA-money market deposit account). TELLER: Nhân viên thu phát. Nhân viên ngân hàng nhận tiền ký thác, chi phiếu tiền mặt và thực hiện các dịch vụ khác cho dân chúng. Trong hầu hết các tổ chức tài chánh, các thu phát ngân làm việc sau quầy. Các ngân hàng lớn phân công nhiệm vụ Teller theo loại công việc: Mail Teller xử lý số ký thác ngân hàng sẽ được gửi đến bằng đường bưu điện; Loan Teller lưu giữ chi trả cho tài khoản khách hàng; Note Teller điều hành việc thu ngân quỹ trên số giấy nợ và hối phiếu do các ngân hàng khác chi trả. Xem: Customer Service Representive Head Tellers. TELLER'S CHECK: Chi phiếu của nhân viên thu phát ngân. Xem Cashier's Check. TELEX FOR AUTHORITY TO PAY: Gởi điện báo cho cơ quan thẩm quyền chi trả. Một yêu cầu huỷ bỏ một điểm tương phản trong tín dụng thư. Nhà nhập khẩu được ngân hàng thông báo (advising bank, negotiating bank) thông báo về các điểm tương phản (điểm không đúng). Các điểm này sẽ được sửa lại bằng bản tu chỉnh hay được huỷ bởi ngân hàng, của nhà nhập khẩu trước khi chi trả cho nhà xuất khẩu.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

75

TEMPERED BY WORRIES: Làm âu lo. Any short term enthusiasm was temped by worries that tomorrow release of Dec job data. (Một số người thích lãi suất ngắn bị lo âu về con số có việc làm tháng 12 vào ngày mai). TEMPORARY LOAN: Tiền vay tạm thời. Tiền vay vốn hoạt động (vốn lưu động) ngắn hạn để tài trợ cho hàng kho hay tài khoản thu của công ty. Tiền vay này thường có thời hạn dưới 1năm và được xác minh bằng giấy hứa trả nợ hay giấy nợ ngắn hạn (warrant) do người vay phát hành. Tiền vay tạm thời (ngắn hạn) có thể không được bảo đảm hoặc được bảo đảm bằng quyền giữ thế chấp trên số tài sản của công ty. Tài sản lưu động có được nhờ tài trợ tạm thời cuối cùng sẽ được chuyển thành tiền mặt qua chu kỳ mua bán của công ty khi công ty bán hàng kho để lấy tiền mặt hay khi thu tiền cho tài khoản thu. Xem: Collateral Loan, Term Loan. TEN PERCENT GUIDELINE: Chỉ dẫn về 10%. Chỉ dẫn của nhà phân tích trái phiếu đô thị cho rằng nợ được tài trợ vượt quá 10% trị giá định thuế của một tài sản trong chính quyền đô thị là quá đáng. TENANCY BY THE ENTIRETY: Cùng chung sở hữu như một thực thể duy nhất. Vợ và chồng cùng liên đới tài sản, mỗi người có quyền sở hữu và hưởng thụ ngang nhau, và có quyền thừa hưởng của người còn sống (survivorship) khi người kia chết. Mặc dù tương tự như joint tenancy (liên đới sở hữu), một hình thức thông dụng nhất của quyền sở hữu tài sản của một cặp vợ chồng, nhưng cùng quyền sở hữu như một thực thể duy nhất (tenency by the entirety) xem tài sản như một đơn vị độc nhất, điều này có nghĩa là không có người nào có thể bán tài sản mà không có người kia đồng ý. Ngoài ra chủ nợ không thể ép buộc bán tài sản để trả nợ cho một người. Người phối ngẫu còn sống được quyền hưởng trọn vẹn tài sản. Xem: Community Property, Joint Tenants With Right of Supervivorship, Tenancy in Common. TENDER DOCUMENT: Tài liệu đấu thầu. 1. Công ty hay nhà nước đưa hồ sơ chính thức để mua hàng hoá hay dịch vụ. Những đặc điểm, khả năng, phương thức và nhân viên được chỉ định đi mua sẽ được ghi trong tài liệu đấu thầu. 2. Công ty đưa ra tài liệu về việc bán chứng khoán. Người đưa ra đấu thầu yêu cầu các giá đặt mua phải trên giá bán tối thiểu đã ấn định. TENANCY IN COMMON: Sở hữu chung. Tài sản do hai hay nhiều người sở hữu theo cách khi một trong số họ chết, lợi tức không thể phân chia của người mất được chuyển sang người thừa kế và không chuyển cho những người cùng sở hữu còn sống. Thoả thuận này khác với sở hữu (tenancy) liên kết (xem Joint tenants with the right of Survivorship) và sở hữu toàn vẹn (một thoả thuận tương tự đề cập đến một cặp vợ chồng khi một người mất thì người vợ hay người chồng tự động được nhận phần chia của người kia). TENANT: Người thuê, người sở hữu. Bất động sản: 1. Người giữ hay sở hữu tài sản thực. 2. Người thuê. Chứng khoán: người sở hữu một phần một loại chứng khoán. Xem Joint Tenants with Right of Survivorship, Tenancy in Common. TENDER: Giá đệm, bỏ thầu, giao, tiền theo pháp luật (tiền hợp pháp). 1. Hành động từ bỏ cổ phần của một người nào đó để đáp ứng một giá mua đã ấn định- xem Tender offer (một người nào đó bản cổ phần của mình theo giá bán đã được một người khác ấn định thường cao hơn giá thị trường vì người đặt giá này muốn chiếm quyền kiểm soát công ty có cổ phần đó). 2. Đệ trình giá đặt mua chính thức để mua chứng khoán, như trong đấu thầu công khố phiếu Hoa Kỳ. 3. Cung cấp tiền hay hàng hoá để chi trả một món nợ trước hay quyền đòi chi trả (lệnh phiếu) như trong việc giao hàng hoá theo hợp đồng futures đã đến hạn. 4. Phương tiện đã được thoả thuận để thanh toán các giao dịch mua bán tài chánh, như tiền tệ Hoa Kỳ được mệnh danh là "tiền tệ hợp pháp đối với tất cả các món nợ, công cũng như tư". TENDER BOND: Trái phiếu theo hợp đồng put option. Xem Put Bond. Trái phiếu được quyền bán lại nhà phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Tender offer: Đưa ra giá đệm (giá cao hơn giá thị trường). Mua các cổ phần của một công ty, thường với giá có chênh lệch cao hơn giá thị trường của cổ phần bằng tiền mặt hay chứng khoán hay cả hai, thông thường là nhằm mục đích chiếm quyền kiểm soát của một công ty

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

76

đang là mục tiêu hấp dẫn (target company). Việc đưa ra giá đệm có thể xuất phát từ các thương lượng đầy thiện ý giữa công ty và công ty muốn tiếp quản hay có thể do tự ý hoặc không thân thiện dẫn đến việc công ty bị tiếp quản có các biện pháp chống lại. Nhà nước quy định người muốn tiếp quản (corporate suitor) đã có trong tay từ 5% trở lên số cổ phần của công ty bị tiếp quản phải thông báo rõ ràng cho nhà nước, cho chính công ty bị tiếp quản (target company) và cho thị trường có liên quan. Xem: Schedule 13D, Takeover, Treasury Stock. TENDER PANEL: Nhóm đệm (trong đấu thầu). Phương pháp tài trợ dùng trong việc bán giấy hứa trả nợ, (giấy nợ Châu Âu) thông qua RUF (Revolving Underwriting Facility- Phương tiện bao tiêu tuần hoàn) Tổ hợp bao tiêu (Syndicate) bao gồm từ 15 đến 20 ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư được người vay (hay đại diện của người vay) uỷ nhiệm đưa ra giá đặt mua chào mời trên căn bản cố gắng hết sức mình (best effort) cho việc tài trợ dự án. Nhóm hoạt động như một nhân viên trung gian bên bán cho các ngân hàng đang thoả thuận một phương tiện tín dụng. Nhóm đệm bên bán cho phép sắp xếp mua bán giấy nợ Châu Âu với một số lớn nhà đầu tư đang tìm kiếm giấy nợ trung hạn (từ 5 đến 7 năm). Nó cũng tách ngân hàng gốc ra khỏi các ngân hàng thực sự mua giấy nợ, do đó phải trải đều rủi ro tín dụng cho phần lớn số ngân hàng tham gia. Phần đóng góp của ngân hàng gốc trong việc cung ứng chiếm một phần nhỏ thường khoảng 10% tổng số tài trợ. TENOR: Lề thói hằng ngày, quy định thời hạn. 1. Đánh dấu để nhớ thời điểm đáo hạn của giấy nợ hay công cụ tài chánh. 2. Vạch rõ thời điểm khi hối phiếu được trả : ngay khi trình (on sight), theo số ngày ấn định sau khi trình, theo số ngày ấn định sau thời điểm ký hối phiếu. 3. Điều khoản thiết lập để chi trả một hối phiếu, nghĩa là : khi được trình ra (đối với hối phiếu trả ngay khi trình - Sight draft) hay vào thời điểm tương lai (đối với hối phiếu trả ngay khi trình - Sight draft) hay vào thời điểm tương lai (đối với hối phiếu định kỳ - Time draft). TERM: Kỳ hạn, điều khoản, nhiệm kỳ. 1. Khoảng thời gian trong đó các quy định của hợp đồng sẽ được thực hiện. Từ ngữ này cũng ám chỉ khoảng thời gian trong đó phải thực hiện chi trả tiền vay hay phải chi trả tiền lãi của chứng chỉ ký thác hay trái phiếu. Nó cũng ám chỉ khoảng thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Xem : Term Life Insurance. 2. Điều khoản ấn định bản chất của một thoả hiệp hay hợp đồng như trong terms and conditions (điều khoản và quy định). 3. Khoảng thời gian phục vụ của một viên chức hay thành viên ban quản trị đã được bầu hay chỉ định. Thí dụ, các thống đốc hệ thống Dự Trữ Liên Bang được chỉ định với nhiệm kỳ 14 năm. TERM BOND: Trái phiếu định kỳ (dài hạn). Trái phiếu có độc nhất một thời điểm đáo hạn, ngược lại với serial bond (loạt trái phiếu - seri trái phiếu). Thông thường, nhà phát hành phải để số tiền chi trả bắt buộc vào quỹ thanh toán nợ (sinking fund - quỹ dự phòng nợ) trong nhiều năm trước khi đến ngày đáo hạn. Nhà phát hành trái phiếu đáp ứng các quy định về thanh toán nợ bằng cách mua trái phiếu đã phát hành trong thị trường tự do (open market), thu hồi trái phiếu theo giá thị trường, nó có thể thấp hơn giá theo lệnh gọi của quỹ thanh toán nợ (sinking fund call price). Việc dự phòng trước quỹ thanh lý nợ sẽ rải đều trách nhiệm của nhà phát hành đối với trái phiếu nợ chung (general obligation bond) trong suốt thời gian hiệu lực của trái phiếu; nhà phát hành trái phiếu doanh thu có thể chi trả dịch vụ nợ bằng doanh thu trái phiếu. TERM CERTIFICATE: Chứng chỉ theo định kỳ. Chứng chỉ ký thác (certificate of deposit) có thời gian đáo hạn dài. CD như thế có kỳ hạn từ một năm đến 10 năm, dù sao hầu hết các chứng chỉ định kỳ đều là loại một năm hay 2 năm. Người có chứng chỉ thường nhận lãi suất cố định, được chi trả làm hai kỳ trong thời gian hiệu lực và phải chịu phạt nặng khi rút tiền sớm (early withdrawal penalties) tức là khi chứng chỉ được chi trả trước thời hạn đã ấn định. TERM FEDERAL FUNDS: Ngân Quỹ Liên Bang theo kỳ hạn. Số cân đối tài khoản dự trữ được mua trong các thời khoảng lâu hơn một ngày, nhưng thường ít hơn 90 ngày. Ngân hàng mua ngân quỹ Liên Bang trong một thời khoảng kéo dài khi họ thấy nhu cầu vay sẽ kéo dài vài ngày, hoặc khi họ tin rằng lãi suất ngắn hạn sẽ tăng và họ muốn khoá chặt lãi suất hiện hành. Ngân quỹ Liên Bang được mua theo kỳ hạn kéo dài giống như ngân quỹ Liên Bang cách đêm, không bị lệ thuộc vào quy định dự trữ và thỉnh thoảng được ưa thích hơn là mua các công cụ nợ khác có cùng thời gian đáo hạn.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

77

TERM LIFE INSURANCE: Bảo hiểm nhân thọ theo kỳ hạn. Hình thức bảo hiểm nhân thọ được soạn thảo có một thời khoảng ấn định, nó quy định người có hợp đồng chỉ chi trả giá phí bảo vệ cái chết, có nghĩa là không thiết lập trị giá tiền mặt như trong bảo hiểm suốt đời. Cứ mỗi lần ký lại hợp đồng phí bảo hiểm sẽ cao hơn bởi vì người được bảo hiểm sẽ già hơn và theo thống kê thì dễ chết hơn. Bảo hiểm theo kỳ hạn thì rẻ hơn nhiều so với bảo hiểm suốt đời, nó giúp cho người có hợp đồng bảo hiểm (policyholder) có cơ hội chọn lựa để sử dụng tiền tiết kiệm đầu tư cho riêng họ. TERM LOAN: Tiền vay theo kỳ hạn. Tín dụng trung hạn và dài hạn có bảo đảm 9 thường thời hạn từ 2 đến 10 năm) do ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm hay công ty tài chánh thương mại trao cho một công ty thường là để tài trợ vốn trang thiết bị hay để cung cấp vốn lưu động. Tiền vay được trả dần trong một thời khoảng cố định, đôi khi kết thúc bằng số chi trả dồn (balloon payment). Người vay theo thoả hiệp vay có kỳ hạn thông thường theo quy định là phải có vốn lưu động tối thiểu và nợ tối thiểu so với các tiêu chuẩn tỷ lệ trị giá thuần, phải giới hạn cổ tức và phải duy trì sự nhất quán liên tục ban điều hành. TERM MATURITY: Đáo hạn theo kỳ hạn. Đây là một loại đáo hạn trong đó toàn bộ trái phiếu đáo hạn vào một thời điểm duy nhất. Xem Maturity Date. TERM MORTGAGE: Tiền vay định kỳ có thế chấp. Tiền vay có thế chấp không chi trả dần, thường thường có thời gian đáo hạn dưới 5 năm, trong đó chỉ chi trả lãi theo một thời khoảng ấn định, sau đó số vốn hiện hành khi đáo hạn sẽ được chi trả dồn một lần (balloon payment). Xem Standing Mortgage. TERM REPURCHASE AGREEMENT: Thoả thuận mua lại theo định kỳ. Thoả thuận mua lại có thời gian đáo hạn hơn một ngày. Nó còn gọi là Term Repo. Ngân hàng và tổ chức tiết kiệm có dư tiền mặt thường đầu tư vào trái phiếu nhà nước (thay vì chứng chỉ ký thác, nó có thời gian đáo hạn tối thiểu là 7 ngày. Trong thoả thuận mua lại, ngân hàng mua trái phiếu của dealers (người mua bán cho chính mình) hay của ngân hàng (không mua bán cho mình - non dealers bank) với thoả thuận sẽ bán lại sau này với giá đã định trước. Chênh lệch giữa giá mua và giá bán lại tức là số lãi. Thoả thuận mua lại định kỳ có thể trả hoa lợi cao hơn thoả thuận mua lại qua đêm (overnight repos) bởi vì người bán chấp nhận rủi ro lãi suất trong một thời gian dài hơn là thoả thuận mua lại qua đêm TERMINAL BONUS: Tiền bồi dưỡng cuối cùng. Trong bảo hiểm, số chi trả tiền mặt được lập ra ngoài số tiền thu được của hợp đồng bảo hiểm khi hợp đồng đáo hạn hay khi người được bảo hiểm chết. Tiền bồi dưỡng này được chi trả từ số lợi nhuận thuần kiếm được do đầu tư, được hợp đồng bảo hiểm chi trả theo quyền hạn tự do hành động của Nhà Bảo Hiểm. TERMINAL MARKET: Thị trường đầu cuối. Thị trường hàng hoá toạ lạc tại Trung Tâm Mua Bán chính. Giao dịch mua bán tại thị trường đầu cuối phần lớn tập trung vào hợp đồng Futures, mặc dù hàng hoá thuộc thị trường tại chỗ (thị trường tiền mặt, spot market) cũng có thể được mua bán. Thị trường không thuộc đầu cuối (nonterminal) được thiết lập tại trung tâm sản xuất. TERM SHARE: Cổ phần định kỳ. Một đơn vị tài chánh không thể được chi trả tiền mặt theo yêu cầu, thí dụ cổ phần trong hiệp hội tín dụng hay hiệp hội tiết kiệm và cho vay. TERMINATION STATEMENT: Báo cáo kết thúc. Báo cáo giải toả quyền đòi chi trả hay quyền lợi bảo đảm của người cho vay trong số tài sản của người vay khi nợ đã được trả đầy đủ và kết thúc báo cáo tài trợ đã nạp trước đây. Nhà nước quy định người cho vay phải ký báo cáo kết thúc, để xoá tên người vay trong quyền giữ tài sản làm thế chấp. TERMS OF TRADE: Đáp số của mậu dịch. Còn gọi là Trade Terms, một phương thức đo lường diễn biến thực hiện kinh tế của một quốc gia. Khi được xác định bằng trị giá xuất khẩu so sánh với nhập khẩu. Một quốc gia có đáp số mậu dịch thích hợp sẽ nhận nhiều biên nhận xuất khẩu hơn là phải chuyển tiền cho nhập khẩu hoặc trị giá tăng thêm của xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu. Ngược lại, quốc gia có đáp số mậu dịch không thích hợp sẽ phải chuyển tiền cho nhập khẩu nhiều hơn là nhận từ xuất khẩu. TEST: Kiểm tra, bản tiêu chuẩn tỷ lệ. Tổng quát: kiểm tra để xác định kiến thức, khả năng, chuyên môn. Tài chánh: tiêu chuẩn dùng để đo lường phù hợp theo quy định tỷ lệ tài chánh của giao kèo và các thoả thuận cho vay khác. Thí dụ, tài sản hiện hành đối với tiêu chuẩn tỷ lệ nợ hiện hành, nợ đối với tỷ lệ trị giá thuần. Chứng khoán: từ ngữ được dùng liên quan đến biến chuyển giá cả đang tiến gần đến mức giá đỡ (support level) và mức giá đề kháng (resistance level) của hợp đồng future hàng hoá,

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

78

chứng khoán hay thị trường đã thiết lập trước đây. Mức thử nghiệm (test) được chấm dứt nếu các mức giá này không bị thâm nhập và không còn giá trị nếu giá cả tiếp tục tăng lên mức thấp nhất hay cao nhất. Thí dụ, các nhà phân tích nói rằng nếu chỉ số công nghiệp Dow Jones vừa qua hình thành trên căn bản vững chắc là 1.000 và giá cả đang rớt từ 1.100, giai đoạn thử nghiệm bắt đầu đến gần. Nếu giá cả một khi lại tăng lên khi chỉ số Dow đang giảm 1.000 và tiếp tục đi lên nữa thì thử nghiệm chấm dứt. Nếu giá rớt xuống dưới 1.000 thì thử nghiệm thất bại. Xem Technical Analysis. TEST NUMBER: Số kiểm tra. Số đầu trong số chi trả bằng hệ thống điện tử chuyển ngân quỹ hay số chỉ dẫn chi trả xác định ngân hàng xuất phát. Nó còn được gọi là key hay test key. Số này thay đổi mỗi lần chuyển tải giữa các ngân hàng để ngăn ngừa người ngoài lợi dụng. TESTAMENTARY TRUST: Uỷ thác di chúc. Uỷ thác do di chúc lập ra, nó khác với uỷ thác giữa những người còn sống (inter vivos trust) được thiết lập trong suốt cuộc đời của người bảo trợ. TESTAMENTARY TRUSTEE: Người thụ uỷ di chúc. Người được uỷ quyền để quản lý một uỷ thác, gồm các tài khoản trong công ty môi giới, sự uỷ quyền này do người nay đã chết lập ra. Thẩm quyền của người thụ uỷ di chúc được lập ra bằng di chúc sau cùng của người nay đã chết, người này là người đã lập ra sự uỷ thác. TESTATOR: Người lập di chúc. Người đã chết có để lại di chúc hợp pháp để phân phối tài sản cho những người thừa hưởng. Đôi khi còn gọi là settlor. Hãy so sánh với trustor. THEORETICAL VALUE (OF A RIGHT): Trị giá lý thuyết. Trị giá thị trường của đặc quyền đăng ký (market value of subscription right) được xác định theo toán học sau khi việc phát hành được tuyên bố hay trước khi chứng khoán chưa có đặc quyền (ex-rights). Công thức bao gồm trị giá thị trường hiện hành của chứng khoán thường, giá đăng ký mua, số đặc quyền đủ mua một cổ phần chứng khoán : Trị giá lý thuyết = Trị giá thị trường CK thường trừ (-) Giá đăng ký mua 1 cổ phần/ Số đặc quyền đủ mua một cổ phần cộng (+) 1 Vì thế, nếu giá thị trường chứng khoán thường là $50/cổ phần, giá đăng ký là $45/cổ phần, tỷ lệ đăng ký là 4 lấy 1 (có 4 đặc quyền thì mua được một cổ phần), thì trị giá một quyền sẽ là 1: 50 - 45/ 4+1= 5/5= 1 THIN CAPITALIZATION: Tư bản hoá yếu (mỏng). Công ty có quá ít vốn đăng ký và có quá nhiều nợ. Trong vài quốc gia, tiền lãi trong một phần số nợ được xem là loại cổ tức có thuế, theo đó sẽ làm giảm số tiền lãi có thể khấu trừ vào lợi nhuận. THIN MARKET: Thị trường mỏng manh (dễ mất quân bình). Thị trường trong đó có ít giá đặt mua để mua và có ít giá đặt bán để bán. Đặc tính thị trường mỏng có thể áp dụng cho toàn thể một hạng loại (lớp) chứng khoán hay hợp đồng futures hàng hoá - như chứng khoán nhỏ trên thị trường ngoài danh mục hay thị trường nhôm. Thị trường mỏng có thể ám chỉ một loại chứng khoán cá biệt nào đó không có liệt kê mua bán trên thị trường chính hay mua bán trên thị trường ngoài danh mục. Giá cả trong thị trường mỏng thường bất ổn định hơn trong các thị trường có khả năng chuyển đổi ra tiền mặt (khả năng thanh toán) lớn, bởi vì một vài vụ mua bán có thể ảnh hưởng mạnh đến giá cả. Nhà đầu tư thuộc tổ chức mua hay bán từng khối lớn chứng khoán có khuynh hướng tránh các thị trường mỏng bởi vì họ khó mà tham gia vào hay rút ra khỏi vị thế mà không ảnh hưởng trực tiếp cụ thể đến giá chứng khoán. THIRD COUNTRY ACCEPTANCE: Giấy chấp nhận của nước thứ ba. Trong mậu dịch quốc tế, đây là giấy chấp nhận của ngân hàng rút ở một ngân hàng trong một quốc gia không phải ở quốc gia của nhà nhập khẩu hay xuất khẩu, và được chi trả bằng tiền tệ quốc gia của ngân hàng chấp nhận. Giấy chấp nhận của nước thứ ba còn gọi là refinance bills, thường được nhà xuất khẩu sử dụng để có số tài trợ ngân hàng theo lãi suất thị trường hợp lý (competitive rates - lãi suất thị trường cạnh tranh), kể từ thập niên 70, Nhật và Hàn Quốc đã tài trợ một phần lớn số xuất khẩu kể cả xuất khẩu đến các quốc gia châu Âu thông qua giấy chấp nhận ngân hàng tính theo đơn vị đồng dollars Hoa Kỳ làm cho giấy chấp nhận càng được phát triển trong những thập niên cuối này. THIRD - COUNTRY DUMPER: Người phá giá thuộc nước thứ ba. Một quốc gia cho phép nhà sản xuất bán dưới giá phí tại thị trường nước ngoài. Thí dụ, quốc gia A cho phép hàng xuất khẩu được phá giá ở quốc gia B. Quốc gia C sẽ tố cáo quốc gia A bởi vì việc buôn bán của quốc gia A với quốc gia B sẽ ảnh hưởng xấu đến việc mua bán giữa quốc gia C và quốc

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

79

gia B. THIRD PARTY CONTROL: Kiểm soát của bên thứ ba. Kế toán trưởng tài khoản bên thứ ba yêu cầu thành viên duy trì thêm hồ sơ, tài khoản dưới sự kiểm soát của bên thứ ba xảy ra khi một người đưa lệnh mua bán không phải là khách hàng cũng không phải là thành viên của NFA (National Futures Accociation - Hiệp hội quốc gia về hợp đồng Futures) hay là một trong những AP (Associated Person - Người cộng tác). Bên thứ ba này không thể thực hiện quyền hạn tự do hành động trừ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: 1. Thành viên có văn bản làm bằng chứng uỷ quyền mua bán của khách hàng. 2. Thành viên có giấy xác nhận của khách hàng cho biết ông ta đã nhận tài liệu thông báo rõ ràng thích đáng. Các yêu cầu trên không cần thiết nếu bên thứ ba là thành viên trực hệ trong gia đình của khách hàng. THIRD MARKET: Thị trường thứ ba- thị trường cấp III. Broker và Dealers không phải thành viên của thị trường chính và nhà đầu tư thuộc tổ chức, mua bán trên thị trường ngoài danh mục các chứng khoán có liệt kê trên thị trường chính. Thị trường cấp III trở nên quan trọng trong thập niên 1950 khi các nhà đầu tư thuộc tổ chức bắt đầu mua chứng khoán thường để ngăn ngừa lạm phát và khi tỷ lệ hoa hồng cố định vẫn còn hiện hành trên các thị trường. Bằng cách mua bán từng khối lớn với các công ty không phải là thành viên của thị trường chứng khoán chính, họ vừa tiết kiệm được tiền hoa hồng (vì có thể thương lượng) vừa tránh được tác động làm rối loạn giá cả do việc mua bán lớn trên các thị trường gây ra. Sau khi tỷ lệ hoa hồng cố định bị huỷ bỏ, một số công ty hoạt động tích cực ở thị trường cấp III đã trở thành các công ty thành viên do đó họ có thể quan hệ mua bán với các công ty thành viên khác cũng như với các công ty không phải là thành viên. Cùng lúc đó, các công ty thành viên bắt đầu gia tăng việc chuyển từng khối lớn chứng khoán ra khỏi hiện trường mua bán (sàn mua bán- floor) của các thị trường chính, thực tế là đang trở thành các người dự phần trong thị trường cấp III. Tuy nhiên, trước khi bán chứng khoán ra khỏi thị trường chính cho người không phải là thành viên, công ty thành viên phải thoả mãn tất cả các lệnh có giới hạn (limit order) trong sổ chuyên viên (specialist's book) có cùng một giá hay có giá cao hơn. Xem offfloor order. THIRD - PARTY CHECK: Chi phiếu cho bên thứ ba. 1. Chi phiếu được chi trả thông qua ngân hàng, ngoại trừ chi phiếu trả cho chính người viết chi phiếu đó (nghĩa là chi phiếu được viết để lấy tiền mặt). Bên thứ nhất trong giao dịch là ngân hàng trong đó chi phiếu được rút ra. Bên thứ nhì là người rút tiền bằng chi phiếu dựa trên quỹ ký thác trong ngân hàng. Bên thứ ba là người được trả tiền, người bối thự chi phiếu. 2. Chi phiếu bối thự kép- Trong trường hợp này, người được chi trả bối thự chi phiếu bằng cách ký tên phía sau, sau đó chuyển chi phiếu cho người tiếp theo, người bối thự chi phiếu ưu tiên đổi chi phiếu lấy tiền mặt. Người nhận chi phiếu có nhiều người bối thự thường miễn cưỡng nhận nó trừ khi họ có thể xác minh chữ ký của từng người bối thự. 3. Hối phiếu chi trả qua trung gian (payable-through drafts) và các lệnh chi trả khác (negrotiable orders) không do công ty cung cấp trực tiếp phục vụ. Thí dụ, một chi phiếu được viết ra dựa trên quỹ hỗ tương đầu tư thị trường tiền tệ được giải quyết không phải bởi công ty hỗ tương đầu tư mà tiêu biểu bởi ngân hàng thương mại là ngân hàng cung cấp dịch vụ cho bên thứ ba hay "chi trả qua trung gian". Lệnh trả tiền, hối phiếu cổ phần liên hiệp tín dụng và chi trả rút ra dựa trên tài khoản công ty môi giới là loại "chi trả qua trung gian" hay cho bên thứ ba. THIRD PARTY CREDIT: Tín dụng cho bên thứ ba. Tín dụng tạo điều kiện dễ dàng cho việc bán hàng hoá và dịch vụ theo thoả thuận với một người nào đó chứ không phải với người bán. Thương buôn bán lẻ chấp nhận thẻ tín dụng ngân hàng và thẻ du lịch giải trí như là số chi trả hàng hoá, nó thường ít tốn kém hơn là cấp tín dụng trực tiếp, bởi vì thương buôn được nhẹ bớt phần chi phí tài trợ cho tài khoản thu tín dụng và thu tiền chi trả. Đổi lại, số chi trả của chiết khấu thương buôn (marchant discount) tính bằng số phần trăm doanh số thuần, thương buôn có thể có ngay số tín dụng cho phiếu bán bằng thẻ ngân hàng đã ký thác ở một ngân hàng. Nếu tỷ lệ chiết khấu thương buôn là 2%, thương buôn có thể nhận $98 cho mỗi $100 trong doanh số tín dụng. Hễ chừng nào thương buôn còn theo các điều khoản của tín dụng thì thương buôn còn có thể không bị thua thiệt tín dụng hay thua lỗ vì lừa đảo. Xem Private Label Credit, Revolving Credit. THIRD PARTY PAYMENNT: Chi trả cho bên thứ ba. Xem Third party transfer.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

80

THIRD PARTY TRANSFER: Chuyển ngân quỹ cho bên thứ ba. Số chi trả được ký gửi vào tài khoản của một người nào đó chứ không phải cho người đề xuất chi trả hay người đáng lẽ nhận đầu tiên. Số chi trả đó có thể là: chi phiếu trả cho bên thứ ba (third party checks) được chuyển bằng bối thự, chỉ thị của người tiêu dùng hoặc là số chi trả thông qua hệ thống điện tử. Xem Telephone Bill Payment. THIRTY - DAY VISIBLE SUPPLY: Nguồn cùng hiển nhiên trong vòng 30 ngày. Tổng số lượng tiền của trái phiếu đô thị mới, có thời khoảng đáo hạn từ 13 tháng trở lên số này được lập biểu gia nhập thị trường trong vòng 30 ngày. Số liệu được cung cấp vào ngày thứ sáu trong báo Bond Buyer. THIRTY - DAY WASH RULE: Quy tắc trước sau 30 ngày. Luật của nhà nước quy định rằng thua lỗ của việc bán chứng khoán không được dùng như thua lỗ trong mục tiêu về thuế (có nghĩa là bù vào số lợi nhuận bị thuế), nếu người ta mua số chứng khoán tương đương trong vòng 30 ngày trước hay 30 ngày sau thời điểm bán. THRIFT INSTITUTION: Tổ chức tiết kiệm. Tổ chức đầu tiên được thành lập như một tổ chức tồn ký thác cho số tiền tiết kiệm của người tiêu thụ, các hình thức thông dụng khác là hiệp hội tiết kiệm và cho vay và ngân hàng tiết kiệm. Theo thông lệ, tổ chức tiết kiệm cho vay hầu hết quỹ ký thác của tổ chức trong thị trường thế chấp nơi cư trú và tiếp tục công việc này sau khi luật pháp đầu thập niên 1980 mở rộng tầm phạm vi dịch vụ ký thác của tổ chức v à cho phép họ thực hiện các mục cho vay thương mại và cho người tiêu thụ vay. Các liên hiệp tín dụng (credit union) đôi khi cũng nằm trong loại tổ chức tiết kiệm, bởi vì nguồn ký thác chính của liên hiệp cũng là số tiết kiệm của cá nhân, mặc dù là theo thông lệ họ chỉ cho người tiêu thụ vay một số nhỏ, không cho vay có thế chấp. Xem: Depository institutions deregulation and monetary control act, mutual association, mutual savings bank. THROWBACK RULE: Quy luật trả lui. Trong lãnh vực uỷ thác, luật nhà nước quy định rằng tài sản uỷ thác được phân bổ trong bất cứ năm thuế nào có số vượt mức cho phép năm đó thì được xem như (vì mục tiêu thuế) là lợi tức đã kiếm được và đã phân bổ trong năm trước. Nói cách khác, nó được tính lui vào năm trước hay những năm trước. TICK: Nhích một chút- (lên hay xuống) một gạch. Biến chuyển giá theo hướng xuống trong mua bán chứng khoán. Các nhà phân tích kỹ thuật quan sát biến chuyển nhỏ (tick) liên tục tăng hay giảm của chứng khoán để có một ý niệm về chiều hướng chứng khoán. Từ ngữ này cũng có thể áp dụng trên toàn thị trường. Xem closing tick, Downtick, Minus tick, Plus tick, Short sale rule, Technical Analaysis, Uptick, Zero-minus tick, Zero-plus tick. TICKER: Băng điện báo. Hệ thống cung cấp báo cáo chạy theo bảng hình các hoạt động mua bán trên các thị trường chứng khoán, còn được gọi là ticker tape. Tên này bắt nguồn từ một cái máy hồi xưa in thông tin bằng cách bấm lỗ trên băng giấy tạo nên tiếng kêu tíc tắc rõ ràng khi băng chạy qua. Băng điện báo ngày nay là màn hình máy vi tính và từ ngữ này ám chỉ cả consolidated tape (băng tổng hợp) là loại cho biết ký hiệu chứng khoán, giá cuối cùng, số lượng mua bán trên thị trường và từ ngữ cũng ám chỉ dịch vụ tin tức bằng băng điện báo. Xem: Quotatiom Board, ticker tape. TICKER SYMBOL: Ký hiệu băng hình (băng điện báo). Chữ cái xác định chứng khoán trên băng tổng hợp dùng cho mục đích mua bán, như XON là exxon corporation (công ty exxon). Xem: Stock symbol, Ticker tape. TICKER TAPE: Băng điện báo (màn hình máy vi tính). Công cụ truyền ký hiệu chứng khoán, giá cuối cùng và số lượng chứng khoán đang được mua bán đến các nhà đầu tư trên khắp thế giới. Trước khi phát minh ra máy vi tính, máy này có một công cụ in phát ra tiếng to có âm tíc tắc. Kể từ năm 1975, NYSE và AMEX sử dụng băng tổng hợp, nó cho biết về thị trường chứng khoán New york và thị trường chứng khoán vùng nơi xuất phát một vụ mua bán. Các hệ thống khác được gọi là điện báo mới, nó chạy bảng thông báo tin tức kinh tế, tài chính, thị trường mới nhất. Ticker Tape còn gọi đơn giản là Tape. Xin xem minh hoạ về băng tổng hợp dưới đây. TL 3S41 5/8 MMM&P 83 1/2 IBM&T 4S124 1/4 XON&M 2S41

Phần mẫu của băng tổng hợp

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

81

Trên cùng là 4 công ty: Trades in time Inc, Minnesota Mining and Manufacturing, IBM, Exxon. Chữ cái đứng sau ký hiệu cho biết thị trường chứng khoán Pacific (Pacific Stock Exchange), T là thị trường cấp III (third market), M là thị trường Trung Tây (Midwest exchange) không có chữ gì thì có nghĩa là thị trường chứng khoán New York (NYSE : New York Stock Exchange). Các ký hiệu khác không minh hoạ trong bảng này là X tức Philadelphia Stock Exchange - B là Boston Stock Exchange, O là các thị trường khác kể cả thị trường cấp IV (Instinet). ở hàng dưới, con số đứng trước chữ S là số nhân của 100 cổ phần. Như thế 300 cổ phần của Time, Inc đã được mua bán với giá 41 5/8 tại NYSE; 100 cổ phần của Minnesota Mining đã được mua bán ở Pacific Stock Exchange với giá 83 1/2 và tiếp tục... TIED AID: Viện trợ có ràng buộc (có điều kiện). Viện trợ có điều kiện trao cho một Nhà Nước để có điều kiện mua hàng hoá hay dịch vụ ở quốc gia khác. TIED LOAN: Tiền cho vay có ràng buộc (có điều kiện). Một biến thể của viện trợ có điều kiện, theo đó được một nhà nước trao cho một nhà nước khác với các điều khoản nhân nhượng. TIED OUTLET: Cửa hàng có ràng buộc. Xem Typing Contract. TIERED RATE ACCOUNT: Tài khoản xếp theo thang lãi suất. Tài khoản tiết kiệm trả lãi suất tính theo tỷ lệ số tiền đầu tư có trong tài khoản. Tiêu biểu là số cân đối trong tài khoản càng cao chừng nào thì lãi suất càng cao từng đó. Tài khoản tiết kiệm có thời hạn dài hơn thì được trả lãi suất cao hơn tài khoản có thời hạn ngắn hơn. TIGER: Chữ đầu viết tắt của Treasury Investors Growth Receipt, một hình thức chứng khoán lãi suất 0 (zero-coupon security) đầu tiên do công ty môi giới Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith sáng tạo ra. Tiger là loại trái phiếu được nhà nước bảo đảm, nó được tách khỏi phần coupon (Phần lãi - dưới hình thức một mảnh giấy đính kèm vào trái phiếu). Cả phần gốc (phần vốn - corpus) trái phiếu và phần coupon được bán riêng ra với giá khấu trừ rất cao so với mệnh giá. Nhà đầu tư nhận số tiền theo mệnh giá Tiger khi trái phiếu đáo hạn nhưng không nhận chi trả tiền lãi từng kỳ. Tuy nhiên, theo luật lệ Internal Revenue Service, những người giữ Tiger vẫn phải nợ thuế lợi tức về số tiền lãi mà họ đã kiếm được như số tiền lãi quy cho trái phiếu có coupon đầy đủ (full coupon bond - trái phiếu có lãi bằng hay hơn lãi suất thị trường). Để tránh phải chịu thuế vì không có hưởng gì về lợi tức mà phải chi trả thuế này, hầu hết nhà đầu tư đưa Tiger vào tài khoản hưu trí cá nhân hay Keogh hoặc các kế hoạch hoãn thuế (tax deffered). TIGHT MARKET: Thị trường chặt chẽ. Thị trường tổng quát hay thị trường của một loại chứng khoán nào đó được ghi nhận là mua bán tích cực và chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán không cách xa bao nhiêu (chênh lệch ít). Ngược lại là thị trường lỏng lẻo (slack market) có đặc tính là mua bán yếu ớt và chênh lệch lớn (giữa giá đặt mua và giá đặt bán). Xem : Spread. TIGHT MONEY: Tiền tệ hạn hẹp. Tình trạng kinh tế trong đó rất khó khăn để đảm bảo có tín dụng (khó vay), thường là do dự trữ nhà nước giới hạn nguồn cùng tiền tệ. Ngược lại là tiền tệ rộng rãi (easy money). Xem : Monetary Policy. TIME BILL OF EXCHANGE: Hối phiếu định kỳ (có kỳ ngắn hạn). Hối phiếu được chi trả vào một thời điểm nào đó chứ không phải khi lúc trình (thí dụ như được trả sau 30 ngày). TIME DEPOSIT: Ký thác định kỳ (ngắn hạn). Tài khoản tiết kiệm hay chứng chỉ ký thác được giữ trong tổ chức tài chánh theo kỳ hạn cố định, được hiểu là người ký thác chỉ có thể rút tiền khi có báo trước. Trong khi ngân hàng có quyền quy định phải báo trước 30 ngày để rút tiền từ tài khoản tiết kiệm thì tài khoản theo số gửi tiền thường được xem như loại quỹ sẵn sàng và dễ dàng rút ra. Mặt khác, chứng chỉ ký thác được phát hành có kỳ hạn ấn định từ 30 ngày trở lên và nếu rút sớm sẽ bị phạt. Các tổ chức tài chánh được tự do thương thảo chi trả theo bất kỳ hạn mà khách hàng muốn đối với ký thác kỳ hạn hay chứng chỉ, miễn là thời hạn phải ít nhất 30 ngày và chi trả lãi suất cao hay thấp như thị trường chấp nhận. Xem : Depository Institutions Deregulation and Monetary Control Act, Regulation Q. TIME DRAFT: Hối phiếu định kỳ (ngắn hạn). Hối phiếu được chi trả theo thời gian ấn định hay đã xác định trong tương lai, nó khác với sight draft (hối phiếu chi trả ngay trước mắt), nó được chi trả khi trình ra hay giao cho. TIME LETTER OF CREDIT: Tín dụng thư có kỳ hạn (ngắn hạn). Tín dụng thư chi trả vào

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

82

một thời điểm ấn định (thí dụ trong 30 ngày). TIME LOAN: Tiền cho vay định kỳ ngắn hạn. Tiền vay doanh nghiệp ngắn hạn được chi trả đủ một lần vào thời điểm đáo hạn ấn định, thí dụ như 30, 60, 90 hay 120 ngày. Tiền lãi của loại tiền vay này thường được khấu trừ trước khi cho vay. Nó khác với demand loan (tiền vay hoạt kỳ), người cho vay không thể thu hồi (ra lệnh gọi - call) hay yêu cầu trả lại tiền vay định kỳ trước thời hạn. Tiền vay định kỳ được trả lại bằng doanh thu tài sản, thí dụ như số tiền bán hàng kho hay số tiền thu của tài khoản thu. Xem Discount, Term Loan (tiền cho vay định kỳ dài hạn). TIME - OUT: Tạm ngưng. Tình trạng của hệ thống dịch vụ ngân hàng trong tuyến (on line), ở đây khách hàng không đáp ứng được yêu cầu giao dịch mua bán theo giới hạn thời gian ấn định, được gọi là Response Time (thời gian trả lời). Sau đó máy nhận đầu cuối sẽ ngưng liên lạc từ người điều khiển chủ chốt và khách hàng sẽ phải bỏ giao dịch mua bán. TIME - SALE FINANCING: Tài trợ định kỳ ngắn hạn cho số bán. Hình thức cho vay gián tiếp (tài trợ cho người buôn bán dealer financing), trong đó ngân hàng hay bên thứ ba mua hợp đồng buôn bán trả dần (của người buôn bán) với giá có khấu trừ vào mệnh giá và người vay sẽ chi trả cho người cho vay. Điều này thường được thực kết hợp với kế hoạch cho hàng kho của người buôn bán (floor planning). TIME SPREAD: Mua bán song hành Option theo thời hạn. Sách lược về hợp đồng Option trong đó nhà đầu tư mua và bán hợp đồng Put Option và Call Option có cùng giá thực hiện (exercise price - giá điểm - strike price) nhưng khác ngày đáo hạn. Mục đích của việc này và của các sách lược hợp đồng Option khác là nhằm kiếm lợi nhuận do sự chênh lệch phí mua Option (option premium) là giá phải trả để mua Options. Xem Calendar Spread, Horizontal Spread. TIME VALUE: Trị giá thời gian. Tổng quát: trị giá dựa trên thời gian mà nhà đầu tư phải đợi cho đến khi đầu tư đáo hạn, nó được xác định bằng cách tính trị giá hiện tại của nhà đầu tư lúc đáo hạn. Xem : Yield to Maturity. Hợp đồng options: đó là một phần của phí mua option chứng khoán, nó phản ảnh thời gian còn lại của một hợp đồng option trước khi đáo hạn. Phí option bao gồm trị giá thời gian và trị giá nội tại (intrinsic value) của hợp đồng option. Chứng khoán: chênh lệch giữa giá một công ty đưa ra để tiếp quản và giá trước khi tiếp quản xảy ra. Thí dụ, nếu công ty XYZ sẽ bị tiếp quản với giá $30/cổ phần trong thời gian 2 tháng, cổ phần XYZ hiện tại đang bán với giá $28,50. Chênh lệch $1,50/cổ phần là giá phí thời gian mà người có cổ phần XYZ phải gánh chịu nếu họ muốn đợi 2 tháng để có giá $30/cổ phần. Khi 2 tháng từ từ trôi qua, trị giá thời gian cũng từ từ co lại và biến mất vào ngày tiếp quản. Thời gian mà nhà đầu tư giữ cổ phần XYZ có một giá trị bởi vì thời gian này có thể dùng để đầu tư vào việc khác đem lại lợi nhuận cao hơn. Xem: Opportunity Cost. TIME - WEIGHTED RETURN: Lợi nhuận nặng về thời gian. Phương pháp tính toán danh mục đầu tư dùng để đo lường diễn biến đầu tư (thay đổi về lợi tức và giá cả) dưới dạng số phần trăm tư bản (vốn) "đang hoạt động", nó loại bỏ ảnh hưởng của số tư bản thêm vào hay rút ra và việc định thời điểm, vì các yếu tố này làm lệch lạc việc tính toán lợi nhuận nặng về số dollar (dollar-weighted return-lợi nhuận tính theo số dollar). Bởi vì khó thực hiện cụ thể tính toán lợi nhuận nặng về thời gian nên các ngành chấp nhận con số ước chừng với giả định là tất cả số tư bản thêm vào và rút ra xảy ra cùng một lúc vào giữa giai đoạn báo cáo. Vì thế hiệu suất bằng lợi nhuận trên số trị giá tài sản vào lúc bắt đầu tính toán cộng với lợi nhuận trên số thuần của số thêm vào và rút ra trong suốt giai đoạn sau đó chia cho 2. Các giai đoạn (thường là từng quý) được nối kết nhau để cho ta tổng số lợi nhuận trung bình. TIMES FIXED CHARGES: Phí cố định theo từng kỳ. Xem Fixed-Charge Coverage. TIP: Tiền boa, tuy dô (mẩu tin quan trọng). Tổng quát: chi trả trên mức giá phí hay chi phí thông thường; nó chỉ trả thêm cho một công việc có dịch vụ như cho thêm người hầu bàn, người phục vụ khách sạn, người lái taxi (cab driver) và những người phục vụ khác. Đầu tư: thông tin do người này chuyền sang người khác để làm cơ sở mua hay bán chứng khoán. Thông tin này được xem là có giá trị cụ thể và không phổ biến trong dân chúng. Nhà nước quy định chặt chẽ việc sử dụng các thông tin này đối với những người được gọi là người trong nội bộ, và trong một vài trường hợp các phiên toà (court cases) đã đề ra các trách

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

83

nhiệm pháp lý của người nhận, sử dụng và chuyển các thông tin đó (gọi là tipee). Xem : Insider Inside, Information TITLE: Quyền được đòi hỏi, quyền sở hữu. Quyền đòi chi trả hợp lệ theo luật định đối với việc sở hữu tài sản thực (real property), có văn tự, chứng chỉ quyền sở hữu làm bằng chứng. Người cho vay sẽ cấp tài trợ tiền vay có thế chấp cho người mua chỉ khi nào người bán giữ quyền sở hữu không có tranh chấp của tài sản đang nói đến. TITLE COMPANY: Công ty xác minh quyền sở hữu. Công ty xác minh quyền sở hữu tài sản thực, thường được thực hiện liên kết với giấy chuyển nhượng tài sản thực từ người mua sang người bán. Người sở hữu hợp lệ được xác định thông qua việc kiểm tra toàn bộ hồ sơ ghi chép về tài sản trong tiến trình xác minh quyền sở hữu (title search). Công ty này sẽ cấp một chứng chỉ sở hữu chủ dựa trên việc kiểm tra của công ty. TITLE DEFECT: Thiếu sót trong quyền sở hữu. Quyền đòi chi trả hợp lệ ở trong tình huống khó xác định người sở hữu thực của tài sản hay người chuyển quyền sở hữu tài sản đến người khác. Nó còn được gọi là cloud on title hay clouded title (quyền sở hữu không rõ ràng), như khi quyền sở hữu không được ghi chép rõ ràng chính xác hay khi quyền sở hữu tài sản thế chấp thứ hai đã được huỷ bỏ khi nợ đã được trả đủ. TITLE INSURANCE: Bảo hiểm quyền sở hữu. Bảo hiểm ngăn ngừa mất mát do thiếu sót trong quyền sở hữu, được phát hiện sau khi tài sản được chuyển từ người mua sang người bán và người mua đã nhận mua tiền vay mới có thế chấp. Điều này bảo vệ người vay ngăn cản các quyền đòi chi trả không có xác định trong tiến trình xác minh quyền sở hữu hay các quyền đòi chi trả không được liệt kê đặc biệt như là trường hợp ngoại lệ trong hợp đồng bảo vệ quyền sở hữu. TITLE SEARCH: Rà soát quyền sở hữu. Tiến trình xác minh người sở hữu thực sự của tài sản bằng việc xem xét lại cẩn thận hồ sơ ghi chép địa chính của nhà nước, thường thường dưới sự chỉ dẫn của chuyên viên về lãnh vực này. Việc thẩm tra này cũng xác định là có các quyền giữ thế chấp hiện hành nào không, hay có những vướng mắc nào trong tài sản không và xác định các kết quả trong việc cấp bản sao lục (abstract) quyền sở hữu của công ty xác minh quyền sở hữu. TOEHOLD PURCHASE: Mua dần dần (một cách âm thầm). Số tích luỹ dưới 5% các cổ phần của công ty bị tiếp quản (target company-công ty đang là mục tiêu để tiếp quản) do người thụ đắc (người muốn tiếp quản) thực hiện. Một khi đạt đến 5%, người thụ đắc theo quy định phải báo bằng văn bản đến nhà nước, thị trường chứng khoán tương ứng (nơi mua bán cổ phần đó) và ngay chính công ty bị tiếp quản, người thụ đắc phải giải thích những gì đang xảy ra và mong muốn điều gì. Xem : Schedule BD, William Act. TOKYO STOCK PRICE INDEX (TOPIX): Chỉ số giá chứng khoán Tokyo. Xem Nikkei Stock Average. TOLL REVENUE BOND: Trái phiếu doanh thu phí giao thông. Trái phiếu đô thị được bảo đảm bằng doanh thu phí giao thông do người sử dụng dự án công cộng được xây dựng bằng tiền thu được từ trái phiếu. Trái phiếu doanh thu phí giao thông được đề xuất để xây dựng cầu cống, đường hầm và đường xá. Xem : Revenue Bond. TOM NEXT: Kế ngày mai, kể từ ngày mốt. Xem Tomorrow Next. TOMBSTONE: Bảng cáo thị bán chứng khoán, bố cáo. Quảng cáo do ngân hàng đầu tư đăng trên báo hàng ngày nói về việc bán chứng khoán cho công chúng. Bảng quảng cáo có đầy đủ chi tiết căn bản về việc phát hành và liệt kê các thành viên nhóm bao tiêu liên quan đến việc phát hành, nó được nhập thành nhóm bao tiêu theo thứ tự ABC tuỳ theo tầm mức tham gia của họ. Bảng quảng cáo không phải là "một đề nghị mua hay chào mời một đề nghị mua" mà là kêu gọi sự chú ý đến tập quảng bá (prospectus). Đôi khi còn gọi là thông báo cung ứng (bán) (offering circular). Bảng bố cáo cũng có thể do công ty ngân hàng đầu tư lập ra để thông báo vai trò của nó trong một vụ mua bán riêng (private placement), sát nhập công ty hay tiếp quản một công ty, đối với công ty thì để thông báo một vụ mua bán quan trọng hay quan hệ mua bán bất động sản, đối với một công ty trong cộng đồng tài chánh thì để thông báo thu nhận thêm người hay thông báo người chủ đã chết. Xem : Mezzanine Bracket. TOMORROW NEXT (TOM NEXT): Kế tiếp từ ngày mai. Từ ngữ trong thị trường hối đoái và thị trường tiền tệ ngắn hạn để chỉ các giao dịch mua bán được thực hiện vào ngày mai hay

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

84

cung ứng vào ngày làm việc kế tiếp. Thí dụ, một loại tiền tệ được mua vào ngày thứ ba có thể được cung cấp vào ngày thứ sáu hoặc tại ngày cung cấp tại chỗ (spot) cộng thêm một ngày. Nó còn được gọi là rollover hay T/N. Giá thị trường tại chỗ cho việc cung cấp hai ngày sau được điều chỉnh theo chênh lệch tính theo ngày dôi ra. Xem Spot Next. TON: $100 triệu. Biệt ngữ của người buôn bán chứng khoán có nghĩa là $100 triệu dollars. TOP - DOWN APPROACH TO INVESTING: Phương pháp đầu tư đi từ trên xuống. Phương pháp theo đó nhà đầu tư trước hết xem xét các khuynh hướng trong toàn thể nền kinh tế, kế đó chọn lựa những ngành và công ty sẽ có lợi trong chiều hướng đó. Thí dụ, nhà đầu tư nghĩ rằng lạm phát sẽ ở mức thấp như thế sẽ hấp dẫn đối với ngành bán lẻ vì sức chi tiêu của người tiêu thụ sẽ được nâng cao do lạm phát thấp. Sau đó nhà đầu tư xem xét các cơ sở bán lẻ quan trọng để biết công ty nào có triển vọng có lợi nhuận tốt nhất trong thời gian gần. Phương pháp ngược lại là phương pháp đầu tư đi từ dưới lên (bottom-up approach to investing). TOPIX: Chỉ số giá chứng khoán Tokyo. Xem Nikkei Stock Average. TOPPING OUT: Đã đến đỉnh. Từ ngữ chỉ một thị trường hay một loại chứng khoán đã vào thời kỳ cuối của tăng giá và bây giờ người ta mong là nó đứng giá hay có thể giảm giá. TOPPING UP CLAUSE: Điều khoản lấp đầy. Ngôn ngữ trong loại tiền cho vay mà một bên có hai người (back-to-back-loan-tiền cho vay có hai người ở một bên chịu trách nhiệm) hoặc loại tiền cho vay tính theo hai loại tiền tệ (two-currency loan), nhằm bảo vệ người cho vay không bị thiệt thòi khi tiền tệ bị phá giá. Người vay theo yêu cầu phải trả thêm một số tiền bằng loại tiền tệ đang giảm giá nếu hai loại tiền tệ này bị giảm giá theo số lượng đó. Điều khoản dự phòng này có thể gây ra một số vấn đề nếu một bên của hợp đồng cho vay không cần đến số tiền tệ đóng thêm, hay phải báo cáo chi trả lấp đầy này như là lợi tức có thêm. Sự lệ thuộc vào số chi trả đặc biệt này có thể được giảm bớt bằng cách chuyển sự rủi ro tín dụng (bất tiện như nói trên) vào một ngân hàng, nhưng đổi lại phải chịu lệ phí ngân hàng. TOTAL CAPITAL: Tổng số vốn. Phương thức của nhà giám sát ngân hàng để đo lường khả năng chất lượng vốn để tính số dự trữ vốn trên rủi ro. Tổng vốn được tính như sau: vốn cổ đông lớp 1 (tier 1) (chứng khoán thường và chứng khoán ưu đãi có đủ chất lượng) cộng với vốn lớp hai (số dự trữ cho tiền vay có khả năng bị mất, nợ phụ thuộc, chứng khoán ưu đãi không tính trong vốn lớp 1). TOTAL CAPITALIZATION: Tổng số tư bản hoá. Cơ cấu vốn (capital structure) của một công ty bao gồm nợ dài hạn và tất cả hình thức của vốn cổ đông. TOTAL COST: Tổng giá phí. Kế toán: (thường viết ở dạng số nhiều), tổng số giá cố định, giá phí có thể thay đổi từng phần (semivariable sosts) và giá phí thay đổi (giá phí lưu độngvariable costs). Đầu tư: Giá hợp đồng chi trả cho một loại chứng khoán cộng với hoa hồng công ty môi giới cộng với bất cứ tiền lãi tích luỹ nào liên quan đến người bán (nếu chứng khoán là trái phiếu). Con số này không được lẫn lộn với căn bản giá phí (cost basis) dùng để tính thuế tư bản kiếm được, nó có thể có liên quan đến các nhân tố khác như trả dần dần chênh lệch giá trái phiếu. TOTAL LEASE OBLIGATION: Tổng số nợ trong hợp đồng thuê mướn. Tổng số giá phí trực tiếp của một hợp đồng thuê mướn của người tiêu thụ, bao gồm tiền thuê hàng tháng, tiền lãi và bất cứ số nợ phụ thuộc (chi trả dồn) đáo hạn vào thời điểm cuối hợp đồng và trị giá thị trường hợp lý (trị giá còn lại) của tài sản vào lúc kết thúc hợp đồng thuê mướn. Người cho thuê cũng phải nói cho người thuê biết rằng hợp đồng cho thuê có tính đến việc người thuê được lựa chọn mua lại tài sản khi kết thúc hợp đồng hay không. Hợp đồng cho thuê mở rộng có thể quy định chi trả dần nhiều lần tuỳ theo trị giá tài sản, nhưng nhà nước có thể giới hạn số lần chi trả dồn tính theo tháng. TOTAL OUTSTANDING UNITS: Tổng số các đơn vị hiện hành. Tất cả đơn vị được phát hành vào thời điểm hoặc trước thời điểm kết thúc (kết thúc bán các đơn vị tham gia vào một chương trình). TOTAL RESERVES: Tổng số dự trữ. Tổng số ký thác mà tổ chức tồn ký thác có thể tính theo các quy định dự trữ hợp pháp của họ. Nó bao gồm số cân đối tài khoản dự trữ trong tài khoản ký thác tại ngân hàng dự trữ trong suốt tuần lễ gần nhất, tiền tệ (ngoại hối) và tiền đúc trong hầm an toàn ngân hàng, kể cả tiền mặt đang chuyển đi hay nhận về từ ngân hàng dự trữ. TOTAL RETURN: Tổng lợi nhuận. Lợi nhuận hàng năm của đầu tư bao gồm trị giá gia tăng, cổ tức hay tiền lãi. Đối với trái phiếu được giữ đến ngày đáo hạn, tổng lợi nhuận là hoa lợi

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

85

khi đáo hạn (yield to maturity). Đối với chứng khoán đó là trị giá gia tăng được dự kiến bằng cách sử dụng tỷ lệ giá/lợi nhuận hiện hành. Trong mua bán hợp đồng options, tổng lợi nhuận có nghĩa là cổ tức cộng với tư bản kiếm được cộng với lợi tức phí option. TOTAL VOLUME: Tổng số lượng. Tổng số cổ phần hay hợp đồng mua bán một loại chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng futures hàng hoá, hay hợp đồng option trong một ngày cá biệt nào đó. Đối với các chứng khoán và trái phiếu, đây là tổng số các vụ mua bán trên các thị trường quốc gia như NYSE và AMEX và trên các thị trường vùng. Đối với các hợp đồng futures hàng hoá hay hợp đồng options, nó tiêu biểu cho số lượng các vụ mua bán đã được thực hiện khắp thế giới trong một ngày. Đối với chứng khoán trên thị trường ngoài danh mục tổng số lượng được tính bằng chỉ số NASDAQ. TORRENS CERTIFICATE: Chứng chỉ Torrens. Chứng chỉ sở hữu tài sản được cơ quan Nhà nước phát hành tại vài tiểu bang. Xuất phát từ Robert Torrens, một nhà cải cách ruộng đất ở úc, hệ thống Torrens cho phép chuyển tài sản mà không cần khảo sát quyền sở hữu tài sản. Theo hệ thống Torrens, quyền sở hữu tài sản được phổ biến sau khi chứng chỉ phát hành và chẳng bao lâu nữa sẽ có hiệu lực. TORT: Làm thiệt hại. Hành động sai lầm, chứ không phải là vi phạm hợp đồng, gây cho một bên bị mất tài sản hay bị thương tổn thân thể. Người vi phạm sẽ chịu trách nhiệm về các thiệt hại. TOTTEN TRUST: Uỷ thác Totten. Uỷ thác không chính thức trong đó tài sản được ký thác vào tài khoản do người lập ra uỷ thác đó kiểm soát, người bảo trợ (grantor)- giữ ký thác cho người khác- được chỉ định là người thừa hưởng. Khi người sở hữu tài khoản chết, tài sản được chuyển sang người thừa hưởng, nhưng bị đánh thuế như một phần tài khoản của người bảo trợ. Nếu tài khoản có liên kết sở hữu (có nhiều người sở hữu) thì sẽ áp dụng luật lệ về tài khoản đồng sở hữu khi tất cả những người sở hữu tài khoản chết, người thừa hưởng sẽ trở thành người sở hữu hợp pháp. TOUT: Chào hàng. Quảng cáo tích cực một loại chứng khoán nào đó, thường do quảng cáo viên công ty, các công ty giao dịch với quần chúng, broker, nhà phân tích thực hiện, họ là những người mong muốn có lãi trong việc quảng cáo chứng khoán. Chào hàng một chứng khoán sẽ không đạo đức nếu nó lừa dối nhà đầu tư. TRADE: Buôn bán- Giới buôn bán. Tổng quát: 1. Mua hay bán hàng hoá và dịch vụ giữa các công ty, hay quốc gia, nó còn được gọi là commerce. Số lượng hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu trừ cho số lượng xuất khẩu tạo thành cán cân mậu dịch (balance of trade). Xem: Tariff, Trade, Deficit. 2. Các đơn vị kinh doanh bán sản phẩm được gọi là thành viên thương mại. Như thế, họ sẽ nhận phần khấu trừ (discount) từ giá mà công chúng phải trả. 3. Nhóm các nhà sản xuất cạnh tranh trên cùng thị trường. Các công ty này thành lập các hiệp hội buôn bán và xuất bản các báo chí thương mại. 4. Các công ty thực hiện công việc kinh doanh với nhau. Thí dụ tài khoản chi đối với các nhà cung cấp được gọi là tài khoản mua bán để chi (trade accounts payable), từ ngữ tín dụng thương mại (trade credit) dùng để mô tả các khoản chi như là nguồn tài trợ vốn lưu động (working capital). Công ty chi trả hoá đơn ngay lập tức sẽ nhận khấu trừ thương mại khi có thể. 5. Đồng nghĩa với trao đổi hiện vật (barter- đổi chác) trao đổi hàng hoá và dịch vụ mà không dùng tiền tệ. Chứng khoán: Thực hiện giao dịch mua hay bán chứng khoán trái phiếu hay hợp đồng future hàng hoá. Một vụ mua bán hoàn tất khi người mua và người bán đồng ý theo giá mua bán chứng khoán cho riêng tài khoản ông ta để kiếm lợi ngắn hạn, ngược lại với nhà đầu tư giữ vị thế của ông ta và hy vọng kiếm lợi dài hạn. TRADE ACCEPTANCE: Giấy chấp nhận mậu dịch. Xem Acceptance. TRADE ASSOCIATION: Hiệp hội mua bán. Một tổ chức hỗ tương quyền lợi, không vị lợi, được thành lập để cung cấp dịch vụ cho hội viên, nâng cao tiêu chuẩn học hỏi và chuyên nghiệp, gây ảnh hưởng đến các cơ quan Nhà nước thông qua các hoạt động hành lang (lobbying, gây ảnh hưởng gián tiếp qua các tiếp xúc không chính thức). TRADE BALANCE: Cán cân mậu dịch. Xem Balance of trade. TRADE COMPARISON: Bản so sánh trong giao dịch mua bán. Bản ghi nhớ hay phiếu được trao đổi giữa hai broker-dealer tham gia vào một giao dịch mua

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

86

bán. Nó được so sánh và xác lập các chi tiết của giao dịch mua bán. TRADE CONFIRMATION: Xác lập giao dịch mua bán. Bản hoá đơn hay bản so sánh của một vụ mua bán được gửi cho khách hàng vào ngày hay trước ngày hành chánh đầu tiên tiếp theo sau thời điểm mua bán. TRADE CREATION: Sáng tạo mậu dịch. Mua bán gia tăng giữa các quốc gia khi khu vực mậu dịch tự do, hiệp hội thuế quan hay thị trường chung được thiết lập. Trong hiệp hội kinh tế vùng, mua bán trong nước tăng trưởng do quan thuế biểu thấp và gia giảm các hàng rào mậu dịch. Tuy nhiên, mậu dịch với các nước thứ ba cũng có thể tăng, vì các thị trường hấp dẫn trong một nước thành viên thường tăng cường mậu dịch ra nước ngoài giữa các quốc gia thành viên và quốc gia không phải là thành viên. TRADE CREDIT: Tín dụng thương mại. Mở thoả thuận tài khoản với người cung cấp hàng hoá và dịch vụ, và một hồ sơ chi trả của công ty với người cung cấp, nợ mua bán bao gồm trong tài khoản chi của công ty. ở Hoa Kỳ Dun & Bradstreet là cơ quan thu thập tài liệu thông tin tín dụng thương mại lớn nhất, đánh giá các công ty thương mại, và cung cấp các báo cáo. Các dữ kiện tín dụng thương mại cũng được các cơ quan mậu dịch tiến hành chuyên biệt hoá vào các ngành khác nhau. Tín dụng thương mại là một nguồn quan trọng bên ngoài cho vốn lưu động một công ty; dù tín dụng như thế có thể sẽ rất tốn phí. Tỷ lệ 2% trong 10 ngày, thuần trong vòng 30 ngày (nếu trả trong vòng 10 thì khấu trừ 2%, trả toàn bộ số tiền khi đáo hạn 30 ngày) có nghĩa là lãi suất hàng năm là 36% nếu không trả hết. Mặt khác, cũng cùng tỷ lệ đó thì lãi suất vay sẽ khoảng 15% nếu chi trả được thực hiện trong 60 ngày thay vì 30.. TRADE DATE: Thời điểm buôn bán. Ngày thực hiện mua bán chứng khoán hay hợp đồng future hàng hoá. Thời điểm thanh toán (settlement date) thường tiếp theo sau thời điểm mua bán khoảng 5 ngày hành chánh, nhưng có thể thay đổi tuỳ theo giao dịch và phương thức giao nhận được sử dụng. Xem Delayed Delivery, Delivery Date, Regular-way Delivery (and Settlement); Seller's Option. TRADE DEFICIT OR SURPLUS: Thâm thủng hay thặng dư mậu dịch. Số nhập khẩu vượt quá xuất khẩu (thâm thủng mậu dịch) hay số xuất khẩu vượt quá nhập khẩu (thặng dư mậu dịch), đưa đến cán cân mậu dịch (balance of trade) âm hay dương. Cán cân mậu dịch được thiết lập bởi các vụ giao dịch hàng hoá và các động sản (movable goods) khác và chỉ là nhân tố gồm tài khoản hiện hành lớn (bao gồm dịch vụ và du lịch, vận tải, các hạng mục vô hình như tiền lãi và lợi nhuận kiếm được ở nước ngoài) trong toàn thể cán cân chi phó (balance of payments). Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân mậu dịch một quốc gia bao gồm: tiền tệ của các quốc gia mạnh hay yếu đối với tiền tệ của các quốc gia mà họ mua bán (thí dụ, đồng dollar mạnh của Hoa Kỳ làm cho hàng hoá sản xuất tại các quốc gia khác tương đối rẻ đối với người Mỹ), lợi thế về sản lượng trong khu vực sản xuất quan trọng (thí dụ, ngành ô tô Nhật) hay kinh tế nội địa của các quốc gia đang buôn bán có sản lượng thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu. TRADE DEFLECTION: Chuyển hướng mậu dịch. Trong hiệp hội mua bán vùng, thí dụ thị trường chung, sự chuyển mậu dịch từ một quốc gia này sang quốc gia khác. Mậu dịch và đầu tư có thể chuyển hướng vì thuế xuất nhập khẩu cao, luật lệ phức tạp, tiền tệ mất ổn định, nguồn nguyên liệu hiếm, tầm mức thị trường nhỏ, hay các yếu tố kinh tế khác. TRADE FAIR: Hội chợ mậu dịch. Triển lãm quốc tế được Nhà nước hay một ngành tổ chức để gia tăng mậu dịch trong nước. TRADE GAP: Lỗ hổng (thâm thủng) mậu dịch. Thâm thủng trong tài khoản cán cân thương mại của quốc gia, một thành tố của cán cân chi phó quốc gia. TRADE - IMPACTED AREA: Vùng mậu dịch bị chèn ép. Vùng địa lý nơi cạnh tranh nước ngoài tạo nên số bán đáng kể và làm nhiều người mất việc (đối với người trong vùng đó). TRADE MARK: Nhãn hiệu cầu chứng. Một tên riêng, ký hiệu, phương châm hay biểu tượng để nhận biết một sản phẩm, dịch vụ hay công ty. ở Hoa Kỳ, quyền về nhãn hiệu, tức là quyền ngăn cấm những đối thủ cạnh tranh sử dụng nhãn hiệu tương tự để bán buôn hay quảng cáo, nó phát sinh từ quyền sử dụng - nghĩa là việc đăng ký cơ bản là để thiết lập sự tồn tại hợp pháp của một nhãn hiệu. Nhãn hiệu được đăng ký với U.S Patent and Trademark Office có hiệu lực 20 năm và đăng ký lại nếu còn sử dụng. Các sản phẩm có thể vừa có tính cách đặc quyền vừa được bảo vệ bằng nhãn hiệu, lợi ích của việc này là khi môn bài hết hạn thì nhãn hiệu có thể tiếp tục tính cách độc quyền vô thời hạn. Nhãn hiệu được xếp vào loại tài sản vô hình trong bản cân đối tài khoản.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

