Luanvan84@gmail.

com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

PHẦN I CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH. 1.1.Bằng chứng kiểm toán: 1.1.1. Khái niệm. Theo Chuẩn mực Kiểm Toán số 500: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa vào các thông tin này kiểm toán viên hình thành ý kiến của mình.” Cũng theo Chuẩn mực Kiểm toán số 500: “Bằng chứng kiểm toán bao gồm các tài liệu, chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và các thông tin tài liệu từ các nguồn khác.” Cũng cần phải lưu ý rằng, không phải tất cả các thông tin tài liệu mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình kiểm toán tại đơn vị đều là các bằng chứng kiểm toán. Chỉ các thông tin và tài liệu mà kiểm toán viên thu thập được có liên quan đến cuộc kiểm toán và được kiểm toán viên sử dụng làm cơ sở để đưa ra các nhận xét của mình về báo cáo tài chính của đơn vị mới là các bằng chứng kiểm toán. 1.1.2. Phân loại bằng chứng kiểm toán. Có rất nhiều bằng chứng kiểm toán khác nhau. Để phục vụ cho việc xác định các thủ tục, kỹ thuật kiểm toán phù hợp để thu thập các bằng chứng kiểm toán cũng như đánh giá các bằng chứng thu thập được người ta thường phân chia bằng chứng kiểm toán theo các cách sau: 1.1.2.1. Phân loại bằng chứng theo nguồn gốc hình thành. Phân loại dựa theo nguồn gốc của thông tin, tài liệu có liên quan đến Báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình kiểm toán. Trong cách phân loại này bằng chứng được chia thành các loại: a. Bằng chứng do khách thể kiểm toán phát hành và luân chuyển nội bộ. Loại bằng chứng này thường là: bảng chấm công, sổ thanh toán tiền lương, sổ tổng hợp, sổ số dư, sổ chi tiết, phiếu kiểm tra sản phẩm…Nguồn gốc bằng chứng này chiếm một số lượng lớn, khá phổ biến vì nó cung cấp với tốc độ nhanh và chi phí thấp. Do bằng chứng này có nguồn gốc từ nội bộ doanh nghiệp, nên chúng chỉ thực sự có độ tin cậy khi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có hiệu lực thực sự, do vậy tính thuyết phục của chúng không cao. b. Bằng chứng do các đối tượng khác phát hành lưu trữ tại doanh nghiệp.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 1

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Bằng chứng do các đối tượng khác phát hành lưu trữ tại doanh nghiệp là: các hoá đơn bán hàng, hoá dơn mua hàng, biên bản bàn giao tài sản cố định… Bằng chứng này có độ thuyết phục cao bởi nó được tạo từ bên ngoài, tuy nhiên loại bằng chứng này vẫn có khả năng tẩy xóa, thêm bớt… ảnh hưởng đến độ tin cậy của kiểm toán đối với với hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp. c. Bằng chứng do đơn vị phát hành nhưng lại lưu chuyển ở bên ngoài. Như: uỷ nhiệm chi, hoá đơn bán hàng…Đây là dạng bằng chứng có tính thuyết phục cao vì nó được cung cấp bởi bên thứ ba (tuy nhiên nó cần phải đảm bảo đươc tính độc lập của người cung cấp với doanh nghiệp). d. Bằng chứng do đơn vị bên ngoài phát hành và lưu trữ. Loại bằng chứng này thường thu thập bằng phương pháp gửi thư xác nhận, mang tính thuyết phục cao vì nó được thu thập trực tiếp bởi kiểm toán viên ( tính thuyết phục sẽ không còn nếu kiểm toán viên không kiểm soát được quá trình gửi thư xác nhận ). Nó bao gồm một số loại như: bảng xác nhận nợ, bảng xác nhận các khoản phải thu, xác nhận số dư tài khoản của ngân hàng… e. Bằng chứng do kiểm toán viên trực tiếp khai thác và phát hiện. Bằng chứng này sẽ do chính kiểm toán viên khai thác như: tự kiểm kê kho, kiểm tra tài sản, quan sát về hoạt động của kiểm soát nội bộ… đây là loại bằng chứng có độ tin cậy cao nhất vì nó được thực hiện trực tiếp bởi kiểm toán viên. Song nhiều lúc nó còn mang tính thời điểm tại lúc kiểm tra như: kiểm kê hàng tồn kho phụ thuộc vào tính chất vật lý của chúng theo từng thời điểm khác nhau mà có những kết quả khác nhau… 1.1.2.2. Phân loại bằng chứng theo tính thuyết phục. Do bằng chứng kiểm toán được sử dụng để trực tiếp đưa ra ý kiến khác nhau về tính trung thực của Báo cáo tài chính đơn vị kiểm toán phát hành. Vì vậy kiểm toán viên cần phải xem xét mức độ tin cậy của chúng. Ý kiến của kiểm toán viên trong Báo cáo kiểm toán có mức độ tương ứng đối với tính thuyết phục của bằng chứng. Theo cách này bằng chứng được phân loại như sau: a. Bằng chứng có tính thuyết phục hoàn toàn. Đây là loại bằng chứng do kiểm toán viên thu thập bằng cánh tự kiểm kê, đánh giá và quan sát. Bằng chứng này thường được đánh giá là khách quan, chính xác và đầy đủ. Dựa vào ý kiến này kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần. b. Bằng chứng thuyết phục từng phần.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 2

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Như: bằng chứng thu được từ phỏng vấn cần phải phân tích và kiểm tra lại, các loại bằng chứng thường được đảm bảo bởi hệ thống kiểm soát nội bộ. Chúng chỉ thật sự có tính thuyết phục khi bộ máy kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp là thực sự tồn tại và có hiệu lực. Dựa vào loại bằng chứng này kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần. c. Bằng chứng không có giá trị thuyết phục. Là bằng chứng không có giá trị trong việc ra ý kiến, quyết định của kiểm toán viên về việc kiểm toán. Bằng chứng có thể do phỏng vấn người quản lý, ban quản trị. 1.1.2.3. Phân loại bằng chứng theo loại hình bằng chứng. Độ tin cậy còn được đánh giá qua hình thức của bằng chứng, với việc đánh giá độ tin cậy thông qua nguyên tắc: Bằng chứng dưới dạng văn bản, hình ảnh, đáng tin cây hơn bằng chứng ghi lại từ lời nói. Việc phân loại bằng chứng theo loại hình bằng chứng bao gồm: a. Dạng bằng chứng vật chất. Như: bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản kiểm kê tài sản cố định, hiểu biết kiểm toán… Đây là dạng bằng chứng có tính thuyết phục cao. b. Dạng bằng chứng tài liệu. Dạng bằng chứng tài liệu này bao gồm: tài liệu kế toán, sổ sách, chứng từ kế toán, ghi chép bổ sung của kế toán, tính toán của kiểm toán viên… Dạng bằng chứng này có mức độ tin cậy cao tuy nhiên một số loại bằng chứng độ tin cậy của chúng phụ thuộc vào tính hiệu lực của bộ phận kiểm soát nội bộ.

c. Dạng bằng chứng thu được từ lời nói. Dạng bằng chứng này thường đươc thu thập qua phương pháp phỏng vấn, nó mang tính thuyết phục không cao, song lại đòi hỏi sự hiểu biết của người phỏng vấn khá cao về độ am hiểu vấn đề cần phỏng vấn. 1.1.3. Vai trò. Bằng chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra ý kiến, quyết định của kiểm toán viên về hoạt động kiểm toán, nó là cơ sở và là một trong những yếu tố quyết định độ chính xác và rủi ro trong ý kiến của kiểm toán viên. Từ đó có thể thấy sự thành công của cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập và sau đó là đánh giá bằng chứng của kiểm toán viên. Một khi kiểm toán viên không thu thập đầy đủ và đánh

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 3

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

giá đúng các bằng chứng thích hợp thì kiểm toán viên khó có thể đưa ra một nhận định chính xác về đối tượng cần kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán là cơ sở để chứng minh cho các nhận định của kiểm toán viên về Báo cáo tài chính của đơn vị. Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của các bằng chứng kiểm toán, Chuẩn mực kiểm toán số 500 (Bằng chứng kiểm toán) của Việt Nam đã quy định và yêu cầu: “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán”. Thông qua đó ta có thể thấy một ý nghĩa rất quan trọng đối với các tổ chức kiểm toán độc lập, các cơ quan kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạt động của kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán. Việc giám sát này có thể do nhà quản lý tiến hành đối với các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hoặc có thể do cơ quan tư pháp tiến hành đối với chủ thể kiểm toán nói chung. 1.1.4. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ các bằng chứng thích hợp cho mỗi loại ý kiến của mình. Sự “đầy đủ” và tính “thích hợp” là hai vấn đề có quan hệ với nhau, luôn đi liền với nhau và được áp dụng cho các bằng chứng kiểm toán thu thập được từ các thủ tục thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. “Đầy đủ” là tiêu chuẩn thể hiện số lượng của bằng chứng đã thu thập được và “thích hợp” là tiêu chuẩn thể hiện chất lượng., độ tin cậy của các bằng chứng này. Việc xác định yêu cầu đầy đủ của các bằng chứng kiểm toán còn tùy thuộc vào chất lượng của các bằng chứng đó. Thông thường , các kiểm toán viên dựa vào các bằng chứng kiểm toán mang tính xét đoán và thuyết phục nhiều hơn là tính khẳng định chắc chắn. Do đó, trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên thường tìm kiếm, khai thác bằng chứng kiểm toán bằng nhiều nguồn khác nhau hoặc nhiều loại hình khác nhau để chứng minh cho cùng một cơ sở dẫn liệu. 1.1.4.1. Tính đầy đủ. Đầy đủ là yêu cầu về số lượng các bằng chứng cần thiết làm cơ sở cho các nhận xét của kiểm toán viên về thông tin của đơn vị cần được kiểm toán. Đây là vấn đề không có một thước đo chung mà đòi hỏi rất nhiều vào khả năng xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên. Số lượng bằng chứng kiểm toán sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 4

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán: độ tin cậy của bằng chứng đã thu thập có ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng cần thu thập. Nghĩa là, khi bằng chứng có độ tin cậy cao thì số lượng chỉ cần ít cũng được coi là đầy đủ để làm cơ sở cho ý kiến của kiểm toán viên. - Tính trọng yếu của thông tin được kiểm toán: khoản mục nào có tính trọng yếu càng cao (tức tính quan trọng của khoản mục đó trên tổng thể báo cáo tài chính là cao) thì đòi hỏi phải quan tâm nhiều hơn và do đó phải thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán hơn. Ví dụ, trong doanh nghiệp chuyên sản xuất, khoản mục hàng tồn kho chiếm vị trí quan trọng nên kiểm toán viên thu thập bằng chứng về hàng tồn kho nhiều. - Mức độ rủi ro của thông tin được kiểm toán: số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ tăng lên trong trường hợp có nhiều khả năng xảy ra sai phạm. Theo yêu cầu này, bằng chứng kiểm toán phải đảm bảo được tính khái quát đối với toàn bộ đối tượng kiểm toán (các khoản mục, toàn bộ thông tin hiện có). Nói cách khác, để đưa ra ý kiến nhận xét thì kiểm toán viên phải thu thập đủ lượng bằng chứng đảm bảo giá trị pháp lý cho kết luận của mình cũng như sự tin tưởng của khách hàng. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên cũng phải xem xét mối quan hệ giữa chi phí cho việc thu thập báo cáo kiểm toán với lợi ích của các thông tin đó. Mặc dù vậy, khó khăn và chi phí kiểm toán không phải là lý do để bỏ qua một số thủ tục kiểm toán cần thiết. Bằng chứng kiểm toán phải được thu thập cho từng cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài chính. Bằng chứng liên quan đến một cơ sở dẫn liệu không thể bù đắp cho việc thiếu bằng chứng liên quan đến sơ sở dẫn liệu khác. Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản được thay đổi tùy thuộc vào từng cơ sở dẫn liệu. Các thử nghiệm của kiểm toán viên cũng có thể cung cấp bằng chứng kiểm toán cho nhiều cơ sở dẫn liệu cùng một lúc. Như vậy, sự đầy đủ của các bằng chứng kiểm toán còn thể hiện ở các loại bằng chứng mà kiểm toán viên cần phải thu thập để xác định các cơ sở dẫn liệu của các chỉ tiêu và bộ phận cấu thành trên Báo cáo tài chính. Mỗi chỉ tiêu và bộ phận cấu thành khác nhau của Báo cáo tài chính cần các bằng chứng trên một số khía cạnh cơ sở dẫn liệu khác nhau. Mặt khác, cùng một chỉ tiêu và bộ phận như nhau trên báo cáo tài chính nhưng ở các đơn vị khác nhau sẽ tồn tại các khả năng sai phạm không giống nhau, kiểm toán viên cần phải thu thập các bằng chứng kiểm toán liên quan đến các khả năng sai phạm này. Do vậy, các mục tiêu kiểm toán cụ thể cho từng
-

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 5

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

chỉ tiêu bộ phận của Báo cáo tài chính tại đơn vị được kiểm toán sẽ quyết định số lượng bằng chứng kiểm toán về từng cơ sở dẫn liệu của từng chỉ tiêu và bộ phận cụ thể cần phải thu thập. Khi kiểm toán viên vẫn có nghi ngờ có gian lận, sai sót liên quan đến cơ sở dẫn liệu có thể ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải thu thập thêm các bằng chứng kiểm toán bổ sung cần thiết để giải tỏa sự nghi ngờ đó. Nếu không thể thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp, kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến. 1.1.4.2. Tính thích hợp. Tính thích hợp là khái niệm để chỉ chất lượng hay độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán được coi là thích hợp khi nó đáng tin cậy và có liên quan đến mục tiêu kiểm toán a.Tính liên quan Tức là bằng chứng có liên quan đến mục tiêu kiểm toán. Chẳng hạn khi mục tiêu kiểm toán là sự hiện hữu của hàng tồn kho, kiểm toán viên phải lựa chọn mẫu gồm số dư các khoản mục hàng tồn kho trên sổ sách kế toán và thu thập bên chứng từ về sự tồn tại của chúng trong thực tế tại kho. Thế nhưng khi mục tiêu kiểm toán là sự đầy đủ, kiểm toán viên phải lựa chọn một số hàng tồn kho trong kho và thu thập bằng chứng chứng minh những mặt hàng này đã được ghi chép đầy đủ vào sổ sách. Như vậy, có thể thấy bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ khác nhau với mỗi mục tiêu kiểm toán khác nhau, nhưng để được coi là thích hợp, các bằng chứng kiểm toán phải liên quan đến mục tiêu kiểm toán. Rõ ràng là kiểm toán viên không thể lấy các bằng chứng xác minh sự tồn tại của hàng tồn kho để làm bằng chứng cho sự đầy đủ của việc ghi chép. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, trong một số trường hợp, một loại bằng chứng kiểm toán vẫn có thể sử dụng cho nhiều mục tiêu kiểm toán cụ thể. Kiểm toán viên cần nắm bắt được vấn đề này để có thể phối hợp công tác kiểm toán sao cho thích hợp, tránh bị trùng lặp nhưng vẫn đạt hiệu quả. b.Tính tin cậy Mức độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như nguồn gốc và bản chất của thông tin. Theo đó, tính tin cậy được xem xét trên các mặt sau:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 6

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

• Nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán Bằng chứng kiểm toán nào càng độc lập với đơn vị được kiểm toán thì càng có độ tin cậy hay bằng chứng có nguồn gốc từ bên ngoài đơn vị đáng tin cậy hơn bằng chứng có nguồn gốc từ bên trong. Theo đó, có thể kể ra các loại bằng chứng có độ tin cậy giảm dần như sau: - Các bằng chứng do bên ngoài đơn vị cung cấp cho kiểm toán viên. Ví dụ: giấy xác nhận số dư tiền gửi ngân hàng. - Các bằng chứng do bên ngoài lập nhưng được lưu giữ tại đơn vị được kiểm toán. Ví dụ: sổ phụ ngân hàng. - Bằng chứng do đơn vị phát hành và luân chuyển ra ngoài đơn vị, sau đó quay trở lại đơn vị. Ví dụ: ủy nhiệm chi (đã thanh toán). - Bằng chứng do đơn vị phát hành và luân chuyển trong nội bộ đơn vị. Ví dụ: phiếu xuất kho. • Xét về dạng bằng chứng kiểm toán
-

-

-

Bằng chứng vật chất đạt được do kiểm kê hoặc tham gia kiểm kê và các hiểu biết của kiểm toán viên về lĩnh vực kiểm toán được coi là hai dạng bằng chứng có độ tin cậy cao nhất. Bằng chứng ở dạng tài liệu (chứng từ, sổ sách) có độ tin cậy kém hơn so với dạng vật chất. Bằng chứng thu thập qua phỏng vấn có độ tin cậy thấp hơn so với bằng chứng tài liệu. Bằng chứng gốc thì đáng tin cậy hơn bằng chứng photo hoặc fax. • Hệ thống kiểm soát nội bộ

Đơn vị có hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh thì bằng chứng kiểm toán thu thập từ đơn vị đó sẽ đáng tin cậy hơn đơn vị không có hoặc có hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém. • Sự kết hợp giữa các loại bằng chứng Một nhóm bằng chứng có từ những nguồn khác nhau, ở các dạng khác nhau nhưng cùng chứng minh cho một vấn đề sẽ tạo ra độ tin cậy lớn hơn so với việc xem xét riêng rẽ từng bằng chứng. Ngược lại, nếu hai bằng chứng cho kết quả mâu thuẫn với nhau, kế toán viên phải xem xét một cách thận trọng và phải giải thích được sự khác biệt đó bằng cách xác định những thủ tục kiểm tra bổ sung cần thiết để giải quyết

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 7

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

mâu thuẫn trên. Tức là bằng chứng kiểm toán sẽ có sức thuyết phục cao hơn khi có được thông tin từ nhiều nguồn và nhiều loại khác nhau cùng xác nhận. Hai khía cạnh của sự thích hợp phải được xem xét một cách đồng thời bởi vì bằng chứng kiểm toán có thể có độ tin cậy cao nhưng không liên quan đến mục tiêu kiểm toán, và ngược lại. 1.1.5. Một số bằng chứng kiểm toán đặc biệt trong kiểm toán báo cáo tài chính. 1.1.5.1. Giải trình của giám đốc. Theo Chuẩn mực Kiểm toán 580 về “Giải trình của Giám đốc” có quy định: “Kiểm toán viên phải thu thập được các giải trình của giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán”. Giám đốc là người đại diện theo pháp luật cao nhất của một doanh nghiệp, tổ chức. Kiểm toán viên phải thu thập bằng chứng về việc giám đốc đơn vị được kiểm toán thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đã chấp nhận) và đã phê duyệt báo cáo tài chính. Kiểm toán viên sẽ là người đánh giá lại độ tin cậy của tất cả các giải trình của giám đốc trong quá trình kiểm toán và xem xét mức độ ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính và phải đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc từ chối. Các giải trình bằng văn bản được đánh giá là các bằng chứng kiểm toán có giá trị cao hơn các giải trình bằng lời nói. Các giải trình bằng văn bản được thể hiện dưới các hình thức sau: - Bản giải trình của giám đốc. - Thư của kiểm toán viên liệt kê ra tất cả các hiểu biết của mình về các giải trình của giám đốc và được giám đốc xác nhận là đúng. - Biên bản họp hội đồng quản trị hoặc báo cáo tài chính đã được giám đốc ký duyệt. Hạn chế của loại bằng chứng giải trình là độ tin cậy không cao do bằng chứng này được cung cấp từ phía doanh nghiệp do đó phụ thuộc vào mức độ liêm khiết, trung thực của giám đốc. Giải trình này không thể thay thế cho bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên thu thập được (chỉ trong một số trường hợp, giải trình của giám đốc là bằng chứng kiểm toán duy nhất thu thập được. Ví dụ: kiểm toán viên không phải thu thập các bằng chứng khác để chứng minh cho chủ trương của giám đốc thực hiện một khoản đầu tư dài hạn nào đó).

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 8

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

1.1.5.2. Tư liệu của chuyên gia. Theo Chuẩn mực kiểm toán số 620 về “Sử dụng tư liệu của chuyên gia” định nghĩa: “chuyên gia là một cá nhân hoặc một tổ chức có năng lực, kiến tức và kinh nghiệm chuyên môn cao trong một lĩnh vực riêng biệt ngoài lĩnh vực kế toán và kiểm toán”. Bằng chứng này sử dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Khi kiểm toán viên thu thập thông tin cơ sở về đơn vị được kiểm toán thì cần phải dự kiến nhu cầu sử dụng chuyên gia nếu thấy cần thiết và đã xem xét, cân nhắc những yếu tố như: - Tính trọng yếu của khoản mục cần được xem xét trong báo cáo tài chính. - Rủi ro có sai sót do tính chất và mức độ phức tạp của khoản mục đó. - Số lượng và chất lượng của các bằng chứng kiểm toán khác có thể thu thập được. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể thu thập các bằng chứng kiểm toán dưới dạng báo cáo, ý kiến, đánh giá và giải trình của chuyên gia như: - Đánh giá tài sản (đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị, các công trình nghệ thuật, đá quý). - Xác định thời gian sử dụng hữu ích còn lại của máy móc, thiết bị. - Xác định số lượng hoặc chất lượng hiện có của tài sản (trữ lượng quặng, khoáng sản, nhiên liệu trong lòng đất, thời gian hữu ích còn lại của tài sản máy móc). - Đánh giá giá trị theo phương pháp hoặc kỹ thuật chuyên biệt, như đánh giá theo giá trị hiện tại. - Xác định các phần việc sẽ hoàn thành và đã hoàn thành trong quá trình thực hiện hợp đồng kiểm toán. - Khi cần các ý kiến của luật sư về cách diễn giải các hợp đồng và luật pháp. Việc thu thập và sử dụng tư liệu của chuyên gia được tiến hành như: - Đánh giá kỹ năng, trình độ nghiệp vụ của chuyên gia (thể hiện qua bằng cấp chuyên môn, giấy phép hành nghề, là thành viên của tổ chức chuyên ngành, kinh nghiệp của chuyên gia). - Đánh giá tính khách quan của chuyên gia. - Xác định công việc của chuyên gia (về mục đích, phạm vi công việc, nội dung công việc, nguồn tư liệu của chuyên gia làm bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên có đầy đủ và thích hợp không).

