Quản lý chất thải từ các bệnh viện ở Việt Nam Thực trạng và định hướng trong tương lai

12/1/2012 3:24:47 PM

Tính đến năm 2008, Việt Nam có 13.506 cơ sởy tế, với hơn 200 nghìn giường bệnh gồm: 774 bệnh viện (BV) đa khoa, 136 BV chuyên khoa, 5 BV ngành, 83 bệnh BV tư nhấn và các hình thức khác. Việc tăng các cơ sở y tế dân đến khối lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh, trong đó có thành phần nguy hại ngày càng gia tăng. Những năm qua, đã có hàng loạt các văn bản phấp luật về bảo vệ môi trường, quản lý chất thải y tế được ban hành, tạo căn cứ phấp lý cho các cấp cơ sở quản lý chất thải y tế tại địa phương. Trong đó có các công nghệ xử lý CTR được sử dụng rộng rãi hiện nay, là những công nghệ thân thiện vôi môi trường như hấp khử khuẩn, vi sóng, giúp cho việc áp dụng quy trình tái chế chất thải, hạn chế thiêu đốt (nguồn chính phát sinh khí thải độc hại vào môi trường). Nguồn phát sinh, khối lương và thành phàn CTR y tế Hầu hết, các CTR y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược (Bảng 1).

Hiện trên cả nước, lượng CTR trung bình thải ra mỗi ngày là 0,86kg/giường bệnh, trong đó,

CTR y tế là 0. tùy thuộc số giường bệnh. . Tổng lượng CTR ở các BV trên toàn quốc lên tới 100 tấn và 16 tấn CTR y tế cần được xử lý.14kg/giường bệnh. Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau được thể hiện ở Bảng 3. Tỷ lệ này khác nhau giữa các BV. (Bảng 2)... BV chuyên khoa hay đa khoa. số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng. các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại BV.

.

Trung tâm xét nghiệm và các Labo nghiên cứu y sinh học. Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm BV. Thái Bình. người dân được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế. trung tâm lọc máu. chưa nhận thức đúng nguy cơ của chất thải BV.. nguyên nhân do: Số lượng cơ sở y tế và số giường bệnh tăng. Các ngân hàng máu. việc kiểm soát khí thải lò đốt còn gặp khó khăn. Bảng 4 trình bày kết quả khảo sát của Viện Khoa học và Kỹ Thuật môi trường về thành phần của chất thải ở một số BV đa khoa tại miền Bắc và miền Trung.). xương. chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm. việc xử lý và tiêu huy CTR y tế nguy hại cũng gặp nhiều khó khăn. có nguy cơ tiềm tàng đối với sức khỏe của con người. Thực hành y học hiện đại với nhiều phương pháp chuẩn đoán và điều trị mới. phòng khám sản phụ khoa. Còn tại các tỉnh.. việc phân loại CTR y tế chưa đúng quy định. vì có mùi khó chịu của khí thải (Thanh Hóa. cản trở vận hành lò đốt. một số lò đốt hiện phải ngừng hoạt động. Hải Phòng. lò đốt đặt tại BV tỉnh cũng xử lý CTR y tế nguy hại cho các B V khác thuộc địa bàn thành phố.. Cụ thể. trừ một số thành phố lớn như Hà Nội. do nhiều lò đốt đặt tại BV. thiết bị giảiphẫu. cơ sở y tế đến nơi xử lý. Ngoài ra. Phương tiện thu gom như túi. khi tiếp xúc với chúng... tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần. TP. Dân số tăng. CTR y tế nguy hại được xử lý và tiêu huy với những mức độ khác nhau. các BV đã tổ chức tập huấn. chủ động chuyển giao lò đốt cho Công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành và thu gom. Một số lò đốt không đạt tiêu chuẩn về nhiệt độ buồng đốt thứ cấp và khí thải lò đốt . nhân viên thu gom rác chưa có kiến thức cơ bản để phân loại rác.. Hồ Chí Minh có xí nghiệp xử lý vận hành tốt. trong cơ sở y tế. xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh. Có nơi. nhưng việc kiểm tra chưa thường xuyên. phòng khám ngoại trú. chưa đồng bộ và chưa đạt tiêu chuẩn. Ví dụ: Thái Nguyên. hầu hết cán bộ đều phải thục hiện 1 hoặc toàn bộ quy trình xử lý CTR y tế. công tác quản lý chất thải BV còn nhiều bất cập. Vận chuyển chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ BV. Mặc dù. các vật dụng và vật chất khác bị loại bỏ trong quá trình thăm khám và điều trị chuyên khoa. Các BV chưa có phương tiện thu gom và phân loại rác thích hợp để giảm thiểu chi phí.. mô tế bào người hoặc động vật. hướng dẫn cho cán bộ. Trong số các cơ sở phát sinh chất thải y tế thì nguồn phát sinh chủ yếu là các BV. thành phố. thùng đựng chất thải còn thiếu.Sự gia tăng chất thải y tế ở một số địa phương từ 2005 .2009 được thể hiện (Hình 1) CTR y tế ngày càng gia tăng. thị xã (Nghệ An). nội tạng. túi hoặc ống dẫn chứa các chất lỏng từ cơ thể. bình. Thành phần và tính chất của CTR y tế bao gồm: Kim tiêm.. thành phố khác. đặc biệt là các xe chuyên dụng. các cơ sở y tế khác như: Trung tâm vận chuyển cấp cứu. Thực trạng quản lý CTR từ hoạt động của BV Những năm qua.. tổ chúc thu gom và tiêu huy CTR y tế nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn. Phương tiện vận chuyển chất thải thiếu. Một số nơi khác. người dân và bệnh nhân phản đối. bom tiêm kèm kim tiêm.

furan. thu gom. là hoàn toàn không có yếu tố nguy hại.). Chi phí cho vận hành xử lý chất thải y tế chiếm đến 5% ngân sách Nhà nước cấp cho cơ sở y tế.Cô lập CTR y tế nguy hại tại nguồn và giảm thiểu CTR y tế nguy hại: Chất thải trong các cơ sở y tế được chia ra làm 5 nhóm gồm: Lây nhiễm. Hóa học nguy hại. tạo căn cứ pháp lý cho các cấp cơ sở quản lý chất thải y tế tại địa phương. đã có hàng loạt các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường. có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm. thủy tinh. tận dụng lò đốt đã được trang bị: Các lò đốt CTR y tế hiện nay chủ yếu có công suất nhỏ (dưới 200kg/h). kinh phí đầu tư xây mới. Khi các lò đốt hết thời gian sử dụng thì thay thế bằng công nghệ không đốt (khử khuẩn). Đặc biệt là thiếu nguồn kinh phí đầu tư. Tuy nhiên. nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế. Trong đó.Việc ứng dụng các công nghệ thay thế công nghệ thiêu đốt để xử lý CTR y tế là rất cần thiết. chì và nhiều chất độc hại khác. hạn chế thiêu đốt (nguồn chính phát sinh khí thải độc hại vào môi trường). Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới cũng như các chuyên gia cần nghiên cứu và triển khai.. việc quản lý tái chế các chất thải y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn. do vậy. lưu giữ chất thải nguy hại. đặc biệt. xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải. . nên tiến độ thực hiện của các BV còn chậm. Vì vậy. đối với các lò đốt không có bộ phận xử lý khí thải cần được đầu tư nâng cấp và lắp đặt thêm bộ phận xử lý khí thải. Bình chứa áp suất và Chất thải thông thường. công nghệ thiêu đốt CTR y tế là một trong những nguồn phát sinh chủ yếu dioxin. với nhóm chất thải lây nhiễm. Trong đó có các công nghệ xử lý CTR được sử dụng rộng rãi hiện nay. vi sóng.Cải tiến. ở nước ta vẫn còn thiếu các cơ sở tái chế chất thải.9%). có rất nhiều những vật liệu từ chất thải BV như chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%. vận chuyển.. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý CTR Những năm qua. quản lý chất thải y tế được ban hành. xử lý. Nhưng hiện nay. huyết thanh mặn (NaCl 0. Bộ Y tế đã ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế theo Quyết định số 43/2007/QĐBYT quy định chi tiết về xác định chất thải. chi phí vận hành lại rẻ hơn phương pháp đốt và tăng cơ hội tái chế chất thải. Những giải pháp về xử lý chất thải BV có thể áp dụng như: . đồng thời là nguồn thu để BV tái đầu tư cho xử lý chất thải. tiêu hủy chất thải. Trong khi. các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác. giúp cho việc áp dụng quy trình tái chế chất thải. áp dụng các công nghệ không đốt (thiết bị khử khuẩn bằng nhiệt ướt hoặc vi sóng). Quy chế đã đưa ra các nguyên tắc và điều khoản về kỹ thuật cho từng bước quản lý chất thải nguy hại (phân loại. Phóng xạ. Trước khi xử lý.. Trong Quy chế quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTR y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện. trong khi tổng chi phí cho xử lý CTR là tương đối lớn. mặc dù. thiết bị làm sạch khí không hiệu quả và không tiết kiệm được chi phí. .vượt mức tiêu chuẩn cho phép.. các dung dịch acide amine. các vật liệu giấy. lưu giữ. là những công nghệ thân thiện với môi trường như hấp khử khuẩn. vận chuyển. . 20%).. Hơn nữa. chất thải cần được phân luồng (Hình 2). phù hợp với xu hướng của thế giới. cô lập. thủy ngân. mã màu sắc các phương tiện thu gom chất thải nguy hại. thân thiện hơn với môi trường. Việc cô lập các nhóm chất thải này có thể được dựa trên tính nguy hại của chất thải. cải tạo B V còn hạn chế.

. hay các vật thể có cấu trúc "phức tạp" . rất thích hợp cho việc tận dụng để tái chế. Công nghệ sử dụng vi sóng: gồm 2 loại công nghệ. sau khi xử lý. bởi có hiệu quả khử tiệt khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh. chất thải lây nhiễm trở thành chất thải thông thường mà không bị phá hủy. với áp suất không khí thông thường. nha bào. hệ thống vận hành đơn giản hơn nhưng sẽ tốn nhiều thời gian xử lý cho mỗi mẻ. Loại sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện môi trường thông thường là tạo ra điều kiện khử tiệt khuẩn ở nhiệt độ khoảng 100°C. làm tăng chi phí vận hành của hệ thống. Toàn bộ quy trình hoạt động của công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa đều không tạo ra khói bụi. không xả nước thải. trước khi cấp hơi nước có tác dụng làm hơi nước thấm sâu và làm ướt mọi bề mặt chất thải. Sau khi xử lý khử khuẩn. Thiết bị nghiền. Loại công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa được áp dụng tại các nước công nghiệp phát triển và một số nước đang phát triển nhiều năm qua. TÀI LIỆU THAM KHẢO . Công nghệ này đã được áp dụng ở các nước đang phát triển. đồng thời hiệu quả khử tiệt khuẩn đạt mức 99. Công nghệ này thường phải sử dụng thêm hóa chất để đảm bảo hiệu quả khử. Việc làm ẩm bề mặt này có tác dụng giúp năng lượng nhiệt do vi sóng tạo ra làm nóng chất thải từ trong ra. vì rất dễ dàng phát tán mầm bệnh cho người vận hành do nghiền và vận chuyển chất thải vẫn còn lây nhiễm. cắt tách rời sẽ không an toàn. Chất thải phải được nghiền. máy nghiền cắt đều được khuyến khích sử dụng như thiết bị chọn lựa trong hệ thống. gặp khó khăn về công suất không phù hợp. virút. kể cả trong lòng khối chất thải.nhỏ dài và hẹp như kim tiêm. Do vậy..9%. Đây là loại công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Nhờ đó. cắt nhỏ trước hoặc trong quá trình xử lý bằng nhiệt ẩm thì mới đạt được hiệu quả khử khuẩn nhất định.) có trong chất thải. kết hợp với nhiệt độ và áp suất cao sẽ có tác dụng phá hủy cấu trúc tế bào và tiêu diệt tất cả các loại mầm bệnh (vi khuẩn. tiệt khuẩn được ổn định. đồng thời. Thiết bị nghiền. đó là sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện áp suất bình thường và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ áp suất cao. phải làm sạch thiết bị nghiền cắt thường xuyên. cũng không sử dụng hóa chất khử tiệt trùng. Quá trình hút không khí tạo ra môi trường chân không trong khoang xử lý chứa chất thải. kí sinh trùng . cắt có thể được thiết kế tách ròi hoặc nằm trong hệ thống xử lý bằng nhiệt ẩm.Các kỹ thuật xử lý chất thải BV theo nguyên lý công nghệ không đốt như sau: Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt âm (Autoclave): Bản chất của công nghệ này là tạo ra môi trường hơi nước nóng. với áp suất cao để khử tiệt khuẩn chất thải y tế. vì thế. Thiết bị nghiền cắt nằm bên trong thiết bị khử khuẩn. nên hoàn toàn thân thiện với môi trường. năng suất thực tế và về chí phí.

Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg ngày 22/2/2008 phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh đến 2010. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp xử lý chất thải bệnh viện ở Hà Nội (1998). there are 13.Construction University As of 2008. Nguyễn Thị Kim Thái Environment Science and Engineering . xử lý và tiêu huy chất thải nguy hại".506 medical facilities with more than 200. Some solutions are recommende . Consequent to increasing hospitals is increasing medical solid waste. Hospital waste management in Viel Nam: slatus and orienlalions Ass. Bản dự thảo Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất thải bệnh viện.000 beds. 5 sector hospitals and 83 private hospitals. Bộ Y tế. 2. 136 specialising hospitals.Prof. 3. Among those.1. focusing on hospital solidvvaste. Cục Quản lý Khám chữa bệnh. 2009. Báo cáo kết quả khảo sát chất thải từ 36 bệnh viện Hà Nội. vận chuyến. there are 774 general hospitals. This paper present current status of medical waste. lưu giữ. Nguyễn Thị Kim Thái. Dr. Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị & Khu công nghiệp (2007) Báo cáo đề tài: "Xây dựng tiêu chuẩn thu gom. WHO .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful