Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. 1.1.1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG. Khái niệm Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Creditum, có nghĩa là một sự tin

tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một thời điểm xác định trong tương lai. Có thể định nghĩa quan hệ tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật ) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Tín dụng cũng có thể được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa ) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác ) và bên đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác ), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô diều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về tín dụng nhưng tựu chung lại đều có 3 nội dung hay đặc trưng sau: - Thứ nhất: là quan hệ chuyển nhượng một lượng giá trị mang tính chất tạm thời. Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc hiện vật. Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó
Nguyễn Hữu Hiếu

3

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

là kết quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó. Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến những rủi ro, những nguy cơ phá hủy quan hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó. - Thứ hai: tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: gốc và lãi. Phần lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời. Nói cách khác, nó là giá trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó. - Thứ ba: quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn. Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay. Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện hình thành quan hệ tín dụng. Cơ sở cua sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản bảo đảm và do sự bảo lãnh của người thứ ba. Cơ sở khách quan của sự ra đời quan hệ tín dụng là: cùng một lúc có những chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa một khoản vốn, trong khi các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu cần bổ sung vốn. Hành vi tín dụng như vậy có thể được diễn ra trực tiếp giữa bên thừa vốn cần đầu tư với bên cần vốn để sử dụng. Nhưng trên thực tế hai bên này khó có thể phù hợp được với nhau về quy mô, về thời gian, không gian; hoặc nếu có thể phù hợp được thì phải tốn nhiều chi phí. Do đó, xuất hiện một bên thứ ba đứng ra tập trung được vốn của số đông những
Nguyễn Hữu Hiếu

4

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

người tạm thời dư thừa vốn, cần đầu tư kiếm lãi, sau đó đem số vốn này phân phối cho những chủ thể kinh tế thiếu hụt, có nhu cầu về vốn dưới hình thức cho vay, cho thuê tài chính. Bên thứ ba đó chính là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu nhất là các ngân hàng thương mại – các trung gian chủ yếu trên thị trường tài chính. Và hình thức tín dụng của các ngân hàng thương mại này được gọi là tín dụng ngân hàng. 1.1.2 a. Vai trò của tín dụng ngân hàng. Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thỏa mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh. Nhờ có tín dụng ngân hàng và các hình thức tín dụng sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất cảu xã hội. Các nguồn tín dụng được cung ứng luôn đi kèm với các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro và với áp lực phải trả cả gốc và lãi vay buộc người đi vay phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn, đến khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh. b. vĩ mô Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu

Nguyễn Hữu Hiếu

5

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Tín dụng trở thành một công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các mục tiêu vĩ mô này. Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế cả về quy mô và kết cấu, đồng thời cũng ảnh hưởng tới các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết. c. Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội Thông qua các hình thức tín dụng ưu đãi như tín dụng cho người nghèo với lãi suất thấp, tín dụng đối với các đối tượng chính sách khác,… sẽ góp phần nâng cao điều kiện sống và tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế của các đối tượng này. Khi sử dụng vốn tín dụng ưu đãi, các đối tượng chính sách này buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn, kết hợp với các ưu đãi có được, điều kiện tài chính của họ sẽ được cải thiện, từng bước dần có thể độc lập với nguồn vốn tài trợ. Đó chính là mục đích chính của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng. 1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 1.2.1 Khái niệm Rủi ro rín dụng là những khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng. Hiểu theo một cách khác thì rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì bất kể lý do gì.

Nguyễn Hữu Hiếu

6

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

1.2.2

Phân loại rủ ro tín dụng Căn cứ vào khả năng khách hàng không trả nợ cho ngân hàng trên khía cạnh

bản chất của sự không trả nợ, ta có thể phân chia rủi ro tín dụng thành hai loại là rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. 1.2.2.1 Rủi ro đọng vốn Đó là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do trễ hạn, khách hàng không có khả năng hoàn trả đúng hạn làm cho các khoản cho vay của ngân hàng bị bất động hóa. 1.2.2.2 Rủi ro mất vốn Đó là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do không thanh toán, khách hàng không trả một phần hoặc toàn bộ khoản tín dụng. 1.2.3 1.2.3.1 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng Đối với nền kinh tế Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho vay vẫn là quyền sở hữu của những người gửi tiền vào ngân hàng. Bởi vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân hàng gặp phải rủi ro hay phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản suất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó
Nguyễn Hữu Hiếu

7

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định. Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã làm rung chuyển toàn cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan. 1.2.3.2 Đối với ngân hàng Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát về mặt tài chính mà ngân hàng phải gánh chịu liên quan tới việc người vay vốn không trả đúng hạn hay không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Nói như vậy hàm ý rủi ro tín dụng có ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của ngân hàng. Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, lợi nhuận của ngân hàng bị giảm sút, kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả. Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, ngân hàng không có đủ vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản. Và kết quả làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm. Kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực của sự phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
Nguyễn Hữu Hiếu

8

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Nói tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. 1.2.4 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Trong quan hệ tín dụng, có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay. Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan. Rủi ro tín dụng xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan. 1.2.4.1 Nguyên nhân khách quan

• Môi trường tự nhiên: Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam còn phụ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phục vụ nông nghiệp và thủ công nghiệp,… Điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự báo, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy khi có thiên tai, dịch họa xảy ra, khách hàng của ngân hàng sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, nguồn thu bị ảnh hưởng…điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng cùng gánh chịu rủi ro với khách hàng của mình. Rủi ro do những diễn biến bất lợi của môi trường tự nhiên là loại rủi ro bất khả kháng và khi nó xảy ra thường đem lại thiệt hại lớn cho các đơn vị kinh doanh và cho các ngân hàng tài trợ.

Nguyễn Hữu Hiếu

9

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

• Môi trường pháp lý: Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh tiền tệ đặc biệt, có tác động to lớn tới toàn bộ nền kinh tế. Bởi vậy nó đòi hỏi phải được điều chỉnh bởi pháp luật và chịu sự kiểm soát khắt khe của các cơ quan quản lý Nhà nước. Sự bất lợi của môi trường pháp lý, sự kém hiệu quả của cơ quan quản lý các cấp trong việc triển khai các quy định của luật pháp sẽ đẩy ngân hàng vào điều kiện kinh doanh tín dụng với nhiều rủi ro. Trong nền kinh tế thị trường, việc các yếu tố pháp lý không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động của nền kinh tế đó không thể tiến hành trôi chảy được. Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập một môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao. Bất cứ sự không tương xứng của pháp luật nói riêng và môi trường pháp lý nói chung đều có thể đẩy các đơn vị kinh doanh gặp rủi ro trong khi tham gia các quan hệ tài chính,…và quan hệ tín dụng của ngân hàng cũng không thể tránh khỏi các rủi ro mà có thể dẫn tới tổn hại nghiêm trọng. Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN còn chưa hiệu quả. Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro, vi phạm. • Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay và thiệt hại hay thành công của người cho vay. Sự hưng thịnh hay suy thoái của chu kỳ kinh doanh cũng ảnh hưởng tới lợi nhuận của người đi vay và do vậy tạo niềm tin hay gây nên nỗi lo lắng cho người đi vay tiền. Khi nền kinh tế ở giai đoạn hưng thịnh, người vay hoạt động kinh doanh tốt hơn, các nhân tố tài chính là an toàn hơn, do đó rủi ro tín dụng giảm. Trong giai đoạn khủng hoảng, tình

Nguyễn Hữu Hiếu

10

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

hình kinh doanh của người vay bị giảm sút do chậm thu hồi các khoản phải thu, do sức mua giảm, hàng tồn kho tăng lên,…như vậy kéo theo đó là sự suy giảm của các chỉ tiêu tài chính – các nhân tố đảm bảo cho sự an toàn của khoản tín dụng ngân hàng, khả năng thanh toán các khoản nợ bị yếu đi, rủi ro tín dụng tăng lên với ngân hàng. Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ. Bên cạnh đó phải kể tới sự thiếu quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách bất hợp lý vào một số ngành kinh tế khiến cho các ngành này có sự phát triển quá nóng. Bong bóng kinh tế hay sự tăng trưởng giả tạo, tăng trưởng không bền vững trong các ngành này do đó sẽ tăng lên, rủi ro tín dụng sẽ tăng lên đối với ngân hàng nào có tỷ trọng tín dụng cao ở ngành đó và thiếu cơ chế quản lý đúng đắn. • Môi trường thông tin: Sẽ là rất suôn sẽ và an toàn nếu trong các giao dịch tín dụng các bên tham gia đều có thông tin và hiểu biết đầy đủ về nhau. Song một thực tế tồn tại là: môt bên thường không biết tất cả những gì cần biết về bên kia, hoặc những thông tin có được lại không liên tục và có độ tin cậy không cao. Sự không cân xứng về thông tin như vậy trong nhiều trường hợp đã đặt các ngân hàng vào tình trạng đưa ra phán quyết tín dụng trong điều kiện thông tin không hoàn hảo, gây rủi ro cho ngân hàng. Tất cả các nguyên nhân khách quan trên nếu không được dự báo, có biện pháp phòng ngừa kịp thời sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường kinh doanh của cả ngân hàng lẫn khách hàng. Khi khách hàng gặp phải rủi ro do nguyên nhân khách quan gây nên, họ không còn đủ khả năng thực hiện cam kết trong quan hệ tín dụng với ngân hàng thì việc tốt nhất ngân hàng có thể làm là giúp đỡ,

Nguyễn Hữu Hiếu

11

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

hỗ trợ khách hàng để họ khôi phục lại hoạt động kinh doanh tạo nguồn trả nợ cho ngân hàng. 1.2.4.2 a. Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân từ phía khách hàng vay • Sử dụng vốn sai mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng phương án, mục đích xin vay, hiệu quả kinh doanh không được phát huy triệt để nên khi đến hạn không trả được nợ cho ngân hàng. • Khách hàng vay vốn không có thiện chí trả nợ, trây ỳ không trả nợ hoặc cố tình lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng. • Do sự yếu kém trong kinh doanh. Tính toán các phương án kinh doanh, hoạch định ngân quỹ không chính xác, không dự tính hết các khoản chi tiêu dẫn đến xác định sai thu nhập trả nợ ngân hàng. • Sản xuất kinh doanh của khách hàng không thuận lợi do những thay đổi bất ngờ ngoài ý muốn tác động xấu đến kinh doanh, mang lại rủi ro cho họ, làm xấu đi tình hình tài chính của các chủ thể vay vốn. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng sẽ ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng. b. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Trước hết phải nói đến các ngân hàng còn thiếu một chính sách tín dụng nhất quán, chính sách tín dụng ở đây phải bao gồm định hướng chung cho việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay, danh mục lựa chọn khách hàng trong từng giai đoạn,….Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng có thể kể đến các nguyên nhân cơ bản dưới đây: • Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá khách hàng,…dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của

Nguyễn Hữu Hiếu

12

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hơp với phương án kinh doanh của khách hàng. • Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không phát hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn sai mục đích. • Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay. • Chạy theo số lượng ( hoặc theo kế hoạch ) mà sao lãng việc coi trọng chất lượng khoản vay, quá lạc quan và tin tưởng vào sự thành công của phương án kinh doanh của khách hàng. • Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ. • Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng ngân hàng chưa đủ tầm và vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng. • Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng, việc chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay. c. Nguyên nhân từ phía các bảo đảm tín dụng: • Giá cả các tài sản bảo đảm biến động theo chiều hướng bất lợi, dẫn đến trường hợp giá trị thị trường của tài sản bảo đảm giảm, không đủ bù đắp cho các khoản tín dụng khi xảy ra rủi ro. Sự biến động các tài sản bảo đảm còn phụ thuộc vào đặc tính của tài sản và thị trường giao dịch các tài sản này. • Khó định giá các tài sản dùng làm bảo đảm tín dụng, điều này có thể do đặc tính của tài sản, do tài sản không phổ biến trên thị trường hay do giá trị tài

Nguyễn Hữu Hiếu

13

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

sản biến động nhanh trên thị trường,…có thể dẫn đến tình trạng định giá tài sản quá cao. • Tính khả mại của tài sản thấp, có nghĩa là tài sản gặp trở ngại khi tham gia thị trường. Điều này sẽ gây rủi ro cho ngân hàng bởi khi khoản tín dụng gặp rủi ro thì có thể việc phát mại tài sản bảo đảm không giúp thu hồi được giá trị khoản cho vay. • Tài sản bảo đảm gặp các tranh chấp về pháp lý như các tranh chấp về giao dịch bảo đảm,…hoặc thiếu cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản bảo đảm. 1.2.5 1.2.5.1 Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng Tình hình nợ quá hạn Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Theo một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Nợ quá hạn là một thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế, đánh giá rủi ro của ngân hàng trong việc cung ứng dịch vụ tín dụng. Nó tác động tới tất cả các hoạt động của chính của ngân hàng. Nợ quá hạn xuất hiện làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của các tổ chức tín dụng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả kinh doanh. Đồng thời làm giảm khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, giảm uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành các nhóm sau: Nợ quá hạn dưới 90 ngày – Nợ cần chú ý. Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn.
Nguyễn Hữu Hiếu

14

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

-

Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ. Nợ quá hạn trên 361 ngày – Nợ có khả năng mất vốn. Số dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = ------------------------Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì rủi ro của ngân hàng càng tăng. Số khách hàng quá hạn Tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn = ------------------------------------Tổng số khách hàng có dư nợ Tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn càng thấp càng tốt, nó thể hiện chính sách tín dụng cũng như khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng. Nếu tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn thấp hơn tỷ lệ nợ quá hạn, thì dường như các khoản cho vay lớn có vấn đề nhiều hơn các khoản cho vay món nhỏ. Quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của các Ngân hàng thương mại không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng. * Nợ quá hạn theo khả năng thu hồi: chia làm 2 loại: Nợ quá hạn có khả năng thu hồi và Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi. Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là những khoản nợ quá hạn nhưng thời gian quá hạn ngắn và ý thức trả nợ của khách hàng được đánh giá là tốt. NQH có khả năng thu hồi Tỷ lệ NQH có khả năng thu hồi = ----------------------------------Tổng NQH

Nguyễn Hữu Hiếu

15

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: là mức độ cao hơn của nợ quá hạn có khả năng thu hồi, thông thường nó là nợ loại 5 – nợ có khả năng mất vốn, gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn. - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý. Tổng dư nợ loại 5 Tỷ lệ NQH không có khả năng thu hồi = --------------------------Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi càng cao, rủi ro càng thấp. Và ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi càng cao, rủi ro càng cao. * Nợ quá hạn theo mức độ bảo đảm: gồm 2 loại: nợ quá hạn có tài sản bảo đảm và nợ quá hạn không có tài sản bảo đảm. NQH có TSBĐ Tỷ lệ NQH có TSBĐ = -------------------------Tổng nợ quá hạn NQH không có TSBĐ Tỷ lệ NQH không có TSBĐ = -------------------------------Tổng nợ quá hạn

Nguyễn Hữu Hiếu

16

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Đối với một khoản vay, tài sản bảo đảm có ý nghĩa quan trọng. Nó vừa tạo áp lực buộc người vay vốn phải tuân thủ các điều kiện vay vốn, tạo sức ép cho họ sử dụng vốn hiệu quả, trả nợ gốc và lãi đầy đủ. Nó còn là nguồn thu hồi, đảm bảo an toàn cho các khoản vay khi khách hàng không thanh toán các khoản nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn có tài sản bảo đảm càng cao thì mức độ rủi ro của ngân hàng càng thấp. Ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn không có tài sản bảo đảm càng cao thì ngân hàng càng chịu nhiều rủi ro. 1.2.5.2 Tình hình nợ xấu Nợ xấu là các khoản nợ mang đặc trưng cơ bản sau: + Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn. + Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi. + Tài sản bảo đảm được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi. + Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày. Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu của tổ chức tín dụng bao gồm các nhóm nợ sau: Nhóm nợ loại 3 – nợ dưới tiêu chuẩn. Nhóm nợ loại 4 – nợ nghi ngờ. Nhóm nợ loại 5 – nợ có khả năng mất vốn. Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = --------------------Tổng dư nợ

Nguyễn Hữu Hiếu

17

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Số khách hàng có nợ xấu Tỷ lệ khách hàng có nợ xấu = ----------------------------------Tổng số khách hàng có dư nợ Thông qua tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ và tỷ lệ khách hàng có nợ xấu có thể thấy mức độ rủi ro của ngân hàng, cũng như đánh giá được chất lượng tín dụng và hoạt động tín dụng của ngân hàng. Các chỉ tiêu này càng cao cho thấy chất lượng tín dụng càng kém và hoạt động tín dụng của ngân hàng càng rủi ro. Theo quy định hiện nay của NHNN thì tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng không được vượt quá 3%. 1.2.5.3 Tình hình rủi ro mất vốn. Dự phòng RRTD được trích lập Tỷ lệ dự phòng RRTD = ---------------------------------------Dư nợ cho kỳ báo cáo

Mất vốn đã xóa cho kỳ báo cáo Tỷ lệ mất vốn = ----------------------------------------Dư nợ trung bình cho kỳ báo cáo Tỷ lệ dự phòng RRTD đánh giá sự chủ động của ngân hàng trong việc phòng ngừa rủi ro tổn thất do những khoản tín dụng mang lại. Tỷ lệ này phải ở mức hợp lý. Nếu tỷ lệ này thấp quá, dự phòng của ngân hàng trích chưa đủ, rủi ro gia tăng. Nếu tỷ lệ này quá cao ngân hàng sẽ an toàn hơn nhưng nó sẽ ảnh hưởng tới khả mở rộng tín dụng và lợi nhuận của ngân hàng. Hiện tỷ lệ này nên ở mức 5%.

Nguyễn Hữu Hiếu

18

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Tỷ lệ mất vốn phản ánh mức tổn thất vốn tín dụng của ngân hàng trong kỳ. Tỷ lệ này càng thấp càng tốt. Hiện nay theo quy định, tỷ lệ này không được vượt quá 2%. 1.2.5.4 Khả năng bù đắp rủi ro Dự phòng RRTD được trích lập Hệ số bù đắp các khoản CV bị mất = ------------------------------------------Dư nợ bị thất thoát

Dự phòng RRTD được trích lập Hệ số khả năng bù đắp RRTD = -----------------------------------------Nợ quá hạn khó đòi Các hệ số này đánh giá khả năng của tổ chức tín dụng trong việc bù đắp các khoản tín dụng có rủi ro bằng cách trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng. Các hệ số này càng thấp càng tốt. 1.2.6 1.2.6.1 a. Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng. Dấu hiệu từ phía khách hàng. Dấu hiệu tài chính: Sự gia tăng không cân dối về tỷ lệ nợ thường xuyên. Tiền mặt giảm. - Giá trị tuyệt đối và tương đối của các khoản phải thu tăng một cách đột biến. Các chỉ số thanh khoản cho thấy dấu hiệu giảm sút. Những thay đổi nhanh chóng của tài sản cố định. Các khoản dự phòng tăng mạnh.
Nguyễn Hữu Hiếu

19

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

-

Gia tăng sự mất cân dối của các khoản nợ ngắn hạn. Các khoản nợ dài hạn tăng đáng kể và/ hoặc chiếm tỷ lệ lớn. Thời gian thu hồi nợ trung bình tăng lên. Xuất hiện các điều kiện gia hạn nợ vay ngân hàng hoặc khách hàng. Hàng tồn kho tăng lên đáng kể. - Doanh số bán hàng giảm hoặc doanh số bán hàng tăng nhưng lãi giảm hoặc không có lãi.

-

Những thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán. - Chi phí quản lý tăng cao không cân xứng so với mức tăng của doanh thu bán hàng.

-

Xuất hiện lỗ từ hoạt động kinh doanh. - Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm và/ hoặc có kết quả âm từ chu kỳ kinh doanh.

-

Không hạch toán đúng tài sản cố định. Số khách hàng nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các con nợ được kéo dài.

b. •

Các vòng quay hoạt động cho thấy sự suy yếu. Dấu hiệu phi tài chính:

Dấu hiệu liên quan đến ngân hàng: Giảm sút mạnh số dư tiền gửi.

Công nợ gia tăng. Mức độ vay thường xuyên. Yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến. Chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lãi suất cao.
Nguyễn Hữu Hiếu

20

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Chậm thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng.

Dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật và thương mại: - Khó khăn trong phát triển sản phẩm mới, hoặc không có sản phẩm thay thế. - Việc thay thế những máy móc lỗi thời diễn ra chậm chạp, kém hiệu quả trong việc duy trì và bảo hành máy móc thiết bị. - Thay đổi về phạm vi kinh doanh: mở rộng kinh doanh ở các ngành mà doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm. - Mất mát quyền phân phối hay cung cấp sản phẩm. - Giá trị của các đơn đặt hàng hoặc hợp đồng mua bán thay đổi đáng kể mà có thể dẫn đến mất cân bằng năng lực sản xuất hiện hành. • Khách hàng trả lại hàng hóa do chất lượng không đảm bảo. Sản phẩm có tính thời vụ cao. Có biểu hiện cắt giảm chi phí. Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý với khách hàng: Có sự thay đổi về cơ cấu nhân sự trong hệ thống quản trị. Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống diều hành. Ít kinh nghiệm, xuất hiện nhiều hành dộng nhất thời. Thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên. Tranh chấp trong quá trình quản lý. - Chi phí quản lý bất hợp lý: tập trung quá mức chi phí như thiết bị văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, Ban giám đốc có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân.

Nguyễn Hữu Hiếu

21

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

- Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người quản lý không thuộc gia đình, cho thành viên của gia đình chưa được đào tạo, huấn luyện đầy đủ đản đương vị trí then chốt. • Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính: 1.2.6.2 Sự gia tăng tỷ lệ không cân đối nợ.

Chuẩn bị số liệu tài chính không đủ, trì hoãn nộp báo cáo. Cố tình làm đẹp bảng cân đối tài sản bằng tài sản vô hình. Kế hoạch sử dụng vốn và trả nợ không rõ ràng. Dấu hiệu từ phía ngân hàng Quy trình cho vay không được tuân thủ đúng quy định của ngân hàng. - Cán bộ tín dụng có mối quan hệ đặc biệt bất bình thường với khách hàng.

-

Các cấp quản lý trong ngân hàng thiếu sự giám sát quản lý sát sao. - Bỏ qua vấn đề phát hành séc quá số dư, không coi đó là một tín hiệu của vấn đề tài chính chủ yếu từ người di vay.

-

Không kiểm tra tài sản kinh doanh của người đi vay. - Cho vay dựa vào giá trị sổ sách của doanh nghiệp, không kiểm toán và xác minh báo cáo tài chính của người đi vay. - Không thể thu thập hoặc bỏ qua những báo cáo của bộ phận thông tin tín dụng hoặc những nguồn tham khảo tín dụng khác. - Không thể đánh giá chính xác/ đánh giá quá cao/ không quản lý hợp lý tài sản thế chấp khi tình trạng suy giảm trở nên không thể cứu vãn. - Giải ngân trước khi hoàn thiện hồ sơ tín dụng.

-

Cho vay nhưng không có tài sản bảo đảm thích đáng.

Nguyễn Hữu Hiếu

22

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

- Không phân tích/ thiếu sự phân tích chính xác khả năng trả nợ của người vay. - Cán bộ tín dụng không kiểm tra tình trạng khoản vay thường xuyên. 1.2.6.3 Các dấu hiệu khác - Cơ chế chính sách thay đổi ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn. Đặc biệt là sự tác động của các chính sách thuế, điều kiện thành lập và hoạt động. - Giá cả thị trường thay đổi làm ảnh hưởng trực tiếp đến đầu vào, đầu ra của sản phẩm mà khoản vay đó đầu tư. - Tỷ giá, lãi suất thị trường thay đổi; thị hiếu của khách hàng thay đổi ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn. 1.2.7 Một số kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng trên thế giới a. Quản trị rủi ro thông qua hoàn thiện cơ cấu tổ chức

• Kinh nghiệm của Ngân hàng Rabobank (Ngân hàng lớn nhất Hà Lan): Thiết lập bộ phận quản lý rủi ro chuyên trách và phân loại quản lý rủi ro. Có thể phân loại quản lý rủi ro theo 02 nhóm: - Quản lý rủi ro về chính sách liên quan đến rủi ro lãi suất, thanh khoản, thị trường, tiền tệ và hoạt động đồng thời về rủi ro tín dụng ở mức độ dư nợ. - Quản lý rủi ro tín dụng về quản lý rủi ro ở cấp độ khách hàng cá nhân. • Kinh nghiệm của các Ngân hàng Thái Lan: - Thứ nhất: họ tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trình giải quyết các khoản cho vay: tiếp xúc khách hàng, phân tích tín dụng, thẩm định tín dụng, đánh giá rủi ro, quyết định cho vay, thủ tục giấy tờ hợp đồng, đánh giá chất lượng, xem xét lại các khoản vay.

Nguyễn Hữu Hiếu

23

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

- Thứ hai: tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng, không chỉ quan tâm đến tài sản bảo đảm của khách hàng mà còn quan tâm đến tư cách, hiệu quả kinh doanh, mục đích vay, khả năng trả nợ, thực trạng tài chính,…. - Thứ ba: tiến hành cho điểm khách hàng để quyết định cho vay. - Thứ tư: tuân thủ quyền phán quyết tín dụng. Theo đó, họ quy định việc quyết định tín dụng theo mức tăng dần: mức phán quyết của một người, một nhóm người hay hội đồng quản trị. - Thứ năm: giám sát khoản vay sau giải ngân bằng cách thu thập thông tin về khách hàng, thường xuyên giám sát và đánh giá xếp loại khách hàng b. Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp trích lập dự phòng. Trích lập dự phòng là biện pháp hữu hiệu để quản trị rủi ro do tổn thất tín dụng. Việc trích lập dự phòng phải căn cứ vào thực tế trả nợ vay thay vì căn cứ vào khả năng trả nợ trong quá khứ của khách hàng. - Hồng Kông: xếp loại rủi ro cho khách hàng và trích lập dự phòng rủi ro tương ứng. - Hàn Quốc: các nguyên tắc dự phòng phân lập theo loại tín dụng. - Columbia: dự phòng cho tín dụng tiêu dùng, thương mại, cầm cố thế chấp và tín dụng nhỏ theo thời hạn khoản vay từ 1 - 18 tháng. c. Quản trị rủi ro bằng cách đặt ra hạn mức cho vay. Biện pháp sử dụng là đặt ra các hạn mức cho vay dựa trên vốn tự có của ngân hàng đối với khách hàng riêng lẻ hay nhóm khách hàng vay: - Hồng Kông: giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của ngân hàng.

Nguyễn Hữu Hiếu

24

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

- Hàn Quốc: giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 20% vốn tự có của ngân hàng và giới hạn cho vay nhóm khách hàng ở mức 25% vốn tự có của ngân hàng. - Singapore, Thái Lan: giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của ngân hàng. - Columbia: giới hạn cho vay ở mức 40% giá trị ròng của khách hàng vay. d. Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp kiểm tra, giám sát Kiểm tra giám sát là các hoạt động thường xuyên được thực hiện trước khi cho vay, trong và sau khi cho vay. - Hồng Kông: sử dụng mô hình CAMEL ( Capital – Vốn, Assets – Tài sản, Manager – quản lý, Earnings – thu nhập, Liquidity – thanh khoản )để đánh giá. - Hàn Quốc: sử dụng mô hình CAMELS ( Capital, Assets, Manager, Earnings, Liquidity, Stress testing – thử nghiệm chịu đựng cực điểm). - Singapore: kiểm tra trong quá trình phát vay, báo cáo hàng tháng và hàng quý. - Thái Lan: kiểm tra trong quá trình phát vay và sau khi cho vay, giám sát hệ số đủ vốn dự báo, có hệ thống báo cáo định kỳ. - Columbia: kiểm tra trong quá trình phát vay, kiểm tra bởi Ủy ban giám sát ngân hàng. e. dụng. Tổ chức tốt hệ thống thông tin tín dụng sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác thẩm định khách hàng vay, giúp hạn chế phòng ngừa rủi ro ngay từ khâu thẩm định hồ sơ vay: Quản trị rủi ro bằng biện pháp quản trị hệ thống thông tin tín

Nguyễn Hữu Hiếu

25

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

- Singapore: Hiệp hội Ngân hàng tổ chức và quản lý thông tin tín dụng từ các thành viên, hỗ trợ thông tin về các khoản tín dụng lớn. - Thái Lan: Cục thông tin tín dụng được quản lý bởi công ty tư nhân, tất cả các Ngân hàng báo cáo thông tin về cục, sau đó Cục thông tin kết xuất báo cáo về khách hàng vay và lịch sử trả nợ vay hàng tháng, không cung cấp thông tin thẩm định tín dụng. - Columbia: Ngân hàng báo cáo các khoản vay cho cơ quan giám sát theo định kỳ hàng tháng. Sau đó thông tin về giá trị khoản vay, lãi suất vay, chất lượng khoản vay và tư cách khách hàng vay sẽ được tập hợp lại. - Hàn Quốc: xây dựng hệ thống thông tin tín dụng CIMS lấy nguồn từ hơn 10000 tổ chức có liên quan đến hoạt động tài chính – ngân hàng, các thông tin tài chính đều được thông qua những tiêu chuẩn nhất định và được kiểm chứng độc lập bởi Hội đồng thông tin tín dụng gồm thành viên là các Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty thẻ tín dụng cá nhân và các định chế tài chính khác.

Nguyễn Hữu Hiếu

26

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG BIDV QUANG TRUNG

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG BIDV QUANG TRUNG Chi nhánh BIDV Quang Trung được hình thành và bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 04/2005 trên cơ sở nâng cấp Phòng Giao dịch Quang Trung - Sở giao dịch 1, nhằm khai thác triệt để thế mạnh của một đơn vị BIDV trên địa bàn trú đóng của Sở giao dịch trước đây. Địa chỉ trụ sở chính tại 53 Quang Trung Hà Nội. Tài sản ban đầu khi mới thành lập là nguồn huy động vốn 1.300 tỷ và nguồn nhân lực 65 cán bộ được điều động từ Hội sở chính và Sở giao dịch. Xác định phương hướng phát triển theo mô hình của một ngân hàng hiện đại, là đơn vị cung cấp các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và phục vụ đối tượng khách hàng khu vực dân doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp đang trong lộ trình cổ phần hoá, Chi nhánh Quang Trung đã nỗ lực không ngừng trong việc tiếp cận và tìm kiếm khách hàng, tích cực thực hiện công tác phát triển nguồn nhân lực, mở rộng và phát triển mạng lưới, nghiên cứu các sản phẩm dịch vụ mới... nhằm nâng cao khả năng hoạt động của chi nhánh và đáp ứng tối đa các nhu cầu của các đối tượng khách hàng thuộc khối bán lẻ. Cuối năm 2008, chi nhánh Quang Trung đã đạt được số dư huy động vốn xấp xỉ 6000 tỷ, dư nợ cho vay gần 2300 tỷ, Thu dịch vụ ròng trong năm 2008 đạt 24 tỷ đồng. Số cán bộ tại chi nhánh đạt 178 với mô hình tổ chức ngày càng được hoàn thiện: gồm 14 phòng và 1 tổ nghiệp vụ. Đặc biệt, chi nhánh Quang Trung là
Nguyễn Hữu Hiếu

27

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

chi nhánh đầu tiên đã có mô hình tổ Marketing chuyên trách, Tổ chứng khoán và Ban phát triển mạng lưới bán chuyên trách phục vụ cho những nhiệm vụ đặc thù của đơn vị. Với những nỗ lực của tập thể cán bộ chi nhánh, trong các năm 2005 2008, chi nhánh Quang Trung liên tục đạt danh hiệu đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. 2.2 TÌNH HÌNH KINH DOANH TÍN DỤNG 2.2.1 Bối cảnh kinh doanh của Ngân hàng Năm 2008, kinh tế thế giới đã trải qua những diễn biến đầy bất ngờ. Các chỉ số kinh tế - tài chính, đặc biệt là giá các loại hàng hoá như dầu mỏ, gạo, sắt thép …, đã thay đổi theo các cách thức mà không ai có thể dự đoán được. Nếu như vào đầu năm, nhiều chuyên gia vẫn còn lạc quan về triển vọng của kinh tế toàn cầu, thì đến cuối năm, sau những đổ vỡ của hàng loạt các đại gia tài chính trên thị trường tài chính Mỹ, hầu hết đều tỏ ra bi quan. Cuộc khủng hoảng kinh tế từ Mỹ đã lan ra toàn cầu đẩy kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của các nước phát triển vào một cuộc đại suy thoái mà tầm ảnh hưởng và thiệt hại của nó là chưa thể đánh giá hết được. Năm 2009 được dự báo là khủng hoảng kinh tế toàn cầu tiếp tục lan rộng và khả năng hồi phục kinh tế sớm nhất trong năm 2010. Nền kinh tế thế giới năm 2008 có thể nói là một bức tranh ảm đạm ảnh hưởng tới hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động tiêu cực với những biến động mạnh của giá vàng, giá dầu thô, lãi suất, tỷ giá ngoại tệ diễn biến phức tạp, tăng giảm mạnh, lạm phát gia tăng… Những yếu tố đó tiếp tục tác động tới hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, hoạt động tín dụng- ngân hàng chắc chắn không tránh khỏi những ảnh hưởng. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càng trở nên gay gắt, giữa các ngân hàng trong nước, giữa ngân hàng trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, càng ngày chứng khoán càng trở nên lộ diện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân.
Nguyễn Hữu Hiếu

28

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Những người dân có tiền nhàn rỗi họ sẵn sàng đầu tư vào chứng khoán với hi vọng kiếm lời cao hơn là gửi tiền vào ngân hàng (tuy có rủi ro cao hơn). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp ngoài kênh huy động vốn là vay mượn các ngân hàng họ còn có cách là phát hành cổ phiếu ra thị trường cũng là một cách tốt để huy động vốn. Thủ đô Hà Nội đang trong quá trình mở rộng và đô thị hóa với cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh từ nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ. Hệ thống bán lẻ, các siêu thị, cửa hàng tự chọn hình thành và phát triển với quy mô ngày càng lớn. Mặt khác, sau thời gian hợp nhất, Hà Nội đang tập trung ổn định bộ máy, xây dựng các cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, quản lý thị trường… Trong thời gian tới, Hà Nội sẽ tập trung phát triển các khu công nghệ cao, công nghệ sinh học, phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực, điện nông thôn; xây dựng quy hoạch hệ thống thương mại,…. BIDV là một trong 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn của cả nước, giữ vai trò, chức năng quan trọng trong nền kinh tế, đầu mối thông tin phản hồi và tham mưu Ngân hàng Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Với chiến lược là đưa Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam trở thành một tập đoàn tài chính – Ngân hàng vững mạnh, có tầm khu vực, trong thời gian qua BIDV đã không ngừng hoàn thiện bộ máy, đa dạng hóa dịch vụ, nâng cao năng lực và sức cạnh tranh trên thị trường,… Tuy nhiên, sự phát triển mạng lưới các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước và sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài trong thời gian vừa qua là nguyên nhân chính dẫn tới khiến thị phần của BIDV giảm. Điều này đặt ra cho BIDV nói chung và các Chi nhánh BIDV nói riêng thách thức phải không ngừng nỗ lực hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động. Chi nhánh Ngân hàng BIDV Quang Trung mặc dù mới được thành lập năm 2005 nhưng đã không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động và phần nào đã đạt được thành tích đáng khích lệ: Kết quả hoạt động 04 năm đầu tiên đều có lãinăm sau cao hơn năm trước, nền khách hàng có tăng trưởng bắt đầu đi vào ổn
Nguyễn Hữu Hiếu

29

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

định. Với vị trí địa lý thuận lợi: điểm giao dịch 53 Quang Trung được khách hàng biết đến từ hơn 15 năm, là khu vực kinh tế xã hội phát triển mạnh, ổn định, và hứa hẹn nhiều cơ hội. Tuy nhiên với địa bàn của Chi nhánh có nhiều các Chi nhánh ngân hàng khác đang hoạt động, liên tục đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới hấp dẫn,…đây sẽ là thách thức không nhỏ của BIDV Quang Trung, đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao của ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ. 2.2.2 Tình hình kinh doanh tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng

BIDV Quang Trung. 2.2.2.1 Dư nợ theo thành phần kinh tế: Bảng 2.1: Dư nợ theo thành phần kinh tế (2005 – 2008) Đơn vị: tỷ đồng Năm Số Chỉ tiêu Tổng dư nợ - Cá nhân tiền 2005 Tỷ trọng (%) 320 18,7 100 5,84 800 49,2 750,8 2006 Só tiền Tỷ trọng (%) 100 6,15 1223 98,1 Số tiền 2007 Tỷ trọng (%) 100 8,02 2295 175 2120 Số tiền 2008 Tỷ trọng (%) 100 7,63 92,37

-Doanh nghiệp 301,3 94,16

93,85 1124,9 91,98

Nguyễn Hữu Hiếu

30

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Biểu dồ dư nợ theo thành phần kinh tế

2500 Số tiền (tỷ đồng) 2000 1500 1000 500 0 2005 2006 2007 2008 Tổng dư nợ Doanh nghiệp Cá nhân

Qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy dư nợ cho vay của Chi nhánh ngân hàng BIDV Quang Trung liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2005 là năm Chi nhánh mới bắt đầu đi vào hoạt động, tổng dư nợ là 320 tỷ đồng. Năm 2006, tổng dư nợ tăng lên 800 tỷ đồng, tăng tới 150%. Năm 2007, tổng dư nợ là 1223 tỷ đồng, tăng 53% ; năm 2008 là 2295 tỷ đồng, tăng 87,7% so với năm 2007. Sự tăng trưởng này có thể giải thích như sau: Thứ nhất, trong năm 2006-2007 kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng, nhu cầu vốn cho đầu tư tăng mạnh, do đó việc tổng dư nợ của Chi nhánh tăng lên là do môi trường kinh tế thuận lợi. Thứ hai, năm 2005 Chi nhánh ngân hàng BIDV Quang Trung mới đi vào hoạt động, nền khách hàng mới gây dựng, sang những năm tiếp theo Chi nhánh có những nỗ lực trong khâu quảng bá, khách hàng đến càng tăng, nền khách hàng được phát triển, dư nợ cho vay do đó tăng lên. Dư nợ cho vay đối với cá nhân và doanh nghiệp cũng có sự tăng trưởng tương ứng. Tuy nhiên tỷ trọng dư nợ tập trung vào các thành phần này có xu

Nguyễn Hữu Hiếu

31

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

hướng thay đổi khác nhau. Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với cá nhân có xu hướng tăng dần, tỷ trọng dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp có xu hướng giảm tương đối. Dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân tăng từ 18,7 tỷ (chiếm tỷ trọng 5,84% /Tổng dư nợ) lên mức 98,1 tỷ năm 2007 (chiếm tỷ trọng 8,02% / Tổng dư nợ) và có dấu hiệu chững lại năm 2008, đạt 175 tỷ đồng ( tỷ trọng giảm dần xuống mức 7,63% / Tổng dư nợ). Dư nợ cho vay với các doanh nghiệp tăng từ 301,3 tỷ, chiếm tỷ trọng 94,16% năm 2005 lên mức 750,8 tỷ năm 2006, chiếm tỷ trọng 93,85%. Năm 2007, tăng 374,1 tỷ đồng, tốc độ tăng là 49,83% so với năm 2006, chiếm tỷ trọng 91,98% tổng dư nợ. Sang năm 2008, dư nợ vẫn tiếp tục tăng 995,1 tỷ đồng lên mức 2120 tỷ, tốc độ tăng 88,46% so với năm 2007, chiếm tỷ trọng là 92,37%. Ta thấy dư nợ cho vay với các doanh nghiệp tăng trưởng mạnh tuy nhiên tỷ trọng so với Tổng dư nợ giảm tương đối, điều này chủ yếu là do Chi nhánh đang tăng cường khai thác lĩnh vực bán lẻ, mở rộng tín dụng tiêu dùng cho các cá nhân, tỷ trọng dư nợ cá nhân tăng, tất yếu tỷ trọng dư nợ khách hàng doanh nghiệp giảm tương đối. Trong năm 2008, Chi nhánh đã tích cực hướng tới cho vay các Tổng công ty lớn, ngoài quốc doanh, các dự án trọng điểm của nền kinh tế. 2.2.2.2 Dư nợ theo thời gian khoản vay: Bảng 2.2: Dư nợ theo thời hạn khoản vay (2005 - 2008) Đơn vị: Tỷ đồng 2005 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Tổng dư nợ Ngắn hạn 320 65 100 20,3 800 416 Số tiền 2006 Tỷ trọng (%) 100 52 1223 550,4 2007 Số tiền Tỷ trọng (%) 100 45 2295 1384 Số tiền 2008 Tỷ trọng (%) 100 60,3

Nguyễn Hữu Hiếu

32

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Trung-dài hạn

255

79,7

384

48

672,6

55

911

39,7

(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2005 – 2008) Biểu đồ dư nợ theo thời hạn khoản vay
2500 Số tiề n (tỷ đồng) 2000 1500 1000 500 0 2005 2006 2007 2008 Tổng dư nợ Ngắn hạn Trung, dài hạn

Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ ta thấy, dư nợ ngắn hạn tăng nhanh cả về tuyệt đối và tương đối. Năm 2005, dư nợ ngắn hạn là 65 tỷ đồng, chiếm 20,3% Tổng dư nợ. Đến năm 2006, là 416 tỷ đồng, chiếm tới 52% tổng dư nợ. Năm 2008 tăng vọt lên mức 1384 tỷ đồng, tăng 151,5% so với năm 2007, chiếm tới 60,3% tổng dư nợ. Tốc độ tăng trưởng bình quân của dư nợ ngắn hạn từ năm 2005 đến 2008 là hơn 2 lần. Dư nợ cho vay trung - dài hạn có sự tăng lên về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng trong tổng dư nợ lại có sự giảm xuống. Dư nợ cho vay trung – dài hạn tăng từ mức 255 tỷ đồng năm 2005 lên 911 tỷ đồng năm 2008 , đồng thời tỷ trọng trong tổng dư nợ giảm từ 79,7% năm 2005 xuống còn 39,7% năm 2008. Như vậy Chi nhánh BIDV Quang Trung đã thực thi chính sách tín dụng theo hướng an toàn hơn: chuyển từ cho vay trung – dài hạn, mà thu hồi vốn lâu, tiềm ẩn rủi ro cao hơn cho ngân hàng sang tăng cho vay ngắn hạn, thu hồi vốn nhanh.

Nguyễn Hữu Hiếu

33

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

2.2.2.3 Dư nợ phân theo loại tiền tệ: Bảng 2.3: Dư nợ theo loại tiền tệ (2005 - 2008) Đơn vị: Tỷ đồng 2005 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Tổng dư nợ Dư nợ VNĐ 320 89,6 100 28 800 360 Số tiền 2006 Tỷ trọng (%) 100 45 1223 840,2 2007 Số tiền Tỷ trọng (%) 100 68,7 2295 1824, 5 Dư nợ ngoại 230,4 tệ (quy đổi) 72 440 55 382,8 31,3 470,5 20,5 Số tiền 2008 Tỷ trọng (%) 100 79,5

Biểu đồ dư nợ theo loại tiền tệ
2500 2000 1500 1000 500 0 2005 2006 2007 2008 Tổng dư nợ Dư nợ VNĐ Dư nợ ngoại tệ

Nguyễn Hữu Hiếu

34

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Dư nợ VNĐ và dư nợ băng ngoại tệ của Chi nhánh ngân hàng BIDV Quang Trung không ngừng được tăng lên, thể hiện sự tăng trưởng của Chi nhánh trong các mảng tín dụng này. Tỷ trọng dư nợ VNĐ trong tổng dư nợ liên tục gia tăng từ 28% năm 2005 lên 79,5% năm 2008 ; nhưng đồng thời tỷ trọng dư nợ ngoại tệ lại giảm mạnh từ mức 72% năm 2005 xuống 20,5% năm 2008. Giải thích cho điều này là việc BIDV Quang Trung tích cực chuyển hướng vào khai thác thị trường nội địa đầy tiềm năng bên cạnh việc tài trợ xuất nhập khẩu. Trong 2 năm 2005 – 2006, nắm bắt được xu thế phát triển của các ngành xuất nhập khẩu của nước ta, chính sách tín dụng của Chi nhánh là ưu tiên cho vay ngắn hạn và tài trợ đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tỷ trọng dư nợ cho vay bằng ngoại tệ khi đó luôn ở mức cao: 72% năm 2005 và 55% năm 2006. Sang đến năm 2007, nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ nhanh, nhu cầu vốn đâu tư cũng tăng nhanh chóng, thị trường tín dụng nội địa trở thành miếng bánh hấp dẫn. Đồng thời cuối năm 2007, đầu 2008 kinh tế thế giới bộc lộ dấu hiệu của khủng hoảng và suy thoái, xuất nhập khẩu là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Chiến lược của các doanh nghiệp khi đó đều chú trọng vào khai thác thị trường nội địa. Tỷ trọng dư nợ cho vay bằng VNĐ tăng lên , tỷ trọng dư nợ ngoại tệ giảm đi tương đối. Tỷ trọng dư nợ bằng ngoại tệ năm 2008 giảm xuống còn 20,5% .

Nguyễn Hữu Hiếu

35

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

2.2.2.4 Dư nợ phân theo mức độ đảm bảo: Bảng 2.4: Dư nợ theo mức độ đảm bảo (2006 - 2008) Đơn vị: Tỷ đồng 2006 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Tổng dư nợ Dư nợ có TSBĐ Dư nợ không có TSBĐ 800 344 456 100 43 57 1223 758,3 464,7 2007 Số tiền Tỷ trọng (%) 100 62 38 2295 918 1377 Số tiền 2008 Tỷ trọng (%) 100 40 60

Biểu đồ dư nợ phân theo mức độ đảm bảo
2500 2000 Tổng dư nợ 1500 Dư nợ có TSBĐ 1000 500 0 2006 2007 2008 Dư nợ không có TSBĐ

Tài sản bảo đảm được coi là tiêu chí thứ hai đảm bảo cho khoản tín dụng của ngân hàng sau tiêu chí là hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, của dự án đầu tư. Việc có tài sản bảo đảm cho khoản vay sẽ làm tăng tính an toàn
Nguyễn Hữu Hiếu

36

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

của khoản vay lên, vì vậy ngân hàng thường đòi hỏi các tài sản bảo đảm với các khoản vay lớn, các khoản vay có rủi ro, các khách hàng mới,….Ngược lại việc không có tài sản bảo đảm sẽ làm tăng nguy cơ rủi ro của ngân hàng lên. Theo bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy, trong giai đoạn mới đi vào hoạt động, tỷ trọng dư nợ tín dụng có tài sản bảo đảm của Chi nhánh BIDV tăng lên, dư nợ không có tài sản bảo đảm có xu hướng giám xuống. Năm 2006, dư nợ có tài sản bảo đảm là 344 tỷ đồng, chiếm 43% Tổng dư nợ; dư nợ không có tài sản bảo đảm chiếm 67% tổng dư nợ. Sang năm 2007, mặc dù cả dư nợ có và không có tài sản bảo đảm tăng nhanh về giá trị tuyệt đối nhưng tỷ trọng dư nợ có tài sản bảo đảm tăng lên mức 62% còn tỷ trọng dư nợ không có tài sản bảo đảm giảm xuống 38%, cho thấy mức an toàn của các khoản vay của ngân hàng tăng lên. Tuy nhiên năm 2008, tỷ trọng dư nợ có tài sản bảo đảm lại giảm xuống còn 40% mặc dù giá trị tuyệt đối vẫn gia tăng lên mức 918 tỷ đồng. Điều này là do Chi nhánh đã xây dựng được nền khách hàng tin cậy có uy tín cao, điều mà các năm trước còn hạn chế, yêu cầu về tài sản bảo đảm do đó giảm xuống. Đồng thời là do Chi nhánh tích cực mở rộng trong hoạt động tín dụng bán lẻ, tín dụng tiêu dùng và tín dụng cho các cán bộ công nhân viên,…là những đối tượng có thể kiểm soát rui ro khoản vay dễ dàng hơn. 2.3 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG BIDV QUANG TRUNG 2.3.1 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu.

Nợ quá hạn, nợ xấu là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải. Trước hết ta xem xét tình hình nợ quá hạn (NQH) của Chi nhánh:

Nguyễn Hữu Hiếu

37

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

2.3.1.1

Tình hình nợ quá hạn Bảng 2.5: Nợ quá hạn theo nhóm (2006 – 2008) Đơn vị: Tỷ đồng 2006 Năm Số tiền Tỷ trọng (%) 800 280 35% 120 135,72 21,32 2,96 42,86 48,47 7,61 1,06 100 1223 183,45 15% 85,61 83,28 13,76 0,8 46,7 45,4 7,5 0,4 100 Số tiền 2007 Tỷ trọng (%) 2295 413,1 18% 332,77 64,33 15,2 0,8 80,56 15,57 3,68 0,19 100 Số tiền 2008 Tỷ trọng (%)

Chỉ tiêu Tổng dư nợ Tổng nợ quá hạn NQH/ Tổng dư nợ Nợ nhóm II Nợ nhóm III Nợ nhóm IV Nợ nhóm V

Biểu đồ nợ quá hạn theo nhóm
Năm 2006 15%

Năm 2007
Năm 2008

35%

18%

65%
Nợ đủ tiêu chuẩn

85%
Nợ quá hạn

82%

Nguyễn Hữu Hiếu

38

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp
Năm 2007 Năm 2006
1.06% 7.61% 42.86 % 0.40% 7.50%

Học viện Ngân hàng

Năm 2008
46.70% 0.19% 3.68% 15.57 %

45.40% 48.47 % 80.56 %
Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5

Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ ta thấy, mặc dù nợ quá hạn tăng dần về giá trị tuyệt đối nhưng tỷ trọng nợ quá hạn trong Tổng dư nợ lại có xu hướng giảm dần trong năm 2007 và tăng dần sang năm 2008. Năm 2006, nợ quá hạn là 280 tỷ đồng chiếm 35% Tổng dư nợ, thì đến năm 2008 nợ quá hạn tăng lên mức 413,1 tỷ, nhưng chỉ chiếm 18% Tổng dư nợ. Tuy nhiên ta thấy tỷ trọng nợ quá hạn năm 2008 tăng lên so với năm 2007, cho thấy có dấu hiệu xấu đi của tình trạng nợ quá hạn. Nợ quá hạn của Chi nhánh gia tăng đòi hỏi Chi nhánh cần có biện pháp giám sát, điều chỉnh nhằm hạn chế rủi ro. Nhìn vào cơ cấu nợ quá hạn phân theo nhóm ta thấy, nợ quá hạn của Chi nhánh BIDV Quang Trung chủ yếu tập trung ở nhóm 2- nhóm nợ cần chú ý, và nhóm 3- nhóm nợ dưới chuẩn. Nợ quá hạn thuộc nhóm nợ 2 tăng cả về tuyệt đối ( từ 120 tỷ năm 2006 lên 332,77 tỷ năm 2008) và về tỷ trọng so với Tổng nợ quá hạn tăng từ 42,86% lên 80,56%. Sang năm tài chính tiếp theo, khả năng chuyển thành nhóm nợ cao hơn của các khoản nợ nhóm 2 này có khả năng gia tăng, Chi nhánh cần có biện pháp kịp thời. Tỷ trọng của nợ nhóm 3 trong Tổng nợ quá hạn giảm dần từ 48,47% năm 2006 xuống 15,57% năm 2008. Nợ quá hạn nằm ở nhóm 4 và 5 là nhóm nợ có độ rủi ro rất cao nhìn chung cho thấy xu hướng giảm dần, đây là tín hiệu đáng mừng đối với Chi nhánh.

Nguyễn Hữu Hiếu

39

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Như phân tích ở trên ta thấy, có 2 điểm tiềm ẩn rủi ro lớn đối với Chi nhánh BIDV Quang Trung là Nợ quá hạn đang gia tăng trong Tổng dư nợ và Nợ nhóm 2 tăng nhanh, có khả năng chuyển thành nhóm nợ xấu. 2.3.1.2 Tình hình nợ xấu Ta biết rằng: Nợ xấu = Nợ nhóm 3 + Nhóm 4 + Nhóm 5 Bảng 2.6: Tỷ lệ nợ xấu (2006 – 2008) 2006 Năm Số tiền Chỉ tiêu Tổng dư nợ Nợ xấu 800 160 Tỷ trọng (%) 100 20 1223 97,84 Số tiền 2007 Tỷ trọng (%) 100 8 2295 80,33 Số tiền 2008 Tỷ trọng (%) 100 3,5

Nhìn chung nợ xấu của Chi nhánh đang được giảm dần. Những năm mới đi vào hoạt động Chi nhánh chỉ chú trọng đến mở rộng tín dụng, cho vay chạy theo số lượng, chất lượng tín dụng chưa được chú trọng nên năm 2006 – năm thứ 2 sau khi đi vào hoạt động, tỷ lệ nợ xấu ở mức rất cao (20%). Tỷ lệ này dần giảm trong các năm tiếp, năm 2007 là 8% , năm 2008 là 3,5%. Thành tích này là do Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác phân loại và thẩm định khách hàng, thực hiện các biện pháp để giảm dư nợ xấu, thắt chặt chất lượng của các khoản vay. 2.3.2 Tình hình trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng Việc trích lập dự phòng rủi ro có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nó giúp ngân hàng có được nguồn tài chính để xử lý rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Công việc trích lập dự phòng rủi ro đòi hỏi ngân hàng phải thực hiện nghiêm túc, đầy
Nguyễn Hữu Hiếu

40

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

đủ theo đúng quy định.Trong 3 năm gần đây, Chi nhánh BIDV Quang Trung đã thực hiện trích lập dự phòng rủi ro như sau: Bảng 2.7: Tình hình trích lập dự phòng rủi ro (2006 – 2008) Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Tổng dư nợ Dự phòng RRTD được trích lập Tỷ lệ trích dự phòng RRTD (%) 2006 800 21 2,63% 2007 1223 42 3,43% 2008 2295 52 2,27%

(Nguồn: Báo cáo hoạt động năm 2006 – 2008) Qua bảng số liệu trên cho thấy, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của chi nhánh tăng trong năm 2007 và giảm trong năm 2008. Năm 2006, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là 2,63% thì năm 2007 tăng lên 3,43% , và năm 2008 là 2,27%. Để phân tích kỹ hơn trạng thái trích lập dự phòng này ta cần kết hợp với Bảng phân loại dư nợ theo nhóm. Có thể thấy, trong năm 2006 Nợ quá hạn của Chi nhánh là rất cao, chiếm tới 35% Tổng dư nợ, các nhóm nợ quá từ 2 đến 5 đều lớn làm cho mức trích lập dự phòng tăng lên, tỷ lệ trích lập dự phòng do đó ở mức cao ( 2,63%). Trong năm 2007, mặc dù Nợ quá hạn từ nhóm 2 đến nhóm 5 đều giảm so với năm 2006, nhưng mức trích lập dự phòng RRTD lại tăng gấp đôi (từ 21 tỷ năm 2006 lên 42 tỷ), vậy nguyên nhân tại sao? Trong trường hợp này có thể do các khoản nợ không có tài sản bảo đảm của Chi nhánh xấu đi và nằm trong các nhóm nợ từ 2 – 5 khiến cho mức trích dự phòng phải tăng lên. Xu hướng ngược lại có thể thấy ở năm 2008, nợ quá hạn lên tới 413,1 tỷ, nợ nhóm 2 tăng cao 332,77 tỷ cao hơn nhiều so với năm 2007, nhưng tỷ lệ trích lập dự phòng chỉ chiếm 2,27% Tổng dư nợ. Nó cho thấy xu hướng các khoản nợ gặp rủi

Nguyễn Hữu Hiếu

41

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

ro, các khoản nợ quá hạn không có tài sản bảo đảm trong tổng dư nợ có phần giảm xuống. Bảng 2.8: Khả năng bù đắp rủi ro tín dụng (2006 – 2008) Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Tổng dư nợ Nợ quá hạn Dự phòng RRTD được trích lập Hệ số khả năng bù đắp RRTD 2006 800 280 21 7,5% 2007 1223 183,45 42 22,9% 2008 2295 413,1 52 12,6%

Qua số liệu trên cho thấy, hệ số khả năng bù đắp rủi ro tín dụng ngày càng tăng. Có thể thấy, ngân hàng thực sự quan tâm đến công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng nhằm hạn chế thiệt hại xảy ra đối với hoạt động kinh doanh của mình. Việc tỷ lệ dự phòng RRTD/ Nợ quá hạn tăng lên cũng cho thấy độ rủi ro của các khoản cho vay tăng lên, ngân hàng do đó phải tăng trích lập dự phòng. 2.4 CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TÍN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH CHO VAY CỦA CHI NHÁNH BIDV QUANG TRUNG 2.4.1 Mô hình ngân hàng trong quản trị tín dụng Mô hình ngân hàng quản trị tín dụng ở đây là muốn đề cập đến cách thức tổ chức, mối quan hệ về quyền hạn trách nhiệm của các phòng ban liên quan đến quy trình tín dụng để đảm bảo cho khoản tín dụng có được chất lượng tốt nhất. Theo quan sát của tôi trong thời gian thực tập tại Chi nhánh BIDV Quang Trung, một khoản tín dụng được đánh giá có khả năng xảy ra rủi ro (thường là các khoản tín dụng lớn) có sự tham gia kiểm soát, giám sát của các phòng ban sau: Phòng quan hệ khách hàng (QHKH), Phòng quản trị tín dụng (QTTD), phòng quản lý rủi ro (QLRR). Có thể mô hình hóa như sau:

Nguyễn Hữu Hiếu

42

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Phòng QHKH 1

Phòng QHKH 2

Phòng QHKH

Phòng QLRR

Phòng QHKH 3

Phòng QTTD

* Phòng QHKH: Được chia làm 3 phòng chức năng: Phòng QHKH 1, 2 và 3 trong đó phòng QHKH 1 là cho vay các khách hàng doanh nghiệp lớn, phòng QHKH 2 cho vay các doanh nghiệp nhỏ và cho vay tiêu dùng, phòng QHKH 3 chuyên trách mảng tín dụng liên quan đến chứng khoán. Phòng QHKH có nhiệm vụ tiếp thị khách hàng, hướng dẫn lập hồ sơ tín dụng, thẩm định tín dụng, lập báo cáo đề xuất tín dụng trình cho trưởng phòng QHKH hoặc Giám đốc phê duyệt ký kiểm soát. Với nhiệm vụ như vậy mà quan trọng nhất là chức năng thẩm định khách hàng vay vốn, phòng QHKH đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá những rủi ro liên quan đến khách hàng trước khi tiến hành cấp tín dụng. Sau khi báo cáo đề xuất tín dụng được trưởng phòng QHKH/ Giám đốc phê duyệt đồng ý đề xuất, phòng QHKH tiến hành chuyển toàn bộ hồ sơ tín dụng cho phòng QLRR để thẩm định rủi ro. * Phòng QLRR:

Nguyễn Hữu Hiếu

43

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Phòng QLRR thực hiện thẩm định rủi ro các đề xuất cấp tín dụng một cách độc lập. Theo chức năng này, phòng QLRR không chỉ xem xét lại tính đúng đắn xác thực của các thẩm định khách hàng của phòng QHKH mà còn đánh giá rủi ro thể nhân, rủi ro vi phạm quy trình chính sách tín dụng,…lập báo cáo để trình lãnh đạo phòng xem xét phê duyệt Khoản tín dụng được coi là phê duyệt cấp tín dụng khi có đầy đủ phê duyệt của Lãnh đạo phòng QHKH và Lãnh đạo phòng QLRR trên báo cáo thẩm định rủi ro. Quyết định cấp tín dụng và toàn bộ hồ sơ được chuyển lại cho phòng QHKH để đàm phán ký kết hợp đồng tín dụng với khách hàng. Phòng QHKH sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ cho phòng QTTD. * Phòng QTTD: Phòng QTTD tiếp nhận hồ sơ từ phòng QHKH gửi đến, tiến hành lưu trữ và nhập thông tin vào hệ thống để quản lý. Phòng QTTD sau đó chịu trách nhiệm theo dõi diễn biến thực trạng các khoản nợ vay của các khách hàng, qua đó cảnh báo các dấu hiệu rủi ro cho phòng QHKH hay thông báo yêu cầu phòng QHKH thực hiện kiểm tra, rà soát khoản cho vay. Đồng thời phòng QTTD thực hiện tính toán trích lập Dự phòng rủi ro theo kết quả phân loại nợ của Phòng QHKH, gửi kết quả sang phòng QLRR để rà soát. Phòng QLRR sau đó sẽ giám sát việc thực hiện phân loại nợ và trích lập Dự phòng rủi ro; phối hợp với phòng QHKH và phòng QTTD trong việc phát hiện các dấu hiệu rủi ro, đề xuất và giám sát thực hiện các biện pháp xử lý thích hợp. Như vậy có thể thấy quy trình tín dụng ở BIDV Quang Trung nói chung là tương đối chặt chẽ, các phòng ban có mối quan hệ mật thiết trong việc đảm bảo

Nguyễn Hữu Hiếu

44

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

chất lượng của khoản tín dụng và giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra với khoản cho vay. 2.4.2 Giảm thiểu rủi ro thông qua phân tích tín dụng khách hàng vay vốn Khi có đề xuất tín dụng của khách hàng, ngân hàng bao giờ cũng phải tiến hành một công việc là phân tích tín dụng, đánh giá khách hàng và khoản vay của khách hàng. Thông qua phân tích tín dụng đối với khách hàng và khoản vay sẽ góp phần hạn chế và lường trước được rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi tiến hành cấp tín dụng. Việc phân tích tín dụng của Chi nhánh BIDV Quang Trung là một quá trình gồm sự kết hợp của viêc phân tích theo lối truyền thống và việc đánh giá theo lối hiện đại – mô hình điểm số tín dụng, xếp hạng doanh nghiệp. Phân tích tín dụng theo lối truyền thống là một quy trình phức tạp trong đó bao gồm thẩm định tư cách pháp lý, uy tín tính cách và năng lực tài chính kinh doanh của khách hàng vay vốn, đánh giá hiệu quả của khoản vay để làm cơ sở đưa ra phán quyết tín dụng. Ở Chi nhánh BIDV Quang Trung, quá trình này được thực hiện bởi các cán bộ quan hệ khách hàng thuộc phòng Quan hệ khách hàng, đồng thời có sự tái thẩm định độc lập của phòng Quản lý rủi ro. Điều này làm tăng tính minh bạch, tính chính xác của việc thẩm định và góp phần đánh giá đúng hơn rủi ro của khách hàng hay dự án vay vốn. Phân tích tín dụng theo lối hiện đại – mô hình điểm số tín dụng, xếp hạng doanh nghiệp về thực chất là dựa trên số liệu quá khứ của khách hàng tiến hành cho điểm khách hàng theo các tiêu chí có sẵn. Khách hàng được cấp tín dụng hay xác định hạn mức tín dụng theo điểm số có được. Việc cấp tín dụng như vậy đã phần nào loại bỏ đi khách hàng có rủi ro cao hoặc hạn chế hạn mức tín dụng của họ.

Nguyễn Hữu Hiếu

45

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Sau đây là một số chỉ tiêu trong mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp tại Chi nhánh BIDV Quang Trung: STT Chỉ tiêu chấm điểm 1 Khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ Doanh nghiệp không trả được nợ 2 Doanh nghiệp trả được nợ Trình độ quản lý và môi trường nội bộ 2.1 Lý lịch tư pháp của người đứng đầu doanh nghiệp: - Từng bị truy tố trước pháp luật - Từng bị phạt, khiển trách trước pháp luật - Lý lịch tư pháp tốt, không vi phạm pháp luật 2.2 Kinh nghiệm chuyên môn của người trực tiếp quản lý doanh nghiệp: - Chưa từng trực tiếp quản lý. - Từ < 1 đến 2 năm kinh nghiệm - Từ 3 đến 5 năm kinh nghiệm - Từ 5 đến 10 năm kinh nghiệm - Trên 10 năm kinh nghiệm 2.3 Trình độ học vấn của người quản lý doanh nghiệp: - Dưới đại học - Đại học - Trên đại học 2.4 Năng lực điều hành của người trực tiếp quản lý doanh nghiệp theo đánh giá của cán bộ tín dụng: - Kém - Tốt nhưng hiệu quả chưa thực cao - Rất tốt 2.5 Quan hệ của Ban lãnh đạo với cơ quan hữu quan: - Không có quan hệ
Nguyễn Hữu Hiếu

Điểm số 0 40

0 20 100

0 20 40 80 100 20 80 100

0 60 100 0 46
Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

- Quan hệ chưa tốt - Bình thường - Rất tốt 2.6 Tính năng động nhạy bén của Ban lãnh đạo với sự thay đổi của thị trường theo đánh giá của cán bộ tín dụng: - Bị động trước sự thay đổi của thị trường. - Luôn theo dõi biến động của thị trường nhưng đôi khi phản ứng còn chậm và chưa thích hợp - Phản ứng nhanh nhạy trước sự thay đổi của thị trường 2.7 Môi trường kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp: - Không có bộ phận chuyên trách - Có bộ phận chuyên trách nhưng còn chồng chéo kém hiệu quả. - Môi trường kiểm soát hiệu quả. 2.8 Tầm nhìn chiến lược của doanh nghiệp trong 2-5 năm tới: - Chưa có kế hoạch - Có kế hoạch nhưng chưa cụ thể hoặc chưa sát với năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. 3 - Có kế hoạch phát triển cụ thể phù hợp. Quan hệ với ngân hàng - Chưa từng quan hệ. - Quan hệ không tốt, khó huy động vốn - Bình thường 4 - Rất tốt, rất dẽ vay vốn Các nhân tố bên ngoài 4.1 Triển vọng ngành - Đang suy thoái mạnh.

10 60 100

0 40 100 0 30 100

0 40 100 0 20 60 100

0

Nguyễn Hữu Hiếu

47

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

- Có dấu hiệu suy thoái. - Tăng trưởng nhưng nóng. - Ổn định. - Đang phát triển mạnh 4.2 Khả năng gia nhập thị trường của các doanh nghiệp theo đánh giá của cán bộ tín dụng: - Dễ dàng gia nhập. - Bình thường. - Khó gia nhập do đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao. 4.3 Khả năng sản phẩm của doanh nghiệp bị thay thế: - Dễ dàng bị thay thế. - Bình thường. - Có thể bị thay thế nhưng ở mức độ thấp. - Không có sản phẩm thay thế trong 1 năm tới 4.4 Tính ổn định của nguồn nguyên liệu đầu vào: - Có 1 nhà cung cấp đầu vào, không ổn định. - Có một số nhà cung cấp đầu vào nhưng vẫn không ổn định. - Có đầu vào ổn định cả về số lượng và giá cả. ….

20 30 60 80

20 60 100 10 30 60 100 20 40 80

2.5

ĐÁNH GIÁ CHUNG 2.5.1 Thành quả đạt được Tuy mới thành lập năm 2005 nhưng Chi nhánh BIDV Quang Trung đã không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của cả hệ thống Ngân hàng BIDV. Về mảng tín dụng, trong giai đoạn 2005-2008, các chỉ tiêu phản ánh quy mô tín

Nguyễn Hữu Hiếu

48

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

dụng không ngừng được gia tăng, song song với đó là chất lượng và độ an toàn của tín dụng không ngừng được nâng cao. Dư nợ cho vay của Chi nhánh không ngừng tăng trưởng vững chắc và ổn định. Nếu như năm 2005 mới đi vào hoạt động tổng dư nợ là 320 tỷ thì đến hết năm 2008 tổng dư nợ tăng lên mức 2295 tỷ, mức tăng trung bình năm giai đoạn 2005-2008 là trên 80%. Cơ cấu dư nợ cũng chuyển dịch theo hướng tích cực; tỷ trọng dư nợ ngắn hạn, dư nợ khách hàng cá nhân, dư nợ bán lẻ liên tục tăng lên. Về cơ cấu khách hàng, từ năm 2005 đến hết 2008, đã được chuyển dịch phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay, tăng mạnh cho vay thương mại, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm cho vay Repo cầm cố chứng khoán. Chi nhánh tăng cường tiếp thị khách hàng mới, chú trọng đến phát triển khách hàng doanh nghiệp, trong đó tích cực hướng tới các Tổng công ty lớn, ngoài quốc doanh, các dự án trọng điểm của nền kinh tế. Số lượng khách hàng doanh nghiệp tăng từ 9 khách hàng doanh nghiệp khi thành lập thì đến hết năm 2008 đã mở rộng quan hệ với hơn 200 khách hàng doanh nghiệp. Trong số đó, chủ yếu là các công ty, Tổng công ty lớn, có tiềm lực tài chính mạnh; các dự án trọng điểm…do đó khoản vay nhìn chung chất lượng tốt. Thực hiện việc mở rộng cho vay, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng. Tích cực chủ động, coi trọng công tác thẩm định, kiểm tra kiểm soát các khoản tín dụng. Đặc biệt Chi nhánh đã nhanh chóng áp dụng và triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo chính sách của hệ thống Ngân hàng BIDV đến toàn bộ khách hàng doanh nghiệp, cùng các chi nhánh khác hình thành dữ liệu khách hàng đã dạng nhằm phục vụ công tác cấp và kiểm soát chặt chẽ tín dụng. Thực hiện chỉ đạo của Hội sở chính trong hoạt động tín dụng, Chi nhánh BIDV Quang Trung đã không ngừng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công việc kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu như: đánh giá khách hàng và phân loại nợ chính xác theo chỉ đạo của Hội sở chính và theo thông lệ quốc tế; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng tới từng khoản vay, từng khách hàng; hạn chế
Nguyễn Hữu Hiếu

49

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

cho vay đối với khách hàng có nợ xấu; tích cực đôn đốc thu hồi nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, cơ cấu lại các khoản nợ,….Đây là những cố gắng lớn của Chi nhánh. Tỷ lệ nợ xấu thời điểm 31/12/2008 theo báo cáo của Chi nhánh là 3%. So sánh với tỷ lệ nợ xấu của năm 2008 với của năm 2006 (20%) và của năm 2007 (8%) có thể thấy nỗ lực cũng như hiệu quả của Chi nhánh trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu. Trong thời gian qua, Chi nhánh cũng luôn tăng cường hiệu quả của công tác giám sát các khoản vay về tiến độ giải ngân, về sử dụng vốn sau giải ngân, về thu hồi nợ gốc và lãi. Thực hiện chỉ đạo của Hội sở chính và Ban lãnh đạo, chi nhánh cũng luôn nghiêm túc trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định. 2.5.2 Một số tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại tại chi nhánh Ngân hàng BIDV Quang Trung. 2.5.2.1 Một số tồn tại Bên cạnh những thành quả đạt được trong công tác tín dụng, Chi nhánh BIDV Quang Trung còn có một số những tồn tại nhất định cần khắc phục để đảm bảo an toàn cho các khoản cho vay, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. Cụ thể như sau: Thứ nhất: Nợ quá hạn tăng nhanh về mặt tuyệt đối và tỷ lệ nợ quá hạn trong Tổng dư nợ còn cao và có xu hướng tăng trong 2 năm 2007 – 2008. Điều này cho thấy các khoản tín dụng gặp vấn đề của Chi nhánh đang gia tăng. Nợ quá hạn thuộc nhóm 2 gia tăng và tiềm ẩn nguy cơ chuyển thành các nhóm nợ xấu, có thể gây tổn thất lớn cho ngân hàng. Thứ hai: Dư nợ không có tài sản bảo đảm vẫn chiếm tỷ trọng cao và có dấu hiệu gia tăng, khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro lớn hơn.

Nguyễn Hữu Hiếu

50

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Thứ ba: Thông tin phục vụ công tác tín dụng còn thiếu, chưa cập nhật, các kênh cung cấp thông tin còn chưa có sự chuẩn hóa. Thứ tư: Xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ còn gặp nhiều khó khăn, việc phát mại tài sản bảo đảm còn phức tạp, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan hữu quan và ngân hàng, gây nên khó khăn và tổn thất cho ngân hàng. Thứ năm: quy trình tín dụng nói chung được chuẩn hóa theo hướng phòng ngừa rủi ro tuy nhiên còn chồng chéo và thiếu hiệu quả. 2.5.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại a. Nguyên nhân khách quan * Môi trường kinh tế Vào nửa cuối của năm 2007 và năm 2008, nền kinh tế thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng, kéo theo đó là sự sụp đổ của một loạt các đại gia tài chính trên thế giới, các ngành sản xuất cũng không kém phần điêu đứng. Cuộc khủng hoảng này phần nào cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế của Việt Nam nhất là về mảng xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, tình hình lạm phát tăng cao, giá cả hầu hết các mặt hàng đều tăng mạnh; giá vật tư, hàng hóa phục vụ sản xuất, giá xăng dầu, phân bón,…là đầu vào của các ngành sản xuất đều tăng, gây khó khăn cho sản xuât, tiêu thụ. Hiệu quả kinh doanh giảm, khách hàng không đủ tiền trả nợ ngân hàng. Các thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán biến động bất thường. Nếu như đầu năm 2007, các thị trường này cho thấy sự bùng nổ mạnh mẽ do bong bóng nhà đất và đầu cơ chứng khoán, thì đến cuối năm 2007 và sang năm 2008 chứng kiến cảnh lao dốc không phanh của các thị trường chứng khoán, thị trường nhà đất đóng băng. Các khoản cho vay Repo cầm cố chứng khoán, cho vay mà tài sản bảo đảm là các bất động sản của các ngân hàng nói chung và Chi nhánh BIDV nói riêng đều bị ảnh hưởng, tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng tăng lên. * Môi trường pháp lý:

Nguyễn Hữu Hiếu

51

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Môi trường pháp lý còn chưa đồng bộ, cơ chế chính sách thay đổi là những nguyên nhân tác động lớn tới tình hình kinh doanh tín dụng tại chi nhánh. Năm 2006, 2007 Nhà nước thực hiện đẩy nhanh và mạnh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, song song với đó là các ưu đãi về vay vốn. Nhà nước cũng khuyến khích việc cho vay các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Tuy nhiên các thành phần này lại chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến động xấu của nền kinh tế thế giới, làm cho nợ quá hạn của Chi nhánh gia tăng. Hệ thống luật và cơ chế, chính sách liên quan tới quá trình xử lý tài sản bảo đảm có nhiều điểm chưa cụ thể, đồng bộ đã làm cho quá trình xử lý tài sản để thu hồi nợ diễn ra chậm, thậm chí có nhiều tài sản không xử lý được gây khó khăn cho Chi nhánh ngân hàng. Có thể lây dẫn chứng là một số văn bản về cưỡng chế thu hồi nợ, đều quy định: Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm nợ vay. Trên thực tế, các ngân hàng thương mại không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý, hoặc việc chuyển tài sản bảo đảm nợ vay để tòa án xử lý thông qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng ngân hàng không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng. * Hệ thống thông tin còn bất cập Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của NHNN dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin còn đơn điệu và khó khăn trong việc tiếp cận. b. Nguyên nhân chủ quan * Về phía ngân hàng
Nguyễn Hữu Hiếu

52

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

• Quy trình tín dụng còn chồng chéo: Điều này có thể thấy rõ thông qua việc so sánh quy trình như sau: Các ngân hàng khác • Bộ phận quan hệ khách hàng tập trung vào mảng Front Office: + Tiếp thị, tiếp nhận hồ sơ. + Lập tờ Trình thẩm định theo hạn mức hoặc vượt hạn mức. + Quản lý hồ sơ tín dụng trong thời gian vay vốn các nghiệp vụ phát sinh: giải ngân, vay bổ sung, kiểm tra sử dụng vốn, gia hạn nợ ... + Thông báo cho vay từ chối cho vay. + Lập tờ trình giải ngân, hoặc thu hồi nợ. + Các phát sinh khác liên quan đến quá trình thẩm định hoặc thụ lý hồ sơ + Có thể tiếp nhận hồ sơ đi công chứng đăng ký đảm bảo nếu chưa có bộ phận hỗ trợ pháp lý chứng từ. • Bộ phận quản trị tín dụng thì tập trung vào mảng Back Office: + Lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo đăng ký BIDV và Chi nhánh Quang Trung • BIDV mô hình cũ là Cán bộ tín dụng lo từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến khi giải ngân và tất toán món vay. Bây giờ theo mô hình TA2 là Cán bộ quan hệ khách hàng tiếp nhận hồ sơ, làm hồ sơ (nếu đủ điều kiện), sau khi hoàn tất về giấy tờ, gửi phòng Quản trị tín dụng nhập máy tính, sau đó chuyển lại hồ sơ tài sản thế chấp cho bộ phận QHKH nhập kho quỹ. Đối với những món vay vượt quyền của phòng QHKH phải trình phòng Quản trị rủi ro. Mô hình này phát sinh những vấn đề sau: - Phát sinh nhiều lọai giấy tờ con, qua nhiều khâu nên khách hàng phải đợi thời gian lâu hơn. - Việc tiếp nhận tài sản đảm bảo được chuyền qua chuyền lại từ Khách hàng-QHKH-QTTD-QHKHquỹ  rất phiền không đáng  rủi ro - Phòng QTTD không phát huy hết
Nguyễn Hữu Hiếu

53

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

+ Lập phiếu đề nghị giải ngân + Theo dõi nhắc nợ trong hạn hỗ trợ QHKH + Quản lý hồ sơ tài sản thế chấp/cầm cố từ bộ phận pháp lý chứng từ mang sang hoặc QHKH + Thực hiện các thao tác về tính

công việc về hành chính tín dụng như vậy là không hiệu quả

lãi, thu nợ... • Cơ chế quản lý chưa hoàn thiện: Trong quá trình thẩm định khách hàng, ngân hàng thường thiếu các nguồn cung cấp thông tin và các chuẩn mực so sánh để có thể có quyết định đúng. Công tác kiểm tra, giám sát khách hàng mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng vốn vay của khách hàng. Thực chất của khâu này là cán bộ ngân hàng yêu cầu khách hàng đảm bảo các điều kiện vay vốn được duy trì trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng. • Cán bộ ngân hàng: Cho vay phần nào vẫn dựa trên quan hệ quen biết, dựa một phần lớn trên mối quan hệ được thiết lập từ trước. Hơn nữa việc quá coi trọng bảo đảm tiền vay làm cho cán bộ tín dụng xem nó như sự phòng hộ vững chắc nên ít chú ý đến khả năng sinh lời của phương án kinh doanh. Cán bộ ngân hàng đôi khi còn thiếu hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, sự hạn chế này làm cho cán bộ ngân hàng không đánh giá kế hoạch và chu kỳ kinh doanh của khách hàng một cách thấu đáo nên không định đúng kỳ hạn trả nợ phù hợp với thời điểm thu tiền của khách hàng. * Về phía khách hàng:
Nguyễn Hữu Hiếu

54

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Đối với khách hàng là các doanh nghiệp: Đối với Chi nhánh BIDV Quang Trung, khách hàng doanh nghiệp luôn là mảng thị trường trọng tâm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ. Các nguyên nhân gây ra rủi ro cho Chi nhánh xuất phát từ các doanh nghiệp có thể kể đến như sau: Doanh nghiệp quản lý không hiệu quả: + Kế hoach tài chính không phù hợp, không có thông tin dự báo đồng tiền hoặc những thay đổi của ngân sách nên đầu tư quá mức vào tài sản cố định, mở rộng hoạt động kinh doanh nhưng không có kế hoạch. + Thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh gây ra những khó khăn trong quản lý tài chính và sản xuất. + Không có sự thống nhất giữa các cổ đông, Hội đồng Quản trị, Ban điều hành,… + Không nắm bắt được thông tin về những thay đổi của ngành nghề kinh doanh. + Phân bổ nguồn lực không hợp lý. + Cơ cấu vốn không hợp lý, mức vốn tự có quá nhỏ có thể dẫn tới những nguy cơ bất ổn tiềm tàng của doanh nghiệp. + Khả năng tự tài trợ và nhận tài trợ không hợp lý. + Chi phí hoạt động quá lớn, doanh thu giảm sút do cạnh tranh. - Doanh nghiệp kinh doanh quá mức: không ít doanh nghiệp kinh doanh quá mức so với khả năng của họ dẫn đến thiếu hụt vốn kinh doanh và không thể trả nợ đúng hạn ngân hàng. - Nhân viên trong doanh nghiệp yếu kém là cho kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp không thực hiện thành công.

Nguyễn Hữu Hiếu

55

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

-

Đạo đức của cán bộ quản lý doanh nghiệp: + Doanh nghiệp cố tình cung cấp thông tin sai sự thật cho ngân hàng, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ báo cáo tài chính không được kiểm toán và các thông tin của họ cung cấp là không đáng tin cậy, trong khi cán bộ tín dụng không có đủ nguồn thông tin để kiểm chứng nguồn thông tin từ phía doanh nghiệp. + Doanh nghiệp cố tình trì hoãn việc hoàn trả tiền vay cho ngân hàng. • Nguyên nhân từ phía khách hàng cá nhân: Mặc dù quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng là cá nhân đơn giản hơn nhiều so với các doanh nghiệp, song thực tế số lượng khách hàng cá nhân lại rất lớn, phân tán và giá trị khoản vay nhỏ nên hoạt động sản xuất kinh doanh của họ ảnh hưởng khá lớn đối với vấn đề nợ quá hạn của Chi nhánh. Nguyên nhân từ phía khách hàng tại BIDV Quang Trung gồm những nguyên nhân sau:

-

Hoạt động kinh doanh không thuận lợi, khả năng quản lý yếu kém. - Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản bị mất hoặc suy giảm do mất việc, chuyển sang công việc kém hơn hoặc không còn khả năng lao động. - Cá nhân gặp những chuyện bất thường trong cuộc sống vì vậy họ phải sử dụng một số tiền lớn, do đó ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả cho ngân hàng. - Đạo đức cá nhân không tốt: cố tình lừa ngân hàng, sử dụng tiền vay bừa bãi,….

CHƯƠNG III

Nguyễn Hữu Hiếu

56

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG BIDV QUANG TRUNG

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG BIDV QUANG TRUNG TRONG THỜI GIAN TỚI Thực hiện chủ trương và định hướng phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, dựa trên tiềm năng, thế mạnh và những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2006 – 2008 về mảng tín dụng, Chi nhánh BIDV Quang Trung đặt ra mục tiêu hoạt động tín dụng là tăng trưởng bền vững, lấy an toàn, chất lượng và hiệu quả làm mục tiêu hoạt động tín dụng tại Chi nhánh trong giai đoạn 2009 – 2010. Cụ thể định hướng hoạt động tín dụng của Chi nhánh như sau: - Tăng cường hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình tín dụng theo mô hình TA2 nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng. - Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ, kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng, hạ thấp tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu, bám sát đôn đốc thu hồi nợ quá hạn, nợ khó đòi và lãi treo. Hướng tới cho vay theo chất lượng hơn là theo số lượng. - Nghiên cứu thị trường theo các ngành kinh doanh để mở rộng lĩnh vực, đối tượng khách hàng tiềm năng, mở rộng thị trường trong các giai đoạn tiếp theo. Tăng cường củng cố và phát triển nền khách hàng, đặc biệt là các khách hàng doanh nghiệp lớn, các Tổng công ty, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, …đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng và mở rộng tín dụng với khách hàng cá nhân nhằm khai thác tiềm năng khách hàng trong khu vực. - Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng thích hợp, hướng tới tăng dư nợ ngắn hạn, giảm dư nợ trung – dài hạn, chú trọng đến tài trợ các dự án,

Nguyễn Hữu Hiếu

57

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

doanh nghiệp thực sự hiệu quả và các khách hàng chiến lược của Chi nhánh và toàn ngân hàng BIDV. - Sử dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm khác nhau để nâng cao tỷ trọng dư nợ có tài sản bảo đảm trong tổng dư nợ, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng. Trong năm 2009, Chi nhánh đã đặt ra một số chỉ tiêu tín dụng cụ thể như sau: TH Chỉ tiêu Dư nợ tín dụng bình quân Dư nợ tín dụng cuối kỳ Trích lập dự phòng rủi ro trong năm 31/12/2008 2300 2295 10 Kế hoạch 2009 4800 6500 8 Tăng trưởng Tuyệt đối Tương đối 2500 4205 -2 108,7% 183,2% -20%

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG BIDV QUANG TRUNG 3.2.1 Phân loại và đánh giá khách hàng, khoản vay Để hạn chế rủi ro tín dụng, việc đánh giá phân loại khách hàng là hết sức cần thiết, trên cơ sở đánh giá, phân loại khách hàng, ngân hàng sẽ có chính sách tín dụng cụ thể áp dụng đối với từng loại khách hàng. Do hoạt động kinh doanh của khách hàng luôn biến động, vì vậy việc thu thập thông tin, đánh giá khách hàng phải thường xuyên để có chính sách linh hoạt, phù hợp với từng thời kỳ cụ thể. Bên cạnh việc đánh giá khách hàng, cán bộ tín dụng cũng thường xuyên phải đánh giá từng khoản vay, khả năng thu hồi của khoản vay đó, trên cơ sở đó

Nguyễn Hữu Hiếu

58

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

nhận định đúng mức độ rủi ro và có biện pháp thích hợp đảm bảo thu hồi vốn, an toàn trong hoạt động tín dụng. 3.2.2 Khai thác có hiệu quả thông tin trong hoạt động tín dụng *Thu thập thông tin về khách hàng: Hiện nay việc khai thác thông tin về khách hàng thường qua các báo cáo của khách hàng, chẳng hạn thông tin về tài chính thường dựa trên các báo cáo tài chính trong các năm gần đây của khách hàng. Các báo cáo do khách hàng lập thường không qua kiểm toán, không có các cơ quan chức năng xác nhận tính trung thực của báo cáo. Do vậy đối với cán bộ ngân hàng, bên cạnh việc thu thập thông tin từ khách hàng cần thu thập thêm thông tin từ các nguồn khác như từ các đối tác của khách hàng, từ những ngân hàng mà khách hàng có quan hệ, từ các cơ quan quản lý khách hàng, từ Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC), từ Hệ thống thông tin tín dụng của NHĐT & PT Việt Nam, từ sự phản ánh của cán bộ, công nhân viên,…. *Thu thập thông tin về thị trường: Khi khách hàng đặt quan hệ tín dụng, bên cạnh việc khai thác thông tin về khách hàng, cán bộ tín dụng còn phải khai thác thông tin mang tính chất thị trường về sản phẩm, khách hàng kinh doanh như dự đoán tình hình cung cầu, giá cả sản phẩm, tài sản đảm bảo,…. * Phân tích xử lý thông tin: Sau khi thu thập cá nguồn thông tin, cán bộ tín dụng phải sàng lọc nguồn thông tin đã thu thập để phân tích, đánh giá khách hàng, khả năng tài chính của khách hàng, khả năng trả nợ của vốn vay. Trên cơ sở đó để ra quyết định cho vay hay từ chối cho vay, điều kiện cho vay nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra. 3.2.3 Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cấp tín dụng.

Nguyễn Hữu Hiếu

59

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Việc xây dựng quy trình tín dụng chặt chẽ và hợp lý, chấp hành thực hiện đúng các khâu trong quy trình tín dụng cũng như sự phối hợp nhịp nhàng giữa các giai đoạn sẽ góp phần hạn chế rủi ro tín dụng. - Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ vay vốn: phải đảm bảo tính độc lập trong tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ. Tại giai đoạn này, ngân hàng đã xác định được mục đích vay vốn của khách hàng có đúng đắn, hợp lý hay không? Nếu mục đích vay của khách hàng là chính đáng, ngân hàng sẽ tiếp tục tìm hiểu về khách hàng. - Thẩm định tín dụng: thẩm định dự án, phương án kinh doanh chính là việc đưa ra các nhận định về khả năng trả nợ của dự án, phương án đó. Để chất lượng thẩm định đạt chất lượng cần bố trí những cán bộ có trình độ, kinh nghiệm trong nghiệp vụ tín dụng, thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận và khóa học về thẩm định dự án để cập nhật nhanh chóng thông tin, cách thức thẩm định. Áp dụng công nghệ phần mềm về thẩm định dự án, trên cơ sở đó để đưa ra các kết quả chính xác và nhanh chóng. Thẩm định dự án có nhiều lĩnh vực khác nhau, cán bộ làm công tác thẩm định cần tham khảo và tìm hiểu các thông tin, dự án cùng lĩnh vực để đưa ra các nhận định chính xác. Trong quá trình thẩm định dự án cần thẩm định uy tín, khả năng tài chính của khách hàng. Trong thực tế còn nhiều khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, trong khi công tác thẩm định này chủ yếu dựa trên báo cáo tài chính của khách hàng. Thẩm định tài chính cần được chú trọng để đảm bảo chỉ xét duyệt cho vay đối với các dự án khả thi và khách hàng có đủ nguồn vốn tự có tham gia như cam kết….qua đó sẽ hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng. Khi quyết định thời hạn cho vay và định kỳ hạn nợ, ngân hàng phải yêu cầu cán bộ tín dụng sử dụng dòng lưu chuyển tiền tệ và gắn với chu kỳ sản xuất kinh doanh để làm cơ sở, tránh hiện tượng phán xét dựa vào kinh nghiệm truyền thống.

Nguyễn Hữu Hiếu

60

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Để đánh giá tính hiệu quả của dự án, trong quá trình thẩm định cần đánh giá dự án trên phương án động, các tinh huống có thể xảy ra, trên cơ sở đó để so sánh và đánh giá độ nhậy của dự án đó để xem xét quyết định cho vay. Thẩm định dự án đồng thời cũng là tư vấn cho khách hàng trong việc vay vốn làm sao cho đồng vốn phát huy hiệu quả cao nhất. Đối với những khách hàng là doanh nghiệp vay lần đầu hay khách hàng cá nhân vay lớn đều phải thông qua hội đồng tín dụng, qua đó sàng lọc lựa chọn khách hàng có khả năng tài chính, kinh doanh hiệu quả để hạn chế rủi ro. - Kiểm tra, giám sát: thông qua kiểm tra, giám sát, ngân hàng nắm được thực trạng khoản vay nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro, kịp thời có biện pháp can thiệp. Quá trình này gồm kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay: Kiểm tra trước khi cho vay: kiểm tra các điều kiện vay vốn của khách hàng như: hồ sơ pháp lý, tình hình tài chính, nhu cầu vay,…. Kiểm tra trong khi cho vay: kiểm tra mục đích, đối tượng vay vốn, kiểm tra mức vay, thời hạn xin vay của dự án,…nhằm đảm bảo cho vay đúng đối tượng, đúng nhu cầu vay của khách hàng. Việc kiểm tra này thông thường dựa trên các hóa đơn tài chính, hợp đồng kinh tế,…. Kiểm tra sau khi cho vay: sau khi giai ngân, cán bộ tín dụng cần kiểm tra xem khách hàng có sử dụng tiền vay đúng mục đích đề nghị vay hay không, thường kiểm tra thực tế tài sản sau khi vay để tránh việc khách hàng ký hợp đồng và hóa đơn khống để chuyển tiền và tài khoản của người thụ hưởng rồi rút tiền mặt, không có tài sản thực tế. Ngoài ra trong quá trình cho vay phải thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, việc kiểm tra nên thực hiện cả định kỳ hoặc đột xuất, tránh sự bố trí khi có kiểm tra của khách hàng vay vốn. 3.2.4 Mở rộng cho vay có tài sản bảo đảm

Nguyễn Hữu Hiếu

61

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Một trong những biện pháp để đảm bảo an toàn và hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra là tăng cường cho vay có bảo đảm, đây chính là nguồn thứ cấp thu hồi nợ sau xử lý. Tuy nhiên việc xác định giá trị tài sản bảo đảm cần khách quan, tài sản cần có khả năng chuyển nhượng, đủ điều kiện pháp lý. Cần thường xuyên theo dõi tài sản bảo đảm, nắm bắt thông tin về tài sản bảo đảm, nếu có biến động lớn cần xem xét định giá lại tài sản. Thường xuyên thu thập thông tin về tài sản cùng loại qua thị trường và trung tâm đấu giá để có cơ sở định giá tài sản bảo đảm. Định hướng của NHĐT & PT Việt Nam và Chi nhánh Quang Trung nói riêng là tăng cường cho vay có bảo đảm bằng tài sản. Để tăng tài sản bảo đảm và hướng tới mục tiêu tăng tỷ trọng cho vay có bảo đảm, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang Trung cần thực hiện các biện pháp sau: - Yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản bảo đảm, ngoài tài sản của khách hàng có thể dùng tài sản cá nhân (Chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị,…) đứng ra bảo lãnh để vay vốn, áp dụng các biện pháp cầm cố quyền đòi nợ, bảo lãnh của Tổng công ty. - Giảm dần dư nợ nếu khách hàng không đáp ứng đủ điều kiện tài sản bảo đảm theo quy định của ngân hàng. - Đối với việc nhận tài sản bảo đảm, ngân hàng cần thường xuyên theo dõi, xem xét tính hợp lệ, hợp pháp và tính thị trường của tài sản bảo đảm. 3.2.5 Nâng cao vai trò kiểm tra, kiểm soát nội bộ Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng là một công cụ vô cùng quan trọng, thông qua hoạt động kiểm soát nội bộ có thể phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng. Bên cạnh đó, hoạt động kiểm soát cũng nhằm phát hiện, ngăn chặn những rủi ro đạo đức do cán bộ tín dụng gây ra.

Nguyễn Hữu Hiếu

62

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang Trung cần thực hiện các biện pháp sau: - Tăng cường những cán bộ có trình độ, đã qua nghiệp vụ tín dụng để bổ sung cho các phòng thực hiện kiểm soát như: Phòng quản trị tín dụng và Phòng quản lý rủi ro. - Trong quá trình kiểm tra hoạt động tín dụng có thể tăng cường cán bộ làm trực tiếp từ bộ phận tín dụng hoặc thẩm định và quản lý tín dụng cùng phối hợp kiểm tra. - Thường xuyên đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ, luật pháp cho cán bộ các phòng kiểm soát. - Cần quy định trách nhiệm đối với cán bộ kiểm soát, có chế dộ khuyến khích thưởng phạt để nâng cao tinh thần trách nhiệm trong hoạt động kiểm soát. - Không ngừng hoàn thiện và dổi mới phương pháp kiểm tra, áp dụng linh hoạt các biện pháp kiểm tra tùy thuộc vào từng thời điểm, từng đối tượng và mục đích của kiểm tra. 3.2.6 Các biện pháp phân tán rủi ro tín dụng Một trong những nguyên tắc khi tham gia bất cứ hoạt động tài chính, kinh doanh nào là “phải phân tán rủi ro”. Kinh doanh tín dụng cũng vậy, rủi ro là điều khó tránh khỏi. Do vậy phải thực hiện phân tán để hạn chế rủi ro, cụ thể: - Đa dạng hóa phương thức cho vay: Trong hoạt động tín dụng, có nhiều phương thức cho vay như: Cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay thấu chi, cho vay theo món, cho vay đồng tài trợ, cho vay trả góp, cho vay ủy thác,….Ngân hàng nên tìm hiểu thật kỹ phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng để áp dụng một cách linh hoạt các phương thức cho vay. Mở rộng phương thức Cho vay theo hạn mức tín dụng trên cơ sở xếp hạng tín dụng với khách hàng,….

Nguyễn Hữu Hiếu

63

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

- Đa dạng hóa khách hàng: Mở rộng cho vay đối với các thành phần kinh tế, mọi đối tượng khách hàng trên cơ sở có chọn lọc, tránh việc cho vay quá mức đối với một khách hàng nhằm hạn chế tổn thất khi khách hàng gặp rủi ro không trả được nợ. Chi nhánh BIDV Quang Trung bên cạnh việc cho vay đối với các Tổng công ty là các khách hàng truyền thống nên mở rộng tìm kiếm, cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường cho vay cán bộ công nhân viên dưới hình thức tín chấp để khai thác hiệu quả thị trường tín dụng bán lẻ giàu tiềm năng. - Thực hiện bảo hiểm tín dụng: Đây chính là biện pháp nhằm san xẻ rủi ro tín dụng, nó thường được thực hiện dưới các loại như: bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tiền vay. Hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ có bảo hiểm tài sản được thực hiện, để hạn chế rủi ro đối với tài sản bảo đảm, ngân hàng nên yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm toàn bộ giá trị tài sản đã làm bảo đảm cho ngân hàng và người thụ hưởng quyền bồi thường là ngân hàng. 3.2.7 Xử lý nợ quá hạn và nợ khó đòi: Đây là biện pháp nhằm hạn chế tối đa những khoản thiệt hại đã xảy ra đối với khoản tín dụng. Việc xử lý nợ quá hạn, nợ khó đòi cần thực hiện một cách khoa học cụ thể: - Phân tích nguyên nhân nợ quá hạn của từng khách hàng, từ đó có biện pháp tháo gỡ. Đối với khách hàng có nợ quá hạn có tính chất tạm thời, hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, ngân hàng xem xét khả năng trả nợ và phương án sản xuất kinh doanh trong thời gian tới để quyết định việc cho vay, gia hạn hay cơ cấu lại nợ. Căn cứ vào phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng, khách hàng chứng minh được khả năng hoàn trả nợ đến hạn sau khi cơ cấu lại nợ thì ngân
Nguyễn Hữu Hiếu

64

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

hàng sẽ cơ cấu lại nợ cho khách hàng. Để thực hiện việc cơ cấu lại nợ thì đòi hỏi ngân hàng phải giám sát chặt chẽ các khoản nợ và hoạt động cảu khách hàng sau kho cơ cấu. - Đối với khách hàng khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ, khó khắc phục, nợ quá hạn chưa xác định được nguồn trả nợ, ngân hàng cần quản lý chặt chẽ khoản vay và khách hàng trên như sau: • Đối với khoản cho vay có tài sản bảo đảm: + Tìm các khách hàng có khả năng về tài chính nhận trả nợ của khách hàng khó khăn để tiếp tục khai thác hiệu quả tài sản bảo đảm khả năng trả nợ. + Ngân hàng rà soát tài sản bảo đảm, tình trạng tài sản, hồ sơ pháp lý để

có thể phát mại tài sản thu hồi vốn. Phối hợp với các Bộ, ngành cho tiến hành thanh lý, phát mại các tài sản bảo đảm cho vay theo chỉ thị của Hội sở chính,… để thu hồi vốn. + Trong trường hợp tài sản phát mại không đủ thu hồi vốn thì buộc khách hàng phải trả tiếp phần còn lại thông qua việc bán tiếp tài sản, nếu không ngân hàng có thể tiến hành các thủ tục yêu cầu phá sản. • Đối với khoản cho vay không có tài sản bảo đảm: + Trong trường hợp này, cần kiểm soát chặt chẽ nguồn tài chính của khách hàng, các khoản phải thu, nguồn thanh toán của các công trình, kỳ thu tiền đối với các lĩnh vực khác và yêu cầu khách hàng cùng chủ đầu tư, người mua hàng cam kết thanh toán chuyển khoản về tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. + Tư vấn cho khách hàng bán bớt tài sản không phát huy hiệu quả, không cần sử dụng để trả nợ tiền vay. - Biện pháp khởi kiện ra tòa: đây là biện pháp cuối cùng để xử lý, bởi nó có liên quan đến pháp luật và các cơ quan hành pháp, điều mà cả ngân hàng và

Nguyễn Hữu Hiếu

65

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

khách hàng đều không muốn. Việc khởi kiện ra tòa sẽ có tác dụng đối với các khách hàng không có thiện trí trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ. 3.2.8 Nhóm giải pháp về công tác cán bộ * Hạn chế rủi ro đạo đức cán bộ: Để hạn chế rủi ro tín dụng, cần nâng cao trách nhiệm của cán bộ tín dụng, gắn trách nhiệm với quyền lợi của cán bộ làm công tác tín dụng. Nên có chế độ thưởng phạt rõ ràng, sử dụng chế độ tiền lương đãi ngộ để khuyến khích người làm công tác tín dụng tránh xảy ra rủi ro đạo đức nghề nghiệp. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến tư tưởng cho cán bộ tín dụng để mọi người hiểu và chấp hành đúng quy trình tín dụng. * Nâng cao trình độ cán bộ: Do hoạt động tín dụng liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề, sản phẩm, trong khi đội ngũ cán bộ tín dụng chủ yếu được đào tạo từ các trường kinh tế, kinh nghiệm về các lĩnh vực liên quan đến kỹ thuật bị hạn chế. Đòi hỏi cán bộ tín dụng không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, thường xuyên tìm hiểu các ngành nghề, lĩnh vực khác để phục vụ cho hoạt động tín dụng. Để nâng cao chất lượng tín dụng thì ngay từ khâu tuyển chọn cán bộ tín dụng phải có đạo đức, trình độ chuyên môn, được đào tạo bài bản, hiểu biết về nhiều lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội,…. Phải tiến hành phân loại đội ngũ cán bộ theo các tiêu thức: theo trình độ bằng cấp (Thạc sĩ, cử nhân kinh tế,…), theo trình độ thực hiện công việc (tốt, khá, trung bình, yếu), theo trình độ nghề nghiệp (chuyên viên, cán bộ độc lập tác nghiệp, cán bộ phụ trợ,…). Từ đó làm căn cứ để đào tạo, đào tạo lại và sắp xếp cán bộ khoa học trên cơ sở phát huy thế mạnh, năng khiếu của từng người kết hợp với sức mạnh, trí tuệ của tập thể.

Nguyễn Hữu Hiếu

66

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Hiện nay Nhà nước ta đang hoàn thiện dần hệ thống pháp lý, các luật đang được đưa vào cuộc sống. Cán bộ tín dụng bên cạnh việc giỏi chuyên môn nghiệp vụ thì còn phải tích cực tìm hiểu các văn bản pháp luật, các Quy định của Nhà nước, Chính phủ, của các Bộ ngành liên quan,…, nhất là các văn bản có liên quan đến hoạt động tín dụng. Mở các lớp đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm, các lớp huấn luyện về sử dụng phầm mềm, công nghệ mới để cán bộ có thêm kinh nghiệm, hiểu biết, quyết định cho vay được an toàn. 3.2.9 Đầu tư hiện đại hóa ngân hàng Chi nhánh Ngân hàng BIDV Quang Trung dù mới thành lập năm 2005, kế thừa và phát triển mạng lưới công nghệ ngân hàng hiện đại như kết nối trực tiếp với Hội sở chính và các Chi nhánh khách thông qua mạng nội bộ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, xây dựng thành công hệ thống xếp hạng tín dụng, định hạng doanh nghiệp,…Với những tiền đề đó, Chi nhánh phải không ngừng nâng cấp hoàn thiện nền tảng công nghệ đã có, ứng dụng các công nghệ ngân hàng mới vào quản lý,… Thực tế cho thấy, với hệ thống định hạng tín dụng của Chi nhánh, nếu có nhiều luồng truy cập vào hệ thống thì hệ thống chậm hoặc bị treo tạm thời, do đó Chi nhánh cần khắc phục bằng các biện pháp như mở rộng đường truyền, nâng cấp hệ thống,…. 3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 3.3.1 Đối với Đảng và Nhà nước * Hoàn thiện mội trường pháp lý: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, phát triển nền kinh tế thị trường, đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật đồng bộ và phù hợp. Việc ban hành các luật và văn bản dưới luật cần đồng bộ và kịp thời để tạo môi trường pháp lý hoàn thiện, ổn định và thông thoáng cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong
Nguyễn Hữu Hiếu

67

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

nền kinh tế – các khách hàng của ngân hàng và cho chính hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các hướng dẫn thực thi có liên quan đến hệ thống tài chính tiền tệ, liên quan đến hoạt động của các ngân hàng để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, để chuẩn hóa và giảm thiểu rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng. * Các biện pháp hỗ trợ các chủ thể kinh doanh: Cần có biện pháp tìm kiếm thị trường ổn định cho doanh nghiệp trong

tiêu thụ sản phẩm, xây dưng hệ thống thông tin và cung cấp thông tin về các đối tác nước ngoài cho doanh nghiệp thống qua các Đại sứ quán và Tham tan thương mại,…góp phần giảm rủi ro trong kinh doanh cho các doanh nghiệp. - Đơn giản hóa các thủ tục hành chính để cho các doanh nghiệp tiến hành các thủ tục thành lập dễ dàng, nhanh gọn hơn; có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp, các dự án khả thi, hiệu quả. - Giải quyết kịp thời các vướng vắc về thế chấp quyền sử dụng đất và giá đất để tạo điều kiện cho người dân vay vốn ngân hàng. Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng

như: chính sách Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng,… Các cơ quan chức năng cần phối hợp, giúp đỡ ngân hàng trong công tác

xử lý tài sản bảo đảm nhằm thu hồi nợ, tránh để ngân hàng thiệt hại. 3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước là yếu tố rất quan trọng quyết

định đến định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng cũng như sự phát triển của xã hội. Do đó cần phát huy hơn nữa vai trò và thế mạnh trong điều hành vĩ mô, điều hành hợp lý chính sách tiền tệ tín dụng, góp phần vào sự ỏn định và

Nguyễn Hữu Hiếu

68

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

phát triển của nền kinh tế, đồng thời đảm bảo sự an toàn cho hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước cần xem xét lại cá chính sách, điều chỉnh cho phù hợp, chú trọng đến các chính sách lạm phát, thất nghiệp và chính sách quản lý ngoại hối,…để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, các thành phần yên tâm sản xuất kinh doanh. Ngân hàng Nhà nước cần rà soát các văn bản cũ, thiếu đồng bộ, không

còn phù hợp với thực tế, nghiên cứu trình Quốc hội các thông tư hướng dẫn bổ sung để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu lực văn bản điều chỉnh cho vay của các ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn và lành mạnh cho kinh doanh tín dụng. Ngân hàng nên kiến nghị với Chính phủ quy định rõ trách nhiệm về xử phạt hành chính, kinh tế của khách hàng trong quan hệ với ngân hàng. 3.3.3 Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Hoàn thiện quy trình, mẫu biểu theo mô hình tổ chức TA2 để thống nhất

áp dụng tại các chi nhánh BIDV trong toàn hệ thống. Các bước công việc thực hiện theo đúng quy trình, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng. Thiết kế thủ tục hồ sơ gọn nhẹ nhưng phải đảm bảo đầy đủ, có tính pháp

lý. Giảm thiểu quy trình và thời gian thẩm định dự án phương án đầu tư để tạo thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn ngân hàng. - Cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống thông tin tín dụng đến từng Chi nhánh để hỗ trợ các Chi nhánh có thêm thông tin để đưa ra phán quyết tín dụng hợp lý, chính xác. - Phân tích thực trạng tín dụng, định kỳ rà soát phân loại tín dụng để kịp thời có biện pháp xử lý, hạn chế các khoản tín dụng xấu. Thực hiện quản lý danh mục nợ xấu để có biện pháp xử lý kịp thời, kiểm soát, hạn chế nợ xấu mới phát sinh tại từng chi nhánh trong hệ thống.

Nguyễn Hữu Hiếu

69

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

-

Có chương trình tập huấn, đào tạo lại cán bộ thường xuyên. Đưa ra cơ

chế sắp xếp cán bộ tín dụng khoa học, phù hợp với khả năng trình độ quản lý của mỗi cán bộ để họ phát huy hết năng lực của mình cho công việc. - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cần tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho các Chi nhánh ngân hàng, đặc biệt là về công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu suất và hiệu quả công việc, đẩy nhanh hiện đại hóa toàn mạng lưới BIDV.

KẾT LUẬN

Nguyễn Hữu Hiếu

70

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Từ kết quả nghiên cứu về phương diện lý luận và khảo nghiệm thực tế tại nơi thực tập, khóa luận: “Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang Trung ” đã hoàn thành một số nội dung sau: - Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về tín dụng, rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại. - Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang Trung qua các năm, đánh giá những thành tích cũng như những tồn tại trong công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, phân tích nguyên nhân của những tồn tại này. - Đưa ra các giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang Trung, cùng một số kiến nghị với Chính Phủ, Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. Hy vọng đề tài sẽ có đóng góp một phần nhỏ vào việc giúp Chi nhánh BIDV Quang Trung nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ hơn, nhận diện được sớm những rủi ro để từ đó có biện pháp xử lý hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng như mong đợi, đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi có thời gian nghiên cứu lâu dài. Mặc khác do còn hạn chế về năng lực và kinh nghiệm thực tế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót hay sai phạm. Vì vậy, em mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và những người quan tâm đến vấn đề này để khóa luận được hoàn thiện và đạt kết quả tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã cung cấp cho em những kiến thức vô cùng quý báu và bổ ích trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại

Nguyễn Hữu Hiếu

71

Lớp: NHD – K8

Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Ngân hàng

Học viện Ngân hàng. Đồng thời, em xin cám ơn các cô chú, anh chị tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang Trung nhất là các cán bộ của phòng Quan hệ khách hàng I đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại Chi nhánh và làm khóa luận. Đặc biệt, em xin trân trọng và biết ơn sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình, chu đáo của TS. Đỗ Thị Kim Hảo trong quá trình hoàn thành khóa luận này.

Nguyễn Hữu Hiếu

72

Lớp: NHD – K8

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful