1. Ngôn ngữ 1. Những đặc điểm ngôn ngữ 1.1. Hệ thống thanh điệu - Số lượng: 6 thanh.

- Khu biệt: đối lập từng đôi một về âm vực và âm điệu. 1.2. Hệ thống phụ âm đầu - Số lượng: 20 âm vị. - Trong số 20 âm vị trên, không có những phụ âm ghi trong chính tả là s, r, gi, tr. Tức là không phân biệt giữa: s/x, r/d/gi, tr/ch. 1.3. Hệ thống âm cuối - Số lượng: Có đủ các âm cuối ghi trong chính tả. - Có 3 cặp âm cuối nằm trong thế phân bố bổ sung là: + [-nh, -ch] đứng sau nguyên âm dòng trước: /i, e, ê/; + [-ng, -k] đứng sau nguyên âm dòng giữa (hàng sau không tròn môi – theo cách gọi của GS. Đoàn Thiện Thuật): /ư, ơ, â, a/. + [-ngm, kp] đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi: /u, ô, o/. Trong chính tả, đôi phụ âm thứ 3 này không được thể hiện phân biệt với đôi phụ âm thứ 2, mặc dù chúng được phát âm khác nhau (cặp thứ 2 là các âm cuối mở, còn cặp thứ 3 lại là các âm cuối ngậm môi). 1.4. Phương ngữ Bắc lại có thể được chia thành 3 vùng nhỏ hơn: - Phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nước ta. Phần lớn người Việt ở khu vực này đều mới đến từ các tỉnh đồng bằng có mật độ cao như Thái Bình, Hà Nam Ninh (cũ). Do quá trình cộng cư xảy ra gần đây nên phương ngữ này phát triển theo hướng thống nhất với ngôn ngữ văn học, mang những nét khái quá chung của phương ngữ Bắc, và không chia manh mún thành nhiều thổ ngữ làng xã như phương ngữ Bắc ở các vùng đồng bằng – cái nôi của người Việt cổ. - Phương ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh xung quanh (Hà Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Hà Sơn Bình (Hà Tây, Hoà Bình), Hải Hưng(Hải Dương, Hưng Yên), Hải Phòng) Đây là vùng mang những đặc trưng tiêu biểu của phương ngữ Bắc. - Phương ngữ miền hạ lưu sông Hồng và ven biển (Thái Bình, Hà Nam Ninh, Quảng Ninh). Vùng này còn lưu giữ lại cách phát âm khu biệt d với gi,r ; s với x; tr với ch mà các phương ngữ Bắc khác không phân biệt nữa.

Hầu hết các dân tộc ở nước ta đều sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình trong giao tiếp hàng ngày. Tuy nhiên, do các dân tộc khác nhau về dân số, địa bàn cư trú và trình độ xã hội nên ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của các dân tộc có sự khác nhau nhất định về chức năng giao tiếp. Có những ngôn ngữ chỉ

vì tiếng nói của họ được coi là chuẩn. Mông. Bắc Ninh….  Phụ âm “Ch” và “Tr”  Phụ âm “D” và “r” Hiện tượng này là ngọng phương ngữ. Hà Giang. Read more:http://cema. Vùng rẻo cao là nơi cư trú của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Mông-Dao.gov.. Rủi ro ngôn ngữ tại miền Bắc Khi tiếp xúc và làm việc với người miền Bắc sẽ ít gặp khó khăn.. Lai Châu.php?name=Content&op=details&mid=117453688#ixzz1o7tS Yhco. Hà Nam.vn/modules. Tuy nhiên bạn vẫn có thể gặp một số rủi ro sau đây về mặt ngôn ngữ tại miền Bắc: Nói ngọng tại vùng đồng bắc Bắc bộ (Hưng Yên. có vùng thì từ đọc đúng từ đọc sai. Nùng. Mường. phát âm rõ ràng. Lào. ảnh hưởng bởi tất cả người dân vùng đó. Hải Phòng. Nam Định.”. Vùng rẻo giữa hay vùng sườn núi là nơi cư trú của các tộc người nói ngôn ngữ Môn-Khmer như Khơ Mú. trong đó người Mường chủ yếu cư trú ở vùng phía Nam của Tây Bắc.gov. người Xá Phó (ở vùng Tây Bắc). Hải Dương.được sử dụng để giao tiếp trong nội bộ cộng đồng người như ngôn ngữ của người Mảng. Tiếng nói bị chi phối. họ phải sử dụng ngôn ngữ của dân tộc khác. . Read more:http://cema. có vùng lẫn lộn giữa “l.) có nhiều dạng:  tất cả các từ bắt đầu bằng phụ âm “l” được đọc thành “n” hoặc ngược lại “n” đọc thành “l”. tức diễn ra trong một vùng hẹp.. Có những ngôn ngữ của tộc người vừa được sử dụng giao tiếp trong nội bộ cộng đồng tộc người vừa được sử dụng giao tiếp giữa các dân tộc với nhau.Còn khi giao tiếp với những cộng đồng bên ngoài.. Kháng. người Sila ở Lai Châu.php?option=com_content&view=article&id=59&Itemid=2 Trên đại thể về phân bố cư dân và các vùng cảnh quan có thể thấy ở vùng thung lũng lòng chảo thấp hay vùng bồn địa giữa núi.org/vi/index. giọng dễ nghe. người Lô Lô ở Cao Bằng. Tạng Miến. Lự. trước núi là nơi sinh sống của các cư dân Thái.php?name=Content&op=details&mid=117453688#ixzz1o7tLv mCQ 2..vn/modules. Tày.. Mảng. Xinh Mun. http://baotangnhanhoc. người ta gọi đó là những ngôn ngữ có vai trò giao tiếp phổ thông vùng như tiếng Thái.

không nhiều người sử dụng tiếng Kinh. Những gia đình cùng một dòng họ thì cùng chung một miếu thờ thổ công. Đạo giáo. Bàn thờ tổ tiên có bài vị. Bắc Ninh. http://www. cầu sự tốt lành cho . rượu và các món ăn. thầy mo theo ý tưởng từ xưa họ có khả năng tiếp xúc với các loại ma thần nên được gọi là cân thả hụng (người mắt sáng). Thái Bình Phật giáo tập trung đông nhất ở Hà Nội. mùa màng bội thu.. Ví dụ như dân tộc Nùng. tuy nhiên lại không được sự hướng dẫn. Các thầy tào. trước đây đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc phần lớn theo tín ngưỡng dân gian thờ cúng tổ tiên. Nhưng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và những cuộc di dân (có tổ chức và tự do) của cư dân vùng đồng bằng lên xây dựng cuộc sống mới ở Tây Bắc đã mang đạo công giáo đến vùng này. Ngày lễ. nhiều lúc trở nên khách sáo và vòng vo. Thiên chúa giáo tập trung đông ở Nam Định. Hải Dương. tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.org/tai-lieu/28-tai-liu/188-tinh-hinh-ton-giao-tay-bc-thc-trng-va-giiphap. Nam Định. Vì vậy cần xem xét cân nhắc kĩ ý nghĩa những lời họ gởi gắm. sửa sai từ bé nên khi lớn thành thói quen. Tại các vùng núi như Tây Bắc. Thiên chúa giáo. mẹ cửa (thần trông nhà). thánh mẫu.v… Qua nghiên cứu khảo sát về đời sống văn hoá tâm linh của cộng đồng các dân tộc ở Tây Bắc. cầu mong cho mưa thuận.v. Họ hành nghề cúng bái. Hồi giáo. mỗi nhà còn thờ bà mụ Mẹ Hoa (Thần bảo hộ trẻ nhỏ). lịch sự. tôn thờ thần sông. gió hoà. tết có cúng chè. Người miền Bắc đặc biệt là ở đồng bằng sông Hồng có cách nói chuyện tế nhị. thần mưa. Thiên chúa giáo.sapachurch. Tin lành và một số ít Tín ngưỡng phụ như Đạo mẫu. Khổng giáo.. ngày rằm họ thường đốt hương. ngoài người Kinh ra còn có nhiều dân tộc thiểu số sử dụng tiếng nói riêng của họ.Nguyên nhân nói ngọng là do lớp người trẻ (như trẻ em) khi nghe người lớn nói ngọng nên dần dần nói ngọng theo. thần núi. Vào những ngày đầu tháng. thờ Thành hoàng. Ninh Bình. Người Nùng cúng ma sàn (phi hang chàn) và các cô hồn đầu ngõ vào dịp tết nguyên đán. Ngoài ra.html Đông bắc: các dân tộc đa phần là thờ tổ tiên và các vị thần theo tín ngưỡng từng dân tộc. - Tôn giáo Các tôn giáo ở miền Bắc gồm có: Phật Giáo đại thừa. Hải Phòng. đạo Lương ( thờ cúng ông bà). thần gió… mang đậm sắc thái văn hoá của cư dân nông nghiệp.thờ Mẫu. Hải Phòng. họ thờ cúng tổ tiên trong nhà. Đồng bằng sông Hồng: người dân đa phần theo đạo Phật. thâm thúy. lư hương và được đặt vào nơi trang trọng nhất. vì từng câu chữ không chỉ có nghĩa đen mà ẩn trong đó còn có nhiều tầng lớp nghĩa khác. thổ địa. ngoài ra họ còn thờ các vị thần thành hoàng.

to đẹp. PTS. còn các làng ở sâu trong đồng bằng. sông Thái Bình là kết quả của sự chinh phục thiên nhiên của người Việt. nhà xây bằng đất. quen thuộc với cư dân Trung Bộ. nhất là mùa đông lạnh. người dân Việt đã chinh phục thiên nhiên. Nguyễn Khắc Tụng đã thống kê được 10 loại nhà vì kèo khác nhau. đồng bằng như ngày nay.người dân. Cư dân đô thị. gạch. Vì thế họ được mọi người kính nể. đá hay gỗ. sử dụng vật liệu nhẹ là chủ yếu nhưng cũng tiếp thu kĩ thuật và sử dụng các vật liệu bền như xi măng. nhưng thành phần cá ở đây chủ yếu hướng tới các loại cá nước ngọt. đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trong văn hóa đời thường. .org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_N%C3%B9ng Văn hoá vật chất . Biết bao cây số đê cũng được tạo dựng dọc các triền sông thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Nha Trang. đắp bờ. Nhà ở của cư dân Việt Bắc Bộ thường là loại nhà không có chái. sắt thép. Sài Gòn. tuy nhiên vẫn hòa hợp với cảnh quan. Ví dụ người Tày Nùng xây nhà gạch trình tường.Văn hoá ẩm thực (ăn – uống). Người nông dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu bền chắc. tạo ra bóng mát cho ngôi nhà ăn uống của cư dân Việt trên châu thổ Bắc Bộ vẫn như mô hình bữa ăn của người Việt trên các vùng đất khác : cơm + rau + cá. chua. PGS. Các gia vị có tính chất cay. tạo nên một diện mạo. để giữ nhiệt năng cho cơ thể. đắp đê. họ sử dụng hai mái.  Đồng bằng sông Hồng: Thường là người Việt Bắc Bộ muốn trồng cây cối quanh nơi cư trú. hải sản chưa phải là thức ăn chiếm ưu thế. người Việt Bắc Bộ có chú ý tăng thành phần thịt và mỡ. hình thức nhà vì kèo phát triển. bằng việc đào mương. ít dùng đồ biển hơn cư dân ở các đô thị phía Nam như Huế. các dân tộc thường dựng các nhà tùy theo địa hình và đặc điểm của dân tộc mình mà dựng ở dưới đất hay trên sàn. Thích ứng với khí hậu ở châu thổ Bắc Bộ.Văn hoá cư trú (nhà ở). lợp ngói Âm dương hoặc ngói sông Cầu. Ở vùng cao Tây Bắc và Đông Bắc. nhất là Hà Nội. Hải sản đánh bắt ở biển chủ yếu giới hạn ở các làng ven biển. Nam Bộ lại không có mặt trong bữa ăn của người Việt Bắc Bộ nhiều lắm. đắng.  . http://vi.  Hàng ngàn năm lịch sử. có sân để phơi phóng như nhà người Kinh.wikipedia. Nói cách khác. nhỏ hơn nhà sàn. sự khác biệt giữa văn hóa Bắc Bộ và các vùng khác trong cả nước chính được tạo ra từ sự thích nghi với thiên nhiên này.

Trong một mâm rượu. xôi. để dành ăn hàng tháng mà không hư thiu. thịt hun khói của họ cũng vậy. Bắt đầu vào mâm cơm. chủ nhà hoặc người đứng đầu buổi lễ bao giờ cũng bắt tay những vị khách có mặt trong mâm cơm ngày hôm đó. Một quy định bất thành văn đó là thứ tự trong khi bắt tay. Rượu đối với người Tây Bắc như sợi dây gắn kết mọi người. thịt chua. còn nổi tiếng bởi cách thức sinh hoạt trong đó hình thức “Bắt tay” trong ẩm thực. Khơmú… vị trí ngồi trong mâm cơm được quy định khá chặt chẽ. Đây là một nét đặc sắc làm nên sự khác biệt cơ bản của người miền núi và người vùng xuôi. sau mỗi ly rượu mời. gà nướng. tiếp đó thứ tự là những người có vị trí quan trọng tiếp theo. Rượu có mặt trong lễ cưới. nếu mời bao nhiều lần. Nhưng không phải vì là món "tích cốc phòng cơ" mà chúng thành ra dở. người mời rượu phải lần lượt bắt tay bấy nhiêu người. làm cho mọi người gần nhau hơn. lễ hội. ướp… ở sự đa dạng của việc sử dụng gia vị. người mời bao giờ cũng đưa tay ra bắt tay những người được mời. Cách uống rượu của người Tây Bắc có điểm chung. không một dân tộc nào nơi đây trong sinh hoạt văn hoá ẩm thực và tiếp đãi bạn bè hay khách quý mà không có cái bắt tay thân thiện. Rượu ngô cán ngèo của họ sau khi đuợc ủ. Những người đức cao vọng trọng. Và ngược lại. được cho hạ thổ ba tháng cho nên "tương truyền" là khi say người uống chỉ cần "hạ thổ" nằm đường là hết say ngay. làm nhà mới. thịt băm nướng. Tiếp đến là món luộc. Cá chua. Dao. như cải luộc. nếu mời bao nhiêu lần. nếu khách mời lại chủ nhà hay mời bất kỳ ai trong mâm rượu thì cũng làm như vậy. công phu với cách thức chế biến riêng biệt như lam. tang ma… và trong tiếp đãi bạn bè. mỗi lần mời rượu sau khi uống là một lần mời rượu sau khi uống là một lần bắt tay. đồ. Đến với mâm cơm đó. Tày. Không chỉ ở nam giới. người mời phải bắt tay người được mời rượu bấy nhiêu lần.Tây Bắc: ăn hoá ẩm thực các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc-Việt Nam rất độc đáo và đa dạng. các phụ gia thơm ngon có nguồn gốc từ tự nhiên. Bắt tay như một thói quen nhưng cũng là tập quán có từ lâu đời trong sinh hoạt ẩm thực của người Tây Bắc. người có vai vế hay người quan trọng được ngồi ở vị trí gần cửa sổ trên nhà sàn. Điều dễ nhận thấy và phổ biến nhất ở vùng cao nói chung và Tây Bắc nói riêng thì trong văn hoá ẩm thực không thể thiếu rượu. Vì thế bắt tay trong mời rượu nơi đây cũng được quy định. họ đã cho vào ấy hơn 30 loại gia vị! Món thắng cố người Tày nghe qua tưởng rất "ghê" hóa ra cũng nồng đượm thịt ngựa. trâu luộc nậm pịa (chất trong phèo trâu)… Tưởng chừng họ ăn uống đơn giản. nướng. chỉ với món canh da trâu gác bếp "đơn giản". người cao tuổi. như món thịt chua ăn với cơm thì ăn đến "không biết no là gì". muối. Người dân tộc Thái chừng như mê món nướng: cá nướng. Trong mâm cơm có bao nhiêu người. chủ gần khách và khách quý chủ nhà. Đối với người Thái. người mời bao giờ cũng đưa tay ra bắt tay những người được mời. nhưng không. mỗi lần mời rượ sau khi uống là một lần bắt tay. người mời sẽ bắt tay những người cao . Không một tỉnh nào ở vùng Tây Bắc. Sự độc đáo và đa dạng đó không chỉ có ở các món ăn được chế biến cầu kỳ. sau khi cạn chén rượu mời thì lần lượt bắt tay những người có mặt ở trong mâm cơm. Món cơm mèn mén bằng bắp ngô là món mà một người Mông có thể mang đi "khắp thế giới Việt Nam". thịt heo xiên nướng. lòng ngựa cùng khoảng tám món gia vị. Trong một mâm rượu. Món ăn người Mông (H"Mông) mang đậm chất du canh du cư. nhìn vào vị trí ngồi chúng ta biết ai là người quan trọng hơn cả.

những người quan trọng trước và sau đó lần lượt theo thứ tự những người vai thấp hơn. bắt tay mang nhiều ý nghĩa nhân văn và giá trị thẩm mỹ cao đẹp. ăn tạm. mứt Mân của Bắc Cạn. đã say rượu chưa và xem bạn có uống được nữa không. ăn tối và cả ăn đêm. xã giao. ăn trưa. Read more:http://cema. bánh đa kế của Bắc Giang. Đồng thời. bạn mình còn khoẻ không. Nếu tay người được mời rượu lạnh. nồng ấm tình cảm hơn. một chất phụ gia không thể thiếu để làm cho chén rượu như thơm hơn. lúa gạo trồng trong những thung lũng lọt giữa ngút ngàn núi đá ở Đồng Văn. mà thể hiện tấm lòng của chủ đối với khách. ý nghĩa cao đẹp của việc bắt tay sau mời rượu còn là để người mời rượu. Gà mèo ở Đồng Văn . Cái bắt tay càng chặt càng thể hiện lòng mến khách của chủ nhà. trọng thị và quý mến của chủ nhà đối với mình để xử lại một cách văn hoá và đẹp hơn.vn/modules. càng nhiều lần bắt tay chủ nhà biết được tấm lòng của khách đối với chủ.tuổi. cái bắt tay càng lâu thể hiện mối quan hệ giữa chủ và khách bền chặt. cho người vợ hoặc những người phụ nữ khéo léo trong gia đình làm những món canh giải rượu hoặc những món ăn nóng để lấy lại hơi ấm và sức khoẻ cho khách theo các cách xử trí dân gian mà người Tây Bắc rất giàu kinh nghiệm trong việc này. Quản Bạ. Bắt tay trong sinh hoạt ẩm thực không xuất hiện mỗi khi gia đình có khác quý. run có nghĩa là bạn mình đã say rượu hoặc sức khoẻ không tốt nữa và mọi người không ép bạn mình uống rượu nữa. Đông Bắc cũng có một nền ẩm thực rất tuyệt vời và đa dạng như: rượu Vân . càng nhiều lần bắt tay thì mối quan hệ càng thắm thiết.gov. Theo triết lý của người vùng cao. hoặc chủ nhà cảm nhận về sức khoẻ của người uống rượu.php?name=Content&op=details&mid=117454698#ixz z1oLowvuGu  Cùng như các vùng miền khác. khách đường xa… mà có trong tất cả những buổi sinh hoạt ẩm thực kể cả trong ăn sáng. khách cũng biết được sự ân cần. lợn quay Lạng Sơn. Chủ nhà bắt tay khách để cảm nhận xem tay bạn mình còn ấm không. Bắt tay ở Tây Bắc trong ẩm thực không chỉ là cái bắt tay đơn thuần. tấm lòng của người mời rượu đối với người được mời. Đặc biệt đối với những vị khách lần đầu tiên gặp mặt. khách lạ. cho mâm cơm thêm đậm đà và đặc sắc. Bắt tay trong văn hoá ẩm thực của người Tây Bắc như một gia vị.

Ngày nay y phục của người Việt Bắc Bộ đã có sự thay đổi khá nhiều. cầu kỳ nhất". giọng tự hào: "Trang phục người Lô Lô là đẹp nhất. Hà Giang. áo cánh màu nâu sống. Cô gái người Lô Lô tên Lò Thị Keng. Chỉ riêng dải thắt lưng thôi người ta cũng phải mất đến ba tháng để làm. với những màu sắc rực rỡ. Những ngày lễ tết hẳn thôn bản Lô Lô rực rỡ sắc màu trang phục truyền thống. còn hoàn thành trọn bộ quần áo thì mất sơ sơ chỉ 3 . Và đó cũng là những sáng tạo riêng của mỗi người. Nhóm cư dân Mông – Dao có trang phục phù hợp với đời sống trên các sườn non đỉnh núi ở phía Bắc. giá cũng đã khoảng dăm ba triệu. thích ứng với thiên nhiên châu thổ Bắc Bộ đó là màu nâu. biên giới phía Bắc và Tây Bắc. Đàn bà cũng chiếc váy thâm. hầu như chẳng có mấy người còn chịu khó học nghề thế hệ trước để tự làm lấy cho mình bộ trang phục đẹp đẽ này. Một bộ trang phục "cao cấp" bằng những loại vải cổ của họ có giá như đã nêu. chít khăn đen.vn/Phong-su/TayBac-nhung-dieu-la/30157771/263/ Tây bắc: Trang phục các dân tộc Tây Bắc cũng độc đáo không kém. . thung lũng núi. Ngày hội hè. con của một thầy mo trưởng một bản thuộc Mèo Vạc. http://vietbao. phổ biến. duyên hải. Đàn ông với y phục đi làm là chiếc quần lá tọa.Văn hoá trang phục. Trang phục hệ ngôn ngữ Tày – Thái gần với đời sống đồng bào cư trú ở đầu sông. đàn ông với chiếc quần trắng. Những bộ ở mức bình thường. khiến cho những bộ trang phục không có bộ nào giống bộ nào. ngọn suối và triền sông Tây Bắc – Đông Bắc. Trang phục đồng bào Tạng – Miến rất thích ứng với cuộc sống ở vùng cao. lễ tết thì trang phục này có khác hơn: đàn bà với áo dài mớ ba mớ bảy. Nói chung đa phần trang phục của các dân tộc ở Tây Bắc đều đẹp.  Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn. chiếc áo nâu. điển hình "nhất hạng" phải kể đến người Lô Lô. cầu kỳ thu hút bất kỳ ai nhìn thấy. áo dài the.. cầu kỳ. Chỉ có một điều đáng ngại là đến thế hệ như thế hệ cô gái. khi đi làm. Đông Bắc và Tây Bắc: Trang phục cư dân Việt – Mường phù hợp với vùng châu thổ.5 năm. Công phu là ở chỗ chọn lựa và ghép những mảnh vải màu với nhau sao cho chúng có thể phối màu hài hòa cho cả bộ.

Phụ nữ Dao Tiền thường đeo rất nhiều đồ trang sức bằng bạc với những nét chạm trổ tinh xảo.. đồng. vòng tay. con thì châu đầu vào nhau như tâm tình thủ thỉ. Theo truyền thuyết. cài bằng lược móng ngựa. Áo gồm hai thân. vòng cổ. Phụ nữ dân tộc Dao Tiền thêu một bức tranh mang hình nhiều con chó trang trí ở vạt áo sau. đính giữa yếm là núm bạc. yếm bạc là những thứ không thể . Phụ nữ Mông đeo trang sức làm bằng bạc.. cạp xếp nhiều ly. phụ nữ đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu. hoa văn. hai bên nẹp áo trước ngực được ghép vải màu trắng đỏ và thêu đôi hoa văn nhỏ. xanh. vòng tai. được may lượn bó sát người gợi nét mềm mại của thiếu nữ vùng cao.Nét giản dị. Khăn thêu hoa được đội để đi chơi. tóc búi phía sau. trang trí.. Trang phục của phụ nữ dân tộc Pà Thẻn chủ yếu có gam màu đỏ tươi. Dây lưng bằng vải trắng. Tay áo bên trong bằng vải láng đen. mỗi con một dáng vẻ sinh động. in hoa văn bằng sáp ong. trên vai và ngực đắp vải màu có thêu hoa văn. Vạt áo thường thêu 16 con chó. bắp chân cuốn xà cạp trắng. phần thân được đắp các mảnh vải hình vuông có thêu hoa văn màu đỏ. Toàn bộ thân váy được trang trí hoa văn màu đỏ. đội khăn ra ngoài. vị tổ của người Dao nên phải thêu hình ảnh trên vạt áo của từng người để thể hiện sự tôn kính. nhôm. Phụ nữ Mông trắng mặc váy màu trắng. Phụ nữ Mông đen mặc váy bằng vải nhuộm chàm. Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép các vải màu. Áo không có cổ. bên ngoài đắp vải đỏ phía gần nách và cổ tay. trắng làm thành những đường kẻ hay các hình khối trông rất khỏe khoắn. áo xẻ ngực. tím.. Thân áo còn được trang trí bằng những mảnh vải màu đen. Cùng với trang phục.. Yếm là một mảnh vải hình vuông. đỏ. Phía sau lưng cũng thêu đôi hoa văn nhỏ. Yếm là vải dệt bằng tay có màu trắng. tạo thành hình như hai cái sừng. thêu hoa bằng chỉ màu. con thì ngoảnh mặt ra bốn phía quan sát. yếm sau. thêu hoa văn ở cánh tay. nhiễu hoặc vải xanh. còn thường ngày phụ nữ đội khăn đen dài. Phụ nữ Sán Chay thường thắt dây lưng làm bằng lụa. Phụ nữ Mông hoa mặc váy màu chàm thêu hoa văn bằng sáp ong. Váy là loại váy ống. góc gấu áo ghép mẩu vải trắng vuông. Phụ nữ dân tộc Sán Chay mặc áo tứ thân màu chàm. ấn tượng của thiếu nữ Sán Chay Trang phục của phụ nữ dân tộc Mông được thêu thùa rất sặc sỡ. vàng. có chạm trổ các nét họa tiết dân gian sinh động.. Hình thêu này thể hiện ý thức cội nguồn và minh chứng cho tài năng sáng tạo của phụ nữ Dao Tiền về tài thêu thùa. áo xẻ ngực. nẹp ngực viền vải xanh hoặc trắng. Bàn Vương là con chó thần. Phụ nữ Mông xanh mặc váy ống. cầu kỳ. thắt buông phía trước bụng. áo xẻ nách.

Di sản vật thể khác. Nhiều di tích nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài như đền Hùng. tận các làng quê. đình.com. chùa Tây Phương. miếu v.congan. Nói tới văn hóa ở châu thổ Bắc Bộ là nói tới một vùng văn hóa có một bề dày lịch sử cũng như mật độ dày đặc của các di tích văn hóa. Hoa Lư. các di sản văn hóa hữu thể tồn tại ở khắp các địa phương. Các di tích khảo cổ.v…. nổi bật của phụ nữ Pà Thẻn. đình Tây Đằng v.v…Ở Đông Bắc và Tây Bắc thì có nhà vua Mèo ở Lũng Cú. Đền. có mặt ở hầu khắp các địa bàn. http://www. .vn/?mod=detnews&catid=880&id=73195 .thiếu làm nên nét quyến rũ. chùa Dâu. phố Hiến. chùa Hương. hang Pác Bó. Lam Sơn. khu vực Cổ Loa. chùa.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful