Tình trạng bất ổn vĩ mô

:
Nguyên nhân và phản ứng chính sách
Chương trình Châu Á ĐH Harvard - Chương trình Fulbright VN

I. Tổng quan
Nền kinh tế Việt Nam đã bước vào một giai đoạn tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn. Mặc dù tình
hình này chủ yếu do các nhân tố nội tại gây ra, nó lại bị bao phủ bởi những biến động ngày càng
gia tăng của nền kinh tế toàn cầu. Trong ngắn hạn, nền kinh tế Việt Nam chưa được chuẩn bị để
đối phó với sự nguy giảm kinh tế toàn cầu. Trong tình huống xấu nhất, sự giảm sút, thậm chí đảo
chiều của dòng vốn ngắn hạn từ bên ngoài (hiện đang giúp cân bằng lại thâm hụt thương mại
ngày tăng của Việt Nam) đòi hỏi phải có những điều chỉnh vĩ mô khó khăn nhưng cần thiết, trong
đó bao gồm cả việc chấp nhận giảm tốc độ tăng trưởng. Để hạn chế khả năng xảy ra kết cục
không mong muốn này, chính phủ cần duy trì một sự linh hoạt và khả năng phản ứng nhạy bén
trước những thay đổi vĩ mô. Sự ổn định vĩ mô đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện mục
tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những thập kỷ tới. Vì vậy, sự lên xuống thất thường của
nền kinh tế sẽ là một bước thụt lùi nghiêm trọng trong quá trình thực hiện ước vọng gia nhập
hàng ngũ những nước thu nhập trung bình, rồi thu nhập cao của đất nước.
Một luận điểm chính của bài viết này để khôi phục sự ổn định vĩ mô và để “giảm sốc” cho nền
kinh tế Việt Nam trước sự suy giảm của nền kinh tế thế giới, đưa Việt Nam trở lại quỹ đạo phát
triển bền vững hơn đòi hỏi chính phủ phải thực hiện một loạt những điều chỉnh vĩ mô đồng bộ.
Cụ thể là chính phủ cần kiềm chế lạm phát, giảm thâm hụt ngân sách và thương mại, giảm tốc độ
tăng trưởng cung tiền và tín dụng thông qua một tập hợp các chính sách được phối hợp một cách
nhất quán và nhịp nhàng. Chính phủ cũng cần “xì hơi” bong bóng bất động sản từ từ để tránh sự
đổ vỡ đột ngột của thị trường, điều mà nếu xảy ra sẽ gây náo loạn khu vực tài chính với nguy cơ
tác động lan tỏa tới nền kinh tế thực (tức là hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng hóa và dịch
vụ). Để có thể thành công trong việc thực hiện những chính sách bình ổn trong ngắn hạn và duy
trì được môi trường kinh tế ổn định trong trung và dài hạn, chính phủ Việt Nam cần nâng cao
năng lực phối hợp chính sách hiện còn yếu và thiếu hiệu lực. Hiện nay, các cơ quan hoạch địch
chính sách của Việt Nam đang bị phân tán, thiếu sự phối hợp, quá nhạy cảm trước sức ép chính
trị, và thiếu năng lực chuyên môn. Một thông điệp chính chúng tôi muốn chuyển tới chính phủ là
để hội nhập sâu sắc hơn vào nền kinh tế quốc tế, chính phủ Việt Nam cần phát triển bằng được
những cơ quan hoạch địch và phân tích chính sách chuyên nghiệp và có trách nhiệm, có khả
năng phản ứng nhanh chóng và hiệu quả trước những thay đổi trong nền kinh tế nội địa và toàn
cầu.
Cần nhấn mạnh rằng mục đích của bài thảo luận chính sách này là phân tích một số vấn đề vĩ
mô quan trọng của Việt Nam hiện nay và trình bày một số đề xuất về khung chính sách cụ thể vì
chúng tôi hiểu rằng để làm được việc này, cần có những phân tích chi tiết và công phu hơn, dựa
trên những số liệu và thông tin đầy đủ, cập nhật, và đòi hỏi một sự điều hành cẩn trọng nhất.
Tuy nhiên, chúng tôi kiến nghị trước mắt, chính phủ cần triển khai năm hành đồng để tạo điều
kiện cho sự vãn hồi ổn định vĩ mô. Những hành động này bao gồm:
* Kiểm soát đầu tư công. Cần phân tích thật cẩn thận những chương trình đầu tư công hiện tại,
bao gồm cả những dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước để từ đó xây dựng danh mục các
dự án ưu tiên đầu tư căn cứ theo tiêu thức hiệu quả kinh tế (chứ không phải mục tiêu chính trị).
Đồng thời, cũng cần xây dựng các phương án dự phòng khi xảy ra tình huống xấu để có thể đình
chỉ hay cắt giảm ngay một số dự án khi điều kiện kinh tế vĩ mô trở nên khó khăn.
* Giảm bong bóng bất động sản. Phải kiềm chế tín dụng ngân hàng cho khu vực bất động sản
để tránh tình trạng hỗn loạn nghiêm trọng trong hệ thống ngân hàng khi bong bóng vỡ. Cần áp
dụng thuế nhà đất, một mặt để tăng nguồn thu cho ngân sách, mặt khác để điều chỉnh và đưa thị
trường nhà đất vào vòng trật tự. Chính sách này cần được kết hợp với một cải cách triệt để về
quy hoạch vùng và các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất sao cho các quy định pháp
luật trở nên minh bạch và có tính giải trình cao hơn.
* Cắt giảm vay thương mại quốc tế. Chính phủ cần thắt chặt và kiểm soát chặt chẽ các hoạt
động vay thương mại trên thị trường quốc tế của khu vực nhà nước. Các quyết định này có thể
được xem xét lại một cách định kỳ cho đến khi các điều kiện kinh tế vĩ mô của Việt Nam được
bình ổn trở lại.
* Tăng cường tính độc lập và năng lực cho Ngân hàng Nhà nước. Chính phủ cần có kế
hoạch tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước theo hướng tăng cường tính độc lập (đặc biệt là độc lập
về mục tiêu và công cụ) và khả năng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong một nền
kinh tế thị trường hiện đại. Điều này đòi hỏi sự góp ý và tư vấn của các chuyên gia về ngân hàng
trung ương, bao gồm một số thống đốc ngân hàng trung ương trong khu vực và một số chuyên
gia kỹ thuật quốc tế đã từng làm việc tại các nước Đông Nam Á.
* Xây dựng một cơ quan quản lý kinh tế cao cấp. Cơ quan này hoạt động tương tự như Hội
đồng Phát triển Kinh tế của Sing-ga-po và của một số nước khác trong khu vực, được giao
nhiệm vụ điều phối chính sách vĩ mô và đảm bảo kỷ cương trong khu vực nhà nước. Thành viên
của cơ quan này phải được lựa chọn dựa theo năng lực, có mức lương tương đương với những
chức vụ quản trị ở khu vực tư. Cơ quan này sẽ báo cáo trực tiếp cho Thủ tướng Chính phủ và
phải được bảo vệ khỏi sức ép chính trị và sự tác động của các nhóm đặc quyền đặc lợi. Cơ quan
này phải có thẩm quyền cao hơn các bộ ban ngành, chính quyền địa phương, và tất nhiên là cả
các tập đoàn kinh tế nhà nước.
II. Phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô
Nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong 15 năm qua tương đối ổn định. Liên kết kinh tế của Việt
Nam với phần còn lại của thế giới chủ yếu giới hạn trong phạm vi các quan hệ thương mại, hỗ
trợ phát triển chính thức và kiều hối. Tuy nhiên, việc chính thức gia nhập WTO và các hiệp định
quốc tế khác về thương mại và đầu tư, kết hợp với quát trình nới lỏng kiểm soát đối với hoạt
động của khu vực dân doanh trong nước đã giúp Việt Nam mở rộng và tăng cường quan hệ kinh
tế quốc tế. Dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài gia tăng đột biến và khu vực tài
chính đã mở rộng cửa hơn cho cạnh tranh quốc tế. Một số “tròng trành” gần đây cấp quản lý vĩ
mô trong thời kỳ hội nhập sâu hơn hậu WTO.
Nền kinh tế Việt Nam đang nóng. Bằng chứng là lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng, thâm hụt ngân
sách và thương mại ngày càng lớn, và bong bóng giá bất động sản ngày càng phình to.
1. Lam phát
Không thể phủ nhận việc tăng giá dầu và một số nguyên liệu sản xuất trên thị trường thế giới
cũng như thiên tai, dịch bệnh trong nước là nguyên nhân khách quan dẫn tới việc tăng chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) trong năm 2007. Tuy nhiên, lạm phát ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ các nhân
tố chủ quan, có tính cơ cấu của nền kinh tế vì nếu lạm phát chủ yếu do giá thế giới tăng thì các
nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia… cũng đều phải chịu sức ép tương tự. Tuy
nhiên, lạm phát ở các nước này lại thấp hơn một cách đáng kể so với Việt Nam (xem Hình 1).
Hình 1: Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam và một số nước trong khu vực (2007)
1