87

Mặc dù, giống như đất đai, nhãn hiệu có hiệu lực vô thời hạn và không thể chi trả dần dần nhãn hiệu theo thời gian ước tính không quá 40 năm. TRADER: Người buôn bán tự doanh. Tổng quát: bất cứ người nào mua hay bán hàng hoá, dịch vụ để kiếm lợi nhuận, còn gọi là Dealer hay Merchant. Xem : Barter; Trade. Đầu tư: 1. Cá nhân mua và bán các loại chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option hoặc hàng hoá như lúa mì, vàng hoặc tiền tệ nước ngoài (tỷ giá hối đoái) cho riêng tài khoản của họ nghĩa là như một dealer hay người chủ chứ không phải Broker (người môi giới) hay nhân viên (agent) trung gian. 2. Cá nhân mua và bán chứng khoán hay hàng hoá cho riêng tài khoản của ông ta trong khoảng thời gian ngắn để kiếm lời nhanh, còn gọi là speculator (người đầu cơ). TRADE MISSION: Phái đoàn thương mại. Một nhóm doanh nghiệp được Nhà nước bảo trợ để thăm viếng một nước khác nhằm bán sản phẩm hay dịch vụ. Phái đoàn đầu tư (investment missions) là công cụ để gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài, thường là tại các nước đang phát triển. TRADE PAPER: Giấy nợ mua bán. Xem Acceptance, Short Term Paper. TRADE REFERENCE: Tài liệu tham khảo về mậu dịch. Tài liệu tham khảo do cơ quan báo cáo tín dụng cung cấp, tài liệu liệt kê tín dụng đã trải qua của nhà cung cấp mậu dịch của một công ty, bao gồm các điều khoản mua bán, số cân đối tín dụng cao nhất hay số lượng đáo hạn năm trước, số lượng đã quá hạn, các điều khoản của số bán và quá trình chi trả. Bản báo cáo này được dùng như bản tham khảo tín dụng tổng quát của một tổ chức và nó có khả năng đáp ứng tìm hiểu các món nợ hiện hành. TRADE REPORT: Báo cáo mậu dịch. Xem Credit Report. TRADING ACCOUNT ASSETS: Tài sản trong tài khoản mua bán. Tài khoản để riêng ra do ngân hàng quản lý để mua (bao tiêu) trái phiếu nhà nước và các trái phiếu khác cho tài khoản mua bán của riêng ngân hàng hay để bán lại cho ngân hàng khác hay công chúng để kiếm lời chứ không để đầu tư trong danh mục đầu tư của riêng ngân hàng. Tài sản để mua bán được tách ra (cách lý) khỏi danh mục đầu tư. Nó được ghi riêng khi thụ đắc (khi có trong tay) cho đến khi được giải quyết hay bán đi và nó được ghi theo giá thực tế khi mua hay bán trái phiếu này. Tài sản mua bán lưu giữ cho các ngân hàng khác được cập nhật giá cả theo thị trường (điều chỉnh theo trị giá thị trường hiện hành). TRADING AUTHORIZATION: Uỷ quyền mua bán, thẩm quyền mua bán. Chứng từ cho nhân viên công ty môi giới hoạt động như một nhân viên (broker) có quyền hạn của người được uỷ nhiệm trong các giao dịch mua bán cho một khách hàng. TRADING COMPANY: Công ty mua bán. Công ty chuyên về mua, phân phối, tiếp thị cho sản phẩm công ty khác. TRADING DIVIDENDS: Cổ tức mua bán giữa các công ty. Kỹ thuật mua và bán chứng khoán trong các công ty khác do một công ty thực hiện nhằm tối đa hoá số cổ tức mà công ty có thể thu hoạch được. Việc này rất có lợi bởi vì 80% số lợi cổ tức mà công ty nhận được từ số chứng khoán của các công ty khác được miễn thuế theo quy định của Internal Revenue Service. Xem Dividend Exclusion. TRADING ESTATE: Khu bãi Mậu dịch. Xem Industrial Park. TRADING FLAT: Mua bán không lời lỗ. Xem Flat. TRADING HALT: Ngưng (tạm thời) mua bán. Xem Suspended Trading. TRADING HOUSE: Trung tâm mua bán (nhà mua bán). Một công ty hoạt động như một chủ thể trong giao dịch mua bán quốc tế liên quan đến các công ty khác. Trung tâm mua bán định vị thế người mua và bán quốc tế, thường là tại các vùng đã hoạch định và theo các loại sản phẩm ấn định. Họ mua và bán cho riêng tài khoản của họ thường là theo thoả thuận mua bán đối tác lớn. Vài trung tâm là công ty con của công ty sản xuất lớn. TRADING PATTERN: Mô hình mua bán. Chiều hướng kéo dài của giá chứng khoán hay giá hợp đồng future hàng hoá. Mô hình này lên đồ thị bằng cách vẽ một đường nối tất cả các giá cao nhất mà chứng khoán đã đạt được và một đường khác nối tất cả các giá thấp nhất mà người ta đã mua bán trong cùng một khung thời gian. Hai đường này sẽ cho biết hoặc là giá đang lên hay đang xuống, nó chỉ rõ mô hình mua bán dài hạn của chứng khoán. Xem Trendline. TRADING POST: Tụ điểm mua bán các chứng khoán cá biệt nào đó. Địa điểm cụ thể trên

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

88

hiện trường mua bán (sàn mua bán floor) của một thị trường chứng khoán, nơi mua bán các chứng khoán cá biệt nào đó. Chính nơi đây các chuyên viên của một loại chứng khoán thực hiện các chứng năng tạo thị trường và chính nơi đây nhóm đông (crowd) (các broker tại hiện trường - floor brokers có các lệnh mua bán về chứng khoán đó) tụ họp. Thí dụ, NYSE có 22 tụ điểm mua bán, xử lý hầu hết 100 loại chứng khoán. Xem Floor Broker, Floor Trader, Make a Market. TRADING RANGE: Tầm mức (phạm vi) mua bán, khung mua bán. Hàng hoá: mức giới hạn mua bán do thị trường hợp đồng futures hàng hoá thiết lập đối với một loại hàng hoá nào đó. Mức giá của một hợp đồng future hàng hoá không thể cao hơn hay thấp hơn mức giới hạn trong suốt một ngày mua bán. Xem : Limit up, Limit down. Chứng khoán: phạm vi giữa giá cao nhất và giáp thấp nhất mà một loại chứng khoán hay thị trường đã mua bán. Thí dụ, khung mua bán (trading range) của chứng khoán công ty XYZ có thể từ $40 đến $60 trong 2 năm qua. Nếu chứng khoán hay thị trường có vẻ nằm trong khung giá hẹp, nhà phân tích nói rằng đây là thị trường có khung giá cuối cùng, nó sẽ biến chuyển lên hay xuống đáng kể. Xem : Flag, Pennant, Triangle, Wedge. TRADING UNIT: Đơn vị mua bán. Số cổ phần, trái phiếu hay các chứng khoán khác thông thường được chấp nhận theo mục đích mua bán bình thường trên các thị trường chứng khoán. Xem odd lot, round lot, Unit of trading. TRADING VARIATION: Biến số mua bán. Phân số được bổ sung vào giá mua bán chứng khoán. Thí dụ, chứng khoán được bổ sung lên hay xuống bằng 1/8 điểm để có thể thành số tròn gần nhất. Giá hợp đồng options trên $3 thì được bổ sung bằng 1/8, nhưng dưới $3 thì bổ sung bằng 1/16. Trái phiếu công ty và trái phiếu đô thị bổ sung bằng 1/8, công phiếu trung hạn và dài hạn và trái phiếu thì 1/32, công phiéu ngắn hạn thì 1/64. Xem: plus. TRADING VOLUME: Khối lượng mua bán, Số giao dịch mua bán được ghi nhận tại thị trường chứng khoán hay hàng hoá trong một thời khoảng ấn định. TRANCH CD: CD có chia nhiều phần. Xem: Tranches. TRANCHES: Phần chia của một số lượng (trị giá), đợt phát hành. 1. Loại đáo hạn có rủi ro hay các loại hạng khác có trong chứng khoán có nhiều hạng loại (multi-class security) như CMO (collateralized mortgage oligation- cam kết nợ có thế chấp được bảo đảm) hay REMIC được chia ra (split). Thí dụ, tiêu biểu là CMO có 4 phần chia loại (tranches) A, B, C và Z đại diện cho các trái phiều chi trả nhanh, trung bình, chậm, cộng thêm một phần chia (tranch) không có phiếu lãi (coupon) nhưng được nhận lượng tiền mặt từ số thế chấp còn lại sau khi các phần chia khác đã được thoả mãn. Các dạng phức tạp khác của CMO có nhiều loại phần chia và một phần chia Y bao gồm trong thời biểu quỹ chi trả trái phiếu (sinking fund). 2. Tại Anh, các phát hành chứng khoán lãi suất cố định thường được nhà nước, chánh quyền địa phương hay các công ty sắp xếp trước, sau đó phát hành từng đợt kế tiếp nhau dược gọi là tranches (những đợt phát hành). Vì thế người ta sẽ nói có những loạt phát hành mới của các chứng khoán hiện hành. Một dạng khác của từ ngữ này là Tranchettes ám chỉ các đợt phát hành nhỏ các chứng khoán viền vàng (gilt-edged securities) (công phiếu) do nhà nước bán cho ngân hàng Anh Quốc, sau đó ngân hàng bán ra thị trường vào những thời điểm thích hợp. 3. Số đơn vị chứng chỉ ký thác dollar Châu Âu dưới mức $10-$30 triệu dollars được bán cho các nhà đầu tư nhỏ theo đơn vị $10.000. Số đơn vị này có các chứng chỉ riêng biệt và có cùng lãi suất, ngày phát hành, ngày chi trả lãi và ngày đáo hạn với công cụ đầu tiên gọi là Tranch CD. TRANCHETTES: Các phần chia. Xem Tranches. TRANSACTION: Giao dịch mua bán. Kế toán: sự kiện hay tình trạng được thừa nhận bởi một thực thể trong sổ sách kế toán. Chứng khoán: thi hành một lệnh mua hay bán chứng khoán hay hợp đồng futures hàng hoá. Sau khi người mua và người bán đồng ý giá cả, người bán có bổn phận cung ứng chứng khoán hay hàng hoá liên quan, và người mua có bổn phận nhận nó. Xem : Trade. TRANSACTION ACCOUNT: Tài khoản giao dịch. 1. Tài khoản ký thác, từ tài khoản này người giữ tài khoản được phép rút tiền hay chuyển ngân quỹ bằng công cụ chi trả hay chuyển nhượng, lệnh rút tiền để chi trả, chuyển ngân quỹ bằng điện thoại, hay các công cụ tương tự để chuyển ngân quỹ cho bên thứ ba. 2. Tài khoản ký thác hoạt kỳ, tài khoản NOW, tài khoản NOW cấp cao, và các tài khoản khác

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

89

có đủ điều kiện để dùng công cụ chi trả, nó lệ thuộc vào các quy định dự trữ (phải tuân theo các quy định về dự trữ). TRANSACTION CONTROL HEADER RECORD: Phiếu hồ sơ có tiêu đề để kiểm soát giao dịch mua bán. Tại Hoa Kỳ, thẻ hồ sơ nhận dạng người sử dụng hệ thống Thương Mại Tự Động và đề xuất mở đầu một giao dịch mua bán. Phiếu hồ sơ cũng gọi là a Record. TRANSACTION COST: Giá phí giao dịch mua bán. Giá phí mua hay bán chứng khoán, nó bao gồm phần lớn là hoa hồng cho công ty môi giới. Số hạ của giá mua (markdown) hay số tăng của giá bán (markup) của người mua bán, hay phí cho người buôn bán (thí dụ, ngân hàng và broker-dealer sẽ tính phí giao dịch trong mua bán trái phiếu kho bạc) nhưng cũng bao gồm cả lệ phí trực tiếp như lệ phí cho cơ quan nhà nước, các thuế chuyển giao do nhà nước ấn định hay các thuế trực tiếp khác. TRANSACTION STATEMENT: Tài liệu diễn đạt giao dịch mua bán. Tài liệu giải thích các điều khoản của thoả thuận giữa người mua và người bán. TRANSFER: Chuyển ngân quỹ. 1. Chuyển ngân quỹ từ tài khoản này sang tài khoản khác như từ tài khoản chi phiếu sang tài khoản tiết kiệm. 2. Chi trả bằng hệ thống điện tử từ ngân hàng này qua ngân hàng khác thông qua hệ thống giao hoán thanh lý tự động. 3. Giấy sang tên bất động sản chuyển từ người mua sang người bán, điều này xảy ra khi làm xong hồ sơ tiền vay có thế chấp. 4. Điều khoản trong tín dụng thư cho phép người thừa hưởng chuyển số tiền tín dụng đã có đó cho bên thứ ba (người thừa hưởng cấp hai - người thừa hưởng sau người thứ nhất secondary beneficiary). Người thừa hưởng cấp hai phải trình hối phiếu cho ngân hàng chi trả hay ngân hàng thông báo để nhận số chi trả. 5. Chuyển chứng khoán, trái phiếu từ người sở hữu này sang người sở hữu khác và ghi việc thay đổi quyền sở hữu trên hồ sơ đăng ký. 6. Chấp nhận đảm đương assumption) tiền vay có thế chấp do người-vay-mới thực hiện. TRANSFER AGENT: Cơ quan chuyển giao. Cơ quan thường là ngân hàng, do công ty chỉ định nhằm lưu giữ hồ sơ của chủ sở hữu chứng khoán và trái phiếu, huỷ bỏ hay phát hành chứng chỉ và giải quyết các vấn đề chứng chỉ bị mất, hư hỏng hay bị đánh cắp (ngăn ngừa việc phát hành quá mức là nhiệm vụ của Registrar - Phòng lưu trữ và theo dõi). Một công ty cũng có thể tự phục vụ mình bằng phòng chuyển giao riêng. TRANSFER OF MORTGAGE: Chuyển giao thế chấp. Việc ký chuyển giao thế chấp hoặc là do người vay (người thế chấp) hoặc do người cho vay (người nhận thế chấp) thực hiện. Người nhận tài sản có thể nhận nó với tính cách phụ thuộc vào thế chấp có nghĩa là vẫn trong tình trạng người vay ban đầu vẫn còn duy trì thế chấp hiện tại, thay thế bằng thế chấp khác hay chấp nhận thế chấp có cùng lãi suất và các điều khoản. Trong trường hợp như thế, người sở hữu mới sẽ trở thành người chịu trách nhiệm chi trả lại món nợ. Xem Assumable Mortgage. TRANSFER PAYMENTS: Tiền chuyển giao chi trả. Tiền trợ cấp của Nhà Nước trao cho các mục tiêu đã chủ định thay vì mua hàng hoá và dịch vụ. Tiền chuyển giao chi trả bao gồm tiền phúc lợi trong nước, tiền cứu trợ tai hoạ, tiền viện trợ nước ngoài v.v... TRANSFER PRICE: Giá chuyển giao. Giá cả được tính bởi một cá thể đơn vị trong một công ty có nhiều đơn vị (công ty có nhiều chi nhánh) trên số giao dịch giữa các đơn vị với nhau. Nó còn được gọi là giá phí chuyển giao. ý niệm này được sử dụng khi mỗi một đơn vị được điều hành như một trung tâm lợi nhuận (profit center - tức là tự quản, tự trị, có ngân sách riêng) có nghĩa là chịu trách nhiệm về số lợi nhuận trên số vốn đầu tư của riêng đơn vị đó và vì thế phải quan hệ với các bộ phận nội bộ của công ty trên căn bản "một cánh tay nối dài" hay trên căn bản thị trường (nghĩa là vẫn tính toán với nhau như một công ty khác). Xem : Arm's Length Transaction. TRANSFER RISK: Rủi ro khi chuyển tiền. Rủi ro thị trường hối đoái khi người nợ nước ngoài không thể chi trả bằng loại tiền tệ (ngoại tệ) theo yêu cầu của chủ nợ. TRANSFER TAX: Thuế chuyển giao. 1. Kết hợp thuế tặng phẩm và tài sản. Xem : Estate Tax, Gift Tax. 2. Thuế nhà nước đánh trên số bán tất cả trái phiếu (trừ cam kết nợ của nhà nước, nhà nước nước ngoài, chánh quyền đô thị) và chứng khoán. Người bán sẽ đóng thuế vào lúc quyền sở hữu được chuyển giao và số thuế bằng vài xu cho trị giá $100 dollar (ở Hoa Kỳ).

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

90

3. Các chính quyền địa phương đánh thuế chuyển giao các tài liệu như chứng từ tài sản, chứng khoán, hay các giấy phép. Người bán hay người bảo trợ chi trả thuế này bằng tem (con niêm) và thuế được thực hiện tại địa điểm của cơ quan chuyển giao. ở Hoa Kỳ các nơi có thuế chuyển giao trên số giao dịch mua bán chứng khoán là New York, Florida, South, Carolina và Texas. Tiểu bang New York đặt thuế trên giá bán, các tiểu bang khác đánh thuế theo mệnh giá (đối với loại chứng khoán theo mệnh giá thì tính trị giá là $100). Trái phiếu không bị thuế tiểu bang. TRANSFERABLE LETTER OF CREDIT: Tín dụng thư khả chuyển. Tín dụng thư cho phép người thừa hưởng được lựa chọn chuyển một phần hay tất cả số tín dụng cho bên thứ ba (người thừa hưởng cấp hai - secondary beneficiary). Số tín dụng có thể chỉ được chuyển với sự chấp thuận của ngân hàng phát hành tín dụng thư, và phải được nói rõ ràng trong chứng từ tín dụng thư là số tín dụng này có thể được chuyển. TRANSFERABLE UNDERWRITING FACILITY (TRUF): Phương tiện bao tiêu khả chuyển. Phương tiện của giấy nợ Châu Âu cho phép nhà bảo kê (bao tiêu - underwriter) ban đầu, nhà quản lý dự án được quyền chuyển sự cam kết đến một người đại diện trung gian khác sẵn lòng chấp nhận trách nhiệm tài chánh. Việc chuyển giao thẩm quyền này phải được thực hiện với sự đồng ý của tất cả các bên ban đầu đối với phương tiện này và việc chuyển giao bao gồm cả về trách nhiệm lẫn việc quản lý. TRANSIT DEPARTMENT: Phòng trung chuyển chi phiếu. Phòng trong ngân hàng nơi phân loại chi phiếu hay hối phiếu do ngân hàng ngoài khu vực phát hành, nó được tập hợp thành từng cấp và gửi đến ngân hàng chi trả để nhận tiền. Các chi phiếu từ ngân hàng ở xa được chi trả theo cách thông thường, và số ký thác được tạm hoãn cho đến khi nào nhận được ngân quỹ từ ngân hàng phát hành. TRANSIT ITEM: Công cụ chi trả trung chuyển. Chi phiếu hay hối phiếu do tổ chức tài chánh phát hành chứ không phải ngân phiếu ngân hàng nơi nó được ký thác. Ngoài ra còn được gọi là công cụ chi trả thuộc tổ chức khác (on-others items). Loại chi phiếu này khác với chi phiếu do khách hàng của chính ngân hàng đó viết ra (on-us items - công cụ chi trả trong cùng ngân hàng), và trình cho ngân hàng chi trả theo cách trình trực tiếp (không qua trung chuyển), thông qua trung tâm giao hoán thanh lý địa phương. Chi phiếu rút tiền ở ngân hàng khác thông thường được phân loại và được trình để nhận tiền trước chi phiếu rút tiền của khách hàng của chính ngân hàng đó được nhập vào tài khoản. TRANSIT LETTER: Thư (danh mục) chuyển. Tài liệu đi kèm chi phiếu hay hối phiếu được trình để thu tiền, tài liệu liệt kê số chi phiếu đang được gửi và tổng số tiền của chi phiếu. Thư (danh mục) tiền mặt đi kèm với chi phiếu được trình đến ngân hàng khác để lãnh tiền (cash letter) ; thư (danh mục) chuyển tiền (remittance letter) được sử dụng khi ngân hàng gửi không có một tài khoản nào tại ngân hàng nhận. TRANSIT NUMBER: Mã số chuyển. Xem ABA Transit Number. TRANSIT TARIFF: Quan thuế biểu trung chuyển. Thuế quan được quốc gia trung gian áp dụng khi hàng hoá đi ngang địa phận của họ để đến một quốc gia khác. Quan thuế biểu trung chuyển vẫn là nguồn doanh thu cho một vài nước đang phát triển, nhưng không còn ở các nước đã phát triển. TRANSMITTAL LETTER: Thư truyền đạt. Thư được gởi kèm theo hồ sơ tài liệu, chứng khoán hay hàng gởi trình bày nội dung và mục đích của giao dịch mua bán. TRANSPOSITION ERROR: Sai lầm do chuyển dịch số. Sai lầm do đảo ngược hai hay nhiều con số của số tiền trong khi nhập. Thí dụ : 81 thành 18 hay 92 thành 29. TRAVEL & ENTERTAINMENT (T&E) CARD: Thẻ du lịch và giải trí. Thẻ tín dụng chi tiêu (charge card) dùng để chi trả các chi phí khách sạn, hàng không hay các công việc khác. Thẻ du lịch đầu tiên cho Diners Club phát hành năm 1950 sau đó là American Express năm 1958. Thẻ du lịch khác với thẻ tín dụng ngân hàng ở vài điểm : thẻ tiêu biểu cho tài khoản tín dụng 30 ngày có số chi trả dứt điểm khi đáo hạn trước khi bắt đầu chu kỳ tính toán hoá đơn kế tiếp, người giữ tài khoản nhận bản sao hối phiếu số bán gốc (gọi là Country Club Billing) với báo cáo tính hoá đơn hàng tháng. Một vài kế hoạch T&E thường là thẻ công ty, cấp cho người giữ thẻ bản tóm tắt hàng quý số chi phí đối với thẻ. Xem Gold Card. TRAVELLER'S CHECK: Chi phiếu của người du lịch. Hối phiếu trả tại chỗ (sight draft) được phát hành thông qua các ngân hàng hoạt động như nhân viên trung gian bên bán, chi phiếu được bán trực tiếp cho dân chúng. Người mua trả tiền trước cho chi phiếu và ký hối phiếu hai lần- một lần khi đặt mua hối phiếu- một lần khi đổi lấy tiền mặt. Hối phiếu được công ty

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

91

phát hành chi trả, được bán theo đơn vị từ $10 đến $100 (ở Hoa Kỳ) và theo nhiều loại tiền tệ nước ngoài, hối phiếu được bảo đảm không sợ mất hay trộm. Chi phiếu được thương buôn sẵn sàng chấp nhận thay cho tiền mặt và có thể được đổi ra tiền mặt tại ngân hàng trong và ngoài nước. Chi phiếu du lịch do công ty American Express phát hành đầu tiên. TRAVELLER'S LETTER OF CREDIT: Thư tín dụng của người du lịch. Tín dụng thư ghi địa điểm các ngân hàng tương tác với ngân hàng phát hành, uỷ nhiệm cho các ngân hàng này chi trả tiền cho người mang đến, theo mức tín dụng đã cho phép. Ngoài ra nó còn được gọi là tín dụng thư thông tri (circular letter of credit). Số chi trả được ngân hàng tương tác của ngân hàng bối thự dựa trên phía đối tác thư tín dụng khi họ chi trả hối phiếu. Loại tín dụng này thường được dùng để trang trải chi phí du lịch và được khách hàng chi trả trước. Xem Traveler's check. TREASURER: Nhân viên ngân quỹ- Kế toán trưởng- Trưởng phòng tài chánh. Viên chức công ty chịu trách nhiệm về việc nhận (receipt), giám hộ đầu tư, chi tiêu của quỹ, số tiền mượn và nếu đó là một công ty cổ phần thì chịu trách nhiệm về việc duy trì một thị trường cho số chứng khoán công ty. Tuỳ theo tầm vóc của công ty, Treasurer cũng có chức năng kiểm soát viên có trách nhiệm về kế toán và kiểm toán. Luật lệ của nhiều nơi quy định là một công ty phải có một Treasurer (trưởng phòng tài chánh). Xem: Chief finance office (CFO). TREASURER'S DRAFT: Hối phiếu của nhân viên ngân khố. Xem Payable throught drafts. TREASURIES: Trái phiếu kho bạc. Cam kết nợ có thể dùng để chi trả (negotiable debt obligations) của nhà nước được Full faith and credit bảo đảm (bảo đảm bằng thuế, sức mượn và doanh thu) lợi tức của trái phiếu được miễn thuế. 1. Trái phiếu kho bạc ngắn hạn (treasury bills): trái phiếu ngắn hạn có kỳ hạn từ một năm trở xuống, được phát hành có khấu trừ vào mệnh giá. Các cuộc đấu giá trái phiếu ngắn hạn 91 ngày và 182 ngày được thực hiện hàng tuần và người ta theo dõi chặt chẽ hoa lợi của nó trong thị trường tiền tệ để biết các dấu hiệu của chiều hướng lãi suất. Có nhiều loại tiền vay lãi suất thả nổi và thế chấp lãi suất thay đổi có lãi suất chịu ảnh hưởng chặt chẽ với trái phiếu kho bạc ngắn hạn này. Ngân khố cũng mở đấu thầu loại trái phiếu kho bạc ngắn hạn 52 tuần, 4 tuần một lần. Thỉnh thoảng ngân khố cũng phát hành trái phiếu kho bạc quản lý tiền mặt ngắn hạn, trái phiếu kho bạc ngắn hạn trả thuế trước (tax anticipation bills - trái phiếu kho bạc ngắn hạn dự phòng thuế) và chứng chỉ nợ ngân khố (treasury certificates of indebtedness). Trái phiếu kho bạc ngắn hạn được phát hành theo đơn vị tối thiểu là $10.000 dollar và trên $10.000 thì công thêm $5.000 (trừ loại trái phiếu kho bạc ngắn hạn quản lý tiền mặt được bán từng khối tối thiểu $10 triệu dollar). Cá nhân nhà đầu tư không đệ trình giá đặt mua có cạnh tranh (Competitive bid) sẽ được bán trái phiếu kho bạc ngắn hạn theo giá trung bình của giá đặt mua có cạnh tranh đã cạnh tranh đã trúng thầu. Trái phiếu kho bạc ngắn hạn là công cụ đầu tiên được dự trữ nhà nước sử dụng theo các luật lệ về cùng tiền tệ thông qua các hoạt động thị trường mở rộng. Xem Dutch Auction 2. Trái phiếu kho bạc dài hạn (treasury bonds): công cụ nợ dài hạn với kỳ hạn từ 10 năm trở lên được phát hành theo đơn vị tối thiểu là $1.000 dollar. 3. Trái phiếu kho bạc trung hạn (treasury notes): là loại trung gian giữa ngắn hạn và dài hạn, có kỳ hạn từ 1 đến 10 năm. Khung đơn vị từ $1.000 đến 1 triệu USD hay cao hơn. Trái phiếu kho bạc trung hạn được bán theo đăng ký bằng tiền mặt nhằm đổi lấy các trái phiếu nhà nước sắp đáo hạn hay đang lưu hành hoặc được bán trong các cuộc đấu giá. TREASURY BILL: Xem trái phiếu kho bạc ngắn hạn. TREASURY BOND: Xem trái phiếu kho bạc dài hạn. TREASURY CERTIF ICATE: Chứng chỉ ngân khố Chứng chỉ đặc biệt có lãi coupon (phiếu lãi kèm theo chứng chỉ của nợ có thời gian đáo hạn dưới một năm. TREASURY DIRECT: Trực tiếp mua trái phiếu kho bạc. Hệ thống thông qua đó một nhà đầu tư cá nhân có thể đặt giá mua không cạnh tranh (noncompetitive bid) về trái phiếu kho bạc (treasuries) vì thế không qua người trung gian như ngân hàng hay broker-dealers và để khỏi trả phí cho những người này. Hệ thống hoạt động thông qua ngân hàng dự trữ nhà nước và các chi nhánh và giá mua tối thiểu là $10.000 dollars. TREASURY GENERAL ACCOUNT (TGA): Tổng tài khoản của ngân khố. Tổng tài khoản của bộ ngân khố được lưu giữ tại ngân hàng trung ương Nhà nước. Tất cả chi phí chính thức của

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

92

nhà nước đều được thực hiện từ tài khoản này. Tài khoản cũng giữ tiền ký gửi trong ngân khố dưới hình thức vàng. Xem Treasury Tax and Loan Account. TREASURY INVESTMENT GROWTH RECEIPT: Biên nhận phát triển đầu tư của ngân khố. Xem Strip, Zero Coupon Security. TREASURY NOTE: Trái phiếu kho bạc trung hạn. Trái phiếu nhà nước trung hạn, có lãi coupon (phiếu lãi đính kèm trái phiếu), thời gian đáo hạn ban đầu dưới 10 năm, được phát hành theo đơn vị $1.000 (ở Hoa Kỳ) hay cao hơn tuỳ theo thời hạn của giấy nợ. Giấy nợ trả lãi nửa năm một lần và trả vốn khi đáo hạn. TREASURY SECURITIES: Trái phiếu kho bạc. Từ chung để chỉ cam kết nợ có sinh lãi của nhà nước được ngân khố phát hành như phương tiện vay tiền để đáp ứng chi phí nhà nước mà doanh thu thuế không đủ để trang trải. Trái phiếu kho bạc dễ mua bán được xếp thành 3 loại: trái phiếu kho bạc ngắn hạn (treasury bill), thời hạn từ 91 đến 365 ngày; trái phiếu kho bạc dài hạn (treasury bond), thời hạn từ 10 năm trở lên; trái phiếu kho bạc trung hạn thời hạn giữa 1 và 10 năm. Các loại trái phiếu kho bạc (ở Hoa Kỳ) hiện nay được phát hành theo hình thức số đăng ký (book entry- ghi số liệu nhập trong sổ). Quyền sở hữu trái phiếu được lưu giữ trong hệ thống vi tính của ngân hàng nhà nước. Người mua nhận một báo cáo (một giấy biên nhận) chứ không nhận chứng chỉ. TREASURY STOCK: Chứng khoán tồn tại. Chứng khoán do công ty phát hành thụ đắc lại và sẵn sàng xoá bỏ (retirement) hay bán lại. Nó được phát hành nhưng không lưu hành. Nó không có quyền bỏ phiếu và không chi trả hay tích tuỹ cổ tức. Nó không bao gồm trong bất cứ trị giá đo lường theo tỷ lệ cho mỗi cổ phần thường. Trong số các lý do để tồn lại chứng khoán là: 1. Cung cấp một lựa chọn (alternative) khác để chi trả cổ tức có thuế, bởi vì số lượng cổ phần đang lưu hành giảm thì sẽ làm tăng trị giá mỗi cổ phần và giá thị trường. 2. Cung cấp cho hợp đồng options chứng khoán được thực hiện cũng như cho chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán (warrant) và cho việc trao đổi các chứng khoán khả hoán. 3. Chống lại giá đặt mua đệm để tiếm quyền (tender offer) của người thụ đắc sau này. 4. Thay đổi tỷ lệ nợ đối với vốn cổ đông bằng cách phát hành trái phiếu để tài trợ cho số cổ phần mua lại (reacquisition). 5. Nhằm ổn định giá thị trường trong thời gian phát hành chứng khoán mới. Nó còn gọi là chứng khoán thụ đắc lại (reacquired stock - chứng khoán được mua lại) và cổ phần tồn lại (treasury shares). Xem: Issued and Outstanding, Unissued Stock. TREASURY TAX AND LOAN (TT&L) ACCOUNT: Tài khoản thuế và cho vay của ngân khố. Số cân đối tài khoản chi phiếu do Bộ Ngân khố duy trì tại các tổ chức tài chánh, ngân hàng thương mại cơ bản (gốc). Nhà nước thu giữ tiền thuế được chi trả thông qua tài khoản TT & L. Phần lớn biên lai thu thuế được ký thác vào các tài khoản này. Một vài số cân đối của ngân khố có thể được giữ trong các tài khoản ký thác có sinh lãi của các ngân hàng địa phương. TREASURY WORKSTATION: Hệ thống hoạt động về ngân quỹ tồn (phòng ngân quỹ). Hệ thống quản lý thông tin bằng vi tính (loại nhỏ) cho phép nhân viên ngân quỹ ( treasurer) điều hành tự động báo cáo số cân đối hàng ngày của số cân đối được thu về, đầu tư ngân quỹ nhàn rỗi trong thị trường tiền tệ ngắn hạn, chi ngân quỹ cho chủ nợ giao dịch mua bán. Mục tiêu chung là cải tiến năng suất và hợp nhất cuối cùng việc quản lý ngân quỹ, hệ thống cải tiến kế toán công ty như nhập số liệu và gửi hoá đơn theo thứ tự. Xem: Cash Management. TREND: Hướng đi của thị trường chứng khoán. Tổng quát: biến chuyển theo chiều hướng tổng quát. Thí dụ, "có khuynh hướng tăng lên của số bán công ty XYZ" hay "có khuynh hướng tăng lên của mua bán bằng vi tính trên Phố Wall". Chứng khoán: biến chuyển giá dài hạn hay biến chuyển số lượng mua bán hoặc là tăng hay giảm hoặc là gần như đứng yên (sideway- biến chuyển ít), nó tạo lên một đặc tính của một thị trường, hàng hoá hay chứng khoán. Nó cũng có thể áp dụng cho lãi suất và hoa lợi. TREND ANALYSIS: Phân tích chiều hướng của công ty và lượng tiền mặt trong một vài thời khoảng tế toán để xác định các thay đổi trong vị thế tài chánh của người vay. Phân tích chiều hướng là phần then chốt để bảo đảm tín dụng và là công cụ hữu ích, cần thiết để xác định sức tài chánh của người vay có được cải thiện hay xấu đi không. Các tỷ lệ tài chánh

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

93

then chốt được xem xét bao gồm tỷ lệ bảo kê nợ, tỷ lệ luân chuyển (tốc độ chuyển đổi hàng kho và tài khoản thu ra tiền mặt) và tỷ lệ tài sản chuyển đổi nhanh (để chuyển ra tiền mặt). (Tỷ lệ tài sản hiện hành chia cho nợ hiện hành). Xem: Balance Sheet Ratios, Turnover Ratios. TRENDLINE: Đường biểu thị hướng đi. Đường biểu diễn kỹ thuật do nhà phân tích kỹ thuật dùng để vẽ biểu đồ hướng đi vừa qua của chứng khoán hay hợp đồng futures hàng hoá để tiên đoán biến chuyển giá cả tương lai. Đường biểu thị khuynh hướng được thiết lập bằng cách nối các giá cao nhất và thấp nhất của chứng khoán hay hàng hoá đã tăng hay giảm trong một thời gian nào đó. Góc độ của đường biểu diễn sẽ cho biết chứng khoán hay hàng hoá đang theo chiều lên hay chiều xuống. Nếu giá tăng cao hơn độ dốc xuống của đường biểu thị khuynh hướng hay giảm dưới mức độ dốc lên của đường biểu thị nhà phân tích kỹ thuật nói rằng đang xuất hiện một khuynh hướng mới. Xem: Technical Analysis, Trading Pattern. TRIANGLE: Hình tam giác. Mô hình biểu đồ kỹ thuật có hai điểm chuẩn và một đỉnh nhọn được thiết lập bằng cách nối các biến chuyển giá một loại chứng khoán bằng một đường thẳng. Trong mô hình tam giác tiêu biểu, chóp hình quay về bên phải và cũng có hình tam giác ngược lại có chóp quay về bên trái. Trong hình tam giác cũng có một loạt từ hai giá trở lên được phục hồi và khi giá rớt thì đỉnh kế tiếp sẽ thấp hơn đỉnh trước đó còn đáy thì cao hơn đáy trước đó. Trong hình tam giác góc bên phải thì phần dốc của hình sẽ cho biết hướng phá vỡ khuôn hình. Nhà phân tích nhận thấy điều này rất quan trọng khi giá chứng khoán phá vỡ khuôn hình tam giác theo hướng lên hay xuống bởi vì nó thường có nghĩa là giá chứng khoán sẽ tiếp tục theo chiều hướng đó. Xem Pennant, Technical Analysis, Wedge. TRICKLE DOWN: Dòng chảy xuống. Lý thuyết cho rằng có thể đạt được phát triển kinh tế tốt nhất bằng cách cứ để cho các đơn vị kinh doanh phát triển bởi vì sự phát đạt của họ cuối cùng cũng chảy xuống người có lợi tức trung bình và thấp, những người này rất có lợi vì sẽ làm tăng hoạt động kinh tế. Các nhà kinh tế phản đối lý thuyết này nói rằng nó sẽ làm cho sự phát triển kéo dài hơn là nếu nhà nước trực tiếp cấp phúc lợi cho thành phần lợi tức trung bình và thấp. Xem Supply-side Economics. TRIGGER PRICE: Giá kích phát - giá xuất phát. Giá sàn (giá thấp nhất) được nhà nước hay một nhóm hàng hoá quốc tế dùng làm giá tham khảo để can thiệp vào thị trường thương mại nhằm nâng đỡ cho giá được ưu đãi của một loại hàng hoá. TRIGGERING TERM: Điều khoản báo rõ (nói trắng ra). Điều khoản trong tín dụng cho người tiêu thụ, khi dùng trong việc quảng cáo hay trong tập khuyến khích tín dụng (cổ động tín dụng - Credit Promotion): phải thông báo rõ ràng các thông tin thường xuyên theo như quy định của luật thành thật khi cho vay (truth in lending). Thí dụ, phí tài chánh tính với người tiêu thụ phải được báo rõ ràng như phải báo tỷ lệ phần trăm hàng năm (APR - Annual Percentage Rate) để người tiêu thụ có thông tin đồng nhất về tín dụng và có thể so sánh với các phí do các người cho vay khác tính. Ngoài ra, còn phải cho biết lệ phí hàng năm, chi phí kết thúc hồ sơ, chi phí tín dụng phụ thuộc như số chi trả dồn một lần (balloon payments). TRILATERAL TRADE: Mậu dịch hỗ tương ba bên. Hoạt động thương mại giữa ba quốc gia. TRIN: Tỷ lệ Trin - Tỷ lệ chẩn đoán thị trường. Đo lường sức mạnh thị trường chứng khoán liên quan đến tỷ lệ tăng - giảm (advance- decline) (số chứng khoán đã tăng giá chia cho số chứng khoán hạ giá) và tỷ lệ số lượng tăng và giảm (tổng số lượng cổ phần đã tăng chia cho tổng số cổ phần đã giảm). Thí dụ, nếu 800 chứng khoán đã tăng giá và 750 chứng khoán đã giảm giá trong khi đã tăng 68 triệu cổ phần và đã giảm 56 triệu cổ phần thì tỷ lệ trin sẽ là: 0,88 Tỷ lệ Trin thấp hơn 1,00 được xem là thị trường lên và trên 1,00 được xem là thị trường xuống. Trong thí dụ này tỷ lệ Trin 0,88 là dấu hiệu của thị trường lên. Tỷ lệ Trin dựa trên số liệu đóng cửa thị trường được gọi là tỷ lệ Trin đóng cửa (closing trin). Xem : Closing Tick. TWO- SIDED MARKET: Thị trường gồm hai bên. Thị trường trong đó bên đặt giá mua và bên đặt giá bán đều là công ty, trong trường hợp này người ta cần một chuyên viên và những người tạo thị trường. Như thế cả người mua và người bán được đảm bảo có khả năng hoàn tất giao dịch mua bán. Nó còn được gọi là thị trường hai chiều (two-way market). TWO-TIER BID: Giá đặt mua 2 lớp (tầng). Giá đặt mua tiếp quản (takeover bid) do người muốn tiếp quản (người thụ đắc acquirer) đưa ra (cao hơn giá thị trường) để mua các cổ

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

94

phần cần thiết nhằm chiếm quyền kiểm soát chứ không phải để lưu giữ cổ phần. Ngược lại là Any-and-all Bid. TWO-TIER GOLD MART: Chợ vàng hai hệ thống - hai giá. Hệ thống hai nhánh để đánh giá vàng. Giá chính thức trong được dùng trong buôn bán vàng giữa các Nhà nước, trong khi giá thị trường được xác định bằng các giao dịch mua bán trong thị trường tư nhân về vàng. TWO-TIER TENDER OFFER: Đặt giá mua (giá đấu thầu) hai lớp. Giá đặt mua để tiếp thu trong đó nhà đầu tư đã có đủ cổ phần để duy trì sự kiểm soát, đưa ra giá cao hơn giá các nhà đầu tư còn lại. Giá cao hơn bao gồm một hỗn hợp tiền mặt và vốn cổ đông trong công ty do người đấu thầu (đặt giá mua) sở hữu. Những giá đặt mua này được đưa ra để thuyết phục các cổ đông đáp ứng nhanh đối với giá đệm (tender offer- giá cao hơn giá thị trường). TYING CONTRACT: Hợp đồng cột chặt. Cũng còn gọi là tie-in (có ràng buộc), người bán bán sản phẩm với điều kiện thảo thuận của người mua là phải mua một sản phẩm khác. TRIPLE TAX EXEMPT: Miễn thuế ba lần (ở Hoa Kỳ). Đặc tính của trái phiếu đô thị trong đó tiền lãi được miễn thuế liên bang, tiểu bang, và địa phương cho cư dân tiểu bang đó và đơn vị địa phương phát hành trái phiếu. Trái phiếu này đặc biệt hấp dẫn trong các tiểu bang có thuế suất lợi tức cao. Nhiều quỹ trái phiếu đô thị chỉ mua trái phiếu miễn thuế ba lần và bán ra cho cư dân của tiểu bang hay thành phố nơi phát hành trái phiếu. Xem : Single-State Municipal Bond Fund. TRIPLE WITCHING HOUR: Giờ biến ảo gấp ba lần. Giờ mua bán sau cùng vào Thứ Sáu lần thứ ba của tháng 3, 6, 9, 12. Khi hợp đồng options và futures về chỉ số chứng khoán cùng lúc đáo hạn. Lúc này các nhà theo sách lược bảo hộ giá và nhà mua- bán-cùng-lúc (arbitrageur) đua nhau mua bán hàng đống hợp đồng futures, options chỉ số và các chứng khoán cơ sở gây nên các hoạt động bất bình thường và làm xáo trộn thị trường (volatility). Giờ biến áo có tỷ lệ thấp hơn xảy ra trong 8 tháng kia, cũng thường vào ngày Thứ Sáu lần thứ ba khi hợp đồng futures chỉ số hay hợp đồng options đáo hạn. TROUBLED BANK: Ngân hàng đang gặp khó khăn. Ngân hàng có tỷ lệ tiền cho vay không diễn tiến (nonperforming loan) cao hơn mức bình thường khi so sánh với các ngân hàng cùng tầm vóc, và có thể trị giá thuần (phần vốn) bị âm (nợ nhiều hơn tài sản có). TROUBLED DEBT RESTRUCTING: Tái cơ cấu nợ đang có trở ngại. Tình trạng người cho vay đồng ý nhân nhượng người vay đang gặp khó khăn tài chánh. Việc tái cơ cấu nợ của tiền cho vay không diễn tiến (không diễn tiến tốt), được chia làm 2 loại : 1. Loại tiền cho vay trong đó người vay chuyển tài sản cho người cho vay. 2. Tiền cho vay trong đó điều khoản tín dụng được bổ sung. Phần này bao gồm : tịch thu tài sản thế chấp, giảm lãi suất, gia hạn ngày đáo hạn, và miễn chi trả vốn và lãi. Thông thường, người cho vay thương lượng một thoả thuận giải quyết (workout agreement) với người vay để bổ sung các điều khoản ban đầu thay vì đề xuất kiện cáo để tịch thu tài sản của người vay chậm trễ chi trả. TROUBLED LOAN: Tiền cho vay đang có vấn đề. Tiền cho vay không diễn tiến, (cũng còn được gọi là tiền cho vay chưa ăn (sour loan- tiền cho vay đang không thuận lợi - tiền cho vay lên men). Có vài dấu hiệu cảnh báo về việc này: Số chênh lệch quá ít (thin margins), chênh lệch giữa hoa lợi tiền cho vay và số chi lãi cho người ký thác, khả năng thanh lý có vấn đề, tình trạng kinh doanh và công ăn việc làm của công nhân không thuận lợi, thế chấp không đủ, lợi tức không đủ. Số chi trả lãi hay vốn có thể đã được thương lượng lại hay tái cơ cấu. TRUE AND FAIR VIEW: Quan điểm sự thật và công bằng vô tư. Tiêu chuẩn xem xét dành cho kiểm toán viên tài khoản thương mại. Kiểm toán viên theo yêu cầu phải xác định tài khoản của một tổ chức có biểu lộ lừa đảo hay sai lệch không. Sự sơ sót và báo cáo lệch sẽ bóp méo tình trạng tài chánh thực sự của một tổ chức. TRUE INTEREST COST (TIC): Giá phí lãi thực. 1. Tỷ lệ phần trăm hàng năm giá phí quỹ bao gồm phí tài chánh, bảo hiểm suốt thời gian tín dụng, điểm chiết khấu, lãi chi trả trước. Nhà nước quy định người cho vay phải thông báo rõ ràng giá phí thực của tín dụng trong thoả thuận cho vay tín dụng cho người tiêu thụ bằng cách dùng phương pháp cơ bản tính phí tài chánh của người vay, lệ phí đơn xin tín dụng, và các giá phí khác.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

95

2. Giá phí thực tế của việc phát hành trái phiếu có tính đến trị giá hiện tại (trị giá theo thời gian - time value) của tiền tệ. TIC thường được dùng trong trái phiếu đô thị, đó là lãi suất, được kết hợp từng 1/2 năm, được quyền khấu trừ vào số chi trả vốn và lãi cho trái chủ theo giá mua ban đầu. Hãy so sánh với Net Interest Cost. TRUE LEASE: Hợp đồng thuê đúng tiêu chuẩn. Hợp đồng cho thuế đúng theo luật nhà nước và kiểm tra kế toán cho phép người cho thuê được một số lợi thế về thuế của quyền sở hữu. Nó còn được gọi là Tax-oriented lease. Người cho thuê được phép khấu hao tài sản trong suốt thời gian sử dụng tài sản và có thể được hưởng tín dụng thuế chưa sử dụng. Người thuê có thể khấu trừ số chi trả hợp đồng thuê dưới dạng chi phí vốn từ số thuế lợi tức ban đầu. Hợp đồng cho thuê hội đủ tiêu chuẩn để xử lý thuế thường là hợp đồng thuê nhiều năm có hỗ trợ tài chánh, thí dụ hợp đồng cho thuê trang bị; vốn cho hàng không hay nhà sản xuất. Xem Capital Lease, Finanee Lease, Operating Lease. TRUNCATION: Cắt bỏ. 1. Dịch vụ ngân hàng trong đó chi phiếu hay hối phiếu đã huỷ, được ngân hàng khách hàng lưu giữ hay do một ngân hàng khác trong hệ thống thu tiền chi phiếu, và không được trả lại người viết chi phiếu kèm với báo cáo tài khoản. Chi phiếu có thể bị cắt bỏ hay ngưng tại ngân hàng nơi chi phiếu ký thác đầu tiên hay tại ngân hàng nhà nước. Nếu do chính ngân hàng của khách hàng, nó được gọi là giữ an toàn cho chi phiếu (check safe keeping). Việc cắt bỏ chi phiếu liên ngân hàng hay liên quan đến một số lớn ngân hàng sẽ loại bỏ việc xử lý cụ thể chi phiếu, nhưng yêu cầu các ngân hàng phải tuân theo các luật lệ mới chi phối các quyền và nợ của ngân hàng trình chi phiếu và ngân hàng chi trả thay mặt cho khách hàng. Cuối cùng, giá phí xử lý chi phiếu sẽ gia giảm rất nhiều nếu phần lớn ngân hàng tham gia vào chương trình cắt bỏ chi phiếu. 2. Bỏ một hay nhiều con số khi tính tiền lãi tích luỹ trong tài khoản tiết kiệm. Thí dụ, 1,677754 được cắt bỏ bớt số kể từ số thứ tư - số sẽ trở thành 1,6777. Ngược lại là Rounding (làm tròn số). TRUST: Uỷ thác - Tờ rớt (tập đoàn). Kinh doanh loại kết hợp công ty tham gia vào các vụ mua bán độc quyền và kiềm chế, nó hoạt động tự do mãi cho đến khi có đạo luật chống tờ rớt ( trust) vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Từ ngữ này bắt nguồn từ việc sử dụng uỷ nhiệm bỏ phiếu (voting trust), trong đó một số ít người được uỷ nhiệm (thụ uỷ) bỏ phiếu cho đa số người có cổ phần trong công ty. uỷ -nhiệm-bỏ-phiếu-biểu-quyết tồn tại như một phương tiện làm cho việc tái tổ chức được dễ dàng trong công ty đang gặp khó khăn. Xem : Investment Company, Voting Trust Certificate. Luật pháp: mối quan hệ uỷ thác tài sản (fiduciary) trong đó một người được gọi là người thụ uỷ (trustee) giữ quyền sở hữu tài sản vì lợi ích của một người khác gọi là người thừa hưởng (benificiary). Người lập uỷ thác là creator, settlor, donor (người lập uỷ thác, người trợ cấp, người bảo trợ). Chính tài sản thì được gọi là corpus, trust res (tài sản uỷ thác), trust estate hay trust fund (quỹ uỷ thác) - đây là phần gốc, nó khác với bất cứ lợi tức nào được kiếm ra bằng cách sử dụng nó. Nếu uỷ thác được lập ra khi người uỷ thác (donor - người bảo trợ) còn sống thì gọi là living trust (uỷ thác khi còn sống) hay inter vivos trust (uỷ thác giữa người còn sống). uỷ thác lập ra bởi di chúc thì gọi là uỷ thác chúc thư (testamentary trust). Người thụ uỷ thường tính lệ phí đối với tài sản uỷ thác đầu tư có tính sản xuất, trừ khi có quy định hạn chế, người thụ uỷ có thể bán, thế chấp hay cho thuê tài sản khi ông ta cảm thấy đảm bảo. Xem Charitable Remainder Trust, Clifford Trust, Investment Trust, Revisionary Trust, Company, Trustee in Bankruptcy, Trust Indenture Act of 1939. TRUST ACCOUNT: Tài khoản uỷ thác. Tên ngắn gọn để chỉ tất cả các loại tài khoản do phòng uỷ thác ngân hàng hay công ty uỷ thác quản lý. TRUST COM PANY: Công ty uỷ thác. Một tổ chức, thường kết hợp với ngân hàng thương mại, tham gia với tư cách người thụ uỷ (trustee), người thụ uỷ tài sản hay một nhân viên làm việc cho cá nhân hay đơn vị kinh doanh để quản lý quỹ uỷ thác, tài sản, thoả thuận giám hộ, chuyển giao chứng khoán, đăng ký chứng khoán và các dịch vụ liên quan khác. Công ty uỷ thác cũng tham gia các chức năng điều hành đầu tư uỷ thác tài sản và lập kế hoạch về tài sản. Công ty hoạt động theo luật nhà nước. TRUST DEED: Văn kiện uỷ thác- Deed of Trust.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

96

TRUST DEPARTMENT: Phòng uỷ thác. Phòng trong ngân hàng hay tổ chức tài chánh tham gia quản lý tài sản trong tài khoản uỷ thác cho uỷ thác cá nhân, các uỷ thác cho lợi ích công nhân và tài khoản công ty, đồng thời cũng làm dịch vụ trung gian cho các khách hàng uỷ thác. Các uỷ thác nhỏ hơn thì thường được quản lý dưới dạng ngân quỹ kết hợp chung (commingled funds) hay uỷ thác tài khoản chung mà nếu như quản lý riêng rẽ thì sẽ tốn kém hơn. Phòng uỷ thác ngân hàng cũng giải quyết tài sản cho cá nhân và hoạt động như nhân viên chuyển ngân quỹ cho các công ty. Ngân quỹ tài khoản uỷ thác được quản lý riêng rẽ và được tính riêng với các tài sản khác do một ngân hàng quản lý. Xem Master Trust, Trust Company, Trustee. TRUST FUND: Quỹ uỷ thác. Tài khoản bao gồm tài sản được lưu giữ theo uỷ thác cho người khác. TRUST INDENTURE: Giao kèo trách nhiệm (uỷ thác). Thoả thuận giữa công ty và chủ nợ ghi chi tiết các điều khoản về số nợ. Các điều khoản này bao gồm các điều như lãi suất, thời điểm đáo hạn, phương tiện chi trả và thế chấp. Nó đồng nghĩa với Deed of Trust, Trust Agreement. TRUST RECEIPT: Biên nhận uỷ thác. 1. Thoả thuận được dùng rộng rãi trong tài trợ bằng tín dụng thư, thường cấp cho người mua hay nhà nhập khẩu hàng hoá. Người mua hứa giữ tài sản nhận được dưới danh nghĩa ngân hàng thoả thuận tài trợ, mặc dù ngân hàng vẫn giữ quyền sở hữu hàng hoá. Biên nhận uỷ thác cho phép nhà nhập khẩu được có sở hữu hàng hoá để sau đó bán lại trước khi chi trả cho ngân hàng phát hành. 2. Một loại thoả thuận an toàn nhằm kiểm tra khoảng thời gian kéo dài tín dụng đối với những người bán hàng có thời gian tiêu thụ lâu (durable goods). Thí dụ như người buôn bán xe ô tô, người này sở hữu những xe trong cửa hiệu và chi trả cho người cho vay bằng tài khoản uỷ thác khi nào xe được bán. Người cho vay có thể cũng phải nhận một bản báo cáo xin tài trợ của người vay trước khi cho vay. Xem Floor Planning, Indirect Loan . TRUSTEE: Người thụ uỷ. Xem Trust. TRUSTEE BANKRUPTCY: người thụ uỷ trong vụ phá sản. Người thụ uỷ do toà án chỉ định hay do chủ nợ, để quản lý các công việc của một công ty hay cá nhân bị phá sản. Người thụ uỷ có trách nhiệm thanh lý tài sản của công ty và thực hiện phân phối các cổ tức thanh lý cho chủ nợ. Trong việc tái tổ chức, người thụ uỷ có thể hay không thể được chỉ định. Nếu được chỉ định, người thụ uỷ có trách nhiệm xem xét kế hoạch tái tổ chức được đệ trình và thường đảm nhiệm trách nhiệm cho công ty. TRUSTEE OF A LIVING TRUST: người thụ uỷ uỷ thác của người còn sống. Người quản lý uỷ thác, bao gồm tài khoản trong công ty môi giới do một người còn sống thiết lập. Thẩm quyền uỷ thác theo thoả thuận uỷ thác, không phải theo di chúc. TRUSTOR: Người uỷ thác. Người lập ra uỷ thác cho lợi ích của một người khác và giao tài sản cho người thụ uỷ (trustee) để phân phối cho người thừa hưởng. Nó còn được gọi là donor hay settlor. TRUTH IN LENDING LAW: Quy luật thành thật khi cho vay. Luật lệ xác định rằng người cho vay phải thông báo rõ ràng cho người vay giá phí thật sự của số tiền vay và thực hiện lãi suất, các điều khoản về tiền vay phải đơn giản để dễ hiểu. Xem: Consumer Credit Protection Act of 1968, Right of Rescission. TRUTH IN SAVINGS: Thành thật trong tài khoản tiết kiệm. Luật nhà nước quy định ngân hàng phải thông báo rõ ràng các điều khoản then chốt trong tài khoản ký thác có trả lãi, kể cả lãi suất chi trả và lệ phí. Nhà nước quy định tổ chức tài chánh thiết lập sẵn: lãi suất đơn được trả, hoa lợi phần trăm hàng năm, số cân đối tối thiểu để mở rộng một tài khoản, tiền phạt khi rút ngân quỹ sớm, và các điều kiện khác có thể làm giảm hoa lợi trong tài khoản. TURKEY: Thất bại. Đầu tư không được như ý muốn. Từ ngữ có thể được dùng để nói về một vụ kinh doanh đang đến thất bại, hay nói về việc mua một loại chứng khoán hay trái phiếu đã rớt giá trầm trọng hay chứng khoán mới phát hành không bán được nhiều hay phải bán lỗ. TURNAROUND: Xoay vòng. Mua và bán chứng khoán trong một ngày, thường là để đầu cơ (kiếm lời nhanh). TURNAROUND: Quay ngược lại- Đảo ngược tình thế. Sự đảo ngược có lợi trong số mệnh của một công ty, thị trường hay tổng thể kinh tế. Nhà đầu tư thị trường chứng khoán dự đoán rằng công ty đang diễn tiến xấu sẽ chứng tỏ sự cải thiện đáng kể trong việc kiếm lợi

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

97

nhuận và đạt được lợi nhuận thật cao một khi công ty đảo ngược được tình thế. TURNKEY: Chìa khoá trao tay. Dự án do một công ty đã xây dựng hay hoàn thành, sau cùng được hoàn chỉnh và chuyển giao cho một công ty sẽ sử dụng nó như thế tất cả người sử dụng đều có sẵn chìa khoá trong tay (có đủ điều kiện hoạt động) nghĩa là dự án sẵn sàng hoạt động. Từ ngữ này được dùng trong các dự án xây dựng nhà cửa, sau khi xây dựng xong thì chuyển giao cho người quản lý tài sản . Cũng có hệ thống vi tính trao tay có nghĩa là người sử dụng không cần phải có kiến thức đặc biệt về vi tính nhưng vẫn có thể sử dụng đúng một khi được lắp đặt. TURNOVER: Luân chuyển, doanh số, tốc độ thay thế công nhân. Tài chánh: 1. Số lần tài sản đã có, được thay thế trong suốt một thời khoảng kế toán, thường là một năm. Xem: Accounts Receivable Turnover, Inventory Takeover. 2. Tỷ lệ số bán hàng năm của công ty đối với trị giá thuần (vốn) đo lường mức độ công ty có thể phát triển mà không cần đầu tư thêm vốn khi so sánh với thời gian qua. ở Anh: có nghĩa là số bán hằng năm. Liên hệ ngành: tổng số công ăn việc làm chia cho số công nhân được thay thế trong suốt thời gian ấn định. Chứng khoán: số lượng cổ phần được mua bán tính bằng số phần trăm tổng số cổ phần được liệt kê trên một thị trường trong một thời khoảng, thường là một ngày hay một năm. Tỷ lệ này cũng được áp dụng cho số chứng khoán của cá nhân và danh mục đầu tư của cá nhân hay nhà đầu tư thuộc tổ chức. TURNOVER RATIOS: Tỷ lệ luân chuyển. Tỷ lệ tài chánh liên hệ đến doanh số hay số lượng, thí dụ, luân chuyển của tài khoản thu, còn gọi là tỷ lệ hiệu quả, luân chuyển tài sản tức sự chuyển đổi tài khoản thu ra tiền mặt. Tỷ lệ này đo lường hiệu quả của việc chuyển đổi tài sản ra tiền mặt. Xem Liquidity Ratios. 12B-1 MUTUAL FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư 12b-1. Quỹ hỗ tương đầu tư tính một ít phí quảng cáo đối với cổ đông. Quỹ này không tính phí bán vì thế khi bán ra công chúng quỹ không cần đến Broker. Thay vào đó, quỹ thường dựa vào việc quảng cáo và các liên hệ công chúng để thiết lập tài sản của quỹ. Phí thường vào khoảng từ 1% trở xuống của tài sản quỹ. Quỹ 12b-1 phải theo đăng ký quy định với nhà nước và các phí phải được thông báo rộng rãi. TWENTY- DAY PERIOD: Thời khoảng 20 ngày (ở Hoa Kỳ). Thời khoảng do SEC quy định sau khi nộp báo cáo đăng ký và bản quảng bá ban đầu (preliminary prospectus) về việc phát hành mới hay phân phối lần thứ nhì, trong giai đoạn này hồ sơ sẽ được xem xét và nếu cần sẽ bổ sung. Cuối thời hạn 20 ngày, còn gọi là thời khoảng cứu xét (cooling-off period), sẽ đánh dấu thời điểm có hiệu lực tức là lúc có thể cung ứng chứng khoán trái phiếu ra công chúng (bán ra công chúng). SEC có thể kéo dài thời khoảng này để nhà phát hành có đủ thời gian bổ túc hồ sơ còn thiếu sót (deficiency letter - thư báo còn thiếu sót). TWENTY-FIVE PERCENT RULE: Quy tắc 25%. Lời khuyên của nhà phân tích trái phiếu đô thị cho biết nợ tồn (bonded debt) vượt qua 25% ngân sách hàng năm của chính quyền nhà nước là quá mức. 24 HOUR BANKING: dịch vụ ngân hàng phục vụ 24/24. Dịch vụ ngân hàng tự phục vụ hoạt động luôn cả giờ nghỉ việc của ngân hàng để phát tiền mặt, nhận ký thác và chuyển ngân quỹ giữa các tài khoản tại hệ thống máy thu phát ngân tự động. Sự phát triển của hệ thống ATM có chia phần, cả trong nước và nước ngoài vào thập niên 1980 đã tạo điều kiện cho người tiêu thụ thực hiện ít nhất là một số chức năng ngân hàng thông thường ở khắp nơi trong nước và ở mức độ nào đó trong cả phạm vi quốc tế. TWENTY-PERCENT CUSHION RULE: Quy tắc khoảng cách an toàn 20%. Nhà phân tích trái phiếu doanh thu đô thị (municipal revenue bonds) cho rằng doanh thu ước tính từ phương tiện được tài trợ nên vượt quá ngân sách hoạt động hiện hành cộng giá phí bảo dưỡng và số tiền dành chi trả nợ (debt service- dịch vụ trả nợ). Khoảng chênh lệch 20% hay khoảng cách an toàn ("cushion") dùng để dự phòng các chi phí không thể ước tính được hay bị sai lạc trong việc ước tính doanh thu. TWISTING: Lươn lẹo. Việc làm không đạo đức nhằm thuyết phục một khách hàng mua bán không cần thiết, nhờ đó broker hay người bán được hoa hồng. Thí dụ: Broker có thể đề xuất chủ hàng bán một quỹ hỗ tương đầu tư để lấy phí bán và mua một quỹ khác cũng để lấy phí

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

98

bán do đó họ được thêm một hoa hồng. Người bán bảo hiểm nhân thọ thuyết phục người có hợp đồng huỷ hợp đồng bảo hiểm của người đó hay làm cho nó mất hiệu lực để bán cho người được bảo hiểm một hợp đồng mới có thể có phí cao hơn và người bán nhận được một hoa hồng đáng kể. Nó còn được gọi là Churning (khuấy động). TWO-DOLLAR BROKER: Người môi giới của người môi giới. Broker tại hiện trường mua bán (floor broker - broker tại sàn mua bán) người thi hành các lệnh mua bán cho các broker khác đang quá bận rộn, họ được gọi là broker của broker. Các broker này được trả 2 dollars cho một vụ mua bán lố tròn (round lot- từ 100 chứng khoán trở lên) vì thế mới có tên broker hai đô la. Ngày nay họ được chi trả hoa hồng thay đổi tuỳ theo trị giá tiền của giao dịch mua bán. Xem: Independence Broker. 200 PERCENT DECLINING BALANCE METHOD: Phương pháp cân bằng giảm 200%. Xem Double Declining - Balance Depreciation Method (DDB). TWO NAME PAPER: Chứng từ nợ có hai người đứng tên. Tên chung để chỉ chứng từ nợ thương mại - giấy chấp nhận thương mại và giấy chấp nhận ngân hàng - mang hai chữ ký, hoặc là với tư cách người rút tiền hoặc là người bối thự. Nó còn được gọi là chứng từ mang tên kép (double name paper). Trong trường hợp người phát hành không thể trả tiền giấy chấp nhận ngân hàng thì ngân-hàng-chấp-nhận món nợ phải chịu trách nhiệm chi trả. TWO-PARTY LOAN: Tiền cho vay hỗ tương (có hai bên trách nhiệm). Xem Back-to-back Loan, Parallel Loan. Chủ đề U

ULTRA VIRES ACTIVITIES: Hoạt động quá mức cho phép. Các hoạt động ngoài thẩm quyền của nội quy, giấy phép của công ty và do đó đưa đến sự kiện tụng của cổ đông và bên thứ ba. Xem: articles of incorporation. UMBRELLA FUND: Quỹ bao trùm. Tài khoản đầu tư bao gồm ngân quỹ được đầu tư trong các tài khoản khác, thường là ở nước ngoài. UNABSORBED COST: Giá phí không trang trải được. Thâm thủng trong chi phí gián tiếp khi doanh thu từ sản phẩm không trang trải được tất cả giá phí. UNAMORTIZED BOND DISCOUNT: Khấu trừ trái phiếu trả ngay. Chênh lệch giữa mệnh giá trái phiếu và số tiền thu được khi công ty phát hành bán trái phiếu, trừ cho phần đã được trả dần (trả góp) nghĩa là xoá chi phí báo cáo định kỳ trong bản báo cáo lời và lỗ. Vào thời điểm phát hành, công ty có hai lựa chọn: 1. Công ty có thể chấp nhận ngay chi phí gián tiếp (absorb) như chi phí về số khấu trừ trái phiếu cộng với giá phí liên quan đến việc phát hành như lệ phí pháp lý, in ấn, đăng ký và các chi phí tương tự. 2. Công ty có thể quyết định xử lý tổng số khấu trừ và các chi phí như loại phí hoãn và được ghi nhận là một tài sản được xoá bỏ theo thời gian hiệu lực của trái phiếu hay theo một thời biểu mà công ty thấy là cần thiết. Số lượng này vẫn được tính như một chi phí vào bất cứ thời điểm nào nghĩa là nó vẫn được coi là số khấu trừ trái phiếu trả ngay. UNAMORTIZED PREMIUMS ON INVESTMENTS: Chênh lệch trả ngay trong các vụ đầu tư. Một phần trị giá không phải là chi phí theo đó giá chứng khoán được trả cao hơn mệnh giá (nếu là trái phiếu hay chứng khoán ưu đãi) hay trị giá thị trường (nếu là chứng khoán thường). Chênh lệch (premium) được chi trả trong việc tiếp quản một vụ đầu tư thì nằm trong tài sản vô hình theo như bản chất và theo kế toán lối cũ nó không được xem là chi phí (bị loại bỏ ra mục chi phí) trong một thời khoảng tương ứng. Xem: Going-Concern Value. UNAUTHORIZED INVESTMENT: Đầu tư không được uỷ quyền (Không có thẩm quyền). Đầu tư không được chấp thuận một cách rõ ràng bằng một công cụ uỷ thác để đúng là một uỷ thác, nó khác với đầu tư không theo luật định do công ty uỷ thác hay phòng uỷ thác ngân hàng thực hiện. Một vụ đầu tư nếu không có uỷ quyền có thể hội đủ điều kiện luật nhà nước quy định đầu tư thông qua người thụ uỷ thác tài sản, nhưng vẫn vi phạm quyết định của người lập ra uỷ thác. Xem: Legal list. UNAUTHORIZED TRANSFER: Chuyển ngân quỹ không thuộc thẩm quyền. Rút tiền mặt hay chuyển ngân quỹ (sử dụng thẻ nợ ngân hàng) từ tài khoản ký thác của khách hàng bởi một người nào đó không phải là người có thẻ. Trong tình trạng người có thẻ không cẩn thận, tạo điều kiện dễ dàng cho một người nào đó rút tiền khỏi tài khoản ngân hàng mà không có sự chấp thuận của ông ta thí dụ như viết mã số mở hay mã số Pin lên chính thẻ nợ thì khách

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

99

hàng khó mà kiện cáo ngân hàng để sửa lại lỗi lầm này. Tuy nhiên, trách nhiệm pháp lý trong việc sử dụng sai mã số PIN lại là một vấn đề mơ hồ có thể đưa đến việc tranh cãi. Xem: error resolution, unauthorized use. UNAUTHORIZED USE: Sử dụng khi không có thẩm quyền. Một người nào đó sử dụng thẻ tín dụng chứ không phải người có thẻ, thí dụ sau khi thẻ tín dụng bị rớt mất hay bị đánh cắp và số mua (không được người có thẻ chấp nhận) được tính vào tài khoản. UNBUNDLING: Không gom chung. Việc định giá (tính giá phí) của dịch vụ ngân hàng trong đó hoạt động của tài khoản được chia ra thành từng phần và mỗi hoạt động được tính phí dịch vụ tài khoản riêng. Do đó, Khách hàng có tài khoản chi phiếu được tính lệ phí theo từng chi phiếu được trả tiền và mỗi lần rút tiền mặt từ máy thu phát ngân tự động, ngược với lệ phí duy trì tài khoản hàng tháng. Trong việc định giá dịch vụ riêng lẻ (không gom chung), ngân hàng cũng có thể tính lãi suất tín dụng của số tiền kiếm được (earnings credit rate) trên các số cân đối trong tài khoản ký thác, số này sẽ được dùng để giảm chi phí dịch vụ riêng rẽ. Mục đích của việc tính phí riêng rẽ này là để định giá dịch vụ ngân hàng cho mỗi lần kiếm được lợi nhuận hay đo lường được sự thua lỗ, đồng thời lệ phí dịch vụ sẽ công bằng hơn đối với tất cả khách hàng. Định giá riêng rẽ cũng là nguồn lợi tức lệ phí tiềm tàng hay lợi tức không sinh lãi, nó có thể dùng để đáp ứng lại chi phí không sinh lãi như lương công nhân. Ngược lại là account bundling (gom chung tài khoản). UNCALLED CAPITAL: Vốn không phải thu hồi (vốn dự trữ Xem: Reserve capital. UNCERTIFIED UNITS: Đơn vị không có chứng nhận. Cổ phần trong quỹ hỗ tương đầu tư không có cấp chứng chỉ khi nhà đầu tư mua một số nhỏ cổ phần bằng cách tái đầu tư cổ tức, cổ phần được ghi vào tài khoản của họ cho đến khi số cổ phần phát triển lên hay khi không còn muốn giữ nữa. UNCLAIMED BALANCES: Số cân đối không ai đòi. Số cân đối để nhàn rỗi trong tài khoản ngân hàng, và được xem như tài sản bỏ không (abandoned property), quyền sở hữu có thể trao lại cho nhà nước sau một thời gian ấn định. Nó còn được gọi là dormant account (tài khoản nằm im - tài khoản không hoạt động). UNCOLLECTED FUND: Quỹ chưa thu. Một phần của ký thác ngân hàng thiết lập cho các chi phiếu chưa được ngân hàng ký thác thu, có nghĩa là số chi trả mà chi phiếu đã được rút ra chưa được ngân hàng báo cho biết. Ngân hàng thường không để cho người ký thác rút tiền trên quỹ chưa thu. Xem: Float. UNCONDITIONAL BID: Đặt mua không điều kiện. Xem: Takeover. UNCONFIRMED LETTER OF CREDIT: Tín dụng thư không có bảo đảm. Xem Confirmed Letter of Credit. UNCOVERED OPTION: Hợp đồng option không có bảo kê. Hợp đồng option mà người sở hữu không có giữ công cụ cơ sở (sẽ giao theo hợp đồng option khi có yêu cầu) (không có chứng khoán làm cơ sở cho hợp đồng). Xem: Naked Option, Underlying Futures Contract, Underlying Security, Writing Naked. UNDATED SECURITY: Trái phiếu không định thời điểm. Trái phiếu không có thời điểm thu hồi. UNDERBANKED: Chưa đủ sức bao tiêu. Nói về việc bao tiêu phát hành chứng khoán mới khi ngân hàng đầu tư gốc gặp khó khăn trong việc tập tập hợp các công ty khác gia nhập vào làm thành viên nhóm bao tiêu hay tập đoàn bao tiêu (syndicate). Xem: Underwrite. UNDERBOOKED: Chưa chính thức mua (mới chỉ hứa). Nói về việc phát hành mới các chứng khoán trong giai đoạn trước khi đăng ký (preoffering registration period) khi broker vận động liệt kê các người mua sắp tới, báo cáo có một bản biểu thị quan tâm (indication of interest - bản hứa sẽ mua chứng khoán). Ngược lại với underbooked là fully circled (đã chính thức đăng ký mua - đã hoàn toàn đồng ý mua). Xem: Circle. UNDERCAPITALIZATION: Chưa đủ vốn, chưa đủ tư bản hoá. Tình trạng trong đó một đơn vị kinh doanh không đủ vốn để thực hiện các chức năng kinh doanh thông thường. Xem: Capitalization, Working Capital. UNDERDEVELOPMENT: Kém phát triển. Chủ yếu là tình trạng kinh niên của quốc gia kém phát triển (Less developed countries LDC), có tổng sản lượng trong nước và lợi tức đầu người rất thấp so với các quốc gia còn lại trên thế giới. Thông thường một quốc gia đang phát triển có những khu vực đã phát triển, nhưng nó không gợi lại những hình ảnh của một quốc gia kinh niên kém phát triển. LDC lệ

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

100

thuộc vào hàng xuất khẩu các sản phẩm cơ bản để kiếm lợi nhuận, có số vốn đầu tư rất hạn hẹp và phải dựa vào hạ tầng cơ sở yếu kém để hỗ trợ ngay cả việc phát triển công nghiệp yếu về chất lượng lẫn số lượng. UNDERGROUND ECONOMY: Thị trường chủ - Kinh tế bí mật ngấm ngầm. Nó được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau như: parallel market (thị trường song hành) hay shadow market (thị trường trong bóng tối), entrepreuenrial market (thị trường thuộc con buôn) trong một nền kinh tế kế hoạch hay có luật lệ rất nặng nề. Kinh tế bí mật ngấm ngầm (thị trường chui) bao gồm hệ thống những người trung gian và nhà cung cấp bán hàng hoá hay dịch vụ cho các công ty và người tiêu thụ bằng lòng trả cao giá hơn cho sản phẩm không có sẵn trong hệ thống phân phối thông thường. Khi loại hàng hoá hay dịch vụ bất hợp pháp được mua bán trong thị trường quốc tế thì thị trường song song được gọi là thị trường chợ đen (Black market). UNDERLYING: Làm cơ sở (cho một hợp đồng). Các công cụ tài chánh phải được giao khi chấm dứt một hợp đồng option hay futures. Thí dụ, vật làm cơ sơ có thể là chứng khoán (trái phiếu) có lãi suất cố định, thị trường hối đoái hay vốn của các hợp đồng futures (nếu chứng khoán là hợp đồng option trên hợp đồng futures). UNDERLYING DEBT: Nợ cơ sở. Từ ngữ của trái phiếu đô thị, nợ của một đơn vị nhà nước trong phạm vi quyền hạn của một thực thể nhà nước lớn hơn và do đó thực thể lớn hơn này có một phần trách nhiệm tín dụng. Thí dụ, một hạt có thể phải chia sẻ trách nhiệm với các cam kết nợ tổng quát của một làng nằm trong hạt đó. Đứng trên quan điểm chính quyền hạt thì nợ của ngôi làng là nợ cơ sở. Từ ngữ nợ gối đầu (overlapping debt) cũng được dùng để mô tả nợ cơ sở nhưng nợ gối đầu cũng có thể nằm trong nhiều đơn vị cùng cấp, thí dụ như khu vực trường học nằm trên giao điểm các đường ranh giới của hai hay nhiều hạt. UNDERLYING FUTURES CONTRACT: Hợp đồng futures cơ sở. Hợp đồng futures làm cơ sở cho hợp đồng option vào thời điểm tương lai đó. Thí dụ, Chicago Board of Trade cung ứng hợp đồng futures trái phiếu kho bạc. Hợp đồng futures cơ sở là hợp đồng futures trái phiếu bạc được mua bán ở Board of Trade. Nếu hợp đồng Option đã được thực hiện, việc cung ứng sẽ được thực hiện bằng hợp đồng futures cơ sở. UNDERLYING LIEN: Quyền giữ thế chấp cơ bản. Quyền đòi chi trả ưu tiên hơn các quyền đòi chi trả của các chủ nợ khác và được chi trả trước khi các món nợ kế tiếp được chi trả đầy đủ. Tiền cho vay có thế chấp lần thứ nhất ưu tiên hơn tiền cho vay có thế chấp lần thứ hai và lần thứ hai được gọi là quyền giữ thế chấp cấp thấp (junior lien). Người cho vay có thể yêu cầu người vay ký một thoả thuận phụ (subordination agreement) để tiền vay của ngân hàng được chi trả trước các món nợ khác thí dụ như tiền vay của cá nhân người vay đối với công ty có tính cách gia đình (closely-held corporation) hay công ty góp vốn trong đó người vay là sở hữu chính. UNDERLYING MORTGAGE: Tiền vay có thế chấp cơ sở (chính yếu, gốc). Xem underlying Lien. UNDERLYING SECURITY: Chứng khoán cơ sở. Hợp đồng options: chứng khoán phải được giao nếu hợp đồng Put option hay Call option được thực thi. Tuy nhiên, hợp đồng option và futures chỉ số chứng khoán được thanh toán bằng tiền mặt bởi vì không thể giao chỉ số chứng khoán. Chứng khoán: chứng khoán thường làm cơ sở cho các loại chứng khoán nào đó do công ty phát hành. Chứng khoán này phải được giao nếu chứng chỉ đặc quyền đăng ký (subscription warrant) hay đặc quyền đăng ký (subscription right) được thực thi, nếu trái phiếu khả hoán hay chứng khoán ưu đãi được chuyển sang chứng khoán thường và nếu hợp đồng option chứng khoán thưởng (incentive stock option) được thực thi. UNDERMARGINED ACCOUNT: Tài khoản Margin dưới tiêu chuẩn. Tài khoản Magrin (tài khoản vay tiền mua chứng khoán) xuống dưới mức quy định Margin (mức trị giá tối thiểu phải có trong tài khoản) hay quy định duy trì mức tối thiểu (minimum maintenant requirements). Kết quả là broker phải làm một lệnh gọi Margin (yêu cầu đóng thêm tiền, chứng khoán) gửi cho khách hàng. UNDERPINNING: Củng cố, làm cơ sở. The market's psychological underpinning are bullish (căn cứ vào tâm lý thị trường thì thị trường sẽ lên có tính lạc quan). UNDERSELLING: Bán dưới giá. Trong ngoại thương, bán trong thị trường nhập khẩu theo trị giá thị trường thấp hơn trị giá công bằng hợp lý.

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

101

UNDERSUBSCRIBED ISSUE: Phát hành dưới mức đăng ký. Xem Oversubscribed issue. UNDERVALUED: Dưới trị giá. Chứng khoán bán dưới trị giá thanh toán hay trị giá thị trường mà nhà phân tích tin là nó chỉ được như vậy. Chứng khoán một công ty có thể dưới giá trị vì thuộc về ngành không được ưa chuộng, vì ít người biết đến công ty hay có quá trình kiếm lợi nhuận thất thường hoặc vì các lý do khác. Các nhà phân tích cơ bản cố gắng điểm mặt các công ty dưới trị giá để khách hàng mua của họ có cơ hội mua chứng khoán trước khi nó trở nên có giá trị đầy đủ (fully valued). Các công ty dưới giá trị thường là mục tiêu cho các nỗ lực tiếp quản (chiếm quyền kiểm soát công tytakeover), bởi vì người thụ đắc (người muốn tiếp quản) có thể mua rẻ tài sản theo cách này. Xem: Fundamental Analysis. UNDERWATER LOAN: Tiền vay có giá trị thấp. Tiền cho vay có trị giá thị trường thấp hơn mệnh giá. Nếu bán trong thị trường cấp hai, người cho vay sẽ phải chịu lỗ. Tiền cho vay bị hạ giá (sink) vì người vay chi trả trễ nải; lãi coupon dưới lãi suất tiền cho vay có cùng chất lượng và ngày đáo hạn, hoặc là thế chấp của tiền vay có trị giá thấp hơn vốn cho vay, hoặc là không có nguồn chi trả. Thí dụ như người cho vay giữ hợp đồng cho vay dài hạn về ô tô như 5 năm có thể gặp trường hợp trị giá thị trường của chiếc xe thấp hơn số vốn cho vay còn lại chưa được trả. UNDERWRITE: Bao tiêu. Bảo hiểm: chấp nhận rủi ro đổi lại được phí bảo hiểm (premium). Đầu tư: chấp nhận rủi ro trong việc mua tất cả các chứng khoán mới phát hành của công ty hay đơn vị nhà nước và bán lại cho công chúng trực tiếp hoặc thông qua người buôn bán. Người bao tiêu được hưởng chênh lệch giữa giá phải trả cho nhà phát hành và giá bán ra công chúng (public offering price) gọi là chênh lệch bao tiêu (underwriting spead). Bao tiêu là việc kinh doanh của ngân hàng đầu tư, người theo thông thường sẽ lập thành nhóm bao tiêu (còn gọi là nhóm mua- Purchase group hay tập đoàn bao tiêu- Syndicate) chịu chung rủi ro và đảm bảo phân phối thành công số phát hành. Tập đoàn bao tiêu hoạt động theo thoả thuận giữa những người bao tiêu, còn gọi là hợp đồng của tập đoàn bao tiêu (syndicate contract) hay hợp đồng nhóm bao tiêu. Nhóm bao tiêu chỉ định người quản lý bao tiêu cũng gọi là trưởng nhóm bao tiêu (lead underwriter), giám đốc tập đoàn bao tiêu hay đơn giản là manage, thường là ngân hàng đầu tư đầu tiên (ngân hàng gốc). Công ty bắt đầu làm việc với nhà phát hành nhiều tháng trước để hoạch định chi tiết việc phát hành và chuẩn bị tài liệu đăng ký để nạp cho nhà nước. Giám đốc bao tiêu hoạt động như một thành viên của nhóm, sẽ ký thoả thuận bao tiêu (hay hợp đồng mua) với nhà phát hành. Thoả thuận này nói rõ các điều khoản và quy định của thoả thuận và trách nhiệm của cả nhà phát hành lẫn nhà bao tiêu. Trong suốt thời gian cung ứng (bán ra công chúng), thì chính giám đốc bao tiêu phải chịu trách nhiệm ổn định giá thị trường cổ phần của nhà phát hành bằng cách phát giá trong thị trường mở rộng, một tiến trình gọi là ổn định giá (pegging). Giám đốc bao tiêu cũng có thể chỉ định một nhóm bán (selling group) kết hợp những người buôn bán với chính những người bao tiêu để trợ giúp việc phân phối chứng khoán. Nói một cách chính xác, việc bao tiêu hiển nhiên chỉ sử dụng trong ý nghĩ cam kết chắc chắn bao tiêu (firm commitment underwriting) cũng gọi là bought deal, nghĩa là mua đứt chứng khoán của công ty. Có các loại thoả thuận ngân hàng đầu tư khác mà từ ngữ không được áp dụng đúng cho lắm, đó là cam kết làm hết sức mình (best effort), cam kết hoặc là mua tất cả hoặc không mua gì hết (all or none), cam kết sẵn sàng hỗ trợ (standby). Trong mỗi cam kết này, người ta chia rủi ro cho nhà phát hành và ngân hàng đầu tư. Thỉnh thoảng từ ngữ cũng được dùng trong cung ứng lần thứ hai có đăng ký (registered secondary offering), cơ bản cũng giống như tiến trình phát hành mới ngoại trừ số tiền thu được thuộc về nhà đầu tư bán chứng khoán chứ không thuộc nhà phát hành. Đối với các thoả thuận này, thì từ ngữ cung ứng (bán) lần thứ nhì được người ta thích dùng hơn từ bao tiêu là từ thường dùng riêng cho phân phối mới hay đầu tiên. Có hai phương pháp cơ bản dựa vào đó nhà phát hành chọn lựa nhà bao tiêu và giá phí bao tiêu (chênh lệch bao tiêu- underwriting spread) được xác định: bao tiêu theo thương lượng (negotiated underwritings) và bao tiêu theo đấu thầu có cạnh tranh (competitive bid underwritings). Thông thường, bao tiêu theo thương lượng được dùng trong việc phát hành chứng khoán vốn công ty và trái phiếu nợ của công ty, trong khi đó phương pháp đấu thầu có cạnh tranh được chính quyền đô thị và đơn vị tiện ích công cộng sử dụng. Xem:

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

102

Allotment. Blowout, Primary Market. UNDERWRITER: Người bao tiêu, nhà bảo hiểm. Bảo hiểm: công ty chấp nhận giá phí rủi ro về cái chết, hoả hoạn, trộm cắp, đau yếu v.v... đổi lại được chi trả một số tiền gọi là phí bảo hiểm (premium). Chứng khoán: ngân hàng đầu tư một mình hay là một thành viên của nhóm bao tiêu hay tập đoàn bao tiêu (syndicate) đồng ý mua (bao thầu) một phát hành mới các chứng khoán của nhà phát hành và phân phối cho các nhà đầu tư để hướng phí bao tiêu (chênh lệch bao tiêu). Xem: Underwrite. UNDERWRITING AGREEMENT: Thoả thuận bao tiêu. Thoả thuận giữ công ty phát hành chứng khoán mới để bán ra công chúng và nhà quản lý bao tiêu với tư cách là thành viên của nhóm bao tiêu. Nó cũng còn gọi là thoả mua hay hợp đồng mua, nó tiêu biểu cho cam kết của nhà bao tiêu là mua các chứng khoán và ghi chi tiết giá bán ra công chúng, phí bao tiêu (bao gồm số khấu trừ và hoa hồng), số tiền thu được thuần cho nhà phát hành và thời điểm thanh toán. Nhà phát hành đồng ý trả tất cả chi phí phát hành trong việc chuẩn bị phát hành để sau đó bán lại, bao gồm lệ phí đăng ký với nhà nước và giá phí về tập quảng bá (prospectus), nhà phát hành cũng đồng ý cung cấp cho nhà quản lý bao tiêu đầy đủ các bản sao của tất cả tập quảng bá đầu tiên (sơ bộ). (Cá trích đỏ - red herring- đây là tiếng lóng) lẫn tập quảng bá nguyên trạng sau cùng. Nhà phát hành đảm bảo: 1. Thực hiện tất cả các hồ sơ theo quy định của Nhà nước và tuân thủ đầy đủ các điều khoản của đạo luật về chứng khoán. 2. Chịu hoàn toàn trách nhiệm việc hoàn tất, mức chính xác, rõ ràng của các chứng từ về tất cả các thông tin trong hồ sơ đăng ký và tập quảng bá. 3. Thông báo đầy đủ các vụ tranh chấp còn tồn. 4. Sử dụng tiền thu được cho mục tiêu đã nêu. 5. Tuân thủ luật chứng khoán của nhà nước.l,e,,, 6. Làm việc để liệt kê trên các thị trường đã đồng ý. 7. Bồi thường cho nhà bao tiêu vì phải chịu trách nhiệm pháp lý những thiếu sót hay sau lạc mà đúng ra thuộc trách nhiệm của nhà phát hành. Nhà bao tiêu đồng ý tiến hành việc cung ứng ngay khi Nhà nước thông qua hồ sơ đăng ký hay vào một thời điểm ấn định sau đó. Nhà bao tiêu được thẩm quyền bán cho thành viên của nhóm bán. Thoả thuận bao tiêu không được lẫn lộn với thoả thuận giữa những nhà bao tiêu (agreement among underwriters). Xem Best Effort, Firm Commitment. UNDERWRITING COMPENSATION: Tiền công bao tiêu. Phí bán trả cho công ty môi giới chứng khoán để công ty (hay broker-dealer của công ty) bán hay cung ứng chứng khoán ra công chúng. UNDERWRITING DISCOUNT: Khấu trừ trong việc bao tiêu. Xem Underwriting Spread. UNDERWRINTING GROUP: Nhóm bao tiêu. Liên kết tạm thời của các ngân hàng đầu tư do ngân hàng đầu tư gốc đứng ra tổ chức trong một vụ phát hành mới các chứng khoán. Hoạt động theo thoả thuận giữa các nhà bao tiêu, họ đồng ý mua chứng khoán của công ty phát hành theo giá thoả thuận và giá bán lại theo giá bán cho công chúng, chênh lệch giữa hai giá là phí bao tiêu (chênh lệch bao tiêu - underwriting spread). Mục tiêu của nhóm bao tiêu là chia nhau các rủi ro và đảm bảo việc phân phối ra công chúng được thành công. Hầu hết các nhóm bao tiêu hoạt động theo hợp đồng tập đoàn bao tiêu có phân chia (divided syndicate contract), có nghĩa là trách nhiệm pháp lý của các thành viên được giới hạn theo số dư phần cá nhân của nhóm. Nó còn được gọi là tập đoàn bao tiêu theo phân phối (distributing syndicate). Xem: Underwriting agreement. UNDERWRITING MANAGER: Nhà quản lý bao tiêu. Công ty môi giới chứng khoán chịu trách nhiệm tổ chức bao tiêu, sửa soạn công việc phát hành, thương lượng với nhà phát hành và các nhà bao tiêu và phân bổ số chứng khoán cho nhóm bán. UNDERWRITING SPREAD: Chênh lệch giữa số tiền trả cho nhà phát hành chứng khoản trong phân phối đầu tiên và giá bán ra công chúng (public offering price). Số phí bao tiêu thay đổi rất nhiều tuy theo tầm mức phát hành, sức mạnh tài chính của nhà phát hành, loại chứng khoán liên hệ (chứng khoán, trái phiếu, các đặc quyền), đặc tính của chứng khoán (ưu tiên, ít ưu tiên hơn, có bảo đảm, không bảo đảm) và loại cam kết của ngân hàng đầu tư. Khung phí có thể từ 1% trái phiếu phát hành của công ty tiện ích công cộng lớn, đến 25% đối với công ty phát hành đầu tiên của công ty nhỏ. Số phân chia của phí bao tiêu giữa nhà quản lý bao tiêu, nhóm bán, và những người bao tiêu dự phần cũng thay đổi, như trong phí

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

103

bảo hiểm hai điểm thì nhà quản lý (hay giám đốc) được 0,25%, nhóm bán 1%, các nhà bao tiêu 0,75%. Theo thường lệ, nếu nhà bao tiêu cũng là thành viên của nhóm bán thì nhận được 1,75% phí bao tiêu và nếu nhà quản lý nằm trong tất cả 3 loại thì sẽ nhận được 2%. Xem Selling Concession, Underwrite. UNDERWRITING SYNDICATE: Tập đoàn bao tiêu. Một nhóm công ty môi giới chứng khoán đồng ý theo văn bản hợp tác liên doanh để phân phối một loại chứng khoán nào đó (Xem Syndicate). UNDIGESTED SECURITIES: Chứng khoán chưa tiêu thụ được. Chứng khoán và trái phiếu mới còn tồn lại chưa phân phối được vì chưa đủ số cầu của dân chúng theo giá cung ứng (giá bán). UNDISCLOSED PRINCIPAL: Chủ thể không được tiết lộ, chủ thể ẩn danh. Một chủ thể mà nhân thân không được các chủ thể khác biết được trong một vụ giao dịch mua bán. Trong hầu hết các trường hợp, người trung gian đại diện không được phép tiết lộ nhân thân của một chủ thể, mặc dù họ phải thông báo rõ ràng có sự hiện diện của bên thứ ba trong một giao dịch mua bán. UNDISTRIBUTED PROFUTS (EARINGS, NET INCOME): Lợi nhuận chưa được phân phối. Xem Retained Earings. UNDIVIDED ACCOUNT: Tài khoản chưa phân chia. Xem Eastern Account. UNDIVIDED INTEREST: Quyền lợi không thể phân chia - Quyền lợi nguyên khối. 1. Quyền đòi sở hữu không giới hạn đối với tài sản một công ty hay đơn vị góp vốn như trong tài khoản liên đới sở hữu hay tài khoản sở hữu chung (tenant in common account). Mỗi người sở hữu có quyền đòi sở hữu toàn bộ tài sản. 2. Từ ngữ trong thị trường cấp hai để chỉ quyền đòi sở hữu của nhà đầu tư trong toàn thể số tiền cho vay đã được mua mà không có nguồn hỗ trợ (recourse) từ người đầu tiên lập tiền vay có thế chấp, chứng chỉ qua trung gian bảo đảm tiền vay có thế chấp, hoặc trái phiếu có thế chấp bảo đảm như nợ có thế chấp được bảo đảm (CMO - Collateralized Mortgage Obligations). Quyền đòi chi trả của nhà đầu tư đối với tiền cho vay cơ sở có thế chấp ưu tiên hơn tất cả quyền đòi chi trả khác. UNDIVIDED PROFITS: Lợi nhuận chưa chia. Tài khoản ghi trên bảng cân đối tài khoản của ngân hàng cho biết lợi nhuận chưa được dùng chi trả cho cổ tức hay chưa được chuyển vào tài khoản thặng dư của ngân hàng. Lợi nhuận hiện hành được ghi vào bên có của tài khoản lợi nhuận chưa chia và sau đó hoặc là chi cho cổ tức hoặc là tồn lại để nhập vào tổng số vốn cổ đông. Khi tài khoản tăng trưởng, số lượng tròn (chẵn) có thể chuyển từng kỳ vào tài khoản thặng dư. UNEARNED DISCOUNT: Khấu trừ chưa hưởng. Tài khoản trong sổ sách của tổ chức cho vay chấp nhận tiền lãi được khấu trừ trước và sẽ được xem là lợi tức khi đã trải qua thời gian hiệu lực của tiền vay. Theo nguyên tắc kế toán, tiền lãi như thế đầu tiên được ghi là nợ, sau đó khi đã qua một số tháng nó dần dần là số tiền kiếm được, như thế nó được thừa nhận là lợi tức và do đó làm tăng lợi nhuận của người cho vay và làm giảm số nợ tương ứng. UNEARNED INCOME: Lợi tức chưa hưởng. Kế toán: lợi tức đã nhận những chưa được hưởng như tiền thuê đã nhận trước hay số ứng trước của khách hàng. Lợi tức chưa hưởng thường được xếp vào loại nợ hiện hành (current liability) trên bảng cân đối tài khoản của công ty, chấp nhận là nó sẽ được ghi bên có lợi tức trong chu trình kế toán thông thường. Thuế lợi tức: lợi tức có từ các nguồn chứ không phải tiền lương công nhân viên chức, tiền bồi dưỡng và tiền đền bù cho công nhân, thí dụ như cổ tức, tiền lãi, tiền cho thuê. UNEARNED INTEREST: Tài lãi chưa hưởng. Tiền lãi đã được tổ chức tài chính thu xong trên số tiền cho vay, nhưng chưa được tính lãi vào phần lợi nhuận bởi vì tiền vốn cho vay chưa lưu hành đủ thời gian quy định để được hoàn lại. Nó còn được gọi là khấu trừ hay khấu trừ chưa hưởng. UNENCUMBERED: Không bị dính mắc, không bị lệ thuộc, tự tại. Tài sản không bị dính mắc vào bất cứ quyền giữ thế chấp nào (quyền đòi chi trả của chủ nợ). Thí dụ, một chủ hộ đã chi trả hết số thế chấp thì căn nhà trở thành tài sản tự tại. Chứng khoán mua bằng tiền mặt thay vì bằng tài khoản Margin (tài khoản vay tiền mua chứng khoán) là chứng khoán tự tại UNEAR TRADE PRACTICE: Thực thi mua bán không công bằng, vô tư, hợp lý. Trong mua bán quốc tế, một hành động của một quốc gia tạo nên gánh nặng vô lý cho thương mại của nước khác. Các thực thi mua bán mua bán không công bằng được định nghĩa khác nhau tuỳ

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

104

theo mỗi quốc gia, nhưng thông thường bao gồm: a. Có sự phân biệt đối xử không xác đáng đối với hàng xuất khẩu. b. Bán phá giá. c. Tình báo công nghiệp. d. Vi phạm bản quyền tác giả, bằng sáng chế, nhãn hiệu cầu chứng. e. Trợ cấp cho sản phẩm xuất khẩu. f. Sử dụng các lao động không có lương (thí dụ, lao động của tù nhân) để sản xuất hàng xuất khẩu. UNIFIED CREDIT: Tín dụng thống nhất. Tín dụng thuế nhà nước có thể được áp dụng dựa trên thuế tặng dữ, thuế tài sản và theo vài điều khoản ấn định dựa trên thuế chuyển giao cách khoảng thế hệ (generation-skipping tranfer tax). UNIFORM BANK PERFORMANCE REPORT: Báo cáo thông nhất diễn biến ngân hàng. Khảo sát có tính kỹ thuật do hội đồng kiểm tra tổ chức tài chính nhà nước soạn thảo, dựa trên các báo cáo theo lệnh gọi (call reports) được nộp từng quý. Bản báo cáo đầu tiên là nói về việc sử dụng quản lý ngân hàng như công cụ phân tích chính nó. Bản báo có nhấn mạnh chiều hướng khả năng kiếm lợi nhuận, chất lượng tài sản, khả năng thanh lý, quản lý tài sản nợ (nguồn và sử dụng ngân quỹ). Bản báo cáo dùng tỷ lệ tài chính để chứng tỏ tác động của các quyết định quản lý và thay đổi của điều kiện kinh tế trên bản cân đối tài khoản và lợi nhuận của ngân hàng, cũng như khả năng ngân hàng trang trải thua lỗ bằng lợi nhuận trong tương lai, chất lượng tài sản, hoặc tình trạng của danh mục đầu tư cho vay, bảo đảm chất lượng chuyển ngân quỹ vào quỹ dự trữ tiền vay bị mất để trang trải cho nợ khó đòi đã dự đoán. Các dữ kiện trong bản báo cáo được thu nhập bằng cách khảo sát các ngân hàng thương mại, và phân phát cho các ngân hàng có tham gia, như nó không được thông báo ra công chúng, không giống các dữ kiện trong báo cáo theo lệnh gọi. UNIFORM DELIVERED PRICE: Giá cung ứng thống nhất. Một giá duy nhất cho tất cả người tiêu thụ trong một vùng địa lý, bất chấp giá phí cung ứng thực tế. Đối với nhà xuất khẩu với số lượng lớn, nhất là bán cho nhà nước, nhất là bán cho nhà nước, giá cung ứng thống nhất có thể ngăn ngừa các tranh chấp giá cả và loại bỏ những chứng nhận định giá công bằng trùng lặp (cứ lặp đi lập lại). UNIFORM SECURITIES AGENT STATE LAW EXAMINATION. Kỳ thi luật tiểu bang về nhân viên chứng khoán thống nhất (để tham khảo). Kỳ kiểm tra được quy định đối với các đại diện có đăng ký trong tương lai tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ. Ngoài các quy định cuộc thi của các tiểu bang, tất cả đại diện có đăng ký dù là người của công ty thành viên hay của broker của thị trường ngoài danh mục hay không đều phải qua kỳ sát hạch (kỳ thi) tổng quát đại diện mua bán chứng khoán (còn gọi là series 7 examination) do NASD tổ chức. UNINSURED DEPOSITOR: Người ký thác không được bảo hiểm (ở Hoa Kỳ). Người ký thác có số ký thác trong tài khoản chi phiếu hay tiết kiệm trong ngân hàng hay tổ chức tiết kiệm được nhà nước bảo đảm, vượt quá mức trần (mức cao nhất) của bảo hiểm ký thác thì số vượt mức này không được bảo hiểm. UNISSUED STOCK: Chứng khoán chưa phát hành. Cổ phần của chứng khoán công ty có trong quyền hạn của giấy phép kinh doanh nhưng chưa phát hành. Chúng có ghi tên trên bảng cân đối tài khoản cùng với cổ phần đã phát hành và đang lưu hành ngoài công chúng. Hội đồng quản trị có thể quyết định phát hành loại chứng khoán này nhưng thực ra cổ phần chưa phát hành cần cho các hợp đồng option của công nhân, đặc quyền, chứng chỉ đặc quyền (warrant) chưa được thực hiện hoặc là không được phát hành chứng khoán khả hoán trong khi đó các cam kết nợ như thế vẫn còn lưu hành ngoài công chúng. Chứng khoán chưa phát hành không thể có cổ tức và không thể có quyền bỏ phiếu. Ta không nên lẫn lộn chứng khoán này với chứng khoán tồn (treasury stock) là loại đã phát hành nhưng không được lưu hành ngoài công chúng. UNIT: Đơn vị. Tổng quát: một phần chia số lượng được công nhận là một tiêu chuẩn đo lường hay tiêu chuẩn trao đổi. Thí dụ, trong thị trường hàng hoá, một đơn vị của lúa mì là một bushel, một đơn vị cà phê là một pound, một đơn vị trứng là một tá. Đơn vị tiền tệ Hoa Kỳ là dollar. Ngân hàng: hoạt động ngân hàng của một văn phòng duy nhất, không có chi nhánh. Tài chính: 1. Phân ban, phòng ban (nhà máy, dây chuyền sản xuất, công ty con) của một công ty. 2. Trong thương vụ hay sản xuất, đó là số lượng chứ không phải trị giá tiền. Thí dụ, người ta

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

105

có thể nói: "Số lượng đơn vị giảm nhưng số lượng tiền tăng sau khi giá được tăng". Chứng khoán: 1. Số lượng tối thiểu của chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá hay các loại khác được công nhận mua bán trên thị trường. 2. Nhóm chuyên viên trên thị trường chứng khoán, người duy trì thị trường được công bằng và trật tự về một loại chứng khoán nào đó. 3. Nhiều loại chứng khoán được mua bán cùng với nhau. Thí dụ, một cổ phần thường và một chứng chỉ đặc quyền đăng ký có thể bán ghép với nhau thành một đơn vị. 4. Trong phân phối đầu tiên và lần thứ hai, đó là một cổ phần của chứng khoán hay một trái phiếu. UNIT BANKING: Dịch vụ ngân hàng theo đơn vị duy nhất. Hệ thống dịch vụ ngân hàng ở vài nơi ngăn cấm việc mở chi nhánh hay hoạt động ngoài phạm vi của một văn phòng dịch vụ ngân hàng phục vụ chọn gói. Việc này làm phát triển nhiều ngân hàng nhỏ, độc lập và các công ty chủ quản ngân hàng (bank holding companies) sở hữu nhiều đơn vị ngân hàng. Chủ đề V-W

Value at Risk Giá trị tại mức rủi ro: Là một phương pháp xác định tính nhạy cảm của danh mục đầu tư hay vị thế của một công ty bằng kỹ thuật thốngkê theo thông số. Kỹ thuật này sử dụng thông tin the thời gian để dự đoán sự ảnh hưởng các sự kiện lệch chuẩn đối với giá trị của việc nắm giữ và sự ảnh hưởng tổng hợp vào thu nhập. Verbal Bằng miệng: Là một lệnh hoặc một báo cáo miệng giữa các bên trong một nghiệp vụ nào đó. Thực hiệnhay thi hành lệnh bằng miệng phải tuân theo các văn bản của nghiệp vụ. Những văn bản này chính là sự bảo đảm. Volume Khối lượng: Là tổng số cổ phần chứng khoán, trái phiếu hay các công cụ khác được mua bán trênmột thị trường nào đó. Số lượng giao dịch được báo cáo hàng ngày. Các nhà phân tích kỹ thuật rất quan tâm đến số lượng giao dịch vì nó có ảnh hưởng lớn tới giá cả. Voting stock Chứng khoán có quyền bầu cử: Cổ phần trong công ty cho cổ đông có quyền bỏ phiếu và quyền ủy nhiệm. Cổ đông này cũng có thể chuyển nhượng quyền bỏ phiếu cho một người khác và giữ lại quyền hưởng lợi nhuận. Vulture Funds Quỹ trục lợi: là các tổ chức đầu tư tập trung vào các tài sản đang chiếm giữ, tài sản này có thể bị chiếm giữ do các hiểm họa về tài chính. Bản thân tài sản có thể không hư hỏng nhưng chủ sở hữu đang cần gấp tiền mặt. Warehouse Receipt Giấy chứng nhận lưu kho: là một loại chứng từ ám chỉ quyền sở hữu của một loại hàng hóa tại một nhà kho hoặc một phương tiện lưu giữ đã được chứng nhận. Warrant Chứng khế: Từ này có nghĩa khác nhau khi sử dụng cho chứng khoán và hàng hóa. Ðối với chứng khoán thì đây là một công cụ phái sinh có ngày hết hạn và giá thực hiện cùng với một số điều kiện khác. Ðối với hàng hóa thì đây là biên nhận ám chỉ quyền sở hữu đối với một lô hàng cụ thể nào đó. Wash Sale Bán rửa: Là một thươngvụ bán một chứng khoán hay công cụ nào đó và tiếp theo là thương vụ mua mà chúng không đem lại lợi ích kinh tế. Nghiệp vụ này được xem là nghiệp vụ hư

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

106

cấu. Nó có thể hiểu là tạo ra hoạt động mua bán giả tạo. Weakening Làm suy yếu: Là thuật ngữ phòng hộ hoặc quản lý rủi ro, sử dụng để miêu tả mất mát tương đối gữa giữa thị trường cơ sở và vòng quay phòng hộ. Thuật ngữ này ám chỉ rằng giá trị tiền mặt, hàng hóa hoặc thị trường giao ngay đang trở nên yếu đi so với thị trường tương lai hoặc giao sau. Weighting Tỷ trọng: Là khoản trị giá của một chứng khoán so với danh mục đầu tư. Khoản giá trị này gắnliền với một tài sản, ngành hoặc một lĩnh vực cụ thể nào đó. Western Account Tài khoản kiểu Tây: là một tài khoản bảo lãnh đã phân chia. Cần so sánh với tài khoản kiểu Ðông. Whole Loan Nợ toàn phần: Là một tài sản thế chấp, có thể với mục đích thương mại hoặc cư trú mà nó chưa được chứng khoán hóa. Widening Mở rộng: Là một thuật ngữ thường được sử dụng trong các hoạt động phòng hộ hoặc quản lý rủi ro. Thuật ngữ này ám chỉ một mức chênh lệch gia tăng do sự khác biệt giữa thị trường tiền mặt cơ sở và thị trường tương lai. Từ này còn đề cập đến sự khác biệt giữa hai tháng giao hàng khác nhau của hai hợp đồng tương lai. Wireability Chứng khoán ghi sổ: Là loại chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ và được chi trả bằng điện chuyển tiền. Writes Bán: thuật ngữ này diễn tả việc cấp hoặc bán lần đầu của một quyền chọn, có thể là quyền chọn bán hoặc mua. Chủ đề Yellow Sheets Tờ vàng: Là bản báo giá hàng ngày thể hiện giá ấn định giữa các nhà kinhdoanh đối với loại trái phiếu công ty. hầu hết các loại trái phiếu công ty đề được mua bán ở thị trường phi tập trung. Yield Lợi suất: Là tỷ lệ thu nhập trên tài sản. Thường tỷ lệ này được ấn định theo phần trăm so với mức giá thị trường hiện hành. Yield Burning Ðốt cháy hoa lợi: Là hành động gìm thấp mức hoa lợi của trái phiếu kho bạc đối với tổ chức mua bằng cách tăng giá các loại trái phiếu kho bạc hoặc tương đương. Yield to Call Hoa lợi thu hồi: Cùng họ với loại hoa khi đáo hạn nhưng có vòng đời ngắn hơn. Ðây là tỷ lệ thu nhập được xác định bởi nguồn thu dự tính hiện tại so với giá thị trường phổ dụng giả định rằng tài sản này được nắm giữ cho đến khi thực hiện hoặc chấm dứt quyền chọn đầu tiên. Nếu công cụ này được mua bán với mức giá chiết khấu (dưới mệnh giá) thì mức hoa lợi Y

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

107

thu hồi sẽ lớn hơn lãi coupon. Nếu như công cụ được mua bán trên mệnh giá thì hoa lợi thu hồi sẽ thấp hơn lãi coupon. Yield to Maturity Hoa lợi khi đáo hạn: Là tỷ lệ thu nhập được xác định bởi nguồn thu dự tính hiện tại so với giá thị trường phổ dụng giả định rằng tài sản này được nắm giữ cho đến ngày đáo hạn. Nếu công cụ này được mua bán ở mức chiết khấu (dưới mệnh giá) thì mức hoa lợi đáo hạn sẽ lớn hơn lãi coupon. Nếu như công cụ được mua bán trên mệnh giá thì hoa lợi đáo hạn sẽ thấp hơn lãi coupon. Chủ đề Zero Cost Collar Cân bằng không chi phí: Là một nghiệp vụ mà chỉ rất ít hoặc không có chi phí hay kinh phí đối với người khởi xướng. Thông thường khi nắm giữ chứng khoán người ta thường bảo vệ nó thông qua nghiệp vụ phòng hộ. Ví dụ: một nghiệp vụ mua một quyền chọn bán dưới giá (lỗ) và bán một quyền chọn mua dưới giá (lãi). Mức tưởng kim của hai quyền chọn này gần như giống nhau. Vì vậy người thực hiện phòng hộ này sẽ tiếp nhận rất ít hoặc không có chi phí. Tuy nhiên, vị thế này có sự suy tính cho lợi nhuận tiềm tàng của việc nắm giữ công cụ cơ sở. Tất nhiên, việc phòng hộ này chỉ có hiệu nghiệm khi giá công cụ cơ sở xuống dưới mức thực hiện của quyền chọn bán. Zero Coupon Bond Trái phiếu không lãi coupon: Là một loại chứng khoán mà tiền gốc và lãi đã được khấu trừ để chào bán thấp hơn so với tiền gốc hoặc lãi coupon đã quy định. Trái chủ sẽ được trả bằng mệnh giá. Zero Curve Ðường cung Zero:Là một đường cung thể hiện các mức hoa lợi của các loại trái phiếu có phiếu lãi bằng không theo trình tự thời gian. Thông thường, cách tổ chức này được mô tả bằng đồ thị bắt đầu là những loại trái phiếu có thời gian đáo hạn ngắn nhất và diễn tiến tới các loại có thời gian đáo hạn dài nhất. Ðường cung này cung cấp cơ sở cho việc định giá các chứng khoán khác đang sử dụng kỹ thuật tuần hoàn hoặc nội suy. Zero-Minus-Tick Sụt không gạch: Là một nghiệp vụ mua bán với giá ngang bằng nghiệp vụ trước đó, nhưng nghiệp vụ trước đó đã thấp hơn so với nghiệp vụ trước kế tiếp. Zero-Plus-Tick Trồi không gạch: Là một nghiệp vụ mua bán với giá ngang bằng nghiệp vụ trước nhưng nghiệp vụ trước cao hơn so với nghiệp vụ trước kế tiếp. Z

Trịnh Xuân Vượng/DVKT4/BITC/BIDV

108