CHƢƠNG VIII KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

I. KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA CỦA KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự Tố tụng hình sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, các giai đoạn này tuy đều nhằm thực hiện mục đích chung của tố tụng hình sự là phát hiện kịp thời, nhanh chóng tội phạm và ngƣời phạm tội, xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, nhƣng mỗi giai đoạn tố tụng lại có tính độc lập tƣơng đối, có nhiệm vụ và ý nghĩa riêng. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội pham để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý đầu tiên để tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo là điều tra, truy tố, xét xử. Quyết định này làm phát sinh các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng và những ngƣời tham gia tố tụng. Mọi hoạt động tố tụng điều tra, áp dụng biện pháp ngăn chặn... chỉ đƣợc tiến hành khi có quyết đinh khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong trƣờng hợp việc thu thập tài liệu, chứng cứ xác định những tình tiết quan trọng của vụ án đòi hỏi không thể chậm trễ, pháp luật cho phép tiến hành một số hoạt động tố tụng trƣớc khi có quyết định khởi tố nhƣ: khám nghiệm hiện trƣờng, khám, bắt ngƣời (trƣờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang). Nhƣ vậy, khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, bắt đầu từ việc tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện dấu hiệu tội phạm và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể là sự khởi đầu cho các giai đoạn tố tụng khác hoặc chấm dứt quá trình tố tụng. 2. Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo mọi tội phạm đều bị phát hiện một cách nhanh chóng, ngƣời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và không một ngƣời vô tội nào bị truy cứu oan. Vì vậy, khi nhận đƣợc thông tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm phải xác định có sự việc xẩy ra hay không? Nếu có thì sự việc đó có dấu hiệu tội phạm hay không? Khi xác định có dấu hiệu tội phạm cơ quan 1

khi xác định tuy có dấu hiệu tội phạm về hình thức. Mọi hoạt động tố tụng hình sự ( trừ một số trƣờng hợp đặc biệt ) chỉ có thể đƣợc tiến hành khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. không để cho bất cứ một hành vi phạm tội nào không bị phát hiện. bởi vì chính giai đoạn này quyết định có cần tiến hành tố tụng hay không? Và cũng chính giai đoạn này tạo cở sở pháp lý đầu tiên cho quá trình tố tụng tiếp theo trong trƣờng hợp có dấu hiệu tội phạm. Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự. tạm giam ngƣời trái pháp luật. Trong trƣờng hợp đặc biệt. yêu cầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự không phải là xác minh toàn bộ sự thật của vụ án. với tính cách là giai đoạn mở đầu cho quá trình tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với tố tụng hình sự nói chung. Nói cách khác là khởi tố vụ án hình sự liên quan chặt chẽ với việc bảo đảm pháp chế. chỉ những cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng mới có quyền khởi tố vụ án. tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra tội phạm. khởi tố vụ án hình sự một cách thiếu căn cứ. nhƣng tính chất nguy hiểm xã hội không đáng kể thì cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự mà có thể xử lý bằng các biện pháp khác. đồ vật. Khởi tố vụ án một cách kịp thời. khám xét ngƣời. mặt khác. nếu xác định không có dấu hiệu tội pham thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. 2 . không kịp thời. Ý nghĩa thực tiễn của giai đoan khởi tố vụ án hình sự cũng hết sức to lớn. Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Khởi tố vụ án hình sự. ngƣời phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. xem xét các tình tiết của sự việc để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. có thể dẫn đến việc bắt tạm giữ. không đúng pháp luật có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng: một mặt. Nhƣ vậy. Ngƣợc lại. vì vậy. có căn cứ và đúng pháp luật là một trong những bảo đảm để mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện nhanh chóng. tội phạm không bị phát hiện. II. thậm chí có thể dẫn đến việc xét xử oan ngƣời vô tội. mà là không để bỏ lọt bất cứ một dấu hiệu tội phạm nào mà không đƣợc xem xét.này phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. bảo đảm các quyền cơ bản hiến định của công dân. chỗ ở một cách vô căn cứ. 3. các hoạt động tố tụng đƣợc tiến hành không đúng hƣớng. THẨM QUYỀN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự là quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật.

phải kịp thời phát hiện tội phạm mỗi khi có hành vi phạm tội xẩy ra. trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. vừa là trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án. 2. Phó Thủ trƣởng Cơ quan điều tra đƣợc phân công điều tra vụ án thực hiện. Khởi tố vụ án hình sự vừa là quyền. Bộ luật Tố tụng hình sự). Các cơ quan.Bộ luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự chẳng những quy định cụ thể những cơ quan và những cá nhân có quyền khởi tố vụ án hình sự mà còn quy định rõ phạm vi. cá nhân trong việc khởi tố vụ án hình sự căn cứ vào tính chất của vụ việc. Việc mở rộng phạm vi chủ thể khởi tố vụ án hình sự cũng nhƣ thẩm quyền của họ là vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự. xác định ngƣời thực hiện hành vi phạm tội. bằng các hoạt động của mình.Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án đối với một số loại tội phạm hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tƣ pháp. các cá nhân này trong mọi trƣờng hợp phát hiện dấu hiệu tội phạm phải khởi tố vụ án hình sự và áp dụng mọi biện pháp mà pháp luật cho phép để xác định sự việc phạm tội. bởi vì đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản của cơ quan này. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra . khởi tố vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của: Cơ quan điều tra. quyền hạn của từng cơ quan. Yêu cầu phát hiện tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Cơ quan điều tra. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra do Thủ trƣởng.Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định khỏi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự. . Toà án. quân đội nhân dân đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm (Điều 100. Trách nhiệm của các cơ quan và các cá nhân nói trên còn đƣợc thể hiện ở chỗ. lực lƣợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân.Cơ quan điều tra trong công an nhân dân có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát 3 . . Viện kiểm sát. Hải quan. 1. Kiểm lâm. Bộ đội biên phòng.

. Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự). 4 . khởi tố bị can.Khi thấy quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra. Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về Viện trƣởng. Quân đội nhân dân đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án trong những trƣờng hợp sau: . Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án qua việc xét xử tại phiên toà thuộc về Hội đồng xét xử. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Toà án Toà án ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện đƣợc tội phạm hoặc ngƣời phạm tội mới cần phải điều tra (Đoạn 3 khoản 1. . Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự). Quân đội nhân dân đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ thì Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án. Hải quan và Kiểm lâm.Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự phát hiện dấu hiệu của tội phạm.Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự trong những trƣờng hợp sau đây: . Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Bộ đội biên phòng.Đối với tội phạm ít nghiêm trọng. tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án. Kiểm lâm. 3. lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân. Kiểm lâm. lực lƣợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân. chứng cứ và lai lịch ngƣời phạm tội rõ ràng. thì ra quyết định khởi tố vụ án. Hải quan.Trong trƣờng hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án. Bộ đội Biên phòng. Trong khi chuẩn bị xét xử nếu Toà án phát hiện bị can phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác. trong trƣờng hợp quả tang. Hải quan. 4.Khi nhận tố giác hoặc tin báo về tội phạm yêu cầu Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố vụ án. lực lƣợng Cảnh sát biển và Thủ trƣởng các cơ quan khác của Công an nhân sân. Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Thủ trƣởng đơn vị Bộ đội biên phòng. Phó Viện trƣởng Viện kiểm sát các cấp. . Toà án không khởi tố vụ án mà trả hồ sơ để điều tra bổ sung (khoản 1.

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại Để đảm bảo quyền lợi cho ngƣời bị hại. Cơ quan điều tra. một số tội do tính chất của hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao xâm hại đến sức khoẻ. Đối với những vụ án đƣợc khởi tố theo ngƣời bị hại yêu cầu nhƣng có căn cứ đình chỉ điều tra quy định ở khoản 2. Hải quan. 105. Trong trƣờng hợp cần thiết nhƣ ngƣời bị hại rút yêu cầu là do bị ép buộc. Viện kiểm sát.. 109. sáng chế phát minh của ngƣời bị hại. thì ra quyết định khởi tố vụ án. quyền tác giả. lừa phỉnh mà không phải tự họ tự nguyện. danh dự. Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. 131 và 171 của Bộ luật hình sự thì chỉ đƣợc khởi tố khi có yêu cầu của ngƣơì bị hại hoặc của ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại là ngƣời chƣa thành niên. ngƣời có nhƣợc điểm về tinh thần hoặc thể chất. Đối với những vụ án về những tội phạm nói trên. ngƣời bị hại rút yêu cầu thì vụ án phải đƣợc đình chỉ. 5 . rất nghiêm trọng. đặc biệt nghiêm trọng. đe doạ. dụ dỗ. 111. Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra. Điều 164 và khoản 1. Trƣờng hợp ngƣời bị hại là ngƣời chƣa thành niên. nhân phẩm. Thủ trƣởng cơ quan nói trên có quyền ra quyết định khởi tố. tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án. 106. những ngƣời khác không giữ chức vụ Thủ trƣởng không có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. 108. không thể biểu lộ đúng ý chí của mình trong việc rút yêu cầu thì mặc dù ngƣời bị hại rút yêu cầu. Kiểm lâm. 122. nếu không có những tình tiết nghiêm trọng mà chỉ có những tình tiết đƣợc quy định tại khoản 1 các Điều 104. Viện kiểm sát. Quân đội nhân dân đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đối với đơn vị Bộ đội biên phòng. nhƣng trƣớc ngày mở phiên toà.Đối với tội nghiêm trọng. Trong những trƣờng hợp vụ án đã đƣợc khởi tố theo yêu cầu của ngƣời bị hại. Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ cho phép Thủ trƣởng đơn vị. Toà án vẫn có quyền quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án. lực lƣợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân sân. 5. ngƣời có nhƣợc điểm về thể chất hoặc tinh thần thì ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại có quyền yêu cầu khởi tố vụ án. ít nghiêm trọng nhƣng phức tạp. ngƣời bị hại là ngƣời có nhƣợc điểm về tinh thần hoặc thể chất. 121. 113. nếu ngƣời bị hại không yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền không đƣợc khởi tố vụ án.

Đó là: Tố giác của công dân. xác định xem có dấu hiệu của tội phạm hay không? Việc bỏ qua. Các cơ quan nhà nƣớc. Cơ sở khởi tố vụ án hình sự Cơ sở khởi tố vụ án hình sự là những nguồn tin mà dựa vào đó cơ quan khởi tố xác định dấu hiệu tội phạm. Để tạo điều kiện thuận lợi. thƣ từ. khi nhận đƣợc thông tin về tội phạm từ các nguồn nói trên phải tiếp nhận (theo trình tự do pháp luật quy định) và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền. Bộ đội biên phòng. Viện kiểm sát. Tin báo trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng. Toà án hoặc với cơ quan. pháp luật không quy định về hình thức tố giác. với các cơ quan khác của Nhà nƣớc hay tổ chức xã hội. cụ thể của Bộ luật Tố tụng hình sự. phát huy và động viên tinh thần. cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành xem xét. tổ chức đó. cơ sở mà từ đó. tổ chức xã hội có trách nhiệm tiếp 6 . Kiểm lâm. Viện kiểm sát. tổ chức. Toà án. xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không có ý nghĩa rất quan trọng.Tố giác của công dân Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra. Các cơ quan nhà nƣớc không có thẩm quyền khởi tố và các tổ chức xã hội. . trực tiếp hoặc gián tiếp. Bởi vì. hạn chế khả năng vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Cơ quan điều tra. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể cơ sở khởi tố vụ án hình sự. các cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải xem xét. cơ quan. bảo đảm hoạt động của các cơ quan khởi tố tập trung đúng hƣớng. mặt khác. bằng miệng. tổ chức. các quy định này. một mặt tăng cƣờng trách nhiệm của những cá nhân. Tin báo của cơ quan. ý thức đấu tranh phòng. Toà án. chống tội phạm của nhân dân. Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra. Bộ luật Tố tụng hình sự). Hải quan. không xem xét những nguồn tin nói trên bị coi là vi phạm pháp luật. Quân đội nhân dân đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm. nâng cao trách nhiệm của những cá nhân. cơ quan. Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự). lực lƣợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân sân. Việc quy định chặt chẽ.III. Tố giác của công dân là một trong những cơ sở quan trọng và rộng rãi nhất để phát hiện dấu hiệu của tội phạm. CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. ngƣời phạm tội tự thú (Điều 100. tổ chức đƣa ra thông tin. tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của ngƣời tố giác (đoạn 1. Viện kiểm sát. Công dân có thể tố giác bằng đơn. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan. Khi có những thông tin từ các nguồn nói trên.

Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát phải tiếp nhận và áp dụng mọi biện pháp để kiểm tra. khi nhận đƣợc tố giác phải thông báo ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản. chống tội phạm ở các nƣớc cho thấy. Những tin báo này có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện tội phạm. đài phát thanh. Nếu bỏ qua. tổ chức này có trách nhiệm phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản khi họ phát hiện dấu hiệu của tội phạm hoặc khi nhận đƣợc tin tố giác của công dân về tội phạm. nhƣng các Cơ quan điều tra. thậm chí có những nƣớc ban hành văn bản luật quy định rõ: không xem xét các tố giác nặc danh. truyền hình) là kết quả điều tra của phóng viên hoặc phản ánh thƣ của nhân dân phát hiện tội phạm. Bộ luật Tố tụng hình sự). cần xem xét và có biện pháp xác minh.nhận thông tin tố giác của công dân theo thủ tục luật định.Tin báo của cơ quan.) nhiều ngƣời muốn dấu tên khi thông báo về tội phạm. Các cơ quan nhà nƣớc. sợ bị trả thù. cũng cần phải thấy rằng vì nhiều nguyên nhân khác nhau (ví dụ. ngay cả khi thông tin đó nặc danh. . các cơ quan có thẩm quyền khởi tố.. trù dập. tổ chức Cơ quan. sợ mất thời gian khai báo ở các cơ quan nhà nƣớc. xác minh tin báo đó.Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Các tin báo trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng (báo chí. Tuy nhiên. . Trong quá tình tiếp nhận và xem xét các đơn thƣ tố giác của công dân. tổ chức xã hội và các tổ chức khác giữ một vai trò quan trọng trong việc phát hiện kịp thời các hành vi phạm tội. thông tin qua điện thoại) hay không? Đã xảy ra không ít những tin nặc danh không đúng sự thật. xác minh các tin báo đó và coi đây là một trong những cơ sở để khởi tố vụ án hình sự. trong thực tế. vẫn xem xét cả những thông tin nặc danh về tội phạm. Vì vậy. Thực tiễn đấu tranh phòng.. không động viên tính tích cực của quần chúng. không chấp nhận tố giác nặc danh thì chúng ta sẽ còn hạn chế khả năng phát hiện kịp thời tội phạm.. Các cơ quan. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét. kiểm tra cả những đơn tố giác nặc danh của công dân. Vì vậy. các cơ quan chức năng không bỏ qua bất kỳ một thông tin nào về tội phạm. Các cơ quan nhà nƣớc không có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự hoặc các tổ chức xã hội. 7 . một vấn đề đặt ra là: có cần xem xét các tố giác nặc danh (thƣ nặc danh. tổ chức khi phát hiện hoặc nhận đƣợc tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản (đoạn 2 Điều 101.

Hải quan. Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định: chỉ đƣợc khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Nhƣ vậy. Tự thú là việc ngƣời phạm tội tự mình đến khai báo về hành vi phạm tội của họ trƣớc cơ quan Công an. ghi rõ cụ thể các thông tin về nguồn tự thú cũng nhƣ hành vi phạm tội và tất cả những tình tiết liên quan đến vụ án. Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm.Có sự việc xảy ra.Cơ quan điều tra. tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm hay không? Nhƣ vậy.Người phạm tội tự thú Điều 102. ngƣời phạm tội. nhƣng phải sơ bộ định tội danh phù hợp với dấu hiệu của tội phạm. Bộ đội biên phòng. hoặc Toà án. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Khi ngƣời phạm tội đến tự thú. . Sau đó chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Kiểm lâm. lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân sân. TRÌNH TỰ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 8 . Căn cứ khởi tố vụ án Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn khởi đầu của tố tụng hình sự. nghề nghiệp. nhƣng là căn cứ để khẳng định rằng cần phải tiến hành tố tụng để làm rõ vụ việc.. để quyết định khởi tố vụ án hình sự cần xác định: . chỗ ở và những lời khai của ngƣời tự thú. căn cứ để khởi tố vụ án hình sự chỉ có thể là sự hiện diện dấu hiệu của tội phạm. Các cơ quan nói trên trong trƣờng hợp phát hiện dấu hiệu của tội phạm có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự nếu thuộc thẩm quyền của mình. tuổi. IV. Cơ quan. Toà án. Các dấu hiệu này có thể chƣa phản ánh đầy đủ về tội phạm đã xảy ra. tổ chức tiếp nhận ngƣời phạm tội tự thú có trách nhiệm báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát. hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để khởi tố vụ án đó. Viện kiểm sát. tuy chƣa đặt ra yêu cầu cần phải xác định tội danh chính xác và đầy đủ. Các cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản. . Viện kiểm sát. nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn này là giải quyết vấn đề: cần thiết phải tiến hành tố tụng hình sự để xác định tội phạm. cơ quan.Sự việc đó có dấu hiệu tội phạm. Nói cách khác là cần chỉ rõ đó là dấu hiệu của tội phạm nào. tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi họ tên. Đó là căn cứ duy nhất để khởi tố vụ án hình sự. 2. Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.

xác minh các tin báo về tội phạm nhƣ trên. các cơ quan khởi tố sau khi tiếp nhận phải chuyển đến cơ quan có thẩm quyền. mặt khác. Kiểm tra. những cơ quan nhà nƣớc không có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự và các tổ chức phải báo tin ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản. cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản có chữ ký của ngƣời tố giác. xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể kéo dài. Thời hạn kiểm tra. nhƣng không quá hai tháng. Sau khi nhận đƣợc tố giác hoặc tin báo về tội phạm. xác minh nguồn tin và quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự trong thời hạn hai mƣơi ngày kể từ khi nhận đƣợc tin báo. một mặt đảm bảo vụ việc đƣợc giải quyết kịp thời. 2. có thể chia các hoạt động này thành hai giai đoạn: tiếp nhận tố giác và tin báo về tội phạm. xác minh các tin tức về tội phạm. Trong trƣờng hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra. Tiếp nhận tố giác hoặc tin báo về tội phạm Các cơ quan nhà nƣớc. xác minh nguồn tin: . và kiểm tra. xác minh nguồn tin để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự thuộc về Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. 1. 9 . Nếu tố giác hoặc tin báo về tội phạm đƣợc thông báo bằng miệng. Nếu tố giác và tin báo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. bảo quản dấu vết của tội phạm. Các hoạt động này nhằm mục đích: xác định có sự việc xảy ra hay không? sự việc đó có dấu hiệu tội phạm hay không? cần thiết phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự? Nhìn chung.Yêu cầu cơ quan nhà nƣớc. đồng thời tiến hành các biện pháp cần thiết trong phạm vi quyền hạn của mình để ngăn chặn hành vi phạm tội.Khởi tố vụ án hình sự là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. tổ chức xã hội đều có trách nhiệm tiếp nhận tố giác hoặc tin báo về tội phạm. cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra. Trách nhiệm kiểm tra. Các cơ quan này có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để kiểm tra. tổ chức hoặc công dân có liên quan đến sự việc cung cấp những tài liệu. đảm bảo cho cơ quan khởi tố vụ án hình sự có đủ thời gian vật chất tiến hành các hoạt động cần thiết để có quyết định đúng đắn. xác minh các tin tức về tội phạm Sau khi nhận đƣợc tố giác hoặc tin báo về tội phạm. thông tin cần thiết.

"có khả năng". tổ chức và công dân có liên quan có nghĩa vụ chấp hành yêu cầu của cơ quan khởi tố. Nội dung yêu cầu giải thích là nhằm làm rõ dấu hiệu của tội phạm. vì vậy quyết định này cần đáp ứng yêu cầu của tố tụng hình sự. . Quyết định này cần phải : . nghĩa là trong quyết định phải ghi rõ các điều khoản của Bộ luật hình sự đƣợc áp dụng và họ tên.Quyết định khởi tố vụ án hình sự Khi có dủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự. 10 .Những tài liệu này có thể là những hiện vật.Đầy đủ. và tuỳ từng sự việc mà đề ra biện pháp kiểm tra thích hợp.. Quá trình kiểm tra. nghĩa là trong quyết định cần ghi rõ những sự kiện thực tế chứng tỏ tội phạm đó xẩy ra và trong trƣờng hợp có thể ghi rõ các thông tin về ngƣời thực hiện hành vi phạm tội.Có tính hợp pháp. 3.Có tính xác định. có giá trị chứng minh sự việc phạm tội hoặc liên quan đến vụ án.. xác minh nguồn tin phải tuân thủ triệt để các qui định của luật. chức vụ ngƣời ra quyết định. . Cơ quan nhà nƣớc.Trong trƣờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang. không đƣợc là "có thể".Trong trƣờng hợp cần thiết. địa điểm và các tình tiết khác của vụ án. cơ quan khởi tố không đƣợc áp dụng biện pháp hỏi cung hoặc bất kỳ biện pháp cƣỡng chế tố tụng nào đối với ngƣời đƣợc yêu cầu giải thích. cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. tổ chức hữu quan tự kiểm tra hoặc yêu cầu cơ quan thanh tra cùng cấp tiến hành thanh tra để làm rõ sự việc. . Tất cả các thông tin về tội phạm đều phải đƣợc kiểm tra kỹ để xác định căn cứ khởi tố. nghĩa là kết luận trong quyết định phải có tính khẳng định.Có căn cứ. . tổ chức xã hội thì phải yêu cầu cơ quan.. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là một văn bản tố tụng. Trong trƣờng hợp này. . nghĩa là phải ghi rõ tất cả các thông tin cần thiết về thời gian. các văn bản. Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự .Khi cần thiết phải kiểm tra nội bộ cơ quan. có thể tiến hành bắt và khám ngƣời bị tình nghi là phạm tội. khi yêu cầu giải thích. có thể tiến hành khám nghiệm hiện trƣờng và áp dụng các biện pháp khác theo qui định của pháp luật để xác định dấu vết của tội phạm. giấy tờ tài liệu hoặc biên bản kiểm tra nội bộ cơ quan. cơ quan khởi tố cần tiến hành lấy lời khai của ngƣời bị bắt. .

phát hiện.. làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ khác nhau giữa các chủ thể. thu giữ các vật chứng và các tài liệu liên quan. vừa bảo đảm mọi dấu hiệu tội phạm đều đƣợc xem xét một cách thận trọng và ngăn ngừa các vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 4. cơ quan khởi tố phải áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc ngăn chặn tội phạm. nếu Cơ quan điều tra. Kiểm lâm. hoặc cơ quan nhà nƣớc đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm. cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.. lực lƣợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân. phải thông báo về quyết định này cho công dân. Trong thời hạn 24 giờ. quyết định việc khởi tố. Quân đội nhân dân đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố thì quyết định khởi tố phải đƣợc gửi tới Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố.Quyết định không khởi tố vụ án hình sự Khi không có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.Đồng thời với việc ra quyết định khởi tố. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự cũng là một văn bản tố tụng.. Các qui định nói trên vừa có tác dụng nâng cao trách nhiệm của các cơ quan khởi tố vụ án hình sự. Nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan hoặc tổ chức hữu quan giải quyết. Cá nhân. cơ quan nhà nƣớc đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự với Viện kiểm sát. Bộ luật Tố tụng hình sự quy 11 . Hải quan. Khởi tố vụ án một cách thiếu căn cứ hoặc thiếu chính xác có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng nhƣ: vi phạm quyền và lợi ích của công dân. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát cấp dƣới có thể bị khiếu nại lênViện kiểm sát cấp trên. tổ chức. Bộ đội biên phòng. vì vậy nó cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của loại văn bản này là: đầy đủ. tiến hành một cách vô ích hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc. quyết định việc điều tra. nếu Viện kiểm sát khởi tố thì quyết định khởi tố đƣợc gửi tới cơ quan điều tra để tiến hành điều tra. . bảo quản dấu vết của tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền sau khi ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.. tổ chức xã hội. có căn cứ. Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự Khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự với sự tham gia của nhiều loại chủ thể khác nhau.. Nếu Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố thì quyết định khởi tố đƣợc gửi đến Viện kiểm sát để xem xét.. có tính xác định và hợp pháp. yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử đƣợc gửi cho Viện kiểm sát để xem xét. Để hạn chế khả năng xảy ra những hậu quả nói trên.

thứ nhất là hoàn toàn không có sự việc xảy ra.định những căn cứ không đƣợc khởi tố vụ án hình sự (Điều 107 BLTTHS). dù gây ra những thiệt hại nhất định nhƣng nếu không có hoặc không có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì cũng không phải là tội phạm.Hành vi không cấu thành tôi phạm. Nếu vụ án đã khởi tố thì phải huỷ quyết định khởi tố. Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu cần và đủ của tội phạm đƣợc quy định một cách chặt chẽ trong Bộ luật hình sự. Vì vậy. và ngƣời thực hiện hành vi đó không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi xác định không có sự việc phạm tội. thì hành vi của họ dù có nguy hiểm cho xã hội cũng không bị coi là tội phạm.Không có sự việc phạm tội. Bất cứ một hành vi nào. . Điều 12 Bộ luật hình sự hiện hành quy định. ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. cơ quan khởi tố không đƣợc khởi tố vụ án hình sự . . thứ hai là. ngƣời dƣới 14 tuổi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Một ngƣời chết đuối khi đang tắm. và có khả năng kiểm soát đƣợc hành vi của mình. Không có sự việc phạm tội có thể hiểu theo hai nghĩa. nhƣng sự việc đó không phải do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra. nghĩa là mặc dù có sự việc xảy ra. chỉ khi phát triển đến một độ tuổi nhất định mới có khả năng nhận thức đƣợc vấn đề trên. chỉ có thể là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự. cơ quan có thẩm quyền không đƣợc khởi tố vụ án hình sự. tức là có khả năng nhận thức đƣợc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện và tính chất và mức độ nguy hiểm của hậu quả do hành vi gây ra. khi xác định hành vi không cấu thành tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền không đƣợc khởi tố vụ án hình sự. Trong mọi trƣờng hợp. ngƣời từ đủ 14 tuổi nhƣng chƣa đủ 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi nguy hiểm xã hội do lỗi vô ý và những hành vi cố ý 12 .Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự. nếu chƣa đạt đến độ tuổi do Bộ luật hình sự quy định. Căn cứ không đƣợc khởi tố vụ án hình sự gồm: . Vì thế. Con ngƣời. Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự hiện hành. Nhƣ vậy. Chỉ những hành vi có đầy đủ các dấu hiệu đó mới bị coi là tội phạm. nếu có một trong những căn cứ quy định ở điều này. sự việc không phải là tội phạm.

Khi quá thời hạn này. bản án và các quyết định đã có hiệu lực của Toà án phải đƣợc thi hành. Viện kiểm sát không đƣợc khởi tố vụ án đó nữa. trong trƣờng hợp ngƣời thực hiện hành vi phạm tội không trốn tránh pháp luật. Đại xá là quyết định của cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nƣớc áp dụng đối với những tội phạm nhất định. tổ chức xã hội . những ngƣời và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành". Toà án là cơ quan xét xử duy nhất của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật. 13 . Đối với những tội phạm đƣợc đại xá đã xẩy ra trƣớc khi ban hành đại xá thì cơ quan có thẩm quyền không đƣợc khởi tố vụ án.Tội phạm được đại xá. Vì vậy. Điều 136 Hiến pháp 1992 quy định: "các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải đƣợc các cơ quan nhà nƣớc.Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. . giải quyết. Thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự là khoảng thời gian mà cơ quan tố tụng đƣợc phép và có trách nhiệm phải xem xét. Trong trƣờng hợp có cơ sở xác định bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án không đúng thì Viện kiểm sát kháng nghị theo trình tự. trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác. khi đã hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan có thẩm quyền không đƣợc khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi đó. giải quyết vụ án. các Cơ quan điều tra. thì ngƣời đó không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã quá thời hạn truy cứu trách nhiệm hính sự. Trong những trƣờng hợp này. . tổ chức kinh tế. nhƣng vì lý do nào đó mà vụ án không đƣợc cơ quan có thẩm quyền xem xét. Văn bản đại xá có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội đƣợc nêu trong văn bản này đã xảy ra trƣớc khi ban hành văn bản đại xá. . các cơ quan có thẩm quyền không đƣợc khởi tố vụ án hình sự.nhƣng không phải là tội rất nghiêm trọng. Thời hạn này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào tính chất và loại tội phạm đã đƣợc thực hiện. các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng. . khi bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy. thủ tục mà pháp luật quy định.Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết.

Thực hiện nhiệm vụ này. việc tiến hành tố tụng đối với một ngƣời đã chết là hoàn toàn vô nghĩa. Đối với những vụ án chỉ đƣợc khởi tố khi có yêu cầu của ngƣời bị hại.Mục đích của hình phạt là trƣờng trị và cải tạo. phải kiểm tra xem ngƣời bị hại có yêu cầu hay không yêu cầu khởi tố vụ án. Trong trƣờng hợp quyết định khởi tố của Cơ quan điều tra. giáo dục ngƣời phạm tội. 14 . Viện kiểm sát phải xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm. Quân đội nhân dân đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố đó. Do đó. trừ trƣờng hợp cần tái thẩm đối với ngƣời khác. thì Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án. Khi kiểm sát việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Vì vậy. V. việc xác định dấu hiệu tội phạm của cơ quan khởi tố có dựa trên cơ sở khởi tố do pháp luật qui định hay không. Viện kiểm sát phải kiểm sát việc đăng ký và giải quyết các tố giác và tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra. đối chiếu sổ sách với Cơ quan điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra xác minh. Trong trƣờng hợp quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử không có căn cứ thì Viện kiểm sát kháng nghị lên Tòa án cấp trên (Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự). nếu ngƣời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì cơ quan có thẩm quyền không đƣợc khởi tố vụ án. Hải quan. yêu cầu Cơ quan điều tra thông báo về tình hình tội phạm. Bộ đội biên phòng. Viện kiểm sát phải theo dõi các thông tin về tội phạm. Kiểm lâm. giải quyết các tố giác và tin báo đúng thời hạn do luật quy định. đảm bảo việc khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp. Để mọi tội phạm đều phải đƣợc phát hiện và xử lý theo pháp luật. thƣờng xuyên kiểm tra. lực lƣợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân. KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ Viện kiểm sát kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc theo pháp luật. nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan đó không có căn cứ.

Phân tích các cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự? 4.CÂU HỎI HƢỚNG DẪN HỌC TẬP 1. nhiệm vụ và ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự? 2. Trình bày trình tự khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật? 6. Hãy trình bày khái niệm. Phân tích các căn cứ không đƣợc khởi tố vụ án hình sự? 5. Nêu nội dung kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự? 15 . Nêu thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự? 3.