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 9

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Phạm vi đánh giá của các chuyên gia, xác định mối quan hệ giữa chuyên gia với khách hàng, yêu cầu giữ bí mật thông tin của khách hàng, các phương pháp mà chuyên gia sử dụng. Với ý kiến các chuyên gia, kiểm toán viên chỉ nên thu thập khi thực sự cần thiết, khi không có bằng chứng nào thay thế và chỉ với những thủ tục kiểm toán cần thiết. Tuy nhiên, dù kiểm toán viên có sử dụng ý kiến chuyên gia làm bằng chứng kiểm toán vẫn đòi hỏi kiểm toán viên là người chịu trách nhiệm sau cùng về ý kiến nhận xét đối với báo cáo tài chính được kiểm toán. 1.1.5.3. Bằng chứng của các bên có liên quan (bên hữu quan). Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 550 về “các bên liên quan”: “Các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả năng kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định tài chính và hoạt động.” Mục đích của việc thu thập bằng chứng về các bên hữu quan để xác định liệu ban giám đốc đã xác minh và thuyết minh một cách đầy đủ về các bên hữu quan và nghiệp vụ với các bên hữu quan chưa. Theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán sự tồn tại của các bên hữu quan và nghiệp vụ giữa các bên có thể ảnh hưởng tới Báo cáo tài chính. Thu thập bằng chứng về sự tồn tại và về các nghiệp vụ với các bên hữu quan: Theo Chuẩn mực kiểm toán số 550 về “Các bên liên quan” quy định: “kiểm toán viên cần xem lại hồ sơ kiểm toán năm trước , thẩm tra mối quan hệ của thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc với các đơn vị khác, nghiên cứu các biên bản họp đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị…” 1.1.5.4. Tư liệu của kiểm toán viên nội bộ. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 610 về “Sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ”: “Kiểm toán nội bộ là một bộ phận trong hệ thống kiểm soát nội bộ của một đơn vị, có chức năng kiểm tra, đánh giá tính phù hợp, hiệu quả, sự tuân thủ pháp luật và các qui định của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đó.” Bằng chứng này được sử dụng nhằm mục đích giúp cho kiểm toán viên xác định lịch trình, nội dung, phạm vi của các thủ tục kểm toán. Hoạt động kiểm toán nội bộ có hiệu quả có thể cho phép kiểm toán viên độc lập thay đổi nội dung, lịch trình và thu hẹp phạm vi thủ tục kiểm toán, nhưng không thể hoàn toàn không thực hiện các thủ tục này. Ý kiến của kiểm toán viên nội bộ không đạt được mức độ khách quan như ý kiến của kiểm toán viên độc lập, kiểm toán viên độc
-

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 10

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

lập chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý kiến độc lập của mình đối với báo cáo tài chính. Trách nhiệm này không được giảm nhẹ khi kiểm toán viên độc lập sử dụng tư liệu của kiểm toán viên nội bộ do đó kiểm toán viên độc lập phải đánh giá được hoạt động của kiểm toán viên nội bộ, cân nhắc có nên sử dụng loại bằng chứng này hay không. 1.1.5.5. Tư liệu của kiểm toán viên khác. Theo Chuẩn mực Kiểm toán số 600 về “Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác”: “Kiểm toán viên khác là kiểm toán viên chịu trách nhiệm kiểm toán báo cáo tài chính và ký báo cáo kiểm toán của đơn vị cấp dưới hoặc đơn vị kinh tế khác được gộp trong báo cáo tài chính của đơn vị cấp trên. Kiểm toán viên khác là kiểm toán viên thuộc công ty kiểm toán khác hoặc là kiểm toán viên thuộc chi nhánh hoặc văn phòng của công ty kiểm toán.” Cũng theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 600 quy định: “kiểm toán viên khác phải phối hợp với kiểm toán chính trong trường hợp kiểm toán viên chính sử dụng tư liệu kiểm toán của mình.” Nghĩa là công việc của kiểm toán viên chính đôi khi cần sự hỗ trợ lớn từ các kiểm toán viên khác. Như vậy việc sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác chỉ được cân nhắc khi kiểm toán báo cáo tài chính của một hoặc nhiều đơn vị cấp dưới và đơn vị kinh tế khác. Không gọi là kiểm toán viên khác trong trường hợp hai hoặc nhiều kiểm toán viên được bổ nhiệm đồng kiểm toán cho một đơn vị và cũng không đề cập đến mối quan hệ giữa kiểm toán viên năm nay và kiểm toán viên năm trước. Kiểm toán viên có thể thảo luận với kiểm toán viên khác về các thủ tục kiểm toán đã được kiểm toán viên khác thực hiện hoặc xem xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên khác. Việc thực hiện các thủ tục kiểm toán này phụ thuộc vào từng tình huống của kiểm toán và sự đánh giá của kiểm toán viên chính về năng lực chuyên môn của kiểm toán viên khác 1.2. Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính. Để thu thập bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên thường sử dụng các kỹ thuật chủ yếu là: Kiểm tra, quan sát, phỏng vấn, xác nhận, tính toán và quy trình phân tích. Việc áp dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán nào thì tùy thuộc vào quy mô, quy trình của từng công ty kiểm toán mà trong từng giai đoạn sẽ áp dụng nhiều kỹ thuật khác nhau. Dưới đây những kỹ thuật cơ bản được sử dụng trong các giai đoạn của quá trình kiểm toán:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 11

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

1.2.1. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 1.2.1.1. Quan sát. Quan sát là việc xem xét, theo dõi tận mắt các công việc, các quá trình thực hiện công việc do người khác thực hiện. Kỹ thuật quan sát thường được áp dụng trong cả giai đoạn lập kế hoạch và giai đoạn thực hiện kiểm toán. Ví dụ: - Ở giai đoạn lập kế hoạch: kiểm toán viên sẽ tiến hành đi tham quan nhà xưởng. - Ở giai đoạn thực hiện kiểm toán: quan sát việc thực hiện thủ tục kiểm soát đối với việc xuất kho hàng hóa để xem thủ tục đơn vị thiết lập có được vận hành đúng như quy định hay không… Nhưng chủ yếu kỹ thuật quan sát sẽ được kiểm toán viên thực hiện ngay trong giai đoạn đầu lập kế hoạch.
• •

Ưu điểm: Bằng chứng thu thập được từ quan sát do trực tiếp kiểm toán viên thực hiện nên nó mang tính khách quan, đáng tin cậy. Nhược điểm: kỹ thuật phỏng vấn chỉ mang tính thời điểm, nhất thời, không khẳng định được sự việc luôn xảy ra như vậy (dựa trên quan điểm rằng một khi bị quan sát thì nhân viên hay đối tượng bị quan sát sẽ làm việc tốt hơn nhiều so với bình thường).

1.2.1.2. Phỏng vấn. Phỏng vấn là quá trình thu thập thông tin qua việc trao đổi, trò chuyện với những người trong hoặc ngoài đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán viên thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng lời nói qua việc trao đổi, trò chuyện đó. Nói theo cách khác, kiểm toán viên sẽ đi tiếp cận với các bên liên quan, qua đó tìm hiểu về thực tế hoạt động của đơn vị để đánh giá được một cách chính xác nhất về thực trạng hoạt động của đơn vị và đưa ra nhận định chung nhất với rủi ro thấp nhất. Quá trình phỏng vấn thường gồm 3 giai đoạn như sau: a. Lập kế hoạch phỏng vấn. Trước khi tiến hành công việc phỏng vấn, kiểm toán viên cần phải lên kế hoạch phỏng vấn: chuẩn bị danh mục câu hỏi, hỏi cái gì, hỏi như thế nào… để có thể tạo được niềm tin và khơi được sự sẵn sàng hợp tác của người được phỏng vấn. Vấn đề cần lưu ý là phải phỏng vấn nhiều người, không nên tin vào thông tin từ một người mà cần so

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 12

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

sánh thông tin đó với thông tin do đối tượng phỏng vấn khác cung cấp. Thường thì phỏng vấn được thực hiện đối với những người có trách nhiệm cao và phẩm chất tốt. b. Thực hiện phỏng vấn. Khi tiến hành phỏng vấn, kiểm toán viên có thể dùng hai loại câu hỏi: câu hỏi mở hoặc câu hỏi đóng. - Dạng câu hỏi mở cho kiểm toán viên câu trả lời chi tiết và đầy đủ, đôi khi có thể thu thập được nhiều thông tin hơn ước tính, bằng cách đưa ra câu hỏi và để đối tượng được phỏng vấn tự nêu câu trả lời theo hiểu biết của họ. - Dạng câu hỏi đóng sẽ giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn, thường sử dụng khi muốn xác minh lại một vấn đề đã nghe hay đã biết, bằng cách nêu ra câu hỏi, cho những đáp án trả lời sẵn và người được phỏng vấn chỉ cần chọn câu trả lời thích hợp. c. Kết thúc phỏng vấn. Kết thúc phỏng vấn, trước khi đưa ra kết luận thì kiểm toán viên cần chú ý đến tính khách quan và sự hiểu biết của người được phỏng vấn để có kết luận xác đáng về bằng chứng thu thập. Kiểm toán viên thường kết luận từng phần và cuối cùng là tóm tắt các điểm chính.

Ưu điểm: kỹ thuật phỏng vấn sẽ giúp kiểm toán viên thu thập được những bằng chứng mới, hoặc giúp thu thập những thông tin phản hồi để củng cố ý kiến của kiểm toán viên.

Nhược điểm: độ tin cậy của bằng chứng không cao do đối tượng được phỏng vấn chủ yếu là người trong đơn vị được kiểm toán nên thiếu tính khách quan; chất lượng của bằng chứng cũng phụ thuộc vào trình độ, sự hiểu biết và tính độc lập, khách quan của người được hỏi. 1.2.1.3. Kỹ thuật phân tích. Là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin có liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị dự kiến. Đây là kỹ năng bao trùm nhất để khai thác bằng chứng kiểm toán trong tất cả các giai đoạn kiểm toán: Giai đoạn lập kế hoạch, giai đoạn thực hành, giai đoạn kết thúc kiểm toán. Và kỹ thuật này cũng được áp dụng đối với tất cả chu trình kiểm toán tài chính. Nhưng Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 về “Quy trình phân tích” quy định: Kiểm toán viên phải thực hiện quy trình phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 13

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

giai đoạn soát xét tổng thể về cuộc kiểm toán. Như vậy, ta có thể thấy kỹ thuật phân tích sẽ được chú trọng nhất vào giai đoạn đầu và cuối của cuộc kiểm toán. Phân tích là một khả năng chủ yếu của kiểm toán viên để tìm ra quan hệ bất thường hay những thay đổi trong thực tế khi tiến hành thiết lập các giả thiết về sự liên hệ giữa các số liệu, ước tính số liệu cần kiểm tra và so sánh với số lượng thực tế. Đối với một số mục tiêu kiểm toán nhất định hoặc số dư tài khoản nhỏ, chỉ kỹ thuật phân tích thôi cũng đủ bằng chứng. Tuy vậy, đối với hầu hết trường hợp, việc có thêm bằng chứng ngoài kỹ thuật phân tích cũng cần thiết thỏa mãn quy định bằng chứng có giá trị và đầy đủ. Kỹ thuật phân tích cũng được yêu cầu đối với các hợp đồng về dịch vụ xem xét lại.

Quy trình phân tích được sử dụng cho các mục đích sau: - Giúp kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác. - Quy trình phân tích được thực hiện như là một thử nghiệm cơ bản khi việc sử dụng thủ tục này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính. - Quy trình phân tích để kiểm tra toàn bộ báo cáo tài chính trong khâu soát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán. Kỹ thuật phân tích thường bao gồm việc so sánh các thông tin như sau: a. So sánh các thông tin tài chính này với các thông tin tài chính kỳ trước. Là so sánh giữa các số dư, số phát sinh của các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ với nhau. Ví dụ: quá trình so sánh tỷ lệ số dư trong năm hiện hành với năm trước đó, phân tích xu hướng biến đổi của chi phí bán hàng của doanh nghiệp, nếu chi phí này tăng trong những năm trước cùng với mức tăng theo tỷ lệ doanh thu thì có nghĩa doanh thu bán hàng tăng dẫn tới chi phí bán hàng tăng theo, nếu doanh thu không tăng mà chi phí bán hàng tăng thì kiểm toán viên phải đặt sự nghi ngờ về tính hợp lý các khoản chi phí, cần thu thập bằng chứng để đưa ra kết luận. b. So sánh giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán. Là so sánh các chỉ tiêu giữa các số liệu thực tế với số hạch toán hay kế hoạch, ngân sách là cơ sở để đo lường và đánh giá rủi ro hoạt động. Theo đó, kiểm toán viên có thể thấy rõ được sai sót trong báo cáo tài chính hoặc những biến động lớn về sản

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 14

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

xuất kinh doanh cần xem xét thẩm định. Ví dụ: sự chênh lệch quá lớn giữa giá thành thực tế với giá thành kế hoạch , giữa giá trị thực tế với kế hoạch… Khi sử dụng phương pháp này, kiểm toán viên xác định xem dự toán đã được lập một cách xác đáng hay chưa, và có mục tiêu hợp lý hay không. Nếu ngân sách lập một cách cưng nhắc, không hợp lý thì phải xem xét lại c. So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với chỉ tiêu bình quân ngành. Thông thường, trong phạm vi nhất định các chỉ tiêu của đơn vị được kiểm toán có sự tương đồng với các chỉ tiêu về mức lợi nhuận, hệ số quay vòng vốn, hàng tồn kho, hệ số giá thành. Nguồn gốc từ bên ngoài của số liệu ngành làm cho nó trở thành một thước đo tin cậy hơn là so sánh đơn thuần với số dự toán hoặc các tiêu chuẩn do đơn vị kiểm toán đặt ra. d. Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính trong kỳ. Hệ thống thanh toán làm cho các tài khoản tự động liên hệ lại với nhau. Ví dụ : Tài khoản chi phí lãi vay có khớp được với tài khoản vốn vay. Ngoài ra, một vài tài khoản có thể liên hệ theo cách khác. Giả sử chi phí hoa hồng có thể là một tỷ lệ phần trăm cụ thể của doanh thu, các khoản nợ khó đòi không thể vượt quá doanh thu bán hàng trả chậm. Bằng cách kiểm tra mối quan hệ qua lại giữa các tài khoản, kiểm toán viên có thể phát hiện các sai sót thuộc về xử lý kế toán. e. Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Các so sánh phi tài chính và xu hướng thường có giá trị với kiểm toán viên như: mức thay đổi nhân viên, số liệu thống kê sản xuất, cung cấp một quan điểm toàn diện về đơn vị được kiểm toán. Các thông tin như vậy luôn bổ sung tính xác đáng cho các thông tin tài chính. Các thông tin có nguồn gốc từ bên ngoài các dữ liệu ngành hoặc kinh tế có bổ sung hữu ích cho thủ tục phân tích. Trên cơ sở đó, kiểm toán viên có thể phát hiện những vấn đề không hợp lý, không bình thuờng hoặc những vấn đề, những khoản mục tiềm ẩn rủi ro, sai phạm. 1.2.2. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán. 1.2.2.1. Kiểm tra vật chất (kiểm kê). Kiểm tra vật chất là quá trình kiểm kê tại chỗ hay tham gia kiểm kê các loại tài sản của doanh nghiệp. Công việc kiểm kê thường được tiến hành ở một số khoản mục chủ yếu như: khoản mục vốn bằng tiền, khoản mục tài sản cố định, khoản mục hàng tồn kho. Với những tài sản dễ xảy ra mất mất hoặc thiếu thì việc kiểm kê vật chất phải thực hiện và được kiểm tra toàn diện. Còn đối với những loại tài sản khác thì tuỳ thuộc

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 15

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

vào tầm quan trong, mức độ trọng yếu của từng loại mà tiến hành kiểm tra cho phù hợp. Độ tin cậy của bằng chứng vật chất phụ thuộc vào kỹ năng và hiểu biết của kiểm toán viên thực hiện kiểm kê. Nếu kiểm toán viên thiếu sự am hiểu về đánh giá chủng loại các tài sản cần thiết hoặc kiểm kê không cẩn thận thì bằng chứng thu thập được có thể có sự sai lệch.
• -

Ưu điểm: Kiểm tra vật chất là một phương tiện trực tiếp của quá trình xác minh sự hiện hữu của tài sản có tồn tại hay không, mang tính khách quan nhất nên kỹ thuật kiểm kê cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất. Ví dụ: khi kiểm kê giá trị hàng tồn kho tại ngày kết thúc niên độ 31/12, các loại hàng tồn nếu tồn tại thật sự thì sẽ được ghi nhận vào biên bản kiểm kê, chứng tỏ cho sự hiện hữu của tài sản đó vào ngày được kiểm kê. Kỹ thuật thực hiện đơn giản, phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán.

Nhược điểm: - Đối với một số tài sản cố định như đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị… kỹ thuật kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản đó, không cho biết quyền sở hữu của đơn vị đối với tài sản đó. - Đối với hàng hoá, nguyên vật liệu tồn kho, kiểm tra vật chất chỉ cho biết sự tồn tại về số lượng, còn chất lượng, tình trạng kỹ thuật, phương pháp tính giá đúng hay sai chưa thể hiện. Để phát huy tác dụng và nâng cao hiệu quả kinh tế công tác kiểm kê cần thực hiện theo quy trình sau: a. Chuẩn bị kiểm kê. Khi chuẩn bị kiểm kê ta cần chú ý đến các vấn đề sau: o Căn cứ vào mục tiêu, quy mô, thời hạn kiểm kê để bố trí lực lượng và cơ cấu nhân viên, thiết bị đo lường phù hợp và chính xác, đồng thời cân nhắc khả năng cần đến các chuyên gia. Đây là yếu tố quyết định chất lượng của cuộc kiểm kê. o Xem xét hệ thống thông tin và các thủ tục kiểm soát áp dụng đối với các khoản mục cần kiểm kê. o Địa điểm lưu giữ kho và tầm quan trọng của từng địa điểm. o Rủi ro tiềm tàng liên quan tới việc kiểm kê. o Xem xét các hoạt động kiểm soát và các biện pháp do Ban giám đốc đưa ra nhằm giảm thiểu rủi ro.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 16

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

b. Tiến hành kiểm kê. o Phải theo đúng yêu cầu và ghi chép đầy đủ theo từng mã cân hoặc lô hàng. Phiếu kiểm kê là chứng từ kế toán. o Xem xét tính đầy đủ và chính xác của hồ sơ kiểm kê bằng cách đối chiếu các khoản mục trên hồ sơ kiểm kê kho với danh mục thực tế kiểm kê kho. Lập một bản sao hồ sơ kiểm kê kho để so sánh sau này. o Ghi chép những biến động trong suốt quá trình kiểm kê để xem xét việc hạch toán sau này đối với nghiệp vụ trước và sau kiểm kê. o Tìm hiểu nguyên nhân gây ra chênh lệch đáng kể giữa sổ kho và thực tế kiểm tra và những thủ tục điều chỉnh của khách hàng. o Xem xét tính chính xác của danh mục cuối cùng của các tài khoản. c. Kết thúc kiểm kê. Kết thúc kiểm kê cần có biên bản kiểm kê trong đó phải nêu rõ chênh lệch, các nguyên nhân và xử lý cụ thể có đầy đủ chữ ký của những người tham gia cuộc kiểm kê. Biên bản cần phải được đính kèm phiếu kiểm kê và bản kê chênh lệch về kết quả kiểm kê. Ngoài ra kiểm tra vật chất đối với vật tư cần đi kèm với các chứng từ khác để chứng minh quyền sở hữu và giá trị tài sản đó. Đối với hàng hoá được lưu giữ cho đơn vị thứ ba thì thông thường lấy xác nhận của bên thứ ba về số lượng, chất lượng hàng tồn kho do khách hàng giữ hộ cho đơn vị thứ ba và cân nhắc: o Bên thứ ba không có tính độc lập với khách hàng kiểm toán
o Bên thứ ba cử người của họ tham gia vào quá trình kiểm kê. Nếu bên thứ ba nhờ

kiểm toán viên khác thì có thể thông qua kiểm toán viên này để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của bên thứ ba đối với kiểm kê kho và lưu trữ hàng hoá. 1.2.2.2. Xác minh tài liệu. Xác minh tài liệu là việc xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ sổ sách có liên quan. Kỹ thuật này thường được sử dụng đối với các chứng từ như hóa đơn bán hàng, phiếu nhập xuất kho, hóa đơn vận chuyển… Kỹ thuật xác minh tài liệu dựa trên phương pháp đối chiếu trực tiếp, theo phương pháp này khi áp dụng cho kỹ thuật xác minh tài liệu sẽ có các trường hợp đối chiếu như: đối chiếu giữa chứng từ với sổ kế

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 17

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

toán, giữa sổ kế toán với báo cáo kế toán, giữa các báo cáo kế toán với nhau, đối chiếu kỳ này với kỳ trước… Kiểm toán viên có thể thực hiện xác minh theo hai cách sau:  Cách thứ nhất là kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi vào sổ sách theo hai hướng:

Từ chứng từ gốc lên sổ sách kế toán: kiểm toán viên đi theo hướng này khi muốn thu thập bằng chứng về sự đầy đủ của việc ghi sổ (cơ sở dẫn liệu sự đầy đủ). Ví dụ: kiểm toán viên thực hiện kiểm toán khoản mục hàng tồn kho, cụ thể là nghiệp vụ xuất kho với chứng từ ghi sổ là phiếu xuất kho. Muốn biết nghiệp vụ này có được kế toán đơn vị ghi vào sổ không thì chỉ cần đối chiếu vào sổ cái tài khoản liên quan để xem xét. Từ sổ sách kế toán kiểm tra ngược về chứng từ gốc: khi kiểm toán viên muốn thu thập bằng chứng về tính có thật của nghiệp vụ (cơ sở dẫn liệu sự tồn tại hoặc phát sinh). Ví dụ: kiểm toán viên xem xét nghiệp vụ xuất kho trên sổ cái tài khoản hàng tồn kho, muốn biết nghiệp vụ này có phát sinh thực sự hay không kiểm toán viên đi từ trên sổ cái về kiểm tra các chứng từ gốc có liên quan như phiếu xuất kho, yêu cầu xuất vật tư … bằng chứng cơ sở cho các kết luận cần khẳng định. Ví dụ: kiểm toán viên kiểm tra các tài liệu, hồ sơ pháp lý về quyền sở hữu tài sản cố định như biên bản giao nhận tài sản cố định, biên bản bàn giao tài sản cố định, hóa đơn mua hàng…

 Cách thứ hai là từ một kết luận có trước, kiểm toán viên thu thập tài liệu để làm

Ưu điểm: Kỹ thuật này thường được thực hiện tương đối thuận tiện do tài liệu thường là có sẵn, chi phí thu thập bằng chứng thấp hơn so với các kỹ thuật khác. Kiểm toán viên yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp các tài liệu, chứng từ cần thiết để tiến hành kiểm tra, đối chiếu chúng với nhau và đưa ra kết luận cho những vấn đề khả nghi cần chi tiết.

