You are on page 1of 8

VÀI NÉT VỀ TRUYỆN NGẮN AKUTAGAWA RYUNOSUKE QUA TÁC PHẨM “TRONG RỪNG TRÚC” VÀ “SỢI TƠ NHỆN” - ABOUT

AKUTAGAWA RYUNOSUKE’S SHORT STORIES IN CASES OF “IN A GROVE” AND “THE
SPIDER’S THREAD” Th.S NGUYỄN PHƯƠNG KHÁNH Khoa Ngữ Văn – trường ĐH Sư phạm
Tóm tắt: Akutagawa Ryunosuke (1892-1927) được đánh giá là một trong những nhà văn kiệt xuất của văn học hiện đại Nhật Bản. Ông nằm trong số ít những nhà văn Nhật Bản trước chiến tranh có tiếng tăm lan rộng ra ngoài nước, được độc giả thế giới hoan nghênh. Có biệt tài sáng tác truyện ngắn, ông nổi tiếng với khả năng khai thác chiều sâu những mặt khuất lấp trong đời sống tâm hồn con người. Đặc biệt, truyện ngắn của ông cho thấy một cây bút kể chuyện bậc thầy với kỹ thuật điêu luyện, pha trộn yếu tố truyền thống trong một cảm quan hết sức hiện đại, sử dụng kết cấu mảnh vỡ, mờ hóa, kỳ ảo, tự sự đa điểm nhìn... Mặc dù nhiều tác phẩm của ông có cốt truyện vay mượn, nhưng sự sáng tạo trong nghệ thuật kể chuyện của ông đã mang lại một hấp lực đầy ngỡ ngàng cho độc giả. “Trong rừng trúc” và “Sợi tơ nhện” là hai truyện ngắn tiêu biểu cho khả năng sáng tạo đầy biến hóa đó của Akutagawa. Abstract: Akutagawa Ryunosuke, 1892-1927, is regarded as one of the greatest writers in Modern Japanese Literature. He was among the few prewar Japanese writers to achieve a wide foreign readership. He is good at writing short stories and is famous for his mastery of exploring the dark side of human beings. In particular, his short stories reveal a master storyteller with technical virtuosity, brilliant joining of traditional material to a modern sensibility, using fragment structure, declearization, fantastic, multi-viewpoint narrative… Although his borrowed plots, his unique narration attracted readers strongly. “In A Grove” and “The Spider’s Thread” represent his flexible creative in the genre of short story.

Năm 1950, bộ phim Lã Sinh Môn (Rashomon) của đạo diễn Akira Kurosawa xuất hiện trên màn bạc lúc nền điện ảnh Nhật Bản đang dần hồi sinh giữa đống đổ nát của chiến tranh. Nó đã bị công chúng trong nước ngoảnh mặt làm ngơ và giới phê bình điện ảnh phủ nhận không thương tiếc. Cho đến khi một đoàn tuyển chọn phim của Ý tình cờ phát hiện ra bộ phim này và giới thiệu với khán giả thế giới. Lã Sinh Môn được trình chiếu tại Liên Hoan Phim Venice năm 1951 và ngay lập tức đoạt giải Sư Tử Vàng, mang vinh dự quốc tế đầu tiên về cho ngành điện ảnh Nhật Bản. Khi trình chiếu tại Hoa kỳ, Lã Sinh Môn đã đoạt giải Oscar phim nước ngoài hay nhất của năm 1951. Bộ phim đã mang cái nhìn mới mẻ về đất nước hoa anh đào đến với thế giới, khiến mọi người phải thay đổi cách nhìn về người Nhật, họ không hẳn chỉ là những kẻ hiếu chiến, tàn bạo mà là chủ nhân của một xứ sở đẹp với nền văn hóa độc đáo, sở hữu một khả năng cảm thụ cái đẹp, giá trị của nghệ thuật và lòng nhân bản sâu sắc. Đóng góp vào sự thành công của bộ phim này, không thể không nhắc đến kịch bản bộ phim viết từ hai truyện ngắn “Rashomon” (“Cổng thành Raxiômôn” - 1914) và “Yabunonaka” (“Trong rừng trúc” - 1922)1 của nhà văn Akutagawa Ryunosuke. Tuy nhiên, nếu khán giả nước ngoài bất ngờ trước thành tựu của đạo diễn Akira thì độc giả thế giới lại không hề ngỡ ngàng trước tên tuổi nhà văn Akutagawa. Bởi sinh thời, Akutagawa đã là một trong những nghệ sỹ hiếm hoi của nền văn chương Phù Tang đầu thế kỷ XX được thế giới ngưỡng mộ. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng vai trò của ông trên văn đàn Nhật Bản cho đến nay vẫn chưa ai thay thế được. Giải thưởng văn học mang tên ông từ 50 năm nay vẫn là một danh dự tối cao của người cầm bút Nhật Bản. Akutagawa có sở trường sáng tác truyện ngắn. Nghệ thuật viết truyện ngắn của ông được liệt vào hàng bậc thầy, đứng cùng nhiều cây bút truyện ngắn điển hình của thế giới như Edgar Poe, Maupassant, Chekhov… Khả năng biến hóa đa dạng trong lối kể chuyện ở từng tác phẩm
1

Kể từ đây, tất cả tác phẩm của Akutagawa được chúng tôi tìm hiểu lấy từ Tuyển tập truyện ngắn Akutagava, Phong Vũ dịch, NXB Hội nhà văn 2000. Tên tác phẩm có thể được dịch khác nhau, chẳng hạn truyện Rashomon và Yabunonaka được dịch là “Cổng Rashomon” và “Bốn bề bờ bụi”, in trong tập “Trinh tiết” (tuyển các truyện ngắn và một số bài biên khảo về Akutagawa), do Đinh Văn Phước chủ biên, NXB Văn học 2006.

1

bối cảnh cổ điển hay hiện đại. sức sáng tạo vẫn dồi dào. khi tuổi xuân vẫn còn phơi phới. tìm cách lý giải về cái chết bất ngờ của một tài năng văn chương hiếm có. Akutagawa cũng đã để lại nhiều giá trị làm nền tảng. với tinh thần nhân văn. vấn đề không phải là cái chết.tuổi xuân và cái chết Năm 20 tuổi. dù đề tài mới hay cũ. với những năm ngắn ngủi của cuộc đời. tính kịch…. Sự ra đi của Akutagawa như sự rụng rơi của những đóa anh đào. trong đó có truyện ngắn Akutagawa. văn học cổ điển đến cận đại Nhật Bản. là cây bút chủ chốt của tờ Tân tư trào (Shinshichō) . cách khám phá tâm lý nhân vật trên nhiều khía cạnh đa diện với những triết lý đầy “từng trải” luôn khiến độc giả băn khoăn. văn học Nhật thấm đẫm niềm bi cảm aware gieo trong những trang truyện Genji của Murasaki từ nghìn năm trước. sôi nổi hoạt động văn nghệ. chuẩn mực cho nền văn chương Nhật Bản đương thời và hiện thời. súc tích. các phương diện trong nghệ thuật truyện ngắn và những đóng góp của nhà văn này đối với bức tranh văn học thế giới chưa được chú trọng nhiều ở Việt Nam (dù rằng chúng ta đã biết đến tên tuổi và tác phẩm của ông khá sớm. pha trộn yếu tố hiện thực và huyền ảo. Phải chăng xuất phát từ những uẩn ức trong cuộc đời riêng chịu nhiều nỗi mất mát cô đơn từ thuở còn thơ ấu. Nói chung. ngoài việc dịch thuật một số truyện ngắn của Akutagawa. Mười lăm năm sau. từ năm 1966 qua bản dịch của Thụ Nhân. Mỗi tác phẩm lại là những ống kính khác nhau về 2 . ngôn ngữ điện ảnh. tinh tế. nhà văn đã thể hiện một triết lý sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật – cuộc sống và người nghệ sỹ. vẫn còn lắm lối bỏ ngỏ cho những chuyến thăm viếng và tưởng niệm. chất thơ. Hay trong “Đất nước của các thủy dân”. báo chí. một tờ khai trong một lối lối tự sự hiện đại – hậu hiện đại mới lạ. người ta đã thấy sự pha trộn kỹ thuật viết của báo chí. Huy hoàng và bi tráng. để lại nhiều ngậm ngùi và thăng hoa trong lòng người. người đọc vẫn tìm thấy ở ông lối kể chuyện độc đáo. tự sát: “Nếu như chán cuộc đời của bóng ma thì tôi lại sẽ cầm khẩu súng lục và kết liễu đời mình bằng tự phục sinh” [4. Sài Gòn). NXB Nhị Nùng. Dù vậy. Khi nghệ thuật không thể gắn với cuộc đời. nghệ thuật như “Cửu trùng đài” thì người nghệ sỹ cũng như Vũ Như Tô. tôn giáo hay tác phẩm văn học của tác giả khác. lúc lại châm biếm giễu cợt. độc đáo. Là một nhà văn chủ chốt của văn học cận – hiện đại Nhật Bản.một tạp chí với tôn chỉ và hành động nhằm thúc đẩy việc thiết lập chế độ dành mọi ưu tiên về tự do và no ấm cho giai cấp bình dân…. dù vay mượn cốt truyện cổ tích. thậm chí là cách thức triển khai của một biên bản. Đặc biệt. phải tự kết liễu chính mình. Akutagwa Ryunosuke viết một vở kịch mang tên “Tuổi xuân và cái chết” (1912). ngoài tiểu thuyết Kawabata Yasunari đã nhận được khá nhiều sự quan tâm. truyện vừa (có nhận định cho đây là tiểu thuyết) sáng tác vào năm cuối đời của nhà văn được đánh giá là tác phẩm văn chương kiệt xuất. Cái chết của ông hòa trong bức tranh văn hóa. 1. hay mối xung đột không có lối gỡ trong tư tưởng nhà văn với thực tế đương thời. lúc lạnh lùng lúc khoan thai. Akutagawa Ryunosuke (1892 .1927) .287] (lời của bóng ma một thi sĩ đã chết vì tự sát trong buổi cầu hồn). được suy tôn là thủ lĩnh của trường phái Tân hiện thực (Shingenjitsushugi) – một trào lưu văn học nổi lên đầu thế kỷ XX thời Minh Trị. nhiều mộng ảo ấy. sau này nối tiếp đến Kawabata. Dư luận trong và ngoài nước xôn xao. Tiếc là cho đến nay. tạo dấu ấn rất riêng của một nhà văn có tài năng thực sự. Hàng trăm truyện ngắn của ông có sức hấp dẫn kỳ lạ. một bút pháp sắc sảo. Từng đam mê văn chương. Trong tác phẩm “Những nỗi thống khổ của địa ngục”. ly kỳ. ông lại tìm đến cái chết bằng liều thuốc ngủ cực mạnh. nhưng trong truyện ngắn Akutagwa. mà phải là cuộc sống với những quan niệm đầy bi quan hằn trên từng trang văn của con người trẻ tuổi. hoặc giả nhà văn không muốn bị bệnh tật làm khổ… Nhưng có lẽ. Akutagawa lại bộc lộ khá nhiều tư tưởng gần với triết lý hiện sinh và ám ảnh về cái chết. Akutagawa nói nhiều đến cái chết. ngỡ ngàng. khi ông cũng chọn con đường tự sát như một cách ứng xử với đời.mang lại sức hấp dẫn kỳ lạ cho truyện ngắn Akutagawa.

thời điểm ra đời. Nói chung. Tất cả đều sử dụng giọng đối thoại: “Vâng! Tôi đã nhìn thấy xác chết…” (lời bác tiều phu) “Tôi đã gặp người bị giết vào buổi chiều. Tátdiômmaru bị bắt. tạo một cấu trúc phân mảnh rất độc đáo. một xác chết được phát hiện. vị tu sĩ.. đó là các chính con người đã lấy con gái tôi…” (bà già. tên cướp Tátdiômmaru. người chồng nói rằng mình đã tự sát vì không chịu nổi sự nhục nhã. khai đã giết người chồng tội nghiệp kia. cung cấp những thông tin khác nhau. Đặc biệt. đau đớn nhận là mình đã đâm vào ngực chồng. nhà văn phá vỡ lối tự sự truyền thống. Buổi chiều… mà hình như là lúc giữa trưa…” (vị tu sĩ khai) “Con người mà tôi bắt được là người như thế nào ấy à?. sử dụng bố cục kiểu điện ảnh. người đàn bà bị cưỡng hiếp và linh hồn nạn nhân. Toàn bộ tác phẩm được chắp ghép từ những lời khai khác nhau của các nhân vật. cô đọng đậm đặc. Tên cướp Tátdiômmaru đã chiếm đoạt một người phụ nữ trước mặt chồng cô ta sau khi lừa đôi vợ chồng vào rừng trúc vắng vẻ. Câu chuyện được chia làm bảy phần. hay “Ai mới thực sự là thủ phạm?”… Nhưng câu chuyện về một vụ án bí ẩn không chỉ dừng lại ở việc tìm ra một sự thật. bà già (mẹ vợ nạn nhân). Nhà văn đã phá vỡ hoàn toàn cốt truyện. còn Akutagawa không có ý định hướng tác phẩm của mình đi theo thể loại này. độc giả khám phá được những phương diện khác nhau đầy lôi cuốn trong nghệ thuật truyện ngắn Akutagawa. “Có chuyện như vậy sao?”. Đó là người chồng. tác phẩm của Akutagawa không chỉ chứa đựng nhiều giá trị tư tưởng sâu sắc mà còn được nhắc nhớ như một đại diện của nghệ thuật kể chuyện bậc thầy. Sau đó. “Trong rừng trúc” – cấu trúc của những mảnh vỡ Đọc “Trong rừng trúc” theo cách thức “chặt khúc”. qua đó lột tả được bản chất con người. kinh dị thì phải nói đến nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe. đoạn tuyệt với những hiểu biết về tác giả. Truyện ngắn “Trong rừng trúc” có cốt truyện xoay quanh một vụ án – cưỡng hiếp – giết người (hay tự sát?). Đọc hai tác phẩm. một ghi chép những lời các nhân chứng. tạo độ căng trần thuật và bất ngờ cho nhận thức. Nhưng nói đến truyện ngắn kinh thám. có thể nhiều người sẽ liệt tác phẩm vào hàng văn chương hậu hiện đại. người gác rừng. Các cấu trúc tự sự được xây dựng khá hiện đại.. Sẽ luôn có những câu hỏi: “Liệu chuyện gì thực sự đã xảy ra đây?”. “Trong rừng trúc” và “Sợi tơ nhện” là hai truyện ngắn tiêu biểu cho khả năng sáng tạo đầy biến hóa của Akutagawa Ryunosuke. Tưởng chừng đó là một câu chuyện trinh thám khá ly kỳ. hình thức truyện gần như một biên bản. tác giả đã khéo léo dựng lên trên bức phông màn vụ án – có người chết – những thế giới tâm lý bên trong đa diện. Người vợ biến mất. 2. thủ phạm và nạn nhân khai với quan kiểm sát. mà sự lôi cuốn nằm ở cách kể chuyện độc đáo của tác giả.” (người gác rừng tường thuật) “Vâng. đặc biệt thủ phạm không biết là ai khi tất cả đương sự (ba con người trong rừng trúc đó) đều nhận mình là kẻ đã gây ra cái chết (mà lời khai nào cũng có lý). mẹ vợ nạn nhân nói) 3 . với bảy người kể chuyện. Bằng một văn phong lạnh lùng. mở đầu là các tiêu đề: LỜI KHAI CỦA BÁC TIỀU PHU TRONG CUỘC HỎI CUNG CỦA QUAN TÒA LỜI KHAI CỦA VỊ TU SĨ HÀNH HƯƠNG TRONG CUỘC HỎI CUNG CỦA QUAN TÒA LỜI KHAI CỦA NGƯỜI GÁC RỪNG TRONG CUỘC HỎI CUNG CỦA QUAN TÒA… Ứng với bảy phần của tác phẩm là bảy người kể chuyện: bác tiều phu.cuộc đời. Người vợ được phát hiện ở đền Khômidu. Linh hồn nạn nhân được gọi lên và qua lời đồng cốt. những sự thật khác nhau của cùng một sự việc – một tội ác. về con người mà nhà văn muốn diễn tả. triển khai cốt truyện thông qua những mảnh vỡ trần thuật.

Câu chuyện đặt trên nền hiện tại – các nhân chứng. ở lời kể kia ta thấy một cánh rừng. mỗi lần lại có một kết thúc khác nhau. Và dù các nhân vật đang đối thoại với cùng một người – quan tòa – nhưng chúng ta chẳng thấy nhân vật này xuất hiện. Phải nói rằng Akutagawa đã mờ hóa nhân vật một cách tinh tế. đầy bất ngờ. Nhà văn đã mạnh mẽ khước từ người kể chuyện “biết tuốt” để đặt câu chuyện trước sự hoang mang của độc giả. Ngôi trần thuật thứ nhất khiến câu chuyện khách quan tuyệt đối. không có tiểu sử đặc biệt. kiếm sĩ Vô Danh ngồi trước Tần Thủy Hoàng và nguyên do anh ta nắm trong tay vũ khí của ba thích khách tài giỏi đã từng hành thích vua Tần được tái hiện ba lần với các tình tiết khác nhau. khởi nguồn cho tội ác… Dường như. Chen giữa các sự kiện (3) và (4). Cái tên. thủ phạm và nạn nhân đang kể . nhà văn còn tạo độ giãn thời gian với lời khai của người mẹ vợ về thân thế của đôi vợ chồng. trong đó có ba nhân vật chính. Thế là hết. Tất cả được đặt vào một quãng thời gian ngắn ngủi: hai vợ chồng đi ngựa. Chỉ là những lời kể lại. (3) “Tối hôm qua” – lúc người gác rừng tóm được tên cướp. song sự vận động tâm lý và bản chất tâm hồn của từng nhân vật được lột tả một cách mạnh mẽ. Mỗi điểm nhìn của những người kể chuyện khác nhau như những ống máy quay ở nhiều góc độ. Nhưng nhà văn vẫn tinh tế khắc họa được đời sống tâm lý đầy phức tạp của ba nhân vật chính. gặp tên cướp và án mạng xảy ra. các tình tiết trung tâm của câu chuyện được “tua đi tua lại” ba lần. “Maxugô. khuôn mặt nhỏ. Nhưng tôi không giết người đàn bà. nhiều phiến đoạn của bức tranh “bốn bề bờ bụi”. Và thời khắc nhà văn chọn để mở màn là khi bác tiều phu phát hiện cái xác với vết thương máu đã đông lại. Còn cô ta đi đâu ư? Điều này thì tôi không biết. Ở lời kể này ta thấy một cảnh xác chết. quá khứ và hiện tại của họ. Điều này gợi liên tưởng đến bộ phim “Anh hùng” của đạo diễn Trương Nghệ Mưu sản xuất năm 2002. những uẩn ức của tấm bi kịch được phơi bày. phân mảnh và đồng hiện không còn là thế mạnh của điện ảnh. Những góc khuất. Như lời nhận định của dịch giả Phong Vũ: “Mỗi cách kiến giải thông qua sự tiếp nhận của nhân vật này hay nhân vật khác trở thành bi kịch gay gắt. và cái chính là cùng một sự kiện được trình bày bằng ba bản vẽ khác nhau thu nhỏ lại đã biến thành sự khám phá sâu sắc các tính cách được nhà văn vẽ lên. Ngay cả tên cướp Tátdiômmaru khét tiếng cũng hiện lên rất mờ nhạt. xóa mờ đường viền về cuộc đời. Khoan đã!. đuôi mắt trái có nốt ruồi. dài…”. nhưng lại không thể không quan tâm đến nhân vật. Các kiến giải đó trở thành phương tiện khám phá về mặt tâm lý nhân vật” [354] Khai thác lối tự sự đa điểm nhìn là xu hướng của nhiều tác phẩm văn chương hiện đại. mỗi phiến cảnh một sắc màu tuyệt đẹp.. Nhân vật của Akutagawa hiện lên không có số phận riêng. bắt đầu từ sau đoạn tên cướp đã cưỡng bức được người vợ. ít đường nhân dạng…: “tên là Kanatdava Takêkhirô. (4) Hôm qua – “quá trưa một chút” – tên cướp gặp đôi vợ chồng và vụ án xảy ra. (2) “Lúc giữa trưa” – vị tu sĩ gặp 2 vợ chồng. 4 .nhưng bên trong là thời gian của các sự kiện đã xảy ra. Điều thú vị nữa là ở ba lời kể dài nhất (của ba nhân vật chính). chỉ là vài nét phác trên tờ khai. một con đường mòn hay một gương mặt xinh đẹp phủ khăn bị gió thổi tung. khoảng hai mươi sáu tuổi”.“Tôi đã giết người đó. một hé lộ phẩm bình của tác giả hay lời phán xét của vị quan tòa ẩn mặt. không hề có lời dẫn chuyện. mười chín tuổi… có nước da ngăm ngăm. Thời gian trong tác phẩm bị đảo lộn hoàn toàn và được đan lồng thú vị. Tuy nhiên độc giả vẫn ngỡ ngàng trước khả năng sử dụng đến bảy người kể chuyện (tính cả người kể chuyện ẩn tàng – nhà văn – nữa là tám) trong một tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn của Akutagawa.” (tên cướp thú nhận) … Vậy tác phẩm có ít nhất bảy nhân vật (chưa kể bị quan tòa đang lắng nghe các lời cung khai). Nhưng kỳ lạ là dường như chúng ta không biết gì nhiều về các nhân vật đó. Riêng blốc sự kiện (4) thì được diễn đi diễn lại ba lần.. đẩy người đọc vào vị thế của một quan tòa và tự trả lời câu hỏi của chính mình. (1) “Buổi sáng” Khi xác chết được phát hiện.

Có thể nói. các sự kiện quá khứ và hiện tại song hành đồng hiện và câu chuyện như đang diễn ra sống động trước mắt ta như những thước phim được quay một cách tài tình. đây là một sáng tạo đầy cá tính. Trung Hoa. Dù kiến giải nào thì mỗi người cũng đã chọn cho mình một sự thật. cũng chia thành nhiều chương đoạn nhưng gắn kết lỏng lẻo theo kết cấu tranh cuộn. Không phải vì cốt truyện ly kỳ. vẫn mang đậm nét phong cách Phù Tang thấp thoáng qua vạt áo của người võ sĩ đạo. Nhiều nhà phê bình thường phát hiện trong các truyện ngắn của ông có nhiều 2 Xem thêm Nguyễn Nam Trân. những người kể chuyện như đang nói chuyện với chính nhà văn và độc giả. ai cũng có lý do để biện hộ cho hành động của mình.Như vậy. có thể nhà văn Akutagawa đã sáng tạo “Sợi tơ nhện” từ một truyện cổ dân gian Nga “Cây hành tây” rút trong “Anh em nhà Karamazov” của Dostoevski. Akutagawa dựa vào đâu để viết Sợi tơ nhện. NXB Hội Văn học 2006. Từ nhỏ ông đã đọc nhiều sách. nhưng dưới tác động của ngôn ngữ đối thoại. nhẹ nhàng và kiểu văn xuôi của monogatari (vật ngữ) dài trường thiên. sự thật là gì? Hay nói như tên cướp Tátdiômmaru. Câu chuyện mang màu sắc Phật giáo này được cho là có nguồn gốc từ truyện cổ Phật giáo của Ấn Độ. sự cô đọng bất ngờ của thơ haiku Nhật Bản. 5 . bất ngờ khêu gợi dục vọng của y? Akutagawa thật ý vị khi tự đặt mình vào vị trí của người đọc và tác phẩm như một sinh thể cứ thế mà sinh sôi.Tuyển tập truyện ngắn Akutagava. và cũng không phải là việc không chấp nhận được. 3 Đinh Văn Phước. “Trong rừng trúc” thật sự là một truyện ngắn hấp dẫn người đọc ngay từ những dòng đầu tiên. một truyện ngắn nổi tiếng của Akutagawa là “Sợi tơ nhện” cũng có nhiều giả thuyết về sự vay mượn. Nó mới mẻ so với văn học cổ điển của xứ sở hoa anh đào đầy vẻ tao nhã. Chuyện vay mượn cốt truyện trong văn học không phải là chuyện hiếm hoi. NXB Hội Văn học 2006. có cả yếu tố ma quái (hồn ma. thời đại. “Lòng đã trót yêu” phỏng theo sự tích của một truyện cổ Genpei Seisui-ki (chuyện thịnh suy của hai dòng họ Minamoto và Taira)… Đặc biệt. “Sợi tơ nhện” – đường biên giữa vay mượn và sáng tạo Các nhà nghiên cứu nói nhiều đến việc truyện ngắn của Akutagawa thường có cốt truyện vay mượn. Đặc biệt. Akutagawa là người am hiểu rộng rãi văn học dân tộc và văn học phương Tây. qua những ngôi đền và rừng trúc thăm thẳm. người đọc vẫn cảm nhận được thế giới tâm hồn Nhật Bản. Đinh Văn Phước chủ biên. thế kỷ 13) và Kokon Chomonji (Cổ kim trứ văn tập. tác phẩm) in trong Trinh tiết . in trong Trinh tiết . lan tỏa trong đời. và rất giỏi tiếng Anh nên tiếp cận được nhiều với những tác phẩm văn chương thế giới. Rốt cuộc. chỉ tại cơn gió mà thôi. cơn gió đã thổi bay chiếc khăn voan che mặt người phụ nữ.Tuyển tập truyện ngắn Akutagava. đồng cốt). Cốt yếu là nhà văn đã làm được gì trên cái nền được gợi ý đó. Hay “Những nỗi thống khổ của địa ngục” vay mượn từ Ujishui monogatari (Vũ trị thập di vật ngữ. Tuy nhiên “Trong rừng trúc” của Akutagawa vẫn phảng phất một thi pháp chân không. thời gian của tác phẩm là thời gian “quay ngược” và “xảy lặp”. với cốt truyện được xây dựng từ những lời kể lại. Tội ác đã xảy ra. mà bởi lối trần thuật độc đáo của tác giả. tạo được điểm nhấn mạnh mẽ trong dòng chảy văn chương Nhật Bản. truyện “Trong rừng trúc” bắt nguồn từ Truyện bây giờ đã xưa của tác giả vô danh vào giữa thế kỷ XIX và cốt truyện cũng có nhiều điểm tương đồng với hai tác phẩm văn học phương Tây2. 1254). bí ẩn. Chẳng hạn. bối cảnh xã hội và những khát vọng nhân sinh của tác giả thể hiện tinh tế trong tác phẩm. Hoặc như theo một nghiên cứu công phu của Đinh Văn Phước. Akutagawa Tyunosuke từ A đến R (Con người. hoặc tác phẩm “Karma” của một nhà văn Đức là Paul Carus viết năm 1894 3. 3.

lơ lửng như một tia sáng yếu ớt giữa địa ngục âm ty. “Sợi tơ nhện” có thể xem là một minh chứng tiêu biểu. Nhưng chưa bao giờ yếu tố vay mượn lại ảnh hưởng đến sự đánh giá tài năng đích thực của nhà văn. người kể chuyện trong “Sợi tơ nhện” ở ngôi thứ ba. Cốt truyện của “Sợi tơ nhện” đậm sắc tôn giáo: Đức Phật trong một buổi sáng đi dạo bên đầm Sen trên Niết Bàn. dù không hiện rõ người kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Niết Bàn với hương sen ngào ngạt ở màn đầu tiên và cuối cùng đối lập hoàn toàn với màn hai của địa ngục tăm tối rung rợn. xuyên suốt từ trần gian đến Niết Bàn. nhưng mở ra một cõi không gian bao la. Hắn hốt hoảng xua đuổi mọi người. nó có thể đứt phựt bất ngờ. tĩnh tại của chốn cực lạc. Đức Phật đã rủ sợi sơ nhện xuống địa ngục. có tính bất ngờ trong một lối văn cô đọng. điểm nhìn trong truyện vẫn có sự di chuyển từ điểm nhìn bên ngoài sang điểm nhìn bên trong. cực mảnh xuống tận âm phủ để Kanđata nắm lấy mà trèo lên. Ngài thả một sợi tơ nhện óng ánh. Kanđata cùng với những tội nhân khác đang lặn hụp trong ao máu. nhưng lại thấy xuất hiện lối xưng hô “dạ thưa”. Và ở phía bên kia của ranh giới thiện – ác. Ranh giới ấy mới thật mỏng mang làm sao. “Dạ thưa. Truyện có dung lượng khá ngắn. Akutagawa tiếp tục khai thác sở trường tạo được sự kiện hấp dẫn. Dù sử dụng ngôi kể thứ ba. trần thuật cơ bản theo lối biên niên. Thời gian của truyện đặt trong một khoảng ngắn: từ buổi sáng đến giữa trưa. nơi Hồ Máu sặc sụi tiếng khóc than rên rỉ của phạm nhân đang đau đớn. Truyện chia làm ba màn (có hình thức đánh số 1. Tạm thời vẫn xin nghiên cứu trên bản dịch của Phong Vũ. dưới âm phủ. sự đấu tranh giữa dục vọng và giải thoát. lúc đó trên Cực lạc đã gần đến đúng Ngọ”… Người viết bài chưa có điều kiện khảo sát. Ngài nhớ tên cướp này dù làm bao nhiêu tội ác cũng có lần tha chết cho một con nhện. Tịnh không một chút dao động cho dù ở màn hai đã diễn ra cuộc đấu tranh sinh tồn giữa chốn âm ty hãi hùng.3). nhưng gói gọn được cả đời người với bao hỉ nộ ái ố. đối chiếu để xác định tính chính xác của các bản dịch. giữa từ tâm và ích kỷ. bày biện chưa hết ba mặt trang giấy A4. người kể chuyện ngôi thứ ba đang dõi theo từng bước chân của Phật và hành động của tên cướp Kanđata4. lúc nổi lúc chìm”. đánh giá tình hình. bắt đầu từ buổi sáng với cuộc dạo chơi của Đức Phật trên Niết Bàn. “Xin thưa.điểm tương đồng với truyện cổ Nhật Bản. giữa dục vọng và sự buông xả. các truyện vật ngữ thời trung đại hoặc một số truyện dịch phương Tây nào đó. đa dạng mà vẫn mang đậm phong cách của Akutagawa. chúng ta thấy được khả năng kể chuyện đầy biến hóa. xuyên qua hồ sen Niết Bàn hút xuống tận Hồ Máu cõi âm. nhìn xuống địa ngục thấy tên cướp Kanđata đang phải chịu nhục hình trong Hồ Máu. khá lạnh lùng và thản nhiên. 6 . diễn biến chuyện được soi thấu qua đôi mắt của Phật. ở bản dịch của Đinh Văn Phước. “xin thưa” như nhà văn – người kể chuyện – đang đối thoại trực tiếp với người đọc: “Dạ thưa.2. Vì vậy Đức Phật có ý giải thoát cho hắn. 4 Theo bản dịch của Phong Vũ. đây là một câu chuyện xảy ra trên cực lạc”. Nhưng chỉ một lời nói. người đọc chiêm nghiệm được ranh giới mong manh của vị kỷ và vị tha. sợ hãi. Trong khi đó. Sợi tơ nhện đúng khoảnh khắc đó bỗng nhiên đứt phựt và hắn lại ngã lộn nhào xuống âm phủ tối tăm mịt mùng. sợi tơ cực mảnh như một tia sáng yếu ớt ấy lại có thể cứu vớt một đoàn người leo bám. Từ “Trong rừng trúc” đến “Sợi tơ nhện”. Thông qua con mắt của hắn. rồi xuống Âm phủ. Ngay cả kiểu ngắt đoạn từng câu một ở màn thứ nhất và thứ ba cũng tạo cảm giác khoan thai. suy nghĩ của hắn. tên cướp hung bạo Kanđata cũng đang nhìn nhận. Toàn bộ khung cảnh. Nhà văn dùng lối văn kể chuyện kết hợp với miêu tả rất khéo léo. điểm nhìn của người kể chuyện sang điểm nhìn nhân vật. Lấp lánh trong câu chuyện là sợi tơ nhện mỏng mảnh. Hắn leo mãi với hy vọng thoát khỏi chốn địa ngục thì phát hiện hàng đoàn phạm nhân cũng đang nắm lấy sợi tơ mà trèo lên theo. Ở tác phẩm này. thời gian tuyến tính.

tác phẩm dễ sa vào thuyết giảng đạo đức và không thoát được ám ảnh của sự vay mượn. Dù ở nơi đây chỉ là trên sân khấu mà thôi. người đọc vẫn nhận ra nét chung trong phong cách sáng tạo của nhà văn ở hai tác phẩm. Tuy vậy. khai thác yếu tố kỳ ảo và kịch tính. người kể chuyện vẫn giữ vẻ thản nhiên. Ông đã vượt qua được những nghiệt ngã của thời đại. mờ hóa cốt truyện. Ông là người đã góp phần quan trọng để đưa văn học nước nhà hòa kịp với sự phát triển của văn học thế giới. truyền thống và hiện đại đang ngày càng mở rộng và con người cũng hoang mang giữa bao trào lưu tư tưởng mới nở rộ. Nếu “Trong rừng trúc” gây ấn tượng bởi sự phá vỡ cấu trúc biên niên. (“Đất nước của những thủy dân”) Trong nhiều tác phẩm của mình. làm ngỡ ngàng văn đàn Nhật Bản một thời. độc đáo và mới mẻ. chẳng phẩm bình hay thay lời thuyết giảng. Tuy nhiên. các truyện ngắn của Akutagawa Ryunosuke đều có dung lượng vừa phải.. Và trong những năm tuổi xuân ngắn ngủi của mình. Nó phản ánh đời sống tâm hồn Nhật đang trăn trở giữa một thời đại đầy biến thiên. sao chép cũng mong manh như sợi tơ nhện vậy. cách tân văn học của dân tộc Nhật đầu thế kỷ XX. nhà văn không giấu giếm một nỗi buồn bi quan rợn ngợp như thế. vừa cổ kính vừa hiện đại. văn hóa Nhật. Văn chương của Akutagawa vừa quen vừa lạ. Nếu không được nhào nặn bởi một cây bút vững vàng. gây ấn tượng mạnh mẽ cho độc giả. đề tài tôn giáo. khi mọi giá trị đang được xác lập lại. ông đã xác lập cho mình một vị trí vững vàng không ai thay thế được. *** Ở những chùm hoa dừa và giữa những thân tre Đức Phật đã từ lâu yên ngủ Và dưới gốc vả già khô héo Chúa trời mệt mỏi cũng đã ngủ say Thế chẳng phải đã đến lúc cho ta Được nghỉ ngơi khoan khoái. nhiều bối cảnh cổ điển (thời trung đại). “Sợi tơ nhện” sẽ không khác mấy với những truyện ngụ ngôn giáo huấn hay truyện cổ Phật giáo như tập Jataka – truyện tiền thân Đức Phật . để rồi tiếng nói văn chương của ông mãi mãi được bạn đọc lắng nghe. sử dụng một số cốt truyện vay mượn. hành động một cách ngắn gọn. kịch tính. Vì vậy. Nhưng không thể phủ nhận rằng. cô đọng cũng góp phần vào sự thành công của tác phẩm. nhà văn đã lao động không mệt mỏi để tìm đến giá trị đích thực của nghệ thuật chân chính. nhiều chất mờ ảo nhưng cũng đầy hiện thực.nổi tiếng của Ấn Độ. thì trong thế giới văn chương. các chi tiết để truyện dù rất ngắn vẫn chuyển tải được thông điệp sâu sắc. rất gọn và thản nhiên. nghệ thuật miêu tả có vẻ hoa mỹ lại đi đôi với việc đưa ra các chi tiết. Có lẽ ranh giới giữa sáng tạo và vay mượn. lạnh lùng. truyện của ông vẫn tràn đầy không khí Nhật Bản. điều rõ ràng nhận thấy trong tác phẩm Akutagawa là dù sử dụng nghệ thuật kể chuyện khá hiện đại.Lấy một cốt truyện. ảnh hưởng nhiều ở các trường phái văn chương phương Tây. sao chép. khối mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ. đó là việc xử lý tinh tế cốt truyện vay mượn. Akutagawa đã có sự chọn lựa sắc sảo các sự kiện. chuyển tải nội dung những vấn đề trong xã hội. sử dụng bảy người kể chuyện để khai thác cùng một sự kiện thì “Sợi tơ nhện” lại chọn lối trần thuật truyền thống nhưng khéo léo đẩy điểm nhìn từ hai cực: thiện – Đức Phật và ác – tên cướp tàn bạo. Nói chung. Giọng điệu trầm tĩnh. Akutagawa như ngọn gió lạ giữa những nỗ lực canh tân đất nước. Bản thân các chi tiết tự nói lên giá trị của nó. Nếu Akutagawa trong đời thực không vượt qua được những áp lực và ám ảnh. cách chọn lọc và đưa ra các sự kiện bất ngờ. 7 .. lạnh lùng. pha chút giễu nhại. chất cốt Phù Tang và nối tiếp một mạch nguồn sáng tạo của văn học truyền thống dân tộc.

www. Trinh tiết . NXB Đà Nẵng 2.I.Tài liệu tham khảo 1. Tuyển tập truyện ngắn Akutagava (2000). http://tonvinhvanhoadoc. Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản.erct. 5. nhiều người dịch.Tuyển tập truyện ngắn Akutagawa. Đinh Văn Phước (chủ biên) (2006). Hoàng Thị Xuân Vinh. NXB Hội Văn học.Konrat (1999). N. Những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của Akutagawa Ryunosuke. 3.vn 8 . Nguyễn Nam Trân. NXB Hội nhà văn. Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại.com 4. Phong Vũ dịch.