Nguyên nhân chính của lạm phát là mặc dù nền kinh tế kém hiệu quả nhưng lại phải hấp thụ một
lượng vốn quá lớn. Tổng lượng vốn từ bên ngoài chảy vào nền kinh tế trong năm 2007 ước
chừng lên tới 22 - 23 tỷ USD (tương đương 30% GDP)
2
. Đồng thời, tăng cung tiền, tín dụng, và
đầu tư đều đạt mức kỷ lục, trong đó một tỷ lệ rất lớn được dành cho các DN nhà nước kém hiệu
quả. Khi lượng tiền đó vào nền kinh tế quá nhiều, lại không được sử dụng một cách hiệu quả để
sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ thì sẽ dẫn tới tình trạng “quá nhiều tiền nhưng quá ít hàng”. Cụ
thể là trong 3 năm (từ 2005 đến 2007), cung tiền tăng tổng cộng 135% nhưng GDP chỉ tăng
27%, và lạm phát là hệ quả tất yếu.
Như vậy, chiến lược tăng trưởng dựa vào đầu tư của Việt Nam (tức là duy trì tỉ lệ đầu tư nội địa
cao hơn tỉ lệ tiết kiệm nội địa) đã đẩy nền kinh tế vượt quá giới hạn hiện tại của nó. Vì vậy, nâng
cao hiệu quả của đầu tư phải được xem là một mục tiêu quan trọng hàng đầu trong trung hạn.
Trong thời gian trước mắt, chính phủ cần khôi phục lại sự cân bằng vĩ mô ngay lập tức bằng
cách giảm tỉ lệ đầu tư công. Đống thời, đầu tư công cần được tập trung vào các dự án có khả
năng tháo gỡ những “nút thắt cổ chai” của tăng trưởng mà không được phép phung phí vào
những dự án tuy hoành tráng nhưng không đem lại hiệu quả kinh tế. Chính phủ cần tiếp tục đầu
tư phát triển hệ thống cảng biển và đường bộ kết nối các nhà xuất khẩu Việt Nam với thị trường
thế giới. Chính phủ cũng cần đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, y tế cơ
sở và y tế cộng đồng, cơ sở hạ tầng đô thị v.v… Không nên sử dụng những nguồn đầu tư công
khan hiếm để thực hiện các dự án mà khu vực tư sẵn sàng tham gia như xây cầu, đường có thu
lệ phí. Chính phủ cần tìm cách khuyến khích sự tham gia của khu vực tư vào việc cung ứng các
cơ sở hạ tầng thiết yếu để có thể tăng cung, giảm chi phí, nâng cao chất lượng.
Một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lạm phát là kỳ vọng của các tác nhân trong nền kinh tế.
Hình 2 trình bày mức lạm phát danh nghĩa và lạm phát kỳ vọng của Việt Nam, Trung Quốc và
Thái Lan. Lưu ý rằng ở Thái Lan và Trung Quốc, lạm phát danh nghĩa xấp xỉ với lạm phát kỳ
vọng, trong khi đó ở Việt Nam lạm phát kỳ vọng cao hơn rất nhiều so với lạm phát danh nghĩa. Ở
Thái Lan, mặc dù mức tăng cung tiền xấp xỉ với tốc độ tăng trưởng GDP thực, thế nhưng chính
những bất ổn chính trị ở nước này làm cho lạm phát lên tới khoảng 5% vì người dân không
muốn giữ tiền Bạt.
Hình 2. Lạm phát danh nghĩa và lạm phát kỳ vọng

Những phân tích về lạm phát trên đây dẫn tới hai khuyến nghị chính sách trước mắt. Thứ nhất,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần “thu hồi” các dòng vốn chảy vào, đồng thời bán các công cụ
nợ bằng tiền Đồng để giảm lượng tiền trong lưu thông. Thứ hai, hoạt động đầu tư công cần có
tính chọn lọc cao hơn, nhắm vào các dự án tạo ra tăng trưởng sản lượng cao nhất cho mỗi đơn
vị vốn đầu tư. Hiện nay ở Việt Nam có quá nhiều dự án đầu tư công kém hiệu quả chủ yếu vì
những dự án này nhằm phục vụ các mục tiêu chính trị và hành chính hơn là kinh tế.
2. Bong bóng bât đông sán
So với Nhật Bản, Việt Nam có diện tích đất sinh hoạt trên đầu người lớn hơn, thu nhập trên đầu
người thấp hơn tới 50 lần, thế nhưng giá nhà đất đô thị ở hai nước lại có khi tương đương nhau.
Đây là một bằng chứng về mức độ bong bóng của giá bất động sản ở các đô thị của Việt Nam.
Không những thế, giá đất vẫn tiếp tục tăng rất nhanh trong năm 2007. Giá đất ở một số khu vực
nông thôn giờ đây cũng đã tăng nhanh một cách không thể chấp nhận được.
Tại sao giá đất lại cao và tăng nhanh như vậy? Nhu cầu thực sự của người dân xuất phát từ quá
trình đô thị hóa và mức sống gia tăng là một nguyên nhân quan trọng. Tuy nhiên, đây không phải
là nguyên nhân quan trọng nhất vì nếu thế giá nhà đất phải tương ứng với mức thu nhập của
người dân. Thế nhưng, với giá nhầ đất ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh như hiện nay thì ngay cả
những người được coi là có thu nhập cao trong xã hội (những người phải đóng thuế thu nhập
cao, chiếm 0,4% lực lượng lao động) cũng phải tiết kiệm 30 - 40 năm may ra mới có thể mua
được một căn hộ với diện tích và chất lượng vừa phải.
Những nguyên nhân quan trọng hơn dẫn tới tình trạng bong bóng giá bất động sản bao gồm.
Thứ nhất, nguồn tiền trong nền kinh tế quá dồi dào (do tăng cung tiền, tăng cung tín dụng đầu tư
bất động sản, kiều hối, tiền tham nhũng và thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản v.v…) trong
khi đó lợi nhuận từ đầu cơ đất đai lại hấp dẫn hơn bất kỳ một hoạt động đầu tư sản xuất nào
khác. Vì vậy, một phần rất lớn nguồn lực của nền kinh tế bị chuyển sang mục đích phi sản xuất
có tính đầu cơ và không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Thứ hai, trong khi cả nhu cầu
thực, và đặc biệt, nhu cầu đầu cơ tăng mạnh thì nguồn cung nhà và đất lại hạn chế. Tình trạng
mất cân bằng cung cầu tất yếu đẩy giá nhà đất lên cao.
Bong bóng bất động sản tiềm ẩn nhiều nguy cơ nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Như chúng tôi
đã phân tích trong Lựa chọn thành công, doanh nghiệp Việt Nam (đáng kể nhất là các tập đoàn
và doanh nghiệp nhà nước) đang di chuyển nguồn lực từ các lĩnh vực kinh doanh nòng cốt sang
hoạt động đầu cơ bất động sản, một động thái chắc chắn sẽ làm suy giảm năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp này. Bong bóng bất động sản cũng gây ra những rủi ro đáng kể cho hệ
thống tài chính của Việt Nam. Nếu, và trên thực tế điều này đã xảy ra, các ngân hàng thương
mại của Việt Nam cho các nhà đầu cơ và phát triển bất động sản vay dựa trên tài sản thế chấp là
đất với giá đã được thổi phồng thì tồn tại một nguy cơ là khi giá đất “hạ cánh”, những người đi
vay này sẽ mất khả năng trả nợ. Mặc dù khi ấy ngân hàng vẫn nắm giữ các khoản thế chấp bằng
đất, nhưng với giá trị chỉ bằng một phần giá trị của khoản đã cho vay. Hiện tượng này đã xảy ra
ở Nhật vào đầu những năm 1990 gây nên những đảo lộn trong hệ thống tài chính của nước này,
và đến tận bây giờ, người ta vẫn còn cảm nhận được dư chấn của nó.
3
Với những yếu kém hiện
nay của hệ thống tài chính Việt Nam, rất có thể Việt Nam sẽ chịu những tác động tương tự
nhưng với hậu quả còn nặng nề hơn so với Nhật Bản. Một thực tế hết sức đáng lo là hiện nay,
hầu như không ai biết một cách tương đối chính xác về quy mô của những khoản vay có sử dụng
đất làm vật thế chấp. Trong khi đó, thông tin chính xác và cập nhật là một yêu cầu thiết yếu để có
được những chính sách đúng đắn và hiệu quả.
3. Thâm hµt ngân sách và thâm hµt thuong mai
Theo kinh nghiệm quốc tế, ở điều kiện bình thường, thâm hụt ngân sách 3% được coi là đáng lo
ngại, còn 5% thì bị coi là đáng báo động. Hiện nay, thâm hụt ngân sách của Việt Nam đã lên tới
5,8% GDP. Không những thế, những khoản chi ngoài ngân sách trong mấy năm gần đây lên tới
20 - 25% tổng ngân sách, một tỷ lệ quá cao.
Tương tự như vậy, thâm hụt thương mại của Việt Nam năm 2007 ước chừng 12 tỷ USD, tức là
khoảng 16% GDP. Cũng theo kinh nghiệm quốc tế, ở điều kiện bình thường, thâm hụt thương
mại 5 - 10% được coi là đáng lo ngại. Mức thâm hụt hiện nay của Việt Nam có thể bị coi là đáng
báo động.
Nếu không có dòng vốn đầu tư và viện trợ nước ngoài đổ vào ồ ạt trong mấy năm trở lại đây thì
tình trạng thâm hụt ngân sách và thương mại ở mức độ nghiêm trọng như thế này tất yếu sẽ dẫn
tới những sự đổ vỡ trong nền kinh tế vĩ mô. Nói cách khác, nếu vì lý do nào đó các dòng vốn này
đảo chiều thì nền kinh tế của Việt Nam sẽ đứng trước những rủi ro khôn lường.
4. Dµ trû ngoai hôi
Như miêu tả trong Hình 3, dự trữ ngoại hối của Việt Nam thuộc loại thấp nhất trong khu vực. Câu
hỏi đặt ra cho các nhà làm chính sách là liệu mức dự trữ như vậy đã thích hợp chữa? Một mặt,
chi phí cơ hội của việc giữ dự trữ không nhỏ. Một lựa chọn khác là giữ nợ nước ngoài, tuy nhiên
lãi suất thu được hiện đang thấp hơn mức lạm phát. Mặt khác, dự trữ ngoại hối đóng vai trò
“giảm sốc”, giúp nền kinh tế chống đỡ được các cú sốc trong thương mại quốc tế như giá hàng
xuất khẩu giảm (hay giá hàng nhập khẩu tăng), mất thị trường xuất khẩu, hay những biến động
về cầu trên thị trường quốc tế. Dự trữ ngoại hối còn giúp “điều hòa” những biến động của các
dòng lưu chuyển vốn. Điều này đặc biệt quan trọng trong điều kiện hiện nay khi Việt Nam đang bị
thâm hụt thương mại nặng nề. Hơn thế, ước tính thâm hụt thương mại của Việt Nam trong năm
2008 còn cao hơn năm 2007, đạt mức 17 tỷ USD, tương đương với khoảng 20% GDP. Điều này
có nghĩa là để cân bằng được tài khoản vãng lai thì trong năm 2008, Việt Nam phải thu hút được
17 tỷ USD từ nguồn vốn bên ngoài. Nếu nhập khẩu được thực hiện theo đúng kế hoạch nhưng
các dòng vốn nước ngoài lại suy giảm (hay tồi tệ hơn đảo chiều) thì việc quản lý nền vĩ mô sẽ trở
nên hết sức khó khăn.
Vào thời điểm cuối tháng 12/2007, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tương đương một phần ba kim
ngạch nhập khẩu. Trong khi đó, mặc dù có tỷ lệ vốn nước ngoài ngắn hạn thấp hơn Việt Nam
nhưng dự trữ ngoại hối của Thái Lan, Inđônêxia, và Malayxia lên tới hai phần ba, thậm chí ba
phần tư kim ngạch nhập khẩu của mỗi nước. Rõ ràng là các nước này đã rút ra được bài học từ
cuộc khủng hoảng 1997 về vai trò quan trọng của dự trữ ngoại hối trong việc “bảo hiểm” cho nền
kinh tế chống lại những thay đổi bất lợi trong nền kinh tế nội địa hay toàn cầu. Mặc dù Việt Nam
không thể tăng tỷ lệ dự trữ ngoại hối lên mức của các nước trong khu vực trong ngày một ngày
hai, nhưng trong điều kiện thuận lợi khi dòng vốn vào đang sung mãn như hiện nay, Việt Nam
nên tận dụng cơ hội này để tăng cường dự trữ phòng khi “thời tiết xấu”.
Hình 3. Dự trữ ngoại hối cuối năm 2007 (phần trăm của kim ngạch nhập khẩu)

III. Hạn chế có tính cơ cấu của các cơ quan điều hành vĩ

Hệ thống quản lý kinh tế của Việt Nam chưa tương thích với một nền kinh tế hội nhập toàn cầu.
Hiện nay, ba bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm hoạch định chính sách vĩ mô là Bộ Tài
chính, Bộ Kế hoạch- Đầu tư (Bộ KHĐT), và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chưa phối hợp với
nhau một cách hiệu quả. Bộ KHĐT thuần túy làm công việc tổng hợp các kế hoạch đầu tư mà
không lưu ý một cách thích đáng tới tình hình vĩ mô chung của nền kinh tế. Đối với Bộ Tài chính,
mối bận tâm lớn nhất là huy động và phân bổ vốn cho các dự án đã được phê duyệt và chỉ kiểm
soát được (một phần) các khoản chi thường xuyên. Tuy nhiên, với rất nhiều các khoản chi xuất
hiện dưới dạng đầu tư, đồng thời tỷ lệ chi ngoài ngân sách hiện đang rất cao, có thể nói là Bộ Tài
chính chưa kiểm soát tốt chính sách ngân sách. Về phía NHNN, cơ quan này không được phép
quyết định lượng cung tiền và cung tín dụng như “thiên chức” vốn có của các ngân hàng trung
ương trên thế giới mà chỉ có thể sử dụng một số ít các công cụ (như tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các
quyết định và chỉ thị có tính hành chính) không thực sự hữu hiệu khi phải đối diện với nguy cơ
lạm phát. Trong năm 2007, ngay cả khi lạm phát tăng nhanh thì NHNN cũng không được phép
điều chỉnh lãi suất. Kết quả là lãi suất thấp hơn mức lạm phát khiến cho lãi suất thực trở nên âm.
Đến lượt mình, lãi suất thực âm làm cho các tài sản tài chính trở nên kém hấp dẫn và do vậy
khuyến khích các nhà đầu tư chuyển từ tài sản tài chính sang bất động sản và vàng.
Bảng 1: Hệ thống quản lý kinh tế vĩ mô bất cập và thiếu đồng bộ
Cơ quan Chức năng Điểm yếu Cần thay đổi
Ngân hàng
Nhà nước
Xây dựng và thực
hiện chính sách
tiền tệ
Thiếu tính độc lập; Phụ thuộc quá mức vào các biện pháp
hành chính
* Tăng cường tính độc lập
cho NHNN
* Sử dụng đầy đủ các công
cụ của chính sách tiền tệ
* Giảm cung tiền và tín
dụng
* Lãi suất thực dương
* Mở rộng biên độ giao dịch
của tiền Đồng
* Tăng cường hoạt động
giám sát và điều tiết khu
vực ngân hàng
Bộ Tài
chính
Xây dựng và thực
hiện chính sách
ngân hàng
Thiếu chiến lược hữu hiệu về nguồn thu ngân sách;
Không kiểm soát được chi tiêu ngân sách; kiểm soát chi
thường xuyên kém; chi ngoài ngân sách quá nhiều
* Giảm thâm hụt ngân sách
* Đưa tất cả các khoản chi
vào trong ngân sách
* Tăng cường minh bạch
trong thu chi ngân sách
* Mở rộng cơ sở thuế (đặc
biệt là thuế nhà đất)
* Xây dựng khuôn khổ
chung cho ngân sách
Bộ Kế
hoạch và
Đầu tư
Phân bổ nguồn vốn
Phân bổ vốn và nguồn lực theo các tiêu thức chính trị thay
vì kinh tế
* Loại bỏ các dự án đầu tư
công lãng phí
* Thẩm định đầu tư công
độc lập
* Quyết định đầu tư dựa
trên phân tích chi phí - lợi
ích thật minh bạch
Những vấn đề được phân tích ở trên là rất đáng lo ngại, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi nền
kinh tế toàn cầu đang bước vào một giai đoạn bất ổn. Việt Nam không thể tiếp tục hoạch định
chính sách kinh tế vĩ mô với giả định rằng các dòng vốn nước ngoài tiếp tục đổ vào Việt Nam
như hiện nay, hoặc cầu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục gia tăng với tốc độ
như hiện nay. Việt Nam cần một chính sách vĩ mô cẩn trong hơn để giúp nền kinh tế có sức
chống đỡ dẻo dai hơn đối với những thách thức của kinh tế toàn cầu. Sự đảo chiều bất ngờ của
dòng vốn ngắn hạn nước ngoài có thể dẫn tới một sự điều chỉnh sâu sắc của nền kinh tế trong
nước, những điều chỉnh mà hệ thống quản lý vĩ mô của Việt Nam hiện nay chưa có khả năng
thực hiện.
IV. Khuyến nghị chính sách
Phần này trình bày một số khuyến nghị chính sách có tính định hướng nhằm giảm lạm phát và
tăng cường sự ổn định kinh tế vĩ mô. Mục tiêu kinh tế lớn nhất của năm 2008, đồng thời cũng là
nhiệm vụ cấp bách trước mắt là thực hiện ngay các biện pháp bình ổn kinh tế vĩ mô (Bảng 2),
đặc biệt là giảm lạm phát (thông qua giảm tốc độ tăng cung tiền và tín dụng), giảm thâm hụt ngân
sách, giảm thâm hụt cán cân thương mại, đảm bảo lãi suất thực dương, thắt chặt chi tiêu của
nhà nước (thông qua điều chỉnh đầu tư công). Việc thực hiện những chính sách điều chỉnh vĩ mô
được đề xuất dưới đây sẽ không dễ dàng, nhất là khi chúng có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng
GDP của năm 2008. Thế nhưng, trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế buộc phải hy sinh một
phần tăng trưởng ngắn hạn để đổi lấy sự ổn định và bền vững dài hạn. Sự thành công của chính
sách bình ổn cũng sẽ giúp tăng cường niềm tin của các nhà đầu tư vào năng lực điều hành vĩ mô
của chính phủ, và nhờ đó duy trì được dòng vốn đầu tư ổn định một cách lâu dài.
Bảng 2: Một số mục tiêu vĩ mô nên thực hiện trong năm 2008
4

Nội dung 2007 Mục tiêu năm 2008
Tăng hụt ngân sách 5,8% Dưới 5%
Tăng cung tiền và tín dụng 30 - 40% Dưới 20%
Thâm hụt thương mại/GDP 16% 5 - 10%
Lãi suất thực - 3,5% + 1-2%
Tỷ lệ đầu tư công/GDP Hơn 20% 10 - 15%
Những điều chỉnh vĩ mô được liệt kê trong Bảng 2 có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nói cách
khác, không thể chỉ điều chỉnh một chính sách trong khi giữ nguyên các chính sách còn lại.
Chẳng hạn như, mặc dù lạm phát và nhập siêu ở Việt Nam có nguyên nhân tiền tệ (do cung tiền
và tín dụng tăng quá nhanh) nhưng cũng phải thấy rằng, đến lượt mình, tăng trưởng tín dụng lại
phụ thuộc vào chính sách đầu tư công - vốn có quan hệ mật thiết với thâm hụt ngân sách. Như
vậy, để thực hiện được các biện pháp điều chỉnh vĩ mô thì các cơ quan hoạch định chính sách
của Việt Nam cần phải phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, và như chúng tôi sẽ chỉ ra ở
phần dưới, sự nhịp nhàng và đồng bộ này chỉ có thể có được nếu như chúng được điều phối bởi
một cơ quan hoạch định chính sách cao cấp duy nhất.
Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, trong khi thực hiện những mục tiêu bình ổn vĩ mô có tính cấp
bách này thì cũng không được sao nhãng mục tiêu cơ bản, có tính dài hạn và bao trùm là giải
phóng một cách toàn diện và triệt để sức sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, của nền kinh tế.
1. Tăng cuòng sµ phôi hçp giûa chính sách tiên tê và ngân sách
Trong điều kiện nền kinh tế đang quá nóng như hiện nay, chính phủ cần phối hợp chính sách tiền
tệ và ngân sách để giảm tốc độ tăng trưởng của tổng cầu. Đối với Việt Nam, điều này đã trở nên
khó khăn hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Chẳng hạn như để giảm tổng cầu thì một trong
những chính sách có thể áp dụng là tăng lãi suất (duy trì lãi suất thực dương). Thế nhưng lãi
suất cao hơn sẽ có thể thu hút thêm vốn nước ngoài, và do vậy, làm tăng cung tiền, gây thêm áp
lực tăng lãi suất đối với Ngân hàng Nhà nước, và vòng xoáy tăng lãi suất - thu hút thêm vốn
nước ngoài cứ thế được lặp lại. Lưu ý là trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, chế độ tỷ giá linh
hoạt cũng sẽ không giúp cải thiện tình hình vì tiền Đồng tăng giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, tác
động tiêu cực tới xuất khẩu và làm trầm trọng thêm tình trạng thâm hụt thương mại. Đây cũng
chính là vấn đề của các nước Đông Á trước khi xảy ra khủng hoảng 1997.
Chính sách tiền tệ và ngân sách phải được phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ với nhau. Chính
sách thắt chặt tiền tệ sẽ không phát huy tác dụng nếu ngân sách tiếp tục được nới rộng. Bên
cạnh việc giảm đầu tư công, chính phủ vẫn phải ưu tiên các dự án có mức sinh lời cao thay vì
các dự án thuần túy phục vụ mục tiêu chính trị (mặc dù đây là việc có thể phải làm trong dài hạn,
khi nền kinh tế đã được hạ nhiệt). Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng việc cắt giảm đầu tư công
cũng sẽ không giúp giảm lạm phát nếu như dòng vốn vào không được “thu hồi” một cách hiệu
quả và nếu lãi suất thực vẫn tiếp tục âm.
2. Xây dµng môt co quan hoach đjnh chính sách kinh tê cao câp
Chúng tôi cho rằng tại thời điểm hiện nay, thẩm quyền ra quyết định chính sách quá phân tán, và
điều này một mặt cản trở sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan hoạch định chính sách, mặt
khác gây khó khăn cho các nhà lãnh đạo cao nhất khi họ phải phản ứng một cách quyết toán nếu
khủng hoảng xảy ra. Để có thể duy trì sự nhất quán và ổn định trong hệ thống chính sách vĩ mô,
Việt Nam cần tập trung thẩm quyền hoạch định chính sách trong tay một cơ quan duy nhất
5
. Cho
dù cơ quan này sẽ được thành lập mới hay hình thành từ một cơ quan có sẵn từ trước thì nó
cũng phải thấu hiểu nền kinh tế nội địa và quốc tế, đồng thời có đủ thẩm quyền để biến hiểu biết
này thành những chính sách cụ thể. Để làm được điều này, cơ quan hoạch định chính sách cao
cấp này phải có thẩm quyền cao hơn các bộ ban ngành, chính quyền địa phương, và tất nhiên là
cả các tập đoàn kinh tế nhà nước. Trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, cơ quan này cũng cần
được trao quyền đình chỉ hay cắt giảm những dự án đầu tư công chưa thực sự cần thiết hay
lãng phí.
Cần nhấn mạnh rằng việc xây dựng năng lực phân tích và hoạch định chính sách cần thiết để cải
thiện tình hình cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ không thể thực hiện được nếu chính phủ
tiếp tục sử dụng hệ chế độ tuyển dụng và đãi ngộ nhân sự hiện tại. Để có thể thu hút và giữ chân
được những người thực sự giỏi, cơ quan hoạch định chính sách kinh tế cao cấp phải có thể trả
lương tương đương với khu vực tư nhân. Quan trọng không kém, việc tuyển dụng, bổ nhiệm, và
cất nhắc trong cơ quan này phải tuyệt đối dựa vào năng lực.
Nền kinh tế và hệ thống tài chính của Việt Nam hiện nay đã mở hơn rất nhiều so với trước và vì
vậy chịu ảnh hưởng của những biến động trong nền kinh tế thế giới. Một trong số những biến
động quan trọng này là phạm vi và mức độ của khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn
của Mỹ. Nếu cuộc khủng hoảng này càng một xấu đi (mà có nhiều khả năng điều này sẽ xảy ra)
thì hệ quả đối với Việt Nam sẽ khá nghiêm trọng vì ba nguyên nhân lớn sau:
Thứ nhất, khi nền kinh tế của Mỹ tăng trưởng chậm lại, thậm chí suy thoái thì người dân Mỹ sẽ
cắt giảm tiêu dùng, mà đây lại là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Thứ hai,Thứ ba, do
thua lỗ trên các thị trường khác, nhiều nhà đầu tư tài chính sẽ phải rút tiền khỏi Việt Nam. Điều
này đặc biệt đáng lo ngại khi một tỷ lệ rất lớn trong nguồn vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam là
những khoản đầu cơ tài chính ngắn hạn, dễ vào mà cũng dễ ra. Vì lý do này, Ngân hàng Nhà
nước cần theo dõi thật sát và báo cáo với chính phủ ngay lập tức mọi dấu hiệu đảo chiều của
dòng vốn đầu tư gián tiếp.
đồng USD sẽ trở nên yếu đi so với VNĐ, dẫn tới giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu
và do đó làm xấu thêm tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam.
3. Tăng cuòng năng lµc và tính đôc lâp cho Ngân hàng Nhà nuóc
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không đủ thẩm quyền và công cụ chính sách, đồng
thời cấu trúc quản lý lại bất cập để có thể vận hành như một ngân hàng trung ương thực thụ.
Tình trạng này bắt nguồn từ các yếu tố chính trị và kỹ thuật. Về mặt chính trị, Ngân hàng Nhà
nước thiếu tính độc lập để có thể thực hiện các chính sách thuần túy dựa vào các tiêu chí nghiệp
vụ và ít chịu ảnh hưởng của sức ép bên ngoài. Kể từ năm 1997, hầu như tất cả các nước Đông
Nam Á đã tăng cường tính độc lập cho ngân hàng trung ương của họ với các mức độ khác nhau.
Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn thiếu tính độc lập trên cả bốn phương diện
quan trọng là mục tiêu, công cụ, tài chính, và nhân sự. Về mặt kỹ thuật, năng lực của Ngân hàng
Nhà nước cũng còn rất hạn chế. Thậm chí Ngân hàng Nhà nước thiếu tự tin ngay cả đối với các
công cụ chính sách của mình, và do vậy phải viện đến các biện pháp quản lý mang nặng tính
hành chính (chẳng hạn như Quyết định 03 về tín dụng đầu tư chứng khoán). Các biện pháp hành
chính này phản chiếu tư duy “kế hoạch hóa tập trung” đối với chính sách tiền tệ không còn thích
hợp với nền kinh tế thị trường và toàn cầu giờ đây đã trở nên phức tạp hơn trước rất nhiều.
Ngân hàng Nhà nước cần tìm cách sử dụng công cụ lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở một
cách hiệu quả hơn, nhưng điều này cũng có nghĩa là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước sẽ trở
nên minh bạch và có trách nhiệm hơn.
Quản lý ngân hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường hiện đại là một hoạt động có tính
chuyên môn hóa rất cao. Vì vậy, để nâng cao năng lực, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét việc
thuê chuyên gia tư vấn cao cấp từ bên ngoài. Hoạt động của ngân hàng trung ương trên thế giới
đã có những thay đổi cơ bản trong 15 - 20 năm trở lại đây, và các ngân hàng trung ương trong
khu vực ASEAN đã phản ứng lại một cách chủ động trước những thay đổi này. Họ đã cơ cấu lại
tổ chức, hoạt động và nhân sự. Họ cũng đã viện đền sự giúp đỡ về kỹ thuật của một số chuyên
gia quốc tế hàng đầu về ngân hàng trung ương. Mặc dù việc thuê chuyên gia nước ngoài khá đắt
nhưng vẫn còn rẻ hơn rất nhiều so với cái giá phải trả khi xây dựng một ngân hàng trung ương
mà không có sự dẫn dắt của các chuyên gia giàu kinh nghiệm. Để tránh xung đột lợi ích và đảm
bảo tính bảo mật và làm chủ chính sách khi thuê chuyên gia nước ngoài, chính phủ Việt Nam
nên tự mình lựa chọn và trả lương cho chuyên gia chứ không nên dựa vào nguồn tài trợ của các
tổ chức quốc tế. Một số ngân hàng trung ương trong khu vực ASEAN như Ngân hàng Trung
ương Sing-ga-po (Monetary Authority of Singapore) và ngân hàng Trung ương Ma-lai-xia (Bank
Negara Malaysia) có thể giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tìm được những chuyên gia thích
hợp.
4. Kiêm soát đâu tu công
Như đã phân tích, đầu tư công kém hiệu quả là một nguyên nhân gây ra lạm phát. Chính phủ đã
phê duyệt một danh sách các dự án đầu tư công đầy tham vọng từ nay cho tới 2015 với tổng số
vốn ước tính lên tới 70 tỷ USD. Để đảm bảo lượng vốn khổng lồ này được sử dụng hiệu quả,
chính phủ cần:
- Xây dựng danh mục các dự án ưu tiên đầu tư căn cứ theo tiêu thức hiệu quả kinh tế. Đồng thời,
cũng cần xây dựng các phương án dự phòng khi xảy ra tình huống xấu (chẳng hạn như danh
mục các dự án cần cắt giảm khi điều kiện trở nên khó khăn). Một số nước ASEAN đã từng sử
dụng danh mục dự án ưu tiên khi nền kinh tế của các nước này rơi vào tình trạng bất ổn.
- Kiểm soát chặt các dự án vay thương mại trên thị trờng tài chính quốc tế của các tập đoàn, DN
nhà nước, hay dự án đầu tư công.
- Thực hiện hoạt động thẩm định và kiểm toán đầu tư công độc lập, sau đó công khai hóa các
thông tin về thẩm định và kiểm toán này.
5. Giám bong bóng bât đông sán
Bong bóng bất động sản đang là một mối đe dọa cho sự ổn định kinh tế và chính trị của Việt
Nam. Nếu để bong bóng vỡ như trong cuộc khủng hoảng năm 1997 - 98 thì hậu quả thật khôn
lường vì khi ấy, giá tài sản giảm đột ngột sẽ làm tăng nợ xấu của ngân hàng, khiến một số ngân
hàng phá sản, và do vậy ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế thực. Vì vậy, khôn ngoan nhất là “xì
hơi” bong bóng một cách từ từ. Cách tốt nhất để xì hơi bong bóng là đánh thuế bất động sản.
Bên cạnh đó, cần thắt chặt và kiểm soát sát sao các khoản tín dụng đầu tư bất động sản và các
khoản cho vay được thế chấp bằng bất động sản.
Về phía cung, các quy định về quy hoạch, sử dụng đất, và phát triển cơ sở hạ tầng cần được
công khai ở mức độ cao nhất để tránh tình trạng quan chức nhà nước cấu kết với các nhà đầu tư
tư nhân tạo ra tình trạng khan hiếm nguồn cung giả tạo để trục lợi.

* Ki m soát u tư công. Cơ quan này ph i có th m quy n cao hơn các b ban ngành. d ch b nh trong nư c là nguyên nhân khách quan d n t i vi c tăng ch s giá tiêu dùng (CPI) trong năm 2007. C n áp d ng thu nhà t. vi c chính th c gia nh p WTO và các hi p nh qu c t khác v thương m i và u tư. cũng c n xây d ng các phương án d phòng khi x y ra tình hu ng x u có th ình ch hay c t gi m ngay m t s d án khi i u ki n kinh t vĩ mô tr nên khó khăn. và bong bóng giá b t ng s n ngày càng phình to. 1. Dòng v n u tư tr c ti p và gián ti p c a nư c ngoài gia tăng t bi n và khu v c tài chính ã m r ng c a hơn cho c nh tranh qu c t . II. và t t nhiên là c các t p oàn kinh t nhà nư c. Tuy nhiên. Ph i ki m ch tín d ng ngân hàng cho khu v c b t ng s n tránh tình tr ng h n lo n nghiêm tr ng trong h th ng ngân hàng khi bong bóng v . Tuy nhiên. Chính ph c n có k ho ch t ch c l i Ngân hàng Nhà nư c theo hư ng tăng cư ng tính c l p ( c bi t là c l p v m c tiêu và công c ) và kh năng s d ng các công c c a chính sách ti n t trong m t n n kinh t th trư ng hi n i. chính quy n a phương. L m phát Không th ph nh n vi c tăng giá d u và m t s nguyên li u s n xu t trên th trư ng th gi i cũng như thiên tai. bao g m c nh ng d án u tư c a doanh nghi p nhà nư c t ó xây d ng danh m c các d án ưu tiên u tư căn c theo tiêu th c hi u qu kinh t (ch không ph i m c tiêu chính tr ). * Tăng cư ng tính c l p và năng l c cho Ngân hàng Nhà nư c. M t s “tròng trành” g n ây c p qu n lý vĩ mô trong th i kỳ h i nh p sâu hơn h u WTO. l m phát Vi t Nam ch y u xu t phát t các nhân . N n kinh t Vi t Nam ang nóng. m t khác i u ch nh và ưa th trư ng nhà t vào vòng tr t t . ư c giao nhi m v i u ph i chính sách vĩ mô và m b o k cương trong khu v c nhà nư c. Thành viên c a cơ quan này ph i ư c l a ch n d a theo năng l c. thâm h t ngân sách và thương m i ngày càng l n. Chính ph c n th t ch t và ki m soát ch t ch các ho t ng vay thương m i trên th trư ng qu c t c a khu v c nhà nư c. h tr phát tri n chính th c và ki u h i. C n phân tích th t c n th n nh ng chương trình u tư công hi n t i. k t h p v i quát trình n i l ng ki m soát i v i ho t ng c a khu v c dân doanh trong nư c ã giúp Vi t Nam m r ng và tăng cư ng quan h kinh t qu c t . Cơ quan này ho t ng tương t như H i ng Phát tri n Kinh t c a Sing-ga-po và c a m t s nư c khác trong khu v c. m t m t tăng ngu n thu cho ngân sách. Chính sách này c n ư c k t h p v i m t c i cách tri t v quy ho ch vùng và các quy nh liên quan n quy n s d ng t sao cho các quy nh pháp lu t tr nên minh b ch và có tính gi i trình cao hơn. bao g m m t s th ng c ngân hàng trung ương trong khu v c và m t s chuyên gia k thu t qu c t ã t ng làm vi c t i các nư c ông Nam Á. Các quy t nh này có th ư c xem xét l i m t cách nh kỳ cho n khi các i u ki n kinh t vĩ mô c a Vi t Nam ư c bình n tr l i. Cơ quan này s báo cáo tr c ti p cho Th tư ng Chính ph và ph i ư c b o v kh i s c ép chính tr và s tác ng c a các nhóm c quy n c l i. có m c lương tương ương v i nh ng ch c v qu n tr khu v c tư. B ng ch ng là l m phát v n ti p t c gia tăng. Phân tích b i c nh kinh t vĩ mô N n kinh t vĩ mô c a Vi t Nam trong 15 năm qua tương i n nh. * Xây d ng m t cơ quan qu n lý kinh t cao c p. ng th i. i u này òi h i s góp ý và tư v n c a các chuyên gia v ngân hàng trung ương. Liên k t kinh t c a Vi t Nam v i ph n còn l i c a th gi i ch y u gi i h n trong ph m vi các quan h thương m i. * C t gi m vay thương m i qu c t . * Gi m bong bóng b t ng s n.

l i không ư c s d ng m t cách hi u qu s n xu t ra hàng hóa và d ch v thì s d n t i tình tr ng “quá nhi u ti n nhưng quá ít hàng”. y t cơ s và y t c ng ng. cơ s h t ng ô th v. gi m chi phí. Malaysia… cũng u ph i ch u s c ép tương t . tín d ng. M t nhân t quan tr ng nh hư ng n l m phát là kỳ v ng c a các tác nhân trong n n kinh t . Chính ph cũng c n u tư m nh m cho giáo d c ti u h c và trung h c cơ s . chi n lư c tăng trư ng d a vào u tư c a Vi t Nam (t c là duy trì t l u tư n i a cao hơn t l ti t ki m n i a) ã y n n kinh t vư t quá gi i h n hi n t i c a nó. T ng lư ng v n t bên ngoài ch y vào n n kinh t trong năm 2007 ư c 2 ch ng lên t i 22 . Chính ph c n tìm cách khuy n khích s tham gia c a khu v c tư vào vi c cung ng các cơ s h t ng thi t y u có th tăng cung.v… Không nên s d ng nh ng ngu n u tư công khan hi m th c hi n các d án mà khu v c tư s n sàng tham gia như xây c u. Hình 2 trình bày m c l m phát danh nghĩa và l m phát kỳ v ng c a Vi t Nam. và l m phát là h qu t t y u. nâng cao ch t lư ng. Tuy nhiên. Vì v y. và u tư u t m c k l c. ư ng có thu l phí. Như v y. Thái Lan. ng th i. cung ti n tăng t ng c ng 135% nhưng GDP ch tăng 27%. Hình 1: Ch s giá tiêu dùng Vi t Nam và m t s nư c trong khu v c (2007) 1 Nguyên nhân chính c a l m phát là m c dù n n kinh t kém hi u qu nhưng l i ph i h p th m t lư ng v n quá l n.23 t USD (tương ương 30% GDP) .t ch quan. nâng cao hi u qu c a u tư ph i ư c xem là m t m c tiêu quan tr ng hàng u trong trung h n. chính ph c n khôi ph c l i s cân b ng vĩ mô ngay l p t c b ng cách gi m t l u tư công. C th là trong 3 năm (t 2005 n 2007). Trung Qu c và . trong ó m t t l r t l n ư c dành cho các DN nhà nư c kém hi u qu . u tư công c n ư c t p trung vào các d án có kh năng tháo g nh ng “nút th t c chai” c a tăng trư ng mà không ư c phép phung phí vào nh ng d án tuy hoành tráng nhưng không em l i hi u qu kinh t . Chính ph c n ti p t c u tư phát tri n h th ng c ng bi n và ư ng b k t n i các nhà xu t kh u Vi t Nam v i th trư ng th gi i. tăng cung ti n. ng th i. Khi lư ng ti n ó vào n n kinh t quá nhi u. l m phát các nư c này l i th p hơn m t cách áng k so v i Vi t Nam (xem Hình 1). có tính cơ c u c a n n kinh t vì n u l m phát ch y u do giá th gi i tăng thì các nư c khác như Trung Qu c. Trong th i gian trư c m t.

m c dù m c tăng cung ti n x p x v i t c tăng trư ng GDP th c. trong khi ó Vi t Nam l m phát kỳ v ng cao hơn r t nhi u so v i l m phát danh nghĩa. T i sao giá t l i cao và tăng nhanh như v y? Nhu c u th c s c a ngư i dân xu t phát t quá trình ô th hóa và m c s ng gia tăng là m t nguyên nhân quan tr ng. Giá t m t s khu v c nông thôn gi ây cũng ã tăng nhanh m t cách không th ch p nh n ư c. Th hai. Nh ng nguyên nhân quan tr ng hơn d n t i tình tr ng bong bóng giá b t ng s n bao g m. Hi n nay Vi t Nam có quá nhi u d án u tư công kém hi u qu ch y u vì nh ng d án này nh m ph c v các m c tiêu chính tr và hành chính hơn là kinh t . ây là m t b ng ch ng v m c bong bóng c a giá b t ng s n các ô th c a Vi t Nam. giá t v n ti p t c tăng r t nhanh trong năm 2007. ti n tham nhũng và th t thoát trong u tư xây d ng cơ b n v. thu nh p trên u ngư i th p hơn t i 50 l n.Thái Lan. ngu n ti n trong n n kinh t quá d i dào (do tăng cung ti n. Tuy nhiên.40 năm may ra m i có th mua ư c m t căn h v i di n tích và ch t lư ng v a ph i. ki u h i. Bong bóng b t ng s n So v i Nh t B n.v…) trong . H Chí Minh như hi n nay thì ngay c nh ng ngư i ư c coi là có thu nh p cao trong xã h i (nh ng ngư i ph i óng thu thu nh p cao. chi m 0. ho t ng u tư công c n có tính ch n l c cao hơn. ng th i bán các công c n b ng ti n ng gi m lư ng ti n trong lưu thông.4% l c lư ng lao ng) cũng ph i ti t ki m 30 . Hình 2. nh m vào các d án t o ra tăng trư ng s n lư ng cao nh t cho m i ơn v v n u tư. Lưu ý r ng Thái Lan và Trung Qu c. tăng cung tín d ng u tư b t ng s n. Thái Lan. 2. Th nh t. ây không ph i là nguyên nhân quan tr ng nh t vì n u th giá nhà t ph i tương ng v i m c thu nh p c a ngư i dân. l m phát danh nghĩa x p x v i l m phát kỳ v ng. L m phát danh nghĩa và l m phát kỳ v ng Nh ng phân tích v l m phát trên ây d n t i hai khuy n ngh chính sách trư c m t. Ngân hàng Nhà nư c Vi t Nam c n “thu h i” các dòng v n ch y vào. Th nh t. v i giá nh t Hà N i và TP. th nhưng giá nhà t ô th hai nư c l i có khi tương ương nhau. Th nhưng. th nhưng chính nh ng b t n chính tr nư c này làm cho l m phát lên t i kho ng 5% vì ngư i dân không mu n gi ti n B t. Vi t Nam có di n tích t sinh ho t trên u ngư i l n hơn. Không nh ng th .

Trong khi ó. m t ng thái ch c ch n s làm suy gi m năng l c c nh tranh c a các doanh nghi p này. M t l a ch n khác là gi n nư c ngoài. ngư i ta v n còn c m nh n ư c dư ch n c a nó. 3 và n t n bây gi . Bong bóng b t ng s n ti m n nhi u nguy cơ nghiêm tr ng i v i n n kinh t . d tr ngo i h i óng vai trò “gi m s c”. Tình tr ng m t cân b ng cung c u t t y u y giá nhà t lên cao. d tr ngo i h i c a Vi t Nam thu c lo i th p nh t trong khu v c. i u này có nghĩa là cân b ng ư c tài kho n vãng lai thì trong năm 2008. i u này c bi t quan tr ng trong i u ki n hi n nay khi Vi t Nam ang b thâm h t thương m i n ng n . m t t l quá cao. thâm h t thương m i 5 . nhu c u u cơ tăng m nh thì ngu n cung nhà và t l i h n ch . Bong bóng b t ng s n cũng gây ra nh ng r i ro áng k cho h th ng tài chính c a Vi t Nam. Vì v y. 4.10% ư c coi là áng lo ng i. Th hai. h u như không ai bi t m t cách tương i chính xác v quy mô c a nh ng kho n vay có s d ng t làm v t th ch p. t m c 17 t USD. Tương t như v y. V i nh ng y u kém hi n nay c a h th ng tài chính Vi t Nam. trong khi c nhu c u th c. M c dù khi y ngân hàng v n n m gi các kho n th ch p b ng t. hay nh ng bi n ng v c u trên th trư ng qu c t . r t có th Vi t Nam s ch u nh ng tác ng tương t nhưng v i h u qu còn n ng n hơn so v i Nh t B n. Như chúng tôi ã phân tích trong L a ch n thành công. tuy nhiên lãi su t thu ư c hi n ang th p hơn m c l m phát. thâm h t ngân sách c a Vi t Nam ã lên t i 5.25% t ng ngân sách. D tr ngo i h i còn giúp “ i u hòa” nh ng bi n ng c a các dòng lưu chuy n v n. Nói cách khác. m t th trư ng xu t kh u. nh ng ngư i i vay này s m t kh năng tr n .8% GDP. và c bi t. i u ki n bình thư ng. nhưng v i giá tr ch b ng m t ph n giá tr c a kho n ã cho vay. chi phí cơ h i c a vi c gi d tr không nh . n u vì lý do nào ó các dòng v n này o chi u thì n n kinh t c a Vi t Nam s ng trư c nh ng r i ro khôn lư ng. Câu h i t ra cho các nhà làm chính sách là li u m c d tr như v y ã thích h p ch a? M t m t. giúp n n kinh t ch ng ư c các cú s c trong thương m i qu c t như giá hàng xu t kh u gi m (hay giá hàng nh p kh u tăng). các ngân hàng thương m i c a Vi t Nam cho các nhà u cơ và phát tri n b t ng s n vay d a trên tài s n th ch p là t v i giá ã ư c th i ph ng thì t n t i m t nguy cơ là khi giá t “h cánh”. M t khác. tương ương v i kho ng 20% GDP. nh ng kho n chi ngoài ngân sách trong m y năm g n ây lên t i 20 . N u không có dòng v n u tư và vi n tr nư c ngoài vào t trong m y năm tr l i ây thì tình tr ng thâm h t ngân sách và thương m i m c nghiêm tr ng như th này t t y u s d n t i nh ng s v trong n n kinh t vĩ mô. m t ph n r t l n ngu n l c c a n n kinh t b chuy n sang m c ích phi s n xu t có tính u cơ và không t o ra giá tr gia tăng cho n n kinh t . thâm h t ngân sách 3% ư c coi là áng lo ng i. D tr ngo i h i Như miêu t trong Hình 3. M t th c t h t s c áng lo là hi n nay. Thâm h t ngân sách và thâm h t thng m i Theo kinh nghi m qu c t . thông tin chính xác và c p nh t là m t yêu c u thi t y u có ư c nh ng chính sách úng n và hi u qu . Vi t Nam ph i thu hút ư c . còn 5% thì b coi là áng báo ng. Hi n nay. 3. i u ki n bình thư ng. Hơn th . ư c tính thâm h t thương m i c a Vi t Nam trong năm 2008 còn cao hơn năm 2007. t c là kho ng 16% GDP. N u. và trên th c t i u này ã x y ra. M c thâm h t hi n nay c a Vi t Nam có th b coi là áng báo ng. thâm h t thương m i c a Vi t Nam năm 2007 ư c ch ng 12 t USD. doanh nghi p Vi t Nam ( áng k nh t là các t p oàn và doanh nghi p nhà nư c) ang di chuy n ngu n l c t các lĩnh v c kinh doanh nòng c t sang ho t ng u cơ b t ng s n. Hi n tư ng này ã x y ra Nh t vào u nh ng năm 1990 gây nên nh ng o l n trong h th ng tài chính c a nư c này.khi ó l i nhu n t u cơ t ai l i h p d n hơn b t kỳ m t ho t ng u tư s n xu t nào khác. Không nh ng th . Cũng theo kinh nghi m qu c t .

ba b và cơ quan ngang b có trách nhi m ho ch nh chính sách vĩ mô là B Tài chính. Hi n nay. m i b n tâm l n nh t là huy ng và phân b v n cho các d án ã ư c phê duy t và ch ki m soát ư c (m t ph n) các kho n chi thư ng xuyên. lãi su t th c âm làm cho các tài s n tài chính tr nên kém h p d n và do v y khuy n khích các nhà u tư chuy n t tài s n tài chính sang b t ng s n và vàng. M c dù Vi t Nam không th tăng t l d tr ngo i h i lên m c c a các nư c trong khu v c trong ngày m t ngày hai. Hình 3. Trong năm 2007. Vi t Nam nên t n d ng cơ h i này tăng cư ng d tr phòng khi “th i ti t x u”. . K t qu là lãi su t th p hơn m c l m phát khi n cho lãi su t th c tr nên âm. Tuy nhiên. B K ho chu tư (B KH T). có th nói là B Tài chính chưa ki m soát t t chính sách ngân sách. d tr ngo i h i c a Vi t Nam tương ương m t ph n ba kim ng ch nh p kh u. D tr ngo i h i cu i năm 2007 (ph n trăm c a kim ng ch nh p kh u) III. ngay c khi l m phát tăng nhanh thì NHNN cũng không ư c phép i u ch nh lãi su t. B KH T thu n túy làm công vi c t ng h p các k ho ch u tư mà không lưu ý m t cách thích áng t i tình hình vĩ mô chung c a n n kinh t .17 t USD t ngu n v n bên ngoài. N u nh p kh u ư c th c hi n theo úng k ho ch nhưng các dòng v n nư c ngoài l i suy gi m (hay t i t hơn o chi u) thì vi c qu n lý n n vĩ mô s tr nên h t s c khó khăn. m c dù có t l v n nư c ngoài ng n h n th p hơn Vi t Nam nhưng d tr ngo i h i c a Thái Lan. H n ch có tính cơ c u c a các cơ quan i u hành vĩ mô H th ng qu n lý kinh t c a Vi t Nam chưa tương thích v i m t n n kinh t h i nh p toàn c u. Trong khi ó. cơ quan này không ư c phép quy t nh lư ng cung ti n và cung tín d ng như “thiên ch c” v n có c a các ngân hàng trung ương trên th gi i mà ch có th s d ng m t s ít các công c (như t l d tr b t bu c và các quy t nh và ch th có tính hành chính) không th c s h u hi u khi ph i i di n v i nguy cơ l m phát. và Ngân hàng Nhà nư c (NHNN) chưa ph i h p v i nhau m t cách hi u qu . Rõ ràng là các nư c này ã rút ra ư c bài h c t cu c kh ng ho ng 1997 v vai trò quan tr ng c a d tr ngo i h i trong vi c “b o hi m” cho n n kinh t ch ng l i nh ng thay i b t l i trong n n kinh t n i a hay toàn c u. ng th i t l chi ngoài ngân sách hi n ang r t cao. V phía NHNN. Vào th i i m cu i tháng 12/2007. v i r t nhi u các kho n chi xu t hi n dư i d ng u tư. và Malayxia lên t i hai ph n ba. nhưng trong i u ki n thu n l i khi dòng v n vào ang sung mãn như hi n nay. th m chí ba ph n tư kim ng ch nh p kh u c a m i nư c. n lư t mình. In ônêxia. i v i B Tài chính.

B ng 1: H th ng qu n lý kinh t vĩ mô b t c p và thi u Cơ quan Ch c năng i my u ng b C n thay i * Tăng cư ng tính c l p cho NHNN * S d ng y các công c c a chính sách ti n t * Gi m cung ti n và tín d ng * Lãi su t th c dương * M r ng biên c a ti n ng giao d ch Xây d ng và th c Ngân hàng Thi u tính hi n chính sách hành chính Nhà nư c ti n t c l p. Vi t Nam không th ti p t c ho ch nh chính sách kinh t vĩ mô v i gi nh r ng các dòng v n nư c ngoài ti p t c vào Vi t Nam như hi n nay. ki m soát chi trong thu chi ngân sách ngân hàng thư ng xuyên kém. ho c c u i v i s n ph m xu t kh u c a Vi t Nam ti p t c gia tăng v i t c như hi n nay. S o chi u b t ng c a dòng v n ng n h n nư c ngoài có th d n t i m t s i u ch nh sâu s c c a n n kinh t trong nư c. * Tăng cư ng minh b ch hi n chính sách Không ki m soát ư c chi tiêu ngân sách. Vi t Nam c n m t chính sách vĩ mô c n trong hơn giúp n n kinh t có s c ch ng d o dai hơn i v i nh ng thách th c c a kinh t toàn c u. c bi t trong i u ki n hi n nay khi n n kinh t toàn c u ang bư c vào m t giai o n b t n. IV. chi ngoài ngân sách quá nhi u * M r ng cơ s thu ( c bi t là thu nhà t) * Xây d ng khuôn kh chung cho ngân sách * Lo i b các d án u tư công lãng phí B K * Th m Phân b v n và ngu n l c theo các tiêu th c chính tr thay cl p ho ch và Phân b ngu n v n vì kinh t u tư nh u tư công * Quy t nh u tư d a trên phân tích chi phí . Ph thu c quá m c vào các bi n pháp * Tăng cư ng ho t ng giám sát và i u ti t khu v c ngân hàng * Gi m thâm h t ngân sách * ưa t t c các kho n chi vào trong ngân sách B Tài chính Xây d ng và th c Thi u chi n lư c h u hi u v ngu n thu ngân sách. nh ng i u ch nh mà h th ng qu n lý vĩ mô c a Vi t Nam hi n nay chưa có kh năng th c hi n. Khuy n ngh chính sách .l i ích th t minh b ch Nh ng v n ư c phân tích trên là r t áng lo ng i.

c bi t là gi m l m phát (thông qua gi m t c tăng cung ti n và tín d ng). Cũng c n nh n m nh thêm r ng. trong i u ki n hi n nay. Vi c th c hi n nh ng chính sách i u ch nh vĩ mô ư c xu t dư i ây s không d dàng. M c tiêu kinh t l n nh t c a năm 2008. không th ch i u ch nh m t chính sách trong khi gi nguyên các chính sách còn l i.3. làm tăng cung ti n. Nói cách khác. c a n n kinh t . Th nhưng. có tính dài h n và bao trùm là gi i phóng m t cách toàn di n và tri t s c s n xu t và nâng cao năng l c c nh tranh c a doanh nghi p. và như chúng tôi s ch ra ph n dư i. Ch ng h n như gi m t ng c u thì m t trong nh ng chính sách có th áp d ng là tăng lãi su t (duy trì lãi su t th c dương). Lưu ý là trong i u ki n hi n nay c a Vi t Nam. Tăng c ng s ph i h p gi a chính sách ti n t và ngân sách Trong i u ki n n n kinh t ang quá nóng như hi n nay. khi n n kinh t ã ư c h nhi t). Chính sách ti n t và ngân sách ph i ư c ph i h p nh p nhàng và ng b v i nhau. ch t giá linh ho t cũng s không giúp c i thi n tình hình vì ti n ng tăng giá s khuy n khích nh p kh u. m b o lãi su t th c dương.thu hút thêm v n nư c ngoài c th ư c l p l i.Ph n này trình bày m t s khuy n ngh chính sách có tính nh hư ng nh m gi m l m phát và tăng cư ng s n nh kinh t vĩ mô. Cũng c n nh n m nh thêm r ng vi c c t gi m u tư công . gi m thâm h t cán cân thương m i. s nh p nhàng và ng b này ch có th có ư c n u như chúng ư c i u ph i b i m t cơ quan ho ch nh chính sách cao c p duy nh t. và do v y. Ch ng h n như. B ng 2: M t s m c tiêu vĩ mô nên th c hi n trong năm 2008 N i dung 2007 M c tiêu năm 2008 Tăng h t ngân sách 5. i u này ã tr nên khó khăn hơn trong b i c nh h i nh p qu c t .5% + 1-2% T l u tư công/GDP Hơn 20% 10 .10% Lãi su t th c . i v i Vi t Nam. chính ph c n ph i h p chính sách ti n t và ngân sách gi m t c tăng trư ng c a t ng c u.v n có quan h m t thi t v i thâm h t ngân sách. ây cũng chính là v n c a các nư c ông Á trư c khi x y ra kh ng ho ng 1997. tăng trư ng tín d ng l i ph thu c vào chính sách u tư công .40% Dư i 20% Thâm h t thương m i/GDP 16% 5 . Chính sách th t ch t ti n t s không phát huy tác d ng n u ngân sách ti p t c ư c n i r ng. Th nhưng lãi su t cao hơn s có th thu hút thêm v n nư c ngoài. tác ng tiêu c c t i xu t kh u và làm tr m tr ng thêm tình tr ng thâm h t thương m i. chính ph v n ph i ưu tiên các d án có m c sinh l i cao thay vì các d án thu n túy ph c v m c tiêu chính tr (m c dù ây là vi c có th ph i làm trong dài h n. n lư t mình. gây thêm áp l c tăng lãi su t i v i Ngân hàng Nhà nư c. ng th i cũng là nhi m v c p bách trư c m t là th c hi n ngay các bi n pháp bình n kinh t vĩ mô (B ng 2). S thành công c a chính sách bình n cũng s giúp tăng cư ng ni m tin c a các nhà u tư vào năng l c i u hành vĩ mô c a chính ph . 1. th t ch t chi tiêu c a nhà nư c (thông qua i u ch nh u tư công). Bên c nh vi c gi m u tư công. và vòng xoáy tăng lãi su t . gi m thâm h t ngân sách. trong khi th c hi n nh ng m c tiêu bình n vĩ mô có tính c p bách này thì cũng không ư c sao nhãng m c tiêu cơ b n. và nh ó duy trì ư c dòng v n u tư n nh m t cách lâu dài.15% 4 Nh ng i u ch nh vĩ mô ư c li t kê trong B ng 2 có m i quan h ch t ch v i nhau.8% Dư i 5% Tăng cung ti n và tín d ng 30 . n n kinh t bu c ph i hy sinh m t ph n tăng trư ng ng n h n il ys n nh và b n v ng dài h n. Như v y. nh t là khi chúng có th làm gi m t c tăng trư ng GDP c a năm 2008. m c dù l m phát và nh p siêu Vi t Nam có nguyên nhân ti n t (do cung ti n và tín d ng tăng quá nhanh) nhưng cũng ph i th y r ng. th c hi n ư c các bi n pháp i u ch nh vĩ mô thì các cơ quan ho ch nh chính sách c a Vi t Nam c n ph i ph i h p v i nhau m t cách nh p nhàng.

N u cu c kh ng ho ng này càng m t x u i (mà có nhi u kh năng i u này s x y ra) thì h qu i v i Vi t Nam s khá nghiêm tr ng vì ba nguyên nhân l n sau: Th nh t. vi c tuy n d ng. C n nh n m nh r ng vi c xây d ng năng l c phân tích và ho ch nh chính sách c n thi t c i thi n tình hình cho n n kinh t vĩ mô c a Vi t Nam s không th th c hi n ư c n u chính ph ti p t c s d ng h ch tuy n d ng và ãi ng nhân s hi n t i. và nhân s . cơ quan ho ch nh chính sách cao c p này ph i có th m quy n cao hơn các b ban ngành. b nhi m.Th ba. làm ư c i u này. Ngân hàng Nhà nư c c n theo dõi th t sát và báo cáo v i chính ph ngay l p t c m i d u hi u o chi u c a dòng v n u tư gián ti p. và t t nhiên là c các t p oàn kinh t nhà nư c. ng th i c u trúc qu n lý l i b t c p có th v n hành như m t ngân hàng trung ương th c th . c l p cho Ngân hàng Nhà n c 3. cơ quan ho ch nh chính sách kinh t cao c p ph i có th tr lương tương ương v i khu v c tư nhân. 2. Tình tr ng này b t ngu n t các y u t chính tr và k thu t. mà ây l i là th trư ng xu t kh u l n nh t c a Vi t Nam. V m t chính tr . tăng nh p kh u và do ó làm x u thêm tình tr ng thâm h t thương m i c a Vi t Nam. Ngân hàng Nhà nư c thi u tính c l p có th th c hi n các chính sách thu n túy d a vào các tiêu chí nghi p v và ít ch u nh hư ng c a s c ép bên ngoài. Vì lý do này. th m chí suy thoái thì ngư i dân M s c t gi m tiêu dùng. Th m chí Ngân hàng Nhà nư c thi u t tin ngay c i v i các công c chính sách c a mình. V m t k thu t. có th duy trì s nh t quán và n nh trong h th ng chính sách vĩ mô. Trong khi ó. Th hai. có th thu hút và gi chân ư c nh ng ngư i th c s gi i. Trong trư ng h p x y ra kh ng ho ng. nhi u nhà u tư tài chính s ph i rút ti n kh i Vi t Nam. và i u này m t m t c n tr s ph i h p hi u qu gi a các cơ quan ho ch nh chính sách. Xây d ng m t c quan ho ch nh chính sách kinh t cao c p Chúng tôi cho r ng t i th i i m hi n nay. K t năm 1997. Tăng c ng năng l c và tính Hi n nay. công c . tài chính. Cho dù cơ quan này s ư c thành l p m i hay hình thành t m t cơ quan có s n t trư c thì nó cũng ph i th u hi u n n kinh t n i a và qu c t . h u như t t c các nư c ông Nam Á ã tăng cư ng tính c l p cho ngân hàng trung ương c a h v i các m c khác nhau. cơ quan này cũng c n ư c trao quy n ình ch hay c t gi m nh ng d án u tư công chưa th c s c n thi t hay lãng phí. và c t nh c trong cơ quan này ph i tuy t i d a vào năng l c. th m quy n ra quy t nh chính sách quá phân tán. ng th i có th m quy n bi n hi u bi t này thành nh ng chính sách c th . Các bi n pháp hành . năng l c c a Ngân hàng Nhà nư c cũng còn r t h n ch . do thua l trên các th trư ng khác. d vào mà cũng d ra. ng USD s tr nên y u i so v i VN .cũng s không giúp gi m l m phát n u như dòng v n vào không ư c “thu h i” m t cách hi u qu và n u lãi su t th c v n ti p t c âm. m t khác gây khó khăn cho các nhà lãnh o cao nh t khi h ph i ph n ng m t cách quy t toán n u kh ng ho ng x y ra. N n kinh t và h th ng tài chính c a Vi t Nam hi n nay ã m hơn r t nhi u so v i trư c và vì v y ch u nh hư ng c a nh ng bi n ng trong n n kinh t th gi i. Ngân hàng Nhà nư c Vi t Nam v n thi u tính c l p trên c b n phương di n quan tr ng là m c tiêu. i u này c bi t áng lo ng i khi m t t l r t l n trong ngu n v n u tư gián ti p vào Vi t Nam là nh ng kho n u cơ tài chính ng n h n. M t trong s nh ng bi n ng quan tr ng này là ph m vi và m c c a kh ng ho ng tín d ng b t ng s n dư i chu n c a M . chính quy n a phương. khi n n kinh t c a M tăng trư ng ch m l i. d n t i gi m xu t kh u. và do v y ph i vi n n các bi n pháp qu n lý mang n ng tính hành chính (ch ng h n như Quy t nh 03 v tín d ng u tư ch ng khoán). 5 Vi t Nam c n t p trung th m quy n ho ch nh chính sách trong tay m t cơ quan duy nh t . Ngân hàng Nhà nư c Vi t Nam không th m quy n và công c chính sách. Quan tr ng không kém.

chính này ph n chi u tư duy “k ho ch hóa t p trung” i v i chính sách ti n t không còn thích h p v i n n kinh t th trư ng và toàn c u gi ây ã tr nên ph c t p hơn trư c r t nhi u.20 năm tr l i ây.Ki m soát ch t các d án vay thương m i trên th tr ng tài chính qu c t c a các t p oàn. Bên c nh ó. nhưng i u này cũng có nghĩa là ho t ng c a Ngân hàng Nhà nư c s tr nên minh b ch và có trách nhi m hơn. Cách t t nh t xì hơi bong bóng là ánh thu b t ng s n. H ã cơ c u l i t ch c. M t s ngân hàng trung ương trong khu v c ASEAN như Ngân hàng Trung ương Sing-ga-po (Monetary Authority of Singapore) và ngân hàng Trung ương Ma-lai-xia (Bank Negara Malaysia) có th giúp Ngân hàng Nhà nư c Vi t Nam tìm ư c nh ng chuyên gia thích h p. tránh xung t l i ích và m b o tính b o m t và làm ch chính sách khi thuê chuyên gia nư c ngoài. u tư công kém hi u qu là m t nguyên nhân gây ra l m phát. sau ó công khai hóa các 5. Ho t ng c a ngân hàng trung ương trên th gi i ã có nh ng thay i cơ b n trong 15 .Th c hi n ho t thông tin v th m ng th m nh và ki m toán nh và ki m toán này.Xây d ng danh m c các d án ưu tiên u tư căn c theo tiêu th c hi u qu kinh t . khi n m t s ngân hàng phá s n. Gi m bong bóng b t Bong bóng b t ng s n ang là m t m i e d a cho s n nh kinh t và chính tr c a Vi t Nam. N u bong bóng v như trong cu c kh ng ho ng năm 1997 . ng s n u tư công c l p. Qu n lý ngân hàng trung ương trong n n kinh t th trư ng hi n i là m t ho t ng có tính chuyên môn hóa r t cao. ng th i. . hay d án u tư công. và phát tri n cơ s h t ng c n ư c công khai m c cao nh t tránh tình tr ng quan ch c nhà nư c c u k t v i các nhà u tư tư nhân t o ra tình tr ng khan hi m ngu n cung gi t o tr c l i. . cũng c n xây d ng các phương án d phòng khi x y ra tình hu ng x u (ch ng h n như danh m c các d án c n c t gi m khi i u ki n tr nên khó khăn). khôn ngoan nh t là “xì hơi” bong bóng m t cách t t . giá tài s n gi m t ng t s làm tăng n x u c a ngân hàng. Ki m soát u t công Như ã phân tích. nâng cao năng l c. Ngân hàng Nhà nư c nên xem xét vi c thuê chuyên gia tư v n cao c p t bên ngoài. và các ngân hàng trung ương trong khu v c ASEAN ã ph n ng l i m t cách ch ng trư c nh ng thay i này. Vì v y. Chính ph ã phê duy t m t danh sách các d án u tư công y tham v ng t nay cho t i 2015 v i t ng s v n ư c tính lên t i 70 t USD. các quy nh v quy ho ch. . H cũng ã vi n n s giúp v k thu t c a m t s chuyên gia qu c t hàng u v ngân hàng trung ương. 4. DN nhà nư c. và do v y nh hư ng tr c ti p t i n n kinh t th c. Vì v y. chính ph Vi t Nam nên t mình l a ch n và tr lương cho chuyên gia ch không nên d a vào ngu n tài tr c a các t ch c qu c t .98 thì h u qu th t khôn lư ng vì khi y. chính ph c n: . M c dù vi c thuê chuyên gia nư c ngoài khá t nhưng v n còn r hơn r t nhi u so v i cái giá ph i tr khi xây d ng m t ngân hàng trung ương mà không có s d n d t c a các chuyên gia giàu kinh nghi m. ho t ng và nhân s . s d ng t. Ngân hàng Nhà nư c c n tìm cách s d ng công c lãi su t và nghi p v th trư ng m m t cách hi u qu hơn. V phía cung. c n th t ch t và ki m soát sát sao các kho n tín d ng u tư b t ng s n và các kho n cho vay ư c th ch p b ng b t ng s n. M t s nư c ASEAN ã t ng s d ng danh m c d án ưu tiên khi n n kinh t c a các nư c này rơi vào tình tr ng b t n. m b o lư ng v n kh ng l này ư c s d ng hi u qu .