Nhược điểm: hạn chế của kỹ thuật này là sự phụ thuộc vào nguồn gốc của bằng chứng vì các tài liệu được đem kiểm tra, đối chiếu có thể bị làm giả, bị sửa chữa, mất đi tính khách quan. Đây cũng là hạn chế vốn có của phương pháp kiểm toán dựa trên tài liệu. 1.2.2.3. Xác nhận. Xác nhận là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán thông qua việc liên hệ trực tiếp với bên thứ ba để nhận được phản hồi của họ về các thông tin cụ thể

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 18

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

ảnh hưởng tới cơ sở dẫn liệu được ban giám đốc đơn vị được kiểm toán lập và trình bày trong báo cáo tài chính. Xác nhận từ bên ngoài thường được sử dụng đối với số dư tài khoản và các bộ phận cấu thành của nó, nhưng không chỉ giới hạn trong những khoản mục này (ví dụ như yêu cầu xác nhận về các điều khoản hợp đồng hay giao dịch của đơn vị được kiểm toán với bên thứ ba). Vì mẫu xác nhận có từ các nguồn độc lập với công ty khách hàng nên chúng được đánh giá cao và thường dùng như một loại bằng chứng. Tuy vậy các xác nhận tương đối tốn kém, thư trả lời thường không thu được do nhiều nguyên nhân: sự thiếu hợp tác bên thứ ba, thư xác nhận bị thất lạc… việc xác nhận một số khoản công nợ chỉ chứng minh được khả năng thu nợ hay trả nợ, bằng chứng có thể giảm độ tin cậy nếu có sự giàn xếp, thoả thuận giữa ban giám đốc với bên thứ ba. Do đó, chúng không thể dùng trong mọi trường hợp mà chúng có thể áp dụng được. Thư xác nhận thường được kiểm toán viên soạn sau khi đã có ký duyệt của đơn vị cần kiểm toán, được gửi trực tiếp cho đối tượng cần xác nhận, sau khi xác nhận xong gửi trực tiếp cho kiểm toán viên. Để được xem là bằng chứng đáng tin cậy, các xác nhận phải được kiểm soát bởi kiểm toán viên từ khâu chuẩn bị cho đến khi chúng được gửi lại. Nếu khách hàng kiểm soát khâu chuẩn bị các thư xác nhận, thực hiện việc gửi đi hoặc nhận về các bản trả lời, kiểm toán viên sẽ mất quyền kiểm soát, cũng như tính độc lập từ đó độ tin cậy của bằng chứng cũng giảm xuống. Kỹ thuật lấy thư xác nhận có thể được thực hiện theo hai hình thức sau: - Thư xác nhận mở (dạng khẳng định): là đề nghị người được yêu cầu trả lời, ký nhận trong mọi trường hợp hoặc phúc đáp lại cho kiểm toán viên là đồng ý hay không đồng ý với thông tin cần xác nhận bằng cách yêu cầu điền vào thông tin. Một sự phản hồi các yêu cầu xác nhận mở thường cung cấp bằng chứng đáng tin cậy. Tuy nhiên, có rủi ro là người được đề nghị xác nhận có thể không kiểm tra thông tin là chính xác mà đã xác nhận thì kiểm toán viên khó có thể phát hiện được điều đó. Ngoài ra, sử dụng thư xác nhận mở có thể ít nhận được thông tin phản hồi do người phản hồi phải thực hiện một số công việc. - Thư xác nhận đóng (dạng phủ định): chỉ đòi hỏi sự phản hồi khi không đồng ý với thông tin yêu cầu xác nhận. Khi không đồng ý với thông tin cần xác nhận thì không đòi hỏi phải phản hồi. Nhưng không thể chắc chắn rằng một khi bên thứ ba không phản hồi thì họ đồng ý với thông tin đó bởi có thể do họ hoặc không muốn trả lời, hoặc không nhận được thư xác nhận, hoặc không có đối tượng

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 19

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

nhận thư. Do đó, việc sử dụng thư xác nhận đóng thường cung cấp bằng chứng ít tin cậy hơn so với việc sử dụng thư xác nhận mở. Do đó, kiểm toán viên ưa chuộng việc sử dụng loại thư xác nhận mở hơn, tất nhiên chi phí cho loại thư này cũng phải cao hơn so với thư xác nhận đóng. Kiểm toán viên có thể sử dụng thư xác nhận theo dạng đóng hoặc dạng mở hoặc kết hợp cả hai. Sự tin cậy của bằng chứng được xác nhận từ bên ngoài bị ảnh hưởng do năng lực, tính độc lập, thẩm quyền trả lời, sự hiểu biết về vấn đề cần xác nhận và sự khách quan của người xác nhận. Bằng chứng thu thập được từ xác nhận sẽ rất có giá trị nếu như đảm bảo được các yêu cầu: - Xác nhận bằng văn bản: Các kiểm toán viên thường thực hiện các xác nhận bằng văn bản như gửi thư xin xác nhận số dư tiền gửi ngân hàng của đơn vị được kiểm toán và yêu cầu bên ngân hàng xác nhận kèm chữ ký, con dấu rõ ràng để tránh có những mâu thuẫn phát sinh sau đó. - Tính độc lập, khách quan và trình độ của người trả lời xác nhận. Đôi khi đối tượng nhận thư xác nhận có quan hệ với đơn vị được kiểm toán hoặc là hiểu biết của đối tượng nhận thư xác nhận không cao thì cũng làm kết quả của xác nhận trở nên không đảm bảo giá trị của nó. Do đó cần chú ý các yếu tố này khi tiến hành chọn mẫu xin xác nhận. 1.2.2.4. Tính toán. Tính toán là việc kiểm tra tính chính xác về mặt toán học của số liệu trên chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác hay việc thực hiện các tính toán độc lập của kiểm toán viên. Ví dụ như kiểm tra về số lượng, đơn giá, sự chính xác về mặt số học khi tính ra giá trị thành tiền; kiểm toán viên xem xét tính chính xác các hóa đơn, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho; số liệu hàng tồn kho; tính lại chi phí khấu hao; giá thành; các khoản dự phòng; thuế; số tổng cộng trên sổ chi tiết và sổ cái.... Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần túy về mặt toán học chứ không chú ý đến sự phù hợp về phương pháp được sử dụng để tính toán. Do đó kỹ thuật này thường được sử dụng cùng với các kỹ thuật khác như xác minh tài liệu, kiểm tra vật chất, quy trình phân tích... trong quá trình thu thập bằng chứng.

Ưu điểm: kỹ thuật tính toán mang lại bằng chứng đáng tin cậy xét về mặt số học.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 20

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Nhược điểm: kỹ thuật này sẽ rất phức tạp khi tính toán ở công ty có quy mô lớn, loại hình kinh doanh phức tạp. 1.2.3. Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán. Trong một cuộc kiểm toán, hầu hết các kỹ thuật để thu thập bằng chứng nhằm hình thành nên ý kiến của kiểm toán viên về Báo cáo tài chính đã được thực hiện ở giai đoạn lập kế hoạch và giai đoạn thực hiện kiểm toán. Đối với giai đoạn kết thúc kiểm toán, tuy là giai đoạn tổng hợp, kết luận và lập báo cáo tài chính nhưng kiểm toán viên vẫn có thể sử dụng một số kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán để phục vụ cho giai đoạn kết thúc kiểm toán như: - Kỹ thuật phân tích: Trong giai kết thúc cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải áp dụng quy trình phân tích để có kết luận tổng quát về sự phù hợp trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính với những hiểu biết của mình về tình hình kinh doanh của đơn vị. Quy trình phân tích giúp kiểm toán viên khẳng định lại những kết luận có được trong suốt quá trình kiểm tra các tài khoản hoặc các khoản mục trên báo cáo tài chính. Trên cơ sở đó giúp KTV đưa ra kết luận tổng quát về tính trung thực, hợp lý của toàn bộ báo cáo tài chính. - Một số kỹ thuật: phỏng vấn, tính toán…

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 21

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

PHẦN II THỰC TẾ ÁP DỤNG KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC. 2.1. Giới thiệu chung về công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên giao dịch: AUDITING AND ACCOUNTING COMPANY Trụ sở chính : 217 Nguyễn Văn Linh, Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng. Logo: Số điện thoại :84.511.655886 Fax : 84.511.655887 Email : aac@dng.vnn.vn Website : www.aac.com.vn. Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC là một Công ty kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chính. Với quá trình hoạt động 18 năm, hiện nay Công ty đang có một đội ngũ kiểm toán viên và nhân viên chuyên nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính - kế toán. 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển. Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC, trước đây là công ty kiểm toán Đà Nẵng - công ty kiểm toán độc lập trực thuộc Bộ Tài chính được thành lập theo quyết định số 194/TC/TCCB ngày 01/04/1993 và Quyết định số 106 TC/TCCB ngày 13/02/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trên cơ sở sát nhập hai chi nhánh của hai công ty hành nghề kiểm toán từ năm 1991 là: Chi nhánh công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và chi nhánh công ty tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, là một trong số rất ít các công ty kiểm toán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. Năm 2000, công ty đổi tên từ “Công ty Kiểm toán Đà Nẵng – DAC” thành “Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC” theo quyết định số 139/2000/QĐ-BTC ngày 06/9/2000 của Bộ tài chính. Từ khi thành lập đến nay, công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC đã vinh dự đạt được nhiều giải thưởng cao quý, trong đó 2 năm liền (2007, 2008) đạt giải “Thương mại dịch vụ Việt Nam – Top Trade Services” do bộ công thương trao tặng.” Kết quả

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 22

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

này có được thông qua giới thiệu đề cử của Sở Công thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hiệp hội các ngành hàng và kết quả bình chọn của độc giả Báo Công thương, Báo Công thương điện tử, hệ thống bình chọn nhắn tin 8333 và kết quả thẩm định của Bộ Công thương – Ban tổ chức giải thưởng. Giải thưởng này được trao cho những doanh nghiệp tiêu biểu, hoạt động trong 11 lĩnh vực Thương mại Dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO, đã có những đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và ngành thương mại dịch vụ nói riêng, trong đó có dịch vụ kế toán, kiểm toán. Trong nhiều năm liền, AAC được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam chấp thuận đủ điều kiện để kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán Việt Nam. Năm 2009 liên tiếp đoạt được các danh hiệu: cúp vàng “DOANH NGHIỆP TIÊU BIỂU VIỆT NAM”, tôn vinh tại lễ trao tặng cúp vàng “Doanh nghiệp tiêu biểu VN” lần 1, giải thưởng “Tổ chức kiểm toán niêm yết uy tín” và nhiều thành tích khác. 2.1.2. Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động. 2.1.2.1. Mục tiêu. Mục tiêu hoạt động của AAC là giúp khách hàng và những người quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, cung cấp cho họ những thông tin đích thực và cần thiết để tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định quản lý phù hợp với thực tiễn. Hoạt động của AAC nhằm góp phần phát hiện và ngăn ngừa những rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. 2.1.2.2. Nguyên tắc hoạt động. Công ty AAC hoạt động theo phương châm: độc lập, khách quan, trung thực và bí mật số liệu của khách hàng, đó cũng chính là lời cam kết của AAC với khách hàng. 2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý công ty. 2.1.3.1. Sơ đồ tổ chức.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 23

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

a. Cơ cấu tổ chức toàn công ty.

TỔNG GIÁM ĐỐC

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC XDCB

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC BCTC

KHỐI KIỂM TOÁN XDCB PHÒNG TƯ VẤN ĐÀO TẠO CHI NHÁNH TP. HCM PHÒNG KẾ TOÁN HÀNH CHÍNH KHỐI KIỂM TOÁN BCTC

BAN KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG

PHÒNG KIỂM TOÁN XDCB 1

PHÒNG KIỂM TOÁN XDCB 2

BAN KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG

PHÒNG KIỂM TOÁN BCTC 1

PHÒNG KIỂM TOÁN BCTC 2

PHÒNG KIỂM TOÁN BCTC 3

PHÒNG KIỂM TOÁN BCTC 4

b. Cơ cấu tổ chức phòng kiểm toán báo cáo tài chính. Trưởng phòng kiểm toán

Kiểm toán viên chính

Trợ lý kiểm toán

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 24

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

-

-

-

-

-

-

2.1.3.2. Chức năng và nhiệm vụ. a. Tổng giám đốc. Là người đại diện toàn quyền của công ty, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính và trước Pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty. Đánh giá rủi ro của hợp đồng kiểm toán liên quan đến hoạt động của công ty. Duy trì mối quan hệ với các cán bộ cao cấp của công ty. Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quan trọng cao. Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã được thực hiện. Chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán và thư quản lý. Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộc kiểm toán hoặc ủy quyền lại. b. Phó tổng giám đốc. Được phân công ủy quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên quan đến nhân sự, hành chính, khách hàng, và các vấn đề về nghiệp vụ. Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và Pháp luật Nhà nước về những vấn đề được phân công và ủy quyền. Giải quyết những vấn đề liên quan đến chuyên môn của mình. c. Kế toán trưởng. Kế toán trưởng có nhiệm vụ giúp giám đốc công ty tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê tài chính và kiểm soát nội bộ, có các quyền và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật như: Lập báo cáo tài chính, công khai số liệu tài chính, tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản kế toán, ghi chép, lưu trữ chứng từ, hồ sơ kế toán đúng theo đặc điểm kinh doanh của công ty. Chịu trách nhiệm chuẩn bị tất cả những thông tin quản lý, tài chính, lập các kế hoạch về tài chính, dự trù ngân sách và các vấn đề liên quan đến hệ thống kế toán; quản lý tiền mặt, tính lương, thực hiện công việc thanh toán, quan hệ với ngân hàng, khách hàng… d. Trưởng, phó phòng. Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc và đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực hoạt động của công ty. Trưởng phòng giữ vai trò lãnh đạo trong ban quản lý của công ty, họ có chức năng như một cầu nối giữa Tổng Giám Đốc, ban quản lý và các nhân viên trong công ty, chịu trách nhiệm về các

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 25

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

vấn đề liên quan đến nhân sự, phối hợp hoạt động và đảm nhận các vấn đề về công việc hành chính. - Phó phòng là người tham mưu trực tiếp cho trưởng phòng, thay mặt trưởng phòng điều hành toàn bộ công việc trong thời gian trưởng phòng đi vắng và thực hiện các công việc do trưởng phòng uỷ quyền. e. Kiểm toán viên chính. - Giám sát công việc của các trợ lý. - Báo cáo trực tiếp với người quản lý phụ trách một vụ việc kiểm toán. - Xem xét giấy tờ làm việc sơ bộ, hỗ trợ đào tạo nhân viên, sắp xếp nhân sự cho các cuộc kiểm toán. - Được ký vào các báo cáo kiểm toán theo sự phân công của trưởng phòng. f. Trợ lý kiểm toán viên. Là những người tham gia thực hiện công tác kiểm toán nhưng chưa được Nhà nước công nhận trúng tuyển kỳ thi Kiểm toán viên cấp Quốc gia. Tùy vào năng lực thâm niên công tác mà trợ lý kiểm toán viên chia làm ba cấp: - Trợ lý kiểm toán viên cấp 1: là người sau thời gian thử việc ba tháng, được trúng tuyển chính thức vào công ty cho đến một năm sau đó. Theo thông lệ, những người mới tốt nghiệp các trường các trường kinh doanh, các trường đại học và những người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kiểm toán và kế toán có thể làm việc cho công ty với tư cách là một trợ lý mới vào nghề. - Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: là người làm việc ở công ty kiểm toán được hai năm chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó. - Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: là người làm việc ở công ty được ba năm, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng đoàn kiểm toán. 2.1.4. Đội ngũ nhân viên. Công ty AAC luôn luôn xem yếu tố con người là tài sản lớn nhất và quan trọng nhất trong định hướng hoạt động của mình, công ty luôn coi trọng việc phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên và chuyên viên kỹ thuật. Là một trong số ít công ty kiểm toán đầu tiên ra đời và hoạt động tại Việt Nam, hoạt động của AAC không ngừng phát triển và đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường cung cấp các dịch vụ chuyên ngành kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chính. Có được thành công đó là nhờ vào chính sách đầu tư phát triển đội ngũ kiểm toán viên và kỹ thuật viên có năng lực chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp trong sáng.

-

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 26

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Đến nay AAC đã xây dựng được đội ngũ với hơn 100 cán bộ nhân viên, trong đó có 29 người được công nhận kiểm toán viên cấp quốc gia. Đội ngũ kiểm toán viên được đào tạo có hệ thống ở Việt Nam, Anh, Bỉ, Pháp, Ai-len, Úc, Nhật Bản… và có nhiều năm kinh nghiệm thực tiễn về kiểm toán và tư vấn tài chính - kế toán - thuế ở Việt Nam cũng như quốc tế. 100% đội ngũ kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán viên cao cấp của AAC được đào tạo trực tiếp bởi các chuyên gia cao cấp về kiểm toán của Cộng đồng châu Âu thông qua chương trình hợp tác về kiểm toán và kế toán của dự án EURO – TAPVIET do Cộng đồng châu Âu tài trợ. Ngoài ra, nhân viên của AAC còn được đào tạo chuyên sâu bởi các chương trình trên đại học về tài chính, kế toán, luật ở Việt Nam và các nước như: Úc, Nhật Bản …. 2.1.5. Các dich vụ do công ty cung cấp. Công ty Kiểm toán và kế toán AAC cung cấp các dịch vụ sau: Kiểm toán, kế toán, tư vấn Thuế, dịch vụ tư vấn và đào tạo, dịch vụ Tin học. Trong đó: 2.1.5.1. Kiểm toán. Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Kiểm toán sau: - Kiểm toán báo cáo tài chính. - Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành. - Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án. - Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế. - Kiểm toán hoạt động. - Kiểm toán tuân thủ. - Kiểm toán nội bộ. - Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành. - Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thoả thuận trước. 2.1.5.2. Kế toán. Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Kế toán sau: - Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán. - Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán. - Lập các Báo cáo tài chính định kỳ. - Chuyển đổi các Báo cáo tài chính được lập theo VAS, IAS. - Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán. 2.1.5.3. Thuế. Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tư vấn Thuế sau:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 27

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Tư vấn việc áp dụng chính sách Thuế. Tư vấn công tác kê khai và quyết toán thuế. Tư vấn về các thủ tục hoàn thuế và khiếu nại về thuế. Hỗ trợ việc cập nhật thông tin về thuế và thuế quan. 2.1.5.4. Tư vấn và đào tạo. Các dịch vụ tư vấn và đào tạo do AAC cung cấp bao gồm: - Đăng ký chế độ kế toán doanh nghiệp. - Tư vấn thực hành kế toán. - Tư vấn đầu tư và thủ tục cấp phép. - Tư vấn thành lập doanh nghiệp. - Tư vấn xác định giá trị và cổ phần hóa doanh nghiệp. - Tư vấn tổ chức bộ máy kế toán. - Tư vấn tài chính. - Tổ chức lớp bồi dưỡng kế toán trưởng. - Tổ chức lớp thực hành kế toán. - Tổ chức lớp chuẩn mực kế toán và kế toán. - Tổ chức lớp kiểm toán nội bộ. - Tổ chức lớp ôn tập và cấp chứng chỉ hành nghề kế toán. - Tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức chứng khoán. 2.1.5.5. Tin học. Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tin học sau: - Tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán tài chính và kế toán quản trị. - Tư vấn việc lựa chọn trang bị các thiết bị tin học, cài đặt hệ thống thông tin quản lý. 2.1.6. Khái quát quy trình kiểm toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán và kế toán AAC thực hiện. Hiện tại AAC đã áp dụng chương trình kiểm toán mẫu của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), quy trình kiểm toán báo cáo tài chính do công ty AAC thực hiện qua ba giai đoạn sau: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán.

-

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 28

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com
QUẢN LÝ CUỘC KIỂM TOÁN

Kế hoạch kiểm toán Xem xét chấp nhận khách hàng và đánh giá rủi ro hợp đồng [A100] Lập hợp đồng kiểm toán và lựa chọn nhóm kiểm toán [A200] Tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động [A300] Tìm hiểu chính sách kế toán và chu trình kinh doanh quan trọng [A400] Phân tích sơ bộ báo cáo tài chính [A500] Đánh giá chung về hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi ro gian lận [A600] Xác định mức trọng yếu [A700] Tổng hợp kế hoạch kiểm toán [A800]

Thực hiện kiểm toán Kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ [C100-C500]

Tổng hợp, kết luận và lập báo cáo Tổng hợp kết quả kiểm toán [B410] Phân tích tổng thể báo cáo tài chính lần cuối [B420]

Kiểm tra cơ bản bảng cân đối kế toán

Tổng hợp kết quả kiểm toán & đánh giá chất lượng

Kiểm tra cơ bản nợ phải trả [E100-E600]

Thư giải trình của Ban Giám đốc và Ban quản trị [B430-B440]

Kiểm tra cơ bản NVCSH và TK ngoài bảng [F100-F300]

Báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán [B300]

Kiểm tra cơ bản báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh [G100-G700] Kiểm tra các nội dung khác [H100-H200] Đánh giá lại mức trọng yếu và phạm vi kiểm toán [A700]

Thư quản lý và các tư vấn khách hàng khác [B200] Soát xét, phê duyệt và phát hành báo cáo [B110] Kiểm soát chất lượng kiểm toán [B120]

XÁC ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ RỦI RO

Sơ đồ: Quy trình kiểm toán tại AAC (theo chương trình kiểm toán mẫu của VACPA). 2.1.6.1. Lập kế hoạch kiểm toán.  Giai đoạn tiền kế hoạch. Trong giai đoạn tiền kế hoạch, kiểm toán viên sẽ xem xét khả năng nhận lời mời khách hàng, đưa ra một danh sách các tài liệu yêu cầu khách hàng chuẩn bị.  Xây dựng kế hoạch kiểm toán. Sau giai đoạn tiền kế hoạch, kiểm toán viên sẽ xây dựng một kế hoạch phục vụ cụ thể cho mỗi khách hàng, bao gồm thời gian kiểm toán, số lượng nhân viên, xem xét giá phí cho mỗi hợp đồng… 2.1.6.2. Thực hiện kiểm toán. Các nội dung cụ thể trong bước này: • Qui định về nhiệm vụ của nhóm trưởng: Nhóm trưởng giữ vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình kiểm toán. thực hiện 8 nhiệm vụ sau: thảo luận với khách hàng, liên hệ khách hàng để sắp xếp kiểm kê TSCĐ, tổ chức lưu trữ hồ sơ, lập kế hoạch kiểm toán và phân tích hồ sơ, sắp xếp, kiểm tra, đánh giá các thành viên trong nhóm…

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

PHÙ HỢP VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM

TUÂN THỦ CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM

Kiểm tra cơ bản tài sản [D100-D800]

Lập kế hoạch và xác định rủi ro

Lập và soát xét giấy tờ làm việc

Tổng hợp kết quả kiểm toán

Trang 29

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

• Các qui trình nghiệp vụ phát sinh đặc trưng của một doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp khác nhau có quy trình các nghiệp vụ phát sinh khác nhau. Tuỳ theo tính trọng yếu của vấn đề mà quy định kiểm toán viên nào thực hiện kiểm tra quy trình nào. • Nguyên tắc sắp xếp, đánh số và tham chiếu giấy làm việc: Giấy làm việc phải được sắp xếp, đánh số và tham chiếu phù hợp với quy định chung của công ty nhằm đảm bảo dễ kiểm tra, so sánh và thuận tiện cho việc lưu trữ hồ sơ. • Chỉ mục giấy làm việc. • Các ký hiệu sử dụng thống nhất trên giấy làm việc:
-

Đã đối chiếu sổ cái và sổ chi tiết ()

Đã đếm tài sản vào thời điểm kiểm toán (©) - Số liệu cần theo dõi và điều chỉnh (W) - Không cần theo dõi nữa (W) - ……………… Kết cấu của một chương trình kiểm toán, bao gồm:  Xác định mục tiêu kiểm toán: Xét trên quan điểm kiểm toán viên, mục tiêu kiểm toán là mục tiêu mà chúng ta đặt ra nhằm đạt được bằng chứng kiểm toán có hiệu lực về một hay nhiều cơ sở dẫn liệu báo cáo tài chính thông qua việc thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp. Cơ sở dẫn liệu báo cáo tài chính bao gồm: tính đầy đủ, tính hiện hữu, tính chính xác, đánh giá, sở hữu và trình bày
 Xác định tài liệu yêu cầu:

Đó là tất cả những tài liệu cần thiết để kiểm toán trên một khoản mục trên báo cáo tài chính. Ví dụ, đối với chương trình kiểm toán vốn bằng tiền, tài liệu yêu cầu bao gồm: biên bản kiểm kê quỹ, xác nhận số dư ngân hàng; sổ quỹ, sổ chi tiết tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, sổ phụ ngân hàng, sổ cái; các chứng từ liên quan đến thu chi tiền mặt và tiền gửi ngân hàng; các tài liệu khác có liên quan.
 Thực hiện các thủ tục kiểm toán:

Đó là tất cả các thủ tục kiểm toán cần thiết để thu được bằng chứng kiểm toán có hiệu lực chứng minh một khoản mục trên báo cáo tài chính, bao gồm kiểm tra các hoạt động kiểm soát, các thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết thông qua các kỹ thuật kiểm toán như so sánh, tính toán, xác nhận, phỏng vấn, kiểm tra tài liệu, quan sát và kiểm tra thực tế.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 30

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

2.1.6.3. Kết thúc kiểm toán. Kết thúc kiểm toán là giai đoạn cuối cùng của quy trình kiểm toán kiểm toán báo cáo tài chính. Đây là giai đoạn mà các kiểm toán viên sẽ tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện kiểm toán, nêu ra ý kiến trao đổi với khách hàng và phát hành báo cáo kiểm toán. Các giấy tờ làm việc cụ thể trong giai đoạn này ở công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC gồm:
 Chỉ mục giấy làm việc.  Xác nhận bản thảo báo cáo kiểm toán.  Trang trình duyệt.  Trao đổi với khách hàng khi kết thúc kiểm toán.  Danh mục kiểm tra cuối cùng.  Bàn luận về thư quản lý.  Tổng kết của nhóm trưởng.  Tổng kết của các thành viên trong nhóm.  Kiểm tra khái niệm hoạt động liên tục.  Kiểm tra sự kiện sinh sau ngày kết thúc niên độ.  Biên bản ghi nhận tiến độ làm việc.  Bảng chấm công .

2.2. Thực tế áp dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán và kế toán AAC thực hiện. 2.2.1. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty kiểm toán AAC. Việc lập kế hoạch kiểm toán giúp cho kiểm toán viên có định hướng ban đầu về lượng bằng chứng kiểm toán cần phải thu thập để đảm bảo tính đầy đủ và tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán. Từ đó kiểm toán viên có thể đưa ra những ý kiến xác đáng trên báo cáo tài chính của mình. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thường áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán như: Quan sát, phỏng vấn, phân tích. Trong giai đoạn này, công ty kiểm toán AAC chủ yếu tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng kiểm toán. Sau đây là các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán mà AAC thường áp dụng trong giai đoạn này để thu thập các bằng chứng về hệ thống kiểm soát nội bộ:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 31

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

2.2.1.1. Quan sát. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán của công ty kiểm toán AAC, kiểm toán viên sẽ tiến hành thu thập thông tin chung về khách hàng dựa trên hồ sơ của khách hàng cung cấp kết hợp kỹ thuật quan sát. Ở giai đoạn này, sau khi Ban giám đốc AAC sắp xếp nhân sự, thời gian cho một cuộc kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán được phân công trách nhiệm sẽ là người trực tiếp xem xét về tình hình chung của đơn vị khách hàng. Vì vậy, trưởng đoàn kiểm toán sẽ tiến hành thông báo qua điện thoại hoặc Fax cho khách hàng về thời gian tiến hành kiểm toán và trước hết là việc viếng thăm đơn vị khách hàng trước khi đi vào kiểm toán chính thức. Đơn vị khách hàng sau khi nhận được thông báo sẽ có phản hồi cũng qua điện thoại hoặc Fax cho trưởng đoàn kiểm toán để cùng thống nhất về thời gian trên. Đến thời gian như đã thông báo, trưởng đoàn kiểm toán sẽ tiến hành tham quan sơ lược đơn vị khách hàng. Cụ thể, việc quan sát của kiểm toán viên như sau:
• -

-

Đối với khách hàng mới: Tham quan nhà xưởng (đặc biệt là các đơn vị khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất): Trưởng đoàn sẽ được người của đơn vị khách hàng dẫn đi tham quan, quan sát trực tiếp hoạt động kinh doanh của đơn vị và tiếp xúc phỏng vấn với một số nhân viên đơn vị như: quản đốc phân xưởng, nhân viên trực tiếp sử dụng máy móc thiết bị…để hiểu biết thêm tình hình sử dụng máy móc thiết bị, công tác bảo vệ tài sản. Điều này tạo điều kiện cho kiểm toán viên phát hiện các vấn đề như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máy móc lạc hậu hay không được phát huy công suất...do đó kiểm toán viên dự đoán được những tài khoản trọng yếu trên Báo cáo tài chính. Tham quan văn phòng: Sau khi tham quan nhà xưởng (nếu có) trưởng đoàn kiểm toán sẽ tiến hành quan sát phòng làm việc của kế toán, xem xét cơ cấu tổ chức và hoạt động trong phòng kết hợp với phỏng vấn kế toán trưởng. Từ đó đánh giá tình hình hoạt động và thực hiện công tác kế toán tại đơn vị khách hàng. Đối với khách hàng cũ: Là một khách hàng thường xuyên, nhóm kiểm toán của AAC thường cũng chỉ xem xét những quy chế mới về quản lý tài chính trong đơn vị khách hàng. Các thông tin mà kiểm toán thu được phần lớn không có gì thay đổi so với các thông tin thu thập từ cuộc kiểm toán năm trước. Việc quan

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 32

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

sát chỉ mang tính chất xem xét lại hoạt động trong đơn vị có gì thay đổi không so với các lần kiểm toán trước. Kỹ thuật quan sát này sẽ không được kiểm toán viên AAC thể hiện cụ thể trên giấy tờ làm việc, chủ yếu kiểm toán viên chỉ quan sát để nắm bắt sơ bộ tình hình chung của đơn vị khách hàng. Sau đó kết hợp với một vài kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán khác thì kiểm toán viên mới thể hiện trên giấy tờ làm việc. 2.2.1.2. Phỏng vấn. Tại AAC Phỏng vấn là một kỹ thuật rất quan trọng để thu thập thông tin, vì đây là cách khai thác trực tiếp từ đơn vị khách hàng. Mặc dù những bằng chứng có được từ phương pháp này thường mang tính chủ quan rất lớn, nhưng ở một chừng mực nào đó, kiểm toán viên vẫn có cơ sở để sử dụng và làm căn cứ cho các kết luận của mình. Tại AAC, công việc phỏng vấn thường do Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện. Quy trình phỏng vấn chung của AAC được thể hiện như sau:
Đại diện đoàn kiểm toán BGĐ hoặc cá nhân trong đơn vị khác hàng

Xác định người phỏng vấn Xác định mục tiêu cần hỏi

Lập kế hoạch Phỏng vấn

Lập bảng câu hỏi Đúng mục tiêu

Bảng câu hỏi

Phỏng vấn Thực hiện Phỏng vấn Đánh dấu bảng câu hỏi Trả lời phỏng vấn

Kết luận Kết thúc Phỏng vấn

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 33

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

• Lập kế hoạch phỏng vấn: Khi lập kế hoạch phỏng vấn, trước hết kiểm toán viên AAC sẽ xác định đối tượng cần phỏng vấn là ai? Có thể là Giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng các bộ phận phòng ban, nhân viên trong Công ty… Tiếp theo, kiểm toán viên sẽ xác định mục tiêu cần hỏi, cần thu thập được từ cuộc phỏng vấn là gì? Và lập nên các câu hỏi cho phù hợp với mục tiêu. Các câu hỏi đó sẽ được thể hiện dưới dạng Bảng câu hỏi với câu trả lời “Có” hoặc “Không” do công ty AAC thiết kế lại theo mẫu của VACPA. Sau khi lập được Bảng câu hỏi, kiểm toán viên sẽ kiểm tra lại nội dung trong Bảng câu hỏi vừa lập đã đầy đủ và phù hợp với mục tiệu đặt ra hay chưa. Nếu “No” (chưa đạt được mục tiêu) kiểm toán viên sẽ lập lại Bảng câu hỏi, nhưng nếu “Yes” (đã đạt được mục tiêu) kiểm toán viên sẽ đi vào phỏng vấn. • Phỏng vấn: Sau khi đã có được Bảng câu hỏi phù hợp với mục tiêu đề ra, kiểm toán viên sẽ đi vào phỏng vấn những cá nhân đã được xác định ban đầu. Kiểm toán viên hỏi và người được phỏng vấn chỉ trả lời các câu hỏi dưới hình thức “Có” hoặc “Không”. Mỗi câu trả lời sẽ được kiểm toán viên đánh dấu vào Bảng câu hỏi dưới dạng đã được thiết kế sẵn. • Kết thúc phỏng vấn: Kết thúc cuộc phỏng vấn, kiểm toán viên sẽ tổng hợp, đưa ra kết luận về vấn đề đã phỏng vấn và lưu Bảng câu hỏi vào hồ sơ làm việc. Ví dụ, trích Bảng câu hỏi về “Đánh giá hệ thống KSNB của đơn vị” tại công ty Cổ Phần ABC như sau:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 34

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty cổ phần ABC Ngày khóa sổ: 31/12/2009 Nội dung: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HỆ THỐNG KSNB CỦA ĐƠN VỊ

A610 35/… Tên Tr.Hiền Th.Hiền Ngày 14/3/10 14/3/10

Người thực hiện Người soát xét 1 Người soát xét 2

CÁC THÀNH PHẦN CỦA HỆ THỐNG KSNB

Có

Không

Tham chiếu đến tài liệu mô tả hoạt động kiểm soát

Đánh giá về thiết kế và triển khai

1.MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT Gía trị đạo đức và tính chính trực của các nhà quản lý 1.1 BGĐ có thể hiện sự quan tâm đến tính chính trực và các giá trị đạo đức không? Đơn vị có quy chế ứng xử và/hoặc đạo đức và chính sách này có được truyền đạt đúng đắn không? 1.2 Cam kết của BGĐ đối với chu trình chính trực và sự ứng xử đạo đức có được truyền đạt có hiệu quả đến khắp đơn vị, cả bằng lời và văn bản không? …………. Cam kết của BGĐ đối với trình độ chuyên môn và năng lực của nhân viên 1.5 Nhân viên có đủ năng lực và đào tạo cần thiết cho mức độ trách nhiệm công việc được giao hoặc phù hợp đặc điểm và tính phức tạp của hoạt động của đơn vị không? 1.6 Mức độ bố trí nhân sự ở các bộ phận phù có phù hợp không? (lưu ý đến kiến thức và kinh nghiệm của người đứng đầu và bộ phận giám sát trong các bộ phận kế toán, hệ thống thông tin và BCTC) ………. Sự tham gia của HĐQT và Ban kiểm soát Đơn vị có HĐQT hoặc Ban kiểm soát không? Nếu có: 1.10 HĐQT hoặc Ban kiểm soát có đóng vai trò tích cực trong việc xem xét các chính sách và hoạt động thực tế của đơn vị không?

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 35

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

1.11 HĐQT hoặc Ban kiểm soát có phê duyệt sự bổ nhiệm kiểm toán độc lập của đơn vị không? 1.12 HĐQT hoặc Ban kiểm soát có đủ trình độ, kinh nghiệm và thời gian để trợ giúp đơn vị hiệu quả không? …………… Cơ cấu tổ chức, phân định quyền hạn và trách nhiệm 1.17 Cơ cấu tổ chức có phù hợp với quy mô, hoạt động kinh doanh và các vị trí địa lý kinh doanh của đơn vị không? 1.18 Đơn vị có các chính sách và thủ tục cho việc ủy quyền và phê duyệt các nghiệp vụ ở từng mức độ phù hợp không? …………… Chính sách nhân sự 1.23 Đơn vị có chính sách và tiêu chuẩn cho việc tuyển dụng, đào tạo, thúc đẩy, đánh giá, đề bạt, đền bù, chuyển giao và sa thải nhân viên cho các bộ phận không? 1.24 Những nhân viên mới có nhân được trách nhiệm của họ cũng như sự kỳ vọng của BGĐ không? 2. ĐÁNH GIÁ RỦI RO 2.1 BGĐ có xây dựng các mục tiêu trên phạm vi toàn công ty rõ ràng và các mục tiêu này có nhất quán với các dự toán và kế hoạch kinh doanh của đợn vị không? 2.2 BGĐ có thiết lập các mục tiêu cho các hoạt động chủ chốt và các mục tiêu này có nhất quán và gắn với các chiến lược và mục tiêu trên phạm vi toàn đơn vị không? 2.3 BGĐ có cân nhắc các rủi ro từ các nguồn bên ngoài (ví dụ: nguồn cung cấp, nhu cầu của các chủ nợ, hoạt động của các đối thủ, luật pháp, các sự kiện tự nhiên) không? ……………… 3. THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 3.1 Đơn vị có cơ chế phù hợp để thu thập các thông tin bên ngoài liên quan (như: tình hình thị trường, hoạt động của đối thủ cạnh tranh, thay đổi luật pháp, thay đổi kinh tế) và các thông tin bên trong mang tính chất ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị không? 3.2 Nhiệm vụ và trách nhiệm của nhân viên có được truyền đạt có hiệu quả đến mọi người không? ……………. 4. CÁC THỦ TỤC KIỂM SOÁT 4.1 Đơn vị có các chính sách và thủ tục áp dụng cho các hoạt

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 36

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

động của đơn vị không? Các chính sách và thủ tục đó có dễ hiểu để áp dụng không? 4.2 Đơn vị có thường xuyên xem xét các chính sách và thủ tục định kỳ để xác định xem liệu chúng có phù hợp với các hoạt động của đơn vị không? 4.3 Các BCTC có được gửi cho BGĐ không? Các phân tích có được gửi kèm theo các nhận xét phân tích không? 4.4 BGĐ có thiết lập các chính sách để đối chiếu thường xuyên tài sản thực tế (như: tiền, phải thu, hang tồn kho, máy móc thiết bị) với số liệu trên sổ sách kế toán không? 5. GIÁM SÁT 5.1 Đơn vị có chính sách xem xét lại hệ thống KSNB định kỳ và đánh giá tính hiệu quả của hệ thống không? Nếu có:

Qúa trình đánh giá này có sử dụng bảng liệt kê những mục lục cần kiểm tra, bảng câu hỏi hay công cụ nào khác? Các đánh giá đó có được ghi nhận thành văn bản không?

5.2 Đơn vị có các chính sách, thủ tục để đảm bảo các biện pháp sửa chữa được thực hiện kịp thời ngay khi sai phạm của kiểm soát diễn ra không?

……………….. Việc hoàn thành Bảng câu hỏi này bằng cách phỏng vấn sẽ giúp cho kiểm toán viên của AAC có cái nhìn toàn diện và hiểu biết về hệ thống KSNB của khách hàng. Từ đó, giúp kiểm toán viên xác định cách tiếp cận kiểm toán và xác định liệu việc thực hiện kiểm tra KSNB có phù hợp không. Đồng thời sẽ giúp cho kiểm toán viên tiết kiệm thời gian hơn trong giai đoạn lập kế hoạch này để tập trung vào giai đoạn kiểm toán chính thức. Tuy nhiên, thực tế chỉ đối với các cuộc kiểm toán với khách hàng mới thì AAC mới sử dụng bảng câu hỏi này để tìm hiểu, thu thập thông tin về khách hàng. Và mức độ sử dụng cũng không cao vì thường thời gian trung bình một cuộc kiểm của AAC tại đơn vị khách hàng chỉ từ 3 - 5 ngày, chính vì vậy sẽ rất hạn chế về mặt thời gian và hầu hết các cuộc kiểm toán đều thực hiện dựa trên kinh nghiệm của kiểm toán viên là chính. Với khách hàng thường xuyên của AAC thì việc tìm hiểu các thông tin cơ bản về khách hàng đã được thực hiện ở các năm kiểm toán trước. Vì vậy, ở niên độ hiện tại

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 37

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

thông qua phỏng vấn, kiểm toán viên kết hợp với những thông tin đã thu thập từ cuộc kiểm toán trước sẽ nắm bắt được những thay đổi về thông tin chung cũng như hệ thống KSNB của khách hàng. Ví dụ: Công ty TNHH MTV quản lý bến xe X là một khách hàng lâu năm của AAC. Khi bắt đầu cuộc kiểm toán niên độ 31/12/X, tiến hành phỏng vấn trực tiếp Kế Toán Trưởng của công ty khách hàng, kiểm toán viên đã thu thập được thông tin mới về hoạt động kinh doanh của công ty: trong năm X công ty đã có thêm sự hoạt động của tuyến xe Buýt. Điều này giúp kiểm toán viên AAC kịp thời nắm bắt được thông tin mới về khách hàng một cách kịp thời, từ đó kiểm toán viên sẽ đi vào thực hiện kiểm toán chính thức mà tránh gặp phải khó khăn nếu không nắm bắt thông tin.  Một vấn đề đan xen trong giai đoạn này là việc sử dụng tài liệu của chuyên gia hay một số bằng chứng kiểm toán đặc biệt như đã được đề cập trong phần lý thuyết cũng được kiểm toán viên AAC sử dụng. Nhưng mức độ sử dụng rất ít hoặc do chi phí mời chuyên gia cao, thời gian hạn chế hay không mấy khi khách hàng có bộ phận kiểm toán viên nội bộ hiệu quả nên các công việc kiểm toán đều chỉ do chính kiểm toán AAC thực hiện, ít phối hợp với các đối tượng khác. 2.2.1.3. Kỹ thuật phân tích. Ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, sau khi đã thu thập được các thông tin cơ sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên AAC tiến hành kỹ thuật phân tích. Dựa trên Báo cáo tài chính do đơn vị khách hàng cung cấp, kiểm toán viên AAC sử dụng hai kỹ thuật phân tích là phân tích xu hướng và phân tích tỷ suất. Đầu tiên, kiểm toán viên AAC sẽ tiến hành so sánh những biến động của các chỉ tiêu trên Bảng Cân Đối Kế Toán, Báo cáo Kết Qủa Hoạt Động Kinh Doanh giữa các kỳ báo cáo và kỳ trước. Từ đó, tìm hiểu nguyên nhân gây nên sự biến động đó. Tiếp theo, kiểm toán viên sẽ thực hiện kỹ thuật phân tích tỷ suất như: hệ số đo lường hiệu quả hoạt động, hệ số thanh toán… Trên thực tế thì kỹ thuật phân tích chỉ chủ yếu được các trưởng đoàn kiểm toán của AAC thực hiện và rất ít khi thể hiện trên giấy tờ làm việc. Chỉ ở một số cuộc kiểm toán mà khách hàng được kiểm toán năm đầu tiên, kiểm toán viên sử dụng kỹ thuật phân tích để có cái nhìn tổng quát về tình hình doanh nghiệp song vẫn chưa vận dụng được hết các chỉ tiêu phân tích. Dựa vào các biến động này, kiểm toán viên sẽ xác định

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 38

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

được vùng có thể có sai phạm trọng yếu hay khoanh vùng rủi ro để tạo điều kiện kiểm tra chi tiết được thực hiện có hiệu quả hơn. Còn đối với các khách hàng mà AAC đã từng kiểm toán, kiểm toán viên hầu như không thực hiện kỹ thuật phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch này. Việc phân tích chỉ được thực hiện trong đầu để xác định xem nên kiểm toán cái gì và kiểm toán như thế nào. Ví dụ: Cuộc kiểm toán tại Công ty Cổ Phần ABC, để đánh giá được tình hình chung của đơn vị khách hàng, kiểm toán viên của AAC tiến hành phân tích số liệu trên Báo cáo tài chính của khách hàng cung cấp (công việc này do trưởng đoàn kiểm toán thực hiện) và tổng hợp quá trình phân tích được thể hiện như sau:
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN Đơn vị tính: VND Gh Biến động i VND % chú 46. 11,016,893,599 48 216. 2,385,661,541 86 [1]

T T A I II 1 2 III 1 2 3 4 IV 1 2 V

TÀI SẢN

31/12/2009 Trước KT 34,720,528,97 2 3,485,737,49 3 116,512,00 0 116,512,0 00 _ 25,522,434,62 3 25,198,675,1 39 272,022,2 18 281,134,3 86 229,397,1 20 5,208,927,75 1 5,208,927,7 51 _ 386,917,10 5

31/12/2008

TÀI SẢN NGẮN HẠN Tiền và các khoản tương đương tiền Đầu tư tài chính ngắn hạn Đầu tư tài chính ngắn hạn Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn hạn Các khoản phải thu ngắn hạn Phải thu của khách hàng Trả trước cho người bán Các khoản phải thu khác Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi Hàng tồn kho Hàng tồn kho Dự phòng giảm giá hàng tồn kho Tài sản ngắn hạn khác

23,703,635,373 1,100,075,952 305,000,000 305,000,00 0 _ 17,597,730,474 16,655,036,08 7 923,637,08 4 252,102,93 4 233,045,63 1 4,326,673,925 4,326,673,92 5 _ 374,155,022

7,924,704,149 8,543,639,0 52 -651,614,866

45. 03 51. 30 -70.55

[2] [3]

882,253,826 882,253,8 26

20. 39 20. 39

[4]

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 39

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

1 2 B I 1 2 3 II III 1 2 IV 1 2

Thuế và các khoản khác phải thu nhà nước Tài sản ngắn hạn khác TÀI SẢN DÀI HẠN Tài sản cố định Nguyên giá Giá trị hao mòn lũy kế Chi phí xây dựng cơ bản dở dang Bất động sản đầu tư Các khoản đầu tư tài chính dài hạn Đầu tư tài chính dài hạn Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn Tài sản dài hạn khác Phải thu dài hạn Tài sản dài hạn khác TỔNG CỘNG TÀI SẢN NGUỒN VỐN

65,080,5 44 321,836,5 61 33,571,355,68 5 8,522,070,66 3 16,506,950,7 68 (9,628,313,202) 1,643,433,0 97 _ 24,443,433,55 1 24,443,433,5 51 _ 605,851,47 1 212,215,107 393,636,3 64 68,291,884,65 7

145,948,48 5 228,206,53 7 20,917,947,103 9,126,179,639 15,751,613,51 8 (7,822,154,218) 1,196,720,33 9 _ 1,151,234,141 1,151,234,14 1 _ 279,425,323 239,425,323 40,000,00 0 44,621,582,476 23,670,302,181 53. 05 12,653,408,582 -604,108,976 755,337,2 50 (1,806,158,984) 446,712,7 58 60. 49 -6.62 4. 80 23.09 37. 33 1,123. 24 1,123 .24

[5] [6] [7]

12,931,091,410 12,931,091,4 10

[8]

A I 1 2 3 4 5 6 II

NỢ PHẢI TRẢ Nợ ngắn hạn Vay ngắn hạn Phải trả cho người bán Người mua trả tiền trước Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước Phải trả người lao động Các khoản phải trả ngắn hạn khác Nợ dài hạn

40,449,192,55 8 39,462,614,70 9 25,466,597,8 60 10,673,603,2 07 68,556,9 01 356,060,2 39 139,551,5 79 2,758,244,9 23 986,577,84

22,385,146,614 21,938,568,765 12,247,425,54 1 6,112,778,98 8 674,065,04 5 512,724,68 0 6,442,264 2,385,132,24 7 446,577,849

18,064,045,944 17,524,045,944 13,219,172,3 19 4,560,824,2 19 -605,508,144

80. 70 79. 88 107. 93 74. 61 (89. 83)

[9] [10 ]

540,000,000

120.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 40

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

1 2 3

Vay và nợ dài hạn Qũy dự phòng trợ cấp mất việc làm Phải trả, phải nộp dài hạn khác

9 600,000,0 00 226,577,8 49 160,000,0 00 27,842,692,09 9 26,817,537,06 5 24,975,330,0 00 750,870,3 10 (530,606,7 24) 1,210,298,2 34 441,645,2 45 1,025,155,034 68,291,884,65 7

92 _ 226,577,84 9 220,000,00 0 600,000,0 00 [11 ]

B I 1 2 3 4 5 II

VỐN CHỦ SỞ HỮU Vốn chủ sở hữu Vốn đầu tư của chủ sở hữu Vốn khác của chủ sở hữu Cổ phiếu quỹ Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Quỹ khen thưởng, phúc lợi TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN

22,236,435,862 21,723,666,051 19,718,100,00 0 750,870,31 0 (200,796,72 4) 958,669,30 2 496,823,16 3 512,769,811

5,606,256,237 5,093,871,014 5,257,230,0 00

25. 21 23. 45 26. 66

[12 ]

512,385,223

99.92 53. 05

44,621,582,476

23,670,302,181

Chú thích:
[1] Tiền và các khoảng tương đương tiền tăng so với năm trước . Lý do doanh thu năm nay tăng so với năm trước . Do nhận cổ từ các khoáng đầu tư của Công ty. Kiểm toán viên cần lưu ý để thực hiện kiểm tra tài khoảng này đặc biệt lưu ý các khoảng nhận được từ cổ tức được chia của các khoảng đầu tư. [2] Phải thu khách hàng tăng cao trong bối cảnh doanh thu bán chịu tăng và các nhà quản lý chịu nhiều áp lực trong việc trình bày báo cáo tài chính tốt hơn để cho nhà đầu tư có khả năng phục hồi sau khủng hoảng . Do đó rủi ro về doanh thu và phải thu có thể bị ghi nhận sớm hơn so với thực tế là lớn . Kiểm toán viên cần lưu ý các thủ tục kiểm tra phải thu bị ghi nhận quá. [3] Trả trước cho người bán năm nay giảm hơn so với năm trước là do Công ty hạn chế thanh toán trước cho người bán.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 41

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

[4] Hàng tồn kho năm nay tăng tăng so với năm trước là do cuối năm đơn vị có một số lô hàng nhưng chưa tiêu thụ kiệp trong năm . Kiểm toán viên cần lưu ý thủ tục kiểm tra hàng hóa kém phẩm chất , hư hỏng và trích lập dự phòng. [5]&[6] Tài sản cố định &khấu hao tăng là do trong năm đơn vị đầu tư xây dựng hoàn thành của hàng xăng dầu nên kết chuyển tăng nguyên giá tài sản cố định và dẫn đến khấu hao tăng tương ứng. [7] Chi phí xây dựng cơ bản năm nay tăng so với năm trước là do Công ty đang đầu tư xây dựng cây xăng dầu Thuận An dự kiến đến năm 2010 hoàn thành . [8] Các khoảng đầu tư dài hạn tăng so với năm trước là do nay nay Công ty tăng vốn đầu tư vào Công ty cổ phần Trường Phú và Công ty thương mại Thuận An và Công ty cổ phần giao thông Thừa Thiên Huế . [9] Vay ngăn hạn tăng là do trong năm đơn vị thu hồi nợ không được tốt nên đơn vị vay ngắn hạn để bù đắp cho vốn lưu động trong năm . Đơn vị chịu áp lực thanh toán nợ . [10] Phải trả cho người bán năm nay tăng với năm trước là do đơn vị chiếm dụng vốn của các đơn vị khác tăng lên . [11] Vay dài hạn năm nay tăng so với năm trước là Công ty vay để đầu tư cây xăng dầu Thuận An . [12] Vay vốn chủ sở hửu tăng trong năm là do Công ty đã phát hành thêm cổ phiếu thưởng cho cán bộ công nhân viên và đối tác chiến lược trong năm , phù hợp với biên bản hộp đại hội đồng cổ đông năm 2009.

BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Năm 2009 Trước KT 197,760,432,416 _ 197,760,432,416 189,622,335,334 8,138,097, 082 4,367,748,333 Năm 2008 Biến động VND Ghi chú

STT 1 2 3 4 5 6

Chỉ tiêu Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Các khoản giảm trừ doanh thu Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ Gía vốn hàng bán Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ Doanh thu hoạt động tài chính

%

196,337,177,625 _ 196,337,177,625 185,008,147,619 11,329,030,006 2,858,408,634 1,423,254,791 4,614,187,715 (3,190,932,924) 1,509,339,699 0.72 2.49 -28.17 52.80 [1] [2] [3] [4]

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 42

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

7 8 9 10 11 12 13 14 15

Chi phí tài chính Trong đó: Lãi vay Chi phí quản lý kinh doanh Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Thu nhập khác Chi phí khác Lợi nhuận khác Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế Chi phí thuế TNDN Lợi nhuận sau thuế TNDN

1,546,443,278 1,546,443,278 5,872,834,364 5,086,567,773 273,864,785 50,361,481 223,503,304 5,310,071,077 279,943,547 5,030,127,530

2,891,204,097 2,891,204,097 6,171,132,977 5,125,101,566 368,055,041 98,096,298 269,958,743 5,395,060,309 831,163,968 4,563,896,341

(1,344,760,819)

-46.51

[5]

(551,220,421) 466,231,189

-66.32 10.22

[6] [7]

Chú thích:
[1] Doanh thu thuần năm tăng không đáng kể so với năm trước là do trong năm giá bán giảm và thị trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, chịu sức ép cạnh tranh. [2] Gía vốn năm nay tăng so hơn so với năm trước, mức tăng là 2,49%. [3] Tỷ suất lãi gộp giảm 28,17% so với năm trước là do thu nhập từ các khoản đầu tư vào Công ty khác tăng. [4] Thu nhập tài chính năm nay tăng so với năm trước là do thu nhập từ các khoảng đầu tư vào Công ty khác tăng. [5] Lãi vay năm nay giảm so với năm trước là do lãi suất vay của năm nay giảm hơn so với năm trước . [6] Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm nay giảm so với năm trước là do đơn vị được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo TT03/2009/BTC . [7] Lợi nhuận năm nay tăng so với năm trước là chi phí lãi vay giảm , chi phí quản lý doanh nghiêp giảm , do doanh thu tài chính tăng các khoản tăng này đều tăng lớn hơn giá vốn tăng Đặc biệt lợi nhuận sau thuế tăng so với năm trước là do trong năm 2009 đơn vị đươc giảm thuế thu nhập Theo TT03/2009/BTC.

BẢNG TỔNG HỢP PHÂN TÍCH HỆ SỐ
Các hệ số thông thường sử dụng Hệ số thanh toán Hệ số thanh toán hiện hành Hệ số thanh toán nhanh Hệ số thanh toán bằng tiền TS ngắn hạn/Nợ ngắn hạn (TS ngắn hạn – HTK)/Nợ ngắn hạn Tiền/Nợ ngắn hạn 0,88 1,08 -0,20 -22,73 Công thức áp dụng Năm 2009 Trước KT Năm 2008 VND Biến động %

0,75

0,88

-0,13

-17,33

0,09

0,05

0,04

44,44

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 43

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Ý kiến nhận xét về khả năng thanh toán So với năm ngoái thì các hệ số thanh toán của đơn vị có giảm hơn, do đó khả năng thanh toán năm trước tốt hơn năm nay. Trong năm nay tất cả các hệ số thanh toán của đơn vị đều < 1 nên dẫn đến khả năng thanh toán của đơn vị không tốt lắm.

Hệ số đo lường hiệu quả hoạt động Vòng quay các khoản phải thu Vòng quy hàng tồn kho Vòng quay vốn lưu động (Doanh thu/Phải thu KH) X 365 2.828,20 4.072,29 -1.244,09 -43,99

(Gía vốn hàng bán/HTK) x 365

13.287,22

15.607,4

-2.320,18

-17,46

Doanh thu/(TS ngắn hạn -41,70 111,2 -152,90 366,67 – Nợ NH) Ý kiến nhận xét về hiệu quả hoạt động: Vòng quay các khoản phải thu năm 2009 nhỏ hơn năm 2008 chứng tỏ khả năng thu hồi tiền từ khách hàng của đơn vị không tốt bằng năm ngoái điều này có thể ảnh hưởng đến đơn vị do nợ tồn đọng lâu năm của đơn vị trong năm 2009 có thể nhiều hơn năm ngoái vì vậy KTV cần quan tâm đến việc phân loại tuổi nợ và trích lập dự phòng phải thu khó đòi. Ngoài đó vòng quay hàng tồn kho chậm hơn so với năm ngoái chứng tỏ khả năng luân chuyển của hàng tồn kho giảm đi, dẫn đến có khả năng có hàng tồn đọng, cũng có thể có hàng hóa kém phẩm chất. KTV cần xem xét kiểm kê hàng tồn kho thực tế và cách bảo quản hàng tồn kho của đơn vị.

 Nhận xét chung về giai đoạn lập kế hoạch: Nhìn chung, trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên AAC sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trên thì có những ưu và nhược điểm như sau: - Ưu điểm: Việc sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trên trong giai đoạn lập kế hoạch là tương đối phù hợp. Ở kỹ thuật phỏng vấn, kiểm toán viên đã thực hiên phỏng vấn theo từng giai đoạn rất rõ ràng và cụ thể, thiết kế Bảng câu hỏi đưa người trả lời xoáy vào trọng tâm chính của vấn đề, tránh trả lời lang man. Đồng thời với việc quan sát sơ bộ đã giúp kiểm toán viên AAC có được cái nhìn ban đầu về doanh nghiệp, thuận tiện cho việc thực hiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng tiếp theo cũng như đi vào kiểm toán chính thức.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 44

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Nhược điểm: Ở kỹ thuật phân tích, kiểm toán viên AAC hầu như rất ít sử dụng trong giai đoạn này. Và nếu sử dụng kỹ thuật phân tích thì cũng chưa thực sự sử dụng hết các chỉ tiêu phân tích báo cáo tài chính để phân tích. Điều này sẽ làm kiểm toán viên bị hạn chế tầm nhìn chung về đơn vị khách hàng. 2.2.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán. 2.2.2.1. Kiểm kê. Kiểm kê là một phương tiện trực tiếp của quá trình xác minh sự hiện hữu tài sản có tồn tại hay không, mang tính chất khách quan nên kỹ thuật kiểm kê cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà kiểm toán viên có thực hiện kiểm kê hay không thực hiện kiểm kê. Đối với AAC, khi bước vào kiểm toán chính thức trưởng đoàn kiểm toán sẽ phân công cho từng thành viên trong nhóm chịu trách nhiệm kiểm toán các tài khoản khác nhau. Các thành viên được giao trách nhiệm kiểm toán các tài khoản như: tiền mặt, hàng tồn kho, tài sản cố định… sẽ yêu cầu đơn vị cung cấp Biên bản kiểm kê cho kiểm toán viên. Sau đó, kiểm toán viên AAC sẽ sử dụng lại Biên bản kiểm kê do đơn vị khách hàng cung cấp như một bằng chứng có hiệu lực chứ rất ít khi thực hiện kiểm kê lại. Vì chi phí chuẩn bị cho một cuộc kiểm kê khá tốn kém và thời gian của cuộc kiểm toán thường bị giới hạn. Nếu đơn vị khách hàng chưa tiến hành kiểm kê và chưa có Biên bản kiểm kê thì kiểm toán viên AAC sẽ kết luận đó là thiếu sót của đơn vị. Đồng thời, các hợp đồng kiểm toán của AAC thường được ký sau ngày kết thúc niên độ, nên vào thời điểm kiểm kê tại 31/12, ngày kết thúc niên độ, kiểm toán viên không thể có mặt để tham gia trực tiếp vào việc kiểm kê hay chứng kiến kiểm kê. Nhưng cũng có những trường hợp, hợp đồng kiểm toán của AAC được ký kết trước ngày kết thúc niên độ. Lúc này AAC sẽ được khách hàng cung cấp lịch kiểm kê. Vì thế, việc tham gia trực tiếp vào kiểm kê hay chứng kiến kiểm kê vào ngày kết thúc niên độ là có thể. Nhưng vì điều kiện và chi phí nên AAC rất ít khi thực hiện công việc kiểm kê hay chứng kiến kiểm kê này. Trong một số rất ít các trường hợp, khi không tham gia kiểm kê hay chứng kiến kiểm kê vào ngày kết thúc niên độ. Trong cuộc kiểm toán sau ngày kết thúc niên độ, nếu cảm thấy nghi ngờ hoặc không tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị thì kiểm toán viên AAC sẽ tiến hành kiểm kê lại. Với kết quả kiểm kê có được kết hợp với việc tính toán kiểm toán viên sẽ tìm ra số dư tại ngày kết thúc niên độ đó. Từ đó,

-

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 45

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

kiểm toán viên sẽ xác định được Biên bản kiểm kê của đơn vị khách hàng cung cấp có chính xác và tin cậy hay không. Ví dụ: Biên bản kiểm kê do đơn vị khách hàng cung cấp.
CÔNG TY CP ABC THỪA THIÊN HUẾ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN KIỂM KÊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH Cửa hàng Vinh Thanh (Bê Thương) Hôm nay, ngày 31 tháng 12 năm 2009 chúng tôi gồm: 1. Ông(Bà): Nguyễn Văn Vinh Chức vụ: Tổ trưởng. 2. Ông(Bà): Huỳnh Nhật Tân Chức vụ: Tổ viên. 3. Ông(Bà): Nguyễn Xuân Thương Chức vụ: Trưởng cửa hàng. Cùng tiến hành kiểm kê tài sản có tại cửa hàng như sau: STT 1 2 3 4 5 6 7 8 Tên TSCĐ Bồn chứa xăng dầu 12m3 Bồn chứa xăng dầu 10m3 Cột bơm điện tử 1 vòi Khung bơm điện tử 1 vòi Trạm bơm xăng dầu Bình chữa cháy Bảng giá xăng dầu Thép kẽm mạ màu rêu TỔNG CỘNG ĐVT Cái Cái Cái Cái Cái Cái Cái Cái Số lượng Sổ sách Thực tế 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 51,6 51,6 Thừa(+) Thiếu(-) Ghi chú

Kiến nghị của tổ kiểm kê:……………………………………………………………………………… Đề nghị của cửa hàng:………………………………………………………………………………….. Hội đồng kiểm kê ký tên

2.2.2.2. Xác minh tài liệu. Xác minh tài liệu là kỹ thuật đươc kiểm toán viên sử dụng nhiều nhất trong quá trình kiểm toán chính thức, nó chiếm khối lượng lớn trong tổng thời gian của một cuộc kiểm toán. Tại AAC, xác minh tài liệu cũng được chia thành hai cách sau: - Từ chứng từ gốc lên sổ sách kế toán. - Từ sổ sách kế toán kiểm tra ngược về chứng từ gốc. Hai kỹ thuật này sẽ được kiểm toán viên sử dụng xen kẽ nhau, nhưng thường thì kiểm tra từ sổ sách kế toán ngược về chứng từ gốc là cách mà các kiểm toán viên AAC sử dụng nhiều hơn. Khi cuộc kiểm toán chính thức bắt đầu, sau khi được trưởng phân công nhiệm vụ kiểm toán các tài khoản, từng thành viên tiến hành kiểm tra tài khoản như sau:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 46

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

• Trước hết, kiểm toán viên sẽ đối chiếu số dư đầu kỳ. Với đơn vị khách hàng là khách hàng cũ, từ báo cáo tài chính kỳ này do đơn vị khách hàng cung cấp, kiểm toán viên sẽ đối chiếu số dư đầu kỳ này với số dư cuối kỳ của báo cáo kiểm toán kỳ trước do chính AAC kiểm toán. - Còn với khách hàng là khách hàng mới thì kiểm toán viên có thể thu thập bằng chứng kiểm toán về số dư đầu kỳ bằng cách xem xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên kỳ trước. Từ hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên kỳ trước, kiểm toán viên AAC sẽ lấy số dư cuối kỳ của tài khoản trên báo cáo tài chính phát hành sau kiểm toán kỳ trước, đem đối chiếu với số dư đầu kỳ của báo cáo tài chính kỳ này mà đơn vị vừa cung cấp. Từ cách đối chiếu trên kiểm toán viên sẽ xác định được việc kết chuyển số dư cuối kỳ trước sang đầu kỳ này có chính xác hay không, xem xét các số dư đầu kỳ đã được phản ánh theo chế độ kế toán được áp dụng trong kỳ trước và được áp dụng nhất quán trong kỳ này không. Ví dụ: kiểm toán viên AAC thực hiện đối chiếu số dư đầu kỳ Tiền và các khoản tương đương tiền và thể hiện trên giấy tờ làm việc như sau: -

CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Chủ đề: Tiền và các khoản tương đương tiền. Niên độ: 31/12/2009 Người lập Thiện Người kiểm tra Tr.Hiền Ngày 17/3/2010 Ngày 18/3/2010 D140 Trang 2/3

Mục tiêu: Đảm bảo các khoản tiền và tương đương tiền là có thực; đánh giá đầy đủ, chính xác, đúng niên độ; trình bày trên BCTC phù hợp với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Thực hiện: 1. Kiểm tra các nguyên tắc kế toán được áp dụng: → Không có thay đổi trong việc áp dụng các nguyên tắc kế toán so với năm trước. 2. Đối chiếu số liệu đầu kỳ: CĐPS đơn vị BCKT năm 2008 Chênh lệch

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 47

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

TK 111 TK 112 → khớp số liệu

414.686.351 685.389.601

414.686.351 685.389.601

-

Trong một số trường hợp, khi báo cáo tài chính kỳ trước chưa được kiểm toán, đã được kiểm toán nhưng kiểm toán viên AAC không thoả mãn sau khi đã thực hiện các thủ tục kiểm tra mà không thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, hoặc việc kiểm tra đối chiếu số dư đầu kỳ ở trên có xảy ra chênh lệch thì kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung. Ví dụ: đối với tài sản cố định, khi kiểm tra số phát sinh đầu kỳ, kiểm toán viên thực hiện thủ tục kiểm toán bổ sung bằng cách kiểm kê hoặc chứng kiến kiểm kê. Sau đó, kiểm toán viên sẽ thu thập tất cả các bằng chứng được cho là tin cậy về sự tăng giảm tài sản cố định trong kỳ, từ đó kiểm toán viên sẽ tính toán ra được số dư đầu kỳ một cách dễ dàng. • Sau khi kiểm tra số dư đầu kỳ, kiểm toán viên sẽ kiểm tra số liệu trên tài khoản đó. - Trước tiên, từ Bảng cân đối số phát sinh do đơn vị khách hàng cung cấp kiểm toán viên tiến hành đối chiếu với sổ cái. Việc đối chiếu tiến hành như sau: trên Bảng cân đối số phát sinh sẽ thể hiện số dư đầu kỳ, phát sinh Nợ, phát sinh Có và số dư cuối kỳ của tất cả các tài khoản đơn vị khách hàng sử dụng hạch toán. Kiểm toán viên chịu trách nhiệm kiểm toán từng tài khoản nào sẽ tiến hành đối chiếu số liệu của tài khoản đó trên Bảng cân đối số phát sinh với sổ cái của tài khoản đó. Xem thử các số dư và số phát sinh trên Bảng cân đối số phát sinh và Sổ cái đã khớp đúng hay chưa. - Tiếp đến, kiểm toán viên sẽ đi vào kiểm tra chi tiết chứng từ: Từ Sổ cái, sổ chi tiết hoặc bảng kê chứng từ của đơn vị khách hàng kiểm toán viên sẽ kiểm tra chứng từ gốc của các nghiệp vụ trên sổ xem các nghiệp vụ phát sinh đó có đầy đủ chứng từ đi kèm hay không, số tiền trên hóa đơn chứng từ đã phản ảnh đúng hay chưa... Đối với những tài khoản có các nghiệp vụ phát sinh ít, kiểm toán viên sẽ kiểm tra chứng từ toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh đó. Ví dụ: Trích việc kiểm tra khoản mục tài sản cố định như sau:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Chủ đề: Tài sản cố định Người lập Nguyễn Thanh Liêm Ngày 17/3/2010

D740

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 48

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Niên độ: 31/12/2009

Người kiểm tra Tr.Hiền

Ngày 18/3/2010

Trang 3/

Thực hiện: - Chọn các tài sản tăng trong năm để tiến hành kiểm tra chứng từ gốc có liên quan; đối chiếu với kế hoạch, thủ tục mua sắm TSCĐ và sự phê duyệt của BGĐ. *Do trong năm các nghiệp vụ phát sinh ít nên kiểm tra 100% nghiệp vụ phát sinh: 1. Tăng giá trị TSCĐ cửa hàng Nam Thượng (N211/241) 316.187.990 → Biên bản bàn giao đưa vào sử dụng ngày 01/07/2009 2. Tăng giá trị TSCĐ cửa hàng Vỹ Dạ 115.088.788 → Biên bản bàn giao đưa vào sử dụng ngày 01/01/2009 3. Tăng giá trị TSCĐ_Hầm bồn (trạm bơm xăng dầu) 58.228.795 → Biên bản bàn giao đưa vào sử dụng ngày 01/11/2009

Nhưng thực tế đối với những tài khoản có số lượng nghiệp vụ phát sinh trong kỳ quá lớn thì kiểm toán viên không thể nào kiểm tra toàn bộ 100% chứng từ của toàn bộ nghiệp vụ phát sinh được, vì một cuộc kiểm toán luôn bị giới hạn bởi thời gian. Chính vì vậy, khi kiểm tra các tài khoản có nghiệp vụ phát sinh lớn, kiểm toán viên sẽ chọn mẫu để kiểm tra. Hiện tại, ở AAC có sử dụng chương trình chọn mẫu qua hệ thống máy tính: “ chương trình chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ (CMA)”, được trang bị trong máy tính cá nhân. Nhưng trong thực tế khi đi kiểm toán, ít khi kiểm toán viên AAC dùng đến chương trình này. Chủ yếu kiểm toán viên sẽ chọn mẫu theo ý kiến chủ quan của mình. Ví dụ: Đối với TK 111, có rất nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ, do đó kiểm toán viên thường chọn các nghiệp vụ có số tiền phát sinh từ 2.000.000đ trở lên để kiểm tra chứng từ, chú ý đến các nghiệp vụ phát sinh Có. Đối với TK 331, kiểm toán viên chú trọng đến các nghiệp vụ thanh toán bằng tiền mặt, nếu các nghiệp vụ thanh toán từ 20.000.000đ trở lên thì sẽ chuyển khoản (TK112) chứ không thanh toán bằng tiền mặt…. Đối với các tài khoản nói chung, các nghiệp vụ lạ, nghiệp vụ đối ứng chi phí đều được kiểm toán viên AAC hết sức chú ý và kiểm tra kỹ. Các nghiệp vụ kiểm tra phải có đầy đủ chứng từ hợp lý, hợp lệ. Ví dụ: kiểm tra nghiệp vụ phát sinh Có tài khoản 112_tiền gửi ngân hàng, phải có Uỷ nhiệm chi và Hóa đơn tài chính kèm theo. Hóa đơn được xem là hợp lệ khi: ngày, tháng, năm hóa đơn đầy đủ chính xác; đúng Mã số thuế, địa chỉ; hóa đơn không tẩy xóa; có đầy đủ chữ ký của người mua, người bán, thủ trưởng đơn vị…..

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 49

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Ví dụ: Kiểm toán viên được phân công trách nhiệm kiểm toán tài khoản tiền mặt sẽ xem xét đối chiếu các sổ sách là biên bản kiểm kê quỹ, sổ chi tiết, sổ cái, bảng cân đối kế toán và các chứng từ có liên quan. Kết quả thể hiện trên giấy làm việc như sau:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty TNHH C Chủ đề: TK 111 Niên độ: 31/12/2010 Người lập Huệ Người kiểm tra Ngày 16/3/11 Ngày

Trang 1/…

SDĐK: SPSN: SPSC: SDCK:

58.174.375 3.381.884.031 3.428.833.531 11.224.875 ( : khớp chi tiết )

Kết luận: 1/ Một vài khoản thanh toán công tác phí không có giấy đi đường kèm theo (PC 03/1;10/11….) → Lưu ý đơn vị 2/ Chi phí mua mực in, số tiền 4.040.000đ: Hóa đơn không có MST, Tên, địa chỉ người bán → Đề nghị loại trừ 3/ Đơn vị thanh toán tiền vé máy bay: không có hành trình bay, thẻ lên máy bay (PC 35/11), số tiền: 5.168.091đ, VAT: 449.909 → Đề nghị bổ sung hoặc loại trừ. CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty TNHH C Chủ đề: TK 111 Niên độ: 31/12/2010 Phương pháp: - Đối chiếu số liệu sổ cái sổ chi tiết và Biên bản kiểm kê - Kiểm tra PS Có – Chi phí - Kiểm tra nghiệp vụ lạ (nếu có) Thực hiện kiểm toán: 1/ Đối chiếu số liệu giữa sổ và Biên bản kiểm kê - Sổ: 11.224.875 - BBKK: 11.224.500 → Chênh lệch 375đ do số lẻ trong thanh toán. Người lập Huệ Người kiểm tra Ngày 16/03/11 Ngày

Trang 2/…

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 50

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

2/ Kiểm tra nghiệp vụ: Chứng từ PC 03/01 Nội dung Chi phí công tác PC 10/11 Thanh toán công tác phí Đà Nẵng PC 29/11 Chi phí mua mực in TKĐƯ 627 133 627 133 627 Stiền 2.201.818 58.182 2.763.636 276.364 4.040.000 Ghi chú → Thiếu giấy đi đường. → Thiếu giấy đi đường. → không MST, địa chỉ người bán. PC 35/11 Vé máy bay 627 133 5.168.091 449.909 → Không hành trình, thẻ lên máy bay.

2.2.2.3. Xác nhận. Tại AAC, dựa vào mẫu thư xác nhận của VACPA ban hành trong chương trình kiểm toán mẫu, AAC đã xây dựng lại mẫu thư xác nhận cho phù hợp với công ty mình. Cụ thể thư xác nhận có hai dạng như sau: - Dạng thư xác nhận có số dư: đã thể hiện rõ số dư cần xác nhận trên thư. - Dạng thư xác nhận không có số dư: không thể hiện rõ số dư cần xác nhận trên thư mà đề nghị bên thứ ba ghi rõ số dư cần xác nhận hoặc có ý kiến khác. • Mẫu thư xác nhận có số dư:
Công ty Y Địa chỉ: Thành Phố XY Kính gửi: Công ty TNHH B THƯ XÁC NHẬN CÔNG NỢ Kính thưa Quý vị. Theo ghi chép của chúng tôi, số dư tài khoản của Quý Công ty trên sổ sách của chúng tôi như sau: Số dư vào cuối ngày 31/12/2010, Khoản phải trả/phải thu Quý công ty như sau: Khoản chúng tôi phải trả cho Quý Công ty: Khoản chúng tôi phải thu Quý Công ty: XXXXXXX VND VND

Cho mục đích kiểm toán các Báo cáo tài chính của chúng tôi (không phải mục đích yêu cầu hay cam kết thanh toán), rất mong Quý vị xác nhận tính đúng đắn của số dư nêu trên và gửi trực tiếp đến kiểm toán viên của chúng tôi (không phải gửi cho chúng tôi) theo địa chỉ sau:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 51

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Công ty Kiểm toán & Kế toán - AAC 217 Nguyễn Văn Linh Quận Thanh Khê Thành phố Đà Nẵng Việt Nam

Người nhận: Tel: +84 (511) 3655886 Fax: +84 (511) 3655887 Email: aac@dng.vnn.vn

Nếu Quý vị không đồng ý với số dư trên, vui lòng trả lời trực tiếp kiểm toán viên của chúng tôi (không phải chúng tôi) với đầy đủ chi tiết của sự khác biệt. Tất cả các xác nhận qua Fax đề nghị có bản sao y bản chính/hoặc bản xác nhận bản gốc và được gửi bằng thư sau đó. Những thông tin này rất cần thiết với chúng tôi , kính mong Quý vị trả lời trong thời gian sớm nhất [trước ngà… tháng… năm ….] Chân thành cảm ơn sự hợp tác của Quý vị. Trân trọng kính chào. ……, ngày …. Tháng…. năm ….. 1. Nếu Quý vị đồng ý với số dư nêu trên, xin vui lòng điền vào: Tôi/chúng tôi xác nhận số dư trên là đúng. Dấu/Tên công ty Chữ ký: Chức vụ: Ngày : 2. Nếu Quý vị không đồng ý với số dư nêu trên, xin vui lòng cho biết chi tiết: Tôi/chúng tôi không đồng ý với số dư trên. Chi tiết của sự khác biệt như sau: Dấu/Tên công ty Chữ ký: Chức vụ: Ngày : .

• Mẫu xác nhận không có số dư:
Công ty Y Địa chỉ: Thành Phố XY Kính gửi: Công ty TNHH B THƯ XÁC NHẬN CÔNG NỢ Kính thưa Quý vị, Cho mục đích kiểm toán Báo cáo tài chính của chúng tôi (không phải mục đích yêu cầu hay cam kết thanh toán), rất mong Quý vị xác nhận số dư khoản phải trả/ phải thu Quý Công ty (bằng cách điền vào phần để trống dưới đây) tại ngày 31/12/2009 như sau: Khoản chúng tôi phải trả cho Quý Công ty: Khoản chúng tôi phải thu Quý Công ty: VND VND

Xin vui lòng điền vào số dư mà chúng tôi còn phải trả (phải thu) quí công ty và ký xác nhận vào phần cuối của lá thư này và gửi trực tiếp đến kiểm toán viên của chúng tôi (không phải gửi cho chúng tôi) theo địa chỉ sau: Công ty Kiểm toán & Kế toán - AAC Người nhận:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 52

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

217 Nguyễn Văn Linh Quận Thanh Khê Tel: +84 (511) 3655886; DĐ: Thành phố Đà Nẵng Fax: +84 (511) 3655887 Việt Nam Email: aac@dng.vnn.vn Tất cả các xác nhận qua Fax đề nghị có bản sao y bản chính /hoặc bản xác nhận bản gốc và được gửi bằng thư sau đó. Những thông tin này rất cần thiết với chúng tôi , kính mong Quý vị trả lời trong thời gian sớm nhất [trước ngày …. tháng …. năm ….] Chân thành cảm ơn sự hợp tác của Quý vị. Trân trọng kính chào, ……, ngày…. Tháng….. năm…..

Dấu/Tên công ty Chữ ký: Chức vụ: Ngày : .

Việc gửi thư xác nhân dạng nào thì tùy thuộc vào ý kiến của kiểm toán viên và tính trọng yếu của khoản mục. Tại AAC, thư xác nhận dạng có số dư thường được sử dụng nhiều hơn dạng thư không có số dư. Nó được xem là đáng tin cậy và có khả năng phản hồi cao hơn. Kỹ thuật gửi thư xác nhận chủ yếu được thực hiện với các tài khoản công nợ như: phải thu khách hàng, tạm ứng, phải trả người bán, thanh toán nội bộ, phải thu, phải trả khác; và tài khoản tiền gửi ngân hàng. Thông thường, việc gởi thư xác nhận đều phải do đơn vị khách hàng thực hiện trước khi kiểm toán viên AAC chính thức tiến hành kiểm toán tại công ty khách hàng. Sở dĩ như vậy là để đảm bảo rằng các kết quả xác nhận số dư phải có đầy đủ trước khi kiểm toán viên quyết định về các thử nghiệm chi tiết. Vì thế, kiểm toán viên AAC trong đa số các cuộc kiểm toán, AAC đều sử dụng các thư xác nhận của đơn vị khách hàng. Nhưng kiểm toán viên AAC sẽ vẫn gửi thư xác nhận cho bên thứ ba trong một số trường hợp sau: - Đối với khách hàng mới: để kiểm tra tính chính xác của các số dư, AAC đều thực hiện việc gởi thư xác nhận đối với tất cả các tài khoản công nợ và tiền gửi ngân hàng. Vì với các khách hàng mới, kiểm toán viên cần có những bằng chứng mang tính khách quan hơn để các kết luận được chính xác.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 53

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Đối với khách hàng cũ, kiểm toán viên AAC chỉ thực hiện khi đơn vị khách hàng chưa thực hiện xác nhận, hoặc chưa xác nhận hết. Việc gửi thư xác nhận đến bên thứ ba sẽ được kiểm toán viên AAC thực hiện như sau: B1: Thu thập danh sách công nợ và tài khoản ngân hàng cần xác nhận: Trước khi gửi thư xác nhận, kiểm toán viên yêu cầu đơn vị cung cấp danh sách công nợ và tài khoản ngân hàng cần xác nhận mà đơn vị khách hàng đã xác nhân hoặc danh sách các đơn vị chưa có xác nhận. B2: Chọn đối tượng cần gửi xác nhận: Đối với các doanh nghiệp lớn, từ danh sách được khách hàng cung cấp, nếu các công nợ hay tài khoản ngân hàng có số lượng quá lớn thì kiểm toán viên sẽ lựa chọn một số công nợ hay tài khoản ngân hàng để gửi thư xác nhận, việc lựa chọn công nợ nào tùy thuộc vào ý kiến chủ quan của kiểm toán viên. B3: Lấy địa chỉ: kiểm toán viên AAC yêu cầu đơn vị khách hàng cung cấp địa chỉ của bên thứ ba được chọn để gửi thư xác nhận. B4: Lập thư xác nhận: Sau khi thu thập các thông tin về bên thứ ba, kiểm toán viên sẽ điền tên địa chỉ của bên thứ ba vào thư xác nhận theo mẫu sẵn có của công ty AAC. B5: Gửi thư xác nhận: Khi đã lập xong thư xác nhận, kiểm toán viên tiến hành gửi thư xác nhận đến bên thứ ba yêu cầu họ xác nhận. Việc gửi thư này kiểm toán viên AAC thường gửi qua đường bưu điện. B6: Nhận thư phúc đáp, kiểm tra và lưu thư: Sau khi nhận được thư phúc đáp từ bên thứ ba, kiểm toán viên sẽ dùng Thư xác nhận công nợ hay tài khoản ngân hàng đã được phúc đáp đó đem đối chiếu với số dư trên sổ sách của đơn vị khách hàng. Trường hợp thư xác nhận được bên thứ ba phúc đáp nhưng có xảy ra chênh lệch thì kiểm toán viên sẽ tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch bằng cánh phỏng vấn những người có liên quan... Sau khi phỏng vấn mà vẫn không có đầy đủ bằng chứng tin cậy thì chệnh lệch đó được xem la sai sót. Và cuối cùng kiểm toán viên sẽ lưu thư xác nhận được phúc đáp trên vào hồ sơ làm việc. Còn nếu không nhận được sự phản hồi từ bên thứ ba thì kiểm toán viên sẽ thực hiện các thủ tục thay thế khác. 2.2.2.4. Quan sát, phỏng vấn. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán này, kỹ thuật quan sát phỏng vấn được kiểm toán viên AAC thực hiện mọi lúc mọi nơi khi có vấn đề nghi vấn hoặc cũng có thể là ngẫu nhiên.

-

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 54

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

• Quan sát: Trong quá trình kiểm toán, quan sát là kỹ thuật mà hầu như các kiểm toán viên AAC đều không thể hiện trên giấy làm việc, vì vậy rất khó nhận ra sự áp dụng của nó trong giai đoạn này. Tuy nhiên, đôi khi kỹ thuật này cũng được kiểm toán viên thể hiện trên giấy làm việc. Ví dụ: việc quan sát kiểm kê tài sản cố định tại Công ty Cổ Phần ABC được kiểm toán viên thể hiện chung trên giấy tờ làm việc như sau:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Chủ đề: Tài sản cố định Người lập Nguyễn Thanh Liêm Người kiểm tra Tr.Hiền Ngày 17/3/2010 Ngày 18/3/2010

D740 Trang 2./...

Niên độ: 31/12/2009

Mục tiêu: - TSCĐ hữu hình, XDCB dở dang là có thực, thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Quan sát thực tế TSCĐ: - Tham gia kiểm kê thực tế TSCĐ cuối kỳ, đảm bảo rằng việc kiểm kê được thực hiện phù hợp với các thủ tục và chệnh lệch giữa số thực tế và kế toán được xử lý thích hợp. → Đơn vị thực hiện kiểm kê đầy đủ và phù hợp Lấy xác nhận của bên thứ ba giữ TSCĐ (nếu có) hoặc trực tiếp quan sát (nếu trọng yếu) → Đơn vị không có tài sản do bên thứ ba nắm giữ.

Ngoài ra, kiểm toán viên AAC có thể quan sát một cách ngẫu nhiên bất kỳ nơi nào. Cụ thể như: quan sát máy móc, trang thiết bị của đơn vị…để nhìn nhận về sự hiện hữu, mới cũ của chúng. Đối với các kiểm toán viên có kinh nghiệm thì quan sát là sự bổ sung rất cần thiết cho các kỹ thuật khác. Ví dụ: khi kiểm toán tại Công ty TNHH A, một kiểm toán viên AAC được trưởng đoàn kiểm toán giao kiểm toán khoản mục tài sản cố định. Vì, tại thời điểm kiểm kê tài sản cố định kiểm toán viên không thể có mặt để trực tiếp chứng kiến kiểm kê. Nhưng bằng kỹ thuật quan sát, kiểm toán viên đã phát hiện tại phòng kế toán thiếu một máy Photocopy so với biên bản kiểm kê và sổ sách kế toán. Kiểm toán viên phỏng vấn kế toán thì được biết máy photocopy đã được mang đi sửa chữa và qua việc kiểm tra lại chứng từ, sổ sách kiểm toán viên phát hiện kế toán trong đơn vị chưa hề ghi tăng chi phí sửa chữa, mặc dù chi phí đó đã thực sự phát sinh. Từ đó kiểm toán viên đã đề nghị kế toán trong đơn vị điều chỉnh bổ sung.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 55

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Qua đó, ta có thể thấy kỹ thuật quan sát tuy không được thể hiện rõ ràng trong quá trình kiểm toán, nhưng tầm quan trọng của kỹ thuật này là một điều không thể phủ nhận. • Phỏng vấn: Nếu ở giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên AAC dùng kỹ thuật phỏng vấn để đánh giá sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng, thì ở giai đoạn này cũng bằng kỹ thuật phỏng vấn, kiểm toán viên sẽ đi vào đánh giá chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc đánh giá rủi ro kiểm soát… đối với từng khoản mục, chu trình. Quy trình phỏng vấn ở giai đoạn này cũng tương tự trong giai đoạn lập kế hoạch. Cụ thể: - Bước vào giai đoạn thực hiện kiểm toán, sau khi trưởng đoàn kiểm toán AAC phân chia trách nhiệm kiểm toán các tài khoản cụ thể cho từng thành viên trong nhóm. Khi đó, thành viên chịu trách nhiệm kiểm toán các tài khoản đó sẽ xác định đối tượng cần phỏng vấn là ai? Thường thì người được kiểm toán viên AAC chọn phỏng vấn trong giai đoạn này là kế toán chịu trách nhiệm và các cá nhận có liên quan về tài khoản mà kiểm toán viên đang kiểm toán. Tiếp đến, kiểm toán viên sẽ xác định mục tiêu cần đạt được về vấn đề cần quan tâm và từ đó đi vào xây dựng các Bảng câu hỏi cho phù hợp với mục tiêu đặt ra. Nhưng khác với giai đoạn lập kế hoạch, Bảng câu hỏi được xây dựng trong giai đoạn này có thể là Bảng câu hỏi với câu trả lời “Yes/No” hoặc câu trả lời việclời phỏng vấn sẽ trả lời câu hỏi theo sự hiểu biết của mình và kiểm toán viên AAC sẽ hệ thống và ghi lại câu trả lời đó vào Bảng câu hỏi nói trên) về nội dung đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi ro kiểm soát… của các tài khoản đó. - Kết thúc phỏng vấn, kiểm toán viên cũng sẽ đưa ra kết luận về vấn đề đã phỏng vấn và lưu Bảng câu hỏi vừa phỏng vấn được vào hồ sơ làm việc. Việc làm trên sẽ giúp kiểm toán viên AAC đưa ra được kết luận về hệ thống kiểm soát nội bộ của chu trình là tốt hay chưa tốt, rủi ro kiểm soát ở mức cao hay thấp …và đưa ra ý kiến thực hiện kiểm tra cơ bản ở mức độ nào. Ví dụ 1:
ĐÁNH GIÁ TÍNH HOẠT ĐỘNG HỮU HIỆU CỦA CÁC THỦ TỤC KSNB CỦA CHU TRÌNH BÁN HÀNG, PHẢI THU VÀ THU THU TIỀN.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 56

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Mục tiêu kiểm soát

Thủ tục kiểm soát chính

Thủ tục kiểm toán hệ thống KSNB

Tham chiếu tài liệu kiểm tra chi tiết [C120]

Hài lòng với kết quả kiểm tra hay không? (Y/N) Y

Có tin tưởng vào kiểm soát nội bộ hay không? (Y/N) Y

Sửa đổi kế hoạch kiểm tra cơ bản Thực hiện kiểm tra cơ bản ở mức độ trung bình.

Các khoản doanh thu là có thật và đều được ghi nhận

-Đối với doanh thu cước: Các doanh mục cước phát sinh từ các đài và các đơn vị được gửi về ghép cước và đối soát tại 2 bộ phận độc lập là Phòng Giá cước tiếp thị và Công ty Tin học. Số liệu ghi nhận doanh thu của kế toán được lấy từ chương trình cước sau khi được kiểm tra,đối soát bởi các bộ phận độc lập. -Đối với doanh thu phân chia: Đối chiếu số liệu đã ghi nhận doanh thu với các Biên bản phân chia doanh thu giữa Viễn thông và các đơn vị có liên quan.

-Phỏng vấn về quy trình tính cước, ghi nhận doanh thu và thu thập kiểm tra tài liệu.

-Phỏng vấn về thủ tục ghi nhận doanh thu phân chia và thu thập,kiểm tra tài liệu. Phỏng vấn kế toán đài và kế toán Công ty điện thoại.

Các khoản phải thu là có thật và đều được ghi nhận

Mỗi khách hàng đều có một mã riêng và được kết xuất dữ liệu liên quan từ chương trình tính cước sang. Thông báo tính cước và hóa đơn cho khách hàng được in từ cùng hệ thống tính cước. Trước khi in Thông báo tính cước và hóa đơn, kế toán xác định chính xác số tiền còn phải thu khách hàng. Hàng ngày kế toán kiểm soát số tiền đã thu thông qua đối chiếu với bộ phận theo dõi nợ.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 57

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Các khoản phải thu là các khoản có khả năng thu tiền KẾT LUẬN

Theo quy định 20 ngày sau khi kết thúc tháng mà khách hàng chưa trả tiền thì hệ thộng tự động khóa máy.

Phỏng vấn kế toán thu nợ công ty điện thoại.

Có kiểm tra hay không? (Y/N) 1.KTV có tin tưởng vào hệ thống KSNB chính của chu trình bán hàng,phải thu và thu tiền có thể ngăn ngừa,phát hiện kịp thời các sai sót trọng yếu 2.KTV có tin tưởng vào hệ thống KSNB chính của chu trình bán hàng,phải thu và thu tiền có thể ngăn ngừa,phát hiện kịp thời các sai sót trọng yếu 3.Có vấn đề phải đưa và thư quản lí và thư giải trình của BGĐ liên quan đến các điểm yếu của hệ thống KSNB về chu trình bán hàng,phải thu và thu tiền

Có hài lòng với kết quả kiểm tra hay không? (Y/N) Y

Tham chiếu

Ý kiến hoặc phát hiện Thực hiện kiểm tra cơ bản ở mức độ trung bình Thực hiện kiểm tra cơ bản ở mức độ trung bình

Y

Y

Y

Y

Y

Ví dụ 2:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC AUDITING AND ACCOUNTING COMPANY Khách hàng: C.Ty CP ABC Niên độ kế toán: Năm 2009 Mục đích: Đánh giá RRKS đối với các khoản vay. Người lập: Người kiểm tra: Người soát xét: Ngày: 18/3/2010 Ngày: Rủi ro kiểm toán Có ảnh hưởng nghiêm trọng đến BCTC

Câu hỏi

1. Khách hàng có thường xuyên đối chiếu tiền vay với người cho vay không? 2. Khách hàng có theo dõi được khoản tiền lãi phải trả cho người cho vay không? 3. Khi tiến hành cho vay nợ, khách hàng có tính đến hiệu quả sử dụng của đồng vốn đi vay hay không? 4. Khách hàng có theo dõi thời hạn trả nợ của từng món vay không?

No No Yes Yes

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 58

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

5. Các hợp đồng vay có được theo dõi đầy đủ không? 6. Việc hạch toán các khoản đi vay có đúng kỳ không? 7. Khách hàng có đi vay với lãi suất quá với quy định không? Kết luận: • HTKSNB: Tốt Bình thường X • RRKS: Thấp Trung bình X

Yes Yes No Không tốt Cao

Việc sử dụng Bảng Câu hỏi như trên kiểm toán viên AAC thường áp dụng với các đơn vị khách hàng có qui mô hoạt động lớn, cơ cấu tổ chức của bộ máy kế toán phức tạp… Còn đối với những khách hàng có quy mô hoạt động nhỏ, bộ máy kế toán đơn giản hoặc có quy mô lớn nhưng mới đi vào hoạt động được một khoảng thời gian tương đối ngắn, bộ máy kế toán chưa ổn định và chưa có quy định rõ ràng về quy chế kiểm soát nội bộ thì kiểm toán viên AAC chỉ thực hiện phỏng vấn trực tiếp kết hợp với một số kỹ thuật khác mà không cần sử dụng bảng câu hỏi để giảm bớt khối lượng công việc của kiểm toán viên. Sở dĩ AAC có thể thực hiện như vậy vì lúc này kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro kiểm soát là cao và phải tăng việc thực hiện các thử nghiệm cơ bản. Tuỳ thuộc vào từng khách hàng đặc thù mà Bảng câu hỏi của AAC có thể bổ sung hoặc rút ngắn các nội dung không cần thiết. Như ở trên đã trình bày, trong quá trình làm việc kiểm toán viên có thể phỏng vấn bất kỳ khi nào nếu thấy nghi vấn một vấn đề hay phát hiện ra sai phạm. Một ví dụ: Kiểm toán viên AAC kiểm toán năm 2009 cho Công ty XYZ, khi tiến hành kiểm toán tài khoản Tiền mặt, kiểm toán phát hiện ra các sai sót trong các nghiệp vụ chi tiền và thể hiện trên giấy làm việc như sau:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty XYZ Chủ đề: Tài khoản 111 Niên độ: 31/12/2009 Người lập Người kiểm tra Ngày Ngày Trang 2./...

Chứng từ Nội dung SH PC 125 PC 140 NT 11/10/2009 Chi tiền tiếp khách Chi lương tháng 11

TK ĐƯ 642

Số tiền 70.000.000

Ghi chú Phiếu chi không ghi ngày tháng chi tiền. Bảng thanh toán lương không có ký nhận đầy đủ của cán bộ công nhân viên.

5/11/2009

334

120.000.000

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 59

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

PC 250

21/12/2009

Thanh toán tiền chi phí bốc xếp.

6278

720.000

Không có hoá đơn tài chính.

Khi các sai sót trên được phát hiện, kiểm toán viên AAC đã phỏng vấn về các vấn đề trên, kế toán trả lời như sau: Phiếu chi không ghi ngày tháng, bảng thanh toán lương không có đủ chữ ký của nhân viên là do sơ suất của kế toán, còn thanh toán chi phí bốc xếp không có hoá đơn tài chính là do đơn vị tiến hành thuê ngoài thoả thuận đơn giá bằng miệng → kiểm toán viên đề nghi bổ sung. Như vậy, nhờ phỏng vấn quan sát mà kiểm toán viên đưa ra được nhận định chính xác hơn, ví dụ: kiểm toán viên không biết những việc làm của khách hàng là gian lận hay sai sót, bằng phỏng vấn quan sát kiểm toán viên sẽ thu thập được nhiều bằng chứng để đưa ra kết luận đúng đắn, chấp nhận số liệu hay đưa ra ý kiến loại trừ. 2.2.2.5. Tính toán. Tại AAC, tính toán là kỹ thuật được kiểm toán viên sử dụng xuyên suốt trong quá trình kiểm toán chính thức. Kỹ thuật tính toán thường được áp dụng khi kiểm toán các tài khoản, nghiệp vụ mang những đặc thù về số học, ví dụ như: khấu hao, chi phí trả trước (phân bổ), chi phí lãi vay hay các nghiệp vụ thanh toán gồm nhiều chứng từ, hoá đơn... Việc tính toán của kiểm toán viên AAC được thể hiện như thế nào trên giấy tờ làm việc là tùy vào từng tài khoản. - Đối với các tài khoản số liệu tính toán đơn giản thì kiểm toán viên sẽ thể hiện trên giấy tờ làm việc. - Còn những tài khoản mà việc tính toán phức tạp thì kiểm toán viên sẽ sử dụng máy tính cá nhân đã được trang bị các phần mềm tiện ích để tính toán lại số liệu. Vì thế ít được kiểm toán viên thể hiện cụ thể trên giấy tờ làm việc. Ví dụ như: muốn tính toán lại xem việc tính khấu hao của đơn vị đã đúng hay chưa, thay vì ngồi tính lại bằng tay thì kiểm toán viên sẽ dùng phần mềm Excel nhập số liệu và công thức vào bảng do kiểm toán viên thiết kế, từ đó kiểm toán viên sẽ nhanh chóng tìm được kết quả. Với kết quả vừa tính được đem đối chiếu với bảng khấu hao của đơn vị, kiểm toán viên sẽ đưa ra được ý kiến về tính chính xác về mặt số liệu của đơn vị.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 60

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Ngoài ra, kiểm toán viên còn tính toán lại số liệu trên chứng từ như: tính toán lại khoản thành tiền trên hóa đơn, mức thuế suất, tổng cộng trên phiếu nhập-xuất kho... Nhưng việc tính toán không đơn thuần chỉ dừng lại ở đó. Cụ thể: - Đối với khách hàng mới của AAC: kiểm toán viên sẽ tiến hành tính lại số dư đầu kỳ. Tức là thông qua sổ sách, chứng từ kiểm toán viên sẽ xác định số dư cuối kỳ của các tài khoản. Tiếp đến, thu thập các bằng chứng đáng tin cậy về số phát sinh nợ và số phát sinh có trong kỳ. Từ đó kiểm toán viên sẽ dễ dàng xác định được số dư đầu kỳ của các tài khoản. Kiểm toán viên thực hiện tính toán, xác định lại số dư đầu kỳ khi số liệu của đơn vị chưa được kiểm toán ở năm trước hoặc đã được kiểm toán nhưng kiểm toán viên không cảm thấy chắc chắn. Việc tính toán này rất ít khi kiểm toán viên thể hiện trên giấy tờ làm việc, hầu như là không. - Đối với khách hàng cũ của AAC: Vì đã được AAC kiểm toán ở năm trước nên số dư đầu kỳ năm nay chính là số dư cuối kỳ của năm trước đã được kiểm toán chuyển sang. Kiểm toán viên chỉ cần đối chiếu với hồ sơ kiểm toán năm trước. Vậy nên kiểm toán viên chỉ đi vào xem xét lại việc tính toán của đơn vị. Sau đây là một vài ví dụ về kỹ thuật tính toán của AAC trong quá trính kiểm toán chính thức: Ví dụ 1; Tại Công ty A, khi kiểm toán viên kiểm toán tài khoản 351_ Qũy dự phòng trợ cấp mất việc làm. Nhìn vào Bảng Cân Đối Số Phát Sinh, kiểm toán viên thấy được trong năm 2009 tài khoản 351 không có số phát sinh (công ty không trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm). Số dư hiện đang tồn tại là số dư từ đầu năm (tức là của cuối năm 2008 chuyển sang). Để xem xét việc không trích lập qũy này của đơn vị khách hàng là đúng hay sai, kiểm toán viên tiến hành tính toán lại và thể hiện trên giấy tờ làm việc như sau:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty A Chủ đề: Tài khoản 351 Niên độ: 31/12/2009 SDĐK: 226.577.849 SPSN: SPSC: SDCK: 226.577.849 PY Người lập Người kiểm tra Ngày Ngày Trang 1./1

PY

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 61

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Kết luận: đồng ý số liệu CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty A Chủ đề: Tài khoản 351 Niên độ: 31/12/2009 Mục tiêu: - Đảm bảo Qũy dự phòng trợ cấp mất việc làm là có thực. Kiểm tra trích quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm: Trong năm đơn vị không trích thêm quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm Tổng quỹ lương năm nay của đơn vị: 1.139.690.036 (*) 1%x(*) 11.396.900 3%x(*) 34.190.701 (1) Số dư đầu kỳ của dự phòng trợ cấp mất việc làm: 226.577.849 (2) (2)>(1) nên không trích thêm quỹ dự phòng trợ cấp việc làm. → Đồng ý quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm của đơn vị. Người lập Người kiểm tra Ngày Ngày Trang 1./2

Như vậy, qua việc tính toán kiểm toán viên đã biết được vì sao trong năm đơn vị không trích quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm và đưa ra kết luận về số liệu của đơn vị. Ví dụ 2: Cũng tại Công ty A, một kiểm toán viên thực hiện kiểm toán tài khoản 142, 242. Kiểm toán viên dùng phần mềm Excel để tính lại bảng phân bổ chi phí trả trước của đơn vị. Sau khi tính toán trong náy tính cá nhân của mình, kiểm toán viên thể hiện trên giấy tờ làm việc như sau:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty A Chủ đề: Tài khoản 142,242 Niên độ: 31/12/2009 TK142 SDĐK: SPSN: SPSC: SDCK: 53.280.000 65.025.957 52.718.433 65.587.524 TK 242 40.000.000 454.545.455 100.909.091 393.636.364 Người lập Người kiểm tra Ngày Ngày Trang 1./1

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 62

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty A Chủ đề: Tài khoản 351 Niên độ: 31/12/2009 Người lập Người kiểm tra Ngày Ngày Trang 1./2

Mục tiêu: - Đảm bảo chi phí trả trước là có thực. Kiểm tra lại tính toán của Bảng tổng hợp phân bổ của việc phân bổ chi phí trả trước vào các tài khoản chi phí liên quan: • Sau khi tính toán lại Bảng phân bổ của đơn vị, có sự chệnh lệch như sau: Số liệu đơn vị 51.321.776 100.909.091 Số kiểm toán tính 65.800.603 100.909.091 Chênh lệch (14.478.836) (i) -

TK 142 TK 242

(i) Nguyên nhân do 3 công cụ, dụng cụ tồn đầu kỳ đơn vị chưa thực hiện phân bổ đầy đủ vào chi phí trong kỳ

2.2.2.6. Kỹ thuật phân tích. Kỹ thuật phân tích được AAC áp dụng trong giai đoạn này chỉ nằm ở mức tương đối. Việc sử dụng kỹ thuật phân tích chỉ dừng lại ở mức phân tích biến động của khoản mục qua việc so sánh sự thay đổi của một số dư tài khoản giữa kỳ hiện tại và những kỳ trước đó. Trong giai đoạn này, tuy Trưởng đoàn kiểm toán phân công cho từng thành viên trong nhóm đảm nhận kiểm toán những tài khoản khác nhau, tùy vào trình độ và kinh nghiệm của từng thành viên khi bước vào kiểm toán chính thức. Nhưng việc phân tích sự biến động về mặt số liệu của số dư cuối kỳ từng tài khoản sẽ do trưởng đoàn kiểm toán thực hiện dựa trên Báo cáo tài chính của khách hàng đã cung cấp và đưa ra Bảng số liệu tổng hợp phân tích (theo mẫu của VACPA). Ví dụ: Đối với khoản mục Tiền và các khoản tương đương tiền. Khi tiến hành kiểm toán chính thức tại Công ty Y, trưởng đoàn kiểm toán AAC đã phân công cho một thành viên trong nhóm kiểm toán khoản mục này. Nhưng, trước hết việc phân tích xu hướng biến động số dư cuối kỳ của khoản mục này sẽ do trưởng đoàn thực hiện. Và dưới đây là Bảng Số Liệu Tổng Hợp Tiền và Các Khoản Tương Đương Tiền do trưởng đoàn AAC thực hiện tại Công Ty Y:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 63

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 64

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty Y Ngày khóa sổ: 31/12/2009 Nội dung: BẢNG SỐ LIỆU TỔNG HỢP TIỀN VÀ CÁC KHOẢN TUƠNG ĐƯƠNG TIỀN Người thực hiện Người soát xét 1 Người soát xét 2

D110 Tên Tr.Hiền Th.Hiền

1/1 Ngày 6/3 7/3

TK

Diễn giải

Giấy tờ chi tiết

31/12/2009 Trước KT 3,162, 701 3,162,7 01 _ _

Điều chỉnh thuần _ _ _

31/12/2009 Sau KT _ _

31/12/2008 Sau KT 414,686,351 414,686,351

Biến động Giá trị (411,523,6 50) (411,523,6 50) Tỷ lệ (99.24) % (99.24) % Ghi chú

111 111 1 111 2 111 3 112 112 1 112 2 112 3

Tiền mặt tại quỹ Tiền mặt VNĐ Tiền mặt ngoại tệ Vàng, bạc, kim khí quý, đá quý

Tiền gửi ngân hàng Tiền gửi ngân hàng VNĐ Tiền gửi ngân hàng ngoại tệ

3,482,574,7 92 3,482,574,7 92 _

_

_ _

685,389,601 685,389,601

2,797,185,1 91 2,797,185,1 91

408.12 %

_

Vàng, bạc, kim khí quý, đá quý

Tổng cộng c/c TB,GL vvv xxx PY c/c

TB,GL: Khớp với số liệu trên bảng CĐPS và Sổ Cái

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 65

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

PY: Khớp với báo cáo kiểm toán năm trước c/c: Kiểm tra việc cộng tổng và đồng ý vvv: Tham chiếu đến bảng tổng hợp điều chỉnh kiểm toán xxx: Tham chiếu đến số liệu trên BCTC đã được kiểm toán

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 66

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Sau đó, kiểm toán viên hoặc trợ lý kiểm toán viên đảm nhận kiểm toán tài khoản đó sẽ tìm hiểu, đồng thời thể hiện sự biến động của khoản mục bằng lời và nguyên nhân gây ra sự biến động đó trên giấy tờ làm việc của mình. Cụ thể: tại Công Ty Y như sau:
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty TNHH Y Chủ đề: Tiền và các khoản tương đương tiền Niên độ: Năm 2009  Phân tích: Số dư cuối kỳ của tiền mặt năm nay giảm so với năm 2008 là 99,24%. Sự chênh lệch này mang tính chất thời điểm. Số dư cuối kỳ của tiền gửi năm nay tăng so với năm 2008 là 408,12%. Sự chênh lệch này mang tính chất thời điểm. Sự biến động trên còn do ngày 31/12 đơn vị nộp tiền mặt vào TK Ngân Hàng số tiền: 1.700.780.000 → sẽ kiểm tra tính có thực của nội dung trên. Người lập Thiện Người kiểm tra Tr.Hiền Ngày 06/3/2010 Ngày 07/3/2010

Trang 2./3

-

Nói chung, dựa trên việc phân tích trên nếu thấy có sự biến động lớn hay bất thường thì kiểm toán viên tiến hành kiểm tra, xem xét các nguyên nhân gây ra sự biến động bất thường, đối chiếu giữa các số liệu trên các sổ sánh kế toán với chứng từ phát sinh, tính toán lại khoản mục có biến động, so sánh chúng với kết quả của đơn vị được kiểm toán. Nếu như số liệu trung khớp thì có thì có nghĩa là mục tiêu kiểm toán đã đạt được, chứng tỏ khoản mục của đơn vị được kiểm toán phản ánh trên báo cáo tài chính là trung thực và hợp lý. Còn nếu có sự chênh lệch thì kiểm toán viên sẽ tiến hành kiểm tra, tìm hiểu nguyên nhân của sự chênh lệch đó. Tóm lại, các kiểm toán viên của AAC hầu như sử dụng phân tích để định hướng cho các thử nghiệm cơ bản. Tuy nhiên, vì kỹ thuật này đòi hỏi rất nhiều kinh nghiệm và đầu óc phán đoán, gần như chỉ có các kiểm toán viên trưởng đoàn áp dụng. Thực tế cho thấy phân tích vẫn đang là một kỹ thuật được các kiểm toán viên chú trọng phát triển.  Nhận xét chung về giai đoạn thực hiện kiểm toán: Trong giai đoạn này, các kỹ thuật thu thập bằng chứng của kiểm toán viên AAC sử dụng có ưu và nhược điểm như sau:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 67

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

-

Ưu điểm: Kiểm toán viên đã vận dụng được các kỹ thuật phù hợp với từng thời điểm. Giúp kiểm toán viên đưa ra được các quyết định kịp thời đối với việc đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính. Đặc biệt: Với kỹ thuật xác nhận, kiểm toán viên đã linh hoạt trong việc gửi thư xác nhận, thiết kế được mẫu thư xác nhận rõ ràng cụ thể. Xác minh tài liệu rất chi tiết, giúp kiểm toán viên phát hiện nhiều sai sót trong quá trình kiểm toán chính thức. Áp dụng kỹ thuật tính toán phù hợp với từng đối tượng, sử dụng phần mềm ứng dụng Excel đối với các tài khoản phải tính toán nhiều và phức tạp, từ đó giúp kiểm toán viên tiết kiệm được thời gian.

Nhược điểm: bên cạnh những ưu điểm nói trên, trong quá trình kiểm toán chính thức này vẫn còn những mặt hạn chế trong quá trình kiểm toán viên sử dụng các kỹ thuật để thu thập bằng chứng: - Ở kỹ thuật kiểm kê, đa số kiểm toán viên chỉ sử dụng biên bản kiểm kê của đơn vị khách hàng chứ không tiến hành thực hiện kiểm kê hay chứng kiến kiểm kê. - Kỹ thuật quan sát ít được thể hiện trên giấy tờ làm việc. - Đối với kỹ thuật phân tích, việc sử dụng kỹ thuật này trong giai đoạn thực hiện kiểm toán chủ yếu chỉ dừng lại ở việc phân tích biến động của số dư cuối kỳ này so với số dư cuối kỳ trước. 2.2.3. Giai đoạn kết thúc kiểm toán. Sau khi kết thúc giai đoạn kiểm toán chính thức, kiểm toán viên đi vào giai đoạn cuối cùng của một cuộc kiểm toán đó là kết thúc kiểm toán. Ở giai đoạn này kiểm toán viên sẽ tổng hợp, kết luận và lập báo cáo tài chính. Thực tế ở AAC, trong giai đoạn này kiểm toán viên không áp dụng nhiều kỹ thuật thu thập bằng chứng để có kết luận tổng quát về báo cáo tài chính. Thường thì kiểm toán viên soát xét lại giấy tờ làm việc và phỏng vấn kế toán trưởng về những vấn đề còn chưa rõ. Đồng thời, kiểm toán viên sẽ thu thập giải trình của Ban Giám đốc. Đây là loại hình bằng chứng đặc biệt mà kiểm toán viên AAC hay sử dụng nhất. Và sẽ lưu vào trong hồ sơ kiểm toán. Sau đó kiểm toán viên sẽ thống nhất với đơn vị khách hàng về các bút toán điều chỉnh đối với các khoản mục trên báo cáo tài chính còn tồn tại sai sót. Các bút toán điều chỉnh sẽ được lưu vào File kiểm toán.  Mẫu Giải trình của Ban giám đốc tại công ty CP ABC:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 68

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------x-------------THƯ GIẢI TRÌNH CỦA BAN GIÁM ĐỐC Kính gửi: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Thư này được lập ra nhằm phục vụ việc kiểm toán Báo cáo tài chính cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2009 của Công ty Cổ phần ABC, nhằm đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, trên các khía cạnh trọng yếu, về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của Công ty phù hợp với Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan. Trong phạm vi trách nhiệm và sự hiểu biết của mình, chúng tôi xác nhận các vấn đề sau: (1) Chúng tôi khẳng định là báo cáo tài chính đã được lập và trình bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu và phù hợp với Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan.

(2) Chúng tôi đã chuyển cho kiểm toán viên của Công ty TNHH Kiểm toán ABC xem xét tất cả các tài liệu,
chứng từ, sổ sách kế toán liên quan, kể cả các biên bản họp Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc liên quan đến hoạt động của Công ty. (3) Chúng tôi khẳng định là đã cung cấp toàn bộ các thông tin về các bên có liên quan. (4) Công ty đã tuân thủ tất cả các điều khoản quan trọng của các hợp đồng có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Không có bất kỳ hành vi không tuân thủ nào liên quan đến các yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền, có thể có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. (5) Các yếu tố sau đây đã được ghi nhận một cách đúng đắn và trong trường hợp cần thiết các thông tin thích hợp đã được nêu ra trong phần thuyết minh báo cáo tài chính: a. Số dư và nghiệp vụ được thực hiện với các bên có liên quan. b. Thỏa thuận và khả năng mua lại các tài sản đã được chuyển nhượng trước đây. c. Các tài sản được đem đi thế chấp. (6) Chúng tôi không có bất kỳ một kế hoạch hay dự tính nào có thể làm sai lệch đáng kế sổ liệu kế toán bằng cách phân loại tài sản và khoản nợ đã được phản ánh trong báo cáo tài chính. (7) Chúng tôi không có bất kỳ một kế hoạch nào nhằm thu hẹp quy mô hoạt động, không có kế hoạch hay dự tính nào có thể dẫn đến tình trạng hàng tồn kho ứ đọng hoặc lạc hậu; và không có bất kỳ một khoản hàng tồn kho nào được hạch toán với giá trị cao hơn giá trị thực hiện thuần. (8) Công ty là chủ sở hữu tất cả các tài sản trên báo cáo tài chính và không có bất kỳ một tài sản nào đang được cầm cố, thế chấp hoặc bị cầm giữ. (9) Tất cả các khoản nợ, cam kết vay và các khoản bảo lãnh của Công ty với bên thứ ba đã được Công ty hạch toán và giải trình trong phần thuyết minh Báo cáo tài chính. (10) Hiện tại, ngoài sự kiện như đã trình bày trên Thuyết minh Báo cáo tài chính, Công ty không có bất kỳ sự kiện nào khác phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm có ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính hoặc giải trình trong phần thuyết minh. Trân trọng, Huế, ngày 17 tháng 03 năm 2010 Giám đốc

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 69

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

 Nhận xét chung về giai đoạn kết thúc kiểm toán: • Ưu điểm: Kiểm toán viên đã thu thập và sử dụng loại hình kiểm toán đặc biệt Thư giải trình của Ban Giám Đốc nhằm một phần xác minh tính trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính. Chưa áp dụng được nhiều kỹ thuật thu thập bằng chứng cho giai đoạn kết thúc kiểm toán này.

• Nhược điểm: -

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 70

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

PHẦN III: BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC. 3.1. Nhận xét chung về kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC. 3.1.1. Thuận lợi. Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC là công ty đang ngày càng phát triển và đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong nhiều năm liền. Hiện nay, Công ty không chỉ phát triển và trở thành thương hiệu ở Đà Nẵng mà còn cả khu vực Miền Trung Tây nguyên và một số tỉnh thành ở phía Nam, Bắc. Sự phát triển ấy một mặt chủ quan là nhờ vào đội ngũ nhân viên nhiệt tình, luôn cố gắng vì công ty. Với những kiến thức được trang bị đầy đủ và luôn cố gắng tìm tòi học hỏi nâng cao hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực kiểm toán nên tất cả các nhân viên công ty đang có những cống hiến đáng được ghi nhận. Trong mỗi cuộc kiểm toán nói riêng, sự thành công là ở chỗ kiểm toán viên có thể đưa ra những nhận định chính xác về tình hình của doanh nghiệp. Để đạt được điều này, các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán đã đóng góp không nhỏ. Nhưng trước hết vẫn là nhờ vào nhân tố chủ quan là con người. Các nhân viên của AAC đều có kinh nghiệm và kiến thức chuyên ngành vững chắc nên khi thực hiện kỹ thuật thu thập bằng chứng đều mang lại hiệu quả, thu thập được những bằng chứng có độ tin cậy cao. Bên cạnh đó, công ty AAC cũng đã thiết lập cho mình các kỹ thuật gần như rất tốt và nhiều thủ tục rất có hiệu quả. Cụ thể: - Đối với kỹ thuật quan sát - phỏng vấn: Công ty AAC đã thiết lập được các bảng câu hỏi rất chi tiết và tập trung được toàn bộ các vấn đề được coi là quan trọng có thể ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính được kiểm toán từ đó có thể đánh giá được rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát sau này. Không chỉ thực hiện khi bước đầu trong giai đoạn lập kế hoạch mà việc quan sát, phỏng vấn này đã được thực hiện rất linh hoạt trong suốt quá trình kiểm toán, nhất là giai đoạn thực hiện kiểm toán chính thức, đôi khi có thể được thực hiện do nhu cầu phát sinh khi kiểm toán viên quan sát thấy những dấu hiệu bất thường, có nhiều vấn đề phát sinh cần tìm

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 71

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

hiểu, nhưng các nhân viên của AAC đã biết cách vận dụng rất hiệu quả mặc dù chưa có sự chuẩn bị kỹ từ trước. - Đối với kỹ thuật xác nhận: AAC đã có lập các mẫu thư xác nhận phù hợp cho từng mục đích và trường hợp (mẫu thư xác nhận đã có điền sẵn số dư và mẫu thư xác nhận đề nghị điền vào số dư). Đồng thời, kiểm toán viên đã rất linh động trong các tình huống, ví dụ: khi không nhận được xác nhận hay xác nhận không khớp thì việc thực hiện các thủ tục bổ sung sẽ được kiểm toán viên AAC cân nhắc, tránh tình trạng bị động khi mùa kiểm toán đang tới gần và thời gian chính thức không cho phép. Bên cạnh kết cấu thư xác nhận đảm bảo đủ nội dung cần thiết thì việc thường xuyên sử dụng thư xác nhận dạng có số dư đã tạo điều kiện có lợi hơn cho khả năng nhận được phản hồi cao nhất. Ngoài ra, việc thu thập bằng chứng kiểm toán mang lại hiệu quả cũng một phần nhờ vào việc những qui định về cách thức trình bày, lưu trữ các hồ sơ được cung cấp. Ví dụ: các biên bản xác nhận hay kiểm kê, AAC qui định một ký hiệu riêng trên giấy làm việc (CC1, CC2,...) Các bước thực hiện trong kỹ thuật tính toán cũng phải được ghi lại rõ ràng. Mỗi kiểm toán viên sẽ chịu trách nhiệm thu thập các loại bằng chứng liên quan đến tài khoản mình phụ trách và đánh tham chiếu. Những qui định này đã giúp cho việc sử dụng bằng chứng được thuận tiện hơn. Ngoài ra, các hồ sơ làm việc còn được sử dụng cho các cuộc kiểm toán những năm tới, vì vậy trình bày một cách rõ ràng sẽ tạo điều kiện để kiểm toán viên năm sau dễ nắm bắt tình hình. 3.1.2. Hạn chế. Bên cạnh những mặt thuận lợi mà Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC đã thực hiện được, thì cũng có những hạn chế không kém phần đáng quan tâm đến. Cụ thể: - Với kỹ thuật quan sát phỏng vấn, các bảng câu hỏi nhằm đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát…không phải ở bất kỳ cuộc kiểm toán nào cũng được các kiểm toán viên AAC thực hiện. Có rất nhiều cuộc kiểm toán, kiểm toán viên đã bỏ qua những công việc nà, khiến cho cuộc kiểm toán không tập trung ngay được vào vấn đề trọng tâm từ giai đoạn lập kế hoạch. Từ đó, kiểm toán viên sẽ không khoanh vùng được rủi ro, tốn nhiều thời gian và gặp nhiều khó khăn trong việc đi vào kiểm toán chính thức. - Đối với kỹ thuật kiểm kê, kiểm toán viên AAC hầu như chỉ sử dụng Biên bản kiểm kê của khách hàng. Rất ít khi kiểm toán viên tham gia kiểm kê tại ngày kết

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 72

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

thúc niên độ với khách hàng hay kiểm kê lại sau ngày kết thúc niên độ. Đây là do sức ép bởi thời gian kiểm toán, do tốn kém thời gian và chi phí. Vì vậy, mặc dù trong kiểm toán, còn có nhiều kỹ thuật thay thế như xác minh tài liệu… Tuy nhiên chất lượng bằng chứng thu thập của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán sẽ giảm sút. - Kỹ thuật phân tích: trong hầu hết các cuộc kiểm toán việc phân tích ít khi được kiểm toán viên AAC thể hiện trên giấy làm việc, và đa phần chỉ có trưởng đoàn kiểm toán tiến hành phân tích, vì thế các thành viên khác trong đoàn kiểm toán sẽ không có thông tin nào của việc phân tích này. Mặc dù, khi thành viên nào phụ trách khoản mục nào cũng có sự phân tích nào đó cho khoản mục mình kiểm toán song mức độ áp dụng các kỹ thuật này còn nhiều hạn chế. Thường chỉ sử dụng các phương pháp về phân tích xu hướng để thấy sự biến động của các chỉ tiêu. Từ đó tìm nguyên nhân của sự biến động đó. Thêm vào đó, trình độ kiểm toán viên để đọc và hiểu hết về thủ tục phân tích còn nhiều bất cập (chủ yếu kiểm toán viên đi vào kiểm tra chi tiết nhiều hơn đối với áp dụng kỹ thuật này). 3.2. Định hướng chung về hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC. Từ những hạn chế về việc áp dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng nói trên, em xin xây dựng một số định hướng nhằm hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán tại công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC như sau: - Tăng cường việc sử dụng các Bảng câu hỏi để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát…ở mức tối đa có thể. - Quan sát chứng kiến kiểm kê: sử dụng mẫu Chương trình quan sát chứng kiến kiểm kê của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam. - Xây dựng chương trình kiểm kê và tham gia trực tiếp vào việc kiểm kê cùng với đơn vị khách hàng. - Thực hiện cụ thể hóa hơn các chỉ tiêu phân tích. Ngoài các định hướng nêu trên, việc tạo lập được uy tín và niềm tin đối với khách hàng là vô cùng quan trọng. Vì thế công ty luôn phải nâng cao chất lượng dịch vụ của mình với một mức phí kiểm toán phù hợp. Cần quán triệt đầy đủ việc áp dụng đúng đắn và có hiệu quả hơn nữa các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 73

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Có định hướng đào tạo đội ngũ nhân viên lành nghề, thường xuyên cho nhân viên đi tập huấn để cập nhật các thông tin mới về ngành. Tăng cường các trang thiết bị phục vụ cho công tác của nhân viên trong Công ty. Ngày càng phải hoàn thiện chương trình làm việc, học hỏi các Công ty khác để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nâng cao hơn nữa chất lượng của bằng chứng kiểm toán thu thập. 3.3. Biện pháp hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. Với những hạn chế trong quá trình áp dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán của Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC, nếu khắc phục được thì hiệu quả của các cuộc kiểm toán sẽ được cải thiện hơn rất nhiều. Vì vậy, bằng vốn kiến đã học được ở trường và những nghiên cứu qua đợt thực tập và quá trình đi thực tế cùng các anh, chị trong Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC vừa qua, em xin được đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện hơn việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán như sau: 3.3.1. Phỏng vấn, Quan sát, chứng kiến kiểm kê. 3.3.1.1. Đối với phỏng vấn: Như đã nêu ra ở trên, trong quá trình phỏng vấn Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC có sử dụng các Bảng câu hỏi để thu thập bằng chứng kiểm toán. Nhưng mức độ sử dụng vẫn chưa cao vì thời gian của cuộc kiểm toán thường bị hạn chế. Vì vậy, để tăng cường việc sử dụng các Bảng câu hỏi trên Công ty phải đưa ra nguyên tắc: “Bắt buộc trong các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải thực hiện đầy đủ việc phỏng vấn các cá nhân trong đơn vị khách hàng bằng việc xây dựng các Bảng câu hỏi dưới dạng đã được thiết kế sẵn.” nhằm nâng cao chất lượng của bằng chứng kiểm toán thu thập được. 3.3.1.2. Đối với quan sát chứng kiến kiểm kê: Mặc dù đã áp dụng chương trình kiểm toán mẫu của Hội Kiểm Toán Viên Hành Nghề Việt Nam (VACPA) nhưng công ty AAC vẫn chưa thực sự áp dụng triệt để các biểu mẫu mà VACPA đưa ra. Vậy nên, việc thể hiện quan sát kiểm kê trên giấy tờ làm việc của kiểm toán viên AAC còn rất hạn chế. Chính vì vậy, đối với công việc này, thay vì kiểm toán viên phải ghi lại cụ thể trên giấy tờ làm việc rất tốn thời gian, đôi khi ghi như vậy kiểm toán viên lại ghi chép sơ sài… thì kiểm toán viên AAC nên sử dụng mẫu “Chương trình quan sát, chứng kiến

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 74

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

kiểm kê” của VACPA đã ban hành. Như vậy, sẽ giúp kiểm toán viên thể hiện được những gì mình quan sát được một cách rõ ràng mà không tốn nhiều thời gian. Ví dụ cụ thể mẫu “Chương trình quan sát chứng kiến kiểm kê Hàng tồn kho” như sau:
CÔNG TY Tên khách hàng: Ngày khóa sổ: Nội dung: CHƯƠNG TRÌNH QUAN SÁT, CHỨNG KIẾN KIỂM KÊ HÀNG TỒN KHO MỤC TIÊU D531 Tên Người lập CT Người soát xét 1 Người soát xét 2 75/84 Ngày

A.

Giúp KTV đánh giá hiệu quả thủ tục kiểm kê HTK của đơn vị; Đảm bảo rằng các thủ tục này được tuân thủ trong suốt quá trình kiểm kê nhằm xác định đầy đủ, chính xác số lượng HTK; Thông qua việc quan sát kiểm kê để thu thập thông tin về tình trạng của HTK như: hàng lỗi thời, chậm luân chuyển, hàng hư hỏng, giảm giá, hàng gửi bên thứ 3, hàng nhận giữ hộ,... B. CÔNG VIỆC THỰC HIỆN B.1. Các thông tin chung: 1. 2. 3. 4. 5. 6. Ngày kiểm kê: Địa điểm kiểm kê: KTV tham gia kiểm kê: Thành viên DN tham gia kiểm kê/Chức vụ Đối tượng kiểm kê: Mô tả tính chất, đặc điểm của đối tượng kiểm kê:

B.2 Các thủ tục kiểm tra, đánh giá Tham chiếu Tổng quan 1. Đơn vị có lập kế hoạch kiểm kê. 2. Đơn vị có tài liệu hướng dẫn quy trình/cách thức kiểm kê. 3. Các thủ tục trong tài liệu hướng dẫn kiểm kê là phù hợp để đảm bảo: - Đếm và ghi lại đầy đủ số lượng HTK quan sát thực tế - Xác định chính xác số lượng HTK - Xử lý các khác biệt về đơn vị đo lường thực tế và đơn vị ghi sổ kế toán - Xác định đầy đủ các mặt hàng hỏng, lỗi thời hoặc không sử dụng - Xác định đầy đủ các loại HTK của đơn vị khác gửi hoặc HTK gửi tại đơn vị khác Tham chiếu 4. Khách hàng đã tuân thủ quy trình kiểm kê theo tài liệu hướng dẫn Có Không Không áp dụng Có Không Không áp dụng

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 75

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Tham chiếu

Không

Không áp dụng

Kiểm kê hiện vật 5. KTV đã quan sát tổng quát kho hàng, nhận diện các chủng loại HTK của DN và khu vực bảo quản, lưu trữ 6. HTK đã được sắp xếp một cách thuận tiện cho việc kiểm kê 7. Việc kiểm soát sản xuất và luân chuyển HTK trong quá trình kiểm kê được thực hiện đầy đủ 8. Các khoản mục HTK không kiểm kê đã được sắp xếp tách riêng 9. KTV đã quan sát quy trình kiểm kê của DN và nhận thấy quy trình kiểm kê đó được thực hiện nghiêm túc, đảm báo tính chính xác 10. KTV đã thực hiện chọn mẫu và kiểm đếm lại một số loại HTK để xác định tính chính xác của thủ tục kiểm kê của DN 11. Các chênh lệch kiểm kê đã được xác định kịp thời và nguyên nhân chênh lệch đã được giải thích hợp lý 12. DN có giám sát và kiểm tra quá trình kiểm kê 13. Sản phẩm dở dang đã được xác định hợp lý theo tỷ lệ phần trăm hoàn thành 14. KTV đã quan sát toàn bộ cuộc kiểm kê để đảm bảo tất cả các khoản mục HTK đều được kiểm kê Thủ tục ghi chép 15. Đơn vị đã kiểm soát đầy đủ việc phát hành và thu hồi các tài liệu kiểm kê (thẻ, phiếu kiểm kê,...)? 16. KTV đã nhận được thông tin đầy đủ để đảm bảo những thủ tục kiểm kê sau kỳ và kiểm soát các tài liệu kiểm kê Hàng hỏng, lỗi thời 17. Các loại HTK hỏng, lỗi thời hoặc không sử dụng đã được xác định đầy đủ trong quá trình kiểm kê Các thủ tục khác 18. KTV đã quan sát hoặc xác định địa điểm lưu giữ HTK khác hoặc hàng gửi bán 19. Đảm bảo các loại HTK nhận ký gửi hoặc hàng gửi bán không bao gồm trong HTK kiểm kê C. KẾT LUẬN Theo ý kiến của tôi, trên cơ sở bằng chứng thu thập được từ việc thực hiện các thủ tục ở trên, các mục tiêu kiểm toán trình bày ở phần đầu của chương trình kiểm toán đã đạt được, ngoại trừ các vấn đề tồn tại sau:…………… Chữ ký của người thực hiện:_______________

3.3.2. Hoàn thiện kỹ thuật kiểm kê: Kỹ thuật kiểm kê ít được kiểm toán viên AAC thực hiện như đã trình bày ở phần trên. Chủ yếu kiểm toán viên chỉ sử dụng lại Biên bản kiểm kê của đơn vị khách hàng. Điều này đã không đem lại hiệu quả tối đa theo đúng bản chất của kỹ thuật kiểm kê mang lại. Đồng thời chương trình kiểm kê chính của Công ty cũng chưa thực sự hiệu quả. Chính vì vậy, với vốn kiến thức có hạn của mình, em xin đưa ra một số ý kiến về việc kiểm kê nhằm hoàn thiện nhược điểm trên của công ty để việc thu thập bằng chứng kiểm toán được hiệu quả hơn. SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5 Trang 76

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Kiểm kê luôn phải được thực hiện theo quy trình gồm 3 bước sau
Chuẩn bị kiểm kê.

Thực hiện kiểm kê

Kết thúc kiểm kê

Kiểm kê thường được thực hiện với các khoản mục như: tiền mặt, hàng tồn kho, tài sản cố định. Dưới đây là một vài ý kiến nhằm hoàn thiện thêm chương trình kiểm kê của Công ty, cụ thể: 3.3.2.1. Kiểm kê quỹ tiền mặt. a. Chuẩn bị kiểm kê: Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm kê này, kiểm toán viên cần thực hiện các công việc như sau:
 Xác định nguồn nhân sự: tức là kiểm toán viên phải xác định được ai là người

tham gia vào việc kiểm kê. Ngoài kiểm toán viên tham gia kiểm kê, kiểm kê quỹ sẽ thường có sự tham gia của Thủ quỹ, Kế toán Trưởng (hoặc giám đốc), nhân viên kiểm kê (nếu kiểm toán viên chỉ chứng kiến kiểm kê), kiểm soát viên của đơn vị khách hàng.
 Chuẩn bị hiện vật: kiểm toán viên phải chuẩn bị dụng cụ phục vụ cho việc kiểm

kê: máy đếm tiền, máy soi tiền…và biểu mẫu ghi kết quả kiểm kê.
 Niêm phong quỹ: trước khi kiểm kê, việc quan trọng nhất kiểm toán viên cần

phải làm là niêm phong quỹ. Có thể là niêm phong két, niêm phong các vật dụng cất giữ tiền mặt mà đơn vị khách hàng sử dụng…
 Yêu cầu lập biên bản: đây là công việc cần thiết để củng cố tính pháp lý của

-

công việc kiểm kê và cũng là để cho công việc kiểm toán được dễ dàng trong việc quy trách nhiệm sau này. Với thủ quỹ: Cam đoan tiền mặt có tại quỹ là của đơn vị, cam kết về biện pháp xử lý trong trường hợp thủ quỹ vi phạm để quy kết trách nhiệm và nó sẽ giúp kiểm toán viên trong việc xử lý các sai phạm do lỗi cố ý hoặc không cố ý của thủ quỹ.

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 77

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

-

Với kế toán quỹ: Cam đoan thực hiện việc ghi chép đầy đủ và có đủ chứng từ hợp lý, hợp pháp nhằm chứng minh tính trung thực hợp lý và tránh tình trạng khai khống của kế toán công ty vì một mục đích gì đó.

 Khóa sổ kế toán: việc khóa sổ này sẽ do kế toán thực hiện.

b. Tiến hành kiểm kê.
 Mở niêm phong quỹ: Kiểm toán viên phải mở niêm phong quỹ trước sự chứng

kiến của những người tham gia.
 Phân loại tiền: Sau khi mở niêm phong quỹ kiểm toán viên sẽ tiến hành phân

loại tiền theo từng loại cụ thể.
 Kiểm tiền: Tiền sau khi được phân loại, kiểm toán viên dùng các dụng cụ kiểm

tiền đã chuẩn bị để kiểm và ghi chép trực tiếp vào biểu ghi kết quả kiểm kê. c. Kết thúc kiểm kê. Kết thúc kiểm kê, kiểm toán viên hoàn thành Biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt tồn thực tế tại thời điểm kiểm kê với nội dung cụ thể: Số dư theo sổ quỹ: phiếu thu (đến số…, ngày…), phiếu chi (đến số…, ngày…); tồn tiền mặt theo các sổ sách kế toán: … VND; tồn tiền mặt theo thực tế (kiểm kê theo từng loại tờ tiền: 500.000, 200.000,100.000, …, số tờ, thành tiền), chênh lệch thực tế so với sổ sách, lý do xảy ra chênh lệch. 3.3.2.2. Kiểm kê hàng tồn kho. a. Chuẩn bị kiểm kê:  Kiểm toán viên phải yêu cầu khách hàng ngưng nhập, xuất hàng tồn kho tại kho vào thời điểm này.  Thành phần kiểm kê phải đảm bảo tính khách quan và phù hợp: Ít nhất là phải có Thủ kho, Kế toán kho hàng và một người ở bộ phận khác độc lập không liên quan. Và đôi khi kiểm toán viên phải sử dụng ý kiến của các chuyên gia để kiểm kê tài sản vì có những loại hàng tồn kho không thể cân, đo, đong, đếm được như khi kiểm kê một số loại hóa chất…  Yêu cầu thủ kho sắp xếp lại kho hàng để chuẩn bị cho công việc kiểm kê thực tế. Cần chia tách riêng hàng hỏng, lỗi, hàng gửi, hàng chờ xuất kho... để thuận tiện cho việc đi vào kiểm kê chính thức. b. Thực hiện kiểm kê:  Khi tiến hành kiểm đếm hàng tồn kho phải đếm theo từng loại hàng đã được sắp xếp sẵn để không bị đếm trùng, trong quá trình cân, đo, đong, đếm… đồng thời

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 78

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

đối chiếu với thẻ kho mà thủ kho đã ghi chép. Đếm xong lô hàng hóa, vật tư nào thì nên chốt lại có thể bằng việc dán một mảnh giấy, đóng dấu, ký tên ghi rõ thời điểm kiểm kê.  Kiểm toán viên nên đề nghị các thành viên trong ban kiểm kê đều phải ghi chép khi kiểm đếm và liên tục đối chiếu để đảm bảo sự chính xác, khách quan về số lượng. c. Kết thúc kiểm kê: Kiểm toán viên đưa ra biên bản kiểm kê hàng tồn kho tại đơn vị: phương pháp kiểm kê, nội dung kiểm kê, số lượng hàng tồn kho thực tế tại thời điểm kiểm kê (tên hàng, đơn vị tính, số lượng, tổng số), số lượng hàng hóa tồn kho theo sổ sách kế toán, chênh lệch, kết luận. 3.3.2.3. Kiểm kê tài sản cố định a. Chuẩn bị kiểm kê:  Chuẩn bị nhân sự: Kiểm toán viên cần chú ý rằng tùy theo mô hình quản lý tài sản của đơn vị mà kiểm toán việc chuẩn bị nhân sự kiểm kê cũng sẽ khác. Trường hợp doanh nghiệp nhỏ, quản lý tài sản theo kiểu tập trung thì nhân sự cho cuộc kiểm toán sẽ ít. Còn nếu doanh nghiệp lớn, quản lý tài sản theo kiểu phân tán, thì kiểm toán viên cần chuẩn bị nhân sự nhiều hơn.  Yêu cầu: kiểm toán viên phải yêu cầu đơn vị phân loại tài sản nhận giữ hộ, nhận gia công, tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp một cách riêng biệt. Đồng thời, phải yêu cầu kế toán và thủ kho (hoặc bộ phận quản lý sử dụng tài sản) đối chiếu và chốt số liệu về mặt lượng của các tài sản trước khi kiểm kê. b. Thực hiện kiểm kê:

Tất cả các bộ phận phải bắt đầu kiểm kê và kết thúc kiểm kê cùng một lúc, vì nếu không bắt đầu và kết thúc cùng nhau thì ví dụ có một bộ phận kiểm kê trước trong khi đó các bộ phận khác chưa hoặc đang kiểm kê, lúc này đơn vị có thể di chuyển tài sản từ bộ phận này sang bộ phận khác dẫn tới kết quả kiểm kê sẽ không chính xác.

 Khi kiểm kê kiểm toán viên phải lựa chọn phương pháp kiểm kê là theo vùng, lô hoặc khối…để việc kiểm kê tiết kiệm được thời gian, tránh lộn xộn gây nhầm lẫn. c. Kết thúc kiểm kê:

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 79

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Biên bản kiểm kê phải được lập dưới sự chứng kiến của cả hai bên là đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên, sau đó kiểm toán viên lưu một bản để làm bằng chứng kiểm toán cho công việc kiểm toán của mình. Yêu cầu chung của biên bản kiểm kê là phải chỉ rõ được số lượng tài sản thực tế có tại thời điểm kiểm kê, so với sổ sách đã ghi chép thì thực tế chênh lệch là bao nhiêu và lý do của sự chênh lệch. 3.3.3. Hoàn thiện kỹ thuật phân tích. Thủ tục phân tích có thể được áp dụng cho hầu hết các giai đoạn của quá trình kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế hoạch, nếu sử dụng tốt việc phân tích, kiểm toán viên có thể có được cái nhìn bao quát và chính xác về tình hình công ty, qua đó đưa ra được những kế hoạch kiểm toán cụ thể về các thử nghiệm chi tiết trong giai đoạn tiếp theo. Việc áp dụng hiệu quả kỹ thuật phân tích lúc này sẽ giúp công việc kiểm toán trở nên dễ dàng hơn, vì có mục tiêu và hướng đi cụ thể. Trong các cuộc kiểm toán của kiểm toán viên AAC, tuy kỹ thuật phân tích cũng được sử dụng nhưng vẫn còn rất hạn chế, việc phân tích chỉ dừng lại ở việc phân tích xu hướng là chủ yếu. Còn đối với phân tích tỷ suất thì rất còn hạn chế. Vì vậy, em xin bổ sung thêm một vài chỉ tiêu phân tích tỷ suất nhằm hoàn thiện hơn cho kỹ thuật thu thập bằng chứng này. 3.3.3.1. Phân tích tình hình chung của báo cáo tài chính a. Sử dụng các tỷ suất thể hiện hiệu quả hoạt động. Khi sử dụng kỹ thuật phân tích, kiểm toán viên nên phân tích hiệu quả hoạt động của đơn vị khách hàng qua các tỷ suất như sau:

Khả năng sinh lời trên doanh thu

Lợi nhuận Doanh thu Lợi nhuận trước thuế Tổng tài sản bình quân Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay

Khả năng sinh lời trên tài sản (ROA)

Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu(ROE)

Khả năng sinh lời kinh tế của tài sản (RE)

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 80

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Tổng tài sản bình quân Với những chỉ tiêu này, kiểm toán viên có thể xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong năm kiểm toán. Qua đó, rút ra các nhận xét phục vụ cho quá trình kiểm toán của mình. Ví dụ: Đối với chỉ tiêu khả năng sinh lời trên doanh thu, khi kiểm toán viên tính toán số liệu và thấy rằng khả năng sinh lời trên doanh thu của kỳ này tăng so với kỳ trước. Kiểm toán viên có thể kết luận đây là một dấu hiệu tốt vì chứng tỏ tình hình kinh doanh hoạt động của doanh nghiệp đang diễn biến theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, dưới góc độ kiểm toán thì sự việc nào cũng có khả năng chứa đựng rủi ro. Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu tăng lên có thể hàm chứa những khả năng sai phạm như: Khai khống doanh thu hay khai thiếu chi phí nhằm tăng lợi nhuận. Khi đó, kiểm toán viên sẽ phải kết hợp với việc phân tích xu hướng đối với hai chỉ tiêu lợi nhuận và doanh thu trên. Từ những biến động tăng hoặc giảm có được đó, kiểm toán viên có thể đưa ra kết luận rằng liệu trong trong doanh nghiệp sẽ có khả năng có sai phạm nào (khai khống doanh thu hay khai thiếu chi phí). Như vậy, điều này sẽ giúp kiểm khoanh vùng được rủi ro kiểm toán và đưa ra các quyết định về các thử nghiệm chi tiết. b. Sử dụng các tỷ suất phân tích rủi ro. Thực tế tại AAC, kiểm toán viên cũng đã sử dụng một số tỷ suất phân tích rủi ro như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, hệ số khả năng thanh toán nhanh và hệ số thanh toán bằng tiền (hay còn gọi là khả năng thanh toán tức thời). Nhưng bên cạnh những tỷ suất trên vẫn còn một số tỷ suất phân tích rủi ro mà kiểm toán viên AAC có thể áp dụng như sau:

Đòn bẩy kinh doanh

% thay đổi của lợi nhuận % thay đổi của doanh thu

% thay đổi của ROE % thay đổi của LNTT& lãi vay Khi đòn bẩy kinh doanh hay đòn bẩy tài chính càng cao thì chứng tỏ rủi ro kinh doanh hay rủi ro tài chính càng lớn. Vì vậy: - Đối với đòn bẩy kinh doanh, tỷ suất này có thể giúp kiểm toán viên xem xét về mức độ rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải khi kinh doanh và đầu tư. Đặc

Đòn bẩy tài chính

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 81

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

biệt, với các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực mới hoặc mới vào ngành thì việc đo lường mức độ rủi ro này là rất quan trọng. Vì nhờ vào đó, kiểm toán viên có thể nắm bắt được khả năng sai phạm khi doanh nghiệp đang gánh chịu nhiều áp lực về rủi ro. - Còn đòn bẩy tài chính được xem là công cụ hỗ trợ đắc lực trong trường hợp đơn vị có tỷ suất nợ cao (nợ phải trả nhiều hơn vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn). Nếu kiểm toán các doanh nghiệp có đặc điểm này, kèm theo đòn bẩy tài chính cao thì khả năng sai phạm về thanh toán, các khoản vay hay nợ phải trả khác có thể phát sinh, vì doanh nghiệp đang chấp nhận một mức độ rủi ro khá lớn, mà đến một lúc nào đó, doanh nghiệp có thể tìm cách hạn chế rủi ro bằng những hành vi cố ý. c. Sử dụng phân tích hệ số nợ và hệ số tự tài trợ. Hệ số nợ và hệ số tự tài trợ dùng để phân tích về tình hình vốn chủ của doanh nghiệp. Hệ số nợ Nợ phải trả Tổng tài sản

Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Hai hệ số này có quan hệ mật thiết với nhau theo đẳng thức “Hệ số tự tài trợ = 1 – Hệ số nợ”. Khi hê số tự tài trợ cao (tức: vốn chủ sở hữu > Nợ phải trả) chứng tỏ một nhận định rằng doanh nghiệp có tính tự chủ cao, ít phụ thuộc vào các khoản nợ bên ngoài nên áp lực thanh toán không cao. Song do vốn chủ nhiều nên việc kiểm toán để chứng minh cho quyền sở hữu vốn chủ này cũng được tiến hành nhiều hơn. Như vậy, kiểm toán viên sẽ đi xem xét tính pháp lý của vốn chủ để đảm bảo tình hình doanh nghiệp đúng như những gì báo cáo tài chính thể hiện. Mặt khác nếu như hệ số nợ cao sẽ gây ra nhiều vấn đề hơn mà kiểm toán viên cần phải xem xét tiếp. Hệ số này cao thể hiện đơn vị đang phải vay vốn nhiều, chịu nhiều áp lực về thanh toán nên khả năng xảy ra gian lận trong khoản mục nợ phải trả là điều có thể. Kiểm toán viên nên thực hiện chi tiết nhiều hơn ở các khoản mục này. 3.3.3.2. Phân tích tỷ suất trong quá trình kiểm toán chi tiết qui trình, nghiệp vụ.

Hệ số tự tài trợ

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 82

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

Khi đi vào giai đoạn thực hiện kiểm toán chính thức, kiểm toán viên AAC thường chỉ sử dụng kỹ thuật phân tích dừng lại ở mức phân tích biến động số dư cuối kỳ của tài khoản, và sau đó thường đi vào việc kiểm tra chi tiết chứng từ, sổ sách, và chính vì vậy việc nhìn nhận ban đầu về khoản mục còn hạn chế dẫn đến việc kiểm toán thường kéo dài và mang lại ít hiệu quả hơn. Sau đây em xin bổ sung một vài biện pháp nhằm hoàn thiện nhược điểm này:  Kiểm tra sự biến động về tỷ trọng Tỷ trọng tài sản i Gía trị thuần của tài sản i Tổng tài sản

* 100%

Tỷ trọng nguồn vốn i

Nguồn vốn i Tổng tài sản (hoặc Tổng nguồn vốn

* 100%

Tỷ trọng tài sản, nguồn vốn là chỉ tiêu chung nhất để đánh giá cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Đồng thời, bằng việc so sánh các chỉ tiêu này giữa các năm, kiểm toán viên có thể nhìn thấy chiều hướng biến động và dự đoán được những khả năng về sai phạm có thể có.  Ngoài ra, tại AAC khi đi vào kiểm toán các khoản mục cụ thể, trưởng đoàn kiểm toán nên giao việc phân tích các khoản mục cho cá nhân chịu trách nhiệm phân tích. Vì như vậy thì cá nhân chịu trách nhiệm sẽ nắm bắt được cụ thể tình hình của khoản mục đó, từ đó có những quyết định đúng đắn khi đi vào kiểm tra chi tiết nghiệp vụ.  Đưa việc phân tích hệ số đo lường hiệu quả hoạt động như: Vòng quay các khoản phải thu, Vòng quay hàng tồn kho, Vòng quay vốn lưu động… vào cùng với phân tích tỷ trọng của khoản mục. Tức là, kiểm toán viên AAC thường phân tích các hệ số đo lường hiệu quả hoạt động trong phân tích tình hình chung của Báo cáo tài chính ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Điều này là chưa thực sự hợp lý. Vì thế, kiểm toán viên nên chuyển việc phân tích trên kết hợp với việc phân tích khác trong giai đoạn thực hiện kế hoạch (trước khi đi vào kiểm tra chi tiế nghiệp vụ).

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 83

Luanvan84@gmail.com

download luạn văn tại luanvan.forumvi.com

SVTH: Trần Thị Minh Tâm_K13KKT5

Trang 84

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful