MÔN: LỊCH SỬ BÁO CHÍ THẾ GIỚI Đề bài: Các xu hướng phát triển của báo chí thế

giới

Giảng viên : Th.S Bùi Tiến Dũng

Hà Nội, 5/2008

MỤC LỤC
KHÁI QUÁT CHUNG...............................................................................................................................2 CHƯƠNG II – XU HƯỚNG CỤ THỂ VỚI TỪNG LOẠI HÌNH.........................................................29 TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................................89 DANH SÁCH NHÓM 6 LỚP K50 BÁO CHÍ – ĐH KHXHNV............................................................90

KHÁI QUÁT CHUNG Theo từ điển tiếng Việt (Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 1992 - trang 1135), “Xu hướng” có nghĩa là xu thế thiên về một chiều nào đó. Sự thiên về những hoạt động nào đó nhằm một mục tiêu có ý nghĩa đối với bản thân trong một thời gian lâu dài. Từ định nghĩa đó, ta có thể hiểu Xu hướng báo chí đó là xu thế thiên về một chiều hướng nào đó của báo chí, có mục tiêu, ý nghĩa và ảnh hưởng trong thời gian dài. Tác động đến hệ thống báo chí của thế giới. Báo chí từ ngày đầu ra đời đã liên tục có những thay đổi để tiến xa hơn. Từ tờ báo chỉ là những bản chép tay rồi đến những bản báo in đầu tiên và phát triển cho tới đa phương tiện như ngày nay, tất cả điều đó đều là kết quả của quá trình phát triển lâu dài với nhiều thách thức. Tùy theo điều kiện lịch sử và xu hướng của công chúng, hệ thống báo chí có những bước đi riêng của mình để đáp ứng lại những điều đó. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, báo chí cũng chịu phần nào ảnh hưởng. Việc nghiên cứu các xu hướng của báo chí thế giới sẽ góp phần hiểu rõ hơn đặc điểm, thực trạng của nền báo chí toàn cầu hiện nay. Qua đó có cách thức, giải pháp cho phù hợp với tình hình chung. Được giao tìm hiểu về các xu hướng phát triển của báo chí thế giới, nhóm 6 phát triển đề tài theo hướng tìm hiểu chung về các xu hướng đang diễn ra trên thế giới, rồi đi cụ thể vào từng loại hình báo chí. Trong quá trình tìm hiểu, nhóm cố gắng lý giải nguyên nhân và điều kiện dẫn tới các xu hướng đó và dự đoán hướng phát triển trong tương lai. So sánh các xu hướng đó với thực tại nền báo chí Việt Nam. Trong quá trình tìm hiểu sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, mong nhận được sự góp ý của thầy và các bạn.

2

CHƯƠNG I – XU HƯỚNG CHUNG CỦA BÁO CHÍ THẾ GIỚI 1. Toàn cầu hóa thông tin Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v. trên quy mô toàn cầu. Toàn cầu hóa thông tin đó là quá trình thông tin ở khắp mọi nơi trên thế giới được truyền tải liên tục, nhiều chiều và dễ dàng tới cho công chúng. Ngày nay, ở bất kì đâu bạn cũng đều có thể nắm bắt được toàn bộ thông tin của thế giới trong ngày qua. Đó là kết quả của quá trình toàn cầu hóa thông tin. Thông tin tại mọi ngóc ngách của trái đất được các hãng truyền thông cung cấp một cách nhanh chóng và chính xác tới cho mỗi công dân. Bạn đang ngồi ở nhà và có thể theo dõi tình hình đang diễn ra ở Iraq hay ở Mĩ, hay như tình hình giá xăng dầu trên thế giới hiện nay… điều sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của bạn 1.1 Điều kiện hình thành toàn cầu hóa thông tin Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trong các lĩnh vực đăng tải, in ấn tạp chí, báo, sự phát triển các công nghệ phát thanh truyền hình và đặc biệt là internet đã cho phép những thông tin từ một quốc gia có thể được biết đến trên toàn thế giới. Quá trình toàn cầu hóa thông tin được gắn với những thành tựu mới nhất trong kỹ thuật thông tin liên lạc và điện tử. Thông tin trong khoảnh khắc được truyền tải tức thời tới cho người xem và người đọc. Điều đó cho phép hàng triệu người được chứng kiến và tham gia vào các sự kiện. Mạng internet bao phủ toàn cầu, nhờ đó mà người sử dụng có khả năng nhận được thông tin cần thiết từ các hãng tin một cách dễ dàng. Sự xâm nhập của tiến bộ khoa học kĩ thuật vào các hoạt động báo chí là điều rõ ràng và dễ nhận thấy. Việc áp dụng rộng rãi kỹ thuật điện tử, truyền tải dữ liệu xuyên biên giới, việc hình thành mạng lưới thông tin toàn cầu đã góp phần đưa tin tức nhanh chóng tới công chúng. Điều đó là cần thiết cho một xã hội đang phát triển nhanh.

3

Không thể phủ nhận những thành tựu của công cuộc toàn cầu hóa thông tin đem lại. Không ai dám chắc những thông tin mà các hãng tin đưa ra không mang màu sắc chính trị. các cơ quan báo chí chỉ cần mua lại tin từ các hãng thông tấn đó là có thể có đủ tin tức trên thế giới cung cấp cho công chúng của mình. Sự kết hợp giữa thông tin toàn cầu và lợi ích khu vực làm cho hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng trở nên hữu hiệu hơn nếu xét từ góc độc hình thành và thao túng công luận. chỉ những thông tin quan trọng và có ảnh hưởng lớn mới được đề cập. quốc gia nào làm chủ được thông tin thì quốc gia đó sẽ giành chiến thắng. một nền chính trị nào đó.Một điều kiện thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa nữa là nhu cầu thông tin của công chúng ngày một gia tăng. bất kể khoảng cách từ họ tới nguồn thông tin là bao nhiêu. không thể bó hẹp thông tin trong phạm vi một quốc gia hay một khu vực. Truyền hình. Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là liệu các thông tin được toàn cầu hóa đó liệu có trung thực? Các chuyên gia đã nhận xét. Với sự chuyên biệt này. Biểu hiện thứ hai đó là thông tin ở mọi nơi được cập nhật liên tục và nhiều chiều. Nếu như trước kia. đưa ra những tin tức có lợi và theo những mưu đồ chính trị được tính toán kĩ. internet. phục vụ cho một đảng phái. thì ngày nay những thông tin về những con người bình thường ở mọi nơi đều có thể được nhắc tới. tư tưởng của công chúng tiếp nhận thông tin. Thông tin về những nhân vật nổi tiếng không còn chỉ là thông tin riêng của một quốc gia mà đã trở nên nguồn tin nóng cho những người quan tâm trên thế giới. Điều đó là dễ hiểu trong thời đại thông tin có vai trò quan trọng như ngày nay. báo chí đã và đang tác động về tình cảm. 1.2 Biểu hiện của toàn cầu hóa thông tin Biểu hiện rõ nhất là việc hình thành rất nhiều hãng thông tấn. hãng tin chuyên khai thác tin tức trên khắp thế giới rồi bán lại cho các cơ quan thông tấn trên thế giới. phát thanh. 4 . Các cơ quan báo chí muốn đáp ứng nhu cầu đó thì cần phải đẩy mạnh việc khai thác sự đa dạng của thông tin. Các chính phủ phải điều tiết các dòng thông tin trong tầm kiểm soát của họ.

với 40 thứ tiếng .000 giờ trong tuần. Có tổng số: 80 đài phát thanh ra nước ngoài. bằng 48 thứ tiếng. Một số đài tiêu biểu như : .Đài CRI (Trung quốc) phát sóng 680 giờ/ngày với 43 thứ tiếng • • • Những điểm cần chú ý về nội dung: 5 . 2. Quốc tế hóa báo chí là hình thức mà một tờ báo.2. Báo chí in ấn ở nhiều nước cùng một lúc (thí dụ Nhân dân Nhật báo của Trung quốc. các tập đoàn truyền thông. tạp chí Tuyển tập (Readers Digest) Hai nước liên kết với nhau xuất bản một số báo Cơ quan báo chí mở nhiều chi nhánh ở nước ngoài Các tập đoàn báo chí phát triển những tờ báo cho khu vực riêng với ngôn ngữ của khu vực đó.BBC của Anh phát khoảng 120 giờ/ ngày với 38 thứ tiếng . Quốc tế hóa báo chí Trong bối cảnh thông tin toàn cầu đang phát triển. các cơ quan báo chí đều muốn đẩy mạnh ảnh hưởng của mình tở các quốc gia khác. nhưng lại được phát hành ở nhiều nước trên thế giới.2 Biểu hiện của quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực phát thanh • • • • • Biểu hiện lớn nhất trong lĩnh vực phát thanh đó là xu hướng phát sóng ra nước ngoài của các tổ hợp truyền thông. Chính vì vậy mà họ cố gắng đưa tờ báo của mình ra khỏi khuôn khổ của một quốc gia. 2. phủ sóng toàn cầu.1 Biểu hiện của quốc tế hóa trong lĩnh vực báo in • Báo chí in ấn ở nước này. hoặc phát hành ở quốc gia này nhưng được bán ở quốc gia khác.VOA của Mỹ phát 2001 giờ/ tuần với 40 thứ tiếng . phát thanh tới 20.Làn sóng Đức phát 100 giờ/ ngày. ấn phẩm báo chí được phát hành ở nhiều quốc gia.

Không đưa ra đầy đủ những mặt trái.Những nội dung cần chú ý trong thông tin của các nước tư bản qua đài phát thanh: • • • • Mô tả các nước tư bản giàu có thanh bình. Số lượng ấn phẩm báo ảnh càng ngày càng phát triển Liên kết các hãng thông tấn quốc tế 2.Đài phát thanh ra nước ngoài của các nước không có lợi cho nước chủ nhà về mặt kinh tế nhưng quan trọng về mặt chính trị nên được nhà nước quan tâm . 2..Về cơ cấu tổ chức có nét đặc biệt (có phòng PR . mặt tiêu cực của xh TBCN để công chúng phê phán Đồng nhất mục tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa với chủ nghĩa cộng sản Phê phán chủ nghĩa Mác . âm thanh.5 Biểu hiện của quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực báo mạng Hình thành những trang web của các cơ quan báo chí.4 Biểu hiện của quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực thông tấn • • • • • • • • Thu thập thông tin nước ngoài đầy đủ. chính xác là nghĩa vụ và trách nhiệm của các hãng thông tấn Đa dạng hóa các loại hình thông tin: hình ảnh. đài truyền hình cho châu lục. tăng cường các chiến lược diễn biến hòa bình 2. ban dạy tiếng nước ngoài) ..nghiên cứu nhu cầu công chúng.. chống phá các nước XHCN. là mô hình của nhiều nước vươn tới. hoăc đài của các tập đoàn báo chí dành riêng cho khu vực. 6 . các văn bản.3 Biểu hiện quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực truyền hình • Lợi thế của thông tin trong lĩnh vực truyền hình đó là sử dụng hình ảnh Xu thế nhiều đài truyền hình trên thế giới phát các chương trình truyền hình đối ngoại Tăng cường các chương trình phát hình gắn với lồng tiếng hoặc có chữ dịch hiện trên màn hình Hình thành nhiều đài truyền hình của khu vực.

Đó là một quá trình mà các cơ quan báo chí tìm cách tăng thu nhập cho mình bằng các hoạt động kinh tế khác bên cạnh việc kinh doanh các loại hình báo chí thông thường. các phương tiện thông tin đại chúng trở thành những doanh nghiệp tư bản sinh lời. Tất cả những điều đó để lại dấu ấn trong hoạt động báo chí hằng ngày và hoạt động của những tổ chức hữu quan.• • Các phiên bản của báo in được cập nhật thông tin nhanh chóng Hình thành những dịch vụ thông tin mới như chat. Có nhiều người cho rằng không nên dùng từ thương mại hóa đối với báo chí. những nguồn thu của báo chí định kỳ chủ yếu đến từ quảng cáo chứ không phải từ số lượng phát hành nên những tổ chức đặt in quảng cáo bắt đầu hướng đến những ấn phẩm có số lượng phát hành cao nhất. Điều đó làm cho các nhà báo phải thay đổi nội dung và cách trình bày ấn phẩm. 3.1 Điều kiện hình thành thương mại hóa báo chí Sau cuộc “cách mạng thương mại” những năm 1830 – 1840. vượt qua mọi trở ngại về không gian và thời gian. thâu tóm các khâu trong quá trình làm báo: in ấn. • • 7 . thư điện tử. vì vậy bản thân chúng cũng chịu sự tác động của tất cả các quy luật của hoạt động kinh doanh: cạnh tranh và hạn chế cạnh tranh. tập trung hóa. phát hành… phát triển thêm các dịch vụ giá trị gia tăng trên tờ báo hoặc cũng có thể tham gia và các lĩnh vực kinh tế khác. Thương mại hóa báo chí Khái niệm thương mại hóa báo chí hiện nay vẫn còn có nhiều tranh cãi. Đó có thể là các hoạt động quảng cáo cho các sản phẩm. thông tin rác rưởi. điện thoại qua mạng Thông tin nhanh chóng. độc quyền hóa và những luật lệ khác. Chính vì sau “cuộc cách mạng thương mại”. 3. vì điều đó có thể gây hiểu sai là các tờ báo đang “lá cải hóa” Tuy nhiên nhóm cũng xin tự đưa ra cách hiểu của mình về “thương mại hóa báo chí”. thông tin không có độ tin cậy. Cần có trình độ cao để có thể loại bỏ thông tin nhiễu.

Ở Mỹ. Báo chí cũng nhận ra điều đó. Nếu chỉ xét về phương diện kinh tế của vấn đề thì cần nêu rõ rằng để đạt được mức sinh lời cao khâu quản lý ở các báo và tạp chí. Nhu cầu về buôn bán hàng hóa tiêu dùng.Những khoản tiền đóng góp từ bên ngoài. cho vay hay đi vay. mục đích thương mại của báo in đã rất rõ rằng. các đài phát thanh truyền hình cũng phải được xây dựng theo những nguyên tắc giống như những nguyên tắc trong điều hành các doanh nghiệp. Hoạt động tổ chức của mọi phương tiện thông tin đại chúng đều nhằm đạt được hiệu quả cao về phương diện kinh tế .tài chính. cho thuê hay đi thuê. 8 .Những khoản thu từ các hoạt động thương mại dưới các hình thức khác . đã tự cho mình là phục vụ tất cả những ai trong hay ngoài thành phố muốn mua bán. cũng như các phương diện tư tưởng. hầu như mọi lĩnh vực nghề nghiệp đều chịu ảnh hưởng của lợi ích về quảng cáo và thương mại. Nhà tài phiệt truyền thông như Rupert Murdoch đã cho chúng ta thấy kinh doanh từ các loại hình truyền thông đem lại lợi nhuận khổng lồ như thế nào. Và nền tảng cho những khoản thu bằng tiền này là khoản thu từ quảng cáo đem lại. 3. Từ khi khai sinh. thương mại đó là một yếu tố tiên quyết của báo chí. trong thời gian thuộc địa.Những khoản thu tài chính từ quảng cáo - Những khoản thu nhờ bán báo. theo nhà nghiên cứu Anthony Smith. đặc biệt thông tin về những tuyến tàu chở hàng từ bên kia đại dương đã để lại kết quả là các tờ báo ban đầu hầu hết gắn với từ “người quảng cáo” (Advertiser) trên vi-nhét. Họ nhận ra vai trò của quảng cáo trên báo chí đối với tư duy của khách hàng.Trong lĩnh vực kinh tế thị trường và trong bối cảnh tương mại hóa toàn cầu.2 Biểu hiện của thương mại hóa báo chí Hiện nay những nguồn thu chủ yếu của mọi ấn phẩm đều gồm: . phát sóng… . Tờ Anzeiger (người quảng cáo) xuất bản ở Dresden (Đức) năm 1730.

ở từng nước các khoản thu từ quảng cáo của các phương tiện thông tin đại chúng có khác nhau. thay đổi trong cách thu hút quảng cáo. Ở Úc. Ông nhấn mạnh các loại hình báo chí phải thể vai trò quan trọng của mình bằng tính có tư tưởng và giá trị: “Nếu không có lý tưởng. giáo sư báo chí Kuan ChungHsiang. Đại học Shih Hsin đã tiên đoán rằng trong tương lai gần các loại hình báo chí Đài Loan sẽ tiếp tục xuống cấp vì ảnh hưởng của các nhóm lợi ích chính trị và thương mại. Thủ tướng Vajpayee của Ấn Độ. báo in đã thu nhập tăng gấp 2. Hiện chính quảng cáo là nguồn thu chủ yếu của ấn phẩm. Riêng ngành công nghiệp báo in Mỹ: thu nhập tăng từ 12.4 tỷ đô la năm 2000. truyền thống dân tộc và tình hình kinh tế. Trong vòng 30 năm qua. sự tin cậy của công chúng với các nhà báo bị tổn hại nhiều. Ở Tây Ban Nha là khoảng 80%.5 lần từ quảng cáo năm 2000 so với năm 1950. khi các nhà báo mới bị coi là “người kinh doanh nhỏ hiệu quả” đang cung cấp sản phẩm của họ cho người dân. ở Mỹ là 75% và ở Pháp là khoảng 60% Sức ép về kinh tế đã buộc các cơ quan báo chí bước vào cuộc cạnh tranh dữ dội để thu hút độc giả. khiến cho các mối quan tâm thương mại ngang với hoặc quan trọng hơn chất lượng của xã luận hay trách nhiệm với xã hội. Tùy thuộc vào điều kiện phát hành.Bất kì một tờ báo nào. Ở Đài Loan. nhà nghiên cứu Katrina Mandy Oakham tin vào sự đổi thay lớn mà các nhà báo không còn là người giám sát xã hội hay các thành viên ưu tiên của “quyền lực thứ tư” nữa mà “họ là những doanh nhân sản xuất hàng hóa 9 . Nhiều cơ quan đã tiến hành hàng loạt chiến lược để thương mại hóa sâu xa hơn ngành công nghiệp này. trong cuộc phỏng vấn với BBC năm 2003 đã nói lên mối lo ngại về sự gia tăng tính thương mại và tính giật gân trong báo chí. một tạp chí hoặc một ấn phẩm niên giám nào cũng dành một vài trang cho quảng cáo. Nói cách khác.2 tủy đô la Mỹ vào năm 1975 lên 54. báo chí sẽ trở thành hàng hóa và không thể tác động đến suy nghĩ của độc giả nữa”. lượng nội dung quảng cáo trong báo in Mỹ vượt trên 60% (Báo chí & tuyên truyền 6/2006 trang 43) Việc các tờ báo hiện nay coi trọng tin tức thương mại hơn và phụ thuộc vào quảng cáo để tăng thu nhập đã khiến cho độ tin cậy vào các tin bài bị giảm xuống.

Sự can thiệp khá sâu cả về nội dung và hình thức này rõ ràng đã ảnh hưởng đến tính chính xác. Ứng dụng này khiến các chuyên gia báo chí Mỹ lo ngại về việc nhà báo chọn từ khi viết. họ có thể biến hàng trăm từ trong bài báo có tiềm năng gây thu hút về sản phẩm của họ mà bạn đọc có thể đọc sang dạng có kết nối đến quảng cáo. sự công bằng và đạo đức báo chí. Lynette Sheridan Burns cho rằng các nhà báo ngày nay luôn phải tìm cách dung hòa giữa cạnh tranh nghề nghiệp. một màn hình nhỏ sẽ hiện ngay ra mời gọi người đọc nhấn vào trang quảng cáo chính thức. Và chỉ cần di con chuột tới vị trí từ đó. điều mọi người lo ngại có thể đã thành hiện thực: báo chí được xem như là hàng hóa.phục vụ thị trường”. Nhà báo Michelle Grattan thậm chí cho rằng “tính thương mại” đã nổi lên như là “giá trị cốt lõi” của báo chí. quan tâm thương mại và trách nhiệm đạo đức liên quan đến việc khai thác thông tin và thể hiện thông tin. Thậm chí báo chí và thương mại luôn sát cánh kề vai. bởi họ sẽ hướng tới những từ dễ được chuyển sang kết nối tới trang quảng cáo.3 Ảnh hưởng của thương mại hóa với báo chí Trong bối cảnh thương mại hóa báo chí. các nhà báo đã “bị ép” để cho ra những tin tức thương mại giống như thế trở thành tin tức”. bản thân bạn và toàn bộ độc giả” 10 . Vai trò của nhà báo đã thay đổi sâu sắc nếu chúng ta đồng ý với ý tưởng của Simon Canning trên tờ The Autrailian: “Mọi thứ có thể sẽ thay đổi và nhà báo sẽ sớm thấy công việc của họ không chỉ là phản ánh sự kiện. Một ví dụ mà Canning đưa ra là phần mềm quảng cáo có tên là IntelliTXT của công ty quảng cáo trực tuyến Vibrant Media ở Mỹ. Như vậy. mà chính là phương tiện mà các nhà quảng cáo phát tán thông điệp của mình”. Như thế. Canning cũng chỉ ra rằng quảng cáo đã kiếm được rất nhiều lợi nhuận bằng cách đặt các thông điệp quảng cáo của họ cạnh tin tức. Khi các nhà quảng cáo sử dụng hệ thống này. 3. Bà cho rằng “báo chí là một công việc phức tạp – cố gắng làm hài lòng tổng biên tập – ông chủ của bạn. Internet cung cấp một môi trường tuyệt vời cho ngành quảng cáo và do đó báo chí điện tử dù muốn hay không cũng bị ảnh hưởng.

Ở đa số các quốc gia.Vì các cơ quan báo chí là các doanh nghiệp. người ta nghiêm cấm hình thức quảng cáo lén lút. thời gian là tiền. Những yếu tố này không thể nói là không làm khó xử cho họ và họ sẽ quen với việc được bảo là làm gì. checkbook journalism nghĩa là báo chí trả tiền cho nguồn tin. áp lực đặt lên nhà báo. các tấm séc là việc việc cần thiết cho việc thực hành 11 . Câu hỏi đặt ra là: liệu nhà báo sẽ có những thông tin trung thực từ nguồn tin hay không? Nếu nguồn tin đòi tiền thì động cơ của họ là gì? Nhưng đối với McClellan. một cựu chuyên gia các vấn đề thời sự của kênh truyền hình số 9 và số 7 của Úc. đó là tách biệt các hoạt động quảng cáo với phần hoạt động báo chí đích thực. tin tức. điều tra. Họ thiếu thời gian để nghiên cứu. Theo Hargreaves. các nhà báo phải làm hài lòng ông chủ mình và để làm điều đó. Nhiều khi các ông tổng biên tập muốn mọi phương diện của một câu chuyện tội phạm đi quá cả phạm vi giá trị thông tin câu chuyện bởi họ có thể in nhiều bản hơn để bán. họ phải tuân thủ những nguyên tắc riêng của phòng tin”. Ngược lại cũng có những câu chuyện không bao giờ được khám phá bởi chi phí lớn về việc đi lại hoặc chúng không giúp bán được nhiều báo Vấn đề khác của báo chí hiện nay liên quan đến tính thương mại là báo chí trả tiền cho nguồn tin bằng các tấm séc (chequebook journalism). Các tổng biên tập luôn muốn có nhiều tin hơn trong thời gian ngắn hơn. Hậu quả là họ có thể trở thành những cỗ máy được lập trình để hoạt động. nhưng cho thấy báo chí dùng tiền để mua tin là chuyện bình thường. Tuy nhiên vấn đề này vẫn con tranh cãi. để khai thác các câu chuyện. hơn là làm điều mình muốn. Tuy nhiên ở các nước phương Tây họ có một giải pháp. Một vài nước còn đưa ra cả luật lệ cho việc đó. phương diện của vấn đề. Quy tắc này có thể là nhà báo phải hiểu cơ quan mình sẽ chọn cái gì đưa tin và cái gì không. Trong báo chí. để tìm hết các ngóc ngách. không quan tâm tới hiệu quả của sự can thiệp của đồng tiền có thể có đối với tính tin cậy của thông tin. núp dưới các bản tin. cũng như những ngành nghề khác. thậm chí là tội phạm đang chờ xét xử. thông tin vẫn chính xác và đảm bảo sự trung thực. Điều đó giúp cho bản chất của tin tức sẽ không bị ảnh hưởng.

công bằng hay độc lập của báo chí”. khi mỗi cơ quan báo chí là một doanh nghiệp.000 bảng cho một cuộc phỏng vấn năm 1999 sau vụ scandal với cựu tổng thống Mỹ. không có sản phẩm thay thế gần gũi. nằm trong phạm vi đạo đức nghề nghiệp. độc quyền là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm. vì lợi ích xã hội thực sự lại đặt lên vai các nhà báo. Quy định này còn có thể coi là lời kêu gọi rất có ý nghĩa với người làm báo hiện nay. trong kinh tế học. mà nó có thể phát sinh từ bên trong. quy định đạo đức nghề nghiệp của Hiệp hội báo chí Úc nói: “Đừng để quảng cáo hay quan tâm thương mại làm tổn hại đến tính chính xác. Tiếng Anh: monopoly có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp monos (nghĩa là một) và polein (nghĩa là 12 . phí séc ngày càng cao hơn và nhiều hơn. Độc quyền.000 đô là và số tiền lớn nhất được trả cũng không khác mấy so với 20 năm trước. Ở Anh hay Mỹ. McClellan cũng cho biết tiền được chi ở Úc chỉ bằng phần nhỏ so với Anh. Điều đáng lo ngại là quan tâm đến lợi ích kinh tế đã không chỉ là do sức ép bên ngoài. Điều 6. với hệ thống chính trị nhân bản và nhận thức riêng.1 Khái niệm Tập trung hóa báo chí là quá trình sáp nhập giữa các cơ quan báo chí. thâu tóm. nó phải nghĩ trước tiên đến việc làm sao để sống còn. hoặc thôn tính. Monica Lewinsky được cho là đã bỏ túi khoảng 400. Bối cảnh của các nước tư bản là trong nền kinh tế thị trường. ngay ở “tim” của mỗi cơ quan báo chí. 4. Tập trung và độc quyền hóa báo chí 4. Nghịch lý là nhu cầu cao về thắng lợi kinh tế khó có thể đảm bảo một nền báo chí công bằng và trách nhiệm.nghề báo. bành trướng lẫn nhau giữa các cơ quan báo chí để hình thành nên các tập đoàn báo chí. Hầu hết chi phí séc ở Úc là cho những câu chuyện cá nhân nổi bật như Delta Goodrem và Belinda Emmett. rồi mới nghĩ đến việc truyền tải thông tin đến cho độc giả của mình. Mỹ và hầu hết tiền được trả là nhỏ hơn 10. Vậy cái hứa hẹn nền báo chí tốt.

Đồng thời. Ở Thụy Điển. Năm 1979 ở Mỹ. Có một điều đáng lưu ý là chính những tập đoàn báo chí hùng mạnh thì lại càng tăng cường sự ảnh hưởng của mình về cả số lượng ấn phẩm và cả số lượng bản phát hành. Đây là một trong những dạng của thất bại thị trường. bởi vì số lượng các điểm dân cư có những tờ báo cạnh tranh nhau thì không ngừng giảm sút. 13 .2 Quá trình hình thành Quá trình tập trung và độc quyền báo chí bắt đầu được hình thành từ năm 1892 khi mà Scripps cùng với người bạn là Macrê thành lập một mối liên kết giữa 5 tờ báo của họ. 4. số lượng bản phát hành của các tờ báo hằng ngày thuộc sở hữu của các tổ chức độc quyền chiếm đến 71% tổng số lượng bản phát hành của tất cả các báo. (vi. Năm 1979.org) Độc quyền hóa báo chí đó là tình trạng mà các các tập đoàn báo chí đã thâu tóm toàn bộ các cơ quan báo chí. xu hướng tập trung và độc quyền hóa báo chí thể hiện qua những chỉ số phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng – loại hình ấn phẩm – chuyển sang hệ thống “một thành phố .một tờ báo”. chiếm 60% tổng số báo ra hằng ngày ở trong nước. biến mình trở thành duy nhất trên thị trường nhằm phục vụ mục đích riêng của mình. số lượng các tổ chức độc quyền từ con số 11 đã tăng lên 13 với tổng số lượng bản phát hành mỗi lần của các tờ báo đều vượt quá 1 triệu bản. Kết quả là 13 tổ chức độc quyền đó kiểm soát 42% tổng số các tờ báo hằng ngày và 50% tổng số các tờ báo chủ nhật. là trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh. trong số 38 tờ báo hằng ngày đã truyển về tay người chủ khác thì trong 7 tháng của năm 1979 đã có 34 tờ báo trở thành sở hữu của chính các tổ chức độc quyền. Ở Mỹ người ta đã tính toán rằng kề từ năm 1962 “các tập đoàn tài chính hữu quan” hàng năm đã mua lại khoảng 68 tờ báo độc lập.bán). Ở Mỹ tồn tại 165 tập đoàn báo chí.wikipedia.

Ví dụ. 4 tập đoàn ngự trị trong ngành điện ảnh. 13 đài phát thanh và 17 đài truyền hình. trong tổng số 1700 tờ báo hằng ngày ở Mỹ có hơn 1000 báo thuộc sở hữu “các mạng lưới”. nhiều nhánh và linh hoạt trong tay giai cấp thống trị và báo chí được giai cấp thống trị sử dụng một cách khéo léo nhằm mục đích “tẩy não” quần chúng. nhằm bảo đảm sự ủng hộ đối với đường lối chính trị đang được thi hành. Báo chí ngày nay là công cụ mạnh mẽ. 10 tập đoàn kiểm soát ngành phát thanh. nó có ảnh hưởng tới 88 tờ báo hằng ngày và 23 tờ báo tuần. Theo sự tính toán của các chuyên gia Mỹ: 20 tập đoàn nắm trong tay hơn một nửa tổng số các tờ báo trong nước. 14 .Sự phân bố các báo ở Thụy Điển Năm 1945 1950 1955 1960 1965 1970 1975 1980 1985 1990 1995 Các điểm dân cư có 2 tờ báo hoặc nhiều hơn 51 51 39 32 23 21 20 21 24 20 20 Các điểm dân cư chỉ có một tờ báo 42 42 53 56 59 65 64 62 60 63 58 Chú thích: Những số liệu dẫn trên liên quan đến tờ báo xuát bản 3-7 lần trong một tuần. 12 tập đoàn thống trị trong ngành xuất bản sách. thì 98% trong số đó đặt dưới quyền kiểm soát của một trung tâm. Đầu những năm 1980 nếu như tất cả các thành phố Mỹ đều có những tờ báo ngày. nhằm luận chứng và biện minh cho hành động gây tâm lý quân phiệt. đại công ty “Gannett company”. Sự độc quyền thông tin quyết định rất nhiều về nội dung thông tin. 4 tập đoàn kiểm soát ngành truyền hình. Năm 1966 sở hữu 26 tờ báo hằng ngày và 6 tờ báo chủ nhật. Trong những năm 1980.

Sự tập trung và độc quyền hóa lĩnh vực báo chí dẫn tới một hệ quả là thông tin khi được đưa ra đã chịu một sự chi phối từ các ông trùm truyền thông khiến cho thông tin không còn chân thực và khách quan. Quá trình tập trung và độc quyền hóa diễn ra một cách nhanh chóng. . Năm 1998 đã có 20 tờ báo hằng ngày đóng cửa. 15 . các đài phát thanh và truyền hình về phương diện tài chính. Các tập đoàn truyền thông lớn muốn nâng cao ảnh hưởng của mình đã vươn xa tới các quốc gia khác và thâu tóm các cơ quan báo chí để phục vụ cho lợi ích của họ.Chiếm lĩnh các vị trí lãnh đạo trong các tổ chức báo chí lớn.4. . Trong 10 năm trở lại đây đã có 153 tờ báo hằng ngày chấm dứt tồn tại. nhiều quốc gia đã nới lỏng luật pháp tạo điều kiện cho các tập đoàn truyền thông phát triển và tập trung hóa. Quá trình đó dẫn tới hình thành một mạng lưới tập đoàn báo chí Đa quốc gia.Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc này cũng phải kể đến sự thâu tóm của các tập đoàn báo chí đối với các tờ báo độc lập. tính đến tháng 2/1999 chỉ còn 1489 tờ báo. . độc quyền hóa . Có nhiều cách khác nhau để tác động lên các cơ quan báo chí: .Quá trình giảm bớt số lượng của những tờ báo độc lập Chẳng khó khăn gì để các ông trùm báo chí đóng cửa bất kỳ một ấn phẩm báo chí nào có hại cho lợi ích của họ.Thông qua việc tham gia tài chính trong cơ quan báo chí.Thông quan việc kiểm soát các cơ quan tuyên truyền của chính phủ.3 Biểu hiện của tập trung hóa. Năm 1999.Thông qua quảng cáo có trả tiền là hoạt động không thể thiếu đối với sự tồn tại của các tờ báo. Việc tập trung hóa và độc quyền hóa giờ đây không còn chỉ diễn ra trong một quốc gia nữa mà nó đã có sự tập trung xuyên quốc gia. tạp chí. - Thông qua việc lãnh đạo trực tiếp các tổ chức thông tin – tuyên truyền của các tổ chức kinh doanh lớn và trong việc lãnh đạo nhiều tổ chức xã hội. Tổng số các tờ báo hàng ngày cũng tiếp tục giảm. ở Mỹ trong tổng số 1489 tờ báo hằng ngày thì chỉ có 269 tờ nghĩa là 18% là những tờ báo độc lập còn lại thì đều thuộc quyền ở hữu của các tập đoàn báo chí.

Những tổ chức độc quyền đang tồn tại thì gia tăng sự hùng mạnh của mình bằng cách không ngừng giảm số lượng các phương tiện thông tin đại chúng “độc lập”. tạo ra quy mô hoạt động. các quá trình tập trung tư bản và độc quyền nắm giữ các phương tiện thông tin đại chúng ở các nước khác nhau đang diễn ra theo những cách khác nhau. trong 5 tháng đầu năm 2007. các cơ quan chính phủ đóng vai trò ngày càng lớn trong định hướng và thao túng các phương tiện thông tin đại chúng. trị giá 3. thôn tính các công ty nhỏ hơn không đủ sức cạnh tranh để thành lập nên các tập đoàn báo chí. các ông chủ này đã đẩy nhanh những sự tập hợp mới trong lĩnh vực báo chí. tuy nhiên đó đều đang là xu hướng chung của nền báo chí truyền thông thế giới. hợp đồng sáp nhập giữa Yahoo với Right Media trị giá 680 triệu USD.1 tỷ USD hồi tháng 4-2007. sáp nhập. sức mạnh ảnh hưởng vượt ra ngoài biên giới quốc gia.8 tỷ USD. Không phụ thuộc vào các hình thức sở hữu và các phương pháp điều hành doanh nghiệp. phạm vi khu vực.Sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn báo chí lớn Các công ty báo chí truyền thông ngày càng bành trướng mạnh mẽ bằng cách mua lại. tập đoàn báo chí truyền thông với tổng giá trị lên đến 93. (nhóm 3) Thế giới đa dạng.Ngày nay quá trình tích tụ tư bản và độc quyền hóa các phương tiện thông tin đại chúng vẫn tiếp diễn. truyền thông đại chúng. khi mà trên thực tế không thể xác định được chúng thuộc sở hữu quốc gia nào. trên toàn thế giới đã ghi nhận 372 bản hợp đồng sáp nhập. Theo số liệu của Công ty nghiên cứu thị trường Dialogic. mua lại giữa các công ty. Trong điều kiện hiện nay sự tập trung và độc quyền hóa các phương tiện thông tin đại chúng đang diễn ra theo một loạt định hướng. 16 . Với việc bỏ ra hàng tỷ đô la. Điều này dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn báo chí lớn trên toàn thế giới đặc biệt là ở các nước TBCN phát triển. . Đã xuất hiện những doanh nghiệp thông tin đại chúng xuyên quốc gia với số tư bản “phân tán”. các phương tiện thông tin đại chúng tăng cường quan hệ với các tập đoàn xuyên quốc gia. Đáng chú ý nhất là hợp đồng sáp nhập giữa Google và Double Click.

cụ thể. người nghe và người xem. các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng thực hiện mạnh hơn quá trình phân hóa và chuyên môn hóa. Trước hết đó là khả năng tác động một cách có phân biệt đến những nhóm độc giả khác nhau. có chung nghề nghiệp và có chung hình thức lao động. có chất lượng. Đó là một phương thức trong đó một ấn phẩm báo chí chỉ tập trung vào một lĩnh vực cụ thể của đời sống. báo buổi sáng. các báo hỗn hợp. nhằm vào một lượng đối tượng công chúng xác định.Các tạp chí chuyên ngành và các tạp chí đáp ứng được “lợi ích chung”. hay các tạp chí đại chúng lại phân thành các tạp chí thông tin. Đó là các ấn phẩm nông nghiệp.Một số nhà nghiên cứu lại phân chia toàn bộ báo chỉ ở phương Tây ra làm 4 nhóm ấn phẩm. hướng đến một tầng lớp dân cư hoàn toàn xác định. báo buổi chiều. Xét theo tính chất và ý nghĩa xã hội thì các tờ báo được phân ra thành các tờ báo địa chúng. Thông thường chúng ta phân các tờ báo căn cứ theo quy mô phát hành thành các tờ báo quốc gia. chuyên ngành và các ấn phẩm đại chúng. Những ấn phẩm chuyên ngành bao gồm nhiều ấn phẩm phục vụ tầng lớp dân chúng. địa phương. thương mại. Mỗi loại ấn phẩm đều có những đặc điểm riêng và những dấu hiệu phân biệt. Xét theo tính chất định kỳ và thời gian ấn hành thì người ta phân các tờ báo thành báo hằng ngày và không ra hằng ngày. Quá trình phân hóa và chuyên môn hóa Qúa trình phân hóa và chuyên môn hóa cũng là một phần không kém quan trọng của báo chí. Trong điều kiện toàn cầu hóa thông tin. tạo cơ hội cho những tổ chức ấy tìm được vị trí xã hội của mình. Những ấn phẩm chuyên ngành chủ yếu tập trung vào những vấn đề khoa học và kỹ thuật – tập trung vào một lĩnh vực cụ thể. tạp chí giải trí… . Có thể phân chia các tạp chí thành hai nhóm lớn: . khu vực. Tuy nhiên giữa chúng cũng có rất nhiều điểm giống nhau.5. tác động có hiệu quả đến người đọc. Nhưng các tạp chí “lợi ích chung”. Các tạp chí chuyên ngành không chỉ phát 17 .

Máy tính cùng với mạng internet ra đời đã đánh dấu sự đột phá với lĩnh vực truyền thông. truyền thông cũng là một lĩnh vực chịu sự tác động lớn của khoa học kỹ thuật. Nhiều ấn phẩm còn có chi nhánh ở nước ngoài. Việc áp dụng khoa học kĩ thuật. Trong quá trình phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng. kỹ thuật đã và đang sẽ luôn giữ vai trò hàng đầu. Quá trình phân hóa giúp thiết lập ra được các ấn phẩm chuyên sâu vào một lĩnh vực. Thời kì đánh dấu bước ngoặt của sự phát triển báo chí đó là sự ra đời của máy in. tăng chất lượng và hình thành một nền công nghiệp báo chí. góp phần tăng lượng xuất bản. Với sự ra đời của máy in vào vào năm 1455 do Johan Gutenberg phát minh. việc khu biệt đối tượng và lựa chọn cho mình một lĩnh vực để kinh doanh truyền thông là một xu hướng tất yếu. Lợi ích của quá trình phân hóa và chuyên môn hóa: Đó là nó cho phép nâng cao hiệu quả của các bài vở của báo chí. đài phát thanh và truyền hình. Trong tương lai. sử dụng phương tiện sẵn có với hiệu quả cao nhất.hành ở trong nước mà còn phát ra nước ngoài. 6. điều này đã dẫn đến sự thay đổi hết sức triệt để trong các phương tiện thông tin đại chúng. giúp cho công chúng có thể lựa chọn dễ dàng ấn phẩm phù hợp. Từ các hình thức truyền thống là thông tin truyền miệng từ một người này sang người khác cho đến những chữ viết cổ đầu tiên đã góp phần trao đổi thông tin giữa người với người. Phát thanh – truyền hình ra đời cũng phải phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố kĩ thuật và để phát triển chất lượng tin bài phát thanh truyền hình thì cũng đồng nghĩa với việc nâng cao cơ sở vật chất kĩ thuật. Một loại hình phương tiện mới ra đời có thể truyền tải thông tin nhanh chóng kéo theo sự bùng nổ thông tin. Nội dung của các ấn phẩm chuyên ngành này được tập trung vào một ngành nghề cụ thể do đó khu biệt được đối tượng khán giả. Đó được xem là châm ngòi cho nền công nghiệp giấy bùng nổ. các công nghệ mới vào các phương tiện thông tin đại chúng đã dẫn đến những hệ quả xã hội quan trọng. Sự ra đời của máy in đã đơn giản hóa đi rất nhiều trong công đoạn làm báo. Gia tăng mối quan hệ giữa báo chí và kỹ thuật Kỹ thuật có một ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển chung của xã hội. Một trong những hệ quả ấy 18 .

thông tin được cung cấp cho công chúng theo hình thức đa phương tiện sinh động. hiện đại… nếu như muốn có một chương trình chất lượng. sống trong thế giới ấy theo cách mà con người ưa thích và có được một sự tự do lựa chọn gần như tuyệt đối. Xu hướng đa phương tiện 7. hấp dẫn hơn và đang là sự lựa chọn số 1 của lớp công chúng trẻ và tiếp tục ảnh hưởng tới lớp công chúng kế cận  19 . sự bùng nổ của internet đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội của con nguời và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của báo chí thế giới. các thiết bị để sản xuất ra một chương trình truyền hình phải đồng bộ. các loại hình báo chí truyền thống (báo in.Giêccốp nêu ra trong báo cáo khoa học của mình đó là hình thành nên “Kỷ nguyên thông tin” (Information Era).được giáo sư G. 7. điều mà con người chưa thực hiện được. cũng như thay đổi chính bản thân mình. phát thanh. Công nghệ phát sóng giúp truyền tải hình ảnh đi nhanh và giữ được chất lượng. báo chí cần phải biết phát huy những thành quả của khoa học công nghệ. đồng thời cũng phải tự nghiên cứu các kĩ thuật mới phục vụ cho quá trình cung cấp thông tin. Báo chí và kỹ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. mỗi loại hình có những ưu thế riêng không bị lấn át. Các quá trình thông tin hiện đại của xã hội có một trình độ trang bị kỹ thuật cho phép con người ngoài cái thế giới bao quanh mình – còn kiến tạo cho cái cá nhân mình một phạm vi thế giới ảo đặc biệt.V. Ta có thể nhận thấy điều đó qua các loại hình báo chí đòi hỏi công nghệ cao: như truyền hình. Trước đó. còn sự phát triển của kỹ thuật sẽ giúp cho truyền thông phục vụ công chúng tốt hơn. truyền hình) phát triển tương đối độc lập.1 Khái quát chung Trong khoảng 10 năm trở lại đây. Nhưng internet ra đời kéo theo sự ra đời của báo mạng. Để đáp ứng kịp nhu cầu thông tin của công chúng. Công nghệ sản xuất máy quay phim cho phép ghi lại những hình ảnh chân thực và rõ nét nhất. sự phát triển của báo chí đòi hỏi kỹ thuật phải không ngừng phát triển để đáp ứng.

công chúng đọc tờ báo và tiếp nhận thông tin ấy. thông tin được truyền – phát đi bằng cách nghe. nhìn. “multimedia” hay “truyền thông đa phương tiện” là sự kết hợp của ngôn ngữ viết. đoạn video có liên quan. đó là truyền thông đa phương tiện. mỗi hình thức thể hiện góp phần tạo nên câu chuyện thuyết phục nhất và đầy đủ thông tin nhất. thiết kế đồ họa và các phương thức tương tác khác trên trang web nhằm truyền tải một câu chuyện. Nhưng cũng cùng thông tin ấy. âm thanh. Đối với ngành báo chí nói riêng. video. ngoài bản text còn đính kèm hình ảnh.Tương lai báo chí thuộc về truyền thông đa phương tiện (đi cùng sự phát triển của internet) Có thể hiểu. khi thể hiện chúng trên Wedsite. … Công chúng tiếp nhận thông tin bằng nhiều giác quan khác nhau. một vấn đề một cách đa diện. phóng sự đa phương tiện chính là tương lai của sự phát triển. Theo hình thức truyền thông thông thường (media). với những hình thức thông tin khác nhau. Ví dụ một bản tin được đăng trên báo in. 20 . đặc biệt là báo điện tử và các kênh truyền hình trực tuyến. ảnh.

2 Nguyên nhân báo chí phát triển theo hướng đa phương tiện.thecommunicationsgroup. các loại hình báo chí truyền thống (báo in. mỗi loại hình có những ưu thế riêng không bị lấn át.truyền hình. di động. Cái mà các nhà truyền thông đang hướng tới là Công nghệ Truyền thông Hợp nhất (một quá trình mà trong đó tất cả các phương tiện truyền thông. đánh giá và xây dựng các xu hướng.. kỹ thuật. Những trình duyệt phiên bản mới liên tục được cải tiến để có thể tích hợp các tính năng truyền thông đa phương tiện.Multimedia = văn bản + hình ảnh + giọng nói + âm nhạc + video…= hiệu quả truyền thông .… Sự phát triển của công nghệ truyền thông chính là một mặt sự phát triển của báo chí thế giới. phát thanh. internet. truyền hình) phát triển tương đối độc lập. Khi internet ra đời và phát triển cùng một loạt tiện ích và sản phẩm công nghệ truyền thông đi kèm tạo nên một sức mạnh mới mà các loại hình truyền thông truyền thống khó cạnh tranh nổi. chiến lược phát triển hệ thống thông tin. Sự phát triển của công nghệ truyền thông đã tạo cho báo chí một hướng đi mới: Tích hợp các phương tiện truyền thông.). Trong khoảng những năm gần đây. công nghệ truyền thông phát triển mạnh mẽ với những bước đột phá bất ngờ: internet xóa nhòa khoảng cách thời gian – không gian trong việc tiếp cận thông tin trên toàn thế giới. các thiết bị truyền thông và các kênh thông tin đại chúng được tích 21 . vệ tinh. chính báo điện tử cũng thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ mới.. Sự phát triển của công nghệ truyền thông Công nghệ truyền thông (Media Technology) là ngành bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu công nghệ. radio. Phương tiện truyền thông kỹ thuật số đã bắt đầu phát triển và lan rộng ra toàn cầu.www. Điện thoại và những thiết bị di động hỗ trợ cá nhân như PDA cũng được nâng cấp để có thể truy cập web tiện lợi hơn và khai thác thông tin trực tuyến.com 7. hệ thống dịch vụ mạng di động tăng nhanh chóng. loại hình thông tin (báo chí . Công nghệ đã cho phép báo điện tử ra đời và ngược lại. a. Khi chưa có sự ra đời của internet. truyền số liệu.

hấp dẫn. tương lai của báo chí đang thay đổi dữ dội bởi các khả năng khác nhau để chuyển tải thông tin nóng đến người đọc Xu hướng tiêu thụ thông tin của người dân đã và đang thay đổi nhanh chóng do khả năng kết nối dễ dàng vào mạng Internet toàn cầu với thông tin tràn ngập hằng ngày. văn bản là sự lựa chọn của lớp công chúng mới. mỗi giờ… Xu hướng rõ ràng là phù hợp với xã hội. âm thanh. Trong một xã hội hiện đại với sự bùng nổ thông tin. nhìn. tham gia trực tiếp. Người đọc báo hôm nay đang ngày càng bị phân tâm bởi nhiều hình thức cung cấp thông tin động.. công chúng ngày càng có những yêu cầu cao hơn đối với nội dung cũng như chất lượng thông tin.thính giả phải ngồi chờ đợi… nay đã không còn phù hợp. 7. truyền hình cáp và các khối giải trí đang tranh giành nhau để có chân trong “thị trường” tích hợp các phương tiện truyền thông mới. Ví dụ: .. tiếp cận trên toàn bộ các giác quan. Một tờ báo in toàn chữ với những bài viết dài. và theo thời gian thực) b. Một hình thức truyền thông mới cho phép công chúng thu nhận thông tin bằng cả hình ảnh. hàng loạt kênh truyền thanh tiếp cận người đọc mỗi ngày. Nhu cầu thông tin của lớp công chúng mới. cảm quan: đọc. cho phép người sử dụng có thể liên lạc với bất cứ ai. Đa phương tiện sẽ giúp cho công chúng dễ dàng lựa chọn hơn.Hãng Time Warner sát nhập với hãng American Online . hàng trăm kênh truyền hình quốc tế qua cáp.hợp lại với nhau.3 Biểu hiện của báo chí phát triển theo hướng đa phương tiện a. đối thoại.Sự liên doanh đó minh họa sinh động cho sự kết hợp các phương tiện truyền thông cũ và mới: báo mạng và báo giấy 22 . nghe. khi họ ở bất cứ nơi đâu. những chương trình phát thanh – truyền hình buộc khán . Sự phát triển của các tổ chức truyền thông đa phương tiện Các công ty truyền thông như viễn thông. do vậy đi theo sự phát triển này là sự lựa chọn đúng đắn của các nhà truyền thông.

kênh truyền hình và đặc biệt là báo mobile (gửi các bản tin cho bạn đọc qua điện thoại di động) .Các tờ báo còn có thể làm đài phát thanh.bằng cớ là nhiều hãng viễn thông lớn đang gia cố cơ sở hạ tầng cho viễn cảnh đó..NBC (www.nbci.Bill Gates Rõ ràng các tổ chức truyền thông đã có chung một tầm nhìn về tương lai – kết hợp các phương tiện truyền thông và giải trí vào một phương thức truyền thông mới có khả năng cung cấp sự lựa chọn tin tức bằng văn bản hay bằng các đoạn phim và những bộ phim mới nhất bất kì khi nào được yêu cầu. Ngoài báo in. Họ cũng đã bắt đầu 23 .Dùng giao thức Internet để phát chương trình phát thanh. Camera… 7.nyt.Báo giấy không thể thiếu sản phẩm báo điện tử đi kèm. FOX va CNN đều có những trang chính trên Internet. phần lớn các tòa báo ở Việt Nam đã mở thêm trang web để cập nhật thông tin nhanh chóng và phục vụ một số lượng đông đảo người dùng internet. b. "Truyền hình trên nền Internet sẽ trở nên phổ cập . và có những dự án chung về truyền hình và Internet với hãng máy tính khổng lồ Microsoft (www. khái niệm về truyền thông đa phương tiện còn khá mới mẻ.4 Truyền thông đa phương tiện tại Việt Nam Trong khi multimedia ở các nước Châu Âu và Mỹ đang phát triển mạnh mẽ thì ở Việt Nam. ESPN. Các hãng khác như CBS..Những công ty phát hành báo lớn bao gồm New York Times Co.tribune. có thể tác nghiệp nhanh nhạy và sử dụng thành thạo các sản phẩm công nghệ hỗ trợ như laptop.com) và Tribune Co.com) có một trong nhiều trang đầy tham vọng trên Internet. Bạn sẽ được thưởng thức tất cả các dịch vụ trên một nền duy nhất" . nhà xuất bản của tờ Chicago Tribune (www.com). điện thoại di động có định vị vệ tinh. Những biểu hiện cụ thể về sản phẩm báo chí đa phương tiện . . (www.home. truyền hình (số hóa) Nhà báo thời truyền thông đa phương tiện (multimedia journalist) phải có kĩ năng của nhiều loại hình báo chí.msnbc. máy ảnh.com). chuyển tin chủ yếu qua mạng Internet. .

1.vnntv. www. Sự ra đời của “báo chí công dân” Trào lưu "báo chí công dân" (Citizen Journalism) nảy sinh từ nước Mỹ sau cuộc bầu cử tổng thống 1988 như một phản ứng từ niềm tin vào các phương tiện truyền thông đã bị xói mòn. những nhà hoạt động xã hội ở Seattle (Mỹ) sáng lập Trung tâm Truyền thông độc lập (Independent Media Center . giáo sư báo chí ở Đại học New York là một trong những người tiên phong cổ xuý trào lưu này.vn/Media. website OhMyNews.tuoitre. Tuy nhiên tất cả đều ở hình thức phát lại và chủ yếu mang tính giải trí. website ThemeParkInsider. Từ đó. hay các đoạn video clip. 80% tin bài trên website này là do các thường dân cộng tác.com. IMC đã được thiết lập ở hơn 2. forum. radio. Ta có thể hiểu báo chí công dân là loại hình báo chí mà thông tin được thu thập. 8.com ra đời năm 2000 trở thành tờ báo trực tuyến nổi tiếng và thành công về mặt thương mại với khẩu hiệu: "Mỗi công dân là một nhà báo". Năm 2001. những kênh thông tin của các "nhà báo công dân" bắt đầu bùng nổ trên internet dưới các hình thức weblog.vn.net thuộc VNExpress. Năm 1999. phân tích và phổ biến bởi những người dân bình thường.000 thành phố khắp thế giới.vtc.biết khai thác lợi thế của internet bằng việc phát trực tuyến hoặc phát lại các các chương trình TV. Cùng lúc với sự phát triển của các trung tâm IMC.vn. 8. wikis… Ở Hàn Quốc. chat room. 24 .com. Tiêu biểu trong số đó có trang phimanh. Báo chí công dân Không có một định nghĩa rõ ràng nào về báo chí công dân. www3. hay www. phim.IMC) đầu tiên để bày tỏ phản ứng trước việc tổ chức hội nghị WTO tại đây trong khi các kênh truyền thông chính thống không hề đại diện cho tiếng nói và nguyện vọng của họ. Jay Rosen.com của Mỹ là tờ báo trực tuyến đầu tiên giành được một giải thưởng báo chí quan trọng của Hiệp hội Báo chí trực tuyến Mỹ và khoa báo chí Đại học.

đang trở thành trào lưu mạnh mẽ trên toàn thế giới. YouTube chuyên đăng tải các đoạn video cá nhân "hút" hàng triệu lượt truy cập mỗi ngày.loại hình báo chí mới sinh ra trong kỷ nguyên Internet. Theo thống kê của hãng nghiên cứu Technorati (Mỹ). Nói đến báo chí công dân là phải nhắc tới cộng đồng web . Đưa ra cái nhìn khách quan và không bị chi phối bởi bất kì cơ quan nào. Cứ 0..5 giây 1 blog ra đời. một trong những trang tin điện tử có ảnh hưởng nhất Hàn Quốc hiện nay thu hút hơn 1 triệu độc giả mỗi ngày với 50. OhmyNews. Đại diện chính cho báo chí công dân chính là những tờ báo mạng. trang tin tức và cộng đồng webblog khổng lồ. sau khi đã qua màn chỉnh trang của các biên tập viên chuyên nghiệp. mỗi ngày trên Internet lại có thêm khoảng 100 nghìn blog mới và khoảng 1.2 Sức mạnh của báo chí công dân Có khả năng thông tin nhanh chóng những sự việc vừa xảy ra. trang tin bách khoa trực tuyến WikiPedia (wikipedia.3 triệu đề mục được đăng tải. 25 . 8.214 "phóng viên" ở 3651 thành phố. vụ đánh bom tàu điện ngầm ở London năm 2005 và hàng loạt các thiên tai ở Đông Nam Á đều được những thường dân chụp ảnh.000 "nhà báo công dân". Một số trang "báo chí công dân" khá nổi tiếng là NowPublic.blog.Ý tưởng cốt lõi trong triết lý và hệ thống giá trị của báo chí công dân (civic journalism) là niềm tin cho rằng báo chí có một nghĩa vụ đối với đời sống công cộng. với 99. quay phim bằng máy điện thoại di động và nhanh chóng truyền tin đi khắp thế giới. Vụ khủng bố 11/9 ở Mỹ năm 2001. Vai trò của “nhà báo công dân” đã được thiết lập.com. Báo chí công dân (Citizen Journalism) . với hàng triệu bài viết dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau (cả tiếng Việt). Bắt nguồn từ sự phát triển của khoa học kĩ thuật và nhu cầu được nói lên chính kiến cũng hay bày tỏ quan điểm của mình.com.. YouWitnessNews của Yahoo! chuyên đăng tải nội dung do người dùng gửi về.org) hiện có tới hơn chục ngàn cộng tác viên tích cực. hiện tại trên toàn thế giới có khoảng 55 triệu blog (2006) đến nay đã lên tới 72 triệu blog..

"đất" đăng tin. bổ sung và sửa chữa nó. Điều đáng nói đầu tiên đó là độ tin cậy báo chí của các “nhà báo công dân” rất khó kiểm chứng. việc truyền dữ liệu . Để giải quyết vấn đề này.Với sự phổ biến của các phương tiện kỹ thuật số. đặc biệt là yếu tố chủ quan của người thông tin rất cao. các nhà báo công dân hoàn toàn có thể phát huy năng lực của mình. Không phải công dân nào cũng đưa ra được những thông tin chính xác. nhưng bên cạnh đó báo chí công dân cũng có những hạn chế và điểm yếu.từ ĐTDĐ đến ĐTDĐ hay đưa lên các website ngày càng đơn giản. hay như vì một mục đích cá nhân họ sẵn sàng gửi đến các tòa soạn những thông tin sai lệch… điều đó sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng khi thông tin được đăng và thông tin tới cho toàn bộ công chúng. Ở Việt Nam. các cơ quan báo chí cần thiết phải có một bộ phận biên tập viên có đủ năng lực để xác nhận và kiểm chứng các thông tin do độc giả mang tới. blog phát triển muộn nhưng tốc độ phát triển cực nhanh đặc biệt trong năm 2006 và lôi kéo được 80% thanh niên sử dụng mạng Internet tham gia và 26 . Vì thế. 8. Nó khiến tin tức đã đăng trên báo không có nghĩa là kết thúc. Cuối năm 2006 vừa qua có một tờ báo ở bị “rút phép Thông Công” vì đã quá lạm dụng ý kiến người dân như vậy.hình ảnh.3 Những hạn chế của báo chí công dân Mặc dù báo chí công dân có khả năng đem đến những thông tin độc. hấp dẫn và khách quan ở một góc độ nào đó. có thể đó chỉ là những nhận định chủ quan vô căn cứ của họ. âm thanh và video . mà thực sự bắt đầu khi công chúng thảo luận về câu chuyện. nguồn tin và phản hồi của độc giả trở thành những thế mạnh của mình dựa vào sức mạnh của công nghệ. Sự phát triển như vũ bão của mô hình này khiến giới truyền thông toàn cầu phải tự đặt câu hỏi. việc xã hội hoá báo chí theo kiểu này đôi khi là “con dao 2 lưỡi” đối với các tờ báo thiếu biên tập viên và tỉnh táo có tay nghề cao và nhạy cảm với “thời tiết thông tin”. liệu đây có phải là tương lai của báo chí? Báo chí công dân biến mọi điểm yếu của báo in truyền thống là tốc độ.

Đang xuất hiện mối quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa báo chí và kinh tế. dư luận xã hội. sử dụng có hiệu quả cao nhất các phương tiện hiện có. văn hóa mạng… Ngày nay. truyền hình. nhà nước tài trợ cho các phương tiện thông tin đại chúng một cách trực tiếp và gián tiếp: dành cho những ưu đãi khác nhau. Vẫn tiếp tục trở nên sâu hơn hố ngăn cách giữa các quốc gia “giàu” và những quốc gia “nghèo”. Vai trò ngày càng lớn thuộc về quảng cáo – nguồn thu tài chính chủ yếu của các cơ quan báo chí. Trong những năm gần đây đã có sự thay đổi trong cấu trúc. trong đó có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. công chúng không chỉ đóng vai trò là người tiếp nhận sản phẩm báo chí mà còn có thể tham gia vào quá trình sản xuất thông tin. Việc kết hợp thông tin toàn cầu và “lợi ích khu vực” sẽ làm cho hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng có hiệu quả hơn và có hiệu lực hơn. Quá trình phân định và chuyên môn hóa báo chí tạo điều kiện nâng cao năng lực hiệu quả của hoạt động báo chí. Tiểu kết Qua một vài đặc điểm của báo chí thế giới trên đây ta thấy rằng toàn cầu hóa thông tin đã buộc người ta phải xét lại và hiện đại hóa các chiến lược của cộng đồng thế giới trong lĩnh vực phổ biến thông tin. Trong tương lai. các đơn đặt hàng về quảng cáo cho chính phủ… quá trình các phương tiện thông tin đại chúng sáp nhập vào các tập đoàn công nghiệp – tài chính đã cho phép đạt được sự ổn định về tài chính cho các phương tiện thông tin đại chúng. Trào lưu “báo chí công dân” đã thể hiện rằng báo chí và nền dân chủ phải kết hợp với nhau để cùng tồn tại. 27 . đài phát thanh. xét trên góc độ hình thành công luận và điều khiển công luận. tạo ra mối đe dọa thực tế đối với các quyền cơ bản và quyền tự do của con người.nó cũng đã đặt ra những vấn đề đáng lưu tâm ở khía cạnh quản lý. các cơ quan báo chí và các nhà báo công dân sẽ sự liên kết với nhau để tạo nên một xã hội thông tin đa chiều 9. Ở nhiều quốc gia. các khoản trợ cấp.

có thể kể ra một số khuynh hướng báo chí. báo chí điều tra… các khuynh hướng ấy nhằm nâng cao chất lượng bài vở. các chương trình phát thanh truyền hình. Đồng thời những khuynh hướng đó cũng phản ánh các đòi hỏi của thị trường. đến các hình thức và phương pháp hoạt động của các nhà báo.Trong số những thay đổi trong hoạt động báo chí ở nước ngoài. Nhà nước tăng cường vai trò của mình. 28 . Chính sách của nhà nước cũng có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của các loại hình thông tin đại chúng. trong đó có các khuynh hướng báo chí “nhân dân”. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng căn bản đến các phương tiện thông tin đại chúng ngày nay. Thị trường ngày càng ảnh hưởng đến báo chí. báo chí tiêu dùng. báo chí nghiên cứu.

Đặc biệt từ năm 1997 nước ta có mạng internet thì cũng là lúc đánh dấu sự xuất hiện của một loại hình truyền thông mới đó là báo mạng cho phép cập nhật thông tin nhanh chóng và liên tục. thông tin được cập nhật với tốc độ nhanh hơn và ngày càng tỏ ra có ưu thế hơn so với báo viết. Trên thế giới ngay cả những tờ báo đẳng cấp cao. Những thay đổi đầu tiên bắt đầu từ hình thức vì hình thức là yếu tố đầu tiên thu hút người đọc. Nhiều tờ báo đã mất đi độc giả thân thuộc của mình.1 Sự thay đổi trong cách trình bày. Loại báo này đang thu hút một lượng lớn độc giả. Khi trình bày vào trong trang báo thì chỉ thấy toàn chữ rất ít hình ảnh mà nếu có thì cũng chỉ là ảnh nhỏ theo kiểu ảnh chân dung. các tít phụ. Kiểu làm báo ấy đã trở nên lỗi thời trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Cái đầu tiên đập vào mắt độc giả đó là hình thức của tờ báo. Truyền hình.CHƯƠNG II – XU HƯỚNG CỤ THỂ VỚI TỪNG LOẠI HÌNH 1. nhất là các độc giả trẻ. phát thanh với số lượng kênh tăng lên. những phương tiện truyền thông có lợi thế về tính nhanh nhạy ngày càng được công chúng quan tâm nhiều hơn. sapo. có lượng độc giả lớn và tương đối ổn định cũng không dám loại mình khỏi cái guồng quay cạnh tranh – đổi mới và sàng lọc tất yếu của sự phát triển đó. Báo in cổ điển trước đây được định dạng là một loại báo viết trên giấy chuyên dụng. nội dung phong phú hơn. bởi không đổi mới nghĩa là sẽ chết. chịu tìm tòi các con đường hiệu quả nhất đánh vào thị hiếu và đến với trái tim độc giả. 1. Tình hình hiện tại đã đặt ra một câu hỏi lớn cho báo in: Báo in phải làm gì trong công cuộc cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác? Và câu trả lời là “đổi mới”. Đối với báo in Trong xã hội hiện đại. Rõ ràng so với truyền hình và báo mạng thì báo in khó mà cạnh tranh được về mặt hình ảnh. Một bài có tít chính. Thực tiễn cho thấy ở Trung Quốc có 667 tờ báo phải đóng cửa vì hoạt động không hiệu quả và không đúng mục đích. Tờ báo tồn tại được là tờ báo biết thích nghi. khổ to. Và thực tế báo in đang dần hình thành những xu hướng mới để thích nghi và cạnh tranh với các loại hình truyền thông khác. 29 .

huy chương. Và phản ứng của độc giả rất tốt. khẩu hiệu. Theo quan điểm truyền thống. lượng báo phát hành lớn chính là những thành công của công cuộc đổi mới này. sự phù hợp giữa các dáng chữ. Sự thay đổi măng sét sẽ tạo nên một sự thay đổi lớn đối với tờ báo và nếu phù hợp. • Măng sét (tên báo): là phần in cỡ chữ lớn. được thiết kế công phu. số xuất bản. • Khổ báo: Có ba loại khổ chính là A2= 420x594. tờ Metro (Tàu điện ngầm)… Đây là sự đổi mới về hình thức để tạo một sự “tiếp cận” ban đầu thật ấn tượng với độc giả. gồm: cơ quan chủ quản.Hình thức trang báo bao gồm các yếu tố như: măng sét. khổ nhỏ A4=210x297. giá bán…Tên báo được lựa chọn. biểu tượng mục. cỡ chữ. người ta không còn thấy bóng dáng Independent khổ lớn đâu nữa. kiểu chữ. Người đọc yêu mến tờ khổ nhỏ vì sự tiện lợi của nó. Tờ báo đi đầu trong xu hướng này là tờ Independent của Anh. đặc biệt là trên các chuyến tàu. khổ báo. màu sắc… đảm bảo tính thẩm mỹ cao là một yêu cầu đối với măng sét báo. 30 . chữ. và chỉ trong vòng dăm ba tháng sau. thiết kế chuẩn mẫu và giữ ổn định song măng sét không phải là yếu tố bất biến. Những tờ báo tiên phong là những tờ nổi tiếng như The Telegraph. Nhưng việc đi tiên phong trong việc thu hẹp khổ của tờ báo trong những năm vừa qua đã chứng minh một điều: mọi quan điểm truyền thống đều có thể thay đổi. Một măngsét đơn giản. điện thoại. bán song song với ấn bản khổ lớn để khẳng định với độc giả rằng nội dung không hề thay đổi. Finalcial Times (Anh). những tờ báo khổ lớn là đại diện cho dòng báo chất lượng cao. tính đến mọi hiệu quả mảng phối. Tirage của Independent đã tăng 15% mỗi năm. khung. tranh ảnh. khổ vừa A3=297x420. nền. trụ sở. hợp lí. thường được trình bày ngay đầu trang nhất. Trong năm 2003. màu sắc. hiện đại thì nó sẽ như luồng gió thổi hồn vào các trang báo. đường ranh giới. tờ này giới thiệu một ấn bản khổ nhỏ.

Tờ Guardian. Ngày 1/3/2005 báo Lao động ra bộ mới với những thay đổi từ măng – sét đến cơ cấu trang. trình bày tiêu biểu như “Tạp chí người làm báo”. Ở Việt Nam đã có nhiều tờ báo có sự đổi mới về mặt thiết kế. tư vấn chiến lược của Hiệp hội Báo chí thế giới Wan nói.” . tư vấn chiến lược của WAN khẳng định “những con số phát hành báo khổ nhỏ cho thấy báo khổ rộng sẽ chết nếu thị trường cứ tiếp tục phản ứng như hiện nay và độc giả cứ việc mua những gì họ muốn”. • Tranh ảnh: 31 .ông Jim Chisholm.Tờ Times của London uy tín cũng lựa chọn cách này. măng – set mới và đổi khổ từ khổ cũ là 19x27cm sang khổ mới là 20x30 cm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của bạn đọc và hội viên hội Nhà báo cả nước. cũng đã tuyên bố đổi tờ báo sang “hình thức gọn nhẹ” (một thuật ngữ mà ban biên tập tờ này thay cho từ “khổ nhỏ”). trong khi phiên bản khổ to lại đăng những bài phân tích và thông tin nền”. Kết quả rất khả quan tỉ lệu tirage -8% trên một năm thành gần dương 3% một năm. Ông Jim Chisolm. Tờ Die Welt nổi tiếng ở Đức đã chuyển hầu như toàn bộ nội dung sang tập san khổ nhỏ và “đóng gói” nó thành những gì mà họ gọi là “một tờ để mang theo bên mình”. một trong những tờ nhật báo chính thống đáng tôn trọng nhất nước Anh.“Quan niệm cho rằng báo lớn là đáng tôn trọng còn những tờ báo nhỏ chỉ biết giật gân nay đã hoàn toàn thay đổi. Biên tập viên Peter phát biểu tại Hội nghị hàng năm của hiệp hội báo chí thế giới cho rằng: “Tờ khổ nhỏ sẽ tập trung vào tin tức. Tờ Wall Street Journal châu Âu là một cái tên nổi tiếng nhưng lại làm ăn thua lỗ. 85 tờ báo đã chuyển đổi sang báo khổ nhỏ từ 2001 đến năm 2005 có 28 tờ báo nữa đã chuyển sang dạng báo khổ nhỏ hơn đăng tin vắn tắt. từ số tháng 6-2004 đã thay đổi kiểu chữ. Và theo ông “khổ nhỏ dễ đọc về tất cả những gì mà bạn thực sự muốn biết”. Và tháng 10/2005 tờ báo đã biến thành tờ khổ nhỏ.

Thực tế những trang bìa đẹp. Nhân vật trang bìa cũng là những gương mặt trẻ tuổi năng động. Những trang báo khô khan bây giờ đã được thổi vào một luồng gió mới đó là sự xuất hiện những tranh ảnh. Những hình ảnh này thường được đặt lên trang bìa để tạo sự thu hút đối với độc giả. Chúng ta có thể dễ dàng thấy những hình ảnh to đẹp với màu sắc rực rỡ. rực rỡ thực sự đã tạo ấn tượng đặc biệt với độc giả trẻ tuổi. sinh động không kém hình ảnh trên báo mạng và truyền hình. Thế giới học đường…cũng có những cách trình bày ảnh rất độc đáo nhằm mục đích tạo ấn tượng mới lạ cho bài viết. Chính hình thức mới này đã tạo cho tờ báo những mảng khối sống động và ấn tượng. Tranh có thể vẽ bằng tay hay bằng máy vi tính. 32 . màn ảnh sân khấu. trẻ trung. mang dấu ấn sáng tạo của người làm báo. biểu đồ. bảng.Đã xưa rồi cách làm báo chỉ có chữ và chữ. Không chỉ trang bìa trong nội dung của một số báo như Thời trang trẻ. Sự độc đáo. Ví dụ: Tờ Hoa học trò có hình thức trình bày với những ảnh lớn có màu sắc rực rỡ. người nghệ sĩ đã thu hút sự quan tâm của người đọc.

Tờ USD Today là một ví dụ 33 . Sự xuất hiện của ảnh không chỉ hút mắt độc giả mà còn làm cho nội dung bài viết thêm sinh động và khách quan. Những bức ảnh khbtcó màu sắc cũng sẽ hấp dẫn hơn.Xu hướng những năm gần đây là ảnh là bắt buộc phải có đối với mỗi trang báo. Màu sắc hài hòa sẽ tạo cho tờ báo có điểm nhấn. Màu sắc: Các báo trước đây thường chỉ in với hai màu đen trắng thì giờ đây đã xuất hiện những tờ báo in màu.

Chúng ta có thể dễ dàng thấy một số tờ quá lạm dụng màu sắc như tờ Nguyệt san. Người đọc bị hoa mắt vì quá nhiều màu được pha trộn vào nhau như kiểu canh thập cẩm. Tuy nhiên nếu quá lạm dụng màu sắc sẽ dẫn đến phù phiếm khiến người đọc rối mắt. Sự phá cách ở hình thức với màu sắc. hình vẽ. các bài viết chủ chốt đều được đặt tít và sapo ngay trang đầu. tờ thế giới Học đường. USD Today vẫn được độc giả nhìn thấy và dễ dàng nhận ra. Những năm 80 của thế kỉ trước là thời kì mà New York Times và Wall Street Juornal chiếm vị trí độc tôn với những trang báo khổ lớn in bằng hai màu trắng đen với những bài viết phân tích dài dòng. một số tờ báo về thời trang… Ví dụ: Tờ sinh viên dưới đây đã sử dụng màu sắc quá nhiều và không hài hòa khiến trang báo trông hết sức lòe loẹt. biểu đồ. đều được sử dụng bình đẳng như bất kì chỗ nào trên trang nhất. nơi được cho là quan trọng và thiêng liêng nhất đối với mỗi tờ báo. Có thể nói USD Today là tờ báo tiên phong cho phong cách trẻ hóa và hiện đại của báo in tại Mỹ trong hơn hai thập kỷ qua. cách thể hiện của tờ báo cũng rất bắt mắt. Không những vậy. Bên cạnh hai tờ báo này còn rất nhiều tờ báo địa phương khác có lượng độc giả đông đảo. trưng cầu… đã khiến cho USD Today trở thành “một cô gái điệu đà” có sự tươi trẻ nổi bật so với những tờ báo già cỗi. là tít và sapo… Đây cũng là tờ báo in duy nhất tại Mỹ sử dụng phông chữ Gulliver. Dù để lẫn với hàng trăm tờ báo khác trong sạp. Tuy có màu sắc khá bắt mắt nhưng do quá lạm dụng nên gây phản tác dụng.điển hình. tẻ nhạt của Mỹ lúc bấy giờ. 34 . cũ kĩ. Đây là lí do để USD Today trở thành một trong những đại gia của nền báo chí Mỹ. có thể là hình ảnh. tờ 2! của báo Hoa học trò. Hai góc trái và phải của tên báo. Nhưng sự xuất hiện của USD Today như một liều thuốc “cải lão hoàn sinh” với nền báo in khá đơn điệu.

Liberation và Le Figaro vốn được coi là chuẩn mực của nhật báo tiếng Pháp và nổi danh với những bài phân tích sâu sắc cùng những cột đen đặc chữ.200 chữ người ta sẽ cắt làm hai bài ngắn. không nhiều hơn và cũng không ít hơn. đưa thêm nhiều “thông tin mềm” như giải trí và thời trang. hộp thông tin… để độc giả có thể đọc rất nhanh. Nghebao. Độc giả đã quá nhàm chán với những tin bài dài lê thê kiểu cổ điển ấy. cho độc giả nhiều cách tiếp cận. Xu hướng makét hiện đại tránh những bài viết quá dài. trong đó có Le Monde. biểu đồ. thông tin đến cùng. ảnh (tốt. Xu hướng báo chí ngày nay thiên về hướng “thông tin nhiều cửa”. tạo nhiều cửa thông tin mới để thu gọn bài viết. giảng viên lớp học về xu hướng trình bày của báo chí hiện đại. nội dung. tạo nhiều khoảng trống. Trong đó có nhiều đơn vị thông tin có thể là cái tin. Điển hình của sự thay đổi này là các tờ nhật báo lớn. tăng số lượng ảnh. lớn. các bảng. thậm chí là ba. Một sự kiện thời sự nhất định cũng được trình bày trong khuôn khổ đã cố định. Le Monde đã phải thay đổi hình thức. Những cột đen đặc chữ giờ đây đã được thay bằng một bài báo ngắn nhưng thông tin sâu. 35 . hay một bài nhỏ có tít kèm theo hình ảnh. chỉ dùng những bài có độ dài vừa phải ví dụ một bài dài 1. đó là các yếu tố: text (nội dung) rất ngắn. Chúng ta có thể dễ dàng thấy được sự ưu tiên cho các “cửa vào thông tin” này trên các trang báo hiện đại” (ông Marc Provot. nhiều chiều.1. Cuộc sống hiện đại đòi hỏi chúng ta phải phân chia thời gian ít ỏi cho rất nhiều công việc và do đó nếu báo in vẫn giữ mãi những “khuôn khổ không xê dịch” đó thì không thể cạnh tranh được công chúng với các loại hình truyền thông khác. Thông tin đưa đến độc giả phải là thông tin có giá trị nhất. dùng nhiều hình thức minh họa để người đọc lập tức hiểu nội dung câu chuyện diễn ra như thế nào. Trong makét hiện đại có nhiều cửa thông tin. bài Báo in dài lê thê bây giờ chỉ phù hợp cho những người đã về hưu có nhiều thời gian rảnh.vn). độc giả sẽ biết đọc đến đâu là hết bài.2 Những thay đổi trong các tin. có mối quan hệ chặt chẽ với tít và bài.

36 .

37 . Đặc biệt số ra ngày thứ hai có biểu đồ phân tích tình hình tài chính tuần. Ấn tượng về màu sắc ở đây đó là sự hài hòa và trang nhã. Riêng ngày thứ sáu. Các bài viết ngắn gọn và dễ hiểu. chuyên mục đời sống tập trung vào lĩnh vực giải trí như phim ảnh. Tờ USD Today của Mỹ cũng là một trong những tờ báo phát đạt vì đã chọn cho mình một sự phá cách về nội dung bên cạnh hình thức. du lịch. Trên đây là một trang đôi của tờ Le Monde. dễ dàng cho người đọc.Nhìn vào tờ báo ta có thể thấy chữ viết trong bài đã được thu gọn một cách tối đa. Ở chuyên mục Tài chính có nhiều biểu bảng và số liệu nhất. Thể thao và Đời sống. Cách bố trí trang báo tạo ấn tượng về sự đơn giản. Tài chính. Đây là một cách hút độc giả của tờ báo nhà Gannet vì những thông tin mà báo cung cấp sẽ rất bổ ích cho kỳ nghỉ cuối tuần ngay sau đó của người dân Mỹ. truyền hình. Ảnh to hơn và in màu rất đẹp. Trang bên phải có phần chữ cực ngắn và thay vào đó là 3 bức ảnh: 1 ảnh to chiếm trọn ½ trang. Có bốn chuyên mục chính là Tin tức (thường được đặt ngay ở trang đầu). Trang bên trái có 3 ảnh to với màu sắc đẹp.

kết hợp với đó là những bài phân tích của các chuyên gia kinh tế hàng đầu nước Mỹ được báo đặt viết. thông tin ngày càng nhiều hơn. Đến năm 2002 còn 55%. Xu hướng báo giá rẻ ra đời vào giữa thế kỉ 19 với từ Penny Press. Xu hướng báo chí thế giới đó là giá ngày càng giảm xuống. Những tờ báo giá rẻ được bán rất rẻ và nội dung thông tin rất phong phú. Theo hiệp hội báo chí Mỹ. Số lượng độc giả trẻ có khả năng kiên nhẫn đọc những bài dài tới vài nghìn chữ là rất ít. thói quen đọc báo mỗi ngày của người Mỹ trong năm 1982 là 67%. Tỷ lệ người đọc báo có nguy cơ tiếp tục giảm nếu lượng độc giả không tăng. Báo giá rẻ: Một thời đại mới đã hình thành. chính là những độc giả trẻ tuổi. phong phú hơn. hấp dẫn hơn. tầm ảnh hưởng của nó ngày càng lớn hơn. Sự ra đời và phát triển của dòng báo giá rẻ giữa thế kỉ 19 là mốc phát triển quan trọng của lịch sử báo chí thế giới.tháng và quý. dày đặc chữ mà đọc mãi chẳng tìm thấy thông tin cốt lõi ở đâu. Báo đã đến được với nhiều người và do đó vị thế. đa dạng vì nó phải phục vụ nhiều đối tượng công chúng khác nhau. bằng giá báo Tuổi Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh. Ở Việt Nam cách đây khoảng 8 năm giá báo Thanh Niên là 1700 đồng.3 Xu hướng báo giá rẻ. dịch vụ của mình cùng với sự cạnh tranh về thông tin giữa các báo đã làm cho giá báo giảm xuống. Sự cạnh 38 . Thường độc giả sẽ bỏ lại tờ báo khi vừa vào đến giữa bài. báo đọc nhanh a. Một thời đại mà cuộc sống diễn ra nhanh chóng đến nỗi tất cả chúng ta đều bị cuốn vào guồng quay của nó. Độc giả trong độ tuổi từ 18 – 34 chỉ có 17% trong khi độc giả trên 55 tuổi chiếm 43%. Đặc biệt ngòai những công chúng mục tiêu thì một đối tượng cực kì quan trọng mà các báo hướng tới là công chúng tiềm năng. báo miễn phí. Không chỉ nền báo chí Mỹ mà ở bất cứ một nền báo chí thuộc một quốc gia nào cũng cần tìm ra giải pháp để chiếm lĩnh độc giả đặc biệt là lượng độc giả trẻ. 1. báo chí là nơi để doanh nghiệp quảng cáo các sản phẩm. Số lượng độc giả là thước đo chất lượng của tờ báo. bây giờ đã hạ giá xuống còn 1300 đồng. Sự kết hợp giữa báo chí và doanh nghiệp. Nhịp sống gấp gáp không cho phép người ta nhẩn nha đọc một tờ báo dài dằng dặc.

Những tờ báo này được phát không ở nhiều nơi công cộng. nhiều người qua lại như trạm xe buýt. “Nếu cứ để giá cao hơn báo Tuổi trẻ thì Thanh Niên sẽ gặp bất lợi và khó cạnh tranh” . Chỉ 15 -20 phút là độc giả có thể nắm được hết nội dung của tờ báo.000 bản/ kỳ. Người đọc báo có lợi hơn. Báo miễn phí đọc nhanh: Sự ra đời của những tờ báo giá rẻ đã tạo điều kiện cho báo miễn phí ra đời. Vào tháng 1/2006 và 6 tháng sau ở Toronto.Phó Tổng Biên tập của báo Thanh Niên cho biết sau khi có quyết định sáng suốt đó tốc độ tăng trưởng số lượng báo rất nhanh năm 2006 là 300. đợi xe. Mỹ và đã chính thức xâm nhập vào thị trường Bắc Mỹ. Tiêu biểu cho kiểu báo này là tờ Twenty . Tên báo đã gây ấn tượng với công chúng bởi tòa soạn này khẳng định với công chúng rằng báo của họ chỉ đọc trong 25 phút là nắm được hết thông tin và 25 phút cũng chính là thời gian mà chuyến tàu đến ga tiếp theo và vứt tờ báo vào sọt rác khi xuống khỏi xe. Đến năm 2001. Sự ra đời của báo miễn phí đọc nhanh đồng thời còn giải quyết được bài toán là làm thế nào để công chúng tiếp nhận thông tin một cách nhanh nhất trong một khoảng thời gian ngắn nhất. lấp đầy những giây phút trống trải ngắn ngủi trên xe buýt hay tàu điện ngầm. Tất cả các phiên bản Metro đều có hình thức cơ bản là khổ báo bằng nửa khổ nhật báo chuẩn dày từ 24-32 trang với nội dung phong phú và phong cách đặc thù của báo đọc nhanh dành cho độc giả trẻ phát hành từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần. Thông tin ngắn gọn.tranh về thông tin và độc giả là nguyên nhân chủ yếu để Thanh Niên có quyết định “sáng suốt” này. ga tàu điện ngầm… Tập đoàn Metro International của Thụy Điển có trụ sở đặt tại Anh là tập đoàn đi đầu trong trào lưu báo miễn phí. Nghĩa là độc giả có thể đọc trong lúc nghỉ ngơi.five minutes (25 phút). Canada Metro đã phát hành ấn bản đầu tiên ở Philadenphia. hầu hết các ga điện ngầm. thu hút nhiều quảng cáo hơn bù đắp giá bán. ga đường sắt và các trạm 39 . b. Khổ báo nhỏ dễ cầm ngay cả khi đi trên các phương tiện giao thông. trình bày rõ ràng giúp người đọc dễ đọc hơn.

000 tờ báo “Upaper” bày ở 300 thùng báo đặt tại 69 trạm dừng xe ở thành phố Đài Bắc đã được bạn đọc lấy sạch trong khoảng 1h đồng hồ. Ở châu Á. Năm 2000.6 triệu bản phân phối tại châu Âu. Tại vương quốc Anh sự phân phối báo phát không đã tăng từ 237. đã xuất bản 5.5 triệu bản in mỗi ngày tại 16 nước năm 2003.000 bản năm 1999 lên 864. nhà xuất bản đặt tại Thụy Điển phát không cho những người đi làm hàng ngày. Đây là tờ báo miễn phí đầu tiên của Đài Loan. Ở Đan Mạch là 32%. Thị trường báo miễn phí hàng ngày tại một vài nước rất ấn tượng. Tổng cộng có 169 tờ báo miễn phí hàng ngày có lượng phát hành là 27.9 triệu hàng ngày. thông tin hấp dẫn với những chuyên mục khá tiện ích và 40 . Ở Ý là 29%. ngày 26/3/2007 tờ “Upaper” của tập đoàn báo chí Liên Hợp đã ra mắt bạn đọc Đài Loan.xe buýt của Montreal và Boston đã bị Metro chiếm lĩnh. Theo thống kê của các Hiệp hội báo chí thế giới thì hiện nay báo miễn phí đã có mặt tại 38 quốc gia. Báo miễn phí đang tăng nhanh ở một số thị trường. (Theo www. Thế giới thương mại là ấn phẩm do báo Thương mại phát hành. Ở Tây Ban Nha: báo miễn phí hàng ngày chiếm tỉ lệ lớn 51% của thị trường báo chí. ngay trong ngày đầu tiên 800. Hàn Quốc là nước phát triển rầm rộ báo phát không. với 18. (theo Hiệp hội Báo chí thế giới). Tháng 11/2002 kết quả thăm dò cho thấy tờ báo đã có nhiều khả quan 40% số độc giả thường xuyên của tờ này là dưới 30 tuổi.com). Năm 2006 Metro xuất bản 7 triệu bản mỗi ngày. Ở Bồ Đào Nha là 33%. Hàn Quốc có duy nhất một tờ báo phát không nhưng năm 2005 thì đất nước này đã có 5 tờ. Sự phát triển và phổ biến của tờ báo miễn phí này đã đạt đến tầm thế giới. Và những ngày cuối tháng 6/2006. Tại Việt Nam nếu không kể một số ấn phẩm được phát miễn phí như các tờ rơi.yzzk.000bản năm 2003. Năm 2003 Tờ Metro quốc tế. thì tờ Thế giới thương mại là tờ báo in miễn phí đầu tiên. độc giả Thủ đô Hà Nội khá tò mò khi nhận được những tờ báo in dày dặn. tại 81 thành phố chính ở 18 quốc gia với 17 thứ ngôn ngữ. Ở Đài Loan. một số tờ báo phát miễn phí cho đồng bào dân tộc của Chính Phủ hoặc báo phát không cho đối tượng khách hàng nào đó.

Sự phổ biến của kiểu báo này là một mảnh đất tốt lành để các nhà quảng cáo tìm đến.000 bản mỗi số và tỉ lệ quảng cáo lúc nào cũng chiếm 50% số trang. Người đứng đầu Hiệp hội báo chí thế giới (WAN) đặt tại Paris phát biểu: “Báo chí đang tiếp tục tiến bước trong quá trình khai thác hàng loạt những kênh phân phối mới bắt từ những tờ báo miễn phí hàng ngày. dễ dàng. hấp dẫn độc giả. Như vậy dù phát không những vẫn sẽ có lợi nhuận thậm chí lợi nhuận cao nếu nó thực sự thu hút độc giả.5% trong một năm và 22.hoàn toàn miễn phí. một con số rất lớn đối với một tờ báo chưa phải là lớn như báo Thương mại. ít tốn kém (so với truyền hình. Và số lượng độc giả là 5 vạn. các quán cà phê. Quan hệ giữa báo miễn phí đọc nhanh và quảng cáo là hình thức cộng sinh. các trung tâm thương mại lớn… Những cuộc điện thoại về tòa soạn đã chứng tỏ sự quan tâm của độc giả tới tờ báo. Mỗi kỳ phát hành 2 vạn bản tại các tuyến phố buôn bán sầm uất như Bạch Mai. Tờ báo đã chọn một hướng đi đó là tự mình tìm đến với độc giả qua kênh phát hành miễn phí. Và những gì mà nó thu được là đánh dấu bước đầu thành công. Miễn phí nhưng vẫn có lợi nhuận: Báo miễn phí sống chủ yếu nhờ quảng cáo. Sự xuất hiện của báo đọc nhanh miễn phí và phát với số lượng lớn là cơ hội để giới lười đọc báo tiếp cận một cách rộng rãi. nhanh chóng. Thu nhập từ quảng cáo ở báo miễn phí đã tăng 1. thông tin phong phú. internet…) Các tờ báo phát không này chủ yếu sống bằng quảng cáo. Nhiều hãng kinh doanh báo miễn phí đã có doanh thu khổng lồ từ việc kinh doanh thị trường chứng khoán. các tụ điểm ẩm thực. Vấn đề ở đây là tờ báo phải sinh động.. Chúng đang chứng tỏ sức bật không thể 41 .. Hướng đi này của báo Thương mại đã chuẩn bị cho sự hội nhập báo chí thế giới. Trong các tờ báo đọc nhanh thành công nhất về mặt quảng cáo là tờ Express với lượng phát hành 150.6% trong vòng 5 năm (theo Hiệp hội báo chí thế giới). Quảng cáo là đứa con tinh thần của báo phát không. (Theo Người làm báo 2006). Hàng Đào. Đối với những tờ báo lớn đây là con số mơ ước.

Ngay sau khi ra đời Metro đã được độc giả hưởng ứng nhiệt liệt và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường tại một số quốc gia thậm chí những quốc gia có nền báo chí phát triển như Mỹ. cho dù AM 42 . Và đến mùa thu 2002 đã có khoảng chục tờ báo đọc nhanh miễn phí được phát hành.000 thanh thiếu niên sử dụng internet để nắm các tin tức mà không hề sử dụng báo). Ngày 4/8/2003 Express được tung ra bởi Washington Post. Trong tháng 11/2003 ở Pallas diễn ra cuộc chiến báo đọc nhanh thứ hai: ngay sau khi tờ Quick được phát hành vào ngày 10/11 do Pallas –Morning News. Tờ Red Eye được tung ra ngày 30/10/2002 bởi tập đoàn Tsibune phát hành từ thứ hai đến thứ sáu nhằm vào độc giả trẻ vốn đang chán báo khổ lớn Chicago Tsibune mỗi tuần một lần (Có khoảng 500. Mặc dù Red Streak xuất hiện muộn hơn một chút so với Red Eye (đều được phát hành số đầu tiên trong cùng một tháng) nhưng phần nào cũng làm giảm sự chú ý các công ty quảng cáo và độc giả đối với Red Eye. Chicago SunTimes cũng mau chóng tung ra một tờ báo đọc nhanh tương tự có tên là Red Streak để cạnh tranh với đối thủ là Tsibune. Chỉ trong 6 tháng cuối năm. Trong đó 40% số độc giả là dưới 30 tuổi. Metro có mặt ở khắp mọi nơi với số độc giả mà khiến tất cả các tờ báo khác phải mơ ước. Hiện nay con số các quốc gia mà Metro có mặt là 25. ngày 12/11 tòa báo American Consoliadated Media đã phát hành miễn phí tờ AM Newspaper – Express do 225 người bán báo phát với câu chuyện đăng trên trang nhất về vụ án một tỷ phú New York giết người hàng xóm và chặt xác ra thành nhiều mảnh. báo đọc nhanh miễn phí được các tập đoàn truyền thông thi nhau phát hành. Những con số thống kê này đã làm cho tất cả các tòa soạn phải giật mình.tưởng tượng được để chống lại sự tấn công dữ dội của hàng loạt các cuộc cạnh tranh về truyền thông”. Cuộc cạnh tranh của các báo miễn phí Tập đoàn Metro International của Thụy Điển có trụ sở đặt ở Anh là tập đoàn đi đầu trong trào lưu báo miễn phí. Nơi đầu tiên có sự cạnh tranh quyết liệt giữa những tờ báo đọc nhanh miễn phí là Chicago.

nó có lợi gì? Chắc chắn đây là câu hỏi đang đặt ra với nhiều người. nhiều độc giả đã quen thuộc với tờ báo mà họ thích. làm thay đổi đáng kể cách thức tiếp cận thông tin. website của các báo trở thành các "cổng Internet" trong khi thực chất không phải như vậy.4 Tương lai của báo in – báo in điện tử epaper Nó không phải là những website thông tin mà chúng ta hay gọi chung là báo điện tử. sống động. Cung cấp tin tức qua Internet gần như là một chiến lược đương nhiên đối với các báo và ngành xuất bản nói chung. nó cũng không phải là những newsletter dạng text hay dạng HTML gửi đến hộp thư của chúng ta mỗi ngày. Ngoài các tờ báo in truyền thống. Mặt khác.Express ra muộn hơn Quick 2 ngày nhưng cũng kịp làm cho đối thủ bị lu mờ. Và Internet xuất hiện. Nhưng khi làm như vậy. Báo chí eNewspaper viết tắt là E – paper là loại hình báo chí được hiển thị trên một loại giấy điện tử. sẽ có cảm giác không thoải mái với cách cung cấp thông tin này. báo đã trở thành một thứ hàng hóa không thể thiếu mỗi ngày đối với nhiều người. 1. gọn nhẹ. Suốt nhiều thế kỷ.Newspaper . Tờ báo này hiện nguyên xi trên màn hình vi tính. các báo đứng trước nguy cơ đánh mất bản sắc cũng như hình ảnh thương hiệu của mình. 43 . Hãy tưởng tượng bạn đang cầm một tờ báo trên tay. Đó chính là e-paper. thiết bị trợ giúp kỹ thuật số (PDA) và điện thoại di động. giờ đây người sử dụng có thể đọc tin qua máy tính. Tại sao phải sinh ra ePaper làm gì. Tất cả các tờ báo đọc nhanh đều có phong cách như Metro International và đều từ bỏ khổ rộng đặc trưng của báo trước đây để sử dụng khổ nhỏ với đặc trưng của loại tạp chí giải trí. có màu sắc tươi nét.

Giải pháp eNewspaper.và quả thật là trông rất hấp dẫn.Hiện tại. nhất là những người đã trở thành độc giả trung thành của một tờ báo nào đó. nhìn những tờ báo trên mạng "như thật" này đúng là cũng hấp dẫn. khi con chuột di đến bài nào thì bài đó sẽ được "highlighted" và click vào thì hiện một cửa sổ khác với đầy đủ nội dung. theSun và The Edge Financial Daily của Malaixia và quả thực là thấy rất ấn tượng. hầu hết các báo đều có phiên bản online nhưng nội dung và thiết kế trang (layout) thì không hoàn toàn giống với bản in. nội dung thì theo kiểu đổ chữ tự do từ đầu đến cuối. lật trang. Thử xem một số tờ như Hindustan Times của Ấn Độ. còn việc lật trang thì rõ ràng là hoàn toàn khác với kiểu lật trang báo in. Xét về quốc gia thì đi đầu về ePaper không phải là báo chí Mỹ hay châu Âu mà lại là những tờ báo của Ôxtrâylia. Thêm vào đó là yếu điểm không thể theo dõi chính xác số lượng người thuê bao download các file PDF này. Một số công ty cung cấp bản tin cho khách hàng ở dạng file PDF để đảm bảo "nguyên dạng" . 44 .. Hàn Quốc. Vì đây là "đọc có trả tiền" chứ không phải báo miễn phí nên độc giả sẽ không bị khó chịu bởi những hình quảng cáo trong bài. Ôman. Báo in số. Với các tờ báo lớn thì download rất lâu và khó tìm kiếm. Dễ dàng hiểu được vì sao các tòa soạn báo lại mặn mà với ý tưởng này đến vậy. hay còn gọi là báo in điện tử. đã ra đời vào khoảng năm 2003 và chậm rãi tiến vào thị trường trước khi trở thành một xu hướng mới bắt đầu từ khoảng giữa năm 2004. Malaixia và. Với những màn hình phẳng chất lượng cao. Nó chẳng khác nào như việc cầm tờ báo trên tay. Điều thú vị là các tờ báo nhỏ lại nhanh chân hơn các báo lớn trong lĩnh vực này.. tận dụng ưu thế của hai xu hướng truyền thông thịnh hành nhất hiện nay là tăng trưởng mạnh của quảng cáo trực tuyến và sự phổ biến của những thiết bị cầm tay như iPod. viết tắt là ePaper. Ấn Độ. nhưng cách thức này chỉ hữu hiệu với các bản tin ít trang. Ảnh thì nhỏ. khó đọc và khó chuyển bài.

hình ảnh hay quảng cáo. . chỉ cần mở máy tính và đọc ngay số ra buổi sáng (nhớ tính đến đoạn lệch múi giờ). một nhà 45 . và nếu bận chạy đi họp thì chỉ cần ra một lệnh để in vào khổ giấy lớn. nhưng ít độc giả nào lại lôi laptop ra đọc báo trong khi chờ tàu hay mạo hiểm tới mức đọc chúng trong.Gần như mọi tờ báo in có tiếng hiện nay đều chạy song song một website của riêng mình. Xét ở góc cạnh tòa soạn báo. công nghệ mới cho phép sử dụng luôn cả video hay audio..Tăng doanh thu trực tuyến . đối với cả bản in và bản điện tử.Đảm bảo tính nhất quán về thương hiệu của tờ báo. Không hề gì. Nhưng tình hình có thể đảo ngược 180 độ với báo in điện tử. Chưa kể nó còn giúp các tòa soạn báo cắt giảm được tới 75% chi phí nhờ xóa bỏ được khoản phí phát hành. Và đương nhiên. Hãy thử lấy một ví dụ: Bạn thích đọc tờ Thanh Niên nhưng đang phải đi công tác tận châu Âu. Vào cuối những năm cuối của thập kỷ 80 nó được Tim Berners Lee. . Báo điện tử Báo mạng hay báo chí internet tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của hệ thống internet trên toàn cầu.Tự động lưu trữ dạng kỹ thuật số tất cả các số báo. kết nối trực tiếp trên mạng. nhà vệ sinh. .Có khách hàng đăng ký mua báo trên toàn cầu. cho phép đánh dấu trang (bookmark). rồi còn cho phép tìm kiếm chữ.Tăng doanh thu quảng cáo trên mạng (có thể thay nhiều quảng cáo chứ không bị ấn định như báo in). Web (World Wide Web) được sinh ra với mục đích tạo giao diện chung dễ sử dụng trong quá trình truy cập thông tin trên internet. nhưng trên thực tế. (Theo Vietnam Journalism) 2. dưới đây là một số ưu điểm chính của ePaper: . không ai dám nói chắc về nhu cầu dành cho "giấy điện tử". vậy là có trong tay nguyên xi tờ báo để đọc trên tàu hoặc xe buýt.. Nhiều người lạc quan đã xem đây như một "cứu cánh".

truyền 46 . Cùng với sự phát triển chóng mặt của các công nghệ kết nối. “Cơn sốt vàng” của thời thông tin trực tuyến bắt đầu. XML. Những ưu thế của báo mạng so với các loại hình báo chí khác: Sự ra đời của báo mạng đã làm thay đổi thói quen tiếp nhận thông tin trước đây của một bộ phận công chúng đọc giả.cũng đã phải lập tức triển khai phiên bản điện tử.vừa là để cạnh tranh vừa là không thể cưỡng lại xu thế điện tử hóa ... thường là buổi sáng để cầm một tờ báo in trong tay và đọc nó. Bạn chỉ cần trỏ vào các siêu liên kết (Hyperlink). trong đó phần lớn phát hành lại các bài báo từ bản giấy và có cập nhật thêm thông tin riêng. Một khảo sát lần đầu tiên về độc giả Internet của hãng dịch vụ thống kê truy cập Nielsen/NetRatings công bố mới đây cho thấy 1/5 số người lướt web thích đọc báo mạng hơn các phiên bản phi trực tuyến.1 Ưu điểm và hạn chế của báo mạng a. hoặc phải chờ đến một giờ nhất định để xem một chương trình trên ti vi hay trên đài phát thanh. Nếu như trước đây công chúng phải chờ đến một thời điểm nhất định trong ngày. Java. Thì nay. Tháng 10/1993. với sự ra đời và phát triển vượt bậc của công nghệ internet. 2. Năm 1994. số lượng các tờ báo điện tử cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới. Có lẽ đó cũng chính là một động lực khiến các tờ báo giấy .. báo mạng có thể đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng vào bất cứ thời điểm nào trong ngày chỉ qua một cái kích chuột. Năm 1991. hay chỉ càn gõ tên địa chỉ (URl) vào máy là nhận được ngay thông tin yêu cầu. phiên bản online của tạp chí Hotwired chạy những banner quảng cáo đầu tiên và hàng loạt báo khác tại Mỹ ồ ạt mở website. các trang web được hiện ra một cách sống động nhất. người dùng được nhận bản thử nghiệm đầu tiên và từ đó một cuộc cách mạng trên internet đâ bùng nổ..vật lý ở viện nghiên cứu hạt nhân châu Âu Cern đề xuất và tiến hành nghiên cứu cùng với cộng sự của ông là Robert Caililau. các đối tượng đồ hoạ (graphics) mà còn là các hoạt cảnh chuyển động (media clip) kèm theo âm thanh sống động. giúp đẩy nhanh tốc độ truy tải. Thông tin không chỉ hiện ra dưới dạng văn bản (text). Khoa báo chí Đại học Florida (Mỹ) tung ra cái mà họ tự tin là tờ báo Internet đầu tiên. Cùng với các ngôn ngữ lập trình được thiết kế riêng cho Web như HTML.

giáo dục. Đơn giản nhất là khả năng tương tác hai chiều giữa công chúng và toà soạn: người đọc có thể phát biểu ý kiến. giải trí. 47 . Với khả năng tương tác nhiều chiều toà soạn có thể tổ chức nhiều cuộc giao lưu trực tuyến giữu đọc giả trong. về những đề tài mà nhiều người quan tâm. trong đó. báo tiếng (audio) và báo hình (video). bình phẩm thông tin và đưa lên mạng. Đây là một lợi thế của báo mạng mà báo in không thể làm được và rất hạn chế đối với truyền hình và phát thanh.. L’Express và Le Monde trên mạng đã hoạt động được 10 năm. văn hoá. Ghi chép của phóng viên VietNamNet từ chuyến đi khảo sát báo chí Pháp: Hiện nay ở một số quốc gia có nền báo chí phát triển như Pháp. L’Express đều có bản điện tử. tức dung lượng của thông tin gần như không hạn chế. chính kiến. thị hiếu của đọc giả để có những điều chỉnh cần thiết. Nhờ đó toà soạn có thể nắm bắt nhanh tâm tư. sức chứa thông tin khổng lồ và khả năng tương tác nhiều chiều giữa toà soạn và bạn đọc. nguyện vọng. Một số báo lớn.. âm nhạc. có uy tín ở Pháp như Le Monde. báo điện tử đang “chiếm ngôi” của báo giấy. Báo mạng có sức chứa to lớn cả về không gian và thời gian. thời sự trong nước. Có thể coi báo điện tử hiện nay là sự hội tụ của cả báo giấy (text). Chẳng hạn như về thời sự quốc tế. ngoài nước với các vị lãnh đạo hoặc các nhà hoạt động xã hội. Mỹ. Liberation. Người lướt web không chỉ được cập nhật tin tức dưới dạng chữ viết mà còn có thể nghe rất nhiều kênh phát thanh và xem truyền hình ngay trên các website báo chí.. mỗi mảng gần như một tờ báo riêng. khoa học.. thể thao. văn nghệ.tải thông tin dưới mọi hình thức mà các loại báo truyền thống cung cấp. Với lợi thế nhanh và mạnh. văn hoá. Mỗi một tờ báo mạng là một cấu trúc rộng về không gian với nhiều mảng khác nhau. phần lớn các báo giấy đều có xu hướng lên mạng. khoa học. Một thế mạnh nữa của báo mạng là khả năng tương tác nhiều chiều. công nghệ thông tin.

báo mạng còn có khả năng chứa thông tin tư liệu cực lớn. Các bản tin trên mạng đang trở nên đa phương tiện. Chi phí phát hành lên tới 55 tỉ USD của ngành công nghiệp báo chí Mỹ đã giảm đi một cách đáng kể trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây khi mà báo in phải cạnh tranh mạnh mẽ với báo điện tử trên Internet về phương diện độc giả và quảng cáo. Lý giải nguyên nhân tại sao báo mạng lại thu hút được nhiều bạn đọc. ngay lập tức độc giả có thể vào xem các bài có liên quan với chỉ một cú nháy chuột vào đường link gắn kèm. báo điện tử sẽ phát triển mạnh ở nhiều quốc gia. hình ảnh. Theo bà Tromparent. Thứ nhất. Xu hướng này không chỉ giới hạn ở báo viết hay tạp chí. Thứ hai.Trong bối cảnh báo điện tử và báo miễn phí đang lấn sân báo giấy. bà Dorothee Tromparent – Phóng viên. Canal Web là một trong những công ty đầu tiên của Pháp. đa dịch vụ và đa hỗ trợ. cùng một lúc nghe bình luận. người dùng Internet còn có thể tham khảo nguồn tin mà phóng viên thu thập. đa phương tiện thực sự đã được tập đoàn Radio France cho ra mắt. cùng với nouvo. việc cập nhật thông tin nhanh. chuyên gia truyền thông đa phương tiện thuộc trường Đại học báo chí Lille. Một bản tin “đặc sắc”. việc đưa các bài viết trên báo giấy cộng thêm tin tức. nơi 90% người dùng Internet thích xem báo mạng. đặc biệt là Pháp. nhiều đài phát thanh và hàng chục kênh truyền hình cũng lần lượt phát sóng các chương trình qua Internet. xem hình ảnh được ghi lại từ hiện trường… Ngoài ưu thế có gắn kèm các phương tiện nghe nhìn. Đây là một khả năng mà báo giấy không thể có. video mới nhất lên Internet đang là một trong những giải pháp nhằm giữ chân độc giả. Hiện nay ở Pháp. báo giấy không còn sức lôi cuốn như trước kia nữa. Báo điện tử lại có thể giúp giảm khoảng 75% chi phí sản xuất và phát hành cho các tờ báo. Theo đó. Mạng Internet đã giảm thiểu rào cản giữa các phương tiện truyền thông. Khi truy cập một bài báo trên mạng. 48 . Pháp cho biết: “có hai lý do chính.com tiên phong trong lĩnh vực truyền hình trên mạng. trong vòng 2-3 năm tới. hình ảnh minh hoạ đẹp cũng khiến độc giả bị báo mạng cuốn hút”.

độc giả có thể tìm được những bài viết của báo L’Express được đăng từ cách đây hơn một chục năm. một tổ hợp dịch vụ thông tin đa dạng đọc. Tóm lại. tổng biên tập báo mạng L’Express nói “với một hệ thống lưu trữ dữ liệu lớn. có thể mô tả diện mạo của một tờ báo điện tử hoàn chỉnh như một cấu trúc mở rộng về không gian cho nhiều đối tượng bạn đọc. người dùng có thể so sánh cùng lúc sản phẩm của các hãng khác nhau với vài cú nháy chuột. có đến 64% không hài lòng với chất lượng báo chí trong cộng đồng nơi họ ở. báo điện tử còn lấy đi quảng cáo. Nhưng không phải mới ra đời mà báo mạng chịu lép vế trước những loại hình báo chí khác. Cuộc khảo sát trên mạng của We Media/Zogby Interactive cho thấy trong khi hầu hết mọi người nghĩ rằng báo chí có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng cuộc sống. Cùng lúc cuốn hút độc giả của báo giấy. Trong khi đó.979 người tham gia cuộc khảo sát nói nguồn tin tức và thông tin chủ yếu của họ là Internet. Với Internet. và tỷ 49 . một số bài viết của L’Express báo giấy đã xuất hiện trên mạng cùng với lúc báo in được phát hành”. Gần 50% trong số 1. ít ai có đủ kiên trì để xem hàng chục các tờ rơi hay nhiều số báo để tìm ra một nơi có giá cả hợp lý nhất. nhìn phong phú. dày về thời gian với sự tích luỹ nhiều tầng thông tin. trong khi 11% thường xuyên nghe đài và chỉ 10% đọc báo. nghe. ông Eric Mettout. Hiện nay. khi mua hàng.Trò chuyện với VietNamNet. Theo một khảo sát mới đây. tăng từ 40% cách đây 1 năm. Hơn một nửa số người trong độ tuổi từ 18 đến 29 lướt mạng để đọc tin. Nhờ những ưu thế vượt trội của mình mà báo mạng ngày càng thu hút công chúng đến với mình. Một cơ cấu giao diện hai chiều giữa toà soạn và bạn đọc. gần 70% người Mỹ cho rằng báo chí truyền thống không phản ánh đầy đủ và gần một nửa đang chuyển sang Internet để lấy tin tức. Chưa đến một phần ba coi truyền hình là nguồn cung cấp thông tin. Tuy tuổi đời của báo mạng mới chỉ dừng lại là con số trên một chục năm so với lịch sử hàng trăm năm của báo chí. nguồn lợi nhuận quan trọng của báo giấy.

lệ này ở những người từ 65 tuổi trở lên là 35%. Người già là nhóm duy nhất không chọn Internet là nguồn tin quan trọng nhất, với 38% chọn truyền hình. Một báo cáo khác của Hiệp hội các Nhật báo Mỹ, doanh số quảng cáo trên báo in ở nước này trong năm 2007 giảm 7,9%, mức giảm tồi tệ thứ hai trong vòng hơn nửa thế kỷ qua. Điều đáng nói là những con số này đã bao gồm mức tăng trưởng về doanh số quảng cáo trên bản điện tử của các báo. Khi nền kinh tế phát triển chậm lại, báo in đặc biệt bị ảnh hưởng mạnh trong tháng 4 năm 2007 - thời gian đỉnh điểm cho hoạt động bán quảng cáo - với mức doanh số giảm tới 10,3% so với cùng kỳ năm 2006. Nếu chỉ tính riêng quảng cáo trên báo in thì mức giảm cho cả năm là 9,4%, mức giảm lớn nhất kể từ năm 1950, khi hiệp hội bắt đầu thống kê. Doanh số bán quảng cáo trên bản điện tử của các báo in tăng 18,8%, ít hơn so với mức tăng trưởng hằng năm tới 30% trong 3 năm trước. Doanh số quảng cáo trên Internet mới chỉ chiếm 7,5% tổng doanh số quảng cáo trong năm 2007, vì thế vẫn còn phải mất nhiều năm nữa thì mức tăng trưởng quảng cáo trên mạng mới vượt được báo in. (Theo New York Times) Số lượng độc giả truy cập website của các tờ báo ở Mỹ lên tới mức kỷ lục vào năm 2007 chứng tỏ website là một trong vài điểm sáng ít ỏi đối với ngành báo in đang gặp nhiều khó khăn. Theo nghiên cứu của Hiệp hội Nhật báo Mỹ, số lượng người truy cập (unique visitor) website của các nhật báo Mỹ trong năm 2007 đã tăng hơn 6% và đạt mức trung bình hằng tháng là 60 triệu. Số lần ghé thăm hằng tháng trong quý IV tăng tới 9% so với cùng kỳ năm 2006 với 39% những người thường xuyên truy cập Internet ghé thăm trang web của các nhật báo và thời lượng trung bình là 44 phút mỗi tháng. Số liệu điều tra này được đưa ra vào lúc ngành báo in đang ngày càng trở nên phụ thuộc vào doanh thu quảng cáo từ website. Các chủ báo hy vọng mức tăng trưởng từ doanh số trên Internet sẽ bù lại được sự sụt giảm từ báo in. (Reuters)

50

b. Những hạn chế và thách thức đối với báo mạng: Bên cạnh vai trò tích cực và to lớn của loại hình truyền thông điện tử, chúng ta cũng nên nhận diện sâu sắc mặt trái, mặt phức tạp của nó, những thách thức mà nó mang lại để có những phương sách ứng xử thích hợp. Sau phát thanh truyền hình, truyền thông điện tử cuốn mọi quốc gia vào thời đại thông tin mở. Với sự tồn tại trôi nổi trên mạng vô số những website đủ màu sắc, với sự mở rộng mạng lưới Internet đến từng trường học, đến các vùng nông thôn xa xôi, vào tận các gia đình riêng, sự giao lưu thông tin hầu như đã và sẽ càng chọc thủng biên giới ngăn cách giữa các quốc gia, giữa các nền văn hoá và giữa các xu hướng chính trị. Chúng ta phải thừa nhận một điều rằng: Quyền lực của một tờ báo chính là bạn đọc. Bạn đọc càng đông, tác động xã hội càng lớn. Từ khuynh hướng xã hội của nó thì tác động ấy có thể tốt nhưng cũng có thể xấu. Bản thân độc giả nhiều khi cũng là nạn nhân. Bởi đứng trước một khối lượng khổng lồ thông tin trên các tờ báo mạng mang nhiều màu sắc chính trị khác nhau, nhiều khuynh hướng khác nhau họ bị rơi vào một mê hồn trận thông tin không biết thật giả ở đâu mà lần. Ngoài ra, báo mạng cũng phải đối diện với một vấn đề rất lớn đó là có thể bị “biên tập” lại ngay khi đã được ban biên tập chỉnh sửa rồi. Với tình trạng “hỗn quân hỗn quan” hiện nay của Internet, điều này khó có thể tránh khỏi. Các hacker có thể tấn công bất cứ một site nào khi họ tìm được lỗi của hệ thống. Một ưu thế của báo mạng như đã nói ở trên đó chính là khả năng tương tác nhiều chiều của báo mạng. Tức là sau mỗi bài báo của các phóng viên được đẩy lên thì chỉ vài phút sau đã có thông tin phản hồi, ý kiến của đọc giả. Thông tin phản hồi này xuất hiện ngay dưới phần tin của phóng viên vừa đăng trong mục diễn đàn. Số người truy nhập được thống kê đầy đủ bằng một cơ chế phiên làm việc và xuất hiện công khai ngay trên trang báo. Chính điều này đã gây ra một sức ép lớn cho ban biên tập và phóng viên. Vì họ không thể có các ý kiến cá nhân hay bình luận gì. Qua đó gần như thấy rằng báo mạng có một hình thức riêng, rất đặc biệt để đánh giá “đẳng cấp” các phóng viên dựa vào các webmaster lưu giữ thư của đọc giả.
51

Một mặt trái nữa của báo mạng, đó chính là việc có nhiều ý kiến cho rằng: tin tức trên báo mạng đôi khi chỉ chuẩn ở khái niệm “đưa tin nhanh nhất chứ chưa chắc đã đúng nhất, hoặc có văn phong hay nhất”. Các mẩu tin viết vội mang tính thời sự cao được viết theo kiểu tin thư thì rõ ràng cái “thô” sẽ đầy rẫy. Các tin tức phá bỏ hầu hết các niêm luật, không có trọng chứng hay nói xa hơn là chưa mang đầy đủ tính đạo đức của báo chí truyền thống. Nhanh thì càng dễ ẩu. Với báo mạng phóng viên đôi khi cũng chính là các biên tập viên. 2.2 Xu thế của báo mạng a. Lấy tốc độ cập nhật thông tin làm trọng tâm Đưa tin nhanh là một lợi thế và cũng là một tiêu chí hàng đầu của các báo điện tử. Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt giữa các tờ báo điện tử, để có thể thu hút độc giả các tờ báo mạng phải đẩy nhanh tốc độ cập nhật thông tin. Những sự kiện thời sự nóng (breaking news) là trận địa nóng bỏng nhất. Họ thường huy động sức mạnh tổng lực cho những sự kiện này. Để chạy đua đưa tin sớm nhất, trước hết, báo điện tử có thể chỉ chạy một cái tít và một câu mở đầu tin để thông báo sự kiện mới xảy ra. Sau đó họ mới bổ sung dần thông tin, ảnh, các dữ liệu khác. Đối với những sự kiện lớn được công chúng quan tâm đặc biệt, họ còn có thể tường thuật trực tiếp sự kiện bằng hình ảnh (web TV) và bằng chữ để độc giả có thể theo dõi liên tục sự kiện đang diễn ra. Nhưng vấn đề quan trọng đầu tiên là làm thế nào để có được thông tin sớm nhất. Ngoài số lượng phóng viên có hạn của mình theo dõi từng lĩnh vực, các báo chỉ có thể dựa vào mạng lưới đông đảo cộng tác viên và cộng đồng bạn đọc thân thiết gắn bó với tờ báo. Tờ báo nào xây dựng được đội quân này đông đảo hùng mạnh thì càng có nhiều cơ hội tiếp nhận được thông tin nhanh. Một xu hướng mới của báo điện tử là công chúng tham gia ngày càng nhiều vào nội dung tờ báo. Trong rất nhiều trường hợp, bạn đọc không chỉ thông báo sự kiện cho báo mà họ còn ghi hình chụp ảnh và tường thuật sự kiện. Chẳng hạn như trong thảm hoạ sóng thần ở châu Á tháng 12-2004, nhiều khách du lịch châu Âu đã viết nhật ký
52

Tuy nhiên. Nguyên nhân của tình trạng này trước hết là do chưa có cơ chế để mọi phóng viên trong cơ quan đều có trách nhiệm săn tin. Trong khi đó. Web 2. máy ảnh. một số đài ở Việt Nam với số lượng phóng viên lên tới hàng trăm. clip. viết tin và làm các sản phẩm cho báo điện tử cũng có những yêu cầu riêng và đòi hỏi sức ép về thời gian.0 đang xuất hiện khắp nơi trong thế giới Internet và tác động lớn đến thói quen duyệt web của người sử dụng. xem các clip… Điều đó đã tạo ra sự đa dạng cho tờ báo điện tử. máy camera. không có khó khăn gì để thực hiện những điều đó. c. chưa một khái niệm nào 53 . Từ cập nhật bài viết của báo in. Kết hợp nhiều loại hình trên tờ báo điện tử Giờ đây khi vào một trang báo điện tử. Đây là một thách đố lớn đối với nhiều nhà báo quen viết cho báo in hàng ngày. xây dựng các chương trình phát thanh. nhất là những nhà báo lớn tuổi. Để có thể hút công chúng và tận dụng tối đa ưu thế của công nghệ.. bên cạnh bài viết về vấn đề đó còn có vài bức ảnh để minh họa cho bài viết. các tờ báo mạng ngày nay đã kết hợp nhiều loại hình truyền thông vào tờ báo trực tuyến của mình.. Với sự phát triển của cơ sở hạ tầng kĩ thuật và tốc độ đường truyền internet nhanh chóng. quay camera nhiều hình ảnh đưa lên mạng internet. dựng hình. công chúng không chỉ được đọc bài viết của phóng viên mà còn có thể theo dõi được cả bài viết đó dưới nhiều loại hình khác như là phát thanh. Mặt khác. Nếu như sự kiện đó có ảnh hưởng lớn thì tòa soạn có thể phát triển ra thành các bài tin ảnh. b. Cùng một sự kiện được đưa tin. một bài phát thanh và thậm chí sẽ thực hiện cả một clip để kết hợp tạo ra hiệu quả thông tin tốt nhất. thậm chí hàng nghìn người nhưng số phóng viên này lại chưa được huy động để giúp báo điện tử nâng cao sức cạnh tranh thông tin. xử lý ảnh bằng kỹ thuật số. kỹ năng sử dụng mạng internet cùng các thiết bị ngày càng tinh xảo phức tạp như máy tính xách tay.trực tuyến (blog) tường thuật sự kiện và chụp ảnh. sau đó được nhiều báo sử dụng.0 – Xu hướng tất yếu của báo điện tử Công nghệ Web 2.

về xu hướng này đủ bao quát và thỏa mãn tất cả mọi người. Thuật ngữ web 2.0 là một khái niệm khá trừu tượng, mặc dù Web 2.0 được xem là tương lai của báo điện tử toàn cầu nhưng ứng dụng của nó ra sao thì ngay cả tổng biên tập của nhiều tờ báo vẫn còn nhận định rất mơ hồ về nó. Web 2.0 không phải là cái gì hoàn toàn mới mà nó là sự phát triển của web hiện tại. Nó vẫn là web như chúng ta dùng từ trước tới nay chỉ có điều chúng ta sẽ làm việc với nó theo một cách hoàn toàn khác * Web 1.0: chủ yếu là phương tiện phát tin gồm các website "đóng" của các hãng thông tấn hay các công ty nhằm mục đích tiếp cận độc giả hay khách hàng hiệu quả hơn * Web 2.0 là phương tiện chia sẻ thông tin. Ở đó, người tiêu dùng đang dần trở thành người sản xuất ra những nội dung thông tin cho chính mình. Web 2.0 còn được gọi là mạng xã hội hay tờ báo công dân. Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty - Phó chủ tịch của OReilly Media - đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất do OReilly Media và MediaLive International tổ chức vào tháng 10/2004. Web 2.0 còn được gọi là mạng xã hội, thế hệ thứ hai của cộng đồng cư dân mạng. Ở đó, thông tin do chính độc giả tạo ra. Web 2.0 cho phép mọi người có thể đưa lên mạng bất cứ thông tin gì. Với số lượng người tham gia rất lớn, đến mức độ nào đó, qua quá trình sàng lọc, thông tin sẽ trở nên vô cùng giá trị. Một đặc điểm quan trọng của báo chí web 2.0 đó là sự tương tác giữa độc giả vả tòa soạn. Trong mô hình này, độc giả chính là tác giả của bài báo. Trong cuộc sống hằng ngày, khi muốn nêu ra quan điểm, ý kiến hay phản ánh về một sự việc nào đó, độc giả gửi tin bài tới cho tòa soạn. Những tin bài của độc giả sẽ tạo ra một cái nhìn đa chiều hơn. Danny Dagan – trưởng bản đại diện báo điện tử của News Group Digital (Vương quốc Anh) – nhấn mạnh trong bài báo cáo của mình: “Hãy để độc giả tạo ra cuộc đối thoại” – hay có thể hiểu độc giả chính là tác giả của bài báo. Theo ông, những bài viết của độc giả thường có chất lượng cao vì họ không phải chịu những sức

54

ép của tòa soạn và được viết trong tâm trạng nhiều cảm hứng. “Nếu bạn coi thường ý kiến của độc giả, bạn đã hoàn toàn sai lầm” – Danny khẳng định. Những tập đoàn báo chí trên thế giới đang áp dụng web 2.0 như tờ The Sun (Anh), News24.com (Nam Phi), The Asashi Shimbun (Nhật Bản), Sinchew-i.com (Malaysia), Sanoma (Phần Lan), Los Angeles Times (Mỹ), Gatehouse Media (Mỹ)… Như vậy với việc sử dụng Web 2.0 càng thấy được xu hướng phát triển ngày càng chiếm vị trí quan trọng so với các loại hình báo chí khác của báo điện tử. Như các chuyên gia nhận định: “chỉ trong vòng 5 năm tới, báo điện tử sẽ trở thành một phương tiện thông tin đại chúng được nhiều người đọc nhất trên thế giới. Đó là khi mạng Internet toàn cầu đã có mặt ở khắp mọi nơi và máy tính đã được phổ cập tới tất cả mọi gia đình. Đặc biệt là khi nó đã được kết hợp với hàng loạt các chức năng giải trí khác như xem phim, mua bán, kết bạn... qua Internet”. 3. Báo phát thanh 3.1 Phát thanh trong bối cảnh mới Phát thanh hiện đang được coi là loại hình truyền thông hiện đại và có sức ảnh hưởng lớn tới dư luận xã hội, có được một lượng thính giả rộng rãi. Phát thanh hiện đang cạnh tranh mạnh mẽ cùng các loại hình truyền thông khác. Tuy ra đời muộn hơn so với báo in song phát thanh có những bước phát triển nhanh chóng đáng kinh ngạc. Từ việc xuất hiện manh mún ban đầu khi mà Alexandre phát minh ra ăngten vô tuyến điện năm 1895. Trải qua những bước mày mò, tìm kiếm ứng dụng thì đến năm 1913 phát thanh chính thức góp mặt trên thế gưói truyền thông bằng sự kiện là những buổi phát ca nhạc của đài Lacken (Bỉ). Sau đó trong chiến tranh thế giới lần thứ I, phát thanh được sử dụng rộng rãi trong công tác truyền tin. Rồi một loạt các đài phát thanh ra đời đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ phát thanh trên toàn thế giới. Cho đến nay thì tất cả các quốc gia trên thế giới phát thanh đều đã góp mặt.

55

Ngoài việc sử dụng các cách làm cũ thì phát thanh còn bắt đầu ứng dụng các công nghệ cao vào trong phát thanh nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công chúng. Ở các quốc gia phương Tây, phát thanh rất phát triển, với ưu thế là gọn nhẹ chỉ cần một thiết bị thu tín hiệu nhỏ là công chúng có thể theo dõi các chương trình phát thanh, nên phát thanh đã trở nê quen thuộc trong cuộc sống bận rộn. Mỗi sáng, trên đường đi làm, ở trong ô tô khán giả có thể bật đài để nghe tin tức, tình hình giao thông… Các đài phát thanh ở phương tây cũng đang tích cực thay đổi để đáp ứng công chúng. Trong xu thế cạnh tranh giữa các loại hình báo chí với nhau, phát thanh cũng đang phải tìm lối đi cho mình. 3.2 Xu hướng của phát thanh hiện đại a. Chuyển đổi sang phát thanh kĩ thuật số Cũng như truyền hình, phát thanh cũng đang từng bước chuyển đổi hình thức phát sóng từ dạng Analog sang hình thức kỹ thuật số. Để phát triển rộng thì không thể thiếu yếu tố này, vì một đài phát thanh mạnh không thể có diện phủ sóng hẹp, chất lượng âm thanh kém, sự chuyển tải thông tin hay bị gián đoạn… Phát thanh hiện đại sẽ ứng dụng kĩ thuật số vào tất cả các khâu, các công đoạn; từ việc trang bị các phương tiện tác nghiệp cho phóng viên, đến việc xử lí, dựng các tác phẩm hoàn chỉnh, hay truyền phát sóng… Khi nguồn thu nhập thông tin tốt, khả năng xử lí thông tin, khả năng truyền dẫn tốt thì chắc chắn sẽ tạo một chương trình phát thanh tốt. Hiện nay phát thanh kĩ thuật số ra đời đang mở ra cho phát thanh một tương lai mới: đó là chất lượng âm thanh tốt như CD. Không có nhiễu, giao thoa, hay sự cản trở bởi các yếu tố tự nhiên Khi được sử dụng một cách đồng bộ sẽ tạo ta chất lượng phát sóng rất cao với các loại hình khác như PT-TH; PT- Điện Tử. b. Xây dựng các chương trình phát thanh mở

56

trang thiết bị hiện đại. có khả năng ứng biến cao và các phương tiện. Các chương trình mở có một đặc điểm đó là thông tin ở đó không chỉ do phóng viên cung cấp mà do cả công chúng. sự việc diễn ra trong thời gian giữa 2 số báo sẽ phải lưu lại cho tới số sau. khách quan và có khả năng thu hút thính giả theo dõi nhiều hơn. đánh giá ban đầu. có nhiếu công đoạn xử lý và phụ thuộc vào nhiều yếu tố máy móc mới có thể đêm thông tin tới cho công chúng được. Thay đổi trong cách thức truyền thông tin . làm tăng tính đời thường của chương trình.Thông tin nhanh và chính xác Nhanh chính là lợi thế của phát thanh so với các loại hình báo chí khác. những người tham gia vào chương trình qua trao đổi cung cấp do vậy nguồn tin sẽ đa dạng. mọi nơi. Thông tin của phát thanh được cung cấp liên tục và có thể đưa ra cho công chúng ở mọi lúc. Hơn thế thông tin ở đây có tính chân thực. c. Khi có sự góp mặt. Từ việc cung cấp cho công chúng những thông tin ngắn gọn ban đầu (tin) hay đưa ra những lời bình luận. Còn thông tin trên phát thanh thì có thể chảy liên tục trong suốt khoảng thời gian phát sóng. và hơn thế trách nhiệm về thông tin được chia đều cho cả phóng viên lẫn người trực tiếp cung cấp. ý kiến. các sự kiện. Khi các chương trình mở được thực hiện đòi hỏi phải có một êkíp thực hiện chuyên nghiệp. một diễn đàn nơi mà mọi người có thể chia sẻ quan niệm. có trình độ. đóng góp công sức của công chúng theo dõi vào chương trình thì sẽ có nhiều thông tin mới. Kinh nghiệm của các đài phát thanh lớn là khi thực hiện được công việc này thì sẽ tạo ra sức hút rất lớn với công chúng. thông tin đắt giá được khai thác. Nếu như báo in bị hổng thông tin 24 giờ thì từ số ra ngày hôm trước tới số ra ngày hôm sau. để thính giả có thể tham gia trực tiếp vào nội dung chương trình.Mục đích là để thông tin nhanh. tính gần gũi của phát thanh. Truyền hinh thì cần yếu tố cần thiết cho việc ghi hình. việc truyền dẫn do các công đoạn thực hiện phức tạp hơn. Phát thanh 57 . làm cho phát thanh giống như người bạn.

có một êkíp làm việc ăn ý. Phát thanh hiện đại ngày nay đã khắc phục nhược điểm đó bằng cách sử dụng vi tính. Muốn thông tin nhanh thì người làm phát thanh phải giỏi về nghiệp vụ và có hỗ trợ đắc lực của các phương tiện kỹ thuật. Khi sản xuất chương trình mà phải in ra băng từ thì việc thực hiện một chương trình phát thanh trực tiếp sẽ khó thực hiện do muốn lấy được một đầu băng đúng chỗ phải quay đi quay lại nhiều lần. chuyên nghiệp. .còn có thể cung cấp thông tin bên ngoài thông qua trật tự tuyến tính về thời gian. nhanh nhẹn. chủ động đối phó và xử lí thông tin. Có hỗ trợ đắc lực của các phương tiện kỹ thuật sẽ giúp cho công việc của phóng viên có thể diễn ra nhanh và thuận lợi. phương tiện kỹ thuật. không thể đọc lại như trên báo in. Do đó cần được đầu tư đồng bộ. là sự tôn trọng của phóng viên đối với công chúng của mình. theo tiến trình phát triển của sự kiện. thao tác thực hiện phải chuyên nghiệp. tăng tính chuyên nghiệp và hiệu quả của tác phẩm báo chí trên phát thanh. tạo nên niềm tin cho công chúng vào phát thanh. Thông tin nhanh nhưng cần phải chính xác bởi đó là yếu tố làm nên hình ảnh đẹp cho phát thanh. truyền thống sang phát thanh trực tiếp thì cần có sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ. Thông tin chính xác chính là đáp ứng yêu cầu thông tin sự thật của công chúng. nói rõ Thông tin trên phát thanh là thông tin chỉ trôi qua một lần. nói ngắn. tốc độ âm thanh. Thiết bị số cho phép tính thời gian chính xác đến từng % giây. Do vậy một người làm phát thanh chuyên nghiệp phải nắm rõ được đặc 58 . Cộng với việc theo dõi bằng thính giác có giới hạn về số lượng. Cách cung cấp thông tin nhanh nhất là phát thẳng tức là thông tin được truyền tới thính giả đồng thời cùng lúc với sự kiện đang diễn ra… Phương thức phát thanh trực tiếp hiện nay đang ngày càng phổ biến hơn trong phát thanh hiện đại. sự việc. Để chuyển từ phương thức sản xuất thông thường.Viết ngắn. Các công đoạn.

Phải biến chương trình phát thanh thành một chương trình sinh động. sử dụng triệt để đặc điểm của phát thanh Việc khai thác để các yếu tố bổ trợ trong phát thanh giúp cho phát thanh tránh tình trạng đài là nơi đọc báo cho công chúng nghe. . phỏng vấn từ 3-4 phút.Khai thác. Do vậy để đảm bảo tính chính xác của thông tin nên đọc rõ. Nếu như trên báo in thì công chúng đọc bằng mắt. Văn bản phát thanh cần rõ ràng. làm tròn số… Các tin phát thanh hiện đại thường chỉ dài 1 phút: Phóng sự thu thanh thì từ 5 – 6 phút. bình luận từ 2-3 phút là hợp lí… Khi đã viết ngắn rồi thì nên nói ngắn tức là lời dẫn cần hợp lí. do đó góp phần tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm đó. Ngôn ngữ chuẩn cho phát thanh là ngôn ngữ có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Văn bản viết cho phát thanh là văn bản viết dành riêng cho phát thanh chứ không thể sao chép hay copy từ báo in sang. phải đánh dấu các ý quan trọng. quanh co. Khi trình bày văn bản cho phát thanh cần tuân theo quy tắc chung như: không in lên 2 mặt. viết để nói chứ không để đọc. căn lề. vừa đủ Khi nói cần rõ ràng bởi giọng đọc là phương tiện chính để truyền tải nội dung của tác phẩm phát thanh tới thính giả.điểm này để có thể tạo ra một chương trình phát thanh hấp dẫn. Còn phát thanh là viết cho tai nghe. hấp dẫn chứ không phải là đọc dịch từ báo in mà ra. là một cuộc trò chuyện với bạn tri kỉ. Khi nói trên phát thanh cần coi đó như là một cuộc trò chuyện. Các phần mục. dừng hơi của người đọc. và văn bản được soạn thảo để nói cho nhiều người nghe. đoạn trong tác phẩm phát thanh không được phân cách bằng cách ngắt hơi. Các yếu tố bổ trợ đắc lực cho lời phát thanh là: Tiếng động hiện trường: 59 . tránh lối nói vòng vèo.

thuyết phục cho thông tin của mình. cái đặc trưng. là yếu tố hỗ trợ tạo khả năng thu hút cao hơn cho các chương trình. tạo sự sinh động cho tác phẩm. Âm nhạc có thể làm thành một chương trình riêng hoặc làm nền cho các chương trình khác. Khi tiếng động hiện trường được sử dụng tốt sẽ tạo ra giao diện lớn đối với thính giả. Để có thể có được chất lượng âm thanh tốt thì phải luôn có kho dự trữ âm thanh Phát thanh sử dụng tiếng động hiện trường nhằm tạo sự hấp dẫn cho nội dung. nhạc hiệu. Khi xây dựng kịch bản cho chương trình phát thanh thì nên chú ý kết hợp các yếu tố sao cho thật phù hợp 60 . Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định tới việc thành bại của chương trình phát thanh. tưởng tượng cho thính giả được coi là một thành công. tính chân thực. Nhặc cắt.Tiếng động hiện trường có hai dạng cơ bản: Tiếng động thực của hiện trường và tiếng động được lưu giữ trong các băng dữ liệu. Trong chương trình phát thanh hiện đại do có các phương tiện kỹ thuật số do đó âm nhạc được xử lí và cắt. làm nên cái riêng. ghép một cách trơn tru quá. thông tin giải trí và thông tin chiến đấu Tức là cần chú trọng tới nội dung của chương trình. Do không được phụ trợ bởi hình ảnh nên có thể tạo ra khả năng hình dung. .Kết hợp giữa thông tin đời thường. đang làm giảm dần đi tính hấp dẫn của những âm thanh mộc mạc. Theo nhà nghiên cứu của Úc thì trong một chương trình phát thanh thì âm nhạc chiếm tới 35 – 45% là phù hợp nhất. nhạc nền… giúp cho các chương trình thêm đa dạng. Âm nhạc: Âm nhạc được sử dụng trong phát thanh nhằm tạo tính linh hoạt mềm mại cho thông tin và giúp thông tin đến với công chúng dễ dàng hơn. Nó giúp truyền tải ý đồ của tác giả và khả năng liên tưởng của độc giả được nâng cao hơn.

hoàn cảnh. điều đó dẫn tới công nghệ đi theo nó cũng phải cao hơn. điều kiện cụ thể sẽ xuất hiện các xu hướng khác nhau. còn trong tuỳ từng trường hợp. đầu tư tốn 61 . Truyền hình khác với các loại hình khác ở chỗ nó đòi hỏi phải có hình ảnh và âm thanh kết hợp. Thông tin ấy không chỉ thiên về một lĩnh vực mà phải phản ánh đa diện về cuộc sống. truyền hình vẫn luôn tận dụng được những lợi thế của mình để cung cấp hình ảnh của thế giới cho công chúng. Báo truyền hình Truyền hình là một thể loại sử dụng hình ảnh và âm thanh để tạo nên thông tin cung cấp cho khán giả. thuộc mọi lứa tuổi.Để phản ánh đa dạng cuộc sống. Từ khi ra đời và phát triển đến nay. Các đài truyền hình trên thế giới vẫn đang nỗ lực để cải tiến chương trình của mình để cạnh tranh với các loại hình truyền thông khác đồng thời cung cấp cho công chúng những tin tức tốt nhất. linh hoạt. Để phát thanh phát triển thì không nên áp dụng một cách khô cứng khuôn mẫu mà phải biết chủ động. Nếu thông tin đời thường cung cấp cho công chúng thông tin về cuộc sống xung quanh thì thông tin giải trí đáp ứng nhu cầu tinh thần và thông tin chiến đấu sẽ định hướng cho dư luận về những vấn đề có tầm quan trọng… Khi khai thác đầy đủ thông tin trên thì phát thanh đã làm được nhiệm vụ là trở thành một người tri kỉ. một người dẫn đường. nóng nhất của thế giới xung quanh. sáng tạo. phù hợp với nhiều đối tượng thính giả. mọi nghề nghiệp… Việc dung hoà tính thời sự và giải trí sẽ giúp cho người nghe dễ tiếp thu và không chịu áp lực khi theo dõi thông tin. đáp ứng được yêu cầu thông tin của công chúng thì phát thanh phải lựa chọn thông tin để phản ánh sao cho thật hiệu quả. đáp ứng nhu cầu thông tin. Trên đây là các xu hướng phát triển của báo Phát thanh hiện đại Tuy nhiên đây chỉ là những xu hướng phát triển chung mà thôi. Do đó việc kết hợp các yếu tố trên là vô cùng quan trọng. Chỉ có xây dựng một kịch bản hay thì mới thu hút được thính giả. 4.

1 Thách thức và giải pháp cho truyền hình a. thoát khỏi sự quyến rũ của các chương trình truyền hình. Các gia đình nối mạng internet trung bình giảm 13% thời gian theo dõi truyền hình khoảng 1 tiếng mỗi ngày so với các gia đình khác. Theo khảo sát của hãng nghiên cứu thông tin Nielsen (Mỹ) cho thấy: việc sử dụng internet và các dịch vụ trên mạng trong các gia đình đã chen vào thời gian xem truyền hình của họ. Đó là một bước đi mới để chinh phục khán giả. Chính vì vậy. Ông Marshal Cohen. đặc biệt là lớp trẻ. cũng như sự thay đổi chưa mang tính bước ngoặt nhưng người ta cũng bắt đầu lo ngại trước sức mạnh của internet. kể từ khi họ bị lôi cuốn bởi máy tính và internet. chuyên gia thẩm định thông tin của hãng truyền hình AOL – Turner nhận định rằng: “Con người đang thay đổi. Nhiều con số thống kê khác cho thấy: khán giả thường xuyên của màn ảnh nhỏ cũng bắt đầu giảm dần. Thách thức của truyền hình ngày nay Sự ra đời của internet kéo theo những biến đổi to lớn của lĩnh vực truyền thông đại chúng. Họ thích tự nghiên cứu và tiếp cận với thông tin hơn là bị chi phối bởi thông tin”. 4. Mặc dù mới chỉ là những nhận định như trên và tính dự đoán còn ở phía trước. ta sẽ thấy một phóng viên đang dẫn hiện trường tường thuật trực tiếp những gì đang diễn ra xung quanh họ… khán giả trước màn hình tivi sẽ cảm thấy tò mò và chăm chú theo dõi. Rất thường gặp những chương trình đang phát dở thì bị cắt ngang bởi những “tin nóng”… tại hiện trường một sự việc nào đó. Trong xu thế cạnh tranh ngày nay.kém hơn. Rất nhiều dự đoán về tương lai của ngành truyền thông sẽ thuộc về loại hình này. chậm chạp… do đó nhiều đài truyền hình ở Mỹ đã phát triển rất nhiều chương trình truyền hình trực tiếp. Đây là kết quả khảo sát 5000 gia đình ở Mỹ trong năm 2000. khán giả đã chán ngán những tin tức khô khan. Để thực hiện một tin tức truyền hình thì ít nhất cũng phải có 2 người cùng hợp tác: một phóng viên và một quay phim. với ưu thế vượt trội của nó là đa phương tiện và tính tương tác. tương tự như lịch sử của việc kết hợp 62 . những chương trình tin nóng phát trực tiếp từ hiện trường.

Âm thanh trên internet mới chỉ dừng ở mức độ “nghe được”. Trên thực tế. Trong vòng 10 năm qua. các website trên mạng. kể từ khi bùng nổ internet. mọi tầng lớp khán giả truyền hình” – theo như lời của Ringo Chan – giám đốc chi nhánh của Turner Internationl tại Hồng Kông (Công ty mẹ của CNN) khẳng định. tất cả mới dừng lại ở mục đích tranh giành thị phần. Mục tiêu nhằm “lập chiến lược đúp để vươn tới khách hàng. đa màu sắc trên web. Châu Âu. theo tài liệu phân tích của tổ chức phát thanh – truyền hình châu Á – Thái Bình Dương (ABU) thì chất lượng audio. số lượng phát hành. chất lượng kém và chỉ truyền được 6 hình/giây. Mạng lưới truyền hình của Mỹ cũng đã tung ra đòn phản công phù đầu chống lại các đối thủ đe dọa của mình. lợi nhuận từ quảng cáo trên báo in vẫn không ngừng tăng lên. các hãng truyền hình lớn cũng muốn xích lại gần các công ty dịch vụ internet bằng hàng loạt những hợp đồng chuyển sở hữu hay sáp nhập. internet khó có thể gây nguy hại cho đời sống báo chí nói chung và truyền hình nói riêng. Truyền hình vẫn là phương tiện truyền thông phổ cập nhất. hiện nay và tương lai. khán giả và quảng cáo. kể cả ở những nước có điều kiện phát triển internet như Mỹ. từ trẻ em đến người lớn. Nếu so sánh 63 . đặt dưới sự kiểm soát của các tư bản kếch xù và lâu đời. video qua internet hiện nay vẫn còn là vấn đề cần xem xét. các tập đoàn truyền hình lớn vẫn rất sung sức. cung cấp cả truyền hình và sản phẩm tương tác (tức các dịch vụ internet) cho mọi đối tượng tiêu dùng. Với truyền hình. thì nay. Những vụ mua bán này đều phản ánh mong muốn kéo lại khán giả đang trôi về môi trường tương tác. còn xa mới có thể đạt chất lượng cao. trong khi nhiều công ty internet còn quá non trẻ và kinh doanh vẫn thua lỗ. nhưng trên thực tế. các hãng truyền hình nước này đã thôn tính nhiều công ty internet nhằm tạo dựng một vị trí tốt trong bối cảnh truyền thông mới. Hình ảnh qua internet thường có khuôn hình bằng 1/16 toàn bộ màn ảnh.nhiều loại hình báo chí trong vòng kiểm soát của một ông chủ hay một tập đoàn tư bản trước đây. nhìn bề ngoài có vẻ bị suy yếu vì lượng khán giả ngày một giảm. Mặc dầu vậy. Qua một loạt giao dịch mua bán nhanh chóng. Mặt khác.

NBCi.com.com. không chỉ bổ sung cho nhau về mặt thông tin. đã khiến cho truyền hình ngày càng phát huy sức mạnh của nó. người ta tạm bằng lòng với những website trực tuyến mà tất cả các hãng truyền hình được phát sóng và những thông tin bổ sung được truyền tải trên mạng theo một cách thức khác. BBC. Ngược lại khi xem truyền hình. Ví dụ như trong thời điểm xảy ra sự kiện 11/9/2001 tại Mỹ. khán giả bị lôi cuốn và thôi thúc tìm hiểu về tin tức đó kĩ hơn bằng cách truy cập vào internet. Đó còn là tham vọng của các công ty tin học khổng lồ mà tiêu biểu nhất là Microsoft. thể hiện đầy đủ trên thanh công cụ của các trang web. các website này luôn có diễn đàn để người truy cập tham gia bàn luận sâu hơn về các sự kiện. khi mà chúng trộn lẫn vào nhau. vì xét cho cùng. Người ta tìm đọc những thông tin về một sự kiện nào đó được đưa trên mạng và nảy sinh nhu cầu xem hình ảnh về sự kiện đó trên truyền hình. Tuy nhiên xu hướng hợp tác.với internet thì truyền hình chỉ thua kém ở mặt tương tác.. Khi truy cập vào đây người đọc sẽ tiếp cận sâu hơn những vấn đề đã hoặc sẽ phát sóng.com đã xây dựng hẳn một diễn đàn trao đổi ý kiến trực tiếp với tên gọi: “Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ. khi truyền hình tương tác (interactive television) hoàn thiện hệ thống và phổ cập thì gần như ranh giới giữa truyền hình và internet sẽ rất mờ nhạt. trang web ABC. Tuy nhiên trong tương lai. b. ABCnews. chúng đều thuộc về một hãng mà thôi. cũng không chỉ khởi nguồn theo ý đồ của các tập đoàn truyền hình lớn. hợp nhất giữa truyền hình và internet không dừng lại ở đó. số lượng thông tin trao đổi đã lên quá con số 3 triệu. Phát huy ưu thế tương tác của mạng trực tuyến.. Giải pháp cho truyền hình Trước mắt. Bill 64 . Danh mục các chương trình truyền hình luôn được chuyển tải trên mạng.com. Chỉ sau 3 ngày.com. Tại sao? Tại sao?”. Và thật khéo là. Những tham vọng và toan tính kể trên của các hãng truyền hình lớn nhằm thâu tóm các công ty internet cũng chính là để chuẩn bị cho tương lai đó. Có thể kể tên hàng loạt các website của các hãng lớn như là CNN. cách thức tiếp cận thông tin mà hai loại hình này luôn biết cách quảng cáo cho nhau theo nghĩa đen của từ này.news.

Tuy đồng thời làm các việc như trên. giống như trên internet nằm hai bên lề màn hình. soạn thảo văn bản. Vấn đề là ở chỗ. Đó là một máy tính đa chức năng: tính toán. chủ nhân của tập đoàn này nhân thấy rằng: trong tương lai. Người ta đã nhìn thấy: trong tương lai gần. Song đây là xu hướng có tính tất yếu. phần thắng có thể thuộc về ông Bill Gates hay ông Ted Turner. viết và nhận email và xem hàng trăm kênh truyền hình.Gates. Bởi đó là sự kết hợp của một loại hình truyền thông tương tác với một phương tiện báo chí nghe nghìn để thực sự trở thành truyền thông đa phương tiện. không chiếm diện tích lớn và vẫn đủ để bạn theo dõi bóng đá. thay vào đó là các thiết bị đa phương tiện – multimedia. chiếc máy thu hình thông thường hiện nay sẽ trở thành lạc hậu. Về 65 . Ví dụ như khi bạn đang xem bóng đã. hiển thị cho bạn biết kênh nào hiện đang chiếu gì. ông sẽ chiếm một vị trí lớn đến mức nào. Khi xem truyền hình nhiều kênh. Trong cuộc cạnh tranh nhằm thâu tóm tương lai của ngành truyền thông. chơi điện tử. trao đổi cùng bạn bè hay xem một bản bình luận mới cập nhật. tiện lợi và đa dụng hơn nhiều. hợp nhất giữa truyền hình và internet là một cuộc hôn phối giữa hàng loạt các tập đoàn truyền thông – truyền hình nắm trong tay quyền lực thông tin và các công ty tin học với ưu thế to lớn về công nghệ. bạn chỉ cần bám điều khiển từ xa để hiển thị một khuôn hình nhỏ. và lúc đó bạn sẽ dễ dàng lựa chọn. khán giả chẳng cần bấm nút chuyển kênh liên hồi vì bên tay phải của màn hình sẽ có hàng loạt màn hình mini. nếu xét trên phương diện khoa học công nghệ thuần túy. đồng nghĩa với việc truyền hình lợi dụng Internet để phát triển hoặc ngược lại. Tuy nhiên sự hội nhập giữa truyền hình và internet không có nghĩa biến truyền hình thành một thứ hình ảnh động được chuyển tải trên mạng và hòa tan và đó. người ta vẫn thao tác nhiều việc khác: khai thác thông tin về một cầu thủ nào đó từ trang web hay xem lại một vài pha gay kết hay kết quả các trận đấu khác. tra cứu thông tin. trong thị trường đó. nếu muốn giữ sự phát triển thần kỳ của Microsoft thì nhất thiết phải nắm giữ lấy thị trường mà các nhà sáng chế của ông gọi là không gian truyền hình (television space). đánh cờ. Báo chí phương Tây ví sự hợp tác.

Để chuyển sang truyền hình công nghệ số. 66 . hội nghị qua mạng. một thế hệ truyền hình thông minh sẽ quen thuộc với nhiều gia đình.2 Xu hướng phát triển của truyền hình Với sự cạnh tranh khốc liệt từ các loại hình báo chí khác. Song chiếc máy vi tính là phương tiện để làm việc. máy thu truyền hình sẽ đảm bảo việc quản lý hàng trăm kênh truyền hình. truyền hình cần phải tự thay đổi bản thân mình để đáp ứng được yêu cầu của công chúng hiện đại cũng như tự cứu sống bản thân mình. kiểm tra tài khoản ngân hàng… Còn máy tính sẽ đảm nhiệm các chức năng phức tạp hơn như xử lý. vệ tinh. yêu cầu phải có bộ chuyển đổi để xem truyền hình kĩ thuật số trên TV thông thường (set-top box) hoặc bộ giải mã cho TV. xử lý văn bản. Khi đó. cáp hoặc các đường dây điện thoại.bản chất. nói lên bạn muốn gì. xử lý hình ảnh… Cũng như tốc độ phát triển của internet. quản lý thu nhập gia đình. Bạn chỉ cần ngồi trên ghế. những dịch vụ như: mua hàng qua truyền hình. toàn bộ hệ thống này sẽ thực hiện ý muốn của bạn: tìm chương trình bạn thích xem. xem tin tức mới cập nhật… 4. bạn có thể treo trên tường mỗi phòng một máy thu hình như một bức tranh treo tường. Ta có thể thấy một vài thay đổi của truyền hình trong tương lai: • Truyền hình kỹ thuật số: Giữa năm 2008 và 2012. TV kĩ thuật số có thể thu sóng từ dây anten. ghi lại các chương trình chưa kịp xem. Máy thu hình sẽ được nối mạng internet nhưng sẽ không làm nhiệm vụ giống máy tính. chất lượng phát sóng… thì một yêu cầu đặt ra cho truyền hình là phải tạo ra được những chương trình mới hấp dẫn khán giả. các trò chơi truyền hình. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng tin bài. hội thảo. truyền hình công nghệ tương tự (analogue TV) sẽ chấm dứt tại Anh để hoàn toàn chuyển sang dịch vụ truyền hình kĩ thuật số với chất lượng tốt hơn. trong khi máy thu hình còn là một sản phẩm văn hóa của gia đình. mặc dù cả hai loại hình dều mang tính báo chí và giải trí. đặc biệt là từ internet. Như vậy trong gia đình vẫn sẽ có cả hai loại máy kỹ thuật tương đối giống nhau. việc sử dụng sẽ dễ dàng hơn và dịch vụ của nó đơn giản hơn. Với công nghệ sản xuất các màn hình cực mỏng. người ta dự đoán rằng chỉ trong vòng một thập kỷ tới.

Nhờ kết nối mạng tốc độ cao 3G. việc tải về các gói dịch vụ để xem 67 . Những chiếc TV được coi là HDTV nếu màn hình có đủ điểm ảnh (pixel) để thể hiện được những hình ảnh sắc nét với độ phân giải 720p (1280x720 pixel) hoặc 1080i (1920x1080 pixel).• TV độ nét cao: TV với độ nét cao hay HDTV (High-definition television) là định dạng mới cho phép người xem có được những hình ảnh sắc nét. • Máy ghi hình cá nhân PVR: Với PVR (Personal video recorder). Trong quá trình ghi lại các chương trình. Còn phải kể tới Xbox 360 cho phép tải các show để xem trực tiếp trên TV. người xem có thể ghi lại nội dung truyền hình trực tiếp vào PC để xem lại sau đó. • Truyền hình di động: Hiện nay xem TV trên màn hình di động là điều khá phổ biến. màu sắc trung thực. Freeview • Xem video theo yêu cầu (on demand): “On demand” có nghĩa là người xem có thể xem danh sách các chương trình để lựa chọn chương trình muốn xem và không bị bó buộc về thời gian xem. Bạn cần phải có một chiếc HDTV và bộ chuyển đổi HD hoặc bộ giải mã để xem được truyền hình kĩ thuật số. chiếc iTV của Apple cũng mang đến những tiện nghi tương tự. Bên cạnh đó. Điều này cũng gần giống như việc sử dụng bộ nhớ PC như một chiếc PVR. chúng ta cũng có thể tạm dừng (pause). rõ ràng. xem lại (replay). việc kết nối TV với máy tính (PC) hay một thiết bị có thể đảm nhận cả 2 chức năng này không còn là điều khó tưởng tượng. Với dịch vụ theo yêu cầu. độ tương phản cao và chất lượng âm thanh cũng tốt hơn nhiều nhờ có thêm nhiều điểm ảnh hơn trên từng cm. Người tiên phong trong lĩnh vực này là Microsoft với Media Centre. Nó sẽ mở ra một thư viện khổng lồ các đoạn video từ mạng internet và có thể xem trực tiếp chúng trên TV. tua hình (fast forward)… Hầu hết PVR đều được kết hợp với các dịch vụ TV kĩ thuật số như: Sky. • Sự kết hợp giữa TV và máy tính: Gìờ đây. đài truyền hình sẽ gửi tới khách hàng những show diễn hay những bộ phim được yêu thích thông qua việc kết nối băng thông rộng nhờ bộ chuyển đổi cho TV.

Bill Gates đã nhanh nhạy nhận ra rằng: chỉ có mạng internet mới là chìa khóa giúp Microsoft bước vào lĩnh vực kinh doanh truyền 68 . Trong khi đó. đờ đẫn ở người xem thành một phương tiện có khả năng kích thích cac phản ứng của đông đảo khán giả. Cũng như điện thoại. tập đoàn Time Warner của ông Ted Turner đã đưa ra biểu diễn một mô hình thí nghiệm truyền hình tương tác có thể vừa thu được các chương trình truyền hình. uể oải. vừa có thể đặt mua vé máy bay. Hậu quả tức thì của việc này là làm cho các cửa hàng thuê băng đĩa bị lỗi thời phải đóng cửa. họ phải chuyển đổi một phương tiện báo chí mang tính giải trí. vừa có thể yêu cầu chiếu những bộ phim khá giả yêu thích. Microsoft đã muốn đưa máy điện toán vượt xa các loại máy PC thường và hướng đặc biệt về truyền hình tương tác mà họ rất thích khả năng thực hiện việc xem video theo yêu cầu (video on demand). truyền hình thực tế và truyền hình tương tác vẫn còn có sự lẫn lộn với nhau. Microsoft tự nhận cho mình sứ mạng phải phát minh lại truyền hình. Các công nghệ cạnh tranh như: DAB-IP và DVB-H đang được các nhà sản xuất điện thoại đưa vào để thu hút nhiều hơn nữa khách hàng. Truyền hình theo yêu cầu (on-demand) Truyền hình theo yêu cầu là dịch vụ mà khán giả có thể tự mình lựa chọn chương trình yêu thích để xem mà không phải phụ thuộc vào giờ phát của đài truyền hình. Từ năm 1991.) a. năm 1995. Trở ngại chính của nó còn quá cồng kềnh và giá quá cao: 8000$ cho chiếc hộp setto. giáo dục chuyển tạo ra một sự thụ động. đặt phòng khách sạn… Những việc này thực hiện được nhờ có bộ phận thiết bị server (cho phép truy cập dữ liệu trực tiếp) và nhờ hộp setto đặt trên máy thu hình. thực tế đó là 3 hình thức hoàn toàn khác nhau. Để thực hiện mục đích đó.trực tiếp trên di động đơn giản hơn bao giờ hết. theo đó. Microsoft lao vào nghiên cứu truyền hình tương tác nhưng không thành công. việc xem show trên iPod và máy nghe nhạc MP3 ngày càng phổ biến hơn. (Hiện nay ở Việt Nam khái niệm truyền hình theo yêu cầu.

khác với giai đoạn phân mảnh trước đây với báo in. với cách 69 . May mắn thay. dùng chung tập khán giả và phân chia quyền lợi với hai hình thức nghe nhìn mới này. Nếu Microsoft thành công trong việc sản xuất loại máy thu hình kèm theo một số thiết bị cho phép vừa xem được các chương trình truyền hình thông thường. Internet và Mobile. đó là việc ba hình thức nghe nhìn thế hệ mới này đang kết nối để tụ về một điểm chung. Có thể nói đây là hình thức phổ biến và hiệu quả nhất trong việc khai thác truyền hình tương tác ở Việt Nam. Truyền hình và Phát thanh thì hôm nay. Hơn thế nữa. “Đế chế” truyền hình vẫn và sẽ luôn là một kênh thông tin quan trọng bậc nhất trong bộ ba này.hình một cách vững chắc. cho phép truy cập các website từ máy thu hình bình thường với giá chỉ khoảng 199 USD. truyền hình ngày nay hoàn toàn có thể kết nối. từ đó tạo ra vô số giá trị gia tăng trên cả ba mô hình. chúng ta đang có những gì trong tay? Mobile  Truyền hình Hình thức sử dụng SMS để tác động lên chương trình truyền hình trong thời gian gần đây đang như nấm sau mưa với hàng loạt các công ty khai thác các dịch vụ giá trị gia tăng trên các thiết bị di động. Với 425 triệu USD. vừa là máy truyền hình tương tác thì có nghĩa là công ty này sẽ chiếm được vị trí mạnh trong lĩnh vực truyền hình. đường truyền băng thông rộng và công nghệ không dây. thế giới đang chứng kiến sự soán ngôi của một tam đầu chế mới trong truyền thông. ảnh hưởng và lợi nhuận sẽ tăng rất nhanh đồng thời thế lực của Bill Gates sẽ được nâng cao. với phát thanh. với những đặc thù về việc truyền hình ảnh và khả năng thích ứng cao cho tương tác. truyền thông đại chúng (mass media) là sự thống trị của một tam đầu chế bao gồm Báo in. Nếu như không lâu trước đây. Xu hướng và hiện trạng của thế giới. với sự ra đời và tương hỗ của Internet. Bill Gates mua ngay công ty điện tử WebTV Sun chuyên sản xuất các thiết bị điện tử hệ thống. Mục tiêu của Microsoft là thiết kế chiếc hộp webtv. biến nó thành một phòng thí nghiệm tốt nhất của truyền hình tương tác. Vậy trong bối cảnh của Việt Nam. Tuy nhiên. đó là Truyền hình. vừa sử dụng được như máy điện toán.

Truyền hình theo yêu cầu iTV 70 . trực tuyến. các giao thức phân phối ngang hàng (P2P sharing) đang hoàn thiện mở ra những hình thức mới trong việc xem truyền hình. Ba hình thức truyền thông thế hệ mới đang kết nối để hội tụ. chúng ta hãy nghĩ đến tất những gì chúng ta tương tác được với Internet cũng sẽ chính là những gì chúng ta tương tác được với truyền hình. IPTV cũng như Internet Television đã rậm rịch xuất hiện ở Việt Nam cùng với các giao thức truyền video trực tiếp (streaming). VTC… được ngay trực tiếp trên trang chủ cũng như download những chương trình truyền hình số thông qua những mạng ngang hàng mà VNN-TV là một trong những ví dụ đầu tiên của những nhà cung cấp dịch vụ Video theo yêu cầu (VOD . tạo ra nhiều dịch vụ giá trị gia tăng cho khán giả nhưng cũng tạo ra không ít thách thức cho người làm truyền hình.Video On Demand). đó là khả năng gửi âm thanh và thậm chí cả hình ảnh trực tiếp lên truyền hình. tạo ra vô vàn dịch vụ giá trị gia tăng trên bản thân mỗi loại hình. cho phép các thiết bị không dây có thể truy cập đường truyền tốc độ cao. Đó là khả năng phản hồi thông điệp trực tiếp. hình thức xem TV rất phổ biến tại Bắc Mỹ. Truyền hình  Internet. việc xem những chương trình truyền hình trực tiếp trên Mobile đang dần trở nên tực tế Internet  Truyền hình Máy tính PC với khả năng tương tác trực tiếp lên Internet cung cấp những công cụ mới cho việc tương tác truyền hình một khi Internet và truyền hình đã kết nối.thức khai thác ồ ạt và na ná giống nhau dàn trải trên mọi chương trình truyền hình. Thay cho các hình thức tương tác cổ điển như thư phản hồi hay điện thoại cố định. Rõ ràng 3 hình thức truyền thông thế hệ mới đang kết nối để hội tụ. Khán giả đã có thể xem trực tiếp chương trình của VTV. Truyền hình  Mobile Với việc công nghệ WiMax sẽ triển khai sớm ở Việt Nam. sự nhàm chán và thờ ơ của khán giả đối với loại hình dịch vụ này đã manh nha xuất hiện.

Tính tương tác cao Bên cạnh các kênh truyền hình như các loại truyền hình analog và truyền hình cáp khác. người dùng có thể xem lịch phát ngày hôm đó cũng như những ngày tiếp theo trên TV. Truyền hình theo yêu cầu (TVoD).. mà các dạng truyền hình từ trước đến nay bao gồm analog. cáp hay truyền hình kỹ thuật số không có được. Âm nhạc theo yêu cầu (iMusic). tìm kiếm và lên danh sách các bài hát riêng cho mình. TV sẽ tự động chuyển sang kênh đã chọn.Video on demand).IPTV (Internet Protocol Television) là dịch vụ truyền tải hình ảnh kỹ thuật số tới người sử dụng qua giao thức Internet với kết nối băng thông rộng . 71 . Gửi tin nhắn qua TV (iMessenger). IPTV cho phép cung cấp các dịch vụ kèm theo như Video theo yêu cầu (VoD . đồng thời có thể dễ dàng xem hiển thị tên chương trình đang phát cũng như ngày giờ bắt đầu của chương trình kế tiếp. Số lượng bài hát lưu trữ là không hạn chế. dịch vụ này có những ưu điểm vượt trội như khả năng cung cấp lượng phim ảnh không hạn chế. tua lui. Nó thường được cung cấp kết hợp với VoIP và truyền dữ liệu nên còn được gọi là công nghệ tam giác (dữ liệu. âm thanh và hình ảnh). dịch vụ này cho phép lưu các album âm nhạc trên máy chủ để người dùng tự do lựa chọn. Chức năng đặt giờ cho phép đặt sẵn chương trình muốn xem và đến đúng giờ đó.ADSL. Phát thanh trực tuyến (iRadio). So với các bộ phim được phát sóng trên truyền hình analog. Đọc báo trên TV (iNews). Chia sẻ Video (Clip4U) và bầu chọn (Voting). Lưu trữ trực tuyến (iStorage). truyền hình cáp hay truyền hình kỹ thuật số.. dừng hình như khi xem DVD. iMusic – Nghe nhạc theo yêu cầu: đáp ứng nhu cầu về Nghe – Nhìn. Truyền hình: Dễ dàng theo dõi lịch phát sóng Từ công nghệ tương tác EPG của IPTV. VoD và TVoD – Phim và truyền hình theo yêu cầu Đây là dịch vụ xem phim theo yêu cầu. với kho phim ảnh chương trình các loại được lưu trữ trên máy chủ của nhà cung cấp. chọn lựa phim muốn xem và tua tới.

Tức là người xem có thể can thiệp vào nội dung của chương trình truyền hình. (Chongchongtv. Sự vượt trội về công nghệ tương tác thế hệ mới này còn ở khả năng giao tiếp giữa những người sử dụng hệ thống với nhau qua các dịch vụ iMessenger và Voting: gửi và nhận tin nhắn. truyền hình cáp và dẫn đầu trong lĩnh vực truyền thông truyền hình.iNews – Đọc báo trên TV: Hữu ích và đơn giản khi kết hợp TV với báo điện tử. Ở Việt Nam. về thực chất. iKaraoke. Truyền hình tương tác (Interactive Television – ITV) Truyền hình tương tác là khả năng cung cấp các chương trình có thể tác động trực tiếp đến khán giả. các ngả đường giữa 3 hình thức này cũng đã thông xe. trên thế giới IPTV đang chiếm thị phần ngày càng lớn. Từ ngữ “truyền hình tương tác”. Với các tính năng nổi trội.com) b. Câu trả lời có lẽ nằm ở khả năng tương tác trong nội dung. Theo các chuyên gia. cùng tham gia các chương trình bình chọn qua TV bằng cách bấm trực tiếp trên điều khiển từ xa. trong 5 năm tới IPTV sẽ đẩy lùi các loại dịch vụ truyền hình truyền thống. đi như thế nào để khai thác tối đa hạ tầng mà thôi. được dùng để nói về thể loại “đàm luận chuyên đề” (talk show). nhất là ở các nước có hạ tầng ADSL phát triển. như vậy bài toán đặt ra cho người làm truyền hình chỉ còn là sử dụng loại xe gì. Trong đó những người 72 . dịch vụ Karaoke gia đình tích hợp vào bộ giải mã cũng sẽ được phát triển rộng rãi nhằm thỏa mãn thị hiếu của những khách hàng yêu ca hát trong tương lai gần. Đây là một dịch vụ liên thông với báo điện tử và người dùng sẽ đọc báo trên TV tùy thích mà không cần phải sử dụng máy vi tính rồi truy cập web báo điện tử để xem.

Người xem truyền hình ngày càng đông. Sức sống mới (VTV). Talk 9 (VTC1). đó có thể là một chương trình bình luận về một sự kiện thời sự.tham gia có thể là các vị khách mời hoặc là đơn thuần chỉ là những khán giả bình thường của truyền hình. “Như HTV4. kênh khoa giáo của chúng tôi khoảng vài tháng nữa thôi sẽ không còn cách dạy một chiều như hiện nay. đóng góp ý kiến. giáo dục. thậm chí đưa ra những câu hỏi.HCM thu hút nhiều người xem bởi chương trình này như một phiên chất vấn thu nhỏ của đại biểu HĐND TP với lãnh đạo các quan chức.có tương tác. Chương trình Nói và làm hằng tháng trên Đài Truyền hình TP. không đồng ý. giao lưu với thầy giáo trực tiếp qua màn ảnh hoặc qua email” . nhà ở. có giao lưu giữa chương trình với khán giả . vướng mắc mà người xem bất bình. bình luận nội dung các MC đang nói hay dự đoán của khán giả được hiển thị phía dưới màn hình tivi ngay khi chương trình đang phát sóng trực tiếp. Nói và làm.ông Nam nói. Tôi và chúng ta (HTV).HCM Huỳnh Văn Nam cho rằng giờ đây việc khán giả xem đài thụ động tiếp nhận một chiều không còn hợp thời.. Chào buổi sáng. những tin nhắn góp ý. vừa mang tính thời sự như đất đai.. mà người xem có thể ngồi ở nhà gọi điện thoại đặt câu hỏi. Giám đốc Đài Truyền hình TP. Điều đó là cần thiết đề tạo ra một xu hướng báo chí khách quan. Làm giàu không khó. 73 . Tất các các đài truyền hình ngày nay đều có tối thiểu vài ba chương trình tương tác khác nhau. gần đây không còn nằm trong phạm vi “đóng” của một kịch bản khô cứng dựng sẵn mà đã “mở” ra cho khán giả cùng tham gia chia sẻ. Tại Việt Nam.. Ở chương trình bình luận thể thao trên VTV3.là điều tất yếu. một gameshow trong đó có người chơi là khán giả… Ý kiến của khán giả sẽ đóng góp vào thành công của chương trình. số lượng kênh truyền hình ngày càng nhiều thì xu hướng “mở” . Talk Vietnam (VTV4). ban ngành về các chuyện vừa sát với đời sống. nội dung các chương trình truyền hình như Khởi nghiệp..

ca sĩ nào trình bày ấn tượng... Các nhà đài được lợi ba bên: vừa tìm hiểu phản ứng khán giả.. Truyền hình thực tế (reality show) Truyền hình thực tế (reality show) là những show truyền hình mà người tham gia là những người không chuyên. Truyền hình tương tác tại VN chỉ mới xuất hiện đúng nghĩa ở một vài chương trình như game show Vui cùng Hugo. chương trình thể thao truyền hình trực tiếp Cuồng nhiệt với thể thao. vừa tăng lượng công chúng. vài mươi giây sau tin và số điện thoại của bạn hiện trên màn hình vô tuyến. Ra đời 74 . Những hình ảnh đó sẽ được máy ghi lại và truyền tới cho công chúng. Hãy gửi tin nhắn đến số. Đây là loại hình rất phổ biến ở các quốc gia phát triển. Ngay khi chương trình đang phát sóng hay khi vừa kết thúc sẽ có vài câu hỏi đặt ra như bạn thích ca khúc nào nhất.Công nghệ Truyền hình tương tác bằng tin nhắn không còn là điều mới mẻ ở VN nhưng có thể nói đây là chiêu hút khán giả nhất của các kênh truyền hình. Cách này phim truyền hình Hàn Quốc cũng áp dụng để thăm dò khán giả. Ở Úc..được quay cảnh đời sống thật và trong một mức độ nào đó không có bàn tay của đạo diễn can thiệp. Có thể hiểu là người tham gia sẽ quên đi sự hiện diện của máy quay và sống như cuộc sống thường ngày. Stinky và Stomper. thêm thắt chi tiết nhân vật. hành động thật như trong đời thường mà không chịu sự chi phối của đạo diễn.. một bộ phim truyền hình phát sóng kèm theo lời kêu gọi khán giả nhắn tin bình phẩm. Nhật ký Vàng Anh. c. Bài hát Việt. đặc biệt là ở Mỹ. Nếu là tương tác trực tiếp. tương tác gián tiếp như V-Clip 45. Ngoài ra.. Để tạo ra cảm xúc thật và mới lạ cho công chúng.. Ngôi sao THTH.. các đài truyền hình tiến hành xây dựng các chương trình trong đó người tham gia sẽ được thể hiện cảm xúc thật. vừa có nguồn thu phí từ lượng tin gửi về. muốn tập sau nhân vật đó như thế nào. Một ví dụ điển hình của chương trình truyền hình thực tế đó là American Idol của FOX.

Sau Phụ nữ thế kỷ 21 có thể kể đến Ước mơ của tôi. Phải là công dân Mỹ hoặc người làm việc tại Mỹ ít nhất 3 mùa. Đến năm 2006. Phụ nữ thế kỷ 21 năm ngoái bị chê là cứng nhắc trong việc biến các TS thành những "nữ cường nhân" bất đắc dĩ. Vui là chính. Phụ nữ thế kỷ 21 mới thật sự là chương trình truyền hình thực tế đúng nghĩa đầu tiên tại VN.ra mắt. Ngay khi ra mắt bạn xem đài. Cũng trong năm này. Như Vui là chính khi mới vào VN cũng bị phản đối kịch liệt vì một số chương trình không phù hợp với thuần phong mỹ tục. Thần tượng âm nhạc . HTV cũng sẽ phát sóng "Funny video home" (bản quyền của Mỹ) với những tình huống hài xảy ra trong gia đình do khán giả tự quay và gửi đến. Đây có thể được coi là show truyền hình thực tế tiên phong tại Việt Nam. Dẫu biết truyền hình thực tế từng tạo được nhiều thiện cảm và thành công ngoài mong đợi ở nước ngoài. Vượt lên chính mình. Độ tuổi từ 16 – 24 và có thể nâng lên thành 28 khi bước vào mùa thứ 4.ngày 11/6/2002 và từ đó đến nay nó trở thành một show ăn khách nhất trên truyền hình. Và tháng mười tới. VTV3 xuất hiện Khởi nghiệp và ngay lập tức thu hút người xem mỗi tuần.Vietnam Idol. Đầu năm 2005. chương trình đã tạo được sự chú ý bởi tính tươi mới. Tuy là một cuộc thi truyền hình nhưng các thí sinh (TS) được thoải mái bộc lộ quan điểm và cá tính. Các TS và cả khán giả VN 75 . chân tình nhưng không phải ai cũng đủ cởi mở và tự tin để tham gia các show truyền hình thực tế. Truyền hình thực tế vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Ngôi nhà mơ ước (HTV thực hiện) . chân thật và thẳng thắn. Nguyên tắc của chương trình này đó là người chơi sẽ tham gia thi hát và trước đó chưa từng tham gia cuộc thi nào. Đây sẽ là chương trình "mồi" để các khán giả VN gửi những video clip tương tự về gia đình mình cho đài biên tập và phát sóng. những điểm mạnh và cả điểm yếu của mình để từ đó phác họa nên những nét độc đáo của phụ nữ thế kỷ ngày nay.một dạng truyền hình thực tế khác . Người Việt nhìn chung hiền hòa. nhưng khi chọn một chương trình làm vừa lòng người Việt thật không dễ.

với khán giả . Hầu hết những show THTT thành công ở nước ngoài đều mang đậm dấu ấn của MC. Dư luận rất hay khen . gửi ý kiến góp ý.000 USD (tiền bản quyền. thông minh. dẫu được sự ủng hộ của người xem vẫn chưa thể là "con gà đẻ trứng vàng". MC . Tại VN. giỏi ứng biến. quan điểm trước bàn dân thiên hạ. kể cả mua bản quyền từ một chương trình ăn khách nhất thế giới. (tiêu chuẩn để dẫn một show truyền hình thực tế). không quen bày tỏ bản thân.chê vu vơ nhưng lại thờ ơ. Như show Phụ nữ thế kỷ 21 năm ngoái tiêu tốn trên 500. Sau vài chương trình đã ra mắt có thế thấy truyền hình thực tế không phải là "món" dễ xơi đối với các nhà sản xuất hay công ty quảng cáo. thực hiện. chương trình được biên tập cẩn thận hơn. sau khi tiếp thu ý kiến của khán giả. giúp người xem tiếp cận với thể loại mới mẻ này một cách "ngọt ngào" nhất..phần lớn vẫn chưa dạn ống kính. nhạy cảm. Vui là chính sẽ không còn là truyền hình thực tế nữa mà được dàn dựng với phần biểu diễn của các nghệ sĩ.cũng là vấn đề gây đau đầu cho các nhà sản xuất. Nhưng ngay cả khi những người trong cuộc dám thẳng thắn nói lên chính kiến của mình thì công chúng cũng chưa hẳn đã chấp nhận. 76 . quảng bá.. giải thưởng.cầu nối không thể thiếu của chương trình. ngần ngại trong việc tham gia "cuộc chơi" (nhắn tin bình chọn.6 lần những show giải trí khác. đặc biệt là những chương trình mới toanh.. thật không dễ để tìm kiếm ra một MC năng động.) nhưng không thành công lắm về mặt thương mại: rating (lượng người xem) chưa cao như mong đợi và số spot quảng cáo trong chương trình cùng lượt người nhắn tin bình chọn chỉ đạt mức vừa phải. Các nhà sản xuất chương trình "than" làm truyền hình thực tế tốn kém và vất vả gấp 5 . tham gia diễn đàn trên trang web của chương trình… ) cũng chính là rào cản cho việc phát triển truyền hình thực tế tại VN. Còn những chương trình khác. Như Vui là chính. Vì vậy hiện tại vẫn chưa có MC nào của các show THTT tại VN chiếm được nhiều cảm tình của bạn xem đài. dí dỏm.. Tháng chín này.

“Chính sách . Nha Trang. piano) kéo dài suốt hai tháng.. tốn của và nhân lực đáng kể.Nhà tổ chức cho biết họ mất khoảng nửa năm để chuẩn bị và thực hiện chương trình. Vì thế. gửi thư hoặc email rất đông” . Tuy thế. Close up.cuộc sống”. “Sự kiện . Ba vòng trước đó (thử giọng. công chúng chú ý xem truyền hình tương tác để mong giải quyết được những vấn đề gì mà họ đang quan tâm. Còn với VN Idol.. góc độ.. Chương trình đã đi qua bốn thành phố lớn: Hà Nội. Tuy chưa thống kê được con số đã chi nhưng VN Idol cũng tốn công.nhà báo Trường Phước (công tác tại ban chuyên đề của Đài truyền hình VN) nhận xét. TP. một thương hiệu công ty chứ chưa đủ mạnh để tạo nên một trào lưu hay cơn sốt giải trí như game show từng có được. đó vẫn là "món" hấp dẫn và chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều vào thời gian tới. THTT vẫn chưa cho thấy sức ảnh hưởng và tài lộc thu được từ… thực tế. Và có 3 . Lipton. ) quảng cáo giữa chương trình.. Đà Nẵng. cảm xúc.. Tính đến thời điểm hiện tại. Ngày nay. thói quen chỉ xem hình cho vui mắt của công chúng là thói quen đã qua. các chương trình truyền hình thực tế ở VN vẫn chỉ ở mức quảng bá cho một nhãn hàng.HCM. 3g sáng hôm sau trong ba ngày liên tục. được người xem gọi điện thoại. Các chuyên mục như “Đối thoại”.. Êkip thực hiện chính khoảng 100 người. cũng chỉ có "người nhà” (các nhãn hàng thuộc Tập đoàn Unilever như Clear.4 nhóm quay cho một nội dung để bắt đủ mọi hình ảnh. Vòng nhà hát được coi là "vòng kinh hoàng" khi các TS và êkip thực hiện phải làm việc từ 10g-2g. 77 . số spot quảng cáo giữa chương trình chỉ mới tăng từ vòng Gala. nhà hát. Mỗi một tiết mục cũng có 6-7 nhóm quay... Chương trình được quay tại nhiều thành phố khác nhau như Quảng Ninh. gần đây có “Người xây tổ ấm” trên VTV (đi sâu vào “tế bào” gia đình với nhiều tình huống chạm trán thử thách trong cuộc sống đời thường).. Riêng phần dựng. hậu kỳ đã tốn đến hai tháng..bình luận”. của TS. TP. “Theo tôi.HCM và Cần Thơ.

đó cũng là một cơ hội để báo chí tận dụng. phát thanh đã hình thành khá lâu… thì loại hình báo điện tử cũng đã được triển khai mạnh mẽ… và đây đang hứa hẹn là một loại hình phát triển nhanh tại Việt Nam trong thời gian tới. Đài truyền hình Việt Nam cũng thành lập một trung tâm quảng cáo riêng: Tvad chuyên sản xuất các đoạn phim quảng cáo trên sóng truyền hình. 2. Từ những trang báo nghèo nàn về mặt thiết kế. Bên cạnh các loại hình báo in. Ảnh hưởng của các xu hướng báo chí thế giới tới báo chí Việt Nam Nền báo chí Việt Nam đang phát triển nhanh hòa nhịp với sự phát triển kinh tế. Trong vòng 10 năm trở lại đây.CHƯƠNG III – XU HƯỚNG BÁO CHÍ VIỆT NAM 1.1 Xu hướng thương mại hóa báo chí biểu hiện rõ rệt Cũng như tất cả các tờ báo trên thế giới. Một vài xu hướng nổi bật của báo chí Việt Nam 2. báo chí Việt Nam đã có nhiều thay đổi để đuổi kịp sự thay đổi của thế giới. 78 . quảng cáo đã len lỏi vào công chúng. những chương trình mang tính thương mại cũng phát triển. báo chí Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều từ các xu hướng trong làng báo quốc tế. lương cho phóng viên… Trong vài năm trở lại đây. đến nay những trang báo đã được ma – két đẹp hơn. Trên cơ sở tận dụng những thành tựu tiến bộ của nền báo chí thế giới. in thêm với các thông tin hằng ngày… Trong lĩnh vực truyền hình. Nguồn thu từ doanh thu bán báo đã gần như không còn ý nghĩa. Nằm trong hệ thống báo chí thế giới. không còn tình trạng cả trang báo chỉ toàn chữ. báo truyền hình. ngành quảng cáo của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng. các yếu tố đồ họa đã được chú trọng. Các tờ báo đang phải cố gắng thu hút quảng cáo để bù lại nhiều khoản chi phí: chi phí phát hành. nền báo chí Việt Nam đã tích cực đổi mới mình. báo chí Việt Nam cũng đang phải vật lộn với cuộc đấu tranh để duy trì nguồn thu nhập cho mình. nhuận bút. Các tờ báo lớn ra hằng ngày hiện nay đều có những trang quảng cáo riêng biệt. dưới hình thức tài trợ cho các chương trình.

Báo chí nước ta trong 5 năm trở lại đây phát triển năng động về số lượng và chất lượng trên tất cả lĩnh vực báo chí – truyền thông. vô tuyến. một số tờ báo cũng bước đầu hoạt động với mô hình tập đoàn.Trên các trang báo điện tử. viễn tin học. News of the World. còn lại là ngân sách cấp. tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải thực hiện sao cho nội dung thông tin đem đến cho công chúng phải chân thật và không được phép đăng tin chỉ vì tiền 2. (Mỹ). cơ quan chủ quản buông lỏng hoàn toàn cho cơ 79 . một diện tích lớn của khuôn hình đã được nhường chỗ cho các banner.. đối tượng phục vụ và kiên quyết xử lý những tờ báo sai có nhiều sai phạm và sai phạm liên tục. Trên thế giới cũng có một số tập đoàn báo chí nổi tiếng như tập đoàn Ga-net. nhưng tình hình sẽ chuyển đổi theo hướng sắp xếp lại “những trường hợp chồng chéo về tôn chỉ mục đích. nguồn lực hoạt động mạnh mẽ nó mới có điều kiện tồn tại. các logo quảng cáo… Quá trình thương mại hóa báo chí là một quá trình tất yếu để tồn tại. và mỗi năm con số này lên đến hơn 40 tỷ đồng!”.. Sun. phát triển trong môi trường cạnh tranh hết sức khốc liệt ở các nến kinh tế của các nước TBCN ở Phương Tây. hay nói cách khác là do quá trình vận động và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Đó là điều tất yếu để tồn tại trong bối cảnh cạnh tranh. Mặc dù. hữu tuyến.. xuất bản. Sunday Time.2 Xu hướng hình thành tập đoàn báo chí Tập đoàn báo chí là các tập đoàn đa thông tin. “trong số 500 cơ quan báo chí thì thực chất chỉ có khoảng 50 tờ báo là có thể tự chủ được về mặt tài chính. tập đoàn báo chí là một mô hình mới. (Anh). New York Time.. thì các tập đoàn nhỏ bao giờ cũng có xu hướng tích tụ lại trở thành các tập đoàn lớn.. chất lượng kém. Washington Post.. Các tập đoàn lớn ấy lý do nó hình thành các tập đoàn lớn bởi vì chỉ có tập đoàn lớn với quy mô hoạt động rộng.. hiện nay. truyền hình. tham gia vào các lĩnh vực in ấn. Với Việt Nam.) Thực chất của các tập đoàn báo chí cũng chính là các tập đoàn kinh tế. nghe nhìn (phát thanh. theo nhận định của thứ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin Đỗ Quý Doãn..

trực thuộc Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. “Saigon Times Group” là một cơ quan hoạt động trong lĩnh vực báo chí (có hai tờ tiếng Việt và hai tờ tiếng Anh) với mục tiêu thông tin chủ trương. tự phát triển chứ không chờ bao cấp”. Trong giới báo chí nhiều người bàn về vấn đề thành lập tập đoàn báo chí ở Việt Nam. và xuất bản đĩa CD-ROM nhằm giúp độc giả có thể tìm lại tin tức. tổng biên tập website Đảng Cộng sản Việt Nam. thông tin kinh tế đối ngoại. Tiến sĩ Đào Duy Quát. xúc tiến đầu tư và làm công tác xã hội. Saigon Times Group cũng hợp tác xuất bản sách kinh tế .kỹ thuật. Báo Sài Gòn Giải Phóng là nhật báo lớn của Việt Nam.quan báo chí muốn làm gì thì làm”. chính sách của nhà nước nhằm góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước. Đó là nỗ lực của cơ quan chức năng nhằm khắc phục tình trạng mất cân đối giữa khả năng quản lý và số lượng cơ quan báo chí. Một số tờ báo ở TP Hồ Chí Minh cũng đã manh nha hoạt động theo mô hình tập đoàn như Saigon Times Group. quảng bá văn hóa. Phó Ban tư tưởng văn hoá trung ương đã đưa ra quan điểm “gắn kinh tế với báo chí để báo chí phát triển” và “Phải hình thành những tập đoàn báo chí tự sống. công nhân viên trên 500 người. “Saigon Times Group” là một trong những tờ báo của TP.000 bản. du lịch. Báo Sài Gòn Giải Phóng hiện có tất cả bảy ấn phẩm: Nhật báo Sài 80 . “giảm bớt số đầu mối cơ quan báo chí và tăng mô hình một cơ quan báo chí trong đó có một vài ấn phẩm theo kiểu phát triển quy tụ”. Báo có một nhà in. bài vở đã đăng trên các tờ báo của “Saigon Times Group”. góp phần phục vụ và xây dựng lực lượng doanh nhân Việt Nam. tờ báo Sài Gòn giải phóng cũng là một tờ nhật báo lớn có tiếng trong cả nước. HCM manh nha muốn trở thành Tập đoàn báo chí lớn mạnh trong cả nước. một số lãnh đạo các cơ quan báo chí cũng đã tuyên bố sẽ phát triển cơ quan báo chí của mình thành “Tập đoàn Báo chí”. “Saigon Times Group” thường xuyên tổ chức nhiều chương trình vận động xã hội nhằm phục vụ cho định hướng hỗ trợ doanh nghiệp. có số lượng phát hành mỗi ngày lên tới trên 200. Số lượng cán bộ phóng viên. Ngoài ra.

chính sách kinh tế . Tuần san Sài Gòn Giải Phóng Thứ Bảy.Gòn Giải Phóng (phát hành hàng sáng) tiếng Việt. Liền ngay sau đó. Bộ Văn hoá – Thông tin họp báo về việc Chính phủ đã ban hành Quyết định 219. Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng tiếng Hoa (phát hành hàng sáng). Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng 12 giờ (phát hành vào giờ trưa). Đặc biệt trong quá trình xây dựng và phát triển các tập đoàn ấy thì nên tính toán thực hành một số bước thí nghiệm rồi sau đó tiến hành ở mức độ rộng lớn hơn”. tức là nó vẫn là một tập đoàn kinh tế. việc xây dựng đề án và định ra tiêu chí cụ thể cho mô hình tập đoàn báo chí hầu như chưa có.TS Tạ Ngọc Tấn. Ngày 30/9/2005. đảm bảo những tập đoàn ấy có sức mạnh nhất định trong việc tác động vào đời sống nhất định trong lĩnh vực truyền thông và cái quyền lực ấy góp phần vào việc thực hiện đường lối. quốc phòng. quân sự. Viện trưởng Viện nghiên cứu báo chí và tuyên truyền: “Việc xây dựng và phát triển các Tập đoàn báo chí ấy hầu như một con đường tất yếu phải dẫn tới.xã hội. 81 . Bởi vì đất nước chúng ta báo chí cũng áp dụng vào nền kinh tế thị truờng. phê duyệt chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010. an ninh của Đảng. Theo PGS. Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng Thể Thao. báo tiếng Anh Saigon Guide (phát hành thứ Hai và thứ Sáu). Chính vì thế cần phải cân nhắc các khia cạnh một cách bài bản. như Saigon Times Group.HCM đã manh nha hoạt động theo mô hình này. báo Đầu tư Tài chính (phát hành thứ Hai và thứ Năm). thứ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin đã trả lời chi tiết trên tờ VNExpress xoay xung quanh vấn đề thành lập các tập đoàn báo chí. tất nhiên là có định hướng XHCN. song tính đến thời điểm đó. Tuy nhiên là việc xây dựng các Tập đoàn báo chí ở Việt Nam cũng cần xem xét ở tất cả mọi khía cạnh để vừa đảm bảo chúng ta có tập đoàn báo chí truyền thông lớn mạnh. có nghiên cứu bước đi cẩn thận. nhà nước một cách thắng lợi. Nhưng mặt khác các tập đoàn này cũng phải đảm bảo được nó phát triển để trở thành những quyền lực về mặt kinh tế hay nó tạo nên quyền lực lớn về mặt kinh tế. Tuy một số tờ báo ở TP. trong đó có việc đồng ý thí điểm mô hình tập đoàn báo chí tại Việt Nam.

mặt khác.Về mặt thời điểm. tập đoàn phải có hạt nhân là một cơ quan báo chí (báo in. tự trang trải kinh phí hoạt động. ngay cả ở châu Á. và khẳng định chỉ các tờ báo mạnh mới nên thành lập tập đoàn. Tuy nhiên. phát thanh. Nhật Bản. theo chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010. dịch vụ theo quy định pháp luật tạo nguồn thu cho hoạt động báo chí. và gợi mở thêm một số vấn đề: ở Việt Nam. trước mắt. Phác thảo này được đưa ra sau khi Bộ Văn hoá – Thông tin đã có tham khảo một số mô hình tập đoàn báo chí trên thế giới như Thuỵ Điển. đóng góp rất lớn cho ngân sách nhà nước (chỉ sau ngành viễn thông). ông Doãn trưng ra mô hình của các tập đoàn báo chí nước ngoài: tự chủ về mặt tài chính. bên cạnh đó là những hoạt động bổ trợ phục vụ phát triển báo chí. điều đơn giản nhất và cũng hiện thực nhất mà Chính phủ nghĩ tới là thành lập một 82 . nhưng không phải là phép cộng cơ học các toà báo. về điều kiện cơ sở vật chất của các tờ báo. báo chí Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc và thực tế cũng đang manh nha hình thành các tập đoàn báo chí. Về mô hình. điều kiện kinh tế xã hội. ông Doãn khẳng định mô hình tập đoàn báo chí đang là xu hướng phát triển ở nhiều nước trên thế giới. các tổ chức trong tập đoàn sẽ hoạt động như thế nào. chủ tịch tập đoàn có quyền bổ nhiệm Tổng Biên Tập hay không. Trung Quốc… Đưa ra phác thảo này. làm sao giải được các “bài toán” về tính chuyên nghiệp trong quản lý của các toà soạn và trong tác nghiệp của các nhà báo. truyền hình. … Về hoạt động tài chính. ngay cả hai điều cơ bản nhất là định nghĩa và tiêu chí thành lập tập đoàn báo chí ở Việt Nam Bộ Văn hoá – Thông tin vẫn chưa thể đưa ra được. sẽ thử nghiệm xây dựng các tổ hợp xuất bản. tập đoàn báo chí có các hoạt động kinh doanh. Internet). Về giải pháp thúc đẩy sự phát triển xu hướng hình thành tập đoàn báo chí. Ông Doãn chỉ có thể đưa ra một nguyên tắc “không áp dụng rập khuôn” mô hình của bất kì nước nào do các khác biệt về thể chế chính trị. dân trí. ông Doãn cho thấy “chưa có cơ quan báo chí nào ở Việt Nam có đầy đủ thực lực và cơ cấu thích hợp để hình thành tập đoàn thực sự”. làm ra nhiều ấn phẩm báo chí. Còn theo phác thảo của ông Doãn. vào thời điểm hiện nay.

Tuy nhiên. Tuy nhiên. nhưng kinh nghiệm trên thế giới cho thấy tính hiệu quả của các tập đoàn báo chí chỉ có thể đạt được nếu tờ báo có sự phát triển căn cơ về thế và lực. quan trọng nhất là phải đào tạo đội ngũ người làm báo và đội ngũ quản lý báo chí (quản lý phải theo kịp thực tiễn chứ không phải quản lý không được thì cấm). Rất nhiều nhà báo đã chịu khó tìm những đề tài từ các trang blog cá 83 . Năm 2010 không phải là một mốc quá gần cho sự ra đời của các tập đoàn báo chí. Mặt khác. mà để phù hợp với tình hình mới. Với tất cả sự thận trọng. duy ý chí.trường báo chí quốc gia nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ hoạt động báo chí.3 Xã hội hóa báo chí ở Việt Nam a. Ở Việt Nam hiện nay. điều cần trao đổi lại ở đây là: không nên chỉ đào tạo đội ngũ viết báo (điều này các trường báo chí đã làm nhưng hiệu quả chưa cao). việc có thành lập được tập đoàn báo chí hay không còn phụ thuộc vào khả năng đổi mới tư duy và tốc độ hoạch định chính sách của nhà nước. 2. cho đến nay blog đã trở thành món ăn tinh thần của giới trẻ. Với sự phát triển của blog mà báo chí cũng tìm thêm được một nguồn thông tin mới cho mình. nhưng là là một mốc quá gần cho sự lớn mạnh của các tập đoàn này. phát triển và bắt đầu nở rộ cách đây 2 năm. không nên chủ quan. đủ thế và lực trong nước . có lẽ mục tiêu trở thành tập đoàn báo chí quy mô quốc gia không phải là quá khó thực hiện. Sự phát triển của “nhà báo công dân” Blog giờ đã quá quen thuộc với giới trẻ Việt Nam. Với sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam hiện nay thì xu hướng thành lập nên các tập đoàn báo chí sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong tương lai gần. nhìn lại tốc độ phát triển của đời sống báo chí – truyền thông Việt Nam trong 5 năm qua. tuy một số cơ quan báo chí nhận được sự khuyến khích từ phía nhà nước. các câu hỏi xoay xung quanh “tập đoàn báo chí” lần lượt được Bộ Văn hoá – Thông tin và những người có quan tâm đặt ra và chờ lời giải đáp cụ thể từ phía các cơ quan báo chí lớn.

nhiều lĩnh vực không còn bó hẹp trong sự hoạch định của Nhà nước mà được phát triển theo quy luật cung – cầu.com… là những trang chia sẻ clip hàng đầu thì tại Việt Nam. mỗi công dân đều trở thành nhà báo. Cũng giống như các quốc gia khác. thì hệ thống chia sẻ video trực tuyến cũng đang phát triển. một nhà báo nào cũng có thể thực hiện được. sự phát triển của công nghệ đã giúp cho mọi người có thể hoàn thành một sản phẩm truyền thông một cách dễ dàng. Trong tương lai xu hướng này sẽ vẫn còn tiếp tục phát triển.com. Khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Hai năm trở lại đây đã cho những kết quả đáng mừng và hiện đang trở thành vấn đề thời sự nhất trong làng TH cả nước. Hay như chương trình “Clip của tôi” trên kênh VTV6 chuyên phát các clip do chính các bạn trẻ thực hiện. Chỉ cần một chiếc điện thoại có thể quay phim được. Xã hội hóa truyền hình Xã hội hóa (XHH) truyền hình (TH) manh nha tại Việt Nam từ gần chục năm trước. Với ưu thế là không hạn chế thể loại (trừ nội dung mà pháp luật cấm) nên mọi người có thể thỏa sức sáng tạo và chia sẻ cho mọi người. Càng ngày chúng ta càng thừa nhận tính đúng đắn của sự chuyển đổi ấy. nhưng các “nhà báo công dân” cũng đã góp phần tạo nên một nguồn thông tin đa chiều về các sự kiện. Cùng 84 . Cũng từ đó. metacafe. b. nếu như trên thế giới có Youtube. cho đến nay XHH TH vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi. clip. Ví dụ như chương trình “blog giao thông” đã tận dụng hiệu quả những cảnh quay của khán giả để làm mới thêm chương trình của mình. Bên cạnh các trang blog. Mặc dù vẫn chưa được thừa nhận về vai trò của mình.nhân để có tin bài cho mình.vn đang chiếm ưu thế. Những người tham gia cộng đồng ảo đôi khi có những bài viết sắc xảo mà không phải một phóng viên. Tại Việt Nam đã có nhiều chương trình tiếp nhận các clip của khán giả để phát sóng. nước ta thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế. Mặc dù vậy.

Nó đã được hiểu là “làm cho mang tính xã hội” hay “huy động toàn xã hội tham gia”. "Bản chất của xã hội hoá không phải là vì tiền. cơ quan không thuộc nhà Đài. mà là việc lôi kéo nhiều đơn vị.với quá trình này. Cũng mang nghĩa này. có sự tham gia của một hoặc nhiều đơn vị. chất lượng và năng suất cao hơn. 85 . nhưng XHH TH đến nay vẫn chưa đạt tiến độ như lẽ ra phải có được. tổ chức tham gia vào quá trình sản xuất chương trình. Và nó sẽ thu hút đựơc sự quan tâm và ủng hộ của công chúng". nhằm đẩy nhanh quá trình xã hội hóa. Đây cũng là con đường để việc sản xuất các chương trình TH đi theo hướng chuyên môn hóa. Điều này chứng tỏ vấn đề XHH TH đang rất được quan tâm. XHH TH chính là "sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành TH". nhằm giảm tải cho nhà Đài cũng như tạo ra hiệu quả tốt nhất cho các chương trình truyền hình. hình thành tác phẩm của một chương trình TH. . Không phải bỗng dưng mà XHH TH trở thành chủ đề được bàn đến tại hai liên hoan TH Toàn quốc liên tiếp (2006 và 2007). Được quan tâm và tạo điều kiện đến thế. Những người làm TH hẳn cũng đã ý thức được sự hấp dẫn của vấn đề khi quyết định tổ chức các hội thảo mở rộng trong khuôn khổ của ngày hội TH lớn nhất cả nước. khái niệm XHH TH đã hàm chứa trong nó cả mục tiêu xây dựng một nền TH hiện đại nhờ phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội. Đài truyền hình Việt Nam đã được giao nhiệm vụ là đơn vị chủ chốt thực hiện nhiệm vụ này.Trần Đăng Tuấn (Phó TGĐ thường trực VTV) Mang nội hàm đó. Và thực tế thậm chí còn “nóng” hơn họ tưởng. khái niệm XHH không còn xa lạ. Điều đó có nghĩa là trong các khâu sản xuất. chủ trương xã hội hóa truyền hình được Nhà nước ta hoàn toàn khuyến khích. Định nghĩa này đã được ông Trần Đăng Tuấn Phó Tổng giám đốc thường trực Đài TH Việt Nam khẳng định tại Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (Nha Trang – Khánh Hòa). Thậm chí. Nhận định tính đúng đắn của hướng đi này.

các công ty truyền thông ra đời ngày càng nhiều.. vẫn tiếp nhận sự tham gia của các đơn vị bên ngoài. trong vai trò người tổ chức thực hiện nhưng họ không đưa ra được những phương thức hợp tác phù hợp để khuyến khích cả hai. Không có nghĩa là không thể làm gì trước sự chủ động của các công ty sản xuất tư nhân đang ngày càng chuyên nghiệp. Mỗi đài một kiểu. nên quan tâm đến XHH TH là đương nhiên. Kinh tế . vì mục tiêu cuối cùng là phục vụ khán giả tốt hơn.Rất nhiều giám đốc các công ty truyền thông và cả những người đang có ý định tham gia sản xuất chương trình TH đã bay từ Hà Nội vào TP. Chủ trương của Nhà nước là tổ chức các đơn vị ngoài đài tham gia vào quá trình sản xuất để chuyên môn hóa nền TH và giảm tải cho các đài trước sức ép tăng thời lượng phát sóng. nhưng cách thức hợp tác của họ đang khiến các đơn vị ngoài đài mệt mỏi. Không chờ đợi một cách thụ động. Họ mạnh dạn trong đầu tư.Đài THVN) phải ngạc nhiên: “Không ngờ không khí sản xuất từ ngoài Đài lại sôi động đến thế!”. làm giảm hiệu qủa của một chủ trương hoàn toàn tích cực. năng động trong cơ cấu và hoạt động. Đáng tiếc là chính các nhà Đài – những người giữ vai trò quản lý lại đang rơi vào thế bị động. Mà sự bị động của các nhà đài thể hiện ở chỗ. sự chần chừ. đăng ký sản xuất. Hồ Chí Minh để tham dự hội thảo. bị động của họ đang làm nảy sinh hàng loạt vấn đề trong công tác quản lý và quy hoạch TH. nhận mời tài trợ. 86 . Ngược lại. sự quan tâm và số lượng các câu hỏi xung quanh việc XHH TH đã khiến nhà báo Tạ Bích Loan (lúc đó là Phó trưởng ban Thể thao Giải trí – Thông tin.. Không khí sôi động. Đón đầu xu hướng XHH. các nhà Đài chưa khai thác được sức mạnh của đội quân ngày càng đông đảo và luôn trong tư thế sẵn sàng này. Nhưng trên thực tế. nhiều đơn vị đến gõ cửa nhà đài chào bán chương trình.

Tuy nhiên nó cũng đòi hỏi mỗi người cần phải có con mắt tinh tường để không bị ảnh hưởng bởi những thông tin thiếu chính xác. Một tờ báo in giờ không đơn thuẩn chỉ khai thác mỗi mảng báo in nữa mà đã phát triển các website đi kèm. đăng tải clip hay các chương trình phát thanh online. báo chí luôn phải tự hoàn thiện mình để phát triển. Bên cạnh đó. mới hơn. Là một người đóng vai trò đem đến cái mới cho công chúng. Một xu hướng cũ qua đi thì một xu hướng khác. hằng ngày. Qúa trình thương mại hóa báo chí và hình thành các tập đoàn báo chí vẫn tiếp tục phát triển. kiểm soát và tận dụng hiệu quả của thông tin thì quốc gia đó sẽ tạo dựng được chỗ đứng cho mình trên trường quốc tế. Báo chí ngày nay sống nhờ nguồn thu từ quảng cáo. Trên đó không chỉ đăng các bài báo đã in trên báo in mà còn cập nhật những tin mới. Báo chí công dân phát triển vừa góp phần đa dạng thông tin vừa cạnh tranh với báo chí chính thống. không chỉ hoạt động trong lĩnh vực báo chí mà còn lấn sân sang các hình thức kinh doanh khác. báo chí trải qua nhiều xu hướng khác nhau để phát triển. Trong giai đoạn toàn cầu hóa thông tin ngày nay.CHƯƠNG IV – KẾT LUẬN Báo chí là một kênh thông tin quan trọng. các cơ quan báo chí đá tự đổi mới và biến mình thành như một tập đoàn kinh tế. hằng giờ cung cấp thông tin cho công chúng. tiến bộ hơn lại hình thành. Thông tin dưới nhiều hình thức sẽ giúp cho khán giả có nhiều lựa chọn cho mình. Với sự phát triển của khoa học công nghệ. Từ buổi đầu ra đời cho đến nay. 87 . không bị ép buộc và lệ thuộc vào sức ép nào. vũ khí quan trọng nhất chính là thông tin. hoặc vì mưu đồ riêng. Xu hướng thương mại hóa báo chí còn đặt ra thách thức đối với người làm báo đó là: làm thế nào để không bị đồng tiền chi phối tin tức… nhưng xem ra vấn đề này rất nan giải. Cái nhìn khách quan của khán giả sẽ tạo ra được nhiều chi tiết hay. các tờ báo đã biến cơ quan báo chí của mình thành một tờ báo đa phương tiện.

trong tương lai báo chí Việt Nam sẽ tạo lập được vị thế cho mình. 88 .Nền báo chí Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền báo chí thế giới. Mặc dù còn nhiều yếu kém nhưng báo chí Việt Nam đã đạt được những bước đi đáng kể. Với việc đang tìm ra những bước đi thích hợp để phát triển.

sourcewatch.com www.thecommunicationsgroup.s Vũ Trà My.washingtonpost.guardian.org http://www.vn/ www.TÀI LIỆU THAM KHẢO • • • • • • • • • • • • • • • • • • • • • Báo chí hiện đại nước ngoài: Những quy tắc và nghịch lý – X.com www.TS Dương Xuân Sơn Bài giảng thiết kế tạp chí – Th.com/ http://www.org Free daily Newspaper – Wikipedia.org The State of the news Media 2008 .Journalism.A.uk. Báo cáo nghiên cứu khoa học của sinh viên Lê Hương Trà 2006 Ngoài ra còn tham khảo vài tờ báo mạng khác.co. Interactive television – Wikipedia.vietnamjournalism.com http://vietnamnet. 89 .nghebao.Mikhailốp Nhà báo hiện đại – The Missouri Group – NXB Trẻ 2007 Tạp chí Người làm báo Tạp chí Nghề báo Báo phát thanh – Học viện Báo chí tuyên truyền Bài giảng báo truyền hình – PGS.nytimes.com www.org Introduction of citizen media Media trends .

5. 4. 2. 14. 13. 10. 7. 6. 12. 11. HỌ TÊN Lê Hương Trà Nguyễn Đình Minh Nguyễn Hoài Thu Khổng Mai Lan Nguyễn Thị Huyền (28/7/1987) Nguyễn Thị Thu Hà Phạm Thị Lý Vũ Thị Huyền Nguyễn Phương Ngọc Đinh Văn Hiển Phạm Thị Thảo Chu Hồng Tuyết Trần Thu Hằng Nguyễn Thị Thùy Dương Phạm Thị Thu Hương 90 GHI CHÚ Nhóm trưởng . 15.DANH SÁCH NHÓM 6 LỚP K50 BÁO CHÍ – ĐH KHXHNV STT 1. 8. 9. 3.

22 16 35 02 / booking@ph ongmarketing.com =================================================== 91 .com . www. thiết kế website: ĐT: 0909130042 . thiết kế quảng cáo. bài viết gửi về email: banbientap@ph ongmarketing.16. Tạ Thị Thu Hương =================== Liên hệ khi cần: Booking adv.84.com Thư. tư vấn phát triển thương hiệu. thiết kế nhận diện thương hiệu.8.phongmarketing. lập kế hoạch marketing.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful