You are on page 1of 5

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và những gì xảy ra trên thị trường tiền tệ Việt Nam

trong thời gian gần đây buộc chúng ta phải quan tâm đến tính ổn định trong hệ thống.Tuy nhiên,tình hình lãi suất huy động vốn trong thời gian qua làm cho nhiều người không khỏi quan ngại đến việc phát triển ổn định, bền vững của hệ thống. Đã có câu hỏi đặt ra: phải chăng có những điều bất thường trong hệ thống?Nếu có thì đó là gì, có nguy cơ đe dọa an ninh của hệ thống ngân hàng?. Bài viết này của chúng tôi sẽ tập trung phân tích những yếu tố với kỳ vọng tìm ra câu trả lời cho câu hỏi trên. Từ thực trạng… Trong những năm gần đây, lãi suất huy động tiết kiệm và lãi suất cho vay trong các ngân hàng thương mại biến động mạnh cả về mức độ và thời gian. Có người cho rằng, lãi suất là giá cả sản phẩm ngân hàng, nên việc biến động đó không có gì đáng nói, đặc biệt đối với nền kinh tế thị trường. Thậm chí , sau khi Ngân hàng nhà nước đã dùng biện pháp hành chính can thiệp để khống chế trần lãi suất tiết kiệm ở mức 14%, “ Nhiều nhà băng đã quay trở lại huy động tiết kiệm với mức 17% một năm sau thời gian phải giữ ở mức 14% do động thái dẹp loạn gắt gao của cơ quan quản lý nhà nước”. Thực trạng này cũng đã được các chuyên gia đề cập trong Hội nghị triển khai các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát của ngành ngân hàng tổ chức ngày 3/3/2011. Theo Tổng thư ký Hiệp hội các ngân hàng thì lãi suất huy động tại một số ngân hàng đã không còn ở 14%, mà có thể trên 17%/năm và diễn ra trên diện rộng, chứ không chỉ ở một vài chi nhánh, phòng giao dịch mới thành lập của các ngân hàng, đang cần quảng bá. (maivoo.com-4.3.2011). Về việc các ngân hàng chạy đua tăng lãi suất để huy động vốn có nhiều ý kiến khác nhau. Một số chuyên gia cho rằng, việc lộn xộn trong lãi suất có phần nào liên quan đến chất lượng tín dụng kém tại một số ngân hàng. Cũng có ý kiến bảo vệ quan điểm về nguyên nhân lạm phát làm tăng lãi suất. Có ngân hàng lấy lý do lãi suất qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng là 20% thì việc huy động vốn ở mức 16-17% là chuyện bình thường .Cũng có ý kiến cho rằng, việc chạy đua huy động vốn bằng cách đẩy lãi suất lên cao là do nguyên nhân ngân hàng thiếu vốn- có nghĩa là tính thanh khoản không đảm bảo… Dự đoán thì nhiều, nhưng điều gì ẩn chứa đằng sau việc tăng lãi suất thì vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Tất cả chỉ là phỏng đoán, suy luận. Nếu xét về yếu tố lạm phát, thì vấn đề cần phải bàn. Nếu xem lạm phát là cơ sở để đẩy lãi suất huy động lên cao thì thiếu thuyết phục; bởi lẽ lạm phát những tháng cuối năm 2010 chưa đến 10%; lạm phát cả năm 2011 dự kiến cũng chỉ ở mức 11,75% (Vneconomy.vn - 1/1/2011); trong khi đó một số ngân hàng đã đưa mức lãi suất huy động tiết kiệm vào thời điểm cuối tháng 10/2010 lên đến mức 17%/ năm, thậm chí có ngân hàng huy động đến 18%/ năm.. Tình hình đó hiện nay vẫn tiếp diễn. Nếu cho rằng, các ngân hàng thương mại huy động vốn để đáp ứng cho hoạt động, thì không ai có thể đồng tình. Thực hiện quyết định của Chính phủ về chống lạm phát, Ngân hàng nhà nước đã khống chế tăng trưởng dư nợ năm 2011 xuống mức dưới 20%. Như vậy, dư nợ tín dụng năm 2011 sẽ thấp hơn dự kiến ban đầu khoảng từ 150.000 tỷ- 180.000 tỷ đồng. Qua đó, áp lực từ hoạt động tín dụng không thể là nguyên nhân đẩy mạnh huy động vốn, kể cả trong trường hợp Ngân hàng nhà nước tăng dự trữ bắt buộc, hay rút gần 100.000 tỷ đồng số vốn Ngân hàng bơm ra nền kinh tế trong dịp trước tết âm lịch năm 2010. Tính đến ngày 10/3/2011 tổng dư nợ tín dụng chỉ tăng 3,68% so với 20% của cả năm (vtc.vn-19.3.2011). Nếu luận giải rằng, do tác động của các thị trường khác, như bất động sản, vàng và ngoại tệ đến việc tăng lãi suất huy động vốn trong hệ thống ngân hàng thương mại thì ý kiến đó chắc không ai chấp nhận được. Bước sang những tháng đầu năm 2011 Ngân hàng nhà nước đã có một loạt các động thái trong khuôn khổ chống lạm phát và ổn định thị trường đã tạo cơ hội cho các ngân hàng thương mại huy động vốn bằng VNĐ. Ví dụ, lãi suất tiền gửi bằng USD bị khống chế ở mức tối đa là 3%; tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng USD tăng lên; một số nghiệp vụ kinh doanh vàng trên thị trường tự do bị hạn chế… Nếu nhận định rằng, do ngân hàng thương mại thiếu thanh khoản nên huy động vốn bằng mọi giá để bù đắp, thì phải cần làm rõ hơn căn cứ khoa học cũng như kinh tế. Báo cáo thường niên năm 2010 của nhiều ngân hàng cho phép chúng ta không đồng thuận với nhận định trên đây. Phải chăng có điều gì đó bất thường trong hệ thống ngân hàng thương mại…? Trước hết, chúng tôi muốn đề cập đến tình trạng thiếu vốn trong hệ thống NHTM. Về việc này, Thống

vốn gửi từ các TCTD khác. trong khi đó Thống đốc Ngân hàng nhà nước cho rằng. Theo Tổng thư ký Hiệp hội các ngân hàng thì nguyên nhân thiếu vốn là do Ngân hàng Nhà nước rút bớt tiền trong lưu thông. Thực trạng trên cũng giống như tình hình của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Hà nội vào tháng 4/2010. liệu các ngân hàng có thực sự thiếu vốn không?. trong trường hợp nguồn vốn trong hệ thống vượt nhu cầu. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên VHĐ&VSH chỉ nằm trong khoảng không quá 81% đối với Vietcombank. Nếu xét trên phạm vi tất cả các ngân hàng TMCP trên địa bàn Hà Nội. các ngân hàng tiếp tục huy động vốn sẽ làm phát sinh rủi ro về lãi suất. kể cả phải thực hiện dự trữ bắt buộc ở mức 6%. các ngân hàng vẫn chưa sử dụng hết nguồn vốn huy động và 1/2 vốn chủ sở hữu (viết tắt là VHĐ&VSH). Thế nhưng. Trường hợp so sánh tổng dư nợ cho vay thị trường I và thị trường II (Thị trường liên ngân hàng) –tức tổng dư nợ cho vay với tổng nguồn vốn gồm: vốn huy động thị trường I. thì tỷ trọng dư nợ trên tổng nguồn đối với hầu hết các ngân hàng chỉ xấp xỉ từ 50-60%. khả năng thanh khoản suy giảm do chất lượng tín dụng chưa tốt. đối với nhiều ngân hàng khác thì tỷ lệ này dưới 70%. vay và gửi của TCTD khác. Nếu tính đến các khoản vốn khác. Theo nguyên tắc của thị trường. như vay của Ngân hàng nhà nước. thậm chí có ngân hàng chỉ sử dụng không quá 50% hai nguồn vốn đó để cân đối nợ cho vay. bao gồm huy động từ dân cư) chỉ nằm trong khoảng từ 50-xấp xỉ 80%. ngân hàng tại sao lại thiếu vốn trong khi trên các báo cáo điều đó không được thể hiện? Câu trả lời vấn đề đặt ra có thể phải tìm kiếm ở chỗ khác. kiềm chế lạm phát của ngành ngân hàng tổ chức ngày 3/3/2011. 50% vốn điều lệ thì hệ số sử dụng vốn chỉ xấp xỉ 40%. Nhưng về bản chất. Vậy thì tại sao nhiều ngân hàng thương mại vẫn chạy đua huy động vốn vượt trần lãi suất? Vì thiếu vốn ?-Không phải! Vì tăng trưởng tín dụng?. (Nguồn NHNN). Điều này có thể nhìn thấy qua các số liệu ở bảng 1.Không đúng!. Phải chăng là do chất lượng tín dụng của . vốn vay của Ngân hàng nhà nước. vốn vay NHNN. chúng ta có thể thấy rằng. các quỹ.. thì tỷ trọng dư nợ cho vay nền kinh tế trên tổng nguồn huy động thị trường I chỉ khoảng 67%. vay của các Tổ chức tín dụng khác.. Từ bảng 1. Từ phân tích trên. Khi mà tỷ trọng dư nợ cho vay nền kinh tế của các ngân hàng trên vốn huy động thị trường I (huy dộng từ nền kinh tế. thì tỷ lệ sử dụng vốn còn thấp hơn nhiều.đốc Ngân hàng nhà nước và Tổng thư ký Hiệp hội các ngân hàng Việt Nam đã đề cập đến trong Hội nghị triển khai các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu tính cả nguồn vốn huy động thị trường I và 50% vốn điều lệ (giả sử các ngân hàng đã sử dụng 50% vốn điều lệ để đầu tư vào tài sản cố định. tham gia góp vốn thành lập các doanh nghiệp…) cộng thêm vốn tự có và các quỹ hình thành trong quá trình kinh doanh. rõ ràng rằng các ngân hàng thương mại không thiếu vốn. Như vậy. việc nghi ngờ hệ thống ngân hàng thiếu vốn là có thể có cơ sở.

“nguồn vốn điều lệ ảo” chính là nguồn vốn ảo trong ngân hàng. công nghệ. bỡi lẽ trong báo cáo của hầu hết các ngân hàng thương mại thì tỷ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng chỉ xoay quanh trên dưới 2% trên tổng dư nợ. Bên cạnh đó. cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành cần áp dụng biện pháp để đánh giá chính xác bản chất tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại. ii/ đảm bảo tăng trưởng tín dụng. Cần có chế tài xử lý cán bộ nhân viên có liên quan đến nợ quá hạn phát sinh do chủ quan trong hoạt động tín dụng. chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại kém.có nghĩa là tài sản cá nhân của các cổ đông. chính là sự lệch pha giữa lý thuyết và thực tiễn. trong đó: -Tập trung kiểm tra lại nguồn vốn điều lệ. (Nguồn từ báo cáo thường niên 2009 của BNTG VN). Điều đó góp phần làm mất cân đối thanh khoản trong hệ thống. nợ quá hạn trong hệ thống hiện nay là bao nhiêu? Trong cơ chế tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay nợ quá hạn có thể không được phản ảnh chính xác và đầy đủ. 30% và lấy số liệu 2009 làm ví dụ để tính toán. thì sẽ có kết quả như ở bảng 3.15%. thì nguồn vốn tín dụng của ngân hàng hoàn toàn có khả năng biến thành nguồn vốn sở hữu của cổ đông ngân hàng. mà tại đó hệ thống ngân hàng thương mại mới thiếu vốn. Nếu chúng ta tính nguồn vốn ngân hàng có bao gồm toàn bộ nguồn vốn huy động cộng với 50% tổng vốn điều lệ. buộc các ngân hàng chạy đua huy động vốn bằng mọi giá để: i/ cân đối nợ quá hạn. chúng tôi cho là hết sức cần thiết.ngân hàng kém. Thay cho lời kết Tìm kiếm sự thật trong hiện tượng. chúng ta có hệ thống giám sát hoạt động ngân hàng tương đối toàn diện về phương diện tổ chức. tài sản cá nhân cổ đông là cổ phần tại ngân hàng thì ngân hàng không thể không chi trả cho cổ đông. để xác định chính xác. xác định bản chất sự việc phía sau hình thức. 5%. các ngân hàng đã có chương trình quản lý rủi ro tín dụng đạt chuẩn mực cao?! Hơn nữa. như: tín dụng “đen”. .tỷ lệ này mới là ngưởng cửa. cán bộ lãnh đạo . nếu thiếu vốn thì nợ quá hạn của hệ thống phải ở mức từ 20-25% .Vấn đề còn lại là cần kiểm chứng lại các nhận định có tính chất lý luận nói trên. giữa hình thức và nội dung. tồn tại nhiều yếu tố khác có thể “lành mạnh hóa” chất lượng tín dụng của ngân hàng.Chúng ta biết rằng. một khách hàng có thể vay vốn tại nhiều ngân hàng khác nhau .000 tỷ đồng. nếu một khách hàng nào đó vay vốn của ngân hàng không trả được nợ. Ví dụ. Chúng ta giả định nợ quá hạn theo các mức 2. Như vậy. Nếu các ngân hàng đầu tư vào các khoản mục khác bằng 50% vốn còn lại. Chả lẽ. thì số tiền “nhàn rỗi” sau cho vay là khoảng 614. Từ những phân tích trên.Vốn vay từ ngân hàng này có thể sử dụng để trả nợ cho ngân hàng kia. Thế nhưng.Về bản chất là đảo nợ. báo cáo của các ngân hàng có vấn đề? Không thể tin được. Vấn đề còn lại là cần phải làm gì? Theo chúng tôi. Ngoài ra. trong khi đó dư nợ cho vay là thật. vì hiện nay hầu hết các ngân hàng đều nhập khẩu hoặc xây dựng phần mềm quản lý ngân hàng hiện đại tiên tiến.000 tỷ đồng.5%. nếu nói rằng. thì vấn đề lại trầm trọng hơn. hoặc chí ra ở mức tương đối. như nhận định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu?! Nhưng. theo lý thuyết và cơ chế cấp tín dụng của các ngân hàng hiện nay. điều bất thường ở đây. ngân hàng có thể sử dụng cơ chế trích lập dự phòng để bù đắp khoản cho vay không thu hồi được. thì số tiền nhàn rỗi – đảm bảo thanh khoản là hơn 300.Kiểm tra và đánh giá lại chất lượng tín dụng trong hệ thống. Điều đó phụ thuộc vào chương trình phần mềm quản lý và cơ chế hạch toán. 20%. 25%. hệ thống kế toán. Chúng tôi muốn phân tích theo cách luận giải của mình với mong muốn làm rõ được nguyên nhân của những bất thường nói trên. Câu nói đó luôn luôn đúng trong cuộc sống. chúng tôi cho rằng sẽ không cần đề cập đến vấn đề nào khác. 10%. Liệu việc tăng vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại trong thời gian qua có xuất phát từ nguồn vốn thực của các cổ đông? Bởi lẽ. Trong trường hợp này NHTM không phải “bức xúc” vì thiếu vốn. Nhân dân ta hay nói “ phòng bệnh hơn chữa bệnh”. con người và chủ trương cũng như chính sách… Như vậy.

ngân hàng nhóm 3 cũng có hạn mức ít hơn. tăng ít nhất 3. theo đó đối với các khoản nợ quá hạn phát sinh do nguyên nhân chủ quan của ngân hàng trích lập và sử dụng quỹ dự phòng tiến hành sau khi ngân hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. một trong những nhân tố thúc đẩy nhanh việc mở rộng mạng lưới ngân hàng thương mại đó là quyết định của Ngân hàng nhà nước cho phép ngân hàng thương mại mở mạng lưới theo tỷ lệ với vốn điều lệcứ 20 tỷ vốn điều lệ ngân hàng được mở một chi nhánh.Ngân hàng Nhà nước cấp hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng cộng với tiền nhàn rỗi đang chảy đều đặn vào hệ thống là lý do nhiều chuyên gia nhận định không lâu nữa sẽ có mặt bằng lãi suất huy động mới. mà còn giữa các nhánh cùng một ngân hàng.000 tỷ đồng. nếu thất thoát đó xảy ra trong ngân hàng thương mại Nhà nước. .Hệ thống trích lập dự phòng tổn thất trong cho vay cũng là vấn đề cần đánh giá lại. không làm méo thị trường liên ngân hàng”. dòng tiền huy động từ người dân đang chảy mạnh vào ngân hàng. Phó Tổng giám đốc ACB. Chưa kể đến khoản thất thu của Ngân sách nhà nước dưới dạng lợi tức cổ đông. Thậm chí.… Thế nhưng những khoản tổn thất này đều được bù đắp bằng “nguồn dự phòng”. nhận xét. hoặc lợi tức vốn đầu tư . -Rà soát lại mạng lưới của các ngân hàng. nên hội sở phải “ủng hộ”. Nhiều ngân hàng mạng lưới.vn . cán bộ nhân viên tín dụng lạm dụng tín nhiệm. bao gồm chi nhánh cấp I và phòng giao dịch lên đến hàng ngàn đơn vị. từ đầu năm 2012 đến nay đã huy động được 23.Trong thực tiễn đã có rất nhiều khoản cho vay không thu hồi được nợ. nên tôi tin rằng sẽ tránh được “đi đêm” lãi suất để đua huy động. từ Phòng giao dịch đến lãnh đạo Hội sở chỉ được hưởng lương “cơ bản”. Cần áp dụng cơ chế trích lập và sử dụng dự phòng hợp lý. Còn những ngân hàng nhóm 1. bắt tay với khách hàng để chiếm dụng vốn. sử dụng các thủ thuật để chiếm đoạt tài sản. nếu để xảy ra nợ quá hạn vượt một tỷ lệ nào đó ( 3% chẳng hạn). Chỉ riêng hội sở của 16 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) có trụ sở trên địa bàn TP HCM. 2 thì mức cũng không cao như năm ngoái (20%) và vốn họ cũng đã kha khá.6% so với cuối năm 2011. Giảm thiểu “đi đêm” lãi suất Bên cạnh đó.Mạng lưới rộng dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh không những giữa các ngân hàng khác hệ thống. việc NHNN áp hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng đã tạo tín hiệu tốt cho thị trường lãi suất huy động. “Việc NHNN phân nhóm và giới hạn chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ lành mạnh hóa thị trường lãi suất. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh TP HCM cho biết. có ngân hàng sau khi mở chi nhánh. một ngân hàng có nhiều chi nhánh cùng cấp. Bởi các ngân hàng thuộc nhóm 4 sẽ không đẩy mạnh huy động. tham nhũng. .trong ngân hàng. lượng khách hàng giao dịch không “đủ”. Sẽ có mặt bằng lãi suất huy động mới? Laisuat. ông Nguyễn Thanh Toại.trong đó có 24% của Ngân sách nhà nước. Chỉ trên địa bàn nhỏ. hoặc ngân hàng thương mại cổ phần mà Nhà nước nắm giữa một lượng lớn cố phần. Hiện nay mạng lưới của nhiều ngân hàng quá rộng. mà nguyên nhân là do ngân hàng cho vay sai nguyên tắc.

Lê Đăng Doanh nhận xét. Nên đương nhiên họ phải giảm lãi suất huy động để có thể hạ lãi suất cho vay. . “Việc này không chỉ giúp kiểm soát được huy động và cho vay mà còn khiến các ngân hàng Việt Nam tìm ra các giải pháp mới cho kinh doanh.Nhiều ý kiến cho rằng sắp có một mặt bằng lãi suất huy động mới. lợi nhuận của ngành ngân hàng tại Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào tăng trưởng tín dụng. theo phân tích của một chuyên gia chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright. kinh doanh là đáng chú ý. muốn tồn tại tất yếu họ phải chuyển sang sống bằng những hoạt động kinh doanh khác”. nên theo một phó tổng giám đốc của Eximbank. Vì ngân hàng nào cũng muốn dùng hết mức tín dụng đã được NHNN cấp cho mình”. Điều này cũng được một phó tổng giám đốc của Vietcombank xác nhận: “Huy động sẽ giảm nhưng phải chờ thời gian và giảm từ từ theo sự kỳ vọng lạm phát giảm đi của người gửi tiền. bất động sản. TS. Nhưng điều quan trọng nhất khiến lãi suất có thể giảm là do lạm phát đã giảm. ông này nói. Huy động sẽ giảm dần Mặt bằng lãi suất huy động đối với kỳ hạn trên 1 tháng đang ở mức 14%/năm nhưng dưới 1 tháng chỉ có 6%/năm. Các ngân hàng cũng mong lãi suất giảm để tăng trưởng tín dụng”. Trong tương quan với các kênh đầu tư khác thì tiền nhàn rỗi được gửi vào ngân hàng với lãi suất 12%/năm cũng đã có lợi rồi”. việc hạn mức tăng trưởng tín dụng đã hạn chế được việc đua nhau tăng vốn của hàng loạt ngân hàng như năm 2010 và 2011. “Vàng. chứng khoán. Dòng tiền đi vào ngân hàng 2 tháng trở lại đây tăng lên là do lãi suất tiền đồng hấp dẫn hơn các kênh đầu tư khác. lãi suất huy động có thể giảm dần vì hàng loạt ngân hàng không đói vốn đang muốn mở rộng cho vay. lãi suất có thể giảm 2%/năm đối với huy động vào ngay cuối quý I/2012. Với diễn biến thị trường thuận lợi. Khi không thể sống nhờ tín dụng. Trong khi đó. ngoại tệ đều không mấy khả quan nên lúc này chỉ có những gửi tiết kiệm và sản xuất. “Lãi suất cao thì ngân hàng khó cho vay.Đất Việt . vị này nói. nhiều dự báo cho rằng. Mặt khác.