You are on page 1of 46

HIEPKHACHQUAY

Chuyên đề

Tinh thể lỏng

Tài liệu phát hành tại:


· http://www.thuvienvatly.info
· http://www.scribd.com/people/view/2613389-hiepkhachquay

KIÊN GIANG, THÁNG 12/2008


Tập tài liệu chỉ cung cấp một số thông tin mang tính chất tham khảo.
Bạn đọc có thể biên tập lại theo mục đích sử dụng riêng của bạn.
© hiepkhachquay
Tinh thể lỏng
Tinh thể lỏng là gì ?
Các chất trong tự nhiên có thể chia thành các pha khác nhau, còn gọi là các trạng thái
của vật chất, tùy thuộc vào độ linh động của từng nguyên tử hay phân tử cá lẻ. Các trạng thái
dễ thấy nhất của vật chất là trạng thái rắn, lỏng và khí. Ở trạng thái rắn, lực liên phân tử giữ
các phân tử gần nhau ở một vị trí và sự định hướng cố định, cho nên chất rắn vẫn giữ được
hình dạng xác định. Ở trạng thái lỏng, các phân tử vẫn gắn chặt với nhau, nhưng chúng có thể
di chuyển ra xung quanh. Vì vậy, chất lỏng không có một hình dạng rắn chắc, mà tràn vào các
đường viền của bình chứa nó. Giống như chất lỏng, chất khí không có hình dạng cố định,
nhưng dễ bị nén hơn vì có đủ không gian trống cho các phân tử chuyển động đến gần nhau
hơn. Trong khi chất lỏng giữ trong một bình chứa sẽ hình thành nên một vũng tại đáy bình, thì
chất khí sẽ giãn nở để lấp đầy bình chứa.
Mặc dù ba loại trạng thái này dường như đã phân biệt rõ ràng, nhưng ranh giới giữa
các trạng thái khác nhau không phải lúc nào cũng rõ ràng. Ngoài ba trạng thái quen thuộc đó,
còn tồn tại một số lượng lớn các pha trung gian khác. Một thí dụ đơn giản là thể gel. Gel
không phải thể rắn, cũng chẳng phải thể lỏng. Tinh thể lỏng là một pha trung gian quan trọng
khác biểu hiện các đặc điểm của trạng thái rắn lẫn trạng thái lỏng. Tinh thể lỏng có những tính
chất trật tự của chất rắn nhưng không được nhận ra mãi cho đến thập niên 1880. Năm 1888,
Friedrich Reinitzer (xem hình) được ghi nhận vì sự mô tả có hệ thống đầu tiên của pha tinh
thể lỏng và đã công bố các quan sát của ông khi ông tạo ra cholesteryl benzoate, tinh thể lỏng
đầu tiên.

Friedrich Reinitzer

Các chất lỏng bình thường về bản chất là đẳng hướng: chúng biểu hiện các tính chất
quang, từ, điện, … như nhau theo mọi hướng trong không gian. Mặc dù các phân tử cấu tạo
nên chất lỏng thường không đồng đều về hình dạng, nhưng sự bất đẳng trục này thường giữ
vai trò thứ yếu trong hành trạng vĩ mô của chất lỏng. Tuy nhiên, có một họ lớn của các phân
tử bất đẳng hướng cao hành trạng khác thường, hấp dẫn, và có tiềm năng liên quan đến công
nghệ. Có nhiều ứng cử viên cho việc nghiên cứu như các polymer, micell, vi nhũ tương và các

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 1


chất có tầm quan trọng sinh học, như ADN và màng tế bào. Mặc dù tất cả chúng đều rất hấp
dẫn, nhưng bài giới thiệu này chỉ tập trung vào các tinh thể lỏng.
Tinh thể lỏng gồm các phân tử hữu cơ kích cỡ vừa phải có xu hướng kéo thon dài,
như một điếu xì gà. Ở nhiệt độ cao, các phân tử sẽ định hướng tùy tiện, như biểu diễn trong
hình bên dưới, hình thành nên một chất lỏng đẳng hướng. Do hình dạng thon dài của chúng,
nên dưới những điều kiện thích hợp, các phân tử biểu hiện trật tự định hướng sao cho tất cả
các trục thẳng hàng và hình thành nên cái gọi là tinh thể lỏng nematic. Các phân tử vẫn có thể
chuyển động ra xung quanh trong chất lỏng, nhưng sự định hướng của chúng vẫn như cũ.
Không chỉ trật tự định hướng có thể xuất hiện, mà một trật tự về vị trí cũng có thể. Tinh thể
lỏng biểu hiện một số trật tự về vị trí được gọi là tinh thể lỏng smectic. Trong smectic, khối
tâm phân tử sắp xếp thành lớp và chuyển động chủ yếu bị hạn chế bên trong các lớp.

Đẳng hướng Nematic Smectic

Pha tinh thể lỏng nematic là pha quan trọng nhất đối với các ứng dụng. Trong pha
nematic, toàn bộ các phân tử sắp hàng gần như song song nhau. Tại mỗi điểm, có thể định
nghĩa một vector đơn vị, song song với hướng trung bình của trục dài của các phân tử trong
vùng lân cận. Vector này, gọi là vector đường chuẩn, không phải là hằng số trong toàn bộ môi
trường, mà là hàm của không gian.
Hình bên dưới biểu diễn cấu trúc phân tử của một phân tử tinh thể lỏng kiểu que tiêu
biểu. Nó gồm hai hoặc nhiều hệ vòng nối với nhau bằng một nhóm liên kết ở giữa.

Hình dạng tiêu biểu của một phân tử tinh thể lỏng

2 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Sự có mặt của các vòng mang lại các lực phân tử tầm ngắn cần thiết để hình thành pha
nematic, nhưng còn ảnh hưởng đến các tính chất điện và đàn hồi. Tính ổn định hóa học của
tinh thể lỏng, tính cản trở của chúng với độ ẩm hoặc bức xạ cực tím chẳng hạn, phụ thuộc
mạnh vào nhóm liên kết ở giữa. Các hợp chất có liên kết đơn ở giữa nằm trong số những chất
bền nhất. Tại một phía của các vòng có một chuỗi bên dài ảnh hưởng mạnh đến hằng số đàn
hồi và nhiệt độ chuyển tiếp của các pha tinh thể lỏng. Tại đầu kia, một nhóm gốc gắn vào, xác
định hằng số điện môi và tính bất dị hướng của nó. Một vài thí dụ về các phân tử biểu hiện
một pha tinh thể lỏng được cho bên dưới.

MBBA

MHPOBC

Ngoài các thí dụ đơn giản này, còn có những cách sắp xếp phức tạp hơn, làm phát sinh
nhiều loại tinh thể lỏng khác. Các phân tử thuận một bên, các phân tử không có đối xứng
gương, có thể phát triển thành các chuỗi xoắn chứa các pha tinh thể lỏng cholesteric. Trong
các tinh thể lỏng chứa sắt hoặc không chứa sắt, các lớp smectic có một sự phân cực vĩnh cửu
không đổi hoặc biến thiên giữa các lớp liên tiếp. Ngoài các phân tử kiểu que, còn có các tinh
thể lỏng hình dạng tiên tiến hơn như tinh thể lỏng hình đĩa hoặc hình quả chuối có thể hình
thành nên những loại trật tự khác. Tinh thể lỏng hình đĩa có thể chất đống thành một pha dạng
cột, hình bên dưới minh họa khả năng sắp xếp các tinh thể lỏng hình quả chuối.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 3


Tinh thể lỏng hình đĩa

Tinh thể lỏng hình quả chuối

Thí dụ về các phân tử phát triển thành các pha tinh thể lỏng hình đĩa và hình quả chuối
được cho dưới đây.

Phân tử tinh thể lỏng hình đĩa

4 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Phân tử tinh thể lỏng hình quả chuối

Một loại phân tử tinh thể lỏng có thể biểu hiện nhiều pha tinh thể lỏng khác nhau. Pha
trong đó một tinh thể lỏng nguyên chất (với chỉ một loại phân tử) tồn tại phụ thuộc vào nhiệt
độ. Tinh thể lỏng nguyên chất, hoặc hỗn hợp của chúng, trong đó pha được điều khiển bởi
nhiệt độ, được gọi là tinh thể lỏng hướng nhiệt. Chuyển động Brown của các phân tử tăng lên
theo nhiệt độ, làm giảm sự trật tự trong chất liệu. Ở nhiệt độ cao, trật tự định hướng bị mất và
chất liệu biến đổi sang pha đẳng hướng. Khi giảm nhiệt độ, chất biến đổi sang pha nematic.
Nhiệt độ tại đó sự chuyển pha xảy ra, đặc trưng đối với từng chất, và được gọi là nhiệt độ
chuyển pha nematic-đẳng hướng hay điểm lọc. Bằng cách hạ thêm nhiệt độ, pha đó có thể
biến đổi sang pha smectic A, smectic C và cuối cùng là trạng thái rắn. Mỗi sự chuyển pha xảy
ra tại một nhiệt độ nhất định, nhưng phụ thuộc vào chất liệu, các pha khác nữa có thể xuất
hiện hoặc một số có thể bị thiếu.
Ngoài tinh thể lỏng hướng nhiệt, còn có một họ tinh thể lỏng khác gọi là lyotropic.
Đây là hỗn hợp các phân tử kiểu que trong một dung môi đẳng hướng và nồng độ dung dịch là
nguyên nhân chính cho sự xuất hiện pha. Tinh thể lỏng lyotropic chủ yếu hấp dẫn trong các
ứng dụng sinh học và biểu hiện một số lượng lớn pha khác nhau.
Trật tự của các phân tử tinh thể lỏng có lẽ trông thật lạ, nhưng trong môi trường hàng
ngày của chúng ta, các sắp xếp quen thuộc có nhiều tương đồng với chúng. Hãy xem phần ảnh
phụ lục ở cuối tập sách này.
Tại sao tinh thể lỏng hấp dẫn như vậy ?
Môi trường tinh thể lỏng nematic có đối xứng một trục, nghĩa là trong một môi trường
tinh thể lỏng đồng nhất, chuyển động quay xung quanh một hướng không gây ra sự biến đổi
nào. Khối trật tự có ảnh hưởng rõ lên cách thức ánh sáng và điện trường hành xử trong chất
liệu. Tính dị hướng một trục mang lại các thông số điện và quang khác nhau nếu xét dọc theo
vector đường chuẩn hoặc trong một mặt phẳng vuông góc với nó. Điều này mang lại những
tiềm năng công nghệ hấp dẫn. Hai hiện tượng lạ được trình bày sau đây: sự định hướng lại của
các phân tử trong điện trường và sự lưỡng chiết quang của các phân tử.
Sự định hướng lại của các phân tử trong điện trường
Là kết quả của tính dị hướng một trục, điện trường chịu một hằng số điện môi khác
nhau khi dao động theo hướng song song hoặc vuông góc với vector đường chuẩn. Sự khác
© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 5
biệt đó gọi là tính dị hướng điện môi. Nếu hằng số điện môi dọc theo vector đường chuẩn lớn
hơn theo hướng vuông góc với nó, thì người ta nói nó có tính dị hướng dương.
Do tính dị hướng, độ dịch lưỡng cực và mômen lưỡng cực cảm ứng không song song
với điện trường, trừ khi vector đường chuẩn song song hoặc vuông góc với điện trường. Kết
quả là một mômen quay tác dụng lên vector đường chuẩn. Đối với các chất có tính dị hướng
dương, vector đường chuẩn ưa sắp hàng song song với điện trường. Tinh thể lỏng có tính dị
hướng âm thì có xu hướng tự định hướng chúng vuông góc với điện trường.
Tác dụng của điện trường lên một môi trường tinh thể lỏng có tính dị hướng dương
được minh họa trong hình bên dưới. Ban đầu, sự định hướng hầu như nằm ngang. Khi một
điện trường với hướng dọc theo mũi tên màu xanh được đặt vào, thì một mômen quay (biểu
diễn màu xanh lá cây) phát sinh từ tính dị hướng điện môi, tác dụng lên phân tử. Mômen quay
có xu hướng sắp phân tử song song với điện trường. Khi cường độ điện trường tăng lên, phân
tử sẽ định hướng lại song song với trường.

Định hướng bình thường Tình huống trong điện trường

Kết quả trong điện trường Kết quả trong điện trường mạnh

Tầm quan trọng kĩ thuật của sự định hướng lại thật rõ ràng: nó mang lại một môi
trường có thể bật mở dễ dàng bằng cách làm biến thiên điện trường đặt vào trong môi trường
tinh thể lỏng. Trong đa số các ứng dụng, tinh thể lỏng thường nằm trong một lớp mỏng giữa
hai bề mặt thủy tinh. Để phát ra điện trường, các lớp điện cực mỏng được cho lắng lên đáy
và/hoặc trên bề mặt thủy tinh. Đối với các dụng cụ quang, người ta sử dụng các điện cực trong
suốt, chế tạo từ indium thiếc oxide (ITO). Nếu điện trường sinh ra đủ mạnh, thì các phân tử sẽ
định hướng lại theo hướng của nó.
6 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Lưỡng chiết quang
Ứng dụng của tinh thể lỏng hầu như luôn có liên quan đến quang học. Sóng quang học
cũng liên quan đến điện trường, nhưng tần số cao hơn nhiều so với tần số của điện trường phát
sinh bởi điện áp đặt vào. Do đó, hằng số điện môi, phát sinh từ phản ứng điện tử của các phân
tử với trường ngoài đặt vào, khác đi. Để phân biệt, đối với sóng quang người ta sử dụng khái
niệm chiết suất thay cho hằng số điện môi.
Sóng quang học cũng có thể làm định hướng lại đường chuẩn tinh thể lỏng theo kiểu
tương tự như điện trường đặt vào. Trong màn hiển thị, điều này có thể bỏ qua, vì cả tính dị
hướng điện môi và cường độ của trường quang học thông thường nhỏ hơn nhiều so với trong
trường hợp tĩnh. Do đó, sự truyền quang học chủ yếu độc lập với các tính toán đường chuẩn.
Để tìm hiểu ảnh hưởng của sự lưỡng chiết lên sự truyền ánh sáng qua một tinh thể
lỏng, ánh sáng phải được biểu diễn bằng một điện trường. Điện trường này được mô tả bằng
một vector sóng tại mỗi điểm. Tại một thời điểm và vị trí nhất định, hướng và độ dài của
vector này tương ứng với hướng và độ lớn của điện trường. Đối với một sóng phẳng truyền
theo một hướng nhất định, vector điện trường trong một môi trường đẳng hướng vẽ nên một
elip trong mặt phẳng vuông góc với hướng truyền. Elip này biểu diễn cho sự phân cực của ánh
sáng. Một số trường hợp đặc biệt là phân cực thẳng và phân cực tròn trong đó elip này bị biến
dạng một thành một đường thẳng hoặc một vòng tròn hoàn hảo. Nói chung, mỗi trạng thái
phân cực hình elip có thể tách ra là sự chồng chất của hai sự phân cực thẳng theo hai trục
vuông góc. Trong một môi trường đẳng hướng, cả hai sự phân cực thẳng chuyển động với
cùng tốc độ. Tốc độ của sóng được xác định bởi chiết suất của môi trường.

Sự truyền ánh sáng trong môi trường đẳng hướng

Đối với môi trường tinh thể lỏng một trục, điện trường cảm thấy một chiết suất khác
nhau khi nó dao động trong mặt phẳng vuông góc với đường chuẩn hoặc dọc theo đường
chuẩn. Tính dị hướng một trục này của chiết suất được gọi là lưỡng chiết. Lưỡng chiết cho
phép thao tác với sự phân cực của ánh sáng truyền qua môi trường.
Trạng thái phân cực elip của ánh sáng đi vào một môi trường tinh thể lỏng phải tách ra
thành hai trạng thái phân cực thẳng gọi là mode thường và mode bất thường. Theo hai hướng
© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 7
này, hai mode phân cực thẳng cảm thấy một chiết suất khác nhau. Vì thế, chúng truyền qua
tinh thể lỏng với tốc độ khác nhau như minh họa trong hình bên dưới.

Sự truyền ánh sáng trong môi trường lưỡng chiết

Trong môi trường đẳng hướng, hai phần đó truyền qua với cùng tốc độ. Kết hợp chúng
trở lại với nhau sẽ mang lại trạng thái phân cực elip như ban đầu. Trong môi trường lưỡng
chiết, tốc độ khác nhau của sóng thường và sóng bất thường mang lại một sự lệch pha giữa hai
mode (= trễ pha). Tại đầu cuối của môi trường, sự lệch pha này giữa hai dao động sẽ mang lại
một elip phân cực khác.
Lưỡng chiết biến đổi
Để quan sát tác động của lưỡng chiết, phải sử dụng ánh sáng phân cực. Đa số nguồn
sáng như bóng đèn hoặc đèn huỳnh quang phát ra ánh sáng không phân cực. Các ứng dụng
quang học thường yêu cầu ánh sáng phân cực với hướng dao động đã biết của ánh sáng. Để
thu được ánh sáng phân cực, có thể sử dụng các nguồn sáng bình thường kết hợp các bộ lọc
phân cực.
Kính phân cực là một loại lớp lưỡng chiết đặc biệt. Sóng thường truyền mà không bị
biến đổi qua môi trường, trong khi sóng bất thường bị hấp thụ trong môi trường. Một sóng
phân cực bất kì đi vào một môi trường như vậy sẽ mang lại một sóng phân cực thẳng ở phía
sau môi trường. Trong hình bên dưới, tác dụng của kính phân cực được minh họa đối với hai
định hướng khác nhau của hướng hấp thụ.

Kính phân cực với trục truyền qua thẳng đứng

8 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Kính phân cực với trục truyền qua nằm ngang

Nếu sử dụng hai kính phân cực có hướng hấp thụ trực giao, thì toàn bộ ánh sáng phát
ra bởi nguồn sáng bị hấp thụ hết. Đây thường được gọi là bộ kính phân cực trực giao.

Bộ kính phân cực trực giao

Lưỡng chiết quan trọng đối với việc biến đổi và điều khiển trạng thái phân cực của ánh
sáng truyền qua môi trường. Một lớp tinh thể lỏng chèn giữa hai kính phân cực trực giao có
thể làm thay đổi sự phân cực ánh sáng truyền qua, mang lại sự truyền ánh sáng sau bộ kính
phân cực trực giao.

Một lớp tinh thể lỏng giữa hai kính phân cực trực giao

Vì đường chuẩn có thể điều khiển bằng điện trường, nên tinh thể lỏng là một môi
trường lưỡng chiết có thể điều khiển được. Do đó, trạng thái phân cực của ánh sáng phía sau
lớp tinh thể lỏng có thể biến đổi và từ đó cường độ sáng truyền qua bộ kính phân cực trực giao
được điều chỉnh cho phù hợp.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 9


Chọn hướng ưu tiên của các phân tử
Trong bình thủy tinh, một tinh thể lỏng trông như một chất lỏng dạng sữa mở đục. Sự
biến thiên ngẫu nhiên của đường chuẩn trong chất ở cấp độ micromet là nguyên nhân chính
gây ra sự tán xạ ánh sáng.
Trong các ứng dụng, điều quan trọng là thu được một vùng không có khiếm khuyết
với một phân bố đường chuẩn đã biết. Vì thế, tinh thể lỏng thường được xử lí trong những lớp
mỏng giữa hai chất. Việc điều khiển đường chuẩn tại bề mặt cho phép những sự định hướng
đường chuẩn phong phú như minh họa bên dưới. Hướng cố định của đường chuẩn bề mặt
buộc đường chuẩn trong khối chất tuân theo hướng này. Hai loại sắp hàng được sử dụng phổ
biến là sắp hàng phẳng và sắp hàng rào đứng. Trong sắp hàng phẳng, đường chuẩn mặt định
hướng song song với bề mặt, trong sắp hàng rào thẳng đứng nó định hướng vuông góc với bề
mặt.

Sắp hàng phẳng Sắp hàng rào đứng Sắp hàng do ma sát

Một quá trình đơn giản khác và được sử dụng rộng rãi để thu được sự sắp hàng phẳng
là cọ xát. Một lớp polymer (ví dụ polyimide, nylon hoặc polyvinylalcohol) được cho lắng trên
một bề mặt và cọ xát với một miếng thấm mềm. Tinh thể lỏng lắng trên bề mặt polymer cọ xát
sẽ biểu hiện một đường chuẩn mặt song song với hướng cọ xát. Người ta có thể nói rằng các
rãnh vi mô tạo ra trong bề mặt sắp thành đường chuẩn. Hướng ma sát và đường chuẩn bề mặt
thu được được biểu diễn dưới đây.

Sắp hàng theo hướng cọ xát

10 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Sự sắp thẳng hàng với bề mặt không hoản hảo, có một góc nhỏ 1 hoặc 2 độ giữa bề
mặt và đường chuẩn phân tử gọi là góc nghiêng trước. Góc nghiêng trước phụ thuộc vào
cường độ chà xát.

Nghiêng do quá trình cọ xát

Tinh thể lỏng thường dùng trong các lớp mỏng nằm giữa hai chất thủy tinh đặt song
song. Khoảng cách, giữa chất bên trên và bên dưới trong tế bào tinh thể lỏng thường biến
thiên từ 1 đến 100 µm, tùy thuộc vào loại tinh thể lỏng sử dụng và ứng dụng dự kiến. Hai chất
được giữ song song ở một khoảng cách không đổi bằng các miếng đệm: các quả cầu hoặc que
vi mô cấu tạo từ polymer hoặc thủy tinh. Các miếng đệm trộn lẫn trong chất keo giữ hai chất
nền lại với nhau và nếu cần thiết còn phân tán trên toàn bộ bề mặt chất nền bằng cách quay
tròn.
Hình bên dưới thể hiện ba thí dụ của các lớp tinh thể lỏng kẹp giữa hai chất nền. Trên
các bề mặt tiếp xúc với tinh thể lỏng, người ta cho lắng các lớp sắp thẳng hàng do ma sát.
Trong hình bên trái, các lớp sắp thẳng hàng của cả hai bề mặt bị cọ xát theo cùng một hướng.
Đây gọi là tế bào Π hay tế boa xòe. Sự phân bố đường chuẩn thu được không đồng đều và
biểu hiện một sự méo dạng xòe ra.

Tế bào xòe Đối song do cọ xát Nematic xoắn

Một phân bố đường chuẩn đồng đều thu được khi chất nền bên trên và bên dưới được
cọ xát theo hướng ngược nhau như minh họa trong hình ở giữa. Góc 90 độ giữa sự cọ xát ở
chất nền bên trên và bên dưới mang lại một biến thể thẳng của góc xoắn theo pháp tuyến bề
mặt. Đây được xem là tế bào nematic xoắn.

Tính mẫu đường chuẩn trong môi trường tinh thể lỏng
Môi trường tinh thể lỏng thích có một phân bố đường chuẩn đồng đều. Một sự biến đổi
của đường chuẩn trong không gian làm cảm ứng một sự tăng năng lượng tự do. Theo lí thuyết

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 11


đàn hồi đối với tinh thể lỏng, năng lượng đàn hồi liên hệ với độ biến thiên của đường chuẩn
„n‟ trong không gian có thể viết là
1 2  2  2
f dh  k11 .n  k22 n. n  k33 n  n 
2  

với ba hệ số đàn hồi k11, k22 và k33. Phương trình này gọi là năng lượng biến dạng Oseen-
Frank. Ba số hạng trong phương trình liên hệ tương ứng với sự biến dạng do xòe, xoắn và uổn
cong như minh họa trong hình dưới đây. Các biến dạng chung là hỗn hợp của ba kiểu này.

Các phép tính phân bố đường chuẩn cân bằng liên quan đến việc giảm tối thiểu tổng
năng lượng tự do của thể tích đó. Tổng năng lượng của tinh thể lỏng gồm ba thành phần: mật
độ năng lượng đàn hồi (như mô tả ở trên), năng lượng tiếp xúc
  2   2
ftx 
1
2 
   
Wa na .n  Wp n p .n 

liên quan đến sự sắp thẳng hàng của đường chuẩn tại bề mặt của vùng thể tích xem xét và mật
độ năng lượng điện

1 
f d   0 E E
2
liên quan đến tương tác của điện trường đặt vào và đường chuẩn của phân tử tinh thể lỏng.
Làm thế nào chúng ta có thể chế tạo một màn hiển thị với tinh thể lỏng ?
Tất cả những đặc tính hấp dẫn giải thích trong các phần trước khiến cho tinh thể lỏng
thật cuốn hút cho khoa học tìm kiếm những ứng dụng hữu ích. Một ứng dụng nổi tiếng của
tinh thể lỏng là màn hiển thị tinh thể lỏng có mặt khắp nơi, ngày nay cấu thành một nền công
nghiệp toàn cẩu hàng tỉ đô la. Toàn bộ các thành phần cần thiết cho việc chế tạo Màn Hiển thị
Tinh thể Lỏng (LCD) được xem xét và phần này sẽ chú yếu giải thích cách thức LCD hoạt
động.

12 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Cấu trúc của màn hiển thị tinh thể lỏng
Hình dưới làn giản đồ của một LCD. Màn hiển thị gồm một lớp tinh thể lỏng mỏng (bề
dày ± 5 µm) kẹp giữa hai chất nền thủy tinh. Để điều khiển sự định hướng lại của đường
chuẩn, người ta cho lắng các điện cực trong suốt trên chất nền thủy tinh (màu trắng và đỏ).
Trong hình, người ta sử dụng cái gọi là ma trận thụ động. Trên chất nền phía trên và phía
dưới, các điện cực hàng và cột được cho lắng theo thứ tự. Sự chồng lấn giữa một điện cực cột
và một điện cực hàng hình thành nên một ảnh điểm (=nguyên tố ảnh) của màn hiển thị. Trong
thí dụ đơn giản này, 1 điện cực hàng được sử dụng kết hợp với 2 điện cực cột. Kết hợp này
cho chúng ta một màn hiển thị hai ảnh điểm.
Điện cực cột bên trái ở cùng mức điện thế
như điện cực hàng. Với điện cực cột bên phải (màu
đỏ), người ta đặt vào một điện áp khác. Theo cách
này, điện trường phát sinh trong ảnh điểm bên phải
định hướng vuông góc với các mặt thủy tinh.
Trên hình, người ta có thể thấy hướng ma sát
của các lớp sắp thẳng hàng (màu xanh lá) trên chất
nền phía trên và phía dưới được chọn vuông góc với
nhau. Do sự chọn lựa này, đường chuẩn trong ảnh
điểm bên trái thực hiện một bước xoay chuyển 90o
đều đặn từ phía dưới lên trên. Vì thế, loại LCD được
gọi là „LCD nematic xoắn‟ (TN-LCD). Nếu đặt một
điện áp vào điện cực, thì đường chuẩn định hướng lại
trở nên vuông góc với các mặt (ảnh điểm bên phải).
Để điều khiển cường độ của ánh sáng truyền
qua, toàn bộ các lớp được kẹp giữa bộ kính phân cực
trực giao (màu vàng). Nếu ánh sáng chưa phân cực đi
vào cấu trúc từ phía dưới lên, thì ánh sáng trở thành
phân cực thẳng tại kính phân cực phía dưới. Ánh
sáng đi vào lớp tinh thể lỏng với hướng phân cực
song song với đường chuẩn bên dưới. Người ta có
thể chứng minh rằng nếu bề dày của lớp đó và các
thông số tinh thể lỏng được chọn lựa thích hợp, thì
sự phân cực thẳng của ánh sáng đi vào đại khái sẽ tuân theo chuyển động quay của đường
chuẩn (= chế độ Mauguin). Kết quả là ánh sáng truyền qua bộ phân cực phía trên và ảnh điểm
ở trạng thái sáng của nó.
Nếu chúng ta đặt một điện áp giữa hai lớp điện cực, thì đường chuẩn tinh thể lỏng định
hướng lại và sự phân cực của ánh sáng sẽ không còn quay qua lớp tinh thể lỏng. Kết quả là
ánh sáng bị hấp thụ tại bộ phân cực (= bộ phân tích) phía trên và ảnh điểm trở thành tối.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 13


Thêm các bộ lọc màu thích hợp tạo ra một màn hiển thị màu hoàn toàn đầy đủ như sử
dụng trong nhiều màn hiển thị tinh thể lỏng ngày nay. Mỗi ảnh điểm ở vào vòng biến đổi của
nó chia nhỏ thành ba ảnh điểm nhằm điều khiển tương ứng các thành phần đỏ, lục và lam của
ánh sáng.
Tất nhiên đây chỉ là một trong các khả năng chế tạo LCD. Nhiều cấu hình khác hiện
có sử dụng các loại tinh thể lỏng khác, các định hướng phân tử khác hoặc những cách khác
chuyển mạch các phân tử. Loại thông dụng nhất là „LCD nematic siêu xoắn‟ (với sự quay
đường chuẩn trong lớp đó > 90o) và „LCD đảo mạch đồng phẳng‟ (các phân tử quay song
song với mặt thủy tinh do một điện trường nằm ngang).
Ứng dụng của tinh thể lỏng
Ban đầu, LCD được sử dụng trong máy tính bỏ túi hoặc đồng hồ đeo tay kĩ thuật số và
chỉ có một vài ảnh điểm đen trắng. Ngày nay, LCD có mặt khắp nơi trong mọi loại ứng dụng
như màn hình phẳng cho ứng dụng desktop và laptop, điện thoại di động, máy chiếu… Một
vài ví dụ các thiết bị sử dụng công nghệ LCD minh họa trong hình dưới đây.

Các ứng dụng hấp dẫn khác ?


Tất nhiên, tinh thể lỏng không chỉ có các ứng dụng hiển thị. Các nhà nghiên cứu còn
nghiên cứu những ứng dụng mới và kì lạ hơn của tinh thể. Sử dụng của các tính chất phi tuyến
của các môi trường tinh thể lỏng (các thông số chất liệu không chỉ phụ thuộc hướng, mà còn
14 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
phụ thuộc cường độ của ánh sáng đi vào và bước sóng), người ta đã thử đi tìm những ứng
dụng mới. Ví dụ:
 Sự truyền sóng soliton trong tinh thể lỏng
Một chùm laser cường độ cao chiếu vào một tinh thể lỏng có thể tạo ra một sự định hướng
cục bộ của các phân tử dẫn hướng. Theo cách này, ánh sáng tạo ra sóng mang riêng của nó
và ánh sáng laser sẽ không nhiễu xạ mà vẫn giới hạn trong một chùm hẹp. Ứng dụng
soliton có thể dẫn đến một sóng mang tinh thể lỏng có thể xử lí để chuyển mạch ánh sáng
giữa một vài sợi quang.

 Sợi quang tinh thể lỏng rỗng ruột


Sợi quang rỗng ruột tỏ ra có công dụng của nó. Nếu chúng ta đổ đầy tinh thể lỏng vào
chúng thì làm cho chúng có thể mang lại hành trạng hấp dẫn có thể điều khiển cho các
sợi quang.
 Màn hiển thị tinh thể lỏng quang điều khiển
Trong màn hiển thị tinh thể lỏng quang xử lí, điện trường mạnh của bước sóng không
nhìn thấy với cường độ cao được sử dụng để chuyển đảo các phân tử thay cho một
điện áp ngoài đặt vào.
 Pin Mặt trời tinh thể lỏng
Một ứng dụng mới và đầy hứa hẹn sử dụng tinh thể lỏng là chất bán dẫn tinh thể lỏng.
Tinh thể lỏng là các phân tử hữu cơ tương tự như polymer. Trong các polymer chứa
các hệ liên hợp (xen kẽ các liên kết đơn và liên kết đôi), sự tạo thành liên kết pi cao
hơn hoặc thấp hơn đưa đến sự tạo thành một dải khe giống như các chất bán dẫn. Việc
sử dụng một tinh thể lỏng như vậy trong một thiết bị tương tự như tế bào Grätzel có
thể đưa đến những loại pin Mặt trời mới.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 15


Các sách viết về Tinh thể lỏng:
 P.J. Collings, "Liquid Crystals, Nature's Delicate Phase of Matter", IOP Publishing
Ltd., England, 1990.
 E.B. Priestley, P. Wojtowicz, P. Sheng, "Introduction to Liquid Crystals", Plenium
Press, New York, 2e edition, 1979
 P.G. de Gennes, J. Prost, "The Physics of Liquid Crystals", Oxford Science
Publications, second edition, Clarendon press Oxford, 1993
 S. Elston and J. R. Sambles, "The Optics of Thermotropic Liquid Crystals", Taylor &
Francis Ltd, London, 1998.
 I.-C. Khoo, "Liquid Crystals : Physical Properties and Nonlinear Optical
Phenomena", Wiley-Interscience Publication, John Wiley & Sonc inc., 1995
 P. Yeh, C. Gu, "Optics of Liquid Crystal Displays", Wiley-Interscience Publication,
John Wiley & Sonc inc., 1999
 E. Leuder, "Liquid Crystal Displays: addressing schemes and electro-optical effects",
John Wiley & Sonc inc., 2001
 L. M. Blinov and V.G. Chigrinov, "Electrooptic Effects in Liquid Crystal Materials,
Partially Ordered Systems", Springer-Verlag, New York, 1996.

16 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Tinh thể lỏng – trạng thái kì diệu của vật chất
Nghiên cứu tinh thể lỏng bắt đầu năm 1888 khi một nhà thực vật học người Áo tên là
Friedrich Reinitzer quan sát thấy một chất gọi là cholesteryl benzoate có hai điểm tan chảy
riêng biệt. Trong các thí nghiệm của ông, Reinitzer làm tăng nhiệt độ của mẫu chất rắn và
quan sát tinh thể đó biến đổi thành một chất lỏng mờ đục. Khi ông tăng nhiệt độ lên nữa, chất
liệu một lần nữa biến đổi thành một chất lỏng trong suốt, rõ ràng. Vì công trình nghiên cứu sơ
khai này, Reinitzer thường được ghi nhận đã khám phá ra một pha mới của vật chất – pha tinh
thể lỏng.
Các chất tinh thể lỏng là độc nhất vô nhị ở các tính chất và công dụng của chúng. Khi
nghiên cứu về lĩnh vực này tiếp tục và khi các ứng dụng mới được phát triển, tinh thể lỏng vẫn
giữ vai trò quan trọng trong công nghệ hiện đại. Bài viết này cung cấp một sự giới thiệu về cơ
sở khoa học và các ứng dụng của các chất liệu này.
Tinh thể lỏng là gì ?
Các chất tinh thể lỏng nói chung có một vài đặc tính chung. Trong số này là một cấu
trúc phân tử kiểu que, tính cứng của trục dài, và các lưỡng cực mạnh và/hoặc các thuộc tính
dễ phân cực.
Đặc điểm nổi bật của trạng thái kết tinh lỏng là khuynh hướng của các phân tử
(mesogen) hướng theo một trục chung, gọi là đường chuẩn. Tính chất này trái với các phân tử
ở pha lỏng, chúng không có một trật tự nội tại nào. Ở trạng thái rắn, các phân tử có trật tự cao
và có ít sự tự do tịnh tiến. Trật tự định hướng đặc trưng của trạng thái tinh thể lỏng nằm giữa
pha rắn và pha lỏng thông thường và đây là nguồn gốc của tên gọi trạng thái mesogenic, được
dùng đồng nghĩa với trạng thái tinh thể lỏng. Chú ý sự sắp hàng trung bình của các phân tử
trong từng pha trong biểu đồ sau.

Đôi khi, thật khó xác định một chất là ở trạng thái tinh thể hay ở trạng thái tinh thể
lỏng. Các chất kết tinh biểu hiện trật tự tuần hoàn phạm vi lớn trong ba chiều kích thước.
Theo định nghĩa, chất lỏng đẳng hướng không có trật tự định hướng nào. Các chất không có
trật tự như chất rắn, nhưng có một sự sắp hàng nào đó được gọi là hợp thức là tinh thể lỏng.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 17


Để định lượng mức độ trật tự có mặt trong một chất, người ta định nghĩa một thông số
trật tự (S). Thông thường, thông số trật tự được cho như sau:
1
S 3cos 2   1
2
trong đó  là góc giữa đường chuẩn và trục dài của từng phân tử. Kí hiệu dấu ngoặc là lấy
trung bình của tất cả các phân tử trong vật. Trong chất lỏng đẳng hướng, trị trung bình của các
số hạng cosin là bằng 0, và do đó thông số trật tự cũng bằng 0. Đối với một tinh thể hoàn hảo,
thông số trật tự gán bằng 1. Giá trị tiêu biểu cho thông số trật tự của một tinh thể lỏng biến
thiên trong khoảng 0,3 đến 0,9, với giá trị chính xác là một hàm của nhiệt độ, là kết quả của
chuyển động động học phân tử. Hàm này được minh họa dưới đây đối với một chất tinh thể
lỏng nematic (sẽ trình bày trong phần tiếp theo).

Khuynh hướng của các phân tử tinh thể lỏng hướng theo đường chuẩn đưa đến một
tinh thế gọi là tính dị hướng. Thuật ngữ này nghĩa là các tính chất của chất phụ thuộc vào
hướng mà chúng được đo. Ví dụ, người ta dễ cắt một khối gỗ dọc theo thớ của nó hơn là cắt
ngang qua thớ. Bản chất dị hướng của tinh thể lỏng là nguyên nhân gây ra những tính chất
quang độc nhất vô nhị đã được khai thác bởi các nhà khoa học và kĩ sư trong nhiều ứng dụng
đa dạng.
Mô tả đặc trưng các tinh thể lỏng
Các thông số sau đây mô tả cấu trúc tinh thể lỏng:
 Trật tự vị trí
 Trật tự định hướng
18 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
 Trật tự định hướng liên kết
Mỗi một thông số này mô tả phạm vi mà mẫu tinh thể lỏng có được sự trật tự. Trật tự
vị trí ám chỉ trường hợp một phân tử hoặc nhóm phân tử trung bình biểu hiện sự đối xứng tịnh
tiến (như chất kết tinh biểu hiện). Trật tự định hướng, như trình bày ở trên, biểu diễn một số
đo của khuynh hướng của các phân tử sắp thẳng hàng theo đường chuẩn trên cơ sở tầm rộng.
Trật tự định hướng liên kết mô tả một đường nối các tâm của các phân tử gần nhau nhất mà
không yêu cầu một khoảng cách đều đặn dọc theo đường đó. Như vậy, một trật tự tương đối
xa đối với các đường nối các khối tâm nhưng chỉ là trật tự vị trí gần dọc theo đường đó.
Đa số hợp chất tinh thể lỏng biểu hiện sự thù hình, hay một tình trạng trong đó có
nhiều hơn một pha được quan sát thấy ở trạng thái kết tinh lỏng. Thuật ngữ meso pha được sử
dụng để mô tả “pha con” của các chất tinh thể lỏng. Các meso pha hình thành bởi sự thay đổi
lượng trật tự trong chất, hoặc bằng cách áp đặt trật tự trong chỉ một hoặc hai chiều, hoặc bằng
cách cho phép các phân tử có một mức độ chuyển động tịnh tiến. Phần sau đây mô tả các
meso pha của tinh thể lỏng một cách cụ thể hơn.
Các pha tinh thể lỏng
Trạng thái tinh thể lỏng là một pha riêng biệt của vật chất quan sát thấy giữa trạng thái
kết tinh (rắn) và trạng thái đẳng hướng (lỏng). Có nhiều loại trạng thái tinh thể lỏng, tùy thuộc
vào lượng trật tự ở trong chất. Phần này sẽ giải thích hành trạng pha của các chất tinh thể
lỏng.
Pha nematic
Pha tinh thể lỏng nematic được đặc trưng bởi các phân tử không có trật tự vị trí nhưng
có xu hướng hướng theo một hướng (dọc theo đường chuẩn). Trong giản đồ bên dưới, hãy chú
ý là các phân tử hướng thẳng đứng nhưng không sắp xếp với một trật tự đặc biệt nào cả.

Tinh thể lỏng là các chất dị hướng, và các tính chất vật lí của hệ biến thiên theo sự sắp
thẳng hàng trung bình với đường chuẩn. Nếu sự sắp thẳng hàng là lớn, thì chất đó rất dị
hướng. Tương tự, nếu sự sắp thẳng hàng là nhỏ, thì chất hầu như đẳng hướng.
Một họ đặc biệt của các tinh thể lỏng nematic gọi là nematic thuận một bên. Sự thuận
một bên ý nói đến khả năng độc đáo là phản xạ có chọn lọc một thành phần của ánh sáng phân
cực tròn. Thuật ngữ nematic thuận một bên được sử dụng thay thế bởi cholesteric. Xem phần
tinh thể lỏng cholesteric để có thêm thông tin về meso pha này.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 19


Pha smectic
Tên gọi “smectic” xuất xứ từ tiếng Hi Lạp gọi xà phòng. Nguồn gốc xuất xứ có vẻ mơ
hồ này được giải thích bởi thực tế thì chất liệu dày, trơn thường tìm thấy dưới đáy đĩa xà
phòng thật ra là một loại tinh thể lỏng smectic.
Trạng thái smectic là một meso pha riêng biệt khác của các chất tinh thể lỏng. Các
phân tử trong pha này biểu hiện một mức độ trật tự tịnh tiến không có mặt ở pha nematic.
Trong trạng thái smectic, các phân tử vẫn duy trì sự trật tự định hướng chung của nematic,
nhưng đồng thời còn có xu hướng tự sắp thẳng hàng chúng theo các lớp hay mặt phẳng.
Chuyển động bị hạn chế bên trong các mặt phẳng này, và các mặt phẳng tách rời được quan
sát thấy chảy qua nhau. Trật tự tăng thêm có nghĩa là trạng thái smectic “giống chất rắn” hơn
trạng thái nematic.

Ảnh chụp một pha smectic


(bằng kính hiển vi phân cực)

Người ta đã quan sát thấy nhiều hợp chất hình thành nhiều hơn một pha smectic. Có
đến 12 biến thể này đã được nhận dạng, tuy nhiên chỉ các pha nổi bật nhất mới được trình bày
ở đây.
Trong meso pha smectic-A, đường chuẩn vuông góc với mặt phẳng smectic, và không
có một trật tự vị trí đặc biệt nào trong lớp. Tương tự, meso pha smectic-B định hướng hướng
với đường chuẩn vuông góc với mặt phẳng smectic, nhưng các phân tử sắp xếp thành một
mạng hình lục giác bên trong lớp. Trong meso pha smectic-C, các phân tử sắp xếp như ở meso
pha smectic-A, nhưng đường chuẩn nghiêng đi một góc không đổi đo theo phương pháp tuyến
với mặt phẳng smectic.

Hình vẽ pha smectic A Ảnh chụp pha smectic A


(bằng kính hiển vi phân cực)

20 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Hình vẽ pha smectic C Ảnh chụp pha smectic C
(bằng kính hiển vi phân cực)

Như trong pha nematic, meso pha smectic-C có một trạng thái thuận một bên kí hiệu là
C*. Phù hợp với smectic-C, đường chuẩn tạo ra một góc nghiêng so với lớp smectic. Sự khác
biệt là góc này quay từ lớp này sang lớp kia hình thành nên một xoắn ốc. Nói cách khác,
đường chuẩn của meso pha smectic-C* không song song hay vuông góc với các lớp, và nó
quay từ lớp này sang lớp tiếp theo. Lưu ý sự xoắn của đường chuần, biểu diễn bằng các mũi
tên màu xanh, trong từng lớp trong giản đồ dưới đây.

Giản đồ minh họa pha smectic C* (hình trái), và một ảnh nhìn cùng pha đó, nhưng hướng theo trục (hình
phải).

Trong một số meso pha smectic, các phân tử bị ảnh hưởng bởi các lớp khác nhau bên
trên và bên dưới chúng. Do đó, một lượng nhỏ của trật tự ba chiều được quan sát thấy.
Smectic-G là một ví dụ chứng minh loại sắp xếp này.
Pha cholesteric
Pha tinh thể lỏng cholesteric (hay nematic thuận một bên) thường gồm các phân tử
nematic mesogenic chứa một tâm thuận một bên tạo ra các lực liên phân tử thiên về sự sắp
xếp giữa các phân tử ở một góc hơi nghiêng so với nhau. Điều này dẫn đến sự hình thành của
một cấu trúc có thể hình dung là một chồng gồm các lớp kiểu nematic 2D với đường chuẩn
trong từng lớp xoắn so với đường chuẩn lớp ở trên và ở dưới. trong cấu trúc này, các đường
chuẩn thật sự hình thành một kiểu xoắn ốc liên tục xung quanh pháp tuyến lớp như minh họa
bằng mũi tên màu đen trong hình bên dưới.
Một đặc điểm quan trọng của meso pha cholesteric là bước xoắn. Bước xoắn, p, được
định nghĩa là khoảng cách cần thiết cho đường chuẩn quay trọn một vòng theo hình xoắn ốc
như minh họa trong hình ở trên. Một sản phẩm phụ của cấu trúc xoắn ốc của pha nematic
thuận một bên là khả năng của nó phản xạ có chọn lọc ánh sáng có bước sóng bằng với bước
xoắn, cho nên một màu sẽ bị phản xạ khi bước xoắn bằng với bước sóng tương ứng của ánh
sáng trong phổ khả kiến. Hiệu ứng hoạt động trên cơ sở sự phụ thuộc nhiệt độ của sự biến đổi
đều trong định hướng đường chuẩn giữa các lớp liên tiếp (minh họa ở trên), làm biến đổi bước
xoắn mang lại sự thay đổi bước sóng của ánh sáng bị phản xạ theo nhiệt độ. Góc mà đường

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 21


chuẩn biến đổi có thể làm cho lớn hơn, và như vậy thu hẹp bước xoắn, bằng cách tăng nhiệt
độ của các phân tử, do đó cấp thêm cho chúng năng lượng nhiệt. Tương tự, việc giảm nhiệt độ
của các phân tử làm tăng bước xoắn của tinh thể lỏng nematic thuận một bên. Kết quả này
khiến cho người ta có thể chế tạo một nhiệt kế tinh thể lỏng thể hiện nhiệt độ của môi trường
của nó bằng màu sắc phản xạ. Hỗn hợp gồm các loại khác nhau của các tinh thể lỏng này
thường được sử dụng để chế tạo các bộ cảm biến với đa dạng phản ứng theo sự biến thiên
nhiệt độ. Các bộ cảm biến ấy được sử dụng cho các nhiệt kế thường ở dạng các màng mỏng
nhạy nhiệt để phát hiện chỗ hỏng trong các mối nối bo mạch điện, các mẫu dòng chảy chất
lỏng, tình trạng của pin, sự có mặt của bức xạ, hoặc trong các vật mới lạ như vòng “mood”.

Trong chế tạo các màng mỏng, vì việc đặt các tinh thể lỏng nematic thuận một bên
trực tiếp lên một nền đen sẽ dẫn đến sự giảm chất lượng và có lẽ còn nhiễm bẩn, nên các tinh
thể được vi kết nang thành các hạt kích thước rất nhỏ. Các hạt sau đó được xử lí với một chất
liên kết sẽ co lại dựa trên sự lưu hóa làm kéo phẳng các vi nang và tạo ra sự sắp thẳng hàng tốt
nhất cho màu sắc sáng hơn. Một ứng dụng của họ tinh thể lỏng nematic thuận một bên kém
nhạy với nhiệt độ hơn là chế tạo các chất liệu như vải vóc, búp bê, mực in và nước sơn.
Bước sóng của ánh sáng bị phản xạ còn có thể điều khiển bằng cách điều chỉnh thành
phần hóa học, vì cholesteric có thể gồm các phân tử thuận một bên riêng hoặc các phân tử
nematic với chất phụ gia thuận một bên trộn vào. Trong trường hợp này, nồng độ chất phụ gia
được sử dụng để điều chỉnh tính thuận một bên và từ đó là bước xoắn.

22 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Pha cột

Tinh thể lỏng dạng cột khác với các loại trước vì chúng có hình dạng giống như những
cái đĩa thay vì các que dài. Meso pha này được đặc trưng bởi các cột phân tử xếp chồng. Các
cột xếp chồng với nhau hình thành một dải kết tinh hai chiều. Sự sắp xếp của các phân tử bên
trong các cột và sự sắp xếp của chính các cột đưa đến các meso pha mới.
Tác động bên ngoài lên tinh thể lỏng
Các nhà khoa học và kĩ sư có thể sử dụng tinh thể lỏng trong nhiều ứng dụng đa dạng
vì nhiễu động bên ngoài có thể gây ra những thay đổi lớn ở các tính chất vĩ mô của hệ tinh thể
lỏng. Cả điện trường và từ trường đều có thể sử dụng để cảm ứng những biến đổi này. Độ lớn
của trường, cũng như tốc độ các phân tử sắp thẳng hàng là những đặc trưng quan trọng mà
ngành công nghiệp phải xử lí. Sau hết, các phép xử lí bề mặt đặc biệt có thể sử dụng trong các
thiết bị tinh thể lỏng để bắt buộc các định hướng đặc biệt của đường chuẩn.
Ảnh hưởng của điện trường và từ trường
Phản ứng của các phân tử tinh thể lỏng với điện trường là đặc trưng chính yếu được
khai thác trong các ứng dụng công nghiệp. Khả năng của đường chuẩn sắp thẳng hàng theo
trường ngoài gây ra bởi bản chất điện của các phân tử. Các lưỡng cực điện vĩnh cửu sinh ra
khi một một đầu của phân tử có một điện tích dương tổng hợp trong khi đầu kia có điện tích
âm tổng hợp. Khi thiết đặt điện trường ngoài lên tinh thể lỏng, các phân tử lưỡng cực có xu
hướng tự định hướng chúng theo hướng của trường. Trong biểu đồ ở hình sau, các mũi tên
đen biểu diễn cho vector điện trường và mũi tên đỏ chỉ lực điện tác dụng lên phân tử.

Cho dù một phân tử không hình thành nên một lưỡng cực vĩnh cửu, thì nó vẫn có thể
bị ảnh hưởng bởi điện trường. Trong một số trường hợp, điện trường tạo ra sự sắp xếp lại một
chút của các electron và proton trong phân tử nên mang lại một lưỡng cực điện cảm ứng.
Trong khi không mạnh như các lưỡng cực vĩnh cửu, sự định hướng với trường ngoài vẫn xảy
ra.
Tác dụng của từ trường lên các phân tử tinh thể lỏng tương tự như điện trường. Vì từ
trường phát sinh bởi các hạt tích điện đang chuyển động, nên các lưỡng cực từ vĩnh cửu được
© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 23
tạo ra bởi các electron đang chuyển động xung quanh các nguyên tử. Khi thiết đặt một từ
trường, các phân tử sẽ có khuynh hướng sắp thẳng hàng hoặc đối song với từ trường.
Các phép xử lí bề mặt
Trong sự vắng mặt của trường ngoài, đường chuẩn của một tinh thể lỏng tự do hướng
theo mọi phương. Tuy nhiên, người ta có thể buộc đường chuẩn hướng theo một phương đặc
biệt bằng cách đưa một tác nhân bên ngoài lên hệ. Ví dụ, khi một lớp tráng polymer mỏng
(thường là polymide) được trải trên một chất nền thủy tinh và ma sát theo chỉ một hướng bằng
vải, thì người ta thấy các phân tử tinh thể lỏng tiếp xúc với bề mặt sắp thẳng hàng với hướng
ma sát. Cơ chế được chấp nhận hiện nay cho cách làm này được tin là do sự tăng trưởng mọc
ghép của các lớp tinh thể lỏng trên chuỗi polymer đã sắp thẳng hàng phần nào trong các lớp
bề mặt ở gần của polymide.
Chuyển tiếp Freedericksz
Cạnh tranh giữa sự định hướng tạo ra bởi việc neo bề mặt và bởi ảnh hưởng điện
trường thường được khai thác trong các thiết bị tinh thể lỏng. Xét trường hợp trong đó các
phân tử tinh thể lỏng sắp thẳng hàng song song với bề mặt và điện trường đặt vào vuông góc
với ô chất như biểu đồ hình bên dưới. Trước hết, khi điện trường tăng độ lớn, không có gì
thay đổi ở sự định hướng xảy ra hết. Tuy nhiên, ở một ngưỡng độ lớn của điện trường, biến
dạng xảy ra. Biến dạng xuất hiện trong đó đường chuẩn thay đổi sự định hướng của nó từ
phân tử này sang phân tử lân cận. Sự xuất hiện của một biến đổi như vậy từ trạng thái sắp
thẳng hàng sang trạng thái bị biến dạng được gọi là chuyển tiếp Freedericksz và còn được tạo
ra bởi việc áp dụng một từ trường đủ mạnh.

Chuyển tiếp Freedericksz là cơ sở cho sự hoạt động của nhiều màn hiển thị tinh thể
lỏng vì sự định hướng đường chuẩn (và do đó các tính chất) có thể điều khiển dễ dàng bằng
cách áp dụng một trường ngoài.
Ánh sáng và sự phân cực
Phần này giới thiệu một số khái niệm cơ bản quan trọng trong việc tìm hiểu hành trạng
quang học của tinh thể lỏng. Đây không phải là một sự trình bày đầy đủ của hiện tượng; nó
chỉ dùng trong trường hợp hành trạng quang của tinh thể lỏng.

24 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Ánh sáng và sự phân cực
Ánh sáng có thể biểu diễn là một sóng điện từ ngang cấu thành từ điện trường và từ
trường dao động, vuông góc với nhau. Phần bên trái của biểu đồ dưới đây thể hiện điện trường
trong mặt phẳng xy, từ trường trong mặt phẳng xz và phương truyền sóng theo hướng x. Nửa
hình bên phải thể hiện đường tạo bởi vector điện trường khi nó truyền đi. Thông thường, chỉ
có vector điện trường được đề cập tới vì thành phần từ trường về cơ bản giống hệt như vậy.

Điện trường biến thiên dạng sin này có thể xem là chiều dài của một sợi dây giữ bởi
hai đứa trẻ ở hai đầu. Bọn trẻ bắt đầu hất các đầu dây theo kiểu sao cho sợi dây chuyển động
trong một mặt phẳng, hoặc lên xuống, hoặc sang trái sang phải, hoặc ở một góc bất kì nào
giữa hai trường hợp.
Ánh sáng trắng bình thường cấu thành từ các sóng dao động ở mọi góc có thể có. Ánh
sáng được xem là “phân cực thẳng” khi nó gồm các sóng chỉ dao động trong một mặt phẳng
đặc biệt. Nó như thể sợi dây lách qua một hàng rào cản – sóng có thể chuyển động lên xuống,
nhưng chuyển động bị chặn lại trong những hướng khác. Bộ phân cực là một chất chỉ cho
phép ánh sáng với một góc dao động đặc biệt nào đó đi qua. Hướng của dao động đi qua được
bởi bộ phân cực được gọi là trục “dễ”.
Nếu hai bản phân cực ghép nối tiếp sao cho trục quang của chúng song song nhau, thì
ánh sáng đi qua được cả hai bản. Tuy nhiên, nếu các trục đặt chéo nhau 90 độ (trực giao), thì
ánh sáng phân cực đi qua bản thứ nhất bị chặn lại bởi bản thứ hai. Khi góc lệch quay từ 0 đến
90 độ, lượng ánh sáng truyền qua giảm đi. Hiệu ứng này được minh họa trong hình sau. Các
bản phân cực đặt song song ở hình trên và trực giao ở hình dưới.

Ánh sáng phân cực


Sự phân cực thẳng đơn thuần là một trường hợp đặc biệt của ánh sáng phân cực tròn.
Xét hai sóng ánh sáng, một phân cực trong mặt phẳng YZ và một phân cực trong mặt phẳng

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 25


XY. Nếu các sóng đạt tới các điểm cực đại và cực tiểu của chúng đồng thời (chúng cùng pha),
thì tổng vector của chúng đưa đến một sóng, phân cực thẳng ở góc 45 độ. Điều này được minh
họa trong hình bên dưới.

Tương tự, nếu hai sóng lệch pha nhau 180 độ, sóng thu được bị phân cực thẳng ở góc
45 độ theo hướng ngược lại.

Nếu hai sóng lệch pha nhau 90 độ (sóng này đạt cực trị thì sóng kia bằng không), thì
sóng thu được bị phân cực tròn. Tóm lại, vector điện trường thu được từ tổng các thành phần
quay xung quanh vector ban đầu khi sóng truyền đi. Giản đồ sau đây thể hiện tổng của các
vector điện trường đối với hai sóng như vậy.

Trường hợp tổng quát nhất là khi độ lệch pha là một góc tùy ý (không nhất thiết 90
hay 180 độ). Trường hợp này định luật phân cực elip vì vector điện trường vạch ra một hình
elip (thay vì một đường thẳng hay đường tròn như phần trước).
Sự lưỡng chiết trong tinh thể lỏng
Phần trước đã giới thiệu các khái niệm ánh sáng phân cực và bản phân cực. Phần này
sẽ trình bày những ý tưởng này quan trọng như thế nào đối với tinh thể lỏng.
Tinh thể lỏng được tìm thấy có tính lưỡng chiết, do bản chất dị hướng của chúng.
Nghĩa là, chúng biểu hiện sự khúc xạ kép (có hai chiết suất). Ánh sáng phân cực song song
với đường chuẩn có một chiết suất khác (còn nói là nó truyền đi ở tốc độ khác) với ánh sáng
phân cực vuông góc với đường chuẩn. Trong hình dưới đây, các đường màu xanh thể hiện
trường đường chuẩn và các mũi tên thể hiện vector phân cực.

26 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Như vậy, khi ánh sáng đi vào một chất lưỡng chiết, như mẫu tinh thể lỏng nematic,
quá trình được hình dung là ánh sáng bị tách thành các thành phần nhanh (gọi là tia thường)
và chậm (gọi là tia dị thường). Do hai thành phần truyền đi ở vận tốc khác nhau, nên các sóng
lệch pha nhau. Khi các tia kết hợp trở lại lúc chúng đi ra khỏi chất lưỡng chiết, trạng thái phân
cực đã thay đổi do độ lệch pha này.

Ánh sáng truyền qua một môi trường lưỡng chiết sẽ nhận
một trong hai đường đi tùy thuộc vào sự phân cực của nó.

Sự lưỡng chiết của một chất được đặc trưng bởi độ chênh lệch, n, chiết suất đối với
tia thường và tia dị thường. Định lượng hơn một chút, vì chiết suất của một chất được định
nghĩa là tỉ số của tốc độ ánh sáng trong chân không với tốc độ ánh sáng trong chất đó, chúng
ta có trong trường hợp này, ne = c/V| | và no = c/Vcho vận tốc của một sóng truyền đi vuông
góc với đường chuẩn và bị phân cực song song và vuông góc với đường chuẩn, nên giá trị cực
đại cho độ lưỡng chiết, n = ne – no. Chúng ta không xét ở đây trường hợp tổng quát của một
sóng truyền đi theo một hướng tùy ý tương đối so với đường chuẩn trong một mẫu tinh thể
lỏng, trừ phải lưu ý rằng n biến thiên từ 0 đến giá trị cực đại, tùy thuộc vào hướng truyền.
Điều kiện ne > no mô tả một chất liệu một trục dương, cho nên tinh thể lỏng nematic thuộc loại
này. Đối với các tinh thể lỏng nematic điển hình, no xấp xỉ 1,5 và độ lệch chiết suất cực đại,
n, có thể biến thiên trong ngưỡng 0,05 đến 0,5.
Chiều dài của mẫu chất cũng là một thông số quan trọng khác vì độ lệch pha tích góp
càng lớn khi ánh sáng truyền càng xa trong chất lưỡng chiết. Có thể tạo ra bất kì trạng thái
phân cực nào với sự kết hợp thích hợp của các thông số lưỡng chiết và chiều dài này.
Thật tiện lợi ở đây là đưa ra khái niệm quang trình trong môi trường vì đối với hai
thành phần sóng ở trên truyền đi với tốc độ khác nhau trong một chất lưỡng chiết, nên hiệu
quang trình sẽ đưa đến sự thay đổi trạng thái phân cực của sóng khi nó tiến triển trong môi
trường. Chúng ta định nghĩa quang trình cho một sóng truyền đi một khoảng cách L trong một

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 27


tinh thể là nL, nên hiệu quang trình đối với hai thành phần sóng đề cập ở trên sẽ là L (ne – no)
= Ln. Độ lệch pha thu được giữa hai thành phần (lượng mà thành phần chậm, dị thường trễ
hơn thành phần nhanh, bình thường) đúng bằng 2 Ln/v, trong đó v là bước sóng đó trong
chân không.
Ứng dụng để nghiên cứu ánh sáng phân cực của tinh thể lỏng
Xét trường hợp trong đó một mẫu chất tinh thể lỏng đặt giữa hai bản phân cực trực
giao có trục truyền sắp lệch góc giữa hướng nhanh và chậm của chất. Do bản chất lưỡng chiết
của mẫu vật, nên ánh sáng phân cực thẳng đi vào trở thành phân cực elip. Khi tia này đi tới
bản phân cực thứ hai, lúc này có một thành phần có thể đi qua, và vùng đó trở nên sáng. Đối
với ánh sáng đơn sắc (đơn tần số), độ lớn của độ lệch pha được xác định bởi chiều dài và độ
lưỡng chiết của chất. Nếu mẫu vật rất mỏng, thì các thành phần thường và dị thường không
lệch pha nhau nhiều lắm. Tương tự, nếu mẫu vật dày, thì độ lệch pha có thể lớn. Nếu độ lệch
pha bằng 360 độ, thì sóng trở lại trạng thái phân cực ban đầu của nso và bị bản phân cực thứ
hai chặn lại. Cỡ của độ lệch pha xác định cường độ của ánh sáng truyền qua.
Nếu trục truyền của bản phân cực thứ nhất song song với hoặc hướng thường hoặc
hướng dị thường, thì ánh sáng không bị tách thành các thành phần, và không có sự thay đổi về
trạng thái phân cực xảy ra hết. Trong trường hợp này, không có một thành phần truyền qua và
vùng đó trở nên tối.
Trong một tinh thể lỏng tiêu biểu, độ lưỡng chiết và chiều dài không phải không đổi
trong toàn bộ mẫu chất. Điều này nghĩa là một số vùng biểu hiện sáng và một số vùng khác
biểu hiện tối, như thể hiện trong ảnh chụp qua kính hiển vi điện tử sau đây cảu một tinh thể
lỏng nematic, đặt giữa các bản phân cực trực giao. Các vùng sáng và tối là các vùng biểu hiện
của sự định hướng đường chuẩn, độ lưỡng chiết, và chiều dài, khác nhau.

Kiểu Schlieren, như tên người ta gọi sự sắp xếp đặc biệt này, là đặc trưng của pha
nematic. Các vùng tối thể hiện sự sắp thẳng hàng song song hoặc vuông góc với đường chuẩn
gọi là chổi quét. Phần tiếp theo sẽ mô ta các kiểu tinh thể lỏng một cách chi tiết hơn, nhưng
trước khi tìm hiểu hãy xem sự lượng chiết có thể đưa đến các ảnh đa màu như thế nào trong
việc kiểm tra tinh thể lỏng dưới ánh sáng trắng phân cực.
Nghiên cứu màu sắc phát sinh từ ánh sáng phân cực
Cho đến đây, chúng ta chỉ mới làm việc với ánh sáng đơn sắc khi xem xét các tính chất
quang học của các chất. Trong việc tìm hiểu nguồn gốc của màu sắc quan sát thấy trong các
nghiên cứu tinh thể lỏng đặt giữa các bản phân cực thẳng trực giao, thật có ích là hãy quay trở
lại ví dụ các bản làm chậm pha đã trình bày trong phần lưỡng chiết. Chúng được thiết kế cho
một bước sóng đặc biệt và do đó sẽ tạo ra các kết quả mong muốn trong một dải tương đối
hẹp của các bước sóng xung quanh giá trị đặc biệt đó. Nếu, thí dụ, nếu một bản toàn-sóng

28 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
được thiết kế cho bước sóng được đặt giữa các bản phân cực trực giao ở sự định hướng có
phần tùy ý và kết hợp đó được rọi bởi ánh sáng trắng, thì bước sóng  sẽ không bị ảnh hưởng
bởi bộ hãm pha và vì vậy sẽ bị dập tắt (bị hấp thụ) bởi bản phân tích. Tuy nhiên, toàn bộ
những bước sóng khác sẽ chịu một phần trễ pha và ló ra khỏi bản toàn-sóng trong các trạng
thái phân cực đa dạng. Các thành phần của ánh sáng này đi qua bản phân tích sau đó sẽ hình
thành nên màu sắc bù cho .
Các mẫu màu sắc quan sát thấy trong kính hiển vi phân cực, cùng với sự dập tắt với
hiện tượng lưỡng chiết rất có ích trong nghiên cứu tinh thể lỏng trong nhiều tình huống, trong
đó có việc nhận dạng các kết cấu, các pha tinh thể lỏng và quan sát sự biến đổi pha.
Sự phụ thuộc nhiệt độ của lưỡng chiết
Nhắc lại rằng sự lưỡng chiết của một chất là do tính dị hướng của nó và tính dị hướng
của các tinh thể lỏng thể hiện một sự phụ thuộc nhiệt độ mạnh mẽ, biến mất ở sự chuyển tiếp
pha nematic sang đẳng hướng. Vì thế, sự lưỡng chiết biểu hiện một sự phụ thuộc nhiệt độ
đáng kể.
Các kết cấu và khiếm khuyết
Các tính chất quang độc đáo của tinh thể lỏng cho phép được sử dụng trong nhiều ứng
dụng đa dạng. Phần này giải thích những đặc điểm này phát sinh như thế nào.
Kết cấu tinh thể lỏng
Thuật ngữ kết cấu gợi đến sự định hướng của các phân tử tinh thể lỏng trong vùng phụ
cận của bề mặt. Mỗi meso pha tinh thể lỏng có thể hình thành kết cấu đặc trưng riêng của nó,
chúng có ích trong việc nhận dạng. Ở đây, chúng ta xét các kết cấu nematic.
Nếu các chất mesogenic bị giới hạn giữa các bản đặt sát nhau với bề mặt cọ xát (như
đã mô tả ở trên) và định hướng theo hướng song song hướng cọ xát, thì toàn bộ mẫu tinh thể
lỏng có thể định hướng trong một kết cấu phẳng, như thể hiện trong hình bên dưới. Các
mesogen cũng có thể định hướng theo phương pháp tuyến với bề mặt với việc sử dụng các
màng polymer thích hợp, hoặc trong sự có mặt của điện trường đặt vuông góc với bề mặt, gây
ra kết cấu kiểu hàng rào đứng, như minh dưới đây.

Các khiếm khuyết nhìn dưới kính hiển vi


Các biến đổi đột ngột về độ sáng nhìn thấy trong các hình ở phần trước về sự lưỡng
chiết ra hiệu một sự biến đổi nhanh chóng sự định hướng đường chuẩn trong vùng phụ cận
của một đường thẳng hay điểm kì dị gọi là vùng chuyển đổi. Vùng chuyển đổi là một vùng

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 29


trong đó đường chuẩn không xác định rõ ràng. Sau đây là một biểu đồ thể hiện sự định hướng
của đường chuẩn xung quanh một vùng chuyển đổi.

Các khiếm khuyết dạng hình nón hội tụ tiêu là nguyên nhân cho nhiều cấu trúc trong
các tinh thể lỏng smectic. Sau đây là một ảnh chụp hiển vi TEM của một hình nón tụ tiêu.

Tính chất hóa học của tinh thể lỏng


Các tinh thể lỏng có thể phân loại thành hai nhóm chính: tinh thể lỏng hướng nhiệt, và
tinh thể lỏng lyotropic. Hai loại tinh thể lỏng khác nhau bởi cơ chế điều khiển sự tự tổ chức
của chúng, nhưng chúng cũng giống nhau ở nhiều phương diện.
Các biến đổi hướng nhiệt xảy ra trong đa số tinh thể lỏng, và chúng được định nghĩa
bởi thực tế là các chuyển tiếp sang trạng thái kết tinh lỏng do nhiệt cảm ứng. Nghĩa là, người
ta có thể thu được trạng thái kết tinh lỏng bằng cách tăng nhiệt độ của chất rắn và/hoặc hạ
nhiệt độ của chất lỏng. Các tinh thể lỏng hướng nhiệt có thể chia thành hai loại: tinh thể lỏng
hỗ biến, chỉ có thể chuyển sang trạng thái tinh thể lỏng từ sự hạ nhiệt độ của chất lỏng hoặc
tăng nhiệt độ của chất rắn, và tinh thể lỏng đơn nhiệt, chỉ có thể chuyển sang trạng thái tinh
thể lỏng hoặc từ sự tăng nhiệt độ của chất rắn hoặc từ sự hạ nhiệt độ của chất lỏng, chứ không
phải cả hai. Nói chung, các meso pha hướng nhiệt xuất hiện do các lực phân tán dị hướng giữa
các phân tử và do các tương tác đóng gói.
Trái với các meso pha hướng nhiệt, các chuyển tiếp tinh thể lỏng lyotropic xuất hiện
với sự tác động của các dung môi, chứ không bởi sự thay đổi nhiệt độ. Các meso pha lyotropic
xuất hiện là kết quả của sự kết tủa do dung môi cảm ứng của các mesogen thành phần thành
những cấu trúc micel. Các mesogen lyotropic thường là amphiphilic, nghĩa là chúng gồm cả
thành phần lyophilic (dung môi hút) và lyophobic (dung môi đẩy). Đặc điểm này làm cho
30 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
chúng hình thành nên các cấu trúc micel trong sự có mặt của dung môi, vì các đầu lyopholic
sẽ vẫn ở lại với nhau khi các đầu lyophilic mở rộng ra ngoài về phía dung dịch. Khi nồng độ
dung dịch tăng lên và dung dịch lạnh đi, thì các micel tăng thêm kích thước và cuối cùng thì
hợp thành một khối. Sự kết tập này phân tách trạng thái kết tinh lỏng mới hình thành ra khỏi
dung môi.
Một số lượng rất lớn các hợp chất hóa học được biết biểu hiện một hoặc một vài pha
kết tinh lỏng. Cho dù khác biệt đáng kể về thành phần hóa học, nhưng những phân tử này có
một số đặc điểm chung về tính chất hóa học và tính chất vật lí. Có hai loại tinh thể lỏng hướng
nhiệt: các phân tử dạng đĩa discotic và các phân tử dạng que. Discotic là các phân tử dạng đĩa
phẳng gồm một lõi là các vòng thơm liền kề. Cấu trúc này cho phép sự trật tự cột hai chiều.
Các phân tử dạng que có dạng hình học thuôn dài, bất đối xứng cho phép sắp thẳng hàng ưu
tiên theo một hướng không gian.
Tinh thể lỏng kiểu que khối lượng phân tử gam thấp (LMM), ví dụ như 5CB, được cho
trong hình sau:

yêu cầu hình thể thuôn dài của phân tử phải được duy trì qua sự cứng rắn và tính thẳng của
các thành phần của nó. Tức là, để cho một phân tử biểu hiện các đặc trưng của một tinh thể
lỏng, nó phải cứng và có dạng que. Yêu cầu này được thỏa mãn bởi sự đi liền nhau của hai
đơn vị vòng rắn. Nhóm liền nhau đó sẽ làm cho hợp chất thu được có một hình thể phẳng
tuyến tính. Các đơn vị liên kết chứa các liên kết bội như -(CH=N)-, -N=N-, -(CH=CH)n-, -
CH=N-N=CH-,… được sử dụng vì chúng cấm sự tự do quay. Các nhóm này có thể liên hợp
với các vòng phenyl, làm tăng khả năng phân cực dị hướng. Điều này làm tăng chiều dài phân
tử và duy trì tính rắn chắc.
Ứng dụng của tinh thể lỏng
Công nghệ tinh thể lỏng có tác động quan trọng lên nhiều lĩnh vực khoa học và kĩ
thuật, cũng như công nghệ thiết bị. Các ứng dụng cho loại vật chất đặc biệt này vẫn đang được
khám phá và tiếp tục mang lại những giải pháp hiệu quả cho nhiều bài toán khác nhau.
Màn hiển thị tinh thể lỏng
Ứng dụng thông dụng nhất của công nghệ tinh thể lỏng là màn hiển thị tinh thể lỏng
(LCD). Lĩnh vực này đã tăng trưởng thành một ngành công nghiệp nhiều tỉ đô la, và nhiều
khám phá khoa học và kĩ thuật quan trọng đã được thực hiện.
Nhiệt kế tinh thể lỏng
Như đã trình bày trước đây, tinh thể lỏng nematic (cholesteric) thuận một bên làm
phản xạ ánh sáng có bước sóng bằng với bước xoắn. Do bước xoắn phụ thuộc vào nhiệt độ,
cho nên màu sắc phản xạ cũng phụ thuộc vào nhiệt độ. Tinh thể lỏng cho phép người ta có thể
đo chính xác nhiệt độ chỉ bằng việc nhìn vào màu sắc của nhiệt kế. Bằng cách pha trộn các
hợp chất khác nhau, người ta có thể chế tạo ra một thiết bị thực tiến cho bất kì ngưỡng nhiệt
độ nào.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 31


“Vòng mood”, một vật mới lạ nổi tiếng cách đây vài năm, khai thác ưu điểm của khả
năng độc đáo của tinh thể lỏng nematic thuận một bên. Các ứng dụng và thực tế hơn đã được
phát triển trong các lĩnh vực đa dạng như y khoa và điện tử học. Các thiết bị tinh thể lỏng đặc
biệt có thể gắn vào da để thể hiện một “bản đồ” nhiệt độ. Việc này có ích vì thường thì các rắc
rối sinh lí, như ung bướu, có nhiệt độ khác với các mô xung quanh. Các bộ cảm biến tinh thể
lỏng còn có thể được sử dụng để tìm các mối nối xấu trên một bản mạch điện bằng cách dò
tìm nhiệt độ cao hơn đặc trưng đó.
Chụp ảnh quang học
Một ứng dụng của tinh thể lỏng chỉ mới được khảo sát là chụp ảnh ghi ảnh quang học.
Trong công nghệ này, một tế bào tinh thể lỏng được đặt giữa hai lớp chất dẫn quang. Ánh
sáng được đưa vào chất dẫn quang, làm tăng độ dẫn của chất. Việc này gây ra một điện trường
phát triển trong tinh thể lỏng tương ứng với cường độ ánh sáng. Kiểu hình điện có thể truyền
bởi một điện cực, cho phép người ta ghi được ảnh. Công nghệ này vẫn đang ttrong giai đoạn
phát triển và là một trong những lĩnh vực triển vọng nhất của nghiên cứu tinh thể lỏng.
Các ứng dụng khác
Tinh thể lỏng còn có vô số công dụng khác. Chúng được sử dụng cho việc kiểm tra cơ
học không gây hỏng của các chất chịu lực căng. Kĩ thuật này cũng được sử dụng cho sự hình
dung các sóng vô tuyến (RF) trong các bộ dẫn sóng. Chúng được sử dụng trong các ứng dụng
y khoa, ví dụ như đo áp suất tức thời được truyền bởi một chân đi bộ trên đất. Các tinh thể
lỏng khối lượng phân tử gam thấp (LMM) có ứng dụng trong các đĩa quang có thể xóa được,
“bản vẽ điện tử” đầy đủ màu sắc cho việc vẽ với sự hỗ trợ của máy tính (CAD), và các bộ
điều biến ánh sáng cho việc ghi ảnh điện tử màu.
Như các tính chất mới và các loại tinh thể lỏng mới được nghiên cứu và khảo sát, thì
các chất này chắc chắn còn thu được tầm quan trọng hơn nữa trong các ứng dụng công nghiệp
và khoa học.

32 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Vật chất mềm
Bài thuyết trình Nobel, 09/12/1991
Pierre Gilles de Gennes
(College de France, Paris, Pháp)
Chúng ta muốn nói gì với cái tên vật chất mềm ? Người Mĩ thích gọi nó là “chất lỏng
phức tạp”. Đây là một tên gọi hơi khó nghe, vì nó có xu hướng làm nản lòng các chàng sinh
viên trẻ tuổi. Nhưng nó thật sự mang lại hai đặc điểm chính yếu sau đây:
1. Tính phức tạp. Chúng ta có thể, theo một ý nghĩa thô nhất định, nói rằng ngành sinh
học hiện đại đã được gieo mầm từ các nghiên cứu về những hệ mô hình đơn giản (các vi
khuẩn) cho đến các cơ thể đa bào phức tạp (cây xanh, động vật không xương sống, động vật
có xương sống…). Tương tự như vậy, từ sự bùng nổ của ngành vật lí nguyên tử vào nửa đầu
của thế kỉ này, một trong các sản phẩm thu được đó là vật chất mềm, dựa trên polymer, chất
hoạt tính bề mặt, tinh thể lỏng, và các hạt chất keo nữa.
2. Tính dẻo. Tôi thích giải thích tính chất này qua một thí nghiệm polymer sơ khai,
thực hiện bởi những người Indian ở vùng bồn địa Amazon: họ thu lấy chất nhựa từ cây cao su,
đặt nó lên chân họ, để nó “khô” đi trong một thời gian ngắn. Và vậy là họ có một cái giày ống.
Từ cái nhìn vi mô, điểm xuất phát là tập hợp các chuỗi polymer dẻo, độc lập nhau. Oxygen từ
không khí hình thành nên một vài chiếc cầu nối giữa các chuỗi, và điều này mang lại một sự
thay đổi ngoạn mục: chúng ta đã chuyển từ một chất lỏng sang một cấu trúc mạng có thể
chống lại sức căng – cái ngày nay chúng ta gọi là cao su (tiếng Pháp: caoutchouc, sao lại trực
tiếp tiếng Indian). Cái gây ấn tượng trong thí nghiệm này là thực tế thì một hoạt động hóa học
rất nhẹ nhàng đã gây ra một sự thay đổi ngoạn mục các tính chất cơ học: một đặc điểm tiêu
biểu của vật chất mềm.
Tất nhiên, với một số hệ polymer khác, chúng ta có xu hướng chế tạo những cấu trúc
rắn chắc hơn. Một thí dụ quan trọng là enzyme. Đây là một chuỗi dài các aminoacid gập lại
thành một viên nhỏ. Một vài trong số các aminoacid này giữ vai trò quan trọng: chúng hình
thành nên “vị trí hoạt tính” được xây dựng để thực hiện một dạng xúc tác (hoặc nhận dạng)
đặc biệt. Một câu hỏi hấp dẫn, đặt ra cách nay đã lâu bởi Jacques Monod, như sau: chúng ta có
một sự chọn lựa trong số 20 aminoacid tại mỗi điểm trong chuỗi, và chúng ta muốn xây dựng
một vị trí cảm nhận trong đó các đơn vị hoạt tính được đặt trong không gian theo kiểu có phần
nghiêm ngặt. Chúng ta không thể đưa vào những đơn vị hoạt tính này, vì nếu liên kết trực tiếp,
chúng sẽ không thu được sự định hướng và vị trí thích hợp. Cho nên, ở khoảng giữa hai đơn vị
hoạt tính, chúng ta cần một “khoảng trống”, một chuỗi aminoacid có đủ tính linh hoạt để cho
phép định vị tương đối tốt các vị trí hoạt tính ở cả hai đầu của khoảng trống. Câu hỏi của
Monod là: chiều dài tối thiểu của khoảng trống đó bằng bao nhiêu ?

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 33


Hóa ra câu trả lời khá rõ ràng (1). Con số thần kì đó vào khoảng 13-14. Dưới 14 đơn
vị, bạn sẽ không thành công lắm trong việc thu được sự biến dạng như mong muốn. Trên 14
đơn vị bạn sẽ có nhiều chuỗi có thể tạo ra nó. Lập luận thật thô sơ; nó đưa vào các ảnh hưởng
dung tích loại trừ, nhưng nó không thừa nhận một yêu cầu khác đối với một enzyme bền – đó
là phần bên trong phải được chế tạo tốt nhất là với các đơn vị háo nước, trong khi bề mặt bên
ngoài phải kị nước. Dự đoán của tôi là điều này không thể làm thay đổi con số thần kì lên
nhiều hơn một đơn vị. Thật vậy, khi chúng ta xét kích thước khoảng trống trong một protein
dạng cầu đơn giản như myosin, chúng ta thấy chúng không nằm xa con số thần kì đó.
Giờ hãy để tôi trở lại với các polymer dẻo trong dung dịch, và phác họa một số tính
chất cơ học kì lạ của chúng. Một ví dụ đẹp là thí nghiệm bốn con lăn do Andrew Keller và các
cộng sự của ông thiết lập (2). Ở đây, một dung dịch loãng của các cuộn là đối tượng cho
chuyển động trượt thuần túy theo chiều dọc. Nếu quỹ đạo ra được chọn tốt (trong mặt phẳng
đối xứng của kênh ra), thì các phân tử bị kéo căng trong những khoảng thời gian dài. Cái được
. o
tìm thấy, là nếu tốc độ trượt  c vượt quá một giá trị ngưỡng  c nhất định, thì một sự chuyển
tiếp đột ngột xảy ra. Đây là cái tôi gọi là “chuyển tiếp căng-cuộn” (3). Khi dịch chuyển bắt
đầu mở cuộn, nó mang lại nhiều rãnh hơn để chảy, và mở ra còn nhiều hơn nữa… đưa đến
một sự chuyển tiếp rõ nét. Ở đây, chúng ta thấy một khía cạnh hấp dẫn khác của vật chất mềm
– sự kết hợp bất ngờ giữa cơ học và hình thể. Thật vậy, Keller đã chỉ ra điều đó khá sớm (ở
. o
tốc độ trượt  c   c , chuỗi bị vỡ), và chúng thực hiện như vậy rất gần với điểm giữa của
chúng – một kết quả ngoạn mục.
Giờ tôi xin chuyển sang các chất hoạt tính bề mặt, các phân tử có hai phần: một đầu
cực ưa nước, và một phần đuôi mập béo không ưa nước. Benjamin Franklin đã tiến hành một
thí nghiệm đẹp sử dụng các chất hoạt tính bề mặt; trên một cái hồ ở Clapham Common, ông
đã đổ xuống một lượng nhỏ acid oleic, một chất hoạt tính bề mặt tự nhiên có xu hướng hình
thành nên một màng đậm đặc chỗ tiếp giáp nước-không khí. Ông đã đo dung tích cần thiết để
phủ toàn bộ hồ nước. Biết được diện tích, khi đó ông biết được chiều cao của màng, đại khái
cỡ ba nano mét trong các đơn vị hiện nay của chúng ta. Đây là cái tôi biết về phép đo đầu tiên
kích thước của các phân tử. Trong thời đại của chúng ta, khi chúng ta đã có trong tay những
món đồ chơi cực kì phức tạp, ví dụ như lò phản ứng hạt nhân hay các nguồn synchrotron, tôi
đặc biệt thích mô tả các thí nghiệm thuộc phong cách Franklin này với học trò của mình.
Các chất hoạt tính bề mặt cho phép chúng ta bảo vệ mặt nước, và tạo ra các bọt bong
bóng xà phòng xinh đẹp này, thứ làm hớp hồn bọn trẻ của chúng ta. Đa số kiến thức của
chúng ta về các bọt xà phòng này có được là nhờ một đội nghiên cứu xuất sắc, Mysels,
Shinoda và Frankel, họ đã viết một cuốn sách về chủ đề này (6). Thật không may, cuốn sách
nảy rất khó tìm, và tôi rất hi vọng nó sẽ được tái bản.
Cách nay đã lâu, Françoise Brochard, Jean-François Lennon và tôi (7) trở nên bị lôi
cuốn vào một số hệ hai lớp, trong đó chúng tôi có mảng chất hoạt tính bề mặt, mỗi mảng
hướng về phía nước lân cận. Một hệ có liên quan (mặc dù phức tạp hơn) thuộc loại này là tế
34 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
bào hồng cầu. Trong nhiều năm, người ta đã biết rằng, khi quan sát dưới sự tương phản pha,
các tế bào này lung linh sáng. Đôi khi, người ta tin rằng sự lung linh này phản ánh tính không
ổn định của một hệ sống dưới các điều kiện không cân bằng. Cuối cùng, vấn đề đơn giản hơn.
Tính chất cơ bản của các hệ hai lớp không hòa tan là chúng tối ưu hóa diện tích của chúng ở
con số hoạt tính bề mặt ổn định. Như vậy, năng lượng là không đổi so với diện tích: sức căng
bề mặt biến mất. Điều này có nghĩa là các thăng giáng về hình dạng của các tế bào xẹp hơi,
hay các “túi bọng” này là lớn: sự lung linh chỉ là một thí dụ của chuyển động Brown trong
một vật rất dẻo. Cái Jean-François đã làm là đo các mối tương quan không thời gian đối với
sự lung linh. Françoise sau đó chứng minh được rằng chúng có thể hiểu được từ một mô hình
không có sức căng bề mặt, mà chỉ có các năng lượng uốn cong cùng với lực nhớt – một ví dụ
hay khác của vật chất mềm.
Thật ra, đây là một trong những điểm xuất phát cho nhiều nghiên cứu về các lưỡng lớp
hoạt tính bề mặt, đi tiên phong là W. Helfrich và, trên một phương diện chính quy hơn, về các
bề mặt ngẫu nhiên, đặc biệt với D. Nelson. Một trong những thành công to lớn trong lĩnh vực
này là phát minh ra “pha xốp” của vi nhũ tương (8, 9). Nhưng, nói rộng hơn, thật là buồn cười
khi học được từ những người này rằng có một số sự chồng chéo giữa các lí thuyết dây nhợ tri
thức và các mô tả của bọt xà phòng!
Giờ tôi xin chuyển sang một góc khác trong khu vườn của chúng ta – các tinh thể lỏng.
Ở đây, trước tiên tôi phải tỏ sự tôn kính đối với hai nhà tiên phong vĩ đại:
1) Georges Friedel, người đầu tiên hiểu được chính xác tinh thể lỏng là cái gì, và
chúng có những loại chủ yếu nào;
2) Charles Frank, người (sau nghiên cứu có phần sơ khai của Oseen) đã xây dựng lí
thuyết đàn hồi của nematic, và đồng thời mô tả một số khiếm khuyết tôpô học của chúng.
Ở đây, tôi sẽ nói về pha smectic. Quan sát thấy những khiếm khuyết nhất định (“các
conic tụ tiêu”) trong smectic, Friedel đã có thể chứng tỏ được rằng cấu trúc của chúng phải
một tập hợp các lớp lỏng, có thể biến dạng, cách đều nhau (10). Bằng các quan sát ở cấp độ
một trăm micron, từ đó ông đã có thể suy luận ra cấu trúc chính xác ở thang chục Å – một
thành tựu bất ngờ.
Smectic tự nhiên nhắc tôi nhớ đến một đặc điểm quan trọng khác của các chất lỏng
phức tạp – đó là, trong thời đại của chúng ta, thỉnh thoảng người ta có thể chế tạo ra những
dạng thức mới của vật chất. Pha xốp trích dẫn ở trên là một thí dụ. Một trường hợp hấp dẫn
khác nữa là phát minh ra smectic chứa sắt bởi R.B. Meyer, ở Orsay, khoảng năm 1975. Ông
đã nghĩ tới một cấu hình phân tử nhất định, với các phân tử thuận một bên, chúng sẽ tự động
làm phát sinh một pha (“pha C*”) mang một lưỡng cực điện khác không. Trong vòng vài
tháng, các nhà hóa học xứ sở chúng tôi đã tạo ra được phân tử thích hợp, chất lỏng chứa sắt
đầu tiên ra đời! (11) Trong thời đại của chúng ta, các chất này trở nên rất quan trọng trong
nhiều mục đích hiển thị, chúng hoạt động nhanh hơn 103 lần so với nematic trong các đồng hồ
đeo tay của chúng ta.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 35


Một trường hợp khác có tầm quan trọng kém hơn, nhưng lí thú, là “smectic
chứa sắt”, do M. Veyssié và P. Fabre chế tạo. Điểm xuất phát là một thứ nước gốc chất lỏng
chứa sắt; một thể huyền phù của các hạt từ tính rất mịn. (Các chất lỏng chứa sắt được R.
Rosensweig phát minh cách nay đã lâu, và có nhiều tính chất lí thú). Ở đây, cái đã làm, là chế
tạo một “cái sandwich” lưỡng lớp | chất lỏng chứa sắt | lưỡng lớp... Một hệ kiểu như thế này,
 
đặt trong một từ trường H , cảm thấy dễ chịu hơn khi H song song với các lớp. Khi đó, thật
hấp dẫn là quan sát cái sandwich, với một kính hiển vi phân cực, trong tình huống khó chịu

trong đó H vuông góc với các lớp. Ở giá trị H rất nhỏ, người ta chẳng trông thấy gì. Nhưng
nằm ngoài một ngưỡng giá trị HC yếu nhất định, hình ảnh trông thấy giống như những bông
hoa mọc trên đồng (12). Chúng ta hiểu đây là một quá trình hai bước: a) ngay trên giá trị
ngưỡng có một tính không ổn định gợn sóng hóa học; b) sau đó, các đường conic tụ tiêu xuất
hiện, với kích thước cơ bản áp đặt bởi sự gợn sóng ban đầu, nhưng đồng thời với các đường
conic nhỏ hơn (cần để lấp đầy không gian một cách phù hợp). “Cái sandwich” này cuối cùng
đang dò ra các từ trường hơi yếu (cỡ 30 gauss).
Giờ tôi xin trích dẫn một sản phẩm mới nữa: các hạt Janus, chế tạo đầu tiên bởi C.
Casagrande và M. Veyssié. Thần Janus có hai mặt. Các hạt Janus có hai mặt: một mặt không
cực và một mặt có cực. Như vậy, chúng có những đặc điểm nhất định phù hợp với các chất
hoạt tính bề mặt. Nhưng có một sự khác biệt lí thú nếu chúng ta xem các màng mỏng mà họ
chế tạo, chẳng hạn tại mặt ranh giới nước | không khí. Một màng đậm đặc của một chất hoạt
tính bề mặt thông thường không thấm nước. Mặt khác, một màng đậm đặc của hạt Janus luôn
có một số kẽ hở giữa các hạt, và cho phép sự trao đổi hóa học giữa hai mặt; “cái da có thể
thở”. Hiện tượng này có thể có một số hấp dẫn thực tiễn.
Kĩ thuật đầu tiên được sử dụng để chế tạo hạt Janus dựa trên các hạt hình cầu, một nửa
nhúng trong plastic (13). Việc này tạo ra chỉ những lượng vi mô của vật chất. Nhưng một
nhóm tại trung tâm nghiên cứu Gold- Schmidt (l4) đã phát minh ra một lộ trình khéo léo hơn.
Điểm xuất phát là một tập hợp các hạt thủy tinh rỗng có sẵn trên thị trường thương mại. Sau
đó bề mặt bên ngoài được làm cho kị nước, và sau cùng các hạt được người ta ép lại. Các viên
thu được có một phía thấm nước và một phía kị nước. Chúng không theo quy tắc, nhưng
chúng có thể được sản xuất hàng tấn.
Giờ tôi muốn bỏ ra ít phút nghĩ về phong cách nghiên cứu vật chất mềm. Một đặc
điểm chính, hàng đầu, là triển vọng của những thí nghiệm rất đơn giản – theo tinh thần
Benjamin Franklin. Tôi xin đưa ra hai thí dụ. Thí dụ thứ nhất về sự ẩm ướt của sợi. Thường
thì tơ sợi, sau khi dìm trong chất lỏng, xuất hiện một dây giọt chất lỏng, và do đó, thỉnh
thoảng, người ta nghĩ rằng đa số các sợi không bị hút ẩm. F. Brochard đã phân tích lí thuyết
sự cân bằng trên các mặt cong, và đề xuất rằng trong nhiều trường hợp, chúng ta phải có một
màng ẩm trên tơ sợi, ở giữa các giọt chất lỏng. J.M. di Meglio và D. Queré đã chứng minh sự
tồn tại, và chiều dày, của màng mỏng đó, theo một cách rất tao nhã (15). Họ tạo ra một cặp
giọt chất lỏng liền kề nhau, một giọt nhỏ và một giọt lớn, và chứng tỏ được rằng giọt nhỏ từ từ
chảy vào trong giọt lớn (vì sự mao dẫn muốn nó làm như vậy). Đo tốc độ của quá trình, họ có

36 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
thể suy ngược lại chiều dày của màng nằm trên sợi và nối kết với hai giọt chất lỏng: tốc độ
chảy Poiseuille trong màng rất nhạy với chiều dày màng.
Một thí nghiệm tao nhã khác về sự thấm ẫm là các mode tập thể của một đường tiếp
xúc; rìa của một giọt chất lỏng nằm trên một chất rắn. Nếu người ta làm biến dạng đường tiếp
xúc đó bằng một số phương tiện bên ngoài, thì nó quay trở lại hình dạng cân bằng của nó với
tốc độ co giãn phụ thuộc vào bước sóng của biến dạng, cái chúng ta muốn nghiên cứu. Nhưng
làm thế nào chúng ta có thể làm biến dạng đường tiếp xúc đó ? Tôi đã nghĩ ra một thủ thuật
rất phức tạp, sử dụng điện trường từ một cái lược kim loại bay hơi, hay những thủ tục khác,
thậm chí còn tệ hơn. Nhưng Thierry Ondarcuhu đã đi tới một phương pháp thật đơn giản.
1) Đầu tiên, ông tạo ra một đường tiếp xúc ổn định L bằng cách đặt một giọt chất lỏng
lớn lên trên chất rắn.
2) Sau đó ông dìm một sợi tơ vào trong chất lỏng đó, lấy nó ra và thu được, từ tính
không ổn định Rayleigh, một dây giọt chất lỏng rất tuần hoàn.
3) Ông đặt sợi tơ lên chất rắn, song song với L, và tạo ra một đường giọt chất lỏng trên
chất rắn.
4) Ông đẩy đường L (bằng cách nghiêng chất rắn) lên cho L chạm vào các giọt chất
lỏng; khi đó sự hợp nhất xảy ra, và ông có một đường gợn sóng trên đó ông có thể đo tốc độ
co giãn (16).
Tôi vừa nhấn mạnh các thí nghiệm hơn là lí thuyết. Tất nhiên, chúng ta cần đến một số
lí thuyết khi nghĩ tới vật chất mềm. Và thật ra thỉnh thoảng một số sự tương tự lí thuyết thú vị
thể hiện giữa vật chất mềm và các lĩnh vực khác. Một thí dụ quan trọng do S.F. Edwards
mang lại (17). Edwards đã chỉ ra một sự tương ứng đẹp đẽ giữa các hình thể của một chuỗi
dẻo và quỹ đạo của các hạt phi tương đối tính; trọng lượng thống kê của chuỗi ứng với vật
truyền của hạt. Trong sự có mặt của các thế bên ngoài, cả hai hệ cùng bị chi phối bởi phương
trình Schrödinger! Quan sát này là chìa khóa cho tất cả những phát triển sau này trong khoa
học thống kê polymer.
Một sự tương tự thú vị khác liên quan đến smectic A là các chất siêu dẫn. Nó được
phát hiện ra đồng thời bởi W. McMillan (một nhà khoa học lớn, tất cả chúng ta đều nhớ) và
bởi chúng tôi. Sau này, nó đã được khai thác khéo léo bởi T. Lubensky và các đồng sự của
ông (18). Ở đây, một lần nữa, chúng ta thấy một dạng mới của vật chất đang được phát minh
ra. Chúng ta biết rằng các chất siêu dẫn loại II đặt trong từ trường ở dạng các xoáy lượng tử
hóa. Vật tương tự ở đây là một smectic A mà trong đó chúng ta thêm các chất tan thuận một
bên, chúng đóng vai trò của từ trường. Trong một số trường hợp thuận lợi, như tiên đoán vào
năm 1988 bởi Lubensky, cách này làm phát sinh một pha smectic bị khoan bởi sự trật khớp –
cái gọi là pha A*. Pha này được phát hiện ra bằng thực nghiệm chỉ một năm sau đó bởi
Pindak và các cộng sự (19), một kì công tuyệt vời.

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 37


Tôi xin kết thúc cuộc hành trình ủy mị này về vật chất mềm với một chút đề cập đến
những người bạn của tôi. Một số đã gặp nhau trong hành trình nghiên cứu, như Jean Jacques,
một nhà phát minh lớn của tinh thể lỏng, hay Karol Mysels, ông chủ không thể chối cãi của
khoa học chất hoạt tính bề mặt. Một số người khác đã cùng tôi đi suốt cuộc hành trình; Henri
Benoit và Sam Edwards, những người bạn đã dạy tôi về khoa học polymer; Jacques des
Cloizeaux và Gerard Jannink, những người đã viết một cuốn sách lí thuyết sâu sắc về đề tài
này. Cuối cùng, trong hàng ghế khách mời đến từ khắp nơi, cả trên biển và trên đất liền: Phil
Pincus, Shlomo Alexander, Etienne Guyon, Madeleine Veyssié; và cuối cùng, nhưng không ít
nhất, Françoise Brochard - sans laquelle les chases ne seraient que ce qu‟elles sont.
Những dòng cuối cùng không phải của tôi: chúng xuất phát từ một thí nghiệm về vật
chất mềm, của Boudin, được thể hiện trong tấm hình sau đây.

38 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Xin tạm dịch ra như thế này:
Ta vui chơi trên biển và trên đất liền
Thật bất hạnh vì trở nên nổi tiếng
Tiền tài, danh vọng và những hào hoa của thế giới này
Tất cả chỉ là hư ảo mà thôi.
Không có lời kết nào có thể phù hợp hơn nữa trong ngày hôm nay.

Tài liệu tham khảo:


1. P G de Gennes, in Pvor. 2nd Conf. “Physique théorique et Biologie”. Editions CNRS 1969 (15 Quai A. France
75007 Paris, France).
2. J.A. Odell, A. Keller, in Polymer-flow Interactions (ed. I. Rabin), AIP, New York 1985 ; Av. Keller, J. Odell,
Coll. Polym. Sci., 263, 181 (1985).
3. P.G. de Gennes, J. Chem. Phys., 60, 5030 (1974).
4. For a historical review see K. Mysels, Chem. Eng. Prog., Symposium series, 67, 45, (1971).
5. M. Tabor, P.G. de Gennes, Europhys. Lett., 2, 519 (1986) P.G. de Gennes, Physica, 140 A, 9 (1986).
6. K. Mysels, K. Shinoda, S. Frankel, Soap Films , Pergamon, London (1959).
7. F. Brochard, J.F. Lennon, J. Physique (Paris), 36, 1035 (1976).
8. G. Porte, J. Marignan, P. Bassereau, R. May, J. Physique (Paris), 49, 511 (1988).
9. D. Roux, M.E. Cates, Proceedings of the 4th Nishinomya-Yukawa Symposium, Springer (to be published).
10. G. Friedel, Annales de Physique, 18, 273 (1922).
11. R.B. Meyer, L. Liebert, L. Strzelecki, P. Keller, J. Physique L. 69 (1975).
12. P. Fabre, C. Casagrande, M. Veyssié, V. Cabuil, R. Massart, “Ferrosmectics : A new Magnetic and
Mesomorphic Phase”, Phys. Rev. Lett., 64, 539 (1990).
13. C. Casagrande, M. Veyssié, C.R. Acad. Sci. (Paris), 306 II, 1423 (1988).
C. Casagrande, P. Fabre, M. Veyssié, E. Raphael, Europhys. Lett., 9, 251 (1989).
14. B. Grüining, U. Holtschmidt, G. Koerner, G. Rössmy US Patent no 4, 715, 986 (Dec 1987).
15. J.M. di Meglio, CR. Acad. Sci. (Paris), 303 II, 437 (1986).
16. T. Ondarcuhu, M. Veyssié, Nature, 352, 418 (1991).
17. S.F. Edwards, Proc. Phys. Sot. (London), 85, 613 (1965).
18. S.R. Renn, T. Lubensky, Phys. Rev., A 38, 2132 (1988).
19. J.W. Goodby, M.A. Waugh, S.M. Stein, E. Chin, R. Pindak, J.S. Patel, J. Am. Chem. Soc., 111, 8119
(1989).

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 39


Trật tự tinh thể lỏng trong cuộc sống hàng ngày

Pha nematic chỉ có một thông số trật tự: hướng

Pha nematic chỉ có một thông số trật tự: hướng

40 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Pha nematic chỉ có một thông số trật tự: hướng

Pha smectic A có cấu trúc lớp vuông góc với các phân tử,
không có thêm trật tự nào bên trong lớp

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 41


Các phân tử trong pha smectic B có sự đóng gói hình lục giác

Các phân tử trong pha smectic C nghiêng đi

42 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay
Sự chuyển pha làm biến đổi mọi thứ

Pha tinh thể lỏng hình quả chuối có trật tự hướng bên trong các mặt phẳng

© hiepkhachquay | Chuyên đề Tinh thể lỏng 43


Pha nematic dạng đĩa

Pha cột tứ giác hiếm khi quan sát thấy

44 http://www.thuvienvatly.info| © hiepkhachquay