Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

TRI ÂN

QUÝ THẦY CÔ

Hân Hoan Chào M Mừng Đồng Môn ng
Quốc Học 50 Năm G p L c Gặp Lại

Tại SAN JOSÉ Ngày 20-21 Tháng 4 Năm 201 21 2012
-1-

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Ban Biên Tập p
Vĩnh Lộc * Lữ Quỳnh nh Tôn thất Cầm

Trình Bày
Tôn Thất Cầm

Hình Bìa
Võ Hương An

Ảnh Tài Liệu
Ban Biên Tập* Thân H Hữu Nguồn Internet

Cùng với sự cộng tác
Vĩnh Bội, Thái Cát, Trương duy Cườ ờng, Bùi kim Chi, Hà huyền Chi,Nguyễn đức Châu, c Châu,Phương Duy, Lê viết Đắc, Hồ đăng Định, Thảo Đơn, Hà thúc Gi Giảng, Phan triều Hải, Bửu Hiệp, Lê trung Hi Tâm Huệ, p, Hiếu, Tâm Hùng, Phan Mộng Hoàn, Nguyễ mậu Hưng, Lê xuân Khôi, Đặng Lệ Khánh, Thanh Loan, Nguy ễn Nguyễn Long, Như Mai, Nguyên Minh,Thân tr Thân trọng Minh, Hồ thanh Ngạn, Trần doãn Nho, Ng Phan, Liễu Pháp, n Ngọc Hoàng phước Quyến, Yla Lê khắc Ng Quỳnh, Hoa Dã Quỳ, Thân trọng Sơn, Songuyen, Cao thanh Tâm, c Ngọc Vĩnh Tân, Nguyễn Thanh, Phan Hiệp Thành, Nguyên Thạnh, Hoàng tá Thích, Tôn th Thiều, Trần xuân p thất Thời, Hoàng thị Vịnh Thủy, Thân tr y, trọng Thủy, Trần hoài Thư, Nguyên Tịnh, Th Triều, Trần minh Thủy Trung, Nguyễn văn Uông, Bửu Uyển, Hạt kê Vàng, Cao quảng Văn, Lê hữu Vịnh, Tâm Trí Quang Vui. n,

-2-

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

QUỐC HỌC 50 NĂM GẶP LẠi
Trưởng Ban
LÊ KHẮC HUY

BAN TỔ CHỨC NGÀY HỘI NGỘ

Phó Trưởng Ban
LÊ VĂN MỄ * TÔN THẤT THỐNG

Ban Tiếp Tân & Du Lịch
CAO HỮU TÙNG * NGUYỄN VĂN MAI * TRẦN ĐÌNH TUẤN * HUYỀN TÔN NỮ BÍCH THỌ ĐOÀN LÔ * PHAN BÍCH HÀ * LÊ KHẮC NGỌC TÚY

Ban Tài Chánh
LÊ VĂN PHƯỚC * PHAN VĂN TÙNG

Thủ Quỹ
LÊ VĂN PHƯỚC * LÊ ĐƠN

Ban Thông Tin Liên Lạc
TÔN THẤT CẦM

Ban Báo Chí
VĨNH LỘC * PHAN NGÔ * TÔN THẤT CẦM

Ban Văn Nghệ
LÊ KHẮC BÌNH * ĐOÀN NGÃI * NGUYỄN VĂN MAI * TÔN NỮ THANH HUỆ

-3-

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

LỜI TRI NGỘ

Mới ngày nào, tuổi học trò còn đầy e ấp và mộng mơ, mang những hoài bão l c ng lớn lao hướng về tương lai. Mớ ngày nào cùng bạn bè với những đêm dài th trắng ới ng thức mùa thi hay những buổi chi tan học, lẽo đẽo theo sau những tà áo dài Đồng i chiều ng Khánh. Mới đó mà một nửa thế kỷ đã trôi qua Lặng lẽ, như một giấc mơ Bừng qua! mơ! tỉnh dậy thì tóc đã bạc màu, bạn bè thì lưu lạc khắp bốn phương trời. , . Thật là một kỳ ngộ để tất cả chúng ta có thể gặp mặt nơi đâ đây. Chúng tôi xin được hân hoan đón mừng và chân thành cảm ơn quý Thầy Cô các Cô, bạn đồng môn và thân hữu đã hưởng ứng lời mời tham dự ngày Họp mặt hôm nay nay. Để đáp lại ân tình đó, chúng tôi xin được gởi đến quý vị cuốn “Đặc san Hội Ngộ – Quốc Học 50 Năm Gặp Lại để ghi dấu ngày họp mặt hiếm quý và đầy thâ tình Lại” thân này. Cuốn Đặc san không thể thành hình nếu không có sự nhiệt tình đóng góp bài vở ặc cũng như sự ủng hộ tài chánh của quý Thầy Cô, các bạn đồng môn và thân hữu hữu. Xin nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của chúng tôi. t Kính chúc quý Thầy Cô, các bạn đồng môn và thân hữu có được những ngày họp mặt thân vui, gặp lại nhiều bằng hữu sau bao năm xa cách cũng như qua cuốn Đặc san này tìm lại những kỷ niệm xưa nhớ về ngôi trường cũ, tuy đã nhiều năm xa xưa, cách nhưng lúc nào cũng còn để lại một dấu ấn không bao giờ phai nhạt nhạt. TMBTC Quốc Học 50 Năm Gặp Lại LÊ KHẮC HUY C

-4-

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

TRONG ĐẶC SAN NÀY
Trường Quốc Học - HOÀNG PHƯỚC QUYẾN -.6 Khiêm, Công, Minh – Thơ - HỒ THANH NGẠN -.14 Thung lũng hoa vàng - LÊ KHẮC HUY -.15 Một thời học trò ở Huế - HỒ ĐĂNG ĐỊNH -.19 Tương ngộ - Thơ -HÀ HUYỀN CHI -.23 Khoảnh khắc cuộc đời … – LÊ HỮU VỊNH -.24 Gặp bạn xưa – Thơ - NGUYÊN THẠNH -.29 Đứt ruột – NGUYÊN MINH -.30 Tôi đi học - LÊ KHẮC HUY -.35 Bơ vơ – Thơ - LÊ XUÂN KHÔI -.39 Cháu nội - TRẦN HOÀI THƯ -.40 Cô bé ngày xưa – Thơ - LÊ XUÂN KHÔI -.42 Chuyện về Kim - NHƯ MAI -.43 Chiều cuối năm đi nhầm tàu…Thơ- LỮ QUỲNH -.45 Huế và tôi, Một quãng đời - VĨNH LỘC -.46 Từ Phủ Thoại Thái đến - PHAN VĂN TÙNG -.52 Trường Quốc Học Xuân qua - NGUYÊN TỊNH -.57 Vỗ đá ta say – Thơ - SONGUYEN -.60 Từ bài học thuộc lòng thời … - LỮ QUỲNH -.61 70*Seventy – Thơ - VĨNH LỘC -.62 Phải chăng nước Mỹ là cạm bẫy - LIỄU PHÁP -.63 ngọt ngào … Khiêm dịch – Thơ - HỒ THANH NGẠN -.66 Kim Long-Đồng Khánh - TÂM HUỆ -.67 Phía trước mặt – Thơ -NGUYÊN TRINH -.73 Nguyên tử và Hòa bình - LÊ TRUNG HIẾU -.74 Điện ảnh, Hành trang đưa chúng tôi - VĨNH TÂN -.79 vào đời Lá thư hội ngộ - PHAN HIỆP THÀNH -.86 Tình bạn IC1 - Thơ - LÊ KHẮC NGỌC TÚY -.89 Tản mạn từ một chỗ làm - TRẦN DOÃN NHO -.90 Trường anh, trường em - CAO QUẢNG VĂN -.95 Vũ điệu đời tôi – Thơ - TÔN THẤT THIỀU -.97 Với Huế mù sương – Thơ - CAO QUẢNG VĂN -.97 Lớp Đệ Nhất A1 60-61 - PHAN MỘNG HOÀN -.98 Chùm thơ nhỏ - Thơ - NGUYỄN ĐỨC CHÂU -.109 Quốc Học, Niềm vui hội ngộ - LÊ KHẮC BÌNH -110 Nhạc Biển một bên, em mộtbên- PHƯƠNG DUY -.112 Thơ - Nhảy với em đêm nay - BỬU HIỆP -.116 Bàn tay cầm bút - PHAN TRIỀU HẢI -.117 Mừng Thầy Trung 50 năm - NGUYÊN THẠNH -.118 trên bục giảng– Thơ Hoàng cung và nỗi cô đơn - CAO THANH TÂM -.119 Những bước chân …Thơ - CAO QUẢNG VĂN -.122 Hồi tưởng - TRẦN MINH TRUNG -.123

125.- THỦY TRIỀU – Mùa thu em áo lụa…– Thơ 126.- BỬU UYỂN – Con thỏ nhồi bông 129.- NGUYỄN VĂN UÔNG – Sen Huế 132.- THANH LOAN – Quê hương tôi, Xứ Huế - Thơ 133.- TÂM HÙNG – Những bài thơ cho Huế - Thơ 133.- HOA DÃ QUỲ - Ôm Huế vào long - Thơ 134.- TRẦN XUÂN THỜI – Luận về sự học 136.- CAO QUẢNG VĂN – Một chút Sài gòn – Thơ 137.- NGUYỄN THANH – Người có lòng với Huế 138.- ĐẶNG LỆ KHÁNH – Mỗi chiều về - Thơ 139.- NMH-LKH-VL – Thơ Tếu – Thơ 140.- VĨNH BỘI – Nếu Huế được kể cho tôi nghe 144.- HÀ THÚC GIẢNG – Bình phong Long Mã ở trường Quốc Học 148.- NGUYỄN MẬU HƯNG – Vui họp mặt – Nhạc 150.- VĨNH LỘC – Khắc khoải - Thơ 151.- NGUYỄN LONG – Bước đầu kiếm sống 155.- THÁI CÁT – Vè bún bò – Thơ 159.- LỮ QUỲNH – Amsterdam, Thủ đô của bảo tàng nghệ thuật 161.- NGUYỄN VĂN ĐỨC – Thư pháp 162.- YLA LÊ KHẮC NGỌC QUỲNH – Làm sao quên - Thơ 163.- TRƯƠNG DUY CƯỜNG – Tả ngạn và hữu ngạn 165.- HỒ ĐĂNG ĐỊNH – Chợ hàng ăn sáng chiều bên lề đường Thượng tứ 168.- NGỌC PHAN – Nhớ Thầy – Thương Huế - Thơ 169.- HẠT KÊ VÀNG – Từ thuở phấn trắng bảng đen 173.- LÊ VIẾT ĐẮC – Ngày tháng qua và một mối tâm tư 177.- NGÔ VIẾT TRỌNG – Những ông Cậu làm sụp đổ Triều đại 181.- PHAN HIỆP THÀNH – Thu buồn - Thơ 182.- HOÀNG THỊ VỊNH THỦY – Người ấy trên đời chỉ có một 184.- THÂN TRỌNG THỦY-THÂN TRỌNG SƠN Thơ dịch 186.- THANH HUỆ - Có những giòng sông 189.- YLA LÊ KHẮC NGỌC QUỲNH –Phượng xưa – Thơ 190.- THÂN TRỌNG MINH – Những vết thương tuổi nhỏ 192.- VÕ HƯƠNG AN – Về “Cuốn sách vàng của Vua Thiệu Trị” 197.- HOÀNG TÁ THÍCH – Còn lại những gì 199.- BÙI KIM CHI – Quốc Học-Đồng Khánh… 202.- THẢO ĐƠN – Đoản khúc viết cho chị 203.- TÂM TRÍ QUANG VUI – Tìm nhau – Nhạc 205.- HÌNH ẢNH XƯA VÀ NAY

-5-

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Trường
Quốc Họ ọc
Hoàng phước Quyến
Các đồng môn Quốc Học Huế 1959 - 1962 ế sẽ tổ chức “Quốc Học 50 năm gặp l p lại” vào hạ tuần tháng 4 năm 2012 tại San Jose, đ là một học i đã sinh Quốc Học Huế nên góp bài vào Đ San phát Đặc hành dành cho dịp vui này. Ở vào tuổ “thất thập”, ổi hoàng hôn đời người, có thì giờ rảnh r viết lách nh rỗi cũng là một thú tiêu khiển hữu ích cho tu già, u tuổi song viết gì đây? Trường Quốc Học Hu có một c Huế bề dày lịch sử 116 năm (1896-2012). Trong 2012). khoảng thời gian dài đó đã có biết bao th hệ học t thế sinh ra vào cổng trường này, đã có ng ã người làm nên lịch sử, có người dùng văn tài trí tuệ đóng góp tô ệ điểm văn hóa xã hội nước nhà cận và hi dại. n hiện Trong khi đang băn khoăn, bỗng chợ nhớ đến hai ợt câu thơ của Vua Tự Đức đã giúp đị hướng bài ịnh viết: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hương” Kỷ niệm lúc nào cũng đáng trân quí, b lại ũng bới đống tro tàn nhắc lại điều xưa cũ có th có người ũ thể thốt lên “biết rồi khổ lắm, nói mãi”, nh m, nhưng cũng có người vì nhiều lý do khác nhau ch được dịp u chưa nghe biết đến, và nhân dịp này cùng nhau ôn l p lại những “ngày xưa thân ái” đó, biết đâu có ngư t người bạn cũ nào đọc được, lòng sẽ cảm th vui vui vì m thấy đã có người vẫn còn nhớ tới, nói hộ cho… mình. ộ Qua lịch sử cho thấy nước ta có một n văn hóa t nền lâu đời rập khuôn theo Trung Hoa, Tam giáo đ p đồng tồn Nho Thích Lão hòa quyện vào nhau làm nên n bản sắc riêng của văn hóa Việt, trong đó Tam t, Cương của Nho Giáo nắm vai chủ đạ làm giềng ạo
-6-

mối cho xã hội: Quân-Thần, Ph n, Phụ-Tử, Phu-Phụ”. Chính tinh thần nho giáo này đ sản sinh ra các sĩ n đã phu yêu nước, lãnh đạo các phong trào Văn Thân o Cần Vương chống Pháp, gây nhi khó khăn trong ng nhiều tiến trình xâm lăng và b ăng bình định. Hòa ước Patenôtre 1884 đặt Việt Nam hoàn toàn dư sự t dưới thống trị của thực dân Pháp. Chính sách cai tr c trị được thể hiện rõ qua lời Thố Sứ Paul Bert (*): ống “Khi một dân tộc vì một lẽ nào đó đ đặt chân lên đã lãnh thổ của một dân tộc khác thì có ba vi : Tiêu c việc diệt kẻ bại, nô lệ họ một cách nh nhã, hoặc đồng t nhục hóa họ theo mình”. (Việt Sử Toàn Thư của Phạm ử văn Sơn). Giai đoạn xâm lăng v lực đã hoàn tất, vũ bước tiếp theo là xâm lăng văn hóa, ổn định xã p hội, bảo đảm nền thống trị, c , củng cố chính quyền thực dân. Muốn đạt được như v phải phá bỏ văn c vậy hóa chữ nho cũ, phổ biến văn hóa m nhằm đồng n mới hóa dân Việt với loại văn tự có mẫu tự la tinh, ự dùng tiếng Pháp và chữ quốc ng (**), đào tạo lớp c ngữ người mới đoạn tuyệt với văn hóa ảnh hưởng văn i hóa Trung Hoa, nhào nặn các th hệ sau đi theo ác thế văn hóa phương tây để phục v mẫu quốc. Trần c vụ Tế Xương đã để lại dấu ấn xã h lúc đó qua các n hội bài thơ của ông. “Trên ghế bà Đầm ngoi đít v m vịt Dưới sân ông Cử ngẩng đ rồng” ng đầu “Nào có ra gì cái chữ nho Ông Nghè ông Cống cũng n co ũng nằm Sao bằng đi học làm ông Phán c Tối rượu sâm banh, sáng s bò” u sữa

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
“Nghe nói khoa này sắp đổi thi Các thầy đồ cố đỗ mau đi Dẫu không bia đá còn bia miệng ng Vứt bút lông đi giắt viết chì" Trong thời kỳ phôi thai, Pháp thi lập vài thiết trường làm nòng cốt của hệ thống giáo dục phổ thông mới, đảm trách chiến lược trồng ngư mới ng người cho các thế hệ kế tiếp. Năm 1867 Nam K trở p. Kỳ thành thuộc địa của Pháp sau khi Cụ Phan Thanh ụ Giản giao nốt ba tỉnh miền tây. B năm sau n Bảy (1874), Pháp lập trường Chasseloup-Laubat nay là Lê Quí Đôn ở Saìgòn. Năm 1879 l ăm lập trường Collège de Mytho, thường gọi là trung h Le i học Myre de Vilers nay là Nguyễn đình Chi ình Chiểu. Mười hai năm sau khi đặt xong nền bảo h ở Trung và o hộ Bắc kỳ, năm 1896 lập trường Quốc H Huế. Năm c Học 1905 lập trường trung học Collège du Pro c Protectorat tức trường Bưởi Hà Nội. Các trường này khi m ng mới mở chỉ có bậc tiểu học, sau mới giảng d đến các ng dạy bậc cao hơn. Ở Trung Kỳ có ba trườ đều mang ờng tên Quốc Học đưọc mở vào những th điểm khác ng thời nhau: Quốc Học Huế, Quốc Học Vinh và Qu c Quốc Học Qui Nhơn. giữ mãi tơí 1945 mới chấm d do Nhật thay Pháp m dứt thống trị. Khởi thủy, Cổng trườ ờng Quốc Học ngày thành lập tầng trên có gác chuông trư ng trường được đặt tại trại thủy quân cũ của Nhà Nguy gồm hai dãy a Nguyễn nhà tranh cột gỗ. Năm 1911 b hỏa hoạn cháy rụi. . bị Năm 1915 trường được xây d c dựng lại bằng gạch lợp ngói, cơ bản giống như hi thấy, được nâng ng hiện lên thành Collège de Quốc H dạy cấp hai gồm c Học Thất, Lục, Ngũ, Tứ. Tới năm 1936, trư i trường mở rộng cơ sở, tuyển thêm cấp ba g p gồm các lớp Đệ Tam, Đê Nhị, Đệ Nhất. Trườ chính thức mang ờng tên Lycée de Khải Định cho đ năm 1946. đến Dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, ủ trường được Nhật cho mở cửa trở lại, bỏ tiếng Pháp. Ông Phạm Đình Ái là Hi Trưởng người ình Hiệu Việt đầu tiên của trường và các l ng lớp học phải chuyển vào Đại Nội. Năm 1946 Pháp tái chi i. chiếm Huế, toàn quốc kháng chiến ch n chống Pháp bắt đầu, dân chúng tản cư. Trường tách ra làm hai, m ng một phần ở lại Huế, một phần di chuy ra Bắc. Các n chuyển lớp Thất Lục Ngũ Tứ đóng t Hương Khê Hà tại Tĩnh có tên trường Bình Tr Thiên. Các lớp Đệ ng Trị Tam Nhị Nhất đóng tại Đức c-Thọ Hà-Tĩnh mang tên trường Huỳnh Thúc Kháng (h thân Quốc nh (hậu Học Vinh sau này). Sau hồi cư, các giáo sư c lại i còn hợp với một số ít người trong nhóm ra Hà T i Tĩnh quay về Huế phục hoạt trườ Khải Định. Thầy ờng Phạm Đình Ái tiếp tục ra Bắ đến năm 1952 mới ắc trở lại Huế. Các Hiệu Trưởng k tiếp: ng kế Phạm văn Nhu (1947-1948), 1948), Nguyễn Hữu Thứ (1948 (1948-1950) Hùynh Hòa (1950-1954) 1954) Nguyễn văn Hai (1954-1956) 1956) Nguyễn Đình Hàm (1956 ình (1956-1958) Trong buổi đầu tái hoạ động, quí vị Hiệu ạt Trưởng hẳn chắc phải vất v rất nhiều, dồn mọi t vả tâm huyết đối phó với việc thi trường ốc vì cơ c thiếu sở Khải Định đang bị quân đ Pháp chiếm làm đội nơi đóng quân, phải mượn trư n trường Thượng Tứ, Lê Lợi, Việt Anh (Nguyễn Tri Phương). n

Trường Quốc Học Huế là trư trường đầu tiên có một lịch sử lâu dài nhất ở xứ bảo h so với các o hộ trường khác. Năm 1896, vua Thành Thái ra ch ng chỉ Dụ: “Trẫm đã xét kỹ lời trình tấu, v nay giáng u, vậy dụ chỉ thành lập một trường lấy tên là "QU y "QUỐC HỌC", (xem chỉ Dụ đính kèm) chỉ có bậc Tiểu ỉ Học do ông Ngô Đình Khả làm Chu Chuởng Giáo, Ông Nguyễn Văn Mại làm Phụ Tá Chư Chưởng Giáo. Trường có tên École Primaire Supérieur (Cao ng Đẳng Tiểu Học) chủ yếu dạy tiếng Pháp, th yếu ng thứ là chữ Quốc Ngữ và chữ nho. Từ năm 1902 ch chức Chưởng Giáo phải giao lại cho ngươ Pháp nắm i ngươì
-7-

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
“Giữa năm 1948, được tá túc chia m nửa c một cơ ngơi của trường Đồng Khánh. Kh Định được ng Khải phân nửa nằm ở phía tây con đường đi t cổng ng từ chính đến sân chơi. Học trò của Khải Đ i Định đi học, đi vào cổng chính, nhưng chỉ được đi theo con c đường đó một đoạn ngắn mà thôi. Qua kh văn n khỏi phòng hiệu trưởng là phải rẽ vào con đư đường nhỏ đi thẳng đến dãy lầu lớp học. Học trò c Đồng c của Khánh đi học, đi vào cổng bên, phía dinh Ph ng Phủ Doãn. Qua khỏi cổng là đến ngay dãy l lớp học n lầu đối diện. Như vậy, con đường biên gi giữa hai ng giới ngôi truờng, trừ phần ngoài cổng chính đi vào, ng không một học sinh nào được phép đi l Sáng c lại. sáng, vào giờ tựu trường, chỉ thấ thầy hiệu ấy trưởng Nguyễn Hữu Thứ thong dong đ chiếc xe đạp đu-ra bóng lộn từ cổng chính tiến vào, theo con n đường biên giới đến cột cờ, từ từ rẽ sang phải, đi về phòng giáo sư. Và trăm lần như m xe thầy n một, còn xa mới tới bậc thềm đã thấy bác Tôn tùy phái y văn phòng chạy ra đỡ lấy xe mang vào bên trong. y Đây là màn show rửamắt buổi sáng quen thu i thuộc của bọn học trò con trai chúng tôi.”(BS H văn c Hồ Châm kể) Ngày 29 tháng 4 năm 1955 quân Pháp rút đi trả lại cơ sở trường Khải Định cho chính quy nh quyền Việt Nam. Trường được mang tên Ngô Đ c Đình Diệm dưới thời Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo D Nguyễn c Dục Dương Đôn. Thầy Nguyễn Đình Hàm làm Hi ình Hiệu Trưởng (trong sân cờ của trường lúc tôi học có ng thấy dựng một bia nhỏ đánh dấu s kiện này, u sự không rõ ngày nay còn không), tên Tr Trường Ngô Đình Diệm chỉ hiện hữu trên giấy t chưa dựng y tờ bảng lên cổng trường, (đang trong quá tr ng, trình cân nhắc chăng?). Có lẽ Tổng Thống Ngô Đ ng Đình Diệm cảm thấy không ổn vì trường đã do thân ph ông, ã phụ cụ Ngô Đình Khả, làm Chưởng Giáo đ tiên nên ng đầu ông ra Quyết Định lấy lại tên Quố Học. Thầy ốc Hiệu Trưởng Nguyễn Đình Hàm là ng ình người lo toan sắp xếp tổ chức lại từ một nơi đóng quân tr thành t trở trường học qui củ khang trang không p phải là việc đơn giản. Công lao của những người góp tay trong i quá trình phục hoạt lại trường phải đư các thế i được hệ hậu sinh ghi nhớ. Trường mang tên TRƯ ng TRƯỜNG QUỐC HỌC từ 1957 cho tới ngày nay. Nói về Trường Quốc H mà không nói đến c Học Trường Đồng Khánh là một thiếu sót lớn. Lễ dặt t đá xây dựng trường ngày 15 tháng 7 năm1917 ng dưới sự chủ tọa của vua Khả Định. Từ 1919 đến ải 1955 trường mang tên Cao Đ ng Đẳng Tiểu Học Đồng Khánh. Sau năm 1955 mới tr thành Trung Học i trở Đồng Khánh chỉ có từ đệ thấ đến đệ nhị. Lên lớp ất đệ nhất phải qua Quốc Họ Mãi cho đến sau ọc. 1963, trường mớí có đủ các lớ Đệ Nhị Cấp, từ đó ớp không còn thấy bóng hồng thấp thoáng trong sân Quốc Học nữa. Cụm từ Quốc-Học Đồng-Khánh luôn đi liền bên nhau, phải chăng định mệnh đã khiến hai trường gắn bó với nhau?. Này nhé: hai trường đều nằ trong khu đất trại ằm thủy quân Nhà Nguyễn, cùng nhìn ra sông H n, Hương, chỉ cách nhau một con đường nh đường Nguyễn ng nhỏ, Trường Tộ. Hai trường đều quét vôi màu h u hồng đậm. Học sinh hai trường cùng đitrên m con ng một đường râm mát bóng cây, cùn xuôi Đập Đá về Vĩ ng cùng Dạ, chợ Cống, qua cầu Trường Ti hay ngược Dã ng Tiền Viên lên Cầu Lòn qua Kim Long, ho cùng đợi ở u hoặc bến đò Thừa Phủ để vào Thành N về Gia Hội... Nội Đó là cơ hội tốt cho tình yêuthu đầu đời chớm nở t yêuthuở sẽ đâm hoa kết trái về sau. Như đ thấy có thời đã gian Quốc Học phải nương nh Đồng Khánh, i nhờ ngược lại lên lớp đệ nhất, thì Đồng Khánh phải t, núp bóng Quốc Học. Vì vậy, hai trư y, trường có nhiều liên hệ tình cảm, đã để lại mãi mãi v sau nhiều i về chuyện tình đẵm nước mắt, c t, cũng như tràn đầy hạnh phúc…. Hồi tưởng lại, lòng đ đầy thương cảm vợ chồng Thầy Văn Đình Hy, Giám H Quốc Học Học và Cô Đặng Tống Tịnh Nhơn, Hi Trưởng Đồng nh Hiệu
-8-

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Khánh. Bất cứ người Huế nào lúc đó cũng thèm thuồng hạnh phúc đẹp đôi của họ. Cùng năm 1917, tại Hà Nội được lập một trường Đồng Khánh bên cạnh Hồ Gươm. Năm 1948 đồi thành trường Trưng Vương. Tại Sàigòn năm 1915 lập trường nữ Tiểu Học mặc áo tím nên thường được gọi là Trường Áo Tím. Năm 1922 nâng lên Trung Học gọi Collège de Jeunnes Filles tức Gia Long sau này. Trường Quốc Học Vinh ( Collège de Vinh) được lập năm 1920 tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An. Hiệu Trưởng đầu tiên là ông Pihet. Người Việt Nam đâù tiên làm Hiệu Trưởng là ông Vũ Đức Thân, người cuối cùng là ông Nguyễn Ngọc Cầu từ 9/1949-9/1950. Năm 1943-1944, trường được đổi tên thành Trường Nguyễn Công Trứ. Quân Trung Hoa lấy trường Nguyễn Công Trứ làm nơi đóng quân nên đầu năm học 1945 – 1946, học sinh phải học ở dinh Đốc học trong thành Vinh. Sau tạm ước 6-3-1946 quân Trung Hoa rút về nước, họcsinh lại trở về trường cũ học cho đến hết năm học 1945 – 1946. Niên khóa 1946 - 1947 chỉ học được vài tháng thì toàn quốc kháng chiến bùng nổ và chính sách “tiêu thổ kháng chiến” đã phá hủy trường hoàn toàn. Cơ sở trường Quốc Học Vinh không còn tồn tại và hiện nay, trường Huỳnh Thúc Kháng là hậu thân của Quốc Học Vinh. (Theo Phan Trọng Báu-Văn hóa Nghệ An). Trường Quốc Học Qui Nhơn được nâng lên từ một trường Tiểu Học. Niên khóa 19211922, trường Pháp-Việt Qui Nhơn (nay là trường Tiểu Học Lê Lợi), mở thêm lớp Đệ nhất niên, được đổi thành Trường Quốc Học Qui Nhơn (Collège de Qui Nhon), sau lớp này học sinh phải ra Quốc Học Huế học tiếp lên trên. Niên khóa 1924-1925 trường di chuyển đến vị trí khác (nay là khu vực Tiểu Học Lê Hồng Phong). Niên khóa 1926-1927, trường hoàn chỉnh cấp Cao Đẳng Tiểu Học và có đủ 10 lớp từ lớp năm lên Đệ Tứ (lớp 1 đến lớp 9). Trường có khoảng 400 học sinh ở các địa phương từ Đà nẳng đến Phan Thiết và các tỉnh Tây Nguyên. Xuân Diệu, Chế Lan Viên đã học ở đây trước khi ra Quốc Học Huế. Trong thời chiến
-9-

tranh Việt-Pháp, trường bị phá hủy. Năm 1955 chính quyền mới xây dựng lại trường trên nền cũ bị thu hẹp vì dân chiếm dụng trong thời chiến. Ngôi trường mới được xây dựng mang tên Trung Học Cường Để. Sau 1975 trường đổi tên trường cấp III Quang Trung. Niên học 1991-1992 trường mang lại tên Quốc Học Qui Nhơn. (quochocquynhon.edu.vn) Trên đây là đại lược quá trình hình thành các trường học vào buổi bình minh nền giáo dục mới trong đó có Quốc Học Huế nơi mà tôi chỉ có duyên vào ra trong ba năm cuối của bậc Trung Học. Nhân viết về Quốc Học nên có đôi giòng về đời học sinh với nhiều kỷ niệm đáng nhớ trong đó có thời gian ở Quốc Học, kể lại nơi đây biết đâu “ai đó” đọc được, giúp gợi nhớ quá khứ thời học trò nhiều vụng dại: Đến nay tôi hiểu thì tôi đã, Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi” TTKh Sau khi hòa bình lập lại, tôi vào học Trường Tiểu Học Tương Lai Bồ Điền thuộc nhà Thờ Bồ Điền do Cha Lập cai quản, giáo viên là các Soeurs (thường gọi là Chị), chị Chiên làm Hiệu Trưởng, Chị Thái dạy lớp Nhất, Chị Ban dạy lớp Nhì. Mùa hè 1956 lên Huế thi Tiểu Học tại trường Thanh Long, tiệm tạp hóa La Ngu trên đường Hàng Bè ở gần cầu Đông Ba là nơi tôi mua bút mực chuẩn bị cho ngày thi Tiểu Học. Các bạn cùng lớp còn nhớ tên là Trần Nhạn, Thái Bình Minh, Võ Cừ, Võ Y, Ngô Hiệu. Hết hè năm đó lên Huế trọ học ở đường Ô Hồ sau mang tên đường Mạc Đỉnh Chi, nơi đây có Mã Ông Trạng sau lưng chùa Diệu Đế, có lẽ vì vậy nên khu vực này nhiều đường mang tên các danh sĩ nước nhà như đường Nguyễn Bỉnh Khiêm tức đường Đò Cồn đi thẳng đến bến Đò Cồn (bến đò nối liền Huế với Cồn Hến), đường Trung Bộ mang tên Tô Hiến Thành, đường Ngự Viên đổi lại đường Nguyễn Du (không phải đường Ngự Viên hiện nay song song với đường Diệu Đế). Niên khóa 1956-1957 là năm học đầu tại Trường Nguyễn Du ở đường Ngự Viên, âm hưởng Ngự Viên nghe khá nên thơ vì nơi đây có vườn Ngự Uyển. Khi tôi đến đây, Ngự Viên chỉ là một khoảng đất có tường rào xiêu vẹo, đổ nát.

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Cổng đi vào có mấy trụ biểu đã loang lổ vì thời gian. Bên trong được trồng hoa màu có mấy gian nhà tôn lụp xụp. Cảnh huyên náo xôn xao ngựa xe, áo quần lượt là, mùi thơm sực nức ướp hương của các cung tần mỹ nữ, màu sắc cờ quạt, áo mão cân đai của các đình thần quan lại, các tân khoa trạng nguyên bảng nhản thám hoa…đã theo gió bay xa, chỉ còn mây trắng bay bay trong bầu trời xanh mông mênh….. “Bạch vân thiên tải không du du”, và tiếng gió rì rào qua xóm nghèo xơ xác, lòng xao xuyến nhớ lại bài thơ XÓM NGỰ VIÊN Nguyễn Bính đã tả về Ngự Viên (đính kèm toàn bài): * Giậu đổ dây leo suồng sã quá Hoa tàn con bướm cánh nghiêng nghiêng Buồn thu rơi nhẹ đôi tờ lá Xóm vắng rêu xanh những lối hè * Gót sen bước nhẹ lầu tôn nữ Ngựa bạch buông chùng áo Trạng nguyên * Hôm nay có một người du khách Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên Trường Nguyễn Du lúc đó chỉ có Đệ nhất cấp, nam nữ học chung. Lớp tôi có khoảng chừng bốn mươi, nữ sinh chiếm ba, bốn bàn đầu bên phải nhìn lên bảng đen. Những tên Tôn Nữ Thu Hương, Nguyễn Thị Liên Hương, Trần thị Thanh Xuân, Nguyễn thị Chanh, Hồ Xuân Tịnh, Nguyễn Khoa Bông, Lê Vầm, Lê Vệ, Bùi Hữu Vịnh, Nguyễn văn Chánh, Nguyễn chánh Sáu, Lê văn Ngăn, Nguyễn văn Châu, Nguyễn thanh Châu, Nguyễn Ngân, Nguyễn Khắc Lý... ở Đệ Thất Lục, lên Đệ Ngũ Tứ có thêm Phan thị Hằng, Phan thị Xuân, Nguyễn Thúy Liệu, Nguyễn Thị Kim Quyên, Trần Nhơn, Vĩnh Cao, Lê cảnh Tuấn, Lê quang Dật, Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn hữu Dật, Nguyễn văn Thọ …..Tốt nghiệp Trung Học Đệ Nhất Cấp xong có người vào trường chuyên nghiệp như Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Cán Sự Y Tế Huế, Nữ Hộ Sinh Quốc Gia (Sâge Femme Huế), Cán Sự Bưu Điện Sàigòn…người nào học lên phải thi vào Quốc Học (đỗ hạng Bình khỏi qua thi tuyển), không đỗ thì vào Trường Trung Học Bán Công Huế, trường Mê Linh, trường Bồ Đề Hữu Ngạn.. Lên Đệ Tam Quốc Học chỉ còn gặp vài bạn như Trần Nhơn Ban A, Vĩnh Cao, Hồ Xuân Tịnh ban B, Lê văn Ngăn Ban C, các bạn khác thời Nguyễn Du không còn gặp nữa, không rõ đi đâu. Lớp Đệ Tam B3 nằm trong dãy nhà trệt mới xây dựng dọc bờ tường giữa Quốc Học Đồng Khánh. Các bạn mới có Lê Đức Viêm, Nguyễn văn Lợi, Trần đình Văn, Nguyễn Thiệp có nước da ngăm ngăm đen, một cầu thủ chủ yếu của đội bóng tròn Quốc Học (bóng tròn ngày nay gọi là bóng đá xem ra hợp lý hơn, chứ bóng tròn thì bóng nào chả tròn). Kỷ niệm khó quên là chuyện đá thạch anh mà Trần đình Văn nhờ cô Trần Thị Như Lưu, giáo sư vạn vật lấy trong túi quần và bạn Trương đình Thư đi học bằng xe gắn máy, những giờ nghỉ giữa buổi hoặc cuối tuần, Thư thường hay chở đi chơi nhiều nơi (thời này học sinh hiếm có xe gắn máy). Cuối năm Đệ Tam, bạn Thư đi đâu không rõ. Giờ ra chơi, bọn Đệ Tam chúng tôi thường tụ tập dọc hành lang đối diện với dãy nhà hai tầng có các lớp Đệ Nhất với một số ít nữ sinh Đồng Khánh học trong đó. Cả đám tụi tôi chỉ chỏ luận bàn lung tung, hò reo chọc phá các đàn chị. Lớp đệ nhất có chị Tương Giang, con Thầy Hiệu Trưởng. Đúng là nhất quỉ nhì ma, thứ ba học trò. Về thầy giáo, năm đệ tam có Thầy Nguyễn như Truyền dạy Quốc Văn, thầy Tôn Thất Dinh dạy Anh văn, chúng tôi đặt biệt danh “keep silence” vì thầy luôn luôn nói keep silence mỗi khi thầy tới lớp. Thầy Nguyễn Hữu Kiêm dạy toán là thầy hắc ám nhất. Thầy ra toán quá khó, phần đông 2/3 dưới điểm 6/20. Thầy lấy bài ca dao ra biểu áp dụng đại số lập phương trình để tìm số người nói tới trong đó (lâu ngày quên bài ca dao đó), thầy luôn luôn mang tất (vớ). Thầy Trần Đình Bình dạy Lý Hóa kiêm giáo sư hướng dẫn. Thầy có dạy ở trường Bán Công Huế và kết hôn với Phan thị Xuân, một hoa khôi của Nguyễn Du. Thầy Đòan Nê dạy Pháp Văn, thầy say sưa giảng về thời Phục Hưng (Renaissance) của văn học Pháp. Với giọng khàn khàn, trầm trầm nhừa nhựa, thầy hay kể nhiều chuyện vui trong văn học Pháp. Chúng tôi thường hay xin thầy kể tiếp để thầy không còn giờ truy bài chúng tôi. Năm Đệ Nhị, có các thầy Trần như Uyên dạy Quốc Văn, thầy Phan Khắc Tuân dạy Lý Hóa. Thầy Tuân có mang đôi mắt kiếng khá dày có lẽ thầy bị cận thị nặng như thầy Đinh Qui Hiệu

- 10 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Trường. Thầy Nguyễn Đức Mai dạy Anh Văn, bên y cạnh thầy luôn có một người bạn Mỹ đi kèm. Sau ỹ này, có thời gian thầy được cử giữ chức Trưởng Ty Thông Tin Thừa Thiên Huế. Th Bùi đình . Thầy Nhuận dạy Toán, thầy đẹp trai, ít cườ khi nào nét ời, mặt cũng nghiêm. Thầy đi dạy không c sách vở y cần cặp da gì cả, tới lớp với hai tay không. Các th i thầy năm Đệ Nhất có bà Nguyễn Châu d n dạy Triết, thường gọi bằng khuê danh là Cô Lan. Th Lê ng Thầy vĩnh Kiến dạy Lý Hóa. Sau này, thầ chuyển qua ầy hoạt động chính trị Liên danh của th đắc cử a thầy Thượng Viện. Thầy Toán vẫn làthầy Nhu y Nhuận, thầy Vĩnh Quyền dạy Anh văn, thầy Lâm Tài d Sử y dạy Địa. Thầy Tài đi một chiếc xe hơi màu hoa l rất c lý đẹp làm nhiều người mơ ước. Thầy Ngô Bút d y dạy Công Dân. Thầy Cao Hữu Hoành dạ Pháp Văn. ạy Năm đệ nhất có các bạn Bùi hữu V u Vừa, Phan tử Duy, Hà thúc Thụy, Lê văn Tiu, gia sư con gái nhà y, Mỹ Thắng (hoa khôi Đồng Khánh) sau du h Tây ng học Đức, Lê Tự Rô, Ngô văn Tường… Thời gian này bù đầu lo học cho đ Tú Tài c đậu I rồi Tú Tài II, nếu không đậu đời s bi đát lắm, i sẽ “rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ” (Tú tài trong câu nói ài này là Tú Tài I), cho nên ít giao du rong chơi mà chỉ lo “dùi mài kinh sử”. Lên Đệ Nhị Cấp chỉ rảnh ị năm Đệ Tam, bận nhất hai năm liên ti Đệ Nhị t tiếp phải đậu Tú Tài I mới lên Đệ Nhất. Th đó, Tiểu t. Thời học phải thi, Trung Học Đệ Nhất C cũng thi. t Cấp Học sinh Quốc Học mang bảng tên màu tr ng trắng thêu chữ màu xanh nước biển, hai đầu tên là các g u gạch. Ví dụ: một gạch (─ tên ─) là Đệ Tam, hai g gạch chồng lên (═ tên ═) là Đệ Nhị, anh nào mang ba , gạch (≡ tên ≡) là Đệ Nhất, tức là chàng ta đ có c đã trong tay mảnh bằng Tú Tài I rồi khỏ lo, có thể ra ỏi đời kiếm sống, nếu đi lính thì Chuẩn Úy trong tay. n Nữ sinh Đồng Khánh tinh mắt lắm hay li nhìn m liếc bảng tên trước tiên khi đối diện chuy trò cho n chuyện thích hợp. Mang ba gạch là oai lắ vì là Niên ắm Trưởng trong trường. Ngoài xã hội là ông Tú i Tú-nửa. Phải học hết năm Đệ Nhất đậu được Tú Tài II m c mới đưọc gọi là ông Tú. Cửa vào đời rộng m để tiếp ng mở đón, kể cả con tim của mấy nàng cũng r ũng rộng mở. Nếu vào Đại Học thì còn oai hơn, con tim m ơn, mấy nàng càng mở rộng hơn nhiều. Lúc đó nh xuống u. nhìn thấy một đoàn đàn em đông đảo, nhìn lên th các o, thấy

sinh viên Đại Học Huế oai quá, g đối tượng nữ gặp sinh xinh xắn hay nghêu ngao ch ghẹo: n chọc “Sông Hương lắm chuy đò ngang m chuyến Chờ anh em nhé đừng sang m mình” ng một Năm tiếp theo vào giả ảng đường Đại Học Khoa Học Huế ở Morin, thử MathGén(Mathématique générale) quá khó, xoay Gén(Mathématique qua MPC (Mathématique Physics Chimie) c cũng không xong. Chiến sự ngày càng ác li thanh liệt, niên phải nhập ngũ cầm súng, th là đành “xếp bút m thế nghiên” theo nghiệp Hải Quân. Giang h vùng i hồ vẫy, “giã từ Cố Đô” nổi trôi theo v nước lưu lạc i vận xứ người. Thế hệ chúng tôi h hết đã bị đốt cháy hầu trong lửa đạn chiến chinh, ngư phía này kẻ phía n người kia trở thành kẻ thù tàn sát l nhau, còn được lẫn sống đến hôm nay quả rất may mắn. t Ngày nay, chỉ còn gặp l một số rất ít người p lại bạn học cũ. Lần trở lại thăm Hu năm 2008, bạn i Huế bè đồng trang lứa cũ không c mấy, hoặc đã chết ũ còn hoặc đi nước ngoài. Ghé qua Qu Học, vào Đại c Quốc Nội, dạo chơi bờ sông Hương, nơi nào c cũng thấy tẻ lạnh. Chỉ thấy dòng nướ buồn thiu không ớc muốn chảy. Phải chăng giòng n òng nước đang ngậm ngùi cho cuộc bể dâu, hay cả thông cho số phận ảm những mái đầu xanh thời trai tr đã từng soi bóng i trẻ nước Hương Giang nay đã b màu vì bụi thời ã bạc gian và truân chuyên trong cu sống? Thẩn thờ cuộc nghĩ đến quá khứ thời hoa niên v biết bao những i với kỷ niệm cũ tràn về. Những ngày cùng nhau đi tr ng trại ở Vạn Niên, hái dâu ăn thanh trà ở Nguyệt Biều, n tắm sông Hương ở Lương Quán, t tắm biển Thuận An, du ngoạn đồi Thiên An V i Vọng Cảnh, đi xem Cầu Ngói Thanh Tòan, Hổ Quyền. Những ngày

- 11 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
biểu tình bải khóa, tiếng hò reo xem chừng cơ hồ như còn hòa lẫn trong gió chiều vi vu trên bờ sông. Tất cả đã lùi về quá khứ như một giấc mơ. Chuông chùa Thiên Mụ vang lên từng tiếng một, uể oải. Âm thanh thong thả ngân dài, buông lơi, tan dần trong không gian u tịch lúc chiều xuống khiến viễn khách chạnh lòng nhớ lại những kỷ niệm một thời quá khứ của một kiếp người, lòng bâng khuâng tự hỏi: “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?” (Vũ đình Liên). Sacramento,California Cuối Thu Tân Mão, tháng 11 năm 2011 Hoàng-Huy Hoàng Phước Quyến Ghi chú: (*) Paul Bert sinh năm 1833, xuất thân trường École polytechnique ở Paris, giáo sư Đại học Bordeaux(1866) , Sorbonne(1869) , Bộ trưởng Giáo Dục (1881-1882). Tháng 1 năm 1886 được cử giữ chức Thống Sứ (resident-général) Bắc và Trung Kỳ. Nhậm chức tháng 4 đến khi qua đời tháng 11 năm 1886 tại Hànội. Pháp coi ông là kiến trúc sư tổ chức lại thuộc địa và qui hoạch Hà Nội trước khi vua Đồng Khánh giao Hà Nội làm nhượng địa cho Pháp. (**) Thoạt kỳ thủy, các giáo sĩ ký âm tiếng Việt bằng mẫu tự la tinh tạo ra chữ Việt vì nhu cầu truyền giáo. Với truyền thống thông minh và quật cường của dân tộc, các trí thức yêu nước đã biết vận dụng văn tự này góp sức chỉnh sửa phổ biến thành chữ Quốc Ngữ chúng ta dùng ngày nay. Thông qua chữ Quốc Ngữ, truyền bá văn hóa mới mở mang dân trí, đưa dân tộc thoát khỏi lối học từ chương nho giáo cũ, dành độc lập cho nước nhà. Đính kèm: Chỉ Dụ của Vua Thành Thái, Nghị Định của Toàn Quyền Đông Dương và Xóm Ngự Viên của Nguyễn Bính Tồn Nghi: Trong tài liệu này ghi “Năm Thành Thái thứ hai (ngày 17 tháng chín), Cơ Mật Viện triều Thành Thái…”, tôi e có nhầm lẫn chăng? Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, năm 1888 là năm Thành Tháí nguyên niên, lên ngôi ngày 28 tháng 1 năm 1888, như vậy năm 1896 phải là năm Thành Thái thứ Tám, có nhiều người viết “năm Thành Thái thứ 8 lập trường Quốc Học”. Mong BS Hồ Đắc Duy có đọc được Tồn Nghi này nên xem lại bản gốc do thầy Châu Tăng cung cấp để chỉnh sửa vì đây là sử liệu cần tính chính xác. HPQ I- DỤ NGÀY 23-10-1896 : http://h.1asphost.com/quochochue/tsQH.htm Năm Thành Thái thứ hai (ngày 17 tháng chín), Cơ Mật Viện triều Thành Thái cung lục "dụ chỉ" như sau : "Muốn cho việc giáo dục đuợc hoàn bị, không nên hạn chế học vấn trong khuôn khổ hẹp hòi. Trái lại, để bảo đảm cho việc giáo huấn được điều hòa cần mở ra các lớp học thường xuyên. Nay ngoài những thánh kinh, hiền truyện của Trung Hoa lại còn nhiều sách trước tác ở các nước khác và trách nhiệm của người đại diện phát ngôn trong lúc giao thiệp trên trường quốc tế rất là quan trọng. Vả lại, phát triển giáo dục là phương tiện duy nhất để mở mang trí thức, đào tạo nhân tài. Trong tình hình hiện tại không thể xem thường những nhận xét trên đây được, bởi vì ở nuớc ta việc giáo huấn theo sách vở Khổng học, từ trường Quốc tử giám đến các trường công ở tỉnh tuy rất phổ thông và hoàn toàn, nhưng việc giảng cứu các môn học tây phuơng đến nay vẫn còn nhiều thiếu sót cần phải được bổ cứu". Trẫm đã xét kỹ lời trình tấu,vậy nay giáng dụ chỉ. thành lập một trường lấy tên là "QUỐC HỌC", môn dạy chính là Pháp văn. Tuy nhiên, chương trình học còn có môn Hán tự nữa. Các công tử, tôn sanh, sinh viên trường Quốc tử giám cùng các học sinh trường công các tỉnh lỵ đều có thể xin học vào trường này và được học bổng theo lệ định với điều kiện. tuổi từ 15 đến 20. Những người quá hạn tuổi., những học sinh, con nhà thường dân

- 12 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
đều có thể được đặc cách nhận vào nếu học lực xuất sắc. Dụ này sẽ chuyển đạt cho qúy Toàn quyền đại thần để bổ nhiệm vị Chưởng giáo ( có ấn kiếm) và chuẩn y những nguyên tắc đại cương của nhà trường. Ấn kiếm. làm bằng đồng đen, theo kiểu mẫu ấn, tiểu kiềm của trường Quốc Tử Giám. Ấn lớn khắc chữ lớn "QUỐC HỌC TRƯỜNG QUAN PHÒNG", tiểu kiềm khắc chữ Hán "QUỐC HỌC". Khâm thử. II- NGHỊ ÐỊNH NGÀY 18-11-1896 CỦA PHỦ TOÀN QUYỀN ÐÔNG DƯƠNG. Khoản 1. Nay thiết lập tại Huế. một học đường lấy tên là QUỐC HỌC (Quốc Gia Học Ðường). Pháp văn sẽ chiếm phần lớn trong chương trình dạy, tuy Hán văn vẫn được chú ý để cho sinh viên sẽ vào ngành quan lại có thể đồng thời học hai thứ chữ. Khoản 2. Trường Hành Nhân nay bãi bỏ và trường Quốc Học thay thế. Khỏan 3. Ngoài sinh viên trường Quốc Tử Giám và trường Hành Nhân cũ, không một sinh viên nào được nhận vào trường Quốc Học nếu không có đủ 15 tuổi. Khoản 4. Ðược nhận vào trường. các công tử con hoàng thân, các tôn sanh chi nhánh trong hoàng gia, các ấm tử hoặc những con quan được hưởng đặc quyền, sinh viên trường Hành Nhân và 5 sinh viên trường Quốc tử Giám. Khoản 5. Có thể được nhận để theo học các khoa ở trường Quốc Học những thanh niên bản xứ muốn theo đuổi học vấn và được nhìn nhận sau một thời kỳ khảo thí là đủ trình độ Hán học để theo dõi các khóa học. Khoản 6. Những học sinh dưới 15 và trên 8 tuổi có thể được nhận học ngoại trú vào một lớp riêng mở tại nhà phụ thuộc của trường. Khoản 7. Ban Giám đốc trường gồm. 01 chưởng giáo, 01 giáo sư hạng nhất, 01 giáo sư hạng nhì, 01 giáo sư hạng ba, 01 giáo sư hạng tư , 01 giáo sư phụ trách các lớp nhỏ, 02 kiểm khán viên. Khoản 8. Chưởng giaó do Toàn quyền bổ dụng.được cấp phẩm hàm đối chiếu trong ngạch quan lại và có thể trực tiếp giao thiệp với Khâm sứ Trung kỳ, Viện Cơ Mật và các vị Thượng Thư. Khoản 9. Các giáo sư chỉ được phép dạy sau khi được Hội đồng do Khâm sứ Trung kỳ cử khảo thí năng lực. Khỏan 10. Ngoài lương bổng tính theo phẩm trật ngạch quan lại ông Chưởng giáo và các giáo sư sẽ được hưởng phụ cấp chức vụ. Khoản 11. Chưởng giaó, giaó sư đuợc cư trú trong trường. Khoản 12. (chế độ nhà trường, thời biểu học, sĩ số.) Khoản 13. Học viên. được hưởng những quyền lợi thích đáng Khoản 14. Các khoản chi phí về nhân viên, khí mảnh, công tác xây dựng và tu bổ trường ốc sẽ do chính phủ Nam triều đài thọ. Khoản 15. Ông Khâm sứ Trung kỳ và Hội đồng Cơ mật chiếu nhiệm vụ thi hành nghị định này. Ký tên : A. Rousseau (Tài liệu này do thầy Châu Tăng cung cấp và Nguyễn văn Sa - Hồ Ðắc Duy lược ghi theo yêu cầu của nhóm cựu học sinh QH/61-64 ) Xóm Ngự Viên Lâu nay có một người du khách Gió bụi mang về xóm Ngự Viên Giậu đổ dây leo suồng sã quá Hoa tàn con bướm cánh nghiêng nghiêng Buồn thu rơi nhẹ đôi tờ lá Xóm vắng rêu xanh những lối hè Khách du lần giở trang hoài cổ Mơ lại thời xưa xóm Ngự Viên. Có phải ngày xưa vườn Ngự uyển Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên? Sớm Đào, trưa Lý, đêm Hồng Phấn Tuyết Hạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên Cung tần mỹ nữ ngời son phấn Theo gót nhà vua nở gót sen Hương đưa bát ngát ngoài trăm dặm Cung nữ đa tình vua thiếu niên Một đôi công chúa đều hay chữ Hoàng hậu nhu mì không biết ghen. Đất rộng can chi mà đổi chác Thời bình đâu dụng chước hòa Phiên Mẫu đơn nở đỏ nhà vua nhớ

- 13 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Câu chuyện: "Hô lai bất thượng thuyền." Có phải ngày xưa vườn Ngự uyển Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên? Gót sen bước nhẹ lầu tôn nữ Ngựa bạch buông chùng áo Trạng nguyên Mười năm vay mượn vào kinh sử Đã giả xong rồi nợ bút nghiên Quan Trạng tân khoa tàn tiệc yến Đi xem hoa nở mấy hôm liền Đường hoa, má phấn tranh nhau ngó Nhạc ngựa vang lừng khắp bốn bên Thắp hương tôn nữ xin trời phật "Phù hộ cho con được phỉ nguyền." Lòng Trạng lâng lâng màu phú quí Quả cầu nho nhỏ bói lương duyên Tay ai ấy nhỉ gieo cầu đấy? Nghiêng cả mùa xuân Trạng ngước nhìn. Trạng bắt sai rồi, lầu rủ sáo Có người đêm ấy khóc giăng lên Bóng ai thấp thoáng sau bờ trúc Chẳng Tống Trân ư cũng Nguyễn Hiền? Khách du buồn mối buồn sông núi Núi lở sông bồi cảnh biến thiên Ngự viên ngày trước không còn nữa Giờ chỉ còn tên xóm Ngự Viên Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng! Giời đem hoa cỏ trả vườn tiên Tôn nữ ngồi đan từng chiếc áo Dân thường qua lại lối đi quen. Nhà cửa xúm nhau thành một xóm Cay nồng hơi thuốc lẫn hơi men Mụ vợ bắc nam người tứ xứ Anh chồng tay trắng lẫn tay đen Đổi thay tình nghĩa như cơm bữa Khúc "Hậu đình hoa" hát tự nhiên. Nhọc nhằn tiếng cú trong thanh vắng Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn... Hôm nay có một người du khách Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên Nguyễn Bính

Khiêm, công minh
“Thiên chi Đạo Tổn hữu dư nhi bổ bất túc” – Lão Tử Tâm an 2 chữ, tôi tặng anh Cõi vô thường 3 chữ, cõi vô minh Tâm an tặng, đành mong manh. Đất phân hai là Ta và Đất Khi cát bụi, tôi với anh là cát bụi Nơi trở về Cõi về cao như Núi. Trời cộng 3 Ta với 1 làm Một Bước vô thường, Tham Lưỡng (1) kết hư vô Nơi thánh giá Cõi xa, người an nghỉ. TÂM, không chung không thủy AN, gọi về ta kết tặng nhau Tinh Anh, Anh có về sau Tinh Anh Anh. TÂM nhiệm mầu Nơi cõi giới cô đơn kết với anh làm Một. Thôi đành KHIÊM, Công minh là Một.

hồ thanh ngạn
(1) Bất khả tương ly vi THAM, khả tương ly vi TAM Bất khả tương ly vi LƯỠNG, khả tương ly vi NHỊ - (Chu Dịch Nguyên Chỉ)

- 14 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

thung lũng hoa vàng
Lê khắc Huy
City Hall of San Jos José

San José là thành phố đông dân nhất ở Bắc ố California nằm trong một vùng thơ m ùng mộng mệnh danh là thung lũng hoa vàng. San Jos còn là thủ àng. José phủ của thung lũng điện tử (Silicon Valley), m ilicon một vùng được xếp hàng đầu trên thế giới về kỷ thuật , ế tập trung hơn 6.600 hãng điện tử thu d ử dùng hơn 254.000 nhân viên. Khoảng 3, 4 năm trước đây, dân số ở San ớc José đã vượt trội San Francisco để trở nên thành ợt phố đông dân nhất vùng Bắc California. Với dân ắc số hiện tại là 1.023.000, San José là thành phố đông dân thứ ba ở California (sau Los Angeles và San Diego) và xếp hạng 10 cho toàn nư Mỹ. oàn nước Khoảng 1/3 dân số là gốc da trắng, 1/3 l gốc ốc là Châu Mỹ La tinh và 1/3 là gốc Á châu trong khi ốc chỉ có 2.9% là gốc Phi châu. Điểm đặc biệt h ốc hơn nữa là San José có khoảng 100.000 ngư Việt 000 người nam và là thành phố có đông người Việt nam nhất ời thế giới. Có người bạn lần đầu tiên đ thăm San ên đến José, sau khi được giới thiệu các khu buôn bán ợc đông đúc của người Việt nam đã ng ý muốn đi ã ngỏ thăm vùng downtown những tưởng rằng sẽ có ởng nhiều tòa cao ốc chọc trời xứng đáng với tiềm năng kinh tế và dân số của thành ph Xin thưa ành phố. rằng San José trải dài trên một diện tích rộng lớn ột nhưng không có cao ốc san sát như các thành ph ư phố lớn khác vì hai lý do. Lý do thứ nhất l vì phi ứ là

trường San José nằm ngay cạnh downtown n đã ằm nên có đạo luật giới hạn độ cao của các t nhà trong ật tòa vùng. Cách đây khoảng 10 năm, th ảng thành phố đã bỏ ra nhiều tỷ đô la để trùng tu phi trư ùng trường và đã hoàn tất năm 2010. Xem ra, trong t ất tương lai San José sẽ không xây dựng thêm toà nhà nào cao hơn các toà êm nhà hiện có. Tòa cao ốc cao nhất hiện tại ở San Jose là 87m với 22 tầng. Lý do thứ hai là vì kỹ nghệ chính của San ỹ José là điện tử với những linh kiện nhỏ li ti . Chỉ ện cần một căn phòng nhỏ 1 tầng với diện tích chừng ỏ vài trăm mét vuông là có thể tạo ra thu nhập h ể hàng triệu đô la mỗi năm cho nên không có nhu c cho ên cầu cao ốc. So sánh với các thành ph lớn khác trên đất ành phố Mỹ thì San José là một thành ph rất mớí. Vào ành phố khoảng thập niên 70, San Jos chỉ có hơn 400.000 ên José dân nhưng chỉ hơn 20năm sau, vào kho ơn khoảng năm 2000 thì dân số đã tăng lên kho khoảng 900.000 và tiếp tục tăng lên đến hơn 1 tri dân vào năm ơn triệu 2010. Trong cùng thời gian đó, số ng ời người Việt nam đến định cư cũng tăng vọt hầu nh từ số không lên ũng như đến khoảng 100.000 người. Đây cũng l thời kỳ ời. là tăng trưởng nhảy vọt của kỹ nghệ điện tử rất thích hợp với óc thông minh và tính c cù nhẫn nại của à cần người Việt. Vậy thì San José có gì lạ ? ạ

- 15 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Với khoảng 200.000 người Việt Nam cho ời toàn vùng Bắc California, các khu buôn bán của ắc người Việt ở rải rác khắp San José và các thành phố lân cận như Milpitas, Santa Clara, Mountain pitas, View, Oakland, San Francisco, ..vv...Tuy nhiên, nếu kể đến nhữmg khu buôn bán tập trung nhiều ếu hàng quán Việt Nam nhất thì phải kể đến các trung ải tâm sau đây: cư ngụ. Đặc biệt ở đây có tiệm bún bò Huế là tiệm ụ. ăn Huế đầu tiên ở San José đã khai trương từ 30 năm trước và hiện tại vẫn còn. n.

Khu Little Saigon

Lion Plaza

Đây là khu thương mại lớn đầu ti được ại tiên xây dựng ở San José nằm ở góc đư ường Tully và King. Đây cũng là nơi có rất đông ng ất người Việt cư ngụ. Còn nhớ là có hơn 10.000 người đ thắp nến ời đã và tụ tập tại đây tiếp tay với người Việt v ời vùng Nam California để phản đối Trần Trường.

Khu Senter

Nằm trên đường Story từ xa lộ 101 cho đến ờng đường Roberts. Đây là vùng mà kho à khoảng 3 năm trước đây đã có nhiều tranh luận về việc đặt t và ều tên cuối cùng tên Little Saigon đư chấp thuận. Vào ùng được tháng 5 năm 2011, bia đá Little Saig đã được Saigòn khánh thành. Đặc biệt trong vùng này có thương rong xá Grand Century là thương xá m và khang mới trang nhất. Bên cạnh đó có khu th ạnh thương xá Viet Nam Town mới hơn và l hơn đã được ơn lớn khánh thành vào khoảng tháng 6 hay tháng 7 năm ảng 2011. Cũng như những thành ph lớn khác của ành phố Mỹ, San José có nhiều công vi ều viên, nhiều viện bảo tàng, trung tâm sinh hoạt và đ biệt là toà Thị à đặc Sảnh vừa mới xây xong với kiến trúc mới lạ. Tuy ảnh nhiên nếu cần đi thăm viếng một v nơi mà các ếu vài thành phố khác không có thì có th kể : ì thể

Viện Bảo tàng Kỹ thuật Cao cấp ( ỹ (The Tech Museum)
Là thành phố hàng đầu tr thế giới về Kỹ ầu trên thuật điện tử, tập trung nhiều hảng điện tử lớn ật cọng thêm hai trường đại học lớn l Stanford và ờng là UC Berkeley. Các kỹ thuật điện tử mới vừa đ ỹ được phát minh sẽ được trưng bày trư tiên tại Viện ưng trước Bảo tàng này. Nằm trên đường Senter khoảng giữa đ ờng đường Umbarger và Southside. Vùng này không nh những có nhiều hàng quán mà còn có nhiều ng ều người Việt

Lâu dài Bí mật Winchester (Winchester ật Mistery House)

- 16 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Ngôi nhà này đã được xây dựng li tục ợc liên trong 38 năm bởi bà quả phụ của ông Winchester, ụ người đã phát minh ra khẩu súng trư ường cùng tên. Vì chỉ có một ông Winchester nên ngôi nhà ở San ên José của ông cũng là độc nhất vô nhị . Sarah ộc Winchester là một người rất tin dị đoan và luôn bị ời ám ảnh bởi hàng ngàn người bị thiệt mạng v trúng ời vì đạn Winchester. Chồng mất sớm, Bà nghe theo , tiếng gọi không hiểu từ đâu là phải li tục xây ải liên dựng căn nhà vừa để tránh tai kiếp vừa để xua ếp đuổi các hồn ma. Hãy thử tưởng tượng một t lâu ợng tòa đài 160 phòng xây dựng liên tục hàng ch năm, àng chục

Từ San José đi về hướng tây bắc khoảng 50 ớng miles là thành phố San Francisco. Ngo cây cầu ố Ngoài Golden Gate nỗi tiếng và khu ph Tàu, San à phố Francissco còn là một trong những th ột thành phố đẹp nhất nước Mỹ với những con đ ớc đường dốc dựng đứng và lối kiến trúc nhà cửa rất độc đáo. Từ San ửa Francisco đi lên phía bắc khoảng 50 miles nữa l ắc là đến Thung lũng Napa, nơi sản xuất r ản rượu nho nỗi tiếng. Các bạn có thể tha hồ thử r ếng. rượu ở đây nhưng Napa không những chỉ có những v ững vườn nho bạt ngàn mà cảnh sắc thật tuyệt đẹp đ từng được ví ảnh đã như Thiên đường hạ giới.

không có bản vẽ thì sẽ hổn độn nh thế nào. ẽ như Không những vậy, còn rất kỳ quái. Thí d như vừa dụ đặt chân vào hành lang đầu tiên của t lâu đài thì ủa tòa bên phải có một cánh cửa phòng, tuy nhiên n nếu mở ra thì sau đó là một bức tường. Nếu có con ma ờng. nào xớn xác đi vào “phòng” quá nhanh thì n nếu không dập ngực cũng bể mũi. Vào xa hơn tí n ào nữa thì có một cầu thang nhưng nếu đi l thì đầu sẽ ếu lên đụng trần nhà vì cầu thang chỉ xây cho đến trần ầu nhà, không dẫn đến tầng trên hay m phòng nào ên một cả. Không hiểu có con ma nào bị vở sọ v chạy lên ị vì cầu thang quá nhanh chưa ? Chỉ bật mí đến đó thôi ỉ và mời các bạn đến thăm toà lâu đài đ nhất vô à độc nhị này ở ngay trong thành phố và ch cần một à chỉ buổi sáng hay chiều là đủ. Nếu có dịp đi thăm, bạn ủ. nên lưu ý để xem con số 13 đã được tận dụng nh ợc như thế nào trong việc xây dựng tòa lâu đài. CÁC ĐỊA DANH VÀ THẮNG CẢNH MIỀN ẮNG BẮC CALI.

Bãi biển Santa Cruz

San Francisco - Thung lũng Napa ũng

Từ San José đi về hướng tây nam chừng 20 ớng miles là đến bải biển Santa Cruz n nằm trên bờ biển Thái bình Dương. Tuy khí h ở San José tương ương. hậu đối ôn hoà quanh năm nhưng c à cũng có vài ngày nhiệt độ có thể lên đến 90 hay 100 độ F (32 hay 37 ến độ C). Chỉ cần đi 20 miles đến Santa Cruz l có ộ là thể có khí hậu mát lạnh từ 20 đến 25 độ C. Tuy ể nhiên ngành du lịch đã làm Santa Cruz m đi vẻ ã mất đẹp thiên nhiên vì có qúa nhi hàng quán và hiên nhiều vườn chơi sát cạnh bờ biển.

Monterey-Carmel
- 17 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Từ Santa Cruz đi về hướng nam chừng h ớng hơn 100 miles (hay từ San José đi về hư ướng tây nam khoảng 150 miles) là đến Monterey, một th ến thành phố của những người về hưu hạng trung l ạng lưu. Bờ biển ở đây còn giữ nguyên vẹn với nhiều ghềnh đá ẹn cheo leo. Vào những ngày đầu thập ni 80, lúc ầu niên việc có thể trở về thăm Việt Nam còn th xa xôi, am thật một người bạn thường đến Monterey, leo l 1 ờng lên ghềnh đá để nhìn ra biển. Theo sự tính toán của ển. anh thì đây là điểm gần với quê hương Vi Nam ê Việt nhất mà không biết đến bao giờ mới có dịp trở ết lại.Từ Monterey đi về hướng nam chừng 6 miles ớng là đến thành phố Carmel, nơi ở của các ng người về hưu hạng thượng lưu. Downtown ở đây l con là đường dẫn thẳng ra bờ biển với nhiều h ờ hàng quán và bộ hành đi lại tấp nập làm gợi nhớ đến đ ợi đường Trần hưng Đạo ở Huế hay Tự do, L Lợi ở ạo Lê Sàigòn. Tài tử lừng danh Clint Easwood đ từng ử đã sống ở đây và đã từng làm Thị trưởng của Carmel ởng trong nhiều năm. Không thể không nhắc đến một ều trong những con đường dẫn đến Carmel có t là ờng tên Seventeen-Mile-Drive là một đoạn đ ột đường đèo dài khoảng 10 miles với cảnh sắc vô c ới cùng ngoạn mục. điểm cao nhất có thể có tuyết quanh năm v ểm và thường chỉ mở cửa chừng vài tháng m năm. Đến ài mỗi Yosemite, bạn có thể thấy cảnh núi non h ạn hùng vĩ, những cây cổ thụ và đặc biệt l những thácnước ặc là cao nghễu nghệu như đang đ nước từ trên trời ư đổ xuống, chưa kể đến hơn 3.000 h lớn nhỏ nước ơn hồ trong vắt.

Lake Tahoe
Từ San José đi về hướng đông bắc cho đến ớng

Công viên quốc gia Yosemite (đọc là dôốc xê-mi-ty)
Từ San José đi về hướng đông nam khoảng 150 miles là đến cổng công viên quốc gia Yosemite rộng hơn 3000 km2, tương đương với diện tích tiểu bang Rhode Island. Nằm vắt ngang trên bờ tây của rặng ờ núi Nevada Sierra, công viên này có cao đ từ độ 2000 đến 13.000 ft (4.000 m) cho nên ở những )

biên giới với Nevada là vùng Lake Tahoe. V à Với chiều dài 22 miles (35 km), chi rộng 12 miles ài chiều (19 km) và độ sâu 1645 ft (501 m), Lake Tahoe l ộ là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất thế giới. ớc Hồ nằm dọc biên giới California ới California-Nevada trên một độ cao 6225 ft (1897 m) và nh đó có khí hậu mát à nhờ mẽ vào mùa hè nhưng lại có tuyết nhiều đủ để trở ại thành nơi trượt tuyết ưa thich c của cư dân California. Đây là một nơi du l lịch được ưa thích cả mùa hè lẫn mùa đông nhất l vì chỉ đi bộ qua ất là biên giới từ lề đường bên này c con đường ên của Stateline (California) qua l đường bên kia lề (Nevada) là có hàng loạt những s ạt sòng bài giúp du khách thêm thú giải trí về đêm. êm. Cuối cùng, không thể không nhắc đến buổi ể Họp mặt “QH50 năm gặp lại” sẽ đ ặp được tổ chức ở San José vào Tháng Tư năm 2012. Thân m tất cả mời quí vị và các bạn đến tham dự. ạn

Lê khắc Huy
Tháng 8-2011

- 18 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

MỘ THỜI HỌC TRÒ ỘT Ở HUẾ
QUẾ CHI ( Hồ đăng Định ) Tuy không dính dáng chi mấy cái chuyện đồ cổ mà người Huế mình thường gọi là đồ xưa, rứa mà tôi vẫn bị một số bạn bè thân, tặng cho cái biệt hiệu : “ Người sưu tầm đồ cổ “. Chẳng qua là vì tôi là người hoài cổ ưa kể lể chuyện người xưa tích cũ. Nói chuyện ăn uống thì nhắc đến những kỷ niệm “ Đi kéo ghế ở Huế bốn năm mươi năm về trước”. Nằm vắt tay lên trán thì nhớ những người đẹp Thượng Tứ, người đẹp Kim Long, người đẹp Bến Ngự, người thương Gia Hội, người yêu Nội Thành những năm 50 của thế kỷ trước, mà nay quý lão bà này người thì mừng thất tuần, kẻ vui bát tuần thượng thọ. Thời gian qua mau, bao nhiêu tháng năm lững lờ trôi, bao nhiêu biến động xảy ra trong cuộc đời, chợt giật mình tưởng chừng như vừa tròn một giấc mộng. Nhớ mới ngày nào đây, một sớm mùa thu năm 1952, thằng nhóc là tui, đầu húi ca rê, chân sáo tung tăng cùng các bạn mới vui mừng thi đậu càng cua ( concours) được vào học trường Việt Anh tính đến ngày nay cũng đã 60 năm qua. Thằng nhóc chừ tóc đã bạc trắng như mây trời, không còn chân sáo tung tăng, mà ch là một một thân già chỉ khẳng khiu với đôi chân run rẩy, kh mỗi m ngày bước gần đến nấm mồ mình m bước . một Trường Việt Anh (tên cũ) ngày ấy là chi nhánh của trường Khải Kh Định, Thầy Huỳnh Hòa làm Hiệu trưởng và Thầy Nguyễn Hi Đóa làm T Tổng Giám Thị. Thầy Huỳnh Hòa, người Quảng Nam, Hu văn ph phòng ở trên trường chính đường Lê Lợi, bên giòng Hương đư Giang xanh ng ngắt. Thầy Tổng Giám Th cũng là người Quảng Thị Nam, có khuôn m mặt ốm dơ xương và r nghiêm khắc nên rất bọn b nhóc chúng tôi rất sợ hãi và đặt đ cho Thầy một biệt hiệu là “Chúa Đảng Sọ Người” theo tên “ cuốn phim mà chúng tôi ưa cu thích: thích “Năm chàng Zorro và Đảng Sọ Người”. Thầy dữ thiệt Đ tình, tình kỷ niệm mà tôi nhớ đời là có m lần đứng sắp hàng vào một lớp, thằng nhóc hiếuđộng , nói l cười vung vít sao đó mà đứng c không th thẳng hàng, Thầy liền chạy ch lại xáng cho một bạt tai như trời tr giáng, thằng nhóc tá hỏa tam tinh, khóc không ra ti tiếng. Thầy cũng chính là thân sinh bạn c Nguyễn sơn Hoàn, một trong Nguy những người bạn thân của tôi nh thời th học tiểu học Thượng Tứ. Thầy Th và cả gia đình con cái, dâu rể r đều hoạt động cho Cọng Sản
- 19 -

và những năm v sau Thầy làm ng về đến chức Phó Th Tướng Chính c Thủ Phủ Cách M Mạng Lâm Thời Cọng Hòa Miền Nam Vi Nam. n Việt Trong th gian học trung thời học, tôi ít khi nh tên lớp học, ví c, nhớ dụ học Đệ L Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ thì tôi không nh là Đệ Lục B nhớ mấy, Đệ Ng B mấy ( B2, B3 Ngũ hay B4 ?), nhưng không hi sao 4 hiểu mà tôi lại nh như in lớp Đệ i nhớ Thất B5 của tôi, nh cả tên một a nhớ số bạn học và các v Thầy thuở c vị đó. Tôi đượ ngồi gần bạn Lê ợc Sơn (em Giáo Sư Đ Học Văn em Đại Khoa Huế Lê Tuyên), tác giả : “Những Ngày Hoang D ng Dại”, Nguyễn Vinh, Tôn Th Phong, n Thất Phạm Văn Sáu, Lê bá L m Lại, Nguyễn mậ Bàng, Tôn Thất ậu Tuệ (Bến Ng ..v.v .là những n Ngự) người bạn h rất giỏi, sau này n học ra đời họ đ là những người đều thành đạt trong ngành giá dục t giáo hoặc giữ nh những chức vụ chuyên môn cao cấ trong chính quyền ấp VNCH. Phía cu cuối lớp, xa hơn là Đường Thiệ Toàn, là anh Thùy ện (xin lỗi tôi không nh họ). Anh i nhớ Thùy vì bị b bệnh đậu mùa, mặt bị rỗ đậm nên b bè hay gọi là m bạn Thùy Rỗ, về sau ra đời, cưới vợ tên Hoa, m tiệm bán xe đạp ên mở hiệu Thùy Hoa ở Khu Morin u Huế và còn m số bạn nữa mà một

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
60 năm rồi tôi không nhớ nổi tên họ.Đường Thiện Toàn, người Tàu lai, nhà ở đường ngã giữa, hiệu Trồng răng Hoa Sinh, hồi đó có chiếc xe đạp, hay ghé lên đường Thượng Tứ chở tôi đi học. Tôi tưởng hắn thương tôi, sau ni mới biết hắn thương ...O tôi. Năm 1972, từ Pleiku ghé về Qui Nhơn thăm hắn thì cô Đường Thiện Phương, em gái hắn cho biết anh mình mất đã lâu. Về quí thầy, tôi nhớ đầu tiên là Thầy Phạm văn Nhu dạy Luân Lý. Thầy không mang theo sách vở gì, cứ vào lớp là chắp tay sau đít, đi tới đi lui, nói chuyện đời xưa, trên trời dưới đất với nụ cười rất hiền hòa. Về sau vào thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Thầy giữ chức Chủ Tịch Quốc Hội (đệ nhất cọng hòa).Thầy Tôn Thất Đào dạy môn Hội Họa (ngày đó chúng tôi gọi đơn giản là:Vẽ) cho tất cả các lớp, và vì tôi vẽ qúa xấu cho nên luôn luôn được một que (điểm một). Có lần thầy cho học trò vẽ một bàn tay nắm chặc, cuối giờ thầy cho tôi một que như thường lệ với lời phê “bàn tay hay củ khoai lang?”. Khoảng thời gian này, chúng tôi được học với những thầy rất trẻ, có lẽ mới đậu Tú Tài toàn phần, ra đi dạy tạm một vài năm để kiếm tiền đi học tiếp, vì có ba vị thầy của chúng tôi mà sau này trở thành ba Dược Sĩ nổi tiếng ở Huế. Đó là Dược Sĩ Lưu Sơn, DS Lê bá Nhàn và DS Huỳnh văn Chỉnh là Thầy dạy chúng tôi trong lớp Đệ Thất B5 ngày đó. Tôi quên Thầy Sơn và Thầy Nhàn dạy môn chi nhưng nhớ rất rõ Thầy Chỉnh dạy môn Hán Tự. Ngày thi Lục Cá Nguyệt, tôi lót bài thơ chữ Hán dưới tờ giấy làm bài thi, đè sát cho hiện ra những nét râu ria của các chữ trong bài thơ mà đồ từng nét, chơ làm răng mà nhớ nổi mấy cái chữ Tàu rắc rối đó : Xuân du phương thảo địa Hạ thưởng lục hà trì Thu ẩm hoàng hoa tửu Đông ngâm bạch tuyết thi Có một ông thầy rất trẻ, độc đáo mà về sau tôi lại được hân hạnh làm bạn vong niên là thầy Nguyễn Văn. Theo như nhiều người quen biết thầy kể lại thì thầy Văn học rất giỏi, rất thông minh nhưng có tính khí hơi nóng nảy và ăn nói bạt mạng. Có lần trong giờ học, trò Thùy Rỗ phạm lỗi chi đó mà tôi không nhớ. Thầy Văn đã đuổi đánh khiến trò Thùy phải chạy dọc hành lang, qua một dãy lớp học, cuối cùng chạy vào trốn trong phòng thầy Tổng Giám Thị. Thầy Văn đánh cờ tướng rất cao, ít người địch lại, lại rất giỏi Hán Tự. Khi ở trong Quân Đội, được đi du học ở Hoa Kỳ, thầy Văn tuy không nói được tiếng Tàu nhưng đã “bút đàm” với mấy ông Sĩ Quan Quân Đội Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), làm cho mấy ông này phải ngã nón cúi đầu thán phục. Những năm về sau dù gặp nhau ở Sàigòn hay Huế thì hai thầy trò, hai anh em chúng tôi cũng chén chú chén anh say sưa lúy túy mà nói chuyện đời liên tu bất tận. Ba năm trước, tôi về San José ghé nhà thăm anh trên đường Senter. Tuy đã gọi điện thoại, mà khi vào phòng mới thấy anh loay hoay vừa mặc quần vừa cười nói: “Tau nghe mi
- 20 -

tới, tau mới mặc quần”. Tôi bật cười: “Rứa ở nhà là anh tout-nu à!”. Anh tỉnh bơ: “Chơ mặc áo quần làm chi cho rắc rối”. Rồi thì hai anh em lại sà ra chiếu trải dưới đất, lại chén chú chén anh với trăm ngàn chuyện cũ, mới, xưa, nay và chị Bạch Hạc lại lui cui trong bếp chiên cuốn ram cho hai anh em nhậu với nụ cười bao dung hồn nhiên luôn nở trên môi. Chị Bạch Hạc sống được với anh Văn, chịu nghe anh Văn nói những điều tào lao, đôi lúc rất tàn bạo một cách vô tư đến ngày hôm nay, quả chị có một sức chịu đựng phi thường hoặc là chị có tấm lòng bao dung vô bờ, một hiện thân Bồ Tát. Năm ngoái, tôi ghé thăm anh mà không báo trước, nhà cửa đóng then cài, không biết anh chị đi đâu hay đau ốm ra sao ? Thầy Hồ văn Tùng dạy môn Vạn Vật. Khi học đến mấy con sâu bọ, hay bướm, chim chi đó thì thầy bắt học trò phải lấy kim gút ghim con vật đó vào trong tấm giấy carton để chấm điểm. Tôi nghĩ mấy con vật nho nhỏ thì được chơ mấy con to như trâu, bò, cọp, voi thì làm răng hè? Bọn học trò cứ kháo với nhau là Thầy Tùng điên vì tình. Nghe đồn là thầy thất tình với cô nào đó tên là Mẫu Đơn. Tội nghiệp sau năm 1975, người ta thấy thầy đi lang thang, nói lẩm bẩm một mình trong miệng, gặp người quen hay học trò cũ, thầy thường nói huyên thuyên những điều không ai hiểu và cuối cùng nghe nói thầy đã chết vì...đói như thầy nhạc sĩ Ngô Ganh vậy. Lên Đệ Lục, tôi lại được gặp những người bạn mới như hai anh em sinh đôi Vĩnh Hoằng -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Vĩnh Tiếu, Nguyễn Thiệp, Trần văn Bích, Thân trọng Thủy, Nguyễn Như Pháp...v.v. Bạn nào cũng học rất giỏi, và về sau đều thành công trên đường đời. Như hai bạn Hoằng - Tiếu học hành rất chăm chỉ, vở học ghi chép đàng hoàng, trình bày rất đẹp, màu sắc linh động nên được thầy Cát văn Tuân dạy Toán thương mến rất mực, đến độ một vài bạn rắn mắt, dèm pha vu oan cho thầy mê chị gái của “hai đứa nớ”. Cuối cùng Thầy kết hôn với cô Ty, thư ký của trường Nguyễn Du. Thầy Tuân dạy Toán rất hay, rất dễ hiểu nên tôi tuy dốt toán mà học với thầy thấy có nhiều tiến bộ rõ ràng . Nội) đi học phải qua đò sang N sông. Hai đ chúng tôi hằng đứa ngày thư thường cải nhau chí chóe mọi m chuyện trên đời cho đến khi đi ngang qua L Ông Năm, thấy Lầu hai ông lính gác Maroc m mày mặt dữ d tợn, trợn đôi mắt trắng dẻ, mới m chạymột mạch tới trường. Thiệp Thi học hành đỗ đạt làm việc ở VN nhi năm, qua Mỹ vẫn làm nhiều việc vi với bằng cấp trong ngành công chánh c cho đến ngày về cũ hưu. M điểm không ngờ sau Một bao năm g lại, Thiệp làm thơ gặp rất r có hồn và viết truyện ngắn rất sâu s rất có duyên. Bạn bè và sắc, độc đ giả hải ngoại rất yêu mến nhà văn Tràm Cà Mâu v các với cuốn truyện ngắn nổi tiếng: cu “Triết “Tri lý Củ khoai”-“Ngộ Đạo Đất Đ Trời”- “ Ngày tháng Rong Chơi” và “ Hương Tóc C Cố Nhân”..v.v Riêng tôi, rất tâm đắc với hồn thơ của bạn nên mỗi tiệc h rượu rư trong vòng bằng hữu thâm giao, khi rư đã ngà ngà say, tôi rượu thường đứng lên đọc một hơi ba thư bài thơ c bạn: “Khi Tôi Chết”của “Thư G Gửi Bạn“-”Cuối Đường Chinh Chi Chiến” mà khi mô nước mắt m cũng giọt ngắn giọt dài. Một M điều nữa làm tôi yêu mến bạn b nhiều hơn là đức khiêm cung của c bạn. Người ta thuờng cho “văn m mình hay, vợ người đẹp”, riêng b thì thơ bạn, ai sửa cũng bạn được đư miễn là sửa mà hay. Thơ bạn b làm nhưng là của chung, bạn làm thơ vi văn cho vui, dấu vợ, viết làm thơ cho h thì giờ chờ vợ đi hết chợ. ch Xin tặng bạn một tấm mề đay khiêm t tốn. Trong năm này, tôi cũng có rất r nhiều bạn tuy không học chung tro một lớp nhưng vẫn trong giao ti thân tình như Võ văn tiếp
- 21 -

Cửa Thượng Tứ

Nguyễn Thiệp là người bạn rất thân của tôi trong năm học này. Ngày nào Thiệp cũng từ nhà ở Ngã Tư Âm Hồn-Mai Thúc Loan đi bộ ra cửa Thượng Tứ đến nhà tôi rồi hai anh em cùng nhảy nhót qua vườn hoa Nguyễn Hoàng, đến bến đò cầu Trường Tiền, vội vã lên đò qua sông cùng các bạn khác đến trường cho kịp giờ vào học. Ngày ấy, cầu Trường Tiền bị sập ba vài đang được Hãng Eiffel của Pháp sửa chữa lại nên học sinh bên Tả ngạn (khu Phố Trần Hưng ĐạoNgã Giữa - Gia Hội và Thành

Dật, sau này nhi năm là Giáo t, nhiều sư Trường Hàm Nghi Hu là ng Huế, Giám Sát Viên và bây gi là nhà giờ văn, nhà khả cứu Võ Hương An ảo rất được quý tr c trọng ở hải ngoại qua các tác ph phẩm: “Lịch Sử Đà Nẳng”- “Vua Kh Định” và Khải sách Nghiên Cứu C Phật Giáo...cùng m một số bài viết nghiên cứu v lịch sử Việt Nam. u về Hai năm Đệ Thất và Đệ Lục, bọn ệ nhóc chúng tôi ham h học, ham chơi chẳng bi chi, nhưng có ng biết nhiều bạn h n học cùng lứa, cùng trường đã l ã lớn tuổi nhưng vì chiến tranh ph đi học trễ. Thời n phải gian này trong trư trường có nhóm học trò khá l c lớn, có vẻ lập dị, ưa làm những đi khác thường như ng điều con trai mà đi gu guốc, đội nón lá, hành vi có v ngang tàng bất cần vẻ đời mà chúng tôi g họ là Nhóm i gọi Cao Bồi: “Phi i: “Phi-Cơ-Trực-ThăngThủy-Quân” v câu hát “Học Quân” với sinh cao bồ mặc áo sơ mi ca ồi rô...” Năm 1954, khi có Hi Hiệp Định Đình Chi Genève, ngoại ình Chiến trừ anh Phi đi t kết ra Bắc, các tập anh còn lại ti tục học. Người i tiếp thành giáo sư đi d học như dạy anh Lê văn Cơ, ngư đi lính người chiến như Tôn th Trực và có n thất anh đi Cảnh sát như anh Quân h v..v.. Thầy Thoan m năm trước y mấy dạy tiểu họ nay được đôn lên ọc, dạy trung họ lại phụ trách môn ọc, Việt văn. Th t Thầy bắt chúng tôi, mỗi đứa hằng tu phải chọn đề ng tuần tài thuyết trình m cuốn sách mà t một mình đã đọc, thi là quá sức của c, thiệt cả bọn còn con nít chúng tôi. òn Hơn nữa, th đó sách vở còn rất a, thời hiếm, tài li m, liệu tìm đâu ra và chúng tôi đ biết chi về Tiểu đã Thuyết Luậ Đề với hoàn cảnh ận xã hội hay B Cảnh Lịch Sử i Bối

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
như Thầy Thoan đòi hỏi. Không biết bạn Trần văn Bích, Thân Trọng Thủy hai cậu học trò giỏi Việt văn ngày đó có nhờ ai gíúp đỡ không, chứ riêng tôi thì phải nhờ ông anh gia sư (précepteur) đang học Đệ Nhị C Ban Văn Chương Sinh Ngữ Khải Định , soạn bài thuyết trình giùm cuốn Tiểu Thuyết Đoạn Tuyệt của nhà văn Nhất Linh, để chú nhóc con tuần đó đứng giữa lớp hùng hồn như luật sư bào chữa cho cô Loan trước Toà: “Tha cho Thị Loan là các ngài đã làm một việc công bằng...” . Sang năm Đệ Ngũ, trường chính thức đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Tri Phương. Lúc đầu thầy Lê Khắc Tố làm Hiệu Trưởng, về sau Thầy Đinh Qui thay thế. Thầy Đinh Qui dạy Toán, cùng với hai thầy Lê Nguyên Diệm và Bùi Tấn soạn một cuốn sách Toán rất được học sinh ưa chuộng. Thầy có mở nhà sách hiệu An Xuân tại nhà gần Đập Đá. Ba bốn năm sau, thầy lên làm Hiệu Trưởng Trường Quốc Học thay thế Thầy Nguyễn Đình Hàm. Lại thêm một lô bạn mới, nào là hai anh em Hà Thúc Như Quý, Hà Thúc Như Mỹ, Bảo Bồn, Trần Công Điền, Nguyễn Đình Khuê, Lê Khắc Quyền, Bửu Mật v.v rồi gặp lại bạn cũ Nguyễn Quốc Chưởng, Nguyễn quốc Trị thời tiểu học, vui thiệt là vui với tuổi 15 chúng tôi bắt đầu trổ mã, muốn làm người lớn. Từ trước tới nay thằng nhóc cắm đầu cắm cổ đọc không biết bao nhiêu là sách truyện có trong tay, hết Tự Lực Văn Đoàn với Hồn Bướm mơ Tiên của Khái Hưng, Đôi Bạn của Nhất Linh, Bước Đường Cùng của Nguyễn Công Hoan rồi Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, Một Chuyện Tình 15 Năm Về Trước của Lưu thị Hạnh v.v. và v.v. Thiệt tình tôi không còn nhớ nổi ông bạn thân Vũ Minh Châu học chung lớp với tôi năm Đệ Thất, Đệ Lục hay Đệ Ngũ, nhưng nhớ chắc chắn và rõ ràng như hôm qua là ông bạn Vũ Minh Châu là người cho tôi mượn sách nhiều vô kể : Nào là Đoàn Ó Biển của Lê Minh Hoàng Thái Sơn, Thần Hổ của TCHYA Đái Đức Tuấn và Người Đi trong Bóng Tối của Thanh Đình, Bàn Tay Máu của Phi Long và hàng trăm cuốn khác nữa. Đang có thú ham đọc sách như điên nay có thêm đam mê đánh bóng bàn (tuy biết chơi đã lâu và trong nhà có bàn để anh em bạn bè chơi với nhau), mê chơi đến quên ăn quên ngủ. Và cuối năm đó suýt chút nữa phải ở lại lớp sau khi giật được cái giải Cây vợt thứ hai của Trường, thua Lê (hay Nguyễn) văn Vui trong trận Chung Kết do Thầy Nguyễn Hữu Thứ làm trọng tài. Lên Đệ Tứ là năm thi nên cậu nào cũng gắng học để vượt qua rào cản Diplôme, Cao Xuân Tứ ( con Thầy Cao Xuân Lữ), Vĩnh Dác, Nguyễn Hữu Anh (Tiệm Khắc Khuôn Dấu Lộc Hải ở đầu cầu Trường Tiền) là những người bạn thân trong năm này. Cao xuân Tứ ốm o nhưng nưóc da trắng như trứng gà bóc và học hành rất đàng hoàng, nghe nói về sau làm Tham Vụ Toà Đại Sứ VNCH tại Luân Đôn và hiện nay đang định cư tại Hoà Lan. Thỉnh
- 22 -

thoảng, tôi cũng được đọc thơ bạn trên các tạp chí văn học ở hải ngoại. Vĩnh Dác đi lính khóa 16 VBQGVN cấp bậc cuối cùng là Đại Tá. Nguyễn Hữu Anh là bạn nối khố của tôi, cùng đi Thủ Đức một lần, cùng một khóa 20, hai năm đi ăn đám cưới con bạn 2 lần (2010 Saint Louis-Missouri và 2011 Westminster-California) Phong trào luyện tập thân thể, thể dục thẩm mỹ đang lên với lực sĩ đẹp Nguyễn Công Án nên thanh niên học sinh Huế đua nhau tập thể thao, tập tạ lớn, tạ nhỏ, chú nhóc cũng không thoát khỏi cám dỗ một thân hình với các bắp thịt cuồn cuộn nên vừa học vừa tập và kết cuộc, một đêm không đẹp trời, chú nhóc quay ngươì trên cầu treo (barrefixe) và cắm đầu xuống đất hộc máu mồm, bỏ lỡ kỳ thi Diplôme nên không được lên đệ tam.Chú nhóc đành ở lại thêm một năm Đệ Tứ với Hoàng Thiện Căn, bạn cũ ở Gia Đình Phật Tử Hướng Thiện. Cuối năm đó, chú nhóc chật vật qua ải với hạng Thứ như cá cố vượt Vũ Môn trong khi Hoàng thiện Căn đậu đầu với hạng Bình (Mention Bien). Hoàng Thiện Căn đa tài, về sau là một Bác Sĩ nổi tiếng, là một giọng ca tài tử cuốn hút thính giả miền Đông Bắc Hoa kỳ và cũng là một nhà thơ sáng giá. Nhưng tài hoa thì mệnh bạc, bạn vừa giã từ trần thế cách đây 5 năm khi vừa tròn 65 tuổi (?). Với thời gian, nhiều món đồ cổ rồi cũng hư hao hay tự hủy hoại và một ngày nào đó cũng sẽ đến phiên người sưu tầm đồ cổ. Quế Chi Hồ đăng Định Newcastle, 11/11/11

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

TƯƠNG NG NGỘ

Mới ng nao trăng nước hẹn hò ới ngày Mái tóc thề thả gió ầu ơ Cầu Tr ầu Tràng Tiền bướm bay trắng lóa Bến đ ngang chở nặng tình thơ ến đò Ngày l ngày buồn vui lấp lánh lại Trường bên ni ngấp nghé bên tê Trư Anh Qu Học thương nàng Đồng Khánh Quốc Hẹn H mai này sông núi vẹn thề Xa th xa, nhưng gần thật gần thật Tóc phai màu, lòng v tương lân vẫn Người Ngư đẹp đôi, người sầu bóng lẻ Vẫn an ho tương kính như tân ẫn hoà 50 năm vèo qua cửa sổ Buồn hay vui dường cũng tha nhân ồn Thoáng tương ng thêm đầy nỗi nhớ ngộ Ta còn gì ngoài chút tình thân. Hà Huyền Chi

- 23 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

KHOẢNH KHẮC CU ĐỜI C CUỘC TRÊN ĐẢ VẮNG ẢO
lê hữu vịnh

Sau sáu ngày đêm chống chỏi v đói khát i với và giông tố vùi dập, chúng tôi, b p, bốn mươi hai thuyền nhân của chiếc tàu gỗ mõng manh mang s số SS 505 lA khởi hành từ Vũng Tàu đêm 13 tháng 9 àu năm 1983, đã đến được giàn khoan d thuộc địa c dầu phận Indonesia. Hôm qua khi cơn giông dịu d , sóng hết u dần bạc đầu thì tàu cũng mất phương hư t hướng. Chúng tôi cảm thấy lo sợ và vô cùng tuyệt v t vọng. Gần đến trưa, từ xa xa, từ trên bầu trời, bỗ xuất hiện ỗng những đốm trắng. Những đốm trắng đó, bay v ng về hướng chúng tôi, mỗi lúc một gần và chúng tôi n bỗng nghe những tiếng kêu. Chúng tôi nh ra đó ng nhận là chim hải âu. Xin tạ ơn trời.! Chúng tôi sung i.! sướng và hy vọng. Có đàn chim xu hiện trên ng. xuất biển có nghĩa là đất liền không xa lắ Tuy nhên, ắm. chúng tôi vẫn chưa xác định được phương hư hướng vì trời vẫn âm u, mây trắng giăng dày d che ng dặc khuất mặt trời. Không có mặt trờ chúng tôi ời, không thể định hướng cho con tàu. Chi la bàn ng Chiếc chúng tôi mang đi đã rơi mất lúc nào không hay. t Đến gần chạng vạng tối, chúng tôi b i, bỗng nghe tiếng la lớn của Tốn, người thợ máy kinh nghi nghiệm của con tàu: “Giàn khoan dầu”. Mọi ngư hồi hộp i người nín thở nhìn theo hướng Tốn chỉ. Từ xa, trên bầu ừ trời, một vệt sáng lập lòe như ráng chi khi ẩn ư chiều khi hiện. Tôi chỉnh mũi tàu về hư hướng đó. Đến khuya, vùng sáng càng rõ dần và khi m trời vừa mặt ló dạng thì tàu chúng tôi đã đến đượ giàn khoan. ợc Tôi cho tàu chạy chầm chậm và cách giàn khoan m một khoảng cách khá xa để khỏi va vào nh i những cột trụ khổng lồ của tòa nhà đồ sộ. Một c ống khói t cột cao ngất đang phun ngọn lửa khổng l thẳng lên ng lồ trời tỏa sáng hướng dẫn con tàu đi đế ến.

Trên tàu, một cô gái trong đám chúng tôi, t khá lưu loát tiếng Anh, đã đứ lên trao đổi thông ứng tin với các nhân viên trên giàn khoan và đư họ i được cho biết là chúng tôi đang ở trên vùng biển của Indonesia. Cô gái nói với họ chúng tôi là người ọ Việt Nam vượt biên, xin đư giúp đỡ và xin tị t được nạn. Lời yêu cầu được đáp ứng. Chúng tôi được phát mỗi người một lon cô ca và m chiếc bánh t một sandwich. Lòng tràn ngập ni p niềm hân hoan, chúng tôi cảm thấy hạnh phúc vì chúng tôi đã thoát nạn. nh Chúng tôi đã đến được bến b tự do cho dù bất kể n bờ nơi chúng tôi đến là một đấ nước nào, miễn là ất không cọng sản. Một người trên giàn khoan b i bảo chúng tôi neo tàu và chờ để được hướng dẫn vào đất liền. Khoảng hơn một tiếng đ ng đồng hồ sau, một chiếc tàu tuần tra của Indonesia xu hiện, trên tàu a xuất có mấy người lính mặc đồ hải quân. Họ chạy ồ quanh tàu chúng tôi một vòng r ra hiệu cho t rồi chúng tôi chạy theo. Họ cho tàu ch thật chậm để chạy chúng tôi theo kịp. Nhìn qua hai bên trái ph của p. phải tàu là những hòn đảo lớn n nhô lên khỏi mặt n nhỏ nước như những chiếc nón. Sau g một giờ chạy c gần quanh co lách tránh, cuối cùng chúng tôi c i cũng đến nơi. Phía bên trên bờ, một đám ngư lớn có nhỏ t người, có khoảng độ vài chục đang đ c đứng nhìn chúng tôi bằng những cặp mắt tò mò. Trông h thật khốn t họ khổ, áo quần tả tơi rách rướ Chúng tôi cho tàu ới. cặp vào một bến nhỏ rồi sửa so a soạn đem những tư trang và đồ đạc lên bờ. Khi chúng tôi r tàu, một . rời cảnh tượng thật đáng kinh ng bỗng xảy ra. Đám t ngạc người trên bờ bỗng chạy ào xu y xuống và xô đẩy để leo lên tàu chúng tôi. Họ lấy h những gì có trong y hết khoang. Tôi định ngăn cản h nhưng tôi kịp trấn n họ

- 24 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
tĩnh và từ bỏ ý nghĩ chống lại đám người nghèo khổ kia. Thôi, chẳng còn gì để mà nuối tiếc. Con tàu của chúng tôi tuy nhỏ, bằng gỗ và chỉ có một block máy đầu bạc đã làm tròn sứ mạng là đưa chúng tôi đến nơi an toàn. Con tàu đã dũng cảm chống lại với bão tố, sóng vùi gió dập, hiên ngang vượt sóng dữ để đưa chúng tôi đến bến bờ tự do. Xin cám ơn và xin giã biệt con tàu. Hai người lính Indo tay cầm súng có gắn lưỡi lê dẫn chúng tôi đi đến một trại lính biên phòng, cách bờ biển khá xa. Đến nơi, họ đếm và ghi tên từng người chúng tôi, tổng cọng 42 người kể cả trẻ con. Đám người vượt biên chúng tôi toàn là những người có tham gia ghi tên đàng hoàng ngay từ đầu chứ không có người nào lợi dụng đến phút chót mới nhập bọn hoặc đi lậu. Sau khi khám xét đồ đạc, họ dẫn chúng tôi vào một gian phòng khá rộng, nền xi măng, đã có sẵn 20 chiếc ghế bố nhà binh. Đàn bà và con nít được ưu tiên nằm ghế bố, còn đàn ông thanh niên thì chia nhau nằm trên nền xi măng. Trong suốt cuộc hành trình, lênh đênh trên biển cả, con tàu thì nhỏ, số người thì đông nên chỉ có đàn bà và con nít là được ngồi. Còn lại đều phải đứng hoặc chia nhau ngồi tạm. Vấn đề vệ sinh thì thật là bết bác và tùy tiện. Mọi người đều thải ra quần. Cũng may là trong thời gian trên tàu, việc ăn uống hết sức hạn chế nên chất thải cũng không nhiều. Sau khi tạm ổn định, các bà và các cô thay nhau đi tắm giặt. Họ bỗng trở nên trẻ đẹp hẳn lên khác hẳn lúc còn ở trên tàu. Lúc đó, họ phải ngụy trang, cố làm cho già và xấu hòng qua mặt bọn hải tặc lúc gặp tình huống bất trắc. Chúng tôi được phát hai thùng mì gói và hai cái nồi lớn. Các bà xung phong đi nấu và sau đó, mọi người đều hả hê vì được no bụng. Đám người vượt biên chúng tôi rốt cuộc đã thành công, đạt được ước mơ thoát khỏi cọng sản để đến vùng tự do. Chúng tôi, tất cả đều quì xuống, quay mặt về hướng biển đông, chắp tay lạy tạ Trời Phật đã che chở và cứu vớt chúng tôi qua những phút nguy hiểm để giờ đây, chúng tôi được an toàn. Tôi đập bể chiếc điếu cày, lấy ra một gói ni lông nhỏ gói tờ 10 đô la tiền Úc. Tôi nghĩ rằng đây là nơi cất giấu an toàn nhất, cho dù có khám xét thì cũng không thể bị phát hiện. Đến chiều tối, thời tiết vẫn ấm áp và dễ chịu. Tôi rão bước dạo quanh đảo. Diện tích hòn đảo chỉ là một khu đất lớn khá bằng phẳng, không cao hơn mặt biển bao nhiêu. Khu đất này nằm dưới một ngọn núi hình chóp nón. Dưới chân núi có những khoảnh đất trống và người dân trên đảo đã làm nhà trên đó. Nhà nào cũng quay lưng ra biển và mặt tiền nhà hướng về chân núi. Đảo cũng có một ngôi chợ nhỏ. Tôi ghé vào và mua vài gói thuốc lá Malboro đầu lọc, một loại thuốc tôi rất thích nhưng kể từ sau năm 75, tôi không có đủ khả năng để mua. Dọc theo chân núi, tôi ước tính có khoảng 20 căn nhà. Tất cả đều lợp tranh vách đất, nhà nào cũng có hàng rào tre bao quanh. Một con đường nhỏ chạy vòng quanh dưới chân núi. Ở đây, hầu như không có một loại xe cộ nào kể cả xe đạp. Hòn đảo này quá nhỏ, tôi nghĩ chắc nó không có tên trên bản đồ. Ngang qua một ngôi nhà khá rộng, tôi gặp môt cô gái khá xinh, cúi đầu chào tôi rồi đưa tay chỉ chỉ chỏ chỏ. Rồi cô ta dẫn tôi vào nhà. Nhìn vào bên trong tối thui, tôi giật mình và đâm ra nghi ngờ. Có lẽ cô gái dụ mình vào để giở trò mua bán trao đổi …Nghĩ vậy nên tôi cương quyết xua tay từ chối. Cô gái vẫn cố gắng đẩy tôi vào, tôi bỗng chợt nghe có tiếng cười nói phía bên trong. Tôi đánh liều bước thêm vài bước và nhìn vào. Trong cái ánh sáng lờ mờ, tôi thấy khoảng độ mười người đang ngồi coi vidéo phim chưởng. Phim được phát từ một cái VCR qua một TV chừng 19 inches. À, thì ra nơi đây họ chiếu phim video có thu tiền vé. Tôi ra dấu với cô gái ý nói tôi không có tiền. Cô gái cười và ra dấu tôi được coi miễn phí. Tôi miễn cưỡng ngồi xuống xem. Phim được thuyết minh bằng tiếng Indo, lẽ dĩ nhiên là tôi không hiểu nên sau khi ngồi xem được một chốc thì tôi tìm cách đi ra ngoài sau khi ra dấu cám ơn cô gái tốt bụng. Sau một đêm ngủ say sưa ngon giấc, chân tay được thoải mái duỗi ra duỗi vào, tinh thần cảm thấy phấn chấn. Một mùi thơm phức của các món ăn vừa được đám phụ nữ nấu khiến mọi người như tĩnh hẵn. Thế là mọi người nhào vô ăn một bữa cơm nóng với cá khô nướng và canh mì gói. Một bữa cơm tuyệt vời, hình như hạnh phúc đang ở rất gần và quanh đây!

- 25 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Mỗi chiều chiều, để có thêm thứ ăn và cũng ức để giết thì giờ, chúng tôi đi nhổ rau d hoang. dền Rau dền chỉ mọc cao độ nửa tấc nhưng r nhiều. c rất Canh rau dền nấu với mì gói, thật tuy hảo. Suốt t tuyệt ngày chỉ quanh quẩn trên đảo, chúng tôi c o, cũng cảm thấy buồn và rất đỗi nhớ nhà. Các anh lính Indo thì có cơ hội đùa cợt và chòng ghẹ đám khách ẹo phụ nữ không mời mà đến. Tôi thường hay đi lanh quanh trên đ ng đảo. Sinh hoạt ở đây rất giới hạn và mộc mạc gi dị. Với c giản vài trăm dân trên một hòn đảo nhỏ, th khó lòng , thật để tạo một môi trường hay một khung c t cảnh náo nhiệt. Một ngôi chợ nhỏ bán tôm cá và th rừng thịt cùng một ít đồ gia dụng đơn giản. Bãi bi thì ít n. biển cát nhiều đá nên việc tắm rửa cũng g nhiều khó ũng gặp khăn. Sau mười ngày quanh quẩn trên hòn đảo nhỏ n này, chúng tôi được thông báo di chuy đến nơi c chuyển khác. Chúng tôi được đưa lên một chi tàu dân sự t chiếc khá lớn đang đậu chờ sẵn. Con tàu ch thật chậm, n. chạy di chuyển quanh co lách tránh những hòn đảo nhỏ ng xíu hình chóp nón với cây cao rậm r xanh một m rạp màu lá. Khoảng vài tiếng sau, tàu cập vào m cầu p một tàu nhỏ bằng gỗ. Chúng tôi rời tàu bư lên một i bước bãi cát vàng. Sau khi di chuyển một đo khá dài, t đoạn chúng tôi được một nhân viên người Indo d đến i dẫn một khu lều trại được dựng lên khá sơ sài. ng Bây giờ đang là buổi trưa, m trời chói i mặt chang nên cát rất nóng, chúng tôi vộ vã chạy vào ội trong lều. Khu lều trại này do Cao Ủy Tị Nạn i LHQ quản lý, nhân viên phục v là người c vụ Indonesia. Khi chúng tôi đến, trên đ đã có vài n, đảo chục người Việt tị nạn. Họ rất vui m t mừng khi thấy chúng tôi, là những người cùng cảnh ng Họ tận nh ngộ. tình giúp đỡ và chỉ dẫn cho chúng tôi m điều. mọi Chúng tôi được cấp phát áo quần, v dụng cá n, vật nhân và thực phẩm. Chủ yếu là đồ hộp và thực ồ phẩm đã chế biến sẵn. Đảo này có tên là đảo KUKU, dài kho o khoảng ba trăm mét và rộng hai trăm mét toàn là cát. Cu ng Cuối bãi cát là núi cao có một dòng suối nh chảy qua. i nhỏ Người ta đặt một ống rất to để dẫn nư xuống hai n nước cái bể chứa: một dùng cho nam và m cho nữ để t một tắm giặt. Nước suối trong và mát, ch liên tục. i chảy Cách hai bể nước không xa là trạm y t và kho m tế phẩm vật cứu trợ, tuyệt đối không có nhà c dân. i của Xa xa, bên phải của khu lều trại là nhà xí, đư i được

làm theo kiểu hồ nuôi cá tra ở VN. Mọi chất thải đều rơi xuống biển. Bên trái, khu sau những tảng n. khuất đá lớn là nhà cầu của nữ. Nhà c nữ được làm . cầu công phu hơn, được ngăn từng ô m và thấp hơn ng một nhà cầu của nam, cũng không có mái che v mọi ũng và thứ cũng đều cho rơi xuống bi ng biển. Ngày hôm sau, chúng tôi, b bốn mươi hai người được dẫn tới trạm xá, và trình di một màn m diễn rất ngoạn mục. Chúng tôi đư phân ra nhiều tốp c. được nam, nữ và trẻ con. Đàn ông và thanh niên vào trước và được lệnh cổi bỏ hết áo qu Từng người t quần. một, đi ngang qua một bác s già và một y tá trẻ t sĩ người Indo. Họ bắt há mồm đ khám bên trong m để họng và xoay vòng để họ xem có gh lở gì không. ghẻ Họ còn sờ nắn dương vật xem có b mang bệnh xã t bị hội hay không. Những tốp sau là ph nữ và trẻ con p phụ cũng phải qua những màn khám này. ng Những ngày kế tiếp, chúng tôi hoàn toàn p, được tự do. Tôi lần mò theo l đường mòn dọc n lối theo con suối để leo lên núi. Nư suối trong vắt Nước và cây cối thì thấp lè tè trông gi p giống như núi Ngự Bình. Tôi cũng thả bộ đi dọc theo b biển. Nước c bờ biển trong xanh nhưng bờ bi thì lởm chởm đá biển nhọn và san hô nên không th xuống tắm được. n thể Một buổi tối, trong khi đi vệ sinh, tôi quan sát th thấy phía dưới nhà cầu, trên mặt nư một đàn cá đang t nước, tranh giành ăn thứ chất thải v rơi xuống. Tôi i vừa chợt nẩy ra ý nghĩ…Tôi nhờ người y tá mua giúp ờ dây cước và lưỡi câu. Từ đó, c mỗi buổi tối, khi cứ thủy triều lên, tôi lẽn ra phía nhà c của phụ nữ n cầu để câu vì ban đêm, các bà các cô không dám đi cầu. Hơn nữa, nhà cầu dành cho phụ nữ thấp gần sát với mặt biển hơn. Sau kho n khoảng một tiếng, tôi câu được vài con cá Dìa (Rabbit) và cá chim tr c trắng (Pampano); con nào cũng nặng trên m kí lô. Nhờ ng một có cá mà tôi có thể mua bán trao đ thực phẩm và đổi

- 26 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
kiếm được một ít tiền. Sau này, tôi thường bán cá cho người y tá. Ông bác sĩ đề nghị mỗi buổi chiều, tôi và thợ máy Tốn lái chiếc tàu nhỏ của Cao Ủy Tị Nạn ra biển mà câu. Chúng tôi lái tàu ra xa bờ khoảng độ 200 mét. Nước biển trong xanh, tôi có thể nhìn thấy tận đáy biển với đủ loại san hô với nhiều màu sắc khác nhau. Nhìn ra phía xa hơn là vô số những hòn đảo nhỏ hình nón với cây cối mọc xanh um. Thấy có mối lợi, nhiều người cũng bắt chước chúng tôi theo ra biển câu, tuy nhiên, họ chỉ kiếm được một ít cá nhỏ và cá đuối mà thôi. Họ hỏi tôi dùng mồi gì để câu cá Dìa, tôi nói dối là mồi chuối. Tôi không dám nói thật vì sợ khi mọi người biết thứ mồi tôi dùng, có lẽ họ không còn dám ăn cá của tôi câu nữa! Cứ khoảng vài ngày lại có thêm một số người Việt tị nạn được đưa đến đây nên đảo KUKU mỗi ngày một đông. Tâm trạng và hoàn cảnh mỗi người cũng khác nhau. Có người bị cướp biển tấn công, mất hết đồ đạc của cải. Một số bị hải tặc làm nhục khiến họ tủi hổ và tâm thần bị rối loạn nên họ luôn ở trong trạng thái thẩn thờ điên dại. Có những người ngồi hàng giờ, mắt nhìn ra biển khơi như muốn hình dung lại cuộc hành trình gian khổ mà họ đã trải qua. Có những người như muốn tưởng niệm đến những người thân đã không may vùi thân trong lòng biển cả. Người tị nạn đến đảo ngày một nhiều và vào ngày 12 tháng 11 năm 1983, toàn thể người tị nạn chúng tôi, lúc này đã lên đến 200 người được thông báo di chuyển đi nơi khác. Chúng tôi được đưa lên một chiếc tàu buôn khá lớn. Chiếc tàu này đã đưa chúng tôi đến một hòn đảo cây cối rậm rạp. Đảo này có tên là Galăng được Cao Ủy Tị Nạn LHQ thuê của Indonesia để thiết lập một trại tị nạn cho người Việt và được gọi là “Pulau Galang Refugee Camp”. Đảo rất lớn, bằng phẳng và có những khu vực sình lầy. Lên đảo, chúng tôi được hướng dẫn vào những lán trại bằng gỗ có ngăn thành từng phòng giống như những trại gia binh. Trại được chia làm hai khu vực: Site 1 và Site 2. Site 1 là nơi tiếp nhận và thanh lọc những người xin tị nạn. Site 2 là khu vực dành cho những người đã được một nước thứ ba chấp nhận cho định cư. Tôi được phân vào Site 1 khu A. Mỗi khu có nhiều dãy nhà gỗ hai tầng mái lợp tôn, nền nhà được lát gỗ. Mỗi dãy lại được phân ra nhiều phòng. Mỗi phòng dành cho một gia đình. Còn độc thân thì ở chung bốn hoặc năm người một phòng. Chúng tôi được cấp phát mùng mền và dụng cụ nấu ăn dành cho mỗi phòng. Tầng dưới dành cho sinh hoạt và nấu nướng. Lán trại được cất ở một vị trí cao ráo, còn chung quanh là bụi cây rậm rạp và sình lầy. Những ngày kế tiếp, chúng tôi được dẫn đến một bệnh xá khá lớn để chích ngừa. Bệnh xá này có đầy đủ bác sĩ, y tá của Hội Chữ Thập Đỏ Indonesia.(Indonesia Red Cross). Mỗi người trong chúng tôi đều phải khai báo rõ ràng chi tiết về lý lịch. Từ tình trạng gia đình đến những việc làm trong quá khứ. Nếu là quân nhân thì phải khai rõ ngày nhập ngũ, số quân, cấp bậc, đơn vị phục vụ và tên của đơn vị trưởng. Đã đi cải tạo bao lâu và ở những nơi đâu. Sau khi được tha về, làm nghề gì để sinh sống..v.v Trong khi khai, tôi có nói thêm một chi tiết là trong thời gian cải tạo ở Cà Tum Tây Ninh, tôi có đi lượm nhôm của một chiếc máy bay trực thăng bị rớt đã lâu ngày để làm đồ lưu niệm như lược chải đầu và vòng đeo tay. v.v. Chính vì lời khai này mà sau đó khoảng độ một tuần lễ, tôi được kêu lên để phỏng vấn tiếp. Lần này, người phỏng vấn tôi ngồi sau một bức màn che, nói giọng Huế. Tôi được hỏi kỷ về thời gian tôi đi cải tạo. Họ nhấn mạnh đến sự kiện chiếc máy bay trực thăng rơi. Họ hỏi về đặc điểm loại máy bay gì, số hiệu máy bay…địa diểm máy bay rơi. Họ hỏi rất nhiều và tôi nói cho họ biết Cà Tum là nơi rừng thiêng nước độc, cây cối rậm rạp làm sao tôi có thể xác định được địa điểm. Còn thân chiếc máy bay thì đã bị dân chúng phá nát để lấy sắt vụn đi bán. Người phỏng vấn tôi đôi lúc phát âm giọng Huế không chuẩn. Về sau này, tôi được biết đó là một người Mỹ da đen, lẽ dĩ nhiên là một nhân viên CIA. Vào khoảng cuối năm 1983, các trại tị nạn ở Campuchea đóng cửa nên những người tị nạn được đưa đến Indonesia để chờ được đi định cư ở một nước thứ ba. Bỗng có một ngày, một chiếc tàu sắt rất lớn, cập bến và mang đến 805 thuyền nhân

- 27 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
đi bán chính thức. Trại tị nạn Galăng b n bỗng trở nên đông đúc gồm đủ mọi thành phần ngư tị nạn. n người Dưới sự điều hành của Cao Ủy Tị N LHQ, trại Nạn Pulau Galăng có đầy đủ những bộ ph như Y Tế phận (IOM Medical Services), Giáo D Dục (General Education Section Site 1), Huấn Ngh (Vocational n Nghệ Training Center), tiếp liệu …. Đảo Galăng có một ngôi chợ mà h hết các hầu chủ sạp là người bản xứ Indo. Ngoài ra c cũng có một số rất ít là người Việt. Có lẽ những ngư Việt ng người này không có đủ tiêu chuấn để đượ đi định cư. ợc Chợ bán đủ mọi thứ, kể cả rau cải và th rừng. i thịt Nhiều nhất vẫn là thịt heo rừng. Nơi đây, tôi t ng. tìm thấy có một loại thuốc lá điếu màu nâu đư vấn u được rất nhỏ, hút rất dễ bị ghiền. Tôi nghi lo thuốc lá n. loại này có tẩm chất ma túy. bịch ghen tuông nên thường x ra những vụ ấu ng xảy đả. Đám này thường tìm kiếm nh m những người có đủ tiêu chuẩn định cư để ghép đôi. C Cũng có những người suốt ngày đi lang thang, th thờ như người t thẫn mất hồn vì người thân của họ bị hải tặc cưỡng hiếp ọ hay bị giết trong cuộc hành trình v c vượt biên. Trước đây, tôi đóng quân ở vùng cao nguyên c lâu năm, tôi thường hay đi săn và đ được ăn ng đã nhiều loại thịt thú rừng kể cả thịt voi, thịt gấu. Thế nhưng, ở đây, có một loại th rừng mà tôi không i thịt dám ăn, đó là thịt khỉ. Khỉ ở đây rất nhiều, chúng thường rình rập để trộm đồ ăn nên d bị mắc bẩy. dễ Khi bị lột da, con khỉ trông gi giống như một đứa trẻ, nhìn thấy mà ớn lạnh. Tuy nhiên, ở đây, có một nh. món được chế biến rất ngon, đó là th cóc. Cóc ở t thịt đây rất nhiều, mỗi tối, chúng t trong hang, trong i, từ các bụi cây nhảy ra kiếm ăn, th là bị túm cho vào m thế bao. Làm thịt cóc phải thật k lưỡng. Trước tiên, t kỷ chặt đầu, lột da, mổ bụng lấy h bộ lòng, nhất là y hết gan mật. Gan mật cóc rất độ ăn vào có thể mất ộc, mạng như chơi. Sau khi làm s ng sạch, băm nhỏ, vo tròn rồi thả vào nồi cháo gạo nóng, th là có một o thế món cháo cóc tuyệt hảo. Mộ món ăn khác cũng ột rất được ưa chuộng, đó là bánh tiêu. Ở đây, chúng ng, tôi được cấp phát bột mì và d ăn rất nhiều nên t dầu đã tự chế biến ra thành nhiều th để sử dụng. Và u thứ món bánh tiêu là thứ bánh thông d dụng nhất vì dễ làm nhưng khá ngon. Một thời gian không lâu, tôi được thông báo i là đủ tiêu chuẩn để đi định cư t Hoa Kỳ. Tôi nh tại được phân chuyển vào Site 2 c trại. Từ Site 1 n của A(Galăng 1) đến Site 2 (Galăng 2), đo đường n đoạn cũng trên một km. Tuy đã ở Galăng 2 là nơi chờ để đi định cư, hằng ngày tôi c ng cũng phải trở về Galăng1 để làm thiện nguyện viên cho m trường n một dạy Anh ngữ ESL. Tôi còn được cử làm Block trưởng Zone D, hằng ngày ph báo cáo người đi, ng phải kẻ ở. Ban đêm, tôi phải đi mộ vòng để kiểm soát. ột Vì có giấy chứng nhận nên tôi không b lính Indo n bị làm khó dễ. Trước khi được đi định cư, ai c nh cũng phải qua một lớp học ESL và phải đượ huấn nghệ. Vì thời ợc gian chờ đợi khá lâu nên tôi sang l một ao rau i lại muống của một người đi trư i trước. Ao có diện tích khoảng độ 30 mét vuông. Nh Những người đi trước đã có công biến bãi hoang sình l thành những ao n lầy

Trại Pulau Galăng có một nghiêm l t lệnh, phải tuyệt đối chấp hành. Hàng ngày, vào lúc hoàng p hôn, khi tiếng cầu kinh của đạo Hồ cất lên qua ồi các loa phóng thanh thì mọi sinh ho phải được i hoạt dừng lại và mọi di chuyển đều bị c cấm trong giờ giới nghiêm từ 10 giờ đêm đến 5 gi sáng. Ai vi n giờ phạm sẽ bị phạt đánh bằng roi bởi nh i những người lính giữ đảo. Những người lính này đư xem như i được là những hung thần. Họ đánh người t nạn không i tị chút nương tay. Theo lời kể thì có m người Việt một tị nạn lâu ngày, biết tiếng Indo nên đư tuyển ng được làm thông dịch viên. Tên này dựa hơi nên t ra a tỏ hống hách ngang tàng, thường hoạnh h bắt nạt nh họe người đồng hương. Ở trong trại, suốt ngày rất ồn ào vì ti n tiếng cãi vã, chưởi mắng, và đánh đập lẫn nhau. Trai gái b n bồ

- 28 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
rau muống. Không biết cái ao của tôi có từ bao giờ vì nó đã được sang tay nhiều lần. Trại Galăng 2 gần biển nên có nhiều người ra đây tắm. Bãi biển ở đây rất ít cát, cây cối rậm rạp, nhiều nhất là cây tràm mọc lấn bờ. Thời gian trôi qua, tôi được chứng kiến những mối tình rất đẹp, có cái dang dỡ nhưng cũng có cái trọn vẹn. Điển hình là mối tình của một chàng trai tị nạn người Việt với một cô gái Mỹ làm việc thiện nguyện ớ đây. Hai người này hiện đang sống ở San José. Mối tình thứ hai là của một thanh niên người Indo làm việc cho Cao Ủy Tị Nạn LHQ với một cô gái xinh đẹp người Việt tị nạn. Hai người đã làm đám cưới và hiện đang sống ở Hayward, California. Tôi được người thân bảo lãnh đi đến Fremont, California nên vào ngày 21 tháng 9 năm 1984, tôi được chuyển lên một chiếc tàu lớn. Khi tôi lên thì trên tàu cũng đã có rất đông người. Tàu cũng chạy quanh co tránh các hòn đảo nhỏ và rồi đi đến Singapore. Chúng tôi được di chuyển đến một trại tị nạn. Ở đây, chúng tôi hoàn toàn được tự do. Ai có tiền thì đi xe bus ra phố mua sắm. Tôi cũng ghé vào chợ để ăn một vài món ưa thích. Chúng tôi phải tuân theo một điều cấm là không được xả rác bất cứ ở đâu. Ở Singapore được ba ngày thì chúng tôi được đưa lên máy bay đi Hồng Kông. Ở Hồng Kông một đêm trong một Motel, sáng hôm sau chúng tôi được đưa lên máy bay, bay qua Mỹ. Cuộc hành trình vượt biên của tôi kéo dài đúng một năm. Tính cho đến bây giờ, tôi đã định cư trên đất Mỹ được gần 28 năm. Lê hữu Vịnh 11/2011

Gặp Bạn Xưa
(Tặng Lê Hùng bạn cũ Quốc Học, gặp lại trong kỳ Đại Hội PG tại Dallas)

Bốn mươi năm bỗng nhìn về trường cũ Hàng cây xanh Tường vôi vữa Lối đi Gặp mặt nhau à nớ, à ni Chưa nhận diện Khoảng thời gian ngăn cách. Tiếng ve sầu Cánh phượng rơi Màu gạch, Trẻ nô đùa Âm hưởng Bóng thời gian Mặt nước sông Hương lấp lánh Mơ màng Bờ vai nhỏ, mái tóc thề, áo trắng. Sân trường đó Hè về im vắng Chẳng bao giờ ta trở lại thư sinh. Cuộc sống tha phương Lạt lẽo, vô tình Nay gặp lại bạn xưa Lòng tươi mát Đã quá lâu Nên ngỡ ngàng chốc lát Rồi cầm tay nhắc nhở chuyện ngày nào Mắt cười vui Nhưng lòng thấm nghẹn ngào Thương đất nước mãi âm thầm chịu đựng.

Nguyên Thạnh

- 29 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

ĐỨT RUỘT
nguyên minh
nữa. Tôi hứa với mình sẽ không bao gi viết về T. giờ nữa. Nhưng, hôm nay, vô tình M ình Mộng Loan báo cho tôi biết những bất hạnh mà T. v gặp phải về nh vừa cuộc hôn nhân muộn màng đó. Tôi đi n điếng người. Suốt thời gian trên Buôn Mê Thuột, hai ngày, tôi i ngậm câm. Tôi không biết tin nào trư tin nào t trước sau. Của Mộng Loan, tôi bu ng buồn. Của Trần Hoài Thư, tôi vui. Chuyến đi lên Cao nguyên đ được chuẩn bị n đã từ lâu, đến lúc lên xe tôi cũng ch biết được mình ũng chưa sẽ ở tại khách sạn nào, Trần Anh Tuấn cho biết từ n Sài Gòn con gái anh đã lấy phòng tr y trước cho chúng tôi tại Đam San, một khách s lớn nhất. Tôi hỏi t sạn lại: Có đúng là Đam San không? – Sao lại không? i: Nguyên Minh có biết Đam San h Tôi chưa trả t hả? lời, móc túi lấy điện thoại g lại em tôi ở Phan i gọi Rang báo tin tôi đang lên Buôn Mê Thu cần địa Thuột, chỉ gia đình người chị. Em tôi cho hay, ch cần . chỉ anh đến khách sạn Đam San th rõ. n thì Đến nơi, tại quầy tiếp tân, tôi nói tôi mu p muốn gặp giám đốc khách sạn. Cô gái cho tôi s điện n. số thoại di động, tôi gọi nói mu gặp anh để anh ta i muốn dẫn đến thăm người mẹ là ngư chị con người cô người ruột của tôi, mà từ lâu, cả đến 60 năm qua tôi chưa n gặp lại. Anh ta trả lời đang b ở xa, bảo tôi ngồi i bận chờ ở phòng khách sẽ cho cậ em kế đến chở tôi ậu về nhà người mẹ. Gặp chị, một cụ già trên 90 tu đang nằm tuổi trên giường nệm, tôi nhận ra ngay. Tôi ch nhắc n chỉ đến một kỷ niệm mà tôi không bao gi quên được m giờ là thuở còn là cậu bé 7, 8 tuổ đã từng nằm trong ổi

Nghĩ là không còn viết gì về T. n sau khi nữa được tin từ Trần Hoài Thư ở Mỹ cho hay T. đ tái đã giá và sống rất hạnh phúc bên cạnh ngư chồng nh người mới. Điều này từ lâu tôi muốn T. đư yên bề gia n được thế với tuổi già sắp đến. Tôi cũng đ cắt đứt liên ũng đã lạc với T. qua email. Tôi muốn T. không b lòng n bận về tôi. Và, ngược lại. Nhưng, hôm nay thì khác. Mộ chuyến du ột lịch với các bạn đã từng là cựu học sinh Qu Học c Quốc trên 50 năm về trước; cùng đi có thêm th cô c; thầy năm xưa. Thầy Hồng Giũ Lưu, cô Di Trang. Vợ ưu, Diệu chồngBác sĩ Thân Trọng Minh, Thanh H ng Hằng. Vợ chồng Tiến sĩ Luật sư Trần Anh Tu Tuấn, Hồ Thị Mộng Loan. Vợ chồng Kịch tác gia Sâm Thương, ch Vũ thị Bích. Riêng tôi. Nguyên Minh. Nhà văn. Chỉ một mình. Lên cao nguyên. Buôn Mê Thu t Thuột. Chiếc xe 16 chỗ ngồi, đời mớ máy lạnh, ới, thong dong trên quốc lộ. Mọi ngườ vui vẻ nói ời chuyện huyên thuyên. Trần Anh Tu bô bô cho n Tuấn biết lịch trình chuyến đi. Mộng Loan nh đến bài ng nhắc viết của tôi về chuyến đi thăm cô giáo c Giáng n cũ Châu, có đọan viết về T. Mộng Loan là ngư ng người quen biết T. qua cô em gái ở Mỹ. M . Mộng Loan nói có gởi bài đó qua cho T. Còn tôi thì khôn Bài òn không. đăng trên TQBT số 45. Trong một email c THT t của cho biết T. gọi điện thoại qua nhờ ch Yến gởi cho chị T. số báo đó. THT đã đáp ứng. Thư trư đã lâu, ng. trước vài tháng, THT cho hay T. đã tái giá và s ã sống rất hạnh phúc. Tôi buồn nhưng sau đó l n lòng tôi thanh thản, không còn ray rứt về một mố tình xưa đó ối

- 30 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
lòng chị để được chị quấy lỗ tai. Ngày ấy chị sống với chồng trên Đà Lạt, còn tôi sống ở Phan Rang có dịp theo mẹ lên Đà Lạt chơi. Cái cảm giác đầu đời vừa sợ vừa khoái cảm từ thời thơ ấu đã theo tôi đến tận tuổi già. Còn chị, qua hơn nửa thế kỷ, với tuổi già người ta thường quên hết những chuyện đã qua nhất là chuyện không đáng nhớ, thế mà chị lại cười gật đầu nhớ ngay và gọi đúng biệt danh của tôi thời ấy. Bui đó à. Tôi nắm chặt lấy tay chị. Bui đây. Như đưa tôi về lại thuở xa xưa, như đưa tôi về vùng cao nguyên với đồi thông vi vu, với những hàng cây nở đầy hoa anh đào, với bờ hồ Xuân Hương có nhà thủy tạ, với những con phố dốc trên dốc dưới, những dãy biệt thự trong những vườn hoa rực rỡ tỏa đầy mùi hương. Buổi sáng sương mù lãng đãng trên núi đồi, buổi chiều mưa lâm râm. Lạnh buốt, tôi, một thằng bé con, hết run rẩy và ấm áp trong lòng người đàn bà chưa đầy ba mươi tuổi. Tôi nằm nghiêng, gối đầu lên đùi chị, một tai áp sát, một tai nghểnh ra, mắt nhắm lại, chỉ thỉnh thoảng hé mở nhìn khuôn mặt chị và đôi mắt chị đang chăm bẳm vào lổ tai tôi. Bàn tay chị nhỏ nhắn cầm chiếc que nhỏ nhẹ nhàng đưa sâu vào lỗ tai tôi. Một nỗi sợ hãi chợt lóe lên nhưng rồi biến mất ngay nhường lại cho một cảm giác tê mê làm tôi thiếp đi trong một giấc mộng ngắn ngủi. Giọng nói chị nói đầy âm điệu như tiếng hò mái đẩy, kể lể, thổ lộ nỗi nhớ quê nhà mà chị phải đành bỏ nó ra đi. Chị thủ thỉ rót vào tai tôi về quê chị, còn trong tâm hồn tôi đang liên tưởng bằng ảnh tượng, như mình đang đứng trước ngôi nhà từ đường có rường cột to tướng, bóng láng màu gỗ lim, cùng mái tranh dầy cộm tỏa hơi mát xuống nền nhà ximăng lúc nào cũng được lau chùi đến nỗi lên nước như đá thạch. Chị diễn tả con đường dẫn vào nhà chị, quanh co bên bờ sông Hương lúc nào cũng một màu xanh như có rêu rong nằm dưới đấy, đến chiếc đò ngang chở khách qua sông, từ Bãi Dâu qua con đường Chợ Mai đến làng Ngọc Anh. Ngày đó chị còn là đứa trẻ thơ theo mẹ về thăm bà ngoại đến lúc trở thành người con gái mà con đò vẫn còn người đàn ông cầm sào chống xuống lòng nước đưa chiếc đò chồng chềnh đầy khách từ từ cập bến. Lúc ấy, tôi nghe chị kể lể như tôi nghe một câu chuyện cổ tích, và tôi thiếp đi trong giấc ngủ êm đềm, trong giấc mơ tôi gặp một người thiếu nữ có khuôn mặt hình trái soan cùng đôi mắt hiền từ, đẹp như một nàng tiên. Lớn lên, mười năm sau, tôi thành cậu thiếu niên 17 tuổi, mới trở về quê nội, tôi sửng sờ khi đứng trước ngôi nhà từ đường, lần đầu tiên mà tôi thấy quá quen thuộc như đã từng sống nơi đó từ lâu. Trên chiếc đò ngang, nhìn dòng sông Hương tôi không ngạc nhiên vì màu xanh rêu mà chưa bao giờ tôi thấy ở những con sông khác nơi tôi đã từng đi qua. Đến làng Ngọc Anh, trước nhà vẫn là lũy tre cao vút, vẫn có cái hồ nhỏ làm hòn non bộ, vẫn còn giàn hoa thiên lý trước sân. Bấy giờ tôi mới nhận ra đúng là cảnh chị tả quê nhà mình cho tôi từ thuở ấu thơ. Hơn sáu mươi năm qua chị em tôi mới được gặp nhau lại. Từ lâu tôi cũng muốn tìm chị nhưng biệt tăm từ ngày chị bỏ Đà Lạt lên Buôn Ma Thuột. Trước khi từ giã chị tôi nhận thấy đôi mắt chị hình như hướng về một nơi xa xôi nào đó và giọng chị run rẩy: - Tất cả đều đổi thay rồi em ạ. Đâu còn chiếc đò ngang. Đâu còn lũy tre làng. Đâu còn mái nhà tranh. Tự nhiên tôi thốt lên: - Màu xanh của dòng sông Hương, vẫn còn. Hai ngày đêm ở Buôn Mê Thuột, chúng tôi đi thăm vài buôn làng với những ngôi nhà sàn bằng gỗ, đến những nhà mồ, vào tận trong núi sâu, lên dốc xuống dốc, băng qua những ghềnh đá nhỏ trơn tru để đến những thác nước hùng vĩ. Ban đêm Thân Trọng Minh, Sâm Thương, Trần Anh Tuấn, thầy Hồng Giũ Lưu kéo nhau qua phòng tôi ngồi uống rượu whisky nói chuyện đời. Rượu ngon phải có bạn hiền nên chai rượu đầy đã vơi cạn lúc nào không hay. Buổi sáng sớm hôm sau, chúng tôi lên xe về Đà lạt. Không ngờ con đường đèo quanh co khúc khuỷu lại bị cày xới, đất đá lởm chởm, ổ gà ổ voi, chỗ khô chỗ nước vũng lầy, chiếc xe lắc lư và

- 31 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
nhắc đến cuộc đời của Lê Tín Hương th còn ở a thời Việt nam. Tôi kể lại cuộc đ của Vô Thường c đời những ngày trước năm 1975 ở quê anh, một thị xã c nhỏ Phan Rang. Hai đứa tôi là b từ thuở thiếu a bạn thời. Một thằng mê văn chương ch nghĩa. Một ng chữ thằng mê âm nhạc, đàn ghi-ta. M thằng viết văn ta. Một bằng tay mặt. Một thằng khảy đàn bằng tay trái. Tôi viết văn hắn đọc. Hắn khả đàn tôi nghe. ảy Lịch sử sang trang. Tôi ở lại quê nhà, gác bút làm nông. Hắn lưu lạc nơi xứ người tiếp tục khẩy ứ đàn, thâu băng đĩa. Trong m tình cờ hy hữu tôi ĩa. một nghe được tiếng đàn ghi-ta đ đáo của hắn khi ta độc ngồi với Lữ Quỳnh ở một qu cà phê dưới cơn t quán mưa bất chợt, trước khi Lữ Quỳnh rời Việt Nam sang định cư ở Mỹ. Âm thanh t . từng giọt réo rắc của đàn ghi-ta phát ra từ một máy ghi âm c t cũng đủ làm tôi nhận ra tiếng đàn của B Rìu sau 20 năm a Bảy vắng bóng. Tiếng đàn đó đưa tôi vào c xa xưa ng cõi nào đó, với một không gian nào đó, v khuôn mặt t với ngây thơ của một người con gái thu còn là nữ i thuở sinh trong trắng đã từng làm nát tim tôi. Tôi không ng cầm được nỗi xúc động, để mặc cho nước mắt ể chảy dài. Sau đó tôi viết đư một truyện ngắn t được mang tên “Hình Như Trời Đang Mưa” t i tặng Bảy Rìu sau này tôi mới biết là Vô Thư t Thường gởi qua đăng trên Thư Quán Bản Thả của Trần Hoài Thư. ảo Không ngờ Trần Hoài Thư in ra m bản sao gởi n một cho Vô Thường ở Mỹ. Từ đó Vô Thư Thường và tôi liên lạc qua email. Cũng một tình c khác, có một t cờ người quen nhờ tôi sao lại hình Lê Tín H i Hương. Tôi gởi email hỏi thật tình Vô Th t Thường ở Mỹ có biết Lê Tín Hương cùng mấy b y bản nhạc của cô ta không. Tôi muốn nhờ Vô Thư Thường kiếm hộ, gởi về Việt Nam cho tôi. Vô Thường tư ng tưởng tôi đùa dai. Thư qua thư lại tôi biết thì ra Lê Tín H Hương là vợ của Vô Thường. Nhưng giờ họ đã chia tay nhau sau 7 năm chung sống. Vô Thư ng. Thường tâm sự với tôi, những năm tháng đó là nhữ tháng năm hạnh ững phúc nhất trong đời của Vô Thư a Thường. Vô Thường hẹn với tôi s về Việt Nam và i sẽ hai thằng sẽ ra Nha Trang tìm m thuê một căn a một nhà nhỏ gần bãi biển. Xa lánh m người thân để n. mọi một thằng viết văn, một thằng sáng tác nh ng những bản tình ca mà Vô Thương ấp ủ Chúng tôi quên là ủ.

chúng tôi cũng lắc lư, mệt nhừ. Đến gi trưa xe n giữa đậu lại ở một cái quán bên đường theo l đề nghị ng lời của tôi. Giữa cái hẻo lánh, đìu hiu, hai bên đường ìu là đồi núi, không có một nhà cửa, buôn làng l a, lại mọc lên cái quán nhỏ, trước cổng l giăng một ng lại bảng quảng cáo ngày khai trương Quán Thung ng Lũng. Tình cờ chúng tôi là khách đến đ tiên. n đầu Ngồi dựa đầu vào chiếc ghế cận k gốc cây, n kề bên cạnh ly cà phê phin đang chảy t y từng giọt màu đen sậm, thở một hơi dài như trút hết cái bu ngủ t buồn đã dật dờ trên xe, nhìn xuống phía dư cái quán ng dưới nhỏ này, cheo leo trên sườn đồi, m dòng suối i, một nhỏ, đục ngầu màu đất phù sa, quanh co dư t dưới thung lủng, như một bức tranh vẽ dòng nước ẽ, đứng yên. Lòng tôi nhẹ tênh trong phút ch rồi chốc lại bay bổng theo mây, theo khói b lên từ núi ng bốc rừng phía xa lơ lửng mỏng như sương mù, trong ơng tiếng hát phát ra từ cái điện thoại di đ i động của thầy Hồng Giũ Lưu đặt trên bàn nhỏ. Tôi th hồn theo . thả ca từ: ……… Có những niềm riêng gần như hơi th n thở Nuôi ta cô đơn nuôi ta đợi chờ Có những niềm riêng một đời dấu kí ấu kín Như rêu như rong lắng trong bể khơi Có những niềm riêng gần như câm nín n Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi m ………. Có lẽ nhìn vẻ ưu tư của tôi, thầy Lưu h y hỏi: - Nguyên Minh biết bản nhạc này của ai không? a Tôi lắc đầu và nói nhỏ: - Thầy cho em nghe lại vài lần. - Bản nhạc đầu tay của vợ bạn anh đó: Lê Tín n Hương. Trong chuyến đi này, tình cờ ngồi ở nhà ờ hàng bên bờ hồ Lắc để ăn trưa, chị Mộng Loan ị

- 32 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
mình không còn trẻ. Chúng tôi quên tuổi già sẽ làm mình gục ngã, xuôi tay lúc nào không hay. Thật vậy, chưa thực hiện lời hẹn đó, Vô Thường đã ra đi sau cơn bạo bệnh. Khi nhận email của tôi hỏi thăm bệnh của Vô Thường bớt chưa mà cả tháng nay không thấy Vô Thường thư cho tôi như mấy lâu nay chúng tôi vẫn liên lạc với nhau. Trước đó Vô Thương chỉ cho biết dạo này anh thường ho dữ dội, khám bác sĩ cho hay chẳng có gì quan trọng. Trả lời email của tôi là của một người em gái nuôi tên D. báo tin cho tôi hay Vô Thường đã chết mấy ngày nay rồi. Tôi bàng hoàng và tưởng rằng cô em gái nuôi nào đó đã đùa dai nên tôi gởi thư qua cho Trần Hoài Thư kiểm chứng lại tin dữ này. Đúng. Thế mà từ ngày Vô Thường ra đi về cõi vĩnh hằng đã gần 8 năm qua, tôi mới được nghe lần đầu tiên bài “Có Những Niềm Riêng” của Lê Tín Hương. Sau chuyến đi chơi Tây Nguyên về, sáng nào tôi cũng dậy sớm, ngồi bên song cửa nhìn xuống bãi cỏ xanh rờn, ngút ngàn sau nhà, uống một tách cà phê và vào mạng để nghe lại tiếng đàn ghi-ta của Vô Thường trong ca khúc của Lê Tín Hương mà anh đã thu vào dĩa CD và hứa sẽ đem về tặng tôi. Thôi thì tôi pha thêm một tách cà phê, đốt một điếu thuốc Palmall, xích người qua một chút, nhường cho hương hồn người bạn có ngón đàn ghi-ta độc đáo bằng tay trái ngồi cạnh bên. Tôi nói nhỏ: Bảy Rìu uống cà phê, hút thuốc đi mày, nghe tiếng đàn của chính mày đó. Có Những Niềm Riêng đó. Hạnh phúc nhất của đời mày đó. Minh Bui đây. Hẹn gặp lại mày nơi cõi vĩnh hằng một ngày không xa. Đoạn đường từ Buôn Mê Thuột về Đà Lạt ngang qua những khu vườn cà phê, hoa đang nở và bầy bướm vàng bay lững lờ hai bên đường cái. Tôi lấy làm lạ cứ nhìn đăm đăm theo loài bướm vàng đó trong khi cô giáo Diệu Trang kể cho chúng tôi nghe về con bướm mang hồn người chết lảng vảng bên cạnh người thân yêu trước nấm mồ vừa xây xong. Tôi nhớ đến tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng mà thời còn đi học mình đã từng say mê. Thân Trọng Minh lại nói: Là bướm cũng có thể là con chuồn chuồn.Nên khi ngồi trên ghế sa lông trong ngôi nhà trên lưng đồi ở Đà Lạt, nhìn tấm tranh anh vừa vẽ xong, để chuẩn bị cho cuộc triễn lãm chung với Đinh Cường, Hoàng Trọng Bân tại nhà trưng bày nghệ thuật của Phạm văn Hạng. Bức tranh có con chuồn chuồn màu hồng đậu trên cánh hoa, phía dưới vẽ một phin cà phê trên cái tách nhỏ. Giản dị như thế nhưng sao cứ làm lòng tôi bồn chồn xúc động. Có phải con chuồn chuồn là hồn của con trai anh cứ luôn luôn tìm về. Tôi biết nỗi đau mất con của anh. Anh là bác sĩ từng cứu người nhưng với người con trai đầu đã lớn có vợ lại vừa có con trai đầu lòng chưa đầy giáp năm lại chết đi vì căn bệnh quá ngặt nghèo. Anh bó tay. Cùng năm tháng đó, tôi cũng nằm mê man trên giường bệnh, mổ lui mổ tới, vứt bỏ hẳn túi mật, cắt bớt một phần gan. Thân Trọng Minh tưởng sẽ mất hẳn một thằng bạn thân thiết là tôi. Còn người con trai cũng đang nằm trên giường bệnh ở một nhà thương khác sẽ qua khỏi cơn nguy. Anh không mất bạn mà anh phải chịu đau khổ phải xa lìa mãi mãi người con yêu quí. Những bức phác họa bằng mực tàu tại phòng khám bệnh riêng của anh những ngày sau đó toàn là vẽ những con chuồn chuồn. Chuồn chuồn đậu trên tách cà phê. Chuồn chuồn bám vào tấm màn che cửa sổ. Chuồn chuồn đậu trên thành ghế dựa trong phòng làm việc của anh. Trên giường anh ngủ, chuồn chuồn cũng đậu trên thành cây đèn nhỏ. Nếu anh khóc được như tôi mỗi lần nhớ đến người thân đã mất thì nỗi đau trong lòng vơi đi một ít. Anh vẫn cười, anh vẫn nói huyên thuyên, nhưng tôi biết con chuồn chuồn đang cắn vào tim anh. Tôi nhìn bức tranh chưa có tên đó, tôi nói nhỏ với anh để tôi đặt tên là Đứt Ruột. Anh không vẽ nỗi một con dao nhỏ nằm trên bàn và một khúc ruột vừa mới cắt. Nhưng tôi đã mường tượng ra. Nhứt quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.

- 33 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Chúng tôi chơi trò học trò đây. Nh Những tên học trò giờ đã xấp xỉ bảy mươi tuổi ch phá cô i chọc giáo tuổi gần tám mươi. Chúng tôi bày tr cô giáo n trò cởi voi. Cô giáo ngày xưa từng dạy môn tri học y triết ở trường Quốc Học Huế, thường môn h khô ng học khan ấy chỉ dành cho mấy ông thầy l tuổi, sao y lớn lại có một cô giáo trẻ, đẹp, quí phái dòng Tôn Th p, Thất vừa mới ra trường đại học sư phạm đ m đảm trách dạy chúng tôi. Có lẻ nhìn vẻ duyên dáng c cô, nhìn của nụ cười tươi rói của cô, nghe giọng nói d dàng ng dịu khi giảng bài nên thu hút được sự chăm chú c của chúng tôi. Chúng tôi đâm thích những gi dạy của ng giờ cô, chắc chắn không phải vì bài học khô khan đó c rồi. - Hôm nay cô Diệu Trang đóng vai bà Trư Trắc u Trưng nghe, không có Trưng Nhị đi cùng, cô cứ nghĩ mình đang ngồi với Thi Sách ch i chồng mình chứ không phải Tô Định, giặc Tàu, k cô hất thầy rớt c kẻo xuống đất mà voi dày xéo đó nghe. t Cô giáo gật đầu, cười ra ti i tiếng: - Vâng, vâng. Ông thầy cười nấc nẻ: - Thi Sách đây. Tô Định chạy v tàu rồi. y về Lũ học trò già vỗ tay reo vui. Ngày cuối cùng ở Đà lạ buổi tối tại một nhà ạt, hàng, bất ngờ tôi mới biết mình đang dự buổi tiệc t chiêu đãi của thầy cô nhân d kỷ niệm 50 năm y dịp ngày cưới của thầy cô. Cô giáo trang đi y điểm nhan sắc lại đôi chút, vẫn đài các như bà hoàng ng n ngồi bên người chồng cao tuổi nhưng tóc v còn đen. i vẫn Những câu chúc tụng chân thành c ng của học trò chúng tôi. Lời đáp lại với nỗi xúc đ i động của cặp vợ chồng đã chung sống, từng chia sẻ ngọt bùi cay ng đắng với nhau đúng nửa thế k Cả thầy cả cô thốt kỷ. lên: - Cám ơn các em học trò ngày x của chúng tôi. c xưa Cả thầy trò đều say ng ngưởng, nhưng u ngất cũng cố kéo nhau vào một quán cà phê trên d t dốc cao để nhìn xuống bờ hồ Xuân Hương cùng thành phố cao nguyên ban đêm với muôn ngàn ánh đèn i cao thấp như tưởng mình đang lơ l lửng giữa những vì sao. Ngồi cuối bàn, tôi im l i lặng, chỉ nhìn vào khuôn mặt cô giáo mang đôi kính c t cận, thỉnh thoảng nở nụ cười duyên dáng và h nhiên đón i hồn nhận trước những lời tinh ngh i nghịch của lũ học trò ngày xưa. Bỗng chốc, ý ngh chợt đến: Chúng tôi c, nghĩ thì già, bầm dập với cuộc đờ Còn cô giáo thì trẻ ời. lại hồn nhiên với cuộc sống. Nguyên Minh

Cô Diệu Trang, cựu giáo sư trường Quốc Họ môn Triết ọc,

Sau bao nhiêu năm qua, sau bao nhiêu cu cuộc bể dâu, chúng tôi gặp lại thầy cô ở Sài Gòn. T đó Từ chúng tôi thường có những buổi đi du l i lịch hoặc tựu họp nơi quán cà phê dùng đi p điểm tâm, nói chuyện phiếm cùng thầy cô giáo cũ. Trong nh ũ. những lúc ấy, nhất là Thân Trọng Minh, Tr Anh Tuấn ng Trần hay đùa cợt với cô nhưng tôi thấy cô v cười đón y vẫn nhận. Cả bọn học trò già chúng tôi súm nhau ng c ngồi xem cô giáo già mặc váy dài nương tay v vào c vịn vai ông chồng già lựng khựng từ cái đài cao b bằng gỗ bước qua để ngồi trên yên đặt ở đ con voi to đầu tướng. Cả bọn chúng tôi, như lũ học trò đứng hai c bên đường xem mặt hai cô nữ sinh Đ Đồng Khánh đóng vai chị em Trưng Trắc, Trưng Nh đang cởi c, Nhị voi thật diễn hành trong ngày lễ Hai Bà Trưng. Có tiếng ai đó trong bọn thốt lên: t

- 34 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Tôi Đi Học
Hồi kýLê khắc Huy Buổi mai hôm ấy, một buổi mai mùa thu nhưng vẫn còn nhiều oi bức của xứ Huế, chú M nắm tay tôi và chị tôi dẫn đi ngang qua trường Việt Anh, băng qua đường Duy Tân rồi đi dọc bên hông Lầu Ông Sáu và thẳng tiến về phía trước Lòng tôi trước. không thấy hân hoan như Thanh Tịnh mô tả mà thật sự nặng chỉu vì cho dù đúng là “hôm nay tôi đi học” nhưng là học trường ... Jeanne d’Arc Sở d’Arc. dĩ gia đình chọn trường nữ sinh này cho tôi vì hai lý do. Thứ nhất, chị tôi cũng học trường này và do ng đó chỉ cần một người đi đưa đón mà thôi Thứ hai, thôi. Cô giáo lớp Năm là láng giềng của gia đình và đồng ý nhận tôi vào học. Không phải với một cậu bé mới 6 tuổi đầu như tôi mà ngay cả các người lớn hơn tôi 5, 10 tuổi cũng sẽ ngại ngùng lúc vào một lớp học mà mình là một “thiểu số tuyệt đối” như vậy. Lớp Năm của trường Jeanne d’Arc chiếm một phòng khá lớn gồm 3 dãy bàn chia thành 3 lớp A, B và C. Không hiểu rõ là nếu học lớp Năm A, là lớp tôi được nhận vào, được mộ năm nhưng ột học lực còn kém thì không được lên lớp Tư mà chỉ được lên lớp B hay C hay không nhưng tôi còn nhớ là ngoài một số môn học chung, thỉnh thoảng , các bạn ở các lớp B và C học các môn khác mà tôi thật sự không hiểu. Nhưng dù sao, là A B hay C A, thì cũng chỉ toàn là con gái, duy nhất có một mình tôi là con trai. Chỉ có một an ủi duy nhất là trong trường còn có 3 nam sinh khác. Cả ba đều lớn hơn tôi một tuổi và đã học qua lớp Năm nên hiện tại đang học lớp Tư. Đó là Lê bá Giảng Nguyễn duy Giảng, Phúc và Trần công Tín. Giờ ra chơi, bốn đứa chúng tôi tụ lại một góc, thì thầm nói chuyện, không dám có cử động mạnh. Lỡ hôm nào vì hứng chí chúng tôi vỗ tay

hay reo hò thì lập tức gây sự chú ý của “đa số tuyệt đối” và họ sẽ xúm lại trêu chọc chúng tôi tôi. Đây là năm học mà tôi thật sự muốn quên và do đó cũng chẳng có gì để kể lại Rồi một năm lại. cũng qua đi và may mắn thay trường đã thay đổi thay, chính sách và tuyệt đối không nhận nam sinh nào nữa. Như vậy là tôi phải chuyển trường ư trường. Việc lựa chọn trường mới cho tôi được quyết định mau chóng. Từ nhà tôi băng qua đường tôi, Phạm hồng Thái rồi đi dọc theo đường Phó đức Chính khoảng chừng 100m là đến đường Trần văn m Nhung và băng qua đường này là đến một ngôi trường tư thục nhỏ có tên là Nguyễn văn Mẫn Mẫn. Tuy phải băng qua hai con đường nh nhưng là hai con đường nhỏ và vào thời đó cũng rất ít xe cộ Vả lại cộ. đây cũng là “địa bàn” của tôi nên có thể tự đi học và về nhà không cần người lớn dẫn đi đi. Trường Nguyễn văn Mẫn lấy theo tên của Mẫn, thầy sáng lập kiêm hiệu trưởng nằm trên một khu đất hình chữ nhật, bề dài khoảng từ 25 đến 30m chạy dọc theo đường Trần văn Nhung và bề sâu khoảng từ 15 đến 20m. Ở giữa khu đất nằm sát đất, vào phía sau là một ngôi nhà ngói cũ kỹ có nền cao chừng 3,4 bậc cấp, lúc trước chắc để làm nhà thờ nhưng bây giờ dùng làm nơi học cho các bạn lớp Nhì và lớp Nhất. Phía bên trái là một căn nhà chạy dọc theo hàng rào xây bằng “tạp lô” mái tôn, lô”, bên trong có 3 dãy bàn, 3 bục giảng và 3 bảng đen, c không có vách ngăn dùng cho các lớp Ba Tư và Ba, Năm. Phía bên phải là một căn nhà nhỏ là nơi Thầy và Cô cùng hai người con một trai một gái con,

- 35 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
khoảng 17,18 tuổi cư ngụ. Thầy và người con trai phụ trách các lớp Nhì và Nhất còn Cô và người con gái thì phụ trách 3 lớp Ba, Tư và Năm. Nói chung đây là một trường tư thục nhỏ dành cho các học sinh ở lân cận như trường hợp của tôi. Các bạn cùng xóm với tôi thì vẫn đi học trường cũ, đa số vẫn còn học chương trình Pháp, nghĩa là các trường lớn và khang trang hơn. Vì vậy, lúc phải học trường Nguyễn văn Mẫn tôi cũng thấy không hài lòng cho lắm nhưng thật sự một cậu bé 7 tuổi đầu như tôi thì đâu có quyền gì để lựa chọn. Không những thế, trường này còn thường được gọi tắt là trường “Bộ Mẫn” và các bạn tôi vẫn thường cố ý hiểu lầm và dùng cái tên đó để chế diễu tôi. Sở dĩ tôi đã mô tả và nói nhiều về ngôi trường này vì đó là nơi đã thay đổi sâu sắc cuộc đời của tôi. Vì vậy, dù chỉ học trường này chỉ có một năm nhưng Thầy Cô lại rất thương tôi và về phần tôi, nhiều năm sau, tôi vẫn trở lại thăm Thầy Cô vào những dịp Tết để tỏ lòng biết ơn của mình. Bây giờ trở lại việc xin vào học trường Nguyễn văn Mẫn. Tôi đã họcmột năm lớp Năm trường Jeanne d’Arc, dù sao cũng là một trường lớn và có uy tín. Như vậy việc được nhận vào học lớp Tư trường Nguyễn văn Mẫn phải là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, không phải như vậy. Trường tuy nhỏ nhưng có nguyên tắc riêng. Tất cả học sinh phải qua một kỳ sát hạch để xác định trình độ rồi tùy theo đó mới xếp vào lớp thích hợp. Chỉ xin vào học lớp Tư mà không những tôi phải qua một kỳ thi viết (nếu tôi nhớ không lầm thì gồm 2 môn Toán và Chính tả) mà còn phải thi vấn đáp nữa. Nói là vấn đáp cho oai chứ thật sự chỉ là hát một bài hay đọc một bài thuộc lòng. Tôi là con thứ năm trong gia đình và còn 2 em nữa tuy nhiên đều còn nhỏ và chưa thể hát một bài trọn vẹn hay đọc một bài thơ. Vì vậy lúc có các Bác, Cô hay Dì đến thăm thì tôi được chọn để biểu diễn giúp vui cho người lớn. Một trong những bài “tủ” của tôi là một bài học thuộc lòng bằng tiếng Pháp dài chừng mười mấy câu và hôm nay tôi đã chọn bài đó trong kỳ thi vấn đáp. Khi tôi bước lên bục và đọc được chừng 2 câu thì Thầy Mẫn đi ngang trước cửa và dừng lại nghe tôi đọc cho hết bài. Sau đó Thầy đi vào lớp, ra dấu cho tôi đứng lại và đến gần Cô giáo yêu cầu xem các bài thi viết của tôi. Sau khi xem xong Thầy tuyên bố một câu bất hủ, bất hủ vì nó làm thay đổi cả cuộc đời của tôi và cũng vì vậy mà cho đến bây giờ, 60 năm sau tôi vẫn còn nhớ nguyên văn:“Trình độ Pháp văn như vậy thì phải được học lớp Ba”. Cho dù còn rất nhỏ nhưng tôi cũng thấy có cái gì bất ổn trong câu nói của Thầy. Thứ nhất, tôi đọc bài thuộc lòng đó như một con vẹt, đâu có hiểu rõ ý nghĩa của bài viết và do đó, cho dù có đọc hay cách mấy thì cũng không liên quan gì đến trình độ Pháp văn của tôi. Thứ hai, ngay từ ngày học ở trường Jeane d’Arc, tuy trường có chương trình Pháp nhưng tôi học chương trình Việt và đó cũng là chương trình tôi sẽ theo học ở trường Nguyễn văn Mẫn. Cho dù đa số các trường tiểu học theo chương trình Việt vào thời đó cũng vẫn có vài giờ Pháp văn nhưng đó chỉ là môn phụ. Các môn chính vẫn là toán và việt ngữ. Cho nên giả thử như tôi có trình độ Pháp văn giỏi đi nữa thì cũng không thể vì vậy mà lại bỏ băng một lớp. Tuy nhiên dù sao thì tôi cũng có chút hãnh diện vì đã đạt thành tích ngoài mong muốn trong kỳ thi đầu đời. Gia đình thì cũng không thấy có lý do gì để từ chối sự ưu ái của Thầy Cô. Và tôi hân hoan bỏ qua lớp Tư, vào học lớp Ba, không một chút ngờ vực về những khó khăn sau này. Thời gian tôi bắt đầu đi học cũng là vào khoảng thời gian chiến tranh vừa chấm dứt và phụ huynh bắt đầu gởi con em đến trường, có người 9, 10 tuổi hay hơn mới vào học lớp Năm. Cho nên sau này nhiều bạn đã rút ngắn thời gian bằng cách thi băng. Ví dụ như học Đệ Ngũ là đã thi Trung Học Đệ Nhất Cấp hay Đệ Tam thì đã thi Tú Tài I. Tuy nhiên vào lúc đó, các bạn này đã tạm gọi là trưởng thành và chuyện thi băng không có nhiều ảnh hưởng đến việc học sau đó. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm của cá nhân tôi thì bỏ qua một năm học ở lúc 6, 7 tuổi tạo thành một lỗ hổng rất lớn mà, như trong trường hợp của tôi, phải cần đến 7, 8 năm sau may ra mới có thể lấp đầy. Tôi không còn nhớ thứ hạng lúc còn học trường Nguyễn văn Mẫn nhưng dù có nhớ thì cái

- 36 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
thứ hạng đó cũng không chính xác. Lý do là Thầy Cô rất thương tôi và nâng đỡ về mọi mặt Thậm mặt. chí vào cuối năm, biết là tôi không có thứ hạ hạng cao để được lãnh phần thưởng cuối năm Thầy Cô năm, đã đặt ra một phần thưởng đặc biệt để phát cho tôi tôi. Năm sau, gia đình đổi vào Nha Trang và tôi học lớp Nhì ở trường Nam Tiểu học. Năm đó hàng đó, tháng tôi thường xếp vào hạng từ 30 đến 40. Vừa đủ điểm để lên lớp nhưng thuộc hạng học sinh dưới trung bình. Năm sau, gia đình lại trở về Huế và tôi học lớp Nhất ở trường Lý Thường Kiệt Thứ Kiệt. hạng năm đó vào khoảng 30, tạm gọi là trung bình. Năm này cũng là năm phải thi Tiểu học và thi “concours” để lên trung học. Tôi còn nhớ vào khoảng đầu năm 1955, một hôm Ba tôi đi làm về và cho biết là năm này tôi không được thi Tiểu học. Lý do là vì Bộ Giáo dục vừa ra thông tri mới định lại tuổi tối thiểu để dự i thi Tiểu học là 11 và như vậy là tôi thiếu 1 tuổi do đã không học lớp Tư ba năm trước đây Như để an đây. ủi hay có thể cũng đã thấy những khó khăn của tôi, Ba tôi nói:” Như vậy cũng tốt, học lại thêm , một năm cho có căn bản”. Riêng tôi thì có thể đi rong chơi khỏi phải học thi là hạnh phúc rồi Thế rồi. nhưng tôi chưa kịp vui mừng được bao lâu thì chỉ khoảng một tháng sau, Ba tôi lại thông báo cho biết là tôi sẽ được đi thi. Lý do là có một số học sinh đáng kể cũng thiếu một tuổi như tôi trong đó có vài người là con của các viên chức cao cấp Do cấp. áp lực của các vị này Bộ Giáo dục cho phép được miễn 1 tuổi nhưng phải làm đơn xin. Và từ đó, cứ . vào những năm có thi cử từ Tiểu học Trung Học học, Đệ Nhất Cấp cho đến Tú Tài I và II tôi đều II, phải làm đơn xin miễn tuổi và mỗi lần như thế, lại được gặp những người bạn “thiếu tuổi” quen thuộc như Phạm đăng Thiện Trần Thiện, anh Tuấn. Kỳ thi Tiểu học năm đó, nếu tôi nhớ không lầm là năm cuối cùng còn thi Tiểu học, tôi đã trúng tuyển không mấy khó khăn khăn. Tuy nhiên kỳ thi concours để vào Trung học công lập mới là gay go. Theo trí nhớ thì có khoảng 2000 thí sinh với con số được chọn là 600 sẽ chia thành 10 lớp.
- 37 -

Sáu lớp sẽ học ở trường Nguyễn tri Phương 2 lớp Phương, học ở trường Quốc học và 2 lớp học ở trường Hàm Nghi vừa mới mở trong Thành nội Nếu tính theo nội. tỷ lệ thì với thứ hạng của tôi chắc là không đậu ì được. Vào ngày tuyên bố kết qủa Hội đồng Giám qủa, khảo đã lựa chọn đọc tên theo thứ hạng chứ không theo thứ tự mẫu tự. Có nghĩa là một người thi hỏng phải chịu sự hồi hộp, dằn vặt hơn cả tiếng , đồng hồ mới biết là mình đã thi rớt Tuy nhiên rớt. hôm đó cũng có một vài phút mọi người lại được phút, dịp reo hò, vỗ tay để giảm bớt căng thẳng Trước thẳng. hết là lúc đọc đến tên Nguyễn văn Tâm Tuy vào Tâm. lúc đó, vị này đã trở thành “Cựu Thủ Tướng” rồi ị nhưng tên tuổi của ông vẫn còn được biết đến ngay cả đối với đám học sinh còn nhỏ như chúng tôi. Một lúc sau thì lại đến lượt “Thủ Hiến” Phan văn Giáo trúng tuyển. Sau đó thì tiến vỗ tay reo tiếng hò lên đến cực điểm làm Ban Giám khảo phải tạm ngưng đọc là lúc mà đương kim “Thủ Tướng” Ngô đình Diệm cũng được trúng tuyển Nhân đây tuyển. cũng nói thêm là dù sao thì Nguyễn văn Tâm cũng là một tên khá thông dụng n sau đó chúng tôi nên không chú ý. Phan văn Giáo thì học ở trường Quốc Học, hiện tại vẫn còn ở Huế Mới đây, Giáo Huế. cũng có ghi tên tham dự “qh 50 năm gặp lại” nhưng đến phút chót thì không thể đi được Thật là được. tiếc. Đành hẹn “Thủ Hiến” ngày Hội ngộ lần tới tới. Riêng về Ngô đình Diệm thì thăm hỏi khắp cả 3 trường đều không thấy đi học không ai hiểu tại học, sao và lạ hơn nữa là không có ai tự nhận là bạn học cùng lớp với NĐD ở tiểu học học.

Trường Nguyễn tri Phương

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Bây giờ trở lại kết quả thi concours. Sau khi mòn mỏi chờ đợi hơn một giờ cho đến hạng 566, nghĩa là chỉ còn hơn 30 tên nữa là trượt vỏ chuối, thì đến tên tôi được trúng tuyển. Dĩ nhiên với học lực của tôi thì được ở hạng 566 cũng là nhờ có may mắn hay có thể nói là “học phận thi tài” rồi. Thế là năm 1955 tôi vào học lớp Đệ Thất B3 trường Nguyễn tri Phương. Trong 3 năm đầu, học lực của tôi cũng có chút tiến triển nhưng cũng chỉ hạng hai mươi mấy rồi lên được mười mấy là cùng. Phải chờ đến năm Đệ Tứ là năm mà theo tôi, cái hụt hẫng vì đã bỏ qua lớp Tư mới tạm được lấp đầy. Năm đó, 7 năm sau khi bỏ băng một lớp, tôi được xếp hạng 5, một bước tiến vượt bực và rất đúng lúc vì đó là năm phải thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Trường Nguyễn tri Phương có thông lệ là vào ngày chào cờ đầu tháng, sẽ bỏ ra một giờ để phát bằng danh dự cho 3 học sinh xếp hạng cao nhất của mỗi lớp. Cùng lứa với tôi thì hàng tháng đều có những tên quen thuộc như Nguyễn mậu Hưng, Thân trọng Minh, Phùng phú Thanh, Bửu Thức, Lê bá Tiếp, Lê văn Toản, Nguyễn mậu Trinh, Phan văn Tùng,...Nhìn các bạn từ trong hàng của lớp mình hớn hở chạy lên tận cột cờ để lảnh bằng danh dự, tôi thật ước ao mình ít nhất cũng có lần được như vậy. Phải chờ suốt 4 năm cho đến lúc học Đệ Tứ, tuy cuối năm tôi chỉ được xếp hạng 5 nhưng có 1 hay 2 tháng gì đó tôi được xếp hạng 3 và ước nguyện của tôi cũng đã thành sự thật. Trong những năm cuối trung học ở trường Quốc Học, tôi luôn được xếp hạng cao và rất ít người có biết hay còn nhớ những khó khăn của tôi trong nhiều năm trước đó. Không phải là không có lý do mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ấn định là phải học 12 năm mới hết bậc trung học phổ thông. Chỉ bỏ qua 1 năm là một thiếu sót đặc biệt là trong những năm đầu mới đi học. Cho dù có nhiều khó khăn nhưng may mắn tôi đã vượt qua được và đó là một đổi đời thật lớn. Tôi đã có được những người bạn mà đáng lẽ không bao giờ gặp. Và một vài người, đáng lẽ là bạn của tôi thì bây giờ phải kêu tôi bằng anh vì tôi học trên 1 lớp và là bạn của người anh. Không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng của bạn bè lên cuộc sống của chính mình. Tôi chỉ nêu lên một ví dụ nhỏ là nếu tôi không bỏ qua lớp Tư thì sẽ không học cùng lớp với Lê văn Toản, cũng sẽ không được Toản mời đến ăn giỗ tại nhà, cũng sẽ không quen người O xinh đẹp của Toản và cũng sẽ không có đàn con, bầy cháu của ngày hôm nay. Sau đây là một số những người bạn mà tôi đã có duyên (hay là vì đổi duyên mà) được gặp trong thời gian học ở Huế. Lớp Ba trường Nguyễn văn Mẫn Nguyễn tấn Kiện, Mai trọng Tủ. Lớp Nhì trường Nam Tiểu học Nha Trang Tôi hầu như không có bạn và không còn nhớ tên ai cả. Lớp Nhất A & B trường Lý thường Kiệt Dương ngọc Chí, Lê chí Đình, Lê quý Đình, Lê bá Giảng, Phan văn Hạt, Nguyễn mậu Hưng, Nguyễn tấn Kiện, Trần văn Lô, Hồ thanh Ngạn, Lê thanh Phong, Trương văn Phổ, Tôn thất Phùng, Cao thị Như Quỳnh, Phùng phú Thanh, Nguyễn xuân Thúy, Lê văn Thưởng, Lê bá Tiếp, Lê văn Toản, Hoàng ngọc Trân. Lớp Đệ Thất – Đệ Tứ B3 trường Nguyễn tri Phương Hồ đắc Ái, Trần duy Bé, Huỳnh hữu Bé, Phạm đình Chỉ, Lê văn Duy, Lê Định, Lê bá Giảng, Nguyễn đắc Hà, Trần văn Hà, Đinh văn Huê, Nguyễn mậu Hưng, Tôn thất Lạc, Trần kiêm Lô, Nguyễn văn Lợi, Thân trọng Minh, Vĩnh Minh, Hồ thanh Ngạn, Phan Ngô, Trần hữu Ngũ, Lê trọng Nhạn, Nguyễn đình Nghĩa, Nguyễn Lê Quang, Hồ văn Sâm, Trần ngọc Thái, Phạm văn Thuận, Võ trọng Thuận, Lê Tư, Hồ đắc Từ,Nguyễn hữu Xương. Lớp Đệ Tam & Đệ Nhị B3 trường Quốc học

- 38 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Tôn thất Cầm, Lê trọng Cận, Nguyễn đức Châu, Hứa Do, Nguyễn anh Dũng, Lê văn Duy,Huỳnh văn Đằng, ??Định, ??Đông, Gia Kha, Đoàn Lô, Vĩnh Lộc, Đoàn Ngãi, Bành Phát, Bạch Tây, Phùng phú Thanh, Liên Thành, Lê quang Thế, Quách Thuận, Lê văn Toản, Nguyễn Tuyến, Đinh văn Trai, Nguyễn mậu Trinh. Lớp Đệ Nhất B4 trường Quốc học Lê văn Anh, Lý đình Bút, Lê thanh Cảnh, Hồ đắc Chương, Văn bạc Chương, Lê viêm Côn, Phạm trần Công Diệu, Lê văn Điền , Hoàng thế Hiệp, Huỳnh Hường, Nguyễn chí Khả, Mai thị Khuê, Nguyễn quang Lạc, Công tằng tôn Bửu Lễ, Hoàng Lụt, ?? Lưu, Trần thanh Mai, Lê qúy Mậu, ?? Ngân, ?? Phú, Nguyễn Phụng, Võ văn Quyền,Phạm Thành, Lê viết Thọ, Lê văn Thông, Lai đức Thuần, Bửu Thức, Nguyễn thị Tình, Phan tôn Tố, Phan văn Tùng, Nguyễn mậu Trinh, Bửu Uyển, Nguyễn văn Vinh, , Nguyễn lương Y. Tôi không thể nào biết được những người bạn mà tôi có thể có nếu không có cuộc đổi đời ở trường Nguyễn văn Mẫn. Chỉ có một điều tôi biết rõ là tôi rất hãnh diện về những người bạn mà tôi đã có được trong duyên mới. Vì vậy hôm nay, 50 năm sau tôi đã tự nguyện cùng các bạn ở San Jose tổ chức buổi họp mặt “50 năm gặp lại” để tất cả có dịp ôn lại chuyện cũ, nhắc lại kỷ niệm xưa của những ngày còn đi học, những ngày đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người mà không thể nào níu kéo lại được. Để kết luận, tôi xin mạn phép được méo mó nghề nghiệp một chút. Lên Đại học tôi chọn ngành Hoá học. Chỉ vài năm sau tôi đã thấy đây là một sai lầm vì không thích hợp lắm với năng khiếu. Vì vậy tôi đã chuyển sang chuyên ngành hoá học lý thuyết là ngành học nặng về toán và vật lý hơn cả hoá học. Để chuẩn bị, vào năm cuối đại học tôi đã ghi danh môn Hóa học Lượng tử Thống kê I (Quantum Statistical Chemistry I). Sau đó, vào những năm hậu đại học, tôi phải hoàn tất phần II và III. Đặc biệt riêng về phần III, môn học khó đến nỗi ở cả trường, vào năm đó, chỉ có một mình tôi dám ghi danh. Một thầy, một trò. Vào giờ cuối
- 39 -

cùng của khoá học, vị giáo sư viết một bảng đầy công thức toán, gạch đỏ hàng cuối cùng rồi quay lại, quẳng viên phấn xuống bục giảng, nhìn tôi, thở phào nhẹ nhỏm và kết luận: “Như vậy là chúng ta đã hoàn tất việc chứng minh Định lý H (H-Theorem) về tính bất khả hoàn (irreversibility) trong không gian 4 chiều kể cả chiều thời gian. Nói một cách dễ hiểu hơn, chúng ta đã chứng minh được là Thời gian đã trôi đi thì sẽ không bao giờ trở lại được” Nói tóm lại, Tôi đi học, học đến sói đầu luôn để đạt đến một chân lý mà một nhà thơ Trung hoa, không biết một chữ về toán, lý hay hoá đã thừa hiểu từ mấy trăm năm trước: Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy Thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi LÊ KHẮC HUY Tháng Giêng 2012

Bơ vơ
Buồn trông khói thuốc lên cao Đưa tay gõ nhịp hư hao tháng ngày Một mai đong cuộc tình đầy Trở về phòng cũ nhốt mình nín thinh Đưa mắt ngơ nhập cuộc tình Nên chừ vẫn thấy một mình bơ vơ. Lê xuân Khôi

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

CHÁU NỘI
Trần Hoài Thư

Khi ông bà đến nhà, nhấn chuông, và khi cửa trong mở ra, thì gương mặt thằng cháu nội hơn một tuổi của ông bà hiện ra sau tấm kính. Trước hết là vẻ ngạc nhiên của nó qua cái ủa nhìn đăm đăm chẳng hiếu khách tí n ẳng nào. Có lẽ nó ngạc nhiên vì sự có mặt của hai ngư lâu lâu lại ười, cùng nhau xuất hiện. Có lẽ nó chưa đ trí khôn để ưa đủ phân biệt thế nào là sự gần gũi ruột thịt ng ự ngoài bố mẹ của nó. Đôi mắt đen láy của nó hết rảo nh ẹ nhìn ông rồi đến bà, có vẻ lạnh lùng, chẳng có dấu hiệu ẳng gì mừng rỡ cùng hai kẻ lạ. Chỉ có ông b thì như ẻ bà hai cơn gió lốc, ào đến. Ông đòi bồng, b đòi ẵm ồng, bà Ông hôn lên đầu, bà hôn lên chân. Ông c lên à cắn bàn tay, bà hít hà má. Thằng bé lại c ằng càng mở mắt lớn. Có lẽ nó phải khóc thét lên vì khi không có ên hai kẻ vồ chụp nó như con mồi. Nhưng nó b đầu ưng bắt nhoẻn nụ cười. Bây giờ nó mới tỏ vẻ thân thiện. ời. Nó cười khanh khách khi ông áp mặt ông v ời vào ngực nó. Đôi mắt sáng làm gương mặt nó c ặt càng rực rỡ. Bây giờ ông mới để ý đến những sợi tóc loe ỡ. hoe tuần trước nay đã trở nên rậm h ậm hơn, dầy hơn. Nó ngẩng đầu nhìn ông như một quan t ột tòa. Một bàn tay sờ lên đầu tóc ông và và bàn tay kia đ vội à đã vàng chụp lấy cặp kính lão. Có tiếng mẹ nó c ếng cảnh cáo: "Coi chừng cái kính của ba". Ông h hoảng hốt giữ chiếc kính khỏi rớt. Mẹ nó lại cảnh cáo: ữ "Chiếc kính của ba nó cũng bị nó làm hư g àm gọng rồi. Nó hư lắm, gặp cái gì cũng phá.." Ông h lên đầu ũng hôn

tóc của cháu mình. " ình. "Nhiệm vụ của cháu tôi là phá. Ai bảo c người không chịu ảo các gìn giữ.. Phải không con?" Rồi ông lại ải ôm xiết nó. Ông nghe một nỗi y dấu ết yêu ruột rà trong vòng tay c ông. Như thể à của là một phần người của nó chuyền v ời vào người ông. Mùi s ùi sữa vẫn còn thơm thơm. Ông xiết mạnh đến độ thằng bé ết phải vùng vẫy, cục cựa tay chân, mặt đỏ ục gừ. Ôi cái mặt bầu bỉnh, những sợi tóc ừ. loe hoe, những ngón tay bé tí, mủm ững mỉm. Chiếc miệng lộ mấy răng cửa. ếc Chiếc tả nổi phồng ở đáy quần. Đôi mắt ếc đen lay láy. Ông c khẽ vào tay chân cắn nó. Ông áp mặt v lòng nó, đứa qua ặt vào đưa lại giả vờ thụt lét. Nó nhắm mắt c ờ cười có vẻ thích chí. Sau đó nó lại nhìn ông. Bàn tay l cố ìn lại giựt lấy chiếc kính. Hình như nó xem chíêc kính là ư một thứ đồ chơi cũng nên. Thằng bé không chịu ông đứng y một chỗ. ằng yên Nó bắt đầu vặn mình, hai chân đạp. Có lẽ nó ình, không cần biết về cảm xúc của ông nội của nó. ần Ông tuân phục, bồng đi khắp ph ục, phòng. Tới cửa kính, ông dừng lại. Thằng bé trao đôi mắt nh ra ngoài ừng nhìn sân. Trời nắng. Mây màu xanh nh Bãi cỏ xanh. àu nhạt. Hàng xe đậu dọc theo lề đư ường. Hai đứa bé Mỹ đang đạp xe đạp trên lối đi dành cho bộ hành.Ông thầm thì bên tai nó: “Mau lớn l để ông mua xe ớn lên cho con đạp nhé.” Đến một lúc nào đó, hai tay ông c thấy rã. ào cảm Ông trao lại cho vợ ông. Và th à thằng bé lại thêm một lần đổi chủ. Có lẽ nó quá chán với cảnh kẻ bồng ần người ẵm này, nên nó bắt đầu phản kháng. H ắt Hành động phản kháng này được biểu lộ qua hai chân ợc chùi xuống, thân mình vùng v ình vẫy. Nó muốn được tự do chăng. Nó tụt xuống nhanh, đến nỗi b nội ự bà của nó phải bó tay chịu thua. Không biết nó học ở ủa đâu hành động phản kháng qua đ ộng đường lối tích cực này. Không khóc, không nằm vạ, m vùng vẫy rồi ằm mà trườn cả thân hình như trăn xu ư xuống đất. Không ai

- 40 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
có thể cản nó khi nó muốn. Và khi đôi chân vừa chạm xuống đất là nó bước như chạy. Đôi chân chưa vững, bước thấp bước cao, có lúc như thể hụt hẩng, thân hình như mất thăng bằng, khiến ông bà phải hoảng hốt, đưa tay đỡ. Ông ở góc phòng, bà ở đầu phòng. Và thằng bé thì cứ bước như bước vào chỗ không người. A, nó đến kệ sách của bố nó. Những cuốn sách dày cộm, bìa bọc giấy láng, người lớn cầm thấy nặng, vậy mà nó lại dám bỏ bàn tay nhỏ bé kia mà tìm cách lôi xuống. Không được, cậu quay sang mấy cái CD, rồi đổi hướng nhắm vào dàn máy stereo. Tội tình cho dàn máy hát tối tân, bị vá chùm vá đụp bởi băng keo, để đề phòng cậu bỏ tay vào lỗ điện nguy hiểm. Ông nhào đến, lái cậu sang mục tiêu khác. Ông bồng cậu bỏ lên sofa. May ra cậu ngồi yên một lúc. Quả vậy, cậu thích chỗ mới này. Hai chân duỗi ra. Mắt nhìn ông lung linh, miệng cười vui. Ông giả bộ làm chó, sủa gâu gâu. Cậu khoái lắm, cười thành tiếng. Được thể ông càng sủa nhiều hơn. Càng đóng vai một cách điệu nghệ hơn. Có nghĩa là ông nhăn mặt lè lưỡi, bò, sủa. Tất cả cho thằng cháu một tuổi của ông. Tất cả vì nó, để thấy mặt nó hớn hở, đôi mắt rực sáng, chiếc miệng nở nụ cười lộ mấy cái răng cửa mới mọc. Ông không cần nhân vị, nhân bản gì ráo. Ông là một thí sinh để cháu ông chấm điểm. Nhưng sau đó, chưa đầy hai, ba phút, ông bị loại. Có nghĩa là nó chẳng còn hứng thú gì đến tài năng điệu bộ mà ông nội của nó thủ vai. Nó bắt đầu tuột xuống sofa. Không phải tuột từ từ cho đến khi hai chân chạm lấy nền. Mà ngược lại, chân chưa chạm thì đã để cả thân hình rơi xuống như nhảy không cần dù. Nó ngã lăn ra trên nền thảm, miệng mếu. Vợ ông vội bồng nó, vừa dỗ vừa nói: "Này, để bà đập cái nền nhà này đã làm cháu bà đau, này bà đánh rồi... Thằng bé ngưng khóc, lại trao đôi mắt ngơ ngác nhìn. Rồi lại đòi xuống. Rồi lại chạy, hai chân mới tập bước, chưa vững, ngã nghiêng như kẻ say rượu. Rồi ông lại chạy theo, lúc trái lúc phải lúc chặn đầu chặn đuôi. Có khi ông hết hồn vì thấy nó cứ đâm đầu vào bàn ghế hay cạnh tường nhà. Nhưng nó tài tình hãm kịp bước chân, rồi quay hướng khác tiếp tục. Ông lại nghĩ ra cách quyến dụ thằng bé để nó quên đi cái lối chạy như kẻ say rượu này. Ông đã mệt rồi. Ông mới hiểu về nỗi vất vả của những người giữ trẻ, nhất là đứa trẻ này mới biết đi như cháu ông. Có bao giờ ông nghĩ có một ngày trong đời ông lại được lên chức như hôm nay. Nên buồn hay vui khi nhận cái danh xưng này. Có phải vì hai tiếng ông nội là tiếng kêu báo hiệu cho những ngày trước mặt: xế tàn, hay nói văn hoa là hoàng hôn của một đời người. Có phải nó là lời cáo phó cho một cuộc đời bị gạt ra bên lề xã hội?Nhưng, bây giờ thì ông hiểu, ông đang vui, niềm vui thì tràn trề, niềm vui bất tận. Đã bao nhiêu lần hai ông bà lái xe đi thăm cháu nội. Suốt ba tiếng đồng hồ, qua bao nhiêu thị trấn, phải trả mấy lần toll, có khi trời tuyết trắng mịt mù, có khi mưa xối xả như trút nước, cái quạt thi nhau quạt liên hồi, ấy vậy, lòng ông thì hâm hở như kẻ đi tìm niềm vui. Vâng. Niềm vui thì quá nhiều: bạn bè tụ tập hát hò, danh lam thắng cảnh hay những chuyến đi xa gặp lại cố nhân. Nhưng có lẽ cứ gặp hoài, thì cũng nản. Nhắc đến chuyện cũ một vài lần, nhưng cả chục lần thì cũng cảm thấy nhàm tai. Nhưng trong những lần lái xe thăm cháu, thì hồn ông bà như ấp đầy nốt nhạc reo ca. Đến để nhìn nó, thấy lại nỗi thân yêu ruột rà. Đến để chứng kiến sự phát triển một hình hài. Từ khi thấy cậu bò, mắt đen lay láy, rồi đến khi tập đứng, tập đi, tập chạy... Tóc đã mọc dầy hơn. Chân tay cứng cáp hơn. Răng mọc nhiều hơn. Để thấy từ tuần trước, chỉ biết bò, hay mỗi lần đi là như tay say rượu, nay hai chân đã vững, bước từng bước.. Để rồi mỗi lần thăm cháu, là mỗi lần ông mang theo niềm vui rộn ràng suốt cả đường dài.

- 41 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Bây giờ, cậu bé yêu quí ấy đã hơn ba tu Khác ơn tuổi. với những đứa trẻ trạc tuổi, nó chậm nói. Nếu nói ới thì nói một thứ tiếng gì lạ lẩm. Tuy không nói ra, ạ ba mẹ nó đều lo âu không ít. Riêng bà thì luôn êng luôn dùng kinh nghiệm của bà để an ủi con: Nó ể nghe được là không sao con à. Có đ bốn năm à đứa tuổi mới nói. Lúc đó thì tha hồ mà trả lời... ả Việc nói chậm này đôi khi làm ông bà kh ày khổ tâm không ít. Có khi nó vòi vĩnh hay k ông bà ĩnh kêu làm cái gì, ông bà không hiểu, hay làm trái ý, là nó àm dậm chân khóc, tức tửi. Ông bà thì ch thua. Ba à chịu mẹ nó cũng chịu thua. Khi ấy ông thương cháu mình vô hạn. Muốn thỏa mãn cháu, nh ãn nhưng không biết cháu mình muốn gì. Ngày tháng vẫn trôi qua, mỗi lần hai ông b ẫn bà lái xe vượt xa lộ dài thăm thẳm, để thăm con, thăm ẳm, cháu, niềm vui rộn ràng lẫn với nỗi lo âu canh ẫn cánh. Thằng bé vẫn lớn như thổi, răng đ mọc đầy, ổi, đã chạy nhảy, phá phách, biết ông bà đến, biết phe ta ến, có ông bà, nên mặc sức nhõng nhẽo. Rõ ràng con . hư tại mẹ cháu hư tại bà. Nhưng tiếng nói th vẫn ếng thì như tiếng Miên, tiếng Ả Rập lạ lùng... ùng... Một hôm, chiếc xe đậu trước nh sau ba ớc nhà, tiếng đồng hồ dưới cơn mưa tuyết, thả ông b ết, bà xuống cùng niềm vui khó có thể diễn tả đ ềm được. Đã một tháng đi xa, giờ ông bà trở lại thăm con thăm ở cháu. Bà xách một bọc đồ chơi, nào là xe ch ơi, chữa lửa, xe truck, xe cần câu. Ông bấm chuông điện. ửa, Ông nhìn vào nhà qua khung cửa kính. Ông thấy ửa cháu ông chạy ra như cơn lốc. Và ti à tiếng la mừng rỡ: ông nội ! ông nội ! vang lên rối rít:. ối Ôi hai tiếng đầu lòng của một đứa bé, không ủa phải là tiếng Anh tiếng Mỹ, cũng không phải hai ếng tiếng như ông nhà thơ Tố Hữu đã làm nh cả thi ã nhục ca, hạ thấp hèn mạt cả nhân phẩm con ng ạt người. Trần Hoài Thư

Cô bé ngày xưa

Quê tôi xứ Huế có người em gái nhỏ Mắt trong xanh môi thắm dáng di kiều diễm Tôi đến thăm em một chiều nghiêng nắng đổ Và thả hồn theo tận bước em qua. Mùa Đông đi không phai nhòa dáng tóc Rồi Xuân đến như nhạc lòng lên điệu Bước chân đi tay vẩy áo em bay Con đường xưa em qua chiều thức giấc Để nắng vàng như có mù sương sương. Tôi cứ đến dù biết mình không thể Kiếp phiêu bồng tôi dẫm bước đi hoang m Trong không gian tôi rải phấn thông vàng Phấn vung vãi muôn chiều không định hướng i Có một lần phấn bay về đồng nội Như một ngày qua đó đã yêu em Ngón tay đưa tôi nhẹ hái ưu phiền Và để mặc tóc mình bay với gió.

Lê xuân Khôi

- 42 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Thư viện Đại Học hồi đó quá đông người nên tôi chọn Trung tâm Văn Hoá Pháp để học bài, và anh lẽo đẽo theo tôi, cung ứng mọi yêu cầu đến nỗi có khi anh chỉ ngồi yên lặng nhìn tôi học. Ngày lễ, ngày Tết và nh là ngày sinh nhật t nhất của tôi, anh không bao giờ quên mua quà, gói quà, và tặng quà một cách trân trọ giống như học trò ọng tặng quà cô giáo! Mặc dù không xúc động nhưng tôi luôn ch ng chờ ở anh một lời tỏ tình trực diệ Nhưng anh không ện. bao giờ đủ can đảm. Anh tìm cách th hiện tình m. thể cảm một cách bóng gió, và có l anh cho đó là t lẽ cách tỏ tình tế nhị. Anh đâu biết, là con gái, dù là con gái nhà lành xứ Huế, đã là tình yêu thì có khi ã họ muốn e ấp, kín đáo, cũng có khi h muốn rạch ũng họ ròi ...có lẽ chỉ là để khẳng đị mình là gì đối với ịnh người khác phái .Cũng như m bức phong cảnh ư một chỉ toàn gam màu nhàn nhạ nếu không có một ạt, đốm lửa hồng hay một le lói n t nắng vàng thì đâu có rung động được lòng ai? Khổ nỗi anh yêu tôi r rè trong khi sau i rụt lưng tôi có một cái đuôi đi theo dài lê thê (khiêm t tốn chưa?) trong giờ bãi học. Mà cái đuôi toàn là c. những nhân vật quái dị! Chẳng hạn như Tấn, s quan hải quân, lái n, sĩ tàu thuỷ đâu không thấy, chỉ thấy mỗi buổi chiều ỉ thuê một chiéc xích lô đạp theo tôi m quãng p một đường Lê Lợi (Anh tự đạp xe xích lô, còn ông già p xích lô nằm chờ bên gốc cây đ anh chàng si tình c đợi trả xe và trả tiền thuê xe). Mà T cũng nghệ sĩ ê Tấn

CHUYỆN VỀ KIM
như mai
Có những mất mát khiến ta cả thấy trống ảm vắng, đau thương. Và cũng có cái ch làm ta ũng chết không nhẹ lòng. Sự ra đi của Kim dù không làm a tôi bàng hoàng đau đớn, cũng chẳng làm lòng tôi ng nhẹ tênh,...nhưng tôi cứ buồn rầu ngh như một u nghĩ: chiếc lá vừa lìa cành, lá thì về với đất mà cành v t vẫn tiếp tục ươm mầm xanh, theo lẽ vô thư thường. Kim yêu tôi và không giấu giếm tình yêu đó m với bất cứ ai, kể cả người yêu cũ của anh.Và Kim a yêu tôi một cách đau đớn, khiến tôi cả thấy sợ và ảm không dám gần anh...Tôi hồi ấy chưa ph là một y phải nhan sắc. Nhưng tôi vẫn lạc quan vớ những gì tôi ới đang có: dịu dàng mà cứng cỏi, cương quy mà i, quyết lại rất dễ mềm lòng. Và nhất là tôi tự nhủ mình có ự một điều có thể gọi là “văn hóa làm đ m đẹp” đối với một cô gái, không cần phải chim sa cá l i lặn. Bởi vì tôi biết chăm chút những gì trời cho và cha m để i mẹ lại, với cái cách mà tôi có được theo truy thống c truyền của người con gái xứ Huế, đồng thờ tôi tìm học ời qua sách báo, văn thơ...Và tất nhiên tôi c t cũng biết làm điệu, làm bộ ...theo cách hiểu củ riêng tôi ... ủa Mà tôi chỉ làm điệu làm bộ cho riêng tôi và cho những ai “chịu” tôi. Và Kim là một trong nh t những kẻ đã “chịu” tôi. Nhưng khổ nỗi anh ấy “chịu” nhưng không u” thấu suốt được tôi như mũi tên xuyên su cánh ên suốt chim! Và cánh chim chỉ ngã khi bị mũi tên bắn ị trúng. Vì thế tôi càng xa anh, và tôi càng xa anh thì anh lại càng rụt rè tiến tới, bằng vô vàn cách, ng nhưng không có cách nào mang tính m mãnh liệt của đàn ông thực sự. Anh chăm chút dọ đường dọn ọn chỗ với tôi, nhưng anh không đáp ứng. Ch ng. Chẳng hạn, học giờ triết đại cương ở Đại Học Văn Khoa th c thì anh đi thật sớm, giành cho tôi một ch ngồi tốt t chỗ nhất, và tất nhiên anh ngồi cạnh bên m cách rất nh một ...đàng hoàng hợp lý !

- 43 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
lắm, Tấn thổi sáo rất thiết tha khúc Chi t Chiều tà Serenata ... Trong số những người mất công, b học, t bỏ bỏ việc, mỗi ngày sau giờ tan học, làm cái đuôi đi c, sau lưng nữ sinh ĐK, cũng có nh ũng những anh lính chiến... Và tôi bỗng nhớ một anh chà mang lon t chàng đại uý. Với chiếc xe jeep, anh lái ch c chầm chậm từ cổng trường về đến tận nhà tôi. Hãy t n tưởng tượng anh chàng lái xe chầm chậm sau lưng m người m một con gái đi bộ, không dám bóp còi, không dám , vượt nhanh, không dám qua mặt trên su quãng t suốt đường đang tung tăng những chiếc xe đ của c đạp hàng trăm tà áo trắng ĐK thì không bi chàng ì biết chiến binh này khi ra chiến trường có gan lì nh ng như vậy không? Dạo đó anh còn có biệt danh “Chàng t Elpaso tuyệt vời” (các bạn tôi đã phong tên cho ã anh vậy khi ngồi nghe anh gãy đàn guitar.)Đúng là uitar.)Đúng mỗi người mỗi vẻ . Cũng có một anh chàng đạp chiếc xe đạp cà tàng lò dò đi theo (lúc đó Kim đang đưa tôi về trên đường Hàng Muối) và thốt một câu “Ê, người em sầu mộng!” Chả là tôi lúc ấy mặc một chiếc áo dài bằng vải sa tanh đen tuyền để tưởng niệm một mối tình vừa tan vỡ. Tôi háy mắt dao cau: “ Đồ bất lịch sự!” Và “đồ bất lịch sự” ấy đã là.... chồng tôi một thời gian hằng mấy năm sau này. Nhưng câu chuyện dài và phức tạp này xin gác lại phần sau. Thời ấy, chúng tôi quen nhau và thường trao đổi cho nhau những tập thư tình, cuốn tiể thuyết hay ểu những đĩa nhạc 45 tours, nào là thơ Jacques c Prevert, tiểu thuyết của Alain Fournier, hay ca a khúc thời thượng của Francoise Hardy...Và đó a cũng chính là những anh đưa thư bất đ dĩ, vì ẩn t đắc dấu trong đó là những mảnh giấy, nh y, những tờ thư hay những cánh hoa, xác bướm.. Kim tất nhiên cũng có nhữ ững trao đổi những tờ giấy nhỏ hẹn giờ đón, giờ đ những tập đợi, thơ nhỏ, những bức tranh Kim vẽ tôi (khi tôi ng ngồi học). Nhưng ngóng cổ chẳng bao giờ tôi thấy một ờ tờ thư. Chẳng phải là tôi tha thi mong chờ, i thiết nhưng con gái có ai mà lại không mu ngăn kéo i muốn “con tim màu tím” của mình có thêm nh a những chàng trai si tình? Đúng là cái thời c lổ sĩ chẳng đâu vào i cổ đâu, không như bây giờ message trên đi thoại di điện động, e-mail trên internet, tỏ tình huỵch toẹt trắng trợn mà không cần xuất đầu lộ diện. ộ Cuối tuần nào những c đôi cũng hẹn đi ng cặp xem phim nếu đã thân thiết v nhau. Và rạp chiếu t với bóng không máy lạnh, chỉ có qu máy và ghế gỗ quạt (có khi có rệp) nhưng mà lãng m ơi là lãng mạn! ãng mạn Vì đó là nơi hẹn hò và là nơi có đi kiện “cầm ơi điều tay tỏ tình” Khi tôi đồng ý đi xin với Kim thì anh ng xinê chàng sững người, không tin là tôi nh lời đi i, nhận cùng anh. Hồi đó tay vịn ghế trong rạp xinê chỉ có ế một tay chung cho cả hai gh nếu người này để ghế, tay thì người kia đành thả lỏng. Đó là đi cắc cớ ng. điều rất chi là tuyệ vời cho những dịp ệt déclaration và bài hát ti tiếng Pháp...”Main dans la main“.. m mới có ý nghĩa. Su buổi xem phim, ĩa. Suốt tôi buông thỏ ỏng tay, và đến lúc phim tối đen, tôi gi vờ mỏi tay để i giả tay trái lên tò mò xem th thử...Thì..! Tay ghế lạnh lùng tr nh trống vắng.Tâm hồn tôi cũng l ũng lạnh lùng trống vắng kể từ giây phút đó. Có khi tôi ngh nghĩ không phải là anh không dám, i nhưng anh đã l xem mối tình của ã lỡ anh đối với tôi như m thứ tôn i một giáo. Anh ngư ngưỡng mộ, nhưng con gái có khi cũng ph tạp, có khi ũng phức không cần..ngư n..ngưỡng mộ! Con gái dù gì đi nữa c a cũng cần tỏ tình, chứ đâu cần tôn thờ! Và mãi cho đến khi anh không còn n n nữa, tôi mới nhận được, một cách gián ti qua người em t tiếp, gái của anh, lời tỏ tình muộn màng. Nhi lúc tôi n Nhiều thầm nghĩ, nếu tôi nhận lời t tình trực tiếp khi i tỏ anh đang còn, thì tôi không bi cách nào để trả òn, biết món nợ này...Bởi vì lúc đó tôi đ lận đận theo đã chồng ở một góc trời xa Huế. . Nguyễn thị Như Mai

- 44 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Chiều cuối năm i
đi nhầm tàu ở San Jose
Nỗi nhớ chiều cuối năm cánh đồng một thời bom đạn n giờ này trắng xóa mưa bạn bè nghĩa địa đìu hiu ôm đất trời sủng nước. Đón light rail đi Blossom Hill toa tàu vắng người homeless già thu mình hàng ghế cuối i giấu khuôn mặt dưới chiếc m dạnâu c mũ tàu đi - tàu qua rất lâu bóng tối đầy trong đôi mắt người homeless già tàu đi - tàu qua nhiều ga người homeless vẫn ngồi chờ xuống ga nào quá khứ. Tôi đi Blossom Hill tàu qua hoài chẳng tới mỗi lúc càng xa những ga xép chiều mưa quê nhà u tiếng còi tàu ảm đạm Lăng Cô – Thừa Lưu – Huế ế tôi đã lên nhầm tàu Santa Teresa - Winchester Chiều cuối năm như người homeless già tôi đi chuyến về ký ức. Lữ Quỳnh San Jose, 31-12-2010

Thành phố chiều cuối năm những chiếc bus chạy qua vắng khách đường mang số - hàng cây trơ cành mùa đông vừa đem đi hết lá. Ngồi một mình cà phê Starbucks ở góc đường số 3 mưa mịt mù ngoài cửa kính người phục vụ da đen đưa mắt nhìn bu bã buồn thời gian trôi trên những chiếc bàn trống.

- 45 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

huế và tôi,
một quãng đời
vĩnh lộc
Cầu Gi Viên ( Bạch Hổ ) u Giả

Huế, đi xa để mà nhớ, chứ không ph ở gần phải để mà thương! Có người nói thế và c cũng có rất nhiều người nghĩ như thế. Nhưng đây c . cũng chỉ là một câu nói hoặc một ý nghĩ, nó chưa ph là chân ưa phải lý. Mà cái gì chưa phải là chân lý thì nó có th i thể đúng và nó có thể sai. Đúng với ngư này nhưng i người lại không đúng với người khác. Với l tuổi của i lứa tôi thuở đó, tôi chưa có cái tình cảm thương hay là m ghét Huế, chỉ biết rằng cuộc đời củ tôi trôi qua ủa chầm chậm trong cái tĩnh lặng nhưng tôi v linh ng vẫn cảm có những bất trắc gần kề. Bởi vậy, khi tôi viết về Huế là tôi vi về một viết quãng đời thơ của tôi. Huế là một đ tài muôn t đề thuở mà ai cũng muốn viết. Các văn nhân thi s t. sĩ, nhạc sĩ ít nhất một lần đều viết về Hu và ngay cả Huế các nhà nghiên cứu sử học và xã hội h cũng đã i học có những bài viết dành cho Huế. Là một thành phố nhỏ nằm gi hai miền m giữa Nam Bắc dọc theo chiều dài của đất nư t nước, Huế có một vóc dáng thật nhỏ bé và khiêm như nhường. Có rất nhiều giả thuyết hoặc những lời giải thích d trên i dựa sự nghiên cứu sử Việt để xác minh cái tên c của miền đất này. Trong lúc hầu như t cả các địa u tất danh của các tỉnh thành trên khắp hai mi đất p miền nước đều được đặt tên ít nhứt có hai ch thì cái t chữ thành phố bé nhỏ chỉ có một cái tên g duy nhất t gọi một chữ Huế. Tuy vậy, vì tính cách đ biệt và với đặc những nét đặc thù, người ta đã gọ Huế bằng ọi những mỹ danh khác. Huế còn được g là cố đô, c gọi miền sông Hương núi Ngự, miền Thùy Dương, n mãnh đất Thần Kinh, hay Kinh thành c Vương n của Triều nhà Nguyễn.

Nói đến Huế là phải nói đ cái khí hậu i đến đỏng đảnh của Huế. Vào mùa mưa th trời mưa . thì dầm mưa dề, mưa ngày mưa đêm, mưa h tuần , hết này mưa qua tuần nọ. Mưa thúi đ cỏ cây ngóc . đất, đầu lên không nỗi. Mùa đông th khỏi phải nói. i. thì lạnh chi mà lạnh ác ôn, lạnh t trong ruột ra đến nh từ ngoài da, lạnh từ trên đầu lạ xuống bàn chân, ạnh đắp mấy cái mền không thấm thía vào đâu. Các bà m cụ già phải kè kè ôm cái lồng ấp chứa than hồng ng mới mới chịu nổi cái rét độc đ này.Nói đến cái c địa lạnh thì phải nói đến cái nóng. Nói đ mưa thì đến phải nói đến nắng. Mưa, nắng, nóng l ng, lạnh, Huế đều có cả. Cái nắng của Huế là cái n nắng nung người. Trời nắng gắt, đứng dưới tàng cây ph bóng râm i phủ mà vẫn thấy nóng vì cái nóng là do ng gió Lào y ngọn quái ác thổi vào. Bây giờ thì phải nói đế bão lụt. Mỗi năm, ến Huế phải hứng chịu mấy cơn b lụt. Có năm, Huế y bão như bị nhấn chìm trong làn n n nước đục ngầu, Huế như oằn mình gục ngã khi c bão quét ngang c cơn qua. Khi gió đã ngưng, mưa đ dứt thì Huế hiện ra ưng, đã cảnh xác xơ tiêu điều và đổ nát, trông thật tang ổ thương thảm hại. Có những năm, b lớn lụt to, ng bão thành phố như bị xé rách làm trăm m mãnh. Nước lụt dâng lên tràn qua đường sá vào t trong nhà. Tất ng tận cà đồ đạc phải dồn lên trên cao, nh là dụng cụ n nhất xài điện. Lũ trẻ con ngồi co ro trên giư i giường, lấy giấy tập vở xếp thuyền thả xu xuống nước. Nói thì nói vậy, chứ ch chẳng sao cả. không mưa gió bão lụt thì không ph là Huế, không lạnh t phải cắt da, không nóng cháy thịt thì c t cũng không phải là Huế. Huế hơn nơi khác là ở chỗ đó. Vậy mà

- 46 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
chẳng ai chê Huế cả. Thỉnh thoảng, than thở trách ng, móc cho có vẻ lãng mạn một tí rồi c i cũng vuốt ve ca ngợi Huế. Nào là Huế đẹp, Huế thơ. Huế mơ, Huế mộng. Ai đã đến Huế một lần thì s nhớ Huế n sẽ muôn đời. Người đi rồi nhưng nỗi u hoài v ở lại. vẫn Một mối tơ vương hình thành trong trí óc, trong ình tâm hồn và trong trái tim tạo thành nét lãng m o mạn của một cuộc tình tan vỡ lúc chia xa.. Người Huế viết về Huế đã đành, ngư nơi người khác cũng viết về Huế. Như nhà thơ Thu B . Bồn, người xứ Quảng đã nhân cách hóa nh ã những con đường và giòng sông Huế. Có lẽ vì vương v một ương vấn mái tóc, nặng tình một đôi mắt làn môi hay th t thẫn thờ vì một bờ vai bé nhỏ của ai đó khi thi sĩ lặng a khiến lẽ một mối tình si. Người rời Huế, vư qua đèo , vượt Hải Vân, quay đầu trở lại nhìn lại Hu rồi rồi i Huế tưởng mình như hóa đá. “Tạm biệt Huế với nụ hôn thầm l m lặng Tôi trở về hóa đá phía bên tê.” Tưởng chỉ ngày xưa, mới có nàng Tô Th vì i Thị, trông chồng mà ôm con hóa thân tượ đá, hóa ra ợng ngày nay, cũng có người vì si tình mà xác thân tr i trở thành bất động. Lại còn có cái ông thi s Hà Huyền i sĩ Chi này nữa. Hiền thê của ông là m người con một gái miền sông Hương núi Ngự, thế mà: “Với Huế muôn đời tôi khách lạ ạ Lòng tôi thành quách phủ rong rêu” Hoàng thành vắng vua nên c mọc, còn ng cỏ chàng thi sĩ có nàng thơ Huế bên c cạnh mà vẫn thấy Huế rất lạ. Quả đúng là rắc rố tâm hồn thi ối nhân. Tuổi thơ của tôi gắn liền với mư hai nhịp i mười cầu soi bóng một giòng sông êm đềm và thơ t mộng. Ngày đó, thỉnh thoảng tôi đượ ngồi xích lô ợc cùng mẹ đi ngang qua cầu đi phố. Vớ cái tuổi vừa ới mới lên mười, tôi thực sự chưa cảm nh cái thơ m nhận mộng lãng mạn của cảnh vật. Gió sông Hương t. lồng lộng thổi, tâm hồn tôi như choáng ng trước n ngợp cái đồ sộ của chiếc cầu. Những vòm c bằng sắt ng cầu quá vĩ đại đối với tôi và tôi cảm thấy bé nh trước y nhỏ cái uy nghi của chiếc cầu và một cảm giác s hãi m sợ len lỏi trong tôi khi đối diện với cái khối sắt khổng lồ màu trắng bạc.. Theo thời gian, tôi dần lớn lên trong hơi thở của Huế, trong lời ru của giòngsông và trongtiếng thì thầm của mây đỉnh Ngự. Không biết Cầu Trườ Tiền Huế năm 1962 ờng tự lúc nào, không biết bắt đ từ đâu mà bỗng t đầu dưng tôi trở nên trầm mặc trong cái u t c tịch của di tích Hoàng Thành xưa cũ. Tôi h ũ. hình như nghe được tiếng thở dài não nuột từ nh những lăng tẩm, những ông quan tượng đá, những kh thần công im lìm ng khẩu thân phận hay những đĩnh đ ĩnh đồng chứa đựng một lịch sử quê hương huyền tho hào hùng và bi n thoại, thảm. Cứ thế, tôi bắt đầu trưở thành bằng những ởng âm thanh của những câu hò Huế não nuột. Nghe ng chỉ để mà nghe, để cái tính ch Huế dâng trào chất trong tâm hồn và thân xác. Có l tâm hồn tôi bắt n lẽ đầu biết rung cảm qua bản nh “Đêm Tàn Bến n nhạc Ngự”. Lời ca và âm hưởng có m mãnh lực phi ng một thường tác động đến tình cả của tôi cũng như ảm bản “Tiếng Xưa”, với âm thanh buồn đã kết dính i tôi với Huế muôn đời trầm m kiêu sa. m mặc, Với Huế, thật có nhiều đ để nói. Nói lung u điều tung, nói miên man, nói hoài nói mãi, nói không đầu không đuôi, nhớ đâu nói đó. Váo đ thập đầu niên 1950, tôi cùng gia đình cha m và cô em gái ình mẹ về ở chung nhà của ông bà n Nhà ông nội tọa a nội. lạc trong một xóm nhỏ, còn được gọi là xóm nhà , đèn. Sở dĩ có cái tên gọi như v là vì ở cuối xóm i vậy có một nhà máy điện, cung c điện cho cả toàn n, cấp thành phố Huế. Con hẻm của xóm n liền đường a nối cái chính là đường Thiệu Tr đến nhà máy phát u Trị điện. Thời đó, có lẽ bây giờ c cũng thế, con hẻm mà người Huế gọi là kiệt, nhà ông bà n tôi ở số 5 hà nội kiệt 1, đường Thiệu Trị. Thành p Huế. . phố

- 47 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Tôi không nhớ rõ lắm nhưng cũng ước độ có ũng khoảng ba mươi nóc gia tọa lạc trong xóm. Trong c số đó, có khoảng năm sáu căn nhà là thu giòng ng thuộc dõi bà con với gia đình tôi. Nói rõ h ình hơn, con hẻm xóm nhà tôi nằm ở khu vực phía sau Ph Tùng Phủ Thiện Vương. Phủ Tùng Thiện n n nằm trên con đường Phan đình Phùng, con đường ch dọc theo ng chạy sông từ Bến Ngự. Thuở đó. tôi h học trường Pellerin, một ngôi trường nằm ở m vị thế thật một đẹp. Hầu như Trường Pellerin nằm g trong một m gọn bán đảo tam giác bao gồm: cạnh đáy là đư nh đường Lê Lợi, hai cạnh kia tiếp giáp với sông An Cựu và i sông Hương. Hàng ngày, tôi đi bộ đế trường, thời ến gian đi cũng mất hơn một giờ. Vào nh . những ngày mùa đông, mưa dầm rã rích, trời rét căm căm, v i việc đi học đối với tôi quả là một cực hình. c Cho đến bây giờ, tôi không có d gặp lại , dịp đám bạn cũ chung trường. Một số rấ ít còn thỉnh ất thoảng liên lạc với nhau qua điện tho hoặc n thoại email. Tuy nhiên vẫn còn một đứa, tôi đ gặp lại ở a, đã VN và kể cả lúc qua Mỹ. Hắn là Tăng Qu Ái, n Quốc hiện cư ngụ tại Virginia. Hắn là con Nhà Sách Tân n Hoa, một nhà sách lớn nằm trên đư m đường Trần Hưng Đạo Huế. Nhà Sách Tân Hoa tuy là c gia . của đình bạn mình nhưng phải nói thật là ít khi tôi đ t đến đó để mua tập vở hay sách truyện mà l hay mua n lại ở nhà sách Bình Minh. Nhà sách Bình Minh tuy không lớn nhưng lại có vẻ bình dân. L nào mua Lần cũng được bớt tiền. Mua nhiều bớt nhi t nhiều, mua ít bớt ít. Ngày đó, mẹ tôi rất mê đọc ti thuyết nên c tiểu lâu lâu bà lại ghé mua vài ba cuốn truy của Hồ n truyện Biểu Chánh, Lê Văn Trương hoặc c Bà Tùng c của Long. Mua riết rồi gia đình tôi trở thành khách ở quen. Mà đã là khách quen thì lại càng đư bớt i được nhiều hơn. Tăng Quốc Ái mà biết đươc đi này t điều chắc hẳn hắn tức tui lắm. Mà thế nào thì h cũng hắn biết vì vào cái ngày hội ngộ Quốc Họ 50 năm gặp ọc lại, vợ chồng hắn cũng sẽ từ miền Đông B nước n Bắc Mỹ mò về San José để gặp gỡ bạn bè. Còn m n một điều nữa, vào cái thời đó, tụi tôi lội b đường xa i bộ để đi học, thì anh em nhà Tăng Qu Ái đi học ăng Quốc bằng ô tô nhà có tài xế nhà đưa rước thật quá đỗi c, là công tử. Mỗi lần thấy xe chở hắn tr đến, đám n trờ học trò được dịp la hét bể cái lỗ tai: “Xe heo Lào LàoXe heo Lào”. Những lúc như thế, tôi không hi , hiểu hắn nghĩ gì nhưng thấy mặt hắn tĩnh b coi như ĩnh bơ “Ne Pas”. Với Ái, tôi còn có m vài kỷ niệm nữa i một nhưng mà thôi, nên dừng ở đây vì không chừng hắn ta nổi sùng lên thì cũng h bị mệt đó. Rời ũng hơi Pellerin, Ái và tôi qua học Qu Học. Sau đó thì c Quốc mỗi đứa một nơi, mãi gần nử ửathế kỷ sau mới gặp lại. Nhà ông nội tôi là một ngôi nhà xưa c kính. t cổ Nhà tường gạch, lợp ngói nhưng trong nhà th lại p thì có rất nhiều cột. Những cây c tròn màu đen láng ng cột bóng, trải qua không biết bao nhiêunăm tháng mà t vẫn không hề có một tí mối m nào. Ông nội tôi i mọt đã qui tiên lúc tôi chỉ mới ba tu Ông làm quan i tuổi. trong triều với phẩm trật “Hư t “Hường Lô Tự Khanh”, vì vậy mọi người mỗi khi nhắ đến ông nội thì gọi ắc là Cụ Hường Chi. Là một đ trẻ, tôi hoàn toàn t đứa không quan tâm đến những ngư lớn trong nhà ng người như bà nội thứ hai của tôi, các c các chú. Ngoài a cô, việc đi học, tôi chỉ còn biết la cà rong chơi v lũ t với trẻ trong xóm.

Năm mươi năm sau sau,2012 Golden Gate Bridge/SAN FRANCISCO.CA

Ba tôi là một công ch ngành ngoại giao t chức nên ông ít có thời gian sống chung v mẹ và anh ng với em tôi. Thời gian này, ông làm tham v ngoại giao , vụ ở Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Vientiane. Lâu lâu ông i về nước thăm nhà khoảng hai ba tu rồi lại trở về ng tuần nhiệm sở. Mẹ tôi ngoài việc chăm sóc hai anh em c tôi, bà còn lo việc nội trợ, lo l , lắng việc chợ búa cơm nước cho cả nhà trong b phận làm dâu. bổn Ngôi nhà ông nội không lớn l n lắm nhưng tọa lạc trong một khu đất rất rộng. Bà n hai của tôi lại ng. nội rất đảm đang và tháo váttrong vi trồng trọt và m việc nuôi heo. Bà biến khu đất chung quanh nhà thành t những mãnh vườn trồng đủ mọi thứ rau cải, xà lách, cà chua và kể cả một vư mía. Sau nhà là t vườn

- 48 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
chuồng heo, thường nuôi khoảng bốn năm con. Nuôi lớn, thì kêu người tới bán hoặc gặp dịp Tết, thì làm thịt chia cho bà con, mỗi nhà vài ký ăn lấy thảo. Có lẽ vì làm việc liền tay, suốt ngày bà nội ở ngoài vườn lo việc trồng xới nên sức khỏe của bà rất tốt. Buổi tối, sau khi cơm nước xong, bà lo việc thắp nhang, tụng kinh rồi nhai trầu, đong đưa trên chiếc ghế mây xích đu. Đến gần khuya thì bà buông màn đi ngủ. Khoảng 4 giờ sáng thì đã thấy bà thức dậy, lặng lẽ nấu nước pha trà, ngồi độc ẩm. Một ngày như mọi ngày, cuộc sống êm đềm và lặng lẽ cứ thế mà trôi qua. Không khí tĩnh lặngvà trang nghiêm của ngôi nhà đã ảnh hưởng đến tâm hồn trẻ thơ của tôi. Tôi có ba người cô trẻ sống chung trong ngôi nhà đó. Còn gia đình bác và chú tôi thì sống ở Đà Nẳng, chỉ có dịp Tết hoặc ngày giỗ kỵ thì mới tụ tập về ngôi nhà từ đường này. Thỉnh thoảng, khoảng sáu bảy tháng hoặc có khi cả năm, có mấy người nhà quê ghé đến nhà. Các cô tôi bảo: “Đó là người làng mình, ở quê lên”. Lần nào cũng vậy, những người này đến nhà, sau khi thắp nhang bàn thờ ông nội tôi rồi thì kéo nhau xuống nhà dưới. Không bao giờ họ bước lên nhà trên ngoại trừ khi một người cô của tôi kêu họ lên bảo ngồi vào bàn, bày ra một số giấy tờ và họ lay hoay viết viết, ký ký. Thoạt đầu, tôi không biết và cũngkhông thèm quan tâm, nhưng rồi sau đó tôi cũng vỡ lẽ ra sự việc này. Ông nội tôi làm quan nên được triều đình cấp cho một số đất đai ruộng vườn ở dưới quê. Có đất, nhưng không canh tác nên ông nội tôi mới cho những người trong làng thuê để họ cày bừa và trồng trọt. Giữa chủ đất và người thuê có làm một hợp đồng gọi là Khế Ước Tá Điền. À thì ra vậy, khi nào hết hạn hoặc hết vụ mùa thì cái khế ước này lại được ký tiếp gia hạn. Họ là những người dân quê, hiền lành và chất phác. Mỗi lần kỵ giỗ ông nội tôi, luôn luôn có mặt họ. Từ dưới làng, họ nhớ ngày kỵ nên đem gà vịt , nếp đậu lên làm quà cho gia đình nội tôi. Tôi tuy là một đứa trẻnhưng đối với tôi, họ cũng rất lễ phép và nễ nang. Họ thường gọi tôi là mệ L. Ngày kỵ nội hằng năm được tổ chức rất chu đáo. Trước đó khoảng một tuần là gia đình, bà nội và các cô tôi đã lo sắp xếp tính toán mọi việc. Thôi thì đủ thứ các món cúng kỵ. Bà con họ hàng đến rất đông, chú bác ở xa cũng tề tựu về và lẽ dĩ nhiên không vắng mặt những “người làng mình ở dưới quê lên”. Trong đám bà con họ hàng, có một vị đươc coi là lớn nhất và được nể trọng nhất. Đó là ông anh ruột của ông nội tôi và tôi phải gọi là ông bác. Ông tên là Ưng B…Trong Triều, ông làm đến phẩm “Hiệp Tá Đại Học Sĩ” nên mọi người gọi ông là Cụ Hiệp. Như thường lệ, sau buổi giỗ kỵ, mọi người lần lượt ra về, riêng ông Bác và các chú bác tôi bày ra đánh ‘Tài Bàn”. Tôi được lệnh là phải ngồi hầu nướcvà chia bài. Cũng giống như Tứ Sắc, sòng “Tài Bàn” thường có bốn người chơi và thường luôn có hai bộ bài. Sau khi đánh xong một ván, thì những con bài được xóc, xào và gom lại. Tôi có nhiệm vụ chia bộ bài thành 4 tụ để sẵn đó. Trong khi đó, thì cuộc chơi vẫn tiếp diễn với bộ bài đã chia sẵn. Thường sau khi mãn cuộc chơi, tôi được thưởng tiền lì xì. Ngày tháng trôi qua êm đềm và phẳng lặng, lần lượt hai người cô tôi đi lấy chồng. Tôi thì lại có thêm hai đứa em gái. Năm đó, tôi đang học lớp Quatrième trường Pellerin. Vào mùa hè năm đó, tôi bỗng nhận đươc một giấy báo của Ty Giáo Dục Thừa Thiên Huế. Nội dung tờ giấy báo cho biết trong niên khóa tới, tôi được nhận vào học một trong hai trường: Quốc Học hoặc Nguyễn tri Phương. Có thể nói đây là một biến cố trọng đại trong đời học sinh của tôi. Trên thực tế, muốn vào học trường công lập, các thí sinh phải qua một kỳ thi concours vào lớp đệ thất. Đã gọi là concours thì không phải là chuyện dễ dàng. Thế mà tôi chẳng cần thi cử gì cả mà vẫn được vào học trường công một cách ngang xương. Trường hợp như tôi quả thật là hiếm hoi và vì vậy tôi bị gọi là “con ông cháu cha”. Từ một nhiệm sở ở ngoại quốc, ba tôi làm hồ sơ gởi thẳng cho Bộ Quốc Gia Giáo Dục ở Saigon, xin cho tôi chuyển trường. Đâu có ngờ là hồ sơ được chấp thuận. Đối với tôi, đây không phải là niềm mong ước của tôi. Tôi đang vui vẻ học ở Pellerin, đang được thầy yêu bạn quý mà nay phảiđến một trường khác lạ lẩm. Tôi không

- 49 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
yên tâm trước sự kiện này nhưng cũng đành phải ũng chấp nhận. Lẽ dĩ nhiên, giữa Quốc Họ và Nguyễn ọc tri Phương thì tôi quyết định chọn Qu Học. n Quốc Ngày khai giảng niên khóa mới, tôi bùi ngùi đi i, học trường mới, vào lớp mới…lớp Đ Tứ giữa p Đệ một đám học trò xa lạ. Và bây giờ, trong cái đám , “xa lạ” ấy, sau gần nửa thế kỹ, tôi v còn được , vẫn gặp lại một số như Cầm, Lô, Ngãi, Phư ..Mai và Phước cũng còn một số khác ở xa, chỉ liên lạc thăm hỏi nhau qua e mail hoặc điện thoại. Cuối năm, tôi thi đậu bằng trung h đệ nhất ng học cấp, thành quả học tập đầu tiên tại ngôi trư i trường mới. Tôi quen dần với môi trường m bạn mới ng mới, và có đủ niềm tin để tiếp tục bước vào b trung c bậc học đệ nhị cấp. Vào lớp đệ tam, tôi l có thêm lại một số bạn mới, những người bạn có cùng chung n một niềm say mê yêu thích: toán học. c. vắng lặng đối với một bà cụ già. Sau đó, cũng tại nơi đây, bà nội Thơ Thơ phát tri chiêu dụ thêm i triển một đám cháu gái Đồng Khánh và Jeanne d’Art, g thường xuyên lui tới thăm vi i viếng để bà cụ bớt cô đơn. Bây giờ thì bà cụ không còn n nữa, lũ cháu gái cũng tản mác khắp bốn phương tr Tuy nhiên, n trời. tôi biết vẫn còn một cô cháu xinh đ còn ở lại t đẹp trong con xóm cũ ấy. Ngôi nhà mới của gia đ a đình tôi ở trên đường Phan chu Trinh, chỉ cách nhà Bà C Lễ một vườn Cả cau. Xế trước mặt nhà tôi bên kia con đư t đường là một cái bến được xây bằng xi măng dùng làm nơi ng tắm giặt. Con sông An Cựu ch ngang trước mặt u chảy nhà không rộng lắm, tôi cùng l bạn vẫn thường lũ xuống tắm bơi lội và đùa ngh trong những ngày i nghịch hè. Đây là một giòng sông hi hòa và thơ mộng. t hiền Hai bên bờ có những cái bến nh . Tại những bến n nhỏ này thường có những cây Bồ Đề, những cây sung ồ thật lớn. Cùng với lũ bạn, tôi c n, cũng tỏ ra gan lì mỗi lần tắm sông, thường leo lên nh ng những cành cây cao mọc chìa ra giữa sông, nhảy xu y xuống. Gần cầu Bến Ngự, có một địa điểm cho thuê Périssoire theo gi m giờ và tôi là một khách hàng quen thu t thuộc. Chèo périssoire quả là một điều rấ thích thú và đây là ất một môn thể thao tuyệt vời, phù h với sức khỏe i, hợp mọi người. Có những buổi chi thật đẹp, tôi bơi i chiều thuyền ra đến sông Hương, ng ngắm cầu n ngồi Trường Tiền im lìm soi bóng hoàng hôn. M Một cảnh tượng thật thanh bình, êm ả và thánh thiện. t Mặt trời từ từ lặn về hướng Tâ hướng thượng ng Tây, nguồn sông Hương, thôn Kim Long và chùa Linh Mụ dần dần chìm khuất trong bóng chiều tà. Nhìn t về hướng Nam, ngọn núi Ng Bình ẩn hiện trong n Ngự làn mây trắng mõng. Ngoái c về hướng Bắc, kinh ng cổ thành Huế một thời vang bóng, n i nằm im lìm nghe hồn nước nỉ non. Giữa cảnh tr mây sông nước nh trời hữu tình, tôi không khỏi chạ lòng nghĩ đến tự ạnh tình dân tộc. Huế của tôi hiền hòa, tu thơ của tôi n tuổi êm đềm như mặt nước hồ thu không g sóng. gợn Thế rồi, bỗng dưng có m ngày tôi cảm thấy ng một có một cái gì khác lạ. Có lẽ đây là khoảng thời ẽ gian tôi như bị rơi vào một trạng thái khủng hoảng trầm trọng. Nhìn quanh, bỗng th vắng bóng một ng thấy số bạn bè. Tôi cảm thấy cô đơn, lẽ loi và trống y vắng. Mãi về sau này, tôi mớ biết rằng, chúng nó ới

Cầu Ga – Huế trước 1975

Năm học lớp đệ nhị, gia đình tôi r khỏi nhà ình rời nội để chuyển sang ở một ngôi nhà bên kia sông, đồi diện với Phủ Tùng Thiện.Tuy ở bên kia nhưng tâm hồn tôi vẫn hướng về xóm cũ…Nh ũ…Những năm học thi tú tài, bọn tôi bốn năm đứa, trong đó có a, Huy, Trinh, Châu, Thanh đã thuê ph nhà dưới ã phần của một biệt thự trong xóm cũ của tôi dùng làm a nơi học chung. Ngôi biệt thự có mãnh v vườn phía sau vốn là nhà của bác tôi. Bác tôi bán l cho a lại nhạc sĩ Nguyễn đình Chiếu cùng cô con gái tên là u Thơ Thơ. Thơ Thơ đàn dương cầm r hay. Tuy m rất nhiên, chỉ ở vài năm, hai cha connhạc s Chiếu qua c sĩ định cư bên Pháp vào thập niên 50. Ngôi nhà đ p để lại cho bà nội Thơ Thơ ở. Bọn tôi thuê ph nhà n phần dưới để có nơi lui tới học luyện thi chung. Có b n bọn tôi, bà nội Thơ Thơ cũng vui, khung c ũng cảnh bớt

- 50 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
đã sớm tìm ra một lý tưởng sống. Những thằng bạn đã sớm dứt bỏ đời thư sinh để dấn thân vào cuộc đời binh nghiệp. Một số vào binh chủng không quân, một số đi hải quân và một số khác vào trường Võ Bị Quốc Gia Đàlạt. Sau khi tốt nghiệp, những người bạn của tôi là những người hùng tung hoành trên khắp các mặt trận, trên khắp bốn vùng chiến thuật trong các màu áo nhảy dù, thiết giáp hay biệt động hay thủy quân lục chiến. Với nỗi buồn và một tâm trạng hụt hẩng, tôi lìa xa chốn cũ để dấn thân vào một khung trời lạ. Những bước chân tấp tểnh đầu tiên đã sớm nhuốm mùi giang hồ phiêu lãng. Qua bao nhiêu mùa lá rụng, qua bao nhiêu mùa thu đến, qua bao nhiêu mùa đông tàn, qua bao nhiêu mùa xuân sang và qua bao nhiêu mùa hè trở lại, giòng đời vẫn tiếp diễn, vẫn lạnh lùng trôi theo thời gian. Cũng có một đôi lần, tôi âm thầm trở lại Huế. Như một người khách lạ, tôi tìm lại những dấu tích xưa để hồi tưởng và cũng để nhớ nhung những kỷ niệm. Tôi xuôi về Đập đá, lần mò những bước chân ngỡ ngàng trên những con đường mòn nhỏ hẹp của thôn Vỹ Dạ trong một buổi chiều tà. Tôi ngược lên Kim Long, lần sâu vào những thôn xóm ẩn mình sau những lũy tre dày dặc, mơ mộng về một mái tóc thề đứng sau hiên nhà đang hong khô mái tóc trong tiếng thì thầm của từng cơn gió nhẹ thổi qua những ngọn tre cao vút. Trở lại xóm cũ của một thời, cảnh cũ không còn và người xưa cũng vắng bóng. Lang thang thành phố cũ, nhìn đâu cũng thấy bóng dáng của kỷ niệm. Kỷ niệm tràn ngập lối đi, vương vãi trên khắp các nẽo đường hay từng góc phố. Và kỷ niệm cũng đầy ắp và choáng ngợp khi tôi trở lại trường xưa, nhìn thảm cỏ sân trường, nhìn những gốc phượng già nua mà nhớ thầy xưa bạn cũ. Rời khỏi giảng đường đại học, tôi bước vào quân đội theo lệnh gọi tổng động viên “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Trong màu áo nhà binh, tôi chiến đấu trên mặt trận tư tưởng trong một cuộc chiến tranh mà lúc đầu tôi tưởng là một cuộc chiến tranh ý thức hệ. Thế nhưng không phải thế, lịch sử dân tộc và đất nước đã được viết theo một hướng khác khi cái thảm họa ngày ấy đã đến. Cuộc chiến tàn trong sự thua thiệt tức tưởi. Mọi sự đổi thay, tôi cởi bỏ chiếc áo nhà binh để cùng những người quốc gia mặc chiếc áo tù. Chín năm âm thầm đời khổ sai trong những trại tù từ Nam ra Bắc, tôi thấm thía nỗi cơ cực dày vò thân xác và nỗi tủi nhục gặm nhấm tâm hồn. Tôi thực sự lê đời trên biên giới của sự sống và cái chết. Thế nhưng, tôi cũng phải cố gắng chịu đựng để tồn tại, tôi phải tồn tại để có thể vượt qua kiếp nạn. Số phận đã mĩm cười với tôi và cũng chính hắn cũng đã cộc cằn vất tôi vào cái hiện hữu ngỗn ngang trăm mối. Dần dần, tôi phải biên tập lại cuộc đời, định hình lại cuộc sống. Một đôi khi, tôi tự hỏi tại sao cuộc đời có những lúc cùng quẫn, đói lạnh trên rừng thiêng nước độc mà cũng có lúc, tôi thoát xác, ngồi lạnh lùng trong một sòng bài ở Las Vegas. À, thì ra cuộc đời thì không có biên giới ngăn cách, chỉ có thời gian qua đi là không bao giờ trở lại sau khi đã nhuộm trắng cuộc đời tôi. Con người sinh ra, hiện diện trong cõi đời như những sản phẩm của vũ trụ và tạo hóa, ngập ngụa trong thiên tai thảm họa để duy trì sự hiện hữu trong kiếp ba sinh, nổi trôi trong lo lắng muộn phiền. Tôi đâu có ngờ ngàytôi lìa khỏi Huế là tôi đã muôn trùng cách xa quê hương biền biệt. Kể từ ngày đó,tôi chưa một lần trở lại để nhìn lại chốn xưa. Tôi biết rằng cảnh cũ người xưa không còn nữa, và với tôi, Huế hình như chỉ còn là hoài niệm bởi vì giờ đây Huế ở cách xa tôi nửa vòng trái đất. Quê hương cũ và quê hương mới giờ đây đôi bờ đại dương cách biệt.

vĩnh lộc
2012

- 51 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

TỪ PHỦ THOẠI THÁI I
đến TRƯỜNG QUỐC HỌC
PT-“Người Nước Ngoài”
Lăng Dục Đức ( An Lăng )

Sau Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, nh khởi đầu cho cuộc di cư từ miền B vào miền n Bắc Nam Việt Nam của hàng triệu ngư u người, gia đình chúng tôi không vào Nam mà lại ch đất Thần i chọn kinh làm nơi dung thân. Nguyên do ông N tôi Nội vào những năm 30 đã từng đem sả phẩm công ản nghệ tham dự hội chợ đấu xảo tại Hu (là kinh đô i Huế của Việt Nam thời đó). Rồi giai đoạn thơ ấu của tôi b đầu với a bắt những người bạn nhỏ miền trung v giọng nói n với hoàn toàn lạ lẫm khác biệt. Mỗi sáng, chúng tôi i dắt díu nhau đi bộ từ khu Chợ Dinh, Đ Cồn qua Đò khu chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền r thẳng về n rồi hướng trường Trung học Nguyễn Tri Phươ n Phương. Tôi còn nhớ rõ có người bạn khác lớp tên Tr thanh p Trần Ấm, giọng nói lẹt chẹt, đã cho tôi nh ã những hiểu biết ban đầu rối rắm khiến tôi chẳng hiểu bi gì cả. Có u biết lần bạn hỏi tôi lúc thi “càng cua” vào trư i trường đậu thứ hạng nào khiến tôi càng ngơ ngẫ Trong lớp ẫn. tôi lúc đó có hai “mệ” là Bửu Thức (con th Ưng c thầu Lạng) và Vĩnh Sính (thân phụ là võ s Bửu sư Tuyển) ở căn nhà nhỏ trong khu vư trồng cây vườn vú sửa rất rộng ở Đò Cồn mà tôi thư n thường ghé chơi. Tôi thắc mắc về chuyện nầy thì bạn Ấ trả lời rất Ấm đơn giản: - Lạ hí? Cụ mi thắc mắc chi r c rứa? Con họ Bửu thì cha họ Ưng, con họ Vĩnh thì cha h Bửu. ì họ Lúc này tôi ở đường Gia Hội (sau này là Chi i Lăng) khi đi bộ ngang qua đường h ng hẻm rộng có cổng một khu nhà có hình dáng như tam quan c ư của

một ngôi chùa mà dân trong vùng quen g là Phủ t gọi Ba Cửa (sau này tôi mới biết là ph Thoại Thái). t phủ Tôi nhớ lại khi còn ở Hả Phòng, khoảng đầu ải năm 1954, thường hay ra hiệu sách báo ở phồ Cầu u Đất đón mua những tập sách báo m p mỏng in dần những truyện kiếm hiệp thờ đó (như Kim Hồ ời Điệp, Long Hình Quái Khách v.v…) và t san tập hàng tuần (Tiểu Thuyết Thứ Bảy ) từ Sài gòn chở ra Bắc bằng máy bay để phát hành. Có l tôi lần được đọc một phóng sự củ phóng viên Tiểu ủa Thuyết Thứ Bảy, phỏng vấn C n Cựu Hoàng Thành Thái (lúc này Ngài không còn ở Bạch Dinh, Vũng Tàu mà chuyển về Sàigòn rồ qua đời ở đây năm ồi 1954). Phóng viên mô tả Cự Hoàng ở trong khu ựu nhà nhiều gian, thấp và chật h (sau này tôi được t hẹp biết đó là khu nhà cổ xưa ở đường Cô Bắc, Sài gòn). Trong đó một gian có ch cổ xe song mã là t chứa vết tích của thời quá khứ. Trong lúc các Công . Chúa và Hoàng Tử nhỏ chạ chơi gần đó, Cựu ạy Hoàng đã xác nhận với phóng viên hai chuy i chuyện được lưu truyền trong dân vào th đó là có thật: n thời - Chuyện thứ nhất là Ngài đ cứu được nhân t đã viên trong Sở Thú khi đuổi con c sổng chuồng i cọp trở lại chuồng phụ nhỏ trong khi nhân viên này đang dọn dẹp đồ ăn cho cọp trong chu p chuồng lớn. - Chuyện thứ hai là khi Ngài đi thăm Huy Huyền Không Động ở Ngũ Hành Sơn, Đà N ành Nẵng (tức núi Non Nước) trong động có hai nh đá đối diện, ng nhủ phía dưới có xây hai bể chứa nư nhỏ để khách a nước

- 52 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
du có thể múc nước giải khát. Ngài đ đặt tay sờ i đã vào một nhủ đá khiến nước thôi chảy. y. Hai câu chuyện này cứ ám ảnh trí óc non n nh nớt của tôi thời đó về thân mệnh thiêng liêng c nh của Thiên Tử. Có lần tôi chợt hỏi bà Nộ của tôi (cụ ội sinh năm 1898) là đã bao giờ Bà thấy vua chưa, th y thì cụ trả lời lúc còn nhỏ Bà có theo dân hàng T Tổng ra đường cái quan bày hương án bái v ng vọng đoàn xa giá của Vua Thành Thái khi Ngài tuầ du Bắc Hà ần (1907) để khánh thành cầu Paul Doumer (c u (cầu Long Biên). Vua mặc long cổn bằng d tím, mặt ng dạ hơi đen, hai tay chắp lại cầm ngọc khuê m ngước c mắt nhìn thẳng chứ không nhìn xuống dân chúng. ng Thuở nhỏ Vua Dực Tông (T Đức) bị bệnh c (Tự đậu mùa có di chứng nên vô t Ngài đã chọn con ng tự. các vị Thân vương làm dư dưỡng tử. Đó là Ưng Chân, con thứ của Thoại Thái Vương H i Hồng Y; Ưng Đường và Ưng Đăng con c Kiến Thái ng của Vương Hồng Cai. Nhà Vua đ lập ra các nhà học ng đã cho các Hoàng tử bên ngoài c Hiển Nhơn và từ cửa đây họ mang tên theo nhà h theo học như Dục họ Đức Đường, Dưỡng Thiện Đư n Đường, Chánh Mông Đường… Thời Vua Dực Tông, nư nhà bước vào giai c nước đoạn suy tàn, bên trong giặc giã (gi Chày vôi) c (giặc bên ngoài giặc Pháp bành trư c trướng chánh sách xâm chiếm thuộc địa. Đến gần cu đời, sau khi suy n cuối tính hơn thiệt, vua đã lập di chi cho Thụy Quốc p chiếu Công Ưng Chân kế vị (2). Nh khi xưa Vua Thiệu Nhớ Trị vào lúc đau ốm nặng đã bàn v các đại thần: ã với “Trong những người con ta, H i Hồng Bảo tuy lớn nhưng vì thứ xuất lại ngu độn ít h chỉ ham chơi n học, nối nghiệp không đặng; con th hai là Phước Tuy ng; thứ Công thông minh ham học gi c giống in ta, đáng nối ngôi Vua…” Rồi sau việc Hồng Bảo âm mưu l đổ vua o lật Tự Đức (loạn giặc Chày Vôi v Đoàn hữu Trưng c với tổ chức) bất thành, bị hạ ngụ và kết án tử hình. ục Vua Tự Đức tha chết cho anh nhưng cho l t lệnh giam quản thúc, rồi sau tự vận ch trong ngục. n chết Vua Tự Đức vốn bản ch hiền hòa, yếu n chất đuối, rất thương các anh em trai (29 v nên từ sau t vị) vụ An Phong Công Hồng Bảo mưu ph Ngài chỉ o phản, còn biết gởi gắm tâm tình vào các v em cùng tâm m vị tính, sở thích…Trong số này đ biệt có vị em thứ đặc tư là Thoại Thái Vương Hồng Y đư Ngài yêu ng được mến nể phục đặc biệt nên nh con thứ của vị t nhận Thân Vương này làm dưỡng t để nối nghiệp sau ng tử này. Dù tính khí của vị Hoàng T không đúng Tử chuẩn mực theo ý Ngài, nhưng ân t ưng tình với Thoại Thái Vương sâu đậm nên vào lúc cu đời Ngài m cuối vẫn chọn Thụy Quốc Công Ưng Chân k vị (3). c kế Đáng thương thay cho t quân, mới tức vị có tự 3 ngày thì gặp phải việc ph lập của hai vị Phụ c phế Chính đầy quyền lực là Nguy Văn Tường và c Nguyễn Tôn Thất Thuyết (4).

Vua Thành Thái

Sở dĩ tôi dài dòng quá nhiều trên huy thoại u huyền về vị Hoàng Đế này vì Ngài là ngườ đã ra chỉ dụ ời khai sinh ra ngôi trường Quốc Học mà sau này tôi đã có dịp được học năm cuối bậc trung h (lớp c học Đệ Nhất) sau khi lưu lạc xa Huế một th gian (1). t thời Còn nhớ lại khi theo học tại trường Nguy Tri ng Nguyễn Phương vị Giám thị phụ trách khối Đ Thất là mệ i Đệ Vĩnh Quê (con Vua Thành Thái) là m trong số ê một đông đảo các Hoàng Nam, Hoàng N con nhà o Nữ Vua. Nguyên do nào đã đưa đẩy nhà vua k y kế nghiệp vua cha Dục Đức? (Vua Dục Đ đã chết c Đức thảm sau 3 ngày ngắn ngủi làm vua).

- 53 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Trước kia khi giao cho các quan Thái Phó ho dạy dỗ ở Dục Đức Đường, Vua Tự Đ luôn theo Đức dõi sự cải đổi về đức hạnh và tiến triể về học vấn ển của Hoàng Trưởng Tử Dục Đức (5). sau được các quan cặn kẽ phân gi bà mới an tâm. giải Trong lễ đăng quang tuy mớ 10 tuổi nhưng dáng ới điệu nhà vua rất chững chạc như m thanh niên. c một Khi đoàn viên chức Pháp, d đầu là Khâm sứ c dẫn Rheinart đại diện cho chánh ph Pháp đọc chúc từ, n phủ vua bước xuống ngai đứng nghe, sau đó vua đ ng đọc lời đáp từ, tuy còn nhỏ nhưng gi giọng nói sang sảng vang lên trong điện. Sau đó Ngài ti tục lên ngồi n. tiếp trên ngai vàng để đón nhận s chúc tụng của trăm n sự quan. Ngài khởi đầu với việc xây d c dựng An Lăng (tức lăng Dục Đức-1889), r sau đó là một số 1889), rồi công trình như trường Quốc H (6), cầu Trường c Học Tiền, sửa sang Quốc Tử Giám, xây d dựng cầu Long Biên ở Bắc Hà v.v…Trong thơ văn Ngài đ từng c đã làm bài thơ chữ Hán với các câu cu như sau: i cuối Núi Hùng mây phủ nhìn kim c cổ Sông Nhĩ dòng trôi vẳng kh thanh ng khốc Cầm Hồ, đoạt sáo còn đâu n nữa Ai giúp giang san gỡ bấ bình? ất Từ việc nhà vua bí m lập đoàn nữ binh c mật trong nội cung cho đến nhữ mâu thuẩn ngày ững càng gay gắt giữa nhà vua và Cơ M Viện cũng a Mật như Khâm sứ Pháp Leveque, đ tháng 9/1907 đến theo đề nghị của Khâm sứ Trung kỳ, Hội đồng Phụ chính, các đại thần ra thông báo cho qu dân n quốc biết “Vua Thành Thái điên, nên v quyền lợi của t vì đất nước, hai chính phủ Vi Pháp đã phải phế Việt Vua, lập Vua mới”. Sau đó Ngài được đưa vào Sài g và bị c gòn quản thúc tại Vũng Tàu, rồi đ năm 1919 Ngài bị i đến lưu đày cùng với con là Vua Duy Tân sang đ đảo Réunion. Vua Duy Tân lên ngôi khi m 8 tuổi do mới Khâm sứ Levecque có ý đồ lập vua mới nhỏ tuổi để khỏi phải đối đầu như đối v vua Thành Thái. i với Trong lễ tấn tôn, tuy mới 8 tu song vua Duy Tân i tuổi cũng ăn nói chững chạc, lưu loát và h nhiều câu c, hỏi khiến Khâm sứ Levecque cũng không tr lời được. ũng trả Sau Việt Nam Quang Phục H biết được vua Duy c Hội Tân là một ông vua tiến bộ, có lòng yêu n , nước và có tư tưởng giống vua cha Thành Thái ch ng chống

Cổng An Lăng

Rồi đến các biến cố dồn dập ở kinh đô sau năm 1885 đưa đến việc xuất bôn c vua Hàm t của Nghi ra chiến khu Tân Sở. Rồi đến phong tráo C n Cần Vương chống Pháp từ Nam ra Bắc. Sau khi vua c. Hàm Nghi bị Trương quang Ngọc làm ph bắt c phản giao nộp cho Pháp, Ngài bị đưa đi đày ở Alger (đầu năm 1889). Sau đó Toàn Quyền Đông Dương n là De Courcy đã đề nghị Ngài Chánh Mông là con h cả của Kiến Thái Vương Hồng Cai (anh vua Hàm ng Nghi) lên ngôi niên hiệu Đồng Khánh. V triều ng Với đại ngắn ngủi của nhà vua, vua Đồ Khánh đã ồng băng hà vào lúc năm cùng tháng t (27 tháng tận Chạp năm Mậu Tý, 1889). Lúc này Khâm s u sứ Trung kỳ Rheinart nhớ đến mối giao tình v ngài i với Dục Đức thuở sinh thời nên đồng ý v Lưỡng ng với Tôn Cung, Cơ Mật Viện để tôn Hoài Tr Trạch Công Bửu Lân lên ngôi vào đầu năm mới (ngày 2 tháng i Giêng năm Kỷ Sửu – 2-2-1889) m đầu Thành 1889) mở Thái nguyên niên. Ngài là con Vua D Đức và Dục Bà Từ Minh Hoàng Hậu họ Phan. Khi Vua D Dục Đức bị giết thì Hoàng tử theo mẹ v bên ngoại. về Tuy còn nhỏ, chỉ 10 tuổi nhưng sớm hi rõ hoàn m hiểu cảnh của vua cha nên lúc triều đình mang võng ình kiệu đến rước, Ngài lo sợ hỏi: “Các ông đ làm i: đến gì? Đến bắt tôi trị tội à? Các ông mu làm gì thì c muốn làm nhưng phải đợi mẹ tôi về đã.” Bà T Minh về ã.” Từ nghe các quan xin rước Hoàng tử vào cung đ trị để vì, Bà sợ hãi khóc lớn vì nhớ cảnh th nh thảm tử của chồng, rồi vua Hiệp Hòa, vua Kiến Phư n Phước; mãi

- 54 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Pháp, nên các lãnh tụ như Trần Cao Vân, Thái n Phiên đã bí mật tổ chức cùng nhà vua âm mưu c khởi nghĩa vào tháng 5/1916. Cuộc kh nghĩa bất c khởi thành vì có người phản bội. Khâm s De Trigon i. sứ phải mời Toàn quyền Đông dương vào Hu để n Huế thuyết phục, dụ dỗ nhà vua bỏ ý tưởng ch ng chống Pháp thì chính phủ sẽ ân xá. Việc thuyết ph không t phục thành nên hai cha con bị án lưu đày bi xứ năm biệt 1919. Khoan Phi Hồ thị Phương cùng bà Hoàng phi Mai thị Vàng –vợ vua Duy Tân. Lăng Dục Đức rất đơn gi và ở gần kinh t giản thành nhất (qua cầu Kho Rèn, th u thẳng lên hướng đàn Nam Giao rồi rẽ phải). Đến lăng không ph để n phải chiêm quan cảnh đình tạ, lầ các giả sơn, suối ầu nước như lăng tẩm các vị hoàng đ khác mà để đế tưởng niệm hai vị vua yêu nư đã không màng nước đến quyền lực trên ngôi báu mà dám đánh đu đuổi người Pháp mong có ngày độ lập dành chủ quyền ộc cho dân tộc. Rồi ta sẽ bâng khuâng nh đến câu phong nhớ dao đánh dấu cả một giai đoạ bi tráng của lịch sử ạn Việt Nam cận đại: Một nhà sinh được ba vua, c Vua thì chết đói, hai vua đi đày t đày. PHAN VĂN TÙNG Viết ngày đầu Xuân Nhâm Thìn – 2012 u Chú thích : Références : Phan Thuậ An – Tập san nhớ ận về Quốc Học 2010. 1.Đại Nam Nhất Thống Chí – Bộ thứ hai soạn thời Thành Thái (1889-1907), quy thứ Nhất, kinh sư, 1907), quyển tờ 46a Phiên âm : Quốc học đườ ờng, Tại Thủy sư Tả doanh công thổ. Thành Thái bát niên ki . kiến. Dịch nghĩa : Trường Quốc họ tọa lạc tại khu đất ọc, công của Tả doanh thuộc Th sư. Trường được c Thủy xây dựng vào năm Thành Thái th 8 (1896) ng thứ 2.Thụy Thái Công Ưng Chân tuy là con th của y thứ Thoại Thái Vương Hồng Y, song là dư dưỡng tử của Vua anh nên thế thứ trong gia t cũng thay đổi tộc theo. 3. Vào cuối đời, vua Tự Đức v chọn Ưng Chân c vẫn là người kế vị, song để khuyên răn, nhà vua vi viết trong di chiếu: “Đản vi hữu m tật, bí nhi bất u mục tuyên, cửu khủng bất minh, tính ph hiếu dâm, t phá diệc đại bất thiện, vị tất năng đương đ sự. Quốc t đại sử trưởng quân xã tắc chi phúc, xã th hà dĩ tai!” c thử

Vua Duy Tân

Năm 1945 khi từ Paris, vua Duy Tân bay v về St. Denis để thăm vua cha và gia đình thì t nạn ình tử máy bay. Tháng 5/1947 vua Thành Thái đư đưa được về quản thúc tại Bạch dinh ở Vũng T rồi sau về ũng Tàu Sài gòn như đã nói ở đầu bài viết. Ngài m tháng t. mất 3 năm 1954, thọ 76 tuổi và được hoàng t an táng c tộc tại An Lăng. Năm 1987 hài cốt của vua Duy Tân a được cải táng và chôn cất trọng thể tại An Lăng, cạnh vua cha. Ngày nay An Lăng (tức lăng D Đức) là c Dục khu lăng mộ chung của ba thế hệ làm vua (D (Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân) cùng các Hoàng h c, hậu (Từ Minh, Hoàng Quí phi Nguyễn Gia Th Anh, n Thị bà Nguyễn Thị Định –mẹ vua Duy Tân và bà Tân-

- 55 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
(Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám, sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều không tốt, chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Tuy vậy, nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây?) 4. Khi vua Tự Đức băng hà, trong lễ tấn tôn vua Dục Đức, quan Phụ chánh Đại thần Trần Tiễn Thành đọc đến đoạn này thì đọc nhỏ đi không ai nghe rõ liền bị Tôn thất Thuyết đàn hặc và cử Tham tri Nguyễn trọng Hiệp đọc lại di chiếu. Sau đó hai đồng Phụ chánh ép Trần tiễn Thành cùng dâng tờ sớ lên Lưỡng Cung kết tội vua Dục Đức như sau: “Muốn sửa di chiếu, có đại tang mà mặc áo màu, hư hỏng chơi bời”. Rồi phế vua, bắt giam ở Dục Đức đường, sau dời sang Viện Thái Y. Về sau giam vào lao Thừa Thiên và bỏ đói cho chết. 5. Bài nghiên cứu về vua Dục Đức-BS Trần Tiễn Sum (10/2011) 6. Để minh chứng vua Tự Đức có tình cảm đặc biệt đối với người em thứ tư là Thoại Thái Vương Hồng Y, chúng tôi xin mạo muội trình bày: Khoảng đầu những năm 90 khi xuất cảnh qua Mỹ theo diện HO, ông Nguyễn phước Bảo Túc, hậu duệ phụ trách Phủ Thoại Thái có đưa cho tập sao lục bài Ngự chế thi của vua Tự Đức mừng thọ Thoại Thái Vương Hồng Y. Đây là một trong số các đồ tự khí (vật thờ cúng) trong Phủ mang tính riêng tư quý hiếm. Bài thơ chữ Hán viết trên giấy Ngự bảo màu vàng tươi khổ lớn có in chìm hình hồi long bằng ngân nhũ. Do thời gian hàng thế kỷ đã qua nên ở nếp gấp đôi chỗ bị rách, đôi chữ bị khuyết. Năm 2002 khi gặp anh Phan Thuận An ở Phủ thờ Công chúa Ngọc Sơn (Điệp danh húy là Hỷ Hỷ, Công chúa con vua Đồng Khánh, chị vua Khải Định) là người am tường Anh, Pháp ngữ và nhất là Hán tự, anh đã vui lòng nhuận sắc phần phiên âm, dịch nghĩa bài thơ. Xin tóm lược bài thơ gồm 97 chữ, nội dung ca ngợi người em thứ tư nầy là người trung hậu: “Do con nên bề ngoài được vinh hiển Tài văn chương đáng bậc thầy của Tử Kiến Sự nghiệp và đức độ như Đông Bình Vương Sức khỏe còn tráng kiện Cuộc sống được nhàn nhã Nhiều điểm còn hơn ta không nói tới Chẳng qua vì lớn tuổi hơn nên làm anh (ý khiêm nhường) Em ta tuy là người thường Nhưng sao Vua cũng muốn được kết thân Tài nhiều để truyền lại người học nhiều đức tốt nên được người xung quanh ưa chuộng Ngắm trăng thu uống vài ba chung rượu Đón ngọn gió Xuân nhẹ đưa mái chèo Cầu mong gia đình gặp niềm vui thật sự Mặc cho người đời toan tính chuyện danh lợi nổi trôi”

Thủ bút Bài thơ Mừng Thọ Thoại Thái Vương của Vua Tự Đức (1874)

- 56 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

XUÂN QUA
Nguyên Tịnh
Đạo Phật nói rằng thân này là giả và tâm cũng giả vì: “ do nghe tiếng thấy sắc, rồi bóng lưu lại. Duyên theo cái bóng lưu lại đó mà suy nghĩ, gọi đó là tâm. Vậy tâm duyên theo lục trần là cái hư giả không thật.” hoặc:“Đừng thấy cảnh huyễn mà trước phải thấy tâm này huyễn. Thân tâm hết lầm thì cảnh giới hết lầm.” (kinh Viên Giác giảng giải- Thích Thanh Từ trang76). Hắn cố dùng giáo lý của Phật để giải thích cho được mùa xuân trong lòng hắn. Tại sao mỗi độ xuân về trên đất Mỹ này hắn lại quay về quá khứ tìm xuân trong kỷ niệm, tìm xuân trong những bản nhạc để cõi lòng đay nghiến, tìm trong những trang sách báo xuân để thấy xuân về đâu đây. Thế mà xuân trên đất Mỹ vẫn dững dưng lãnh đạm không chịu quay về với hắn. Vẫn có chợ hoa, pháo tết, cũng có cúc vàng, đào đỏ trong cái lành lạnh đầy nhớ nhung của quê nhà, thế mà lòng hắn vẫn không thấy xuân về nơi đây! Trong quan niệm của Phật giáo, thời gian và không gian là những sáng tạo của tâm thức. Thời gian và không gian không phải là hai thực thể riêng biệt. Không có thời gian thì không có không gian. Có bảy yếu tố tạo ra vũ trụ vạn vật là: địa, thủy, hỏa, phong, không gian, thời gian, phương hướng và thức. Trong một cái chứa đựng bảy cái kia. Thời gian làm bằng không gian và ngược lại. Tâm thức làm ra thời gian và không gian, chúng là những sáng tạo phẩm của thức. Như vậy là tâm của hắn duyên theo cảnh nhộn nhịp hối hả của phố phuờng đông đúc, cảnh lao xao của chợ búa ba ngày Tết, cảnh hoa đào hoa mai khoe sắc, cảnh pháo nổ đì đùng đâu đó tạo ra một mùa xuân trong lòng hắn và chỉ cái đó mới là xuân về tết đến. Trên đất Mỹ, cảnh đó không có nữa. Đêm

trừ tịch không còn linh thiêng của cảnh đất trời chuyển giao nữa mà là một ca làm việc chưa xong. Ngày mồng một không còn là ngày đầu năm với bao ước nguyện đổi thay trong cảnh nhà nhà trang nghiêm hương khói đón chờ một mùa xuân đến. Mồng một ở đây phố xá vẫn lạnh lùng, cửa đóng im lìm trong giấc ngủ muộn của một ngày mùa đông lạnh giá. Và thế là hắn quay về với xuân trong kỷ niệm. Và hắn lại càng xót xa hơn khi nhớ lại mấy vần thơ của Hà thượng Nhân: Nghe gió vào thu lòng bỗng lạnh Mẹ ơi năm tháng võ vàng xa Chăn êm nệm ấm còn thừa thãi Thiếu bát canh rau thiếu quả cà Từ đó hắn tưởng nhớ lại những mùa xuân qua. Sau biến cố 1975, cuộc sống của người miền Nam hoàn toàn bị đảo lộn. Cảnh bãi biển biến thành ruộng dâu hiện ra trước mắt: từ thằng lên ông, từ ông xuống thằng, từ quyền quý cao sang biến thành cùng cực. Trong cái lênh đênh của kiếp dâu bể đó, số phận hắn cũng ngụp lặn trong cõi ta bà khổ nghiệp. Hắn không biết làm gì để sống, không vốn liếng, không nghề nghiệp, hắn bỗng trở thành một tên phụ thợ nề khốn khổ. Cuối cùng nhờ trời xui đất khiến hắn cũng kiếm được một nghề: sửa đồng hồ. Bạn bè gọi hắn là thợ Phố Đồng Hà (phá đồng hồ). Ông anh cột chèo, nguyên là thanh tra học chánh bị chính quyền mới đuổi ra khỏi ngành, ông chạy vào Sài Gòn theo học một lớp dạy nghề cấp tốc. Sau ba tháng, ông về lại Qui Nhơn mở một tủ đồng hồ vừa mua bán vừa sửa chữa. Thấy nghề phụ thợ nề có vẻ trôi sông lạc chợ quá, hắn bèn nghỉ và xin ông anh truyền nghề. Nửa tháng đầu hắn được thằng cháu kêu hắn bằng cậu truyền cách sửa đồng hồ để bàn. Nguyên tắc là phải tháo ra ráp vào cho được cái đã, còn chạy được hay không tính sau. Nửa tháng sau, thằng anh của nó truyền dạy cách tháo ráp đồng hồ lên giây tự động. Sau đó một thời gian, hắn làm lễ cáo biệt thầy để hạ sơn hành đạo. Lập tức, hắn phải đem nghề chân truyền ra hành gấp để cứu đói. Hắn kêu thợ đóng một cái tủ và nhờ ông anh mua giùm một ít đồ nghề. Hắn đặt cái tủ sửa

- 57 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
đồng hồ ở lề đường và thuê một tên th còn trẻ t thợ cùng đứng tủ, ăn chia tứ lục. Vì hắ không biết ắn nhiều về nghề nên mọi việc đều giao phó cho tên u thợ, mà thằng nhóc này lại không m i mấy thật thà. Khách đem đồng hồ tự động đến s n sửa, tên thợ đổi “càng” thiệt thay “càng” dõm c Chợ Lớn t của vào rồi đem “càng” thiệt đi bán. Đ t Đồng hồ chạy được một tháng sau là đứng vì “càng” dõm mòn ng mau .(càng tự động là một bộ phận củ đồng hồ tự ủa động, nó giữ nhiệm vụ như tay cầm c máy xay m của lúa, khi ta cử động, càng móc vào m bánh xe ng, một nhám, bánh nhám chuyền vào ổ dây; dây thi thiều trong ổ dây khi cuộn lại có khuynh hư i hướng bung ra tạothành một lực đẩy làm các bánh xe trong đ y đồng hồ chuyển động). Ngồi cả ngày nơi t đón khách tủ, mới thì ít mà đón khách cũ thì nhiề họ đến để ều, mắng vốn. Tủ đồng hồ ngày càng ế. Thấy kẹt, vợ . hắn cũng bắt chước thiên hạ ra chợ buôn quần áo cũ, mấy tháng sau thì cụt vốn. Tình cảnh nhà cửa như thế nên khi t gần tết đến là hắn buồn lo sốt vó. Trong cái h hả của hối những ngày cận Tết, nghe tiếng pháo xa g rộn rã ng gần mà trong khi lưng không một đồng xu dính túi, ng lòng hắn cũng xốn xang hồi hộp theo. Có gì đem p về cho vợ sắm tết đây? Thấy mấy ngư bạn, đứa y người buôn trầm, đứa buôn thuốc tây làm ăn kh c khấm khá, đứa nào cũng có thứ để chở về nhà như mai, qu quất, anh đào. Nhìn căn nhà mình trống trơn mà bu ng buồn tủi. Con cái còn nhỏ làm sao hiểu đư để mà san u được sẻ niềm đau.Hắn nhớ năm đó, vì quá k hắn đành ì kẹt gõ cửa nhà ông bạn láng giềng. Anh ta g miền ng. gốc Nam chất phác. Không hiểu vì có công v chính u với quyền mới hay sao đó mà anh ta đư làm tới i được chức phó giám đốc một công ty ch biến nước ng chế ngọt mặc dầu học chưa tới lớp 9. Vì nhu c đòi cầu hỏi của cơ quan ít ra cũng phải có trình độ cấp ba i mới được giữ chức vụ này. Thế là anh ta đem bà bàì vở nhờ hắn giảng và làm bài tập h Với tình p hộ. nghĩa đó, anh ta đã vui vẻ và sẵn lòng cho h n hắn mượn chút tiền. Tết năm đó hắn yên lòng v vợ n với con! Kế cận nhà hắn là nhà của hai tên cán b cấp a bộ lớn; mỗi nhà đốt dễ chừng đến vài ch phong n chục pháo là ít. Để xả xui, hắn cũng đốt m hai phong t một cho vui vẻ với bà con xóm giềng. Giao th năm thừa đó, trước bàn thờ gia tiên hắn c khấn ông bà cha n cầu mẹ có thương thì cho hắn có m nghề khác để n một nuôi con chứ cái nghề sửa đồ hồ xem ra không ồng sống nỗi. Thật phước đức ông bà, sau t tuy nghề c tết mới chưa có nhưng hắn đã có ti Một người em ã tiền. ở Mỹ gởi về cho hắn một trăm đô la. Hắn mừng t rơn, đổi ngay ra tiền Việt và l tức bước qua nhà t lập ông hàng xóm “tốt bụng”vừ để chúc tết vừa để ừa trả nợ. Thế rồi, theo dòng đờ đưa đẩy, hắn được ời đi định cư ở Mỹ, lại thêm m lần, cuộc đời hắn i một thay đổi. Mấy mươi năm lưu lạc, cứ mỗi lần xuân về tết đến là mỗi lần hắn ray rứt nhớ về quê hương và ngậm ngùi nhớ lại những mùa xuân khốn khổ tại quê nhà. Những năm đầu trên đất khách, vào những ngày cận Tết là hắn bật máy nghe lại nh i những bản nhạc xuân năm cũ. Những bản “Xuân này con không v n về” hoặc “Xuân này con về mẹ ở đâu” đã làm hắn ẹ khóc. Hắn còn bà mẹ già đã chín m ã mươi lăm tuổi ở Huế, đang cặm cụi cuộc đời bên c i cạnh đứa con tật nguyền, thằng em của hắn! Âm thanh và nh n! những lời ca bài hát cũ khiến những c ng cảm xúc rào rạt dâng trào trong hắn. Vào mỗi độ xuân về, h lại cố gắng lùng , hắn kiếm cho được một nhánh hoa đào đ đặt giữa bàn để và hai chậu cúc vàng để ở góc phòng. Hắn bảo vợ nấu cho được vài đòn bánh tét, thi một mâm òn thiết cúng ông táo ngày hai mươi ba tháng ch chạp, nấu mấy món ăn và xôi chè cúng rư ông bà chiều ba y rước mươi tết, bày mâm ngũ quả đ cúng giao thừa đón để chào năm mới.

- 58 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Không như những ngày Tết thiếu thốn ở quê nhà, ngày Tết ở đây đồ ăn chất đầy tủ lạnh, ăn cả tháng không hết. Tết trên đất khách, chẳng có bà con bạn bè viếng thăm nhau vì ai cũng bận phải đi làm việc. Hắn nhớ năm đầu ở Mỹ, hắn ở chung với vợ chồng người em ruột ở Texas. Đến tối giao thừa, khi hai vợ chồng người em đang lễ mễ sắp đồ cúng giao thừa, vừa đốt hương chưa kịp khấn nguyện thì điện thoại reo, lệnh của manager bảo đi làm overtime gấp thay thế cho tên đồng nghiệp nào đó cáo bịnh. Thế là hai vợ chồng nó bàn giao chuyện khấn vái đầu năm cho ông anh. Những năm sau đó, hắn ngồi nhà một mình để nhớ về quá khứ và ôm ấp nó mà tương tư chứ không bày vẻ đủ thứ nữa. Hắn dành chuyện lo sắm sửa ngày Tết cho vợ, còn hắn chỉ lo việc cúng giao thừa. Nếu trời không lạnh lắm thì hắn đi lễ chùa cho vợ vui lòng, còn không thì nằm nhà ngủ khò hoặc mò ra chợ Lion hoặc khu Asia Plaza xem thiên hạ đốt pháo. Mùi thuốc pháo và tiếng pháo nổ dòn làm hắn nguôi ngoai nỗi nhớ. Nhìn thiên hạ dắt con cái mặc quốc phục đủ màu, xem người ta đánh cờ tướng hoặc đổ bầu cua cá cọp cũng vui mắt. Mùa Xuân trên đất Mỹ hình như thiếu vắng một cái gì đó mà hắn không sao hình dung và định hình được. Có lẽ thiếu vắng những ngày trời mưa phùn lất phất, thiếu một cây mai nở vàng trước sân nhà trong cái lạnh tê người của mùa đông xứ Huế. Cái lạnh mà nhà thơ Thiếu Anh đã gởi gắm: Khi mô anh về thăm Huế xưa Nhớ gói dùm em một chút mưa Gói thêm mớ lạnh từ chân tóc Buốt thấu buồng tim vẫn chưa bưa Trong những ngày mưa gió sụt sùi, co ro, ướt át, con người ở Huế đem cả mùa Xuân của đất trời vào trong một không gian ấm cúng của gia đình: chậu mai vàng run rẩy ngoài sân được dưa vào trong nhà, nồi bánh tét ngùn ngụt khói trước hiên nhà, rồi bàn thờ với bộ lư, cặp đèn đang lung linh ánh nến, đến nhà bếp rộn ràng nấu nướng thức ăn cúng rước ông bà. Không gian đó không tìm thấy ở đây. Không làm sao có được những bụi chuối sau hè, cuống lá rách tả tơi dầm mưa suốt tháng. Lục trần không duyên với lục sắc nên tâm thức của hắn thấy trống không, rỗng tuếch vì không gian nơi hắn ở, im lìm vô cảm bao quanh. Quê hương nay cũng không còn bởi vì hắn không thể tìm lại được dấu tích xưa mặc dầu lòng hắn luôn thiết tha với câu thơ của ai đó. Mây ơi nếu bay về chốn cũ Nhớ gởi dùm ta nỗi nhớ nhà. Hắn đã thật sự mất quê hương từ dạo về thăm lại chốn cũ cách đây năm năm. Hắn cảm thấy xa lạ, bơ vơ và lạc lõng. Hắn không nhận ra được khung cảnh ngày xưa để có thể còn tìm lại một chút gì còn lắng đọng của những ngày tháng cũ. Hay bản chất cuộc đời là thế: hoài niệm quá khứ, mơ ước tương lai và chán chường hiện tại. Đạo Phật nói đúng: cảnh giới trần gian này là huyễn, tâm thân hắn cũng huyễn. Vậy thì tại sao hắn lại vẫn cứ xót xa cho những ngày tháng đã qua và tâm hồn hắn vẫn cứ rả rích những vần thơ thương nhớ: Mây bay về phía cuối trời Cho ta gởi gấm chuyện đời lãng quên. Thôi thì hãy tỉnh cơn mê, hãy quay về sống lại với những gì hiện có. Hắn thì thầm lời Bụt dạy: “Enjoy every present moment” và hình như cũng có một triết lý rất ư là bi hài nhưng cũng rất là chân lý: “Đời là bể khổ, qua được bể khổ là qua đời”. Có lẽ đã đến lúc hắn phải giữ im lặng để chiêm nghiệm cuộc đời theo một khuynh hướng lạc quan hơn.

Nguyên Tịnh

- 59 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Vỗ đá ta say ỗ
SONGUYÊN 54-57 Ngươi bút nghiên hề ta bút nghi ề nghiên Một thời để chỏm sống b ột bình yên Sân Trình cửa Khổng ngày hai bu ày buổi Chưa biết trăng buồn đợi cuối hi ết hiên Ngươi bút nghiên hề ta bút nghi ề nghiên Học hành vài chữ vốn dành riêng ành Chưa lo cuộc sống tròn c òn cơm áo Đã thấy biển đời chớm ngã nghiêng ã Đời chiến chinh hề xếp bút nghi ời nghiên Quê hương khói lửa dậy triền mi ửa miên Ta chung tình nước xa t ớc tình ái Giũ áo thư sinh chẳng lụy phiền ẳng Đời chiến chinh hề lạnh bút nghi ề nghiên Trường sơn ghềnh thác gió lênh đênh ênh Đồi xa mây xám giăng tr ồi trùng điệp Vỗ đá ta ngồi mắt trắng đ ỗ đêm Dứt chiến chinh hề trải mấy ni ứt niên Ngày về khơi lửa ấm sầu mi ửa miên Nhớ thời trai trẻ vui đông đủ ớ Chừ sót mình ta ôm n riêng ình nỗi Ngươi bút nghiên hề ta bút nghiên ề Ngồi ôn sách vở của ch hiền ồi chư Nhạt nhòa chữ nghĩa quên t ên từng nét Vang vọng bên trời tiếng đổ quy ời quyên SN

- 60 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

Từ bài học thuộc lòng

thời trung học
Lữ Quỳnh Tặng Jacques Ng. Ở thế hệ chúng tôi, trước những năm sáu mươi ngồi ghế nhà trường trung học, không ai là không nhớ bài học thuộc lòng “Ngày Tựu Trường” của Thanh Tịnh, và đoạn văn của Anatole France tả cảnh cậu bé với chiếc cặp trong tay, đi qua vườn Lục Xâm Bảo một buổi sáng mùa thu, lá vàng rơi trên những pho tượng trắng…Ngờ đâu nửa thế kỷ sau, tôi lại được ngồi trong công viên Luxembourg cũng vào một buổi sáng mùa thu, giữa những bức tượng trắng và lá vàng rơi đầy mặt đất, để thương nhớ tuổi thơ mình! Luxembourg, công viên lớn thứ hai của Paris, chỉ sau Tuilerie, được đặt nhiều tượng danh nhân như Beethoven, Paul Verlaine, Georges Sand, Saint-Geneviere….Công viên cũng là bối cảnh nổi bật trong tác phẩm Les Misérables của Victor Hugo. Nhiều chiếc ghế dựa bằng sắt có thể xê dịch được, để du khách thoải mái chọn góc nhìn ngồi nghỉ ngơi. Cuối công viên bên phải là một lâu đài có hồ nước lớn phía trước, tiếp với một vườn hoa đầy sắc màu rực rỡ. Hơn năm mươi năm trôi qua, từ một cậu bé lòng như khăn mới thêu, từng xúc động bởi hình ảnh mùa thu ở vườn Lục Xâm Bảo ngày nào, nay với mái tóc điểm sương đang ngồi đếm tháng năm còn lại của đời mình trên đầu ngón tay. Nhìn những pho tượng trăm năm còn đứng đó, nhớ đến cậu bé của A. France cùng những người đã một lần qua đây, mà ngậm ngùi tự hỏi….? Một ngày lang thang dưới bầu trời đầy mây và trong những đường hầm métro, tôi không giấu đươc nét mệt mỏi dù cho nhiều thắng cảnh, di tích lịch sử ở đây luôn cuốn hút bước chân mình. Jacques thường nhìn tôi bằng ánh mắt ái ngại. Còn

tôi tham lam giành giựt với thời gian, phải tận mắt nhìn cho được những gì mà mình chỉ biết qua sách báo và chuyện kể. Thạch đưa chúng tôi đi bộ qua nhiều nơi. Place Vendome ở trung tâm Paris, nối liền với đại lộ De La Paix. Giữa quảng trường là tượng Napoléon đứng chót vót trên một trụ đồng tròn chạm trổ hoa văn hình xoắn ốc, cao trên hai trăm mét để kỷ niệm ngày chiến thắng quân Áo năm 1805. Ông là một vĩ nhân, được ca tụng là người “khi trên lưng ngựa thì chiến đấu lẫy lừng, lúc xuống ngựa là một nhà cai trị đất nước kiệt xuất.” Sau cách mạng Pháp, ông lập ra triều đại Bonaparte, với những cải cách về luật pháp. Bộ luật Napoléon đã ảnh hưởng rất lớn đến chính trị thế giới. Về giáo dục, các trường đại học được mở, đào tạo sinh viên bằng tiền nhà nước. Ông thành lập đơn vị hành chánh đầu tiên tự cai quản và xử lý lấy công việc. Napoléon mất năm 1821. Lăng mộ ông sáng lòa có thể nhìn thấy từ tháp Eiffel. Khải Hoàn Môn (The Arc de Triomphe), đài kỷ niệm nổi tiếng nhất, với 50 mét chiều cao, 45 mét bề rộng, từng chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử nước Pháp: Năm 1940, Đức đánh chiếm Paris đã kéo quân qua đây, trong khi thủ đô bỏ trống mở đầu cuộc kháng chiến chống phát xít. Qua năm 1944, Paris được hoàn toàn giải phóng, đoàn quân chiến thắng của một nước Pháp Tự Do trở về ca khúc khải hoàn, lại diễn hành qua Khải Hoàn Môn lịch sử này. Lúc ngồi ở vườn Luxembourg, Thạch ngậm ngùi nói, lớp học của anh ngày ấy đến giờ này hẳn đã hao hụt nhiều, làm tôi nhớ đến các bạn cùng lớp đã ra đi vĩnh viễn trong cuộc chiến tranh. Tôi muốn gọi tên Tôn thất Lạc, Phan Tôn Tố, Huỳnh văn Bé, Lê Viết Lựu….mà hình ảnh họ hiện ra thật rõ ràng trong trí với tính cách của từng người. Thạch vô tình chạm vào nỗi đau đã ngủ yên trong tôi từ mấy chục năm qua. Lữ Quỳnh (Trích tạp văn Khoảnh Khắc Mùa Thu Paris)

- 61 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

* SEVENTY

Mới đó chừ đây b chục rồi bảy Răng mà mau rứa h người ơi a hỉ Coai lại cuộc đời thì không l i lỗ Nhẩm tính phong lưu th cũng lời m thấy Mới đó chừ đây b chục rồi bảy Chắc còn ba chục n mà thôi c nữa Ba mươi năm nữa thôi c a cũng đặng Đủ để đùa vui v cuộc đời với Mới đó chừ đây b chục rồi bảy Thôi thì giữ sức đ dành hơi c để Vài chum rượu xịn tui m bạn n mời Vài chén Ô Long kể chuyện đời ể

“Nhân sinh thất thập cổ lai hy” Nói rứa nhưng mà chẳng th chi ng thấm Thời ni trăm tuổi coi như b i bỡn Trăm mốt trăm hai chẳng thiếu gì ng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” Có người trăm tuổi vẫn chưa đi n Cám cảnh trần gian còn l luyến n lưu Không đành day dứt cảnh chia ly nh “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” Nhưng mà nói rứa để mầ chi ần Sống được chừng mô thì c sống ng cứ Thấp thõm lo âu thấy cũng kỳ. ũng

Đã bảy mươi rồi - Seventy Đùa vui tương kính ti hi hi tiếu Rượu Rư rót tràn ly ta cùng cạn Đời là rứa đó, c`est la vie! Free !

vĩnh lộc
- 62 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

“Nước Mỹ là Cạ Bẫy Ngọt Ngào ạm Chốn Thiên Đường”? ng”?
Liễu Pháp
Đây là bài góp ý kiến của Liễu Pháp về bài “Nước Mỹ - cạm bẫy ngọt ngào chốn thiên đườ ờng” của Hiệu Minh.

Phải chăng

Một bạn ở Việt Nam sắp qua M hỏi ý kiến p Mỹ tôi về bài viết gần đây có nhan đề như trên. D Dựa vào nội dung bài này, tác giả đã từ Hà N qua Mỹ Nội và “nghĩ sẽ ở một thời gian, học hỏi kinh nghi i nghiệm, trao dồi tiếng Anh rồi quay về” nhưng đ ở đây ” đã khoảng 5 năm và dường như ý định quay v không nh về còn nữa. Tác giả nhìn nhận “bị choáng ng về đất ngộp nước rộng lớn, nếp sống văn minh công nghi ng nghiệp với nền khoa học kỹ thuật tiên tiến”, ca ng thể n”, ngợi chế tam quyền phân lập và tự do báo chí, tôn tr trọng quyền cá nhân … , cho đây là thiên đư n đường và “ít ai tới thiên đường lại bỏ đi”. Tác giả ví von “Nư “Nước Mỹ là cạm bẫy ngọt ngào chốn thiên đư n đường”, ngụ ý rằng đã lọt vào cạm bẫy hấp dẫn này thì khó r n rời bỏ được, cho dù vẫn thương nhớ nơi quê c mà sẽ cũ không quay về! Tôi xin trình bày một vài dữ ki và luận cứ kiện khác: Tôi sống ở Mỹ hơn 36 năm nay, b xứ mà đi bỏ chỉ để được sống tự do, đã sống xa quê hương ng khoảng nửa đời mình. Khi “chạy giặ trong tình ặc” trạng bấp bênh, ai cũng phân vân không bi tương ũng biết lai ở xứ xa lạ sẽ ra sao, chứ mấy ai ngh tới chuyện y nghĩ tìm một thiên đường hạ giới để mà đ định cư. Từ năm 1994, tôi đã về thăm bà con, quê quán nhi nhiều lần và có đôi lần dẫn con và cháu cùng v thăm xứ n về sở để chúng biết về quê hương vì mấ đứa con đã ấy xa quê từ lúc tuổi còn nhỏ, để cho mình v nhớ vơi quê hương và con cháu sau này không quên bà con g

và quê cha đất tổ. Chúng tôi đ đến định cư ở Mỹ, . đã sống và làm việc ở các tiể bang New York, ểu Minnesota và Pennsylvania và t lúc về hưu đã có từ dịp đi thăm nhiều nơi trên đ Mỹ, từ Đông qua u đất Tây và từ Bắc xuống Nam. Nói v để đưa ra một ng vậy nhận định: Dân tình địa phương có nh a những nét đặc thù, nhưng đa số những điề nói trong bài của ều Hiệu Minh về tiện nghi vật ch về hạ tầng cơ sở, t chất, giao thông đều đúng, nhưng v nền văn hóa đa u về dạng của Hợp Chủng Quốc, v “Giấc Mơ Mỹ c, về American dream”, “Giá Tr Mỹ - American Trị values”, tập quán tôn trọng cá nhân, quy riêng ng quyền tư, công bằng xã hội … thì ch đúng trên bề mặt và i chỉ có những vấn đề quan trọng khác không đư ng được nhắc đến. Những điều nêu ra đã không được phân tích ã để thấy được nguyên nhân sâu xa, đ giải quyết c để vấn đề được đặt ra. Chúng ta bi rằng tùy theo t biết khuynh hướng, mục đích và tr c trình độ nhận thức về cuộc đời của mỗi người mà s chú trọng về mỗi i sự phương diện lại có nhiều khác bi Thêm nữa, sự u biệt. chú trọng hay thứ tự ưu tiên trong m giai đoạn mỗi của cuộc đời lại có thể thay đ Ví dụ khi mới đổi. định cư ở một vùng đất lạ đ xây dựng một đời để sống mới, ai cũng phải bận bị nhiều chuyện và có ịu thể phải vừa đi làm vừa đi h a học; giai đoạn đó đi làm, đi học là ưu tiên chính đ bảo đảm sự sinh c để sống cho bản thân và gia đình; ít ai tự thỏa mãn ình; làm một nghề dưới khả năng c mình, vì thế của nhiều người phải đi học lại ngành c mình để lấy i của bằng chuyên môn để có thể hành nghề với kinh ể nghiệm đã có… Khi công việ tạm ổn định thì sự ệc chú trọng hay thứ tự ưu tiên l thay đổi, như sự lại

- 63 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
chú trọng về giáo dục cho con cái; đó là giai đoạn các con ở bậc trung học hay chuẩn bị vào đại học, chúng ta phải chú trọng vào việc học hành của con em nhiều hơn, phải nghiên cứu các trường đại học con mình muốn xin vào học, giúp con chọn ngành, lo việc xin học bỗng, vay tiền, nhất là chuẩn bị tài chánh để đóng góp phần mình cho con ăn học, nhất là những năm mà có 3 hoặc 4 đứa con còn ở 4 năm đầu đại học, thật là tốn kém. Kể những dữ kiện nói trên chỉ để thấy đa số người ta vì muốn bảo đảm đời sống vật chất với nhiều tiện nghi, vì thương yêu gia đình, lo cho con cái ăn học nên hết sức làm lụng, bỏ hết thì giờ vào đó nên quên cả những vấn đề quan trọng khác. Nhiều người đã gặp không ít trở ngại khác nhau: người thì ngã bệnh về thể chất vì làm việc quá sức, kẻ thì bệnh tâm thần vì lo lắng quá độ, người khác thì ham công tiếc việc không có thì giờ chăm sóc con cái nên chúng hư hỏng hoặc gia đình mất hạnh phúc, mọi trường hợp đều tạo nên nhiều phiền não đau khổ. Có những đau khổ khác không vì gia đình mà vì ham muốn có một công danh sự nghiệp vẻ vang về bằng cấp hoặc tiếng tăm về sự giàu có hoặc nhà cửa, tài sản to lớn để được người đời trọng vọng! Nói chung, nguyên nhân của mọi đau khổ là sự ham muốn, những ham muốn chưa đạt được và sự dính mắc vào những gì đã đạt được. Nguyên nhân của đau khổ cũng có thể là sự ghét bỏ, sân hận, tuy nhiên sân hận thường do sự tranh chấp quyền lợi, danh vọng hoặc sự so sánh hơn thua vì bản ngã, hoặc do những khác biệt, mâu thuẫn, kinh nghiệm nghiệt ngã, đau đớn khó quên và khó lòng tha thứ được; tuy nhiên ham muốn, sân hận đều có gốc gác ở si mê hay vô minh là sự thiếu sáng suốt không thấy được hậu quả của ham muốn và sân hận và như vậy chỉ gây nên đau khổ. Nói rằng “ nước Mỹ là cạm bẫy ngọt ngào chốn thiên đường” có nghĩa là có ý nói rằng “ nhiều người đã đến nước Mỹ và vì sự ngọt ngào của nó mà kẹt vào đó, dù mong trở về quê hương mà không rời bỏ được nước Mỹ”. Xin đưa ra một luận cứ khác: Thiên đường không hẳn là một nơi chốn, chúng ta có thể ở địa ngục khi đang đau khổ và ở thiên đường khi tâm mình đang an lạc, khi mà tâm không còn ô nhiễm bởi phiền não (free from all defilements). Nước Mỹ không hẳn là một thiên đường ngọt ngào và ở trong cạm bẫy hay không là do mình, không do nước Mỹ. Có vài điều cần được minh định: 1.- Có những người lựa chọn, tự chính mình dính mắc vào tiện nghi vật chất và lệ thuộc vào đó mà không rứt ra được, chứ chẳng có ai đặt bẫy lừa mình vào đó. Rất nhiều khác, sở dĩ không muốn trở về quê cũ là vì họ có một lý do rất chính đáng là không muốn sống trong một khung cảnh thiếu tự do, dân chủ là lý do mà họ đã bỏ nước ra đi. Đó là sự lựa chọn ra đi và không trở về của họ, chứ họ chẳng cảm thấy bị cạm bẫy gì cả! 2.- Nước Mỹ là một quốc gia tân tiến trên thế giới, nhưng chỉ được lập quốc hơn 200 năm với một nền văn hóa ngắn ngủi, chưa có thể gọi là một thiên đường vì nhiều tệ trạng xã hội, nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, công bằng xã hội chưa giải quyết được. Nền dân chủ ở đây có thể nói là tiên tiến nhưng chưa toàn hảo; ở đây vẫn còn những tệ trạng xã hội, còn sự kỳ thị màu da tuy đã có pháp luật ngăn cấm kỳ thị; sự kỳ thị không còn lộ liễu như khoảng 50 năm trước đây nhưng không thể nói là hết hẳn được; bằng chứng là có nhiều khu ổ chuột (slum ghettos) trong nước Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp dân da màu gấp nhiều lần so với dân da trắng. Tuy nước Mỹ có nhiều tiến bộ về cải tiến xã hội hơn nhiều nước trên thế giới, bài này đã có vài sự ca ngợi quá đáng về nước Mỹ; tác giả đã không chú ý về mặt đạo đức, mức tội phạm cao, nhà tù không còn đủ chỗ chứ tội phạm mới, phải thả tù trước kỳ hạn. Một điểm quan trọng đã không được nhắc đến là nền giáo dục chú trọng về kỹ thuật chuyên môn mà ít chú trọng đến giáo dục đạo đức nhân nghĩa. Kết quả là ít có nhân nghĩa giữa công nhân và chủ nhân các công ty; chủ nhân thường chỉ chú trọng vễ lời lỗ, cho công nhân nghỉ việc không nương tay khi muốn giảm chi phí điều hành, còn công nhân thì có công việc khác tốt hơn thì nhảy ngay qua công ty khác, không có nhiều trường hợp công nhân làm việc cùng một công ty gần suốt cuộc đời đến khi về hưu như ở Nhật Bản.

- 64 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
3.- Chúng ta không nên ngây thơ ngh rằng nước nghĩ Mỹ là nơi hoàn toàn có tự do và bình đẳng và mọi sự đều diễn ra rõ rệt theo những nguyên t đã ng tắc được nêu ra trong hiến pháp. Có nh n những thế lực không ra mặt như thế lực tư bản đang d dây n dựt đằng sau hậu trường chính trị và kinh t Những tế. nhóm người vận động hành lang ở Qu Hội Mỹ Quốc (lobbyists) phải chăng là chứng cớ hi nhiên của hiển sự “tham nhũng giữa ban ngày”? S tranh chấp a Sự gần đây giữa 2 đảng chính trị ở đây đ chứng tỏ họ đã cố chấp đến độ chỉ biết tranh dành quy hành t quyền pháp, lập pháp về cho đảng mình mà không k gì ng kể tới sự suy sụp kinh tế đang có ảnh hư nh hưởng khốn đốn đến đa số dân chúng và để cho s cách biệt sự giàu nghèo càng ngày càng xa, cho gi trung lưu giới không còn đích thực là trung lưu nữa. a. 4.- Điều quan trọng cho di dân mới đ là một xứ i đến sở bình đẳng về cơ hội; bạn có cơ h như bất cứ n hội ai nếu bạn có tài năng để thành công trong b cứ bất lãnh vực nào. Tuy nhiên muốn thành công thì ph n phải thực sự đem hết công sức và tài năng ra mà thi th c thố chứ không dễ dàng gì! Nên nhớ rằng gi hai thí ng giữa sinh cùng khả năng thì thường ngư da màu ng người muốn được chọn lựa phải có một phương di nào t diện đó trội hơn hẳn, đó là thực tế ở nhiều lãnh v u vực. 5.- Về phương diện tôn trọng cá nhân v những ng với quyền riêng tư thì tùy theo nhân sinh quan c mỗi ì của người mà có thể cho là tuyệt vời hay quá đáng! i Tuy nhiên sự tôn trọng quyền riêng tư có th đưa n thể đến chủ nghĩa cá nhân, thiếu thiện tâm ph n phụng sự xã hội và ảnh hưởng tới tôn ti trật t trong gia t tự đình, ví dụ như cha mẹ phải tôn trọng quy riêng ng quyền tư (privacy) của con cái khi các con còn thi kinh a thiếu nghiệm ở đời có thể đi vào đường sai l ng lầm mà cha mẹ không thể theo rõi và không biế để giúp đỡ ết ngăn chận. Điều này là một trong nh t những tập quán mà thế hệ di dân thứ nhất thường khó ch nhận, ng chấp tuy biết rằng con cái mình lớn lên và h hành, n học làm việc ở đây thì tập quán này đã m rễ trong ã mọc chúng nó. Trở lại với những người di dân đ nước Mỹ i đến một thời gian, khi các con đã học ra trư c trường và tự lo lấy thân thì ưu tiên của cha mẹ lại thay đ nay i đổi; thì nhu cầu về đời sống tâm linh có th là ưu tiên inh thể số 1. Thực sự nhu cầu này có thể đã có sẳn từ bao nhiêu năm nhưng đã bị cuộc sống vật chất lấn át, sau này nhờ có sựthư thả vềthời giờ và với tuổi đời chồng chất với
Tháp Bút Chì

nhiều kinh nghiệm sống mới nh chân được nhu i nhận cầu thiết yếu này. Không cần ph học hỏi và suy n phải gẫm nhiều lắm cũng thấy đượ rằng đa số đau khổ ợc ở đời đều có cùng một nguyên nhân là tham ái. t Tuy nhiên học là một chuyện, hành là m chuyện n, một khác, suy nghĩ chính chắn và l nói đi đôi với n lời việc làm không phải là chuy dễ. Cần phải học, chuyện cần phải hiểu và cần phải tu t để thanh lọc cái i tập tâm đầy ô nhiễm. Tu tập thì có nhi pháp môn và p nhiều tôn giáo nào cũng thường dạ làm lành tránh dữ. ạy Muốn theo một tôn giáo nào thì hãy tìm hi t hiểu, học hỏi về tôn giáo đó một cách c t cặn kẽ, nhất là phương pháp để thực hành. Theo m tôn giáo c một không phải là tin tưởng một cách mù quáng, nên t tìm hiểu, nghiên cứu giáo pháp, suy tư cho thông u suốt và tìm phương pháp thích h để tu tập. Tu ương hợp tập chỉ là tự sửa đổi cho t đẹp hơn trên con i tốt đường hướng thiện. Chẳng h bạn có nghe qua ng hạn về thiền quán, muốn hiểu v thiền quán thì nên u về tìm tòi, nghiên cứu kinh sách và tìm th học đạo u thầy hoặc ít nữa là tìm một thiện tri th giúp đở mình n thức trong bước đầu cho khỏi mất nhi thì giờ lạc lối t nhiều trong rừng kinh sách …Rồi ph tự mình suy tư, i phải tìm kinh nghiệm cho chính mình, không v tin m vội tưởng những gì mình chưa ch ưa chứng nghiệm, cho dù đó là những gì được giảng d từ kinh sách hoặc ng dạy

- 65 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
từ một vị thầy nổi tiếng. Có lẽ nhiều người đã nghe qua về thiền quán, tuy nhiên cũng đừng vội tin cái gì cả, phải tìm hiểu và thử áp dụng cho mình xem có được kinh nghiệm gì, thấy mình có tiến bộ gì không, xem mình có thực hành đúng phương pháp không, rồi hãy tiếp tục…Nói một cách thật đơn giản, tu tập theo thiền quán là một nghệ thuật sống, một nếp sống hằng ngày với sự giữ giới trong sạch, hành thập thiện, kiên trì giữ chánh niệm, thanh lọc tâm, phát triễn trí tuệ bằng định tâm và bằng sự trạch pháp (trạch pháp Pariyatti là pháp học, là học hỏi giáo pháp; pháp hành là giữ Giới, là Thiền Quán, là phát triễn Trí Tuệ; Thiền Quán ở đây là Satipatthana Vipassana, Thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ). Nói tóm lại, có người rời bỏ quê hương để tìm tự do, rồi định cư ở một nước có đầy đủ tiện nghi vật chất, cho đó là thiên đường và ngập chìm trong đó, tuy nhiên vẫn còn nhiều đau khổ do ham muốn, dính mắc của mình. Ở đây thì thương nhớ quê hương xứ sở mà trở lại cố hương để sống thì không hẳn là muốn vì bao nhiêu dính mắc ở xứ này hoặc vì quá nhiều sân hận ở quê cũ, rồi cảm thấy như bị tù túng, có cảm tưởng như bị bó buộc trong một cạm bẫy vô hình, không thoát ra được, tuy rằng trên thực tế, chẳng có ai bắt buộc mình ở lại xứ này! Đi tìm tự do, có được tự do, nay lại có cảm tưởng như rơi vào cạm bẫy, như mất tự do! Đây phải chăng là một thứ tự do khác? Là một thứ tự do không bị dính mắc bởi vô minh, thứ tự do thoát khỏi cạm bẫy của tham ái? của tiện nghi vật chất, tài sản, danh vọng, quyền lực? Thử nghĩ dính mắc vào những thứ này để làm gì? Thử hỏi khi rời bỏ kiếp sống này ta có mang theo được gì không? Tại sao không tìm một con đường để xả bỏ sự dính mắc, để thoát khỏi đau khổ, để được an lạc, thư thái … khi đã xả bỏ dính mắc, tìm được sự cân bằng của tâm (Equanimity)? Con đường giải thoát đó đã có từ hơn 25 thế kỷ trước và con đường này có nhiều người đã và đang bước đi.

“Nhân đạo ố doanh nhi háo Khiêm” 1- Đất và Núi Là đất hay núi? Trong Đất có Núi Là núi hay đất? Tượng Địa Sơn (*) ngàn năm không nói Tượng thành hình Nào Đất cao nào Núi Thấp? Nên một đời, mềm lòng chút chất ngất Mà Đạo Trời Nào ai Càn, ai Khôn Ai Khiêm, Dịch? 2- Đất là đất Mà đất là Núi Núi là núi, mà Núi hay Đất? Trong Đất có Núi, là đất hay núi? Tượng Địa Sơn ngàn ngàn năm không nói Kẻ sĩ, hề Thời thay thời, Khiêm chất ngất Quân tử, hề Đời đổi đời, Khiêm tân nhật Dâu biển hề, Ngàn ngàn năm, Khiêm còn hay mất?

Khiêm Dịch

hồ thanh ngạn
1998 (*) Tượng quẻ Khiêm trong kinh Dịch – Địa Sơn Khiêm.

Liễu Pháp
1/2012

- 66 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

KIM LONG-

ĐỒNG KHÁNH NG
TÂM HUỆ
Kim Long-Vỹ Dạ hai địa danh thân thương a đã được các văn nhân thi sĩ đề cập đ mỗi khi p đến nhắc về những cô gái Huế, phải chăng đó là bi i biểu tượng cho tính chất nhẹ nhàng, đoan trang c cũng như hai tiếng Tôn Nữ ẩn chứa tính đài các kiêu a sa?. Do tình cờ duyên phận tôi đư sinh ra và n được lớn lên trên mảnh đất nổi danh này, nơi đ i định đô thuở đầu của Chúa Nguyễn kể từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng “mang gươm đi m nước” ở n mở phương nam. Ái Tử (Quảng Trị) là nơi d ) dừng chân bước đầu trên con đường dựng nghi lâu dài ng nghiệp của nhà Nguyễn Gia Miêu ( 1558), có l vì phong n lẽ thủy không thuận lợi hay vì quá g với đàng i gần ngoài nên xu hướng dời Dinh xuôi Nam đi t thế i tìm đất như ý là nỗi băn khoăn của nhữ người kế ững vị?. Năm 1636 Chúa Thượng Nguy Phúc Lan ng Nguyễn chọn Kim Long đặt phủ Chúa, tới năm 1687 Chúa i Hiền Nguyễn Phúc Tần dời về Phú Xuân - Thành Nội Huế ngày nay- nơi đây cảnh quang đáp ứng nh nhãn quan mong ước nên trở thành th phủ xứ thủ đàng trong. Phường Kim Long ở tả ngạn sông Hương, t n từ chợ Đông Ba (chợ lớn chính của thành ph dọc a phố) theo tả ngạn sông Hương đi lên kho n khoảng năm bảy phút xe gắn máy, phường Kim Long n ng nằm khoảng giữa cầu Bạch Hổ và chùa Thiên M Phường có Mụ. nhiều xóm tôi không nhớ hết tên, ch biết mình ở t chỉ xóm Hạ Dinh, đầu xóm có sông Hương ch u chảy ngang, cuối xóm có nương vườn đồng ru ng ruộng (bây giờ chỉ thấy nhà cửa san sát mà thôi vì đã thành thị a hoá nông thôn). Từ ngoài đường cái, đường Kim Long, r ng rẽ vào xóm hai bên đường rợp bóng tre đan vào nhau p làm thành lối đi quanh năm r bóng mát, đang đi i rợp ngoài đường nhựa nóng bức khi r vào xóm như c rẽ có phép lạ tự nhiên cảm thấ người thoải mái lạ ấy thường, cơn nóng hấp người không còn n i nữa. Dân phố hay người từ nơi khác đ miệt vườn Kim đến Long lấy làm thích thú vì đã l vào một góc trời ã lọt riêng với cây xanh bóng mát tuy vời, có lẽ vua i tuyệt Thành Thái mến cảnh hữu tình nên th u thường viếng Kim Long đã chọn con gái nơi này làm th phi n thứ (Bà Nguyễn Hữu Thị Nga) và vua đ ban hai câu đã thơ còn truyền tụng mãi. “Kim Long có gái mỹ mi miều Trẫm thương, trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi” ớ Ngày trước chưa có cầu n hai bờ nên “sông u nối Hương lắm chuyến đò ngang”, xuôi theo giòng ò nước có các bến đò: Long Th Kim Long, Trường ò: Thọ, Súng, Thừa Phủ, Trường Tiền, Hàng Me, Đ Đá, n, Đập bến đò Cồn, Bến Cạn, Chợ Dinh; sau khi đã có cầu Trường Tiền rồi bến đò Th Phủ vẫn còn đưa ò Thừa học sinh QH-ĐK mỗi ngày mãi cho đến khi cầu i Mới nay là Phú Xuân thì bến đ này mới đi vào dĩ n đò vãng. Vẻ đẹp thướt tha của cô lái đ Kim Long a đò khiến nhà thơ Nam Trân xao xuy n xuyến. “Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phư nh phượng Cô gái Kim Luông yểu đi chèo u điệu Tôi xuống thuyền cô, cô ch n chẳng biết Rằng Thơ thấy Đẹp phả tìm theo ải …………………………………… Biết không? Cô hỡi biế không ết Chèo cô còn quấy, sóng lòng còn xao?” y,

- 67 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Đò dọc trên sông Hương, từ ngã ba Sình, nơi gặp gỡ sông Bồ, ngược giòng lên Kim Long, Tuần hay xuôi giòng ra đầm Thủy Tú, Phá Tam Giang để đến Đại Lược, Kế Môn, những câu mái nhì được vang vọng trong đêm vắng do các cô lái đò hò vừa làm vui tai khách vừa xua tan nỗi nhọc nhằn nghề nghiệp, tên Kim Long cũng được nhắc đến: “Thuyền về Đại Lược, Duyên ngược Kim Long, Đến nơi đây là ngã rẽ của lòng Biết còn gặp gỡ trên sông bến nào” Câu hò tuy mộc mạc nhưng ẩn chứa một tình cảm lưu luyến nuối tiếc khi đò “đến nơi đây” tại ngã ba Sình phải chia tay khách, “ngã rẽ của lòng” vừa là lòng sông vừa là lòng người vì từ Sình có thể đổi lòng sông ngược lên sông Bồ, sông Hương hay xuôi ra cửa Thuận An.Nhờ vậy mà gái Kim Long tụi tôi cũng được hãnh diện lây. Kim Long vùng đất gần thành phố Huế nhưng quanh năm sống với tre trúc, cây trái, với không khí trong lành hiền hòa, có lẽ vì thế nên dân tình cũng chất phác thật thà. Đoạn đường từ nhà đến trường chừng năm cây số đã đưa tôi đến với ĐK từ khi xong tiểu học ở trường làng Vạn Xuân. Thế là ngày hai buổi đi về trên đoạn đường này ròng rã bảy năm trời từ đệ thất đến đệ nhất bất kể nắng gắt hay mưa dầm đã ghi dấu kỷ niệm thời hoa niên của nhóm học trò miệt vườn Kim Long, xóm Hạ Dinh chúng tôi. Đường đất dẫn vào xóm khá dàì, rất may nhà tôi ở giữa xóm nên từ nhà ra đường nhựa không xa lắm nhưng cũng lắm nhiêu khê với đoạn đường này về mùa mưa lụt. Huế có hai mùa rõ rệt, tháng ba đến tháng tám nóng và oi bức, từ tháng tám đến tháng giêng, mùa mưa thường hay có bão lụt. “Trời hành cơn lụt mỗi năm…” Có những đợt mưa suốt ngày kéo dài cả tuần lễ nên đã có cụm từ dành riêng cho Huế “mưa thúi đất”. Nguyễn Bính đã kinh qua những ngày mưa Huế được ghi dấu qua thơ ông. “Giời mưa ở Huế sao buồn thế! Cứ kéo dài ra đến mấy ngày Mai đây bỏ Huế rồi quên Huế Quên được làm sao bữa rượu này” Những đợt mưa tầm tã kéo dài như thế thật là khổ sở cho bọn học sinh miệt vườn chúng tôi. Mùa mưa vẫn phải mặc đồng phục, áo quần dài thậm thượt phải xăn khéo để khi đến lớp xổ ra ít nhăn hơn. Đường đất trong xóm có nơi đã biến thành đất bùn phải cẩn thận hết sức khi đạp xe qua vùng đất sình mà bùn không dính chân, áo mưa có dính đôi chút nhưng trời cũng dội sạch cho khi ra khỏi xóm. Huế mình hay nói “mưa không ngớt”-mưa mãi không dứt cơn mưa- nhiều hôm mưa lớn quá Mạ nói “đợi chút xởn (bớt mưa) rồi hãy đi con!” Thương con gái nhỏ nhoi yếu đuối phải đội mưa mà đi nên Mạ nói vậy thôi chứ nghe lời Mạ thì trễ học mất. Xóm tôi có ba đứa cùng vào đệ thất một lần, tôi ở giữa xóm, Hà, Hoạch cuối xóm cùng kêu nhau đi học, năm đầu còn nhỏ Mạ chưa cho đi xe đạp, sáng nào ba đứa cũng cuốc bộ với đôi guốc mộc, chiều về mùa nắng không sao nhưng mùa mưa khoảng 6 giờ trời đã tối, cả ba đứa đều sợ không dám vào xóm vì vậy tối nào anh tôi cũng phải ra đầu xóm đón chúng tôi, tôi vô nhà trước anh còn nhiệm vụ đưa hai bạn về cuối xóm. Những hôm trời lụt mới thê thảm, nhà trường cho học sinh ở Đập Đá, Kim Long về trước, ba chân bốn cẳng chạy nhanh về vì sợ nước lớn nhanh, thế nhưng nhiều lúc về đến đầu xóm thấy nước sâu quá không lội vào nhà được đành phải đi nhờ xuồng của người quen để vô nhà. Năm lên đệ lục hơi lớn một chút, được đi học bằng xe đạp, ngày hai buổi đi về phải qua cầu Dã Viên, thỉnh thoảng có xe chạy qua phải chống chân ở thềm cầu hơi nghiêng mình về phía phải, xe qua rồi tiếp tục đạp đến Cầu Lòn rẽ trái đường Huyền Trân Công Chúa, dọc theo bờ sông An Cựu đến ga Huế quẹo trái qua Lê Lợi đạp thêm một đoạn nữa là đến trường. Sợ nhất là khi đạp ngang qua trường Quốc Học, các cậu học sinh nam đứng đầy bên đường để “nghễ” (ngắm) mấy O Đồng Khánh, nhỏ thì sợ mà lớn thì e thẹn nên lúc nào cũng sẵn sàng nón lá nghiêng che. Đứng rửa mắt

- 68 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
thì còn chấp nhận đằng này còn bàn tán phê bình ng la ó, búng dây thun. Những cụm từ “cho xin tí ừ mỡ” dành tặng mấy cô hơi tròn một chút, hay “em t đẹp quá”….buông ra vô tư từ nhóm nam sinh Quốc Học. Thiệt là nhất quỉ nhì ma th ba học thứ trò. Mới ngày nào là học trò trường làng g đây ng giờ chính thức là nữ sinh ĐK vơí đồng ph trắng vảỉ ng phục katé nhưng vì bản chất miệt vườn nên v rụt rè, n vẫn giờ chơi nhìn mấy chị đệ nhị cấp vớ aó lụa trắng ới mượt mà, dáng dấp thon thả, tóc xõa ngang l , lưng nhởn nhơ dạo chơi dưới nắng qua hàng phư ng phượng sao mà đẹp quá, oai quá, biết bao gi mình mới t giờ được vậy? Thế rồi theo thời gian, mơ ư cũng i ước đến, cũng lên đệ nhị cấp cũng mặc áo lụa mỏng, c cũng thi tú tài một rồi tú tài hai, rồi h nghề, ra i học nghề, giã từ tuổi dại để bôn ba với đ Bao nhiêu i đời. năm sống làm người lớn, lo cơm áo gạo tiền, lo bổn phận làm vợ, làm mẹ, bao kỷ ni niệm tuổi thơ như ngủ yên, nửa thế kỷ qua không có d khơi dịp dậy, đến tuổi về chiều, đầu óc thư th kỷ niệm u thả, xưa có dịp sống lại dần dần. Nhớ nh những lần Tổng thống từ thủ đô Sài Gòn về thăm Hu tất cả các Huế, cơ quan, công sở, học sinh các trường trên đư ng đường Lê Lợi chuẩn bị chu đáo đón chào T Tổng Thống đứng trên xe ô-tô cao đi giữa hai đoàn mô tô oai a vệ hộ tống. Vị Nguyên thủ quốc gia v tay chào. c vẩy Học sinh QH, ĐK đồng phục chỉnh t đứng hàng nh tề dài dọc theo hai bên đường trước trư c trường, tay phất cờ, miệng hoan hô “Ngô Tổng Thống muôn năm” ng - “VN Cọng Hòa muôn năm”. Tiếng hoan hô reo ng hò vang dậy cả một góc trời, mọi ngư hân hoan i người vui mừng vì được tận mắt nhìn thấ vị Nguyên ấy Thủ quốc gia của mình. Nhớ laị những buổi tập văn ngh để chuẩn bị p nghệ cho ngày lễ ở phòng Khánh tiết. Trong phòng s t. sẵn có đàn piano rất lớn, học sinh hầu h không biết u hết đàn nhưng tay chân tháy máy nên đ nào cũng đứa mò mẫm nhấn được mấy nốt căn bả độ, rề, mi, ản: fa, sol, la, si…đứa nào cũng hân h ũng hoan như vừa khám phá ra điều mới mẻ, niềm hạ phúc tuổi ạnh thơ thật đơn giản. Hằng năm nhà trường hay tổ ch trại hè cho chức học sinh sống gần với thiên nhiên. Có l đi trại i lần trên đồi Thiên An, không nhớ rõ năm đó h đệ ăm học thất hay đệ lục mà không thể tuột xu t xuống từ chiếc xe GMC cao ngồng làm cô giáo ph đứng dưới ng phải vớt từng đứa xuống. Điều khi một đám loai u khiển choai trong sinh hoạt ngoài tr thật là mệt cho các t trời Thầy Cô nhưng học sinh thì c vô tư vui chơi, nô c cứ đùa. Sống tuổi thần tiên thậ tuyệt vời! Ai cũng ật có một quãng đời đẹp để nhớ. Nh . Những năm đệ nhất cấp học với các cô Hạnh Phư nh Phước, cô Mộng Hà, cô Doãn, cô Yến, cô Lưu Ty không bao gi cười với n, giờ học sinh, cô nghiêm đến nổi ai c i cũng sợ giờ Anh văn của cô, đặc biệt giờ nữ công gia chánh c bà của Bửu Tiếp học sinh rất thích vì được học may vá thêu thùa, được học những đư ng đường thêu căn bản, biết mạng vá, được may những chi áo xinh xinh. ng chiếc Giờ gia chánh được thực hành làm k mè, kẹo c kẹo đậu phụng, bánh rơm, bánh nhúng…., làm xong ng, được chấm điểm theo nhóm, đư ăn thử còn chia m được nhau đem về khoe với gia đình th là thú vị. ình thật

Những năm đệ nhị cấ học Pháp văn với ấp Thầy Phạm Kiêm Âu, vị Thầ khả kính luôn luôn ầy với chiếc kính cận, Thầy đi d bằng xe hơi, ngoài y dạy kỷ luật nhà trường Thầy còn có k luật riêng rất y kỷ đặc biệt, hễ trò nào vào lớp sau lưng Th kể như p Thầy đi trễ, bị phạt, vì vậy lỡ đi sau lưng Th thì phải Thầy thật nhanh, chọn lúc Thầy quay lưng qu lên bục y quẹo giảng thì lẻn nhanh về chỗ ng ấy thế mà vẫn có ngồi, bạn bị Thầy bắt gặp. Còn n p. nữa, nếu bài dictée bị sai một từ, bài sau nếu sai từ đó nữa, bị faute signalée, Thầy phạt rất nặng. Th đó học trò nghĩ ng. Thời là Thầy khắc khe nhưng khi ra đ mới hiểu rằng c đời mỗi Thầy Cô đều có cách riêng đ làm cho học u để sinh tiến bộ. Cô Quế Hương dạy Công dân S Địa, phần y Sử kiểm tra bài của Cô cũng đặc bi đầu giờ cô hay c biệt,

- 69 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
cho vẽ bản đồ trầm (vẽ theo trí nhớ), và kiểm tra bài trên giấy, làm như vậy cả lớp đều phải động não, cô không chấm hết cả lớp. Hiện giờ Cô đang ở Houston, trưởng nhóm Phượng Vỹ, không cựu hs QH-ĐK nào mà không biết, phải nói là Cô giáo hoàn hảo, đẹp người, đẹp nết, dáng dấp sang trọng, quí phái, học sinh ĐK hầu như ai cũng thương qúi Cô từ khi còn học với Cô cho đến bây giờ tóc đã ngã màu thời gian, tình thương đó vẫn không phai mờ. Anh văn Thầy Kiên, triết Thầy Châu, Cô Ph.Chi, Thầy HPNTường, Thầy đã có hướng đi khác và hiện còn ở Việt Nam. Toán mỗi tuần một tiết với Thầy Diên nhưng chẳng học hành gì vì là môn phụ nên không ai bảo ai chỉ học tơ lơ mơ thôi. Mỗi lần nghe Cô Giám thị báo giáo sư vắng 2 giờ chót là cả lớp nhao nhao la ó lên rồi một bạn la lớn: đi xiné tụi bây ơi! thế là một nhóm năm sáu đứa hưởng ứng liền, nhanh tay thu dọn để cùng nhau đi, trong số thường ồn aò nhất là Liên Như, Tịnh Muội, Minh Lý và mấy bạn nữa…các bạn hầu hết sống hồn nhiên, vui tươi nhanh nhẹn, hễ có dịp là rủ nhau đi chơi đây đó, riêng tôi chỉ biết trường và nhà, không tham gia cuộc chơi cũng vì bản chất hiền, nhút nhát, không dám đi, “sợ Mạ la”, đi đâu cũng sợ vì vậy mãi cho đến bây giờ nhiều nơi, nhiều đường ở Huế tôi vẫn chưa biết, mang tiếng dân Kim Long Huế mà không biết tường tận về Huế, thiệt là tội nghiệp cho thân già này. Lớn lên biết hối tiếc mình đã quẳng đi tuổi teen một cách oan uổng, biết khôn thì sự đã rồi, nhái thơ TTKH thì: Đến khi tôi hiểu thì tôi đã Vuột mất tuổi thơ tự lâu rồi! Tuy vậy tôi vẫn hãnh diện là người Huế, xứ dân nghèo nhưng nhiều mộng mơ đã làm xao xuyến lòng du khách từ bao đời, là đề tài cho bao văn thi sĩ ca ngợi: “Mây vương khói chiều, xứ Huế đẹp yêu kiều, ngơ ngẩn hồn du khách những chiều xưa…”
- 70 -

Huế nằm ở dải đất hẹp miền Trung VN và là tỉnh lỵ Thừa Thiên. Huế vốn từng giữ vai trò trung tâm văn hóa chính trị của cả nước một thời, cố đô của VN thời phong kiến Triều Nguyễn (1802-1945). Dưới thời Pháp thuộc Huế mất hẳn vai trò này mà chuyển ra Hà Nội hoặc vào Sàigòn. Sau khi nước nhà qua khỏi chiến tranh, đất nước bị chia đôi, người Pháp rút về nước, chính quyền Quốc Gia đầu tiên ở Nam vỹ tuyến 17 vẫn chọn Saìgòn làm Thủ Đô. Tổng Thống Ngô Đình Diệm vốn là một người rất nặng lòng với Huế, đã cho xây dựng Viện Đại Học Huế để phục hồi lại vị thế văn hóa của Huế vốn bị lụi tàn kể từ 1920 sau khi Triều Đình Huế bãi bỏ thi hương (kỳ thi cuối ở Bắc năm 1915, ở Trung năm 1919). Dù khen hay chê, người dân Huế không thể phủ nhận tấm lòng này của ông. Ngày nay Huế có hai di sản thế giới được UNESCO công nhận: quần thể di tích cố đô Huế bao gồm hai cụm trong và ngoài kinh thành là di sản văn hóa vật thể thế giới vào năm 1993, mười năm sau (2003), nhã nhạc cung đình Huế được công nhận là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Giòng sông Hương chảy qua tạo ra sự hấp dẫn mạnh mẽ về quang cảnh thiên nhiên. Có dịp dạo chơi sông Seine ở Paris, và sông Thames ở Luân Đôn, thấy nước hai sông này (ngay cả sông Danube bleu) không trong xanh như sông Hương, thêm nữa kiến trúc nhân tạo mềm dịu mượt mà của giòng sông, một giòng sông chảy giữa hai vách bê-tông thấy nó gò bó cứng cỏi làm sao ấy, không thanh thoát uyển chuyển như giòng Hương Giang. Dòng sông xinh đẹp đã khiến đại thi hào Nguyễn Du phải thốt lên: Hương giang nhất phiến nguyệt Kim cổ hứa đa sầu (Một mảnh trăng dòng sông Hương Kim cổ sầu vấn vương) Có lẽ vì vậy mà dòng sông Hương đã để lại trong lòng du khách phương tây một ấn tượng tươi mát thú vị.

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Huế có hai trưòng Trung học nổ tiếng: Quốc ổi học và Đồng Khánh, nơi đã đào tạo bi bao thế hệ o biết HS trở thành công dân hữu dụng đã làm r ã rạng danh nước nhà. Cũng nên sơ lược vài nét v ngôi trường c về mà tôi đã được vinh dự học thời trung h nơi đã i học, ươm mầm kiến thức căn bản chuẩn b hành trang n bị vào đời. Trường ĐK trẻ hơn trường QH vì thành ng lập sau khoảng 20 năm. Hai trường QH, ĐK đ ng đều tọa lạc trên công thổ của trại Thủy Binh võ doanh y Thủy Sư nhà Nguyễn, cách nhau b đường n, bởi Nguyễn Trường Tộ. Phía trước trườ là đường ờng Lê Lợi, thời Pháp là đường Jules Ferry, l đường ng lề lót bằng ciment đúc thành ô vuông, d đường có ment dọc hàng cây long não xanh mát chạy dài xu y xuống gần cầu Trường Tiền. Bờ sông trước trườ được biến ờng cải thành vườn hoa có ghế đá với giàn hoa nhi i nhiều màu khá xinh và thơ mộng. Vị trí c trường của tuyệt hảo!, trước sông sau núi, bên kia sông là k kỳ đài sừng sững, lá Quốc kỳ tung bay h hằng ngày như nhắc nhủ học sinh gái cũng như trai đ ư đừng bao giờ quên nhiệm vụ đối với giang sơn đất nư t nước. Lễ đặt đá xây dựng ngày 15/7 năm 1917 - khánh thành sau hai năm - với sự hiện diện của vua Kh Định, a Khải Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut. Trong n buổi lễ này vua Khải Định đã cho đặt xu t xuống móng ngôi trường một số hiện vật làm k niệm, gồm t kỷ một cái hộp kim loại chứa 10 đồng Kh Định ng Khải thông bảo và hai tờ giấy ghi biên bản bu lễ bằng n buổi tiếng Pháp. Theo thời gian trường đư mang ng được nhiều tên gọi khác nhau. Từ 1919-1954, trường mang tên Cao Đ ng Đẳng tiểu học Đồng Khánh. Trường ban đ là Tiểu ng đầu học, trở thành Trung Tiểu Học lấy tên là Collège y Đồng Khánh. Từ 1955-1975, trường đổi thành N Trung i Nữ Học Đồng Khánh gồm đệ nhất cấp và đ nhị cấp. p đệ Sau 1975, trường mang tên trường c 3 Trưng ng cấp Trắc. Từ 1981 đến nay, trường lại đư đổi tên i được thành THPT Hai Bà Trưng. Kiến trúc của trường tương tự như QH, hai bên có dãy nhà lầu, giữa có nhà chơi. Trư a Trường cũng sơn màu hồng tím nhưng dáng d thanh nhã ím dấp hợp với bản chất phụ nữ hơn. Thờ Pháp thuộc ời trường được đặt dưới quyền quản tr của ngươì n trị Pháp. Hiệu trưởng có các Bà Le Bris, Cô ng Mauriege, Bà Martin. Khóa Trung h đầu tiên học năm 1920 và tốt nghiệp năm 1924 g p gồm có 8 Bà mà tên tuổi ở Huế được nhiều ngư biết, gồm các u người Bà Bùi Xuân Dục, Bà Ưng Thuyên, Bà Nguy c, Nguyễn thị Du, Bà Phạm doãn Điềm, Bà Tôn N Thị Sâm, m, Nữ Bà Nguyễn Văn Kiệt, Bà Tôn N thị Liêm. Khóa t, Nữ hai có các Bà Đinh văn Vinh, Bà Thân Tr Trọng Phước; khóa bốn có Bà Võ văn Qu ăn Quế. Đến năm 1956 Tiểu học đư bãi bỏ, chỉ còn c được bậc Trung học và từ đó mang tên N Trung học Nữ Đồng Khánh. Những năm đầ tiên của trường, nữ ầu sinh mặc đồng phục màu tím nên trư c trường được gọi là trường Áo Tím, về sau đ đồng phục được đổi thành màu xanh nước biển cho mùa mưa, và màu n trắng cho mùa nắng.

Dưới thời Pháp và ngay c trong giai đoạn i cả đầu nước nhà tự chủ, trường ch có Trung học Đệ ng chỉ nhất cấp, từ Đệ Tam trở lên n sinh Đồng Khánh nữ nếu muốn theo học Đệ nhị cấp phải qua học tại trường Quốc Học nhưng dần d vì nhu cầu gia n dần tăng, các lớp đệ Tam, đệ Nh được mở thêm và Nhị niên học 1962-1963 là niên h cuối cùng nữ sinh 1963 học Đồng Khánh qua học Đệ Nhị cấp tại Quốc Học. QH&ĐK có nhiều gắn bó v nhau: Nữ sinh n với ĐK qua học tại QH, Giáo sư QH có m số qua i một dạy tại ĐK. Trường sở ĐK m thời gian ngắn một chia sẻ cho trường QH trong th kỳ trường QH bị ng thời quân đội viễn chinh Pháp trú đóng năm 1946. n Nhưng sự tương quan không ch có từng ấy, các chỉ nữ sinh ĐK bình thường với v bề ngoài duyên i vẻ dáng có khi rụt rè trong chi aó dài màu tím, t chiếc xanh, trắng nhưng khi cần có th trở nên những n thể

- 71 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
con ngưòi cân quắc, gan dạ, một số không nh đã nhỏ góp sức với nam nhi nhen nhúm ng lửa đấu i ngọn tranh ở miền Trung qua những bãi khóa, bi tình, ng biểu đứng lên đòi ân xá cho những chí s Cách mạng ng sĩ như: Phan bội Châu, Phan Châu Trinh. Khi đ i đất nước lâm nguy, một số nữ sinh ĐK c cũng như QH đã hiên ngang vác súng lên đường ch ng chống ngoại xâm. Điều cần phải nhấn mạnh là trư nh trường ĐK trong vị thế là trường nữ TH có uy tín vào b bậc nhất ở miền Trung, đã đào tạo những ph nữ sáng ng phụ giá, làm mẹ hiền, làm vợ kiểu mẫu và làm công u dân xứng đáng, góp phần không nhỏ cho đất nước và xã hội. Cũng như trường QH, trư ng trường ĐK đã tạo nên một truyền thống cao đẹp, nhi nữ sinh p, nhiều thế hệ trẻ luôn tỏ ra xứng đáng với các th hệ đàn i thế chị, xứng đáng với công lao dạy dỗ của các thầy ỗ cô. Trong số những người đã góp ph tạo nên ã phần truyền thống ấy cần phaỉ kể đến các v Giáo sư và n vị Hiệu trưởng nhà trường. Nhắc lại lịch sử Đồng Khánh t là một lần ng tức nữa xác định vai trò quan trọng của trư a trường trong việc gầy dựng địa vị xứng đáng của ph nữ trong a phụ xã hội Việt Nam. Đề tài Nữ sinh Đ Đồng Khánh được một số nhạc sĩ, nhà thơ khai thác. à “Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi, cô đi v ng về đâu tan buổi học rồi. Cô xuôi Đập Đá hay v Nam p về Giao. Cô về Bến Ngự hay về Đông Ba. Cô về Vỹ Dạ hay ngược Kim Long….”(Thu Hồ) ồ) Hay những vần thơ dễ thương như: Nữ sinh Đồng Khánh daọ chơi. Phấn thông vàng rải ngát trời Thiên An i Trống trường Đồng Khánh vừa tan. a Trên đường Lê Lợi từng đàn bư ng bướm bay…(Mai văn Hoan) Giờ thì nhớ nhớ, quên quên, bi bao kỷ , biết niệm tuổi hoa niên đã theo thời gian đi vào quên i lãng, phần vì tuổi tác, phần vì quá nhi truân n nhiều chuyên, trải qua bao biến cố, giờ ch còn lưu lại chỉ đôi chút trong trí nhớ còm cõi của tu xế chiều, a tuổi vừa vui vừa hãnh diện, vừa nuối ti thời niên i tiếc
- 72 -

thiếu ở Huế phải đội mưa lội l để đến trường là i lụt một phần niềm vui của tuổi già, nhưng không th i thể sống mãi với kỷ niệm xa xưa mà ph quay về với m phải hiện tại, giờ này cần tĩnh tâm, l ĩnh lắng lòng nghe kinh kệ để tâm hồn luôn thanh th n thản, sống vui, sống khoẻ với tuổi đời ở ngưỡng cử thất thập này. ửa Ngày nay lưu lạc xứ ngư mỗi khi thoáng người nghe giọng Huế câu hò Huế hò mái nhì, hò giả ế: gạo hoặc thoáng thấy hình ảnh sông Hương, y Hoàng thành, Cung Điện trong Đ Nội, cổng n Đại trường Đồng Khánh…những k niệm xưa cũ ng kỷ thoáng hiện về, lòng nhớ Huế lại nổi lên khiến nao ế nao buồn. Để kết thúc đoản văn này, có m vần thơ n mấy cống hiến bạn đọc: Hối tiếc làm chi tuổi thi thời i thiếu Chỉ đem sầu muộn tuổ già thôi ổi Tâm sự giãi bày lên gi trắng i giấy Góp nhặt đôi điều để b vui bạn Sacramento, cuối thu 2011 Tâm Huệ

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Phía trước mặt
Nguyên Trinh Chưa một lần gặp chị Chẳng bao giờ thấy em Như hôm nay quá khốn đốn ưu phiền Ôm cuộc sống cõi còm trên thân xác Khổ đau nào làm em lưu lạc Bỏ phố phường xa tiếng hát làng quê Đến nơi đây sống ngày tháng lê thê Mười tám tuổi em chưa hề biết thẹn Mười tám tuổi đâu là nơi hò hẹn Ngày lại ngày hai buổi giữa rừng hoang Mót củ khoai, bới củ sắn, nhặt trái ngô vàng Quanh đống rác của tù nhân vừa trút bỏ Kìa bình nhựa, túi ni lông kìa chai lọ lông, Là món quà hạnh phúc của tuổi xuân Tôi nhìn em từ manh áo đến chiếc quần Đã rách nát tã tơi như tàu chuối Em nhìn tôi nở nụ cười vô tội n Rồi thầm thì chú còn chút cơm ngô Tôi tưởng chừng nghe tếng h líu lo hót Đang giục giã hồn tôi mau đứng dậy Phải làm gì khi tôi đã thấy Và nói gì đây lúc bóng chị nhạt nhoà Năm mươi tuổi sao chị quá già Chị già hơn cả mẹ Chị khô cằn nhăn nheo nứ nẽ nứt Như hạt ngô còn sót lại ngoài đồng ô Tôi định hỏi nhưng sợ chị mũi lòng Khi nhắc lại làng quê xóm cũ Tôi biết chị đã mang nhiều đổ vỡ Với nỗi buồn dấu kín đáy lòng sâu Với hận thù chất ngất tận trời cao Điều đó chưa bao giờ chị nói Cả em cũng chẳng hề nhắc tới Nhưng tôi thấy rồi trong mắt chị trong mắt chị, em Tôi nghe rồi những tiếng thở dài vang dội giữa rừng đêm Khi bóng quỉ hiện về đe doạ n Sắp hết rồi chị ơi những ngày đày đoạ Tuổi xuân em dù vất vã dập dồn Ta sẽ san bằng và đứng dậy cao hơn Giữ vững niềm tin nuốt căm hờn mà đứng dậy Có chị, có em, có tôi, chúng ta vững chải Quyết một lòng đánh bại kẻ thù chung Ta đứng lên tiến bước đến cùng Phía trước mặt là một vùng đất hứa NGUYÊN TRINH Xuân Lộc
- 73 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Nguyên T Tử và Hoà Bình
Lê Trung Hiếu Chỉ còn vài ngày nữa, chúng ta tr qua thập a, trải niên đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba. Ki thức Kiến của loài người đã tạo nhiều thành qu trong các u quả lãnh vực khoa học, kỹ thuật, nghệ thu pháp lý, thuật, triết lý và nhân văn trong suốt hai mươi th kỷ. t thế Trong những thập niên cuối cùng củ thế kỷ 20, ủa chúng ta chứng kiến sự tan rã của Liên Ba Xô a Bang Viết và khối Varsovie ở Châu Âu, s thành tựu sự của Liên Hiệp Quốc trong việc giải quy các cuộc i quyết chiến tranh chủng tộc ở Tiệp Khắc và Nam Tư, c dàn xếp các cuộc xung đột gìữa các lãnh chúa ở a Phi Châu. Hầu hết các nước đều hy v u vọng sẽ sống bình an và thế giới sẽ hoà bình trong th kỷ 21. thế Nhưng những sự kiện về hải tặc ở vùng Sừng Châu Phi, biến cố 9/11 do bọn khủng b gây ra ở ng bố New York, cuộc tấn công của Mỹ vào Afganistan và Iraq, Trung Quốc bành trướng thế lực quân sự ế ở vùng biển Nam Hải, chiến tranh g n giữa Nga và Georgia và việc Bắc Hàn và Iran ch tạo bom c chế nguyên tử cho thấy bản chất hiếu chi của số u chiến đông dân tộc không thay đổi từ khi hình thành xã hội loài người cho đến ngày nay. Tuy nhiên, bên n cạnh nhược điểm này, chúng ta vẫn th có những n thấy cá nhân hay tổ chức tìm kiếm nhữ biện pháp ững ngăn ngừa thế giới sụp đổ vì một cuộ chiến tranh ộc nguyên tử và xây dựng một nền hoà bình v n vĩnh cữu cho nhân loại. Nói đến bom nguyên tử, mọi ngư đều nghĩ i người đến Albert Einstein, nhà bác học tìm ra công th c thức đơn giản về năng lượng E= mc2 . Đ hiểu công Để thức này, ta đi ngược dòng lịch sử. Einstein sinh ở thành phố Ulm, nư Đức, nước vào năm 1879. Vào năm 12 tuổi, ông ta có tham i, vọng giải đáp câu hỏi khó hiểu về “thế giới vĩ ề đại”. Bất hạnh thay, học vị của ông ta không cao, a nên phải rời trường vào năm 15 tuổi. Ông ta mài i.

công nghiên cứu và tốt nghiệ đại học với chuyên ệp khoa toán vào năm 1900. V một nỗ lực phi Với thường trong vòng bốn năm sau ông ta công b n bố nhiều nghiên cứu về các vấn đ nan giải của thế n đề giới, và trở nên nổi tiếng vào năm 1905. Ông ta ng đã thành công khi giải thích thành ph ánh sáng, i phần điều này đã không được đáp ứng trong suốt ba thế c kỷ. Theo Einstein, ánh sáng do nh . những photons cấu thành, những photons này có tính ch như những ng chất làn sóng và có lúc hoạt động như nh ng những particles. Ngoài ra, ông cũng giải thích th đáng một vấn i thỏa đề gây bối rối cho giới khoa h i học, đó là hiệu quả photoelectric (photoelectric effect): s gỉải phóng sự electrons ra khỏi vật chất bằng ánh sáng. L luận ng Lập của ông có tính cách thuy phục vì nó được a thuyết chứng minh bằng toán học. Cuộc nghiên cứu thứ ba là c một cuộc cách cả mạng gọi là Lý Thuyết Tương Đ Đặc Biệt t Đối (Special Theory of Relatively). Einstein nói: N Nếu ta có thể cho rằng tốc độ của ánh sáng luôn luôn giống nhau và những quy lu về thiên nhiên cố ng luật định thì cả thời gian và sự chuy động là tương chuyển đối đối với người quan sát. Ông đưa thí d Trong i dụ: một cái thang máy, khách đi không ý th được t thức thang máy đang đi lên hay đi xu xuống, ngoại trừ, có lẽ cái bao tử của khách nếu thang máy ch rất u chạy nhanh. Hành khách trên hai chuy tàu lửa tăng chuyến tốc sẽ không nhận ra toàn b tốc độ của hai tàu, n bộ nhưng họ chỉ nhận ra tốc độ tương đối của chúng

- 74 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
khi một trong hai con tàu chạy hơi ch y chậm hơn, và từ biến mất trong tầm mắt. Einstein tri khai Lý t. triển thuyết Tương Đối Đặc Biệt. và đưa ra L Thuyết t. Lý Tổng Quan Về Sự Tương Đối vào năm 1916. Ô i Ông cho rằng trọng lực không phải là sức hút c quả c của đất như Newton khẳng định, mà là m trường sức nh, một hút hình cong trong chuổi liên tục không gian c gian-thời gian (a curved field in a space-time continưm) do time sự hiện hữu của khối vật chất tạo ra. Ngư ta có o Người thể thử nghiệm ý tưởng này bằng cách đo đ ng độ chệch hướng của ánh sao khi nó đi ngang qua và a gần mặt trời trong thời gian nguyệt th (eclipse). t thực Einstein tiên liệu độ chếch hướng này g hai lần ng gấp độ chệch hướng đo theo luật Newton. t Ngày 29 tháng 5 năm 1919, Hộ Hoàng Gia ội Anh cho một chiếc tàu thủy đến Vịnh Guinea th nh thực hiện cuộc thí nghiệm về lý thuyết này. K quả t Kết cho thấy sự tiên liệu của Einstein hoàn toàn đúng, a tức khắc ông nổi tiếng trên thế giới, và chi i, chiếm giải Nobel về Vật Lý vào năm 1921. Nhưng đi ông ăm điều quan tâm hơn cả là phúc trình năm 1905 v sự ăm về tương đương giữa khối lượng và năng lư ng lượng được thế giới chấp nhận. Ông diễn tả sự tương đương này bằng công thức: năng lượng E củ vật chất có ủa khối lượng m bằng tích số của khối lư i lượng m nhân với bình phương tốc độ (cố định) c ánh sáng. nh) của Tốc độ này cũng là tốc độ của sóng đi từ trường a điện (propagation of electromagnetic waves) trong không gian, nó lên đến một con số rấ lớn 300.000 ất kilometres/giây. Bình phương con s này rất vĩ ương số đại. Chỉ cần một khối lượng vật chấ rất nhỏ nằm ất ẩn trong một năng lượng khổng lồ cũng đủ giết chết hàng trăm ngàn người. Đây là đi Einstein i. điều không bao giờ mong muốn xảy ra. Einstei n là một người mưu cầu hoà bình cho thế giới. Ông ghét chiến tranh. Sau năm 1918, ông sợ chiến tranh tái diễn nên cổ động ý tưởng hình thành m chính phủ thế giới ng một để giải quyết mọi xung đột gi các nước. Nhưng t giữa ông không đem lại tác dụng. Khi Hitler nắm quyền lãnh đạo nước Đức n vào năm 1943, Einstein từ b quốc tịch Đức và bỏ chạy trốn sang Mỹ. Tại đây, ông ti tục làm việc i tiếp trong khuôn khổ Lý Thuyết T t Tổng Quan và tìm kiếm phương thức để hóa gi cơn thịnh nộ giữa giải các cường quốc. Đến năm 1939, ông bi tin hai n biết nhà vật lý Đức đã thành công tách atom c chất ã của uranium, chỉ cần tốn một khố lượng nhỏ cũng đủ ối tạo thành năng lượng. Ông ta nghi ra rằng chiến ng. nghiệm tranh không chỉ là một nguy hi t hiểm. Với sự thúc dục của nhiều đồng nghiệp, Einstein vi một lá p, viết thư cho Tổng Thống Franklin D. Roosevelt. ng Lá thư rất đơn giản nhưng t một uy lực to n tạo lớn. Ông mô tả cuộc thí nghiệ của người Đức và ệm thành quả của cuộc thí nghiệ đã được giới khoa ệm học Mỹ xác nhận đúng. Ông ta d báo Châu Âu n dự sẽ lâm vào tình trạng chiến tranh. Trong tình n huống một loại vũ khí đặt trên căn b của sự nổ t bản atom của uranium sẽ gây ra thi hại đáng kể cho thiệt toàn thế giới. Ông mạnh d khuyến cáo Tổng nh dạn Thống Rơsevelt “đặc biệt quan tâm, và n cần t nếu thiết phải hành động nhanh chóng”. ng Tổng Thống Rơsevelt vi thư trả lời với một ng viết phong thái lễ độ và quyết định xúc ti một dự án nh tiến khoa học đắt giá nhất và to l nhất ngay tức thì. t lớn Dự án lấy tên là The Mahattan Project và kh sự y khởi với một cơ sở nghiên cứu trị giá 6 triệu USD vào ị tháng 2 năm 1940. Tổng số chi phí lên đến 2 tỷ USD. Nước Mỹ tham chiến sau khi Nh Bản tấn n Nhật công Pearl Harbor vào lúc cu năm 1941. Tính cuối cho đến năm 1943, hoạt động c dự án hoàn toàn ng của mang tính cách lý thuyết, nhưng vào kho t, khoảng đầu năm 1943, cơ quan này bắt đ lập kế hoạch để t đầu thử nghiệm việc cho nổ một qu bom. Vụ nổ xảy t quả ra tại căn cứ không quân Alamagordo ở về phía Nam của Albuquerque, thủ đô c tiểu bang New của Mexico, vào ngày 16 tháng 7 năm 1945. Cu thử Cuộc nghiệm hoàn toàn thành công, s nổ của quả bom m sức tương đương với 20,000 tấn TNT. Qu bom tàn n Quả phá thành phố Hiroshima đượ thả sau đó ba tuần, ợc vào ngày 6 tháng 8 năm 1945.

- 75 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Einstein vừa sung sướng vừa đau lòng. Quả bom ở trong tay của Hitler, sẽ đưa thế giới tự do vào tận thế và chủng tộc Do Thái sẽ bị xóa sạch. Einstein dành mọi nổ lực làm cho cơ quan Liên Hiệp Quốc vừa mới được thành lập trở thành công cụ phục vụ hòa bình vì ông sợ bom nguyên tử sẽ lại được sử dụng mà không có lý do chính đáng. Sự tàn phá của bom nguyên tử dạy cho nhân loại bài học gì ? Bom nguyên tử chấm dứt thế chiến thứ hai. Công hiệu của quả bom thúc đẩy nhà cầm quyền Liên Bang Xô-Viết thực hiện chế tạo một quả bom cho riêng mình. Để phản ứng lại, Mỹ chế tạo bom khinh khí (hydrogene) hay bom thermonuclear.chỉ cần kích động một số ít nhân( nucleic) của atom cũng đủ gây ra sức nổ thay vì toàn bộ như qủa bom tàn phá Hiroshima. Cuộc chạy đua chế tạo vũ khí hạt nhân lan rộng, hiện nay ngoài Mỹ, Nga, Anh ,Pháp còn có thêm Trung Cọng, Ấn Độ, Pakistan, Brazil, Do Thái, Bắc Triều Tiên. Iran đang ráo riết tinh luyện chất uranium. Diễn tiến phát triển vũ khí nguyên tử của các nước cho ta thấy chế tạo vũ khí nguyên tử vẫn còn là một tham vọng của nhiều nhà lãnh đạo quốc gia trong mưu đồ thôn tính các nước khác. Tính đến năm 2011, trên thế giới có tám nước thành công trong việc chế tạo vũ khí nguyên tử: (1)Năm nước tham gia Nuclear NonProfileration Treaty (NPT) bao gồm Mỹ, Nga (kế tục Liên Bang Sô-Viết), Anh, Pháp và Cọng Hoà Nhân Dân Trung Quốc; (2) Ba nước không phải là thành viên của NPT đã thử nghiệm bom nguyên tử: Ấn Độ, Pakistan và North Korea. Israel bị nghi ngờ đã sản xuất vũ khí nguyên tử trong khi Iran và Brazil đang ráo riết chuẩn bị thử nghiệm. Thống kê dưới đây cho thấy tổng số vũ khi nguyên tử sẵn sàng sử dụng và năm thử nghiệm của các nước kể trên: Mỹ Nga Anh Pháp China Số vũ khi nguyên tử Năm thử nghiệm 1,950 1945 2,430 1949 160 1952 290 1960 ~180 1964 Ấn Độ Pakistan Triều Tiên N.A N.A. N.A. 1974 1988 2006

Một nước không công bố khả năng nguyên tử là Israel. Dư luận cho rằng Israel có từ 80-200 vũ khí nguyên tử. Một nước đã phát triển rồi hủy bỏ việc sản xuất vũ khi nguyên tử là Nam Phi (South Africa). Nguồn dữ kiện Wikipedia, the free encyclopedia, 2011). Trung Quốc là một hiểm họa nguyên tử vì nước này không công bố rõ ràng về sự an ninh chung trên thế giới, chỉ mập mờ nói rằng họ không sử dụng trước. Mục tiêu của phi đạn nguyên tử chỉa vào lãnh thổ hai nước Mỹ và Nga. Mỹ đã chuyển giao vũ khí nguyên tử cho các nước Châu Âu thuộc khối NATO: Bỉ, Đức, Ý, Hòa Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Mỹ cũng triển khai vũ khí nguyên tử ở Canada năm 1984, Đại Hàn (South Korea) 1991, Hy Lạp 2001. Đa số những nước thuộc khối Liên-Xô cũ đã tồn trữ vũ khí nguyên tử: Belarus thừa hưởng 81 hỏa tiển sau khi Liên Xô sụp đổ, Kazakhstan có 1400 vũ khí nguyên tử, nhưng đã chuyển giao tất cả số vũ khí này cho Nga. Ukraine thừa hưởng 5,000 vũ khí nguyên tử sau khi độc lập vào năm 1991. Đến năm 2006, Ukraine cho tháo gở tất cả vũ khí nguyên tử đặt trên lãnh thổ của họ và chuyển giao tòan bộ cho Nga. Các nưóc Belarus, Kazakhstan và Ukraine đều là thành viện của NPT. Tiến bộ khoa học-kỹ thuật đè nặng lên tâm linh của nhân loại với việc ngấm ngầm hăm dọa tiêu diệt thế giới một khi cuộc chiến tranh hạt nhân xảy ra. Có thể nói rằng kho vũ khí hạt nhân của các nước nêu trên có khả năng tiêu diệt toàn cầu. Không những con người bị giết chết mà tất cả loài heo, chó, mèo, nhện và chuột cũng bị diệt chủng. Có lẽ chỉ còn loài gián (cockroaches) may ra sống sót. Sử dụng ưu thế của mình để tiêu diệt dân tộc khác diễn ra từ hai ngàn năm nay. Điển hình là đế

- 76 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
quốc Mông Cổ bành trướng lãnh thổ từ Á châu sang Âu châu nhờ áp dụng những biện pháp tàn bạo và binh lính thiện chiến có tài bắn cung và cỡi ngựa. Theo cuốn Marco Polo From Venice to Xanada, Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) là một người tàn bạo, biết cách điều khiển tướng lãnh dưới quyền. Khi đánh chiếm Trung Hoa, ông ta ra lệnh cho binh lính sử dụng máy bắn đá khổng lồ (giant slingshot) để phá thành hay tung xác người chết vào nơi đông dân cư, và “đôi khi lấy mở người bị giết đốt lửa rồi bắn vào thành. Những ngôi nhà bị cháy vì thứ mỡ này không thể nào dập tắt được ngoại trừ rượu. Nhưng không ai nghỉ đến điều này khi hỗn loạn.” Đào tạo hay sử dụng nhân tài của các nước khác về khoa học kỹ thuật cũng nằm trong tham vọng toàn trị của những nưóc mạnh. Ý đồ này xuất hiện từ thuở xa xưa, nhưng vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Lịch sử Việt Nam cho phép ta minh chứng của luận cứ này. Nhà Minh đem quân đánh chiếm nước ta vào năm 1407, Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thương và Hồ Nguyên Trừng bị bắt đem về Tàu. Theo cuốn Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển của G.S. Trịnh VânThanh, Hồ Nguyên Trừng, “là người đầu tiên sáng chế ra loại súng trọng pháo, làm rạng rỡ cho người Trung Hoa về việc phát minh ra thứ khí giới hạng nặng trước nhứt trên thế giới. Ông là con trưởng của Hồ Qúi Ly và khi họ Hồ thất cơ bị bắt sang Tàu. Nơi đây ông sáng tác tập ‘Nam Ông Mộng Lục’ rất có giá trị về văn chương.” Theo cuốn “Nhìn Lại Sử Việt của ông Lê Mạnh Hùng, “Hồ Nguyên Trừng sau khi bị bắt về Minh được triều Minh dùng lên đến chức Công Bộ Thị Lang, đóng góp vào việc xây Vạn Lý Trường Thành, và Binh Bộ Thượng Thư cầm đầu quân đội nhà Minh.” Lý giải bản chất hiếu chiến và tham vọng của con người, ta thử tìm câu trả lời cho câu hỏi sau đây : “Phải chăng chiến tranh hoặc óc thống trị tìm cách khuất phục các dân tộc yếu kém là sự say nghiện của giới lãnh đạo những nước mạnh mẽ hơn và phồn thịnh hơn” Qua lịch sử hiện hữu của loài người trên quả đất, ta thấy loài người không bao giờ thích chiến tranh. Theo các nhà nhân chủng học chuyên khảo cứu thời cổ đại (paleonthologists), 35,000 năm trước B.C, những người đàn ông giải quyết tranh chấp với nhau theo cung cách của loài vượn cao cấp hiện nay (apes). Có sự xung đột trong loài vượn này nhưng không bao giờ có chiến tranh. Cũng có đôi khi chúng giết hại lẫn nhau do sự tình cờ nhưng rất hiếm. Các nhóm vượn không bao giờ hợp tác với nhau để chủ động giết một nhóm vượn nào đó. Cách giải quyết sự xung đột giữa những người tiền sử cũng tương tự như cách của loài vượn. Sự chết chóc có thể xảy ra nhưng không do ý chí chủ động. Không ai biết sự kiện này xảy ra từ lúc nào. Khoảng 35,000 năm trước đây có hai chủng tộc loài người được xác định. Một chủng tộc gọi là Homo sapiens được chia thành hai giống: Neanderthal Man và Cro-Magnon Man. Một số nhà nhân chủng học khảo cứu cổ đại tin rằng giống người Neanthermal Man có hai đặc tính là cổ xưa hơn và hiếu hoà hơn giống người CroMagnon Man. Hầu như có sự xung đột trầm trọng giữa hai giống người này, và sau cùng giống người Cro-Mgnon Man chiến thắng. Giống người Neanthermal Man bi tiêu diệt. Ngày nay tất cả các dân tộc trên thế giới đều là hậu duệ của giống người Cro-Magnon Man. Vậy thì có phải giống người này say mê chiến tranh như toàn thể các chủng tộc trên thế giới hiện nay không? Không ai biết. Tuy nhiên, vào năm 5,000 B.C., chiến tranh lan tràn giữa các xã hội loàì người. Đến cuối thế kỷ 20, hầu như chiến tranh vẫn còn lan tràn trong những cộng đồng dân tộc. Nếu không có giải pháp cho vấn đề thì bản chất hiếu chiến của các chủng tộc vẫn không thay đổi trong suốt 7,000 năm. Vậy thì nếu chiến tranh thế giới xảy ra trong thế kỷ 21, các dân tộc sẽ đi về đâu ? Hiện nay, ngưòi ta phân chia ba loại chiến tranh: chiến tranh giới hạn (limited war), nội chiến (civil war) và chiến tranh toàn diện (total war). Có nhiều lý do để gọi một cuộc chiến tranh là chiến tranh giới hạn. Trước tiên, tài nguyên dành cho những người chiến đấu bị giới hạn. Tính cách này hạn chế được những thiệt hại về nhân lực và vật lực. Hình thức chiến tranh này thường xảy ra ở Châu Phi, Châu Á và Trung Mỹ. Các cường quốc ngăn chận và không cho phép nó lan rộng thành

- 77 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
một cuộc chiến tranh toàn diện. Nó có khả năng tàn phá dữ dội và kéo dài trong một thời gian lâu dài. Nó không gây nguy hiểm cho thế giới. Thứ đến là nội chiến, nói khác nó phát sinh do sự tranh dành quyền lợi hay bất đồng quan đìểm chính trị giữa các phe nhóm trong một nước. Nó có sức tàn phá khốc liệt về tài nguyên và nhân mạng vì mục đích của nó nhằm triệt tiêu lẫn nhau để giành quyền bính. Tuy vậy, nội chiến không làm cho các dân tộc khác lâm nguy. Sau cùng là chiến tranh toàn diện. Gọi là toàn diện vì nó xảy ra giữa các chủng tộc có ưu thế, muốn sử dụng mọi tài nguyên về nhân lực, tiền của và vật chất để giành thắng lợi. Loại chiến tranh này gây nguy hiểm cho sự tồn vong của loài người và khả năng tiêu diệt thế giới rất cao. Điều may mắn, một cuộc chiến tranh như thế chưa bao giờ xảy ra giữa các cường quốc nguyên tử. Tuy vậy, ngày nay người ta nghĩ đến một cuộc chiến tranh toàn diện mà các phe tham chiến đều sử dụng vũ khí nguyên tử là điều không thể tránh khỏi. Cho đến bây giờ không ai biết nó sẽ xảy ra từ đâu, và khi nó xảy ra thì phải đối phó như thế nào. Vũ khí nguyên tử của quốc gia chỉ do một cá nhân điều khiển. Trên thế giới, trong suốt ba mươi năm qua, khoảng 12 nhà lãnh đạo đất nước có khả năng khởi động một cuộc chìến tranh hạt nhân. Cần phải ngăn chận nó. Nhưng làm sao để ngăn chận ? Chỉ có hai điều phải làm: đó là sức mạnh và luật pháp. Về phần luật pháp, Einstein nói đến việc thành lập một chính phủ thế giới. Ngày nay, ý tưởng này trở thành một xã hội dân sự thế giới (world civil society), chỉ có một chính phủ thế giới được độc quyền về vũ khí. Điều này là một ảo tưởng vì khó lòng tổ chức một chính quyền chung cho các dân tộc trên thế giới và thuyết phục các quốc gia từ bỏ chủ quyền tuyên chiến với nước khác. Theo giáo sư Charles Van Doren thuộc Viện Nghiên Cứu Triết Lý ở thành phố Chicago, vì nguy cơ rất lớn khi xảy ra chiến tranh hạt nhân, các quốc gia nên cùng nhau chung sức tổ chức một lực lượng nguyên tử chung cho toàn thế giới. Ông tin rằng ý kiến này sẽ được thực hiện trong thế kỷ 21. Nói khác đi một quốc gia mới lấy tên là Liên Hiệp các Quốc Gia Địa Cầu (United States of Earth) sẽ ra đời. Đây là quốc gia duy nhất có lực lượng nguyên tử và chỉ do một nguời điều khiển. Như vậy, lần đầu tiên nhân loại sẽ sống trong một cộng đồng thống nhất và duy nhất. Con người thật sự yên tâm sống trong một xã hội dân sự. Trong khi ước nguyện của nhà bác học Albert Eistein và giáo chức đại học hiện nay về một Liên hiệp các Quốc Gia Địa Cầu chưa thành hình, tình hình thế giới trở nên bất ổn định vì sự phát triển vũ khí nguyên tử tại các nước Cọng Hòa Nhân dân Trung Quốc, Triều Tiên, Iran, v.v… Một tin Internet của Yahoo ngày 23 tháng 11 năm 2011, cho biết trong khi dân Mỹ hân hoan chào đón ngày lễ Thanksgiving, Tổng Thống Dmitry Medvedevcủa nước Nga (Russia)vừa mới lên tiếng đe dọa: Nga có khả năng tiêu diệt hệ thống phi đạn phòng thủ Châu Âu được xây dựng ở nước Ba Lan. Lời đe dọa này cho thấy sử dụng nguyên tử để giải quyết những cuộc tranh chấp quốc tế vẫn còn ngự trị trong đầu óc của những nhà lãnh đạo quốc gia. LÊ TRUNG HIẾU Tài Liệu Tham Khảo 1. Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển, G.S Trịnh Vân Thanh, nhà xuất bản Đại Nam, 1966. 2. Nhìn Lại Sử Việt, Lê Mạnh Hùng, Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2009. 3. A History of Knowledge, Charles Van Doren, Ballantine Books, New York, 1991. 4. The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order, Samuel P. Huntington, Simon Schuster, London, 1996. 5. Marco Polo From Venice to Xanada, Laurence Bergreen, Vintage Books, A Division of Random House, Inc., New York, 2007.

- 78 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

ĐIỆN ẢNH
HÀNH TRANG ĐƯA CHÚNG TÔI VÀO Đ I ĐỜI
VĨNH TÂN (QH 1960-1963)

Tháng 9.1960, tôi đặt bước chân đ tiên lên c đầu ngưỡng cửa trường Quốc Học, đó c c, cũng là giai đoạn chúng tôi ở vào tuổi phát triển tâm sinh lý, n tiếp thu, học hỏi tất cả những gì đang di biến từ diễn thế giới bên ngoài, bắt đầu biết yêu ngư khác t người giới và muốn bộc lộ mình trước cu đời. Đồng c cuộc thời, đó cũng là giai đoạn mà bộ mặ chính trị, xã ặt hội tại các đô thị miền Nam có vẻ ngoài c một của cuộc sống thanh bình, hay ít ra tưở như thanh ởng bình dưới cái nhìn của đám trẻ chúng tôi. Tôi nói “tưởng như thanh bì ình”, vì cuộc chiến đã thực sự bùng nổ. Chính ph Ngô Đình . phủ Diệm đang nỗ lực tìm chỗ đứng, ngư Mỹ đang ng, người chỉnh đốn và thực hiện kế hoạch Eisenhower ch bằng vũ lực.. Nhưng chiến tranh chỉ mới diễn ra ở các vùng nông thôn, hoặc dưới hình th những i thức hoạt động ngầm. Nói một cách khác, ti t tiếng súng vẫn chưa công khai bắn thẳng vào thành ph ng phố. Tuổi trẻ chúng tôi vẫn mơ màng c tưởng như n cứ đang sống trong một vùng đất hòa bình, m sức t mặc dệt gấm thêu hoa những giấc mộng đ không ng đời chút mặc cảm, tự ti. Những năm đó, một phần chân dung Hu n Huế như đã được chính T.C.S mô tả: Thành c đền cổ, đài, lăng tẫm khiến con người dễ có m hoài niệm một man mác về quá khứ hơn và một ph nào cũng t phần cứu rỗi cho con người ta khỏi vòng đai t lụy. Và tục từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình m ã một không gian riêng, một thế giới riêng. T đó, con i Từ người bỗng đâm mơ mộng và ước mơ nh c những cõi trời đất gần như không có thực.

Nhưng sự thực và ước mơ là g Thật ra, nói c gì? cho cùng cái này chỉ là ảo ảnh c cái kia. Và với nh của những ảo ảnh đó, đã có một th khá lâu, những t thời con người lớn lên trong thành ph nhỏ nhắn đó đã n phố dệt gấm thêu hoa những giấc mơ, gi mộng của c giấc mình. Đó cũng là thời gian mà m sáng tinh mơ, i mỗi mỗi chiều,mỗi tối, tiếng chuông Linh M vang xa ng Mụ trong không gian, chuyền đi trên gi n giòng sông để đến với từng căn nhà khép h hay đang đóng kín ng hờ cửa. Thời gian trôi đi ở nơi đây l lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người ta không còn c i cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không i màu sắc. Chỉ có những cái ch của những người ng chết già, vào mùa đông giá rét, m làm sực tĩnh và á mới bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì th ng thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đ núi chung quanh” ng đồi Mặt khác, Huế là đất “ th kinh văn vật “, t thần vào thời kỳ nầy có thể gọi là nơi n sử sôi kinh. i nấu Không khí học bao trùm lên t cả đám thanh thiếu c tất niên Huế, nhất là khi Viện Đ Học Huế chính n Đại thức được thành lập năm 1957. Con nhà giàu c p cũng như nhà nghèo đều rất chăm h t học, những kẻ lêu lỗng chơi bời không nhiều. Lo thanh niên nầy u. Loại thường không được coi trọng. H là con đường ng. Học tiến thân duy nhất, thoát ra kh cảnh nghèo đói t, khỏi của bản thân và gia đình đối v thanh niên Huế và i với khu vực miền Trung. Nhà văn Trần Kiêm Đoàn, m cựu học sinh n một Quốc Học cùng thế hệ 60 với chúng tôi trong m i một

- 79 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
tác phẩm viết về Huế đã ghi lại bước ngoặc của anh với Huế: “ Ngày từ giã làng quê “lên dinh”, ông trưởng họ Trần nhà tôi lại cho rằng, đã tới đất“Thần Kinh văn vật” rồi thì không thành công, cũng thành nhân. Ông ân cần tiễn tôi ra bến xe đò như đưa chàng Kinh Kha xóm nghèo qua bên kia trời ánh sáng, dù thiệt tình là làng tôi chỉ cách Huế có mười cây số. Ông vuốt chòm râu bạc nói chữ:” Sơn, hải, giang, điền vi đại chính; thiếu niên hữu chí lưỡng biên khai…”. Rồi ông giải thích rằng, Huế có đủ thế đất sông núi biển đồng cân đối dựa vào nhau, là đất dấy nghĩa, là nơi un đúc chí lớn cho những trang hào kiệt xưa nay. Sự thật, học sinh sinh viên Huế không chỉ ham học mà còn rất ham đọc sách báo. Các tạp chí tiêu biểu hồi đó như Sáng Tạo của Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Hiện Đại của Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn , Thế Kỷ Hai Mươi của Nguyễn Khắc Hoạch, Nguyễn Cao Hách , Đại Học của Nguyễn Văn Trung , Lê Tuyên .. Quê Hương của Vũ Quốc Thúc, Trần Thúc Linh , Mai của Hoàng Minh Tuynh, Bách Khoa của Huỳnh Văn Lang, Lê Ngộ Châu, Văn của Trần Phong Giao, v.v..Cứ đến ngày báo ra thì phần lớn chúng tôi đều háo hức chờ để mua. Truyện các nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, thơ của Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn cũng được đám trẻ chúng tôi nghiền ngẫm, luận đàm. Sách triết học của nhà xuất bản Gallimard được in với giá rẽ do Iddées sưu tập của Jean Paul Sartre, Simone De Beauvoir, Albert Camus, Martin Heidergger, Merleau Ponti, Soeren Kierkegaard , Karl Jasper, Gabiel Marcel , LeviStrauss, Teilhard De Chardin,…Chúng tôi đặc biệt chú ý đến Albert Camus và Jean Paul Sartre, hai trong số những triết gia Hiện sinh (Existentialisme ) của Pháp được yêu thích trong giới trẻ và trí thức miền Nam thời đó. Sách triết học tiếng Việt qua giới thiệu của các giáo sư Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Trần Thái Đĩnh, Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn và Nguyễn Nam Châu v.v… Tiểu thuyết của nhà văn nổi tiếng thế giới như André Malraux, André Mauroix, Someset Maugham, Henry James, Francois Mauriac, Graham Greene, André Gide, Georges Bernanos, Julien Green, Jacques Prevert, Michel Butor, Robbe Grillet, Nathalie Saraute, cũng như đọc cả Francoise Sagan, với Bonjour Tritesse, Un Certain sourire, Dans un mois, dans un an hoặc những nhà văn thuộc Thế hệ lạc lõng ( Lost Generation) của Mỹ như Ernest Hemingway ( 1898-1961) , John Dos Passos ( 1896- 1970 ), John Steinbeck ( 1902-1961), William Faulkner (1987-1962) và Francis Scott Fitzgerald ( 18961940) hoặc Erskine Caldwell (1903-1987 ), v.v.. được in dưới bảng hiệu Le Livre de Poche, Bantam Books hay Universitaires…rất phổ biến. Tôi nhớ, hồi còn học ở Quốc Học, mới chỉ đệ nhị, đệ nhất ( tức lớp 11, 12 bây giờ) chúng tôi đã thuyết trình về Albert Camus, Jean Paul Sartre, Simone de Bauvoir… ở lớp, hoặc trong chương trình văn nghệ, hội thảo của trường, bạn bè chúng tôi đã diễn những vở kịch như Le Malentendu ( Ngộ Nhận) của Albert Camus… Nhưng với riêng tôi , điều đáng nói là phim ảnh. Theo chủ quan của tôi, bạn bè tôi cũng như đông đảo quần chúng Huế thời đó, hình như chỉ có một thứ giải trí được yêu chuộng, đó là phim ảnh. Tôi thú thật chỉ thấy lại không khí trang trọng nầy khi tôi có dịp xem phim ở những rạp chiếu bóng trên đất Mỹ, ở đó, người ta xếp hàng trật tự mua vé vào rạp, vui buồn khóc cười theo từng số phận của nhân vật trong phim, và khi chấm dứt phim tất cả khán giả đứng dậy vỗ tay (Tôi nói khán giả ở rạp chiếu bóng, chứ không phải khán giả sân khấu). Thật ra, ở Huế thời đó ngoài phim ảnh thì cũng chẳng có phương tiện giải trí nào khác để chọn lựa. Những bộ phim mới sản xuất được chiếu ở Huế, thường sau khi đã phát hành ở Mỹ hoặc Pháp một hay hai năm, cũng có khi sớm hơn, tùy thuộc các hãng phát hành trong nước, cũng có khi những phim cũ còn ăn khách được chiếu lại. Tôi cũng phải nói đến một điều: Tôi coi điện ảnh như là một ân huệ của cuộc đời ban cho tôi và thế hệ chúng tôi. Ân huệ đó chính là vì chúng tôi được sinh ra và lớn lên trong những điều kiện phát triển của điện ảnh thế giới. Tôi, cũng như bạn

- 80 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
bè tôi đã học hỏi được ở điện ảnh trên nh nh nhiều phương diện, rất nhiều điều, nó tr thành một u, trở trong những hành trang đưa chúng tôi vào đ ng đời: Trong lời giới thiệu của tập sách Nh p Những ngôi sao điện ảnh thế giới, tôi có viết:“…Tôi say mê đi t:“…Tôi điện ảnh từ khi còn là một đứa trẻ nhỏ, đã t ã từng ước mơ được trở thành một diễn viên hay m hoạt động n một nào đó liên quan đến điện ảnh, mà ngày đó do trí nh, óc non nớt, tôi thực sự chưa hình dung ra được. ình Có điều là trong gia đình tôi chưa có m ai làm ưa một nghệ thuật cả. Ông bà, cha mẹ tôi v coi nghề vẫn diễn viên là “xướng ca vô loài”, nhưng không ph ài”, phải vì thế mà tôi gạt bỏ mơ ước của mình. Tôi v âm a vẫn thầm sưu tập hình ảnh, tư liệu điện ảnh từ những n ngày thơ dại ấy. Và có đêm, đợi cả nhà t đèn đi tắt ngủ, tôi lén mở cửa sổ leo tường tr đi coi hát ng trốn đình, hát chợ - để rồi sáng hôm sau c i chịu một trận đòn nên thân, nhưng vẫn chứng nào t đó, tôi ng tật không bỏ được, hoặc tôi phải nhịn ăn, nh tiêu n nhịn từng đồng để đủ tiền mua vé xem phim, nh n những bộ phim trong đó có những diễn viên mà tôi r đỗi n rất ngưỡng mộ, coi là thần tượng. Tôi đã từng để cho tâm hồn mình bay b n bổng, đắm say với những hình ảnh của Greta Garbo, a Vivien Leigh, Marlon Brando, Rita Hayworth, Ingrid Bergman, James Dean và Marilyn Monroe ames Những ngôi sao rực sáng đó th c thực sự là những con người tài năng, đã làm cho chúng ta ã biết mơ ước, biết khóc, biết cười, bi tìm lại sự i, biết hồn nhiên của tuổi thơ, biết hy vọng v một tương ng về lai chưa tới, và biết làm cho con ngư biết yêu t người thương con người, sống một cuộc đờ đáng sống. ời Dù trong bản thân của mỗi một nghệ sĩ ấy, có thể ệ họ cũng chứa giấu những thói hư tậ xấu; nhưng ật họ vẫn cứ chinh phục được hàng tri triệu con c triệu người trên trái đất, đã làm thổn thứ và đau khổ ức biết bao trái tim ngưỡng mộ họ, và th , thậm chí có những người đã tự tử khi số phận nghi ngã cướp n nghiệt mất đi những ngôi sao ấy. Riêng tôi, tôi không hề phủ nhận những bóng dáng của những ngôi sao đó đã ghi đậm dấu ã ấn trong tâm hồn tôi, và đã thực sự ả hưởng lên ảnh chính cuộc đời tôi cho đến tận ngày hôm nay”. n

Những tháng năm đó ( 1954 ng 1954-1963), trên các rạp chiếu bóng Tân Tân, Châu Tinh, Nguy Văn u Nguyễn Yến (đến năm 1959 thì rạp này không còn ho p hoạt động) hoặc ciné Gia Hội ở Huế… xuất hiện i những bộ phim của Chủ nghĩa Tân Hi Thực Ý ( ĩa Hiện Néo-Réalisme ), dĩ nhiên ph đợi một thời gian ên phải sau này nó mới được chiếu, v những bộ phim u, với như Rome, Thành Phố Bỏ Ngỏ ( Roma, citta operta,1946) của Roberto Rossellini, K Ăn Cắp a Kẻ Xe Đạp (Ladri Di Biciclatte,1948) ) c Victorio p của De Sica, Con Đường ( La Strada, 1954 ) c ng của Federico Fellini, Anh Em Nhà Rocco ( Rocco e I Suoi fratelli , 1960 ) của Luchino Visconti v.v. a Chủ nghĩa Tân Hiện Thực Ý nói m cách nào đó c một đã gắn liền với những cuộc chi đấu của các c chiến chiến sĩ chống lại sự thống tr độc tài của phát-xít ng trị Ý vào những năm 1943-1945, g liền với sự phục 1945, gắn sinh những quyền tự do ở Ý, và ti tiếng nói lại được giành về cho quần chúng để nói lên trong phim, ể những nỗi khổ đau, những cu chiến đấu, những ng cuộc yêu sách của họ. Chủ nghĩa Tân Hi Thực Ý đã ĩa Hiện sản sinh trên máu, nước mắt và nhà tù, là ti t tiếng kêu gào tự do trong một xã hội đ tài, phát- xít, là sự i độc tham dự trí thức vào những v đề của nhân quần ng vấn xã hội. Nó tuân thủ một cách nghiêm ng những t ngặt đòi hỏi của sự thật để vạch tr sự lừa mị và giả ch trần dối, chính trị và xã hội, nó khinh r thói đỏm đáng i, rẽ phấn son để mặt đối mặt với mi i miếng cơm, manh áo, với phẩm giá bị chà đạp, vớ sự bất công xã hội ới nặng trĩu trên chiếc lưng còng c quần chúng lao òng của động. Tôi đã xem bộ phim K ăn cắp xe đạp ( Kẻ Ladri Di Biciclatte, Italia,1948 ) c Victorio De của Sica từ những ngày còn trẻ dạ khoảng năm 1956, ại,

- 81 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
1957 gì đó, nhưng cho đến hôm nay tôi không thể quên hình ảnh của anh chàng Ricci mỗi ngày chịu đói rã rời ngối lê lết giữa đám đông những người thất nghiệp khác trước cửa Tổng Công đoàn mong chờ người ta ban bố cho một công việc nào đó để có đồng lương đắp đủi cùng vợ con. Tôi cũng nhớ, và nhớ từng chi tiết khi Ricci ( Lamberto Maggiorani ) bị lấy trộm chiếc xe đạp phương tiện duy nhất để anh đi dán bích chương quảng cáo. Với mồ hôi nhễ nhại, nét mặt thảm hại, Ricci trình bày nỗi thống khổ của mình với cơ quan cảnh sát mong tìm lại chiếc xe. Nhưng cảnh sát vẫn dững dưng vì còn bận rộn hộ tống những nhân vật cao cấp, những công việc vĩ đại , chứ hơi đâu đi tìm chiếc xe đạp cà tàng của một người như Ricci. Tôi không thể nào quên nét mặt Ricci ngoài nỗi lo thất nghiệp còn có nỗi đắng cay tủi nhục của một người cha túng quẫn khi phải liều mạng “ăn cắp xe đạp” của một người khác để làm phương tiện, nhưng đã bị bắt quả tang và bị đánh đập trước mặt đứa con trai nhỏ của mình. Và tôi đã rơi vào tâm trạng ray rứt từ những suy nghĩ về đời sống, giá trị của con người và mối quan hệ giữa con người với con người qua những người hát rong được khắc họa trong một bối cảnh đặc biệt, một tương quan đặc thù: anh chàng lực sĩ chuyên biểu diễn bứt dây xích sắt Zampano (Anthony Quinn), của cô nàng đánh trống Gelsomina ( Giulietta Masina) và chàng Điên đi trên giây xiệc ( Richard Baschart ) trong bộ phim Con Đường ( La Strada, Italia,1954 ) của Federico Fellini. Bộ phim này được Federico Fellini kể lại bằng một bút pháp điện ảnh đặc biệt đã ám ảnh, theo đuổi tôi và nẫy sinh trong tôi một mơ ước thầm kín, giúp tôi vạch cho mình một hướng đi trong tương lai, dù vẫn còn rất mơ hồ. Trong đó, anh chàng hát xiệc giang hồ Zampano (Anthony Quinn) quay trở lại miền biển nghèo điều đình với mẹ của Gelsomina, để có nàng thay thế cho Rosa, chị nàng đã bỏ mạng. Để nuôi đàn con sót lại, mẹ nàng bằng lòng trao Gelsomina ( Giulietta Masina, vợ của đạo diễn Federico Fellini ) cho Zampano. Gelsomina theo Zampano trên chiếc xe 3 bánh cà tàng, rày đây mai đó, nàng không biết làm gì khác hơn là đánh trống, mỗi khi Zampano diễn trò bứt sợi xích sắt trước đám đông, nhưng nàng khờ khạo quá, đến nổi thường bị Zampano hành hạ đánh đập và chửi mắng. Hắn coi rẽ nàng, nhưng lại không thể xa nàng, ngược lại, nàng cũng không thích hắn. Bản năng thúc đẩy nàng nhiều lần bỏ trốn, nhưng không được, nàng không biết đi đâu và không thể sống với ai khác, nàng lại tiếp tục sống bên cạnh Zampano, với công việc hàng ngày quen thuộc. Thế rồi, định mệnh run rủi, hai người gặp Gã Điên (Richard Baschart), một kẻ làm công cho một gánh xiệc giang hồ khác. Gã có tài đi trên dây cao: một trò chơi điên rồ. Gã lấy hiểm nguy đổi sự sống, e cũng không hẳn vậy, vì gã mắc bệnh lao, thấy mình gần với cái chết, nên muốn đùa giỡn với cái chết. Những khi ở trên dây cao, chỉ cần một chút xúc động là gã có thể ngã xuống tan xương nát thịt. Gã cũng lao vào một thách thức nguy hiễm khác, không phải trên dây xiệc, mà gã luôn trêu tức Zampano mỗi khi gặp hắn ta, không hẳn vì thù hận hay đố kỵ. Nhưng chính sự gặp gỡ đó đã cho họ ý thức được rằng , sự hiện hữu của họ thật sự có ý nghĩa và giá trị, không phải chỉ duy cho họ mà trong mối tương quan giữa con người với con người. Nhưng đến khi họ hiểu ra được điều đó thì đã quá muộn. Zampano giết chết Gã Điên và ném xác hắn xuống gầm cầu trước sự chứng kiến của Gelsomina. Từ đó nàng trở nên điên loạn, mất trí. Và trong giấc ngủ nàng mê sảng gọi tên gã điên, làm Zampano sợ hãi, lo sợ bị tù tội. Zampano muốn trả nàng về nhà, nhưng nàng không chịu, vì nàng không thể sống mà thiếu Zampano. Nhưng Zampano vì muốn yên thân đã bỏ Gelsomina lại trên đường với một số tiền và cây kèn, hy vọng nàng có thể bươn chải được. Nhưng Zampano đâu biết , xa chàng Gelsomina không sống dược.Và khi Zampano thấy nàng là cần thiết, thực sự quan tâm đến nàng, và mong muốn gặp lại nàng thì nàng đã không còn nữa. Kết thúc phim bằng trường đoạn: Một hôm, tình cờ Zampano nghe một điệu hát quen thuộc từ miệng một cô thợ giặt gần đó. Điệu nhạc mà chính chàng dạy cho nàng, một điệu hát buồn ảo não. Zampano lân la đến hỏi: “Thưa cô, cô gái ấy bay giờ ở đâu?” Và Zampano được chính miệng cô gái

- 82 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
trả lời:“Cô ấy đã chết rồi, Tội nghiệp. Ba tôi th p. thấy nàng bơ vơ nên đem nàng về nhà ở v chúng tôi. với Nhưng nàng cứ buồn thảm héo hắt, không ch ăn t, chịu uống gì cả, cho tới lúc kiệt sức rồ chết.”. Bấy ồi giờ, Zampano mới ý thức được rằng chàng đ thực ng đã sự yêu thương nàng, đã thực sự đánh m một tình mất yêu. Chàng đau khổ đến không còn di nổi trò n diễn xiệc mà ngày xưa chàng đã từng trình di ng diễn. Zampano cảm thấy mình hoàn toàn cô độc trên y cõi đời. Chàng đau đớn tuyệt vọng, th thểu giữa ng, thất đêm tối, bên bờ biển bao la, với tiếng g thét của ng gầm sóng biển. Chàng ngã khụyu xuống gi đêm tối, ng giữa mênh mông và im lặng. Những năm đó, chúng tôi cũng t ũng từng được xem bộ phim Rashomon (1951) của đ diễn Nhật a đạo Bản Akira Korusawa bộ phim đã đo giải Sư Tử đoạt Vàng tại Liên Hoan Phim Venise vớ thông điệp: ới “Con người là sinh vật duy nhất trên trái đ này t đất biết cách che đậy và trốn tránh trách nhi n nhiệm về những lỗi lầm, sai phạm do mình đã gây ra, không ã mấy ai đủ can đảm để sống thực vớ chính mình, ới họ luôn tìm mọi cách để thể hiện m tốt của n mặt mình. Mặt khác, ai cũng cần được bao dung, c c cảm thông và tha thứ , cũng như tự cảm thông và tha m thứ cho chính bản thân để sống và tồ tại trên cõi ồn đời này. Vì cuộc đời vốn không chỉ có m chân một lý tuyệt đối duy nhất mà vốn chứa đ a đựng những chân lý tương đối xung khắc và trái ngh c nghịch nhau cùng tồn tại và cùng phát triển.”Nó là thời tỏa .”Nó sáng theo quan niệm của Akira Korusawa, m một thời đại minh triết xuất pháttừ nền tảng văn hóaÂu ng Châu đối với con người và bản chấ con người. ất Điều này càng làm cho Rashomon c m của Akira Korusawa trở nên bí ẩn và cuốn hút h t hồn. Nó là lần đầu tiên điện ảnh Nhật Bản đoạt đượ giải thưởng ợc quan trọng này, và là khởi đầu của Th Đại Vàng a Thời của điện ảnh Nhật Bản với những t tuổi như ng tên Akira Korusawa, Kenji Mizuguchi, Yasujiri Ozu và Mikio Naruse. Về mặt đề tài, Rashomon là phim l lịch sử truyền thống, kịch bản được Shinobu Habimoto và c Akira Kurosawa kết hợp p hai truy truyện ngắn Rashomon (1915) và Yaru No Naka ( Trong H o Hẽm Núi,1915) của nhà văn cổ điển Nhậ Akutagawa ật Ryunosuke (1892-1927). Các chi ti của hai 1927). tiết truyện ngắn này đã được đạo diễn hòa quyện trong một cấu trúc với phần giáo đầu (prologue) và phần vĩ thanh (épilogue) như trong sân khấu cổ, mà hành động xảy ra ở ngôi đền Rashomon hoang phế giữa cơn mưa tầm tã của một nước Nhật bị tàn phá bởi dịch bệnh và cướp bóc vào th kỷ XV. Tuy nhiên p thế bộ phim đã không mất đi tính đương đ của nó, t đại bộ phim là bức tranh tinh thầ của nước Nhật sau ần chiến tranh, là sự tan vỡ nh những ảo tưởng của người trí thức đối với giai c bên trên, để đặt i cấp niềm tin vào quần chúng nhân dân. n Bối cảnh của phim là nư Nhật vào thế kỷ a nước XV trong một khu rừng gần Tokyo, m tên cướp n một thú nhận đã giết chết một Samurai (võ s đạo ) và t sĩ cưỡng hiếp vợ của ông ta. Ngư vợ, một thiếu a Người phụ quý tộc, khẳng định đã gi chồng mình. Linh ã giết hồn của người chết, võ sĩ đạo ( qua mi o miệng của một đồng cốt) kể rằng anh ta đ tự tử, nhưng một ng đã người tiều phu lại đưa ra mộ đáp án thứ tư trước ột khi nhận đứa trẻ sơ sinh bị ai đó b rơi trong ngôi bỏ đền Rashomon đem về làm con nuôi. B Bốn lời tường trình mâu thuẩn lẫn nhau cho th sự sa n thấy đọa, giả dối, tội lỗi của tầng l võ sĩ đạo (vốn là ng lớp thần tượng đầy hào quang củ xã hội phong kiến ủa Nhật) thông qua các đại biểu: tê cướp, võ sĩ đạo, u: tên người vợ, trước sự chứng kiế của người tiều phuến đại biểu của quần chúng. T cả các phần của n Tất phim diễn ra trong ngôi đền Rashomon chìm đắm n trong bóng tối và cơn mưa t i tầm tả giữa một đất nước bị chiến tranh tàn phá. M phần có một n Mỗi phong cách đặc biệt nhưng n bật hơn cả là cách t nổi kể chuyện (narration) độc đáo c c của đạo diễn. Rashomon cũng trình diện m diễn viên mà sau n một này tên tuổi đã vang dậy kh thế giới: Toshiro y khắp

- 83 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Mifune. Và Toshiro Mifune cũng là diễn viên chính trong Seven Samurai ( Bảy Võ Sĩ Đạo, 1954) của đạo diễn Akira Kurosawa. Đó là một cuộc chiến đấu khốc liệt của 7 Võ sĩ đạo bảo vệ những người dân trong một ngôi làng nhỏ ven núi chống lại bọn cướp. Cũng như chúng tôi đã được xem một loạt phim 20 tập Hiệp Sĩ Mù của Đạo diễn kiêm diễn viên chính, Takeshi Kitano. Cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ 20, đó là thời điểm của Đợt Sóng Mới (Nouvelle Vague) điện ảnh Pháp, với những nhà điện ảnh trẻ tuổi như : Francois Truffaut, Jean-Luc Godard, Claude Chabrol, Eric Rohmer, Jacques Rivette (nhóm Cahiers du Cinéma), Alain Renais, Chris Marker (nhóm Left Bank) đã xuất hiện những phim như Les Quatre Cents Coups (Bốn Trăm Cú, 1959 ) của Francois Truffaut, bộ phim dã đoạt Cành Cọ Vàng tại Liên hoan phim Cannes. Phim do chính Truffaut viết kịch bản và đạo diễn, có thể nói như bản tự thuật những vấn đề tình cảm một thời tuổi trẻ đau khổ. Nói khác hơn, đó là chân dung của thời đại hôm nay, mang đặc trưng Pháp sâu sắc. Hơn thế, qua phim này, Truffaut còn có công phát hiện một tài năng mà toàn thế giới đều biết tới : Jean-Pierre Léaud, một diễn viên 25 năm liên tục xuất hiện trong nhiều phim của Truffaut trong vai Antoine Doinel- một nhân vật tiêu biểu, từ tuổi niên thiếu cho đến lúc trưởng thành. Rồi những Hiroshima, Mon amour (Hiroshima, Tình yêu của tôi,1959) của Alain Resnais, kịch bản của Marguerite Duras, About de Souffle (Hết Hơi,1960), Le Mépris (1963) của Jean-Luc Godard; Le Beau Serge (1959) của Claude Chabrol … và Đợt Sóng Mới cũng đã giới thiệu những khuôn mặt hoàn toàn mới như Pierre Léaud, Fanny Ardant, Catherine Deneuve, JeanPaul Belmondo, Jean Seberg v.v.. Vào thời điểm Đợt Sống Mới, một khuôn mặt khác cũng nổi lên một cách khá ồn ào, mà người ta cứ tưởng ông ta là người cùng hội cùng thuyền với Godard, Truffaut và Resnais… đó là Roger Vadim. Nhưng Vadim hoàn toàn có tính thương mại. Nói khác hơn Vadim là thủ lãnh của cuộc cách mạng tình dục trên màn ảnh Pháp với các phim Và…Thượng Đế Đã Tạo Nên Đàn Bà ( Et …Dieu crea la femme,1956), Mối Quan Hệ Nguy Hiểm (Les liaisons dangereuses,1960) với sự xuất hiện nổi đình nổi đám của Brigitte Bardot. Nhưng điện ảnh Mỹ mới thực sự tác động đến những suy nghĩ của tôi và bạn bè cùng lứa với tôi. Cuối những năm 50, tôi đã được xem A Farewell to Arms (Giã Từ Vũ Khí,1957) của Charles Vidor, kịch bản của Ben Hecht, dựa theo tiểu thuyết của Ernest Hemingway do Rock Hudson (Frederick Henry) và Jennifer Jones (Catherine Berkley), còn một phim Giã Từ Vũ Khí khác do đạo diễn Frank Bonzage thực hiện năm 1932, với Gary Copper (Frederic Henry) và Helen Hayes (Catherine Berkley) Chuyện kể một sĩ quan trẻ bị thương từ mặt trận đưa về, đào ngủ trốn đi cùng người yêu là một nữ y tá. Nhưng người yêu đã phải chết khi sinh nở. Còn Cuốn Theo Chiều Gió (Gone With The Wind,1939) cũng được chiếu trên màn ảnh Huế vào những năm 1960. Cuốn Theo Chiều Gió dựa theo tiểu thuyết của Margaret Mitchell, do George Cukor (1899-1981) bắt tay thực hiện, nhưng do bất đồng với nhà sản xuất David Oliver Selznick đã bỏ cuộc, nhường lại cho Victor Fleming (18831949) và phụ tá của ông này là Sam Wood (18831949), nhưng thực chất vẫn là David Oliver Selznick thực hiện, phim đã xây dựng lại bối cảnh cuộc nội chiến của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1861. Miền Nam bị đánh bại. Tiếp theo sự bại trận này, những tiểu bang miền Nam rơi vào tình trạng phân ly cổ hủ, hậu quả của những tàn phá do chiến tranh gây nên. Và nhân vật chính của phim là Scarlett thuộc dòng họ O’Hara, con gái của chủ đồn điền Tara ở lãnh địa Clayton, một trong ba lãnh địa của tiểu bang Géorgie đã bị xô đẩy, quay cuồng trong cơn bão loạn đó. Vai nầy do Vivien Leigh đãm nhận , bên cạnh Clark Gable, Olivia De Haviland, Leslie Howard, Jane Darwel và Hattie McDaniel v.v… Chúng tôi cũng còn nhớ ngày đó trong những phim Cowboy, dù chưa có hình ảnh nổi, nhưng mỗi khi một nhân vật trong phim hướng khẩu súng về phía khán giả, chúng tôi đã vội nép

- 84 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
xuống hàng ghế để tránh viên đạn tưởng chừng như từ trong lòng súng bắn ra, vì sợ … hay đã hồn nhiên và hào hứng vỗ tay tán thưởng toán quân chi viện xuất hiện tiêu diệt đoàn quân Da Đỏ mà không hề xót thương số phận của những người đã cố lấy mạng sống chiến đấu giữ lại mảnh đất của ông bà t tiên. a tổ Hoặc những phim của Charles Chaplin như Th a Thời Hiện Đại (Modern Times, 1936), Á Đèn Sân Ánh Khấu (Limelight, 1952), Đổ Xô Đi T Tìm Vàng (The Golden Rush,1925), những b phim kinh bộ điển nổi tiếng như Bạch Tuyết và B Chú Lùn t Bảy (Snow White and The Seven Dwarfs,1937) c của Walt Disney, Phía Đông Vườn Địa Đàng (East of a Eden,1955), Sống Vội (Rebel Without a Cause, i 1955), Vĩ Đại (Giant, 1956 ) của Elia Kazan, a Công Dân Kane (Citizan Kane, 1941) c tizan củaOrson Welles, Kỳ Nghỉ Hè ở Roma ( Roman Holiday, 1953) của William Wyler, Casablanca 1942 của a Casablanca, Michael Curtis, Moby Dick (1956) c của John Huston là những bộ phim xuất sắc c c của điện ảnh thế giới, trong đó hình ảnh của Greta Garbo, Joan a Crawford, Rita Hayworth, Katherine Hepburn, Marilyn Monroe, Grace Kelly, Ingrid Bergman, Vivien Leigh, Audrey Hepburn, Humphrey Bogard, Spencer Tracy, Cary Grant, Robert Taylor, Clark Gable, Marlon Brando, James Dean v.v… là những diễn viên tài sắc mà c c chúng tôi rất đổi ngưỡng mộ, coi là thần tượng đã ít nhi góp ã nhiều phần tăng thêm tri thức và ý hướng đi t cái đẹp ng tìm trong lớp trẻ của Huế thời kỳ đó. Tuổi trẻ cùa chúng tôi cũng từng say mê v ng vũ điệu claquette của Fred Astaire trong Holyday Inn a (Par,1942), hình ảnh vui nhộn với gi i giọng ca tuyệt vời của vua Rock’n’roll Elvis Presley, trong a Jailhouse Rock (MGM,1957, Plaming Star (20th,1960), Wild in the Country (20th,1961) người đã dạy nước Mỹ hát. Và không ai có th thể làm tiếng Mỹ đẹp lên một cách tuyệt di như anh. t diệu Đồng thời, chúng tôi cũng là một trong s hằng t số triệu người hâm mộ người vượn Tarzan, Johnny n Weissmuller trên màn ảnh, đã từng rùng mình ng trước cảnh Tarzan nhảy từ cây này sang cây khác, hoặc đánh nhau quy liệt với c quyết sư tử và cá s trong các bộ sấu phim như Tarzan, the Ape hư Man (Tarzan, ngư người Vượn MGM,1932), Tarzanand His Mate (Tarzan và v vợ, MGM,1934), Tarzan Escapes (Tarzan B Trốn, MGM,1936) Bỏ cũng như theo d chân người ư dấu hùng Zorro (Errol Flynn), hay s mạnh vô địch sức vô địch của Hercule… Thật ra, thế hệ của chúng tôi không ch xem a chỉ chừng ấy phim, mà còn rất nhi nữa. Đối với t nhiều những bạn bè của chúng tôi, phim ảnh có thể là a phương tiện làm dày thêm ki thức, làm phong n kiến phú khiếu năng thẫm mỹ …, c cũng có thể là cách thế giải trí, hoặc những chọn l khác trong trăm n lựa nghìn hướng đi của cuộc đời…, C thể , Trần Anh i…, Cụ Tuấn, hay Nguyễn Đăng Tr n Trừng, những cựu học sinh Quốc Học từng thừa nhậ vì đã xem bộ phim ận Judgment at Nuremberg (UA, 1961) c đạo diễn của Stanley Kramer với những di viên tên tuổi như ng diễn Spencer Tracy, Burt Lancaster, Mongomery Clift , racy, Richard Widmard, Maximilian Schell, Marlene Dietrich, Judy Garland… đ thôi thúc các anh đã hướng tới nghiệp Luật sư.. Cũng nh nhiều bạn bè ũng như khác của chúng tôi đã có hoài b trở thành nhà ã bảo giáo, nhà sư phạm sau khi được xem The m Blackboard Jungle (Bầy Thú Trư y Trước Bảng Đen, MGM,1955) của đạo diễn Richard Brooks ho n hoặc một bộ phim khác To Sir, With Love (G Thầy, (Gửi Với Tất Cả Yêu Thương, 1967) c James Clavell, của đã được giới thiệu trong Nhớ Về Quốc Học 2008) ớ đều do diễn viên Sidney Poitier đóng vai chính. iên Nhưng đối với riêng tôi, đó là kh nguồn i khởi cho niềm đam mê, là cái nghi dĩ mà tôi phải m nghiệp đeo đuổi, mang nặng sau này, dù thành th mà ng thật nói tôi chưa làm được gì trong muôn m những c một mơ ước của tôi, do nhiều yế tố, những nguyên ếu nhân khách quan hoặc chủ quan đ đẩy đưa tôi, đã nhấn chìm tôi nhưng nó vẫn c là cuộc đời của tôi n cứ và tôi yêu cuộc đời đó./.

Vĩnh Tân

- 85 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Lá thư Hội Ng i Ngộ
năm 2011

Oakland trong đêm khuya và an tâm khi th tôi thấy có anh Hiếu đi chung. Hội ngộ Nhớ Huế-Mùa Hoa Anh đào tháng Mùa 4/2011. Chúng tôi đến sớm và dành thì gi để đi du m giờ ngoạn DC. Tôi cùng đi theo nhóm c n của Thu Lê, Bạch Lan tổ chức đi bằng xe bus r chu đáo ng rất Thật là vui vì lần này cu hội ngộ được tổ n cuộc chức ở một nơi rất xa lạ đối v tôi và tôi có cảm i với tưởng như đi du lịch chung v những người ch với quen biết.Quan khách từ từ checked in vào khách sạn. Tôi cất hành lý và ngồi ở phòng khách chờ i gặp người quen. Khách phương xa đ i đến dự đều ngủ nghỉ trên những tầng lầ và tiệc hội ngộ thì ầu được tổ chức ở dưới tầng tr khách sạn nên rất ng trệt thuận tiện cho việc đi đứng vui chơi Cô Quế ng chơi. Hương mấy chục năm tổ chứ Phượng Vỹ đã làm ức vậy rồi.. Ngồi ở phòng khách thì th là vui vì thấy thật được ai đến ai đi. Tôi ngồi để chờ Phương Anh từ ể Việt Nam sang. Chỉ trong vòng hai tu tuần mà Phương Anh đã phải lo nào là xin visa nh cảnh i nhập Mỹ và Canada. Thu Lê đã lo gi phòng cho P. A ã giữ và chỗ đi tour Canada. Chỉ hai tu thôi mà P.A. tuần phải lo bao nhiêu chuyện đ làm tôi thật phập n đã phồng. Thế là mọi chuyện đề xong xuôi và P.A. ều đã đến. P.A chưa bao giờ bi Huế là gì vì người biết Nam, chỉ là gốc Huế thôi.

Bạn ơí, Lại một lần nữa họp mặt. Năm nay 2011, tôi t. có dự 3 lần Hội Ngộ: Muà hoa anh đào Nh Huế : Nhớ tại D.C., Đồng Khánh Canada và QH 61 ng 61-64 tại San Jose. Trong khuôn khổ của lá thư này, tôi ch a chỉ xin viết về cuộc hội ngộ “Nhớ Huế Mù Hoa Anh Mùa Đào 2011”. Tháng Tư năm 2011 tôi lại lên đư i đường đi DC. Tuổi mình trên sáu bó, khi nhớ khi quên, tôi s sợ không dám đi một mình. Tôi phải liên l với vài i lạc anh chị trong vùng để cùng đi một chuy bay. t chuyến Bích Hà, cô bạn ĐK66 đã lo ghi danh cho tôi t ã từ hồi tháng 8/2010 qua cô bạn cũ Thái Nh Khuê ũ Như mà tên viết theo kiểu Mỹ là Khuê Thái, c cũng là chị của Khánh Hạnh, bạn tôi. Còn Thanh Duyên, n ĐK66, thì đã lo đặt thuê phòng ở Mariott cho ba đứa ở chung từ hồi tháng 9/2010. Nh Thu Lê đã i Nhờ lo liên lạc với khách sạn từ lâu nên chúng tôi có code và được hưởng giảm giá do đi đông theo m nhóm và cũng vì lão niên (senior citizen). Th sự Thật mình đã già như vậy sao! Nghe sao mà bu quá! y buồn Tôi đã liên lạc với anh Hiếu để cùng đi một chuyến bay Vì Bích Hà đi ban ngày, m ngày một trước tôi nên tôi phải liên lạc với anh Hi i Hiếu để cùng đi cho có bạn. Hơn nữa, tôi còn b đi làm a, bận việc nên đi buổi tối tiện hơn. Cháu tôi s đón khi n sẽ tôi đến DC.Chồng tôi đưa đi lên phi trư ng trường

Tôi gặp thím Mẫn, những ký ức lâu nay ngủ ng trong tiềm thức nay như sống d ng dậy, bà là thím của Đào Loan một người bạn cũ cu tôi. Hai đứa hồi ũ cuả nhỏ hay đi học cùng nhau và chơi thân v nhau. c với

- 86 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Tôi nhớ mình cùng đi bộ, đi đò qua sông H ò Hương và cùng đi xe đạp trên đường Âm Hồ Và tôi còn ồn. nhớ chú Mẫn rất rõ mặc dù chú đã là ng ã người thiên cổ. Lúc đó tôi khoảng chừng 13 tu ng tuổi, tôi không biết nhiều các anh chị thế hệ lớn hơn tôi. n Tôi được gặp lại những ngư quen lâu ng người ngày không gặp như chị Quỳnh ở Canada, cô Phương Chi, cô Quế Hương, Th Thầy Toản, cô Nguyệt, Cô Hoàng Oanh, chị Túy Hạ ạnh, chị Thúy Vi, chị Mẫu Đơn, anh Phước, chị Chi, chị Lạc, anh Khôi, Ninh Thái và anh Xuân, anh Nguy Nguyễn Khoa Hoạt, Thuý Hồng, em dâu Mỹ Hà và nhiều ỹ nhiều nưã… Vui quá là vui.! Hôm nay lạnh, nhưng ngoài kia n nắng rất đẹp, không có mưa. Mọi người đều đang ở trong u khách sạn ấm cúng vô cùng. Các anh ch tha hồ m chị chưng diện. Tôi nhìn ai cũng thấy đ gái, bảnh y đẹp trai cả. Quí ông diện đồ vest trông đ đẹp ra phết. Quí bà thì áo quần màu sắc sặc sỡ nét mặt vui ỡ, tươi hớn hở, đẹp quá chừng. Ai mà dám nói đây ng. là các cụ đâu. Nhìn ai cũng thấy ngon lành quá. y Có lẽ vì trong lòng mình đang an lạc và ni c niềm vui như bất tận đang dâng lên trên những khuôn m ng mặt vô tư không lo lắng vì chuyện nhà đang t n tạm xếp lại đàng sau.Đi chơi làm mình thư gi ư giãn và cũng là một liều thuốc bổ thật linh nghiệm. m. Tôi gặp lại Hoàng Mộng Lương, m người ng một bạn học thời tiểu học ở trường Trần Qu Toản, n Quốc lúc khoảng 9 tuổi. Người nào cũng lên ông lên bà, ên phát tướng ra phết, thế mà cũng lạ, t tui nhận ra , tụi nhau liền mặc dù HML từ Florida đế Tôi đã gặp ến. HML một lần trước đây trong dịp lễ Kỷ Niệm sinh nhật 100 năm Quốc Học tại San Jose, năm 1996. i Lần này HML trong ca đoàn Florida và c n cũng tặng tôi một cuốn sách mà bạn là tác giả.. .. Tôi gặp lại anh Tống Phước Ái là bà con c của tôi đã xa cách nhau từ hồi trước di t 1975. c tản Gặp anh, tôi nhớ đến Kim Anh, em gái anh, mà n hồi đó là người độc nhất chúng tôi k chuyện bồ t kể bịch của mình cho nhau nghe. Bí mậ đến thế đấy ật vì là gái Huế mà. Đi ra đường là ph nghiêm ng phải trang, không được bồ bịch lỡ chuyện không thành n thì tai tiếng lắm.Hồi đó chúng tôi đang ở lứa tuổi i mười bảy. Tôi cũng gặp những người b i bạn đi Hướng Đạo thuở nhỏ như Minh Châu, Phú Long, t Đức từ đến, Đỗ thị Hường từ Canada, Vĩnh Chánh t ĩnh từ Mình được biết có nh t những anh chị như Nguyễn Minh Chánh và Hương Anh t Pháp về n từ tham dự. Minh Châu Phú Long t Đức sang và . từ Mai Trang, Phương Anh thì từ Việt Nam qua. Mấy ừ bạn này đi chung trong nhóm Thu Lê - Bạch Lan. n Thu Lê từng làm việc này giúp Phư c Phượng Vỹ đã mấy chục năm rồi nên rất có kinh nghi t nghiệm và mình thật yên tâm đi trong nhóm đó vì sau hội t ngộ này chúng tôi còn đi sang Canada. California, Kim Ban từ miền Đông. Minh Châu cho n tôi những bức hình Hướng Đ của ngày xưa hai ng Đạo đứa chụp chung trên đồi Thiên M Một cảm giác i Mụ. ấm cúng lùa về, như những ngày s ng sống bình an trong căn nhà cha mẹ của tu thiếu niên tại Huế. a tuổi Ôi con đường Nhà Thương s ng sớm sớm chiều chiều ngày hai buổi cắp sách đi họ và ngày Chủ Nhật ọc thì đi họp đoàn. Con đường này tôi đ không còn ng đã nhận ra trong chuyến về Việ Nam năm nào. Tất ệt cả đều đổi thay và chỉ còn Hu với niềm thương Huế mà thôi. Tôi rất mừng đựơc gặp l Phi Loan và anh p lại Trọng, anh vẫn khỏe mạnh và có ch nh chụp hình cho chúng tôi, gặp Quỳnh Nga và Phương Lan M nh Mỹ Thắng. Rất mừng sau bao năm xa cách, có l ng lẽ cũng hơn 40 năm mới gặp lạ Một sự tự nhiên rất ại. chân tình khi được gặp nhau. H đó Quỳnh Nga p Hồi và tôi cũng thường đi bộ đi h với nhau. Đi trên học đường Âm Hồn thì tôi rẽ vào đư đường Kiệt Một, còn QN rẽ vào đường Kiệt Hai. Mai Trang, em QN t t từ Việt Nam cũng về dự buổi h ngộ. Thật quá tốt i hội cho một chuyến đi xa xôi như v n vậy.

- 87 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
diễn viên nghiệp dư đã xuất s trong vai diễn và t sắc rất được mọi người tán thưởng. Th mới thấy cái ng. Thế tài của bà bầu Show Thúy H u Hồng từ Dallas và tình thần của các nhóm viên trong nhi lứa tuổi khác a nhiều nhau.Các cô các thầy cũng l trình diễn giúp vui ũng lên tạo không khí rất thân thương và h đồng. Phu t hòa quân của Cô Nguyệt cũng l ũng lên hát tiếng Việt chung với các anh chị, cô th , thầy, trong ban văn nghệ.

Khách đi dự thường tổ chức đi theo nhóm, c nhất là những người đến từ nơi xa. Đi theo nhóm thì rất an tâm vì luôn luôn có sự hổ trợ của bạn ổ bè. Nhóm Nam Cali của Bạch Lan rấ đông và có ất nhiều cô rất trẻ đẹp. Tôi không biết đây có ph là t phải nhóm trẻ nhất không. Nhóm trường Luật Huế thì gồ : Võ Hiệu, ồm Hiệp Thành, Tuyết Hoa, Võ thị Huệ Minh Châu, ệ, Tịnh Dung, Hà thúc Tú,Phan thu Hòe. Tôi còn g nh gặp được những người đẹp mà hồi ấy ch được nghe y chỉ danh chứ chưa hề thấy mặt: chị Diệu Lê. u

Để không phiền hà ngư xem, tụi mình cứ n người tụm năm tụm ba ở hành lang tha h nói chuyện. hồ Tha hồ chụp hình với bức màn phông hoa anh c đào và cổng trường Quốc Họ ọc. Cuộc hội ngộ là cơ h để gặp lại đồng hội hương và bạn bè cũ. Thời gian, tu tác và sức i tuổi khỏe không chờ đợi một ai Buổi hội ngộ Nhớ Huế rất thành côngvì đã ế để lại những ấn tượng đẹp. S lượng người tham p. Số dự rất đông vướt quá mức d kiến. Thế mới biết c dự nếu có thời gian, cò sức kh c khỏe và những điều khiện vật chất thì mọi người luôn luôn tìm g lại i gặp nhau khi có cơ hội. Giũa nh ũa những người đồng hương cùng chung một giọng nói, tư ng tưởng chừng như đã tìm lại được quê hương c Huế! c cũ:

Phần văn Nghệ của buổi hội ng thành công i ngộ nhờ có rất nhiều nhóm văn nghệ các nơi nhi nhiệt tình đóng góp. Nội dung các màn trình di i diễn rất phong phú và đa dạng. Mặc dù chỉ được tổng dượt tại khách s lúc mọi i sạn người đang còn check in,nhưng màn ho cảnh hoạt “Hòn Vọng Phu”rất thành công khi trình di t diễn. Các

Riêng tôi, tôi đã tìm lại một phần đời trong quá khứ. Tôi đã tìm lại được b bè, người thân c bạn và cả những kỷ niệm tưởng ch ng chừng như đã phôi pha theo năm tháng. Xin tạm biệt. HIỆP THÀNH

- 88 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Tình Bạn I C1
1960-1961

Những người bạn cùng trường hững Cùng lớp thời trung học Đã nhiều năm cách xa Tưởng chẳng bao giờ gặp Rồi phép lạ xảy ra Ước mơ thành sự thật Giữa biển người bao la Quyết tìm ta vẫn gặp Bạn bè từ muôn hướng Âu , Mỹ rồi Úc xa Cùng nhau ta họp mặt Tình tràn đầy thiết tha Gặp nhau nhắc chuyện Vui, buồn, cứ triền miên Làm sao mà nói hết Kỷ niệm thời bút nghiên Chia tay lòng lưu luyến hia Nỗi buồn chẳng nói ra Bạn hiền đâu dễ kiếm Sưởi ấm cuộ đời ta cuộc

Tuổi đời dù chồng chất Mái tóc dù điểm sương Tình thương còn nguyên vẹn Với bạn cũ cùng trường Nhớ giữ đúng lời hẹn Gặp mỗi năm một lần Đường dù xa vời vợi Gió sương đừng ngại ngần Nhưng ... niềm vui chưa trọn Vì quê hương còn xa Bạn bè ta trông ngóng Niềm nhớ chẳng phôi pha Ước mong ngày đoàn tụ Bạn bè khắp nơi nơi Tìm về ngôi trường cũ Nhất C Một muôn đời

Lê khắc Ngọc Túy San Jose 2011

- 89 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

tản mạn, từ mộ chỗ làm ột
Trần Doãn Nho

Đó là một trong những ngày tuy lớn của ng tuyết mùa đông 2010: 20 inches. Tiểu bang tuyên b u bố tình trạng khẩn cấp. Tất cả các trư trường học đều đóng cửa. Nhưng theo quy định củ tiểu bang, ủa văn phòng tôi làm việc vẫn phải mở cửa vì là nơi phụ trách ghi danh cho học sinh vào các trư c trường công lập thành phố. Vất vả lắm, tôi m lọt ra khỏi mới cái driveway tuyết phủ để đến sở làm. Thành phố vắng tanh như trong tình trạng gi ng giới nghiêm. Không có bóng dáng một cái gì chuy t chuyển động ngoài tuyết rơi và những chiếc xe xúc tuy c tuyết. Trong thời tiết như thế này, dù đi đ đứng phiền hà, đám nhân viên chúng tôi v có cái thú n vẫn vị của nó: được hưởng một ngày vắ khách và ắng (đôi khi) hoàn toàn không có khách. Tôi mang theo cuốn sách để giết thì giờ. Ấy thế mà, đến khoảng 10 giờ thì có khách. Thấy có người vào, tôi rủa thầm trong b m bụng: thời tiết như thế này mà ai đó lặn lội đi ghi danh th i thì quả là “điếc không sợ súng”! Ra m cửa đón mở khách, tôi sửng sốt khi thấy, không ph chỉ một y, phải ai đó, mà là một đoàn đông đến…mư người. n…mười Người nào người nấy sướt mướt run r t rẩy trong những bộ áo ấm không cách gì đủ ấ trong thời ấm điểm giá rét cao điểm của miền đông b này. Thì n bắc ra, đó là một gia đình di dân từ Iraq v vừa mới đến định cư. Gia đình gồm có 8 người, hai v chồng i, vợ và 6 đứa con. Đi kèm là một người thân và m i một người quen làm thông dịch. Tôi hỏi ngư thông i người dịch tại sao không đợi ngày nắng ráo r đi ghi ng rồi danh? Người thông dịch cho biết, tuy m đến t, mới định cư có một tuần, nhưng ai cũng nóng l ũng lòng muốn cho con đến trường. Hơn n ng. nữa, ở nhà không biết làm gì, cả gia đình muốn v n vừa đi ngắm

tuyết vừa đi ghi danh “cho bi nước Mỹ”. Xem a biết hồ sơ mới hay, tuy họ là ngư Iraq, con cái sinh người đẻ ở Baghdad nhưng lại lớn lên ở trại tỵ nạn ở n Syria. Người cha và bà mẹ thì trông quê mùa, ẹ nhưng sáu đứa con của họ đ đứa nào đứa nấy mặt mày sáng sủa, xinh xắn; đứa nh nhất 5 tuổi, đứa a nhỏ lớn nhất 15 tuổi. Có em đi h qua ít lớp, có em i. học chưa hề đi học ngày nào. Cha m không biết mẹ tiếng Anh đã rồi (dường như c ng cũng thuộc loại mù chữ) mà các em, chẳng em nào bi nói một chữ ng biết tiếng Anh. Đã thế, người đi theo làm thông d i dịch, tiếng Anh cũng giới hạn. Đây là m trong những n. một trường hợp “khó” đối với việc ghi dan c danh. Đến trưa, tuyết rơi càng n t nặng. Ông trưởng phòng cho biết là nhân viên có th được phép về t thể sớm vì thời tiết quá xấu. Nhưng l bất ngờ có u. lại khách. Lần này là hai gia đình c ình cũng vừa mới đến định cư, một gia đình có mộ con và gia đình kia ột có hai đứa. Họ không phải t vùng Trung Đông, i từ mà là từ châu Á. Một gia đình ng ình người Karen, một sắc tộc thiểu số ở Miến Đi n Điện (Burma, bây giờ được đổi tên là Myanmar) đế từ một trại tỵ nạn ở ến vùng đông bắc Thái Lan. Gia đ c đình kia người Nepal, nhưng đến từ một tr tỵ nạn ở Butan, t trại nước láng giềng của Nepal. Hai gia đ a đình sau này tương đối dễ hơn vì có ng ì người “cán sự xã hội” (social worker) đi kèm theo. Do công vi việc, người cán sự xã hội phải tìm người thông d i dịch trước khi mang gia đình tới ghi danh, ho nếu không, họ i hoặc cũng nắm đủ các chi tiết về h sơ, lý lịch và trình hồ độ của các học sinh. Đó là các “khách hàng” đ đặc biệt của tôi, đúng hơn, “khách hàng” đặ biệt của cái văn ặc phòng ghi danh này. Đặc biệ là vì họ mới, hoàn ệt toàn mới đối với môi trường M Đặc biệt vì họ ng Mỹ. đều không biết tiếng Anh. Và đ biệt vì họ còn ng đặc

- 90 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
mang tất cả dấu ấn của quê hương c đậm nét a cũ, trên từng cử chỉ, dáng nét và ngôn ng Và còn , ngữ. đặc biệt hơn nữa, họ gợi nhớ cho tôi v những về ngày chân ướt chân ráo bước chân vào chính cơ c quan này để ghi danh cho ba đứa con tô đi học, a tôi gần hai thập niên trước. Hoa Kỳ như cái túi ch chứa những bất hạnh của thế giới. Thành thử, việc ghi danh ở một địa phương anh như thế này lại mang tính cách qu i quốc tế. Tôi chứng kiến đủ loại sắc dân v giấy tờ, tài liệu c với bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên th giới và thế được nghe nhiều tiếng nói khác nhau. Danh sách ng các ngôn ngữ bản xứ (native languages) đư sử được dụng để tham khảo và tra cứ khi cần, là một bản ứu danh sách khá dài, bao gồm c những tiếng chỉ m cả dùng trong một địa phương hay m bộ lạc. Nào a một là Twi, Swahili, Tigrinya, Dinka , nào là Urdu, Creole, Samoan, Bengali, Tamil, nào là Farsi, Lesotho, Kinyarwandu… Tôi vẫn tự hỏi: mình đang làm vi cho một việc nước hay cho một trung tâm qu tế? t quốc Quả thật là quốc tế. Qu tế chẳng phải vì . Quốc các khách hàng mà ngay chính trong cơ quan. Này nhé: người ngồi kế tôi trong cùng m phòng một là một bà người Hy Lạp, có cái h khá dài, p, họ Giannopoulos. Bà sang định cư ở đây đã hơn 40 nh năm, có chồng là người gốc Áo. Ngư làm việc ở c Người phòng bên cạnh là một ph nữ người Puerto t phụ Rico, gốc Tây Ban Nha, Carmen. Bà t sinh c ta trưởng ở Hoa Kỳ, cha vốn là c n cựu quân nhân trong quân đội Hoa Kỳ đã từng tham gia cu ng cuộc chiến tranh Triều Tiên hồi những năm 1950. Ngư ở ng Người phòng kế là một bà lão ngư gốc Armenia, một ười trong những nước Cộng Hòa Sô Vi cũ. Cha mẹ ng Viết bà theo gia đình sang Mỹ từ đầu thế kỷ 20 để trốn tránh cuộc tàn sát của người Th Nhĩ Kỳ vào đầu i Thổ thế kỷ 20. Người cùng phòng là m ông trung i một niên, có họ là Latkovskis, ngư gốc Latvia, một người nước cộng hòa ở vùng Balkan, b Nga sáp nhập bị vào Cộng Hòa Sô Viết cho đ t đến năm 1990. Bên cạnh ông là một bà khác, Dolores. Bà này là m t một trong những ngưới “Mỹ” nhất ở trong cơ quan tôi. t Tổ tiên bà đã định cư ở đây t thế kỷ 19. Bà ta từ chỉ nói tiếng Anh và không m hào hứng khi đề ng mấy cập đến gốc gác cũ của mình. M bà khác nữa, a Một Barbara, da đen, thuộc tổ tiên b bán làm nô lệ từ bị thế kỷ 17. Ở lầu hai, coi sóc m chương trình u một song ngữ là một người thu i thuộc nước Cộng Hòa Dominic, Nam Mỹ. Phòng kế là Theresa, một cô ế gái gốc Ý, một trong những thành viên ho động ng hoạt tích cực cho cộng đồng ngườ Ý ở thành phố. Một ời bà khác, Cynthia, gốc Albania. Bà ta sinh trư c trưởng ở đây, nhưng nói rất rành cả hai thứ tiếng Mỹ và ả

Cũng như tôi, những người như h đến từ i họ những nơi xa xôi trên thế giới. Từ Kenya, Ghana, Côte D’Ivoire (Bờ Biển Ngà) cho đến Lào, Butan, n Nepal; từ Palestine, Iran, Iraq, Kosovo cho đ đến Uruguay, Mexico, Nicaragua, hay Latvia, Armenia, Kyrgyzstan. Đến từ những nư ng nước mà tình hình kinh tế, chính trị ổn định như Pháp, Đ nh Đại Hàn, Nhật chẳng hạn thì số lượng không đáng k ng kể, chủ yếu là những gia đình đi theo di bảo lãnh diện hay du học, phần đông không ph là di dân. n phải Riêng các vùng khác, thì tùy thời điể và tùy tình ểm hình trên thế giới mà người ở xứ này đến ghi ứ danh nhiều hơn ở xứ kia. Có chi chiến tranh ở Kosovo thì có nhiều người đến từ Kosovo. Có ừ đàn áp ở Miến Điện thì có nhiều ngư đến từ u người Miến Điện. Có động đất ở Haiti thì có nhi người nhiều đến từ Haiti. Có chiến tranh ở Uganda thì có nhiều người đến từ Uganda…Cũng nh trước ũng như đây, có hiện tượng thuyền nhân thì có nhi n nhiều người đến từ Việt Nam. Chiến tranh, thiên tai, đàn n áp… – tóm lại, những biến động đâu đó trên th ng thế giới - là nguyên nhân mang thêm ngư di dân người đến xứ sở này. Chẳng hạn như tình hình ở Lybia ình hiện nay. Tôi đoán thế nào trong thờ gian sắp tới ời cũng sẽ có nhiều gia đình từ xứ Lybia d con cái dẫn đến ghi danh vào trường học ở thành ph tôi. phố

- 91 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Albanian, chuyên môn đi thông dịch cho các gia ch đình Albania mới định cư. Một bà khác, Norma, t gốc Pháp di dân từ Québec, Canada. Ở lầu ba, Stella, một phụ nữ gốc Trung Hoa. Frank c Putzkammer, cấp trên của chị ta là m người đàn một ông gốc Đức. Một bà mới chuyển đế Nasrin, là ến, dân Iran, di cư sang Mỹ sau cuộc cách m c mạng Hồi Giáo lật đổ nhà vua Palevi. Sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 phá h hủy tòa Tháp Đôi Nữu Ước (Twin Towers), nhi c nhiều người trong cơ quan tôi bỗng dưng bàn tán vi ng việc trở về tái định cư tại…quê hương. Bà Carmen i…quê bảo là sẽ trở về lại Puerto Rico; bà Maria đòi trở về với căn nhà nhỏ ven bờ biển ở ngoại ô thành phố Athenes, thủ đô nước Hy Lạp; bà Cynthia thì đòi về Tyrana, Albania, quê nội của bà, dù bà ta thú nhận là chưa có dịp về đó bao giờ kể từ khi được sinh ra trên đất Mỹ; bà Norma thì muốn trở về Québec với bà chị họ; cô gái Thérésa thì đòi trở về Rome. Bà Nasrin thì đòi trở lại Tehran, dù bà cho biế là bà chẳng ết hề thích chút nào cái chính quyền c n cực đoan lệ thuộc tôn giáo này. Một số người khác thì c i cũng muốn đi, nhưng phân vân chưa biết đi đâu, v quê t vì hương cũ đối với họ thì tuy có đó, nhưng ch thực chỉ sự dính dáng đến những người của hai, ba th hệ a thế trước. Nghe họ bàn tán, dù chẳng có m may ý ng mảy định trở về, nhưng tôi cũng đâm ra hoang mang: ũng về hay ở? Sau 11 tháng 9, giấc mơ M (American c Mỹ Dream) nghe chừng như rạn nứt. Ch t. Chấn động về một nước Mỹ bất an, nên đâm ra xôn xao tr về t trở một nơi gọi là quê hương đã từng b bỏ lại xa tít ng bị mù mịt trong quá khứ! Đột nhiên, ngư ta bắt t người đầu có một cái mặc cảm mới mẻ: m cảm (làm : mặc người) Mỹ. Còn nhớ một lần, tay trưởng phòng – ông ng chủ trực tiếp của tôi, gốc Li Băng (Lebanon), t c tổ tiên lai cả Nga và Do Thái - than th về chuyện thở khủng bố: tại sao họ ghét nước mình th nhỉ?! c thế Nước mình, our country! Đúng th Mỹ là , thế, nước mình. Nước mình, nhưng không ph , phải là quê hương. Michael Walzer, trong bài vi có tựa đề , viết “What does it mean to be an "American What "American?”, cho rằng người Mỹ thực sự không bao gi nói về đất giờ nước của họ như là m một tổ quốc (fatherland/motherland). Hoa K không phải là Kỳ một quê hương (homeland), hi t hiểu như là nơi mà những gia đình có cùng ngu ình nguồn gốc (national family) cư ngụ như các xứ sở khác. Đó là một xứ ở sở c những di dân, mà của dù h biết ơn nơi dung họ thân m mới mẻ này đến mức nào đi n c nữa, vẫn không h quên quê quán hề cũ. V con cái họ biết ũ. Và rằng h có gốc gác ở một ng họ nơi khác. Không nghi ngờ gì nữa, họ tuy sinh trưởng ở đây vẫn không sao tránh đư được cái cảm giác ngư ngượng nghịu lúng túng c của một người mới đến, v cố cưỡng chống n, vẫn lại việc gọi nơi này là quê hương.(1 i hương.(1) Đã không có quê hương, t quốc, khái niệm ương, tổ đồng bào lại càng xa lắc xa lơ. Ngư Mỹ chẳng c Người nở ra từ một trứng, mà nở từ hàng ngàn hàng vạn thứ trứng vô cùng khác nhau. Không đồng ng bào nên chẳng đồng hương. Có th dùng lại cách . thể nói của người Trung Hoa xưa: tứ hải giai...công i dân. Ở Mỹ, chỉ có công dân, ch không có huynh chứ đệ, là nơi người ta nói về qu tịch, về nhập tịch, quốc chứ không nói về quê quán, qu gia. Đó là nơi quốc người ta nói về luật, về hiến pháp, v tu chính này n về tu chính nọ, chứ không nói v tình tự quê hương. về Đó là nơi người ta nói về nh những sự kiện đã trở thành lịch sử, chứ không nhắ nhở về những giai ắc thoại. Họ không có thánh Gióng, không có th thần Thái Dương, không có vua Hùng…H không cần Hùng…Họ truyền thống, nên cũng chẳ ẳng âu lo về chuyện bảo vệ bản sắc dân tộc. Làm m người Mỹ y như c. một thể làm một kẻ vô căn, thiếu nh u những huyền thoại lập quốc. Philip Gleason nhậ xét: Để trở thành ận một người Mỹ, một người không c i cần phải thuộc về một quốc gia, một ngôn ng một tôn giáo hay t ngữ, một chủng tộc. Tất cả cái mà ông/bà t cần là ta

- 92 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
phải có một cam kết trung thành với một ý thức hệ tập trung vào những lý tưởng trừu tượng: tự do, bình đẳng và cộng hòa.(2) Đó là một thứ quốc gia của những quốc gia (nation of nationalities). Nói cho chết lý, một người chỉ có thể thành người Mỹ thực sự nếu anh/chị ta là nặc danh về phương diện chủng tộc (ethnically anonymous). Vâng, anh/chị ta có quyền nặc danh. Và phải hiểu đó là một phần của tính cách Mỹ. Đó là một nơi của “nhiều trong một” (many-in-one). Tiến trình Mỹ hóa là tiến trình tinh thần xóa bỏ một cách thành công tất cả những căn cước có trước (the mental erasure of all previous identities), nghĩa là quên, một sự quên lãng tuyệt đối (absolute forgetfulness), theo Kallen Horace. (3) Khác với cách nói đượm mùi triết lý nói trên, Michel-Guillaume-Jean De Crevecoeur, bằng một ngôn ngữ bình dân hơn, cho rằng một người Mỹ là người, “để lại đàng sau hắn tất cả những thành kiến và lề thói cũ, tiếp nhận những cung cách mới từ một cách sống mới mà hắn nắm lấy, từ chính quyền mới mà hắn tuân theo, và vị trí xã hội mới mà hắn giữ. Hắn trở thành một người Mỹ bằng cách được ôm ấp trong tấm lòng bao dung của Dưỡng Mẫu vĩ đại của chúng ta. Ở đây, cá nhân của mọi quốc gia tan hòa vào trong một chủng tộc mới, mà công sức và con cháu của họ một ngày kia sẽ đưa đến thay đổi lớn lao trên thế giới”. (4) Tôi chịu cách diễn đạt này! Mỹ trộn lẫn hàng trăm sắc dân khác nhau, đến từ khắp chân trời góc bể. Theo tài liệu thống kê năm 2006, người Mỹ gốc Đức đông nhất, chiếm hơn 17% dân số Mỹ, khoảng trên dưới 50 triệu người, sau đó mới đến người gốc Irish, chiếm khoảng 12%, chừng 36 triệu. Kế đó là người Mỹ gốc Anh (Anglo-Saxon), khoảng 9,4%, 28 triệu, rồi người Mỹ gốc Pháp, 10-11%, gốc Ý, xấp xỉ 6%, gốc Ba Lan, hơn 3%,…và thổ dân Mỹ (Idian American) khoảng 1%. (5) Có 20 triệu người tự khai rằng họ là người Mỹ (Americans), không kèm theo gốc này gốc kia, nghĩa là người Mỹ thuần túy. Thực ra, theo phân tích của cơ quan làm thống kê, những người gọi là Mỹ (thuần túy) đó, cũng thuộc trong nhóm các người Âu Châu chiếm ưu thế như English, Irish hay Scottish…hoặc là những người lai, không thể nói hẳn là mình thuộc nhóm chủng tộc nào. Mỹ thuần túy, nói như Kallen Horace vừa trích ở trên, đúng là những kẻ nặc danh về phương diện chủng tộc. Họ là người Mỹ gốc…Mỹ! Mỗi ngày đi làm, vào cơ quan, nhìn quanh nhìn quấc chỉ thấy toàn là những người “ngoại quốc”. Có thể nói chúng tôi là những ngoại quốc của nhau. Hầu hết đều nói tiếng Anh như ngoại ngữ. Đàng sau những đôi mắt đó, đàng sau bộ áo quần đó, đàng sau thứ tiếng Anh lơ lớ đó là cả những thế giới hoàn toàn khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Nhưng vẫn làm việc với nhau, trò chuyện, giao tình với nhau như những… đồng hương. Đồng hương của một “contrat social”, khế ước xã hội. Dẫu vậy, trong lúc làm việc, thú thật, tôi nhiều lần không tránh khỏi cảm giác bị kỳ thị. Đồng thời cũng không tránh khỏi cảm giác kỳ thị những sắc dân khác, nhất là đối với những người đến từ Phi Châu hay từ các xứ Nam Mỹ. Và trong thời gian gần đây, tôi không mấy thiện cảm với người gốc Trung Hoa, đặc biệt là những ai mới đến từ Trung Cộng. Một mặt, do thái độ hung hăng hiếu chiến của Trung Cộng đối với các nước Đông Nam Á, nhất là đối với quê hương tôi, Việt Nam; mặt khác, do sự tranh chấp kinh tế và cả quân sự giữa Trung Cộng với chính nước mình, Hoa Kỳ. Ấy thế mà, tôi cố gắng phục vụ mọi người một cách bình đẳng. Do phải tuân theo luật pháp và nhiều quy định riêng biệt khác, do phải tỏ ra là tác phong của một Mỹ thứ thiệt, lúc nào tôi cũng tỏ ra tận tâm, tận tình. “Tỏ ra” riết thành thói quen. Lâu dần trở thành bản chất. Bây giờ tôi có thể tự hào là mình nói “Thank you” hay “May I help you”, hay “My pleasure”, hay “I’m sorry” hay “I apologize”…một cách hết sức trơn tru (và đầy quán tính!) cùng với những cử chỉ lịch sựhao hao kiểu Mỹ. Ăn nói đi đứng nằm ngồi…tất cả, tất cả đều hao hao như thế. Phải chăng tôi đã bị hóa thân mất rồi! Chung quanh đây không thiếu gì đồng hương, nhưng chẳng có láng giềng. Không thiếu gì chim chóc nhưng chẳng có tiếng chim hót đầu rào (làng cũ); không thiếu gì cây trái nhưng tìm đâu ra chùm khế ngọt (để trèo hái mỗi ngày!); không thiếu gì cây lá nhưng tìm đâu thấy lũy tre

- 93 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
làng; không thiếu gì nông trang nhưng t đâu ra ưng tìm con diều bay trên đồng chiều đầy gió… Ở đây chỉ y có cuộc sống, bươn chải và hối hả. Hình ảnh, khái niệm, tập tục, thói quen dường như tan thành …hoài niệm. Loay hoay làm việc, loay hoay hội nhập với môi trường mới, loay hoay nuôi con nuôi cái cho thành người (Mỹ), loay hoay đ ), để sống còn, để tồn tại, loay hoay cho ra v Mỹ, tóm y vẻ lại là một nỗ lực americanize, rốt cuộ những lúc ộc, tỉnh táo suy gẫm về mình, về quê hương (Việt) mình, về nước (Mỹ) mình, tôi ngậm ngùi t hỏi: m tự TÔI LÀ AI?(6) So với ngày chân ướt chân ráo bư t bước đến xứ sở này với một tâm hồn ăm ắp quê hương và ăm ắp khát vọng được trở về, bây giờ tôi đã khác, ờ khác lắm. Tôi chẳng còn là tôi nữa. Tôi tan dần, tan dần, tan dần… trong cái n n… nồi hỗn hợp. The melting pot! Ghi chú:
1

Trần Doãn Nho
(Nguyên học sinh Đệ Nhất B4/Quố Học 1961ốc 1964) ____________

Michael Walzer, What does it mean to be an "American?”, Social Research Research, Fall, 2004. “Americans have never spoken of their country as a fatherland (or motherland). (…) Similarly, the United States isn't a "homeland" (where a national family might dwell), not, at least, as other countries are, in east, casual conversation and unreflective feeling. It is a country of immigrants who, however grateful they are for this new place, still remember the old places. And their children know, if only intermittently, that they have roots elsewhere. They, no doubt, are native oots grown, but some awkward sense of newness here, or of distant oldness, keeps the tongue from calling this land "home." Xem ở http://findarticles.com/p/articles/mi_m2267/is_3_71/ai _n6364147/?tag=content;col1 2 Dẫn theo Michael Walzer, bài đ dẫn , đã 3 Như trên 4 He is an American, who, leaving behind him all his ancient prejudices and manners, receives new ones from the new mode of life he has embraced, the new government he obeys, and the new rank he holds. He becomes an American by being received in the broad lap of our great Alma Mater. Here individuals of all nations are melted into a new race of men, whose labours and posterity will one day cause great change in the world. Xem ở http://asjournal.zusa http://asjournal.zusas.unihalle.de/103.html Michel-Guillaume-Jean De Crevecoeur là m quý tộc Jean một Pháp, năm 1755, di cư sang vùng l lãnh thổ Bắc Mỹ do Pháp kiểm soát, chiến đấu trong hàng ng Pháp chống u ngũ Anh. Sau khi Pháp thua, ông nh tịch Mỹ, lập một nhập nông trại lớn ở Orange County (New York). Năm 1783, y ông cho xuất bản tại Luân Đôn m tập sách có tựa đề i một Letters from an American Farmer diễn tả đời sống mới ở Hoa Kỳ và thăm dò khái ni ò niệm American Dream. Trích đoạn trên rút ra từ lá thư th ba (Third Letter) là thứ lá thư nổi tiếng nhất trong tập sách nói trên có t đề p tựa là “What is an American?". 5 Source: U.S. Census Bureau, 2006 American Community Survey. 6 Xin xem thêm: Bùi Văn Phú: “ “Tôi là ai? Nhưng không phải ải Việt kiều”, kiều http://www.talawas.org/?p=7487 Và Trần ần Mộng Tú: “Tôi là l ai?”, http://www.talawas.org/?p=7736

- 94 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

TRƯỜNG ANH
TRƯỜNG EM NG
Chút tản mạn về hai ngôi trường xứ Huế ế Cao Quảng Văn Trải bao năm tháng bể dâu, ngót cả thế kỷ đi qua, ả hai ngôi trường cao tuổi, lão làng vẫn còn đó với nắng n mưa, trơ gan cùng tuế nguyệt! “Trường anh, trư ng trường em”– hay văn vẻ hơn, “ Tàu” hơn một chút: Trư t Trường huynh trường muội – vẫn lặng lẽ nằm ( hay ng ?) m ngồi cạnh bên nhau, cùng day mặt nhìn ra con đường Lê Lợi t tấp nập người xe, ra dòng Hương giang trong xanh leo ương lẻo - ( Con sông dùng dằng con sông không ch Sông ng chảy, chảy vào lòng nên Huế rất sâu?- Thu Bồ )- mang theo ồn lờ lững mây trời xanh đỏ tím vàng, từ đ đỉnh Ngự Bình mờ sương xa xôi xuôi ra cửa bể Thuậ An, tuôn về ận Biển Đông mênh mông cuộn sóng… “Năm anh hai mươi, em mới sinh ra đ i đời!”(!). Anh sinh năm 1896, còn em, 1917. C hai, đôi bạn òn Cả chân tình, lần lượt trước sau đều đã qua lâu l rồi cái ã lắm tuổi mừng thượng thọ, đại thọ - bát tuần, c tuần - để n, cửu trở thành hai bậc kỳ lão trong số các ngôi trư trường cao tuổi lẫy lừng từ nam chí bắc! nhất là c miền trung t của nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá, mà vẫn không nguôi nuôi dưỡng bao thế hệ thanh thiếu niên giàu chí u cần cù, hiếu học, quyết tâm vượt thoát c t cảnh nghèo, vươn lên giúp ích gia đình và cả cộng đồ đất nước. ồng, Ở đó, bao nhiêu cô cậu học trò nghèo c Huế và đất c của Thừa Thiên, cũng như bao chàng trai, cô gái chăm ch ư chỉ, thông minh của các xứ Quảng Trị, Đà N , Nẵng, Hội An, Quảng Nam, Tam Kỳ, Quảng Ngãi,…lân c đã mài ng cận mònđũng quần cùng ôm bao giấc mộng l ng lớn, mộng con suốt bảy năm dài thời trung học. Ở đó, hai ngôi trường quét vôi đ hồng, khang ng đỏ trang đã từng làm chứng nhân tự nguy nguyện, nhiệt tình hay bất đắc dĩ cho bao cuộc tình có tên hay không tên, nh bát ngát, đằm thắm ra hoa hay nửa chừng dang d để ng dở, nghe ra, nghe hết những bài thơ, khúc nh tha thiết ng nhạc viết cho những cuộc tình học trò, áo trắng tinh khôi: Áo ng trắng đơn sơ, mộng trắng trong. Hôm xưa em đ mắt ng đến, như lòng. Nở bừng ánh sáng, em đi đến. Gót ng dồn n. ngọc hương, bước tỏa hồng ( Áo trắng -Huy C Huy Cận). Ở đó, trên con đường nhỏ ngăn cách gi hai giữa trường, hay trên con đường phượng bay, s ng sớm sớm chiều chiều, Đường Nguyễn trường Tộ lúc người ta đến lớp hay khi em tan trư p trường về…, hai hàng cây sóng đôi, chụm đầu th thỉ lại có dịp chứng u thủ kiến, lắng nghe bao câu chuyện tình di n diễm ảo của các bậc tình si Quốc Học lững thữ theo sau hay đạp xe ững đạp lẽo đẽo theo nhau qua baon đường xứ Huế: Sao nẻo em biết anh nhìn mà nghiêng nón? Chi mùa thu mây t Chiều che có nắng đâu. Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu. Sẽ làm khô làn môi em dịu ướt(…) N nghiêng nón có t(…) Nếu nghĩa là từ khước. Sao mười ngón tay em b i bỗng cuống quít đan nhau. Nửa vầng má em b ng bỗng thắm sắc hồng đào. Đôi chân bước anh nghe ch c chừng sai nhịp. Gió níu tà áo em bảo thầm đi không k Nhà không xa sao m kịp. nàng bỗng nhanh chân? Nếu nghiêng nón có ngh là u nghĩa từ khước. Sao loanh quanh em ch c. chẳng chọn đường gần? ( Nghiêng nón – Trần Quang Long). n Dĩ nhiên là có khối chàng Quố Học “đa tình mà nhút ốc nhát” nên chỉ dám lặng lẽ theo sau, n đuôi các o nữ nối sinh Đồng Khánh xinh đẹp, d dàng, qua bao con p, dịu đường dài với khối tình câm, ho với mối tình đơn i hoặc phương, cách trở, bế tắc chỉ vì …quá b rối ngu ngơ bối không dám mở lời. Hay chỉ vì Đôi m em lặng buồn. mắt Nhìn thôi mà chẳng nói. Tình đôi ta vời vợi. Có nói ng cũng không cùng! Nên Yêu suốt m mùa đông. Không t một một lần đã nói Nhìn nhau buồn v vợi. Có nói cũng n vời không cùng...Để rồi, có một ngày chàng đành ph một t phải mình than thở, thầm trách Ai bả em là giai nhân. Cho ảo đời anh đau khổ?. Ai bảo em ng bên cửa sổ. Cho o ngồi vương víu nợ thi nhân? ( Lưu Tr Trọng Lư). Cũng có khi, chàng tự an ủi mình với nỗi ước ao sầu mộng : Em chỉ là người em gái thôi. Ngư em sầu i Người mộng của muôn đời. Tình em nh tuyết dăng đầu núi. i. như Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vờ ời…Rồi đau khổ : Hãy xếp lại muôn vàn ân ái. Đừng trách nhau, đ ng đừng ái ngại nhau. Thuyền yêu không ghé b sầu. Như đêm thiếu n bến phụ bên lầu không trăng ( Một mùa đông – Lưu Trọng t Lư). Hay lắm khi, như chàng Huy C thi sĩ đa tình, đa m Cận sầu đa cảm …chỉ dám tình tự trong mơ v người mình với yêu dấu: Lòng em nhớ lòng anh t vạn kỷ. Gặp hôm từ nay nhưng hẹn đã ngàn xưa. Yêu gi đời mà hồn ở ưa. giữa trong mơ. Tình rộng quá, đời không biên gi nữa. Đây i giới

- 95 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
cửa mộng lòng em, anh hãy mở. Màu thanh thiên rời rợi, gió long lanh. ..Và, như thế, những cuộc tình “ lý tưởng, thần thánh, trong mơ” cứ âm thầm đi vào nhạc, vào thơ: Vào Tà áo tím ( Hoàng Nguyên): Một chiều lang thangbên dòng Hương giang, tôi gặp một tà áo tím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương, màu áo tím sao luyến thương, màu áo tím sao vấn vương…Rồi lòng bâng khuâng theo màu áo ấy…mà quyến luyến, mà mong ước, chiêm bao như mong một lời nói, một lời nói yêu thương. Để rồi Mặc thời gian dìu đôi cánh biếc, mặc dòng sông dịu hiền luyến tiếc, mặc chiều thu buồn như gối chiếc, Tôi mơ màu áo, ước mong sao áo màu khép kín tim nhau… Hay vào Khúc tình ca xứ Huế( Trần Đại Mỹ): Nam Giao đăm đăm mắt lặng nhìn tóc bồng bềnh. Bến Ngự chiều nay ai mong gió lên. Xa xôi âm vang tiếng cười hiền, trên đường về hoa nở đẹp môi cười, nhớ mãi không quên… Hay như chàng Tế Hanh nhớ về trường xưa – trường Khải Định tức là trường Quốc Học – trong bài thơ Nhớ trường:…Nhớ thuở lòng xanh dưới mái nâu. Bâng khuâng ôm ấp mộng ban đầu. Tình yêu người bạn êm như cỏ. Lan phủ con đường lối cổng sau(…). Ta kiếm hình xưa ở khắp đường. Nụ cười bằng nắng, mắt bằng sương. Mười lăm, mười sáu, chàng trai nhỏ. Theo mộng, theo thơ bước đến trường(…) Và cứ thế, có những cuộc tình xuôi chèo mát mái, đi đến một hồi kết cuộc đẹp như hoa, đơm bông kết trái, làm đẹp lòng cả đôi bên và tất cả mọi người, mà trong đó cô dâu Đồng Khánh sánh duyên cùng chú rể Quốc Học đôi lứa xứng đôi. Thì cũng có những câu chuyện tình buồn, dở dang, không có hồi kết thúc, những khối tình tan trên vạn nẻođường Huế, đã góp phần u uẩn vào kho tình sử muôn màu muôn vẻ của Huế ngày xưa. Thế nhưng, đặc biệt hơn cả trong pho tình sử dài kỳ của hai ngôi trường bạn già tri kỷ Quốc Học – Đồng Khánh , còn lưu dấu lâu nay trong thơ văn, phải kể tới một bài thơ viết giọng Huế chay, rặt Huế 100% của một nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa, lưu hành trong giới học trò xứ Huế. Đó là bài thơ Chi lạ rứa của Nhất Ly Tâm – Nguyễn Thị Hoàng, vào cuối thập niên 50 của Huế. Bài thơ này chắc hẳn không ít cựu học sinh Quốc Học hay cựu nữ sinh Đồng Khánh vẫn còn nhớ ? ( có in lại trong Tự tình với Huế sau này):Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc. Nhìn chi tui, loài cỏ mọn hoa hèn. Nhìn chi tui, đồ đom đóm trong đêm. Cho thêm tủi bên ni bờ cô tịch! Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích. Tui van xin răng mà cứ làm ngơ? Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ? Ghép yêu mến vô duyên và trơ trẽn. Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn.(…) Tui cũng muốn có một người tri kỷ. Nhưng đường đời như rứa đó, biết mần răng. Tui muốn kêu muốn gọi, muốn thưa rằng: Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa? Một chuyện tình lẻ loi, không đi về đâu, bởi hai nhân vật chính đã không có được mối cảm thông cần thiết ngoài nỗi buồn đau và lời than thân trách phận? Và cũng như thế, những chuyện tình buồn vì “duyên nợ trái ngang, người một ngả”, cuối cùng “ Bây chừ hai đứa hai nơi. Đứa buồn quê mẹ, đứa đời ly hương”, để chỉ còn lại mối hoài niệm bùi ngùi về một ngày quá khứ xa xôi năm nào, của mối tình học trò thời trung học: Anh qua Quốc Học, em Đồng Khánh. Thừa Phủ, Văn Lâu bến đợi chờ. Hai đứa nhìn nhau trong nín lặng. Tình yêu năm tháng đến không ngờ. Trường anh gang tấc cách trường em. Lên gác trông sang để ngóng tìm. Thấp thoáng bóng ai cùng đáp lại. Cơ hồ xao xuyến rụng con tim( Đôi ngả - Vô Tình). Hay như nỗi niềm yêu Huế không nguôi qua mối tình cảm thương nhớ lạ lùng về một Ngày Xưa bên nhau, nghe tiếng em thỏ thẻ, anh nghe như Tiếng quê hương xao động đến vô cùng nên bây giờ: Nếu lại được em ru bằng giọng Huế. Được vỗ về như mạ hát ngày xưa. Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt. Chết cũng đành, không nuối tiếc chi mô! ( Giọng Huế - Tô Kiều Ngân).Trong thâm tâm, mỗi anh chàng Quốc Học như vẫn muốn khẳng quyết một điều, cho dù chẳng muốn và chẳng thể nói ra, vì lẽ Tin nhau ai nói bằng lời. Và mai ai biết xa vời bao nhiêu?- Một thương là sự đã liều. Thì theo cho đến xế chiều chứ sao! ( Đến chiều – Nguyễn Đình Thư). Và như thế, câu chuyện xưa về hai ngôi trường Quốc Học- Đồng Khánh -cứ tiếp tục lưu truyền trong các chuyện kể dân gian, trong tâm tình bao thế hệ. Từ khi tóc họ còn đen mướt, huyền nhung cho đến khi đã phơ phơ đầu bạc, trở thành các Ôn, Mệ, Ông Bà Nội Ngoại của bao lớp cháu con tiếp nối, tiếp tục truyền thống hiếu học, yêu người và yêu Đời của bao lớp lớp Người Xưa, như bao chuyện cổ tích và truyền thuyết dân gian về một vùng Đất Học tự bao đời của miền trung và đất nước! Trường Quốc Học bây giờ lại tiếp tục là ngôi trường chuyên, là trung tâm đào tạo chất lượng cao, cung cấp nhân tài cho đất nước. Và, trường Đồng Khánh xưa – nay là trường Hai Bà Trưng – lại tiếp nối trang sử vàng son , tô bồi cho truyền thống hiếu học, cần cù, thông minh tài hoa của học trò xứ Huế…

Cao Quảng Văn
11.11.2011

- 96 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

VỚI HUẾ MÙ SƯƠNG

Vũ Điệu Đời Tôi ũ
Gót dạo tình yêu cuộc viễn tr ộc trình, Đường đời nhẹ gánh tuổi phồn vinh, ờng Yêu nhau từ độ còn niên thi òn thiếu, Tỉnh giấc Nam Kha mộng chúng m ộng mình. Trở lại chiều nay buổi thiếu thời, ở Tay cầm tay nhẹ nỗi ch vơi, ẹ chơi Dìu nhau cánh gió trong khiêu v vũ, Sóng dậy ân tình nh bể khơi. ình như Mắt đã nhìn nhau t thuở nào, ã tự Tình ta như thể giấc chi bao, ể chiêm Yêu nhau vẫn một lòng chung th òng thủy, Trải mấy triều dâng sóng dạt d ải dào. Ngày nay ngả bóng tuổi thanh xuân, ả Hư ảnh đầy vơi lối ngập ngừng, ối Vũ điệu còn nguyên tràn k niệm, òn kỷ Những chiều hạnh phúc của đôi thân. ững Mắt mỏi nhìn nhau t thật gần, ìn tới Cuộc tình như thể cặp giai nhân, ể Vơi đầy nhung nhớ cầm h ảnh, ầy hư Theo dõi đôi ta suốt c trần, ốt cõi Ta đã yêu nhau đầy hạnh phúc, ầy Đây nhà mình trọ giữa t ọ tình thâm...

Ta về thăm Huế mù sương Bước chân lạ lẫm bên đường- Huế xưa Quán gầy guộc vắng chiều mưa Sầu đông tím mỏi gió lùa . Trăm năm Thảo thơm Thoảng chút hương trầm m Vàng thu chiếc lá Khúc cầm nguyệt xanh Góc vườn nỗi nhớ vòng quanh Mây bay từ thuở trăng thanh chưa v về! Ngõ buồn Đau đáu tình quê Nửa lùm tre gió não nề cuộc không c Cánh diều vi vút mênh mông u Đường xa lơ đãng chiều không thấy chiều… u…

Cao quảng Văn

Tôn Thất Thiều ất
(phỏng dịch thơ "Ce Soir Fais ơ Fais-moi Dancer Của Albert Babin) ủa
- 97 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Lớp Đệ Nhất A1 L

Quốc Học 60-61
Phan Mộng Hoàn
Thương mến tặng quý Thầy và các bạn IA1 của tôi

Nữ sinh: từ trái sang: Diệu Tân, Kim Tr Trâm, Minh Nguyệt, Phan Lan, Mộng Hòan, Thanh Tùng (sau), ng Tường Nhi, Thu Nguyệt, Bích Túy, Mỹ Li Nguyễn Thị Phương, T ờng Liên, ương, Tùng Vân

Vào đầu niên khoá 60-61, sau khi đ tú tài Bán phần, tôi qua học đệ nhất Quốc Học. Hồi đó các 61, đậu ần, trường công tư ở Huế cũng như tất cả các tr ất trường công tư của các tỉnh miền Trung, vẫn ch mở đến lớp ủa chưa đệ nhất. Vì thế nam và nữ sinh đậu bán phần rồi, nếu muốn tiếp tục việc học thi To phần để chuẩn bị ữ Toàn bước vào ngưỡng cửa Đại học đều phải v học lớp đệ nhất ở Quốc Học. Nên chi h ai nghe con gái mà ỡng vào ên hễ học Quốc Học đều phải hiểu ngầm “chúng tôi l bậc nữ lưu thứ dữ!” ọc là Chiều hôm qua (vào mùa Giáng Sinh năm ào 1997), khi tôi bận làm bếp, lửa đang đỏ rực th ếp, thì nghe phone réo um sùm. Vừa kịp văn nhỏ l ga, ừa lò bắt phone, bỗng mừng hết sức vì nghe gi ì giọng nói một “cố nhân” phải hiểu rõ ở đây là b cùng lớp à bạn QH. Hắn là Trần Phương Tùng, một bạn chí cốt ột của anh Dân Hiệp, anh cả chúng tôi. T ủa Tùng xuất thân là dân trường Pellerin, đậu bán phần n bỏ ờng nên trường Sư huynh để vào Quốc Học. T ốc Tùng gọi tới xưng danh là bạn thân của Tú Rọm, qu mất tiêu ạn quên chuyện từng “may mắn” học c ện cùng lớp với em gái Dân Hiệp. Tôi tự ái ghê gớm v Tùng đã “cả gan” ớm vì quên sự kiện quan trọng như r ư rứa. Nhưng tôi tạm tha thứ cho bạn cũ vì cuộc đời anh đ lăn lóc như ộc đã trái banh Tùng vẫn dẫn độ đem vinh quang cho ẫn đội bóng lớp mình, cho đội bóng QH ng xưa. Từ ội ngày niềm vui gặp lại bạn cũ, sáng nay tôi có đ ềm được hứng khởi để viết về IA1.

- 98 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Ngày xưa Trần Phương Tùng, ở xóm nhà gần sân Tennis đối diện với bên tê đường là tiệm sách Ái Hoa Trần Hưng Đạo. Có lẽ nhờ thế anh đã trở nên một tay vô địch về quần vợt, anh còn là thủ môn có hạng của đội bóng Pellerin và sau này là của Quốc Học. Nhìn vào bảng đồ lớp IA1, tôi “chộ” Tùng ngồi cùng bàn với bầy quỷ sứ Tuấn-SâmTạo-Hạp. Trần Kiêm Tuấn, tóc quăn là con của ông Trần Kiêm Mai (dân Huế đố ai quên được tên ông già Tuấn, vì chữ ký của ông luôn hiện rành rành trên tờ giấy thế vì khai sinh!) Riêng Tuấn ngồi lọt ra hàng ghế sau. Tùng hỏi thăm “MH chừ chồng con ra răng rồi?” Tôi dịu dàng đáp: “Một chồng và ‘cặm’ 6 đứa- 3 trai 3 gái”. Tôi giật mình vì nghe tiếng hắn hét vang trong ống liên hợp: “Đẻ chi vô hậu rứa!?” Tôi giận tràn hông, đúng là giọng lưỡi bình dân thứ thiệt. Rồi sau đó lại trầm ngâm vì cảm thấy nhớ Huế chi lạ. Lâu nay tôi có thói quen mỗi lần kể chuyện về Huế, thường nhắc đến những kỷ niệm thuở làm học trò Đồng Khánh, và hầu như không nói chi về năm cuối cùng của mình ở bậc Trung Học. Đó là năm tôi được làm đàn chị ở bên Quốc Học, ngôi trường nam sinh lớn nhứt Cố đô, cũng là lớn nhất Miền Trung. Quốc Học cũng l ngôi trường đầu tiên của nước VN do vua Thành Thái ban hành sáng lập vào năm 1896 Lớp tôi là lớp đệ nhất, lại chữ A và số 1, ba cái đó đủ làm lớp tôi luôn đi dẫn đầu mọi sinh hoạt trong trường. Chào cờ đầu niên khoá do IA1, con gái xếp hàng đi trước. Tôi cùng cặp với Phan Thanh Tường Nhi, Mỹ Liên với Bích Túy, Phan Lan với Lê Thị Duyên, Trịnh Toàn Hạnh với Phạm Kim Trâm ( Hạnh về sau là nữ tu ở Pháp, làm đến Bề trên, nghe nói bạn ấy gần đây đã qua đời- Kim Trâm thì tử nạn cùng chồng trên đèo Hải Vân năm chạy loạn mùa Hè đỏ lửa 72). Toàn Hạnh cùng Tường Nhi là bạn phù dâu cho tôi năm 1964. Sau đó tôi mất tăm tích của Toàn Hạnh, người bạn Bắc kỳ xinh đẹp nết na. Khoảng thời gian này gia đình chúng tôi đang bị phá sản, nghèo rớt mùng tơi nhưng mạ cũng chạy lo cho con gái cưng đủ bộ sậu quần áo. Từ trong ra ngoài từ trên xuống dưới đều mới tinh khôi. Vừa phải kín đáo vì học chung với nam sinh, vừa phải thướt tha yểu điệu đúng kiểu con gái nhà lành... Từ đây rứa là không còn được tự do chạy nhảy lắc xắc, cười giỡn ồn ào chí chóe như lúc còn ở Đồng Khánh. Bởi mặc dù là chị cả của Đồng Khánh, nhưng chúng tôi vẫn cứ giở trò quậy phá tưng bừng bạn bè thầy cô trong trường không ngán ai cả. Mạ đã mất công dặn dò những cái “nên” và cái “tránh” khi bước qua Quốc Học. Chừ ngồi nhớ lại còn cảm thấy thương mạ và thương thân. Kỷ niệm về năm học đệ nhất QH nhiều lắm, nhưng số bạn còn sống hay đã qua đời tôi không sao biết rõ. Phía bên nữ sinh chúng tôi chiếm trọn hai dãy bàn đầu kể từ phải sang trái của phòng học. Có 2 cô bạn từ trong Quảng ra, đó là Minh Nguyệt mặt tròn như Thúy Vân, da ngăm ngăm mặn mòi và dáng người cao lớn cở CTTN Thanh Tùng, thêm nàng Diệu Tân nhỏ nhắn, mắt một mí kiểu Nhật Bản. Còn lại chúng tôi đều là dân Đồng Khánh chuyển sang. Thu Cúc nhu mì, Minh Tâm ít át, Đạm Tuyết dễ thương. Gần đây tôi liên lạc được Đạm Tuyết đang ở Úc Châu, lâu lâu cùng chồng bay qua Cali chơi thăm bạn bè. Trong hình thấy Nguyễn thị Phương dịu dàng ngây thơ và Huỳnh thị Ngọc ở đâu đó dưới phố Trần Hưng Đạo. Ngọc nói nhanh như lúc đi với dáng lật đật ngộ nghĩnh. Trong tấm ảnh cả lớp chụp chung ở sân trường, đứng ngoài bìa là Nguyễn thị Gái nhí nhảnh xinh tươi, sau này đổi tên là Tùng Vân. Nhưng tôi quen miệng kêu tên cúng cơm hồn nhiên của bạn ấy. Tùng Vân làm thơ rất hay. Gần đây tôi vẫn gửi Email xin thơ của bạn mỗi khi chủ biên một tờ báo chuyên về kỷ niệm tuổi học trò. Những năm còn làm mẹ mốc ở thành phố “bác”, tôi thường đạp xe về Phú Nhuận ghé thăm mẹ con Tùng Vân. Lúc ấy anh Tâm đang trần ai cải tạo trong tù CS để cho mẹ con Vân sống hẩm hút với nhau. Tùng Vân và 4 công chúa của vợ chồng Tâm-Vân cùng có tên là Vân, đều ngoan ngoãn xinh đẹp. Lần nào tôi cũng được mẹ con Vân níu lại ăn trưa, mỗi người được 1 quả trứng luộc chấm nước mắm với rau cải xanh tươi ngon lành. Làm sao tôi quên được băng quậy của lớp tôi. Tụi con gái đặt tên cho nhóm đó là “kiết hù”. Đang đi trong sân trường hay lang thang ngoài phố, hoặc bất cứ nẻo đường nào của thành phố mà chợt nghe rít lên âm thanh “ki...i...iếế...iết hu...ù” là tôi biết ngay bọn họ. Băng đó lạng xe như bão

- 99 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
táp. Mới nghe đồng vọng “kiết hù” từ tít xa thoáng cái đã thấy cả bầy lượn vèo qua mặt mình, rồi như khói như sương biến mất tăm dạng. Mới đầu nghe tới cũng khiếp đảm lắm chớ nhưng riết đâm “ghiền” và thấy an tâm. Bởi nhờ “bị” là bạn cùng lớp với họ nên vô tình mình được bảo vệ an toàn! Đố có tên con trai lạ mô dám đụng tới nữ sinh IA1 vì chắc chắn bọn Kiết hù sẽ “xơi tái” ngay! Đô con nhất trong đám là Tôn Thất Tạo. Anh có màu da tái buồn. Dáng đi nghênh ngang nhưng có lẽ hiền, lịch sự. Tạo mê Phan Thị Lan, dân Nguyễn Hoàng từ Quảng Trị vô. Phan Lan người tàu lai, mũm mỉm, có làn da trắng như bông bưởi, mắt cô nàng 1 mí ngó ra các “nị” liền. Phan Lan ngồi cùng lớp với tôi 4 năm liền đệ nhị cấp, 3A-2A rồi 2A1 (chúng tôi đúp lớp tú tài bán) và 1A1. Hình như hết năm đệ nhất Tạo hay tìm ra thăm nhà Phan Lan ở Quảng Trị, nhưng về sau không nghe xơ múi chi. Gần đây tôi có gặp Lan và chồng nguyên là Hiệu trưởng trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị từ Houston qua San Jose chơi. Còn Tôn Thất Tạo nghe đâu đã mất từ lâu trước 75. Ngó qua tưởng rằng Tôn Thất Tạo đứng chef băng Kiết hù, nhưng thiệt ra tay náo động nhứt thì bọn con gái chúng tôi đều phong cho chú chàng Lê Văn Sâm. Sâm tuy nhỏ con mà cái gan thì đáng gờm. Sâm có mái tóc bồng bềnh như James Dean. Hắn là em vợ của giáo sư Sử Địa Lê Khắc Phò. Tôi vừa đọc thấy trên tờ Lá thư Phượng Vỹ 97, đăng tin buồn thầy Phò đã không còn nữa. Thầy Phò giảng sử địa với giọng đều đều tưởng làm mình buồn ngủ nhưng trái lại, những nét kỳ lạ của bài học đã được giáo sư khéo khai thác khiến bọn học trò chúng tôi trong giờ thầy đã ngồi im phăng phắc để lắng nghe. Lê Văn Sâm, nhờ là em thầy Phò nên mọi bí mật về Thông tín bạ của phe con gái đều bị hắn đọc vanh vách. Như PMH đó, bên Đồng Khánh là dân sừng sỏ của môn Sử Địa rứa mà qua đây ít khi có được điểm cao, thế nhưng vẫn bị Sâm chì chiết, “con gái chỉ tài gạo lon tộn” chơ giỏi dúng chi. Rứa mà tôi đã gặp hên. Luôn 2 tháng 9 và 10 niên khoá 60-61, tôi dẫn đầu lớp, tụi con trai tức lắm. Sở dĩ thế là vì điểm Triết cao. Tuần lễ trước có mấy anh sinh viên Đại học Sư phạm ban Triết đến nhà chúng tôi nhờ chị Mộng Hoà vẽ mấy tấm tài liệu về Ảo ảnh. Cô gái nhan sắc trang điểm cũng là hình ảnh bà già móm xọm xấu xí...Và hôm đến dạy thực tập ở IA1, ông thầy sinh viên đã gọi tên tôi lên trả bài. Không hiểu sao tôi run quá, có lẽ vì dị nữa, rồi tôi trả lời câu hỏi sai đến 50%. Vậy mà sau đó khi dòm vô sổ điểm, tôi đỏ mặt thấy vị thầy tương lai phết cho mình con số 19! Té ra để trả ơn họa sĩ anh thầy sinh viên đã hoá phép cho cô em điểm cao nhất! Giáo sư triết lắc đầu phán: đúng là dân nịnh đầm. Tuy nhiên thực chất tôi là đứa mê Triết lắm. Môn Quốc Văn xưa nay tôi khá nên khi chuyển qua học thứ văn chương khúc mắc của Triết học, tôi đã quay mòng mòng một cách thú vị theo cái lý sự vòng vo của Tam đoạn luận. Mê nhất là lúc nghe giáo sư giảng về nét Đam mê, cùng phân tích tình huống éo le về những mặc cảm Oedipe này nọ...Từ đó tôi chăm học Triết nên điểm thường cao. Kỳ thi nhị lục cá nguyệt bạn Nguyễn Văn Dũng chemise môn Triết Tâm lý, tôi mặc áo Luận Lý học của thầy Nguyễn Quới. Vì thế hai đứa được giáo sư Cố vấn chọn đại diện lớp tham dự kỳ thi tuyển tổ chức cho toàn trường nhân dịp mừng kỷ niệm Quốc học 64 năm thành lập. Một lần nữa tôi may mắn chiếm giải 2 Luận lý học liên lớp 12, các lớp khác hình như không có ai. Đó là kỷ niệm khó quên với tôi. Sau băng quậy Kiết hù tôi muốn nhắc đến xóm nhà lá, học trò quen gọi ai ngồi áp tường cuối lớp thuộc xóm nhà lá. Đó là nhóm các anh bạn từ xứ Quảng ra Huế. Hầu như toàn là dân học có hạng. Gồm các anh Nguyễn Lương Bảng, Trần Văn Thao, Nguyễn Quang Bột, Nguyễn Diêu.... Mấy chàng xứ Quảng ni phát âm giọng thiệt khó nghe nhưng ít ai ham chọc họ, vì các anh hiền lành, tính tình cởi mở. Lâu lâu gặp phải bài toán hóc hiểm, bầy con gái bàn đầu chúng tôi vẫn ưa tranh cãi ồn ào với họ. Một kỷ niệm khó quên là xóm nhà lá có Thao, con trai mà da trắng như trứng gà bóc, như tây lai. Bọn nhà lá này ưa cặp đôi Trần Văn Thao với tôi. Mỗi lần tôi lên bục trả bài là nghe lao xao dưới xóm nhà lá kêu lên: Thao! Thao ! Ban A nên Vạn Vật hệ số 3. Chúng tôi mất hết thời gian để học sao cho trơn tru mới thỏa lòng. Thường cứ hai đứa rủ nhau học chung. Khi đã thuộc một bài mô như cháo rồi chúng tôi mới

- 100 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
thi nhau nhắm tít mắt lại, miệng la như mổ bò cứ thế mà nhồi nhét hết chương này tới chương khác. Nhiều lúc chỉ cần hô đến một trang nào đó là mình đã có thể đọc ra ngay, đôi khi lại còn thách nhau đọc ngược nữa mới tài như xiệc! Giáo sư Vạn Vật là anh rể Trâm Hàng đồng. Thầy Lộc dáng cao mảnh khảnh có lẽ đẹp trai nhứt trong hàng Giáo sư Quốc học, bọn con gái chúng tôi chấm điểm như rứa. Thầy còn rất diện nữa kià. Khi nào giảng bài cũng đứng nghiêng nghiêng như mấy chàng kiểu mẫu thời trang. Một tay đút vào túi quần, tay kia đưa lên vẽ vời trong không gian, điệu hết biết. Một hôm thực tập về Vạn Vật, Thu Nguyệt đập trứng gà để tách riêng lòng trắng với cái ngòi bám giữ lòng đỏ, hắn lóng cóng thế nào không biết đã làm vỡ tung tóe. Thầy Lộc nói mát mẻ, “ con gái nội trợ không nên thân như ri làm răng về làm dâu nhà thiên hạ!?”May cho Thu Nguyệt có lẽ vì ngán lời trù ẻo ni của thầy nên cả đời bạn ấy đã thờ chủ nghĩa độc thân, khỏi lo bị mẹ chồng Huế hạch xách chì chiết. Gần đây đọc trên tờ “Lá thư Phượng Vỹ” tôi thấy đăng tin buồn, thầy Vạn Vật của chúng tôi đã tạ thế ( năm 2009) Giáo sư phụ trách Luận Lý và Đạo Đức học lớp tôilà thầy Nguyễn Quới. Thầy là phu quân cô giáo dạy Dưỡng Nhi khi tôi học đệ ngũ Mai Khôi, tên cô là Nguyễn Thị Chí, chị ruột của thầy Nguyễn Ngọc Thành. Gia đình thầy Quới gốc người Quảng Nam tập kết theo kháng chiến ra Bắc, mãi sau mới trốn khỏi chế độ CS để vào Nam. Thầy Cô là cả một tấm gương kiên nhẫn về học tập. Cả hai vị đã trở lại học ở Đại học Huế, rồi đi tu nghiệp ở ngoại quốc, sau đó quay về VN làm giáo sư Văn khoa Huế. Họ là cặp vợ chồng thương quý thủy chung như nhất với nhau. Trước năm San Jose tổ chức Đại lễ kỷ niệm Quốc Học tuổi thọ Bách Tuế, chúng tôi đã gửi thư mời quý vị Cựu giáo sư khắp thế giới về tham dự. Thầy Nguyễn Quới từ Pháp gửi thư về cho ban tổ chức, nói rằng thầy không thể về California được vì nay tuổi cao, sức khỏe yếu kém. Thầy chỉ nhắc nhở khi tưởng niệm các Thầy Cô đã khuất xin hãy nhớ đến hiền thê của thầy, là người đã dạy dỗ và thương yêu học trò hai trường. Thầy Nguyễn Quới theo tôi là người hiền nhứt trên đời. Thầy không hề biết giận ghét ai. Thầy hiền quá, dễ thương quá nên tôi không còn muốn “chọc phá” chi thầy nữa. Giáo sư trẻ mà hách xì xằng nhứt, tôi cho là Thầy Lý Hoá Lê Vĩnh Kiến. GS Lê Vĩnh Kiến hiện đang định cư ở San Jose. Khi mới tới Mỹ, trong lần đi họp bầu Ban Chấp Hành hội QHĐK lần đầu tiên ở đây, tôi vui mừng gặp lại thầy tôi nay không còn trẻ trung hách xì xằng như xưa nữa. Ngày trước, giờ Lý Hoá đầu tiên và về sau của suốt niên khóa khi nào tôi cũng nhớ thầy có thói quen đứng nghênh ngang trên bục. Thầy vòng hai tay trước ngực, đảo mắt rồi trừng trừng nhìn xuống đám học sinh một lúc đã rồi mới bắt đầu giảng bài. Đang giảng mà vô phúc đứa mô đó nhúc nhích hoặc nói chuyện là GS Lý Hóa liền dơ tay chỉ ngay vô mặt tên đó và bắt hắn lên bảng trả bài lập tức! Vài lần như rứa thôi thầy đã trấn áp lũ nhứt quỷ nhì ma...này rồi. Đến giờ “anh” Lê Vĩnh Kiến cả lớp im re, chớ hề có ai dám động đậy! Hồi đó dữ thần như thế mà chừ GS hiền chi là hiền. Chị Minh Thu giáo sư Lý Hóa phu nhân, tròn trĩnh phúc hậu, là dân ĐK cùng lứa với thầy. Nhưng vị thầy trẻ tuổi nhất hàng giáo sư QH năm đó chắc chắn là GS Anh văn lớp tôi. Thầy Nguyễn Đức Mai hơn học trò nhỏ nhất trong lớp đúng 6 tuổi! Vì thế thầy là cái đích nhắm để phe con trai bắn phá tưng bừng. Nửa đầu niên khoá trong bất cứ giờ học Anh văn nào cũng có chuyện để chọc ghẹo thầy. Nhất là lúc tụi nữ sinh lên trả bài. Tiếng Anh khó đọc, phát âm gay nên bọn con gái chúng tôi ưa đọc “trong họng”. Thầy thì trẻ lại hiền nên mặc dù giáo sư yêu cầu đọc lớn mà không ai chịu vâng lời. Cho nên khi nào bọn con gái lên bảng, thầy cũng phải nghiêng nghiêng mái tóc dợn sóng, ghé tai và đăm đăm mắt nhìn vào đối tượng. Giáo sư phải chú ý hết sức để lắng nghe cho ra mà! Thế là được dịp cho phe con trai la hét ầm ỉ. Nhất là đến phiên Phạm Kim Trâm. Bạn ấy là dân C chuyển qua A lớp tôi sau khi rớt Bán phần, nhưng vì nhút nhát và cả thẹn nữa nên Kim Trâm vẫn đọc lí nhí như thường. Điểm sinh ngữ của bạn ấy lúc nào cũng cao vì hắn giỏi thiệt sự mà. Tuy nhiên tụi rắn mắt cứ xì xào rằng giáo sư NĐM “cảm” học trò. Thầy Anh Văn hiện ở San Jose là Trưởng ban Văn Hoá của hội QHĐK. Tôi đố có ai “muá đũa” đẹp bằng GS Anh văn IA1.

- 101 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
của tụi nhà Cái chúng tôi, càng lúc càng hoan h à hỉ cười vui. Mình tỉnh khô “gian” chung 1 ăn 5 rồi ỉnh quá bước 1 ăn 4, khiến mấy ông Quốc học lứa 60 ớc 6061 rảo qua rảo lại cười, “tố” hai đứa ăn gian chung ời, ẩu! Tôi đanh đá lý sự, chúng tôi cờ bạc “ch “chùa” kiếm tiến lời cho Hội giúp Kẻ Khó ch ham chi bỏ ếm chơ túi riêng mà sợ! Hồi trưa, lúc máu mê c bạc dâng cao, xúm ưa, cờ xít quanh nhà cái chúng tôi l trong lớp ngoài lớp không còn các em thiếu nhi nữa, v rặt dân Quốc ếu vì Học, ôn mô mụ nấy, áo nhung đồ lớn lộng lẫy ọc, sang trọng. Trong tay ai cũng lăm le cả nạm giấy ọng. xanh, xúm quanh bàn bài vụ, để đánh b cầu may ụ, bài đầu năm ( mặc dù bây giờ mới sang thu, nh ờ nhưng thấy Bài vụ là thấy hiện ngay ra Tết m ấy mà!). Bây giờ tôi và Kim Hải đã giỏi tay nghề n con vụ xoay ỏi nên tít ngó dễ thương ghê, khi ương khiến ai cũng trầm trồ...khâm phục! Chớ không c bị thiên hạn la ồ...khâm còn oai oái, rằng “vụ” không nên thân thêm cái d to ên dĩa và con vụ thì nhỏ xiu không l ỏ làm sao cho mình trổ tài đặng. Nhiều lúc nhà Cái linh đ à động bỏ con vụ cho nằm yên trong dĩa rồi cứ rứa m bưng mà lắc ĩa mà mà xoay tưng bừng cho chắc ăn. Rứa l sau đó ừng là bọn QH “già” thua bạc liền có cớ la hét, cự nự om ạc sòm đúng là vui như tết! Con vụ xinh xinh xoay ết! như đất trời say điên đảo, là ph chuyếnh choáng à phải hơi men Tãn Đà kìa mới có ý nghĩa, mới linh ới thiêng khi bói bài đầu năm chớ! ầu Mấy ông Lê Văn Kha, Nguy Khoa Tần, ê Nguyễn Lê Kim Lợi (em rể Lê Văn Sâm) r đàn anh Bửu ê rồi Thụ, thêm Trần Hưng Toàn n sau đó xúm quanh ưng nữa nơi bàn Bài vụ đã lo dẹp sớm, v ngán police mẽo ẹp vì thộp cổ, lý do bà con rủ nhau đánh bạc, m ủ mình chung bằng tiền cash, mà sòng b thì chắc chắn à bạc không có license! Cả bầy chú tôi hào hứng nhắc ả chúng chuyện ngày xưa Quốc học vui vẻ hồn nhi hết ốc nhiên sức. Rồi sực nhớ thuở đó nam nữ c ức. cùng trường cùng lớp có quen nhưng đời mô dám ngồi gần, ời còn nói chuyện tương đắc nh thử hôm ni!? Khi ắc như trưởng lớp tôi xách máy ảnh t teng đi ngang qua ởng tòn liền bị bắt cóc dừng chân chụp d ị dùm cho băng cựu QH mấy “bô” bóng để làm kỷ niệm. ỷ Tôi còn nhớ khoảng ra Tết, lúc sắp v mùa ớ vào thi II Lục cá nguyệt, bọn học tr lớp đệ nhứt ban ục trò A ngó ai cũng xơ xác vạc k vì phải tụng ngày ạc kêu tụng đêm sao cho cháo cuốn sách Vạn Vật dày và ốn nặng như đá tảng. Chưa kể Lý Hoá, rồi Triết nữa ể

Hiện nay bạn cùng lớp IA1 của tôi ở San ớp Jose có Bửu Hạp, thuộc loại “các mệ” cao cấp. Đó ửu là anh họ của Công huyền Tôn Nữ Tố Nga, bạn ọ thân của tôi thuở học lớp tư, lớp ba Mai Khôi. Dạo ớp đó tôi cùng bầy bạn con nít gồm Trần thị Mỹ ầy Nhật, con gái bác Trần Trọng Sanh, 1 cây Đại ật, Việt, Yến con tiệm vàng An Phú ở Ng Giữa, Đô Ngã con Kính thuốc Thăng Long, Phụng Xinh t lai ốc tàu đẹp mặn mòi, sau này là phu nhân anh Hoàng òi, Trọng Thuần, ...và mấy đứa nữa tôi qu tên. ấy quên Chúng tôi hay rủ nhau kéo xuống ch vườn phủ ủ chơi nhà Tố Nga ở xóm Gia Hội. Bao giờ tôi cũng thấy ố một lô một lốc các ông anh trai của Tố Nga, nh ột như anh An Tôn, anh Khải (tức họa sĩ Nguy Khai)... ải Nguyên trong đó có Bửu Hạp. Lúc học Quốc Học tôi ch ửu chưa hề nghe Bửu Hạp hé một câu một chữ, có lẽ trừ ề khi hú Kiết hù! Thế mà khi gặp lại nhau ở lần hội ặp Huế đầu tiên lúc tôi vừa tới Mỹ. Chúng tôi đ thi ới đã nhau nhắc lại về trường QH cùng b bè chung ùng bạn lớp, nay đã tứ tán bốn phương trời. Hình như thế hệ chúng tôi hiếm ai ki trì ế kiên sống và lập nghiệp ở Huế. Họ phiêu b như người êu bạt Do Thái khắp nơi trên thế giới. Nếu không hải ế ngoại thì cũng tìm vào miền Nam Việt Nam. Hải ền ngoại nhiều nhất ở California, nhưng r hiếm hoi ưng rất gặp lại bạn bè cùng lớp. Hôm tôi và Lê Kim H à Hải bên IC2 đi dự ngày hội Huế. Hai đứa phải trực ội chiến nơi bàn Bài Vụ, suốt 5 tiếng đồng hồ. Chúng ụ, tôi vui mà mệt vì khan hơi rát họng rao h ọng hàng, vừa phải giảng cho bọn con nít Huế- Mẽo ý nghĩa về ẽo trò cờ bạc dễ thương ni. Những con Lợn đen, ững Ngựa đỏ, Trâu xanh, những tôm-cua-rùa-ếch xoay tít mù khơi theo ngón xoay ngày càng lành ngh nghề

- 102 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
giáo khoa môn nào cũng phải gạo như điên, chương trình Tú tài đôi sao quá nặng! Tôi xanh xao vàng vọt vì phải thức đêm gạo bài cho mùa thử lửa sắp gần kề. Một hôm vào đầu tháng tư, tôi nhận được một phong thư mỏng, ngoài bì thư không đề tên người gởi. Khi dở thư ra đọc, tôi lặng người vì tin một người nào đó báo là Trần Văn Thao bị tai nạn xe hơi gần chết và đang nằm bệnh viện. Người biên thư tha thiết đề nghị tôi nên đại diện bạn bè phiá nữ đi thăm bạn Thao vì “nghĩa tử là nghĩa tận” v.v...Tôi xúc động khi hay tin dữ này, nhưng tôi làm sao dám đi thăm, tôi là đứa nhát gan sợ đối diện với người sắp chết lắm! Cuối cùng tôi chỉ biết dung hòa bằng cách viết thư thăm nạn nhân Trần Văn Thao theo địa chỉ ngoài bì thư. Trong lá thư ngắn gọn tôi nhớ đã viết đại khái cầu chúc bạn ấy tai qua nạn khỏi, mau chóng bình phục, để tiếp tục vui sống học hành... Hồi đó vào mùa Phục Sinh, học sinh các trường đều được nghỉ học 1 tuần lễ. Sau khi trở vào học lại, tôi chưa kịp gặp mấy đứa bạn thân để loan tin TVT bị accident thì quê một cục chưa, tôi đã bé cái lầm! Bạn biết không? Tôi chợt thấy tên ốc tiêu Lê Văn Sâm đang hí hửng đứng giữa bạn bè cười nói ầm ỉ, và trên tay hắn phất phơ lá thư mỏng của tôi với nội dung, PMH chúc cho TVT mau tai qua nạn khỏi! Té ra hắn “chơi tôi” coi thử PMH phản ứng ra răng trước hung tin TVT bị xe đằng suýt chết?! Nhưng rồi tôi không thể Tarzan nổi giận với LVS, với lý do thư đó được tên ác ôn sáng tác đúng ngày 1 tháng Tư mà giáo sư Pháp văn có lần kể, trong ngày đầu tháng Tư tức lễ hội Poisson d’Avril người ta đòi bán Tour Eiffel mà có người vẫn mất tiền mua và sau đó không biết kiện cáo với ai! Hôm tôi gọi phone qua Houston để xin Bác Sĩ Vĩnh Chánh “cứu khổ cứu nạn” cho các em trại cùi chân đèo Hải Vân và bệnh viện Từ Thiện các Xơ Kim Long, Chánh đã vui vẻ Yes liền số tiền 200 đola. Khi tôi luôn dịp hỏi thăm về Vĩnh Anh là người anh thứ 2 của Chánh, con trai của bà Bửu Tiếp, Vĩnh Anh cũng là bạn IA1 với tôi. Hình như VA ít thích giao tiếp bạn bè nên BS Vĩnh Chánh ngần ngừ. Tôi nhớ hồi trước trong lớp Vĩnh Anh là bạn trai khá thân với bọn con gái chúng tôi. Có người nói rằng VA là người thiên tả, phản chiến này nọ ...Theo tôi thì đã là bạn bè cùng trường cùng lớp thì phải dẹp qua một bên chuyện “chính chị chính em”, tại sao không đến với nhau thuần túy nhắc lại thời học trò hồn nhiên trong sáng, như thế có phải là hạnh phúc không hở bạn Vĩnh Anh? Học giỏi thuộc hạng nhứt lớp có Bùi Xuân Định, gần đây tôi thoáng đọc thấy tên trong danh sách Hội Y sĩ đoàn gốc Y Khoa Huế. Bạn Nguyễn Diêu nữa cũng trở thành Bác Sĩ. Đúng như thế, khi theo ban A, ai cũng ước ao theo đuổi ngành Y là lẽ đương nhiên. Nhưng ít người đi trọn con đường nhọc nhằn ấy cho tới nơi tới chốn vì thời buổi chiến tranh và hoàn cảnh không cho phép. Kể về tên bạn lâu năm nhất của tôi phải nhắc đến Trần Kiêm Tuấn. Hồi còn nhỏ tí của năm tiểu học lớp tư Mai Khôi, tôi nhớ hắn là đứa bạn lắc xắc, ưa đá mèo khèo rế, chọc phá tụi con gái lớp tui đến phát khóc mới tha. Kể từ năm cùng học đệ nhất QH đến chừ tôi chưa hề một lần “chộ mệ”hắn. Tôi nghe ai đó nói rằng hiện tại bạn ấy đang sinh sống dưới Nam Cali, vui vẻ trẻ trung hơn ai hết. Khi viết Hồi ký, tôi có thói quen viết kiểu vòng vo Tam quốc, lan man từ chuyện xa đến chuyện gần, từ thân đến sơ. Đôi khi sực nhớ tới một kỷ niệm thú vị là vội vàng ghi lại ngay nên văn chương vì thế trở nên vô trật tự. Ngày còn gõ đầu “tra” tôi thích phê học trò loại này là “nhà văn đường rừng”. Tuy nhiên vì chủ trương “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, tất cả cốt yếu dành cho nỗi niềm thương mến về bạn bè cùng lớp thuở làm học trò. Vì lẽ ấy , nếu có bạn IA1 nào tình cờ đọc tới xin hãy tha thứ cho tác giả nếu như hắn đã “mạo phạm” khiến bạn buồn lòng. Năm ấy, trường Quốc học tổ chức mừng kỷ niệm 64 tuổi lớn lắm. Văn nghệ lẫy lừng với kịch thơ “Đi chùa Hương” có Bùi Ấu Lăng bên IC1 ngâm thơ giọng Hà Nội ngọt ngào. Lớp tôi có Phan Thanh Tường Nhi múa cặp với Thái Kim Lan bên IC2 trong bản Serenata. Đêm văn nghệ tôi được lên lãnh giải thưởng 2 Triết về Luận Lý Học gồm một chồng sách cao nghệu có cuốn tự điển Petit Larousse, bìa in hình cô gái nhìn nghiêng thổi bay bay những hoa cỏ may man mác. Cuốn sách quý này tôi còn giữ mãi cho đến năm 75 mới mất cùng với ngày mất Đà Nẵng. Đệ nhất A, môn Vạn Vật và Lý Hóa có hệ số 3 ngang nhau. Muốn dính bảng vàng, chúng tôi

- 103 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
phải ra sức tụng giáo khoa. Khó lòng kiếm cho được điểm phần toán tuyệt hảo, tôi bắt buộc phải nhai nuốt nằm lòng những trang lý thuyết dài dằng dặc đến nhức đầu của Lý và Hóa. Hôm thi Viết Tú tài, tôi nhớ rõ đề Lý Hóa ra “Sự rơi tư do của mặt phẳng nghiêng’’...và tôi đã nắn nót trình bày hình vẽ của bài Lý đẹp, rõ ràng e còn hơn trong sách (!), rồi gắng kiếm chác thêm bên phần toán mấy câu đầu dễ òm, rứa là coi như ăn chắc trên điểm trung bình. Tôi nhớ hôm vào thi “Écrit” tôi ngồi giữa Thân Trọng Hoàn bên IA1, Nguyễn Minh Hoàn của IA3 và luôn một lô tên Hoàng có ‘g’ và không ‘g’ ở 2 bàn trên và dưới của bàn tôi. Tôi không lầm thì cả bài giáo khoa của PMH đều được cả bầy tên Hoàn+g chiếu cố tận tình. Bọn nam thí sinh copy bài giáo khoa của PMH mà không hề sợ giám khảo trừ điểm giống nhau, bởi bài của tôi in đúc từ sách giáo khoa mà ra! Và kết quả luôn một hơi 3 bàn chúng tôi đều dính bảng kỳ Écrit để chờ vô Oral. Nhưng sau đó lưa mình tôi trượt vỏ chuối kỳ thi Vấn đáp này, chịu khó chờ hè vô thi lại . Đó là mùa hè buồn thảm nhứt của PMH, vì rớt thi là phải học lại tuốt luốt mọi môn. Khi tôi rời Thượng Tứ bỏ lên tu trên Phường Đúc để yên tĩnh ôn luyện, một hôm “chộ mệ” một lô một lốc mấy ông Tú Tài Toàn tên Hoàn v Hồn+g hiện ra trước mắt. Họ lên để thăm cô Tú rớt và để tạ ơn vừa ủy lạo sĩ tử đau khổ này. Tôi vừa dị vừa cảm động. Mới đầu còn tỏ ra lạnh nhạt vì tủi buồn, nhưng chặp sau ăn quà bánh kẹo các bạn đem lên, tôi đãi lại họ mít, nhãn, thơm ngon ngọt vườn nhà nội. Chúng tôi vui vẻ trở nên thân mật từ lúc nào. Khi từ giã ra về, các bạn chúc kỳ oral sắp tới PMH phải bảng vàng đề danh. Tiếng là suốt mùa hè tịnh tu, ôm đống sách vở học cho kỳ 2, nhưng thiệt tình mà nói, tôi đâu nhồi nhét chi được mấy hột. Nếu như bắt thi lại Écrit tôi rớt là cái chắc! Thời chúng mình thi Tú Tài bạn còn nhớ không? Vào Oral, đa số giám khảo là Thầy Cô QHĐK khảo thi. Thoạt nghe tưởng bở, nhưng không dễ ăn mô nợ! Lý do các giáo sư đã theo dõi suốt năm học trò mình cho nên ai siêng ai nhác các vị đã nắm hết trong tay; đừng có hòng xin xỏ, mua chuộc tình cảm hoặc cầu rủi may nơi các vị. Khi tôi vào thi môn Toán, là môn kỵ nhứt của mình, bởi vì lo gạo các môn thi Viết tôi đã lơ là toán là môn vấn đáp. Tôi sợ run lên nhưng may làm sao, giám khảo Toán lại là “mỹ nhân” IA1. Thầy Hồng Giũ Lưu phụ trách Toán lớp tôi. Giáo sư Toán là đấng nam tử hán nhưng mi thanh mục tú như một mỹ nhân, vì thế chúng tôi đặc biệt danh cho Thầy là người đẹp. Khi tôi đã yên vị trên bục cao đang nhìn xuống giám khảo lắng nghe, chắc rằng thầy đã đọc thấy nét đau khổ trong mắt thí sinh học trò mình. Giám khảo nghiêm nghị ra đề. Thầy nói, “chị ưng chi viết nấy lên bảng”. Giám khảo nói chỉ vừa nghe lọt tai giữa hai thầy trò mà thôi. Tôi muốn nhảy tưng lên vì hạnh phúc. Tôi say sưa cầm cục phấn trắng nắn nót viết một mạch bài giáo khoa mở đầu về Thiên Văn học. Đó là bài học duy nhất tôi nắm vững chỉ vì hắn đã gợi cho tôi giấc mơ phiêu lãng trên cõi trời bao la mộng mị. Như thế là tôi đã được Bồ tát HGL cứu khổ cứu nạn cái môn thi hắc ám nhứt đời. Đã quá lâu rồi tôi không gặp lại thầy tôi trong khi vẫn nghe bạn bè kể về thầy. Gia đình thầy cô còn ở lại quê hương. Thế là qua cầu đắng cay kỳ thi Oral. Nhưng trên tất cả thì phải ghi ơn Chánh chủ khảo Cao Văn Luận. Cha vốn là giáo sư Triết của Quốc học, nay cha không còn dạy nữa vì cha bận làm Viện trưởng viện Đại học Huế. Các sách giáo khoa Luận lý, Đạo đức và Tâm Lý học mà chúng tôi học tác giả là Cao Văn Luận. Cha có tập quán dễ thương thường tuyên bố, hễ thí sinh mô lỡ rớt Oral kỳ 1 thì phải cho tụi chúng đậu kỳ 2 hết! Chuyện lạ ni mãi về sau khi tôi trở thành giáo sư ở Phan Châu Trinh, lúc ra Huế làm giám khảo tú tài bán mình mới được biết về thói quen cho đặc ân này của cha. Thôi, tôi lại lạc đề rồi, xin lổi xin lổi tôi sẽ lập tức quay trở lại ngay với chuyện cái bảng đồ lớp tôi. Ngồi dãy bàn cuối bên tay phải tôi tìm ra anh Lê Đức Soạn nghiêng nghiêng đầu và miệng cười tươi. Anh còn là bạn cùng xóm Thượng Tứ với tôi. Sát vai là anh Trương Văn Bé, tên là Bé mà cao hơn cả Trần Ngọc Thọ có điều cái lưng ưa khòng nên tưởng chỉ thường bậc trung. Liền đó là anh Vĩnh Phúc mặt như tài tử Fernandel của màn bạc Pháp, tính tình vui vẻ cởi mở. Gần đây bạn ấy có ghé San Jose và đến thăm gia đình chúng tôi.

- 104 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Trong lớp có một số bạn lu mờ trong mớ hồi ớp ức này vì các anh hiền lành chứ không quậy t ứ trời sợ như bọn “kiết hù”. May nhờ mấy tấm ảnh qúy ờ anh Trưởng lớp cho mượn, tôi dòm vô đó rồi mơ òm hồ nhớ đến thời đệ nhất QH các anh đ từng ngồi ồ đã chung lớp, học chung trường với mình, chúng tôi ình, từng chia vui xẻ buồn những kỷ niệm “ng xưa ừng “ngày thân ái”. Tôi nhìn ra được các bạn ngồi c ợc cùng bàn với Trần Kiêm Tuấn, như Lâm Bá Chí thu loại ư thuộc nhỏ con, trẻ tuổi nhưng đi đứng trịnh trọng kiểu ứng ông già. Đến anh Vân Trình hiền l ền lành. Rồi Hồ Văn Nhơn người Nguyệt Biều. Khi học trong lớp, tôi không biết chi về ọc Nhơn nhưng tình cờ có lần cùng mấy chị em bạn ấy đạp xe lên chơi ngã Nguyệt Biều, Nh đang ở ệt Nhơn trong vườn ngó thấy, anh mừng rỡ ngoắt v nhà ờn vào rồi gọt thanh trà lão nổi tiếng ngon ngọt nhứt n ổi nước mời cho chúng tôi ăn thả cửa...nhờ rứa về sau trở ời nên thân. Đã quá lâu rồi, khi về thăm Hu vẫn lên Huế ngã này mà tôi không hề gặp lại bạn ấy, không ề biết bạn giờ còn sống bình an hay trôi d phương ình dạt trời nào. Ngồi gần anh Nhơn là Nguy Hữu Giá ơn Nguyễn trông vẻ đạo mạo như ngưòi lớn. Cũng xóm nh lá ớn. nhà nửa dãy bên kia thấy Lê Văn Tô ngồi giữa Thới v ồi và Phước không tu sĩ. Về sau tôi biết, L Văn Tô là ớc Lê giáo sư trường Kỹ Thuật Đà Nẵng. Ngồi sau lưng tôi ở dãy bàn th hai tay trái ãy thứ là Lê Thị Duyên, gắn bó với tôi 4 năm trời. Duy ắn Duyên tròn như hột mít cùng size với tôi. Hôm tr ới trước từ Kim Long, Duyên gửi thư qua cám ơn quà T Tết như thường lệ tôi vẫn gom góp từ các bạn c ờng cùng lớp gửi về lì xì cho bạn ấy. Duyên là cô giáo vi ên viết thư kể chuyện xưa rất cảm động. Chị tr ất trưởng lớp 2AĐK của tôi, Huyền Tôn Nữ Gi nói rằng, ủa Giàu “mình đọc thư Duyên đến rách bươm!” Ở quê ươm!” hương những người hiền lành lương thi như bạn ành thiện tôi ai cũng nghèo khổ. Chút quà mọn đ đem lại ọn đã cho bạn tôi cái Tết đầm ấm hơn. Ngoài ra phải kể đến anh trưởng lớp Tr ởng Trương Như Lân. Khoảng vào năm 1996 lúc Ban Văn ào Nghệ hội QHĐK Bắc Cali đang sôi nổi tập d ệ dượt bài hợp ca Tiếng sông Hương tại nh tôi, thình ại nhà lình anh Lớp trưởng xuất hiện. Tôi không nhận ra ởng anh nữa, vì còn đâu dáng dấp thư sinh ngày xưa. ư Trước mặt tôi là ...một bộ xương c chuá. Tôi ương cứu làm sao quên được kiểu gan lì tướng quân đứng ớng giữa trận tiền của anh. Bọn con trai toàn l la hét lớp

và làm đủ trò chọc quê mỗi khi Tr ỗi Trưởng lớp ra mặt để trình bày những dự tính phải sinh hoạt hiệu ững đoàn cho lớp. Nay gặp lại nhau anh liền cho tôi ớp. mượn 3 tấm ảnh hết sức qúy giá anh vẫn c giữ ợn còn được sau bao phong ba bão t cuộc đời của thời ão tố hậu 75. Thật xúc động khi thấy anh ôm chầm lấy ậu thầy Nguyễn Đức Mai, vốn l cựu giáo sư Anh ầy là Văn. Thầy Mai giờ là trưởng ban Văn Nghệ của ởng hội QHĐK, đang làm nhạc tr ạc trưởng, múa đũa huấn luyện ban văn nghệ vì sắp tới l đại lễ mừng Quốc ắp là Học 100 năm thành lập! Anh trư p! trưởng lớp ứa nước mắt vì mừng tủi khi gặp lại thầy cũ, l một trong ừng là những hình ảnh của thời tuổi trẻ đẹp nhất đời người. ời. Trưởng lớp vẫn hỏi thăm về bạn b ngày ởng bè trước, mỗi lần tôi có dịp về thăm Huế, anh không ớc, quên gửi tôi chút tiền lì xì cho m “trự” đồng lớp ì mấy dưới “quyền” lớp trưởng. H ởng. Hình như bây giờ anh trở nên là thi sĩ, và bút hiệu Quốc Lân. Th anh ệu Thơ sôi sục ý chí phục hồi quê hương, man mác n ê nỗi hận mất nước. Ngoài tin buồn về bạn b IA1 đã vĩnh viễn ra ồn bè đi như Phạm Kim Trâm, Tôn Thất Tạo, đến Trần ạm Ngọc Thọ, rồi mới đây th ọc thêm Trịnh Toàn Hạnh...Tôi quên nói về Trần Ph ề Phương Tùng, anh cũng đã bỏ vợ con ở lại cõi đ vì anh đã mất vào đời cuối năm 1998. Trước đó ít lâ Tùng hẹn với tôi là ớc lâu sẽ cùng bà xã rất dễ thương c anh bay qua Cali ương của thăm chúng tôi, và nhất định sẽ họp mặt cựu IA1 ất QH ở hải ngoại! Nhìn trong hình, thấy đeo b cột cờ là hai ấy bên bạn Lê Viễn và Võ Đào. Núp ch nửa mặt sau chừa lưng Trần Phương Tùng mặc áo car đang “nhìn ặc carô trời hiu quạnh” là Nguyễn Dự đẹp trai nh ...con ễn như

- 105 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
gái. Cạnh Trần Văn Thao là Trương Đình Phước. Lớp tôi còn có một “chú” Phước nữa, là dân tập sự làm linh mục, không hiểu nay bạn ấy còn mặc áo Dòng hay đã trở về cõi thế tục đa đoan phiền lụy? Độc thân vui tính, nghênh ngang như nam tử là Thanh Tùng, ngày xưa ở xóm gần nhà Phạm Kim Trâm. Thanh Tùng học cùng lớp với tôi vừa ĐK vừa QH suốt 4 năm như Phan Thị Lan. Sau 75 công chúa Thanh Tùng đảo điên sống với mẹ già ngoài 90. Suốt ngày Thanh Tùng đạp chiếc xe đạp mini cũ mèm chạy đi kiếm rau cháo nuôi mẹ già. Hai mẹ con họ sống điêu đứng nhọc nhằn vì ông nhà nước đã tìm mọi cách nhứt định đuổi họ ra khỏi căn nhà lầu xinh xắn Phủ Tôn Nhơn lâu nay dành cho bà cụ gốc gác Hoàng tộc này. Đứng sát vai Giáo sư cố vấn là bạn Hoàng Văn Minh, có đôi mắt đen như “loan mắt nhung”, là tên bạn nam sinh ưa lân la, nhỏ nhẹ chuyện trò với phe con gái. Năm San Jose tổ chức mừng đại lễ Quốc Học bách tuế tôi “chộ mệ” hắn. Minh từ dưới Nam Cali lên nhưng vì tôi đang bận tíu tít rao bán báo nên không sao có thời gian để thăm hỏi về gia cảnh bạn. Ngó Hoàng Văn Minh không thay đổi bao nhiêu trừ mái tóc đã pha hai màu tiêu muối. Quay nhìn vào bảng đồ lớp thấy Ngô Văn Em tóc chải bốp, miệng mỉm cười làm duyên, ở ngoài đời hắn thuộc loài con nít lắc xắc. Tìm nơi chiếc ảnh chụp cả lớp ngoài trời, tôi nhìn ra người bạn chère camarade với trưởng lớp, tức anh Nguyễn Văn Ngô, một thư sinh bạch diện như bạn Nguyễn Văn Thới. Phe con gái thích chọc cặp đôi Thu Nguyệt với Nguyễn Văn Ngô, chỉ vì lý do, anh trắng còn Thu Nguyệt da ngăm! Tôi lại một phen rầu rỉ vì tin bạn ấy đã mất trước năm mất nước. Ngô thư sinh hay đi đôi với Đoàn Đại Lộc. Anh bạn này trái lại vạm vở cốt tô, da nâu tóc dày, lông mày đậm y đúc tướng cướp Bạch Hải Đường trong tuồng cải lương. Nghe đâu Đoàn Đại Lộc đang phiêu bạt bên trời Germany. Tôi còn nhớ ngày xưa thời chúng tôi chuyển sang Quốc Học, con trai con gái ít dám thân nhau vì kỵ con mắt Huế khắc khe bày đặt chuyện tào lao bậy bạ. Nhưng nữ sinh lớp tôi có vẻ khá thân với hai anh bạn ẻo lã thư sinh của lớp. Đó là hai bạn Lê Văn Lạc và Nguyễn Trung Trinh, bởi hai bạn ấy nhút nhát thùy mị e hơn cả bọn tôi (vì khi qua QH chúng tôi tự nhiên trở nên dịu dàng như lại con gái!). Tôi nhớ là cuối năm đệ nhất cả bầy con gái đồng ý rủ nhau tặng ảnh của mình cho Trinh và Lạc mà không sợ chi hết. Có lẽ vì nhân dáng của họ giống phe mình!? Trinh nay là Bác sĩ ở Huế và Lạc nhà giáo chuyên về tổ chức thi tốt nghiệp cấp trung học. Lúc về thăm quê hương bao giờ tôi cũng kêu réo Trinh và Lạc đến họp mặt nhóm IA1 còn sống ở Huế như Duyên, Thu Nguyệt, Mỹ Liên. Trong lớp IA1 có hai người tên Hiếu. Một dân Bắc kỳ tức Lê Khắc Hiếu từ Sàigòn chuyển ra học. Anh Hiếu Bắc gầy mảnh mai, mắt nhỏ đen như mắt chim sâu. Còn Hiếu Huế là Hồ Văn Hiếu. Hiếu này là anh ruột của Hồng Hoa bạn lớp nhỏ với tôi ở Mai Khôi, nhà Hiếu ở Kim Long. Anh xếp vào loại cao trong lớp. Da anh trắng hồng khi nào mắc cở thì đỏ bừng như trái ớt chín. Cả hai bạn Hiếu đều là Công giáo nên chúng tôi cùng ở trong ban Thánh ca Quốc Học, thành lập dịp học sinh toàn trường kéo lên An Lăng dự lễ cầu hồn cho cụ Ngô Đình Khả vị Hiệu trưởng tiên khởi của trường Quốc Học. Anh Hiếu Hồ bị phe nữ sinh bàn đầu đặt cho biệt hiệu là “tình đá”. Lý do một hôm khi vào lớp, đi ngang chúng tôi ảnh đã nhẹ nhàng đặt một viên sỏi xinh xinh lên giữa bàn. Viên sỏi nhỏ nằm chơ vơ không định hướng rõ ràng đối tượng. Tôi và Tường Nhi liền né qua một bên và về sau chọc cho Trăng Thu, vì ai biểu Thu Nguyệt có lần lỡ miệng khen Hiếu Hồ đẹp trai! Trong tấm hình cả lớp tôi đứng chụp chung ở sân cột cờ với thầy Cố vấn Phạm Ngọc Hương, Tôn Thất Tạo sát vai bên Trần Ngọc Thọ. Thọ cao nhứt lớp xỏng như cây sào. Thọ cũng không còn nữa. Trong ảnh, mặt Thọ lốm đốm trắng là điềm chết oan? Năm 1996, Hội Ái hữu QHĐK San Jose đăng cai tổ chức họp mặt toàn thế giới kỷ niệm Quốc Học “bách tuế”, anh trưởng lớp IA1 cho tôi mượn tấm ảnh quý này, tôi liền tới tiệm Kinko’s phóng lớn và cố sức “retouche” lại cho rõ nét của Thọ. Anh cùng là bạn học của mấy anh em tôi. Học ở Pellerin với anh Dân Hiệp, ở Tiểu học Mai Khôi với chị Mộng Hòa và chừ ở QH với tôi. Chúng tôi thân nhau lắm. Nhà Thọ ở khu gần Bến xe Nguyễn Hoàng, cùng đạo Công giáo nữa nên vẫn cùng anh em chúng tôi đi xem lễ ở Nhà thờ Gia Hội. Cuối năm QH Thọ tâm sự với tôi đã cảm

- 106 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
nặng Phạm Kim Trâm. Thiệt tình mà nói, con trai lớp tôi cũng như một số đông QH đều tương tư cô bạn này. Kim Trâm vừa nết na thùy mị, đẹp, lại học giỏi nữa. Bạn tôi được giải thưởng Hạnh kiểm toàn trường QH niên khoá 60-61. Nhắc thêm về Thọ, sau 75, anh tìm đến thăm mẹ con tôi ở Sài Gòn, lúc đó Thọ vừa đi tù cải tạo về. Anh có vợ, người nhỏ nhắn hiền lành. Thọ kiếm tiền nuôi vợ con bằng nghề buôn chuyến đủ thứ ra vô Sàigòn-Hà Nội. Cuối năm 88, Thọ tới thăm tôi, tặng cuốn sách tự học “Nhĩ châm” kiếm đâu đó ở Hà Nội. Hồi này cả nước thiếu thuốc trầm trọng, nên ai cũng đổ xô đi học nghề tự chữa thân ở Hoa Kỳ. Thọ là bạn với vợ chồng tôi vì một thời sinh hoạt tích cực cho đoàn Sinh Viên Công Giáo Huế. Sau thời gian đó thì biệt tăm tin tức anh. Vợ của Thọ vẫn một lòng nuôi hy vọng chồng mình đang lưu lạc ở một hòn đảo xa xăm nào đó Chút xíu nữa là quên nhắc đến Phan Ngọc Bình. Bình thân với tôi khi lên đại học. Bình học Khoa học, tôi Văn khoa nhưng hai đứa đều là dân Công giáo nên cùng sinh hoạt tích cực trong đoàn Sinh viên Công giáo. Lúc đó HSH là “bạn trai” của tôi, là trưởng đoàn SVCG, và chúng tôi rất quý mến Bình. Bình dân Hướng đạo tính tình

bệnh bằng châm cứu, may ra khi bị đau ốm sẽ châm cứu để lành bệnh không cần đến thuốc men. Biết tôi đang theo học lớp Diện Chẩn ở đường Duy Tân, nên Thọ đã cố ý tìm thêm giúp tôi chữa bệnh bằng Nhĩ châm. Anh nói xa xa gần gần sẽ kiếm đường đi thăm HSH, nhà tôi lúc ấy đã yên

serviable, vui vẻ mà đứng đắn nên phải nói anh là người bạn cùng lớp khó quên của tôi. Đã mấy chục năm qua tôi không hề nghe tin tức chi về Phan Ngọc Bình. Dòm kỷ trong bảng đồ lớp và tấm hình cả lớp chụp ngoài sân cột cờ, tôi không tìm thấy

- 107 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Nguyễn Dũng đâu cả. Nhưng tôi nhớ rõ anh ta cao cở Trần Ngọc Thọ, đẹp trai kiểu tài tử Hồng Kông với mái tóc dợn sóng tự nhiên, tính tình nhút nhát hiền lành. Dũng là trường ban báo chí IA1. Sau kỳ thi Triết ấy, Dũng đã lân la đến làm quen tôi, đề nghị cùng hợp tác làm tờ báo Tết cho lớp. Hồi đó nam nữ dù học chung lớp mà hiếm khi đứng nói chuyện với nhau, bởi dễ bị bạn bè cặp đôi bậy bạ. Tôi nhớ rõ đã nộp cho trưởng ban 1 bài thơ, nhan đề “Thu”. Giờ tôi còn loáng thoáng nhớ mấy câu thơ khi mình vỡ lòng học đòi làm thi sĩ:
Mùa thu thường gợi nhớ Rất nhiều nhưng vu vơ Thổn thức và thổn thức Buồn len vào giấc mơ Thu xanh mưa thu hiền Thu vàng nắng thu nghiêng…

Tuổi học trò ngây ngơ nên tôi “vò” mãi mới sáng tác được mười mấy câu thơ con cóc bắt mệt. Nguyễn Dũng sau đó, bãi học về đạp xe sóng đôi với tôi, anh xin phép được phổ nhạc bài thơ Thu. Tôi gật đầu nhận lời cho xong, vì thấy thiên hạ dòm chúng tôi quá chừng. Nhưng rồi thơ không đăng báo, thơ không được phổ nhạc, lý do tờ báo Xuân IA1 chưa từng được phát hành. Thế mà không hiểu sao chuyện Nguyễn Dũng đòi phổ nhạc thơ PMH lọt thấu tai chef băng Kiết hù. Vì một hôm giờ ra chơi, tôi được ốc tiêu Lê Văn Sâm “mời” nói chuyện. Hắn nói, PMH coi chừng nghe, trưởng ban báo chí lớp mình có vợ rồi đó. Tôi còn nghe bạn bè trong lớp đồn, vợ Nguyễn Dũng là cô ca sĩ ở đài phát thanh Huế. Chỉ rứa thôi mà tôi sợ hết hồn, lần sau hễ thoáng thấy Nguyễn Dũng từ xa tôi đã lo lắng tránh mặt. Bây giờ “tra” cái đầu ngồi nghĩ lại còn cảm thấy tức cười! Những lần về thăm quê hương vào mùa lạnh. Không gian Huế tĩnh mịch, trời mây man mác với lất phất mưa bụi bay. Nhìn sông Hương nhạt nhòa sương khói, thăm dãy Hoàng thành rêu phong, dạo qua cầu Trường Tiền lấp lánh ánh bạc lòng dạt dào thương nhớ tuổi ngày xanh. Với tôi bất cứ cái chi mà dính tới tình tự dân tộc đều làm mình quay quắt thương nhớ. Vì rứa mà có lệ hễ cầm cái phone kêu thăm con bạn nhà văn Nhã Ca dưới Little Sàigòn, lời thứ nhứt phải dành với hắn để “hát” bài ca Huế: Mụ cô bà mi! Tổ cha ông cố nội mi! Rồi cười ra nước mắt mà nhớ về Huế xa vời

vợi biết mấy núi sông. Những tràng âm thanh nhịp nhàng trầm bổng của hàng tôm hàng cá chợ Đông Ba hôm nay là lời ru réo rắc về một nỗi nhớ vô bờ, với chúng tôi những đứa con phải xa lìa đất mẹ. Chất phác như thế, chứ không đợi chi đến văn hoa như “Nhật mộ hương quan hà xứ thị, Yên bagiang thượng xử nhân sầu” mới buồn thương cố xứ! Tôi đã ghé vào trường xưa ngập tràn kỷ niệm. Một mình đến thăm Quốc Học, tha thẩn nơi sân trường cũ. Dừng chân góc sân có gốc phượng già, nhìn lên lầu cao, ở căn phòng đầu tiên của dãy lớp đệ nhất. Nơi ấy tôi từng là cô học trò đàn chị của ngôi trường “oai” nhất nước. Bao nhiêu kỷ niệm dễ thương dần hiện về. Thầy cũ, bạn bè cùng lớp biết mấy luyến thương. Nhớ hành lang có cửa sổ cao vút nhìn hướng về ngôi trường con gái. Thuở ấy, giờ ra chơi mấy đứa chúng tôi vẫn lưu luyến bá vai nhau đứng thẫn thờ ngó về Đồng Khánh xưa, giờ đã ngăn cách bên nớ bởi một dòng sông xanh màu lá phượng. Tuy gần trong gang tấc mà xa đến vời vợi. Nhớ khôn nguôi về tuổi thơ ngây của mình hiển hiện nơi mấy em gái nhỏ đang hồn nhiên nhảy chân sáo, đang chí chóe ồn ào chạy chơi đuổi bắt nhau. Nhớ tiếc lúc mình bắt đầu biết mơ mộng như thử bầy thiếu nữ tóc thề đang từng đôi níu tay nhau lang thang trên lối phượng. Trên thảm cỏ xanh mởn mơ chập chờn đàn bướm trắng...ơi Đồng Khánh dấu yêu làm sao quên được người! Từng lúc tôi luôn trăn trở vì tiếc nuối. Qua Quốc học nhớ thương thời Đồng Khánh. Chừ phiêu bạt xứ người mãi quyến luyến quê hương đã ngút ngàn ngăn cách. Vì nguyên cớ đó khiến lòng tôi thích hoài niệm. Những dòng tưởng nhớ về trường cũ tuy vụng về đã phần nào làm mình khuây khỏa tuổi đời trong trắng là phần thời gian trân quý nhất của một kiếp người. San Jose GiángSinh1997, viết nhớ về IA1 QH 60-61 Ghi lại vào mùa Lễ Tạ Ơn 2011, tròn 22 năm ở Hoa Kỳ

Phan Mộng Hoàn

- 108 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

CHÙM THƠ NHỎ
Nguyễn đức Châu Tam B3, Nhị B3, Nhất B6 (QH 1959-1962)

Yên Động
Chừng ni tuổi tưởng chừng đang mòn mõi Bỗng thấy sóng triều dâng buổi gặp em Rồi từ đó từng đêm nghe bão n nổi Đẩy trôi thuyền ra khỏi chốn bình yên Ta cứ thở dẫu người bắt nín Ta cứ yêu khi máu chưa ngừng Cớ sao ngày tháng dững dưng Buồn chi lại để rưng rưng giọt sầu Đừng ủ dột nhạt màu son phấn Đừng nỉ non vương vấn lụy phiền Đường dài rồi cũng tới phiên Cứ vui câu kệ an nhiên tuổi già

Tịnh
Dẫu thương nhớ cố nhủ lòng lắng xuống Bởi gặp rồi băng giá lại lên ngôi Thà buông xã để sầu vươn gối mộng vương Chỉ một lần hồn thanh thản mây trôi

Và Lặng Buồn
Giờ như gỗ mục sau nương Nằm nghe lá rụng mà thương tuổi già Quê hương thì quá mù xa Trường Sa dậy sóng nỗi nhà xót đau NGUYỄN ĐỨC CHÂU C

- 109 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

- 110 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

- 111 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

BIỂN MỘT BÊN, T EM MỘT BÊN
PHƯƠNG-DUY TDC

Michiko nhìn qua cửa sổ từ tầng lầu thứ ửa tám của khách sạn Shangri-La Hotel th bầu La thấy trời màu xanh rất đẹp, không có mây trắng bay ất lang thang như mấy ngày trước đây, n ớc nàng quay sang nói với Nguyễn: -“Hôm nay trời nắng và nóng dữ lắm đấy. Dự ữ báo thời tiết cho biết 31 độ C đó anh.” ời Nguyễn đang ngồi đọc mấy trang sách ễn hướng dẫn du lịch Thái Lan, liếc mắt nh ớng nhìn Michiko và cười rồi nói: -“Em mới đến đây vài ngày mà da m ài mặt đã ăn nắng hơi đổi màu ....trông từa tựa mấy cô gái ừa Thái địa phương màu da nâu nâu, em nên mua một cây dù để che khi đi ngoài nắng, đừng để khi ắng, về lại xứ hoa anh đào của em bạn b không nhìn ủa bè ra cô bạn Michiko sinh ra tại Mỹ trắng trẻo, hồng ạn hào dễ thương cách đây một tháng, nay đ bôi ột đã thuốc nhuộm da màu... đấy... Hôm nay, chúng mình đi chơi đâu, hả cưng” -“Hôm nay em muốn đi thăm Chinatown của ốn Bangkok để xem có gì khác với các Chinatown ở ới Mỹ, ở Nhật và ở Taiwan mà em đ ghé qua à đã không.” Nguyễn vừa nhìn vào trang sách v ìn vừa chậm rãi nói: -“ Người Trung Hoa sang sinh sống ở đất Thái ống này rất sớm. Những thương nhân , lái buôn ch ương chở những sản phẩm thủ công nghệ, thuốc súng, ững pháo, thuốc bắc, vải vóc, trái cây khô... tr ốc trên những chiếc thuyền buồm sang buôn bán từ thế ững kỷ thứ 12 rồi có một số khách thương t cách ương tìm ở lại. Họ cưới vợ bản xứ, vì (cho đ ngày nay) đến các cô gái Siam (tên thời xa xưa) có nư ưa) nước da ngăm ngăm rất mê mấy chàng trai có nư àng nước da sáng hơn như người Trung Hoa. Sau n ời này, người

Nhật, người Việt cũng được các cô gái Thái chú ợc ý. Dần dần người Trung Hoa di dân sang ời nhiều hơn và họ ở phần đất hoang d xa kinh đô, ọ dã khai phá rừng dễ làm rẫy, l ẫy, làm ruộng, trồng rau, trồng hoa để bán cho người dân địa ph ời phương. Cho đến khi quốc vương Rama I quy định dời ương quyết kinh đô đến phần đất mà ngày nay là thành ph à phố Bangkok, thật may mắn khu đất m người Hoa ắn mà kiều sinh sống lại nằm một phần trong kinh đô ều mới, nên họ làm ăn thịnh vượng h ợng hơn. Kể từ năm 1782, cộ ộng đồng người Hoa kiều quy tụ chung quanh đ ều đường Yaowarat và Sampeng. Trong khu này cũng l nơi sinh sống ũng là của cộng đồng người Ấn độ nh ộ nhưng nhỏ hơn. Lần lần người Hoa Kiều lan rộng qua nhiều đ ời đường phố chung quanh gần dấy. Họ xây l ố lên vô số chùa, thương xá, chợ, tửu lầu, khách sạn v trở ợ, và thành “Khu phố Tàu” Chinatown l àu” lớn như ngày nay. Có thể nói vào giữa thế kỷ thứ 19 c dân ữa cư tại Bangkok gồm một nửa l người có máu lai ồm là Trung Hoa và người Hoa chính gốc. Những cô ời gái lai da trắng trẻo, má hồng hồng trong xinh ắng hơn các cô nguyên gốc da mốc mốc ngăm ngăm. ốc Loại nước da bồ quân... Giai đoạn vào cuối thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ ối thứ 19, Thái Lan cũng bị ảnh h ũng hưởng của chiến tranh nên nền kinh tế bị suy giảm, nh ền nhưng nhờ cộng đồng Hoa Kiều thời bấy giờ gần nh nắm ộng như hết nguồn khai thác về kỹ nghệ, th ết thương mại nên nền kinh tế Thái Lan vẫn trỗi dậy ngay sau đại ền chiến thế giới lần thứ II.

- 112 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Michiko vừa bước ra khỏi chiếc xe taxi, ớc trong lúc Nguyễn nói chuyện và trả tiền cho ng ả người tài xế, phố Yaowarat trước mắt nàng là m trong àng một những khu phố nhộn nhịp nhất của Chinatown. ững Những bảng quảng cáo lớn nhiều m ớn màu sắc treo dọc hai bên đường phố bằng chữ Thái, ngoằn ờng ngoèo trông như những con giun, bằng chữ Hán ững chân phương đại tự. Bảng hiệu chồng l ại lên nhau treo hai ba lớp hướng lên cao. Michiko đ được ên đọc chữ Hán “ ... Đại Kim Hàng””, ..”dược h ợc hàng”, “... đại tửu lầu” ... nên nàng biết khu n có nhiều ết này tiệm vàng lớn , tiệm bán thuốc bắc, nh hàng ớn nhà ăn... và nhiều quán cà phê vì mùi cà phê rang t à tỏa thơm rất xa mà Michiko và Nguyễn l những đệ ễn là tử trung thành của “ Cà-phê Đạo” (mượn ý của từ “Trà Đạo”. Michiko muốn ngồi uống một cốc cà phê nóng, nhưng Nguyễn đề nghị: “Chúng mình vào xem tiệm kim hoàn trước, rồi sau đó còn nhiều thì giờ ngồi lai rai “ nhịt ca phế hoặc phế nại” (cà phê nóng, cà phê sữa) nghe cưng.” Theo tâm lý thông thường, các b các cô ờng, bà, đa số thích vào xem kim cương, hột xo ột xoàn, vàng trắng, vàng vàng, bạch kim mỗi khi có dịp, n ạch nên Michiko rất vui khi tay trong tay bư ước vào một tiệm kim hoàn lớn với Nguyễn. Còn Nguy thì có òn Nguyễn ý định khác. Bao nhiêu năm từ khi tốt nghiệp đại ừ hoc, chàng đi làm cũng dành dụm đ ụm được một số tiền nay có dịp đi với người yêu, m vị hôn thê một vào xứ sở mà từ xưa đã nổi tiếng về hồng ngọc... ổi thì cũng nên tạo một “kỷ niệm đáng nhớ” cho ạo Michiko yêu quý của chàng chứ. Tiền bạc có thể ứ. làm ra vào thời điểm khác còn những kỷ niệm đẹp ững thì hiếm hoi lắm, nay có dịp tốt nên áp d ên dụng ngay. Nguyễn nhớ có lần chàng vào thư viện đọc đ ện được: “Từ thế kỷ thứ XV, Chanthabury theo tiếng Thái ừ có ý nghĩa “ thành phố của Trăng” đ được các ố đã du khách tây phương công nhận n này có ận nơi nhiều hầm mỏ đá quý mà hồng ngọc (Ruby) l ồng là một. Lại thêm thợ kim hoàn nam và n người nữ Thái rất khéo tay mài giũa, chạm trỗ, tạo n ũa, nên những mẫu mã trông rất tinh vi và m thuật. Từ à mỹ thế kỷ thứ IX những tay buôn kim ho ế hoàn trên thế giới đều biết Chanthabury là nơi sản xuất deep ản blue sapphire, green sapphire và blood blood-red ruby có giá trị nhất. Cho đến ngày nay, 70 ph ày phần trăm hồng ngọc trên toàn thế giới đều xuất phát từ ế Thái Lan”. Để cho Michiko tự do đi xem từng quầy ể trưng bày hột xoàn đá quý trong c ý cửa hàng rộng lớn này cho thỏa mãn nhãn quan. ãn Nguyễn hỏi Michiko: -“Sao cưng, xem đã mắt chưa, thích không, có ý ưa, kiến, đề nghị gì không?” -“Tuyệt đẹp, anh ơi! Đả con mắt quá! em rất ả thích.” -“Thế thì có quà cho cưng đây, h nhắm mắt lại, ưng hãy “Bà Tiên” sẽ đưa món quà nh ưa nhỏ.” Michiko nghe l Nguyễn lời nhắm mắt v chờ... ắm và Nguyễn chọn một chiếc ễn nhẫn nhỏ vừa ni tay của ẫn Michiko có c cẩn một viên hồng ngọc lớn. Ch ồng Chàng trao cho vị hôn th như một lưu ị thê niệm. Michiko rất cảm ệm. động khi nhận món qu vì ộng quà nàng r thích và cũng bất rất ngờ. N ờ. Nàng âu yếm nhìn Nguyễn. Cửa h ễn. hàng lúc đó đông khách nên nàng chưa th cám ơn vị hôn thể phu bằng một nụ hôn dài khi nh món quà này. ài nhận Rồi tay trong tay, đôi bạn trẻ rời tiệm kim ồi hoàn đi bát phố tìm nơi ngồi th ồi thưởng thức cà phê và xem những sinh hoạt tại Chinatown. ững Bỗng Michiko hỏi Nguyễn: ỗng -“Em nghe bạn em nói, ngày xa xưa ở San José ày cũng có một khu gọi Chinatown th ũng thành lập trước khi người Nhật bản sang định c tại đây và lập ra ời cư Phố Nhật Bản “ Nihonmachi”. Nh ố Nhưng sao em không thấy? -“ Em không thấy là đúng.” Nguy trả lời. à Nguyễn Nhìn Michiko, trông nàng th tội nghiệp vì bị thật cụt hứng. Câu trả lời của Nguyễn không đủ thuyết ời phục nàng, nên Nguyễn giải thích th ễn thêm:“Người Hoa sang Hoa Kỳ rất sớm, lúc đầu đa số trú ngụ ỳ ở San Francisco và vùng ph cận tại Vùng Vịnh. à phụ Họ đi làm nhân công thiết lập đ ết đường sắt, một số đi làm công nhân hầm mỏ, đa số đi l ầm làm ruộng, trồng cây, khai phá lâm sản. Lần lần thấy đất đai ồng tại thung lũng Santa Clara n tương đối dễ làm ại này ăn, buôn bán mà nghề buôn bán l nghề chuyên ề là môn của họ. Vì thế vào thập ni ập niên 1860 cộng đồng người Hoa Kiều quy tụ chung quanh khu ời

- 113 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
vực Downtown San José nằm các đường San Fernando, Market... lập ra một khu phố Tàu nho nhỏ họ gọi là “Chinatown”. Mở tiệm buôn bán thuốc Bắc, giặt ủi, chạp phô, tiệm ăn, quán trà, cà phê. Họ làm ăn càng ngày càng thịnh vượng. Không hiểu tại sao dân chúng địa phương San José lúc đó lại không có cảm tình với cộng đồng Hoa Kiều này và năm 1887, chỉ trong một đêm một trận hỏa hoạn lớn cố ý “ an arson fire” bùng lên... sáng ngày nhìn lại chỉ còn tro bụi. Rồi đi vào quên lãng. Một thế kỷ sau đó, quang cảnh khu phố trên đường Market ta thấy những tòa nhà hiện đại được xây dựng lên đó là khách sạn “Fairmont Hotel” và “The Silicon Valley Financial Center”... Người Hoa Kiều lúc đó thuộc loại thấp cổ bé miệng, không có ai giúp đỡ nên tìm cách dọn đi nơi khác sinh sống. Họ không muốn lập Chinatown lần thứ hai tuy số Hoa Kiều ở thành phố này càng ngày càng đông. Các thành phố lớn như San Francisco, Los Angeles và một số thành phố khác ở Mỹ có Chinatown mà Michiko không nhìn thấy Chinatown đầu tiên tại đây là vậy đó! Chinatown lớn nhất tại Hoa Kỳ ở New York City. Một vài thành phố khác cũng có Chinatown như Las Vegas, thành phố Chicago, thành phố Houston ... mà anh đã đi đến đó. Anh tin tưởng trong tương lai gần, San José , một thành phố có cả triệu dân cũng sẽ có một “Chinatown” xứng đáng cho cộng đồng người Hoa đang có nhiều người trú ngụ tại đây và có một nghị viên gốc Hoa là ông Kansen Chu , đơn vị quận 4 đang tại chức. Tuy người Hoa Kiều vì hiểu rõ quy luật “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa” nên không nghĩ việc lập “Khu phố Tàu” lần nữa có lẽ là vậy. Phần “Nhân hòa” cũng quan trọng không kém!” Michiko im lặng lắng nghe Nguyễn nói như một cô nữ sinh tiểu học trong lớp nghe thầy giáo giảng bài sử ký, địa lý vậy. Đại học Thammasat hiện ra trước mắt Michiko. Những khối nhà nhiều tầng màu trắng to lớn bao quanh một khu vực rộng tọa lạc trên đường Pra Chan, về cuối đường là bến tàu Pra Chan trên sông Chao Phraya mà đôi bạn đã du ngoạn bằng thuyền.. Nguyễn nói vói Michiko : “Ngày xưa Vasanta và người yêu Ubol đã theo học ở trường này trong nhiều năm. Họ gặp nhau và yêu nhau rồi thành hôn. Họ có một cháu trai lên hai. Thammasat là đại học nổi tiếng về luật và chính trị. Tháng 12 năm 1957, một phái đoàn sinh viên của trường đại học Thammasat, đại học Chulalongkorn và trường kỹ thuật Bangkok đã đến thăm các trường đại học tại Sài gòn và Huế. Tháng 3 năm 1958, một phái đoàn sinh viên Việt Nam tại đại học Sài gòn và Huế sang Bangkok đáp lễ. Thời gian 1973 - 1976 sinh viên trường này đã xuống đường biểu dương chống đối nhà cầm quyền dương thời đòi cải cách dân chủ và đã bị chính quyền dập tắt. Một biến cố chính trị tuy xảy ra cũng đã lâu nhưng nhiều sinh viên và người dân vẫn còn nhớ. Đôi bạn trẻ rời khu đại học Thammasat đi thăm khu vực có nhiều nhà thờ thiên chúa giáo nhỏ ở vùng Dusit, nằm bên bờ sông Chao phraya, phía nam của đường Ratchawithi. Nhà thờ St. Francis Xavier là một trong những giáo đường đầu tiên tại đây, nằm bên cạnh cầu Krung Thon. Xây dựng vào thập niên 1850. Chỉ là một nhà thờ nhỏ sơn màu trắng, gác chuông có Thánh Giá thấp, được cộng đồng người công giáo Việt Nam định cư ở Thái Lan từ năm 1934 đến sinh hoạt và tham dự thánh lễ hàng tuần rất đông đảo. Những Việt kiều này sang sinh sống tại Thái Lan rất lâu đời. Đa số là dân gốc Thừa Thiên (Phú Cam, Kim Long), Quảng Trị, (La Vang), Quảng Bình, Đồng Hới (giáo xứ Tam Tòa), Hà Tĩnh, Nghệ An và một số tỉnh ngoài Bắc. Trước tiên họ sang Lào sinh sống, làm công tư chức, buôn bán sau vượt sông Mêkông qua miền Bắc Thái Lan... thời gian sau đi lần lần xuống phía nam và chọn Bangkok làm nơi thường trú. Thập niên 1960, một số được tòa đại sứ Việt Nam tại vương quốc này đưa về Việt Nam. Về phía nam, có một nhà thờ nhỏ hơn: Nhà Thờ “ Church of the Immaculate Conception” xây dựng năm 1837 do các linh mục dòng thừa sai người Pháp sáng lập trên khu đất trước kia là nhà thờ Bồ Đào Nha. Trong thời vua Narai trị vì, linh mục Louis Laneau đã xây một nhà thờ nhỏ năm 1674 cho cộng đồng Bồ Đào Nha sinh hoạt tôn giáo tại đây. Michiko cởi đôi giày cao gót ra khỏi chân. Nàng cầm đôi giày và giẫm chân lên bãi cát mịn trắng ẩm trải dài dọc theo bờ biển. Một cảm giác mát lạnh từ bàn chân lan lên tận đùi nàng. Gió biển từ ngoài khơi xa xa thổi vào, tóc nàng bay theo gió. Nguyễn đi bên cạnh im lặng nhìn

- 114 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Michiko không chớp mắt.Michiko âu yếm nh ớp nhìn Nguyễn và hỏi: -“Sao giữa trời bể bao la, “triết gia” đang nghĩ g ữa gì mà “tịnh khẩu” vậy?” -“Tiếng nói “vô thanh”, nên em không nghe đư ên được là phải”, Nguyễn chậm rãi trả lời. -“ ! ! ! “Michiko ngạc nhiên. -“Trong đầu anh, quả tim nói với bộ óc một câu ầu vô thanh: “Biển một bên, em một b ột bên , hai bên đều đẹp quá” đó! cưng nghe rõ ch õ chưa?” Rồi Nguyễn vui vẻ nói tiếp: -“Thái Lan sống nhờ “kỹ nghệ du lịch”: mỗi năm ống hàng triệu lượt du khách đến thăm xứ s thần ợt sở tiên tại vùng Đông Nam Á này. Các b biển của ùng bãi Thái Lan nổi tiếng tiện nghi, cát mịn, chi đãi tốt ổi chiêu và an toàn. Quanh vịnh Thái Lan, về phía đông nam có ịnh những bãi biển cát mịn như Ko Sichang, ư Pattaya Rayong, bãi cát trắng rất đẹp Ko Samet, ắng Khlong Yai ..., phía tây có những bãi bi ãi biển Phetchaburi, Cha-am, Hua Hin, Prachuap, Surat am, Thani... “ Bỗ ng Michiko hỏi: -“ Khi em đến chơi nhà anh, thấy anh có rất nhiều dĩa DVD phim James Bond đóng, vậy anh ều có biết vùng nào ở Thái Lan được gọi “ James ợc Bond Island” không?” -“Biết. Hòn đảo này tên gọi bằng ngôn ngữ Thái l ọi là “Ko Khao Phing Kan” và đảo bên c ên cạnh là “Ko Tapu”. Tên “James Bond Island” là dân đ James địa phương gọi để kỷ niệm năm 1974 Điệp vi ọi viên James Bond 007 (do Roger Moore th vai) đến thủ đảo này nằm trong vịnh Phangnga để đóng phim ằm “The Man With The Golden Gun.” (Ngư đàn ông The (Người với khẩu súng vàng). -“Anh đã xem phim này chưa?”, Michiko h ưa?”, hỏi. -“Michiko biết anh rất nghiện phim 007, n hễ có ết nên phim James Bond nào chiếu ở rạp ciné hay ra ếu DVD, anh đều xem cho biết . Phim n anh cũng ết này đã xem và không thấy hay lắm so với những phim ấy cùng loại của điệp viên nổi tiếng thế giới n ổi này.” -“Truyện nói gì vậy anh?” -“ Đại khái, điệp viên James Bond 007 ph qua ên phải vùng Viễn Đông dễ truy t ễn tìm tên lưu manh Scaramanga (do tài tử Christopher Lee đóng). ử Họ gặp nhau, đấu trí, đấu súng...cũng chẳng có g ọ gì lạ.” -“ Em nghe nói, Thái Lan có nơi ngh mát vùng “ nghỉ biển sang trọng và hấp dẫn du khách v chính ấp và khách lắm nên nhiều hội nghị quốc tế đ tổ chức ều đã tại Phuket?” -“ Vâng, Phuket town, Thành ph du lịch và nghỉ uket phố mát quốc tế “international resort có 12 b biển ốc bãi dài toàn cát mịn nằm phía tây nam , cuối vịnh ịn Phangnga. quay ra hướng biển giáp giới với Ấn ớng độ dương , phần cực Nam bán đảo Andaman. ần Nhiều nơi nghỉ mát sang tr trọng Phangnga, như Amanpury, bãi tắm đẹp như Patong, đư ư được cho là phong cảnh hữu tình, nư ước biển trọng xanh, khách sạn sang trọng nhất. Đọc báo, xem ti vi ạn chắc em chưa quên vụ sóng thần Tsunami xẩy ụ ra ngày 26 tháng 12 năm 2004 đ quét vào bãi đã biển này đưa 5,300 nạn nhân xuống thăm Long ạn Vương Thủy Tề.” -“Có, em có biết vụ động đất lớn ngo khơi ết ngoài Indonesia, sóng thần Tsunami gây thiệt hại t ần tài sản và nhân mạng một vùng r ùng rộng lớn quanh đó.” -“Lần này, anh không nghĩ đến việc đ ĩ đưa em đến các bãi biển sang trọng, đông ng ọng, người mà tìm một bãi biển “vô danh” có gió mát, có những cây dừa ển cho nhiều bóng mát, có biển sạch, có b cát mịn, ều bãi ít người tắm để chúng ta hư ưởng không khí trong lành và ngồi nghỉ ngơi quên h nắng nóng, nhọc ơi hết mệt mấy ngày vừa qua. Ngồi trên tấm trải bằng vải, Michiko uống ấm nước dừa xiêm nhìn mấy ngư ph đang phơi lưới ư phủ bên cạnh những chiếc thuyền đánh cá. Kiểu ạnh thuyền của Thái Lan đa số l ền làm hình thon, dài và trước thuyền ghép ván nhô cao h ớc hơn và có mũi nhọn trông lạ mắt. Michiko nhìn Nguyễn và th lộ tâm tình: à thổ -“Em rất hãnh diện và vui khi tay trong tay cùng à anh đi du lịch Thái Lan trong những ng qua. ịch ngày Em đã hiểu biết và học hỏi rất nhiều . Những kỷ ọc niệm đẹp này chúng ta sẽ giữ m ... nghe anh.” ẽ mãi Nhìn ra khơi, biển một m ển màu xanh rất đẹp. Những đợt sóng vỗ vào bờ cát trắng , tiếng ầm ờ ầm nối tiếp nhau vang xa, những khối bọt trắng tràn lên bờ gần chỗ đôi bạn trẻ ngồi tâm sự. ờ Họ mãi hôn nhau nh chẳng cần biết ãi như những gì xẩy ra chung quanh. ẩy PHƯƠNG-DUY TDC8/2009

- 115 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Nhảy với em ới đêm nay
Cùng đi dạo b nhau, ạo bên Dầu tuổi đời đ cao, ầu đã Mình vẫn thương nhau m ương mãi, Cho đến thuở bạc đầu. ến Đêm nay như c bé, còn Cầm tay em m ầm mình nhé, Em muốn con đ ốn đường xưa, Mình đi l lần nữa. lại Đêm nay mình hãy nh ình nhảy, Cho sống lại mối t ống tình, Giống như chim cất cánh, ư Bay bỗng tận trời xanh. ỗng Em thấy trong mắt anh, ấy Đầy kỷ niệm tuyệt đẹp. ầy Anh hướng đi đời em, ớng Em nguyền l như thế. ền là Anh có thấy không anh, ấy Bao năm qua chung s sống, Hạnh phúc lắm nhỏ nhoi, ạnh Cho tim mình r rã. rời Em đi cạnh bên anh, Khi anh cầm tay em Em thấy như sức mạnh, Em thấy tình chơi vơi. Chúng mình đã già rồi, Em tiếc nuối gì đâu, Năm tháng gần bên nhau, Nhờ tim anh sưởi ấm. Em vẫn cầu lạy Chúa, Cho sống lại tình ta, Đến hết ngày chung cuộc, Mình nhãy điệu nhạc tình. Đêm nay đêm đặc biệt, Anh hãy nhảy với em, Điệu nhạc tình thắm thiết, Cho em vỗ cánh bay. Em thấy trong mắt anh, Đầy kỷ niệm tuyệt đẹp, Anh hướng đi đời em, Em nguyền là như thế. Và đây về đến nhà , Nhà nầy nhà chúng ta .

Bửu Hiệp Dịch từ “Ce Soir Fais-moi dancer” moi của Albert Babin
- 116 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Bàn tay cầm bút m
Phan Triều Hải
Buổi chiều ra quán, đang lách tách gõ, tình cờ vướng vào một trang của The Paris Review có phỏng vấn Paul Auster. Tác giả Moon Palace nói gì cũng hay, nhưng thú vị nhất là việc ông luôn viết tay, dùng bút máy, thỉnh thoảng bằng bút chì, bởi khi viết “có thể cảm thấy chữ đi ra từ chính cơ thể mình.” Đọc đến đó chợt nhớ chuyện họp lớp gần đây. Lớp đại học của tôi có mười hai đứa, tuổi chênh nhau vài ba năm không phải vì kém mà do thời cuộc khi ấy cần thi đi thi lại nhiều lần. Năm đứa con trai. Còn lại đương nhiên là con gái. Sống cùng một ký túc xá, nữ tầng một, nam tầng ba. Ngày ngày một đoàn đội nắng sang căn-tin nhận cơm, lếch thếch như một gia đình đông con không người lớn. Cái gia đình đông đúc ấy tan tác dần, khi trung bình mỗi năm một bạn rưởi chia tay để định cư nước ngoài. Sau bốn năm học, sáu người ở lại cũng sắp xếp được đời mình, chuyện xưa cũng quên dần đi. Thế rồi các bạn ra đi lần lượt về thăm quê hương. Mỗi lần như thế nửa lớp còn lại tụ họp hân hoan chào đón. Lần này, đang vui cười thì bạn về thăm lấy trong túi to ra một cuốn sổ lớn đặt đ lên bàn. Nhìn cái bìa b bọc bằng giấy báo cũ quen thuộc, b mép báo g gập bên trong còn in ngày tháng năm 1987, c bọn cả ngồi ng lặng đi. Thời lãng mạn ấy, khi máy tính còn được gọi tên hai-tám-sáu, ba-tám-sáu xa xỉ, hai cuốn cu sổ đóng vai trò của những email, facebook trong cái l lớp mười hai người ấy. Buổi tối mư những ngày chẵn, bọn con trai nh viết vi vẽ chuyện của mình vào đấy, sáng hôm sau chuyển cho đ các cô trang tr tâm tư những trải ngày l Cứ luân phiên nhau hí lẻ. hoáy mà các trang vi dày lên viết dần. Sau hai mươi năm không d cần đọc, chỉ nhìn từng trang c nhật nh ký chung, ngắm nét bút nét vẽ v lấm lem trên giấy vàng, các bà m ngồi hôm đó cứ chớp mẹ chớp mắt khi năm tháng sống ch cùng nhau nghèo mà đ tưởng đẹp đã đ quên lại ùa về. Kiến thức của bốn năm học ấy ấ không còn nguyên vẹn nên cuốn nhật ký chung ấy là thành cu quả qu duy nhất của cả lớp. Một kiệt ki tác chữ viết tay. Chỉ cần nhìn qua nét ch cũng biết ai chữ đang tr lòng. Mực tím của ai. trải Mực xanh của ai. Nét tròn trĩnh, M nét li liến láu, nét hờ hững kia là của c ai. Quả thật, chữ viết tay có một m thần thái khác ngoài ngữ nghĩa. ngh Nó là tâm tính mỗi người. - 117 -

Chẳng có gì l bởi chữ ban ng lạ, đầu được tay tr múp míp hình c trẻ thành từ nh những nét vạch thô sơ. Nét thẳng, nét ngang, nét cong. ng, Tiếp theo là nh p những chữ to đùng như quả tr trứng, những chữ a chữ b chữ c quay lưng đi tới, những số 9 s 6 ngoằn ngoèo số con nòng nọ những chữ o gãy ọc, khúc vì phút cu bút mới giật cuối mình nối vớ điểm đầu. Cứ thế ới mỗi ngày ch gọn dần, thanh i chữ dần, tay cứ ứng cáp hơn bắt đầu tung tẩy nét đ y đậm nét nhạt, chữ hoa chữ in. R tập tành câu. Rồi Ném qua l những dòng viết lại vội. Và thư đ tiên. i. đầu Tôi không nh lần sau cùng nhớ mình tự tay vi một lá thư là khi viết nào. Có lẽ gần mười lăm năm trước. Trong t c. từng ấy năm, cây bút luôn có kh khắp nơi, trên mặt bàn, trong túi áo, nhưng ch chỉ dùng để viế nhanh các ghi chú, ết để ghi số điện thoại, địa chỉ email bạn hay có khi chỉ để nằm n đó cả tuần không làm gì. Bàn n tay viết như ngư dày công khổ t người luyện marathon, sau khi đư n được cấp giấy xác nh y nhận chỉ chạy đường ngắn, r chuyển sang đi n, rồi bộ. Giờ thì v vừa đi vừa nghỉ, như các cụ tuổi b mươi bụng tròn i bốn chiều chiều chăm ch Tao đàn. u chỉ

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Ba tôi là một người viết chữ đẹp, như đa số những người thuộc thế hệ ông. Nét phóng khoáng không gò theo mẫu chung. Bạn bè ông có người viết nét rộng, có người viết nét hẹp, nhưng mỗi nét đều nặng cái hồn. Các từ trước khi viết đều được nghĩ trước, được sắp xếp sao cho khi đến mép giấy từ nào bị xuống hàng phải tâm phục khẩu phục. Ông ở xa, nhưng không thích dùng máy tính. Mỗi thư ông gửi về phải mất nhiều ngày mới đến nơi. Con cái hướng dẫn cách dùng laptop, chỉ cách mạng, mở hòm thư nhưng ông không làm được. Ông chỉ thoải mái khi viết thư. Trên bàn ông xếp sẵn những tờ giấy theo khổ ông thích. Mỗi khi nhận được thư hay quà ông gửi, tôi thích ngắm dòng ghi tên và địa chỉ bên ngoài. Tên tôi qua nét bút của ông không chỉ là tên, mà còn là sự sở hữu. Rằng có bao nhiêu năm nữa trôi qua thì tôi vẫn chỉ là đứa con trai cần được yêu thương, không khác thằng bé bốn tuổi năm nào khi ông cầm tay gạch cho những nét đầu tiên. Không biết ông cảm thấy gì nếu nhận một thư tương tự từ con trai mình. Tôi không chắc nét chữ viết cho ông thuộc về tôi. Tờ đầu tiên tôi sẽ gạch bỏ sau vài dòng. Tờ tiếp theo cũng thế. Viết một lá thư vài trang như ngày xưa giờ là một việc quá nhọc nhằn. Khi cố gắng kiểm soát bàn tay cứng quèo cầm bút, tôi cũng làm văng chữ đi các nơi, đầu trống rỗng. Có lẽ tôi phải chọn một giải pháp vừa sức hơn, một chiếc postcard chẳng hạn, một mẩu giấy bé vừa chỗ cho vài dòng và hy vọng ông không kịp đọc ra sự thoái hoá của con mình qua những dòng ngắn ngủi ấy. Rốt cuộc mọi người quyết định giao tôi giữ cuốn nhật ký chung của lớp. Tôi dành hẳn một đêm lần giở từng trang, khám phá ra mình đã yêu thầm tất cả các cô bất chấp tuổi tác, hết cô này đến cô khác, mà không bị ai phát hiện. Bởi trong nhật ký, dưới sự phẳng lặng của câu chuyện hàng ngày, chỉ có tôi mới đọc được tình cảm của mình qua dấu chỉ của từng nét bút. Hết sức cảm phục sự tinh tế của nghệ thuật viết tay, tôi quyết định sẽ tập viết lại qua những thư trao đổi với cha. Nhưng ông đã gửi cho tôi email đầu tiên. Ông khoe: Ba đã biết dùng máy tính. Một câu ngắn với khoảng cách từ không đều. Email thứ hai là một thông báo sức khoẻ kèm mặt cười nhấp nháy. Những email sau của ông cho thấy một sự tiến bộ nho nhỏ trong công nghệ. Tôi chép vào sổ nhận xét của Paul Auster về sự nhạy cảm của chữ viết tay, rồi tắt máy cho vào túi. Ở các bàn xung quanh, mọi người im lặng, mỗi người một máy. Tôi nghĩ dù sao cũng sẽ viết thư tay cho ba tôi, bất chấp ông sẽ trả lời bằng cách nào đi nữa. Phan Triều Hải 11.2010

Mừng Thầy Trung 50 năm

trên bục giảng

Năm chục năm qua nghĩ cũng dài Ngày ngày lên bục phấn cầm tay Toán học trao truyền cho lũ trẻ Tương lai phó mặc với trời mây Phương trình cuộc sống đà ghi sẵn Quỹ tích giòng đời lắm đổi thay Học trò tưởng nhớ ân sư cũ Nay đồng qui lại tạ ơn Thầy
Nguyên Thạnh 9/2009

- 118 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Hoàng Cung
và nỗi cô đơn
Cao Thanh Tâm Vào một buổi trưa thứ bảy mùa hè cách đây ùa hơn bốn mươi năm, trên đường đi học về, lúc đạp ờng xe ngang rạp ciné Lido trên đường Chi Lăng, tôi ờng thấy rạp đang chiếu phim An Độ mang t “Thâm ộ tên cung sầu hận”. Bên ngoài rạp người ta đang nối ời đuôi nhau chờ mua vé làm lòng tôi náo n àm nức. Tôi chợt nghĩ đến bà chị ruột của ông ngoại tôi ở bờ ị sông Bạch Đằng, cô của me tôi, là th phi của vua à thứ Khải Định ngày trước. Sau khi Triều N ớc. Nguyễn sụp đổ, vua Bảo Đại thoái vị và lưu vong qua Pháp th à thì tất cả cung phi được xuất cung, ng ợc ngưòi thì đi tu người lập gia đình và cũng có người ở vậy để thờ ời phụng tiên đế. Bà chị ruột của ông ngoại tôi cũng ị ở vào trường hợp này. Hồi đó bà cô tôi khoảng ngoài năm mươi, oài dáng người thanh nhã quí phái, khuôn m trái ã mặt xoan làn da trắng mịn đôi mắt đẹp to đen thoáng ắng nét lạnh lùng, có lẽ do nếp sống cô quạnh trong ẽ nội cung lâu năm đã khiến bà có nét cô đơn, kín à đáo, cách biệt với cuộc đời chung quanh. B cô từ ệt Bà ngày ở Hoàng cung ve, cuộc đời còn l của bà là òn lại lo chăm sóc ngưòi mẹ già đã ngoài tám m ã mươi-tôi gọi là cố- đôi mắt gần loà và lo cúng gi cùng đi à giỗ chùa lễ bái. Mỗi năm nhằm hạ là mùa an cư hay à vô hạ ở chùa Hồng An, ngôi chùa sư n độc nhất ùa nữ hồi đó ở Huế, bà cô tôi giao bà cố cho ng ố người nhà chăm sóc còn bà lên ở trên chùa một thời gian. B ột Bà chưa xuất gia nhưng luôn dành nhiều th giờ cho ều thì kinh kệ và lễ Phật. Bà cô còn một ng ột người bạn thân thiết là sư bà Từ Hòa trước kia cũng l một thứ phi ớc là của vua Khải Định, sau khi ra khỏi cung b xuất ủa bà gia đầu Phật. Sư bà Từ Hòa trước kia được gọi l bà Tiếp ợc là khi còn ở trong cung. Cùng hoàn cảnh nh nhau ảnh như nên hai người thân nhau như chị em ruột v thế tất ị vì cả cậu dì và ba me tôi đều gọi bà Tiếp bằng b cô ếp bà Từ Hòa. Bà là người điềm đạm, có một vẻ đẹp quý ời

phái sang cả nhưng tính tình đằm thắm và thân ình mật với mọi người, đôi mắt đẹp của b có nét hiền ắt bà hậu trong sáng, vốn có căn tu n từ ngày vào ậu nên chùa ba ở một phòng nhỏ ở hậu li ỏ liêu, được tất cả đồng đạo thương mến. Lúc c nho, mỗi lần theo ến. còn bà ngoại hay bà cô lên chùa tôi tìm vào h liêu à hậu thăm bà, tôi thường được bà cho ăn t cây, xôi à trái chè, bánh in cúng Phật và tôi còn được đọc cả sách à báo Phật Giáo. Bà cô của tôi được mọi ng ợc người gọi là bà Tân, tên thật của bà là Bạch Liên, m đóa sen trắng ên, một tinh khiết muôn đời. Tính bà d dàng tuy có nét à dịu lạnh lùng xa cách nhưng bà r gần gũi thân mật ùng rất với chúng tôi. Các em tôi hồi đó c nhỏ nên ít ới còn gần bà hơn tôi. Những ngày ngh học, tôi thường ở ày nghỉ lại nhà bà. Tôi say mê tủ sách có nhiều chuyện ủ Tàu của bà cũng như những câu chuyện hầp dẫn ững trong cung và nhất là đám b bè chung quanh à bạn khu vực bờ sông Bạch Đằng. Tr tấm sập gụ ờ Trên bóng loáng chân quì có giát nh những vỏ óc xà cừ lấp lánh, tôi thường chăm chú nh bà tỉ mỉ từng mũi ờng nhìn kim, bà tự may cho mình những chiếc áo d lụa tơ ững dài tằm nhẹ như bông với những m dịu dàng như ới màu màu xanh ngọc, vàng nhạt, m lam mà bà gọi ạt, màu một cách văn vẻ là màu hổ ho ổ hoàng, màu nguyệt bạch, màu hồng phấn...có khi b bàn luận hàng giờ ồng bà với tôi về các chuyện tàu như Nh Độ Mai, Thuỷ àu Nhị Hử, Tố Tâm, Câu chuyện d ử, dòng sông...Tôi học được ở bà rất nhiều về cách đi đứng, nói năng ất tranh luận, tài khéo léo vá may, làm m bánh , mứt ngày tết.

- 119 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Với một trái đu đủ xanh và ít phẩm màu và con dao nhỏ bà có thể làm ra một thẩu mứt mỹ thuật với những đóa hoa thược dược vàng đỏ tím bằng cách tỉa trái đu đủ xanh rồi nhuộm màu và rim với đường. Đó là cách làm tỉ mỉ đầy nghệ thuật mà bà học được trong cung. Ngoài ra bà còn đọc nhiều sách kinh lễ, đạo thần tử, phận vua tôi vì trong cung rất buồn và cô đơn. Bên cạnh bà lúc nào cũng có hai cung nữ hầu cận và một người thân trong nhà mà ông cố tôi cho đi theo săn sóc bà từ ngày vô nội. Vào cung là tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài cho nên người ta thường có câu “đem con vô nội” ý nói là không có ngày ra hoặc là vào cung từ ngày còn thơ dại và khi ra khỏi cung thì đã vào tuổi hoàng hôn của đời người! Hôm tôi rủ bà cùng đi xem phim “ Thâm Cung Sầu Hận” bà vui vẻ đi ngay. Hôm đó chúng tôi đi xuất bốn đến sáu giờ chiều. Khi ra khỏi rạp thì trời đã nhạt nắng, hai bà cháu tản bộ về nhà gần đó. Phim có cái tên hay mà nội dung thì dở quá, trên đường về bà bảo tôi rằng: “Bà cô tưởng rằng phim này nói lên được tâm trạng của những người trong cung như thân phận của bà cô, ai ngờ chỉ đánh đá lung tung vì tranh quyền cố vị. Con biết không, trong văn chương người ta hay đề cập tới Vua và Hoàng Hậu cùng những tranh đua, những thủ đoạn đôi lúc tàn ác của các cung phi mỹ nữ tranh đấu với nhau để đựoc hưỏng ơn mưa móc-ý nói đựoc gần nhà vua- những vinh quang, hạnh phúc hay bất hạnh của họ mà các phi tần thưòng gặp phải! Tuy nhiên, gia đình nào có con cái tiến cử vào cung làm phi thì được xem như là một diễm phúc cho cả dòng họ nhưng có mấy ai nghĩ đến nỗi lạnh lùng cô đơn và cay đắng của những con người như bị giam lỏng suốt đời. Họ không có quyền biết tới hạnh phúc riêng tư chỉ biết đạo quân thần, đi đứng ăn nói phải theo khuôn pháp lễ nghi, phải học nếp sống cung đình, tránh tên huý của các bậc tiên đế, không được viếng thăm cha mẹ tự do. Thỉnh thoảng người thân của họ mới được phép vào cung viếng thăm trong thời gian hạn chế. Tôi ái ngại nhìn bà:
- 120 -

- Con nghe me con nói bà cô vào cung lúc còn nhỏ lắm phải không? Ở trong cung buồn vậy thì bà vô làm chi?” Bà mỉm cười thương hại cho sự ngây thơ của tôi: - Con tưởng ai muốn vào cung thì vào không thì thôi mà được sao! Hồi đó bà mới có mười sáu tuổi thì ông cố của me con được lệnh chỉ định đưa cháu nội vô cung. Ong cố tốn cả một gia tài sắm sửa cho bà cô vô cung chứ không phải đơn giản đâu. Từ cái khay chạm bạc cho đến tất cả các tư trang của bà cô. Hồi đó ông cố của con là một đại thần của Nam Triều mới được đề cử mang cháu nội vào cung như là một vinh dự cho gia tộc và còn chứng tỏ lòng trung thành với vua. Vì thế hầu hết các quan đại thần đều muốn tiến dẫn con cháu mình vào cung cho nhà vua yên tâm về sự trung thành của họ. Tôi tò mò hỏi bà: - Vậy ông cố có hỏi ý kiến của bà cô không? - Không bao giờ. Ong cố chỉ ra lệnh cho gia đình chuẩn bị mọi thứ chu đáo cho đến ngày trong cung cho người ra đón mà thôi. Bà ngừng lại chậm rãi và mắt thẩn thờ nhìn bóng nắng nhạt dần trên hè phố như muốn sống lại cả một thời dĩ vãng xa xôi…... Me tôi thường kể cho tôi nghe rằng hồi mới lớn lên bà cô rất đẹp và đã được một gia đình quý phái ngắm nghé cho con trai của họ, ông ta là một người thông minh hoạt bát, có chí hơn người và cũng rất yêu thương Bạch Liên. Dù sống trong khuôn khổ lễ nghi nhưng chưa bao giờ được gặp mặt riêng nàng, nếu không tiến cung thì có lẽ Bạch Liên đã yên bề gia thất vui hạnh phúc với chàng thanh niên rất xứng đáng với nàng về mọi mặt. Thế nhưng tất cả đều bó tay trước quyền lực của triều đình. Ngày triều đình đón Bạch Liên vào cung là một ngày mùa đông mưa phùn lạnh lẽo, chàng thanh niên bất hạnh kia đã ngậm cay nuốt đắng âm thầm dầm mưa ở chân cầu Gia Hội chờ đợi chiếc kiệu hoa đi ngang để được nhìn người mình yêu một lần cuối qua chiếc màng the. Chàng đã nhìn theo chiếc kiệu hoa và khóc cùng với những giọt mưa lạnh buốt mùa đông với con tim tan nát sầu hận xót xa mối tình tan vỡ thầm tiễn

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
chân người mình yêu trên đưòng tiến cung cho trọn đạo quân thần! Vốn là một người hoạt bát thông minh và đầy nghị lực, không bao lâu chàng đành quên đi mối tình dở dang kia mà đứng vững trở lại và tạo dựng cho mình một cơ ngơi đáng kể. Càng buồn càng lao vào thương trường và chẳng bao lâu danh chàng đã trở nên sáng chói, rồi chàng lập gia đình với một cô gái thuần hậu nề nếp xinh đẹp và vui sống với gia đình tuy lòng luôn canh cánh mối tình dang dở ngày xưa. Sau ngày vua Bảo Đạo thoái vị và sống lưu vong thì các cung phi mỹ nữ được về nhà. Riêng đức Từ Cung, Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, mẹ vua Bảo Đại phải di giá về cung An Định và sống lặng lẽ ở đây cho đến cuối đời. Bà cô của tôi sau khi về nhà phụng dưỡng me, thỉnh thoảng lại sang cung An Định chầu Đức Từ. Bà vẫn giữ lễ nghi triều đình một lòng thờ phụng Tiên Đế Khải Định và đức Từ Cung. Lúc còn nhỏ tôi cũng đã nhiều lần được theo bà cô sang cung An Định. Tôi còn nhớ đức Từ Cung là một bà lớn tuổi người không cao lắm, dáng uy nghi, tóc quấn khăn vàng trong những ngày lễ. Bình thường bà búi tóc và mái tóc bạc nhiều. Bà thường cho tôi bánh in được gói trong giấy điều có chạy chỉ vàng như hình chiếc gối vuông có in chữ Thọ và thỉnh thoảng đức bà có gởi cho các em tôi nữa. Loại bánh in đó, dù đã mấy mươi năm tôi vẫn còn nhớ hình như được gọi là bánh phục linh, bột rất mịn bỏ vào miệng là tan ngay và lưu lại một vị ngọt dịu thơm ngon. Sau khi bà cô tôi đựơc về nha một thời gian thì ông cố mất chỉ còn lại bà cố. Bà rất hanh phúc vì có con gái chăm sóc, bà đâu có ngờ đứa con thân yêu vô nội ngày xưa mà nay còn có ngày về! Chàng thanh niên hồi xưa thương yêu bà cô, nay đã là một nhân vật nổi danh trong xã hội với một đại gia đình danh giá con cháu thành công ở tỉnh Ban Mê Thuột. Thỉnh thoảng về Huế ghé thăm bà cô và đôi bên vẫn giữ tình bè bạn, vừa là phận thần tử thân thiết. Những lần ông về thăm bà cô bao giờ cũng giữ gìn ý tứ, chỉ ban ngày ở lại ăn uống với con cháu trong nhà, ban đêm ông thường thuê đò lớn, đốt trầm và thuê đàn tranh cùng các danh ca cổ nhạc để nghe ca Huế và thả thuyền bềnh bồng trên sóng nứoc Hương giang hóng mát. Ông là một người tài giỏi và hào hoa nên trên bước đường xuôi ngược kinh doanh cũng đôi phen dừng chân và có thêm người vợ nhỏ. Tuy nhiên ông vẫn lo lắng cho gia đình chu đáo. Đôi khi ngưòi vợ chính buồn rầu than thở tâm sự với bà cô thì bà nghiêm nghị khuyên ông trở về bổn phận với gia đình, ông thưòng lắng nghe lời khuyên can và gia đình lại êm ấm trở lại vì thế tất cả con cháu của ông đều thương yêu kính trọng bà. Lúc tôi mới lớn lên thường băn khoăn hỏi bà cô rằng bà có chút tình cảm riêng tư nào với ông không. Bà cười xa vắng: - Trong đời bà không dám thương ai cả ngoại trừ Đức Tiên đế, bà sợ nếu mình thương ai, khi họ chết đi thì mình khổ. Tôi cải lại: - Con thấy ai ở đời cũng có thương có khổ chứ nói như bà cô thì lòng dạ quá sắt đá! Bà chỉ cười, chắc cuộc đời và hoàn cảnh của bà đã tạo ra tâm hồn bà như vậy. Bà có muốn lạnh lẽo một mình đâu nhưng muốn cũng không được thì thà không có tình cảm, dễ chịu hơn. Tôi hỏi tới: - Bà cô có thương Đức Khải Định không? Con nghe nói ngài có quá nhiều cung phi mỹ nữ, vậy bà cô có buồn tủi lẻ loi trong cung lạnh không? Bà cô nhìn tôi ái ngại lắc đầu: -“Run như run thần tử thấy long nhan” Con đọc chuyện nhiều chắc hẳn con phải biết đều đó! Suốt mấy chục năm vào cung bà đã nhiều lần chầu vua cùng các phi tần khác mà có bao giờ dám ngước lên nhìn ngài đâu. Có một lần, trong lúc trống ngực đánh rầm rầm vì run sợ phạm thượng, bà đánh liều ngước vội lên nhìn ngài thấy ngài rất đẹp, vẻ đẹp hiền lành yếu đuối mảnh khảnh. Hôm đó ngài chỉ hỏi bà cô một câu: - Hôm nay bà có khoẻ không? Bà cô ngập ngừng cúi đầu tạ ơn ngài rồi lui bước. Tôi sửng sốt:

- 121 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
-Mấy chục năm hầu ngài mà chỉ có một lần nh ỉ nhìn ngài thôi hay sao. Thế còn các bà khác thì sao? òn Bà trầm ngâm: - Rất nhiều phi tần chung số phận nh bà, tất cả ất như các bà được tiến cung đều xinh đẹp, xuất thân quý ợc phái nhưng thân phận của họ đều như nhau. ư

NHỮNG BƯỚ CHÂN ỚC MÙA XUÂN, CON ĐƯỜ ỜNG

Hồi đó vua Khải Định yếu đuối đâu có gần ồi đàn bà được vì thế ngài chỉ có một m ỉ mình vua Bảo Đại và may mắn cho đức Từ, nhờ đó m đựoc ắn mà chức Đoan Huy Hoàng thái Hậu còn t cả đều âm òn tất thầm trong cung lạnh kể cả Chánh Phi của vua ầm cũng vì không có con và vì uất hận n sau nầy đã ất nên bị điên. Bà thường đi lang thang từ nh thờ phủ ờng nhà Cam qua chùa Sư Nữ, nơi em gái bà tu. Riêng ơi Hoàng Hậu Nam Phưong thì theo Đạo Thiên ì Chúa...Chuyện trong cung dài lắm kể ho không ắm hoài hết con ơi. Tôi ái ngại cầm tay bà: -Con xin lỗi, mời bà cô đi xem phim Ấn Độ này à không ngờ dở quá. Tuần sau bà cô với con đi xem ới phim “Mirage de la vie” (Ảo ảnh cuộc đời) chắc chắn hay hơn, con thích Sandra Dee đóng vai ơn, chính. Quên chuyện trong cung đi b cô ơi! Nếu ện bà ngày xưa con được tiến cung như b cô thì con ư bà không chịu đâu. Ở nhà đi học đi chơi v bạn bè ơi với vui hơn phải không bà cô? Bà ngậm ngùi nhìn xa vắng: - Con nói phải, có ai muốn đưa con vô n đâu ưa nội con! Cao Thanh Tâm Mùa xuân 2005

Những sớm mai thanh, tr thưa thớt nắng. trời Người bước trên đường, l ng, lặng lẽ niềm vui. Ngày mới sang trang cùng ánh m trời. i mặt Người chợt mỉm cười,long lanh ngày m i,long mới! Có phải không, đường ch chân tôi? ng chờ Những con đường quen. Nh ng Những con đường lạ?. Cả những con đường không d chân ng dấu người. Những đường nắng mai, nh ng những đường bóng tố ối Cả những lối mòn thăm th sương vây.. ăm thẳm Và những nẻo về mơ cánh chim bay… Tôi sẽ bước đi , con đư c đường cho tôi?. Tôi sẽ bước đi , trên môi n cười. c nụ Tôi nghĩ đến ai , mùa xuân, mùa h . n hạ Lòng chợt rưng buồn ,mùa đông xa xôi Cứ bay theo đàn, bay đi chim ơi! Như tôi từng mơ, từng mơ chân tr ng trời! Mùa đông sẽ qua, rồ xuân lại tới. ồi Mùa xuân thật gần, không còn xa xôi ! n, Cao quảng Văn ng

- 122 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

HỒI TƯỞNG NG
Trần minh Trung
Được tin “Quốc Học 50 năm g lại” được c gặp tổ chức vào ngày 20-22/4/12 tại San Jose CA, i trong lòng ai cũng nôn nao sắp xếp th gian để p thời hội ngộ bạn cũ, xem ai còn ai mất vì qua 50 n t năm biết bao thay đổi thăng trầm trong cu sống. Nhớ m cuộc lại thời gian ấy, thời gian vinh dự nhấ của đời học ất sinh là bước chân vào được trường Qu Học ng Quốc Huế, trong quá khứ có tên là Khải Định. nh. Quốc Học và Đồng Khánh là hai ngôi trư ng trường lớn nhất của miền Trung nói chung và c đô Huế n cố nói riêng, là cái nôi văn hóa của đất Th Kinh đã t Thần đào tạo biết bao nhân tài cho xã hội, cho đ nước. i, đất Sau Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đ nước qua nh đất vỹ tuyến 17, người Pháp đã trả lại trư i trường Quốc Học mà trước đây trong cuộc chiế tranh Việt ến Pháp, họ đã dùng làm trại lính. Tôi đã bước chân vào trường Qu Học từ ng Quốc năm 1955 khi trường mở 2 lớp đệ thất đầu tiên, mỗi lớp khoảng 50 học sinh. Năm 1955 c c cũng là năm cựu tổng thống Ngô Đình Di ình Diệm từ ngoại quôc về nước chấp chánh nền đệ nhấ cọng hòa tại ất miền Nam sau Hiệp định chia đôi đ nước. Tôi nh đất còn nhớ cứ mỗi sáng thứ hai đầu tuầ học sinh từ ần, lớp đệ thất đến đệ nhất đều đồng ph trắng, cà ng phục vạt xanh lơ nghiêm chỉnh chào cờ trông r trang rất nghiêm, mỗi học sinh Quốc Học cả thấy hãnh ảm diện là học sinh của ngôi trường lớn này. n Cũng năm 1955, học sinh toàn trư c trường đồng phục chỉnh tề đã đón tiếp ông Ngô Đ p Đình Diệm đến thăm trường. Tất cả học sinh đứng hai bên đư ng đường từ cổng trường vào, cầm cờ vàng 3 s đỏ vẫy tay sọc chào, trong lòng mỗi học sinh cảm th hãnh diện m thấy và vui sướng làm sao. Sau đó tên trườ đã thay ờng đổi một thời : “Trường Quốc Họ Ngô Đình ọc Diệm“. Qua năm 1956, một trại họp b gồm học p bạn sinh toàn thành phố Huế tại Vạn Niên . Qua bu n buổi họp bạn này, trong chương trình khai m mỗi đội ình mạc, mỗi trường trình diễn một hoạt cảnh di hành qua nh diễn khán đài có nội dung lịch sử. Tôi, sau khi h ý . hội với vài anh em đã chọn đề tài :” Đinh Bộ Lĩnh Cờ Lau Tập Trận “. Chúng ta còn nhớ Đinh B Lĩnh ã Bộ

Các bạn cùng lớp Thất, Lục, Ngũ, T Quốc học 55-59 ũ, Tứ

(Ngồi từ trái : Lô, Trung, C Cầm, Vịnh, Mai)

dùng bông cờ lau để tập trận, đ giết trâu của chú n, đã ruột để thết đãi bạn bè, bị chú b được đánh đòn. bắt Hoạt cảnh diễn hành này, có nhi bạn bè góp sức n nhiều như một số cầm cờ lau đi trư nhưng vai chính trước Đinh bộ Lĩnh do bạn Châu Văn Thu diễn xuất, n Thuận đang bị ông chú cầm roi quấ vì tội giết trâu đãi ất bạn ( vai ông chú do Điền ph trách ). Lối hóa n phụ trang đơn giản, khôi hài diễn xu độc đáo, được n xuất nhiều tràng vỗ tay tán thưởng c toàn trại . ng của Cũng năm 1956 , ông Nguy Văn Hai, ũng Nguyễn giám đốc Học Chánh miền Trung và Cao Nguyên n Trung Phần đã tổ chức một tr họp bạn khác tại t trại thôn Mỹ Khê, xã Tịnh Khê, qu nh quận Sơn Tịnh Quảng Ngãi gồm nhiều hiệ đoàn đại diện các ệu trường Trung Học công lập và tư th tại Huế p thục tham dự. Sơn Tịnh là một rừ dừa bát ngát đặc ừng biệt cạnh bờ biển xã Tịnh Khê, c nh cảnh vật rất đẹp. Tôi còn nhớ hai lớp đệ lục Qu Học chỉ chọn một c Quốc đội 10 trại viên : Điền , Trực, Phư Huyền , Liên c, Phước, Thành và một số bạn khác lớ đệ lục II. Đặc biệt ớp trại họp mặt lần này, không c n cắm trại, không dựng lều, tất cả các trại viên ở nhà chung v dân. Mỗi với đội chia ra ở vài nhà, mỗi nhà t 2,3 trại viên, chia i từ nhau giúp dận. Sau 3 ngày sinh ho tại bãi biển hoạt Mỹ Khê, đêm cuối cùng văn ngh rất đặc sắc, do i nghệ sự đóng góp tài năng của các trư a trường tham dự. Sáng hôm sau, một trò chơi l ơi lớn đã khiến các trường đua nhau tìm báu v leo lên đỉnh núi ìm vật, Thiên Ấn hồi nào không biế đã vượt một đoạn ết, đường dài hơn 13km. Trại vẫ tiếp tục di chuyển ẫn bằng xe GMC của quân đội vào Phú M Bồng i Mỹ, Sơn tỉnh Bình Định, mỗi nơi d i dừng chân đều có lửa

- 123 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
trại, văn nghệ qui tụ dân chúng địa phương đ a đến xem rất đông. Sau hơn 55 năm, nay ng ngẫm t ngồi nghĩ lại mới thấy được chiều sâu của ban t chức a tổ trại gồm nhiều huynh trưởng hướng đ dạn dày ng đạo kinh nghiệm : Ông Trần Hữu Duận, Ô. Lê M n, Mộng Ngọ, Ô. Tạ Quốc Bảo, Ô. Tôn Thất Lôi… dư sự t dưới lãnh đạo khéo léo của Giáo Sư Nguy Văn Hai, a Nguyễn Giám Đốc Học Chánh của miền Trung và Cao n Nguyên Trung Phần lúc bấy giờ. học”.Câu trả lời này đã khiến th Địch tức giận, n thầy dùng bút đỏ gạch vào sổ với 3 con s Zero . i số Sự việc này đã khiến Đi và các bạn thi n Điền băng lo lắng, đã tìm cách trình bày ho cảnh với ã hoản thầy Địch, được thầy thông c y cảm không những khuyến khích mà còn nói các giáo s liên hệ khác n sư tiếp tay giúp đỡ. Bù đắp lại nh i những năm tháng vất vã học hành, cuối năm ấy mộ số bạn thi băng đã ột đậu được bằng trung học đệ nh cấp . Riêng Điền nhất (thi băng đã đổi tên Trần Minh Trung) và Hoàng n đã thi đỗ được Sư Phạm Cấp t Huế khóa 7 , và p tốc bắt đầu đi dạy học từ 1959 tại Qu i Quảng Nam..

Lê văn Phước và Trung

Sau Hiệp Định Geneve năm l954, t cả bộ nh tất đội của Liên Khu 5, phải tập kết ra B chỉ còn lại t Bắc đàn bà và con nít. Vì vậy, trại hè họp m nói trên p mặt đã đến với người dân, qua các dêm văn ngh , qua i nghệ các buổi tiếp xúc đã khiến người dân hi rõ vùng i hiểu tự do hơn có cảm tình hơn với Quố Gia, mà từ ốc lâu họ đã bị tuyên truyền sai sự thật . Bước qua niên học năm 1957 (Đ Ngũ ), một c (Đệ vài bạn hoàn cảnh gia đình khó khăn đ cùng nhau ăn đã học để thi băng bằng Trung Học đệ Nhất Cấp c gồm: Trần Văn Điền (Trưởng Lớp ), Tr Văn p Trần Hoàng, Ngô Mạnh Trinh, Hoàng Công Dùm và nh Hoàng Vạn Vĩnh (đệ ngũ II). Với hy v i vọng ra đời sớm kiếm việc làm, giúp đỡ gia đình, t học tiến ình, tự thân sau. Ban ngày vẫn học chương tr c trình lớp đệ ngũ ở Quốc Học, ban đêm học thêm chương tr c trình lớp đệ tứ do các sinh viên đại học Hu mở tại Đại c Huế Học Luật Khoa. Sau Tết, những tháng cu niên ng cuối học gần ngày thi, phải bỏ các môn văn, v vật, sử vạn địa để cùng các bạn thi băng học chung các môn c chính toán lý hóa trong các phòng tr trống. Có lần giáo sư Sử Địa Trương Quý Địch đ điểm danh đã hỏi: “Trò Trần Văn Điền là trưởng l sao lại ng lớp vắng mặt ?” Nhanh như chớp , bạn Võ Đăng Đồng n đã trả lời: ‘Thưa thầy , trò Điền nói môn S Địa n Sử của thầy không quan trọng nên trò không ng

Trung và Trần văn Huy n Huyền

Vì vậy các năm đệ nh cấp ở Quốc Học nhị (1959-1962) mình đã rời khỏ trường, ra đời sớm ỏi vừa là giáo viên vừa tự học thêm nên đ không c đã biết nhiều bạn từ các trường khác vào Qu Học ng Quốc lớp đệ tam. Tuy nhiên qua 3 năm chung h với bạn hữu học tại Quốc Học, nhiều khuôn m mình vẫn nhớ mãi: u mặt Tầm, Chước, Quỳnh, Hùng, Phnom ng bàn đầu, nh, ngồi ở giữa lớp có Cầm, Lân, Lô, Ngãi, cu lớp có các m, cuối bạn Sấm, Điều, Mai, Phước, Huy c, Huyền, Trực, Hanh. Phá nghịch nhất lớp là Ngô M p Mạnh Trinh đã mất năm 1987 tại Sài Gòn. Đá bóng hay nh là Đoàn nhất Ngãi, mình mới gặp đầu tháng 10/20 u 10/2011 tại Sacramento trong dịp đến thăm b hữu tại đây. n bạn Đó là những kỷ niệm thân thương, nh m những ký ức khó quên, những khuôn m chứa chan tình ng mặt cảm của đời học sinh khó phai m trong mỗi c mờ chúng ta . Orlando, Florida Xuân 2012 TRẦN MINH TRUNG (Trần Văn Điền)

- 124 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

Mùa Thu Em áo Lụa Qua Cầu
thủy triều

Mùa thu em về nghiêng nghiêng nón lá Con nước buồn thiu lặng chảy qua cầu Con nước giăng mờ như hàng lệ ứa Em có nghe hồn còn thương nhớ nhau, Mùa thu em về con đường bên nớ Có lá me rơi mưa đổ thật buồn Ta ở bên này nhìn sang vời vợi Giòng sông ngậm ngùi cách biệt đôi nơi Ta từ đó lòng cũng hoài mây trắng Buổi chiến chinh đời gió cát dạn dày Phương nớ phương này em còn thương nhớ Mùa thu ta về nhìn lá mưa bay Thủy Triều

Ta từ đó cũng xa vời thơ ấu Tháng năm dài nghe lạnh lẽo hồn thơ Niềm vui xưa vụt mất tự bao giờ Thân du tử lăn qua đời mệt mỏi Thời gian cũ đã đi vào quá khứ Thành phố xưa còn kỷ niệm giăng đầy Trời tháng tám mây sa cùng bốn hướng Mùa thu em về áo lụa trắng bay

Vài hàng về Thủy Triều: Thủy Triều có bút hiệu đầy đủ là Trần Thế Thủy Triều, anh tên thật là Lê Sùng, nguyên là giáo sư việt văn các trường trung học ở Quảng Trị, Huế. Anh có thơ đăng trên các tạp chí Bách Khoa, Văn trước 1975. Thơ văn chỉ là nghề tay trái của anh Lận đận với mưu sinh và nhất là sau năm 75, anh càng khốn khổ hơn nên dòng thơ chuyển đổi. Anh mất vào năm 2007 vì bịnh. Bài thơ trên được trích từ tập ”Cho tuổi hồng hoang”. Vợ của tác giả hiện sống ở Huế, đã tặng cho tôi nhân chuyến về thăm Huế năm 2007. Càng về già, lời thơ của anh đượm mùi thiền học của Phật giáo; Lòng sông thoáng bóng mây qua Thì thôi mây đã về xa cuối trời Xôn xao gửi lại cho đời Thiên thu cát bụi mai rồi lặng im Hoặc Mai sau tóc trắng mây trời Tay hờ gậy trúc về chơi non ngàn Ta bà lạc bước lang thang Tan cơn huyển mộng cội nguồn như như NguyênTịnh

- 125 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

CON THỎ NHỒI BÔNG I
Bửu Uyển
Ngày 18-6-2010, các bạn nhóm Đ n Đồng Khánh 67 của nhà tôi, rủ nhau đi cruise. Tàu du lịch Carnaval khởi hành từ c cảng Long Beach – California. Các nàng hớn hở tụ họp ở ở bến cảng, chuẩn bị lên tàu. Gặp lại nhau, các i nàng nói cười tíu tít như ngày hội, trông ai c i, cũng trẻ ra. Chỗ nầy hai, ba nàng mi mi, tau tau; ch y chỗ kia năm, ba nàng răng, ri, mô, tê… nghe th vui. , thật Tôi cứ nghĩ đây là sân trường Đồng Khánh gi ra ng giờ chơi.Các nàng và phu quân tuần t lên tàu, đi n tự nhận phòng và hẹn một giờ sau sẽ gặp nhau ở ẽ nhà ăn. Phòng ngủ của chúng tôi ở cạnh phòng c nh của anh chị Trân-Bạch Lan. Thấy chúng tôi s y sửa soạn lâu quá anh chị Trân sang dục chúng tôi: “nhanh c lên”. Chúng tôi mở cửa phòng, nói v anh chị a với Trân: “Mời anh chị vào đây, chờ cho chúng tôi một chút, chúng tôi cũng sắp xong rồ Bước vào ồi”. phòng, Bạch Lan thấy trên giường ng của chúng ng ngủ tôi có con thỏ nhồi bông, Bạch Lan vui v nói với ch vẻ chúng tôi: “Bộ anh chị thích chú thỏ nh bông nầy nhồi lắm hả, đi chơi mà cũng mang theo”. Nh tôi trả ũng Nhà lời Bạch Lan: “Con thỏ nhồi bông nầ là của anh ầy Uyển đó, anh sẽ kể lai lịch nó cho B ch Bạch Lan và anh Trân nghe. Tôi âu yếm cầm con thỏ nhồi bông trên tay, i và nhẹ nhàng tâm sự với anh chị Trân: Bạn bè của chúng ta giờ đây ai c cũng có cháu nội, cháu ngoại. Cháu nào ta c i. cũng thương. Nhưng trong số năm bảy cháu của chúng ta, t a tự nhiên có một cháu nào đó, chúng ta thương hơn t mấy cháu kia. Có phải tại cháu đó khôn ngoan, l i lễ phép hơn mấy cháu kia? –Không ph Hay tại nó Không phải. xinh hơn – cũng không phải. Hay tạ nó ốm yếu, ại hay bệnh hoạn – cũng không phải. Th tại sao? i. Thế Tôi có 5 cháu nội: 3 cháu ở Maryland và 2 cháu ở California. Trong 3 đứa cháu n đang a nội

sống ở tiểu bang Maryland, tôi thương cháu Cu u Em hơn hai cháu kia. Cháu Cu Em ch chẳng có gì đặc biệt, nhưng không hiểu sao tình c u cảm của tôi dành cho Cu Em vẫn nhiều hơn hai cháu kia. Con u tim có lý lẽ riêng của nó. Hi a Hiện tại Cu Em đang sống với cha mẹ cháu trong m trang trại nuôi gà một ở Maryland. Năm nào chúng tôi c cũng sang ở chơi với các cháu một hai tháng. Tháng 4 năm 201 t 2010 vừa qua, như mọi năm, chúng tôi qua Maryland i thăm các cháu nội của chúng tôi. a Trời nắng ấm, máy bay nh nhàng đáp m, nhẹ xuống phi trường Salisbury. V ng Vừa đi đến khu vực nhận hành lý, đã thấy ba cháu n của chúng tôi y nội chạy ùa đến, ôm chầm lấy chúng tôi. Chúng luôn y miệng nói Welcome Ông nội, Bà n Rồi đứa hỏi i, nội. cái nầy, đứa nói cái kia ríu tít như đàn chim nh a nhỏ. Chúng tôi cảm thấy sung sư y sướng và hạnh phúc quá. Về đến nhà cả ba cháu đ có quà tặng cho đều Ông nội, Bà nội. Riêng Cu Em, cháu đưa tôi m i. một con thỏ nhồi bông màu xanh và nói; “Con th nầy i thỏ là con đó! Con tặng Ông nội. Mai m Ông nội về i. mốt Cali, Ông nội nhớ đem rabbit theo, khi nào Ông nội nhớ con, Ông nội nhìn rabbit…”T ngày ấy, i rabbit…”Từ tôi không rời xa chú thỏ nhồ bông mà Cu Em đã ồi cho tôi. Những ngày vui vẻ của chúng tôi nơi trang a trại, bên cạnh mấy đứa cháu thân yêu b đầu. a bắt Hôm sau con tôi đưa c nhà đi biển. Bãi cả biển bao giờ cũng thoáng m ũng mát. Nhìn ra xa, một màu xanh dìu dịu, bầu trời trong và cao, sóng v i vỗ nhè nhẹ lên bãi cát bình yên. Ông cháu chúng tôi

- 126 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
đi dọc theo bãi biển; Cu Em cầm theo một cái xô nhỏ bằng nhựa, cháu lượm nhiều vỏ ốc, vỏ sò bỏ vào xô. Chợt ông cháu chúng tôi thấy một con cua nhỏ, tôi bắt bỏ vào xô cho Cu Em. Cháu mân mê con cua nhỏ có vẻ thích thú lắm. Nhưng chỉ một lát sau Cu Em gọi tôi: - Ông Nội ơi, con không muốn chơi con cua nữa - Sao vậy con? - Con nghĩ khi cha mẹ cua con đi làm về, không thấy cua con ở nhà, chắc cha mẹ của nó buồn lắm. - Ừ, chắc vậy. - Thôi mình thả cua con về nhà kẻo cha mẹ của con cua buồn nghe ông Nội. Ông cháu chúng tôi nhẹ nhàng thả cua con xuống biển. Cu Em nhìn cua con vội vã bơi ra xa, cháu vẫy tay chào: “bye, bye cua con” Về nhà Cu Em hỏi tôi: “Ông Nội thích nghe con đàn không?” – “Ông Nội thích lắm chứ”Cu Em bắt đầu đàn, từ bài nầy đến bài khác theo trong sách mà cháu đã học. Tôi lật lật những trang sách bài tập của Cu Em, tôi thấy có bài La Paloma, tôi chỉ cho Cu Em và nói: “Ông nội muốn nghe con đàn bài này”. Cu Em xem qua rồi nói : “Ông Nội ơi bài đó con chưa học tới”. Mặc dù Cô Giáo chưa dạy đến bài La Paloma, nhưng mỗi ngày cháu cứ mần mò tập đàn bài ấy. Mẹ của cháu thấy lạ, hỏi Cu Em : “Sao bài đó con chưa học mà con đàn hoài vậy?”. Cu Em trả lời : “Nếu chờ Cô Giáo dạy đến bài đó thì lâu quá, con tập trước để đàn cho Ông nội nghe, Ông nội thích bài này”. Mỗi buổi sáng, ông cháu chúng tôi thức dậy khi mặt trời đã lấp ló sau rặng cây rừng. Bình minh nơi trang trại thật yên tĩnh, chỉ có tiếng gió xào xạc tận bìa rừng. Vài cánh chim lẻ loi, vội vã bay ngang bầu trời. Sương đêm còn đọng trên cây cỏ, lấp lánh như những hạt kim cương đủ màu. Tôi và Cu Em lững thững đi lần ra Hồ Sen, nằm cuối trang trại. Trên bờ hồ, hai con ngỗng trời to lớn, đứng canh chừng cho đàn ngỗng con bơi lặn dưới hồ. Bỗng một con ngỗng con bắt được một con nhái, các chú ngỗng con kia xúm vào giành giựt con nhái bất hạnh. Hai con ngỗng lớn vẫn đứng im lặng, nhìn lũ ngỗng con đùa nghịch. Ông cháu chúng tôi rẽ qua ngã khác không muốn làm khuấy động cảnh thanh bình của đàn ngỗng. Hôm sau đến trường, tình cờ cô giáo của Cu Em ra đề bài cho học sinh làm: “Em kể một câu chuyện vừa xảy ra mà em yêu thích”. Cu Em kể lại chuyện đàn ngỗng con đùa giỡn ở hồ sen. Rồi cháu kết luận : “Em thấy đàn ngỗng con vui vẻ, hạnh phúc lắm. Chúng chơi đùa thỏa thích, lại được cha mẹ chúng đứng canh chừng cho chúng nghịch ngợm. Nhưng em không thấy chúng có ông nội. Còn em, em có Ông Nội, nên em hạnh phúc hơn mấy con ngỗng nhiều lắm!”.Cô giáo của Cu Em đã phê vào bài của cháu như sau : “Trevor (tên của Cu Em) kể câu chuyện dễ thương lắm, tôi rất thú vị khi đọc bài của Trevor”. Ở đây mỗi năm Sở Giáo dục của County tổ chức cuộc thi “Học sinh thông minh”, dành cho những học sinh từ lớp 1 đến lớp 3 của các trường trong thị trấn. Đây chỉ là một cuộc thi kiểu đố vui để học cho những học sinh nhỏ, nhưng các trường tiểu học ở đây rất xem trọng cuộc thi nầy. Mỗi trường cử một học sinh đại diện cho trường tham dự cuộc thi. Cháu Cu Em hân hạnh đại diện cho trường tiểu học Pocomoke tranh đua với những học sinh các trường khác. Cuộc thi chung kết được tổ chức rất chu đáo và trang trọng, có nhiều người tham dự. Các vị hiệu trưởng và thầy cô của các trường có học sinh vào chung kết đều có mặt. Hôm ấy gia đình chúng tôi hiện diện đông đủ. Cháu Cu Em tỏ vẻ lo lắng vì nhình chung quanh thấy quá đông người. Cô giáo của Cu Em thấy vậy đến ôm cháu vào lòng và khích lệ : “Em đừng sợ, hãy bình tĩnh”. Cu Em chững chạc bước lên sân khấu cùng với 3 em học sinh khác. Cuộc thi chung kết “học sinh thông minh” diễn ra thật vui nhộn và hào hứng. Cuộc thi chấm dứt, Ban Giám khảo chuẩn bị tuyên bố kết quả, ai cũng hồi hộp chờ đợi. Một ông đứng tuổi thay mặt cho Ban Giám khảo tuyên bố : “Em Trevor, đại diện của trường Pocomoke đoạt giải nhất”. Cả hội trường bùng lên vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Bà Hiệu trưởng của Cu Em vui mừng xúc động vì từ lâu chưa bao giờ trường Pocomoke của bà đoạt giải nhất cuộc thi nầy. Bà bước lên sân khấu, bồng Cu Em lên và nói : “Em làm cho tôi và nhà trường hãnh diện”. Rồi bà quay sang nói với chúng tôi : “Tôi sẽ dành cho Trevor và gia đình một ngạc nhiên thích thú. Ngày thứ hai sắp đến thay vì vào học lúc 8 giờ, xin gia đình đem Trevor đến trường lúc 8 giờ 30”.

- 127 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Ngày thứ th hai, chúng tôi đem cháu Cu Em đến trường, đ quang c cảnh hoàn toàn khác lạ, l không ồn ào nhộn nhịp như mọi ngày. Tất cả họ sinh đã tụ ọc tập ở sân trường, các em sắp hàng ngay ng p ngắn hai bên lối đi vào trường. Bà Hiệu trư u trưởng ra đón Trevor và dẫn cháu đi vào trường, gi ng, giữa hai hàng học sinh, trong tiếng hoan hô của các b a bạn nhỏ : “Welcome Trevor, Welcome Trevor – Trevor – Trevor – Trevor… Gia đình chúng tôi quá cảm động. M tôi thấy ng. Mặt ươn ướt, tôi khóc lúc nào không bi t, biết. Tôi như đang sống trong mơ. Ngày vui qua mau. Chúng tôi ph về lại phải Cali, vì có nhiều việc đang chờ chúng tôi ở đó. Nhiều lần cha mẹ của các cháu đã nói qua qua v ã về việc chúng tôi sẽ trở lại Cali. Cháu Cu Em h ba i hỏi cháu : “Daddy, tại sao Ông nội, Bà n phải về lại i, nội Cali?”. Ba cháu trả lời: “Ông bà nội ph về Cali i phải khám bệnh và mua thuốc, xong rồi ông bà n sẽ i nội qua đây với con”. Trầm ngâm một lúc cháu nói : t “Lớn lên con sẽ học bác sĩ để khám b bệnh cho ông nội và ông nội sẽ ở đây với con”. Tôi xúc đ i động nắm chặt tay Cu Em. Mấy hôm sau vợ chồng con trai tôi và 3 ng cháu đưa chúng tôi lên sân bay. Nét m của Cu n mặt Em buồn rười rượi. Tôi ôm cháu vào lòng và d i. dỗ dành : “Ông nội về Cali sắp xếp vài công chuy p chuyện rồi Ông nội sẽ qua đây ở với con, con đ i đừng buồn”. Cháu ôm cổ tôi và thì thầm : “Ông n nhớ m nội đem con rabbit theo, rabbit là con đó, con s ở sẽ bên cạnh Ông nội”. Tôi quá cảm động, th thỉ với ng, thủ Cu Em : “Ông nội sẽ luôn luôn đem con rabbit theo bên mình ông nội!”. Máy bay rời phi đạo, tôi ng o, ngẩn ngơ nhìn xuống mặt đất, rừng xanh thăm thẳ ẳm, im vắng, nơi đó có đứa cháu thân yêu của tôi.Gi đây nếu a tôi.Giờ ai hỏi tôi : “Trong số những đồ vật b đang có, t bạn bạn yêu thích thứ nào nhất?”. Tôi sẽ trả lời ngay: ẽ “Tôi yêu quý Con Thỏ nhồi bông hơn t cả”. i tất

Cười chút chơi

Người bán hàng siêu đẳng Một anh chàng từ nông thôn ra th ừ thành phố xin được làm chân bán hàng t cửa hàng bách tại hoá trung tâm..Ông chủ hỏi anh ta: Anh đã có ủ ta:kinh nghiệm trong công việc n chưa?- Rồi, thưa ệm này ông! Tôi từng bán hàng ở qu - Chàng trai đáp.quê Tốt! Cậu sẽ bắt đầu thử việc v ngày mai và tôi ốt! vào sẽ đến kiểm tra kết quả công việc sau khi hết giờ ẽ làm - Ông chủ nói.Với chàng trai, ngày làm vi àng việc đầu tiên dài đằng đẵng và th căng thẳng nhưng à thật mãi rồi cũng tới 5h chiều. Ông chủ xuất hiện v ồi và hỏi:- Hôm nay cậu phục vụ đ ậu được bao nhiêu khách hàng?- Một. - Nhân viên bán hàng m đáp.- Mỗi mới một thôi à! - Ông chủ nổi giận - Hàng ngày, mỗi ủ nhân viên của tôi phục vụ đư 20 đến 30 khách ược hàng kia! Thế cậu bán được bao nhi tiền?- Ba ợc nhiêu trăm nghìn đôla, thưa ông.- Th quái nào mà cậu Thế bán được nhiều như vậy? - Ông chủ ngạc ậy? nhiên.Chàng trai giải thích: Ông khách đó vào ải thích:cửa hàng và tôi bán cho ông ta m lưỡi câu nhỏ, àng một rồi một lưỡi câu vừa và cuối c ối cùng là một lưỡi câu cỡ đại. Tiếp đó, tôi bán cho ông ta một sợi dây câu ỡ nhỏ, một sợi vừa và một sợi lớn. Tôi hỏi xem ông ột ta câu cá ở đâu và vị khách đáp: "Ở bờ biển". Tôi ị gợi ý ông ta nên mua một chiếc xuồng câu rồi đ ột đưa ông tới bộ phận bán thuyền, thuyết phục ông mua ới một xuồng cao tốc dài 7 mét g 2 động cơ. Chiếc ài gắn Wolkswagen của ông ấy không kéo nổi cái xuồng ủa nên tôi bán cho ông một chiếc Cruiser Deluxe ột nữa.Ông chủ loạng choạng v choáng:- Cậu bán ạng vì tất cả những thứ đó cho một ng ất người vào mua lưỡi câu? - Không! - Chàng trai đáp - Ông ta hỏi mua băng vệ sinh cho vợ, và tôi b à bảo: "Kỳ nghỉ cuối tuần của ông thế là hỏng rồi. Có lẽ l ông nên đi ỏng là câu cá!".(NM8)

Bửu Uyển
- 128 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Sen Hu Huế
Nguyễn văn Uông
Hồ Tịnh Tâm ở Huế ế Mùa hạ, mùa sen. Sen kín mặt các hồ Tịnh Tâm, h hào thành nh hồ quanh Đại Nội, hồ hào thành quanh Thành N Nội. Vào một chiều nóng nực ngọn gió Lào, ai có chút n thư giãn trên nẻo đường qua các nơi ấy, hãy thả ng mắt nhìn màu lá xanh bông trắng thanh khi rập ng khiết rình vũ điệu, đung đưa dáng nõn nà nh vẩy chào õn như ánh mắt đắm đuối nhìn theo. Rất nhi tảng lá t nhiều xanh tròn, có chiếc cao hẳn so với m nước như i mặt chiếc lọng che bóng những chiếc đàn em nh c nhỏ nhắn ép sát mặt nước. Hoa sen vút cao kh tầng khỏi lá, những búp non mới nhú như hình bút tháp, l ình lớn hơn thành búp sen và khi bung nở thành cả đóa sen bông trắng nhụy vàng. Chiếc xu c xuồng tre nho nhỏ len lỏi giữa hồ sen, nhấp nhô chi nón trắng p chiếc lung linh trên mặt hồ lá sen xanh trông nh một như búp sen khổng lồ. Chiếc xuồng tre và cô hái sen ch xuất hiện ng chỉ mỗi tháng vài lần vào các ngày trướ rằm, mồng ớc một hàng tháng hái hoa đem bán các ch phục vụ t chợ nhu cầu tâm linh người dân thần kinh m đạo n mộ Phật. Ngoài thời gian ấy, sen cứ nở, c tàn để các , cứ đài sen lớn lên thành gương sen, kết h một đặc t hạt, sản Huế xưa. Thế giới của sen chỉ tưng bừng v mùa hạ. ng về Mùa xuân tháng giêng hai khi cái rét đài, rét l lộc còn theo mưa phùn vờn vũ đám lá xanh non m ũ mùa xuân, mai đào rụng cánh, tàn hoa, ngoài vư cây ng vườn trái ngào ngạt hương hoa cau, hoa kh hoa cam, t khế, quít, bưởi, chanh, cùng thược dược, v thọ trong c, vạn bồn khoe sắc thắm, thì sen còn ngái ng dưới lớp m, ngủ bùn sâu. Cuối xuân vài tấm lá m m mỏng như chiếc bánh đa ngần ngại xuất hiện, ô sát mặt nước hồ. n, ôm Thế rồi ngày càng ấm hơi n m nắng hạ thì sen cũng nhanh nhảu chiếm lĩnh mặt h Vài chiếc lá vút t hồ. cao như lọng tán, rồi hoa, rồ cả một hồ sen bông ồi trắng lá xanh rập rờn. Sang thu h sen chuyển từ n. hồ xanh non sang màu ủ dột, hoa ít d t, dần, vài chiếc lá già nua dần không đủ sức che kín m hồ để sang c mặt đông, sau đợt dọn hồ của ngư chủ hồ thì mất a người hẳn bóng sen. Hồ sen lúc này d dềnh nước theo từng con lũ đổ về, ít bè rau muố như vẽ hoa điểm ống xanh mặt hồ vài đốm. Con chim bói cá trên c tre m. cọc cắm bè rau muống chỉa cái m dài như chiếc đinh a mỏ nhọn và con mắt cú vọ xuống m hồ chờ mấy chú ng mặt cá con động tịnh. Nhìn hồ sen lúc này tôi có c cảm giác như tâm trạng anh chàng V một ngư dân ng Vọi, quê mùa trong tác phẩm Tr m Trống Mái của Khái Hưng, thơ thẩn trên bãi Đồ Sơn một chiều đông giá vắng lặng, nhớ da diết về cô gái thị thành tên ề Hiền và những ngày hè nắng chói cùng hương v ng vị ngai ngái rát môi của mùi thu đánh răng, thứ của a thuốc văn minh thành phố lần đầu tiên Hi mang lại u Hiền cho anh. Sen là một biểu trưng củ Huế mùa hạ. ủa Ngày còn bé, tôi có ngư bạn cùng lớp tiểu ười học ở cạnh hồ Tịnh Tâm. Tôi thư nh thường băng con đường xuyên giữa hồ nối đườ Đinh Bộ Lĩnh và ờng khu Thú Y để đến nhà bạn tôi. Con đư n đường chia hồ làm hai phần, mỗi bên có mộ đảo cây xanh. Khi ột

- 129 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
ấy phần đảo bên hồ lớn được trùng tu, m cây cầu một bắt ra đảo, một ngôi nhà lục giác gi đảo. Thầy c giữa dạy hát Ngô Ganh thỉnh thoảng dẫn chúng tôi ra n đảo này tập hát, xem hồ. Nhà thầy ở góc đường y Hòa Bình, gần hồ. Chúng tôi học hát thì ít mà ch c chơi đùa thì nhiều. Thầy đã già, lũ nhóc chún tôi như ũ chúng đám tiểu đồng giữa một tiên ông. Ch tiếc là tiên t Chỉ ông mặc áo vét tông và không có râu, tóc tiên ông c chớm bạc nhưng cắt ngắn đờ mi cua nên ch chẳng ra vẻ tiên chút nào. Đảo bên kia, gần phía ch Cầu n chợ Kho um tùm cây trái. Chúng tôi nhìn sang cây xoài lủng lẳng vài quả đu đưa tòn ten nh òn nhưng không thằng nào có gan cóc tía dám vư qua hồ ng vượt tiếp cận. Cây sanh áng ngữ trên con đư đường giữa khoảng cách hai đảo âm u cùng cái am l dưới o lớn gốc với nhiều câu chuyện truyền miệ li kỳ, rùng ệng rợn khiến chúng tôi không dám lại g i gần. Mỗi lần lên cầu đi qua đảo, chúng tôi cúi đầu, bư nhanh. u, bước Vài sợi rễ phụ xỏa xuống đường vươn vào ngư ng người, chúng tôi lách mình đi qua, không dám đ đụng đến. Sen Tịnh Tâm ngày ấy chỉ có sen tr trắng. Tôi nhớ sen Tịnh Tâm từ hình ảnh mặt hồ dậ dình những ập đài sen trắng rung rinh trên tấm thảm lá xanh, mùi m hương thoang thoảng mỗi khi cơn gió lư qua i lướt mang theo làn hơi mát lạnh giữa trưa hè. Ngày ấy a đã hơn 50 năm qua rồi. Cửa Nhà Đồ, Cửa Ngăn, Thư a Thượng Tứ, Đông Ba…, mùa hè nhìn xuống hồ chỉ sen và sen. Trên con sông Ngự Hà xuyên Thành Nội chia nước từ sông Bạch Yến phía tây, qua c n cống Thủy Quan đổ ra cống Thanh Long phía đông đ ng để hợp lưu sông đào Đông Ba, nhi đoạn vẫn có p nhiều sen. Hào thành quanh Đại N nhất là phía trước i Nội, cửa Ngọ Môn, cửa Hiển Nhơn c n cũng nhiều sen. Những hồ nhỏ trong Thành N như hồ Mân, hồ Nội Tàng Thơ, hồ Xã Tắc, và nhi hồ không tên c, nhiều khác… đều có sen nở mùa hạ ạ. Sen trở nên quen thuộc trong n sống người c nếp Huế. Dâng hương cúng Phật có hoa sen, chén chè t hạt sen. Ngày vui, giỗ tết… m nhau chén trà sen t… mời Liên Tử Tâm. Mùa sen tàn, tr con được ăn củ sen âm. trẻ có nếp và đậu xanh nhét vào ru nấu chín thơm u ruột ngát mùi xôi. Tết có mứt củ sen từng lát tròn xiên xiên vừa ngọt vừa bùi vừa thơm béo ng a ngậy. Sen quen thuộc với người Huế trong c việc đặt tên cả cho những đứa con yêu. Nhà sang tr à trọng, trí thức thì có các tên Bích Liên, Hồ Liên, Bạch Liên, ồng Kim Liên, Ngọc Liên, Hương Liên… Nhà b c bình dân, nghèo khổ vẻn vẹn chỉ gọi một tên Sen. Dù Liên hay Sen thì cũng dành riêng cho con gái. Ít ành thằng con trai Huế nào được cha m đặt tên từ một c mẹ loài hoa. Hoa sen hầu như chỉ đư dâng cúng nhiều được trong các lễ nhà Phật. Những nơi đ ng đình chùa, lăng miếu, thừa tự trang nghiêm, ch nhân thường thiết chủ kế hồ sen như một bình phong che ch trước t chắn hướng trực đạo. Bình hoa sen khi c o. cắm còn búp và được thay khi sen nở bung cánh . Sen c trang trí cắm phòng khách thường có thêm vài lá sen m nhú ng mới khỏi mặt hồ, còn cuốn tròn ch trải mặt lá. Người n chưa uống trà điệu nghệ mang hương v sen vào chén vị trà bằng nhiều cách công phu. Có ngư dùng nhị u người sen ướp với trà, có người bu chiều đem trà ủ i buổi vào đóa sen mới nở, sáng sớ mai ra hồ sen bốc ớm trà vào ấm, có người chỉ dùng Liên T Tâm là loại Tử trà chế biến từ tim mầm hạt sen có công d t dụng bổ tâm, tráng khí. Bằng cách nào thì ng ng người kỳ công cũng cố lấy cho bằng được nh c những giọt sương đêm đọng trên lá sen giữa hồ làm nư pha trà mới là nước dân sành điệu. Sen là biểu tư u tượng nét đẹp tâm hồn

Sen Huế không chỉ ở Tịnh Tâm. Có th nói ở nh thể Huế nơi nào có hồ là có sen. Đi qua các cầu đá để vào các cửa thành nội ngày ấy, nơi nào c y, cũng thấy nhiều sen dưới hồ. Một dãy các cửa thành tôi đ a đã từng ra vào từ An Hòa, Chánh Tây, C Hữu đến Cửa

- 130 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
thanh khiết của người quân tử khi vị ngộ gần bùn ị mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Sen nâng bư đi đầu ng bước đời cho đấng Giác Ngộ ngày đản sinh qua 7 tòa n sen trong truyền thuyết nhà Phật. Đoàn thanh thi t. thiếu niên gia đình Phật Tử đã mượn hình ảnh đóa sen n vàng 5 cánh cách điệu làm biểu tượ cho đoàn ợng thể mình. Có chuyện kể về một người con gái nhà g i gọi tên là Sen, thực ra là Ngân Liên trong khai sinh. c Nhà gần hồ sen, cô thích cắm hoa sen lên bàn th m thờ trong những ngày cúng Phật. Thói quen này cô t. tiếp thu từ bà mẹ nhân từ khi còn rấ bé. Một cậu ất học sinh trọ học gần đó thường lui tớ nhà chơi khi ới cô còn là học sinh tiểu học. Đôi khi c còn chở c. cậu cô đi học trên chiếc xe đạp giàn. Xe không có yên p phụ, cô bé phải ngồi trước giàn xe trong vòng tay c ghi đông của cậu con trai trung học. Th rồi cũng c. Thế đến ngày biết e thẹn, cô không để c chở, mặc cậu dầu mấy năm vào trường trung học xa nhà cô hơn. c Một buổi đến nhà chơi, kèm cặp cô b vài môn p bé học bỗng dưng cậu thấy ngập ngừng trư ánh mắt ng trước khác lạ của cô bé. Ánh mắt ấy cậu đ nhiều lần u đã nhìn thấy nhưng không như hôm nay. Bu học y Buổi hôm ấy chỉ vu vơ tủn mủn. Cô bé bắ đầu giữ ý tứ ắt nhiều hơn mỗi khi cậu đến nhà. Bạn bè cùng l n lứa trong xóm thường ghép tên cô và cậ thành Đàm ậu Liên, có đứa còn trêu là Đầm Sen. Cô ngúng m nguẩy chối từ nhưng đầy những trang v trống ng vở của cô nơi nào cũng có hai chữ ghép Đ Đ-S lồng vào nhau với nhiều kiểu cách. Một bu sáng, tình t buổi cờ người mẹ thấy môi cô bé có vài v tím bầm, y vết dấu hiệu của tình yêu vụng về ban đ đầu. Mẹ càng nhìn bé càng lúng túng. Bà nhẹ nhàng b con trân bảo trọng bản thân và thận trọng với nh i những cảm xúc đầu đời. Cô bé rớm nước mắt gục đầ vào vai mẹ. ầu Cậu Đàm chuyển chỗ trọ xa nhà cô bé nhưng th thỉnh thoảng vẫn thường gặp nhau. Thời gian sau, c đi i cậu xa, cô bé lấy chồng theo ý bố mẹ sắp đ Sau hơn p đặt. 10 năm chung sống, cô từ chối theo ch i chồng ra nước ngoài, ở lại lẵng lặng một mình nuôi con. Đến t ngày nghỉ hưu, đứa con gái đã có ch ã chồng ở xa, cô xuống tóc tu tại gia. Nhà cô trở thành l học tình lớp thương ban đêm cho mấy cháu học sinh con nhà c lao động nghèo trong xóm. Mấy cháu nh gọi tên y nhỏ cô giáo Sen, dân trong xóm gọi là Ni Cô Đàm i Liên. Trong nhà cô vẫn treo trang tr n trọng tấm hình của cô và người chồng cùng đ con gái những ng đứa ngày còn trẻ trung, hạnh phúc c nh cạnh bức tranh một đầm sen trắng có nhiều hoa n bung. Đến mùa u nở sen, trên bàn thờ Phật cô cắm nh m những búp sen. Trên chiếc bàn nhỏ làm việc ở góc phòng luôn có m một đóa sen trắng nở bung cánh, l rõ nhụy vàng . lộ

Cô Sen ngày ấy nay ở một nơi xa hồ sen. Mỗi lần ngắm hồ sen mùa h tôi lại nhớ câu hạ chuyện về cô. Những năm g đây, mỗi lần nghỉ ng gần hè có dịp ra Huế, tôi thường hóng gió h sen. Nhà ng hồ tôi trong thành nội nên tiếp c các hồ sen cũng p cận thuận tiện. Sen Huế nay có nhiều sen hồng mọc cao hơn sen trắng. Hồ sen bị lấp cạn dần, nhiều hồ bị ô nhiễm vì cư dân sống quanh h Ngày xưa, ng hồ. trong hồ sen có bè rau muống c ng cạnh tranh đất sống với sen, nhưng còn ít , sen vẫ chiếm ưu thế trong ẫn sông, hồ thành phố. Ngày nay, các h sen ít dần . hồ đi, dân lấn hồ làm nhà, bè rau mu muống lấn nơi sinh trưởng của sen. Nước các h cạn đến lớp bùn. c hồ Người ta trồng rau muống vì bán có giá h sen. ng hơn Nếu đem tính toán theo một con tính c nhà kinh t của tế ngày nay thì giá trị sen không b bằng giá trị rau muống. Mỉa mai thay! Bên tai tôi văng vẳng câu hát “ đẹp Huế ng “vẻ chẳng nơi nào có được”. Tôi l nhìn hồ sen và . lại những bè rau muống…

Nguyễn văn Uông

- 131 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

QUÊ HƯƠNG TÔI

XỨ HUẾ
Đàn Nam Giao Quê của tôi sông Hương núi Ng Ngự Đất Thần Kinh tĩnh lặng mơ màng ng Đêm trên sông có con đ nhỏ đò Khua mái chèo làm vỡ bóng trăng ỡ Cửa Thượng hào sen hoa n rộ ng nở Bướm vàng bay lượn mãi không v n vể Nữ sinh áo trắng vô Thành N ng Nội Nón lá che ngang mái tóc th thề Xa trông Thiên Mụ buồ cô quạnh ồn Gióng tiếng chuông chùa đ giải mê ng để Khói lam chiều quyện trên thôn nh n nhỏ Tỏa hương nồng sưởi ấm hồn quê i Lối cũ đường xưa c dấu vết ng còn Của thời son tr đã đi qua i trẻ Trường Tiền biết có ai ch đợi t chờ Bên nớ, bên ni cũng nh nhà ũng nhớ Quê hương tôi xứ Huế đầ thơ ầy Nước biếc non xanh mây l c lững lờ Trời đất giao hòa cùng vạ vật ạn Huế là thơ Huế cũng là mơ à Ai đã từng rời xa xứ Huế ? ế Có nghe lòng nhớ nhớ thương thương Nhớ dòng sông rộn vang câu hát n Thương những ngày mưa l ngập đường ng lũ Đất hẹp người đông thêm l lội i lụt Chốn quê nghèo đói khổ tri miên triền Những người con Huế đi xa x xứ Mãi nhớ về nguồn cội tổ tiên Tôi viết bài thơ ca ngợi Hu i Huế Quê hương từ thuở còn n nôi nằm Phương trời xa vẫn mơ về Huế ề Huế đẹp ơi ! Tôi mãi nhớ người ớ Thanh Loan . Thương tặng “Ông Xã” Tr Minh Trung Trần của tôi người có quê hương là Hu i Huế

- 132 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Những bài thơ cho Hu Huế…
Viết cho Quốc Học 50 năm họp mặt Bến cũ Một mãnh thuyền trăng n Về thăm bến cũ Cây đa ủ rũ Giấu chuyện tháng ngày n Đò xưa Con đò năm xưa Đưa người qua bến Hai hàng phượng đỏ Tháng ngày xác xơ Trường cũ Trường cũ còn đó Vắng bóng Thầy Cô Bạn bè ra đi Bỏ lại cuộc tình Trường Tiền Cây cầu bắc ngang Dòng sông thương nhớ Tà áo em bay Trắng cả trời mơ Ga Huế Đường sắt nằm dài Con tàu đi mãi Sân ga đứng buồn Đôi mắt đỏ hoe

Lăng Đồng Khánh

ÔM HUẾ VÀO LÒNG
Trở lại Huế buổi chiều tà Bâng khuâng dưới gốc Phượng già năm xưa ng Con Đò bến cũ còn lưa Rợp đường Long Não sớm trưa đi v m về Răng mà dị rứa anh tê Theo tui biết mấy sơn khê mà t y tìm Nhà tui ở tận Cầu Lim Nam Giao cao lắm anh tìm răng ra ăng Tóc thề nghiêng nón cầu Ga Ngập ngừng Bến Ngự ai ra đợ chờ ợi Phượng Hồng trước ngõ làm ng c ngơ Răng anh không noái còn chờ đợi chi ờ Tình ta đẹp lúc xuân thì Mộng ban đầu ấy khắc ghi trong lòng c Huế chiều tím cả dòng sông Trăng nhô trên ngọn Sầu Đông th thùng u thẹn

Tâm Hùng

Hoa Dã Quỳ

- 133 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Luận về Sự H Học
Trần xuân Thời Sự học cần thiết cho cả đời số tinh thần ống lẫn đời sống vật chất. Mục đích c giáo dục c của chẳng những đào luyện cho con ngư giỏi dang người hơn mà còn tạo cho con ngườì trở nên cao thư thượng hơn. Hình tội học ( criminology) chứ minh là đa ứng số những ngươì liên hệ đến tội phạm có trình độ m văn hoá kém, hoặc thuở nhỏ không đư giáo dục được đúng cách. Vì thế ngườì ta thường nói m thêm ng mở một nhà trường sẽ giúp đóng cửa một nhà tù. t Đặc điểm của người có học vấn thư n thường ít lo lắng vì có thể tiên đoán được sự vi xảy ra và việc biết cách ứng phó. “Khi vui thì hãy vui nh ng nhưng đừng kiêu căng, khi tai hoạ đến thì ph lo nghĩ n phải mà chớ buồn phiền” mới dễ dàng mưu sinh thoát hiểm. Tỉnh trí đừng kinh! Thứ đến, ngườì có học thường tránh đư ng được lầm lạc vì dễ nhận biết được phải tráí. M dù phải i Mặc trái đôi khi không do chính mình phán đoán mà ình được xét định theo tiêu chuẩn của đa s Tiêu a số. chuẩn đúng-sai trong xã hội dân chủ là do đa số ủ quyết định. “What is right or wrong is being nh. determined by the will of the majority” ( John Locke), thể hiện ý chí chung hoặc theo m mực c mẫu được truyền bá từ đời nầy sang đ khác qua y đờì phong tục, tập quán hay luật lệ chung của xã hội. Thứ ba là người có học ít khi s sệt. Sợ c sợ thường do sự thiếu hiểu biết tạo nên. Nh o Những nhà độc tàì sợ không khuất phục được giớ trí thức nên ới thường áp dụng biện pháp khủng bố Sợ vì không ố. biết cách giải quyết vấn đề và cũng không đoán ũng trước được phản ứng của người khác. i Với ba đặc điểm: không lo lắng, ít l lẫn và ng, lầm không sợ sệt, người có học thường phán đoán s ng sự việc một cách khách quan, theo lẽ phả hơn là theo ải

thiên kiến. Muốn phán xét sự việc một cách khách ự quan, sự phán xét đó phải có t i tính cách : 1) Vô ý: Vô ý có nghĩa l luận theo lẽ phải ĩa là thay vì khư khư theo ý cá nhân mình 2) Vô tất: Là không nên quy đoán là việc t: quyết đó làm được hay không làm đư mà phải tạo cơ c được hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ những ý kiế hữu ích cho đoàn ến thể, xã hội theo ý nghĩ thiể cận của mình mà ển phải biết chấp nhận thử thách. 3) Vô cố: Vô cố tức là không câu n cố c nệ, chấp, phải biết nhìn xa hiểu r u rộng theo lẽ phải mà thi hành 4) Vô ngã: Vô ngã gầ như quên mình để ần phục vụ nhân quần xã hội. Thi hành s việc theo i. sự lẽ phải, chứ không chỉ làm nh những việc có lợi cho cá nhân mình.“Nếu phải cân nh giữa công ích và i nhắc tư lợi, quyền lợi cá nhân và quy lợi của quốc i quyền gia, dân tộc thì chúng ta phải hy sinh quy lợi cá i quyền nhân cho đại nghĩa” Khuất Nguyên Bốn tiêu chuẩn nêu trên c được áp dụng n cần trong đời sống hằng ngày. Đ ng Đức Khổng Tử đã giảng cho môn sinh sáu điề tai hại của sự thất ều học. 1) Người ham điều nhân mà không h thì bị u học cái hại là ngu muội 2) Người ham đức trí mà không ch học thì c chịu bị cái hại là phóng đảng 3) Người trọng chữ tín mà không ch học chịu thì có cái hại là dễ bị lường gạ ạt 4) Người thích sự ngay th thẳng mà không chịu học thì hóa ra nóng nảy

- 134 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
5) Người dũng cảm mà không ch học thì ra m chịu phản loạn 6) Người cương quyết mà không ch học thì t chịu hoá ra cường bạo Sự học nói chung không chỉ là đ sách vở đọc mà còn học qua công việc làm, kinh nghi c nghiệm giải quyết vấn đế liên quan đến công ăn vi làm trong n việc đờì sống hằng ngày. 1) Muốn học trước tiên phải bi phục thiện, i biết nghĩa là biết làm theo điều phải, không t ái. “Bất i, tự sĩ hạ vấn”. Hỏi ngươì nhỏ tuổi hơn m i mình hoặc người làm việc dưới quyền mình vẫ không cảm ẫn thấy thẹn. 2) Phải có thiện chí tìm hiểu và h han. Đức u hỏi Khổng Tử khuyên môn sinh: “Người nào không t i tự hỏi phải làm sao, thì ta cũng chẳng có cách nào ch chỉ bảo cho họ được. Kẻ nào không hăng hái mu muốn hiểu thì ta cũng không thể giúp cho hi được. Kẻ hiểu nào không tỏ ý kiến thì ta cũng không th giúp ũng thể cho phát tiển được. Ta vén lên một góc mà ch t chẵng tự tìm được ba góc kia thì ta không gi c giảng thêm nữa” . Thượng Đế tạo nên nhân loạ như những ại cây gỗ quý, nhưng không biết học h thì gỗ quý c hỏi sẽ biến thành gỗ mục. “Gỗ mục thì không ch c chạm khắc gì được, cũng như vách bằng đ bùn thì ng đất không tô vẽ gì lên được”. Nói khác đi trí tu là c”. tuệ viên ngọc, nhưng ngọc bất trác sẽ bất thành khí. Phương pháp học hỏi một cách hiệu nghiệm là (1) “ Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm, nhưng đừng ba hoa, tránh có cáí hại là nói trật sẽ bị thiên hạ chê cười. Điều gì biết rõ ràng chắc chắn thì nên nói, nhưng nên nói một cách ôn tồn”. (2) “Nên thấy cho nhiều, những gì th chưa được ng thấy rõ thì để đó đừng làm. Còn những gì bi rõ thì ng biết cũng nên làm một cách cẩn thận, như v sẽ ít n, vậy phải ăn năn” Học hỏi được những đi hay lẽ phải cũng ng điều cần được áp dụng vào đời s i sống hằng ngày hay truyền thụ cho nguờì khác. N không, kiến thức ì Nếu sẽ trở thành mai một. Đúng v câu ngạn ngữ t. vớí Latinh: “Qui novit neque id quo sentit experimit per inde est ac si nesciret”. Anh ng cũng có câu: ngữ “The knowledge or wisdom he has in his head is of no use to anyone unless he can communicate it to other”. Có kiến thức mà không qu c quảng bá cho ngưới khác thì khiến thức đó s trở thành vô dụng. c sẽ Ở đời có ba hạng thức gi (1) Không ai dạy c giả: mà biết được đạo lý “Sinh nhi tri gi thuợng dã” o giả, (2) Có đi học mới biết đuợc “H nhi tri chí giả, c “Học thứ dã” (3) Dốt mà chịu học h “Khốn nhi học c hỏi chi, hữu ký giả” . Ngoài ra nh ” những ngươì dốt mà không chịu học là hạng bét c xã hội “Khốn nhi ng của bất học, ân tư vĩ hạ hỉ”. Xã hội Tây phương cũng th ũng thường phân loại: (1) Professionals with great mind talk about ideas (Thượng sĩ hay nếu lên ý kiế (2) “Professionals ến). with average mind talk about current events. (Trung sĩ hay bàn nhũng sự việc đang xảy ra) và (3) “Professionas with small mind talk about people” ( Hạ sĩ thường bàn v chuyện thế tháí ng về nhân tình). Dù thu thuộc hạng nào chăng nữa, mỗi ngày mình nên xét ba i điều: “Mình giúp ai vi gì, có u: việc giúp hết lòng không? Giao du t với bạn bè có gì được sự trung n gìữ tín không? Mình có h hỏi thêm học được điều gì m mẻ trong ngày u mới không?”. Diễn trình giáo d là diễn n dục trình thu nh nhận kiến thức, tinh luyện suy lu và phát triển sáng n luận tạo. Thu nhậ kiến thức để lãnh ận nhận chứng ch bằng cấp chỉ mới ng chỉ, là giai đoạn đ n đầu. Nếu mới đạt được giai đoạn nầy mà đã tự thỏa mãn thì mới đạt đến sự hiểu biết vòng ngoài nh t nhưng chưa đạt đến trình độ thành tâm, chánh ý, tu thân , t gia, trị tề quốc và bình thiên hạ!

- 135 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Học để hiểu biết và giỏi giang hơn về một nghành chuyên môn là điều tốt. Nhưng nếu chỉ để mong được an toàn, sống lâu giàu bền, còn việc cộng đồng, xã hội, ái hữu không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ tri thức. Triết lý giáo dục nhân bản của nền Quốc Học không ngưng lại ở mức độ thu nhận kiến thức để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn: “Thượng vì đức, hạ vì dân” Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời là dấu chỉ của người trí thức, của kẻ sĩ. “ Kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung. Vũ trụ chi giai ngô phận sự, Nam nhi đáo thử thị hào hùng”. (NCT) . Nhân Đại hội 50 năm sau của cựu học sinh Quốc Học, trường Trung học đầu tiên được lập từ năm 1896 đã xây dựng nền tảng cho nền Việt học, phối trí giữa kiến thức và tâm đạo. Một khi xuất thân từ Quốc Học, cựu học sinh đều công thành danh tọại, phụng sự xã hội với tinh thần Nhân, Trí, Dũng. Phối hợp đuợc lòng nhân ái, tâm đạo, kiến thức, nghị lực, quả cảm để xông pha trận đời. Học và áp dụng kiến thức để xây dựng nhân quần xã hội thật là một nguồn vui vô tận “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” Dù tha hương, sống nơi góc bể chân trời. đến ngày Đại hội Quốc Học 50 năm gặp lại, mọi ngườì vẫn hướng về máí trường thân thương nơi con sông xưa, thành phố cũ ngâm khúc hoan ca: “Trường xưa lưu mãi bóng hình Năm mươi năm Quốc Học hiển vinh muôn đời” ( BN)

MỘT CHÚT SÀI GÒN

Ngước lên cao Trời xanh xanh ngát Bắt gặp một Sài Gòn bồng bềnh như mây Một chút thôi Mà nghe lòng thanh thản Cho đêm giấc tròn Cho ngày mê say Chiều căng gió những nẻo đường mây trắng Bát ngát trên sông Chiều xuống thật đầy Sài Gòn nắng Sài Gòn mưa Vẫn thế Có một Sài Gòn Bồng bềnh như mây…

Trần Xuân Thời
( QH: 58-61)

Cao quảng Văn

- 136 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Người có lòng i với Huế
“QH 50 NĂM GẶP LẠI” – Mộ khoảng thời ột gian khá dài của đời người! Khá dài vì l i! lắm lúc đã quá đủ nỗi đợi chờ trên đôi mắt mỏi mòn c nhớ i của mong, của phong trần dâu bể, và c trên làn da , cả sạm nắng của vầng trán đượm nét ưu tư, hay c m cả những lúc đắc ý: vui cảnh đoàn viên, chan h nh hòa hạnh phúc, có giọng cười xa và nụ hôn gần, tĩnh lặng nhìn giòng sông mơ hồ chảy qua tu nhỏ, y tuổi thấy dáng lung linh của hoa dại nở ven đồi, nhìn mặt trời thức giấc lúc sáng mai hay ao ư một c ước quê nhà thương nhớ. Mùa xuân 1971 và 1977 thi sĩ Minoru Fugita ĩ từ Los Angeles bay về Đông Kinh y kiến Nhật yết hoàng để đọc bài đoản ca của ông trong d đầu ng dịp năm. Đó là một tục lệ đã có từ lâu đờ Hằng năm, ời. một ban giám khảo của Nhật Hoàng ch 10 bài t chọn thơ hay nhất trong số những bài đoản ca đư viết n được ra khắp trong và ngoài nước. Rồi một l long trọng t lễ được tổ chức vào dịp Tết, các tác giả có bài được ả chọn sẽ có thiệp mời của Nhật Hoàng đ vào t để Hoàng cung tự mình ngâm thơ trước m Vua. Đã c mặt hai lần Minoru được vinh dự đó! Thi sĩ xa quê hương từ năm 1953, tính ra g gần ¼ thế kỹ, thế mà “hồn quê” vẫn âm ỉ “theo ngọn n mây Tần xa xa” (Nguyễn Du). Và theo tác giả thì n điều an ủi còn lại của đời người: “ Vẫ là ở nơi đó, ẫn hoa xưa vẫn tỏa mùi hương cũ” “I no longer know What they are saying In my native land But I know the flowers Smell the same” (Monoru Fugita) Hôm nay, mùa Xuân 2012, cũng trong c ũng cảm nghĩ dâng trào ấy, tình tự quê hương đ níu kéo lại đã bao cánh chim lìa đàn, xa tổ sau ánh chi buông chiều thẳm… Những ông nội, bà nội, ông ngo bà i, ngoại,

ngoại cùng họp mặt nơi đây đ nhớ về dòng-sôngt để thơ, cây-cầu-nghiêng-nắng, con ng, con-đò-chao-sươngngập-lụa-trắng ôm sát da thịt ẩn hiện, những nàng t con gái đến trường bên nớ và n bật giữa vùng nổi cây xanh bốn mùa là cổng trư ng trường Quốc học uy nghi tự bao đời. Ngôi trường có b dày lịch sử nổi ng bề tiếng nhất của miền trung, đ nay đã được 116 n đến năm, gầy dựng biết bao nhân tài l t lừng lẩy cho đất nước, cùng thăng trầm với quê hương. Nh i Những hồi trống trong mùa thi làm rạo r lòng sĩ tử khắp o rực miền từ Quảng Trị, qua bên kia đèo, v đến Nha , về Trang. Tiếng trống từng thôi thúc và d vào lòng ng dội trai những ngày “xếp bút nghiên”. C p Cũng tự nơi này bao quãng đời hiên ngang, bao kh óc kinh bang i khối tế thế đã nhập cuộc. Xứ sở của hoa sen và huy phượng có giòng a huyết Hương Giang đầy huyền sử chảy qua kinh thành rồi êm đềm xuôi qua mặt ti hai trường Quốc t tiền Học và Đồng Khánh. “Giang sơn như tạc anh hùng th (Đổ Phủ) c thệ” Giang sơn còn đó mà hào kiệ đâu rồi?! ệt Xin ngưỡng vọng tiền nhân đ tìm ra sông n đã núi, đã xây dựng sơn hà xã t đã định hình cho ã tắc, những lâu đài văn hóa (Qu (Quốc Học và Đồng Khánh) mà kẻ hậu sinh buổi lên đư i đường đã mang theo cả hơi ấm quê nhà, cả tình người bao la và một lực đẩy tiềm tàng cho cu sống – bên cạnh m cuộc có niềm vui, có hạnh phúc và có ch thơ vì đã học nh chất

- 137 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Quốc Học, đã có người yêu Đồng Khá thêu áo ng Khánh lúc đỗ tú tài! (T.T.T.) Chàng qua chiều ấy, qua chiều khác u Góp lại đường đi: vạn dặm đường (Nguyễn Bính) Hôm nay, gặp nhau tay bắt m mừng, rit mặt rứa-mô-tê làm răng mà quên được. Nh da diết, c. Nhớ nhớ đứt ruột, đứt gan, nhớ nao lòng…nh cả mái lòng…nhớ tranh, gốc khế, nhớ lu nước sau nhà và nh là mái c nhất tóc xõa thơm mùi bồ kết…Nhớ bu chiều ở buổi hoàng thành, nhớ buổi trưa ở Khiêm lăng. M Mỗi khoảnh khắc đẹp của đời người đều đáng g giữ u gìn để mang theo – như một nhà tư tưởng đ nói: “Đó ng đã là những cái mốc lắng đợi người v i về!” Vì rằng, mục đích của cuộc đời là để nhớ ( The purpose of life is to remember-Henry Miller ) Xin cám ơn bạn bè khắp mọi mi châu lục i miền về dự đại hội “Quốc Học 50 năm gặp l p lại” Xin trân quý những bạn hiền trong ban t n tổ chức đã khuấy động từ những dấu lặng thành cung ng bậc rộn rã hôm nay! Vì rằng, quá khứ vẫn còn tồn ứ tại, quá khứ vẫn chưa qua ( The past is not dead, n It’s not even past – William Faulkner ) Một lần về dự đại hội mà ngườ đi cứ ngoái ời lại, bâng khuâng! Dòng sông cứ vô tình trôi đi, mắt thôi xanh, đầu đã bạc. Sao giữa lòng ph thị a phố văn minh vào bậc nhất của nhân loạ ở đầu thiên ại niên kỷ này mà vẫn còn đầy ắp những tình c rất ng cảm ngày xưa, rất đông phương? Tình thầy trò ân nặng nghĩa sâu; t ĩa tình bạn chơn chất trong sáng; e ấp tình trai gái đầu đời p vụng về, lãng đãng. Hôm nay, hình nh họ còn đó ãng. như mà không nói chỉ nhìn nhau! Những th tình này ng thứ thoạt nhìn có vẻ lãng mạn quá mà thậ ra đã gây ấn ật tượng của một mùi hương dĩ vãng m hồ, đài ãng mơ các…một phần tinh hoa của đạo lý và v hóa qua o văn đãi lọc của thời gian và trên hết, rất chi là Hu t Huế! Một lần nữa, xin biết ơn nhữ người có ững lòng với Huế. San Jose, Lập Đông 2011

mỗi

chiều

về

Bỏ lại đằng sau chồng hồ sơ ngất ngưỡng ồ Những con số rối mù và ti tiếng điện thoại reo Những nụ cười xã giao, nh i những ước mơ không tưởng Anh đóng cổng bước vào thế giới nhỏ thương yêu ế Anh để lại đôi giày vướng b hồng tục lụy ng bụi Bước chân trần trên nền đá hoa cương n Không gian như có hương c thân quen thủ thỉ của Mỗi ngọn đèn bật lên từng dòng sáng d thương ng dễ Em đứng bên nồi cơm đọng thơm mùi lúa m ng mới Má hây hồng trán ươm mư mồ hôi ng mướt Hương cá kho rim mẹ dạy thu còn là dâu mới y thuở Đưa anh về từng nẻo nh không nguôi o nhớ Anh ngậm nghe hạt cơm đ t đồng An Cựu Nhìn mắt Em thương dĩa mu chấm gừng ĩa muối Từng miếng mặn mòi cá sông H n Hương ngày cũ Thấm lên từng vị giác c thiên đường của Cả một trời ấu thơ bỗng nhiên tr giấc ng trở Qua hương gạo thơm một bu tối quê nhà t buổi Mẹ âu yếm nhìn Anh nở n cười chân thật nụ Bữa cơm chiều thân ái đ mù xa u đã Cám ơn em đan hôm nay vào quá kh khứ Cám ơn em đem vị giác ch Mẹ yêu chở Buổi chiều Em cho ngập thơm mùi nhung nh p nhớ Có Em bên đời, chiều đẹ biết bao nhiêu ẹp Đặng Lệ Khánh

Nguyễn Thanh
Đệ Nhất B1-Niên khóa 62-63
- 138 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

GIÀ KHUYÊN NHAU
(Mới đó mà đã gần bảy bó rồi, mau thật. Nghĩ đến có người buồn, có người lo .Xin gửi đôi lời tâm sự) Chừ có noái chi cũng đã già. Ai ai cũng phải rứa thôi mà! Khi còn non trẻ thì mong lớn, Đến lúc về già lại kêu ca. Quá khứ làm răng lôi lại được? Tương lai chừng nớ kéo mô ra! Thôi đừng cố gượng chi cho lắm, Chừ có noái chi cũng đã già! Nguyễn mậu Hưng Orlando

VẪN CHƯA GIÀ
( Họa bài “Già Khuyên Nhau” của Nguyễn mậu Hưng) Bảy bó mà răng lại noái già Năm mươi năm trước vẫn trẻ mà Bút nghiên giữ trọn bầu nhiệt huyết Cung kiếm lên đường khúc hoan ca Nổi trôi đất tổ tìm đâu thấy Lưu lạc quê người kiếm chẳng ra Giờ đây Họp Mặt tìm nhau đến Tình xưa nghĩa cũ vẫn chưa già Lê khắc Huy San José

GIÀ

hay TRẺ

Bảy bó Mậu Hưng“noái”đã già Khắc Huy thì bảo vẫn chưa“tra” Thôi thôi “Mệ” Lộc can hai cụ Cãi cọ làm chi “ỏm” cả nhà. Có lão tám mươi còn cựa quậy Có chàng bốn chục đã nằm xuôi Theo tui già trẻ tùy cơ địa Tùy thuộc, tim, gan, thận mỗi người Già trẻ luận bàn chi cho mệt Có gì mà cứ mãi lay hoay Còn sức thì chơi năm bảy xị Yếu thời cũng ráng một phần chai. Thế sự thăng trầm thôi mặc kệ Trẻ già, già trẻ cứ lai rai. Ai không thích sướng thì đừng uống Cứ đứng mà“coai” cấm thở dài. Vĩnh Lộc Stockton
- 139 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

NẾU HUẾ ĐƯỢ KỂ ĐƯỢC
CHO TÔI NGHE... ...
Vĩnh Bội

Những trưa hè oi bức với tiếng ve kêu r rả, ng rỉ hoặc những trận mưa lũ dầm dề hàng tháng, làm tường ủ rêu xanh, đôi khi đã làm cho m tôi phải ã mẹ bực mình thốt lên "Đồ xứ chi mà Ô châu ác đ địa!”. Bốn chữ "Ô châu ác địa" làm tôi suy ngh tìm tòi a" nghĩ, trong lịch sử, mới biết rằng Huế ngày trư thuộc trước Chiêm Thành, tạo dựng nên nhờ bàn tay c hai của Công Chúa Huyền Trân và Ngọc Báu, không khác c gì Nữ Thần Athena đã dựng nên kinh đô x Hy ng xứ Lạp mấy ngàn năm trước đó. Nguyên mùa xuân năm 1307, vua Tr Nhân Trần Tôn gả Công Chúa Huyền Trân cho Vua Chàm n Chế Mân. Để đổi lấy hai châu Ô và Lý, g y gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và phía a bắc Quảng Nam bây giờ. Gần một năm sau Ch t Chế Mân mất, theo tục lệ Chàm, người v phải được i vợ hỏa thiêu theo chồng. Vua thương con gái nên sai ng. Trần Khắc Chung sang Chiêm giải c i cứu. Mặc dầu có cảm tình với vị tướng anh dũng đ liều thân ũng đã cứu mình, nhưng vì thể diện một Hoàng H t Hậu, lại nợ nước cao dày, nên nàng đã xuố tóc đi tu. ống Ngày nay, mỗi khi du ngoạn trên sông Hương, n khách thường được nghe điệu ca Nam Bình: “Nước non ngàn dặm ra đi Cái tình chi, mượn màu son phấ ấn. Đền nợ Ô Ly, Đắng cay vì, tương độ xuân thì.”

Vì là "ác địa" nên ít ai ch cư ngụ tại các a" chịu Châu Ô và Lý. Đã có lần Hồ Quý Ly dùng chính ồ sách di dân bắt buộc, đày các t phạm vào đây c, tội sinh sống. Nhưng khi nhà Hồ mất ngôi, luật pháp ồ không còn, thì các phạm nhân đi cư bóc, quấy m cướp nhiễu người lương thiện. B vậy ca dao có n. Bởi câu:”Thương anh em cũng mu vô, Sợ truông ũng muốn nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”. Hoàng tử Huế còn ngủ thêm hai trăm năm ủ nữa, mãi đến năm 1558 mới đư công chúa Ngọc i được Báu đánh thức, trang hoàng l c, lộng lẫy và để lại cho chúng ta đến ngày nay. Âu c n cũng là một thiên mệnh. Như thủ đô Athenes ngày trư trước, nước Hy Lạp được trị vì hơn 500 năm b những lời sấm ơn bởi truyền trên đỉnh núi Olympia thì Huế cũng được nh khai sinh nhờ lời sấm của Tr a Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nh đới.Vạn đại dung nh nhất thân (Sau dãy Hoành Sơn sẽ được yên thân vạn ẽ đời). Nguyên vị sáng lập nhà Nguy là Nguyễn p Nguyễn Kim, phò Lê diệt Mạc, mất đi đ lại ba người con: t để một gái là Công Chúa Ngọ Báu gả cho Trịnh ọc Kiễm là tướng của mình, và hai trai là Nguy a Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Nguy Uông chết trong n Nguyễn một trường hợp bí mật. Vì công chúa s Nguyễn t. sợ Hoàng sẽ khó sống bên cạnh ngư anh rể, nên đã nh người bí mật sai người vào vấn kế Trạng Trình và được

- 140 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
trả lời thuận lợi. Nàng bèn xin chồng cho em mình ng được vào trấn "Ô Châu ác địa". Trịnh Ki nh Kiểm nhận lời, vì nghĩ rằng Nguyễn Hoàng vào đ rừng n đất thiêng nước độc, sẽ chết ở đó, và không c là còn mối đe dọa cho mình về sau. Nguyễn Hoàng lúc bấy giờ mớ 30 tuổi, ban ới đầu vào đóng ở Ái Tử (thuộc tỉnh Qu nh Quảng Trị bây giờ). Một hôm, nhân đi quá về phía Nam, đ một đến nơi non sông cẩm tú, thấy dòng sông xanh mát, y uốn lượn như một con rồng đang u ng uống nước, ngẩng đầu quay lại, bên phải và bên trái có hai cù i lao Thanh Long, Bạch Hổ giữ thế "r "rồng chầu hổ phục", phía trước có núi Ngự Bình làm bình phong, trấn giữ các ác quỷ phương Nam. Nguy Nguyễn Hoàng mừng thầm như chọn được m nơi tốt để c một lập kinh đô, đúng theo địa lý; nhưng khi nh lại ưng nhìn phía sau chỗ chùa Thiên Mụ bây giờ thì thấy một ờ, hố dài và sâu, cắt đứt long mạch, nên bu rầu vô ch, buồn cùng. Quả nhiên, hơn một ngàn năm v trước, vào t về năm 111 trước Tây lịch, khi Huế v còn là đất vẫn nhà Hán, các tướng Tàu gọi nơi đây là Tây Quy i Quyền, và chọn là quận lỵ Nhật Nam. Vào th kỷ thứ 3 và t thế 4 sau Tây lịch, nước Chàm lại đổi tên Tây Quy i Quyền là Khu Túc (theo di tích Chàm còn đ lại vùng Hổ để Quyền ngày nay). Mãi đến thế kỷ thứ 9, một tướng ứ Tàu, giỏi về cầm quân cũng như địa lý, tên là Cao a Biền, trấn thủ miền An Nam, thấy Hu là một nơi y Huế trời dành, nếu để lọt vào tay kẻ địch, s di hoạn về ch, sẽ sau, bèn cắt đứt long mạch để yểm, như Nguy m, Nguyễn Hoàng đã trông thấy sau này. Ngài đang r rĩ thì y rầu bỗng dưng nằm mộng gặp một bà tóc mi b t bạc trắng, khoác áo đỏ, mặc quần xanh, báo cho bi n biết sẽ có một vị minh quân đến lấp hố sâu và l Kinh lập đô ở đây. Nguyễn Hoàng mừng rỡ, nên vào năm , 1601, tháng 6 Âm Lịch, xây một tháp l tên là t lấy Thiên Mụ (bà Trời). Cũng nên biết ch mụ ở Huế t chữ nghĩa là bà. Thiên Mụ ngày nay là mộ thắng cảnh, ột mà du khách ghé Huế ít ai không vi viếng thăm: “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên M ng Mụ, canh gà Thọ Xương”. Kinh đô tiền định ấy, cũng nh viên ngọc ũng như quý, còn được mài dũa, đẽo gọt, qua chín tri t, triều Chúa, mỗi lần chỉ xê dịch mươi cây s về phương ch số Nam, cho đến đời Sãi Vương m đến gần địa ương mới điểm ngày nay; và cũng mấy l mất vào tay họ y lần Trịnh rồi Tây Sơn cho đến năm 1802, khi vua Gia n Long thống nhất sơn hà, lên ngôi, th "châu mới về t thì hợp phố", Huế mới trở về với nhà Nguy i Nguyễn. Không để mất thời gian quý báu, vua Gia i Long bắt tay vào xây dựng Kinh Đô th bình như ng thái các vua Đường, Nghiêu, Ngu, Thu bên Tàu. Bài ng, Thuấn thơ khắc ở chính diện điện Thái Hòa cho ta th n thấy quyết tâm: “Văn hiến thiên niên qu n quốc, Xa thư vạn lý đồ, Hồng Bàng khai tịch hậ ậu, Nam phục nhất Đường Ngu” ng (Ý nói là đất nước có nghìn n c năm văn hiến. Cơ đồ muôn dặm xây dựng từ đời H i Hồng Bàng. Trời Nam đã thái bình như nhà Đường Ngu thu trước). ng thuở

Tử Cấm Thành – Đ Nội Huế Đại

Công trình xây cất kh đầu từ năm 1804 t khởi cho đến năm 1845 trải qua các tri đại Gia Long, i triều Minh Mạng và các vua kế ti tiếp. Kinh thành hình vuông chu vi đo được 10,936m. Bên trong Kinh c thành là Hoàng Thành, bên trong Hoàng Th Thành là Tử Cấm Thành. Cả ba thành cùng chung m trục một hướng. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành còn lấy tên là Đại Nội. Kinh Thành có 11 c mở ra bốn i. cửa hướng. Phía trước là sông Hương, xung quanh có ng sông đào bao bọc, gọi là H thành hà. Hoàng i Hộ thành được xây bằng gạch, b hướng có cửa ra ch, bốn vào: phía trước có Ngọ Môn, phía sau có Hòa Bình, bên trái là Hiển Nhơn, bên ph là Chương n phải Đức. Ngọ Môn, sân Đại triề điện Thái Hòa, là ều, nơi cử hành đại lễ. Vườn Cơ h có điện Khâm n hạ Văn, là nơi vua nghỉ ngơi. Cung Diên Th cung Thọ,

- 141 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Trường Sanh, là chốn ở của bà mẹ và bà n Đức nội Vua. Hồ Hòa Bình nằm bên trong cửa Hòa Bình, được xây như hòn non bộ, có am, có đ trông rất , đảo ngoạn mục. Tử Cấm Thành có các đi điện Cần Chánh, Đông Các, Văn Minh, Võ Hi v.v..là nơi õ Hiển Vua, Hoàng Hậu và các cung tần mỹ nữ, thái giám trú ngụ. Chỉ kể một vài cung điện vì Đạ Nội có đến ại 147 công trình xây cất lớn nhỏ. Màu xanh c cây . của bóng mát, cây ăn trái, cỏ hoa ven h cung điện, hồ, làm tỏa sự mềm mại và tươi mát, sang các ki i kiến trúc gạch đá cứng khô. Làm sao k hết những ng kể công trình sáng tạo ấy: một bước đi là m di tích c một lịch sử quý báu; đây cửu đỉnh được đúc vào năm c Minh Mạng thứ 16 (1835). Nhà vua mu ghi lại muốn công đức các triều vua nhà Nguyễ kể từ Gia ễn, Long trở đi, cũng như vua nhà Chu ngày trư ư trước, đã đúc cửu đỉnh để tượng trưng cho chính Qu của ng Quận nước mình (túc cửu đỉnh dĩ tượng cử châu). Cao ửu đỉnh đặt đối diện với án thờ vua Gia Long, là Th Thế Tổ Cao Hoàng Đế (ta để ý có chữ Ca Nhân đỉnh Cao). đối diện với án thờ vua Minh Mạng là Thánh T ng Tổ Nhân Hoàng Đế. Các đỉnh tiếp theo là Chương p đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đ n đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, và Huyền đỉnh. Như năm 1774, Huệ Vương ph bỏ kinh thành phải Huế trước sự xâm lăng của Chúa Tr a Trịnh; năm Mậu Thân 1788, Vua Gia Long đem quân v Gia Định; về năm Tân Dậu 1801, Kinh đô đư tái chiếm v.v.. u được Đã là Thần, các vị khỏi ph xuất trận, nhận i phải nhiều lễ vật lúc thắng, nhưng khi thua th không bị ng, thì khiển trách! Điện Thái Hòa n cuối sân Đại triều n nằm nghi, nền lợp đá Thanh, mái ngói vàng óng ánh, p cột sơn son thiếp vàng, trông th uy nghi lộng lẫy. p thật Điện xây vào năm 1804, là nơi đ Vua thiết nghi n để lễ, như Hưng Quốc khánh ni c niệm, lễ Đăng quang v.v..cũng nên biết bên trong các mái ngói, phía t trên, được chia làm nhiều hộc, có kh các bài thơ c, khắc tổng cộng đến 297 bài. Không xa điện Thái Hòa là c Ngọ Môn, n cửa được xây cất năm 1833, dưới Tri Minh Mạng. i Triều “Ngọ Môn năm cửa chín l a lầu, Một lầu vàng tám lầu xanh, u Ba cửa thẳng, hai cửa quanh” (Ca dao). a Mái lợp tráng men vàng và xanh l lánh, p lấp với một tầng để trống, lầu Ng Phụng xây trên đài u Ngũ Ngọ Môn, như năm con phượ hoàng nhẹ nhàng ợng và thanh thoát. Đọc bài thơ kh trên lầu Ngũ ơ khắc Phụng: “Vân tế huyền sơ thưở ởng, Ảnh tà thể vị viên, Hà tu tam ngũ dạ, Dĩ chiếu mãn sơn xuyên ơn xuyên”. (Ý nói; Bên áng mây, trăng m mọc. Bóng còn ăng mới chênh, hình chưa tròn. Nhưng ch ưng chẳng đợi đến đêm khuya. Cũng đã sáng khắp sông núi, c p cũng đủ thấy đêm trăng trên lầu Ngũ Phụng đ chừng nào!). ng đẹp Ở đây kiến trúc và thiên nhiên là m sự hòa n một hợp kỳ diệu. “Cũng may chúng ta đ có những ũng đã ông vua thi sĩ (roipoete)” như các nhà Tây Phương ư khi viếng thăm Huế đã từng nói. Th ng Thấm nhuần tư tưởng phương Đông, nhà vua đ biết lưu ý đến đã quan niệm kiến trúc, làm sao cho hòa h n hợp với thiên nhiên như một phần củ nó. Thiên nhiên đã ủa tặng cho Huế một dòng Hương trong xanh, hi ương hiền hòa như một người tình, mà Hoàng T là Kinh đô i Tử đã ôm gọn vào lòng, như ôm m nỗi nhớ thiết tha ư một về một vẻ đẹp nào đó chưa đ thấu trên cõi đời p đạt này. Cũng như những người tình đẹp khác, dòng i

Bên trái Ngọ Môn là nhà chứ chín súng ứa thần công (cửu vị thần). Bốn vị tượ trưng cho ợng Xuân, Hạ, Thu, Đông, còn 5 vị kia tư tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Thổ, Hỏa. Cửu v thần được u vị đúc từ 1804, đến 1805 thì hoàn tất. Nguyên li t. liệu gồm các chiến lợi phẩm thu được, sau khi th c, thắng Tây Sơn. Chiều dài súng đo được 5.9m, lòng sóng c 0.22m, bên trên có khắc các sự việ đã xảy ra. ệc

- 142 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
sông cũng thay áo tùy theo ánh sáng: lúc thì xanh thẫm; nhưng khi ánh nắng vàng chiếu xuống gay gắt thì chuyển hóa sang màu lục lá chuối non; chiều tà xuống, ánh trời đỏ rực, nhuộm màu nước xanh thành tím ngát, như một dòng sông hoang đường, làm thi sĩ Đoàn Phú Tứ ngẩn ngơ: “Màu thời gian không xanh,Màu thời gian tím ngát”. Sông Hương đã quyến rũ biết bao nhiêu thi sĩ, nghệ sĩ sáng tác, là nơi hẹn hò của tao nhân mặc khách. Chúng ta thử đi một vòng đò trên sông Hương để lắng nghe điệu hò Mái nhì, khoan thai, nhịp nhàng và trong trẻo: “Hơ à à...hơ à hơ Trời một vùng sông dài vô hạn Mượn gió chiều hỏi bạn ngàn sông. Thân em như sợi chỉ hồng. Tơ duyên có chắc như dòng nước không?” Tiếng hò người con gái ngân lên trong đêm khuya, chờ đợi câu trả lời bên nam, và cứ tiếp tục như thế cho đến phá Tam Giang thì chia cách. Điệu Nam Ai thì nghe buồn não nuột; lời ca nghệ sĩ hòa nhịp với tiếng đàn, tiếng phách: “Huyền Trân công chúa, Ngoảnh lui cố quốc, ngập ngừng gót ngọc, Mây phủ kín trời thương, Ngơ ngẩn bâng khuâng.”... Hò giã gạo, nhịp nhàng vui vẻ thường là đấu trí giữa nam và nữ: “Đố anh trên trời có mấy vì sao? Dưới rào (sông) có mấy con cá, Dưới Hà bá có mấy ông vua, Đông, tây, nam, bắc, có mấy chùa, Chợ Đông Ba kẻ bán với người mua, mấy người?” Khi cối gạo cuối cùng gần xong thì "tiếng gà đã rộn trong thôn"...và người viết cũng ngỡ ngàng vì... "Nhớ Huế!". VĨNH BỘI
- 143 -

Vui cười
Xin số điện thoại - Alô ! Con chim nhỏ của anh đấy à ? - Không ! chim bố đây. - Ấy chết ! Cháu xin lỗi bác! Bác có khỏe không ạ - Khỏe để đánh nhau với ai ? - Dạ ... cho cháu hỏi Châu có nhà không ạ ? - Nó không có nhà thì là dân vô gia cư à ? - Dạ, dạ ... ý cháu là Châu có ở nhà không ạ ? - Nếu không thì sao ? - Thế... Châu đi đâu ạ ? - Ðến cơ quan rồi. - Bác cho cháu số điện thoại của Châu được không ạ ? - Nó có nhiều số lắm ! - Bác cho cháu xin một số thôi ạ ! - 8... - 8 rồ i... mấy nữa ạ? - Thì cậu bảo chỉ cần một số thôi mà ..... - Dạ bác cho cháu xin nốt mấy số còn lại luôn ạ - 5 7 3 6 8 2, còn sắp xếp sao thì tùy cậu . Đàn bà giỏi thật Một bà sau khi cho tiền ông hành khất ở cuối nhà thờ liền hỏi: "Sao ông ra nông nỗi này, vợ con ông đâu?" "Thưa bà, vợ tôi chẳng may qua đời rồi ạ. Nếu vợ tôi còn thì tôi đâu đến nông nỗi này ạ" Bà quay sang ông chồng: "Thấy chưa, đàn bà là đảm đang lắm. Không có đàn bà là chỉ có nước đi ăn mày. Nhưng khi còn sống bà ấy làm gì hả ông?" "Dạ... nó đi ăn mày thay cho tôi ạ.”

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Ở TRƯỜNG QU NG QUỐC HỌC HU C HUẾ

Bình phong long mã

Hà Thúc Giảng
Trong kiến trúc cổ điển tín ngư n ngưỡng Việt Nam, đền miếu, nhà thờ, thông thư , thường gồm có gian chính điện ở chính giữa để đặt hương án th t thờ linh vị Thần,Thánh hay tổ tiên, hai gian hai bên là tả gian và hữu gian kể từ trong chánh đi nhìn ra điện trước sân, dùng làm nơi tiếp nhận tín h n hữu, dân làng hay bà con trong lúc hành lễ hay sinh ho hoạt. Phía trước các nhà thờ phượng đó là m sân ng một rộng có cây cảnh. Ngay tại ranh gi trước khi i giới bước vào khuôn viên đất của nhà th thường có a thờ, một cửa tam quan. Các trụ chính c cửa tam của quan, thường có câu đối nói lên ý ngh của đền i nghĩa thờ, họ tộc hay triết lý đạo đức của tín ngư a ngưỡng. Giữa sân và tầng cấp trước khi vào chí c chính điện thường có một bình phong bằ gạch xây, ằng trên bình phong có chạm trổ, khắc v hình Long c vẽ Mã. Long Mã là một linh vật thần tho giống như n thoại, những linh vật khác được dân gian tôn tr c trọng như rồng, kỳ lân, nghê. Ngoài ra, bình phong còn được trang trí bởi các loại bình hoa v hoa bốn mùa i với như mai, lan, cúc, trúc. Trường Quốc Học Huế được thành lập trên ế, một thế kỷ nay, là một cơ sở giáo dục quan trọng ở của đất nước, có một kiến trúc r n rộng lớn, cũng có cửa tam quan và bình phong Long Mã.Bình phong a Long Mã ở trường Quốc Học Hu có từ thời nào , c Huế với ý nghĩa gì và bức bình phong đó đã thay đổi như thế nào với thời gian.?Đó là nh i những điều ta cần xét đến. Vị trí và thời điểm đầu tiên đ bình phong u đặt Long Mã ở trường Quốc Họ ọc. Trong Tập San 48-55 Kh Định số 10 năm 55 Khải 2005, trang 305 và 306, dướ đoạn viết về trường ới Quốc Học, thầy Võ Như Nguy đã viết:“PhápTự ư Nguyện Quôc Học Trường” là tiền thân c trường Trung n của Học Khải Định.

- 144 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Bảo hộ Pháp nắm hết quyền tổ chức và so thảo c soạn chương trình, nhưng đồng ý với Nam tri i triều, hoán bổ vị Thông Biện (interprète) Ngô đ n đình Khả làm chưởng giáo (hiệu trưởng). Với chứ vụ chưởng ức giáo, cụ Ngô đình Khả có quyền hạ tuyển dụng ạn giáo sư Việt Nam giảng dạy những môn h cần ng học thiết. “bát quái”. Long Mã có sức m c mạnh như rồng, như ngựa, có ý nghĩa phát huy văn hóa… Trung Hoa ĩa hóa…Ở đời xưa, giống ngựa nào mạnh kh cao lớn, khôn nh khỏe, ngoan đều được đặt tên Long Mã. t Vị trí bình phong Long Mã hi nay ở trường hiện Quốc Học Huế Hiện nay, bình phong Long Mã c trường n của Quốc Học Huế được nằm bên tay trái, néu đứng từ m cổng trường nhìn về hướng B ng Bắc, nhìn ra sông Hương. Bình phong được nằm sát vào tư m tướng thành xây gạch, trên chu vi bao bọc trư c trường. Vị trí này cũng là vị trí đư đặt bình phong được Long Mã lần đầu tiên năm 1898, kho u khoảng hai năm sau khi khai mạc trường, và thời cụ Ngô đình ng, vào Khả làm chưởng giáo, tức là hi trưởng. Theo c hiệu tinh thần phong tục các cụ th xưa, chắc chắn là thời vị trí, ngày giờ đặt bình phong Long Mã, đều được t các thầy phong thủy xem xét k càng, sao cho hợp y kỹ với phong thủy để trường đư mở mang phát ng được triển và vĩnh cửu. Vào thời đó, bình phong Long Mã ph được , phải đặt chính giữa, ngay ở gần c n cổng tam quan đi vào trường, theo cách phối trí củ các kiến trúc trang ủa nghiêm và tín ngưỡng xưa. Ý nghĩa của bình phong Long Mã là đem ý a chí tang bồng hồ thỉ của ngư trai đất nước, tung người hoành ngang dọc, giúp dân, d c, dựng nước, theo gương tiền nhân, sống cho ph lẽ trời, hợp với ng phải lòng người. Theo văn hóa Việt Nam, trên lưng con Long t Mã có mang thanh kiếm và cu sách, nói lên ý m cuốn nghĩa là con người phải có tinh th tiến bộ, bay i thần nhảy như con Long Mã và ph trí dũng song toàn, ã phải hiểu biết uyên bác, rộng rãi, để sáng tạo một sự ng nghiệp vĩ đại. Nhưng qua thời gian, khi con đư i đường Lê Lợi, xưa là đường Jules Ferry m rộng thêm và vào ng mở thời kỳ xây cất trường với hình th và mặt bằng i thể tổng thể cố định với hai dãy l hai tầng giống i lầu như ngày nay, vào khoảng hai mươi năm sau ngày ng thành lập trường, thời trường n trung học Đồng ng nữ

“Pháp Tự Quốc HọcTrường” đư thiết trí ng” được tại hữu ngạn sông Hương, địa điểm này là nơi m đóng đồn thủy quân xưa kia trước c Kinh Đô, c cửa một khu đất rộng lớn, mặt tiền hướ về Hương ớng Giang, đối diện với “Đài Tử Sĩ” (Monument aux ĩ” morts), trên đại lộ Jules Ferry chạy dài t Ga Huế y từ đến Đập Đá. Đầu.tiên, trường được làm b c bằng tre, lợp tranh, gồm nhiều phòng ốc đầy đ tiện nghi. y đủ Trường khai giảng vào ngày 26 tháng 12 năm ng 1896, sau hai tháng xây dựng cấp tố và chỉ mới ốc, có một lớp tiểu học.Những năm kế ti tiếp, học sinh nhập học đông đảo, nên trường làm thêm nhà, m ng mở thêm lớp. Cổng trường được sửa ch lại. Trên a chữa cổng có bảng đề Quốc Học Trường, b bớt hai chữ ng, bỏ Pháp Tự, vì có giảng dạy thêm nhiều môn h cần u học thiết khác, Bước vào cổng trường, người ta th bức i thấy bình phong xây bằng gạch, có tạc hình Long Mã c do sáng kiến của vị chưởng giáo. Lo Mã theo ng Long điển cổ, đó là một linh vật đầu rồng đuôi ng ng ngựa. Dưới triều vua Phục Hy, Long Mã xu hiện trên c xuất sông Hoàng Hà. Vua Phục Hy trông th thân c thấy hình nó có vằn ngang dọc, và theo đó, vua v c, vạch ra

- 145 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Khánh khai mạc ngày 15 tháng 7 n c nắm 1917, thì cổng trường được thay đổi theo vị trí hiện nay. Bình phong Long Mã không còn nằm vào v trí ở m vị giữa cổng tam quan vào trường nữa mà l lệch a lại sang bên trái trường cũng không còn n òn nằm ngay chính giữa nữa. Cổng trường mới đư dựng lên i được theo họa đồ xây cất mới, do đó, bình phong Long ình Mã bị lệch đi và không còn nằm theo v trí đúng ý m vị nghĩa, so với cổng tam quan mới. Tuy nhiên, đây là một di tích l t lịch sử của trường, cũng như ý nghĩa thâm sâu củ bình phong ủa Long Mã, cho nên các vị hiệu trưởng k tiếp vẫn ng kế giữ yên bình phong Long Mã ở vị trí ban đ đầu. Bình phong Long Mã nguyên th thủy, được tạc bằng đá, gắn vào trong bình phong, nguyê cả n nguyên bình phong được âm vào tường, nằm trong tư m tường thành chu vi của trường, vẫn ở cùng nguyên v trí vị như lúc đầu vào năm 1898, không lúc nào xê d u dịch. Bình phong và Long Mã hi hiện nay, được những người thợ khéo tay tạo nên b o bằng gạch, hồ xi măng và mẻ chai bể với màu s thích hợp. Nhìn i sắc vào bình phong Long Mã hi nay, ở giữa trên ng hiện lưng con Long Mã, có gắn m phiến đá cũ màu n một xám, hình chữ nhật kích cỡ 20 cm x 30 cm. T Tấm đá cũ này được khắc một hàng ch Hán sơn màu t chữ vàng được đọc như sau: “Thành Thái Bát Niên c Thập Nhất Nguyệt Cát Nhật T t Tạo”. Tạm dịch là: “Tạo dựng vào năm Thành Thái th tám, tháng ng thứ mười một nhằm ngày tốt”. Th ra, phiến đá này t”. Thật không phải đi theo với bình phong Long Mã nh i như được gắn vào hiện nay, mà đây là viên đá đ vào n đặt lúc khánh thành trường Quốc H lần đầu tiên bởi c Học giới chức cầm quyền và vị chư chưởng giáo Ngô đình Khả vào ngày 26 tháng 12 năm 1986. Viên đá này được đặt t một vị trí trang t tại trọng nào đó vào ngày khánh thành và khai m ng mạc ngôi trường “Pháp Tự Quốc H Trường” tức là c Học trường Quốc Học bây giờ. Kết luận Dẫu hình tượng Long Mã bằng đá ng nguyên thủy của trường Qu Học đã mất, dẫu ng Quốc bình phong Long Mã không còn n nằm ở vị trí thích hợp, nhưng ý nghĩa c bình phong Long ĩa của Mã vẫn còn tồn tại với văn hóa Vi Nam, với i Việt lịch sử của trường Quốc H và nguyện vọng c Học của người tạo lập nên trường ng. Các vị sáng lập ra trư p trường Quốc Học đã muốn đào tạo học sinh mình được học tập thấm c nhuần đạo đức, học thuật c kim nhân loại, hầu t cổ đem sự học ra xây dựng giúp đ ng đời. Lấy bình phong Long Mã để tượng trưng y cho ý nghĩa cao đẹp ấy, và làm bi tượng cho y, biểu trường Quốc Học là một ý t t tưởng uyên bác và thâm sâu. Là học sinh của trư a trường Quốc Học, ta cần thực hiện ý nguyện của ti bối qua biểu hiệu a tiền bình phong Long Mã, để tạ nên sự nghiệp của ạo mình.

Hình bình phong Long Mã mà chúng ta th thấy ngày hôm nay tại trường Quốc Học c c cũng ở vị trí cũ, nhưng tiếc thay,hình Long Mã đư chạm trổ được bằng đá nguyên thủy của hơn trăm năm xưa không a còn nữa. Có lẽ trong thời buổi loạn ly, gi giã, n giặc giữa một lúc nào đó, thành phố không có chính quyền, có kẻ lợi dụng chiếm làm củ riêng, hoặc ủa đem dùng vào nơi khác hay chôn cất d diếm vào t dấu một vị trí nào đó, chưa ai khám phá ra.

Hà thúc Giảng
- 146 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

- 147 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

- 148 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

Nhạc và lời : Nguyễn mậu Hưng

- 149 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

KHẮC KHO C KHOẢI

Thế kỷ đêm buồn, đêm chơi vơi n, Chốn trần gian rộn rã tiếng khóc cười ng Loài sâu bọ đội lốt ngườ nham nhở ời Rượu c trong ly u cạn Men nồ ngạt thở ồng Dắt díu bạn hiền đến ngưỡng c từ bi ng cửa Thế kỷ 20 tan tác n chia ly nỗi Tay lần tràng hạt, miệng tri trô l Phật ng lời Đầu Đ đội trời Chân không đ đất đạp Không gia đình cũng chẳng ph mồ côi ng phải Trí óc ngu si, ra đi sám hối điều Nợ phong trần, một kiếp thiêu thân ếp Loài quỷ dữ hay thánh thần th cũng thế. n thời Đời nổi trôi, tuổi già bóng x i xế Nhớ quê hương, thân mỏ mệt ê chề ỏi Khi tinh giấc, nhìn tứ b khốn khổ. bề Từng con đư ng đường nhỏ, Từng phố xá thân quen

Hẻm vắng buồn tênh nghe cu đời ráo n cuộc hoảnh Niềm vui xa lánh Cuộc thế nhiểu nhương Thân lang thang xiêu vẹo ở góc đường o Từng vũng nước, vũng bùn giương m ùn mắt ngó. Ừ thì ra, Cuộc đời là thế đó Lẫn tránh nơi này bị bắt g nơi kia. t gặp Trốn thoát nơi đâu, phép th giăng bốn n thần phía Bủa lưới khoanh vùng, Phật Chúa lung tung Kinh kệ lùng bùng, thánh kinh xơ xác. Thôi tu tâm, xa dần cái ác n Sớm quay về trên khắp nẻ mù khơi ẻo Thắp nén nhang thơm Khấn lạy kẻ qua đời Lòng nguyện ước Mai sau được về nơi cực l c lạc. vĩnh lộc

- 150 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

BƯỚC ĐẦU KIẾM SỐNG ẾM
Nguyễn Long
Kể từ khi về hưu, gã có một nhận xét l số ột là văn sĩ, thi sĩ của cộng đồng người Việt hải ngoại ời quá nhiều. Có lẽ nói như chủ thuyết Cọng sản l ủ là hạ tầng vật chất quyết định thượng tầng kiến ợng trúc. Nói cho dễ hiểu là khi cái bụng đ no thì cái ụng đã đầu ưa hoạt động cho nên ai cũng viết. Khổ nỗi là ũng viết thì được mà không ai đọc. Có lần g gởi một ần gã bài viết cho một tuần báo, đã không được một ã đồng nhuận bút lại được anh chủ biên quen nói một câu ngọt lịm: “Cho đăng là may l lắm rồi!” Thế là gã gác bút. Rồi nhân có một số bạn ồi bè cùng nhóm cùng trường ra đặc san Xuân mỗi ờng lần cận Tết, gã lại viết góp cho vui. Lũ con đọc ại được khen hay. Gã nghi ngờ lũ nhỏ sợ bố n nói ỏ nên láo cho vui lòng bố thế thôi chứ tài năng như g ài gã làm ca sĩ chưa lên sân khấu đã bị đuổi xuống, văn ị chưa viết đã hết mực… Lần này gã vi vì một lý ày viết do đáng được cẩn trọng: ghi vào gia ph dòng họ phả để sau này cháu chắc ba đời biết dòng h nhà gã òng họ đã qua Mỹ lập nghiệp như thế nào, làm th nào để ào, thế sống. Gã qua Mỹ đã trên mười mấy năm r Gã đi rồi. như một kẻ trốn chạy vì đã bỏ lại ba đứa con ở ỏ Việt Nam. Bạn bè ai cũng khuyên gã đừng nên đi ên vì bên Mỹ tuổi trẻ là thiên đường m tuổi già là ờng mà địa ngục nhưng gã vẫn quyết tâm đi v háo hức ẫn vì muốn xem thiên đường Mỹ như thế n Nếu vạn ế nào. bất đắc dĩ không ở được thì bò về. Gã choáng ngợp vì phi trường Los Angel ờng Angeles to lớn, hiện đại quá. Trên đường về nh người em, ờng nhà một cảnh in đậm vào óc làm gã không bao gi ào giờ quên là hai dòng xe cộ nối đuôi nhau d hàng cây ộ dài số tạo thành hai làn: một làn đỏ chạch, một làn ỏ

sáng rực xa vút không biết đâu l đầu, đâu ực là làcuối. Rồi sau một đêm ngủ b cho những mệt ủ bù nhọc, bừng mắt thức dậy thì đã 12 giờ trưa, ánh ì nắng Cali vàng rực rỡ.Nhìn xu hìn xuống sân nhà, hoa cúc vàng nở rộ lung linh dưới ánh mặt trời trông ới diễm ảo làm sao. Gã có cảm giác nh đang sống ảm như trong một cảnh giới khác. Gã t nhủ lòng chắc tự thiên đàng là đây vì nó có vẻ thần ti quá! ẻ tiên Ở nhà cô em dâu vài hôm gã muốn cùng vợ à hôm, đi xem Hollywood. Thật ra gã không bi là nó biết lớn cở nào, cứ tưởng đó là m khu phim trường à một có đủ các tài tử thượng thặng đang trú ngụ hoặc ợng đóng phim. Cô em khuyên gã t từ, muốn đi xem từ thì để cô sắp xếp chủ nhật tới cô chở đi. Gã nhất ể định không chịu vì gã đinh ninh ti tiếng Anh tiếng Mỹ gã nắm trong tay. Dù gì gã c cũng có bằng cử nhân Anh Văn đàng hoàng, lại nữa g đã từng dạy ại gã luyện thi A,B,C lia chia ở VN n việc giao tiếp ện nên hỏi đường đâu có khó. Cô em đưa hai v chồng vợ gã đến trạm xe buýt và phát cho m cell phone để à một lở có đi lạc mà gọi về. Trên chuyến xe buýt đầu tiên gã không nhớ đã nói gì vì th sự tên tài xế xe ã thật buýt nói nhanh quá gã không hi chỉ gật đầu hiểu đại. Chạy một hơi tên tài x bảo gã xuống một xế khu phố mà nhìn quanh vắng hoe chỉ có một v ắng vài người da đen qua lại. Gã cùng v cuốc bộ cả nửa vợ tiếng đồng hồ mới thấy một khu phố đông ng ếng người, lại hỏi, lại lên xe buýt, lại chạy loanh quanh không ại biết về đâu, gần một ngày tr mà không thấy ày trời Hollywood gã đành cùng vợ quay về v có hẹn với ợ vì một cặp vợ chồng bạn của ng ột người em ăn tối ở đâu đó. Tội nghiệp cho bốn người đợi hai vợ chồng g ời gã

- 151 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
hơn tiếng rưởi đồng hồ vì gã nói tài xế chạy một đường màxe buýt lại chạy về một nẻo. Qua đây gã biết cái Anh văn của gã hỏng, không xài được ở đất Mỹ này, phải học lại từ đầu vì Mỹ nói Mỹ hiểu, gã nói Mỹ không hiểu, bảo làm ơn lập lại thì người Mỹ vẫn lập lại với tốc độ cũ mà không thay từ thì cũng như không. Ở lại nhà cô em vùng Nam Cali chưa được 10 ngày thì một cô em ở Texas gọi điện qua bảo đã kiếm được việc làm. Gã háo hức, hăng hái mua vé xe đò Greyhound lên đường lập nghiệp. Khi ở VN nghe đâu vợ chồng cô em làm trong bệnh viện súc vật. Gã mường tượng chỗ này hợp với gã đây, sạch sẽ, trong im trong mát. Qua tới Forworth, khi nhận việc gã mới té ngữa ra đây không phải là một bệnh viện mà chỉ là một animal shelter và chức vụ của gã là chùi chuồng chó! Trời đất! Thế là để dấu cái nghề kỳ lạ này, gởi thơ về VN nói cho bạn bè là gã làm nghề “animal care technicien” để nguyên không dịch cho tụi bạn lé mắt chơi, ngu gì nói phải không nào! Công việc của gã giống một lao công đào binh. Trời Forworth mùa đó lạnh và mưa liên miên, mới qua chưa kham nỗi cái lạnh gã phải tộng vào người ngoài áo mưa là bảy loại áo gồm t-shirt, underwear, sweater,jacket .v.v.. trông giống một loại người ngoài hành tinh không bằng. Gã phụ trách chùi dọn một dãy nhà kép, hai dãy phòng đối diện nhau, giữa có lối đi rộng cở hai thước, mỗi dãy phòng gồm 25 chuồng, mỗi chuồng có hai ngăn. Ngăn trước bao quanh bằng lưới B40 , ngăn sau vách hai bên xây bằng tường gạch chỉ phía sau lại rào lại bằng lưới, phần sau để lộ thiên, chỉ phần trước có mái lợp để chó ăn ngủ. Ban ngày thì cổng ngăn đôi chuồng mở ra để chó chạy nhảy ra vô thoải mái, chỉ về đêm mới kéo cửa ngăn nhốt chó lại. Mỗi sáng từ tờ mờ là gã phải có mặt. Sau khi cà thẻ bấm giờ đúng 6 giờ theo như schedule, là ba chân bốn cẳng xách đồ nghề xuống dãy nhà ấn định. Việc đầu tiên là mở khóa cổng chuồng thứ nhất, thu dọn hai bô, một bô đựng thức ăn, một bô nước uống bỏ vào chiếc xe cút kít để trước chuồng, kế đến là cuốn gọn lại mền, khăn chó ngủ bỏ vào một xe khác, sau đó là mở cửa ngăn lùa chó ra sân sau xong đóng sập cửa ngăn lại giữ chó ở ngoài để ngăn trong trống mà chùi dọn. Chó Mỹ thì to và vồn vã lắm, cứ mỗi lần gã mở cổng chuồng là nó dồ lên mừng rối rít. Nếu hôm đó may mắn gặp con không ị bậy hoặc sạch sẽ còn đỡ, gã cũng cố gắng vuốt vuốt vài cái cho nó yên lòng rồi kéo ra cửa ngăn đẩy chó ra sân sau rồi đóng lại. Có hôm cũng chuồng đó nhưng lại nhốt con khác nó ị bậy tràn lan cả phòng, cứt đái cùng đồ ăn nhầy nhụa ngập phòng thế mà nó cứ vồn vã nhảy chồm lên người gã cong đuôi liếm mặt liếm tay, cứt đái theo đó dính đầy người gã. Gã thật tình muốn tống cho nó một đạp nhưng sợ camera theo dõi thấy được là gã đối xử tệ bạc với súc vật sẽ bị đuổi việc ngay. Gã làm bộ nựng nựng nó tí chút rồi di chuyển lần lần đưa nó ra sau. Có con càng đẩy nó càng đeo cứng vào gã như cặp tình nhân năm năm trời mới gặp lại! Cứt đái theo đó dính khắp người gã. Thật tội nghiệp thảm thương cho gã lúc đó, có vòi xịt nước trong tay cũng đành bó tay vì xịt nước đuổi chó là hành hạ súc vật! Vật lộn một chặp khi cứt đái dấy khắp người gã mới tròng được nó vào dây dắt nó vòng qua dãy sau để nhốt lại. Bước kế tiếp là dùng vòi xịt bay phân, nước đái thức ăn xuống rãnh trước cổng chuồng. Có chuồng có con ị phân dẽo dính cứng vào sàn xi măng gã phải dùng chủi sắt cọ rửa cho thật sạch mới xịt nước cuốn trôi. Sau khi quan sát lưới sắt trước sau và hai vách ngăn hai bên đều sạch sẽ, gã mới bước ra khỏi chuồng thứ nhất qua chuồng kế. Sau khi chùi dọn 50 chuồng xong qua bước thứ ba là đem xe cút kít đựng bô thức ăn thức uống đi rửa. Kế đó là dùng một dụng cụ như cái gạt nước để lau khô sàn nhà rồi đem xe đựng khăn lông, mền sạch trải mỗi góc chuồng một cái. Cứ mỗi chuồng sau khi lau khô là trải một mền hay khăn lông to ở mỗi góc chuồng. Tiếp đến là đẩy một xe cút kít đựng bô sạch đổ thức ăn và nước uống đưa vào từng chuồng rồi kéo cửa sập cho chó vào ngăn trong ăn uống. Việc ngang đây vẫn chưa xong vì phải đi vòng ra sau chùi dọn và lau khô phía sau. Khi trong ngoài đã sạch sẽ thì mở cửa ngăn cho chó lưu thông chạy nhảy. Tất cả mọi việc phải xong xuôi trước 11 giờ để khách vào tham quan và tìm chó thất lạc. Khi chó chạyra ngăn sau thì ngăn trước đã có con đã ị bậy và ăn uống vung vãi khắp nỏi, gã lại phải dọn một lần nữa.

- 152 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Các chú chó này do “Animal C nimal Control” bắt được khi chú sổng nhà chạy lang thang ngo ạy ngoài đường. Có con gắn chip nên khi đưa lên máy scan ên thì biết chủ ở đâu mà gọi điện báo để chủ đem ọi về. Những chú chó hoang sau khi nu ăn 10 ngày ững nuôi mà không thấy ai nhận thì được specialists phân loại: một là tiếp tục nuôi ở phòng adoption để òng khách mua về nhà, một loại quá ốm yếu hoặc c còn hoang dã quá, không thể thuần phục ần phụcđược thì bị euthanize (có nghĩa bị chích thuốc chết). ĩa bậy trên lối đi. Gã tức quá hét l “ sao mày ức lên: không hốt đi mà bắt tao hốt”. Chừ nhớ lại gã ắt không biết dịch ra sao mà có l giọng nạt nộ của à lẽ gã đã làm cô thư ký chạy đi t manager. Cuối ạy tìm cùng, nhờ cô em can thiệp bảo ông anh bị điếc n ờ nên nói to chứ không có yell hay shout out đâu? V bài ứ Và học gã phải nhớ là qua Mỹ rồi th ông cũng như ỹ thì thằng, đừng có tự hào về quá khứ của m ề mình. Có lúc gã phải đổi phi chùi dọn chuồng ải phiên mèo. Mỗi phòng chứa khoảng 45 đến 50 ứa con. Mỗi phòng có ba dãy, m dãy có ba từng, òng mỗi mỗi từng chứa khoảng 8 hay 10 chuồng. Mỗi ỗi chuồng ba lớp vách bằng inox, chỉ phía tr ồng trước là có cửa song sắt bọc inox. Việc đầu ti là mở cửa ệc tiên chuồng, bồng mèo nhốt vào m chiếc lồng sắt một đặt trên sàn nhà, xong lấy khăn tr ấy trùm kín lồng lại để mèo khỏi sợ. Mỗi đợt nhốt chừng khoảng 5, 6 ỗi con. Sau khi bỏ mèo vào lồng xong, d ồng dùng ghế cao thu dọn từng chuồng ở tầng tr ọn trên trước. Mỗi chuồng có trải một lớp báo 5 tờ, một đĩa giấy ớp 5-6 đựng thức ăn, một hộp giấy đựng cát, một tô bằng ựng inox đựng nước uống móc ở cửa chuồng. V vét ớc Vơ các thứ đó dộng vào thùng rác, tô đ ào đựng nước bỏ vào một sô khác để đem ra rửa sau. Kế đó dùng ột bình xịt đựng nước có thuốc sát tr ớc trùng xịt khắp chuồng, dùng khăn sạch hoặc giấy lau ch kỳ cọ ạch chùi, cho ba mặt chuồng sạch bong rồi lau khô lại một ạch lượt nữa. Chùi xong một dãy t ãy từng ba rồi thì lấy báo đã xếp sẵn trải từng chuồng, đổ thức ăn v ếp vào đĩa giấy, đổ cát vào hộp, xong mở lồng sắt đ ộp, đưa mèo trở lại chuồng cũ, nhớ để lồng sắt theo thứ tự ại để khi đưa mèo vào chuồng không sai vị trí v lý ồng vì lịch mèo đã được đưa vào computer theo s thứ tự ưa số của chuồng. Chùi cho xong 25 đ 30 chuồng đến cũng ngót nghét mất khoảng 4 đến 5 tiếng. Sau ũng đó, đem bô đựng nước đi rửa rồi đổ n ửa nước móc vào từng chuồng như cũ. Nhìn thì t tưởng đơn giản nhưng thật ra nhiêu khê l êu lắm. Mèo bị Animal Control bắt về phần nhiều l mèo hoang nên có ắt là con rất dữ tợn. Chúng lồng lộn trong chuồng nh ất như sư tử cái lên cơn. Chúng nhảy, xé nát lớp báo ló ảy, lót chuồng, cào tung hộp giấy đựng cát l ộp làm phân cùng thức ăn vương vãi khắp n ắp nơi. Trong trường hợp này phải dùng vợt lưới chụp nó lại để đ vào ới đưa lồng sắt. Có con, khi thò vợt l ợt lưới vào chuồng chưa kịp bắt, nó đã nhảy tuột ra kh chuồng lồng lộn khỏi

Phần còn lại trong ngày là gã ph đi patrol ày phải suốt cả hai dãy phòng đâu nhau của trại để xem ủa con nào ị là phải scoop ngay. Có con ị một đống to hơn đống phân trâu, gã cầm cái xuổng xúc phân ầm đổ vào thùng phi muốn gãy cả tay. Phân khô thì scoop, phân lỏng thì dùng vòi xịt cho phân xuống ịt rãnh phía trước lẫn phía sau chuồng. Mỗi công ớc nhân như gã được phát một máy bộ đ ợc đàm. Có lúc dẫn chó từ chuồng số 20 building A l văn phòng ẫn lên cho khách đến nhận. Có lúc nhận lệnh đem chó từ ận xe của Animal Control bắt về đưa vào ắt chuồng. Có con khi dẫn đi, nó không đi m chạy, ẫn mà lôi gã chạy theo có lúc ngã té sập mũi. Mùa lạnh ập thì dầm mưa, mùa nắng dầm nắng. Mùa lạnh thì khốn đốn vì không trốn vào đâu được, phải loanh ợc, quanh dầm mưa suốt ngày. Gã thấm thía cho một ấm tên tròm trèm 60 đi lập nghiệp. Gã n cười khi nực nghĩ nghề ngổng thế này mà về Việt Nam lại có kẻ ề đem hoa đến rước tại phi trường. (làm như t cả àm tất Việt kiều là quan trạng vinh quy bái tổ về l ạng làng thứ thiệt không bằng!). Mấy tháng đầu, g bị chối ấy gã nước dữ lắm. Gã nhớ có lần vừa chùi d hai dãy ùi dọn chuồng xong lên văn phòng đứng thở th con thư ứng thì ký Mỹ trắng kêu gã đứng gần đó h phân chó ị hốt

- 153 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
phóng khắp nơi. Trận chiến giữa người và vật xảy ra đem đủ đại họa cho gã. Mèo phóng vào phi đựng thức ăn làm thức ăn vương vãi khắp nơi, nó phóng vào thùng phi đựng cát làm bụi bay mù mịt đến độ ngộp thở không còn trông thấy nó nhảy đâu nữa. Quần nhau cả chục phút mới đưa được nó vào lồng sắt, nhìn bãi chiến trường mà ngao ngán muốn xỉu….Có con còn nhảy vào mặt gã cào cấu. Mỗi lần bị mèo cào như vậy tụi Mỹ trắng làm report, được phép nghỉ để khám bác sĩ, chích ngừa, riêng gã vẫn tỉnh bơ xem như chuyện nhỏ,vẫn tiếp tục làm việc cho xong ca của mình. Một phần vì kiến thức y khoa của mình, phần vì người Á đông xem thường việc mèo cào, chó cắn. Thậm chí để tiết kiệm giờ giấc, gã không những không nghỉ break time mà có lúc quá bận, gã dùng thời gian lunch time ăn luôn tại phòng mèo cho tiện! Có lẽ nhờ sự tận tụy ngu dốt của mình mà hai năm sau gã nhận được bằng khen của cơ quan! Làm phòng mèo thì vất vả hơn nhưng được cái là trốn lạnh vào mùa đông, khỏi đi ra ngoài trời dầm mưa dải nắng. Làm việc được một thời gian, gã được phái qua phòng tiêm chích để giết chó mèo. Số là chó mèo sau khi bắt về được nuôi nhốt một thời gian để thân chủ đến nhận (phải đóng tiền trả chi phí nuôi ăn tùy theo lâu mau). Sau một thời gian quy định nào đó, nếu không còn thân chủ nào đến nhận nữa thì đến lượt các Animal specialists lựa con nào có thể nuôi dạy được thì đưa qua phòng adoption để khách tới chọn mua đem về nuôi, số còn lại phải qua phòng euthanize để chích thuốc cho chết. Mỗi ngày cơ quan của gã giết ít nhất cũng vài chục con, xác được đưa qua phòng lạnh để ngày mai có xe đến chở đi thiêu. Thật phí của trời trong khi ở VN không có đủ thịt cầy để cung cấp cho tứ chúng! Sau khi được training cách ôm chó, mèo, và chó thì chích ở đâu, mèo chích ở đâu. Lượng thuốc tính theo pounds của mỗi con, tóm lại làm cách nào để chích một mủi là chó hay mèo nằm ngay đơ không cựa quậy. Có một lần gã nhớ mãi một con chó rất đáng yêu, cao to, lông trắng, đốm đen. Gã vừa ôm nó là nó liếm tới tấp ra chiều trìu mến lắm. Gã nói với tên co-worker người Mễ là lên văn phòng xem lại hồ sơ con chó này vì gã nghi ngờ chó có chủ chứ có phải chó hoang đâu mà ngoan thế. Tên Mễ lên văn phòng một chặp, rồi trở xuống bảo đừng chích, chó có chủ, thế là nó được đưa lại vào chuồng đợi. Gã về kể với vợ công việc giết chóc hằng ngày, vợ gã dãy nãy bảo gã xin qua làm chỗ khác, đừng giết nữa. Gã lên gặp manager xin đổi qua việc chùi dọn chuồng chó mèo và nói láo là bị dị ứng với formol trong phòng. Sau vụ 911, kinh tề Mỹ bị suy sụp, cơ quan của gã lại là một tổ chức dựa trên từ thiện, donation từ các benefactors giảm dần, cơ quan phải cắt giảm biên chế. Một số nhân viên bị loại. Gã bị laid-off vì không làm được ở phòng euthanize! Gã thất nghiệp một thời gian lại mò mẩm nộp đơn xin việc làm khác. Kể từ ngày qua Mỹ gã đã có tổng cọng trên mười jobs! Gã nhớ lại ở VN, lúc còn dạy một lớp sinh viên tại chức ngành cơ khí, nhân kỳ thi cuối năm, một số sinh viên đại diện đến nhà gã xin điểm để được pass môn Anh văn, gã đã nâng điểm cho họ. Kể cũng tội nghiệp, họ đi tàu cả tháng trường trên biển thì giờ đâu mà học, với lại đa phần sinh viên là gốc cán bộ nên Anh văn càng tệ. Thôi thì gặp thời thế thế thời phải thế, gã nhắm mắt làm ngơ cho qua ải, thiên chức nhà giáo có sa sút chút đỉnh cũng không sao! Sau đó thì thầy được mời nhậu mệt nghỉ. Có lúc các cậu còn cho gã Whisky mà họ mua được khi đi tàu viễn dương công tác. Gã thấm thía những ngày tháng ở Mỹ nhưng không lấy thế làm buồn. Nhìn lại lịch sử Mỹ, cha ông của họ đã phải vật lộn với đói khát, giá rét, chết chóc gian khổ như thế nào trên bước đường lập nghiệp để có được một nước Mỹ ngày nay. Gã cũng chỉ là hạt cát bám vào bánh xe lịch sử của vùng đất hứa này. Con đường gã đang đi có là một sạn đạo cũng phải thôi vì vỉa hè của Mỹ cũng lát bằng đá cát chứ không phải bằng vàng như những ai đã từng mơ ước./. NGUYỄN LONG

- 154 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Vè món bún bò

Mưỡu
Làm thơ để trả nợ đời, Văn chương kiểu mới của người hôm nay. ời Bánh nậm đem biếu thợ cày ày, Xôi gấc mời chú đánh giày kinh đô. ày Bánh khoái tặng em giữ b ặng bò, Chạo tôm đãi những em mò ốc b bươu. Sâm nhung và chén sữa hươu ươu, Kỉnh anh hốt rác phong lưu nh đời. ưu nhất Chung vui góp tiếng thở d ếng dài, Chia buồn vang mấy tiếng cười oái ăm! ời

Bún bò
Trải qua hơn bốn chục năm, Thể thơ thành điệu vè thăm bún bò. Chẳng cần trổ giọng hát hò, Mấy lát bắp chuối đã mò ra khay. Rau thơm điểm chút cay cay, Giá sống xà lách hành tây rộn ràng. Thêm miếng chả Huế cho sang, Lều bều cục huyết ngỡ ngàng tình em. àng Cám heo quậy lúc nửa đêm, Ép mấy cọng bún trụng trên bếp hồng. ếp Tích xưa Gia Định đàng trong, Theo Đức Từ Dũ một lòng tòng phu. (1) Ra tận xứ Huế mịt mù, Bún bò cùng sả chu du xứ người.

Cung Diên Thọ Vương Phi th (2), ương thời Thêm chút ruốc Huế để đời về sau. ốc Mắm Bò Hóc (3) nào có đâu, Nước lèo thay đổi giải dầu thời gian. ổi Xa nhà vạn dặm quan san, Hoài hương thôi cũng như ngàn khói mây. ư Đơn sơ mấy lát khóm gầy (4), Nửa thỏi bò bắp cũng đầy một ang. (5) ắp Rau răm, ớt bột phi vàng, Đường hùn(6), nước mắm làng nhàng hành xanh. àng (7) Bún tươi mảnh lá xếp quanh ếp quanh, Móng heo vài “ngoéo” (8)chòng chành l sôi. lửa (9) Giò trước cột lạt cùng ngồi ồi, Chung vô một “đoại”(10) mời ng ời người đồng tâm. Từ khi Ngài Ngự quang lâm, Cho mở hội chợ vào năm con mèo (11) . ào Bún bò được thể chơi trèo, Bày món bò tái (12)ai theo được n ợc nào. Đến khi Ngài Ngự thoái trào, , Bún bò lại phải trở vào ngày xưa. ào Rồi thì sau những nắng mưa, Kinh tế kiệm ước mới đưa huy vào. ưa huyết Thêm mớ rau sống lao xao, Vì nghèo nên phải nghẹn ngào chìu theo! ào Cát lầm chẳng dám than kêu, , Giống như thảm cảnh Kiều vào l xanh. ào lầu Rau thơm, giá sống, huyết tanh ống, tanh, Trộn vào lổn nhổn lềnh bềnh quăn queo. ổn Ngày xưa ngọc gác vàng treo àng treo, Ngày nay thành món bên đèo n đêm. nửa Còn đâu phủ các êm đềm, Nên chi mèo chó trèo lên cổng th ổng thành (13) . Bún bò đành phải nín thinh, Tảo hôn xuất giá rời kinh nghẹn ng (14) . ảo ngào Vô Nam trộn mấy cọng rau, Di tản chả Huế theo nhau một đo (15) . ản đoàn Bún Bò chừ rất huy hoàng, Như vua Khải Định trăm ngàn huy chương! àn Đành lòng trước cảnh tang th ớc thương, Quá nhiều người Huế tìm đường v Nam (16) . ờng vào Quê cha đất tổ bao năm, Bây chừ dân ở Nghệ An lấn v ừ vào. Quảng Bình, Quảng Trị lao xao ảng xao,

- 155 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Chỉ dùng nấu bún từng ngày bán rong. ày Bây chừ còn cái mô không? Muốn coi có lẽ vô trong bảo t ốn tàng! Đoại kiểu thay thế đoại ngang ại ngang, Của làng Đồn Đột (19) chẳng sang chút n ẳng nào! Bún xưa ngon biết dường bao! ờng Bún nay nhất trí xếp vào … “Bún Nay”! ào Bún bò Mặn, Bún bò Chay. Mì căn phù chúc lựa bày vui ghê. ày Vô chay ra mặn chẳng chê, Thêm chút hành tỏi không hề chi mô! ỏi Nước ruốc với bột cốt bò, Nêm vào mấy muỗng cũng cho l lành! ấy là Chay mặn cốt ở lòng thành, Nồi bún lổn nhổn ngon lành cách chi! ành Khó mà nấu được như ri, Người xưa ngoảnh lại đã đi m rồi. mất Trước tê ăn bún ngắm nồi, Bữa ni bún gánh biết ngồi xích lô (20) . ữa Chao ơi hai tiếng “Bún Bò”, Lại thêm chữ “Huế” thiệt to nối liền. ữ Đông Ba hỏi nhỏ Trường Tiền ờng Tiền, Khi mô có “Bún Bò Miền” rứa “En”? ền”

Xưng là dân Huế gọi nhau “Chúng Miền”. ế Huế “Cam Lộ”, Huế “Bình Điền”. Chính Huế “Ái Tử” mạ hiền bồng con. ế Đông Hà thiếu trái bòn bon, Bến Đá chừ thiếu mấy con cá tràu.(17) Bó chè đậy chiếc gàu cau, Tiếng Bọ xin lỗi liền sau tiếng chào. Bằng lòng thì xách gàu vào, Còn không thì chọn nơi nào tùy “En”. (18) ơi Huế chừ như bánh “Ít Đen”, Có ngọn “Cờ Đỏ” treo trên kỳ đài. Trường Tiền bớt nét thanh bai, Vì thiếu bún gánh nặng vai nối hàng. àng. Gánh từ An Cựu gánh sang, Áo dài nón lá dịu dàng ban mai. Nồi nhôm bầu đáy không quai,

Thái Cát
California 12/2011 (Trích: Vè Món Ăn Huế)

Chú thích: (1) Đức Từ Dũ tên thật là Phạm Thị Hằng sinh năm Canh Ngọ (1810), con của quan th ạm thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng, quê ở Gia Định. Mẹ mất lúc h 12 tuổi. Ra Huế ở với cha. Năm sau, đ hơn ổi. được vợ vua Gia Long là bà Thuận Thiên Hoàng Hậu chọn cho l ậu làm vợ hoàng tôn là Miên Tông tức l vua Thiệu Trị và ức là sinh được 3 người con. Năm Giáp Thân (1824) sinh công chúa Diên Phúc. Năm Bính Tu (1826) sinh ời Diên Tuất công chúa Uyên Ý. Năm Kỷ Sửu (1829) sinh ho ỷ hoàng tử Hồng Nhậm tức là vua Tự Đức. Ng ự Người nhà của Đức Từ Dũ mang ra Huế rất nhiều đặc sản miền Nam nh mận (Huế gọi là đào tiên), xoài, măng c cá ức như iên), cụt, lóc, cá phác lác (thác lác), cá sấu, trích, trĩ, cách l ấu, làm bún nước lèo, tôm chua, v.v. Tôm không lu với èo, luộc nước mắm nên tôm chua không để đ ể được lâu. Bún nước lèo được biến chế không còn dùng m òn mắm bò hóc, mà thay bằng ruốc làm bằng con khuyết của biển Thuận An. Không dùng cá lóc, tôm th như trước mà ằng dùng thịt thay bằng thịt bò và giò heo của giới nh giàu. Chồng của bà là hoàng tử Miên Tông ra đ ngày 11 tháng ủa nhà ng đời 5 Đinh Mão tính theo dương lịch là ngày 15/6/1807 tại phủ Phúc Quốc ấp Xuân Lộc sau gọi l Ngự Viên, à tại là tức là tại nhà của ông ngoại Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi. Đ ủa Được 13 ngày thì mẹ là H Thị Hoa (Tá Thiên à Hồ Nhân Hoàng Hậu) mất, bà nội là Thu Thiên Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long) mang v cung. Năm 1830 Thuận ậu vào được phong Trường Khánh Công. V ở trong cung nên không xây phủ Trường Khánh trong khi các em ờng Vì ờng xây phủ Thọ Xuân, phủ Tùng Thiện, phủ Tuy Lý v.v. Năm 1841 l ngôi lấy niên hi là Thiệu Trị. Năm ện, lên ên hiệu 1844 xây tháp Từ Nhân trước chùa Thiên M sau đổi là tháp Phước Duyên. Năm 1846 cho d ùa Mụ ên. dựng chùa Diệu Đế trong khuôn viên phủ Phúc Quốc v đúc chuông lớn có khắc ngũ đại đồng đ ủ và ũ đường ghi việc triều
- 156 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Nguyễn có được 5 đời sống chung một nhà tính từ Vợ vua Gia Long là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (sinh vua Minh Mạng) - Vợ vua Minh Mạng là Thục Tần Nguyễn Thị Bảo (sinh Tùng Thiện Vương), Tiệp Dư Lê thị Ái (sinh Tuy Lý Vương) – Vợ vua Thiệu Trị là Quý Tần Đinh Thị Hạnh (sinh Hồng Bảo) – Vợ An Phong Quận Vương Hồng Bảo vừa sinh con trai là Ưng Đạo (cháu nội vua Thiệu Trị). Cá của Đức Từ Dũ nuôi trong hồ sau vườn phủ Phúc Quốc thường thoát ra ngoài bơi về các sông hồ trong những trận lụt tháng mười hàng năm và sinh sản mạnh. Đại Nam Nhất Thống Chí các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên v.v. mục Thổ sản không ghi loại cá lóc (cá tràu). (2) Cung Diên Thọ là nơi ở của Đức Từ Dũ trong Đại Nội. (3) Mắm Bò Hóc là một loại mắm của người Miên làm bằng cá linh trong mùa nước nổi hay bằng cá lóc.Mắm bò hóc phiên âm từ tiếng Khmer (Miên) là pro-hok hay prahok. Có 3 loại mắm bò hóc chính: Prahok chow là mắm sống, Prahok gop hay prahok ang là mắmtrộn thịt, gói lá chuối rồi nướng, và Prahok jien tức mắm bò hóc chiên. (4) Khóm tức là trái thơm, trái dứa. Biết cách dùng sẽ làm lát thịt bò trong tô bún có màu hồng tươi không bị thâm đen. (5) Ang giống như chậu nhưng thành ang cao hơn, làm bằng đất nung, thường dùng nấu bánh canh hay nước dùng cho bún đủ loại. Thứ ang lớn dùng đựng nước vẫn gọi là ảng (cái ảng) để phân biệt. (6) Đường hùn là loại đường cát màu nâu, chưa khô hẳn. (7) Gọi là bún lá. Bún vớt ra, nhúng nước lạnh xong xoay xếp trên mảnh lá chuối từng miếng đều nhau. Không xếp trên lá chuối thì gọi là bún con hay bún vắt. Làng Vân Cù xứ Huế sản xuất bún ngon nổi tiếng. Vùng Chợ Sòng thuộc tỉnh Quảng Trị có món bún Vắt lừng danh. (8) Ngoéo là phần cổ chân heo gồm cả móng, dòn ngon. (9) Giò trước: Giò heo trước ngon hơn giò heo sau. Mình ăn giò sau, đãi nhau giò trước. Chân giò thường được chặt mỏng, thỉnh thoảng lại có cột thêm sợi lạt tre nhỏ để khỏi bung lớp da. (10) Đoại: Cái đọi, cái tô phát âm giọng Huế. (11) Năm Kỷ Mão 1939 vua Bảo Đại có cho mở Hội Chợ tại Huế, đấu xảo nhiều thứ thổ sản, thủ công, bánh, mứt, cơm, cháo, bún, chè, hát, hò, v.v. (12) Bún bò thịt tái như kiểu phở tái. Về sau vì không được chuộng nên không thấy bán nữa. (13) Trong Đại Nội có lệ cấm nuôi mèo và chó cho đến khi Tây Bảo Hộ. (14) Bún bò khai sinh khoảng dưới triều Minh Mạng (1820-1841). Khi vua Bảo Đại thoái vị, bún bò cũng đã trên 100 tuổi. Sau năm 1954, bún bò chính thức về làm vợ Việt Nam Cọng Hòa trong Sài Gòn và sau năm 1975 lại xuất giá ra các nước ngoài. Vì lớn hơn chồng quá nhiều tuổi nên tạm gọi là tảo hôn. Bún Bò Cua Gạch gọi tắt là Bún Bò Cua hay Bún Cua có họ hàng với Bún Bò Giò Heo nhưng không chịu xuất giá thành ra vẫn còn ở Huế. Lại còn lại bún bò huyết vịt vùng An Cựu cũng khá nổi tiếng. (15) Sau năm 1975, tô bún bò thêm vào cục thịt heo xay luộc chín gọi đại là chả Huế. Lại thêm nhiều thứ rau như rau má, rau đắng, bắp cải, bắp chuối, bạc hà hay dọc mùng, v.v. (16) Sau năm 1975, rất nhiều người Huế đi kinh tế mới, đông nhất vào ở Bà Rịa chuyên phát bụi rửa đất phèn lập vườn trồng cây tiêu và đào lộn hột tức trái điều. Bây giờ (2011) bị ép bán vườn vì nhà nước thu mua, trở thành tỷ phú. Tiền bán phải ký thác ngân hàng, đến kỳ lãnh vài triệu tiền lời, hồi hộp lo quy chế thay đổi hoặc ngân hàng phá sản. (17) Cá tràu tức cá lóc – Đặc sản của miền Nam. Sau khi cá nở vài tuần, gọi là cá ròng ròng có màu đỏ cam giống như trái ớt chín. Cá lóc rất mạnh, ăn tạp, sinh sản nhanh. Người nhà của Đức Từ Dũ cho mang cá ròng ròng ra Huế. Đường xa muôn dặm, khó khăn trăm bề. Ra tới Huế thì cá đã lớn, chuyển đổi thành màu hồng xám giống như cái bã trầu nên gọi là cá Bã Trầu. Sau gọi tắt là cá Trầu và cuối cùng là cá Tràu. Lúc cá lớn bằng ngón tay cái, buổi trưa nắng nóng hay vào sát bờ, thỉnh thoảng có con phóng lên ra khỏi hồ rồi “cằn” trở lại nên có tên là cá Tràu Cóc (Cóc có nghĩa là nhảy). Khi cá lớn bằng cán dao, lưng đen, bụng xám hai bên hông có vân giống như trái dưa Quả ở Huế nên gọi là cá Quả, thấy rõ ràng nhất là sai
- 157 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
khi làm thịt chặt vi cạo vảy. Cũng chính vì những hoa văn trên thân cá nên lại có thêm tên là cá Tràu Cẩn. Cá già, nét hoa văn rõ đậm gọi là cá Tràu Bông, nổi tiếng là loại cá dữ. Ra tới tỉnh Thanh Hóa thì gọi là con cá Chuối. Đi lần tới Hà Nội cá Chuối hay cá Quả có thêm một tên nữa là cá Quạ, ít dùng. Tên cá Quạ được giải thích là vì thoạt trông thấy đen như con quạ. (Lại còn giải thích khác là chữ có dấu hỏi đọc giọng Nghệ-Tĩnh-Bình của miền Trung thành dấu nặng. Người Huế có khi đọc chữ mang dấu ngã thành dấu nặng như Đức Từ Dũ thành Từ Dụ, hồ Tĩnh Tâm thành Tịnh Tâm,… Đặc biệt thôn Vĩ Dã thành Vĩ Dạ chứ không là Vị Dạ…) Cá lóc và cá phác lác của Đức Từ Dũ nuôi trong hồ sau vườn phủ Phúc Quốc thường thoát ra ngoài bơi về các sông hồ trong những trận lụt tháng mười hàng năm và sinh sản mạnh. Cá phác lác thích sống trong dòng nước chảy nên khi vào sông An Cựu sinh sản mạnh thường tụ thành bầy đến nỗi có một cái cống dọc theo bờ sông mang tên là cống Phác Lác. Vua Thiệu Trị thích câu cá nên sau khi lên ngôi cho thả thêm cá lóc và cá phác lác vào ao Minh Giám trong Đại Nội và mấy ao ở quê nội thuộc làng Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa. Hình ảnh con cá tràu được tượng trưng cho bộ phận sinh dục đàn ông cũng như con ngao, con sò, hay con cá diếc tượng trưng cho cái giống của đàn bà. (18) Ngày xưa, làng Cù Hoan, xứ Bến Đá, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có tục dùng cá tràu và bó lá chè tươi để đi hỏi vợ cho con. Bọ lấy mo cau làm cái gàu chứa nước nhốt con cá tràu, trên đậy bó chè để ngoài cửa ngõ nhà gái xong vào nhà. Sau khi chào hỏi xã giao, liền thường hay nhập đề như sau “Dạ! Nói xin lỗi… Bựa ni tui đi ngang, có bơn theo con cá và bó chè đang để ở phía ngoài tê… Nói xin lỗi… Nếu như khôn có chi trở ngại, tui xin phép en được cho đem vô nhà…” (Bọ nghĩa là cha, là ba; bựa nghĩa là bữa, là hôm nay; bơn nghĩa là bưng, là mang theo; khôn nghĩa là không; en nghĩa là anh.) (19) Làng Đồn Đột (Đột Đột, Kẻ Đột) tức làng Phước Tích bên dòng sông Ô Lâu huyện Phong Điền phía bắc Thừa Thiên chuyên sản xuất đồ gốm như nồi, trách, ang, dĩa, chén, v.v. (20) Hiện thời các gánh bún ở Huế di chuyển đến nơi bày bán bằng xe xích lô đạp.

Vui Cười
Người bán hàng siêu đẳng Một anh chàng từ nông thôn ra thành phố xin được làm chân bán hàng tại cửa hàng bách hoá trung tâm..Ông chủ hỏi anh ta:- Anh đã có kinh nghiệm trong công việc này chưa?- Rồi, thưa ông! Tôi từng bán hàng ở quê - Chàng trai đáp.Tốt! Cậu sẽ bắt đầu thử việc vào ngày mai và tôi sẽ đến kiểm tra kết quả công việc sau khi hết giờ làm - Ông chủ nói.Với chàng trai, ngày làm việc đầu tiên dài đằng đẵng và thật căng thẳng nhưng mãi rồi cũng tới 5h chiều. Ông chủ xuất hiện và hỏi:- Hôm nay cậu phục vụ được bao nhiêu khách hàng?- Một. - Nhân viên bán hàng mới đáp.- Mỗi một thôi à! - Ông chủ nổi giận - Hàng ngày, mỗi nhân viên của tôi phục vụ được 20 đến 30 khách hàng kia! Thế cậu bán được bao nhiêu tiền?- Ba trăm nghìn đôla, thưa ông.- Thế quái nào mà cậu bán được nhiều như vậy? - Ông chủ ngạc nhiên.Chàng trai giải thích:- Ông khách đó vào cửa hàng và tôi bán cho ông ta một lưỡi câu nhỏ, rồi một lưỡi câu vừa và cuối cùng là một lưỡi câu cỡ đại. Tiếp đó, tôi bán cho ông ta một sợi dây câu nhỏ, một sợi vừa và một sợi lớn. Tôi hỏi xem ông ta câu cá ở đâu và vị khách đáp: "Ở bờ biển". Tôi gợi ý ông ta nên mua một chiếc xuồng câu rồi đưa ông tới bộ phận bán thuyền, thuyết phục ông mua một xuồng cao tốc dài 7 mét gắn 2 động cơ. Chiếc Wolkswagen của ông ấy không kéo nổi cái xuồng nên tôi bán cho ông một chiếc Cruiser Deluxe nữa.Ông chủ loạng choạng vì choáng:- Cậu bán tất cả những thứ đó cho một người vào mua lưỡi câu? - Không! - Chàng trai đáp - Ông ta hỏi mua băng vệ sinh cho vợ, và tôi bảo: "Kỳ nghỉ cuối tuần của ông thế là hỏng rồi. Có lẽ là ông nên đi câu cá!".(NM8)

- 158 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

AMSTERDAM, THỦ ĐÔ
CỦA BẢO TÀNG NGHỆ THUẬT Ệ
Lữ Quỳnh
(Tạp văn)

Quảng trường ở thủ đô Amsterdam – Hòa Lan

Từ Namur (Bỉ) đi Amsterdam (Hà Lan) m ) mất bốn tiếng ngồi tàu điện. Khởi hành lúc 8 gi 30 i giờ sáng, xuống ga Amsterdam 12 giờ 30. Có m lần một đổi tàu ở ga Liège đi Maastrict. Ga Liège r đẹp rất và hiện đại được xây dựng bằng thép, kính và bê ng bêtông trắng. Là ga chính của thành ph cùng tên, a phố thành phố lớn thứ ba của Bỉ. Liège là m trong ba . một nhà ga có tàu tốc hành với lượng khách m ngày ng mỗi 36.000 người. Maastrict là ga đầu tiên trên đ Hà u đất Lan, cổ kính với tường màu nâu đen, ti nhận g tiếp khách từ Liège đến. Maatrict cũng là thành ph du à phố lịch, có trường đại học lớn, hàng năm thu hút n, nhiều sinh viên trong nước và ngoại qu i quốc. Đường phố Amsterdam tấp nập ngư đi bộ. p người Nhà ga đẹp, đồ sộ như phần lớn dinh th ở đây, n thự tường sơn màu nâu sẫm kẻ chỉ vàng. Ngay trư trước ga là trạm bus, xe chạy cách nhau vài phút. Chúng y tôi vào trạm lấy vé đi suốt ngày. Xuố trung tâm ống thành phố, chen vai với rất đông du khách Một số t khách. lớn họ đi xe đạp. Có thể nói Amsterdam là thành phố của xe đạp. Vào lúc xế trưa, trái v dự báo với thời tiết đêm qua là hôm nay trời n i nắng ấm, nên chúng tôi không ai mang theo đồ l lạnh, bây giờ người nào cũng co ro nép mình theo hiên ph tìm ình phố quán ăn, quán cà phê. Tuy nhiên không vì th mà thế

Amsterdam mất đi vẻ đẹp, v những nét cá biệt p, với của mình. Là thành phố lớn nhất, th đô của vương t, thủ quốc Hà Lan, với dân số chưa t tám trăm ngàn, tới nhưng có đến bốn triệu du khách nư ngoài hàng u nước năm. Amsterdam cũng là thủ đô của một nền tài ủ chánh, văn hóa lâu đời, có sông Amstel thơ m i, mộng chảy qua. Dọc bờ sông rải rác nhi quầy bán vé i nhiều tàu du lịch (canal cruises), vớ giá 13 euro cho 75 ới phút đi trên sông. Nếu bao g u gồm cả vé vào thăm các viện bảo tàng thì có giá khác, như vào Van o Gogh Museum 27 euro, vào Amsterdam Museum 23 euro…. Dọc một đoạn sông dài có nhi căn nhà nổi n nhiều làm tôi nhớ đến những bè cá và nhà n trên sông ng nổi La Ngà, Định Quán mỗi lần qua đây trên đư n đường đi Đà Lạt. Khác ở chỗ trên sông Amstel nhà n nằm nổi liền nhau cố định trong khi nhà n ở La Ngà thì nh nổi trôi nổi theo con nước. La Ngà c c. cũng nhắc nhớ đến tên con gái đầu của người bạ thân bị tai nạn giao ạn thông trên đường làm công tác xã h trở về. ng hội Cháu La Ngà học năm cuối Y khoa Sài Gòn. Tôi i từng lặng người khi đọc nhữ câu thơ của bạn ững viết cho con.

- 159 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Đứng ở trạm vé Candleligh Cruises, nhìn m mưa nhẹ như một màn sương mỏng trên m sông, ng mặt cảm thấy lòng bâng khuâng thế nào. L vé đi bảy Lấy mươi lăm phút, xuống bến và chỉ năm phút sau th thì tàu khởi động. Hai bên bờ sông là nh ông những dinh thự đồ sộ hài hòa tiếp liền nhau. Có th nói n thể Amsterdam là một trong những thành ph đẹp của ng phố Châu Âu. Viện bảo tàng phần lớn nằm d các bến m dọc sông. Nơi đông du khách vào thăm nh là Nhà nhất tưởng niệm Anne Frank: Cô sinh năm 1929 t m tại Đức và chết năm 1945 trong trại t trung của i tập Đức Quốc Xã, ở tuổi mười lăm. Gia đ i đình Anne có thời gian sống ỏ Amsterdam từ 1933 cho đ ngày đến bị quân Đức chiếm đóng. Sau khi chi tranh kết m chiến thúc, một người trong gia đình may m sống sót ình mắn trở về Amsterdam và tại đây tìm thấ cuốn Nhật ấy ký của Anne Frank. Năm 1947, The Diary of a Young Girl được xuất bản lần đầu tiên và d u dịch ra nhiều thứ tiếng. Du khách đã im lặng x hàng dài ng xếp trước nhà tưởng niệm. with Crows) rất nổi tiếng c ông, vẽ vào năm ng của 1890, cũng là năm Van Gogh ra đi ở tuổi 37, được à bày ở đây. Ngoài hội họa, Van Gogh còn để lại a, mấy trăm bức thư viết cho b bè và người em t bạn Theo của ông.

Có thể nói Amsterdam là th đô của bảo tàng thủ nghệ thuật. Đất nước Hà Lan đ sinh sản rất nhiều c đã nhân tài trong những th ng thế kỷ qua. RembrandtHouseMuseum, nguyên là ngôi nhà mà seMuseum, họa sĩ nổi tiếng của thế kỷ th 17 này đã sống và thứ vẽ trong nhiều năm. Rembrandt là h sĩ lớn trong u họa lịch sử nghệ thuật Âu Châu, và quan tr t trọng nhất đối với Hà Lan. Sự đóng góp c ông bước vào của thời kỳ mà những sử gia gọ là Thời Đại Hoàng ọi Kim của Hà Lan ( Dutch Golden Age) Ông sinh Age). năm 1606 tại Hà Lan và m năm 1669 ở i mất Amsterdam, Hà Lan. Còn nhiều viện bảo tàng, nhi địa điểm du o nhiều lịch thú vị khác mà chúng tôi không th ghé vì thể thời gian ngắn ngủi, như Amsterdam Museum, i, Rijksmuseum, museum, Hermitage Amsterdam, Amsterdam Dungeon, Heineken Experience…..Đ Experience…..Để được viếng các viện bảo tàng này, du khách ph o phần lớn di chuyển bằng tàu (Cruises), v ngắm cảnh ng vừa trên sông vừa muốn xuống b cứ bến nào cũng ng bất được.

Van Gogh Museum là viện bảo tàng l nhất o lớn thế giới với nhiều tranh sơn dầu và phác h bằng u họa chì (drawings), có gần triệu du khách m năm. u mỗi Bức “Cánh đồng lúa mì với Bầy quạ (Wheatfield ạ”
- 160 -

LỮ QUỲNH Sep.,2011

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

- 161 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Làm sao quên

Làm sao quên được Huế hở trời ợc Những ngày nắng lụa, lá me r ắng rơi Mơn man chân bước tr đường vắng ớc trên Áo lộng đôi tà, nón buông lơi ? à, Làm sao quên được Huế hở trời ợc Thành quách cổ kính Tịnh Tâm ơi ổ Sen hồng bát ngát nhẹ h ồng hương rơi Đường về Thành Nội, ôi quen thuộc ? ội, Làm sao quên được Huế hở trời ợc Thủy Tạ, Khiêm Lăng chi xuống nhẹ êm chiều Hai hàng sứ trắng xanh xanh lá ứ Bậc cấp rêu phong gió la đà ? êu Làm sao quên được Huế hở trời ợc Dòng sông mát lạnh, gió đ trôi ạnh, đùa Cầu cao dáng bạc thiếu mất rồi ầu Còn đâu áo trắng thương v vợi ? ương vời Làm sao quên được Huế hở trời ợc Những người nằm xuống cho Huế dậy ời Vững mạnh sau bao biến cố đời ững Thắp nén hương lòng khấn muôn n ? ấn nơi Làm sao quên được Huế hở trời ợc Hàng Me, Hàng Đoát, hàng phư phượng đỏ Gia Hội, Đông Ba thuở học tr ội, trò Vân Lâu, Thừa Phủ nhớ con đ ? ừa đò Làm sao quên được Huế hở trời ợc Những chiều tan học qua cầu trắng ững Trắng cả dòng đường, bến nư xanh ước Cho lòng e ấp, nhớ mong manh ? Làm sao quên được Huế hở trời ợc Chiều nay mưa nhé, nhớ mang t ớ tơi Kẻo không mưa xuống làm ướt áo ớt Đừng để ai nhìn dưới mưa rơi ? ưa Làm sao quên được Huế hở trời ợc Những ngày đông, giá buốt nơi nơi ơi Làm cho ai đó không về học Để nhớ thẩn thờ đầy lại vơi ? ơi Làm sao quên được Huế hở trời ợc Những chiều thu biếc, gió dâng kh ững khơi Chiếc khăn quàng tím nhẹ chơi vơi ơi Tím mãi trong tôi đến trọn đời ? ến Làm sao quên được Huế hở trời ợc Nắng lên mưa xuống luống bồi hồi ống Trời Huế trong tôi, tình Non N ình Nước Non Nước muôn trùng dạ khôn nguôi ??? YLA Lê khắc Ngọc Quỳnh
- 162 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

TẢ NGẠN VÀ HỮU NGẠN
Tâm bút của TRƯƠNG DUY CƯỜNG (Viết kính tặng quý Thầy LÊ HỮU MỤC, BÙI NGOẠN LẠC, Bác sĩ NGUYỄN HY VỌNG và các bạn học cũ NGUYỄN VĂN LÂU, NGUYỄN ĐỨC MAI, LÊ KHẮC NGỌC QUỲNH, LỮ BÁ DIỆP, MAI THỊ HẢO, NGUYỄN VĂN ĐÁO, DƯƠNG ĐỨC PHƯƠNG định cư tại Hoa-Kỳ) Vì cuộc sống hiện tại, cách xa một đại dương hơn hai mươi năm rồi nên chúng tôi họa hoằn lắm mới gửi cho nhau một lời nhắn ngắn ngủi hay chút quà văn nghệ qua một người bạn đi-và-về. Tuy nhiên những tâm tình, đam mê và nghề nghiệp thời trẻ vẫn gắn liền hai người bạn tuy không gọi là thân thiết lắm nhưng đồng điệu : nhà giáo, nhà thơ, nhà viết ca khúc lãng mạn :TÔN THẤT LAN và TDC. Giữa thập niên 1950, chúng tôi cùng học một lớp thuộc ban văn chương tại ngôi trường thân yêu QUỐC-HỌC, cùng đam mê Anh văn, Triết học và viết ca khúc rồi đàn hát với nhau mỗi khi có dịp tham gia“văn nghệ bỏ túi” giúp vui bạn bè hoặc trong đại lễ KỶ NIỆM 60 NĂM TRƯỜNG QUỐC HỌC tổ chức tại HUẾ 1956. Khi sống ở kinh đô cũ, một đứa ở hữu ngạn và đứa kia ở tả ngạn và chiếc cầu Trường Tiền, sáu vài, mười hai nhịp hay những chiếc đò máy nối liền hai bờ Hương giang thơ mộng, một bên là Chợ Đông Ba với bên kia làTòa Khâm, nên tuy xa mà gần, tuy gần mà xa khi phải đạp xe đạp hay đi solex, mobylette mỗi lúc cần gặp nhau. Ngày tháng lặng lẽ trôi qua trong một đất nước thanh bình sau những năm đầu của hiệp định đình chiến Geneve 1954. Xong bậc trung học, TTL theo ngành sư phạm Anh văn, tôi theo học văn khoa. Rồi TTL tốt nghiệp về dạy học tại Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, tôi về Trần Quý Cáp, Hội An. Sau đó đến tuổi “động viên”, tôi rời phấn trắng bảng đen của nghề “ bán cháo phổi” “godautre” lên đường nhập ngũ trước bạn tôi vì TTL kém tôi vài tuổi. Sau khi mất nước nhiều năm, lúc ra tù cải tạo, tôi lại gặp TTL tại Saigon. Bạn tôi vẫn đam mê nghề dạy học cùng với một bạn cũ cùng nghề NGUYỄN XUÂN CHINH (đã quá cố) và TTL tiếp tục viết ca khúc.Ngày 16 tháng 4 năm 2007, một người bạn từ Việt Nam về trao quà của TTL gửi cho tôi: một CD ca khúc TTL sáng tác kèm theo một tập ca khúc STOPPING MY LIFE, A selection of songs by TON THAT LAN. Tôi nhận thấy qua tác phẩm này, TÔN THẤT LAN đã viết những ca khúc có nhiều tiến bộ chuyển âm, nhạc đề cùng lời ca du dương bằng ngoại ngữ và cảm hứng sâu đậm hơn. Lúc đó, tôi không rõ TÔN THẤT LAN đã có bao nhiêu tác phẩm THƠ, và CA KHÚC ÂM NHẠC.Rồi mới đây, trong những ngày vui TẾT NHÂM THÌN, một cô bạn gái vừa từ Việt Nam về lại mang những quà văn nghệ của TÔN THẤT LAN gửi tặng tôi: TẬP THƠ PHỔ NHẠC in rất trang nhã “RỪNG HƯƠNG”(2002) gồm 60 ca khúc TÔN THẤT LAN phổ thơ của nhiều tác giả hữu danh trong nước trong đó có một vài người là bạn của hai chúng tôi từ thuở còn học tại Huế. TẬP CA KHÚC CHO NGƯỜI CAO TUỔI “XANH MÀU NẮNG HẠ” (2009) gồm 26 ca

- 163 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
khúc.Qua những ca khúc vừa mới nhận được, tôi rất vui kèm theo hãnh diện khi nhận thấy người bạn “già” TÔN THẤT LAN, tuy tuổi càng ngày càng cao nhưng nghệ thuật sáng tác vẫn “còn trẻ” dù viết Tập ca khúc cho người cao tuổi.Tôi xem món quà TẾT vừa nhận rất vô giá. Tôi muốn giới thiệu với tất cả THẦY, CÔ và ĐỒNG MÔN QUỐC HỌC sáng tác của một cựu hoc sinh cao niên mang tên TÔN THẤT LAN, sinh cuối năm Kỷ Mão (Janvier 1940) tại HUẾ, chọn nghề DẠY HỌC, chọn nghiệp CẦM CA với những sáng tác phẩm đã in ấn: *CÒN NHƯ THUỞ BAN ĐẦU (sáng tác đầu tay) 1960 *TRẢ LẠI MÀU NẮNG CHO EM (1993) *ON SINGING TERMS (1994) *GHÉ LẠI BÊN ĐỜI (1995) *MÁI TRƯỜNG YÊU (1996) *GỌI ĐÀN (song ngữ Việt-Anh) 1996 *HUẾ VẪN NGÀN NĂM (1999) *LET,S LEARN ENGLISH THE PLEASANT WAY (1999) *TỪ NHỮNG ÁNG THƠ HAY (2000) *THE FULLMOON FESTIVAL song ngữ ViệtAnh (2000) *RỪNG HƯƠNG (Thơ phổ nhạc) 2002 *STOPPING BY LIFE , a selection of songs(2005) Lời ước đầu nămcủa tôi là mong cho bạn TÔN THẤT LAN vui mạnh luôn để tiếp tục những sáng tác phẩm làm vui tha nhân trong cuộc đời. TRƯƠNG DUY CƯỜNG 30 Jan 1012 *Vài dòng giới thiệu tác giả: TRƯƠNGDUY CƯỜNG sinh tại Faifoo ngày 26 tháng 11 năm Bính Tý (8 Janvier 1937) là cộng tác viên của tập san QUỐC HỌC ĐỒNG KHÁNH từ nhiều năm. Hội viên VĂN BÚT Việt Nam Hải Ngoại / Vùng TBHK và Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong.

Mẹo vặt trong cuộc sống
- Cách chọn dưa hấu: nên chọn loại vỏ có nhiều gân, trái tròn và nặng. Nếu trái tròn nhưng nhẹ là dưa bọng ruột vì đã quá già, nên chọn vỏ thật cứng, với những trái có vỏ cứng, ruột dưa sẽ giòn, ngon hơn.Ðể biết dưa đỏ hay không, hãy xem cuống dưa. Nếu cuống dưa xoắn tròn theo hình khu ốc là dưa đỏ; ngược lại nếu cuống dưa không xoắn là dưa không đỏ. - Cách chọn xoài ngon nhất là xoài cát và xoài thơm. Nên chọn những trái xoài có da căng, vàng đều, phần đầu (phần nằm trên cuống) chín vàng và cứng. Trên bụng xoài phần dưới chót đuôi sẽ thấy có một mắt nhỏ, nếu mắt này càng dài thì hột xoài càng to. - Cách giữ xoong được sáng bóng: Mới mua một cái xoong nhôm mới, trước khi sử dụng, hãy thoa một lượt xà bông ướt khắp quanh xoong rồi bắc lên bếp đun. Nấu xong xả nước chùi rửa thật sạch. Xoong của bạn vẫn sáng bóng như mới không hề bị nám đen. - Làm sáng xoong bị cháy nám: Khi xoong bị lửa cháy nám, muốn chùi sáng lại như cũ, chỉ cần dùng cát và giẻ lau chùi rửa sạch. - Cách chùi xoong bị cháy đen bên trong: hãy bỏ chanh xắt khoanh vào nấu với nước một lúc rồi đưa xuống chùi. - Cách rửa xoong chảo bị cháy khét: Khi nấu ăn lỡ để khét làm thức ăn dính dưới đáy xoong, đáy chảo, hãy bỏ vào một ít muối, thêm vào một ít nước và đặt xoong, chảo vào thau nước lạnh, ngâm vài giờ rồi chùi rửa sạch. - Cách làm sáp đèn cầy không chảy: Muốn sáp đèn cầy không chảy ra bàn, chỉ cần nhúng đèn cầy vào nước muối trong hai giờ. - Trừ kiến trong hũ đường: hãy dùng một thanh sắt hay con dao bỏ vào hũ đường, các con kiến sẽ bò ra nơi khác. - Kho cá biển cần biết: Khi nấu món ăn kho với cá biển, hãy thêm vào nồi vài muỗng canh nước trà đặc. Sau đó kho cho đến cạn nước, thịt cá sẽ chắc lại và không còn mùi tanh

- 164 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Chợ Hàng Ăn
Sáng Chiều bên lề đường Thư ng Thượng Tứ
Hồ Đăng Định
Đã từ lâu tôi cứ cố tìm cho ra m chữ chi một thích hợp để gọi cái chợ bán hàng ăn sáng, ăn chiều họp suốt ngày trên lề đường Thư ng Thượng Tứ mà đành chịu vì không có chữ chi thiệ đúng và đủ ệt nghĩa. Nói chữ chợ là không đúng rồ vì chợ thì ồi, phải bán đủ thứ : áo quần, vải vóc, th thà, tôm cá, i thịt gà vịt, rau quả, đồ dùng. đủ vị bạc hà...; mà nói là c mấy gánh hàng rong thì cũng không đúng, gánh ũng hàng thì có mà rong thì không, các gánh này ch chỉ ngồi một chỗ, nép mình bên hiên phố ố,bán hàng ăn sáng hay ăn chiều, hết thì gánh về chơ có gánh đi lang thang mô mà gọi là hàng rong ? thôi, chứ thực ra Chị Hoa M và chị Bưởi cùng Mập các Mệ Ngôn, Mệ Trí tuy cùng bán hàng trên l lề đường Thượng Tứ nhưng họ không h biết nhau vì hề Mệ Ngôn và Mệ Vinh đã qu ã quẳng cái gánh nhọc nhằn mà về một cõi nào đó hơn mươi năm trư trước rồi. Từ năm 1947, thành ph Huế nằm hai bên phố bờ sông Hương, được chia thành hai khu v hành c vực chánh là Tả ngạn, Hữu ngạn và Thành N n Nội. Khu Hữu ngạn phần lớn là tr sở của các cơ n trụ quan hành chánh, quân sự và h đường. học Khu Tả ngạn mới là khu thương m nhưng i mại, cũng chỉ có các tiệm buôn bán làm ăn t trung m tập vào hai con đường chính là Tr Hưng Đạo và ng Trần Ngã Giữa, còn các con đư đường Gia Hội ( Chi Lăng), Bạch Đằng, Hàng Bè c ng, cũng là phố bán buôn, nhưng èo uột và có vẻ lai rai, tài t tử. Về phần Thành Nội, ngoại tr có một vài cơ quan i trừ hành chính và quân sự, một vài trư t trường học nhỏ thì phần lớn là khu gia cư, nơi s sinh ra không n sản biết bao nhiêu là người đẹp n tiếng của đất Thần p nổi Kinh thuở đó. Vậy thì đường Trần hưng Đ và đường Ngã n Đạo giữa là bộ mặt chính của thành ph Huế nên luôn a phố được giữ gìn sạch sẽ, trang tr , trọng để gây ấn tượng tốt đẹp cho khách phương xa lại thêm có bót ng xa; cảnh sát Đông Ba nằm sừng s ng sững ngay cạnh chợ Đông Ba nên không có một gánh bún bò , c t cơm hến hay hàng rong mô có th dừng lại quá 5 hay n thể 10 phút mà không bị phú lít, c cảnh sát hay công an đường phố xua đuổi. Ý tôi mu nói đến những i. muốn người giữ công việc trị an thành ph cùng làm phố,

Cứ tạm kể sơ qua một tí theo trí nh nhạt t nhớ nhòa của tôi nên không thể xếp theo th tự thời p thứ gian chính xác được. Đại khái như là nh đến cái i nhắc gánh bún bò của chị Hoa Mập, gánh cháo b của p, bò mệ Ngôn buổi sáng, rồi gánh cháo v của Mệ i vịt Vinh và gánh cháo lòng của Mệ Trí bu chiều , buổi chỉ là để nhắc đến một kỷ niệm, mộ sự kiện mà ột

- 165 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
những công việc như nhau qua bao ch độ khác c chế nhau. So với đường Bạch Đằng, Gia H và Hàng ng, Hội Bè ít dân, buôn bán lèo tèo thì đường Thư ng Thượng Tứ là sầm uất nhất, hàng phố đối diện hai bên, l có n lại thêm hai xóm lao động Hậu Bổ và B Hồ Thượng Bờ Tứ đông dân, do đó các gánh hàng ăn n tiếng g nổi khắp các vùng phụ cận đổ về thành ph đều tụ họp phố trên lề đường Thượng Tứ cả sáng lẫn chi n chiều. Buổi sáng thì cháo vịt,bún bò An C ,bún Cựu, Cơm Hến Đò Cồn, Cháo gạo, xôi đậu đỏ Tây Lộc, bún nước mắm, bánh đúc mắm nêm Kim Long. C m Chiều thì bánh canh Nam Phỗ, bánh ướt th nướng O t thịt Chót, bánh bèo bánh nậm Mệ Càng, cháo V Mệ Vịt Vinh, cháo Lòng Mệ Trí..v.v ..,từ trong Thành N Nội gánh ra . Đó là chưa kể các gánh địa phương ( a (tức là ngay tại Bờ Hồ và Hậu Bổ) như Sữ đậu nành O ữa Xê, Bánh bọc lọc O Sĩ, Bún bò O Em .v.v. ò Phú Lít ( police) thời Tây, C i Cảnh Sát thời Cọng Hòa, Công An đường phố thời Xã H Chủ i Hội nghĩa, nhà cầm quyền địa phương th nào cũng a thời muốn dọn dẹp lòng lề đường thành ph cho sạch ành phố sẽ, trật tự, khang trang nhưng cuối cùng không ai i dẹp được vì người dân đói qúa cần ph kiếm ăn , n phải bán buôn lương thiện mà không cho còn mu n muốn dồn ép người dân phải đi làm điều phi pháp hay u sao ?. Vì thế mà chế độ nào rồi cũng d cao đánh ũng dơ khẻ, thổi còi xua đuổi, la hét cho qua loa r mô i, rồi vẫn hoàn nấy. Hơn nữa, dân phố Thư Thượng Tứ rất hiền hòa dễ thương và rất bao dung, c mỗi lần t cứ các gánh hàng bị cảnh sát hay công an đư nh đường phố xua đuổi là họ lại cho các mệ các ch mang nồi chị bún , nồi cháo vào để hẵn trong hiên nhà (không n xâm phạm lòng lề đường) hoặc là ngay trong ti c tiệm của họ để tiếp tục múc bún , múc cháo cho khách c nên cảnh sát hay công an không nói chi đư và nh được đến khi nhân viên công lực đi rồi thì h lại khiêng i họ nồi bún nồi cháo ra bán buôn vũ như c vẫn như cẩn, cũ. Nhà tôi là tiệm ăn nhưng sáng mô c m cũng có một gánh bún bò hay gánh cháo vị không của ịt, người này thì của người khác, thườ thường là ờng gánh bún của chị Hoa Ốm, hay còn g là chị Hoa m, gọi Già, không có chồng, để phân biệt v chị Hoa t với Mập thường đặt gánh bún bên nhà O Thi Bánh t Thiện Khoái, chị Bưởi cháo vịt thì ng thường trực bên t ngồi nhà chụp hình Gina của anh ch Thảo. a chị Mấy gánh hàng ni bán c buổi sáng rồi tới y cả trưa khi hết nồi mới đi từng nhà thâu ti Đại khái ng tiền. là độ 12 giờ trưa hay 1 giờ chi thì chị Hoa ốm, chiều vô nhà thưa với mạ tôi : “ Dạ thưa Mệ, sáng ni tất cả của con là 15 đồng, ả anh Nam Anh 5 đồng, anh Nam Em 4 đ ng, đồng, O Quắn 3 đồng, chú Thương Anh 3 đ ng, đồng...”. Năm hay mười phút sau O Bưởi hay ch Hoa Mập lại i chị vào gặp mạ tôi và cùng hát m điệp khúc như một vậy: “ Dạ thưa Mệ , của con tất cả là 10 đồng, O Bờm 3 đồng, chú Thương Em 4 đồ ồng, O Điền 3 đồng .v.v...” Các gánh hàng ăn chủ y là bán cho bà con yếu ở hai bên phố, bà con lao độ ộng Bờ Hồ, Hậu Bổ, ngoài ra họ còn bán cho mấy bác ,m anh đạp xe y ,mấy ba gác, xe xích lô và sau này là m anh xe đạp a mấy thồ nữa.

Cứ mỗi buổi sáng sớm tinh sương đ 4 hay 5 m độ giờ sáng là các gánh sau Bờ Hồ, sau Hậu Bổ đã ờ dọn hàng ra lề đường, các gánh ở xa như An Cựu , hay Tây Linh-Tây Lộc cũng b đầu đi xích lô lại. ũng bắt Nếu phải gánh bộ từ bên Cồ Hến qua như Cơm ồn hến thì phải đến trể vài giờ vì ph chờ đò qua chợ phải Đông ba rồi lại gánh dọc phố Trần Hưng Đạo, mà ố đôi khi gặp khách trong phố gọi thì gánh nguyên ố gánh vô nhà bán cho đến 9 hay 10 gi sáng mới n giờ đến đường Thượng Tứ. Năm sáu giờ sáng còn m mơ màng màng mơ mà nghe có tiếng lục đục ngoài c là biết bún bò c cửa của chị Hoa ốm qua rồi. Có m điều đặc biệt là i. một

- 166 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
cháo bò Mệ Ngôn thì ngồi tận bên nhà thương Ôn n Đốc Quyến, xa nhà tôi đến ba bốn căn mà tôi v n vẫn biết nhờ nghe cái giọng chưởi the thé,rang rảng của Mệ.Hình như Mệ Ngôn cũng có b con xa gần ũng bà chi đó với Mệ Nội tôi và cũng gốc gác trong xóm c Hà Dương trên Kim Long nên tôi thư thường nghe Mệ tôi gọi bằng chị và ba tôi gọi Mệ là O Ngôn. Mệ Ngôn có 3 người con, hai gái m trai. , một Mệ đặt tên cho 2 người con gái là H Chị và i Hĩm Hĩm Em. Hĩm theo tiếng Huế nôm na dùng đ chỉ để bộ phận sinh dục của đàn bà, vì theo quan ni ì niệm của người bình dân ngày xưa là phả đặt tên con ải cho thật xấu để ông bà khuất mặt hay ngư cõi t người âm khỏi bắt về dưới âm phủ hầu hạ họ. Còn anh ạ con trai tên là Hồ hay Hộ (?) hay là M cũng Mệ muốn đặt tên con trai theo tên chữ Hán Vi : Âm Việt Hộ ? Nhưng có một điều rất dễ thương là m mọi người bà con xóm giềng, kể cả bả thân hai O ản Hĩm Chị và Hĩm Em không ai lấy đó làm chuy y chuyện buồn phiền, không ai có một ý nghĩ chi d tốt hay ĩ dù xấu về cái tên của mình, hai O cứ nghĩ tên của mình cũng bình thường như tên Huê, tên Liên, tên ng Hồng, tên Tuyết của các người con gái khác. i Nhà Mệ Ngôn ở Bờ Hồ, sau lưng nhà ngư , người đẹp Thượng Tứ là Dì Út Võ Thị Nguy ( em vợ Nguyệt của Ôn Đốc Quyến). Cứ mỗi buổi sáng khi th i thức giấc là Mệ có lệ súc miệng bằng cách kêu tên hai ng đứa con gái hay thằng con trai ra ch ra rã, chửi ng chửi bất cứ chuyện chi, chửi hằng giờ mà không bi biết moãi miệng, cho đến khi Dì Út tỉnh gi nồng và nh giấc cứ tưởng là gà vừa gáy sáng. Và cũng t đó, như ũng từ một thói quen, không cần gà gáy, không c đồng n cần hồ báo thức, Dì Út Nguyệt vẫn thức gi đúng giờ c giấc nhờ thiếng chưởi của Mệ Ngôn. Lúc đó th Dì Út thì không hiểu và không để ý nhưng nay, m mươi ưng mấy năm sau nhớ lại chuyện cũ thì Dì thấ thương cho ấy Mệ Ngôn quá trời, vì răng mà mệ bị khẩu nghiệp ị nặng dữ rứa hè ?(Chi tiết này do ch Võ Thị t chị Nguyệt kể lại) O Hĩm Chị gánh cái gánh cháo ra t đường tới là Mệ Ngôn bắt đầu mở máy chưởi O H chị như i Hĩm tát nước với những lời lẽ tục tĩu nhất th gian, rứa t thế mà O Hĩm vẫn vui vẻ thổi lửa, sắp gióng triêng, p chén bát cho Mạ sửa soạn bán hàng, thi những n thiệt chuyện này chừ kể ra con nít thời nay không th i thể hiểu được và con nít ở bên Mỹ ni thì cho là chuyện phịa mà thôi. Về sau O Hĩm Chị lấy một ông cảnh sát người Quảng Nam tên Nhạn, O H Em xinh gái n, Hĩm hơn nên lấy được Dượng Viên, c ng cũng người Quãng Nam, rất đẹp trai cũng làm c àm cảnh sát nhưng được lái xe Mô Tô hộ tống và bảo v mấy ông lớn. Anh o vệ Hộ người con trai độc nhất, b Mạ chưởi hàng t, bị ngày cũng được làm cảnh sát dẹp đường, chuyên nh dẹp mấy gánh hàng ăn trên các đư y đường phố Thượng Tứ và Trần hưng Đạo, trong đó có c cái gánh o, cả cháo bò của Mạ và chị mình. Kể chuyện chưởi thì không th quên được i thể Mụ Ruộng, nữ hoàng chưởi H Bổ, nhà ở ngay i Hậu sau lưng nhà tôi. Mụ Ruộng ốm như cây sậy, đầu ng trọc lóc, có anh con trai tên Ru c Ruộng khoảng 18, 19 tuổi.Vì bà con trong xóm không bi tên Mụ nên i.Vì biết cứ gọi theo tên con cho tiện vi sổ sách. n việc Mỗi ngày vào khoảng chi chiều là Mụ ra g chiều đứng trước cái chòi lá , mình m một cái áo cánh c mặc trắng, để lòi hai cái tay khẳng khiu, môt tay níu cái ng quần cháo lòng nhàu nát, tay kia c , cầm ly rượu đế, và miệng bắt đầu chưởi. C uống một hớp là i. Cứ chưởi mươi câu. Tôi không nh nổi Mụ Ruộng i nhớ chưởi câu chi nhưng tựu trung là chư cha thằng u chưởi Ruộng đã mê cái L... của con đ rạc mà bỏ Mụ bơ đĩ vơ ... Càng chưởi mặt mụ càng đỏ, càng hung hăng, mụ nhảy dựng người lên,v chưởi hai tay i lên,vừa vừa vỗ vào chỗ giữa hai chân nghe b bộp, giữa a bộp tiếng cười và tiếng vỗ tay c bọn con nít trong của xóm. Chưa đã nư, thấy bọn con nít v tay reo n vỗ hò,và có lẽ rượu cũng đã ngấ khi mụ truột quần ấm, là bọn con nít chín mười tuổi chúng tôi ch mất. i chạy Anh con trai tên Ruộng chịu đ không thấu, ngày u đời mô cũng bị mạ chưởi, bị làm nh nhục, anh bỏ nhà ra đi, anh đăng lính Tây, học làm tài x cho Tiểu c xế Đoàn Vận Tải 503 ( cinq cent trois) thư thường lái xe

- 167 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
GMC ra Bắc hay qua bên tận Lào và từ đó anh biệt tích, không nghe ai nhắc đến anh nữa. Không biết có đúng là tôi nhẹ vía hay không mà cứ mỗi buổi sáng đi qua hai dãy gánh hàng ăn sáng trước nhà là mệ là chị mô cũng mời chú Nam Em ăn “mơi xưa” cho mệ, cho chị với, và không biết là đúng sự thực như vậy không mà rất nhiều ngày chị Hoa Ốm bán bún bò đã vào nhà lấy tiền sớm hơn thường lệ. Tôi hỏi răng bửa ni chị về sớm rứa thì chị cho biết là nhờ sáng ni anh Nam Em ăn mở hàng nên bún hết sớm và rứa là tôi nổi tiếng....ăn hàng.Chị Hoa Mập nhờ trúng số độc đắc nên đã cất được cái gánh bún bò nặng nề khỏi đôi vai, nhưng chị Hoa Ốm không chồng thì chưa. Cách đây 5 năm có dịp về Huế thăm nhà, một buổi sáng tôi lửng thửng đi dọc hàng hiên, nhìn mấy gánh bún cháo như đã thấy mấy mươi năm trước, gặp gánh bún chị Hoa Ốm, tôi vội ngồi sà xuống. Vẫn nụ cười tươi tắn như xưa, chị hỏi : “ Anh Nam Em ăn cái giò nghéo với cái móng hí! em còn nhớ anh thích miếng gân chơ không thích ăn huyết mô “ Tôi ngậm ngùi thương chị vẫn còn nhớ cái sở thích của mình, cảm động nhất là được nghe chị gọi cái tên ở nhà của mình mà mấy mưoi năm ni mới được nghe lại , tôi hỏi chị: “ Chị Hoa độ ni có khá không ? Răng không lấy chồng cho rồi ?” Chị cười cười mà tôi thấy hình như có chút nghẹn ngào trong câu nói : “ Mình vừa nghèo vừa xấu ai mà ưng anh Nam Em ơi! Thôi ở ri cho khỏe. Chà anh chị đi Tây đi Mỹ hơn mười năm rồi mà em vẫn còn gánh bún trên vai áo vá”. Tôi lặng người thương cảm một mảnh đời, một thân phận bất hạnh và thực sự xúc động như vừa đọc một bài thơ buồn với nước mắt lưng tròng. Renton, tháng chạp 2004

NHỚ THẦY
(Kính gởi Thầy Bùi Ngoạn Lạc)

Lâu rồi xa cách, nhớ ân sư Ngoảnh lại thời gian chạy vút vù Lúc trước quê nhà, lừng toán học Bây giờ xứ lạ, rạng đường tu Thầy thì chữ nghĩa lời trong sáng Trò lại văn thơ ý tối mù Mạo muội đôi vần, xin thứ bỏ Tạc lòng Thầy dạy đạo cương nhu . Virginia 2012

THƯƠNG HUẾ
Bạn đã có lần qua Huế chưa ? Tràng Tiền phượng đỏ vắt đong đưa Đẹp thay tà áo bay trong gió Xinh quá tóc mây quyện bóng dừa Nhớ lắm sông Hương hò mái đẩy Thương sao Thiên Mụ vọng chuông chùa Xa xôi xin gởi niềm nhung nhớ Một thưở yêu người ...xứ Huế xưa ! Nov. 2011 Ngọc Phan

Hồ Đăng Định

- 168 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

TỪ THUỞ Ở
PHẤN TRẮNG, BẢNG ÐEN…
Hạt Kê Vàng Fast rewind: 1948. “Trên tường vôi, ngói âm ng thầm rêu mờ…” Trời tháng Mười ở Huế lạnh se se. Bé Kê đ nh đợi nơi góc một ngã tư gần nhà, chờ ông cảnh sát đứng trên bục điều khiển lưu thông th tu huýt n thổi cho phép đi là ôm túi vải đi một mạch qua bên kia ch đường, đến trước cổng trường NỮ TIỂU HỌC Ữ ĐOÀN THỊ ĐIỂM. Gọi là Kê, bởi vì nó nh hơn i nhỏ cả hạt tiêu. Con bé băng qua sân trư t trường bằng đất nâu có pha lẫn cát, rồi nhảy từng bậc c để vô lớp c cấp ba. Các bạn gần như đã đông đủ, ch chờ cô giáo , chỉ thôi. Mấy phút sau, cô bước vào, cả lớp đồng loạt đứng lên, cô mỉm cười nhìn quanh lớ rồi ra dấu ớp, cho các em ngồi xuống. Hôm nay thứ Hai, cả lớp còn ch một người p chờ nữa, đó là bác cai trường. Mấy phút sau, bác xu y xuất hiện, tay cầm chai mực. Bác dừng lại nơi c nhìn i cửa, cô giáo, chờ cô gật đầu là bác bước vào. Vài cô bé c cầm godets chúc đầu xuống, lắc lay v phía bác c về cho biết là mực đã khô ran rồi. Nhưng bác v từ i. vẫn từ đi từng bàn, rót mực xanh vào mấ cái godets. ấy Đến bàn Kê, nó nói nhỏ, “Bác cho t con nhiều , tụi nhiều mực. Tuần rồi, tụi con thiếu m để chấm.” u mực “Rồi răng?” “Tụi con phải thay phiên nhau phun nư miếng hun nước vô bình mực khô, chấm đỡ.” “Bậy nà!” bác cai nhíu mày. Lớp có tất cả mười hai cặp bàn gh chia làm p ghế, hai dãy, mỗi bên sáu cặp. Cứ năm tr ngồi chung trò một bàn, chung một ghế, và chấm chung ba bình m mực. Rồi kiểng đánh báo giờ ra chơi, Kê cùng vài đứa bạn ra hiên, hết chơi đánh th lại thẩy hột me, t thẻ, búng dây thun, nhảy cò cò, ch ô làng, v.v… y chơi Học bạ ghi Kê đứng vào h ng hạng thứ 50 trên 60 đứa. Ba của Kê xin cô giáo lưu ý cho. Nhưng Kê a vẫn giữ vị trí 50 trở lên. Cô giáo ra đ luận: TẢ đề CON MÈO NHÀ EM. Kê cắn nát c cán viết, một n cả hồi sau vô đề và kết luận: “Nhà em không có nuôi mèo.” Cô giáo chấm bài, và Kê khóc thút thít khi m lảnh “hai hột vịt”. Cô giáo biết ba của Kê nhà binh, nay đây a mai đó, còn me lo tiệm ăn, đ tắt mặt tối, nên cô m đầu vuốt tóc Kê, “Cô có nói ba con mua sách cho con đọc. Con nhớ đọc sách mỗi ngày, thì con s khá.” i sẽ Ba còn mời người em bà con -chú T- về dạy kèm, i ở luôn trong nhà. Chị em Kê lúc đ không ưa chú đầu T vì khi chú dò bài mà tụi Kê m quên có vài chữ i mới cũng bị bắt quỳ. Ngoài ra, chú hay b Kê chép i bắt phạt một trăm lần, như: “Tôi tên là Kê, xin h từ n, hứa nay về sau sẽ không cất hột me trong b áo nữa.” t bị Chú có nhiều điều cấm làm, mà chú không vi ra, m viết chỉ khi nào chị em Kê phạm l mới hay. Nhưng m lỗi cũng nhờ chú, mà chị của Kê lên h a hạng nhì trong lớp, còn Kê cũng lên được hạ ba mươi mấy. Kê ạng vẫn nhớ ơn chú T, “Thương cho roi, cho v vọt...” Khoảng gần hè, nắng chan hòa, Kê và các ng bạn chơi buôn bán ngay trước c lớp, giờ ra chơi, c cửa mà hàng là những trái cà chua pháo hái t vườn ng từ nhà. Tụi Kê cũng “ranh con” gh lắm, trái ươm đỏ ũng ghê thì gói giấy bóng trong trong, còn trái xanh xanh y thì gói giấy bóng trong hồng, nên trái nào trông ng, cũng như chín cây, bán chạy như tôm tươi, m y mặc

- 169 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
dầu khách mua quá biết mánh lới tụi nhỏ. Khách hàng là bạn cùng lớp, cùng trường, nhất là mấy chị lớp nhất thường cho thêm tiền, mà tiền là những tờ giấy trắng tinh xé ra từ những cuốn vở. Hết hè lớp ba, Ba của Kê đổi về Hội An, và Kê xa NCảnh -một cô bạn Kê thương nhất-không một lời từ giã, vì lúc đó Kê không biết nhà NCảnh ở đâu. Ba của Kê tiếp tục mua sách cho chị em Kê đọc. Em gái có tên ở nhà là “con Ủa” do bác của Kê đặt cho, khi me của Kê sinh liên tiếp ba đứa con gái, “Ủa, lại sinh con gái nữa sao?” Ba bảo me, “Nhà không có con gái như vườn không có hoa. Vườn nhà mình có ba bông hoa, me hắn vui lắm hỉ.” Kê và con Ủa thích nhất cuốn Tâm Hồn Cao Thượng. Vào những đêm đông, hai chị em quấn mền đọc chung chuyện Anh Hạ Long và Chú Bé Đánh Trống Người Đảo Sac Đe, v.v…, rồi khóc sướt mướt. Ba còn gởi Kê, con Ủa, và em trai đi học thêm cuối tuần. Lúc đầu, Kê khổ sở vì ông thầy và bạn học là người địa phương, còn ba chị em Kê tuy xuất thân từ xứ cao lầu, mì quảng, nhưng xa quê từ nhỏ, nên lúc đầu ai nói nấy hiểu ấy mà dị, ấy mà trẽn-. Cô giáo lớp nhất chỉ cho lớp cách đánh dấu hỏi, dấu ngã, “Khi hai tĩnh từ đi đôi với nhau, các em hãy nhớ Sắc, Hỏi, Không; Huyền, Ngã, Nặng”, là đúng gần chín mươi phần trăm.” Bài luận văn cuối năm nói về “Ước mơ của em”, Kê không bị “zero” nữa, mà được cô đem bài đọc cho cả lớp nghe. Kê ước sau này lớn lên, Kê được đi dạy như cô. Cô ơi, Kê vẫn còn thuộc nằm lòng bài “Ông Carnot về thăm thầy và trường cũ” mà cô dạy cho chúng em ngày xưa. Suốt bốn năm trung học đệ nhất cấp, Kê chơi thân với KN, một cô bạn người Huế rất dễ thương. KN ở Tòa Hòa Giải, Kê ở gần nhà thương Mỹ, mà sáng nào cũng chờ nhau ở góc đường, để chia nhau từng miếng quế, hoặc những khúc bình tinh luộc, trên đường tới trường Trung Học Trần Quý Cáp, và để cùng vô lớp một lần. Kê vẫn nhớ thương KN ghê. Rồi Kê ra Huế học, từ đó trở thành cô nữ sinh trường Đồng Khánh. Thầy TH dạy lớp đệ tam cách viết câu cú cho đúng: Aimer quelqu’un. Aimer à faire quelque chose. Chứ không phải là “J’ai un poêle à mazout”, “Tu as un poêle à tazout…” Thầy  đưa học trò vào những áng văn tuyệt tác của Victor Hugo, Charles Baudelaire, Alphonse de Lamartine, Alfred de Musset, … và Thầy D mở toang vườn thơ Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm Khúc, v.v… Cũng như nhiều nhà khác ở Huế, vườn nhà thầy cô có rất nhiều “dây tơ hồng không trồng mà mọc” giăng giăng trên khắp hàng rào chè tàu, mà hình như chỉ xứ Huế mới có dây tơ hồng mà thôi. Đây là khoảng thời gian thơ của Nguyên Sa, của TTKH, v.v… không cánh mà bay từ hộc bàn này đến hộc bàn khác, rồi mất hút đến nỗi cô thầy không kiếm ra. Đại Học Sư Phạm Huế un đúc giấc mơ “Phấn Trắng, Bảng Đen” của Kê thành sự thật. Thật ra, kỳ thi đầu Kê “đậu phải cành mềm”, nên những nhiệm sở lý tưởng như Huế, Nha Trang, Đà Lạt đã được chọn hết. Đậu kỳ sau, Kê chỉ còn có Kiên Giang và Truồi. Lúc đó Kê không muốn về Truồi, mà Kiên Giang thì xa quá, nên Kê viết đơn vô Bộ Giáo Dục xin được ở lại thành phố Huế để dạy, với lý do mà sau này nghĩ lại, Kê thấy cũng khá khôi hài. Sau ba tháng không thấy hồi âm, Kê đánh bạo vô Saigòn. Sáng sớm tinh sương Kê đã có mặt ở Bộ Giáo Dục. Đang đứng xớ rớ, gặp ông gác dan khuyên, “Về đi, vì cô không có hẹn trước, thì dù cô có tuyệt thực cũng không được gặp ông giám đốc đâu.” Kê chần chờ chưa muốn về. May thay, lúc đó cậu P ở đâu đến, hỏi: - “Cháu từ Huế lạc vô đây có chuyện chi? Kê kể sự tình. Cậu cười ngất, nhưng có lẽ thương hại Kê đã có công từ Huế vô, cậu bảo: “Chờ cậu chút.” Mười phút sau, cậu ngoắt Kê vô gặp ông giám đốc. Ông giám đốc vô đề ngay: - “Tại sao cô muốn ở lại thành phố Huế để dạy?” - “Dạ, con còn mẹ già, em dại… ở ngay thành phố Huế.” - “Còn Truồi thì sao?” - “Dạ, đi xe đò về Truồi thường bị trể vì hay ngừng lại để đón khách dọc đường, mà con thì không có phương tiện di chuyển khác…” - “Bà cụ năm nay bao nhiêu tuổi?” - “Dạ, bốn mươi hai.”

- 170 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
- “Trời đất, bốn hai mà cô gọi là “mẹ già” hả? Tôi ẹ cũng bốn hai tuổi đây.” Kê hết hồn, “Dạ, con … xin l , lỗi. Con không cố ý.”“Không sao. Lý do cô nêu ra không hội đủ điều kiện để được xét ở lại thành ph Huế i phố để dạy. Tôi khuyên cô nên về trình di ở trường diện Nguyễn Trung Trực. Kiên Giang là nơi đ lành c. đất chim đậu. Cô sẽ yêu thích nơi này. V lại, đi cho Vả biết đó, biết đây…Cô cứ thử về đó một niên khóa…” “Hành khách Hàng Không Việt Nam đáp tàu t đi Kiên Giang, xin mời ra cổng số 6.” Kê và me bước lên chiếc phi cơ bé nhỏ, đáp xu , xuống một phi trường cũng bé nhỏ, lấy taxi về thẳng trư ng trường. Ông giám học còn khá trẻ, bảo me của Kê, “Xin bác a cho xem Sứ Vụ Lệnh”, rồi quay qua Kê “Còn cô i em đây xin học lớp mấy, ban nào …?” y, đi chấm thi ở lục tỉnh. Niên h kế tiếp, me ở nhà, nh. học ba đi theo coi Kê dạy. Hai năm sau, khi giã t Kiên Giang, cùng ã từ một lúc Kê có hai cảm tưởng th lạ: hành trang ng thật thì đầy ăm ắp hơn ngày mới đ chan chứa những i đến, thương nhớ của các em họ trò, của bạn đồng ọc nghiệp, cùng những thâm tình c sông nước Hậu ng của Giang, trong khi Kê vẫn cứ ng “Rương chật rồi, ngỡ, khó nhốt cả niềm vui.” Về Hội An (Trần Quý Cáp), ra Đ Nẵng n Đà (Phan Châu Trinh, Hồng Đức, K Thuật, Hội Việt c, Kỹ Mỹ), đâu đâu Kê cũng được g những em học trò c gặp và các bạn đồng nghiệp thân thương, và “giây thân p ái (cứ mãi) lan rộng muôn nhà...” ng Sau Tết Mậu Thân 1968, Kê giã t Hội An u từ để đi Mỹ học, Kê hỏi đùa ba me, “Bây gi con đi i giờ Mỹ học, ba hay me, ai đi vớ con đây?” Ba đùa, ới “Lần này cho con đi trước m mình, ba sẽ cùng c một me theo sau.” Đùa mà thành s thật, nhưng mãi sự đến 1981, Kê mới được đón c gia đình về với c cả Thung Lũng Hoa Vàng. Nơi đây, Kê chưa bi àng. biết chọn trường nào để trở lại v Phấn Trắng, Bảng i với Đen. Lúc đó “mật nhiều, ruồi ít”, nên xin vi khá i việc dễ dàng. Cuối cùng, Kê ch i chọn dạy ESL thuộc chương trình giáo dục tráng niên, mà mãi v sau, c về Kê vẫn nghĩ đó là sự chọn lựa v ý nhất. a vừa Fast forward: 1998 Mấy tháng đầu tiên trên bục g Kê cũng c gỗ, không tránh khỏi thử thách từ một vài em đư t được xếp hạng “thứ ba học trò”. Về sau, Kê m biết mới những câu hỏi “hóc búa” đã đến từ các anh, các ừ chị, các dì của các em đó để thử sức cô giáo m c mới. Dù sao, khi được đứng trên bục gỗ l đầu tiên ở lần Trung học Nguyễn Trung Trực, Kiên Giang, c, không phải để trả bài, mà để vẫy tay cho các em y học sinh ngồi xuống, rồi cầm viên ph trắng lướt m phấn nhẹ trên bảng đen tuyền, Kê thấy các em h sinh y học và mình như là toán thủy thủ giữa tr nước bao a trời la, cùng nhau thăm viếng dải non sông g vóc và i gấm những chân trời xa lạ, mặc dầu lúc đó ba của Kê u bảo me đi theo Kê suốt cả niên học, k cả khi Kê c, kể Thầy Q bước vào văn ph c phòng Chương Trình Giáo Dục Tráng Niên, lớp Anh Văn bu tối tại p buổi trường Yerba Buena. Trên vai áo còn v ng vương những cánh hoa đào, thầy không ng y ngừng lại ở bàn giấy đầu tiên, mà đi thẳng đ ng đến bàn giấy cuối phòng, tự giới thiệu: - “Hi, I’m Q. I’ll sub for Ms E. tonight. I guess she has a lesson planning ready for me?” Kê đưa tay tính chỉ cho ông th trở lại bàn giấy thầy đầu tiên để lấy bài, nhưng khi nghe gi y giọng nói quen quen, Kê liền co bàn tay lại. Thầy Q reo lên: “Ủa, cô làm gì ở đây?” a, Kê chưa kịp trả lời, thầy đã hỏ tiếp: “Bộ cô vẫn: ỏi Còn yêu nghề “godautre”? Không sợ cái nghề “bạc b như vôi”? c bẽo

- 171 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Không ngán cái nghề “bán cháo phổi”? Kê mỉm cười: “All of the above.” Trung-Thu 2010: Kê đứng sắp hàng nơi tiệm bánh, đợi đến phiên trả tiền bánh trung thu. Kê nói với me, “Con mua hộp bánh để cúng, chỉ lấy nhân hạt sen thôi, không hột vịt, không chi hết.” Trước mặt Kê là hai người khách cũng đang chờ trả tiền. Bỗng nhiên, ông khách bảo cô bán bánh: “Xin lỗi, tôi đổi ý. Cô cho tôi hai hộp bánh trung thu, mỗi hộp bốn cái, chỉ lấy nhân hạt sen thôi, không hột vịt, không chi hết. Xin cô bỏ bánh vào hai cái hộp thật đẹp.” Kê hơi ngạc nhiên, ai đó gọi bánh trung thu, giống như mình. Trả tiền xong, ông đưa một hộp bánh cho cô bạn bên cạnh, còn hộp kia, ông quay lại phía Kê - “Tặng bác và cô, lấy thảo”. Kê chưa kịp nói gì, thì cô bạn nói, “Cô nhận cho tụi em vui.” - “Nhưng … tôi có quen … đâu?” - “Quen chứ cô. Mà quen nhiều nữa. Em là Sâm đây, mà các bạn trong lớp ESL hồi xưa vẫn gọi đùa là “uncle Sam” để phá em đó, cô còn nhớ không?” - “Còn em là Xuân, cũng học với cô nữa, cô quên em rồi sao?” Bỗng tháng năm rộn rã quay về, “Sâm mang kiến mát, cô nhìn không ra.” Rồi quay sang Xuân, “Cô nhớ rồi, giờ ra chơi, Xuân hay phá chú Sam lắm phải không?” Xuân vẫn líu lo như thuở nào, “Cô còn nhớ giờ học cuối không? Cô nói niên khóa tới cô không dạy nữa, mà lui về khu vườn cỏn con sau nhà vui thú điền viên. Em nhớ cô lắm.” Sâm tiếp lời, “Em còn nhớ buổi học chót, em nói cô cho em hỏi vài chữ, trước khi chia tay.” - “Được, nhưng phải hỏi bằng tiếng Anh cô mới trả lời nghe.” - “Cô ơi, chữ -Qua Cầu Rút Ván-, tiếng Anh nói như thế nào?” - “Tiếng Anh, thành ngữ -Burn a Bridge/Burn the Bridge- có nghĩa tương tự”. - “Em muốn nói là tụi em sẽ nhớ ơn cô hoài hoài, chứ không bao giờ “burn the bridge” đâu. Không thầy đố mầy làm nên, mà cô.” Xuân tiếp theo, “Hồi đó em hỏi cô Uncle Sam trong tiếng Mỹ có nghĩa gì, và tương đương tiếng Việt là gì?” Em nhớ sau khi cô giãi thích chữ Uncle Sam xong, cô nói “Chịu thua, chưa tìm ra tương đương tiếng Việt.” Một lúc sau, cô cười, “Hay là Mỹ có Uncle Sam, thì mình có Chính Phủ…” - “Nhưng em muốn có một người chú như uncle Sam cơ,” Xuân phụng phịu. - “Thì chú làm việc trong Chính Phủ đó.” Sâm lên bảng, viết: “And my name is …… ” Cả lớp cười vang, “Well done, uncle Sam.” Xuân cười, “Từ đó em cứ gọi anh Sâm là Chú Phỉnh, riết rồi, em trở thành thím Phỉnh khi nào không hay. Tụi em có hai Phỉnh con con rồi đó cô.” - “Thế Phỉnh con con đâu rồi?” - “Ở nhà với Phỉnh nội.” Thoáng một giây, bụi phấn trắng lại bay về, và lời nhắn nhủ trong cuốn Tâm Hồn Cao Thượng, Hà Mai Anh dịch, nguyên tác Les Grands Coeurs của văn hào nước Ý Edmond de Amicis, mà Kê và các em đọc trong những đêm mưa năm nào lại vang lên, “Hỡi chú lính nhỏ trong đội quân lớn lao kia, cố lên con ơi, … lấy sách vở làm khí giới, lấy lớp học làm bãi chiến trường, coi sự ngu dốt là thù địch, và lấy văn minh của nhân loại làm cuộc khải hoàn. Con hãy cố gắng luôn luôn và chớ hề làm một tên lính hèn nhát…” Vượt thời gian và không gian, cho dù phấn và bảng đã bay màu hay thay màu, Kê thấy tình PHẤN TRẮNG BẢNG ĐEN, đã không hề bạc bẽo như vôi, mà vẫn “ngọt ngào như có vị đường…” Hạt Kê Vàng Valentine 2012

- 172 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

NGÀY THÁNG QUA

MỘT MỐI TÂM TƯ I

“Với mơ ước là mình sẽ phải làm đư một việc có giá trị để dâng lên cho Xứ Huế thân yêu; nơi mà tôi i được ế đã được sinh ra, được nuôi dưỡng thành ngư tôi đã vươn lên trong một hoàn cảnh đ biệt và đã thực ng người; nh đặc hiện được cái hoài bảo hằng ôm ấp ngày nào. Kính dâng thành quả này lên hồn thiêng đ Thần kinh đời p n đất đời không thể quên; lên Hương Linh c Thân Phụ Mẫu kính yêu của tôi; đến Anh Em, b bè và tất cả của n bạn đồng môn Hiệp Khí Đạo đã, đang và s giúp đở cho Hiệp Khí Đạo Huế phát triển vữ mạnh.” sẽ ững San Jose, ngày 4 tháng 5 năm 2011.

Lê viết Đắc.
Ngày 1 tháng 1 năm 1992, các l học Hiệp lớp khí đạo của Câu Lạc Bộ Tenshinkai Tenshinkai-Aikido Huế luân phiên dâng lời chúc mừng năm m lên Tổ ng mới Sư Morihei Uyeshiba theo phong t Việt Nam tục gọi là “Mừng tuổi” Tổ Sư. Trong gi phút trang . giờ nghiêm này, trong tôi dâng trào một m cảm xúc t mối đặc biệt vì ước nguyện noi gương Th Tổ phát ng Thầy triển bộ môn Hiệp Khí Đạo tại nơi chôn nhau c i cắt rốn đã thành hình được giai đoạn đầu. u. Bản thân tôi đã cảm nhận đượ năm 1992 ợc nầy là thời điểm đánh dấu một bướ ngoặt quan ớc trọng của nửa đời người còn lại của tôi. Sau m a một thời gian bị chìm đắm vì thời cuộc, trong tôi gi c, giờ đây bừng lên một sức sống mãnh liệ quyết định ệt: từ bỏ những suy nghĩ bi quan, ch chọn lấy một phương hướng tích cực mà bản thân đã ôm ấp từ n ngày học được những lý thuyết và chiêu th tuyệt t thế vời, độc đáo của môn Hiệp Khí Đạo, đó là ti tục o, tiếp nghiên cứu, học hỏi và trao truyền nh n những điều lý thú mà mình đã có duyên tiếp nh được. Lúc đó, p nhận tôi có cảm giác là đang có mộ sợi dây vô hình nối ột dần các điểm then chốt để tạo nên cho tôi một định luật sống với đầy thiện ý, quy mang lại lợi n quyết ích cho những người chung quanh mình qua vi i việc trao truyền những gì mình h được từ Hiệp khí ng học đạo mà tôi hiểu rằng: “ Đây là m lối sống đặc một thù của nhân loại, một phươ cách sinh hoạt ương hòa hợp với nhau trong hòa bình không tranh i hơn thua, một nghệ thuậ tuyệt đỉnh trong ật phương pháp tự kiểm soát và đi khiển bản m điều thân và cũng là một nghệ thuật tự vệ rất hiền hòa nhưng không thiếu tính hi quả .” Tôi đã u hiệu quyết định tập yêu thương m người, mọi vật dù ng mọi ở trong nghịch cảnh và cố gắng chan hòa kh năng ng khả sẵn có để giúp đở, san sẻ đế mọi người. Trước ến mắt, tôi đã trải tình thương yêu gi Thầy Trò đến ng giữa các Anh Chị Em trong các lớp Hi Khí Đạo và đã p Hiệp giúp Anh Chị Em rèn luyện thân th khỏe mạnh và n thể

- 173 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
có thể có khả năng dung hợp với vũ tr bên ngoài ũ trụ nhờ vào các triết lý của Hiệp Khí Đạo.. o.. Năm 1974, với một tấm lòng háo h của m hức một thanh niên đầy lý tưởng hăm hở muốn chia sẻ cái hay mới học được đến những b bè chung ng bạn quanh; tôi đã có được một năm ng ngủi rèn t ngắn luyện môn Hiệp khí đạo với Anh Em môn sinh t i tại sân tập Trường TSQ Vũng Tàu rồi sau đó b gián i bị đoạn vì thời cuộc. Tiếp đến, trong su thời gian ở n, suốt trại tập trung tôi đã âm thầm rèn luyệ ý chí và khí ện theo phương pháp Hiệp Khí đạo; đồng th không ng thời bỏ lở cơ hội giới thiệu về cái hay, cái đ đáo độc trong phương pháp tập luyện Hiệp khí đ p đạo. Sau đó, khi trở về sinh sống tại Huế tôi đã th ã thường thao thức với ý tưởng làm sao hình thành được một sân ng tập Hiệp khí đạo tại Huế…Bất cứ lúc nào, b cứ ở bất đâu nếu có cơ hội thuận tiện là tôi tìm cách ph n phổ biến cái lý thuyết sống tuyệt vời, cái cách x thế i, xử linh động theo nguyên tắc Hiệp khí đ đủ cả tinh p đầy thần hòa hợp từ ý tưởng đến hành động. ng. lý tưởng này; còn về phía nhân s lại có khá nhiều sự Anh Chị Em hâm mộ và khao khát đ được học hỏi về môn Hiệp khí đạo. Lớp Hiệp khí đạo được khai tr c trương sau ngày giổ Tổ Sư của bộ môn (26/4) m mười ngày. Sau này, lớp được chọn danh xưng là TENSHINKAI ng AIKIDO - HUẾ (Hiệp Khí Đ Thiên Tâm- Huế). p Đạo Chúng tôi đã cùng nhau tập luy trong không khí p luyện gia đình thân mật. Thầy tận tình h n hướng dẫn những lý thuyết, đòn thế; Trò tích c tập luyện và thực ; cực hành đúng theo lời hướng d của Thầy. Tất cả ng dẫn Thầy và Trò như bị cuốn hút vào trò ch chạy đua n chơi với thời gian để có thể đạt đ t được mục đích đào luyện được những Huyền đai đúng tiêu chu đòi n chuẩn hỏi trước khi tôi rời quê hương đi đ ng định cư tại Hoa kỳ, hầu nối tiếp kế hoạch xây d ch dựng và phát triển bộ môn Hiệp Khí Đạo tại Huế Thời biểu tập luyện ế. không còn đóng khung theo qui đ eo định mà lại được mở rộng cho những môn sinh nào mu tranh thủ ng muốn tập luyện hầu có thể tiếp nhậ hết những gì Thầy ận muốn truyền cho Trò…Lớp sáng, l chiều và lớp p lớp tối của sáu ngày trong mỗi tu đều mở rộng đón i tuần tiếp các Anh Chị Em môn sinh này. Th Trò Thầy thương mến nhau như Cha Con ho Anh Em. hoặc Vắng mặt một người là thấy thi vắng, là không y thiếu yên lòng…Rảnh rỗi được lúc nào là tranh th tìm c thủ đến sân tập để thăm hỏi nhau và cùng nhau t i tập luyện thêm… Lớp học Hiệp Khí Đ p Đạo đầu tiên với 21 người, sau đó có lúc giảm, lúc tăng, có lúc lên đ m, đến con số 40 môn sinh theo học th c thường xuyên các lớp Hai, Tư, Sáu và Ba, Năm, Bả (kể cả xuất sáng và ảy xuất chiều, tối). Những ngườ học trò đầu tiên của ời tôi ở Huế chính là các con c tôi: Phùng Quân, của Hữu Dũng, Phùng Hân, Phùng N ùng Ngân và Phùng Ân. Các con tôi đã làm tôi hài lòng vì s say mê ã sự tập luyện của chúng rất giống tôi h còn trẻ. Kế ng hồi đến là những người học trò tâm đắc của tôi, những c người ngay từ sau khi được gi thiệu rõ về lý c giới thuyết đặc thù của môn Hiệp Khí Đ đã tỏ quyết p Đạo tâm quyết chí theo học cho có thành qu đó là: c quả Nguyễn đắc Trí, Võ đình Thanh, Tr văn Hào, ình Trần Trương quang Thắng, Phạ ạm thị Minh Thư, Nguyễn văn Ngọc, Trần v Lương, Lê quang n vũ Minh, Lê thị Bích Thủy, Đ y, Đặng Bích Hà, Đặng

Vào những thập niên 80 trở về trước, tại thành phố Huế, Hiệp khí đạo chỉ được Võ sư Suzuki truyền dạy thêm trong Võ đư ường Judo chứ chưa chính thức truyền bá sâu rộng trong qu ng quần chúng. Mãi đến ngày 6 tháng 5 năm 1991 l Hiệp n lớp khí đạo đầu tiên ở thành phố Huế đư thành hình ược với bối cảnh khá thuận lợi: nhà Văn Hóa TN đang i: có nhu cầu mở thêm bộ môn Hiệp khí đ bên p đạo cạnh bộ môn Judo và Việt Võ đạo; c o; cũng vào thời điểm này các vị trưởng bối và bạ bè khuyến ạn khích, hổ trợ và động viên tôi truyền l môn học n lại

- 174 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
nhưPhú, Huỳnh ngọc Tú, Dương Trầ Xuân Lộc, ần Lê thị Uyên Nguyên, Phạm văn Quân, Ph m Phạm Trọng Ninh, Phan Phương Anh, Nguy ng Nguyễn thị Nhung, Võ văn Quang Huy, Nguyễn ng Thanh, n ngọc Võ thị Phương Loan, Lê thị Diệu Đ u Đức…Các lớp sau lại cũng có những người ham h như vậy: i học Châu ngọc Cường, Huỳnh văn Toán, Lê Hu nh Huỳnh Lâm, Hoàng thị Mỹ Lệ, Trần thị Vân Anh, B Bảo Toàn, Nguyễn Kim, Nguyễn thị H Hồng Giang, Nguyễn thị Ngọc Loan, Trần Hoài Thanh, Đ n Đặng Thanh Tùng, Bùi thị Roly, Nguyễn Anh D n Dũng, Nguyễn thị Ngọc Châu, Võ thị Trang, Lê vi viết Tám, Mai Anh, Trần đình Tâm, Lê th Thanh Thu, ình thị Đỗ văn Chung, Nguyễn thị Kỳ Giang, K Nam, Kỳ Nguyễn Phú, Nguyễn thị Ý Nhi, Đ minh Trí, Đỗ Huỳnh thị Hồng Hải, Ngô duy Trí, Ph i, Phạm thị Hải Yến, Hồ khắc Ninh, Lê văn Hướng, Tr Tú Việt, ng, Trần Lê tấn Trường An và còn nhiều nữa không th kể a thể ra hết... Chúng tôi say sưa tập luyện k thuật, trao n kỹ đổi những hiểu biết về lý thuyết hi khí như: t hiệp “Giao tranh với người khác, rồi thắ ắng, thì đó chỉ là sự thắng tương đối; không giao tranh mà v i; vẫn thắng, đó mới là sự thắng tuyệt đ t đối.” Morihei Ueshiba; hoặc “Phối hợp thể xác v tinh thần với làm sao để hòa làm một với thiên nhiên là m i mục đích chính của việc huấn luyện Hi khí đạo.”. n Hiệp Trong suốt thời gian rèn luyện, tôi th n, thường hằng mong cho chúng ta gặp được kỳ duyên đ liễu ngộ để được triết lý Tổ Sư chỉ dạy và nhờ đó có đ điều đủ kiện để phát triển đúng đường hướng c bộ môn ng của Hiệp khí đạo. Tôi cũng thường tự nh rằng không nhủ thể lấy võ thuật để chế ngự con ng người mà cần biết cách dụng Võ để dạy Đạo cho con ng o người, hướng con người đi vào thế giới hòa bình, không i tranh chấp; điều này nếu được áp d c dụng vào đời sống hàng ngày một cách đúng đắn thì cu sống n cuộc của chúng ta sẽ đạt đến một cảnh gi hòa bình nh giới tuyệt hảo giữa người và người bất kể là vợ chồng, ể cha con, mẹ con, thân thuộc, bạn bè….T những n bè….Từ lý thuyết thực tiển bổ ích nhưng không ph dễ ng phải dàng thực hiện này, tôi tự hứa là sẽ cố gắng hết ẽ sức và tìm mọi cách để trao truyền đ n được cho thế hệ kế tiếp hiểu và thực hành được cái c lõi của c cốt bộ môn Hiệp Khí đạo; điều quan tr u trọng là không thể mang những điều mình hữu duyên h được u học về bên kia thế giới mà không truyền l cho những n lại người có duyên với Hiệp Khí Đạo. Sau những ngày tháng đ tiên chập chửng ng đầu dựng xây với sự hổ trợ của b môn Judo Huế, đầu a bộ năm 1992 với sự trợ giúp tài chánh c Hội Việt của Kiều yêu Huế, bộ môn Hiệp khí đ đã sở hữu p đạo được một sân tập riêng và chính th thực hiện kế p thức hoạch truyền thừa cấp tốc nh c những sở học về Hiệp khí đạo. Kết quả của nổ lực này là sau hai năm b c bảy tháng tôi luyện Hiệp Khí Đ p Đạo-Huế đã hân hạnh trình diện Làng Võ thuật và công chúng m t mười Huyền đai đầu tiên. Có thể nói đây là ni niềm tự hào của bộ môn Aikido-Huế qua k quả của kỳ thi kết Huyền đai với thời lượng tập luy gấp ba lần đòi p luyện hỏi đã chọn được những Huy đai đúng tiêu ng Huyền chuẩn và đủ khả năng kế tục nhi c nhiệm vụ điều hành, phát triển bộ môn sau khi tôi r xa Huế….. rời

Hôm nay, ngồi ôn lại nh i những ngày tháng qua và soi rọi tâm tư của bản thân, tôi c n cảm nhận được một niềm hạnh phúc tràn trề vì s nỗ lực của Thầy sự Trò chúng tôi từ hai mươi năm v trước và mãi i về đến hiện tại đã được bồi đáp x i xứng đáng bằng sự hiện diện vững chắc của Aikido Aikido-Huế hiện nay. Hai mươi năm trôi qua với bao khó khăn, tr ngại, thử i trở thách tinh thần và nghị lực c thế hệ thứ hai của c của Hiệp khí đạo Huế: Hội đồng Huy đai Aikidong Huyền Huế và các môn sinh kế tiếp t những năm 1995 p từ đến 2011 đã chứng minh mộ cách hùng hồn khả ột năng và ý chí của Anh Em trong vi nổ lực duy a việc trì và phát triển bộ môn Aikido Aikido-Huế từ cái gốc của danh xưng mà Tổ sư Morihei Uyeshiba đ đặt cho đã Aikido Việt Nam: TENSHINKAI t TENSHINKAI-AIKIDO. Lúc ban đầu, quyết định chọn cái tên Tenshinkai n TenshinkaiAikido-Huế, chúng tôi đã mặ nhiên tuân theo di ặc huấn của Tổ sư và theo đúng l chỉ dạy của lời

- 175 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Người : VŨ TRỤ NHẤT GIA đế áp dụng cho Aikido Huế nói riêng và Aikido Việt Nam nói chung. Theo thiển ý cá nhân thì cho dù chúng ta thụ giáo từ một vị Thầy nào của Aikido thì vị Thầy đó cũng phải xuất phát từ cái gốc là Aikido do chính Tổ Sư sáng lập và truyền thụ; vậy cái danh xưng mà Aikido Việt Nam vinh hạnh được Tổ Sư đặt cho tại sao lại không được trân quý và tôn trọng? Sau ngày tôi giao quyền lại cho hai Vị môn sinh đồng trưởng tràng: Nguyễn đắc Trí và Võ đình Thanh cùng với Hội đồng Huyền đai thì tôi đã tôn trọng quyền tự lập và tự quyết của Hội đồng nên không không hề có ý kiến về việc này; hôm nay, nhân dịp kỷ niệm hai mươi năm thành lập bộ môn Hiệp Khí Đạo-Huế tôi chân tình nhắc nhở Anh Em nên nhớ câu UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN. Aikido-Huế được khai sinh từ cái gốc Tenshinkai Aikido thì cho dù vì hoàn cảnh phải linh động đổi thay thì nó vẫn không thể bị tước mất cái gốc sẵn có của nó. Đánh giá những nổ lực vượt khó khăn của Hội đồng Huyền đai và Anh Em môn sinh Huế từ 1995 đến nay, tôi thành thật nể phục ý chí và quyết tâm của mọi người, đặc biệt của Hội đồng Huyền đai của các thời kỳ mà công đầu là Vợ chồng Võ sư Võ đình Thanh & Phạm Thị Minh Thư và Võ sư Nguyễn đắc Trí; kế đến là công lao của các Huyền đai thuộc các thế hệ sau này. Các Huyền đai do tôi đào luyện đã tặng cho tôi một vinh dự rất lớn mà ngày nào tôi chưa hề có ước mơ sẽ có được: đó là sự tồn tại hữu ích và sự phát triển của Aikido-Huế hiện tại. Xin được ca ngợi và tán dương chung về tinh thần Hiệp Khí của tất cả Anh Em Huấn luyện viên và môn sinh của hai mươi năm qua. Chúng tôi chỉ là người khai phá, còn các Anh Chị Em sau này mới là nhân tố chính cần có để bồi đắp và phát triển. Rất mong Anh Em tiếp tục phát huy tinh thần Hiệp khí này để Gia đình Hiệp Khí Đạo chúng ta được cái hảnh diện ngẩng mặt nhìn đời trong công việc huấn luyện, giáo dục thế hệ thanh thiếu niên tương lai. Trong quá trình sinh hoạt và phát triển đương nhiên có gặp nhiều trở ngại, sai sót; đặc biệt là SỰ HÒA HỢP cần có trong phạm vi nhỏ là Hội đồng Huyền đai và trong phạm vi lớn hơn là toàn thể Anh Em Hiệp Khí Đạo (Huấn luyện viên và tất cả môn sinh) cũng đã có lúc bị sứt mẻ nhưng sau đó lại được trả về nguyên trạng hoà hợp. Ngày trước, Hiệp Khí Đạo-Huế đã từng sinh hoạt trong tinh thần nhất gia thắm tình Thầy Trò, Cha Con và Huynh đệ; không hề có sự tranh cãi bất hòa. Tôi ước mong và hy vọng toàn thể Anh Chị Em môn sinh các thế hệ trước và sau cũng nên noi gương này mà tiếp tục phát triển bộ môn ngày càng đi lên theo tinh thần của CHỮ HIỆP: NHÂN NHẤT KHẨU (tất cả mọi người đều cùng một miệng, cùng một ý). Hiện nay, tại thành phố San Jose, tiểu bang California, Hoa kỳ: tôi và Anh Chị Em môn sinh ở đây cũng đang thực hiện đúng tinh thần nhất gia này trong lớp Tenshinkai-AikidoSan Jose và chúng tôi đã sinh hoạt trong tinh thần này được mười năm. Mang mối tâm tư riêng phơi bày cùng mọi người tôi ngại rằng sẽ làm mất tính Hiệp Khí ở một vài Vị đồng môn, kính mong quý Vị hoan hỷ lượng thứ nếu quả có chuyện này. Một lần nữa, chân tình cảm ơn các Anh Em Aikido-Huế, đặc biệt các học trò ruột và các con của tôi đã mang lại cho bản thân tôi cái danh dự và hạnh phúc hôm nay; một phần thưởng tinh thần cao quý mà ngày khởi sự thực hiện lý tưởng này tôi không hề có cao vọng được đón nhận trong niềm hạnh phúc vô biên như hôm nay. Nhân dịp kỷ niệm Aikido Huế tròn hai mươi tuổi, tôi cũng xin được tạ ơn những Vị đã góp công sức vun bồi cho sự trưởng thành và phát triển của Aikido Huế; đặc biệt là quý Thầy Nguyễn ngọc Thanh, Thầy Hoàng ngọc Hùng, Thầy Bùi thế Cần, Quý Thầy ở Sài gòn, Đà Lạt, Cần Thơ, Hà nội…Thầy Vĩnh Thọ bộ môn Judo-Huế, Quý Anh Tiến, Anh Phùng, Anh Thất, Anh Lộc và cũng không thể quên người bạn đời của Võ sư Nguyễn đắc Trí…Tất cả quý Thầy, quý ân nhân và bảo trợ viên đã cận kề giúp đỡ Aikido Huế trong gần hai mươi năm qua để đến ngày hôm nay Aikido-Huế vẫn tồn tại và có được vị trí đứng giá trị trong lòng Đại gia đình Aikido Việt Nam và trên mảnh đất Thần kinh cổ kính dấu yêu.

Lê viết Đắc

- 176 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

NHỮNG ÔNG CẬU ỮNG THAM QUY QUYỀN
LÀM SỤP ĐỔ TRIỀU Ổ TRIỀUĐẠI
Ngô viết Trọng Đọc lịch sử, ta thấy bất cứ dòng h vua chúa òng họ nước nào cũng thường trải qua một thời h ờng hưng thịnh ban đầu rồi dần dần suy tàn, như àn, nhường chỗ cho một triều đại mới. Những kẻ cướp ngôi vua hầu ớp hết đều thuộc hạng bề tôi mạnh (c ết (cường thần). Trong số đó, số bà con bên ngoại của d ại dòng vua cũ không ít. Rút tỉa từ kinh nghiệm này, nhà Tr sau ày, Trần khi cướp ngôi nhà Lý đã triệt để áp dụng chế độ ệt nội hôn, chỉ cho những người trong dòng h Trần i họ mới được lấy nhau để tránh nạn ngoại thích c ợc cướp ngôi. Nhưng tránh trời không khỏi nắng, những vị ời vua đời sau của nhà Trần không chịu nổi sự g bó ần gò đó nên đã lấy người họ khác. Kết quả l nhà Trần ời là cũng mất ngôi về tay ngoại thích Hồ Quý Ly. ũng Điều đặc biệt trong lịch sử Việt Nam, tính từ ều khi ngài Ngô Quyền giành được độc lập đến triều ợc Nguyễn, chỉ có 11 triều đại lớn nhỏ: Ngô (không ễn, kể nhuận triều Dương Tam Kha và nhu triều Hồ ương nhuận Quý Ly), Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, M ê, Mạc, Trịnh (phương Bắc), Nguyễn (phương Nam), Tây Sơn, ương Nguyễn (thống nhất) thì đã có 4 triều đại bị sụp đổ ều bởi chính những ông cậu ruột của vị vua đ ởi đương thời. 1. Ông Cậu Dương Tam Kha: Dương Tam Kha là con của Tiết độ sứ ủa Dương Đình Nghệ và là em của Dương Như ương

Ngọc, vợ của Ngô Quyền, vị vua đầu ti của ền, tiên nước ta trong thời kỳ tự chủ (939). Khi l ngôi, vì ớc lên tin tưởng em vợ, Ngô Quyền đ trao cho Dương ởng đã Tam Kha khá nhiều quyền h ều hành trong triều. Đến năm 944 thì Ngô Quyền lâm bệnh m qua đời. ền mà Trước khi mất, ngài cho mời D ời Dương Tam Kha đến gởi gắm người con lớn là Ngô Xương Ng với hi à Ngập vọng Dương Tam Kha sẽ tận t ẽ tình giúp cháu trị dân. Thế nhưng Dương Tam Kha là ngư tham ưng người lam, Ngô Quyền vừa mất Dương Tam Kha li ra ương liền tay cướp ngôi của cháu. Ông x ớp xưng hiệu là Bình Vương (944-950). Ngô Xương Ngập phải chạy 950). trốn về huyện Nam Sách (Hải D ốn Dương) và được Phạm Lệnh Công che chở mới thoát nạn đ ạm được. Dương Tam Kha lại lấy người em của Ngô X ời Xương Ngập là Ngô Xương Văn làm con nuôi. à Vì sự cướp ngôi của D ớp Dương Tam Kha, dân chúng không phục tùng chính quy trung ương ùng quyền nữa. Mầm loạn chớm lên khắp n Những tay có ắp nơi. thế lực đã lợi dụng cơ hội này gây d ày dựng quân đội cát cứ từng địa phương. Đến năm 950, D ến Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn cùng hai tư tướng là Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát L đem quân đi dẹp à Lợi một vụ nổi loạn ở Thái Bình. Đi nửa đường, Ngô ình. Xương Văn thuyết phục được hai t ợc tướng Thạc và Lợi đem quân trở lại đánh úp D ợi Dương Tam Kha. Không chống chọi nổi, Dương Tam Kha b bắt. ương bị Nghĩ tình cậu cháu, Ngô X ậu Xương Văn chỉ giáng

- 177 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
chức Dương Tam Kha xuống làm Chương Dương Công mà tha tội chết. Sau đó Ngô Xương Văn cho người đi rước Ngô Xương Ngập về Cổ Loa rồi hai anh em cùng làm vua. Ngô Xương Văn xưng là Nam Tấn Vương, Ngô Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương tục gọi là nhà Hậu Ngô. Tuy nhà Ngô đã giành lại được ngôi báu, nhưng các thổ hào địa phương trải qua một thời gian khá lâu xây dựng thế lực riêng đã quen nề, không muốn lệ thuộc triều đình nữa. Không lâu sau đó thì Thiên Sách Vương qua đời. Giặc giã ngày càng tăng. Nam Tấn Vương đã phải liên miên đi đánh dẹp. Cuối cùng, trong lần dẹp giặc ở Thái Bình, Nam Tấn Vương đã không may bị trúng một phát tên độc mà chết. Từ đó thế lực của triều đình suy yếu hẳn. Đỗ Cảnh Thạc lợi dụng cơ hội này cũng ly khai triều đình, chiếm Đỗ Động Giang làm vùng đất cát cứ riêng. Con của Thiên Sách Vương là Ngô Xương Xí lên kế vị chỉ còn giữ được một vùng đất nhỏ ở Bình Kiều, chỉ còn được coi như một sứ quân mà thôi. Tới năm 968 thì Ngô Xương Xí phải đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh và nhà Ngô mất. Dương Tam Kha thì chết già trong âm thầm. 2. Ông Cậu Trần Thừa: Nhà Lý dựng nghiệp năm 1010, đã trải qua một thời kỳ hưng thịnh, đến các đời vua sau thì càng ngày càng suy yếu. Năm 1208, vì vua Lý Cao Tôn bất minh xử oan viên tướng có công Phạm Bỉnh Di nên thuộc hạ của Bỉnh Di là Quách Bốc nổi loạn chiếm lấy kinh thành Thăng Long. Vua Cao Tôn phải chạy lên mạn Qui Hóa tị nạn. Thái tử Lý Hạo Sảm thì chạy về Hải Ấp (huyện Hưng Nhân), tá túc ở nhà phú hào Trần Lý. Trần Lý bèn tập họp con cháu dấy binh giúp triều đình dẹp loạn Quách Bốc. Sau khi cuộc dẹp loạn thành công, hai người con trai của Trần Lý là Trần Thừa, Trần Tự Khánh và người cháu gọi ông bằng bác là Trần Thủ Độ đều được vua Lý Cao Tôn trọng dụng. Trong thời gian ở nhà Trần Lý, thái tử Sảm đã phải lòng người con gái út của ông là Trần Thị Dung. Sau khi yên việc, thái tử Sảm bèn nạp Trần Thị Dung làm phi. Khi vua Cao Tôn qua đời, thái tử Sảm lên kế vị tức vua Huệ Tôn, lập Trần Thị Dung làm nguyên phi rồi sau thăng lên làm hoàng hậu. Thế lực của họ Trần càng ngày càng được mở rộng. Vua Huệ Tôn và hoàng hậu Trần Thị Dung không có con trai, chỉ sinh được hai công chúa là Thuận Thiên và Chiêu Thánh (tên Phật Kim). Nhà vua vốn thể lực yếu đuối, tinh thần cũng bạc nhược, luôn phó mặc công việc triều chính cho quan Phụ chính Trần Tự Khánh giải quyết. Năm 1223 Trần Tự Khánh mất, vua Huệ Tôn cho Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy. Để tạo sự ràng buộc giữa hai nhà, vua Huệ Tôn gả công chúa Thuận Thiên cho con trai của Trần Thừa là Trần Liễu. Công chúa Chiêu Thánh được phong làm thái tử. Sang năm sau lại cho người em họ của hoàng hậu là Trần Thủ Độ làm Điện tiền Chỉ huy sứ. Tháng 10 năm giáp thân (1224), vua Huệ Tôn truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa tức là Lý Chiêu Hoàng rồi vào tu ở chùa Chân Giáo. Lý Chiêu Hoàng tuy đã làm vua nhưng chỉ mới 7 tuổi đâu có biết gì. Vì thế, ông cậu ruột Trần Thừa và ông cậu lại Trần Thủ Độ của vua tha hồ thao túng triều đình. Trần Thừa còn khiêm tốn,

- 178 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
dè dặt, riêng Trần Thủ Độ quyết chợp lấy c hội ết cơ này để đoạt thiên hạ về tay họ Trần. Ông đ đưa ạ đã Trần Cảnh mới 8 tuổi, con thứ của Trần Thừa, v ần vào hầu hạ Lý Chiêu Hoàng. Sau đó Trần Thủ Độ đ ần đã xếp đặt để gài Lý Chiêu Hoàng và Tr Cảnh vào ài Trần một cuộc hôn nhân theo ý muốn của ông. ột Không lâu sau đó Lý Chiêu Hoàng đ êu đã nhường ngôi cho chồng. Sự nghiệp triều Lý kéo ờng dài được 215 năm (1010-1225) thì ch 1225) chấm dứt. Trần Cảnh đã trở thành vua Trần Thái Tôn, vị vua đầu ần tiên của nhà Trần (1225-1400). Trần Thừa đ ần được tôn làm Thái thượng hoàng, khi m được tôn àng, mất miếu hiệu là Trần Thái tổ. 3. Ông Cậu Trương Phúc Loan: ương Trương Phúc Loan là dòng dõi công th òng thần nhiều đời của các chúa Nguyễn ở Đ ều Đàng Trong. Cha của Loan là Thái bảo Phan quốc công Tr ảo Trương Phúc Phan lấy công nữ Ngọc Nhiễm l con của ấy là chúa Nguyễn Phúc Thái (hoặc Trăn). Chị ruột của ặc Loan là Trương Thị Thư lại được gả cho chúa ợc Nguyễn Phúc Trú, được phong làm Th àm Thục phi. Thục phi sinh ra Nguyễn Phúc Khoát tức l chúa ục là Võ Vương sau này. Nhờ những liên h gia đình ên hệ như thế nên khi chúa Võ Vương lên ngôi (1738), ương dù chưa lập được công trạng gì, Tr ì, Trương Phúc Loan vẫn được cử làm phụ chính. Bản chất của Trương Phúc Loan không đư ương được lương thiện. Thấy chúa Võ Vương ham lo vi ương việc triều chính, ít chịu nghe lời ông, ông không vui ều lòng. Thế rồi ông tìm cách dẫn dụ để đ chúa vào ẫn đưa con đường bê trễ, hư hỏng. Với tư cách là c ruột ư cậu của chúa, ông đã gài thế, tạo điều kiện cho chúa ế, làm chuyện loạn luân với người em chú bác ruột l ời là công nữ Ngọc Cầu (con của Dận quốc công ữ Nguyễn Phúc Điền, chú ruột của chúa). Kết quả ễn của mối tình loạn luân này là công t Nguyễn ày tử Phúc Thuần ra đời (cuối năm 1753). Nguyễn Phúc ần Thuần đã được nuôi kín ở hậu cung để giới hạn ợc bớt tai tiếng cho chúa. Tháng 7 năm 1765 thì chúa Võ V ì Vương qua đời, để lại di chiếu truyền ngôi cho công tử thứ hai ời, là Nguyễn Phúc Luân đã 33 tu kế vị. Biết ã tuổi Nguyễn Phúc Luân (cha của Nguyễn Phúc Ánh ễn tức vua Gia Long sau này) là ngư thông minh, ày) người cứng rắn không thể chi phối quyền h ứng hành được, Trương Phúc Loan bèn âm mưu cùng thái giám Chữ Đức và Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thông bắt ởng giam Nguyễn Phúc Luân, giết hai vị thầy học của ễn Luân là Nội hữu Cai cơ Trương Văn H ơ Hạnh và Thị giảng Lê Cao Kỷ rồi giả chiếu chỉ đ công tử thứ ỷ đưa 16 là Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi l ngôi tức ễn lên là chúa Định Vương. Nguyễn Phúc Luân v uất ễn vì hận nên mắc bệnh mà qua đời ời. Chúa Định Vương vừa lên ngôi liền phong cho Trương Phúc Loan chức Quốc Phó, quản lý bộ Hộ, quản cơ Trung tượng kiêm tàu vụ (lo việc thông thương với tàu bè ngoại quốc). Loan lại dàn xếp cho con trai l Chưởng dinh ếp là Trương Phúc Thặng lấy công nữ Ngọc Ngu ặng Nguyện, Cai cơ Trương Phúc Nhạc lấy công nữ Ngọc Đảo, ạc đều là chị ruột của chúa Định V ị Vương. Do vậy nên quyền hành trong triều của Tr ều Trương Phúc Loan lại càng vững. Để củng cố thế lực, Loan c tiến cử một ể còn người thân tín là Thái Sinh gi Hộ bộ. Thấy à giữ Nguyễn Phước Dục được nhiều ng ợc người nể trọng, Loan bèn gả con gái cho Dục để cầu thân. Nh ả Nhưng về sau thấy không lợi dụng đ ề được Dục, Loan bèn

- 179 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
vu tội cho Dục rồi cách chức. Dục phẫn uất quá nên phát bệnh mà chết. Muốn chóng làm giàu, Loan đặt thêm nhiều loại thuế mới rồi cho người thân tín đi thu, thu xong chỉ nộp lại cho nhà nước vài phần tượng trưng còn bao nhiêu bỏ túi cả. Ngoài ra Loan còn bày ra việc bán tước mua quan để thu gom vàng bạc nữa. Loan giàu đến nỗi sau một trận lụt lớn nhà bị ngập, Loan sai phơi vàng trên sân lấp lánh cả một góc trời. Dân chúng vô cùng oán thán Loan nên gọi Loan là Trương Tần Cối (Tần Cối là một gian thần nổi tiếng đời Tống đã hãm hại không biết bao nhiêu kẻ trung lương yêu nước). Chính sách cai trị hà khắc của Loan làm dân chúng chịu không nổi, trong nước xảy ra nhiều vụ nổi loạn. Năm 1771, ba anh em Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ dấy nghĩa ở Bình Định. Quân chúa Nguyễn đánh dẹp nhiều phen không xong. Nghĩa quân ngày càng lớn mạnh một cách đáng sợ. Được tin này, chúa Trịnh Sâm ở Đàng Ngoài liền sai tướng Hoàng Ngũ Phúc kéo quân vượt sông Gianh với lý do giúp chúa Nguyễn dẹp giặc Tây Sơn. Đến tháng 10 năm 1774 quân Trịnh chiếm được dinh Quảng Bình. Quân Trịnh tiến đến đâu quân Nguyễn thua chạy đến đó. Tiếp đó chính chúa Trịnh Sâm cũng thân cầm quân vào đến Nghệ An hỗ trợ Hoàng Ngũ Phúc, ra thông cáo đem quân vào Nam quyết bắt bắt cường thần Trương Phúc Loan để cứu dân. Đã có cớ để trừ Trương Phúc Loan, Ngoại hữu Chưởng dinh Nguyễn Cửu Pháp và Tiết chế thủy bộ Nguyễn Phúc Cường tâu với chúa Định Vương bàn mưu mời Loan đến bàn việc quân rồi bất ngờ bắt Loan đem nộp cho Hoàng Ngũ Phúc để hoãn binh. Đồng đảng với Loan là Hộ bộ Thái Sinh cũng bị bắt giam rồi chết tại ngục. Trương Phúc Loan thì bị dẫn độ ra Bắc nhưng vì sợ quá đã mang bệnh chết dọc đường (1776). Thừa lúc chiến tranh loạn lạc, nhà cửa, của cải của Loan đều bị quân, dân cướp phá tan tành hết… 4. Ông Cậu Bùi Đắc Tuyên: Bùi Đắc Tuyên người xã Bình Phú, huyện Tuy Viễn, phủ Qui Nhơn vốn là con của nhà cự phú Bùi Đắc Lương. Ông có hai người anh là Bùi Đắc Chí, Bùi Đắc Trung và hai em gái là Bùi Thị Loan, Bùi Thị Nhạn. Bùi Thị Nhạn lấy Nguyễn Huệ sinh ra Nguyễn Quang Toản. Khi Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, bà được phong làm hoàng hậu và Nguyễn Quang Toản được phong làm thái tử. Nhờ mối liên hệ đó, dù Tuyên chữ nghĩa không nhiều vẫn được phong Thị lang bộ Lễ và được phép ra vào nơi cung cấm. Khi vua Quang Trung mất (1792), Quang Toản lên ngôi tức vua Cảnh Thịnh, Bùi Đắc Tuyên được phong làm Thái sư. Cầm được quyền lớn, Tuyên hay chuyên quyền độc đoán nên các quan văn võ phần nhiều bất bình. Người nào xu phụ Tuyên thì được ưu đãi, người nào chống Tuyên thì bị cách chức, hãm hại hoặc đày đi trấn nhậm xa xôi. Hổ tướng Tây Sơn Lê Văn Hưng được phái đi đánh giặc ở Phú Yên, sau khi thắng trận, Hưng giao thành cho Nguyễn Quang Huy giữ rồi kéo quân về Phú Xuân. Thái sư Tuyên thấy thế liền bắt tội Hưng không thỉnh mệnh trước, tỏ ý muốn làm phản, tâu vua chém đầu để răn đe kẻ khác. Vua Cảnh Thịnh nghe lời. Đại tư mã Ngô Văn Sở cố can nhưng không được. Phụ chính Trần Văn Kỷ cũng can, Thái sư Tuyên nổi giận cách chức rồi đày ra coi trạm Hoàng Giang. Sau đó Thái sư Tuyên sai Ngô Văn Sở ra Bắc thay thế Đại đô đốc Võ Văn Dũng và gọi ông này về Phú Xuân. Võ Văn Dũng về đến Hoàng Giang thì gặp Trần Văn Kỷ. Kỷ bèn đem mọi việc xảy ra thuật lại cho Dũng nghe và khuyên Dũng nên sớm trừ Thái sư

- 180 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Tuyên để tránh hại cho quốc gia và bản thân. Dũng vốn tin và trọng Kỷ nên liền nghe theo. Về đến Phú Xuân, Dũng không vào triều mà bí mật mời Thái úy Phạm Công Hưng và Thái bảo Nguyễn Văn Huấn tới bàn mưu giết Bùi Đắc Tuyên. Vốn đã bất bình với Thái sư Tuyên sẵn, hai tướng này liền hưởng ứng ngay. Đêm đến, ba tướng huy động quân sĩ đến vây dinh Thái sư ở gần chùa Thiền Lâm phía Nam sông Hương. Không ngờ đêm ấy Thái sư Tuyên có việc đang ngủ trong cung vua. Quân nổi dậy liền bao vây luôn cung vua và thỉnh cầu vua Cảnh Thịnh cho giao nộp Thái sư Tuyên. Vua Cảnh Thịnh buộc lòng phải cho bắt Thái sư Tuyên đem giao nộp. Tiếp đó, Võ Văn Dũng cử Nguyễn Văn Huấn vào Qui Nhơn bắt con của Bùi Đắc Tuyên là Bùi Đắc Trụ đang coi việc quân ở đó, đồng thời giả chiếu chỉ phái Đô đốc Hài ra Bắc bắt luôn Ngô Văn Sở. Giải hết về Phú Xuân xong, Võ Văn Dũng phao cho cha con Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở tội mưu phản, đóng cũi lại đem dìm xuống sông Hương cho chết. Từ khi Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền, nhiều nhân tài của nhà Tây Sơn đã bị hại. Kẻ bị giết chết, người phải lo trốn tránh, có kẻ về hàng đối thủ của nhà Tây Sơn là Nguyễn Phúc Ánh. Kéo theo uy quyền của vua Cảnh Thịnh cũng bị suy giảm nhiều. Sau vụ Bùi Đắc Tuyên bị giết, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đã dàn quân đối trận nhau trên sông Hương khiến chính vua Cảnh Thịnh phải thân hành dàn xếp mới yên. Tuy thế, không khí nghi kỵ, chia rẽ nhau trong nội bộ nhà Tây Sơn vẫn ngày càng lan rông. Nguyễn Phúc Ánh đã không bỏ lỡ cơ hội khai thác nhược điểm này để rồi không bao lâu sau đó đã tận diệt nhà Tây Sơn.

THU BUỒN
Trời buồn, mà đời ta buồn hơn, Cô đơn vây trong tâm hồn, Căn nhà hiu quạnh, Năm tháng triền miên, Ôi đau thương một đời, Ôi cô đơn ngậm ngùi, Biết nói cùng ai !!! Trời buồn, vào thu giăng mây, Sao thu rồi chưa thấy lá vàng bay? Bâng khuâng bồi hồi, Ngày tháng dần trôi, Ôi tĩnh lặng một giòng sông, Ôi thầm lặng một cuộc đời, Biết về đâu? Bao nhiêu sầu, Bao nguyện cầu, Biết nói cùng ai?

Hiệp Thành

Ngô Viết Trọng

- 181 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Người ấy:

trên đời chỉ có một. ời
Hoàng thị Vịnh Thủy ị

Người ấy là Nguyễn thị Nguy Hảo, một ễn Nguyên bạn đồng niên QH 61-62 của chúng ta. V ngày ủa Vào chủ nhật 17/4/2011, Hảo đã trút hơi th cuối cùng ơi thở từ giã cõi đời tại Houston, Texas, để lại vô v ời vàn thương tiếc cho biết bao người thân v sơ, gần và ời và xa. Có lẽ đối với những bạn thời ĐK v thời QH ạn và 61-62, cái tên Nguyên Hảo gợi ngay h ảo hình ảnh người thiếu nữ trong sáng trong chi áo dài lụa g chiếc trắng với vẻ đẹp dịu dàng vô cùng cu hút. Làn àng cuốn da mịn và trắng, đôi mắt long lanh, môi hồng ph ắng, phơn phớt, mái tóc uốn ngắn ôm lấy khuôn mặt mủm ớt, mỉm, nụ cười hiền dịu … Bên trong v đẹp ấy là ên vẻ một bản chất cao đẹp hiếm có. Hảo là người vợ đảm đang chung thủy, l ời là người mẹ bao la tình mẫu tử, là ngư con hiếu à người thảo, là người chị giàu tình yêu thương b bọc, là ương bảo người bạn nhiệt tình thân ái … Trong nh ình những vai trò ấy, Hảo gương mẫu như tất cả những ng ất người đàn bà đức hạnh khác, đã là một viên ng quý. ngọc Nhưng Hảo không chỉ là chừng đó, m là một viên ừng mà ngọc hiếm, một người trên đời chỉ có một, nh kết ời như luận của đông đảo bạn bè. Hảo không có một tài năng đặc biệt, một trí ặc tuệ xuất chúng, những thành tích vang d về văn ành dội học hay nghệ thuật v.v… Không, Hảo không có g ảo gì phi thường, không làm nên gì phi thư ường . Hảo chỉ khác thường là được sinh ra với một bản chất đặc ợc biệt trung hậu nhân ái, đem vốn quý ấy sống chan ệt hòa chân thật với mọi người. Hảo có nhiều bạn. Và nhiều bạn thân. Có thể ều nói Hảo là người có nhiều bạn thân… « nhất thế ời giới ». Cứ mỗi khi có ai nhắc đến một ng ới người vắng

Nguyễn thị Nguy Hảo ễn Nguyên

mặt là Hảo reo lên : « A, con n (hay chị nớ) là nớ bạn THÂN của Hảo đó ». Với nụ cười tươi luôn n trên môi, phong ươi nở cách vui vẻ lởi xởi , Hảo hân hoan đón nh và nhận trao đi tình thân với tất cả bạn b mà Hảo có cơ ới bè hội gặp gỡ. Bạn thân nhiều, thân ít, rất thân. Bạn ội mọi thời, mọi lứa tuổi. Bạn ở VN, ở Mỹ, ở ọi Canada, ở Uc… Trong tim Hảo chứa rất đông bạn, nhưng không ai cảm thấy phải chen lấn chật ch ảm chội, bởi đối với ai Hảo cũng quan tâm, trân trọng, thân ởi ái. Thương bạn thì tặng qu và trong chuyện ặng quà, này thì Hảo « tào lao » hết chỗ nói . T lao là ết Tào cách nói vui về sự hào phóng r ào rộng rãi có một không hai của Hảo. Về VN thăm mẹ th sửa soạn ủa thì sẵn hàng chục gói quà để « gặp ai th tặng » . Trở ể thì lại Mỹ thì đem về hàng chục bộ pyjama th hàng ục thêu, chục chiếc áo lụa tơ tằm. Gặp món g hay đẹp khi ằm. gì đi mua sắm thì mua trữ, mỗi thứ không phải chỉ ữ, một vài đơn vị v.v… Vì vậy m ai cũng có quà, và ậy mà phần lớn không phải chỉ một đôi lần. Đối với các ần

- 182 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
bạn « rất thân » thì nhiều lối quan tâm khác. Với ều cô bạn viết văn xuất bản tác phẩm th mua nhiều ạn thì bản để ủng hộ tác giả và làm quà tặng. Hằng năm ặng. nhiều bạn ở phương xa đều có tập san « Lá th ều thư Phượng Vỹ » là do Hảo gửi. Với cô bạn có c ảo chiều cao hơn Hảo thì : « Hảo thấy cái áo n đẹp, Hảo ảo này thích lắm, Hảo mua cho (…) vì phải cao mặc mới ải đẹp », và điều đó thường xuyên lập lại, một số áo ập là hàng hiệu đắt tiền. Với cô bạn thích viết văn, ền. dịch thuật và làm việc thiện thì Hảo tặng h ảo hàng lô giấy (giấy có sẵn ở nhà in, nhưng phải đóng th ải thùng gửi xuyên biên giới, không tào lao thì là chi n !) ào nữa và in giấy viết thư đẹp để bạn giao dịch. Với cô ẹp bạn ở Houston thích ăn một loại kẹo Pháp không ạn có bán ở Mỹ thì khi đến Montreal, Hảo t mua ến tìm cho được để đem về tặng. Ôi, «chuyện d ề dài» này kể mãi không hết. Kèm theo những món qu là ững quà tấm thiệp hay tờ thư với những lời lẽ thân ái. ới Hiền lành, dịu dàng, chân thật, không phô trương vẽ vời, không ác khẩu, không nói xấu người khác. Thảng khi bị ai đối xử không tốt hay làm tổn thương, thì vẫn với nụ cười tươi, lởi xởi lý giải rằng đó là do cái « nghiệp » của mình, là do mình có lỗi lầm nào đó với người kia trong kiếp trước. Có lẽ Hảo có ý thức mình đẹp, và rất chăm chút về ngoại hình về trang phục như hầu hết phái nữ. Nhưng cái g là « ưng gọi tự yêu nhan sắc mình - narcissism » thì không m một mảy may. Nói « có lẽ » bởi vì sắc đẹp ấy l ắc làm sao không nhận ra, nhưng không khi nào H có chút ưng Hảo biểu lộ tự cao tự mãn. Về sau, có một thời gian d ề dài phải dùng thuốc điều trị bệnh suyển, dung nhan b , bị nhiều thay đổi, Hảo cũng không vì đó mà mặc ì cảm bi ai, vẫn một phong cách hồn nhi yêu ảm nhiên người yêu đời trong giao tiếp. Thời thanh xuân, Hảo l đối tượng mơ ước ời là của nhiều người khác phái. Những ai đ tỏ tình, đã ời đã đưa thư, đã bày tỏ với Hảo lòng mê đắm ? Thông òng thường, phái nữ thích lấy đó để tạo h quang cho ờng, hào mình. Nhung Hảo thì không k ra với ai. Ở tuổi ì kể sôi nổi yêu đương, Hảo chỉ náo nức tâm sự với ảo người thân và bạn bè về mối t ề tình với Nhị, và trọn đời, đã là người yêu thủy chung, ng ủy người vợ tận tụy của Nhị.Hảo cũng sống rất đẹp trong mối li hệ ủa liên mẹ chồng nàng dâu là thứ liên h thường không dễ ên hệ dàng. Hảo yêu thương và cư x với mẹ chồng êu xử không khác gì người con hiếu đối với cha mẹ ruột. ời Lúc mới thành hôn, đã có nh ã những thời gian Hảo ở với bà, mẹ con rất tâm đắc. Lúc b cư ngụ ở ất bà Montreal, Hảo luôn quan tâm để b không thiếu ảo bà hụt về tài chánh, mỗi tuần đều đặn gọi điện thoại ỗi trò chuyện với bà, thường xuy gửi quà, gửi thư, ờng xuyên gửi thiệp và xa xôi không đi thăm đư à được dễ dàng thì nhờ bạn đi thăm. Đáp lại, ờ Hảo cũng được mẹ chồng rất th ợc thương quý. Với các con dâu cũng vậy, Hảo ới cưng qúy con dâu và đư con dâu cưng được quý. Tình thương của Hảocũng trải rộng đến ủa những người khốn khó trong x hội. Sau ời xã ngày Hảo qua đời, để t ảo tưởng nhớvà thực hiện ý nguyện của Hảo, bạn b đã góp ện bè tiền gửi về hổ trợ những tổ chức từ thiện ền mà khi còn sống Hảo th ống thường xuyên đóng góp. Có người sinh ra l thiên tài âm ời là nhạc, là thiên tài toán h là thiên tài hội à học, hoạ v.v… Họ được nhân loại vinh danh. ợc Hảo, một bạn đồng niên của chúng ta, đ ủa được sinh ra với một bản chất trung hậu nhân ái đặc biệt, đ ới đã đem món quà trời cho ấy để sống đẹp với những ời người đồng thời. Chúng ta vinh danh ng ời người bạn đặc biệt của chúng ta.

Hoàng thị Vịnh Thủy
QH 61- 62.

- 183 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Le coin de la rue est deux fois plus loin qu’auparavant ! Et ils ont ajouté une montée que je n’avais jamais remarquée. J’ai dû cesser de courir après l’autobus, Parce qu’il démarre bien plus vite qu’avant. Je crois que l’on fait les marches d’escaliers bien plus hautes que dans notre temps ! L’hiver le chauffage est beaucoup moins efficace qu’autrefois ! Et avez-vous remarqué les petits caractères vous que les journaux se sont mis à employer ?

Quand les ans s’additionnent

Les jeunes eux-mêmes ont changé ! mêmes ils sont bien plus jeunes que lorsque j’avais leur âge ! Et d’un autre côté les gens de mon âge sont bien plus vieux que moi. L’autre jour je suis tombée sur une vieille connaissance; elle avait tellement vieilli qu’elle ne me reconnaissait pas ! nnaissait Tout le monde parle si bas qu’on ne comprend quasiment rien ! On vous fait des vêtements si serrés, surtout à la taille et aux hanches, que c’est désagréable ! Je réfléchissais à tout ça en faisant ma toilette ce matin. Ils ne font plus d’aussi bons miroirs s qu’il y a 40 ans …

(Auteur inconnu)

- 184 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

KHI TUỔI ĐỜI CHỒNG CHẤT
Góc phố ấy xưa nay rất quen thuộc, Chừ thấy xa hơn trước gấp đôi. Họ đắp từ lúc nào đâu biết được Một đoạn dốc dài leo mệt quá đi thôi! Thôi đừng chạy theo xe buýt hấp tấp Bởi lúc này xe khởi động hơi nhanh . Nay cũng thấy họ xây những bậc cấp Cao hơn nhiều so lúc tuổi còn xanh. Khi mùa đông đến mưa gió bão bùng Máy sưởi kia nay chẳng còn đủ ấm. Và bạn thấy trên các tờ báo sớm, Chữ in chừ nhỏ quá, phải không? Bọn thanh niên chừ cũng thay đổi nữa, Họ trẻ hơn mình vào tuổi họ trước kia, Còn những kẻ với mình cùng trang lứa, Càng so càng thấy rõ họ già ghê ! Mới bữa kia tình cờ nơi cuối phố, Gặp một người quen biết đã lâu rồi. Người ấy bữa ni già đến nỗi Sát mặt kề cũng chẳng nhận ra tôi! Khắp nơi nơi mọi người đều nói nhỏ, Căng hết tai mà mô có hiểu chi! Áo quần mình chừ họ may quá bó Chật cứng cả người, khó chịu quá đi! Đó là những vấn vương đến với tôi bất chợt Sáng nay lúc rửa mặt,tôi soi mình trong gương. Cái gương cũng chẳng tốt bằng, Bốn mươi năm trước mình từng ngắm soi… THÂN TRỌNGTHỦY phóng dịch từ bản tiếng Pháp “Quand les ans s’additionnent” không rõ tác giả

TUỔI ĐỜI DÀI THEO NĂM THÁNG
Đã bao lần đi về góc phố đó Sao bây giờ bỗng thấy xa gấp đôi. Lại còn có thêm một con đường dốc, Chẳng biết ai đắp từ bao lâu rồi. Thôi không dám chạy theo xe buýt nữa, Xe bây giờ sao khởi động quá nhanh. Những bậc cấp cũng xây cao hơn trước, Không giống như thuở tóc hãy còn xanh. Mùa đông về mang theo cơn giá rét Máy sưởi giờ không còn ấm như xưa. Rất ngại ngần mỗi khi cầm tờ báo, Chữ nhỏ xíu, cố lắm mới đọc ra. Lớp thanh niên giờ quá nhiều thay đổi, So với mình thời trước họ trẻ hơn. Và, mặt khác, những người cùng lứa tuổi, Trông họ già hơn hẳn, lạ quá chừng ! Mới hôm nào gặp người quen biết cũ, Rất tình cờ khi trên phố dạo chơi, Giờ đây người sao quá già đến nỗi Cứ cố nhìn mà chẳng nhận ra tôi ! Chung quanh mình ai cũng ưa nói nhỏ Cố lắng tai nghe chẳng hiểu câu nào. Còn áo quần người ta may cũng khác, Cứ bó sát người, khó chịu làm sao ! Những điều đó tôi nghĩ vơ nghĩ vẩn Lúc soi gương rửa mặt sáng hôm nay. Những chiếc gương bây giờ không được tốt Như vào thời bốn mươi năm trước đây ! THÂN TRỌNG SƠN chuyển ngữ từ bản tiếng Pháp “Quand les ans s’additionnent” không rõ tác giả

- 185 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

CÓ NHỮNG GIÒNG SÔNG
Thanh Huệ
Trong đời chúng ta, thường ai cũng lớn lên từ một giòng sông và trong lời ru của mẹ, từ cây đa giếng nước đầu làng trong hương thơm của mùa cau mới trổ, từ vườn sắn nương dâu ngọt ngào mùi đất mới. Trong ký ức ẩn chứa cả một khung trời tuổi thơ đầy hoa mộng. Và bây giờ, cứ mỗi lần nhớ đến những kỷ niệm là mỗi lần cảm thấy bồi hồi rung cảm cho dù thời gian đã làm phai nhạt ít nhiều và cho dù cuộc đời nổi trôi theo những tháng ngày nghiệt ngã. Tôi có một người anh họ, tên anh là “Sóc”, một cái tên rất lạ và dễ thương. Và sau này, khi đi dạy, anh đổi tên là “Tôn Thất Huyến”. Anh rất đẹp trai với khuông mặt hiền hòa đầy chất nghệ sĩ. Đôi mắt anh lúc nào cũng mơ màng như đang tưởng nhớ đến một bóng hình nào đó. Anh thường hay đến dạy kèm chúng tôi nhất là trong mùa thi cử. Anh chỉ cho tôi cách giải những phương trình đại số phức tạp. Anh cũng tận tình giảng cho tôi biết những ngôn từ và ký hiệu của hóa học như H2O, C2H5OH hay C6H6 ..v.v..Ngoài những giờ học, anh cũng thường hay kể cho chúng tôi những câu chuyện ma hay đọc cho chúng tôi nghe những bài thơ tình anh viết. Nhà cha mẹ tôi ở xóm Ngự Viên trên con đường mang tên là đường Trung Bộ. Dẫn vào nhà tôi là một con kiệt dài thăm thẳm, chạy dọc theo một dãy tường gạch. Phía bên kia tường là ngôi nhà rất đẹp của ông bà Trần đình Hy. Trước sân nhà là một mảnh vườn được thiết kế theo kiểu của người Anh. Một vườn hoa hình tròn, trong đó trồng hoa mẫu đơn màu đỏ sậm, hoa tỉ muội màu trắng và hoa hồng đủ loại. Cách vườn một khoảng không xa là một chiếc giếng với rêu xanh phủ đầy trên miệng giếng. Đặc biệt có một cây vả sai trái mọc uốn quanh theo vòng tròn của giếng.

Cách đó không xa là nhà của chị Diệu Phương và xa hơn chút nữa có nhà của Kim Chi, Tao Phùng, Hoàng Cần, Thủy Tiên và Phương Lan. Phía bên trái của đường kiệt là chùa Diệu Hỷ. Đường kiệt dẫn vào nhà tôi có nhiều bụi tre nứa và rất vắng vẻ, phảng phất một chút gì liêu trai như những con đường được mô tả trong tiểu thuyết của Kim Dung. Con đường này đã mang nhiều dấu ấn huyền thoại của tuổi thơ của chúng tôi. Bên phải con đường là một dải đất nhỏ cỏ mọc xanh um. Trên khoảnh đất này là những gò mả nhỏ, nơi chôn những thai nhi hoặc những trẻ sơ sinh thiếu tháng mà người ta gọi là mả ông Trạng. Cũng trên khoảnh đất này có một ngôi Miếu cổ mòn mỏi với thời gian luôn được hương khói. Trên bàn thờ có một cặp chân đèn và một áng thư. Những ngày rằm hoặc ba mươi thường có người đến quét dọn lau chùi bàn thờ, bày biện hoa quả và thắp nhang khấn lạy. Những lúc tan học, chúng tôi thường cùng nhau ngồi ở đầu đường kiệt, chờ đợi có bóng dáng người lớn thì cùng nhau lẽo đẽo theo sau để về nhà. Có một hôm trời mưa, tôi cố chạy theo một người trên đường kiệt để về nhà. Tôi nghe hình như có ai đang đuổi theo tôi. Tôi chạy nhanh thì người ấy cũng chạy nhanh,mà tôi chạy chậm thì người ấy cũng chạy chậm lại. Tôi sợ muốn chết, cố gắng nín thở cắm đầu chạy.. Về đến nơi, tôi thấy chị PD đang nấu cơm, tay đang cầm đôi đũa bếp, tôi hớt hãi nói với chị là tôi bị ma đuổi. Chị PD cười và cổi chiếc áo mưa tôi đang mặc. Chị giải thích: “Chẳng có ma nào cả, chỉ vì chiếc áo mưa cũ bám dính vào người nên tạo nên một âm thanh sột soạt theo bước chân người mặc.” Tôi vỡ lẽ, và từ đó, tôi không còn sợ con ma đường kiệt nữa. Ngôi nhà cha mẹ tôi nằm gọn trong một vườn cây ăn trái. Trước cổng nhà có hai cây đào đến mùa là ra trái sum suê.. Một dãy hàng chè tàu bao bọc lối đi, thỉnh thoảng, tụi tôi hay tìm thấy những sợi dây màu hồng trên đó. Người ta thường gọi những sợi dây này là dây tơ hồng, nghe thật dễ thương và thơ mộng. Chủ vườn cây trái này là gia đình bà ngoại của hai chị Thu Thủy và Vân Nga. Hình như mẹ của hai chị là một giai nhân thuở đó. Sau khi sanh đứa con trai út thì bà bị bệnh và qua đời. Bà ngoại phải thay mẹ nuôi nấng và dạy dỗ

- 186 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
mấy chị em. Hai chị lớn lên đẹp như Thúy Vân, p Thúy kiều. Người em đẹp sắc sảo còn ng o người chị thì có vẻ đẹp thùy mị. Cậu em út tên C b u bằng tuổi tôi nên lắm lúc lũ bạn nghịch ngợm c đôi tôi với m cặp “hắn”. Chính điều này khiến chúng tôi càng ghét n nhau thêm. Trong khu vườn cây ăn trái này còn có rái nhà của cậu Bích, chị Phương Hoa, L Chi và Lê Lệ quang Di. Ngôi mộ của mẹ mấy chị em chị Thúy nằm ngay sau vườn, bao bọc chung quanh là c những cây hoa mẫu đơn, cúc vàng và hoa thư ng thược dược tím quanh năm trổ hoa. Dưới nh i những hàng cây cau trổ bông, tỏa hương thơm ngát, tôi thư a thường hay ngồi mơ màng tưởng tưởng có m thiếu phụ ng một rất đẹp đang ngồi chải tóc trên ngôi m vào những i mộ đêm trời tối đầy sao. Có lần tôi đi chơi v TP, KC n với về trễ bữa cơm chiều bị ba la và đét m roi và bắt mấy phải ra đứng trước hiên nhà. Trời tố nhìn ra xa ối, xa, tôi thấy ngôi mộ in hình trên bầu tr Trên mộ u trời. có một thiếu phụ đang ngồi xõa tóc, tôi s muốn i sợ đứng tim. Đợi cho ba tôi lên nhà trên u i uống trà, chị tôi thương em nên lén mở cửa sau ra ng cạnh tôi. a ngồi Chị vuốt tóc và lau nước mắt cho tôi và d lần t dặn sau đi chơi phải về ăn cơm tối đúng gi Chị PD là i giờ. người chị thương tôi nhiều nhất. Ch luôn dành t. Chị dụm tiền để mua áo mới cho tôi. Nhữ ngày Tết, ững chị thường may cho tôi những chiế áo lụa màu ếc hồng đào, màu hoa cà. Chị thường ch tóc cho tôi ng chải và buộc tóc tôi bằng hai chiếc nơ màu tím. Ch c Chị thường hay tắm gội cho tôi và chà hai gót chân tôi i bằng bàn chải khiến tôi đau điếng. Ch nói thầm ng. Chị vào tai tôi: “Gót chân hồng là số giàu sang, mai sau lấy chồng sẽ gặp được quí nhân”. c Những hôm trời mưa to và kéo dài, nư i nước trong ao đã dâng lên tràn ngập tới bờ mấp mé tràn ờ, vào sân. Tôi được mạ cho ăn chén cháo đ xanh đậu với cá cơm khô. Tôi vừa ăn vừa nhìn nh a những bong bóng bồng bềnh trên mặt nước rồi ch vỡ tan và i chợt tôi nghĩ đến sự ngắn ngủi của cuộc đ Tôi cảm c đời. thấy cuộc đời quá mong manh và không v i vĩnh cữu. Tôi đem tư tưởng yếm thế đó vào bài lu văn “Tả luận cảnh trời mưa Huế”. Với bài luận này, tôi đư n được làm Chemise. Khi thầy Phúc đọc bài này trư c trước lớp, tôi cũng không hiểu sao tôi còn nh mà đã bi u nhỏ quan đến thế. Thỉnh thoảng, vào cuối tu hay vào những i tuần ngày lễ, chúng tôi được dịp v thăm quê ngoại ở p về Thuận An. Anh Sóc luôn là ngư hướng dẫn cho n người chúng tôi. Chúng tôi dành nhau ng băng trước ngồi với tài xế trên chuyến xe đò t bến Đông Ba về ò từ bến đò Thuận An. Ngồi trên xe, tôi nghe ti tiếng cười nói của mấy dì bán cá v Thúng mũng của y về. họ còn thum thũm mùi tanh cá và rong bi Chiếc ùi biển. xe đò đã chật ních mà vẫn dừ lại dọc đường để ừng đón thêm khách. Ra khỏi Đập Đá V Dạ là đã nghe p Vĩ trong gió thoang thoảng mùi hương cau, hương ng lúa. Hai bên đường, ruộng vư xanh tốt. Nhánh ng vườn sông nhỏ chạy dọc theo con đư c đường vang vọng tiếng đùa giỡn của mấy o đang t giặt ven bờ. y tắm

Sông An Cựu

Chiếc xe lắc lư với mộ nhịp đều đều khiến ột chúng tôi buồn ngủ. Chúng tôi d đầu vào nhau . dựa mắt lim dim trong giấc ngủ nh nhàng. Chúng tôi nhẹ là những bà con rất gần. Con cô con chú con o n. cùng trạc tuổi nhau nên rất thân nhau. Qua h chợ t hết Nọ, chợ Mai, chợ Mới là tớ bến đò Thuận An. ới Bên kia bờ phá Tam Giang là nh những ngôi nhà lụp xụp, ẩn hiện trong đám bụ cây, bụi tre trúc. ụi Chúng tôi cảm nhận được mùi bi mặn ngạt ngào c biển trong gió. Chúng tôi lên chi đò ngang để sang chiếc sông. Người lái đò với đôi tay r chắc, với làn da i rắn rám nắng, với gương mặt ngăm đen xa v t vắng, ẩn hiện một nỗi niềm an phận. Chi chèo khua nước, n. Chiếc tạo thành những vòng tròn đồ tâm tỏa rộng trên ồng mặt nước. Tôi thọc tay xuống nư để nghe một ng nước cảm giác mát lạnh lan tỏa từ đôi tay lên tận bờ vai và lan đi khắp thân thể. Anh Sóc la lên c . cảnh giác: “Khéo bổ xuống nước, lội vô không k đó nghe”. i kịp Chúng tôi không đứa nào bi lội nên ngồi khép a biết vào nhau, tận hưởng làn gió bi hơi mằn mặn. ng biển

- 187 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
Đêm nay trăng rằm, thế nào ngoại cũng nấu một nồi bánh canh cua đải chúng tôi và thế nào cũng có một nồi chè “đậu ván đặc” của mụ Tường.Đò cập bến, chúng tôi lên bờ. Anh Sóc trả tiền đò cho hết thảy chúng tôi. Xong xuôi, chúng tôi chạy ùa vào phía bên trong làng. Đi ngang qua chợ, tôi chứng kiến một cảnh tượng náo nhiệt. Dân làng tấp nập mua bán. Hàng tạp hóa bày trên sạp rất nhiều, đầy đủ bánh kẹo, muối mắm và rau cải và cá mực tươi rói. Các bà nội trợ chen lấn, lựa hàng rồi trả giá. Thật đúng là một cái chợ với những âm thanh hổn độn nhưng rất vui tai và dễ thương vô cùng. Đi qua nhà mệ Trầm Thân đã thấy vườn ổi xanh ngát. Chao ôi là ổi, đủ các loại ổi, mà nói đến ổi là tụi con gái chúng tôi đã cảm nhận cái vị muối ớt cay đầu lưỡi. Đi thêm một quãng nữa thấy hiện ra Đền thờ Thái Dương Thần Nữ uy nghiêm với mái ngói màu đỏ thẩm. Trước mặt đền phía bên phải là một cây đa cổ thụ thật cao to, với tán lá trải rộng. Những chòm rễ mọc từ trên thân cây rũ xuống trông giống như tóc của mấy mụ phù thủy. Dưới gốc cây đa là vô số các bình nhang, bình vôi nằm ngổn ngang. Mỗi lần đi ngang qua đền là chúng tôi kính cẩn cúi đầu, trong trí óc cứ tưởng tượng có đôi mắt của nữ thần đang theo dõi từng bước chân chúng tôi. Và cuối cùng thì nhà ông bà ngoại đã hiện ra trước mặt chúng tôi. Ngoại đang ngồi nhai trầu dưới nhà bếp. Nụ cười móm mém thật dễ thương. Chúng tôi mang theo rất nhiều quà để biếu ông bà ngoại. Nào là thuốc Cẩm Lệ, bánh đậu xanh ướt, quít Hương Cần và một hộp bánh bích quy. Đêm nay là đêm rằm, chắc chắn sẽ là một đêm trăng sáng tuyệt vời. Chúng tôi theo lệnh anh Sóc, xếp đặt các giỏ áo quần gọn gàng ngay ngắn ở góc nhà. Sau đó, chúng tôi xuống bếp rửa tay. Cái gáo dừa nằm ngay ngắn ngang trên miệng cái lu nước trong vắt. Biển cách nhà ngoại cở chừng nửa cây số. Giữa đường đi đến biển là một rừng dương liễu được trồng để chắn gió và giữ cát. Đi băng ngang qua rừng dương là đến biển. Ngồi ở nhà ngoại mà chúng tôi đã nghe tiếng sóng biển rạt rào vọng về. Từ xa, nghe có tiếng ồn ào. Đó là tiếng của những người đi cào lá dương gom thành từng đống để sau nhà dùng để chụm bếp thay củi. Lá dương liễu rơi xuống cát tạo thành một chiếc chiếu dày êm ái. Nằm trên chiếc chiếu dương liễu, nhìn ngắm bầu trời xanh, tôi cảm nhận một không khí tĩnh lặng thanh bình. Ngoại thường kho cá nục với xơ mít, chụm bằng lá dương liễu. Chao ôi, ngon ơi là ngon. Ăn tới đâu, mát dạ trới đó. Ngoại tôi thường nói: “Ngon tới hai răng rít một”. Chúng tôi đi ra biển. Trước mặt chúng tôi hiện ra một màu đại dương xanh thẳm, tiếng sóng rộn ràng mang theo những con sóng từ ngoài khơi ùa vào bờ. Những con còng chạy ngang dọc trên cát, mau chóng chui xuống lỗ và biến mất đang. Một vài chiếc thuyền được kéo lên tận bãi cát, một đám dân chài xúm nhau ngồi đan vá lại tấm lưới. Họ cần cù và nhẫn nại với nghề nghiêp. Cuộc đời yên lặng trong tiếng sóng gầm và trong cái bao la của biển cả. Anh Sóc dẫn chúng tôi xuóng biển. lội đôi chân trần xuống nước chạy đùa theo những làn sóng nhỏ lăn tăn ùa vào bãi cát. Anh dặn chúng tôi không được ra xa quá. Thuở đó, làm gì chúng tôi có áo tắm nên cứ mặc áo quần như thường, chỉ cần xăn lên đến bắp đùi là được rồi. Chúng tôi ngồi chung quanh nghe anh dạy cho bài hát “Love letter on the sand”. Anh dạy cho chúng tôi viết tên nhau xuống cát và để mặc cho sóng biển xóa đi. Quãng đời niên thiếu của chúng tôi được có thêm nhiều kỷ niệm dưới sự thương yêu che chở của anh Sóc. Rồi chúng tôi lớn lên, mỗi người đi theo định mệnh của đời mình. Anh Sóc lập gia đình với chị N, một trong những người đẹp của trường Gia Hội thời đó. Tôi theo chồng về BH. Mỗi lần có dịp về VN, chúng tôi họp nhau lại, tổ chức những buổi ăn tối và có phần văn nghệ. Anh Sóc luôn luôn được mời làm MC. Tóc anh đã bạc, nhưng nụ cười khóe mắt vẫn còn tươi. Với một người có tâm hồn nghệ sĩ như anh, chắc chắn tuổi già sẽ đến muộn. Anh làm MC rất duyên dáng, với nét Huế còn đọng lại trong tiếng ngâm thơ của anh. Anh kể cho tôi nghe những kỷ niệm thời xa xưa. Anh mời tôi đi ăn bánh bèo quán mụ Đỏ, cơm hến chợ Cồn, bún thịt nướng ở Kim luông…, uống lại ly trà

- 188 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
xanh có gừng và hẹn nhau những lầ gặp gỡ sau ần này.. Năm nay, chương trình hội ng QH50 năm gộ được tổ chức tại San Jose, một cơ h để những t hội cựu học sinh QH có dịp gặp lại bạn c Tôi đã nhờ n cũ. Ban tổ chức gởi giấy mời về cho anh. M đầu anh Mới từ chối, viện lý do sức khỏe và sự tốn kém. Nhưng n với sự nhiệt thành tha thiết của chúng tôi, cu a cuối cùng anh đã nhận lời. Điều này đã đáp ứng sự ã mong mỏi của bà con thân thuộc bên này như: c Vân, Lưu, Duy, Trai, Hương, Đỉ ỉnh, Thương, Luyến. Học trò cũ của anh bên này khá đông. a Chúng tôi muốn đón tiếp anh với nhữ điều kiện ững thật tốt và hoàn hảo nhất. Chúng tôi s tụ họp thật sẽ đông đảo để chào đón anh và sau đó s chia nhau sẽ mời anh ở lại nhà mỗi o, mỗi cháu m tuần. một Chương trình được hoạch định rất chu đáo. Ngày t 17 tháng 2 là ngày anh đi phỏng vấn đ đươc cấp n để chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ. Chúng tôi liên t . tục gọi điện và email về để khuyến khích anh. Chúng n tôi hồi hộp chờ đợi kết quả, một cảm giác ch đợi m chờ hồi hộp như ngày xưa khi chờ kết qu thi tú tài.. t quả Nhưng cuối cùng, kết quả không như l lòng mong đợi. Anh bị từ chối cấp visa trong cuộ phỏng vấn. ộc Thôi thì “mưu sự tại nhân, thành s tại thiên”. i sự Buồn và thất vọng cho anh, cho chúng tôi, cho b ng bạn bè và cũng như cho ban tổ chức. Cuộc hội ngộ gặp lại bạn cũ sau 50 năm, sau ũ nửa thế kỷ sẽ được diễn ra tại San Jose, thung lũng i hoa vàng vào ngày 20 và 21 tháng 4 năm na sẽ nay vắng anh, người anh họ rất được yêu quý và kính c trọng của chúng tôi. Những mộng ướ xin dành lại ớc cho những ngày tháng tới cho dù thờ gian có làm ời phôi pha. Quê hương Huế yêu dấu c chúng tôi u của vẫn còn có những nhánh sông đời và nh i những ngày tháng cũ. Anh Sóc, người anh đã chi ã chiếm được tình cảm thương kính của chúng tôi. Chính anh là a người đã phụ họa với thiên nhiên để tô điểm thêm màu sắc lãng mạn cho tuổi thơ của chúng tôi th a thời niên thiếu. Viết bài này để thương tặng anh Tôn Th ng Thất Huyến, người của QH50 năm về trư và là anh trước Tôn Thất Sóc của riêng chúng tôi. TÔN NỮ THANH HUỆ
- 189 -

Phượng xưa ợng

Phượng Vỹ một trời hồng áo trắng ợng Lụa là đường nắng b ờng bước em đi Nón nghiêng che em ch chẳng nói gì Dáng dấp này, Huế của t ế tình si Cầu Tràng Tiền Đồng Khánh m thi ền mùa Tà áo lụa vờn chi b ụa bước hồng Chân nào son, guốc mộc thong dong ốc Tóc thề chao nhẹ bềnh bồng l ề lòng ai! Tình câm lặng theo ho chân bước ặng hoài Tình muốn ngỏ, ngại ng ốn ngùng ấp úng Lời chưa trao tình đã bay rồi ình Bàng hoàng tiếng mộng giữ bờ môi ếng Lặng lẽ đi về mộng suông thôi ặng Tình không tỏ nên tình còn mãi ên Lời không trao nên l vẫn đẹp ên lời Phượng có tàn lòng vẫn mang mang ẫn Yla Lê kh Ngọc Quỳnh khắc

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Những vết thương tu nhỏ t tuổi
Thân Trọng Minh

Đập Đá. Đó là tên một cái đập ngăn hai d p dòng nước, một bên là sông Hương, một bên là nư từ t nước con sông nhỏ Vân Dương chảy ra. Th 1953 – y Thời 1955, chúng tôi ngồi với nhau trên bờ đập, nhìn về ờ phía làng Vân Dương. Chúng tôi gồ có tôi, Lữ ồm Quỳnh, Nghi Hữu, Lê Trọng Nhạn, nh n, những người bạn mới quen nhau ở lớp đệ thất trư t trường Nguyễn Tri Phương. Lữ Quỳnh với câu chuy ở Mỹ Lợi. i chuyện Nghi Hữu với rất nhiều tên làng quê. Nh với u Nhạn làng Phước Tích, ngôi nhà cổ, lò g , gốm cạnh con sông Ô Lâu cùng những bóng ma H ng Hời. Đó là những câu chuyện làng quê trong 9 năm chi n chiến tranh chống Pháp vừa chấm dứt khi chúng tôi t bước vào trường trung học. Đêm trăng sao trên đầu, gió mang hơi nóng u, từ mặt sông chịu nắng suốt một ngày h còn t hạ, chúng tôi thì thả hồn tưởng tượng theo nh ng những lời thầm thì kể chuyện nửa hư, nửa th a thực. Giờ đây, nhớ lại, vẫn còn cái rùng mình thảng th khi bước ng thốt chân vào làng Vân Dương. Nghi Hữ chỉ lên cây ữu đa cổ thụ: -Đây là chỗ treo cổ mấy tay Việt gian! t Giọng Hữu nghiêm trọng, tự tin, ra v từng vẻ trải trước sự ngờ nghệch của người b trẻ thành i bạn phố. Nghi Hữu nói: -Mi biết không, có buổi tối tau rình coi. N sau i Nơi đình kia mấy người tù bị trói ké, quì xu xuống. Họ nói gì tau nghe không rõ. Rồi một ngư đọc bản t người án, tau chỉ nghe được tiếng: Xử tử! Ngư ta tròng ! Người thòng lọng vào cổ, dẫn tử tù đến g đa, một n gốc người leo lên cột dây vào cành đa. Ph lựa cành ào Phải chắc. Có lần khi treo cổ thì cành gãy, t tội rơi tử xuống, phải làm lại…

Hữu nói tiếp: có buổi sáng, d trâu ra đồng, i dắt tau thấy bốn cái xác bị treo tòn ten, hình nh một như cái chưa chết, trợn mắt dòm tau, tau ch t chạy té đái…Mạ tau nói, có đêm ma th cổ về gõ cửa sau ó thắt nhà tau xin ăn, mạ tau mở c thì thấy ma biến cửa mất, nhưng mạ tau kịp thấy nó rõ ràng, mi y miệng mấy con ma đỏ lòm, lưỡi dài thòng đến tận ngực! i Cửa sau nhà Nghy Hữu mở ra một cánh đồng ở ruộng. Tôi và Lữ Quỳnh theo các b dẫn trâu ra nh bạn đồng ăn cỏ, băng hết cánh đồ là làng Ngọc Anh, ồng Lại Thế. Ở đó có bạn Trần Ng Thái, Hoàng Kim n Ngọc Can. Can ngồi trên bờ ruộng khô, ch tay ra xa, ng chỉ nói: -Tụi bay thấy ngôi nhà ngói to đùng không? Nhà y cụ Thượng đó. Tây đốt không cháy! Còn cái c t cầu gỗ kia, đó là nơi người ta chém đ bọn theo Tây! i đầu Bọn theo Tây là ai, tuổi 12 c tôi chưa hình i của dung ra. Can kể thêm: -Tau đi xem chém đầu, dễ sợ lắm. Tiếng dao chém xuống cổ nghe cái Phụp! Phả chém nhiều lần đầu ải mới rời khỏi cổ. Máu chảy có vòi…Thân hình y người bị chém gồng cứng lên, hai chân đ loạn ng đạp xạ một hồi mới ngừng. -Thiệt hả? - Thiệt. Trời lúc đó chạng v ng vạng, nhưng tau đứng gần nên thấy rõ. Mà lạ lắm t bây biết không.Tử m tụi tội bị trói dẫn ra đầu cầu, quì xu u, xuống, bị chém, rồi đứt đầu, giãy chết mà không la m tiếng. Mấy t một người đao phủ cũng vậy. Yên l y. lặng như tờ…Chỉ có tiếng dao chém Phụp! - Sợ không? - Vài ngày sau tau mới sợ, không dám qua c , cầu. Người ta đồn đêm đêm có m con ma cụt đầu n mấy

- 190 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
hóng mát trên cầu.Tôi xanh mặt. Không thể tưởng tượng đứng hóng mát mà không có đầu. Can càng hù tới: “Mi biết không, trong xóm tau nhiều người đi khuya về bị ma thu, sáng ra thấy mình nằm giữa bụi tre gai, phải chặt cả bụi tre mới lôi ra được, sau đó người bị ma thu trở nên điên điên khùng khùng, phải lên nhờ ôn (tức hòa thượng) trên chùa Trúc Lâm trị bệnh tà!” Có lần trên trảng cát ở quê Lữ Quỳnh, làng Mỹ Lợi, bạn kể cho tôi nghe về cảnh tượng Tây về làng. Bạn nói: Tây đi lùng, lùng sục tìm những du kích Việt Minh. Mỗi lần vậy, dân làng chạy vô núi trốn, đứng trên cao nhìn về làng trông thấy khói bốc lên là biết Tây đốt nhà. Thời chiến tranh, tuổi thơ các bạn tôi đã chứng kiến những cảnh như vậy. Có thể có những điều vui, an lành hơn, nhưng chính những hình ảnh tang thương khốc liệt ấy đã để lại vết thương trong tuổi nhỏ các bạn. Những vết thương của tuổi thơ! Có lẽ tôi nói hơi quá, nhưng điều chúng tôi trải qua trong những tháng năm tàn khốc ấy là những đòn roi quất lên tâm hồn của một thế hệ, vết thương còn rỉ máu khi chúng tôi bước vào môi trường học đường, gặp nhau và trở thành bạn của nhau. Đã là bạn, thì nỗi đau riêng trở thành đau chung. Nếu vết thương không được chữa lành, biến thành sẹo, dù sẹo lớn hay nhỏ, sẽ định hình những tính cách bất lợi cho cuộc đời về sau của họ. Bao nhiêu tội ác – giết người, cướp của, kể cả giết người hàng loạt – hoặc nhẹ hơn, bệnh tâm thần, lệch lạc tình dục, mất khả năng hội nhập xã hội, nghi ngờ sự thiện… đều bắt đầu bằng những vết thương tuổi thơ như vậy. Thế nhưng, điều kỳ diệu đã xảy ra. Những vết thương tuổi nhỏ đã được băng bó, xoa dịu và
- 191 -

chữa lành những năm sau đó, sau ngày im tiếng súng, bằng môi trường văn hóa, xã hội, giáo dục của đất Thần kinh. Tôi muốn nói đến trường Quốc Học, đến tất cả những mái trường công và tư ở Huế, tôi muốn nói đến môi trường giáo dục tuyệt vời mà tuổi thơ bất hạnh của chúng tôi được hưởng, đến những lớp học mà khi bước vào chúng tôi được an toàn giữa tình bằng hữu, tình thầy trò…Tôi biết ơn môi trường văn hóa với tính truyền thống, tiếp nối không bị chặt đứt khỏi quá khứ, thể hiện bằng những giá trị tinh thần, giá trị tâm linh. Tất cả điều ấy là những liều thuốc trị liệu tuyệt vời chữa lành những vết thương kia kịp tránh khỏi biến thành sẹo. .. Đồng thời giúp chúng tôi trưởng thành, vững vàng, biết yêu cái đáng yêu, biết ghét và chống cái phải chống, nhất là chống lại sự tổn thương do chiến tranh.Từ đó, đã hình thành một thế hệ 60 bản lĩnh, yêu hòa bình, phản chiến sau này… Những thập niên nửa sau thế kỷ 20, đất nước đã có những bước đi lịch sử phức tạp. Chúng tôi đã tham dự lịch sử, theo cách của mình, đã có những con đường rẽ, đã có những cuộc chia ly vì ý thức, đã có nhiều khác biệt giữa những người bạn tuổi nhỏ cùng đi một đường, thế nhưng vẫn có những mẫu số chung nối kết chúng tôi, đó là những giá trị nhân văn, đạo đức của thời trẻ, những giá trị ấy lớn theo đời, hình thành bản lĩnh và nhân cách một thế hệ, dù ở đâu, làm gì, với ai. Có thể còn nhiều điều phải suy nghĩ, phải bàn lại những cái được, cái mất của một thời, nhưng với tất cả sự khiêm tốn, tôi tự hào về thế hệ mình. Thân trọng Minh

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Về “Cuốn sách vàng c n của vua Thiệu Tr u Trị”

VÕ HƯƠNG-AN

Biết tôi là người hoài cổ, thích đồ cổ nh ổ, nhưng lại không có điều kiện chơi đồ cổ nên m anh bạn ên một tâm giao dạo lưới toàn cầu, hễ thấy có tin tức g về ầu, gì loại này ở Việt Nam là lập tức chuyển ngay qua ập email. Lần này, là một tin tức khá lý thú. Đó l bài ột là báo “Cuốn sách vàng của vua Thiệu Trị” của nhà ủa báo Nguyễn Hữu Hồng Minh đăng tr thanh niên ễn trên online.(http://www.thanhnien.com.vn/pages/201202 http://www.thanhnien.com.vn/pages/201202 18/cuon-sach-vang-cua-vua-thieu-tri.aspx) tri.aspx viết về việc một người Việt ở Canada, ông Cao ời Xuân Trường, vừa sở hữu được một cổ vật quí ợc hiếm của triều Thiệu Trị (1841-1847) qua m 1847) một cuộc đấu giá tại Paris – cuốn sách v ốn vàng phong Lương tần Vũ Thị Viên lên Lương phi.“Toàn bộ ên cuốn sách làm bằng bạc mạ vàng, ch có 5 tờ (10 àng, chỉ trang) nhưng nặng tới 7 ký, xuất hiện v thời vua ặng vào Thiệu Trị (1846), có kích cỡ 14x23 cm. Thật thú vị ệu khi biết cuốn sách dành để tấn phong b Vũ Thị ể bà Viên - vợ vua từ hạng Lương tần lên hàng Lương ên phi. Ngoài 2 trang bìa trước và sau, 8 trang còn à lại của sách phong khắc 186 chữ Hán nói về thân ại thế, công trạng của bà Vũ Thị Viên và lý do vua ên Thiệu Trị sắc phong cho bà ” (website đ dẫn) à đã Bà Lương phi Vũ Thị Viên là ai?

Hoàng đế Thiệu Trị là vua th 3 của triều thứ Nguyễn, miếu hiệu là Hiến T Chương Hoàng Đế, n Tổ kế vị vua Minh Mạng. Tuy ch trị vì trong 7 năm ng. chỉ ngắn ngủi (1841-1847), băng hà lúc m 40 tuổi, 1847), mới nhưng vua có đến 31 bà ở hậ cung, 29 hoàng tử ậu và 35 hoàng nữ. Nếu kể theo thứ tự nhậ cung trước sau thì ập bà là vợ thứ tư của vua Thiệu Tr sau các bà Nghi u Trị, Thiên Chương Hoàng Hậu (t Hoàng Thái Hậu u (tức Từ Dũ), Lệnh phi Nguyễn Th Nhậm và Thục Phi n Thị Nguyễn Thị Xuyên. Bà là con c Phó Vệ úy Vũ của Hữu Linh, nhập phủ làm dắng (1) khi vua Thi ng Thiệu Trị đang còn là một Hoàng t với tước Trường t tử Khánh Công. Bà sinh được 4 Hoàng t c tử: -Nguyễn Phúc Hồng Hưu, tức Gia Hưng Vương; c -Nguyễn Phúc Hồng Kiện, t n, tức An Phúc Quận Vương; -Nguyễn Phúc Hồng Bàng, m năm 16 tuổi, chưa ng mất được phong tước; -Nguyễn Phúc Hồng Thụ, mấ năm 2 tuổi. ất Và 2 Hoàng nữ: -Nguyễn Phúc Ý Phương, t ương, tức Đồng Phú Công chúa; -Nguyễn Phúc Minh Tư, mất khi chưa đư 1 tuổi. t được

- 192 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
Trong một thế giới hậu cung vớ các bà chen ới chúc nhau, có thể có người cả đời chưa đư thấy i được long nhan, mà riêng bà Lương phi có đ 6 con, đến trai gái đầy đủ, thì bà quả thực có sắc tài gì đó đặc c biệt nên mới được vua sủng ái hơn ngư khác. ng người Vợ vua cũng có đẳng cấp Sau khi lập ra triều đại vào năm 1802, vua i Gia Long đã ra sắc dụ qui định cung giai (th bậc nh (thứ trong cung), theo đó, trên hết là ngôi v Hoàng t vị hậu, kế đến là 3 bậc Phi (Quí phi, Minh Phi, Kính phi). 3 bậc Tu (Tu nghi, Tu dung, Tu vi viện), 9 bậc Tần (Qúi tần, Hiền tần, Trang tần, Đ Tần, Thục n, Đức tần, Huệ tần, Lệ tần, An tần, Hòa tần), 3 bậc Chiêu n), (Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viện), 3 bậc Sung n), (Sung nghi, Sung dung, Sung viện) và 6 chức Tiếp n) dư, Dung hoa, Nghi nhân, Tài nhân, Linh nhân, Lương nhân. Đó là chưa kể các hạng cung nhân và cung ng nga thuộc loại “vị nhập giai” tức là chưa được xếp vào hàng ngũ của 9 bậc cung giai. Tuy đang là c cung nhân “vị nhập giai” nhưng may m được p mắn vua để mắt tới thì cũng có th sinh hoàng tử hay ũng thể hoàng nữ để nương tựa về sau khi vua băng hà. Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho th nhiều hoàng thấy tử hay công chúa triều Nguy là con của vua và u Nguyễn các cung nhân hay cung nga. Các tước vị vừa kể không c định mà thường cố được thay đổi qua các triều vua và thay đ ngay u đổi trong đương triều. Ví dụ, hai năm sau khi ban , hành qui định trên, năm Minh M nh Mạng thứ 19 (1838), vua đổi gọi thứ bậc cung giai như sau: c -Nhất giai: Quí phi, Đoan phi, L phi; t Lệ -Nhị giai: Thành phi, Tính phi, Th phi; Thục -Tam giai: Quí tần, Lương t Đức tần; n, tần, -Tứ giai: Huy tần, Ý tần, Nhu t n, tần; -Ngũ giai: Nhân thần, Nhã t Thuận tần; n, tần, -Từ Lục giai Tiếp dư xuố đến Thất giai Quí ống nhân, Bát giai Mỹ nhân và C giai Tài nhân Cửu không thay đổi. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) , vua cho đ đổi gọi Đoan phi làm Lương phi. Và v chữ Lương đã i vì được đưa lên nhất giai nên Lương t ở tam giai t tần được đổi làm Thụy tần. Như v n. vậy, khi bà Vũ Thị Viên được phong từ Lương t (tam giai) lên tần Lương phi (nhất giai) thì rõ ràng bà đã được thăng t vượt cấp, bỏ qua nhị giai. H đây là một tưởng Hẳn thưởng xứng đáng sau một công tr t trạng nào đó ở nội cung. Nếu trong giới quan trư i trường của triều đình, các quan được thăng quan ti chức lúc có c tiến công hoặc bị cách chức giáng ch khi có lỗi thì c chức trong nội cung, tình trạng củ các bà không khác. ủa Bà Vũ Thị Duyên là phủ thiếp của Hoàng tử Hồng Nhậm. Khi Hoàng tử tr thành vua Tự Đức, trở bà được phong làmCung tần. Năm 1850, thăng lên . Cần Phi ; năm 1860, phong làm Thuần Phi, năm 1861 cải làm Trung Phi. Năm 1870 bà được . 1870, phong tước vị cao nhất, Hoàng Quí Phi (chánh cung hoàng hậu), chưởng qu 6 viện (lục viện) ng quản trong nội cung. Nhưng « Đến tháng 12 năm Nhâm ngọ (1883) bà bị giáng làm Trung Phi vì

Vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836), vua qui định lại cung giai. Theo đó, tước v Hoàng hậu c vị không được đề cập,thay vào đó là “… p,thay “…Hoàng Quí phi, ở trên bậc nhất, để giúp Hoàng Thái h hậu trông coi lương thực ở trong cung, ch chỉnh tề công việc bên trong.” (Hội điển IV, tr.410); Dư n Dưới Hoàng Quí phi, nội cung có 9 bậc: Nhất giai phi có 3, là Quí phi, Hiền phi, Th phi; n Thần Nhị giai phi có 3, là Đức phi, Thục phi, Hu phi; c Huệ Tam giai phi có 3, là Quí tần, Hiền tầ Trang tần; ần, Tứ giai phi có 3, là: Đức tần, Thục t c tần, Huệ tần; Ngũ giai phi có 3, là Lệ tần, An tần, Hòa t n, tần; kế đến là Lục giai Tiếp dư, Thất giai Quí nhân; Bát giai Mỹ nhân, và Cửu giai Tài nhân. Các b 6, 7, bậc 8, 9 không hạn chế số người.

- 193 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
nhân vua không được khỏe, đang dùng thuốc, bà công việc bề bộn, sai cung nhân dâng bữa cơm chiều hơi muộn. Tuy nhiên bà vẫn còn giữ được giai bậc cũ nhưng không được trông coi cả 6 viện. » (Thế phả, tr.347). Có lẽ trong lúc bệnh hoạn, người không khỏe, nên vua đã bực bội phạt giáng chức bà nhưng trong lòng vẫn còn yêu thương, vì vậy trước khi băng hà, vua để di chiếu lập bà làm Hoàng hậu. Bà chính là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu, được hiệp thờ với vua Tự Đức (Dực Tông Anh Hoàng đế) trong Thế miếu của Đại Nội, Huế. Lại như vua Đồng Khánh, lên ngôi năm 1885, sau khi phong tước vị cho các bà vợ, qua mùa xuân năm 1887, không rõ trong nội cung xảy ra những xáo trộn như thế nào khiến vua bực mình, “Xuống dụ quở trách các phi tần trong nội đình và giáng xuống có thứ bậc (Quan phi là Trần Đăng thị nói năng tục tằn, giáng làm Tùy Tần; Chính tần là Hồ Văn thị không nghĩ đến việc công, giáng làm Mỹ nhân; Nghi tần là Lê thị, dữ tợn, tham lam, đố kỵ, ghép tội nặng, giáng làm Tài nhân; Tài nhân ở cửu giai là Trịnh thị, Nguyễn Hữu thị, tính quen dối trá, khinh nhờn, đều giáng làm cung nhân. Hoàng quí phi không biết sửa mình, quản suất mọi việc, để trong nội đình không theo phép tắc, cũng quở mắng ngặt hơn.” (Thực lục IX, tr. 311-312) Nội cung cũng là đấu trường nhưng bà Lương Phi Vũ Thị Viên được thăng vượt cấp chứng tỏ có ưu thế hơn người. Có phải ai được vua yêu cũng được “tặng” sách vàng? Câu trả lời là “không”. Bài báo viết: “Theo Cao Xuân Trường, anh muốn có cổ vật này bởi đây là minh chứng sinh động cho thú chơi đầy tao nhã của nhà vua: làm một cuốn sách hơn 7 ký mạ vàng chỉ để tặng người đẹp” Có lẽ ảnh hưởng của không khí lãng mạn ngày Valentine đã làm cho anh Trường nghĩ như vậy. Thực ra, đấy không phài là một “thú chơi tao nhã của nhà vua” và cũng không phải là một hành vi âu yếm trân trọng đối với người yêu qua việc “tặng” sách vàng. Tất cả đều tuân thủ theo một qui định rõ ràng và nghiêm nhặt thuộc điển lễ của triều đại. Khi ban hành qui định cung giai năm 1836, vua Minh mạng đã nói rõ: chỉ có sách phong cho Hoàng Quí phi mới được chế tạo bằng vàng – nên gọi là kim sách – còn sách phong 6 Phi thì dùng bạc mạ vàng, nhưng vẫn được gọi là kim sách. Còn sách phong 9 Tần và các Tiếp dư, Quí nhân, Mỹ nhân, Tài nhân đều dùng bạc, gọi là ngân sách. Ở đây cũng cần mở một dấu ngoặc: quan lại và thần linh được vua phong chức bằng một bản văn viết trên giấy sắc màu vàng khổ lớn vẽ rồng mây (gọi là cáo trục) và việc này gọi là sắc phong; riêng thái hậu, hoàng hậu, phi tần, hoàng thân, hoàng tử, công chúa thì vua phong tước bằng sách văn, vì bản văn được chạm khắc hay viết trên một cuốn sách bằng vàng, bạc hay lụa, và việc này gọi là sách phong. Đến cuối năm 1885, triều Đồng Khánh (nhưng vẫn còn niên hiệu Hàm Nghi), sách phong nội cung được định lại. Có lẽ do kho tàng trống rỗng do vụ quân Pháp cướp phá khi Kinh đô thất thủ ngày 5/7/1885 (Ất Dậu), Bộ Lễ đề nghị không dùng sách bạc mạ vàng hay sách bạc nữa mà thay bằng vóc, dùng lụa bát ti màu vàng của Trung Hoa, dệt hoa văn rồng mây làm trang sách, mỗi quyển 3 tờ và hai trang (hai trang trong của hai tờ bìa) vị chi 8 trang viết chữ; sách có kích thước vẫn như cũ. Theo đó: -sách của hàng Phi, dài 7 tấc 2 phân, rộng 4 tấc 5 phân (phân, tấc ta); -sách của hàng Tần: dài 5 tấc 2 phân 2 ly, rộng 3 tấc 6 ly; -sách của Tiếp dư, Quí nhân, Mỹ nhân, Tài nhân đều dài 5 tấc, rộng 2 tấc 9 phân 5 ly. (Thực lục IX, tr. 208-209) Nội dung sách phong viết gì? Khi ban hành qui chế cung giai, theo đề nghị của đình thần và vua Minh Mạng chuẩn y làm lệnh, thì “…như văn thức nên dùng, duy các phi xin đợi tới khi ấy[lúc phong tước vị]phụng soạn

- 194 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
sách văn tiến trình, để tỏ cách ưu đ Còn từ 9 đãi. tần trở xuống , đều xin soạn mẫu sẵ khi có tấn ẵn, phong giai nào bậc nào , đều theo m viết tinh u mẫu ra, ngõ hầu bớt bận rộn.” (Hội điển IV, tr. 110, n người viết nhấn mạnh)) Trước hết, Khâm Thiên Giám ch ngày tốt. t, chọn Vua sẽ chọn hai đại thần vào hàng nh phẩm, một n nhị quan văn, một quan võ, làm Chánh, Phó s Một t sứ. ngày trước lễ, vua cử một Hoàng thân tư Công t tước đến cung của Hoàng Thái hậ để tâu báo về nhật ậu kỳ tấn phong sắp diễn ra. Tạ gian giữa của điện ại Cần Chánh, Bộ Lễ đặt 2 cái án; m cái có giá để t một cờ tiết mao (thường gọi tắt là c tiết), tượng trưng t cờ uy quyền của vua, và một cái đ hộp sách phong. t để Bộ Lễ cũng thông báo cho n quan (qua thái ũng nữ giám) nơi cung viện cùa bà Phi bi để lo đặt sẵn n biết hai cái án vàng (một cái cho c tiết và một cái cho t cờ sách phong). Mờ sáng hôm làm l Bộ Lễ lo bày lễ, cờ tiết và hộp sách phong trên hai án vàng đ tại p đặt căn giữa điện Cần Chánh. Bên ngoài, ngay dư n dưới thềm, đã sắp sẵn long đình và ban nhã nh Trên ình nhạc. sân điện, Ty Loan nghi bày tán vàng, đ hộ vệ n, đội thuộc ty Cảnh tất mang gươm, lính V Cẩm y t Vệ mang đao, dàn hầu; ngoài c Nhật Tinh, lính u; cửa Thân binh và Cấm binh mang tàn l m lọng và trượng đỏ đứng túc trực. Đến giờ, Chánh, Phó s đến , sứ trước sân điện Cần Chánh quì xu n xuống. Quan Nội Các mang cờ tiết ra trao cho Chánh s Quan Bộ t sứ. Lễ mang hộp sách phong ra đ trên long đình. Nhã p để nhạc trổi, Chánh sứ mang cờ tiết đi trước, kế đến ờ long đình có lọng vàng che, theo sau có Phó s và ng sứ quan Bộ Lễ, sau cùng là lính h mang gươm,đao , hầu hộ vệ. Đoàn ra khỏi sân điện C Chánh bằng Đại n Cần Cung môn (cửa bên trái), r trái qua cửa Nhật a rẻ Tinh. Ở đấy đã có lính Thân, C ã Cấm binh cầm nghi trượng với tàn, lọng, gậy đỏ đứng đợi mở đường. Đoàn rước tiến về Duyệt Th Đường. Đến cửa t Thị Hưng Khánh, tất cả nghi trượ và lính tráng dừng ợng lại bên ngoài, chỉ có Chánh, Phó s quan Bộ Lễ sứ, và cờ tiết, long đình vào nhà Duy Thị, dừng lại ở ình Duyệt căn giữa. Tại đây đã có Thái giám và các cung ã giám (2) trong lễ phục chực s c sẵn. Thái giám quì bên phải long đình, tiếp nhận c tiết do Chánh sứ n cờ trao, xong đứng lên, kính cẩn mang c tiết đi vào n cờ nội cung, có cung giám gánh long đ i đình để sách phong theo sau. Đến cửa nộ cung thì đã có nữ ội quan và ban nữ nhạc chực s để tiếp nhận và c sẵn rước vào cung viện nơi bà Phi ở. Bà Phi trong n phẩm phục với mũ áo chỉnh t quì đón cờ tiết và nh tề long đình ở sân, cúi đầu khi c tiết và long đình đi u cờ qua, xong đứng dậy theo vào bên trong. T đây, y Tại nữ quan mang cờ tiết và hộp sách phong để trên p

Kim Sách

Bà Vũ Thị Viên bấy giờ đượ phong đến ợc Nhất giai phi, nghĩa là nội dung sách văn ph i phải được các quan ở Hàn Lâm Viện so riêng, phù n soạn hợp với địa vị của bà lúc đó và ph được vua a phải duyệt y, chứ không phải rập khuôn theo m có p mẫu sẵn như các bậc Tần hay cấp nhỏ hơn. Khi nhà báo ơn. mô tả “ Ngoài 2 trang bìa trước và sau, 8 trang c còn lại của sách phong khắc 186 ch Hán nói về c chữ thân thế, công trạng của bà Vũ Thị Viên và lý do vua Thiệu Trị sắc phong cho bà.Cu c bà.Cuốn sách mang nội dung ca ngợi đức tính trung th c thực, kính trọng, sự hòa nhã, thân thiện của bà khi đ xử a đối với mọi người trong cung. Ngoài ra, sách c i cũng ghi rõ thân thế gia đình cùng mộ số sự kiện ột quan trọng mà bà Vũ Thị Viên đã tham gia.” là ã phù hợp với sử liệu, như đã trình bày. ã Nghi lễ phong tước Phi Sắc phong của vua đến tay phi t cung nữ n tần không theo một con đường tống đạt đơn gi như t giản cho người mang quà đến tặng ngườ yêu. Đó là ời một nghi lễ nhiêu khê, được qui đ c định tỉ mỉ cho từng thứ bậc, cấp càng lớn càng long tr n trọng. Ở đây, bà Lương phi Vũ Thị Viên được phong đ Nhất ong đến giai phi nên nghi lễ sẽ diễn ra như sau (H điển n (Hội IV, tr.108-112):

- 195 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
hai án vàng bày sẵn, bà Phi bước vào trư án làm c trước lễ thụ sắc. Sau khi quì 3 lần và vái 6 vái r quì n rồi trước án, nữ quan nâng hộp sách trao cho bà Phi. p Phi tiếp nhận đưa lên trán, cúi đầu, xong trao l u, lại cho nữ quan bưng đứng qua một bên. Phi lại quì 3 t lần vái 6 vái một lần nữa để làm lễ tạ ơn. Bấy giờ ạ là xong lễ. Nữ quan rước cờ tiết ra trao l cho t lại Thái giám để Thái giám trả lại cho Chánh s i sứ. Chánh, Phó sứ rước cờ tiết về trả tại điện Cần Chánh và lạy phục mệnh đã xong nhi ã nhiệm vụ, sau đó họ đến Tả đãi lậu viện để dự yến vua ban. n Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), vua cho rằng để thái giám và nữ quan tiếp nh cờ tiết và p nhận sách phong từ Chánh, Phó sứ, rồi mang vào cung i cấm cho phi tần làm lễ thụ phong, là chưa đư được nghiêm túc và long trọng. Vua giao v tiếp nhận ng. việc này cho các Hoàng tử Công và Hoàng t nội đình tử (3) do bà Phi sinh ra, nhưng sau có l gặp trường lẽ hợp có bà Phi không sinh hoàng tử ho hoàng tử hoặc còn bé quá, không thể thi hành đúng nghi l được, lễ nên phải trở lại giải pháp thái giám và n quan i nữ như đã trình bày. phi tần, dù đó là sách vàng đi n n, nữa, mà chỉ thấy toàn là lễ nghi mệt người! * Theo bài báo, ông Cao Xuân Trư Trường đã phải bán căn nhà ở Canada với giá 200,000 euro đ có i để đủ tài chánh làm chủ bảo vậ kim sách này trong ật một cuộc đấu giá ở Paris, với ý ngh “Rất nhiều cổ i nghĩ vật quý báu của đất Việt vì nhi lý do đã ra nước t nhiều ngoài, nay chúng tôi muốn sưu t n tầm để đưa trở về”. Hiện bảo vật đang được trưng bày cho công c chúng xem và tìm hiểu. Có nhi người nhiều tiền u. nhiều hơn ông Trường, dư tiền hơn nhưng thi hay n thiếu không có ý nghĩ và hành động như ông, nên thay ng vì lời tán dương phù phiếm, xin có bài viết này để m, bà con có dịp thưởng ngoạn c vật một cách thú vị n cổ hơn.

Võ Hương An
------------(1)Dắng là vợ hầu của Hoàng t Vợ chánh gọi a tử. là Phủ thiếp. (2)Cung giám là thái giám ph vụ trong cung phục cấm nhưng thuộc cấp nhỏ để sai khiến, phân ỏ, biệt với Thái giám là cấp đi khiển. p điều (3)Hoàng tử công là Hoàng t đã được phong tử tước Công (phải từ 15 tuổi tr lên, có học vấn i trở khá), đã xuất các, nghĩa là ra kh Hoàng thành à khỏi (Đại Nội), lập phủ riêng. Hoàng t nội đình là tử hoàng tử còn bé, còn được số với mẹ trong cung ống cấm Tài liệu tham khảo: -Nội Các triều Nguyễn, Khâm đ định Đại Nam Hội điển Sự lệ, tập IVA, bản dịch ti ch tiếng Việt cùa nhiều tác giả, Viện Sử Học, NxbThu Hóa, 2004 c, NxbThuận -Quốc Sừ Quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục, n, tập IX, bản dịch tiếng Việt củ nhiều tác già, Viện ủa Sử Học, Nxb Giáo Dục, 2006 c, - Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc T Nguyễn Phúc n Tộc, Tộc Thế phả, Nxb Thuận Hóa, 1995 n -Võ Hương An, Từ điển Nhà Nguy n Nguyễn,sắp xuất bản.

Cửa Hiển Nhơn

Riêng bà Phi hôm đó, sau lễ th phong, lại thụ phải mũ áo chỉnh tề, đến cung vua, l n lảm lễ tạ ơn với 3 lần quì 6 lần vái, xong lại đ cung của i đến Hoàng Thái hậu làm lễ bái yết. Hôm sau, các con t. của Phi vào cung làm lễ lạy mừng mẹ 4 lạy. ẹ Quả thật không có một chút không khí lãng t mạn nào trong việc vua ban tặng sách phong cho ng

- 196 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Còn lại nhữ gì ững
Hoàng tá Thích
(Gửi những bạn bè đã từng qua lại con đư i đường Bộ Thị ngày xưa) Hơn năm mươi năm rồi.Hơn n đời người i.Hơn nửa đã trôi qua lặng lẽ lúc nào không hay.Nh những hay.Nhớ ngày còn mài đũng quần trên ghế nhà trư trường mà cảm khái.Xa lắm rồi.Còn lại những gì ngoài hoài ng niệm về những ký ức tuyệt vời của m thời thơ ấu a một đã qua. Người Huế thường nói chỉ có Hu mới có Huế nắng vàng buổi hoàng hôn. Chỉ có Hu mới có Huế màu tím ẩn trên mặt nước sông Hương lúc chi c chiều xuống. Huế ngày xưa ít khi có cơn b lớn,chỉ có bão những cơn mưa dầm thúi đất,chỉ có mùa l nước lụt đủ ngập đường để trai gái có cơ hội r nhau đi lội i rủ nước. Chỉ có Huế mới có những ngôi chùa trong ng thâm sơn cùng cốc,làm chỗ hẹn hò lãng m cho n mạn tuổi học trò,ngồi khắc tên nhau trên thân tre,ng c tre,ngọn trúc. Và Huế còn có trường Quốc H thân yêu c Học của chúng ta,nhìn ra dòng sông Hương êm đ đềm ấm áp.Dễ thương thay những kỷ ni niệm thuở học trò. Cái thuở học trò vô tưấy, Suốt đời cũng thấy khó mà quên y Thử trở lại Huế một lần sau bao nhiêu năm n xa cách,đâu phải dễ dàng tìm lại dấu v ngày xưa u vết nếu chúng không được giữ gìn trong ký ức. Thuở đó,nhà chị Thương Liễn có cây d lúc n dừa nào cũng sây trái. Trong khi Đinh Xuân Dũng m ũng mặc quần xà lỏn leo lên trên đọt cao chót vót,thì ch t chị Hạnh Phước,Lệ Thủy,Hoàng tá Thích,Lê ,Hoàng

Cửa Đông Ba (sau M Thân) a Mậu

Nguyễn Bá Diên và chủ nhà đ đứng chờ phía dưới. Trái dừa nào phải hái xuống đây? Các anh đ mặt ng đỏ không dám nhìn lên,các chị thì vẫn vô tư chỉ chỏ trái nầy trái nọ. Năm đó,chúng m . mình cũng đã đệ nhị rồi đấy. Thuở đó bàn học của Võ Th Mai đặt ngay a Thị cửa sổ nhìn ra đường Bộ Thị ị,đối diện với căn nhà Hoàng Tá Thích,là địa điểm t họp của bọn con m tụ trai. Mới năm giờ sáng,cư dân chung quanh đó đều thức giấc vì tiếng hét th thanh của Võ Thị ng thất Mai khi vừa bật đèn lên đã phác giác ngay c sổ ã cửa treo một con chuột chết. Đấy là tác ph của Đinh y phẩm Xuân Dũng vừa nghĩ ra hôm qua. B quỷ sứ đã ĩ Bọn thức học suốt đêm,đang chờ k quả,vội tắt đèn im kết hơi lặng tiếng. Làm sao có thể không nh được cái thuở mà nhớ chúng mình từng nhảy từ lầu trư u trường Nguyễn Tri Phương xuống đất để trốn kh sự rượt đuổi của n khỏi cụ Giám thị Cơ vì tội phá phách trong gi nghỉ i giờ trưa, phải không Diên,phải không D i Dũng? Thuở đó,nhớ Đinh Xuân Dũng đang cùng học với nhóm,nửa đêm buồn ng n ngủ,leo lên cây trộm nhãn bị bắt gặp quả tang đã lên ti ã tiếng doạ chủ nhà sẽ nhảy xuống đất. Chủ nhà đành ph lánh phải mặt,không truy tố. Hoàng Tá Thích còn kém may .

- 197 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
mắn hơn, cũng tội trộm nhãn mà bị cảnh sát giữ trong đồn chỉ một hôm trước ngày thi bán phần,chỉ vì Lê Thế Nhiếp có bổn phận canh chừng đã trốn mất khi bị cảnh sát phác giác. Thuở đó,cuối tuần,nhóm bạn Lê Văn Tú,Lê Nguyễn Bá Diên,Đinh Xuân Dũng,Hoàng Tá Thích,thỉnh thoảng còn có thêm Võ thị Lệ Thủy thường xe đạp kéo nhau đến một nơi nào đó ngồi miệt mài làm toán. Có lẽ bây giờ tuổi trẻ ham mê vi tính như thế nào thì ngày xưa,chúng mình cũng mê làm toán như thế đó. Thuở đó,tuy đã mười tám hai mươi,nhưng hoàn cảnh xã hội làm cho tuổi trẻ của chúng ta khác với bây giờ. Có những chàng thanh niên trong chúng ta trở thành những cây si,thường lảng vảng một cách rụt rè trước cổng nhà Thu Hiền, cạnh vách với nhà Hoàng Tá Thích. Nhưng rồi cũng chỉ có chừng đó. Ôi,đẹp thay cái tuổi học trò. Năm tháng trôi qua. Một lần chia tay hết thời trung học.Rồi những năm đại học không chỉở Huế. Lại lần lượt chia tay để bôn ba cuộc đời cơm áo gia đình. Gặp nhau thưa dần. Rồi bảy mươi lăm.Bảy mươi lăm vật đổi sao dời. Mỗi đứa một góc trời,lên non xuống biển, dặm trường xa cách,biết bao đổi thay. Đôi khi lâu lắm mới có dịp gặp nhau một lần. Bây giờ thì phần đông chúng ta đã quá tuổi cổ lai hy. Dũng ơi,Diênơi,Tú ơi,Tập ơi…ngày xưa có bao giờ các bạn tưởng tượng ra một hôm nào đó như bây giờ không? Thuở đó,…còn không biết bao nhiêu là chuyện học trò trong ký ức. Gặp nhau bây giờ,nói chuyện gì nhỉ? Nhìn lại đứa nào kém tuổi nhất cũng đều đã hai mầu tiêu muối. Khai ra thì có đứa đã một bầy cháu nội ngoại tám,chín mười đứa. Chỉ có những kỷ niệm thân thương hồi còn trẻ thơ,mới đem đến được cho nhau những thoải mái tâm hồn. Không phải ai ai cũng có thể có những kỷ niệm như thế. Giờ đây,bạnở khắp năm châu,con cái khi đang còn ở Trung học,có đứa đã lái xe đến trường. Ở đâu đâu,chúng nó cũng có thể gặp nhau trên “chat”. Cả ngày ngoài giờ học,vùi đầu vào games, tìm kiếm google. Chỉ một cú điện thoại cầm tay là đã có thể hẹn hò hoặc chuyện trò không dứt. Làm sao có thể có cây dừa,cây nhãn để mà trèo. Làm sao có thể có một giếng nước trong khuôn viên trường Bồ Đề để buổi chiều,năm ba đứa sắp vào đại học mặc quần xà lỏn cùng nhau đứng tắm,cười giỡn nô đùa như trẻ con. Thời gian trôi qua, mọi vật thay đổi,nhưng ký ức thì lúc nào cũng còn đó. Cho dù ngày xưa có những chuyện không được lòng nhau, cho dù bây giờ không phải lúc nào cũng nghĩ đến nhau,nhưng những lúc ngồi hồi tưởng lại,thì cũng vẫn là kỷ niệm,không thể nào quên được. Kỷ niệm thì lúc nào cũng ấm áp,dịu dàng. Biết bao nhiêu bạn bè đã rời xa chăn chiếu : Trịnh Bình Tây,Vĩnh Tuyền, Lê Thế Nhiếp,Nguyễn Phú Liễm,Võ Thị Mai, Trịnh Ngọc Răng…Nhiều đứa khác cũng lác đác ra đi. Bạn bè còn lại ở những nơi đâu? Địa chỉ khắp cả hành tinh,từ Nam bắc châu Mỹ,từ những quốc gia Bắc Âu xa xôi,đến tận Úc đại lợi ở Nam bán cầu,rải rác xa gần khắp cả thế giới. May mà còn lại cái địa chỉ e.mail để hàng ngày lên mạng chờ tin tức bạn bè,muốn gặp nhau đâu phải dễ dàng như ngày xưa. Hơn năm mươi năm qua rồi,nhưng hình như lúc nào cũng còn mơ hồ đâu đó. Hoàng Tá Thích (1951-1958)

- 198 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

QUỐC H C HỌC, ĐỒNG KHÁNH

CÙNG NHỮNG CHUYẾ ĐÒ NGANG THỪA PHỦ ẾN

Bùi Kim Chi

Xôn xao, rạo rực, nước mắt hoen mi. Đó là t tâm trạng của nàng trong lần đầu tiên tr về thăm u trở Huế trên chiếc xích lô chở nàng từ Ga về Thành Nội. Không hiểu ma lực nào mà Huế dễ dàng thu ế hút khách ly hương trở về và nàng là m trong một những vị khách đó. Một người rất sợ không dám ợ, nhìn và sống lại với quá khứ. Nhưng nàng đ thua. . đã Không hiểu nổi. Nôn nao. Say đắm nhìn. Say đắm m ngắm. Nhạc lòng, nhạc gió hát khúc yêu thương. c Một cảm xúc rất thật, sống động đang ve vu ng vuốt nàng. Nàng bồi hồi, e dè, ngại ngùng, đôi m ngơ i mắt ngác rất đỗi dễ thương như sự biểu l tình cảm u lộ đằm thắm của một người tình được g lại một c gặp người tình. Nói có quá đáng không nhưng th tình thật tâm hồn, cảm xúc của nàng lúc này là như th … a thế Con đường dài hun hút có hàng cây xanh th ng thật gần với cành lá đan xen màu ngọc bích, m thời c một làm nền cho đàn hạc trắng tung bay trong gi tan ng giờ học đang âm thầm theo bước chân nàng đ điểm c đến hẹn. Ngôi trường màu hồng duyên dáng bên b ng bờ sông Hương hiện ra. Một cõi thơ c thời cắp ơ của sách. Nàng mơ màng nhìn trường xưa l ng lòng rộn rã. Rồi như có tiếng của ai đó đang g nàng. Vội a gọi vàng nàng men theo con đường đấ nhỏ sát bờ ất sông rảo bước đến bến đò Thừa Phủ Ngậm ngùi. ủ. Ôi, bến cũ, đò xưa còn người xưa nơi đâu, nơi i đâu?

Thừa Phủ, cái tên nghe là l lấy từ tên của , lạ, dinh Thừa Thiên Phủ Doãn ghép l một cơ quan lại, đầu tỉnh Thừa Thiên nằm trư bến đò ở bờ nam m trước sông Hương. Đây là bến đò nên th và lãng mạn ò thơ của Huế, theo nàng. Có cây đa c thụ, có bến đợi , cổ và nhất là có hình ảnh chiếc nón lá, chi áo dài c chiếc trắng, tóc xỏa ngang vai của n sinh Đồng Khánh a nữ cùng vóc dáng thanh cao, thư sinh c các anh của Quốc Học. Học trò Đồng Khánh, Qu Học không ng Quốc thể nào quên bến đò Thừa Ph với những sáng, a Phủ những trưa, những chiều theo đ sang sông mà u đò lòng rộn rã. Nàng nhớ, đến năm 1973 th bến đò n thì không còn tấp nập khách họ trò như trước đây ọc nữa vì Huế đã có cầu Mới. Ôi, ti thay ! Một thuở i. tiếc học trò trên bến đò Thừa Phủ Nàng say sưa nhìn ủ. dòng Hương lặng lẽ trôi. Êm đ đềm. Quyến rũ. Gió chuyển mình mang hương thơm nhè nh của cây ương nhẹ lá xôn xao chuẩn bị vào mùa. Tr như thấp Trời xuống. Nắng nhạt dần, nhạt d … Lặng người t dần giữa trời, mây, nước bao la lòng nàng b hồi nhớ c bồi về ngày ấy thấp thoáng nhữ chuyến đò chiều ững chở các nàng Đồng Khánh qua sông … ng Tan trường. Một chuyến đò rời bến đưa các nàng áo tr n trắng sang sông. Trời chiều man mác. Hoàng hôn s đổ u sắp xuống với sắc vàng, hồng pha tím r khắp trời. ng rải Con đò lướt nước dịu dàng, êm ả. Sóng lăn tăn đẩy u

- 199 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
nhẹ những nhánh rong non dập dìu trên sóng nước không biết trôi về đâu, về đâu … Trên đò, dáng các nàng Đồng Khánh ngồi thật đẹp. Áo dài vén khéo, một tay cầm nón giữ chặt cùng chiếc cặp xinh xinh, một tay giữ lấy thành đò. Tóc mây vương gió chiều mềm mại tung bay che nửa khuôn mặt dễ thương, khả ái. Có chỉ thế thôi nhưng trông các nàng Đồng Khánh sao mà nền nả, đằm thắm và đáng yêu quá. “Chị Gái ơi, cho em chèo một chút”. Giọng nói hiền lành, nhỏ nhẹ nghe như tiếng chim hót cô nàng được chị lái đò cho cầm mái chèo phụ. Gió hiu hiu thổi, nón đổ sau đầu theo chiều gió, hai tay chèo khoan thai, nhịp nhàng cùng tà áo trắng nhẹ bay dập dìu như hai cánh bướm. Ơi, cô lái đò Đồng Khánh, trông cô cũng điệu nghệ vô cùng. Mọi cặp mắt đều hướng vế phía nàng. Nàng cảm thấy vui vui và “oai oai” vì được chị Gái cho cầm mái chèo. “Không phải ai cũng được chị Gái cho cầm mái chèo mô nghe”. Cô lái đò học trò mỉm cười, nụ cười rất duyên. đò buồn bã lắc đầu. Rồi đò rời bến. Ai nấy hoàn hồn. Bây giờ con trai, con gái bắt đầu “trẻn”, bắt đầu “dị”. Đồng Khánh kéo nón che mặt, Quốc Học quay lưng làm lơ. “Xem như tụi mình không quen biết nhau”. Lại một chuyến đò nữa. Khách học trò đã đầy nhưng đò vẫn neo bến đậu không chịu rời. Trên đò, Đồng Khánh, Quốc Học kẻ ngồi, người đứng ; tất cả im lặng. “Đò đầy quá không chèo được. Lên bớt đi chuyến sau”. Đồng Khánh làm thinh, Quốc Học e dè đưa mắt thăm dò nhưng rồi cũng ngồi yên. Giọng nói sang sảng của chị lái đò réo gọi hai ba lần. Mọi người trên đò đều nghe, nghe thật rõ nhưng … không ai nghe. “Lì dễ sợ”. Tiếng chị lái đò chì chiếc. Thế là đò bị giam. Không gian trầm lắng. Quốc Học nhìn qua. Đồng Khánh ngó lại. Tất cả ngồi im re. Chị Gái buông mái chèo ngồi xuống mạn đò lấy nón quạt. Trời chiều mát mẻ, gió sông Hương lành lạnh nhưng chị lái đò vẫn ngồi quạt. Chị quạt càng lúc càng mạnh. “Chị lái đò thi gan cùng tuế nguyệt là đám học trò”. Nàng thầm thì. Cười trong gió. Nắng chiều đã tắt. Màu khói hương trùm xuống mặt sông. Bến đò chiều man mác buồn. Chuyến đò áo trắng vẫn còn neo bến. Gương mặt thản nhiên kèm một chút làm đày, chị lái đò không chịu thua đám học trò. Thời gian chậm trôi, không gian lắng đọng … Một anh Quốc Học, một anh Quốc Học nữa rồi một anh nữa rời đò … Các anh rời đò vì tranh không lại các nàng Đồng Khánh hay là ý tứ nhường chỗ cho các nàng vì trời sắp tối. “Sợ em đi học về trễ mạ em la”. Chỉ có các anh ấy biết. Đồng Khánh trong lòng cám ơn rối rít. Chuyến đó thứ ba đưa các nàng Đồng Khánh sang sông. Còn một chuyến nữa ! Nàng reo lên. Mắt rưng rưng. Chuyến đò cuối. Với nàng, đó là hình ảnh không phai với một cặp tình nhân học trò trong sáng, dễ thương trên chuyến đò cuối cùng trong ngày ở bến đò Thừa Phủ, cách đây 45 năm. Cô gái có đôi mắt đen rất đẹp, long lanh dưới hàng mi cong vừa mang nét buồn vừa có nét vui, vừa tinh nghịch lại vừa đằm thắm. Một cặp mắt thật lạ đã thu hút mọi người trên đò, trong số đó có nàng. Anh con trai cao ráo,

Một chuyến đò nữa vừa cập bến. Khách trên đò chưa kịp xuống thì ôi thôi ! các nàng Đồng Khánh, các chàng Quốc Học tranh nhau lên đò. Chuyến đò này có cả các anh Quốc Học (Trường Quốc Học bãi học sau Đồng Khánh mười lăm phút). Thế là áo dài, quần tây ; xanh xanh, trắng trắng lẫn lộn giành nhau lên đò. Không ai “dị”, không ai “trẻn” chi cả. Xô qua, đẩy lại. Mạnh ai nấy lên. Bác lái đò hiền lành : “Ui cha, từ từ thôi rồi ai cũng được lên đò. Răng mà giành nhau dữ rứa ! Từ từ thôi cả chao đò”. Bác nói thì cứ nói, học trò thì vẫn cứ tranh nhau lên đò. Lời nhắc nhở dễ thương của bác lái đò theo gió chiều man mác thổi về nơi ấy … một nơi nào đó vô định… Bác lái

- 200 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học
khôi ngô, có dáng vẻ đàn ông. Hai ngư là một người cặp đôi đẹp dưới mắt nàng - một cô h trò mười t học sáu tuổi. Ngày ấy, nàng có cảm tình v cô gái để m với rồi vài lần nàng đã cố tình chần chờ về chuyến đò cuối cùng “hai người ấy”. Trên đò ch còn vài ò chỉ khách và năm ba học trò về muộ Nàng vẫn ộn. thường kín đáo len lén nhìn cô gái có đôi mắt đẹp ìn với một chút ngưỡng mộ. Bên cạnh cô gái là anh nh Quốc Học từ tốn, hiền lành nhưng có v “che chở” n vẻ được cho cô bạn gái. Lên đò bao giờ cũng thế, cả ờ hai cùng ngồi xuống, tay vắt ngang thành đ đưa t đò xuống khoác dòng nước mát lạnh. Tay anh, tay em nh. đan nhau đùa nghịch trong nước nh nhàng, kín c nhẹ đáo. Hoàng hôn. Sông mặc áo màu lam huy huyền trầm mặc. Trên sông, vài chiếc đò d trở về sau ò dọc một ngày dài rong ruỗi. Mái chèo khua sóng nư i. nước vội vàng, xôn xao. Chuyến đò học trò cu cùng c cuối cập bến. Hai người trao cho nhau cu sổ nhỏ. i cuốn Thế là lên bờ. Chia tay. Anh vào Cửa Ngăn, ch về a chị Thượng Tứ… Chỉ thế thôi. Dễ thương - âm thầm lặng lẽ. Hai bóng người thấp thoáng dư ánh đèn p dưới đường. Sau lưng họ là nàng, đang tr trầm ngâm dõi mắt nhìn theo. Chiếc áo màu lam huyền ngày xưa đang trùm n lên người nàng. Nàng chới với giữa dòng H a Hương mát lạnh cố ngoi đầu lên đưa bàn tay nh bé mong u nhỏ chạm cho được những bậc cấp của b đò Thừa a bến Phủ. Nàng khóc. Sợ “quá khứ” nhưng v cứ phải ” vẫn “nhìn lại” và “sống cùng”. Sợ “nơi v nhưng vẫn về” cứ phải “trở về”. Bởi “quá khứ” vẫn đ và “nơi n đẹp về” thì quá ấm áp, thân thương. Nhưng có m hương. một điều chắc chắn rằng khi nghĩ về và s sống lại thì nàng không khỏi chạnh lòng thương c ương cảm và điều đó đã làm nàng “sợ”… Màn đêm buông xuống. Hương Giang m áo ng. mặc nhung đen yên ả, trầm lắng từ từ buông su tóc suối dài óng mượt, duyên dáng, gợi cả cuộn hồn ảm người. Ngậm ngùi nàng nhìn nàng trên sông t m từ chuyến đò áo trắng năm xưa rồi bỗng gi mình : ng giật con bé tranh đò năm xưa nay đã trên l tuần. ã lục Bùi Kim Chi

- 201 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học ĐOẢN KHÚC
Nguyễn thị Minh ĐK 1953-1959

VIẾT CHO CHỊ
“Những bước chân con gái e ấp ng ngừng ngập qua những con phố hẹp. Trời Huế tháng tư v còn vẫn se lạnh vào những buổi chiều tắt nắng. Hoàng hôn ng. về mang đến cho Huế những mãng màu th lãng ng thật mạn dễ thương nhưng phảng phất m nỗi buồn t một như nỗi buồn không tên đang vương v trong tâm n vấn hồn người con gái. Một tiếng thở dài, m thoáng một nhìn không định hướng nhưng ngư con gái đã ng người cảm nhận một nỗi chia ly đang gần như hi rõ n hiện trong tâm thức. Những ngày tháng tư c một năm ng của học báo hiệu một khúc quanh của cu đời. Mùa a cuộc hè đang đến rất gần và mùa chia tay c n cũng cận kề đâu đó. Một cảm giác nôn nao khó t khi nàng m tả nghĩ đến ngày ly biệt. nàng sẽ bỏ lại đằng sau những người thân, những bạn bè, nh n những con đường và ngôi trường mẹ thân yêu. Nàng s ra đi sẽ với mớ hành trang là những kỷ niệ ệmtuổi thơ của một thời áo trắng học trò và hành lý nàng mang c theo chỉ vỏn vẹn hai chữ sầu thương” u Vâng, chị đã đi thật rồi, một chuy chuyếnđi thật xa, vượt qua khỏi biên giới của quê nh để đến một nhà miền xa lạ. Nơi đó, chị cảm thấy như cô đơn, như y lạc lõng với ngôn ngữ và văn hóa xứ người. Nhưng biết làm sao khi chị đang dấn thân vào cuộc đời du ào học. Chị đi để làm giàu tri thức, đ học cái văn c, để minh tiến bộ và cả cái phong tục lạ lẫ của một đất ẫm nước ngạo nghễ bên kia bờ Thái Bình D Dương. Chị ơi, khi chị ra đi chị đã mang theo đư những gì. được Chiếc cầu và giòng sông vẫn còn đó, nh những chuyến đò ngang vẫn hiền hòa nhẹ nhàng lư theo những lướt mái chèo khua nước. Những hàng phư ng phượng vỹ thân quen vẫn rền rĩ tiếng ve sầu. Và nhữ bạn bè vẫn ững thường nhớ đến chị với những lời thăm h Và .. i hỏi. gia đình mình, lũ em thơ luôn ngóng trông v hình ơ về ảnh một người chị quí mến đã đi xa. Ch Chịơi, lũ chúng em đang quay quắt nhớ và thươ chị. ương

Thời gian lặng lẽ trôi, chị cũng bắt đầu trưởng thành nơi xứ lạ quê người. Và rồi, có một ngày chị cất bước sang sông cùng với người bạn đời tri kỹ. Hạnh phúc hình như không ở trọn trong tầm tay, chị bỗng trở thành trở thành góa phụ. Chị buồn, lũ chúng em Tâm, Thảo, Long, Đơncũng buồn cùng ch và cảm thông nỗi n chị thống khổ ngút ngàn của chị Chị cô đơn trong ị. cuộc hành trình đầy bất trắc. R cũng một ngày c. Rồi tháng tư, chị đã bỏ lỡ cuộc hành trình và hình nh c như chị đã đến một nơi không mong đ Chị đã xa lìa t đợi. cõi tạm! Chị không còn thấm thía âm hư m hưởng của bản nhạc Xuân tình (April Love) mà ch hằng yêu c chị mến thuở còn niên thiếu. Bây giờ, trời cũng đang v tháng tư, tháng tư ũng vào về trên thung lũng hoa vàng. Tr tháng tư miền àng. Trời Bắc Cali vẫn còn cái se lạnh c Huế, vẫn có một nh của chút nắng vàng sưởi ấm núi đ và phố thị. Trong m đồi cái nồng ấm tình người, thành phố San José đang ành giang rộng vòng tay đón chào những học trò Huế ào năm xưa từ khắp nơi tụ họp vềđây, kể cả những p bạn bè từ quê nhà xa vời vợi mà chắc chắn trong i, đó có rất nhiều những người thân và b bè của i bạn chị. Chịơi, trong cái không kh rộn ràng chan hòa khí những âm vang tiếng hỏi câu chào, nếu một ai đó âu hỏi: chị đâu rồi sao không tớ Chúng em biết trả ới? lời sao đây? San José, tháng 4-2012. thảo đơn

- 202 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

- 203 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Chương trình Họp Mặt Quốc Học 50 Năm Gặp Lại ình Họp
Ngày Tiền Hội ngộ 20/4/2012
Địa điểm : Dynasty Seafood Restaurant eafood
1001 Story Road , San Jose, CA 95122 Từ 18-19 giờ 30 : Gặp mặt, hàn huyên, chụp hình lưu niệm Từ 19 giờ 30 đến 22 giờ : Dùng cơm tối Chương trình văn nghệ Từ 22 giờ đến 23 giờ : Khiêu vũ tiếp tục hàn huyên tâm sự vũ,

Ngày Họp Mặt 21/4/2012
Địa điểm : Khách Sạn Wyndham San Jose Ball Room ạn
1350 N. First Street, San Jose, CA 95112 Từ 11-12 giờ : Gặp mặt, hàn huyên chụp hình lưu niệm huyên, Từ 12-12 giờ 30 : Nghi thức khai mạc BTC chào mừng và giới thiệu quan khách Từ 12 giờ 30 đến 15 giờ : Dùng bửa trưa Chương trình văn nghệ Từ 15 giờ đến 16 giờ 30: Khiêu vũ tiếp tục hàn huyên tâm sự hiêu vũ, 17 giờ: chia tay

Chương Trình Du Ngoạn
Golden Gate – Napa Valley 22/4/2012
Thăm cây cầu Golden Gate nỗi tiếng ở San Francisco và sau đó thăm Napa nơi sản xuất Napa, rượu nho với cảnh sắc tuyệt đẹp đẹp.

17 Mile Drive, Carmel, Mystery Spot 23/4/2012
Thăm vùng bờ biển miền Tây với nhiều địa danh nỗi tiếng đồng thời viếng Mystery Spot Spot, nơi mà lực hút của địa cầu bị nghiêng lệch lệch.

Yosemite – Grand Canyon – Las Vegas 24 24-27/4/2012
Ngoạn cảnh hùng vĩ của Công Viên Quốc Gia Yosemite và sau đó thăm kỳ quan Grand Canyon với hai đêm nghỉ chân tại Las Vegas kinh đô của ánh sáng với nhiều kiến trúc Vegas, tân kỳ và ngoạn mục.

- 204 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học MỘT CHÚT NGÀY XƯA & MỘT VÀI NGÀY NAY

Trước Trư cổng trường Quốc Học, 1960 Hiệu trưởng: Thầy Đinh Quy

- 205 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Lớp Đệ Nh A2 (1962-1963), GSHD: Thầy Lê Vĩnh Kiến Nhất

Bảng Danh dự này là một món đồ cổ B Đến nay, nó được 57 tuổi (1955-2012)

- 206 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Từ trái sang phải, từ trên xuống dưới: ừ * Nguyễn Công Minh - Phạm Thành - Phan Thanh – Nguyễn Văn Phước – Nguyễn Định – Hoàng Xuân Dược – Trần Quang Lưu - Cao Hữu Tùng – Nguy Đăng Bê – Dương Đình Hạnh – Cái Dinh – Hà Văn Phú – Trương Nguyễn Như Lượng – Nguyễn Văn Em – Lê Bá S Sừng – Đặng Quý – Trương Đình Tín – Trần Mậu Tý. u * Trần Ngọc Thủy – Hồ Đắc Chương – Võ Thế Tú – Đoàn Văn Vịnh – Phan Lục Tú – Lê Viế Thọ c ết - Hồ Xuân Tám – Hoàng Ngọc Tùng – Phạm Tử Thăng – Lê Hữu Thương – Lê Hữu Vịnh – Nguyễn Văn Nuôi – Trần Quang Hòa – Trần Đồng – Hà Thúc T – Nguyễn Văn Thái. Tầm * Đổ Văn Tín – Nguyễn Văn Nho – Đoàn Th Sãn – Lê Mễ - Phan Văn Giáo – Lê Bá Tròn – Hoàng Ngọc Châu – Thế Ngô Hữu Phước – Nghiêm Sào – Trần Văn Cẩn – Văn Đình Tủng – Thầy Hồ Văn Thuyết – Thầy Giám thị Đặng Văn Kế - Thầy Nguyễn Quốc Kiễm – Nguyễn Văn Giáo – Nguyễn Văn Kiễm – Trần Lê Trân – Nguyễn Thái Hoàng n – Phan Văn Niệm – Nguyễn Phương Thành – Võ Đức Hà – Lê Quốc Toản. n

- 207 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

Lớp Đệ Nhất B4 với Thầy Lê Khắc Huyền (mang cà vạt)

- 207 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Lớ Đệ Nhất B với Thầy Trần Tiễn Hoan ớp

- 208 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

- 209 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Mộ lớp Đệ Nhất B với Thầy Lê Đình Ninh ột

- 210 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

- 211 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Mấy chục năm…vật đổi sao dời, học trò cũ mửng sinh nh Cô Diệu Trang và Thầy Hồng Giũ Lưu ng nhật

Đệ Nhất C1 QH 1960 hội ngộ ở Hoa Kỳ sau 35 năm xa cách (1960-1995) 1995) Hàng đứng (từ trái sang phải) : Trần xuân Th n Thời-Lê thị Kim Hải-Trần thị Mỹ Nhật-Lê huy Trân Lê Trân-Chị BảoNguyễn xuân An Hòa-Trần thi Thu Tâm n Tâm-Lê khắc Ngọc Túy-Nguyễn viết Danh-Lê chí Th Lê Thảo Hàng ngồi : Ngô văn Lân-Tạ quốc Bả ảo-Nguyễn trần Chuyên

- 212 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

- 213 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Trái qua phải: Thầy Nguyễ Phú Phụng, Thầy Bùi NgọcLiên, (?), Thầy Phạm H Hiệp ễn m Hữu

Một số các “c Tam B2 (59-60) tại Huế, Tết Nhâm Thìn 2012 “cụ” Từ trái sang phải : Trần quang Hòa-Phan văn Giáo Phan Giáo-Trương đình Tín-Trần quang Lưu-Hồ xuân Tám Tám-Ngô hữu Phước

- 214 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Hàng đứng (trái-phải): Tôn thất Cầm, Đoàn Lô, Lê văn Phước, Lê khắc Huy Hàng ngồi: Lê thanh Phong, …, Cao hữuTùng, Lê hữu Vịnh

Lê khắc Huy – Vĩnh Lộc – Nguyễn mậu Trinh Huế - 1961

- 215 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Lớp Đ Nhất B3 niên khóa 1961-1962 p Đệ

Lớp L Đệ Nhất B1 niên khóa 1961-1962

- 216 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Lớ Đệ Nhị B7 niên khóa 1960-1961 ớp

Quốc Học 1962
- 217 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Lớp Đệ Tứ 1 niên khóa 1958-1959 sau 53 năm ệ
- 218 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

Lớp L Đệ Tứ 1 niên khóa 1958-1959 Từ trái sang phải và từ trên xuống dư ng dưới Hàng đứng : Lê công Hồ-Nguyễn văn Em ễn Em-Trần văn Huyền-Nguyễn văn Mai-Lê quang Thông Lê ThôngNguyễn văn Nho-Nguyễn đức Quý Quý-Tôn thất Cầm-Tôn thất Hồng-Lê văn Trình ình-Tôn thất HiếuTrần văn ThànhHàng giữa : Lê viết Kiêu-Nguyễn hữu Thận(chết trận B ễn Bình Giã)- { quên tên}-V Vĩnh Lộc- ChánhNguyễn Trực-Lêvăn Hiệp-Đòan Ngãi òan Ngãi-Nguyễn Phục-...Ninh-Hoàng trọng Hùng ùng-{quên tên}Nguyễn.đức Văn Hùng-Ng.văn Phnom Ng.văn Phnom-Nguyễnđăng Bê-Trầnminh Sỹ-....Hoá-Vĩnh Hanh-Thầy Trươngquý ĐịchHàng ngồi : Hà thúc Chước-Đoàn Lô Đoàn Lô-Trương văn Lân-Nguyễn sanh Thư-Hà thúc T Hà Tầm-Tôn thất Triêm-...Vũ-...Giao-Lêhữu Vịnh-Tr Trịnh Căn-Lê Định-Tôn thất Túc- Nguyễn Xoa Nguyễn văn ễn XoaThái-Nguyễn Tình-

- 219 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012
DANH SÁCH QUÝ THẦY CÔ và CÁC BẠN ỦNG HỘ NGÀY HỌP MẶT Stt 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 Họ và Tên Tôn nữ Tiểu Bích Huyền Tôn nữ Quế Hương Lê vĩnh Kiến Nguyễn văn Lâu Thái doãn Ngà Tăng quốc Ái Ngô viết Ba Lê khắc Bình Nguyễn công Chức Bún bò Huế Võ văn Dật Lê viết Đắc Đỗ thị Mẫu Đơn Lê Đơn Phan tiểu Dương Lê khắc Huy Trần văn Huyền Lê xuân Khôi Trương như Lượng Bùi văn Miều Nguyễn văn Nho Nguyễn chánh Nông Nguyễn lê Quang Hoàng phước Quyến Võ văn Quyền Hồng như Quỳnh Phan hiệp Thành Lê bá Tiếp Trần hưng Toàn Trương ngọc Toản Tôn nữ Như Trân Nguyễn mậu Trinh Trần minh Trung Cao hữu Tùng Bửu Uyển Võ thị Xuân Đoàn Yến Số tiền 120.00 100.00 120.00 200.00 180.00 100.00 100.00 100.00 50.00 100.00 120.00 100.00 100.00 100.00 50.00 300.00 50.00 50.00 100.00 100.00 100.00 20.00 200.00 20.00 200.00 20.00 15.00 200.00 100.00 20.00 100.00 200.00 60.00 300.00 50.00 30.00 100.00

- 220 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

- 221 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

- 222 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

- 223 -

Quốc H 50 Năm Gặp Lại * 2012 c Học

- 224 -

Quốc Học 50 Năm Gặp Lại * 2012

- 225 -