Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát là một trong hai yếu tố được các nhà hoạch định ở các quốc gia quan tâm. Điều này không chỉ vì tầm quan trọng của nó, mà còn do việc kiểm soát nó là điều không hề dễ dàng. Khi mà nền kinh tế thế giới phát triển ở mức cao, mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của các nước ngày càng gia tăng, thì việc kiểm soát lạm phát bây giờ không còn là vấn đề riêng của một quốc gia nào mà là của tất cả các nền kinh tế khác nhau có liên quan. Bởi lẽ một điều vô cùng đơn giản, khi các quốc gia liên hệ mật thiết với nhau, thì việc một quốc gia này chịu ảnh hưởng của cú sốc lạm phát thì các quốc gia khác cũng bị ảnh hưởng. Một điều mà chúng ta cần lưu ý ở đây lạm phát không phải bao giờ cũng là xấu, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển. Trái lại, nếu chúng ta biết cách duy trì một mức lạm phát hợp lý thì dường như lạm phát lại trở thành một nhân tố có lợi, động lực cho sự phát triển của nền kinh tế. Sau khi trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại Thế giới vào đầu năm 2007, nước ta dần hội nhập, các rào cản thương mại trước đây dần bãi bỏ thì cũng chính là lúc chính phủ cần có những chính sách thực sự hiệu quả để đưa nền kinh tế tăng trưởng trong sự hài hòa với lạm phát. Thế nhưng thực tế thì lại không như chúng ta mong đợi, tỉ lệ lạm phát những năm trở lại đây duy trì ở mức cao (hai con số), điều này tạo ra một mối quan ngại của các nhà kinh tế cũng như của người dân. Từ năm 1980 đến nay, các chính sách của chính phủ tỏ ra khá hiệu quả trong việc điều hành lạm phát, tuy nhiên một chiến lược lạm phát trung và dài hạn lại không thấy được nhắc đến. Điều này, làm cho một số người đặt câu hỏi là : Nhà nước và Chính phủ có nên hoạch định một chính sách lạm phát hợp lí dài hơi hơn hay sẽ mãi duy trì chính sách lạm phát ứng với từng thời kì một cách thụ động, khi mà các chính sách đó luôn có một độ trễ.

1

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

Ngay thời điểm này, khi mà các chỉ số lạm phát đã báo động đến các nhà làm chính sách, các nhà kinh tế cũng như người dân thì việc tìm ra một chính sách hiệu quả áp dụng vào nước ta là một điều nên làm. Từ đầu những năm 90, trên thế giới một số nước đã áp dụng một chính sách với tên gọi là “lạm phát mục tiêu”(LPMT), từ khi xuất hiện đến nay nó đã được các nước áp dụng khá thành công. Đặt biệt, với các nước mới nổi khi mà điều kiện kinh tế gần giống với nước ta, khi thực hiện đã làm nền kinh tế vĩ mô đi vào ổn định và tăng trưởng. Tuy các nước mới nổi khi áp dụng LPMT gặp khá nhiều khó khăn hơn các nước phát triển vì các điều kiện khách quan của các nước này; đó là sự yếu kém của các định chế, tính độc lập thấp của NHTW, hay mức minh bạch chưa cao… Tuy nhiên, khi áp dụng thành công, thì các nước này đạt được một kết quả tốt hơn nhiều so với các nước phát triển. Vậy thì câu hỏi đặt ra cho chúng ta lúc này là có nên thực hiện chế độ LPMT hay không, và nếu có thì thực hiện lúc nào là hợp lí. Để trả lời câu hỏi trên, đầu tiên, ta đi vào tìm hiểu khái quát về LPMT, sau đó sẽ phân tích các quan điểm xung quanh LPMT, từ các quan điểm chung ấy ta đi vào phân tích bài nghiên cứu của nguyên thống đốc NHTW Brazil Fraga. Từ bài phân tích đó, ta đi vào thực tế hai nước mới nổi là Chile và Brazil để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tiếp theo là đi vào trả lời các câu hỏi lớn khác nhằm giải quyết vấn đề LPMT tại Việt Nam như: sự lựa chọn giữa tỷ giá hối đoái và LPMT, mối quan hệ giữa sản lượng và LPMT, khủng hoảng và LPMT.....Và cuối cùng là trả lời câu hỏi Việt Nam cũng như đánh giá của nhóm nghiên cứu.

2

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG BÀI
Lạm phát mục tiêu : LPMT Giá cả mục tiêu: GCMT Ngân hàng Trung ương: NHTW Ngân hàng Nhà nước : NHNN

3

.............................. 57 4 ..... Sự dai dẳng của các cú sốc: ...................................2..................................................................2...................2............ 7 1...................................................3................ 14 2.........................................biên bản và báo cáo lạm phát làm tăng tính minh bạch của NHTW: .......3.....2.........1............ 6 1......................................................................................4 Các điều kiện của IMF: ............................... giảm lạm phát............ 32 3....................2........ Định nghĩa: .......... 45 4.................................... 48 4............................... ILAN GOLDFAJN AND ANDRÉ MINELLA (tháng 6/2003) : “INFLATION TARGETING IN EMERGING MARKET ECONOMIES” ......................... đối phó với sự “thống trị” của tài khóa......1 Sự phù hợp của mô hình Taylor ở các thị trường mới nổi? Vấn đề dự báo LPMT? ...............3.........2 Thực tế Brazil và Chile: ...................... 48 4..2.................... NGHIÊN CỨU CỦA ARMINIO FRAGA................ 55 5............................................................................... 38 3.... LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN: .............................................. 9 2........................................4.............1 Lạm phát: ..... 19 3..............2.............................................................. 47 4............. LÍ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT MỤC TIÊU: ... .. 24 3...............................................................................................................................................Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU .................... 45 4.............................1.............. 23 3.....................................................1.. Xây dựng sự tín nhiệm và giảm mức độ lạm phát:............................. 40 3...........................3.......................................1 Chilê: .......... Các thành tố của LPMT: ........................... Sự thống lĩnh của chính sách tài khoá..... 34 3................. 40 3....................... Sự thống lĩnh của tài chính: ...2 Ủy ban chính sách tiền tệ............................ 50 5..........3 Các cú sốc và các mục tiêu điều chỉnh........ 45 4.2...................... 33 3.. hiệu ứng: “dừng đột ngột”: ..................................... .1..................................................... 43 4.......................... Làm thế nào để giải quyết các biến động ngày càng cao? .1. 1 CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG BÀI .......................... 19 3. 16 3..1Thế giới: ............2......... Mô hình: ........... CÁC TRANH LUẬN CHỦ YẾU: .................................................2 Các quan điểm không đồng tình : . 38 3........... So sánh giữa 2 nhóm: nhóm thị trường mới nổi và nhóm nước công nghiệp phát triển: ......................3.......................................................2 Brazil: .................3....... tài chính và tác động bên ngoài: ................ Giải thích sự biến động cao hơn trong lạm phát và sản lượng đầu ra: xây dựng sự tín nhiệm..................................... Sự tác động từ bên ngoài....................................................... THỰC TẾ ÁP DỤNG LẠM PHÁT MỤC TIÊU: .................................................2 Lạm phát kì vọng: .............................3....................2 Lựa chọn giữa tỷ giá hối đoái và LPMT ở các nước mới nổi? .....1 Các quan điểm đồng tình: ...................................... 3 1.......................... 13 2.... 55 5.....................................1. 6 1...............................................................

................................... 84 7 ĐÁNH GIÁ CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU: .............................. 72 6.......... 81 6........1 Tình hình lạm phát tại Việt Nam: ................ 61 5..... 93 5 .............................................3 Ưu điểm của chính sách mức giá mục tiêu:...................... 86 7.......................1.............................1 Sự độc lập của NHNN (NHNN) Việt Nam: ......................................2 Mức giá mục tiêu và lạm phát mục tiêu: ........... 84 6.......5........................4............................................................... 90 7........1 Đánh giá ưu nhược điểm của LPMT: .......3..........1 Định nghĩa mức giá mục tiêu : ...........5...5...............................Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 5...........................1 Ưu điểm: ......... 64 5...............5 Khủng hoảng – Cách nhìn khác từ LPMT: ................................................ 90 7............................ 87 7.......1 Nguyên nhân .................5 Thực hiện LPMT : ....................... 88 7...........2 Việt Nam có nên áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu hay không? ................ 65 5..........................3 Vấn đề mở còn chưa giải quyết được: ..................... .......... 67 5................3.......................3 Sự độc lập và mức độ minh bạch của NHNN Việt Nam: .......................... 81 6....................... 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................3 Đánh đổi giữa Tăng trưởng và LPMT: .....5.........1 Mục tiêu lạm phát trong dài hạn: .....2 Nhược điểm: .3. 65 5... VIỆT NAM: ................................. ..................3 Quan hệ giữa chính sách tiền tệ và ổn định tài chính........1.....................3.........................4 LPMT và mức giá mục tiêu: ..............................4 Ý kiến của Bernake về ổn định tài chính qua các chính sách của FED ………………………………………………………………………71 6.....4 Một số kiến nghị để tiến tới áp dụng LPMT ở Việt Nam: ..... 86 7............ 68 5............................................................................................................2 Nhận xét bài nghiên cứu tác giả Fraga: ................2 So sánh với LPMT để làm rõ hơn định nghĩa: ...................................... 68 5...2 Ảnh hưởng của khủng hoảng đến nền kinh tế............. 64 5................4.................................... 67 5... 80 6........................................... 72 6.......................................2 Một số đánh giá mức độ minh bạch và tín nhiệm của NHNN Việt Nam: ………………………………………………………………………82 6.....4.................. 86 7..................

Trước và sau các bài nghiên cứu của Bernanke và Mishkin. Đó là chỉ số lạm phát mà chính phủ muốn hướng đến nhất để vừa đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế vừa có thể kiểm soát được lạm phát. Tuy nhiên điều đó không làm cho nó kém hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu mà trái lại. Bernanke cho rằng “ LPMT là một khuôn khổ của chính sách tiền tệ được biểu thị bằng cách công bố rộng rãi con số mục tiêu của tỷ lệ lạm phát hay một khung mục tiêu dựa trên một hoặc nhiều dự báo”. có nhiều ý kiến đưa ra về vấn đề này. Đây là một khái niệm không mới. đặt biệt là trong những giai đoạn lạm phát ở mức cao.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 1. LÍ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT MỤC TIÊU: 1. Ngân hàng Trung ương (NHTW) hoặc Chính phủ thông báo một số mục tiêu trung hạn về lạm phát và NHTW cam kết đạt được những mục tiêu này. Svensson thì cho rằng “LPMT là một chiến lược chính sách tiền tệ mà đặc trưng là việc công bố một con số LPMT. với một độ minh bạch và trách nhiệm cao”. tranh luận. dựa trên cân đối với tốc độ tăng trưởng nữa và được Quốc hội thông qua. nó lại là một đề tài được các nhà khoa học nghiên cứu. thực hiện chính sách tiền tệ nhằm chủ yếu vào dự báo lạm phát và được gọi là dự báo mục tiêu. đã được nhiều nhà nghiên cứu khác nhau tranh luận và nhiều lý thuyết khác nhau được đưa ra. nó đã xuất hiện từ nhiều năm trước.1. LPMT được tính toán kĩ lưỡng về mọi mặt. 6 . nhưng các ý kiến đó điều có những điểm tương đồng. Định nghĩa: Về LPMT. từ khi được áp dụng lần đầu tiên tại New Zealand vào tháng 4 năm 1990. đó là: LPMT là một trong những khuôn khổ chính sách tiền tệ mà theo đó.

(2) Cam kết bằng thể chế (tức là cam kết của các cơ quan chức năng có quyền lực) về việc coi bình ổn giá cả là mục tiêu hàng đầu của CSTT. từ 0-2% đến 0-3%. (5) Tăng cường trách nhiệm của NHTW trong việc hướng tới các mục tiêu lạm phát. trong đó nhiều biến số (không chỉ là các số liệu về cung ứng tiền hoặc tỉ giá) được xem xét để quyết định sử dụng các công cụ chính sách.  Các thành tố của LPMT: LPMT bao gồm năm thành tố: (theo Mishkin năm 2000) (1) Công bố rộng rãi về những mục tiêu lạm phát trong trung hạn bằng những con số cụ thể. (3) Có chiến lược tập trung thông tin. với thị trường về các kế hoạch. . từ 6-12 tháng kéo dài thành từ 12-24 tháng. (4) Tăng cường tính minh bạch của CSTT thông qua đối thoại với công chúng. còn các mục tiêu khác xếp sau về thứ tự quan trọng.2.Sự mở rộng biên độ LPMT. 7 .  Svenssion đề nghị những bước để đi theo hướng nâng cao sự minh bạch. Điều này có nghĩa là nhận định lạm phát mục tiêu trung hạn.Sự kéo dài kì hạn mà nhờ đó chính sách phản ứng lại áp lực lạm phát một cách trực tiếp.Các khía cạnh của LPMT được nhấn mạnh như là một ngưỡng cửa khó khăn và chính xác.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 1. . sự điều chỉnh mức giá ngắn hạn thì được chấp nhận mà không có sự phản ứng chính sách. mục tiêu và quyết định của các cơ quan quản lý tiền tệ. trách nhiệm và chất lượng của ngân hàng: .

vi) Khả năng hoạt động tốt của thị trường tài chính. rất nhiều nước thành công LPMT không có một số điều kiện. Ông cho rằng. sự phát triển cơ sở hạ tầng trong dự báo.Không có một sự giới hạn mà tại đó lạm phát và khoảng cách sản lượng bằng 0. Thay vào đó. mô hình và dữ liệu có giá trị. chapt. các điều kiện tiên quyết (International Monetary Fund (2005. Ông thấy rằng. các nước mới này nên tập trung vào kế hoạch và chính sách hướng vào mục tiêu trong và sau khi thực hiện LPMT để tối đa hóa lợi ích của nó. những điều kiện trên được xem là những điều kiện chi phối sự thành công của LPMT. và các nhà điều hành thực 8 . Tuy nhiên bằng chứng cho thấy không có nước nào theo LPMT có hết tất cả điều kiện trước khi áp dụng.Sự điều chỉnh từ chỉ số tiền tệ (MCI) thành công cụ lãi suất tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ. v) Một số hiểu biết cơ bản các cơ chế truyền dẫn. Như kinh nghiệm các nước cho thấy. “Không có một lộ trình nào là hiệu quả nhất để hướng tới vệc đạt được LPMT. Theo IMF.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 . ii) Vắng mặt thống trị tài khóa. Đó là: i) cố định mục tiêu chính sách tiền tệ. iv) Thống nhất về mục tiêu lạm phát trong nước. một nền kinh tế không quá nhạy cảm với giá cả hàng hóa và tỷ giá và tối thiểu hiện tượng đô la hóa. Sẽ là sai lầm nếu nghĩ rằng bắt buộc phải đạt được toàn bộ tất cả điều kiện đó trước khi thực hiện chính sách LPMT. Sự thành đổi này giảm sự can thiệp thị trường tài chính. Đặc biệt các nước mới nổi không nhất thiết phải có các điều kiện này để thực hiện thành công LPMT. tuy không cần thiết thực hiện đầy đủ các điều kiện nhưng có những yếu tố cần thiết để giúp cho việc thực hiện LPMT dễ dàng thành công hơn. và một hệ thống tài chính lành mạnh với các ngân hàng mạnh và thị trường vốn phát triển tốt. 4) và Batini và Laxton (2007)) bao gồm: Sự độc lập của NHTW. . và khả năng tác động đến lãi suất ngắn hạn. iii) Độc lập của NHTW. và kết quả là thiết lập lãi suất ổn định.

Có 5 sự khác biệt lớn đối với các quốc gia thị trường mới nổi cần được xem xét.3. NHTW phải đề ra quy trình và cố gắng thực hiện cùng với chính phủ để có thể đạt được những điều kiện thực sự của nước đó”.Thể chế tài chính yếu kém. So sánh giữa 2 nhóm: nhóm thị trường mới nổi và nhóm nước công nghiệp phát triển:  Trước khi đi vào phân tích LPMT ở các nước mới nổi. . ta sẽ xem xét một vài điểm khác nhau giữa hai nhóm nước này để có những nhận định ban đầu làm nền tảng giúp nghiên cứu những phần sau đó. Cũng sẽ là sai lầm nếu cho rằng những điều kiện đó là tự động tới.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 hiện chính sách để dần đạt được trong quá trình thực hiện.Chính sách tài khoá yếu kém . . cân nhắc để có được những lý luận thuyết phục hay những đề xuất về chính sách có hiệu quả. Chúng bao gồm: .Tồn tại vấn đề thay thế tiền tệ và đô la hoá tài sản nợ. 1.Chính sách tiền tệ với uy tín thấp. .Dễ bị tổn thương khi luồng vốn đột ngột chảy ra (rút vốn bất ngờ). bao gồm cả những quy định của chính phủ về giám sát và bảo đảm an toàn. 9 .

Bồ Đào Nha. Hàn Quốc). Colombia. 10 .Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Khi ta xem xét 2 mẫu: các nước công nghiệp phát triển và các nền kinh tế mới nổi với tỷ lệ lạm phát trước và sau khi lựa chọn LPMT. dù ở một số nước thì tỷ lệ lạm phát sau khi chọn LPMT lại tăng lên (Úc. Kết quả cho thấy hầu hết các nước sau đó thì lạm phát đều giảm. Iceland và Brazil.

11 . Ngay cả so với tỷ lệ lạm phát của các nước công nghiệp phát triển trước khi chọn LPMT. Còn ở các nước công nghiệp phát triển. tỷ lệ lạm phát đã giảm rất nhiều (trung bình từ 13.5%).95%). tỷ lệ giảm tương đối thấp (trung bình từ 3. so với trước và sau khi thực hiện LPMT.11% xuống còn 5.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Ở các nước mới nổi. Tuy nhiên lạm phát ở các nền kinh tế mới nổi vẫn rất cao so với các nước công nghiệp phát triển.72% xuống còn 2.

lãi suất và mức độ lạm phát cao hơn ở các nước mới nổi khi so sánh với các nước công nghiệp phát triển. Tuy nhiên nó cũng không thấp hơn tỷ lệ của các nước công nghiệp không có LPMT: 12 .  LPMT giúp các nước giảm tỷ lệ lạm phát. tỷ giá hối đoái. độ lệch chuẩn của lạm phát và sự tăng trưởng GDP của các nền kinh tế mới nổi cũng lớn hơn các nước công nghiệp phát triển. Đồng thời.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 So sánh 2 mẫu như trên trong cùng một khoảng thời gian: kết quả là sự biến động trung bình của lạm phát.

tỉ giá.. Họ cũng thấy rằng biến động đầu ra giảm ở cả thị trường mới nổi và các nước công nghiệp phát triển sau khi lựa chọn LPMT. (2000) kết luận rằng tỷ lệ mất mát ở các nước mới nổi giảm sau khi lựa chọn LPMT. 2. Tuy nhiên chính sách LPMT không mang lại tỷ lệ lạm phát thấp hơn mức của các nước công nghiệp không lựa chọn LPMT mà chọn một chính sách tiền tệ khác.. theo Bernanke et al. Corbo et al. là tập trung vào hoạt động của NHTW và sự khác biệt về chính sách giữa nhóm các nước theo LPMT và nhóm không theo LPMT. (1999).  LPMT làm giảm tỷ lệ mất mát và biến động đầu ra. đó là đo lường sự ảnh hưởng của LPMT đến lạm phát. mà đặt biệt là so sánh các nền kinh tế mới nổi theo LPMT và các nền kinh tế mới nổi khác. đến một tỷ lệ xấp xỉ (có khi là thấp hơn) với các nước công nghiệp không lựa chọn LPMT. Tuy nhiên dựa theo một bằng chứng mới cho một mẫu lớn hơn gồm những nước chọn và không chọn LPMT.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Bằng chứng chỉ ra rằng những nước lựa chọn LPMT giảm được lạm phát trong dài hạn xuống dưới mức họ đạt được trong điều kiện không có LPMT. CÁC TRANH LUẬN CHỦ YẾU: Hai hướng tiếp cận chính trong các bài nghiên cứu của các nhà kinh tế: Thứ nhất. Thông qua LPMT thường được liên tưởng như một sự đầu tư quan trọng ban đầu trong việc giảm lạm phát. 13 . như các tỷ lệ mất mát và đường cong Phillips không biến đổi khi có LPMT. Thứ hai. giúp đạt đến mức xấp xỉ so với các nước công nghiệp phát triển: Bernanke et al. (1999) nhận thấy rằng LPMT không làm giảm sự hao phí. và các biến khác trong nền kinh tế vĩ mô như lãi suất. đến sự biến động lạm phát.

Còn ở các nước công nghiệp phát triển thì sự khác biệt này không nhiều. Đó là cách giải quyết sự dao động của tỉ giá hối đoái. Nổi lên ở nhóm ủng hộ này là các bài nghiên cứu của Johnson..  Mishkin trong bài nghiên cứu của mình năm 2004 (“Can inflation targeting work in emerging market countries ?”).  Trong bài nghiên cứu vào năm 2002 Johnson tiến hành nghiên cứu dựa trên sự so sánh giữa 5 nước theo LPMT là Australia. ông chỉ ra vai trò của IMF trong việc thúc đẩy sự thành công LPMT ở các nước mới nổi. New Zealand. tài chính. Sau đó. Anh và 6 nước công nghiệp không theo LPMT. De Mello and Moccero. Svensson cho rằng đến năm 2010 thì LPMT được áp dụng với đa số các nước mới nổi. Ông đã tìm ra rằng những thông báo về LPMT làm giảm một cách cụ thể lạm phát kỳ vọng (kiểm soát tác động của chu kỳ kinh doanh. định chế tiền tệ là rất quan trọng đối với thành công của LPMT trong thị trường các nước mới nổi. các nước đang phát triển hơn là các nước phát triển.Hebbel .1 Các quan điểm đồng tình: Đa số các nhà nghiên cứu ủng hộ LPMT và với việc áp dụng kinh nghiệm thực tế từ các nước để phân tích và chứng minh quan điểm của mình. Mishkin . tác giả đã dẫn ra 2 trường hợp điển hình áp dụng thành công LPMT là Chile và Brazil để làm rõ thêm cho nhận định của mình. Ở các nước mới nổi có mức độ giảm lạm phát mạnh khi áp dụng LPMT với khi không áp dụng LPMT.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 2. Rose. Bắt đầu từ việc đưa ra lý do tại sao các nền kinh tế mới nổi khác với các nền kinh tế tiên tiến và sau đó thảo luận về lý do tại sao sự phát triển mạnh tài khóa. Canada. Thụy Điển..O. Sau đó chú trọng đặt biệt vào các vấn đề phức tạp của các ngân hàng trung ương ở các nước mới nổi cam kết thực hiện LPMT. Và cuối cùng ông đã kết luận rằng LPMT là công cụ hiệu quả 14 . Ông đã tiến hành tìm hiểu các vấn đề trong thị trường các nước mới nổi trong việc thực hiện LPMT. lạm phát trong quá khứ và những tác động hỗn hợp). Schimidt. Tiếp đó. Lars E.

lạm phát ở các thị trường mới nổi giảm rất nhiều. Và bằng cách so sánh các nước theo chế độ LPMT với các nước tương tự mà theo chế độ khác.  Mishkin and Schmidt-Hebbel (2007) có kết luận tương tự rằng LPMT tạo ra sự khác biệt ở các nước công nghiệp tiên tiến bởi vì giúp họ đạt được lạm phát thấp hơn trong một tiến trình dài và một tỷ lệ lạm phát nhỏ hơn trong việc phản ứng lại các cú sốc về dầu mỏ và tỷ giá. Tuy nhiên. trình bày kết quả của một nghiên cứu tập trung vào những mục tiêu lạm phát của 13 thị trường mới nổi so với 29 thị trường mới nổi khác.  IMF (2005). Với hi vọng rằng điều này sẽ giúp nền kinh tế tốt hơn.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 giúp cho các nước mới nổi quản lí chính sách tiền tệ. trong khi các định chế tài chính quốc tế giống như IMF có thể giúp đỡ bằng cách cung cấp các ưu đãi tốt hơn để khuyến khích sự phát triển này.8% điểm trong lạm phát trung bình. Họ báo cáo rằng LPMT có liên kết với một giảm đáng kể 4. ông lại cho rằng ở các nước đang phát triển thực hiện thì ít tốt hơn so với các nước công nghiệp tiên tiến. và làm giảm độ lệch chuẩn của nó là 3. để đảm bảo rằng LPMT đưa ra kết quả kinh tế vĩ mô tốt hơn thì các nền kinh tế mới nổi sẽ được lợi bằng cách tập trung vào phát triển các định chế. dưới LPMT thì lãi suất. Tuy nhiên.6% điểm so với các chiến lược tiền tệ khác.  Rose (2007) tranh luận rằng LPMT là một chính sách tác động tới dài hạn khi so sánh với các chính sách tiền tệ khác (không có LPMT).  Batini and Laxton (2007). ông nhận thấy rằng có sự cải thiện đáng kể trong việc neo lạm phát và lạm phát kì vọng mà không ảnh hưởng đến đầu ra. Thú vị 15 . tỉ giá và dự trữ quốc tế ít có sự biến động và các nguy cơ về khủng hoảng tiền tệ so với mục tiêu tiền tệ và mục tiêu tỷ giá lại nhỏ hơn. Mặc dù trước và sau LPMT. thì cho rằng LPMT ở các nước mới nổi mang lại lợi ích đáng kể so với các nước chọn chiến lược khác như mục tiêu tiền tệ hay mục tiêu tỉ giá. Ngoài ra.

sự hiện diện của LPMT hình thành một neo danh nghĩa ( norminal anchor). Tác giả cho rằng.  Don Kohn. làm kích thích tiêu dùng. nó không cần thiết phải xây dựng nghiêm ngặt các thể chế.  Conçalves và Salles (2008) cũng áp dụng các phương pháp luận của Ball và Sheridan (2005) cho 36 nền kinh tế thị trường mới nổi. nhất là khi đối mặt với những cú sốc của nền kinh tế. Các bằng chứng hiển nhiên chỉ ra rằng. dựa vào đó mà NHTW đặt kì vọng vào chính sách LPMT một cách thái quá. 2. họ đã cố định các mục tiêu của LPMT trong một quãng thời gian khoảng 2 năm và vì vậy LPMT có thể gây không 16 .2 Các quan điểm không đồng tình :  Theo Mervyn king (1996) và Larry Meyer thì LPMT có thể gây ra biến động rất lớn đến sản lượng đầu ra (output).Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 hơn là LPMT có vẻ như tốt hơn tỷ giá con rắn tiền tệ. Ví dụ như NHTW Anh. Tuy nhiên nền kinh tế sau khủng hoảng chưa thực sự phục hồi và kết quả là dẫn tới cuộc khủng hoảng Đông Á.khi chỉ chọn sự thành công của tỷ giá con rắn để so sánh. Tương tự như các nghiên cứu IMF. kỹ thuật và kinh tế "điều kiện tiên quyết" cho việc áp dụng thành công LPMT. thành viên hội đồng của FED lo ngại rằng LPMT là quá cứng nhắc vì các nước khi thực hiện chính sách này thường thông qua các mục tiêu trong 2 năm hoặc hơn thế. ví dụ như một trường hợp xảy ra ở Úc 7/1997 khi NHTW Úc giảm lãi suất ngay sau khủng hoảng Thái Lan với mong đợi là sẽ giảm giá đồng AUD (đây là chính sách nới lỏng tiền tệ của NHTW Úc). Và Frederic S Mishkin đồng ý với Larry Meyer chính sách LPMT nên thực hiện một động thái kép gồm ổn định giá và ổn định sản lượng đầu ra. họ thấy rằng việc thông qua một chế độ LPMT dẫn đến tỷ lệ lạm phát trung bình thấp hơn và giảm biến động tăng trưởng đầu ra so với nhóm kiểm soát của phi mục tiêu.

Alan Blinder sau này là phó chủ tịch của FOMC đã phát biểu về sự đánh đổi giữa lạm phát và sản lượng ngắn hạn và do đó LPMT phải được quan tâm từ đầu ra và giảm thiểu các biến động. Ông cho rằng. đầu ra.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 linh hoạt. Blinder sau đó đã bị nhiều tờ báo cho rằng không đủ tiêu chuẩn để trở thành thống đốc. chứ không phải chỉ riêng các 17 . Nếu chúng ta xem xét LPMT ở riêng một quốc gia.  Theo bài nghiên cứu của Ball và Sheridan năm 2005 (“Does Inflation Targeting Matter?”) Ông cho rằng không có bằng chứng cho thấy LPMT cải thiện được các biểu hiện của lạm phát. và vì vậy. Tuy nhiên.  Ben Friedman cũng theo quan điểm phản đối chính sách LPMT. các quốc gia mà không theo LPMT cũng có sự cải thiện theo cùng thời gian với các nước theo LPMT. hoặc lãi suất. Phát hiện này cho thấy kết quả tốt hơn là nhờ một yếu tố khác hơn là việc chọn LPMT. trong những năm 1990. ông cho rằng LPMT thiếu tính minh bạch trong NHTW. chúng ta thấy rằng hiệu quả của họ được cải thiện giữa thời kỳ trước khi thực hiện mục tiêu và thời gian thực hiện mục tiêu. Woodfort đã nói rằng một chính sách tiền tệ tối ưu nên được điều chỉnh cho phù hợp với tính chất của từng cú sốc. lạm phát đã giảm và trở thành ổn định hơn. mặc dù các nước phát triển chưa gặp phải những cú sốc lớn gây ra từ lạm phát nhưng theo ông điều đó không phải là không thể xảy ra. lạm phát giảm là xu hướng chung đối với hầu hết. sản lượng cũng tăng trưởng ổn định.  Cũng theo Svensson (1997). Một câu chuyện đáng chú ý về vấn đề này xảy ra vào tháng 8 năm 1994. Khi mà LPMT gây ra những biến động trong sản lượng thì NHTW lại làm ngơ điều này và tác giả gọi đây là “ the dirty little secret of central banking”. Ông còn tuyên bố rằng LPMT không làm nên sự khác biệt đối với các nước công nghiệp. Ví dụ. một chính sách LPMT nên rõ ràng và tầm nhìn mục tiêu cũng nên linh hoạt theo tính chất của các cú sốc xảy ra trong khoảng thời gian thực hiện mục tiêu đưa ra.

) để làm rõ theo quan nhận định của mình. Denmark. Sweden...Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 nước áp dụng LPMT. Canada. France. United Kingdom) và 15 nước không theo (United States. Ireland. Spain. New Zealand. 18 .. Ông đã sử dụng số liệu và so sánh từ 7 nước theo LPMT (Australia. Netherlands. Finland. Portugal.Germany. Japan.. Belgium.

điều này khác với Svensson (2000) và Gali và Monacalli (2002) Mô hình được lấy từ việc tối ưu hóa rất nhiều hộ gia đình và công ty hiện tại. Như sự nhấn mạnh của McCallum và Nelson (2000).Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 3. Mô hình: Tác giả phát triển mô hình nền kinh tế mở quy mô nhỏ để minh họa quan điểm chính trong bài này.5% và 46. Tác giả trình bày ở đây là những mô hình cân bằng quan trọng nhất. Nếu không có hàng tiêu dùng nhập khẩu trong mô hình thì sẽ không có sự phân biệt giữa lạm phát trong nước và lạm phát theo CPI. các biến đại diện cho logarit độ lệch từ các giá trị ổn định. Hơn nữa. trái lại hàng hóa vốn và hàng hóa trung gian chiếm lần lượt là 29. Trong sự so sánh với mô hình cho hàng nhập khẩu là hàng tiêu dùng như mô hình của Gali và Monacelli (2002). NGHIÊN CỨU CỦA ARMINIO FRAGA.1. ILAN GOLDFAJN AND ANDRÉ MINELLA (tháng 6/2003) : “INFLATION TARGETING IN EMERGING MARKET ECONOMIES” 3. Hàng nhập khẩu như một hàng hóa trung gian trái ngược với phần lớn các tài liệu về kinh tế mở sử dụng các mô hình với hàng nhập khẩu là hàng tiêu dùng. hàng hóa trung gian là những mặt hàng chủ yếu trong nhập khẩu. Harrison và Millard (2001) và các phát biểu của McCallum và Nelson (2000). Nền kinh tế 19 . hàng tiêu dùng chiếm chỉ 21. Mô hình này kết hợp với các đặc điểm của mô hình Batini. Mức trung bình. McCallum và Nelson (2000) tìm ra sự tương quan thấp và trễ hơn giữa thay đổi tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát.2%.3% tổng nhập khẩu. gần đúng với những quan sát trong dữ liệu. đã chỉ rõ hàng nhập khẩu là hàng hóa trung gian phù hợp hơn với những đặc điểm của dữ liệu. Trường hợp thấp hơn.

pt St là tỷ giá hối đoái danh nghĩa.Douglas: Yt = at + αnt + (1.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 bao gồm hộ gia đình. pt* là mức giá nước ngoài và yt* là sản lượng của nước ngoài. Yt = scct + sxxt Trong đó ct là tiêu dùng nội địa. Et là kỳ vọng nhà đầu tư. qt là tỷ giá hối đoái thực xác định bởi qt=st+pt* . nền kinh tế xuất khẩu hàng tiêu dùng và nhập khẩu hàng trung gian). đang sử dụng hàm sản xuất Cobb. xác định như là giá của đồng nội tệ trên một đơn vị đồng ngoại tệ. at là năng suất ngẫu nhiên. 20 . and sx = XSS/YSS Phương trình đường cầu kết hợp: ct = Etct+1 . Sự sản xuất không chỉ được tiêu dùng bởi hộ gia đình trong nước mà còn được xuất khẩu (do đó. Dấu * chỉ biến của nước ngoài. sc = (1-XSS/YSS). lạm phát là πt= pt – pt-1 . η là độ co giãn chéo của hàng hóa trong nước và nước ngoài. mt là hàng hóa được nhập khẩu. Tất cả các biến của thế giới như là một biến ngoại sinh của mô hình. nt là lao động trong nước. pt là mức giá.(it .Etπt+1) + εct xt = ηqt + yt* Trong đó it là lãi suất thông thường. γc là nghịch đảo của độ co giãn biên tế sản phẩm thay thế đối với tiêu dùng. doanh nghiệp và chính phủ.α)mt Trong đó yt là sản lượng. xt là xuất khẩu. εct là sự đột biến với sự ưu thích. Công ty sản xuất những mặt hàng tiêu dùng khác nhau.

Theo như Gali và Gertler (1999).pt (7) Trong đó wt là lương. phương trình còn phải bao gồm một kì hạn trễ cho lạm phát. ngoài kỳ lạm phát mong đợi. Trái phiếu nội địa được cho là dùng nội tệ và tổ chức bởi người trong nước. Trong bài này. chúng tôi không có một quan tâm đặc biệt nào về nguồn gốc của lạm phát kéo dài. một khả năng là xem như là có một phần của đánh giá từ quá khứ. Doanh nghiệp tối đa hóa sự khác biệt giữa doanh thu biên mong đợi và chi phí mỗi đơn vị.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Mô hình có cả trái phiếu trong và ngoài nước của chính phủ lẫn khu vực tư. 21 . Sự chọn lựa cho giá ở thời điểm tốt nhất cho lợi nhuận công ty πt = βEtπt+1 + λvt Với Vt chi phí thực mỗi đơn vị được cho bởi: Vt = αwt + (1-α)pMt – at . Điều kiện tương đương của lãi suất nhận được trình bày dưới đây: it – it* = Etst+1 – st + ξt trong đó it* là lãi suất nước ngoài và ξt là phần bù rủi ro đất nước. Họ cho rằng mô hình có dữ liệu không chắc chắn kì vọng tương lai. pMt là giá nhập khẩu theo đồng nội tệ pMt = st + pMt* với pMt* là giá nhập khẩu theo đồng ngoại tệ. Theo đó đường cong Philip cho ta mô hình như sau với β là yếu tố chiết khấu πt = βEtπt+1 + λvt Những kết quả từ kinh nghiệm đã thúc đẩy một vài tác giả làm việc với biến thể của đường cong Phillips. bên cạnh đó. Chú ý rằng lạm phát bị ảnh hưởng bởi tỷ giá hối đoái thông qua giá của các mặt hàng trung gian. Trái phiếu nước ngoài được cho là dùng ngoại tệ và giá của nó tính cả phần bù rủi ro ngẫu nhiên.

chúng tôi cũng đưa ra định đề cú sốc chi phí đẩy. đặc biệt là những sự thay đổi trong đánh đổi giữa sản lượng đầu ra và lạm phát. trong đó: ϒf + ϒb = 1 Việc đánh giá lạm phát dựa trên lạm phát ở thời kì (t-1) cho ta ước tính đơn giản thời kì t với các dữ liệu có sẵn. xuất phát từ những giả định rằng: với việc tăng tín nhiệm lạm phát mục tiêu.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Hơn nữa. kỳ vọng thường được hồi quy về giá trị mục tiêu. với nghiên cứu thực nghiệm cho thấy. biến độ trễ lạm phát là biến tĩnh nên không thể giải thích được biến lạm phát là một biến động. Hơn nữa nó còn thể hiện độ trễ 2 năm của các chính sách tiền tệ. Kết quả tập hợp lại thành một phương trình đường cung: πt =ϒfEtπt+1 + λvt + ϒbπt-1 + μt . hay nói cách khác yếu tố xu hướng chiếm ưu thế hơn 22 . Tuy nhiên. Điều này có thể phản ánh những thay đổi trong việc tăng giá kết quả từ sự co giãn của giá đối với cầu trong một chu kì hoặc trong tỷ suất thuế. Mô hình trên kết hợp 2 yếu tố xu hướng trong kỳ vọng lạm phát tương lai thời kì (t+1) với trọng số ϒf và độ trễ thời kỳ (t-1) với trọng số ϒb. Đối với yếu tố kỳ vọng lạm phát tương lai thời kì (t+1). Bên cạnh đó. Tuy nhiên nếu giá trị tuyệt đối khi hồi quy của ϒf + ϒb nhỏ hơn 1 thì các kỹ thuật ước lượng vẫn có giá trị nhưng quy trình thống kê sẽ mâu thuẫn với lý thuyết. Điều này cho thấy tại sao các nghiên cứu biến thể của đường cong Philips thường có ϒf > ϒb . tỷ giá gần đây. Tuy nhiên. Nó có thể cũng được sử dụng như là một sự thay thế trong trường hợp có sự thay đổi giá liên quan ở một khu vực. Theo phân tích thực nghiệm cho thấy ϒf + ϒb = 1. khả năng dự báo của nó vẫn yếu do những thay đổi trong chính sách tiền tệ. nó cũng gây khó khăn trong việc ước lượng giá trị phù hợp cho kỳ vọng khi những dữ liệu cần thiết không có sẵn.

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 so với yếu tố quá khứ. 23 .2. giảm lạm phát. tối thiểu hóa thiệt hại của NHTW: Với E là thể hiện kỳ vọng và β là suất chiết khấu. Áp dụng mô hình Taylor. đối phó với sự “thống trị” của tài khóa. ta có hàm thiệt hại của NHTW như sau: Lt = [ wy(yt . tài chính và tác động bên ngoài: Việc thực hiện chính sách tiền tệ trong EMEs đối mặt ít nhất với ba thách thức lớn i) xây dựng sự tín nhiệm. wy < 1 có nghĩa NHTW theo đuổi mục tiêu lạm phát hơn mục tiêu sản lượng. tác giả bỏ qua ϒb Woodford (1999) cho rằng lạm phát và chênh lệch đầu ra đều là mục tiêu của NHTW. và wy càng nhỏ càng cho thấy NHTW càng đặt nặng vấn đề lạm phát. Do đó trong bài nghiên cứu này. Thiệt hại này bao gồm chênh lệch giữa chênh lệch sản lượng đầu ra thực tế với sản lượng tiềm năng tự nhiên mà kinh tế hướng tới và chênh lệch giữa lạm phát thực tế với mục tiêu mà Ngân hàng đặt ra. Từ đó. Nói cách khác. tài chính và tác động bên ngoài. và iii) đối phó với sự thống trị của tài khóa.ye)2 + (πt – πTt)2 ] Trong đó wy là trọng số thể hiện sự thiệt hại mà chênh lệch đầu ra ảnh hưởng lên NHTW. Giải thích sự biến động cao hơn trong lạm phát và sản lượng đầu ra: xây dựng sự tín nhiệm. ii) giảm mức độ lạm phát. 3.

các NHTW phải gánh chịu chi phí xây dựng lòng tin vì nó có ảnh hưởng trở lại với hạn chế áp lực lạm phát bắt nguồn từ độ tin cậy thấp và phải "chứng minh" rằng nó được cam kết bởi chế độ mới (LPMT). các nhà đầu tư cá nhân gán một xác suất rằng NHTW sẽ nuốt lời cam kết của mình về việc thực hiện các mục tiêu. Các nhà đầu tư cá nhân quan ngại về sự cam kết của các NHTW với mục tiêu của chính nó. dựa vào lịch sử độ tin cậy thấp. Tuy nhiên. Trong giai đoạn chuyển tiếp. các nhà đầu tư cá nhân không tin tưởng hoàn toàn rằng NHTW sẽ phản ứng mạnh mẽ. việc thông qua mục tiêu lạm phát thể hiện một nỗ lực để tăng cường uy tín của cơ quan tiền tệ như lời cam kết để ổn định giá cả. khi nền kinh tế bị tác động của một cú sốc lạm phát. Kết quả là.2. các thị trường mới nổi phải đối mặt với tỉ lệ lạm phát ban đầu cao hơn các nước phát triển. Trong trường hợp đầu tiên. Trên thực tế. hành động của NHTW không chỉ phải phù hợp với khuôn khổ mục tiêu lạm phát.1. Bảng 1 cho thấy lạm phát xung quanh thời điểm thông qua lạm phát mục tiêu (ngay trước 24 . sự biến động của lãi suất và sản lượng sẽ cao hơn. xây dựng lòng tin cần có thời gian.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 3. Xây dựng sự tín nhiệm và giảm mức độ lạm phát: Các cơ quan trong nền kinh tế mới nổi có xu hướng yếu kém hơn so với những cơ quan trong các nền kinh tế phát triển. mà còn phải tính toán rằng các nhà đầu tư cá nhân sẽ không hoàn toàn tin tưởng NHTW sẽ hành động phù hợp. và phản ứng của nó với những cú sốc. Trong thời kỳ đó. Kết quả là. Độ tin cậy không hoàn hảo về việc thực hiện các mục tiêu trở nên quan trọng hơn khi chúng ta xem xét vai trò của LPMT trong nền kinh tế mới nổi không chỉ để đảm bảo rằng lạm phát sẽ ổn định trong dài hạn (biến đổi nhỏ xung quanh giá trị của nó) mà còn làm cho nó hội tụ về mức thấp. Tương tự như vậy. NHTW cũng không phải là ngoại lệ. Trong bối cảnh này. các biến động lạm phát cũng có xu hướng cao hơn khi so sánh với một tình huống của độ tín nhiệm hoàn toàn. lạm phát dự kiến và do đó lạm phát thực tế có xu hướng cao hơn so với một cơ quan tiền tệ được tin cậy hoàn toàn.

cận trên tối đa cho mục tiêu là 6%. trong khi đó các nền kinh tế đang phát triển cận trên cao nhất đạt 20%.1%. 27. và các mục tiêu ban đầu Khi LPMT được thông qua. 25 .Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 và sau). và trung bình là 10. với trung bình 2. 18. lạm phát trung bình ở các nước phát triển là 3.3%. Các giá trị cũng được thể hiện trong hình 4. Israel và Mexico với tỷ lệ lạm phát tương ứng là 39. Sự khác biệt thậm chí còn rõ ràng hơn khi chúng ta xem xét các mục tiêu được thành lập đầu tiên (Hình 5). Trong nền kinh tế phát triển.7%. Chile. Một nửa trong số các nền kinh tế đang phát triển có tỷ lệ lạm phát hai con số khi thực hiện LPMT như Peru.5%. trong khi ở các EMEs là 13.3%.0% và 18.8% cho mục tiêu trung tâm.6%.

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

Hình 6 cho thấy sự phát triển của mục tiêu trung bình cho cả hai nhóm nước. Chúng tương đối ổn định đối với các nền kinh tế phát triển, và giảm với EMEs

26

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

Nếu LPMT được thông qua trong một nền kinh tế với tỷ lệ lạm phát cao hơn đáng kể so với mục tiêu dài hạn, NHTW phải tiến hành một chính sách chủ động với các chi phí đầu ra để đưa lạm phát xuống. Việc giảm lạm phát đối mặt với hai trở ngại, kết quả là sự tốn kém của việc giảm mức lạm phát và biến động cao hơn của lạm phát và sản lượng: (i) mức độ tin cậy đã được đề cập không hoàn hảo, và (ii) sự hiện diện của lạm phát trong quá khứ (thời kì trước) ở mức độ nào đó do hành vi định giá dựa vào quá khứ. Sự hiện diện của điều đó có thể là do các yếu tố như chỉ rõ tiền lương trong hợp đồng, và khả năng thích ứng với các kì vọng (adaptive expectations). Đặc biệt, tại Brazil, việc điều chỉnh giá theo quy định như: điện và dịch vụ điện thoại xếp sau uy định trong hợp đồng, điều đó hàm ý một mức độ cao của sự ổn định. Việc giảm các mục tiêu (chỉ số lạm phát) là nguồn gốc của việc có thể không thực hiện được đầy đủ các mục tiêu bởi vì thật khó để đánh giá mức độ việc dựa trên quá khứ vào hiện tại và tốc độ hội tụ tương lai của những kỳ vọng lạm phát. Độ lệch cao hơn từ các mục tiêu ở EMEs sau đó có thể liên quan đến sự thay đổi của 27

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

các cú sốc cũng như thực tế là LPMT thường được thông qua khi lạm phát cao hơn đáng kể so với mục tiêu dài hạn. Để có một số chỉ số tốc độ hội tụ lạm phát và chi phí sản lượng liên quan, tác giả đã mô phỏng các trường hợp giảm chỉ tiêu lạm phát với sự tín nhiệm không hoàn hảo. Để tập trung vào vấn đề này, tác giả đã sử dụng các phiên bản nền kinh tế đóng của mô hình đưa ra trước đó (α = 1, sc = 1). Kết quả là một mô hình chuẩn. Đường cung tổng hợp mà không có yếu tố thời kì trước có thể được viết là: , với Các NHTW thông báo giảm mục tiêu tỷ lệ lạm phát từ πTo đến πTn kể từ quý hiện tại, nhưng các nhà đầu tư cá nhân không hoàn toàn tin tưởng rằng sự thay đổi này là lâu dài. Họ ấn định một xác suất bt rằng vào quý sau NHTW sẽ không giữ lời hứa về công bố của mình và tỉ lệ lạm phát trở về mức πTo. Vì thế, tỉ lệ lạm phát kì vọng mục tiêu được cho bởi: EtπTt+1 = bt πTo + (1-bt) πTn. Chúng tôi đã xem xét trường hợp của một chính sách tiền tệ tối ưu tuỳ ý. Các NHTW được phép tái tối ưu hóa theo mỗi thời kỳ. Chúng tôi đã giả định rằng nếu các NHTW duy trì các mục tiêu mới, xác suất thất hứa về các công bố của nó giảm theo thời gian. Chúng tôi đã sử dụng hàm tuyến tính đơn giản: bt+1 = bbt , với 0 ≤ b < 1.(16) (giá trị

b phụ thuộc vào chủ quan của NHTW).

28

8. sau này hàm ý rằng.p so với lạm phát trước đó.p. Tỷ lệ lạm phát liên quan đến lạm phát lũy kế bốn quý trên mục tiêu 29 . và b = 0. Chúng tôi đã giả định rằng xác suất ban đầu của việc thất hứa là 0. chúng ta xác nhận rằng nhiều nước đã có mục tiêu ban đầu thấp hơn 3 p. vào cuối năm. bt = 0.41.8. Nếu chúng ta so sánh những mục tiêu đầu tiên được công bố của lạm phát trong mười hai tháng trước đó (Bảng 1).Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Hình 7 cho thấy những đặc trưng xung khắc (trái ngược) của khoảng cách sản lượng và lạm phát giảm của 3 p. Vì chúng ta đang xem xét dữ liệu hàng quý. trong mục tiêu lạm phát cho các trường hợp độ tin cậy không hoàn hảo và hoàn hảo.

đầu ra.3. thậm chí giả sử có sự giảm tương đối nhanh mức độ của sự tín nhiệm không hoàn hảo (tức là độ tín nhiệm ngày càng được nâng cao).45. việc xây dựng sự tín nhiệm là một quá trình kết hợp các phản ứng lại tới áp lực lạm phát và tăng tính minh bạch cho công chúng. chúng tôi giả định rằng khối lượng đầu ra tương đối trong hàm mục tiêu là bằng 0. tỷ lệ lạm phát chỉ hội tụ dần dần đến mục tiêu mới. và Muinhos (2003) đã ước tính một Hàm (hàm số) phản ứng lại của NHTW của Brazil trong 3 năm 6 tháng đầu tiên của LPMT. Etπt+j là kì vọng lạm phát và πt+j* là lạm phát mục tiêu. khi nền kinh tế chịu tác động của cú sốc lạm phát. Nhóm tác giả đã giả định rằng lạm phát là đáng tin cậy ở các mục tiêu cũ trước khi thông báo. lạm phát cũng hội tụ nhanh chóng đến những mục tiêu mới.Trong trường hợp độ tin cậy hoàn hảo.49%. trong trường hợp độ tin cậy không hoàn hảo. Do đó. đòi hỏi phải giảm sản lượng nhiều hơn.0.15% trên trung bình). nó có tác động quan trọng lên sự phản ứng của sản lượng nhưng ít ảnh hưởng trên đường lạm phát: tỷ lệ lạm phát là 1. cả hai đều đề cập tới 12 tháng tới. khả năng NHTW sẽ khó khăn để có đủ thời gian tăng lạm phát kỳ vọng. Trong trường hợp Brazil. Vào cuối năm đầu tiên. và lãi suất. với it là tỷ lệ Selic quyết định bởi Ủy ban Chính sách tiền tệ (Copom). và yt là khoảng 30 . Freitas. và khoảng cách sản lượng đã giảm 0. Lý luận tương tự. Nó liên quan đến độ lệch lãi suất lạm phát kì vọng 12 tháng sắp tới với mục tiêu.( Họ đã ước tính phương trình : it = α1it-1 + (1. NHTW đã phản ứng lại với kỳ vọng lạm phát một cách phù hợp với khuôn khổ (khung) mục tiêu lạm phát. cho phép một số lãi suất phù hợp với khoảng cách sản lượng.p trên các mục tiêu mới. Nếu chúng ta tăng nó đến 1.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 mới.α1)(α0 +α2(Etπt+j-πt+j* ) + α3yt-1). Kết quả là. (Trong mô phỏng này. Kết quả là một biến động cao hơn của lạm phát. và sự di chuyển này không đòi hỏi bất kỳ sự giảm khoảng cách sản lượng nào. tỷ lệ lạm phát vẫn còn 1. Minella. Goldfajn.42 p. những kỳ vọng lạm phát hội tụ tự động với mục tiêu mới. và khoảng cách sản lượng đã đưa ra giảm trung bình 0.

Hơn nữa.γf = 0. Bảng 4 cho thấy các ước tính bằng cách sử dụng dự báo lạm phát của ngân hàng trung ương và của các nhà đầu tư cá nhân (từ khảo sát).4 (do đó. Chúng ta sử dụng phiên bản của mô hình nền kinh tế mở.6). Chúng ta mô phỏng các trường hợp giảm chỉ tiêu lạm phát trong sự có mặt của một yếu tố “quá khứ” trong các đường cung tổng hợp bằng 0.). Các ước tính điểm của các hệ số về lạm phát kỳ vọng lớn hơn một. trong hầu hết các chi tiết. chúng ta có thể kết luận rằng NHTW thực hiện chính sách tiền tệ trên cơ sở hướng tới tương lai (forward-looking). và đối phó với áp lực lạm phát.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 cách về sản lượng. Các NHTW tác động trở 31 . hệ số thống kê lớn hơn một Từ kết quả của việc ước lượng này.

0 tương ứng là 1.p trên các mục tiêu tại quý thứ tư.3 và wy = 1. Trong trường hợp của một đường cung hoàn toàn có tầm nhìn tổng thể. Khi cơ chế LPMT được cho là ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát. Các hệ số tối ưu được xây dựng sử dụng hai khối lượng khác nhau trong khoảng cách sản lượng trong hàm mục tiêu. Sự thống trị của bên ngoài liên quan đến tính dễ bị tổn thương đối với các tác động mạnh từ bên ngoài. Trong trường hợp sự thống lĩnh của tài chính và tài khoá. Mỗi vấn đề này có thể được xem là dẫn đến một dạng các sự thống lĩnh: tài khoá.2. Do đó để hoàn thành chính sách LPMT thì phải có một chính sách tài khoá vững mạnh.5Etπt+1. Chính điều này. do đó sẽ gia tăng lạm phát kì vọng. Để đạt được kết quả tốt trong việc thực hiện công cụ LPMT hay bất cứ chính sách tiền tệ nào đòi hỏi phải loại bỏ sự thống lĩnh của chính sách tài khóa. Với giảm mục tiêu lạm phát 3 p. đến lượt nó sẽ bổ sung thêm cho thách thức thành lập một neo tiền tệ vững chắc. lạm phát là 0. các rủi ro liên quan đến những quy định lỏng lẻo của hệ thống tài chính và những tác động mạnh từ bên ngoài.  Những vấn đề nổi bật: Tài khoá. wy = 0.79 và 1. chúng ta có thể xem xét khả năng rằng thành phần yều tố “quá khứ” trong việc điều chỉnh giá trở nên ít quan trọng như tăng độ tin cậy.2.p.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 lại theo 1 quy tắc kì vọng đơn giản: it = 1.tài chính và các nguồn bên ngoài. Nếu 32 . Như trong trường hợp độ tín nhiệm không hoàn hảo. và khoảng cách sản lượng giảm là 0. tài chính và bên ngoài.78 p. Chúng ta giải quyết 3 vấn đề được xem là những đặc trưng ở dạng tiềm năng của các quốc gia thị trường mới nổi(EMEs): thể chế tài khoá yếu kém.55% trên trung bình trong năm đầu tiên. gây ra sự bất ổn cao hơn trong vĩ mô của nền kinh tế.34. lạm phát hội tụ tự động với mục tiêu mới. 3. các vấn đề phát sinh về chính sách tiền tệ khá là giống nhau: nỗi sợ một hoặc cả hai chính sách sẽ đổ vỡ làm tăng khả năng chính phủ sẽ gia tăng mức lạm phát. Sự thống lĩnh của chính sách tài khoá. và lỗ hổng sản lượng tối ưu là âm. lạm phát giảm dần dần tới mục tiêu mới.

và đến lượt mình chính sách này tác động một cách tiêu cực đến sự cân bằng của ngân sách Nhà nước. một trong những hậu quả tệ hại của một cuộc khủng hoảng tiền tệ đó là nền kinh tế phải đối mặt với cuộc khủng hoảng của hệ thống ngân hàng:i) khả năng để lựa chọn chính sách chính sách thắt chặt sẽ giảm đi. Sự thống lĩnh của tài chính: Việc lo ngại rằng một sự thắt chặt tiền tệ sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính là vấn đề khi thực thi chính sách tiền tệ. Sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng và những lỗ hỏng trong hệ thống tài chính là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á năm 1997.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 quốc gia có sự yếu kém từ trong quá khứ. Hoặc là chính những ngân hàng quốc doanh này vốn bản thân nó đã yếu hoặc là chính phủ đã điều hành những ngân hàng này một cách thiếu thận trọng. and Zelmer (2000) đã chỉ ra rằng sự mất cân bằng trong ngân sách tại thời điểm LPMT được thông qua thấp hơn ở các nước đang phát triển. 3. cần phải xây dựng cho được chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ hỗ trợ đắc lực cho nhau. cho nên đòi hỏi một chính sách tiền tệ siết chặt hơn. và có thể đem lại kỳ vọng rằng chính sách tiền tệ sẽ không được thực hiện với mục tiêu bảo vệ neo danh nghĩa của nền kinh tế. Việc lo sợ chính sách tài khoá vượt trội sẽ tác động đến lạm phát kì vọng. ii) nếu chính sách tiền tệ thắt chặt được thực thi thì khả năng hồi phục thành công cũng thấp. Do đó. mà chúng ta có thể đặt tên "financial dominance". Điều này có thể xảy ra như một hậu quả của sự yếu kém hoặc là sử dụng đòn bẩy quá cao của hệ thống tài chính. Các nhà nghiên cứu Goldfajn và Gupta đã tìm ra được rằng. thì ngay cả đạt được điều đó thì cũng phải mất thời gian để chính phủ nâng cao sự lạc quan của các nhà đầu tư cá nhân. Các tác giả Schaechter. Vấn đề này có thể được mô tả như là một hình thức thống trị. Sự yếu kém này cũng là một vấn đề khi mà trong hệ thống tài chính chủ yếu chỉ là các ngân hàng quốc doanh.2. 33 . Stone.3.

Chile. hơn nữa. dẫn đầu là tỷ lệ lãi suất cao hơn để kiềm chế áp lực lạm phát. có xu hướng làm suy yếu sự chuyển giao các cơ chế chính sách tiền tệ. và có thể gây nguy hiểm cho việc hoàn thành các mục tiêu. có một số khác biệt trong nhóm các nền kinh tế đang phát triển. nhưng chỉ ra một biến động cao hơn. không có thị trường dài hạn. Tỉ lệ tín dụng tư nhân trên GDP tương ứng là 63. và do đó tỷ lệ lạm phát. EMEs phải chịu sự dừng lại đột ngột “sudden stops” trong dòng vốn.11 trong các nền kinh tế phát triển. nói chung. Peru.4. Vì vậy. and Zelmer (2000). Nó phải được giải quyết thông qua việc tăng cường các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế chẳng hạn như. 3. Đối với tỷ giá hối đoái. các nền kinh tế có xu hướng hiện tại là một biến động cao hơn lãi suất và tỷ giá hối đoái. Sự tác động từ bên ngoài. điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến độ tín nhiệm của cơ chế. tỉ lệ các khoản nợ lỏng trên GDP trung bình là 51% ở EMEs. tỉ giá thả nổi hoàn toàn (điều này có nghĩa là bỏ qua mục tiêu tỉ giá). Hệ số biến thiên (độ lệch chuẩn/ trung bình) là 0. Những cú sốc lớn ảnh hưởng đến tỷ giá. Sự hiện diện của những cú sốc bên ngoài lớn và thường xuyên tạo ra sự bất ổn định lớn hơn trong nền kinh tế. lãi suất ngắn hạn sẽ phải di chuyển nhanh hơn. hiệu ứng: “dừng đột ngột”: Có thể giải thích cho các biến động là sự tồn tại của những cú sốc lớn hơn trong EMEs. Các dữ liệu được trình bày trong bảng 2 xác nhận việc biến động cao hơn của lãi suất trong EMEs.9% và 81. Brazil. Hungary. Theo Schaechter. theo Taylor (2000) nhấn mạnh. Kết quả là. Những cú sốc bên ngoài có xu hướng đóng vai trò quan trọng hơn trong EMEs so với ở các nước phát triển. và Nam 34 . Tuy nhiên. chúng ta có xu hướng quan sát biến động lãi suất cao hơn. một mức độ đủ mở và linh hoạt. Stone. Điều này có thể được xem như là một hình thức "thống trị bên ngoài". và 72% ở các nước phát triển trong năm 1997.15 trong EMEs và 0. dữ liệu ít rõ ràng hơn.0%.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Một vấn đề khác là sự tiền thống lĩnh của các hợp đồng tài chính ngắn hạn và vấn đề tài chính thiếu độ sâu trong EMEs. và.2. trong trường hợp LPMT.

Chúng ta ước lượng 3 thời kì: thời kì dài (với nhiều nước.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Phi có sự biến động tỷ giá lớn hơn đáng kể. chúng tôi cho thấy tỷ lệ sai số dự báo lãi suất và giá cả (hoặc lạm phát) được giải thích theo những cú sốc đến tỷ giá. Trung bình của hệ số biến thiên của năm quốc gia là 0. Chúng ta sử dụng phân tích Cholesky với thứ tự được đề cập. những cú sốc đến tỷ giá hối đoái giải thích một phần quan trọng của sai số dự báo lãi suất và giá cả. đối với các nền kinh tế phát triển và cho Mexico. nhưng nhìn chung bắt đầu từ những năm 80 của thế kỉ 20). xem xét kỳ hạn 12 tháng hoặc 4 quý cho LPMT. Dữ liệu sử dụng là dữ liệu hàng tháng và hàng quý của bốn biến: sản xuất công nghiệp (hoặc GDP). và tỷ giá hối đoái. chỉ số giá tiêu dùng. các ước tính cho thấy rằng tỷ giá hối đoái không đóng vai trò quan trọng. Mặt khác. Nam Triều Tiên có kết quả tương tự bằng cách sử dụng dữ liệu hàng tháng. chúng giải thích 49% các sai số dự báo tỷ lệ lãi suất. Bảng 6 ghi nhận các giá trị của sự phân tích các phương sai “variance error” trong lãi suất và mức giá (hay tỉ lệ lạm phát). 35 . chủ yếu là cho lãi suất. Tại Brazil. thời kì trước khi thông qua mục tiêu lạm phát và thời kì LPMT (tất cả kết thúc giữa năm 2002). và 18% của sai số dự báo giá. tác giả đã ước lượng VAR của các quốc gia được chọn. Đặc biệt. lãi suất.202. Trong trường hợp Brazil và Nam Phi. Để cố gắng đo lường tầm quan trọng của các cú sốc bên ngoài.

trong đó bao gồm lãi suất thay đổi và can thiệp trực tiếp vào thị trường tỷ giá hối đoái. Sự giảm giá của đồng nội tệ có 36 . Một số các lập luận có liên quan đến "nỗi sợ hãi thả nổi" (Calvo và Reinhart.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Những biến động tỉ giá hối đoái không phải luôn luôn phản ánh những áp lực của các cú sốc bên ngoài bởi vì các phản ứng chính sách. Ngoài áp lực lạm phát. tỉ giá hối đoái có những tác động khác cho nền kinh tế. chẳng hạn như sự không chắc chắn liên quan đến giá cả và giá trị của đồng đô la đối với nợ phải trả bằng tiền và tài sản. Một số thị trường mới nổi chọn lựa không chấp nhận tỷ giá hối đoái để phản ánh mức độ của các cú sốc bên ngoài. 2002).

5).5Etπt+1.4. như là một chỉ số của cú sốc bên ngoài. Như trước. và các hệ số của độ trễ lạm phát là 0. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa ở Brazil luỹ kế tăng 84.7% trong năm 2001 và 2002 (mất giá của đồng nội tệ là 45.9%). cú sốc lớn và dòng tiền gây ra biến động đáng kể trong tỉ giá hối đoái nếu phớt lờ đi chính sách. và iv) việc vay ngoại tệ có thể có ý nghĩa ý quan trọng.6%. sự giảm giá đáng kể của đồng tiền trong nước là nhân tố chính đằng sau việc không thực hiện các mục tiêu lạm phát trong năm 2001 và 2002. nhưng thay vì sử dụng các điều kiện UIP. lãi suất.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán tài chính của các công ty và tổ chức tài chính. Trong trường hợp này. Tác giả sử dụng mô hình để mô phỏng hiệu ứng của một cú sốc đến tỷ giá thực là 45%. Theo Amato và Gerlach (2002). đại diện cho sự giảm giá thật là 44. tỉ giá có xu hướng là tâm điểm cho những kì vọng lạm phát. Vì vậy. nó có giá trị kiểm tra sự lan truyền qua trái phiếu kho bạc của các khoản nợ nước ngoài của đất nước. và khả năng không hoàn thành các mục tiêu có xu hướng cao hơn. iii) những biến động của tỉ giá có thể có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của nhiều công ty trong nhiều lĩnh vực. chúng ta có xu hướng để quan sát một biến động cao hơn đầu ra. có một số lí do mà có thể để cho EMEs đưa sự quan trọng của tỉ giá hối đoái ra ngoài hiệu ứng lạm phát. ii) trong nền kinh tế với lịch sử yếu kém của việc ổn định tiền tệ. và tỷ giá. các NHTW phản ứng theo một quy tắc kì vọng đơn giản: it = 1. tác giả sử dụng một quá trình tự hồi quy cho tỉ giá thực (với hệ số tự hồi quy bằng 0. Trong trường hợp Brazil. i) thị trường ngoại hối kém phát triền. các NHTW có thể có những mục tiêu bổ sung vào hàm mục tiêu của mình. Theo kết quả của những áp lực bên ngoài. 37 .

Trong một thế giới thông tin hoàn hảo. các mục tiêu khác phụ thuộc vào mục tiêu này. iii) sử dụng nhiều biến số cho việc đô lường quyết định chính sách tiền tệ.1. tham số và tính co dãn của nền kinh tế và sự ưu tiên của xã hội cho lạm phát để chống lại sự không ổn định→NHTW cần xác định kích thước và bản chất của cú sốc đặc biệt tập trung vào:cú sốc cung hay cầu . các cú sốc được xác định một cách chính xác thì các dải xung 38 . Để giải quyết tình trạng không ổn định ngày càng cao thì NHTW đã sử dụng các công cụ: + Thiết kế mục tiêu lạm phát.3. cao? Làm thế nào để giải quyết các biến động ngày càng LPMT bao gồm : i)công bố những mục tiêu lạm phát ii)cam kết của các cơ quan về ổn định giá là mục tiêu hàng đầu của CSTT.kích thước và sự ảnh hưởng của chúng.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 3.tạm thời hay lâu dài. Sự dai dẳng của các cú sốc: Khi thiết kế chế độ LPMT thì điều quan trọng là xác đinh kích thước của các dải xung quanh điểm trung tâm của mục tiêu. Dải mục tiêu càng hẹp có khuynh hướng báo hiệu một sự ưu thích tính ổn định cao hơn trong lạm phát. Khi đối mặt với các cú sốc giải pháp tối ưu sẽ phụ thuộc vào bản chất của cú sốc.3.iv) tăng cường tính minh bạch của CSTT v)tăng cường trách nhiệm giải trình của NHTW. + Tính minh bạch + Phương pháp để dự đoán sự tập trung theo những biến động (các mục tiêu điều chỉnh ) +Thay đổi điều kiện IMF 3.

Đưa ra một số tính chất hay thay đổi của các cú sốc trong nền kinh tế. Do đó cần đưa ra một biên độ cho phép lạm phát lệch khỏi mục tiêu khi nền kinh tế bị tổn thương bởi các cú sốc.và sự dai dẳng của cú sốc. Kích thước thích hợp cho các dải mục tiêu: Ở các quốc gia khác nhau thì có các kích thước nhóm khác nhau. Căn cứ các thông số của nền kinh tế và lạm phát không mong đợi. và thừa nhận một số biến cho cú sốc ta thu được độ lệch chuẩn của lạm phát (đưa ra một số thước đo tối ưu). Các cú sốc lớn có thể yêu cầu những độ lệch lớn hơn so với điểm trung tâm của mục tiêu. Nguyên nhân có thể do ảnh hưởng không đối xứng của các cú sốc cung. Nếu ta thừa nhận là các cú sốc phân phối ngẫu nhiên thì nên tìm một kích thước nhóm phù hợp với độ lệch chuẩn của LP là 1. Giá giảm xuống 1 cách cứng nhắc.các điểm kiểm tra khi NHTW giải thích các nguyên nhân không hoàn thành mục tiêu và NHTW cần phải giải thích rõ ràng đường lối để đưa lạm phát quay lại mục tiêu ban đầu. Sử dụng các mô hình. Mục tiêu cao hơn phản ánh không chỉ lạm phát cao hơn quá khứ mà còn dễ bị tổn thương hơn khi chịu các tác động bên ngoài.65. sự khác nhau giữa mục tiêu của EMEs và các nước phát triển ngày càng giảm nhưng vẫn còn khoảng cách. các cú sốc làm giảm phát có khuynh hướng ảnh hưởng ít 39 . khoảng 90% các trường hợp. Khi đối mặt với các cú sốc lớn thì đòi hỏi những mục tiêu trung tâm cao hơn. đôi khi xa hơn điểm giới hạn trên của mục tiêu. Các dải mục tiêu nên được xem như những phương tiện thông tin. Kích thước của các nhóm phải đủ lớn để hầu hết các trường hợp của tỉ lệ lạm phát phải ở trong đó nếu CSTT được chỉ đạo một cách hiệu quả. LP nên ở trong các dải mục tiêu ở hầu hết các trường hợp. Số liệu 6.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 quanh mục tiêu lạm phát không còn có vai trò nữa. Các biên độ này được xác định dựa trên loại. kích thước. thì một giải pháp tối ưu cho các cú shock sẽ tạo nên độ lệch so với điểm mục tiêu (dải mục tiêu).

MPC phải phát hành báo cáo lạm phát hàng quý cho thấy viễn cảnh của nền kinh tế và đặc biệt là khuynh hướng của lạm phát đều được giải thích chi tiết.Hậu quả là các cú sốc lớn hơn có độ nghiêng cao hơn.2 Ủy ban chính sách tiền tệ. có nghĩa là hướng đến một tầm nhìn xa hơn để đạt được LPMT.3. 3. nó phải đủ ngắn để trung hòa các ảnh hưởng của LP và hướng về LP mong đợi của mục tiêu.biên bản và báo cáo lạm phát làm tăng tính minh bạch của NHTW: Ủy ban tiền tệ đóng một vai trò không kém phần quan trọng trong chế độ LPMT ở các nước mới nổi.phương pháp luận đang được sử dụng ở Brazil là nó tính toán được tác động lạm phát của các cú sốc cung hiện tại cũng như các tác động thứ yếu của các 40 . Khi EMEs dễ bị các cú sốc lớn hơn chúng ta nên cân nhắc một tầm nhìn xa hơn. “LPMT linh hoạt” có tác dụng đưa đến sự ổn định. Mọi chi tiết của cuộc họp được công bố rộng rãi. Tại bất kỳ tỉ lệ LP nào. điều quyết định là các chính sách đối phó của NHTW phải được giải thích rõ ràng để tránh các rủi ro về uy tín.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 hơn đến lạm phát hơn là các cú sốc làm lạm phát. Mặt khác. Kinh nghiệm gần đây của Brazil với LPMT trong thời gian bất ổn minh họa cho các ứng dụng thực tế của các nguyên lý chung và các yếu tố cơ bản được thảo luận ở trên . Nó làm tăng tính minh bạch của NHTW. 3. Ủy ban này họp đều đặn hàng tháng để điều hành chính sách tiền tệ. Thực ra không có một con số cụ thể cho tầm nhìn mà NHTW nên sử dụng để hướng dẫn cho các chính sách khi đối đầu với cú sốc cung.3.3 Các cú sốc và các mục tiêu điều chỉnh. Nó nên đủ dài để chấp nhận các hoạt động của cỗ máy chính sách tiền tệ và đủ mức độ để san bằng các ảnh hưởng của cú sốc. Tất nhiên khó khăn ở đây là nếu NHTW vẫn xây dựng sự tín nhiệm những tầm nhìn xa hơn có thể bị hiểu như sự khoan dung ảnh hưởng đến uy tín của NHTW.

Khi đối mặt với các cú sốc.Đối mặt với các cú sốc chi phí như sự tăng giá của một số mặt hàng được chính phủ quy định cao hơn lạm phát của các giá khác trong nền kinh tế .Mục tiêu được điều chỉnh sẽ xem xét các những ảnh hưởng chủ yếu của sự thay đổi các giá liên quan và quán tính của lạm phát trước đây.Do đó BCB sẽ đưa ra một mục tiêu điều chỉnh.ảnh hưởng chính của cú sốc tới lạm phát do quy định giá .chính sách tiền tệ nên xác định phạm vi để điều tiết tác động trực tiếp của các cú sốc lên mức giá và đấu tranh với các tác động phụ của chúng.Mặc dù sẽ mất đi sự tín nhiệm từ việc thay đổi mục tiêu nhưng sẽ có sự tăng lên đáng kể về tính minh bạch và thông tin.ban đầu NHTW brazil (BCB) xem xét bản chất và sự dai dẳng của cú sốc.Thời kỳ đầu của chế độ 41 .và quán tính của lạm phát được kế thừa từ năm trước sẽ được xem xét ở năm hiện tại và được thêm vào mục tiêu trước đây được xác định bởi chính phủ.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 cú sốc trong quá khứ (do tính ì của quá trình lạm phát).BCB xây dựng lạm phát khác nhau và đưa ra các đường cong kết hợp với các lãi suất khác nhau.Sau đó.Các tổ chức cá nhân biết được mục tiêu mà NHTW đang theo đuổi Trong khái niệm của mục tiêu điều chỉnh.Dựa trên sự không ưa thích tính biến thiên của lạm phát mà BCB chọn ra giải pháp tối ưu cho sản lượng và lạm phát. các cú sốc quan trọng như việc tăng lên trong giá cả quy định của các mặt hàng thiết yếu và tỉ giá hối đoái là một trong những thử thách chính mà BCB phải đối mặt. Mục tiêu mới phải được công bố rộng rãi. những hậu quả của lạm phát có thể kéo dài 1 năm hoặc hơn thế.Banco Central do Brazil (2003) đã công bố đường lối này và tác động của các đường lối khác nhau Nếu các cú sốc lớn hoặc dai dẳng.Ý tưởng này thường là để điều tiết tác động trực tiếp của các cú sốc hiện tại và chọn ra một tầm nhìn để loại bỏ các tác động thứ yếu của các cú sốc trong quá khứ. Thực vậy. Vào 6/1994 do nhiều nguyên nhân khác nhau lạm phát do quy định giá đã cao hơn nhiều so với lạm phát giá thị trường.Giải pháp tối ưu có thể đưa đến một tỉ lệ lạm phát 12 tháng cao hơn so với mục tiêu trước đây.

Vì vậy. một cú sốc giảm giá lớn của nền kinh tế Brazil (2002) dẫn đến 42 .chúng ta cần nhấn mạnh là 2 năm không phải là một con số cố định .Một là sự đo lường điểm lạm phát trung tâm không nhất thiết biệt lập khỏi ảnh hưởng của các cú sốc.Ví dụ.Nó phụ thuộc vào độ lớn và loại cú sốc.Khi có sự đi xuống cứng nhắc của giá cả.chính sách tiền tệ nên được định hướng theo hướng loại trừ những tác động thứ yếu của chúng trong lạm phát và giữ lại sư điều chỉnh đầu tiên của các giá tương đối . ShA:tác động đầu tiên của giá được quy định πadm :Lạm phát của giá được quy định π*:Mục tiêu lạm phát ωadm :Tỉ trọng của các giá được quy định trong CPI IA: ảnh hưởng của độ trễ của năm trước trong sự tiến triển của giá được quy định CaA : ảnh hưởng của sự thay đổi tỉ giá hối đoái trong sự tiến triển của giá được quy định.2%(7/1999-2/2003).Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 LPMT.Tuy nhiên. Nếu những sự tăng giá này được xem như một cú sốc cung . chỉ số giữa các giá được quy định so với các giá thị trường tăng 31. Nhìn chung có hai ưu điểm trong việc sử dụng thủ tục mục tiêu điều chỉnh. những nỗ lực của BCB để xác định tác động lạm phát đầu tiên của lạm phát giá được quy định đã trở nên đặc biệt quan trọng. những thay đổi trong các giá tương đối thường thể hiện trong lạm phát cao hơn. khi nó giúp thi hành chính sách tiền tệ với cách thức linh hoạt và không mất đi cái nhìn về mục tiêu lớn hơn là đạt được các mục tiêu lạm phát. Quyết định để theo đuổi một đường cong lạm phát dựa trên những cân nhắc cho các mục tiêu điều chỉnh là chính sách tiền tệ có thể sẽ đưa lạm phát hội tụ về mục tiêu có thể chịu được trong 2 năm.

không thích hợp cho chính sách LPMT bởi vì nó ảnh hưởng đến tính minh bạch và gây áp lực cho NHTW để thực hiện những chính sách tiền tệ không cần thiết. Nhu cầu về tiền tệ là không ổn định. nhưng cần xác định các hoàn cảnh mà sự vi phạm mục tiêu có thể được bào chữa. và những tổ chức tiền tệ dường như là những nhà dự đoán kém về lạm phát. 3. Do đó sự gia tăng tự do trong nhu cầu tiền tệ sẽ đòi hỏi. một sự gia tăng trong lãi suất không bao gồm mục đích chính sách LPMT dẫn đến tính biến động cao hơn trong tỷ lệ lãi suất hơn mức cần thiết.3.hơn việc sử dụng điểm trung tâm khi nó không loại trừ các yếu tố khỏi LPMT.các hoàn cảnh mà NHTW có thể bào chữa cho việc không hoàn thành mục tiêu đã lập ở trên .Ưu điểm chính của thủ tục mục tiêu điều chỉnh là :i)thủ tục hiện đại.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 điểm trung tâm lạm phát đo được symmetric trimmed mean 8.và trên thực tế tính không ổn định sản lượng nên được phân chia trong các nhiệm vụ mục tiêu.Hai là cấu trúc của LPMT điều chỉnh dựa trên những ý kiến là CSTT nên trung hòa ảnh hưởng thứ yếu của cú sốc cung và xem xét những tác động đầu tiên.ii)xác định rõ ràng mục tiêu theo đuổi mới của NHTW iii)giải thích cách mục tiêu mới được đo lường.Nó có nhiều điểm giống với thủ tục của mục tiêu điều chỉnh. Hơn nữa. trong trường hợp mức trần của thu nhập quốc nội ròng hoặc mục tiêu tiền tệ cơ bản.8% cao hơn LPMT.4 Các điều kiện của IMF:  Giảm bớt điều kiện về tài sản trong nước ròng (NDA): Các điều kiện về NDA thường được tìm thấy trong những thỏa thuận để đánh giá vị thế của chính sách tiền tệ. sự đánh thuế lên NDA có thể dẫn đến phá vỡ tính sáng suốt trong việc phán đoán sẽ tăng LPMT và những mục tiêu khác của chính sách tiền tệ.Vì vậy nguyên lý mà CSTT được dẫn đường đó là ngày càng trở nên minh bạch. Trong các điều khoản giải thoát. 43 .

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34  Đưa lạm phát như 1 yếu tố đánh giá CSTT: Khi cân nhắc về những mục tiêu của NDA. lạm phát được đưa ra là sự kỳ vọng để tập trung vào mục tiêu. cái này cũng có thể 44 . Chương trình của IMF xem xét theo quý. trong khi một cơ cấu LPMT. nếu một cú sốc quan trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế trong quý tiếp theo. Tuy nhiên. Mục tiêu cho lạm phát 12 tháng cho quý này được cân nhắc bằng cách kiểm tra lại lạm phát được xác định trong 3 quý trước. cả trên và dưới những mục tiêu trung tâm. Cái này cùng phạm vi hoặc tính chất tự nhiên của hệ thống LPMT. vì LPMT tập trung vào việc dự báo lạm phát.p. Hướng đi của những mục tiêu của IMF nên được thích hợp với những mục tiêu hàng năm của chính sách LPMT. ít nhất hai câu hỏi phải được trả lời trong chương trình của IMF: tần số của sự xem xét lại. và tiêu chuẩn để đặt những mục tiêu. Nó cũng bao gồm trong và ngoài phạm vi của 1.p và 2. Những thông tin ngẫu nhiên nhận được về lạm phát trong suốt một năm không nên thay đổi quyết định của chính phủ về chính sách tiền tệ. lạm phát có thể phá vỡ mục tiêu. Đồng thời nó loại bỏ vấn đề tác động của những số liệu hàng quý bởi vì nhận thức về LPMT có thể được xác định cả 4 quý. biểu hiện của lạm phát được xem xét theo tầm nhìn dài hạn. nhưng chỉ thông qua 1 kênh trực tiếp tự hồi quy của lạm phát. đánh giá kết quả lạm phát phải quan tâm đến những cú sốc tác động đến nền kinh tế.. Brazil đã sử dụng lạm phát 12 tháng như mục tiêu tiền tệ hàng quý trong IMF. tương ứng. và những cú sốc trong một năm sẽ tác động lạm phát trong năm tiếp theo. Dĩ nhiên. biểu hiện lạm phát nổi lên như một tiêu chuẩn tự nhiên về việc đánh giá chính sách tiền tệ. Khó khăn chính xuất hiện với sự cần thiết của thỏa hiệp giữa IMF và NHTW về quan tâm đến các mô hình được sử dụng và rủi ro liên quan. Việc sử dụng số liệu lạm phát hàng quý là những mục tiêu không được đề nghị vì chúng hay thay đổi và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những cú sốc tạm thời. cộng với dự đoán cho lạm phát quý tiếp theo.5 p.0 p.

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

tiêu tốn thời gian. Do đó, nó cũng bao gồm việc xây dựng lòng tin bằng tiến trình dự đoán của NHTW. Trong thỏa thuận giữa Brazil và IMF, dự báo lạm phát của NHTW được sử dụng như một tiêu chuẩn quan trọng cho việc xác định những mục tiêu. Tuy nhiên, sự xem xét lại vẫn được thực hiện hàng quý dựa trên lạm phát thực tế. Lý do cho việc không hoàn thành mục tiêu được giải thích một cách kĩ lưỡng cho công chúng và IMF.

4. THỰC TẾ ÁP DỤNG LẠM PHÁT MỤC TIÊU:
4.1Thế giới:
4.1.1 Lạm phát: Hình 2.1 và 2.2 so sánh lạm phát trung bình của các nước không theo LPMT và các nước theo LPMT trong nhóm nước OECD (Oganiation for Economic Cooperation and Development) và trong nhóm nước mới nổi.

45

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

46

Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi

Nhóm nghiên cứu TC8 K34

Có sự khác biệt giữa các nước theo LPMT và không theo LPMT ở 2 nhóm nước đã nêu ở trên. Trong nhóm nước OECD , không có sự chênh lệch lớn trong lạm phát trung bình ở 2 nhóm nước theo hay không theo LPMT. Trong nhóm các thị trường mới nổi, có sự giảm lạm phát trung bình từ mức cao hơn của các nước theo LPMT so với các nước không theo LPMT và mức giảm của các nước theo LPMT cũng lớn hơn các nước không theo. 4.1.2 Lạm phát kì vọng: Gần đây, IMF (2008) đã xem xét các khuôn khổ chính sách tiền tệ thành công nhất trong việc neo kì vọng lạm phát khi xảy ra các cú sốc giá dầu và lương thực trong năm 2007 và thấy rằng “trong nền kinh tế mới nổi, LPMT dường 47

Cho đến nay nước này đã rất thành công trong việc làm giảm tỉ lệ lạm phát xuống 48 . và 6-10 năm tới ứng với sự thay đổi 1% trong lạm phát thực tế trong các nền kinh tế mới nổi. 4.2 thể hiện phần trăm phản ứng của kì vọng lạm phát 1. Bảng 2. ở các nền kinh tế mới nổi. nhưng cho đến nay thể chế này đã thành công trong việc thúc đẩy sự ổn định kinh tế vĩ mô ở một số quốc gia thị trường mới nổi. sự phản ứng của lạm phát dự kiến (expected headline inflation) 1. 4.5.1 Chilê: Chilê là một ví dụ điển hình của cơ chế LPMT ở các quốc gia thị trường mới nổi. trong khi ở các nền kinh tế không theo LPMT là các giá trị dương.2. 5 năm tới là 0.3. đây là 2 ví dụ minh hoạ về việc: sự phát triển về mặt thể chế (những nội dung đã được đề cập ở trên) là cốt yếu cho sự thành công của cơ chế LPMT trong bối cảnh các quốc gia thị trường mới nổi.2 Thực tế Brazil và Chile: Mặc dù có những thách thức lớn trong việc tạo lập được một cơ chế LPMT vận hành thành công. Ở đây chúng ta xem xét trường hợp của Chilê và Brazil. 3.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 như gần đây có hiệu quả hơn khi chọn lựa các khuôn khổ chính sách tiền tệ khác trong việc neo kì vọng”.

tức là chỉ một năm trước khi bắt đầu cơ chế LPMT). bình quân là 6% từ năm 1991-2002. ngân sách của Chilê thặng dư với mức trung bình gần 1% GDP. Trên thực tế. Ngoài ra. thì sự ổn định của hệ thống tài chính của Chilê cho đến nay cũng chưa hề bị đe doạ. Hơn nữa. trong đó trao quyền độc lập. Chilê chỉ siết chặt dần dần đối với cơ chế LPMT.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 mức thấp tương tự như ở các quốc gia tiên tiến. cho đến tận tháng 8/1999. khủng hoảng ở Nga năm 1998 và một số khó khăn hiện hành ở các nước Châu mỹ La tinh. Chỉ sau khi NHTW đã tạo dựng được một số thành công trong việc đẩy lùi lạm phát thì những dự đoán về lạm phát mới trở thành những mục tiêu bắt buộc mà NHTW có trách nhiệm đạt được. tăng trưởng sản lượng cũng ở mức rất cao. cần nhấn mạnh là sự thành công của cơ chế LPMT ở Chilê đã được dựa trên cơ sở sự phát triển của các thể chế cần thiết như chúng ta đã thảo luận. Từ năm 1991 khi bắt đầu với cơ chế LPMT cho đến thời điểm năm 2004. Năm 1989 Chilê đã thông qua luật mới về NHTW (luật này có hiệu lực vào năm 1990. Tuy nhiên. Kết quả là ngay cả trong thời kỳ của cuộc khủng hoảng Tequila vào năm 1995. Chilê thực hiện chế độ tỉ giá con rắn 49 . Chilê cũng thực hiện việc xây dựng các định chế tiền tệ vững mạnh. nên các quy định về giám sát và quản lý hoạt động ngân hàng mà Chilê đã thiết lập. Ban đầu mức lạm phát mà Chilê công bố dường như chỉ được hiểu là một dự đoán chính thức chứ không phải là một mức LPMT chính thức hay bắt buộc. được đánh giá là một trong các thể chế tốt nhất ở các quốc gia thị trường mới nổi và được xem là có thể so sánh với thể chế ở các quốc gia tiên tiến. Chilê đã giảm được lạm phát từ tỉ lệ trên 20% xuống khoảng 2%. phần nhiều do các biện pháp đã được áp dụng sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng ngân hàng nghiêm trọng vào đầu những năm 1980 (gây thiệt hại trên 40% GDP). Trong thời gian này. Trong giai đoạn 1991-2002. đồng thời quốc gia này cũng đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao. cũng như giao nhiệm vụ bình ổn giá cả cho NHTW và đây được coi là mục tiêu hàng đầu.

đồng thời tăng lãi suất chỉ đạo trên thị trường liên ngân hàng thêm 600 điểm cơ bản (tức là 6%).2 Brazil: Brazil thiết lập cơ chế LPMT ngay sau khi đồng real sụp đổ vào tháng 1/1999. Chilê trong một chừng mức nào đó cũng đã tỏ ra “sợ việc thả nổi đồng bản tệ”. lên mức 45%/năm.những gì mà chúng ta đã thảo luận ở phần 50 .2. các biện pháp khắc phục và thời gian để đưa lạm phát trở lại vùng biên độ cho phép). Đầu tháng 2/1999 thống đốc mới của NHTW. ông Arminio Fraga. Vào ngày 21/06/1999. Thực ra những gì diễn ra ở Chilê nên được nhìn nhận như là một sự tiến triển rõ nét. tài chính và tiền tệ . (2) Giao cho Uỷ ban Tiền tệ Quốc gia nhiệm vụ đặt ra các mục tiêu về lạm phát và biên độ dao động cho phép trên cơ sở đề xuất của Bộ trưởng Tài chính. bao gồm: (1) Thông báo về các mục tiêu lạm phát trong thời kỳ nhiều năm (với mục tiêu bằng những con số cụ thể cho tỉ lệ lạm phát 12 tháng của các năm 1999.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 tiền tệ (crawling peg) trong khi năm 1998 nước này đã cố định tỉ giá (đây là một sai lầm mà sau này đã được sửa chữa). thì thống đốc NHTW sẽ phải có văn bản công khai gửi đến Bộ trưởng Tài chính để giải trình về nguyên nhân. và (5) Thực hiện các công việc để cải thiện tính minh bạch của CSTT (cụ thể là NHTW phải phát hành báo cáo lạm phát hàng quý theo mô hình báo cáo của NHTW Anh). Tổng thống Brazil ban hành nghị định về thể chế hoá LPMT. đã thông báo rằng Brazil sẽ sớm áp dụng cơ chế LPMT. Bởi vậy. 4. Khuôn khổ pháp lý này chứa đựng tất cả đặc điểm của một cơ chế LPMT đầy đủ. Brazil đã thiết lập cơ chế LPMT mà trước đó chưa tiến hành tất cả các cuộc cải cách về tài khoá. theo đó chỉ đến tháng 5/2000 Chilê mới chuyển hẳn sang cơ chế LPMT toàn diện. 2000. 2001 và cam kết sẽ thông báo về mục tiêu cho năm 2002 cùng với 02 năm tiếp theo. (3) Giao cho NHTW Brazil hoàn toàn trách nhiệm trong việc thi hành các chính sách cần thiết để đạt được mục tiêu lạm phát đã đề ra. (4) Thiết lập các quy trình để tăng cường tính trách nhiệm của NHTW (cụ thể là nếu lạm phát vượt ra ngoài biên độ cho phép.

GDP đã tăng gần 1% trong năm 1999). Sau đó Brazil đã tiến hành các biện pháp để cải thiện cán cân tài khoá theo chương trình với IMF. Đến tháng 3/1999. Tuy nhiên. song người ta vẫn nghi ngờ về khả năng kéo dài của các cuộc cải cách tài khoá của nước này. 51 . Với những tình hình như nêu trên. đồng thời trong thời gian đó đã không có những vụ hoảng loạn ngân hàng lớn xảy ra. Thực tế. cơ chế LPMT của Brazil lại tỏ ra vận hành được. trong năm 2000 lạm phát tiếp tục giảm và lạm phát tại thời điểm cuối năm 2000 đúng bằng mức mục tiêu 6% mà NHTW đã đặt ra vào thời điểm giữa năm 1999. Mặt khác. sau đó ổn định ở mức thấp hơn 30% so với mức tỉ giá đã định trước) trong vài tháng. lạm phát trong năm 1999 là 8. nhưng sự sụt giảm về sản lượng của nền kinh tế vẫn được kiềm chế (trên thực tế. Mặc dù có sự tác động không lớn. nhưng đáng kể từ việc đồng real mất giá (ban đầu đồng real mất giá 45% do tác động của cuộc khủng hoảng. sự sụp đổ của đồng real vào năm 1999 có thể xuất phát từ sự bất lực của Chính phủ Brazil trong việc đưa các thể chế tài khoá vào khuôn khổ. Thứ nhất.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 trên.9%. trước đây Brazil đã có một hệ thống ngân hàng vững mạnh do hệ thống này đã trải qua quá trình tái cơ cấu mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng ngân hàng 1994-1996. với biên độ dao động cho phép là 2%. nguồn tài trợ nước ngoài cho Brazil đã không bị cắt hẳn mặc dù đã bị siết chặt. Cả hai nội dung này đều chỉ dựa trên một nghị định của Tổng thống và lòng tin vào một thống đốc NHTW giỏi. Mục tiêu lạm phát đầu tiên được đặt ra là 8% cho năm 1999. Tỉ giá và lạm phát vẫn khá ổn định qua thời điểm tháng 10/1999. 6% cho năm 2000 và 4% cho năm 2001. tính độc lập của NHTW Brazil và cam kết bình ổn giá cả cũng vẫn chưa rõ ràng. chứ chưa có một cam kết chính thống hơn dựa trên một văn bản luật. giá cả tài sản đã bắt đầu hồi phục. cao hơn so với mục tiêu 8% nhưng vẫn hoàn toàn năm trong biên độ dao động 2% cho phép. đồng real đã lên giá và NHTW thấy có cơ sở để hạ lãi suất và trên thực tế họ đã thực hiện việc này khá mạnh mẽ (từ mức 45% xuống dưới 20%/năm trong thời gian 7 tháng).

Họ ước tính rằng cú sốc về giá một số mặt hàng được chính phủ điều chỉnh sẽ làm lạm phát tăng lên 1. trong đó 2/3 là bắt buộc phải chấp nhận. ông Lula . Ông cũng chỉ ra rằng ông sẽ không tái bổ nhiệm vị thống đốc NHTW đang rất được kính trọng – ông Arminio Fraga. thị trường đã tỏ ra quan ngại về ứng cử viên tổng thống.8%. Ông có xu hướng sẽ khuyến khích chính sách tài khoá có mức nới lỏng cao và đồng thời không đưa ra các biện pháp từng bước trả nợ nước ngoài. Tuy nhiên.có khả năng làm suy yếu các thể chế về tài khoá và tiền tệ. theo nội dung nghị định của tổng thống – đây là nghị định đã cho ra đời cơ chế LPMT. Như đã nêu ở trên. tức là không tránh khỏi mức tăng 2. đây là mức cao hơn nhiều so với mục tiêu 3. trong đó giải trình về nguyên nhân không đạt được mục tiêu lạm phát và những biện pháp sẽ được thực hiện nhằm tiếp tục đẩy lùi lạm phát. Sự thiếu vắng lòng tin của dân chúng đã dẫn đến sự phá giá mạnh của đồng real Brazil. 52 .2%. việc bình ổn giá cả và cơ chế LPMT cũng rất không rõ ràng.5%. tác động quán tính do các cú sốc xảy ra trước đó cũng sẽ làm lạm phát tăng lên 4.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Sự yếu kém trong một số khía cạnh về khuôn khổ thể chế chính sách tài khoá và tiền tệ đã trở lại và tác động xấu đến LPMT ở Brazil. đồng thời những cam kết của ông Lula đối với tính độc lập của NHTW. công khai về mức độ của các cú sốc cũng như thời gian mà chúng diễn ra. Tác động của quá trình bầu cử ở Brazil cho thấy rằng thể chế tài khoá và tiền tệ yếu kém dường như đã tạo ra những vấn đề nghiêm trọng đối với cơ chế LPMT.5% cho năm 2002. Trong cuộc chạy đua vào chức vụ tổng thống vào tháng 10/2002. phản ứng của chính phủ và NHTW Brazil đối với việc đã để trượt mục tiêu lạm phát cho thấy rằng cơ chế LPMT có thể giúp kiểm soát lạm phát khi có các cú sốc mạnh như đợt phá giá đồng real vào năm 2002.người có nhiều triển vọng sẽ đắc cử . Đầu tiên NHTW Brazil giải thích vì sao tỉ giá đã ở mức quá cao và họ đã đưa ra ước tính rõ ràng. đồng thời lạm phát cũng gia tăng mạnh lên mức 12. NHTW Brazil đã giải trình với tính minh bạch rất cao về việc sửa đổi các mục tiêu về lạm phát và mức xu hướng về lạm phát mà họ cần đạt được trong tương lai. NHTW Brazil phải trình một văn bản công khai lên Bộ tài chính.7%.

chứ không màng tới sự biến động của sản lượng.5% trong năm 2003 thì có khả năng GDP sẽ giảm 1. Từ mức 12. Thứ ba. trong khi đó nếu cứ cố đạt được mục tiêu lạm phát là 4% thì thậm chí GDP còn giảm 7. lạm phát và lãi suất ở Brazil đã giảm nhanh. thông qua thảo luận những xu hướng lạm phát khác nhau và vì sao lại lựa chọn việc điều chỉnh mục tiêu lạm phát.3%.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Sau đó NHTW đã cộng thêm 2 con số nêu trên vào mục tiêu lạm phát 4% (mục tiêu mà đã được công bố trước đó) và đi đến một mục tiêu mới đã được điều chỉnh cho năm 2003 là 8.6%. Tính minh bạch cao đã giúp giảm thiểu sự mất lòng tin vào NHTW Brazil khi họ không đạt được mục tiêu lạm phát. cách thức mà NHTW Brazil sẽ đối phó với cú sốc. Các bước mà NHTW Brazil đã làm hẳn như là một tình huống trong sách để các NHTW có thể nghiên cứu nhằm phản ứng lại những cú sốc ở các quốc gia thị trường mới nổi.8%). đồng thời nêu rõ sự cần thiết phải điều chỉnh mục tiêu lạm phát trong ngắn hạn. Kết quả của tình huống nêu trên đã diễn ra hết sức thuận lợi. Từ mức lạm phát cao ban đầu. trong đó đã giải trình việc theo đuổi mục tiêu lạm phát 4% trong thời gian quá ngắn sẽ gây ra tổn thất rất lớn về suy giảm sản lượng nền kinh tế. NHTW Brazil đã nhận ra rằng không thể không điều chỉnh mục tiêu lạm phát vì thị trường và công chúng đã nhận rõ rằng lạm phát sẽ đi chệch mục tiêu ấn định từ ban đầu. Thứ hai.5% (=4%+1. việc điều chỉnh mục tiêu lạm phát hoàn toàn là cần thiết để duy trì uy tín cho NHTW. Vì vậy.5% trong năm 53 . Dường như những hành động trên đã giúp tăng cường sự ủng hộ cho tính độc lập của NHTW Brazil.7%+2. NHTW có thể phản bác lại luận điểm của Mervyn King (1996) về một NHTW chỉ quan tâm đến kiểm soát lạm phát. Mục tiêu mới này đã được đưa vào văn bản công khai gửi Bộ trưởng Tài chính vào tháng 1/2003. Cụ thể là văn bản đã chỉ ra rằng nếu cố gắng đạt được mục tiêu lạm phát là 6. Trước hết phải kể đến là tính minh bạch rất cao trong việc giải thích tại sao không đạt được mức LPMT đặt ra. Bằng việc chỉ ra rằng nếu chọn tỉ lệ lạm phát thấp sẽ dẫn đến tổn thất lớn về sản lượng. cũng như kế hoạch để đạt được mục tiêu lạm phát trong dài hạn.

Cho đến nay. dự thảo mới về luật NHTW nhằm tăng cường tính độc lập của NHTW Brazil. Ngoài ra. mà còn phải có các chính sách hỗ trợ để phát triển các thể chế tiền tệ.25%) mà IMF yêu cầu. nền kinh tế Brazil đã bắt đầu phát triển trở lại. thì việc tiếp tục duy trì tình hình tài khoá là không hoàn toàn có thể đảm bảo được sự chắc chắn. Mặt khác. Một phần quan trọng trong sự thành công của NHTW Brazil trong việc ứng phó với cú sốc về lạm phát là sự tin tưởng ngày càng cao vào chính sách tài khoá của Chính phủ. Tổng thống Lula đã làm nhiều người phản đối ông phải ngạc nhiên vì những biện pháp của ông nhằm ủng hộ cho việc duy trì kỷ luật trong chính sách tài khoá. mức này nằm trong biên độ dao động cho phép của mức LPMT 8. chính trị ở các nước này phức tạp hơn.3% GDP.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 2002. Tất nhiên vẫn có những mối lo ngại về việc không biết Brazil có thể duy trì thể chế tài khoá này được bao lâu trong thời gian tiếp theo. làm cơ sở vững chắc hơn về mặt thể chế cho sự tồn tại và phát triển của cơ chế LPMT vẫn chưa được thông qua. có thể kiểm soát được kỳ vọng về lạm phát. cho dù môi trường kinh tế. với những sức ép lên chính phủ của Tổng thống Lula từ phía cánh tả. Tuy nhiên. thì các chính sách 54 .5%.3% vào cuối năm 2003. LPMT cho đến nay đã chứng tỏ là có thể tạo ra chiếc neo danh nghĩa mạnh. lạm phát đã giảm xuống 9. tài chính và tài khoá vững mạnh. Những ví dụ nêu trên về Chilê và Brazil cho thấy rằng LPMT thực sự có tính khả thi ở các quốc gia thị trường mới nổi. Ông đã ủng hộ và tác động để thông qua một văn bản luật vào tháng 8/2003 nhằm cải tổ để duy trì sự tồn tại lâu dài hệ thống lương hưu. sau khi có sự sụt giảm của GDP. Kỳ vọng lạm phát của thị trường cũng giảm mạnh và có dấu hiệu cho thấy rằng thị trường đang kỳ vọng NHTW sẽ đạt được mục tiêu lạm phát trong năm 2004. cơ chế này đòi hỏi NHTW không những phải có sự trao đổi thông tin tốt và đảm bảo tính minh bạch. cao hơn so với mục tiêu (4. Chính phủ của ông cũng đã theo đuổi chính sách chi tiêu thắt chặt và kết quả ban đầu là ngân sách năm 2003 đã thặng dư ở mức 4. Trường hợp của Brazil cho thấy rằng khi LPMT được thiết lập nhằm tạo lập những kết quả tốt về kinh tế vĩ mô.

5.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 này không nhất thiết là đã phải hiện diện một cách đầy đủ. Tương tự với sản lượng và lạm phát năm (0). tài chính và tài khoá. LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN: 5. Dự báo chính xác mục tiêu lạm phát sẽ rất hữu ích giúp NHTW sử dụng các công cụ tiền tệ để đưa lạm phát dự kiến bằng với LPMT trong tương lai. bởi vậy công tác dự báo là vô cùng quan trọng. tuy nhiên cần thiết phải có cam kết mạnh mẽ về việc phát triển những thể chế tiền tệ. thường là 4 hay 8 quý. Tuy nhiên việc áp dụng mô hình kinh tế cho việc dự báo có thật sự hiệu quả tại các nước mới nổi khi mà các mô hình kinh tế chính sách tiền tệ này khi được 55 . NHTW tác động tới lãi suất thời điểm (0) tác động tới sản lượng thời điểm (1). đồng thời cần đảm bảo rằng các thể chế này sẽ tiếp tục được tăng cường.1 Sự phù hợp của mô hình Taylor ở các thị trường mới nổi? Vấn đề dự báo LPMT? Bất kì một chính sách tiền tệ nào khi áp dụng cũng đều có độ trễ. rồi sản lượng thời điểm 1 sẽ tác động tới lạm phát thời điểm (2).

Tuy nhiên. thì dự báo lạm phát nên từ từ kéo dài ra theo thời gian. còn yếu kém.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 thiết kế thường xuất phát từ các nước phát triển. thêm vào đó có thể dẫn tới việc giảm tín nhiệm với chính sách NHTW Còn đối với việc kéo dài kì hạn mục tiêu để phù hợp với độ trễ của các công cụ chính sách tiền tệ đối với lạm phát có lẽ là giải pháp tốt nhất trong trường hợp này. các biến ngoại sinh là vô cùng quan trọng. Kỳ hạn mục tiêu quá ngắn hay biên độ nhỏ có thể dẫn tới sự mất ổn định trong việc sử dụng công cụ tiền tệ khi NHTW cố gắng đạt mức LPMT. Cái giá của biến động tỷ giá hối đoái có lẽ sẽ rất lớn trong nước mới nổi khi mà tồn tại không tương xứng giữa tài sản bằng ngoại tệ và thời hạn. các mô hình hiện nay có vẻ giảm bớt đi tác động của tỷ giá hối đoái và sự biến đổi của nó tới nhửng nền kinh tế mở nhỏ. Điều này 56 . khi mà mục tiêu lạm phát thời hạn ngắn và biên độ giao động hẹp sẽ phụ thuộc rất lớn vào điều chỉnh ngoại hối do tỷ giá có độ trễ nhỏ hơn so với lại suất. Kết quả cho thấy những quy tắc. làm cho mục tiêu lạm phát đặt ra không rõ ràng. Tuy nhiên nới rộng biên độ cho phép cũng không phải giải pháp tốt cho việc kiểm soát và ổn định chính sách. nếu NHTW quan tâm đến chênh lệch đầu ra. Chính vì vậy. tuy nhiên mô hình tiền tệ đơn giản tập trung đo lường lạm phát và sản lượng thực và không quá chú ý tới tác động của tỷ giá hối đoái thức sẽ vận hành tốt hơn trong các nền kinh tế mới nổi. gần đây những quy tắc chính sách tiền tệ dạng này đang được xem xét sử dụng cho các nền kinh tế mới nổi. Vấn đề này còn nghiêm trọng hơn đối với nền kinh tế mở. Theo Taylor (2000). Chọn một khoảng biên độ quá rộng sẽ tạo cho công chúng không rõ ý định của NHTW. Svensson (1997) cũng nhấn mạnh rằng. kể cả đối với chính sách LPMT. ông cho rằng những mô hình và quy tắc này vẫn hữu dụng đối với các nước mới nổi cũng như đối với các nước phát triển. và các nền kinh tế này cũng giả định như có hệ thông tài chính và thị trường hối đoái phát triển. Tuy nhiên.

thường là hai năm nếu muốn có biên độ mục tiêu rộng. Một cách tiếp cận thứ 3 là NHTW tuyên bố LPMT dài hạn và công bố lạm phát dự báo trong những năm tới. Với một kỳ hạn quá dài rất dễ gây ra hậu quả khi phải để một thời gian mới thấy được có theo được đúng mục tiêu mà nó đề ra hay không. Một cách khác để tiếp cận một kì hạn dài hơn là sử dụng mục tiêu hàng năm trong nhiều năm để lộ trình của LPMT có thể đạt được một cách dần dần trong dài hạn. 5. dễ gây ra giảm mức tín nhiệm đối với NHTW. đồng thời cũng công bố LPMT dài hạn với một ngày xác định. Tỉ giá hối đoái giúp xác định xuất khẩu ròng và giá cả của hàng hóa nước ngoài. Nhưng với một tỉ giá cố định hoàn toàn thì nó sẽ không còn là một công cụ để tác động đến chính sách tiền tệ khi cần thiết. Tuy nhiên như đã nêu ở trên. Một cách khác là NHTW công bố LPMT trung hạn. Một cách để giải quyết điều này là nhận ra có sự tương quan giữa kì hạn tốt nhất và biên độ mục tiêu: nên để kì hạn mục tiêu là ngắn. Có sự liên kết giữa tỉ giá hối đoái và lãi suất thông qua thị trường 57 . lạm phát được ưu tiên hàng đầu.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 ngụ ý rằng LPMT nên có một kỳ hạn dự báo dài hơn là độ trễ của chính sách tiền tệ. Trong trường hợp này. khi tỉ giá hối đoái thả nổi thì tỷ giá sẽ đóng một vai trò quan trọng trong các chính sách về lãi suất và tiền tệ. Sự biến động của tỉ giá hối đoái ở các nước mới nổi thường đáng lo ngại hơn ở các nước phát triển. Đây chính là cách được sử dụng ở Chile 2000 và một số nước công nghiệp. gia tăng biên độ mục tiêu cũng đồng nghĩa với giảm mức tín nhiệm của NHTW.2 Lựa chọn giữa tỷ giá hối đoái và LPMT ở các nước mới nổi? Khi áp dụng tỉ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn sẽ giữ lạm phát thấp và ổn định. Có thể nói rằng . Đây là một chiến lược áp dụng ở Brazil và Mehico (Bank of Brazil 1999 và Bank of Mehico 2000). và giải thích lộ trình kì vọng hướng đến LPMT.

Đó là lí do mà chúng ta loại bỏ tỉ giá hối đoái trong quy tắc Taylor. Tuy nhiên. Các quốc gia thị trường mới nổi thường có nhiều các khoản nợ được định giá bằng 58 . Ở các nước theo LPMT. Trên thực tế.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 vốn. Ngoài ra. Do lịch sử tồn tại từ những năm trước và uy tín về khả năng kiểm soát lạm phát là thấp. họ cố gắng thực hiện đồng thời cả hai mục tiêu lạm phát và tỉ giá hối đoái thực. Những điểm đặc biệt của các nền kinh tế thị trường mới nổi được nêu trong phần đầu của nghiên cứu này cho thấy rằng các quốc gia thị trường mới nổi bận tâm nhiều đến sự biến động của tỉ giá hơn là các quốc gia tiên tiến. Chúng tôi cũng thấy rằng việc phản ứng với tỉ giá hối đoái thực là mạnh nhất trong các quốc gia theo chính sách LPMT khi điều đó tác động tích cực đến việc xuất khẩu hàng hóa cơ bản. Có những bằng chứng mạnh mẽ rằng LPMT ở các nước mới nổi là một chiến lược LPMT hỗn hợp theo đó NHTW phản ứng với cả lạm phát và tỷ giá thực tế trong việc thiết lập chính sách lãi suất. tình trạng đô la hoá tài sản nợ làm cho việc phá giá trở lên đặc biệt nguy hiểm. không phải lúc nào hai mục tiêu này cũng thống nhất với nhau. các nghiên cứu đánh giá chính sách đó đã giúp thiết kế các quy tắc Taylor trong việc xem xét vai trò của tỷ giá. Điều này cũng không ngạc nhiên bởi vì nhóm nước này dễ bị tổn thương nhất bởi các điều kiện thương mại và biến động tỉ giá hối đoái. Sự phản ứng đối với lãi suất thực mạnh mẽ hơn ở các nước không theo LPMT. nếu NHTW phản ứng quá mạnh mẽ lên tỉ giá hối đoái sẽ làm lạm phát đầu ra xấu đi. các quốc gia thị trường mới nổi dường như nhận thấy rằng việc phá giá đồng bản tệ sẽ dẫn đến sự gia tăng của lạm phát do giá nhập khẩu cao hơn và cầu cho xuất khẩu lớn hơn. Với giả định dòng vốn chu chuyển tự do. bởi vì phá giá có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính. Từ việc mô phỏng mô hình ở nhiều nước đã chỉ ra rằng. các mô hình đã đưa ra điều kiện cân bằng lãi suất dự kiến và giảm mối liên hệ giữa lãi suất thực và tỉ giá hối đoái thực.

Vấn đề thứ nhất có thể nảy sinh khi quá tập trung vào việc hạn chế sự biến động của tỉ giá là phát sinh rủi ro trong việc chuyển tỉ giá thành neo danh nghĩa và có mức độ ưu tiên cao hơn so với mục tiêu lạm phát. ngay cả khi họ là những quốc gia LPMT. có nguy cơ là ngay cả trong cơ chế LPMT. Tuy nhiên. làm ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp và châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính. nên NHTW ở các quốc gia thị trường mới nổi không thể sao nhãng đối với vấn đề tỉ giá. những cuộc khủng hoảng đó đã tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế các nước này. nên sẽ có sự suy giảm về giá trị ròng của các doanh nghiệp. Việc theo đuổi hai mục tiêu danh nghĩa (tỉ giá và lạm phát) có thể dẫn đến tình huống là một mục tiêu sẽ phải được ưu tiên hơn so với mục tiêu 59 . NHTW các quốc gia này có thể phải can thiệp để làm giảm bớt sự biến động của tỉ giá. một nước đang trong quá trình chuyển đổi và mục tiêu tỉ giá là một phần của cơ chế LPMT. Cơ chế này giải thích vì sao các cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Chilê năm 1982. Tình huống “sợ việc thả nổi đồng bản tệ” khi các quốc gia thị trường mới nổi chuyển sang áp dụng cơ chế LPMT là một thực tế. Do việc phá giá đồng bản tệ có những tác động rất xấu đến hệ thống tài chính và có khả năng làm lạm phát gia tăng. Do các tài sản Có thường được định giá bằng bản tệ và bởi vậy giá trị của nó không tăng (khi phá giá nội tệ). Thổ Nhĩ Kỳ năm 2000-2001 và Achentina năm 2001-2002 đã đẩy các nước này vào các cuộc khủng hoảng tài chính trên mọi phương diện. Tình hình bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp xấu đi sẽ làm gia tăng các vấn đề như: sự lựa chọn đối nghịch. Đông á năm 1997. Điều này gần đây đã xảy ra với Hungary. Để ngăn chặn tình trạng phá giá đột ngột.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 ngoại tệ và khi đồng tiền bị phá giá sẽ làm cho gánh nặng nợ của các doanh nghiệp trong nước tăng lên. rủi ro đạo đức. Ecuador năm 1999. chính sách tiền tệ có thể đã quá tập trung vào việc hạn chế sự biến động của tỉ giá. Mexico năm 1994-1995. từ đó dẫn đến sự bất ổn của hệ thống tài chính cũng như sự suy giảm mạnh của các hoạt động kinh tế và đầu tư.

thì việc thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm ngăn chặn trường hợp đồng bản tệ bị phá giá mạnh. những phản ứng khác nhau của chính sách tiền tệ là cần thiết và phụ thuộc vào bản chất của cú sốc đó. thậm chí có thể còn cần thiết hơn để tránh sự mất ổn định của hệ thống tài chính (với các lý do đã nêu ở trên).Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 kia. Nếu đồng bản tệ giảm giá do một cú sốc thuần tuý về đầu tư gián tiếp. thì lạm phát dường như là tăng lên và phản ứng thích hợp trong trường hợp này là kiểm soát lạm phát bằng việc thắt chặt CSTT thông qua việc tăng lãi suất. là những tác động đến lạm phát và sản lượng khi tỉ giá thay đổi có thể khác nhau rất nhiều.tiền tệ). làm giảm tổng cầu và bởi vậy làm lạm phát giảm đi. Mặt khác. Bởi vậy. thì dường như nó ít có tác động đến lạm phát. việc này phụ thuộc vào bản chất của cú sốc mà đã làm cho tỉ giá biến động. hoạch định chính sách có 60 . Phản ứng về tỷ giá hối đoái mạnh mẽ hơn ở nước không theo so với nước theo LPMT. Một cú sốc về việc vị thế thương mại xấu đi (tức là hệ số giữa chỉ số giá xuất khẩu so với chỉ số giá nhập khẩu giảm đi) sẽ làm giảm cầu về hàng xuất khẩu. hay cố gắng ổn định tỷ giá hối đoái thực. nhưng do không có sự phân định rõ ràng về việc này. tuy nhiên cũng còn tuỳ thuộc vào bản chất của cú sốc. nên cần thiết phải có phản ứng về chính sách tiền tệ khác với trường hợp nêu trên. nếu đồng bản tệ giảm giá là do những cú sốc đối với các khu vực thực của nền kinh tế (tức là các khu vực phi tài chính . tuy nhiên . Theo nghiên cứu của Mishkin đã tìm được bằng chứng mạnh mẽ rằng LPMT trong nền kinh tế mới nổi thì chạy theo chiến lược LPMT hổn hợp nơi mà NHTW tổng hợp hai yếu tố lạm phát và tỉ giá hối đoái thực trong thiết lập chính sách lãi suất. Vấn đề thứ hai có thể nảy sinh khi quá tập trung vào việc hạn chế sự biến động của tỉ giá. Chúng ta xem xét nền kinh tế mới nổi có thuần theo quy luật LPMT. Ở các quốc gia thị trường mới nổi mà có mức độ đô la hoá tài sản nợ ở mức cao. nên rất khó giải quyết khi có vấn đề phát sinh. Điều này dường như làm cho Chính sách tiền tệ trở lên kém minh bạch và ảnh hưởng xấu đến khả năng đạt được mục tiêu lạm phát đặt ra.

Sự biến động nhỏ hơn trong chính sách lãi suất sẽ làm giảm mức độ biến động của sản lượng nhưng làm cho lạm phát vượt trên mục tiêu gia tăng sự biến động của lạm phát. Khoảng cách lỗ hổng sản lượng âm là cần thiết để đưa lạm phát 61 . sự ổn định tỉ giá hối đoái trong các nước thâm dụng hàng hóa liên quan đến hiệu quả bất lợi sản lượng đầu ra với biến động tỉ giá hối đoái thực. Khuôn khổ LPMT đã đủ linh hoạt cho phép sự cân bằng giữa sản lượng và lạm phát trong ngắn hạn Đầu tiên chúng ta xem xét một cú sốc cầu làm tăng sản lượng trên mức tiềm năng và trong giai đoạn sau sẽ dẫn đến sự gia tăng trong lạm phát. chỉ có lạm phát tăng lên còn sản lượng vẫn ở mức tiềm năng Bất chấp độ trễ của cấu trúc. Chúng ta cũng tìm ra được sự phản ứng về tỉ giá hối đoái thực mạnh mẽ nhất ở các nước theo chính sách LPMT thì liên quan chặt chẽ đến xuất khẩu hàng hóa cơ bản.Tỉ trọng sản lượng càng cao thì chính sách lãi suất điều chỉnh càng nhỏ. Quy mô lãi suất được điều chỉnh thì phụ thuộc tỉ trọng tương đối của ổn định sản lượng trong hàm tổn thất.có một sự cân bằng giữa sự biến động của lạm phát và sản lượng.Trong trường hợp này chính sách đối phó là tăng lãi suất để chống lại sự gia tăng lạm phát. Xem xét một cú sốc cung. sự ỗn định tỉ giá hối đoái không ảnh hưởng đến lãi suất được NHTW thiết lập một cách gián tiếp vì ngân hàng dự báo tốt về lạm phát tương lai ( trong trường hợp nếu lạm phát là một yếu tố dự báo tốt và các NHTW dung các biến tương lại hồi quy về hiện tại ).họ đang cố gắng đồng thời cả hai mục tiêu lạm phát và tỷ giá hối đoái thực và những mục tiêu này không phải luôn luôn nhất quán.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 nhiều hạn chế trong chế độ LPMT .3 Đánh đổi giữa Tăng trưởng và LPMT: LPMT bị chỉ trích là chỉ chú trọng đến lạm phát mà không quan tâm đến sản lượng và việc làm. Điều này không có gì ngạc nhiên vì các nhóm nước này dễ tổn thương bởi sự rối loạn điều kiện thương mại và tỉ giá hối đoái thực. Hơn nữa. Thông nhất với mô hình dự báo. 5. Tuy nhiên các chỉ trích trên là không đúng.

Chưa có một lý thuyết rõ ràng nào giải thích nguyên nhân mục tiêu lạm phát tác động đến tăng trưởng sản lượng trung bình. Đồ thị 2. chính sách. biến động tăng trưởng và LPMT Vấn đề LPMT là nó quá chú trọng đến việc tập trung vào lạm phát và khả năng khống chế lạm phát sẽ tăng sự mất ổn đinh trong nên kinh tế và khả năng kéo phát triển kinh tế xuống (theo Friedman and Kuttner (1996). khi đối mặt những cú sốc lớn dẫn đến sự gia tăng lớn trong giá và tỷ lệ lạm phát. như là trường hợp với một cú sốc cầu. Sự cân bằng giữa sản lượng và lạm phát có thể là hoàn toàn nếu chúng ta cân nhắc một sự thay đổi nhỏ trong mô hình để tác động của các chính sách tiền tệ đến lạm phát 1 cách nhanh chóng . Mishkin đã đưa ra kết luận rằng khi lạm phát thấp thì mục tiêu lạm phát sẽ không gây hại cho nền kinh tế. tác động của cú sốc cung nhỏ có thể được điều chỉnh bằng cách thiết kế thích hợp khuôn khổ của LPMT. và Cecchetti và Ehrmann (2002)). Friedman (2002). Trong bài nghiên cứu của mình. Sự cân bằng giữa biến đổi của lạm phat và sản lượng là không thể tránh khỏi. Khoảng cách ngày càng lớn thì kéo lạm phát trở lại mục tiêu nhanh hơn.3 cho thấy trung bình tăng trưởng đầu ra và sự biến đổi nó trước và sau khi thực hiện LPMT ở các nước OECD và các nước mới nổi. và cũng có thể tạo ra một khoảng cách lớn trong lỗ hổng sản lượng gây nhiều khó khăn cho các nhà sản xuất.Ví dụ như thừa nhận một sự thay đổi trong lãi suất ngắn hạn dẫn đến sự thay đổi trực tiếp trong tỉ giá hối đoái thông qua giá tiêu dùng . Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sau khi đạt được mục tiêu giảm phát ở các nước đã áp dụng LPMT. Svenssion đã sử dụng kiểm chứng thực nghiệm để chứng mình quan hệ giữa tăng trưởng. Tuy nhiên. Nó cũng cho thấy sản lượng đầu ra ở không theo LPMT ở những nước 62 .Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 về lại mục tiêu ban đầu.Vì vậy sự suy giảm biến động trong lạm phát được đánh đổi bằng sự gia tăng trong biến động sản lượng. Một lần nữa.

Batini và Laxon (2007) và Gonçalves và Salles (2008) xem xét nền kinh tế mới nổi và thấy rằng LPMT giúp giảm biến động trong tăng trưởng hay khoảng cách sản lưởng. Tuy nhiên. Đồ thị cho thấy không có khẳng định cho rằng LPMT ảnh hưởng tăng trưởng hay biến động tăng trưởng Nghiên cứu thực nghiệm đã kiểm chứng điều đó.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 OECD ở năm 1998 và mới nổi năm 2001. Theo như ước tính của ông. Không có ảnh hưởng rõ nào của LPMT tới tăng trưởng 63 . như đã nói ở trên. những nước LPMT phải chịu một tỷ lệ mất mát đầu ra nhỏ hơn so với nước không theo. Goncalves và Carvalho (2009) cho thấy trong 30 nước OECD. Ball và Sheridan (2005) cho rằng không có ảnh hưởng LPMT tới sản lượng đầu ra hay biến động của nó với mẫu gồm 20 nước OECD. các nước theo tiết kiệm khoảng 7 % trong mất mát sản lượng đầu ra so với nước không theo. việc phân định chính sách ở các nước OECD là không rõ nên khó mà đưa ra được kết luận.

Thành công vừa tuyệt đối so với những chiến lược chính sách tiền tệ khác như tỷ giá mục tiêu hay số lượng tiền mục tiêu 5. không có chứng cứ LPMT ảnh hưởng tăng trưởng. Quan trọng hơn. Cả ở những nước phát triển và đang phát triển.1 Chính sách mức giá mục tiêu là một chính sách tiền tệ mà mục tiêu của nó là giữ mức giá ổn định một cách tổng thể. các ước tính cho rằng mục tiêu lạm phát làm tăng sự biến động sản lượng . thì sản lượng đầu ra ổn định hơn cho các nước không thực hiện LPMT . sản xuất. hoặc đạt được một mức giá mục tiêu xác định từ trước. LPMT đã giúp cải thiện kinh tế ở những nước đang phát triển.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Trong thời gian ngắn trước khi thực hiện mục tiêu và khi thực hiện mục tiêu. thất nghiệp hay những yếu tố khác của nên kinh tế cả ở nước đã phát triển và đang phát triển. Khi kiểm tra bằng cách hồi quy giá trị trung bình . Đối với cả hai nhóm. LPMT giúp cố định kỳ vọng lạm phát trong dài hạn. Không nước nào sau khi theo LPMT từ bỏ nó (ngoại trừ việc gia nhập EU) hay tỏ ra không hiệu quả. nhưng điều này không có ý nghĩa thống kê  Tổng kết những ảnh hưởng LPMT tới tăng trưởng Khi kinh tế vĩ mô phải ở nhưng nước phát triển theo và không theo LPMT là khá giống nhau. Thước đo của mức giá mục tiêu là chỉ số giá tiêu dùng (CPI).4. sản lượng trở nên ổn định hơn trong thời gian thực hiện mục tiêu. LPMT đều chứng minh nó là chính sách tốt nhất trong các chính sách tiền tệ và đã thành công vượt qua nhiều cú sốc và khó khăn. 64 . hoặc một số thước đo tương tự như chi phí đầu vào. kể cả cuộc khủng hoảng vừa qua.4 LPMT và mức giá mục tiêu: Định nghĩa mức giá mục tiêu : 5.

LPMT là một chính sách mà ảnh hưởng đến sự thay đổi một cách có hệ thống tỉ lệ lạm phát nhưng trong đó đã bao hàm khuynh hướng mức giá dài hạn. Theo đó người dân ổn định giá cả có thể nhận ra những thay đổi về giá tương đối ( tức là giá cả giữa các hàng hoá khác nhau ) . Điều này cho phép họ đưa ra tiêu thụ cũng như các thông báo và quyết định đầu tư và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn . Điều này có nghĩa là khi thực hiện chính sách mức giá mục tiêu thì mức giá sẽ cố định và mức lạm phát sẽ xoay quanh một mức lạm phát nhất định.2 So sánh với LPMT để làm rõ hơn định nghĩa: Mức giá mục tiêu là một chính sách mà ảnh hưởng đến sự thay đổi một cách có hệ thống của mức giá so với mức giá mục tiêu ban đầu đã loại trừ đi khuynh hướng của mức giá dài hạn. Điều này làm giảm tỷ lệ lãi suất thực tế và tăng ưu đãi đầu tư .  Tránh hoạt động không hiệu quả để phòng vệ trước các tác động tiêu cực của lạm phát hay giảm phát . Điều đó ngụ ý tránh cả lạm phát và giảm phát kéo dài . LPMT mục đích là thiết lập một tỉ lệ lạm phát nhất định nhưng lại không đảm bảo được mức giá.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 5.4. có nghĩa là mức giá có thể thay đổi. Giá ổn định góp phần vào việc đạt được mức độ cao của hoạt động kinh tế và việc làm bằng :  Cải thiện tính minh bạch của cơ chế giá cả .  Làm giảm nguy cơ lạm phát “lãi suất premia” ( tức là chủ nợ yêu cầu bồi thường cho các rủi ro liên quan nắm giữ tài sản danh nghĩa ) . 5. 65 . mà không bị nhầm lẫn bởi những thay đổi trong mức giá tổng thể . Mức giá mục tiêu mục đích là thiết lập mức giá ổn định và một mức lạm phát ổn định.4.3 Ưu điểm của chính sách mức giá mục tiêu:  Mục tiêu ổn định giá cả đề cập đến mức giá chung của nền kinh tế .

Tức là mức giá sẽ ổn định trong thời gian dài. 66 . Và lạm phát và sản lượng phụ thuộc rất nhiều vào mức giá chung trong nền kinh tế. mức giá không phải là mục tiêu chính của chính sách này.Nếu lạm phát leo thang thì những năm sau đó chính sách tiền tệ phải bù lại bằng cách làm cho mức giá giảm xuống để trong dài hạn xu thế tăng giá đã được mục tiêu hóa. Mức giá mục tiêu thường loại bỏ các thiên lệch của lạm phát nên giảm được sự biến động của mức giá. Trong khi đó. mục tiêu của chính sách lạm phát mục tiêu là duy trì lạm phát quanh tỷ lệ lạm phát mục tiêu đã xác định. nên dưới tác động của chính sách mức giá mục tiêu.  Giảm sự biến động lớn trong sản lượng và lạm phát: Mức giá mục tiêu thường được sử dụng trong những trường hợp biến động mức giá trong ngắn hạn. sản lượng và lạm phát sẽ không có mức biến động mạnh. Do đó.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34  Ngăn chặn tái phân phối độc đoán của cải và thu nhập do kết quả của lạm phát hay giảm phát bất ngờ Theo ECB (European Central Bank)  Giảm đi sự không chắc chắn về mức giá Do mục tiêu của chính sách này là đảm bảo cho mức giá được duy trì ổn định hoặc biến động theo xu hướng ổn định trong giai đoạn thực hiện chính sách này nên NHTW cam kết thực hiện các biện pháp để giữ cho mức giá dao động với một biên độ cho phép xung quanh mức giá kỳ vọng. Nhưng để Chính sách mức giá mục tiêu có hiệu quả cao thì NHTW phải có những chính sách rõ ràng. sự không chắc chắn về mức giá sẽ được giảm thiểu. Chính sách mức giá mục tiêu có thể kiến cho giá cả ổn định khi phản ứng trước cú sốc trong ngắn hạn và Chính sách mức giá mục tiêu bảo vệ sức mua dài hạn của đồng tiền. Đây chính là “bữa ăn trưa miễn phí” của những nhà thực hiện chính sách mà Lars Svensson (1999) phân tích.

Từ đó có thể thấy rằng Mức giá mục tiêu cung cấp sự ổn định hơn đối với LPMT đó chính là ưu điểm của Mức giá mục tiêu ( ổn định mức giá trong dài hạnSvensson 1999)  Giảm thiểu rủi ro trong giai đoạn có khả năng xuất hiện giảm phát: Khi một nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái. Họ biết rằng NHTW sẽ đền bù lại ảnh hưởng của cú sốc giá cả trong các thời kỳ tiếp theo bằng việc giảm sản lượng đầu ra. giảm phát có khả năng xãy ra làm cho lạm phát giảm khiến lãi suất thực tăng cao làm giảm đầu tư.5. Do đó. Giúp nền kinh tế phục hồi vượt qua giảm phát ( giảm phát gây ra tác dụng nguy hiểm hơn lạm phát . NHTW được kỳ vọng là sẽ hành động mạnh mẽ hơn dưới mục tiêu là giá cả. nó sẽ tăng kì vọng lạm phát cao ở người dân. Do đó. Tuy nhiên.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Vestin cho rằng khi đối mặt với các cú sốc về cung làm giá cả tăng lên. các doanh nghiệp khó tiếp cận vốn kèm theo khả năng sử dung chính sách tiền tệ là lãi suất mất hết tác dụng (Ví dụ lãi suất ở Mỹ gần bằng 0). cho phép NHTW giới hạn lại sự sụt giảm của sản lượng đầu ra thực. Đã có những cuộc tranh cãi về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng và làm sao để giảm thiểu rủi ro xảy ra trong tương lai. nền kinh tế thế giới đã bắt đầu phục hồi từ khủng hoảng tài chính. Một vài ý kiến cho rằng chính sách tiền tệ là nguồn gốc của cuộc khủng hoảng. chính sách mức giá mục tiêu gây ra ít sự biến động hơn trong lạm phát và sản lượng đầu ra.1 Đến thời điểm hiện nay. gây ra một thập kỉ mất mát của nước Nhật) 5.5 Khủng hoảng – Cách nhìn khác từ LPMT: Nguyên nhân 5. Sự thay đổi kỳ vọng này làm giảm tỷ lệ lạm phát hiện thời. theo Svensson chính 67 . kỳ vọng về lạm phát trong tương lai giảm sút mạnh mẽ hơn so với chính sách LPMT. Lúc đó chính sách mức giá mục tiêu là lựa chọn tối ưu nhất.

Trong công tác dự báo lạm phát. Chính sách của các chính phủ trên toàn thế giới sẽ là yếu tố quyết định quan trọng của tốc độ và sức mạnh của phục hồi. 5.2 Ảnh hưởng của khủng hoảng đến nền kinh tế. 5. trong và sau khi khủng hoảng tài chính là cách tốt nhất để ổn định cả lạm phát và nền kinh tế. mà chính vì sự không công khai. nhưng thời gian và sức mạnh của sự phục hồi là rất khó xác định. 68 . trong bài phát biểu của mình ở trường kinh tế Luân Đôn đã cho rằng nguyên nhân dễ thấy nhất của cuộc khủng hoảng là sự trở lại chu kì nhà ở tại Hoa Kỳ và sự gia tăng hàng hoạt trong các khoản thế chấp dưới chuẩn. Rủi ro hệ thống tăng cao. Theo đó gây ra những thiệt hại đáng kể về sản lượng xã hội.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 sách tiền tệ không phải là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. minh bạch trong hoạt động của NHTW cùng với hoàn cảnh đặc biệt như là lãi suất thực thế giới thấp và ảnh hưởng của chính sách nhà ở tại Mỹ. Còn Bernanke. các yếu tố tài chính không phải là một biến mà chỉ cung cấp các thông số cho NHTW về tình hình nền kinh tế và các cú sốc ngoại sinh. sản phẩm tín dụng phức tạp và tài sản tính lỏng thấp khác có giá trị không chắc chắn. thất nghiệp.và tài sản.5. từ đó gây ra thiệt hại đáng kể đối với nhiều tổ chức tài chính và tác động mạnh mẽ tới niềm tin các nhà đầu tư trong thị trường tín dụng. giá trị tài sản giảm và tín dụng thắt chặt đã gây ra một số hậu quả nặng về kinh doanh. Theo quan điểm của Svensson.5. Rủi ro tín dụng tăng cao và lo ngại rủi ro đã lây lan đến mức chưa từng có. vì ông cho rằng chính sách tiền tệ không là nguyên nhân của khủng hoảng nên giữ nguyên chính sách tiền tệ trước. sự tin tưởng của người tiêu dùng và kéo theo sự đóng băng rõ nét trong hoạt động kinh tế toàn cầu.3 Quan hệ giữa chính sách tiền tệ và ổn định tài chính. Các tổ chức tài chính đã thấy vốn của họ bị cạn kiệt do thua lỗ. Nền kinh tế toàn cầu sẽ phục hồi.

69 . chỉ vào khoảng 5%. Norges Bank. chính sách lãi suất cũng không đủ đạt được ổn định tài chính. Không có một nguyên lý nào ngăn những nước theo đuổi LPMT trong việc dự báo lạm phát trên 3 năm. LPMT linh động tốt cũng không thể tự nó đạt được ổn định tài chính. làm cho chính sách lãi suất cơ bản tỏ ra ít hiệu quả. IMF. Nhiều NHTW tại các nước theo đuổi LPMT (gồm Bank of England. Điều này mở ra hướng là phải nghiên cứu tìm cách đưa các biến tài chính vào các mô hình của NHTW. Một bài học quan trọng từ khủng hoảng tài chính là các nhân tố tài chính có thể có tác động rất mạnh trong kênh truyền dẫn. là hiệu quả hơn trong việc tăng sự ổn định tài chính. đã điều tra vai trò của chính sách tiền tệ trong nguyên nhân của cuộc khủng hoảng. Thêm vào đó. Hơn thế nữa. với kinh nghiệm thực tế cho đến hiện nay. Những chính sách và công cụ đặc biệt cần thiết để đảm bảo ổn định tài chính.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Vậy. nói chung mối tương quan giữa chính sách tiền tệ và giá nhà tại nhiều nước trong những năm trước cuộc khủng hoảng hiện tại là rất yếu. Những công cụ như quy tắc và sự giám sát của NHTW và các chế độ phù hợp. Một số lượng lớn các nước và một số cuộc khủng hoảng tài chính đã được chọn mẫu và đưa ra kết luận rằng: chính sách tiền tệ nói chung không phải là nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ giá nhà. thì liệu chính sách tiền tệ có phải là nguyên nhân của khủng hoảng tài chính hay không? Và nếu sử dụng một chính sách tiền tệ khác liệu có bảo vệ hay làm giảm các hậu quả khủng hoảng đã gây cho nền kinh tế. Một vấn đề khác là xem xét tác động của yếu tố tài chính vào việc dự báo lạm phát và sản lượng có thể sẽ cần một kỳ hạn dự báo dài hơn. Một kết luận rõ ràng là ổn định giá cả thì không đủ đạt được ổn định tài chính. tuy nhiên trong thực tế có rất ít thông tin trong thời kì dài hơn. và Riksbank) đã kéo dài kỳ hạn từ 2 năm lên 3 năm.

Tuy nhiên. không có công cụ hợp lí và hiệu quả để đảm bảo rằng tồn tại ổn định tài chính. NHTW sẽ phản ứng nhiều hơn với các chỉ số tài chính. thì sẽ có những công cụ hiệu quả hơn chính sách về lãi suất. hay hai yếu tố này chỉ là thông số và chỉ được nhấn mạnh vì hai yếu tố này có tác động tiêu cực tới lạm phát và sản lượng trong kỳ hạn dài. Bởi vậy. Thay vào đó.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Bây giờ ta sẽ xem xét vấn đề đưa ra bởi Borio and White (2003) và Cecchetti. tác động của chính sách lãi suất tới ổn định tài chính là khá nhỏ mà tác động tới lạm phát và sản lượng đầu ra thì có ý nghĩa lớn hơn. Tuy nhiên. nên một đánh đổi thường không được ưa thích. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là các yếu tố tài chính trở thành các mục tiêu độc lập bên cạnh lạm phát và sản lượng đầu ra trong hàm thiệt hại của NHTW. Genberg. với các thảo luận trước. bằng cách điều chỉnh chính sách lãi suất nhiều hơn để thay đổi chỉ số tài chính. Đặc biệt. nó có thể chống chọi với việc gia tăng tín dụng liên tục và tăng giá tài sản. nó sẽ là vấn đề của chính sách thích hợp với chỉ số tài chính để đạt được sau một thời 70 . Cho đến nay tất cả các bằng chứng cho thấy rằng. Điều này đưa ra việc có nên đưa vấn đề tín dụng và giá tài sản tăng vào hàm tổn thất (loss fucntion) cùng với lạm phát và sản lượng. Do đó một chính sách ổn định tài chính tốt thì cần thiết để đảm bảo cho sự ổn định tài chính mà chính sách tiền tệ không thể thay thế được điều đó. và sự tăng này có vẽ là không chắc chắn và có thể là bong bóng. nếu có chứng cứ về việc gia tăng liên tục của giá nhà và cho vay cầm cố. bởi vì có những vấn đề quan trọng về quy tắc và giám sát mà không thể điều chỉnh trong ngắn hạn. Wadhwani (2002). Ví dụ. đó là NHTW nên tăng mức lãi suất nhiều hơn để ngoài vấn đề lạm phát và sản lượng. Khi lãi suất đủ cao để có tác động đáng kể tới việc gia tăng tín dụng và giá trị tài sản thì sẽ có những tác động tiêu cực đến lạm phát và sản lượng. công cụ khác ngoài lãi suất hiệu quả hơn trong việc tránh sự gia tăng tín dụng quá mức và sự bùng nổ giá tài sản.

một bước đáng kể bảo đảm cho khoản nợ ngân hàng của Liên bang bảo hiểm tiền gửi. báo cáo với các cử tri của họ lý do tại sao ổn định tài chính là điều thiết yếu để phục hồi kinh tế và phục vụ lợi ích cộng đồng. Sự xuất hiện của các phương pháp khác nhau. một số bước quan trọng đã được thực hiện để thúc đẩy sự ổn định tài chính. những phương pháp không phải lúc nào cũng hấp dẫn như chúng ta nghĩ. tuy nhiên nếu không làm sẽ để lại nền kinh tế toàn cầu trong tình trạng còn tồi tệ hơn ngày hôm nay. khi các công ty tài chính lớn nhất là các công ty đa quốc gia và các thị trường tài chính là toàn cầu hóa. Các biện pháp này.5. Các cơ quan giám sát nên phát triển năng 71 . cùng với hành động tương tự ở nhiều nước khác. một hệ thống quá phụ thuộc vào dòng chảy tự do của tín dụng. trong khi đó hỗ trợ dành cho các ngành công nghiệp khác ít hoặc không có. Thật vậy. Những người chịu trách nhiệm trong hoạch định chính sách do đó phải làm những gì họ có thể trong việc trao đổi thông tin. Hệ thống kinh tế hiện tại. Công dân ở nhiều nước cũng có những lo ngại chính đáng trước các cam kết của chính phủ hỗ trợ ngành công nghiệp tài chính.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 gian ổn định tốt nhất có thể của lạm phát biến động quanh LPMT và sản lượng đầu ra ở mức bình thường. và hậu quả cho nền kinh tế là sự bất ổn tài chính ngày càng tăng. những tác động tiêu cực của sự bất ổn tài chính về việc làm và sự tăng trưởng đã được minh chứng trên toàn thế giới. và các chương trình thanh khoản khác nhau của Fed.4 Ý kiến của Bernake về ổn định tài chính qua các chính sách của FED Tại Hoa Kỳ. Trong tình hình hiện tại. do đó phải tiếp tục làm việc không ngừng để tăng cường cơ sở hạ tầng tài chính. bao gồm cả việc Kho bạc bơm khoảng 250 tỷ đôla vốn vào các tổ chức ngân hàng. 5. quản lý giám sát nên được phối hợp ở tầm quốc tế vào mức lớn nhất có thể. là một điều không tránh khỏi. có thể ngăn chặn một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào mùa thu năm 2008 (nhưng nó đã xảy ra).

Trong tương lai. nơi mà thất bại của chúng có thể tạo ra rủi ro hệ thống. tiền mà đỉnh cao là sự kiện đổi tiền vào tháng 9 và lạm phát cũng bùng nổ ngay sau đó. Lạm phát thời kì này tương đối cao ở mức hai con số. Sự tồn tại của các công ty mà chúng ta gọi là "quá lớn để sụp đổ" đó đã vi phạm các giả định của một sân chơi bình đẳng giữa các tổ chức tài chính. nước ta mới thống nhất. 6. những hệ lụy từ nạn đói trong những năm cuối thập niên 70 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế. VIỆT NAM: 6. Việt Nam thực hiện cuộc cải cách giá.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 lực giám sát của tổng thể hệ thống tài chính. 72 . do nhận thức còn kém.1 Tình hình lạm phát tại Việt Nam: Giai đoạn 1981 đến 1985. người ta không thừa nhận lạm phát trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời năm 1985. chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lí xây dựng đất nước. giai đoạn này là thời kì đầu của quá trình xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. đa số các cán bộ đều là những nhà cách mạng. các loại công ty tài chính. Khó có thể chấp nhận rằng các công ty lớn mà chính phủ hiện nay đang phải hỗ trợ để bảo vệ sự ổn định tài chính lại là một trong những công ty theo đuổi rủi ro nhiều nhất trong thời kỳ bùng nổ kinh tế. phải đảm bào rằng không có hoạt động nào ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của sự cải cách tài chính và kỷ luật thị trường. Khi tiến hành cải cách pháp lý. Bên cạnh. Đặc biệt nhất là khi cần phải giải quyết vấn đề của các tổ chức tài chính được coi là "quá lớn để sụp đổ". các quy tắc kế toán và các khía cạnh khác nhau của quy định hiện hành. Tuy nhiên. Những bất ổn trong thời kì đầu xây dựng chế đô mới là điều không thể tránh khỏi. ngoài ra cũng nên xem xét lại các quy định về vốn. tiền lương. đang phải chấp nhận sự giám sát chặt chẽ trên các quyết định rủi ro. thay vì tập trung quá nhiều vào điều kiện của các công ty.

với tỉ lệ lạm phát là 223. phải từ năm 1992 trở đi tình hình mới lắng dịu và tạm ổn định cho đến năm 1995. vì ai cũng biết lượng cung tiền gia tăng là “ chất xúc tác “ mạnh nhất trong biến động tăng của lạm phát. Đã xác định được khối lượng tiền cung ứng hàng năm phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát . Việc áp dụng tỉ giá hối đoái thực tế đã làm cho người dân không còn tích trữ hàng hoá. Với việc thực hiện chính sách lãi suất thực dương. Đến năm 1987 do thiên tai. vàng.1%. đô la mà bắt đầu tích luỹ bằng đồng nội tệ. Đứng trước tình hình đó. lạm phát chi phí đẩy lại tiếp diễn. tức là nâng lãi suất tiết kiệm lớn hơn tỉ lệ lạm phát nhằm thu hồi lượng tiền trong lưu thông về. chính phủ còn sử dụng công cụ tỉ giá. lương thực. Điều này giúp cho tỉ lệ lạm phát giảm xuống. người dân tích trữ hàng hoá . giá cả tăng cao dẫn đến lạm phát cầu kéo. 73 . Tỉ giá hối đoái trước đây chỉ sử dụng cho mục đích kế toán chứ không phản ánh đúng các khoản chi phí thực tế. và việc thu hồi lượng tiền trong lưu thông về lại là một “ chất xúc tác” khác giúp phản ứng xảy ra ở chiều ngược lại. Từ năm 1990. Bên cạnh việc thực hiện chính sách lãi suất thực.78%. Trong thời kì này. sản lượng lương thực cuối năm giảm 3. Từ năm 1989 đến năm 1991.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Năm 1986 chúng ta đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát với ba chữ số 775% vào năm 1986 trong khi đó tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 2. mức tăng trưởng GDP chỉ là 3.5% và đầu năm 1988 một số địa phương miền Bắc bị đói. vàng và đô la càng nhièu vì lo sợ rằng đồng Việt Nam sẽ còn mất giá tạo nên cầu giả tạo. NHNN đã cải cách mạnh mẽ việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ . giá cả lên cao. NHNN có bước tiến quan trọng trong điều chỉnh tỉ giá hối đoái cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. chính phủ đã sử dụng một số công cụ của chính sách tiền tệ cũng như chính sách tài khóa nhằm đưa nền kinh tế về trạng thái ổn định.33%. lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao với mức tăng khoảng 67% liên tiếp trong hai năm 1990 và 1991.Trong gói công cụ của chính sách tiền tệ trong giai đoạn này chính phủ đã lựa chọn đó là chính sách về lãi suất thực.

làm cho chi phí đầu vào tăng mạnh. do đó. Tuy nhiên. tổng cầu trong nền kinh tế tăng. Lạm phát thời kỳ này xảy ra còn do chi phí đẩy . gây lên lạm phát chi phí đẩy. cung giảm . đẩy giá cả lên cao. đặc biệt là năm 1993 chỉ còn lại là 5. Trước hết . tổng cầu giảm.050đồng/1USD năm 1995. Vào thời kỳ này. Tình hình kinh tế trong giai đoạn này đã có những thay đổi đáng kể . do đó cầu ngoại tệ tăng cao làm cho giá USD tăng. Một là NHNN đã bán trái phiếu . lạm phát xảy ra là do hiện tượng cầu kéo. thâm hụt ngân sách được trang trải bằng cách phát hành trái phiếu thay vì in thêm tiền như trước đây. Năm 1992 tỉ lệ lạm phát chỉ là 17. lạm phát giảm xuống.Thứ hai. giá cả một số mặt hàng được điều chỉnh như giá xi măng. các chính sách tiền tệ mà NHNN áp dụng để nhằm kiềm chế và kiểm soát lạm phát đều nhằm mục đích giảm mức cung tiền tệ . đồng tiền Việt Nam bị giảm giá từ 10.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Bên cạnh việc thực hiện chính sách tiền tệ để thực hiện mục tiêu đó. Cùng với việc đầu tư nước ngoài tăng cao (tăng 85. Bắt đầu từ năm 1991.Vì thế. Kết quả là chi tiêu của Chính phủ đã giảm nhiều. vì vậy lạm phát xảy ra đã phản ánh được hậu quả tất yếu của tình hình lúc bấy giờ. lạm phát cũng giảm đi. Biểu hiện đầu tiên của chính sách này đó là cắt giảm chi tiêu chính phủ. điều này tác động làm cán cân thương mại được cải thiện . mức cung ứng tiền giảm xuống.4%. mặc dù lạm phát đã giảm xuống một chữ số nhưng những tiến bộ vượt bậc đó đã không thể duy trì và củng cố được bằng những chính sách tài chính và chính sách tiền tệ thận trọng nên đến năm 1994 tỉ lệ lạm phát lại tăng lên mức 14. đó là giảm lượng tiền cung ứng cho thâm hụt ngân sách.600 đồng/1USD vào năm 1993 đến 11.6% so với năm 1992) là việc các hãng nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước . chính phủ còn kết hợp với chính sách tài khóa thu hẹp nhằm kiềm chế lạm phát.6% so với năm 1991. Cụ thể NHNN đã áp dụng một số các biện pháp sau đây. giá điện. giá cả giảm. trong đó có chi thường xuyên và chi cơ bản. Các đơn vị kinh tế quốc doanh làm ăn không hiệu quả bị giải thể. Trong giai đoạn này. giá xăng.2%. tín phiếu gần 2000 tỷ VNĐ kỳ hạn 2-3 tháng mà người mua là các ngân 74 . Chi tiêu của Chính phủ trong thời gian này cũng tăng mạnh.

Năm 2002. Cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệ Châu Á bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 làm cho nước ta chịu sức ép ngày càng tăng.. hàng hoá ứ đọng nhiều. Tất cả đều làm mức tăng cung tiền tệ bị hạn chế mạnh mẽ và lãi suất tăng lên. Những biện pháp ở giai đoạn này chủ yếu nhằm nâng cao sức mua của các tầng lớp dân cư (tăng cầu). giá cả giảm. NHNN điều hành tốt việc cung ứng tiền phục vụ cho mục tiêu mua bán ngoại tệ nên nhìn chung tỉ giá ngoại tệ ổn định. tỉ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho tất cả các TCTD là 10% cho các loại tiền gửi dưới một năm. 5.15% năm 1997. vàng. sản xuất trong nước rơi vào tình trạng trì trệ. cầu giảm . Đồng thời NHNN còn áp dụng một số biện pháp khác. năm 1995 quy định tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền thanh toán được thống nhất vào một tài khoản. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm : từ tốc độ tăng trưởng GDP năm 1996 là 9. Hai là NHNN hạ mức tín dụng và kiểm soát chặt chẽ hạn mức tín dụng tái cấp vốn đối với các NHTM và hạn mức của NHTM đối với nền kinh tế . tỉ lệ lạm phát đã tăng lên 75 . và trong cơ cấu tièn gửi bắt buộc phải có 70% gửi tại NHNN vàcác TCTD phải thường xuyên duy trì đầy đủ số tiền dự trữ bắt buộc tại NHNN theo từng ngày. chi tiêu giảm.8% năm 1998. tỉ lệ tăng trưởng đạt 7. sức mua giảm sút. 4. tỉ lệ thất nghiệp gia tăng .7% năm 1996 xuống còn 4. Kinh tế trải qua hiện tượng giảm giá liên tục. lạm phát được kiểm soát.34% xuống còn 8. Ba là buộc các TCTD phải thực hiện dự trữ bắt buộc mở rộng. tình hình kinh tế của nước ta đã có những bước tiến vượt bậc . một số mặt hàng khác giảm xuống làm cho nhiều mặt hàng giảm xuống.. nhờ vậy tốc độ lạm phát đã giảm xuống từ 12.65 năm 1998.75% năm 2000. Bốn là Tăng cường quản lý ngoại hối. đầu tư nước ngoài và xuất khẩu có dấu hiệu suy giảm. Một trong những biểu hiện của sự suy giảm nền kinh tế là hiện tượng giảm phát. cầu giả tạo về ngoại tệ.8% năm 1999 và 6.04%.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 hàng thương mại(NHTM) đồng thời cũng để khuyến khích các NHTM tích cực huy động vốn.6% năm 1997 và 3. Năm là nâng lãi suất chiết khấu làm giảm việc vay của các NHTM. kiên quyết xử phạt đối với những TCTD không chấp hành theo quy định này.

gây khó khăn điều hành chính sách tiền tệ và giám sát tài chính. để bắt đầu một thời kì lạm phát cao và kéo dài nếu như chính phủ không có những chính sách hợp lí để điều hành.4%). chính trị trên thế giới có nhiều biến động. Tổng cung tiền ngoại tệ tăng. tạo sức ép tăng giá đồng tiền. tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế (M2) tăng. nhờ có sự cố gắng. các chỉ tiêu kinh tế khác chúng ta hầu hết đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. làm cho việc tăng giá rất khó lường. nguy cơ giá cả tăng cao rất đễ xảy ra. Tình hình kinh tế năm 2002 có nhiều sự khởi sắc mới. Lạm phát giai đoạn này chủ yếu chịu ảnh hưởng của các nguyên nhân khách quan chứ không phải do chính sách tiền tệ.04%.5% và vẫn giữ mức cao ở năm 2005 (8. tuy nhiên đây chỉ là sự giảm tạm thời. giá vàng tăng mạnh. năm 2003. Nhưng tác động của các yếu tố có một độ trễ. Đặt biệt là Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Thế Giới ( WTO). Trước tình hình đó. Đặc biệt là giá xăng dầu. khi mà các điều kiện ưu đãi đối với các doanh nghiệp trong nước dần bãi bỏ và ngày càng chịu sự canh tranh khốc liệt từ bên ngoài. nỗ lực của các nghành. đã khiến cho tình hình kinh tế thế giới rơi vào tình trạng hầu hết các mặt hàng trên thế giới đều tăng cao. nguy cơ một cuộc chiến tranh vùng vịnh xảy ra. tỉ lệ tăng trưởng cao thứ hai trong khu vực Châu á chỉ sau có Trung Quốc(8%). đặc biệt là sự kiện Mỹ chủ trương lật đổ chính quyền đương thời để lập nên một chính quyền mới ở Irắc.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 4%. tổng dư nợ cho vay tăng. Bên canh chúng ta còn thực hiện những biện pháp tăng cường đầu tư.6%). Tỉ lệ lạm phát có giảm năm 2006 (6. Mặc dù năm 2002 tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó khăn. Hơn hai tháng đầu năm 2003. tình hình kinh tế. nhưng nước ta vẫn đạt tỉ lệ tăng trưởng kinh tế là 7. Điều đó thể hiện ở chổ tỉ lệ lạm phát năm 2004 tăng vọt lên ở mức 9. Tuy nhiên. các cấp năm 2002 chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế. 76 . đẩy mạnh sản xuất kinh doanh(tăng mức cung hàng hoá và dịch vụ ). Sau khi gia nhập WTO. luồng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài tăng. ta vẫn giữ tỉ lệ lạm phát là 3%.

Sau khi công bố chỉ tiêu này.67% mức cao nhất từ hơn 10 năm trở về trước báo hiệu cho một điềm xấu. để có thể hạn chế đến mức thấp nhất những tác động bất lợi của những thách thức phải đối mặt. từ những nhà làm chính sách đến những người nông dân chân lấm tay bùn. Vì vậy. chứ không nên phản ứng theo kiểu “ nước tới chân mới nhảy”. và ngày càng khó kiểm soát. rồi diễn biến tăng giá hàng hóa. Thời gian gần đây. ngay lúc này chính phủ và NHNN cần có những chính sách thật sự phù hợp và khôn ngoan để có thể điều hành đưa nền kinh tế vĩ mô về trạng thái ổn định. Và cuộc khủng hoảng toàn cầu diễn ra năm 2007-2008 bùng nổ đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam. rồi đến các bài viết của các tác giả xung quanh vấn đề lạm phát. bên cạnh các thành tựu đạt được. Trong thời kì này chính phủ đã sử dụng các công cụ khác nhau để vực dậy nền kinh tế. Tuy nhiên. quá gần với mục tiêu đề ra cho cả năm. giá dollar. Trên các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày điều có những bài viết liên quan đến lạm phát. bỏ qua mọi dư luận. chưa kiểm soát được lạm phát theo mục tiêu đặt ra. mà biểu hiện rõ nét nhất là sự biến động giá vàng. Đó chính là tỉ lệ lạm phát tăng cao với độ biến động khó có có thể suy đoán.12%. nhiều người bang hoàng mặt dù cũng đã đoán trước là nó sẽ tăng. trong khi thời gian còn lại là 3 quí nửa. Ngân hàng Nhà Nước gặp khó khăn trong việc kiểm soát tổng phương tiện thanh toán. người người nhà nhà trong câu chuyện của mình điều nhắc đến lạm phát.24% so với cùng kì năm trước. Ngày 11/2 NHNN đã điều chỉnh tỉ 77 . Thế nhưng giá cả thì vẫn cứ tăng hằng ngày. Và hơn cả là phải có một tầm nhìn dài hạn. mà dư âm của nó vẫn còn kéo dài đến hiện nay. chúng ta lại gánh chịu một hậu quả mà giải quyết nó là điều không hề dễ dàng. hoạch định các phương án để triển khai trong tương lai. nào là các phản ứng của nhà nước đối với lạm phát. Điều đó đã dẫn đến sự bất ổn trong nền kinh tế.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Cụ thể là lạm phát năm 2007 tỉ lệ lạm phát là 12. Chỉ số giá 2 tháng đầu năm 2011 tăng 12. Chỉ số giá ba tháng đầu năm 2011 là 6. Điều này chứng tỏ rằng lạm phát giai đoạn hiện nay đang ở mức đáng báo động.

Các chuyên gia thuộc ngân hàng Standard Charterd cho rằng. tờ Financial Times dẫn một báo cáo ra ngày 11/2 của Standard Chartered. Từ sự phân tích từ đầu.Theo kinh nghiệm trong việc kiềm chế lạm phát của các nước trên thế giới. Thêm nữa là lãi suất trên thị trường tại Việt Nam đang cao. Vậy câu hỏi đặt ra ngay lúc này là Việt Nam có nên theo đuổi LPMT hay không? Và nếu theo cơ chế đó thì lúc nào là hợp lí.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 giá tham chiếu USD/VND ( tăng 9. nhưng liệu các chính sách đó có còn phù hợp với ta trong điều kiện hiện nay hay không.1%.3%) và thu hẹp biên độ giao dịch từ +/. theo đó làm giảm bớt áp lực đối với cán cân thương mại. tìm ẩn nhiều rủi ro và các biến động khó có thể dự đoán. và việc chống lạm phát cao đang cần những gói công cụ nào sao cho hiệu quả. Theo nhiều chuyên gia nước ngoài. NHNN đã có động thái gì và sẽ có những chính sách nào trong thời gian tới để thực hiện được mục tiêu trên. việc tăng tỷ giá tham chiếu USD/VND sẽ làm giảm bớt những áp lực đối với dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Động thái trên của ngân hàng Trung Ương nhằm xóa bỏ cơ chế 2 tỉ giá. Với tình hình đó.Và hơn thế nửa. 78 . khi mà nền kinh tế nước nhà đang ở tình trạng yếu kém. Tuy nhiên. việc kiềm chế lạm phát cũng như ổn định nền kinh tế vĩ mô bây giờ không chỉ còn là mối quan tâm của nhà nước mà còn là điều lo ngại của người dân. đặc biệt là các nước mới nổi có điều kiện kinh tế gần giống nước ta thì việc áp dụng cơ chế LPMT tỏ ra khá hiệu quả.3% xuống còn +. động thái này có mang ý nghĩa tích cực. các nhà phân tích quốc tế cũng lên tiếng cảnh báo về khả năng leo thang của lạm phát và áp lực đối với triển vọng tín nhiệm nợ của Việt Nam sau khi tỷ giá tham chiếu được điều chỉnh tăng. Và việc kéo tỉ lệ lạm phát về dưới mức cho phép là mục tiêu hàng đầu hiện nay. “Lần điều chỉnh tỷ giá mới nhất này có thể dẫn tới tình trạng lạm phát nhập khẩu cao hơn trong những tháng tới. phải xem việc kiềm chế lạm phát thực sự là mục tiêu hàng đầu trong thời gian tới. nước ta đã sử dụng khá thành công các chính sách trong việc kiểm soát lạm phát. đặc biệt khi giá hàng hóa cơ bản trên thế giới tăng cao”. hỗ trợ tích cực cho lĩnh vực xuất khẩu. bên cạnh đó.

64 8.65 9.75 9.89 7.15 5.34 7.7 4.77 6.1 -0.8 4 3 9.54 9.7 trưởng(%) LẠM PHÁT THỰC TẾ VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG 79 .31 5.2 0.32 6.08 7.6 12.76 4.34 8.63 24.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34  Bảng số liệu tham khảo về tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 tỉ lệ lạm phát(%) 12.4 6.6 3.44 8.79 6.4 7 11.79 8.6 0.23 8.5 8.

2 Việt Nam có nên áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu hay không? Theo các lí thuyết và thực tế áp dụng lạm phát mục tiêu ở các phần trên. Ở Việt Nam hiện nay. Thêm vào đó. các nước đã áp dụng lạm phát mục tiêu thì chưa có nước nào từ bỏ.7 5 0 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 -5 6. ta thấy rằng với việc áp dụng cơ chế này các nước đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc kiềm chế lạm phát và ổn định nền kinh tế vĩ mô. biện pháp cứng rắn để kiềm chế lạm phát và giữ cho nó ổn định trong dài hạn. Việt Nam nên từng bước xây dựng các tiền đề để áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu. trong tình hình giá cả leo thang nhanh chóng. niềm tin của công chúng và nhà đầu tư vào các biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ và NHNN đang xuống thấp thì cần có những chính sách. theo quan điểm của chúng tôi. Vì vậy. Từ đó càng cho thấy tính ưu việt của cơ chế này so với các cơ chế khác trong việc kiềm chế lạm phát. 11. Để có thể theo đuổi cơ chế lạm phát mục tiêu thì điều kiện tiên quyết là phải có sự độc lập của NHNN trong việc hoạch định và sử dụng các công cụ chính sách tiền 80 .Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 30 25 20 15 % Lạm phát.75 10 Tăng trưởng. 6.

NHNN tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó. Tương tự.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 tệ. NHNN chỉ là cơ quan xây dựng dự án CSTT quốc gia để Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Quốc hội khóa XII vừa thông qua Luật NHNN Việt Nam (sửa đổi) và Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi):  Trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ. công khai hóa các quyết định trong điều hành của mình không những với cơ quan cấp trên mà còn với công chúng. NHNN tổ chức thực hiện và có trách nhiệm điều hành trong phạm vi đã được Quốc hội và Chính phủ duyệt. 81 . trừ trường hợp đặc biệt do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định (Điều 26).  Về việc tạm ứng cho ngân sách Nhà Nước: Luật NHNN quy định bảo đảm sự thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước.. Chính phủ và công chúng (Điều 73. Thêm vào đó là tính minh bạch của NHNN để tạo niềm tin cho công chúng. Điều 40).. NHNN Việt Nam không được độc lập thiết lập mục tiêu hay xây dựng chỉ tiêu hoạt động. trên cơ sở đó.3 Nam: Sự độc lập và mức độ minh bạch của NHNN Việt 6. luật Ngân hàng năm 2010 quy định: Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện CSTT quốc gia. thị trường.3. báo cáo của NHNN trước Quốc hội. quan trọng trong hoạt động của NHNN nhằm minh bạch hóa.  Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình: Luật quy định rõ trách nhiệm giải trình. 6. Đây là nội dung mới. Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong năm ngân sách. tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện lạm phát mục tiêu.1 Sự độc lập của NHNN (NHNN) Việt Nam: Tại kỳ họp thứ 7.

Điều 3 Luật NHNN Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 29/06/2010 của Quốc hội quy định “Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu CSTT quốc gia theo quy định của Chính phủ”. bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn nước ngoài. 6. tỷ giá hối đoái. cho vay ngân sách trung ương. thực hiện CSTT quốc gia. hoạt động của NHNN ảnh hưởng rất lớn đến tính an toàn của hệ thống ngân hàng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHNN. an ninh tiền tệ của một quốc gia. dự trữ bắt buộc. nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ. biện pháp khác theo quy định của Chính phủ”.2 Một số đánh giá mức độ minh bạch và tín nhiệm của NHNN Việt Nam: Các chính sách “gây ra biến động giá lớn hơn. xoá nợ các khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước. cho vay các tổ chức tín dụng trong trường hợp đặc biệt).Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Xét trong bốn cấp độ độc lập của IMF (2004) thì NHNN Việt Nam nằm ở cấp độ độc lập thứ tư “độc lập tự chủ hạn chế”. nhà kinh tế học Matt Hildebrandt của JPMorgan Chase tại Singapore nhận định trong bài phát biểu tại một hội nghị được tổ chức 82 . như tái cấp vốn cho các NHTM để khoanh. Điều 10 trong Luật NHNN Việt Nam năm 2010 cũng nêu rõ: “Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện CSTT quốc gia. Như trên đã đề cập. Gần như mọi hoạt động của NHNN đều phải được sự cho phép của Chính phủ (phát hành tiền. Tuy vậy. Đây là cấp độ độc lập thấp nhất của NHTW đối với Chính phủ. bao gồm tái cấp vốn. Khoản 4.3. do là cơ quan của Chính phủ nên có trường hợp NHNN phải thực hiện những nhiệm vụ không phù hợp với mục tiêu của CSTT. sự ổn định của giá trị đồng tiền. để thực sự mang lại sự tín nhiệm cao thì cần nâng cao tính độc lập của NHTW hơn nữa. Ở đây. Tính độc lập của NHTW trong thời gian qua đã được cải thiện. lãi suất. NHNN Việt Nam không được coi là một thiết chế đặc biệt dù tổ chức. kỳ vọng lạm phát xấu đi cùng với sự mất giá của Việt Nam đồng”. Bên cạnh đó.

Việt Nam có một “Cơ chế điều hành tiền tệ yếu”.xuống B+. “Kết quả là. xuống BB và BB-. dự trữ ngoại hối và sức khỏe của hệ thống ngân hàng là lý do Hãng định mức tín nhiệm Fitch quyết định hạ xếp hạng tín dụng dài hạn của Việt Nam từ BB. Gần đây.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 vào 30/10/2010 tại Tp. phân bổ tín dụng không hợp lý. Cuối tháng 7/2010. Đến giữa tháng 10/2010. các ngân hàng. Việt Nam phải hứng chịu lạm phát cao hơn. Hãng xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor’s (S&P) tiếp tục hạ xếp hạng đối với các khoản vay ở cấp độ chính phủ.” ông Hildebrandt cho hay. 83 . quy định và quản lý hành chính” Theo nhận định của Hildebrandt. S&P cũng điều chỉnh xếp hạng của 3 ngân hàng thương mại lớn là BIDV. “Lãi suất cơ bản là công cụ chính sách chủ yếu trong năm 2008 và đầu 2009. Cụ thể. Moody's cũng quyết định hạ một bậc tín nhiệm của trái phiếu Chính phủ Việt Nam từ Ba3 xuống B1. xếp hạng tín nhiệm dài hạn đối với các khoản vay dài hạn (bao gồm cả nội và ngoại tệ) đều bị hạ một bậc. kém minh bạch và bất ổn cao hơn”. nhưng ít được sử dụng gần đây. Hồ Chí Minh. chi phí giao dịch tăng cao. lạm phát trong năm 2010 khiến Việt Nam bị liệt vào nhóm các nền kinh tế “có rủi ro tín dụng cao”. Nguyên nhân là do những quan ngại liên quan đến cán cân thanh toán. Techcombank và Vietcombank. Việc liên tiếp bị hạ bậc tín nhiệm trong bảng xếp hạng của các tổ chức quốc tế sẽ khiến chi phí huy động vốn của Chính phủ. lo ngại về chính sách kinh tế. với triển vọng tiêu cực. Cùng với việc hạ bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Ông Hildebrandt nhận định chính sách tiền tệ của Việt Nam có “tính minh bạch và tín nhiệm rất thấp”. “Chính sách hiện nay có nhiều sự phụ thuộc vào biện pháp tác động tâm lý. các doanh nghiệp Việt Nam đội lên. biến động giá lớn.

6. chính phủ cần giao quyền hoàn toàn cho NHNN trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ. Điều này sẽ tác động tích cực đến mức độ minh bạch của chính phủ. bộ phận nếu phát sinh các vấn đề liên quan trong khi thực hiện chính sách tiền tệ và cần có các chế tài cứng rắn nếu có các vi phạm. Công bố báo cáo tiền tệ mỗi quý. NHNN. Như chúng ta đã tìm hiểu ở trên. Thứ ba. cần minh bạch hóa trách nhiệm NHNN. Để giải quyết vấn đề này. Để thực hiện được điều này cần xây dựng Ngân sách dự kiến có mức độ chính xác cao. Mức lạm phát công bố phải là kết quả của các kiểm định nghiêm túc trên cơ sở khoa học.4 Nam: Một số kiến nghị để tiến tới áp dụng LPMT ở Việt Thứ nhất.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 6. Trên thực tế từ trước đến nay. Nếu tồn tại điều này thì không thể áp dụng được cơ chế LPMT. Việc này cần phải công khai trước Quốc hội và các phương tiện thông tin đại chúng để tạo niềm tin cho công chúng. NHNN cần xác định một biên độ dao động rõ ràng và hợp lí cho mục tiêu ngân sách các năm. hiện nay NHNN chưa có tính độc lập trong việc hoạch định và thực hiện các chính sách tiền tệ. Cần có sự giải trình rõ ràng trách nhiệm của từng cá nhân. đồng thời tổ chức các buổi họp báo tạo điều kiện để người dân có thể chất vấn thống đốc và các cơ quan liên quan. Có như vậy thì chính sách tiền tệ mới không bị “đè” bởi chính sách tài khóa của chính phủ. đầu mỗi năm chính phủ luôn công bố một tỉ lệ lạm phát cụ thể. về vấn đề cho chính phủ vay tiền bù đắp thiếu hụt ngân sách. Nếu vượt quá thì chính phủ không được vay tiền của NHNN để xử lí thâm hụt mà phải cắt giảm chi tiêu hoặc tìm biện pháp khác. Tuy nhiên con số này không 84 . cần tăng cường tính độc lấp của NHNN.5 Thực hiện LPMT : Nghiên cứu và công bố các mức lạm phát ngắn hạn và trung hạn phù hợp với nền kinh tế Việt Nam và xu hướng phát triển. Thứ hai.

khi ban hành chính sách.5 <7 <7 Cam kết thực hiện mục tiêu lạm phát là mục tiêu hàng đầu. phân bón. và khi điều này xảy ra thì trong từng thời kì khác nhau. tránh các cú sốc lạm phát vượt chỉ tiêu. còn thực hiện được hay không lại là một vấn đề khác. thì phải ưu tiên cho việc thực hiện mục tiêu lạm phát. 85 . Ta không thể phủ nhận một điều rằng. ta điều không thực hiện được mục tiêu đề ra. Năm Lạm phát thực tế (%) 2007 12. ta chưa hoạch định một tiến trình LPMT trong trung hạn và các chính sách liên quan để thực hiện nó. Thị trường tài chính nước ta còn kém phát triển. Thực trạng cho thấy rằng. Bên cạnh đó. Đề ra các công cụ nhằm bình ổn mục tiêu giá cả. Ví dụ: chương trình bình ổn giá cả các mặt hàng thiết yếu.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 dựa trên cơ sở rõ ràng nào cả. Thêm vào đó. các mục tiêu này lại mâu thuẩn với nhau. Và trong yêu cầu của LPMT.75 Chỉ tiêu (%) 7 7. Thế nhưng. điều kiện này nước ta vẫn chưa thực hiện được.63 2008 24. lương thực.4 2009 7 2010 11. Khuyến nghị sự giúp đỡ của IMF trong việc thực hiện LPMT. đưa ra là một vấn đề. những năm trở lại đây. các nhà hoạch định điều đưa các một loạt các mục tiêu. cho nên ta cần tranh thủ sự giúp đở của các tổ chức quốc tế như IMF. các định chế còn yếu. ở một giai đoạn nào đó. chính phủ lại ưu tiên cho những mục tiêu khác nhau. kiểm soát việt tăng giá quá mức của các mặt hàng cơ bản như giá xăng dầu.

một thuận lợi nữa của LPMT là mối quan hệ ổn định giữa tiền tệ và lạm phát thì không ảnh hưởng đến sự thành công của nó. Ông cho rằng LPMT có nhiều thuận lợi cho các chiến lược trung hạn của chính sách tiền tệ. và đối phó với các cú sốc của nền kinh tế nội địa. mà thay vào đó các thông tin hữu ích có sẵn sẽ giúp ra quyết định tốt nhất cho chính sách tiền tệ. Đối lập với mục tiêu tiền tệ. ví dụ như kiểm soát lạm phát hơn là tăng trưởng sản lượng.…thông qua chính sách tiền tệ. 86 . tăng tính cạnh tranh quốc tế. LPMT cũng giúp NHTW tránh rơi vào cái bẫy của vấn đề thiếu nhất quán về thời gian (time-inconsistency). Áp lực chính trị lên NHTW trong việc mở rộng quá mức chính sách tiền tệ đã gây ra vấn đề thiếu nhất quán về thời gian. một chiến lược chính sách tiền tệ khả thi khác. giảm thất nghiệp. đó là các cuộc tranh luận chính trị chỉ tập trung vào những gì mà NHTW có thể làm được trong dài hạn. LPMT cho phép chính sách tiền tệ tập trung vào các vấn đề trong nước. Bởi vì đưa ra con số mục tiêu rõ rang cho lạm phát làm tăng trách nhiệm của NHTW. Ông cho rằng.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 7 ĐÁNH GIÁ CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU: 7. Đối lập với tỉ giá con rắn tiền tệ.1. Mishkin đã đưa ra một số điểm thuận lợi và bất lợi đối với các nước theo LPMT. do đó sẽ rất công khai và minh bạch. Do đó LPMT đã giúp giải quyết vấn đề này. nghĩa là nó không phụ thuộc vào mối quan hệ đó.1 Đánh giá ưu nhược điểm của LPMT: 7.1 Ưu điểm: Trong bài nghiên cứu của mình năm 2000. Hơn thế nữa LPMT có một thuận lợi là dễ hiểu.

điều này được minh họa trong các nghiên cứu của Frederic Mishkin và Adam Posen (1997). Mức độ đô la hóa cao cũng là một vấn đề nghiêm trọng trong LPMT ở các nước mới nổi. đồng thời qua sự phân tích của mình ông cho rằng có bảy nhược điểm chính trong chế độ LPMT. Frederic. Một đặc điểm quan trọng khác là sự minh bach của chính sách tiền tệ có khuynh hướng nâng cao trách nhiệm của NHTW đối với công chúng 7. Bốn trong bảy nhược điểm đó chính là quá cứng nhắc. Chế độ LPMT cũng yêu cầu tính minh bạch của NHTW và duy trì các kênh thông tin thường xuyên đến công chúng. điều này làm tăng sự không ổn định của sản lượng đầu ra. Đây cũng là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh của các nước mới nổi. Thomas Laubach.2 Nhược điểm: Mishkin đưa ra một số điểm không thuận lợi của lạm phát mà ông đã rút ra từ các bài nghiên cứu trước đó. nơi có lịch sử quản lý tiền tệ yếu kém. Bất lợi thứ năm là LPMT rất khó thực hiện nếu như NHTW yếu kém vì lạm phát rất khó kiểm soát và có một độ trễ khá lớn từ các chính sách tiền tệ tác động lên lạm phát.1. Điều này đặc biệt quan trọng ở các nước mới nổi. et al. Những đặc điểm này đã trở thành yếu tố quyết định trong sự thành công của chiến lược ở các nước công nghiệp phát triển. (1999). và giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ben Bernanke. mà lại cho phép sự tự do quá mức. theo Mishkin (1999) và Bernanke. bảng cân đối kế toán của các doanh 87 . LPMT yêu cầu một chế độ tỷ giá thả nổi thì có thể dẫn đến sự bất ổn tài chính.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 LPMT đòi hỏi một cam kết về bình ổn giá cả như là mục tiêu chính của NHTW. Mishkin và Adam Posen (1999). Trên thực tế ở các nước mới nổi. Nhược điểm thứ sáu và thứ bảy đó là LPMT không thể ngăn chặn sự thống trị tài khóa.

danh mục nợ dài hạn cũng được tính bằng USD (Guillermo Calvo. các nền kinh tế mới nổi không thể nỗ lực để lờ đi vấn đề tỷ giá hối đoái khi điều hành chính sách tiền tệ dưới chế độ LPMT. làm tăng rủi ro khủng hoảng tài chính (Mishkin (1996)). và sự giám sát chặt chẽ. bên cạnh việc sử dụng các mô phỏng của mô hình trong các thảo luận. Nó cũng gợi ý rằng LPMT ở một nền kinh tế có hiện tượng đô la hóa là không thể tiến hành nếu không có một sự điều chỉnh thận trọng và khôn ngoan. Kế tiếp là thảo luận về một số lý do tại sao EMEs biến động cao hơn. Bởi LPMT yêu cầu một chế độ tỷ giá thả nổi nên sự biến động tỷ giá là không thể tránh khỏi. Ilan Goldfajn and André Minella nhằm đánh giá LPMT trong EMEs.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 nghiệp và các ngân hàng được định danh bằng đồng USD. trên kinh nghiệm riêng của tác giả tại NHTW Brazil. các thể chế tài chính để chắc chắn rằng nền kinh tế có thể đứng vững trước các cú sốc về tỷ giá hối đoái. trình bày một số mô hình lý thuyết của một nền kinh tế mở nhỏ. ảnh hưởng của những cú 88 . Với mục đích đó. Nhưng nó đóng một vai trò phụ trợ cho mục tiêu lạm phát. Tuy nhiên sự mất giá mạnh của đồng nội tệ đã làm tăng gánh nặng nợ được định giá bằng đồng USD. 7. các phân tích dựa trên kết quả thực nghiệm cho EMEs và đặc biệt. Tiếp theo. Nó phân tích các thách thức trong việc xây dựng uy tín và làm giảm mức độ lạm phát. và đưa ra các quy định áp dụng cho việc thực hiện các chính sách tiền tệ và thiết kế LPMT.2 Nhận xét bài nghiên cứu tác giả Fraga: Bài viết của nhóm tác giả Arminio Fraga. sử dụng để mô phỏng hiệu ứng của cú sốc và những thay đổi trong các mục tiêu lạm phát. khi so với các nền kinh tế phát triển. Bài viết này đã trình bày một số sự kiện cách điệu về EMEs và các nước phát triển. 1999). Điều này gợi ý rằng . Nó chứa một so sánh thống kê của việc tiến hành và kết quả của chính sách tiền tệ trong EMEs và các nước phát triển.

Các vấn đề này làm cho nền kinh tế của các nước mới nổi mất cân bằng. tỷ lệ lạm phát cao hơn. Ngoài ra. sử dụng các mục tiêu điều chỉnh khi nền kinh tế đối mặt với các cú sốc lớn và xây dựng các điều kiện để phù hợp với các tiêu chuẩn của IMF dưới cơ chế LPMT. nhóm tác giả đã chỉ ra nguyên nhân.sự cần thiết phải giảm mức độ lạm phát và chống lại các cú sốc lớn giữ một vai trò rất quan trọng . Trên cơ sở các lí thuyết về LPMT và thực tế đã và đang diễn ra ở các nước mới nổi. Thông qua so sánh việc áp dụng hay không áp dụng cơ chế LPMT ở 2 nhóm nước phát triển và nhóm nước mới nổi. nhóm tác giả đưa ra LPMT ở các nước mới nổi đã tỏ ra khá thành công. các nhóm tác giả vẫn chưa đưa ra được cách giải quyết vấn đề về xác định LPMT là bao nhiêu và liệu có nên chọn mức giá mục tiêu hay không? 89 .tỉ giá hối đoái và sản lượng vẫn cao hơn các nước phát triển .. Và cuối cùng là cách thức để đối phó với những cú sốc. Từ các phân tích hữu ích này có thể giúp các nước đang và sẽ theo đuổi LPMT có được đánh giá và có chương trình hành động phù hợp với đất nước mình để có thể áp dụng thành công cơ chế LPMT. và nhận thấy rằng các nước mới nổi phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn các nước phát triển như sự biến động cao hơn về sản lượng đầu ra và lạm phát.Để giải quyết các vấn đề này thì các NHTW đã đưa ra một số công cụ nhằm nâng cao tính minh bạch và quan hệ với công chúng. các vấn đề được đưa ra là rất thiết thực. Tuy nhiên. nhóm tác giả đã đưa ra những kết quả về lạm phát trước và sau khi 2 nhóm nước nói trên thực hiện LPMT.. Ở các nước này vấn đề về xây dựng niềm tin.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 sốc lớn bên ngoài và các vấn đề về sự thống trị tài khóa và tài chính.. Từ đó. Nó giúp các nước này giảm tỉ lệ lạm phát xuống mức thấp tuy nhiên mức độ bất ổn của lạm phát . sử dụng các dải mục tiêu như các phương tiện truyền thông. phân tích và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề nổi cộm của các nước mới nổi khi theo đuổi cơ chế LPMT.

3 Vấn đề mở còn chưa giải quyết được: 7. tuy nhiên Bruno và Easterly (1996) đã chỉ ra rằng mối quan hệ này ko tồn tại nếu lạm phát ở mức thấp.1 Mục tiêu lạm phát trong dài hạn: Một câu hỏi lớn cho tất cả NHTW thực hiện LPMT chính là mục tiêu lạm phát lâu dài là bao nhiêu? Nhiều nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và sự tăng trưởng nên kinh tế. Lí do là bởi vì các hợp đồng tín dụng trong các nền kinh tế công nghiệp thường có kỳ hạn dài mà giảm phát sẽ dẫn tới việc lãi suất thực tăng từ đó giảm giá trị tài sản ròng doanh nghiệp và công chúng. ổn định giá cả nghĩa là lạm phát ở mức thấp mà hộ gia đình. người vay nợ sẽ sẽ tăng cường rủi ro vì giá trị thục họ có thể mất sẽ ít hơn.1997). doanh nghiệp không phải bận tâm đến giá cả trong quyết định hàng ngày của mình.Tuy nhiên. Chính điều này dẫn đến việc nền tài chính không được ổn định nếu nền kinh tế xuất hiện giảm phát kéo dài. bằng cách trả lời việc ổn định giá cả để làm gì? Theo Greenspan. Một cách tiếp cận khác đó là việc quyết định mục tiêu lạm phát phù hợp dài hạn. Bernake (1999) cũng chỉ ra rằng một con số giữa 0% và 3% trong kỳ hạn dài sẽ không làm giảm tín nhiệm cũng như kỳ vọng công chúng. Với giá trị ròng giảm xuống. Một vài nhà kinh tế Martin Feldstein (1997) và William Poole (1999) tranh luận rằng mục tiêu 0 % sẽ tạo cho tâm lý thích thú của công chúng. Một tranh luận khác về mục tiêu lạm phát trong dài hạn không nên quá thấp sẽ giúp cho nền kinh tế tránh được giảm phát trong một số kì. rõ ràng mục tiêu hơn 0 % có thể dẫn tới việc giảm tín nhiệm NHTW sự mất ổn định trong kỳ vọng lạm phát. 90 . Mặt khác giảm phát sẽ làm cho nền tài chính không được ổn định như Mishkin đã đưa ra trong bài nghiên cứu của ông (1991.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 7. hơn nữa rủi ro người cho vay sẽ tăng lên khi giá trị tài sản đảm bảo giảm xuống.3.

và thực sự là như vậy trong cuộc Đại khủng hoảng. Vì vậy. chính sách tiền tệ trở nên kém hiệu quả. trong những năm gần đây . NHTW không có khả năng nâng nền kinh tế thoát khỏi suy thoái bằng cách theo đuổi chính sách mở rộng và tạo tính thanh khoản hơn . trong đó các NHTW thiết lập các mức lãi suất ngắn hạn ở mức độ phụ thuộc vào cả khoảng cách sản lượng và lạm phát. Chính sách tiền tệ thể hiện thông qua giá nhiều tài sản khác ngoài các chứng khoán nợ ngắn hạn . bởi vì các hướng dẫn bình thường để thực hiện chính sách tiền tệ không còn liên quan . chính sách tiền tệ sẽ phải thông qua các kênh truyền dẫn khác. tập trung vào cái gọi là quy tắc Taylor . nhưng điều đó là không rõ là chúng ta sẽ làm gì. chính sách tiền tệ trở nên khó khăn hơn trong quá trình tập giảm phát khi lãi suất hạ xuống mức sàn bằng 0. Nếu giảm phát trở nên thường xuyên sẽ làm cho lãi suất ngắn hạn giảm xuống gần đến 0 % . Trong một môi trường như giảm phát . và vì vậy ngay cả khi lãi suất ngắn hạn xuống sàn bằng 0 . Tuy nhiên . chính sách tiền tệ vẫn có thể có hiệu quả .Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Một lí do khác không nên chọn LPMT thấp để tránh nền kinh tế có giảm phát là giảm phát thường khiến cho các chính sách tiền tệ khó điều hành hơn. nhiều nghiên cứu làm cách nào để NHTW chính tối ưu sách tiền tệ. một bất lợi quan trọng của một mục tiêu lạm phát dài hạn quá thấp là do đó mà nó làm cho môi trường giảm phát sẽ xảy ra trong đó NHTW sẽ chơi vơi nếu không có những kiến thức thông thường để hướng dẫn họ . 91 . làm cho nó khó khăn hơn cho họ để có được chính sách tiền tệ phải chính xác. Sự hợp pháp này làm cho NHTW không thoải mái . một khi lãi suất hạ xuống mức sàn bằng không . Những cuốn sách Taylor là một ví dụ tuyệt vời của loại nghiên cứu này . Tuy nhiên . tất cả các nghiên cứu về tối đa quy luật của chính sách tiền tệ theo Taylor không còn hữu ích bởi vì sự vận dụng lãi suất ngắn hạn không còn là một công cụ hiệu quả của chính sách tiền tệ.

Một mục tiêu lạm phát quá thấp. Tuy nhiên . 92 . có thể báo hiệu cho công chúng rằng các NHTW không quan tâm đầy đủ về sự quan tâm của công chúng. sự thay đổi này cũng có thể được loại bỏ bằng cách thay đổi mã số thuế và vì vậy nó không rõ ràng rằng họ cung cấp một sự biện minh cho việc lựa chọn một mục tiêu không lạm phát dài hạn. và điều này có thể tạo ra nhiều phúc lợi đáng kể . Thị trường mới nổi có mức lạm phát cao hơn các nước công nghiệp.0 hoặc thậm chí 1 % . với mức 1% GDP . Feldtein (1997 ) và các bài nghiên cứu của Feldstein (1999 ) thấy rằng việc hạ thấp tỷ lệ lạm phát bằng không ở các nước công nghiệp từ mức thấp hiện đang làm giảm sự thay đổi gây ra bởi sự tương tác của lạm phát với hệ thống thuế . nó có thể sẽ mất sự ủng hộ của công chúng .Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Một lý do tại sao NHTW có thể thiết lập tốt hơn với một mục tiêu lạm phát dài hạn lớn hơn không . một nước phát triển nhanh. Nếu một NHTW được coi là một “inflation nutter” theo Mervyn King’s thuật ngữ . Fischer (1986 ) . Các nước tăng trưởng cao thường đánh giá cao kinh nghiệm tỷ giá hối đoái thực của một tỷ lệ thuận với sự khác biệt tương đối của các năng suất giao dịch đến phi giao dịch so với phần còn lại của thế giới (hiệu ứng Harrod Belassa và Samuelson). Vì vậy mục tiêu lạm phát dài hạn ở các nước phát triển nhanh cần phải cao hơn một tí so với các nước phát triển trung bình. các NHTW không đặt áp lực trên sản lượng biến động trong việc đưa ra quyết định của mình về chính sách tiền tệ . Điều này giải thích Chile. Nếu nó có phù hợp với những quốc gia này nhằm mục đích lạm phát hàng hóa được giao dịch tương tự như các nước công nghiệp hóa về lâu dài . có thể chọn LPMT dài hạn từ 2-4% trên năm. Mặt khác . là điều quan trọng là họ không quá xem trọng việc kiểm soát các chi phí của sự ổn định đầu ra . sau đó đánh giá xu hướng thực tế đòi hỏi một sự lạm phát hang hóa nội địa phi giao dịch cao hơn.

Bernake and Frederic S. “Inflation Targeting in Emerging Market Economies”. Tuy nhiên. những mục tiêu thích hợp lâu dài cho lạm phát vẫn là một câu hỏi mở. Theo lý luận đã đưa ra thì lạm mức giá mục tiêu dường như là tốt hơn lạm phát mục tiêu. đưa ra các lập luận mâu thuẫn ở trên. Banco Central do Brazil. thực tế thì đa số các quốc gia đều theo đuổi lạm phát mục tiêu. Working Paper  Ben S. với trung điểm của mục tiêu dài hạn nằm giữa 1 và 3% trên năm.Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34 Tóm lại.2 Mức giá mục tiêu và lạm phát mục tiêu: Lạm phát mục tiêu và mức giá mục tiêu đều có ưu điểm riêng. Như một vấn đề thực tế . Vấn đề chọn lạm phát mục tiêu hay là mức giá mục tiêu vẫn còn đang là một câu hỏi mở cần nghiên cứu nhiều hơn DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  Arminio Fraga. 7.Miskin (1997). Các nghiên cứu tương lai có thể giúp NHTW quyết định về việc có một mục tiêu dài hạn bên ngoài là đánh giá và cung cấp chính xác hơn về những gì được LPMT nên làm. NBER WORKING PAPER No 5893 93 . “Infation targeting: A new framework for monetary policy”.3. tất cả LPMT quốc gia đã lựa chọn LPMT lâu dài sẽ cao hơn không . Ilan Goldfajn và André Minella (2003).

emerging market countries”. Mishkin (2004). NBER Working Paper no. NBER WORKING PAPER No 6126. Mehmet Pasaogullari (2003).Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34  Corrinne Ho và Robert N McCauley (2002). “Can Inflation Targeting work in Frederic S. “ Inflation targeting in Emerging market Frederic S. Stanford University Targeting And Real Exchange Rates In Emerging Markets”.14561 94 .Mishkin (2000). “Living with flexible exchange rates: issues and recent experiences in inflation targeting emerging market economies “. Working Paper      Frederic S. Michael Hutchison. NBER PAPER WORKING No 8397  Frederic S. “ One Emerging Market Countries?” countries”. “Inflation Targeting And Output Stabilisation”. NBER PAPER WORKING No 12876   Guy Debelle (1999). Taylor (2000).Mishkin and Adam S.   John B. “Effects Of The Research Discussion Paper. Hakan Berument. “Inflation market economics”. Working Paper. NBER PAPER WORKING No 7618. “Does inflation targeting make a difference”.Posen (1997). “Inflation targeting: Frederic S. decade of inflation targeting in the world: what do we know and what do we need to know”.Mishkin and Klaus Schimidt-Hebbel (2007). lan Noy (2008). Real Exchange Rate On Output And Inflation: Evidence From Turkey”. NBER PAPER WORKING No 10646 Lessons from four countries”.Mishkin and Klaus Schimidt-Hebbel (2001).Mishkin (2004). “Using monetary policy rules in emerging Joshua Aizenman. “ Can inflation targeting work in Frederic S.

NBER PAPER WORKING No c9561 University of Chicago Press. Piter Abdullah North America”. Svensson (2010).Lạm phát mục tiêu ở các nền kinh tế mới nổi Nhóm nghiên cứu TC8 K34      Lars E. University of Western Sydney  Sophocles N. Princeton University (2001). Cung. “Teaching Intermediate William Bragg. University of Western Sydney. Magginas (2008). B. “What Has Inflation Targeting Achieved”. Bank of Greece   Wendy Carlin. Arie Jayanthy F A Fauzi. (2010) “New estimates of the hybrid US Phillips curve”. the EU and  European Journal of Economics. (2004). and Optimal Monetary Policy”. Economic Research Department. Brissimisa. Bhaskara và Cao. “Does Inflation Targeting Mervyn King (2003). Rao. Noer Azam Achsani. NBER Working Laurence Ball. Nicholas S. “The Relationship between Inflation and Real Exchange Rate: Comparative Study between ASEAN+3.16654 Matter”. (2010). “Inflation Forecasts and the New Keynesian Phillips Curve”. Michael Woodford. “A Dynamic Model of Aggregate Demand and Macroeconomics using the 3-Equation Model”. 95 . Aggregate Supply”.O. “Inflation Targeting”. David Soskice (2008). “The Taylor Rule Paper no. Finance and Administrative Sciences. Niamh Sheridan.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful