Đồ án tốt nghiệp

Lời mở đầu
Các nhà quản lý mạng viễn thông đang hướng tới một mạng thế hệ sau với sự
tích hợp tất cả các mạng, dạng dữ liệu và dịch vụ trên toàn cầu vào một mạng duy nhất.
Với mạng thế hệ sau (NGN) này, người sử dụng có thể sử dụng tất cả các dịch vụ viễn
thông mà chỉ phải đăng ký với một nhà cung cấp dịch vụ, tất cả các dạng dữ liệu: thoại,
fax, video, dữ liệu máy tính…. sẽ dược truyền tải trên một mạng duy nhất. Có nhiều sự
lựa chọn công nghệ mạng chuẩn truyền tải này nhưng IP là sự lựa chọn tốt nhất nhờ
tính chất đơn giản và hỗ trợ rất tốt cho mạng Internet đang bùng nổ trên thế giới. Tuy
nhiên với xu hướng tích hợp các dạng dữ liệu lại với nhau, mạng điện thoại chuyển
mạch kênh truyền thống bộc lộ một nhược điểm lớn là sử dụng lãng phí băng tần là tài
nguyên vô giá trong các mạng tích hợp, công nghệ VoIP ra đời đã giải quyết bài toán
này. Thay vì sử dụng một kênh logic cố định để mang thông tin thoại thì VoIP cắt
thông tin thoại thành các gói tin và chuyển chúng qua mạng IP, nhờ vậy băng thông của
kênh logic được chia sẽ với các dạng dữ liệu khác, và cũng vì vậy mà giá thành chi phí
cho một cuộc gọi sẽ nhỏ hơn nhiều so với điện thoại truyền thống. Đối với các doanh
nghiệp thường xuyên có nhu cầu sử dụng dịch vụ gọi quốc tế thì VoIP là một giải pháp
thích hợp. Trong quá trình thử nghiệm dịch vụ tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó
có Việt Nam, dịch vụ voIP đã dành được sự chấp nhận của đại đa số người sử dụng
dịch vụ. Trong tương lai dịch vụ VoIP được dự báo là sẽ rất phát triển và trở thành một
dịch vụ cơ bản trong các mạng thế hệ sau.
Với xu hướng phát triển của loại hình dịch vụ VoIP em đã chọn đề tài “Đánh
giá về chất lượng dịch vụ trong mạng VoIP” làm đề tài tốt nghiệp của mình. Mục
đích của đồ án là tìm hiểu chi tiết về quá trình thiết lập và giải phóng một cuộc gọi
VoIP sử dụng các giao thức phổ biến là SIP và H.323, đi sâu vào các yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng dịch vụ VoIP như trễ, mất gói, jitter đồng thời đưa ra một số
biện pháp khắc phục.
Nội dung chi tiết bao gồm:
Chương I: Tổng quan về dịch vụ VoIP: Đề cập đến các ưu điểm của VoIP so
với điện thoại chuyển mạch kênh truyền thống và các dịch vụ chính do VoIP cung cấp.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 1
Đồ án tốt nghiệp
Chương II: Các giao thức trong VoIP: Tìm hiểu về hai giao thức báo hiệu
VoIP cơ bản là SIP và H.323. Trọng tâm đề cập đến hệ thống H.323 là hệ thống đang
được triển khai tại Việt Nam.
Chương III: Các phương pháp đánh giá chất lượng thoại trong mạng
VoIP: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ trong mạng VoIP bao
gồm: trễ, jitter, mất gói, băng thông, độ khả dụng...
Chương IV: Đánh giá chất lượng thoại trong mạng VoIP bằng mô hình-
E: Giới thiệu về mô hình E và một số biện pháp cải thiện chất lượng.
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa
viễn thông và đặc biệt là thầy giáo, Ths.Nguyễn Xuân Hoàng đã tận tình hướng dẫn em
hoàn thành đồ án này. Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã quan
tâm và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đồ án này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2005

Sinh viên: Nguyễn Văn Thắng

Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 2
Đồ án tốt nghiệp
Chương I
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VoIP
1.1 Giới thiệu
Có thể nói phát minh quan trọng nhất trong thế kỷ 19 của loài người là phát
minh ra chiếc điện thoại của Alexander Graham Bell. Từ đó đến nay điện thoại trở
thành một vật dụng không thể thiếu đối với thế giới. Từ một tổ chức chính phủ đến một
gia đình bình thường nhất đều không thể thiếu chiếc máy điện thoại trong cuộc sống và
công việc hàng ngày của họ. Lợi ích mà điện thoại mang lại cho con người là không thể
phủ nhận. Chính vì vậy nghành công nghiệp viễn thông phát triển như vũ bão và dịch
vụ truyền âm thanh và hình ảnh ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên chi phí cho dịch
vụ điện thoại không phải là rẻ khi so sánh với các chi phí sinh hoạt thông thường trong
gia đình và chi phí kinh doanh. Cước phí cho cuộc gọi nội hạt đã cao nhưng cho cuộc
gọi đường dài còn cao hơn và đặc biệt là cuộc gọi quốc tế. Đối với các cơ quan doanh
nghiệp thường xuyên phải thực hiện các cuộc gọi đi quốc tế thì đây quả thực là một vấn
đề lớn. Tuy nhiên khi Internet (cũng có thể nói là phát minh lớn nhất trong thế kỷ 20) ra
đời thì có vẻ như vấn đề đã được giải quyết. Chính Internet đã thay đổi bộ mặt của thế
giới. Internet thực sự là cuộc cách mạng về công nghệ trong viễn thông. Internet đã thu
hẹp khoảng cách về không gian, thời gian, ngôn ngữ của các quốc gia trên thế giới, thay
vì suốt ngày phải gọi điện đi quốc tế thì các cơ quan cơ, doanh nghiệp có thể sử dụng
các dịch vụ Internet như Email, Web để thực hiện công việc của mình. Tuy nhiên với
các công việc đòi hỏi phải giải quyết ngay lập tức thì điện thoại vẫn là một công cụ đắc
lực.
Công nghệ VoIP ra đời đã giải quyết vấn đề trên. Do đặc điểm về mặt công
nghệ mà chi phí giá thành của cuộc gọi VoIP rẻ hơn rất nhiều so với giá thành của điện
thoại chuyển mạch kênh truyền thống. Thay vì sử dụng một kênh logic cố định để
truyền các tín hiệu thoại, thì công nghệ VoIP đóng gói các tín hiệu thoại và gửi chúng
qua mạng nền IP như mạng Internet. Kết quả là chi phí tài nguyên cho cuộc gọi được
tiết kiệm đáng kể. Do các tín hiệu thoại được truyền đi dưới dạng gói mà cuộc gọi chia
sẻ tài nguyên với tất cả các cuộc gọi khác. Mạng có thể tận dụng các khoảng thời gian
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 3
Đồ án tốt nghiệp
thuê bao ngừng nói để chèn các gói tin dữ liệu khác vào kênh truyền (như các gói tin
của cuộc gọi khác hay các gói tin dữ liệu). Như vậy chi phí giá thành tài nguyên cho
mạng cho một cuộc gọi sẽ giảm đi và người dùng phải trả ít tiền hơn. Cũng do sử dụng
mạng gói nên các dịch vụ đưa ra cũng phong phú hơn.
1.2 Lịch sử phát triển VoIP
Năm 1995 hãng Vocaltec đã thực hiện truyền thoại qua Internet, lúc đó kết nối
chỉ gồm một PC cá nhân với các trang thiết bị ngoại vi thông thường như card âm
thanh, headphone, mic, telephone line, modem... phần mềm này thực hiện nén tín hiệu
thoại và chuyển đổi thông tin thành các gói tin IP để truyền dẫn qua môi trường
Internet.
Mặc dù chất lượng chưa được tốt nhưng chi phí thấp so với điện thông thường
đã trở thành yếu tố cạnh tranh và giúp nó tồn tại.
Bắt đầu phát triển lớn mạnh và kéo theo việc ra đời của các tổ chức chuẩn hoá
liên quan như ITU có các chuẩn sau H.250.0, H.245, H.225 (Q.931): cho quản lý;
H.261, H.263 cho mã hoá video; các chuẩn G cho xử lý thoại…Có rất nhiều chuẩn
nhưng đang có xu hướng hội tụ thành hai chuẩn H.323 của ITU và SIP của IETF.
Voice over IP: được hiểu là công nghệ truyền thoại qua môi trường IP. Vì đặc
điểm của mạng gói là tận dụng tối đa việc sử dụng băng thông mà ít quan tâm tới thời
gian trễ lan truyền và xử lý trên mạng, trong khi tín hiệu thoại lại là một dạng thời gian
thực, cho nên người ta đã bổ sung vào mạng các phần tử mới và thiết kế các giao thức
phù hợp để có thể đảm bảo chất lượng dịch vụ cho người dùng. Nó không chỉ truyền
thoại mà còn truyền cho các dịnh vụ khác như truyền hình và dữ liệu.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 4
Đồ án tốt nghiệp
Hình 1.1 Mô hình mạng VoIP.
Từ 1/7/2001 đến nay Tổng cục Bưu điện đã cho phép Vietel, VNPT, Saigon Postel và
Công ty điện lực Việt Nam chính thức khai thác điện thoại đường dài trong nước và
quốc tế qua giao thức IP, gọi tắt là VoIP. Sự xuất hiện VoIP ở Việt Nam đã cung cấp
cho xã hội một dịch vụ điện thoại đường dài có cước phí thấp hơn nhiều so với dịch vụ
điện thoại đường dài truyền thống với chất lượng mà người sử dụng có thể chấp nhận
được. Nó cũng phù hợp với xu hướng phát triển viễn thông trên thế giới và đặc biệt là ở
khu vực Châu á - Thái Bình Dương.
1.2.1 Ưu nhược điểm của VoIP so với mạng điện thoại PSTN truyền thống
Với khả năng sử dụng hiệu quả và tiết kiệm độ rộng băng tần, VoIP có nhiều ưu
điểm so với PSTN như sau:
• Giảm cước dịch vụ điện thoại đường dài.
• Nhiều cuộc gọi hơn, giảm độ rộng băng thông cho mỗi kết nối.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 5
1 2 3
4 5 6
7 8 9
* 8 #
Telephone
M¹ng IP
Media Gateway
Controller
1 2 3
4 5 6
7 8 9
* 8 #
1 2 3
4 5 6
7 8 9
* 8 #
Telephone
Telephone
PSTN
M¹ng b¸o
hiÖu sè 7
(SS7)
Signaling Gateway
Controller
PSTN
VoIP
Gateway
VoIP
Gateway
VoIP
Gateway
IP
Telephone
IP
Telephone
IP
Telephone
Đồ án tốt nghiệp
• Hỗ trợ thêm nhiều dịch vụ bổ sung khác và giúp triển khai các dịch vụ mới
nhanh chóng, dễ dàng, tự động dịch vụ…
• Sử dụng có hiệu quả nhất giao thức IP vì là giao thức mở nên các thiết bị
sử dụng IP được nhiều nhà sản xuất cung cấp với giá cạnh tranh và nó là
giao thức phổ cập rộng rãi.
Ưu điểm chính của dịch vụ VoIP đối với khách hàng là giá cước rất rẻ so với
thoại thông thường do các cuộc gọi VoIP sử dụng lượng băng thông rất ít. Trong khi
thoại thông thường sử dụng kỹ thuật số hoá PCM theo cuẩn G.711 với lượng băng
thông cố định cho một kênh thoại là 64kb/s thì VoIP sử dụng kiểu số hoá nguồn như
CS-CELP theo chuẩn G.729 (8kb/s), G.723 (5.3kb/s hoặc 6.3kb/s). Như vậy rõ ràng là
lượng băng thông sử dụng đã giảm một cách đáng kể. Hơn nữa trong thực tế khi hai
người nói chuyện với nhau thì thường là một người nói và người kia nghe chứ không
phải hai bên cùng nói. Vả lại ngay cả đối với người đang nói thì người này cũng có lúc
dừng do hết câu hoặc lấy hơi… khi ấy không có thông tin thoại thực sự cần phải truyền
đi và người ta gọi là khoảng lặng. VoIP sử dụng cơ chế triệt khoảng lặng cho nên có
thể tiết kiệm thêm lượng băng thông “khoảng lặng” này để truyền các dạng thông tin
khác. Đấy là một ưu điểm lớn của VoIP so với mạng điện thoại chuyển mạch kênh
truyền thống. Thông thường băng thông truyền dẫn cần thiết cho một cuộc gọi PSTN
có thể sử dụng cho 4-6 thậm chí 8 cuộc gọi VoIP với chất lượng cao.
Nếu để ý chi phí cho cuộc gọi theo từng phút ta sẽ thấy lượng tiền tiết kiệm
được quả là không nhỏ. Tuy nhiên việc tiết kiệm này còn tuỳ thuộc vào vùng địa lý và
khoảng cách. Đối với các cuộc gọi nội hạt thì việc tiết kiệm này có vẻ không quan
trọng nhưng đối với các cuộc gọi đường dài nhất là các cuộc gọi quốc tế thì nó thật sự
là đáng kể. Điều này được thể hiện ở giá cước mà các nhà cung cấp dịch vụ đưa ra,
thông thường giảm còn 1/10 đối với các cuộc gọi quốc tế.
Ưu điểm nữa của VoIP là khả năng dễ dàng kết hợp các loại dịch vụ thoại, dữ
liệu và video. Mạng IP dang phát triển một cách bùng nổ trên toàn thế giới và càng
ngày càng có nhiều ứng dụng đã và đang được phát triển trên nền IP như Internet trở
nên gần gũi với cuộc sống con người. Để giải quyết vấn đề thời gian thực là vấn đề
chính cần quan tâm trong các dịch vụ thời gian thực qua mạng gói, tổ chức IETF phát
triển giao thức truyền tải thời gian thực RTP/RTCP là công cụ cho việc truyền tải thoại
và video trên mạng IP, sử dụng giao thức này. Sử dụng giao thức này các gói tin sẽ đảm
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 6
Đồ án tốt nghiệp
bảo được mức độ trễ cho phép khi truyền trên mạng nhờ sử dụng các cơ chế ưu tiên và
các dạng format gói tin RTP thích hợp. Bộ giao thức H.323, SIP được các tổ chức ITU,
IETF phát triển để thực hiện báo hiệu và điều khiển cuộc gọi VoIP, đã được chẩn hoá
quốc tế sử dụng cho việc cung cấp dịch vụ thông tin đa phương tiện trên nền IP. Việc
triển khai VoIP không đòi hỏi nâng cấp cơ sở hạ tầng mạng một cách phức tạp, các
thiết bị bổ sung là Gateway, Gatekeeper và bộ điều khiển đa điểm MCU. Chi phí cho
các thiết bị này tương đối rẻ và việc cài đặt, bảo dưỡng cũng không phức tạp lắm. Hiện
nay có nhiều hãng viễn thông lớn trên thế giới cung cấp thiết bị cho thoại VoIP như
Cisco, Acatel, Siemen…Các thiết bị này có thể tương thích với hầu hết các chuẩn giao
thức hiện nay.
Bên cạnh các ưu điểm, VoIP còn có những nhược điểm đặc biệt là về chất lượng
dịch vụ:
• Do dựa trên nền IP là kiểu mạng best effort và không tin cậy.
• Độ trễ không đồng nhất giữa các gói tin.
1.2.2 Các kỹ thuật mã hoá và nén số trong VoIP
Kỹ thuật số hoá đã cho phép truyền thông được tín hiệu tương tự giữa các địa
điểm cách xa nhau một cách khá trung thực. Tuy nhiên, một nhược điểm cơ bản của số
hoá đó là nó sẽ làm tăng độ rộng băng tần cần thiết. Trong mạng điện thoại thông
thường tín hiệu được mã hoá theo luật A hoặc luật µ với tốc độ 64kbps. Với cách mã
hoá này, cho phép khôi phục một cách tương đối trung thực các âm thanh trong giải tần
thoại. Tuy nhiên trong ứng dụng thoại trên mạng IP yêu cầu truyền âm thanh với tốc độ
càng thấp càng tốt. Từ đó đã xuất hiện một số kỹ thuật mã hoá và nén tín hiệu tiếng nói
như G.723.1,G.729A,GSM...
Về cơ bản các bộ mã hoá tiếng nói có ba loại: mã hoá dạng sóng (waveform),
mã hoá nguồn (source) và mã hoá lai (hybrid) là sự kết hợp cả hai loại mã hoá dạng
trên.
Nguyên lý của mã hoá dạng sóng là mã hoá dạng của tín hiệu tuơng tự. Tại phía
phát, bộ mã hóa sẽ nhận các tín hiệu tương tự liên tục và mã hoá thành tín hiệu số trước
khi truyền đi. Tại phía thu sẽ làm nhiệm vụ ngược lại để khôi phục tín hiệu tương tự từ
luồng số thu được. Nếu không có lỗi truyền dẫn thì dạng sóng của tiếng nói khôi phục
sẽ rất giống với dạng sóng tiếng nói gốc. Cơ sở của bộ mã hoá dạng sóng là: nếu người
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 7
Đồ án tốt nghiệp
nghe nhận được một bản sao dạng sóng của tiếng nói gốc thì chất lượng âm thanh sẽ rất
tuyệt vời. Tuy nhiên trong thực tế, qúa trình mã hoá lại sinh ra tạp âm lượng tử (mà
thực chất là méo dạng sóng ), nhưng nó thường đủ nhỏ để không ảnh hưởng đến chất
lượng tiếng nói thu được. Ưu điểm của bộ mã hoá loại này là: độ phức tạp, giá thành
thiết kế, độ trễ và công suất tiêu thụ thấp. Người ta có thể áp dụng chúng để mã các tín
hiệu khác như: tín hiệu báo hiệu, tín hiệu tương tự ở giải tần âm thanh...và đặc biệt với
những thiết bị ở một điều kiện nhất định thì chúng còn có khả năng mã hoá được cả tín
hiệu audio. Bộ mã hoá dạng sóng đơn giản nhất là điều chế xung mã (PCM), điều chế
Delta (DM)...Tuy nhiên, nhược điểm của bộ mã hoá dạng sóng là không tạo được tiếng
nói chất lượng cao tại tốc độ bit thấp (dưới 16 kbps).
Nguyên lý bộ mã hoá nguồn là mã hóa theo kiểu phát âm (vocoder), ví dụ như
bộ mã hoá dự báo tuyến tính (LPC). Đặc điểm của kiểu mã hoá này là giả thiết rằng: tín
hiệu tiếng nói bao gồm cả âm hữu thanh và vô thanh. Đối với âm hữu thanh thì nguồn
kích thích bộ máy phát âm sẽ là một dãy xung, còn đối với các âm vô thanh thì nó sẽ là
một nguồn nhiễu ngẫu nhiên. Trong thực tế, có rất nhiều cách để kích thích cơ quan
phát âm. Nhưng để đơn giản hoá, người ta giả thiết rằng chỉ có một điểm kích thích
trong toàn bộ giai đoạn lên giọng của tiếng nói, dù cho đó là âm hữu thanh hay vô
thanh.
Vào năm 1982, Atal đã đề ra một mô hình mới về kích thích, được gọi là kích
thích đa xung. Trong mô hình này, không cần biết trước âm cần tạo ra là âm hữu thanh
hay vô thanh và đó có phải là giai đoạn lên giọng hay không. Sự kích thích được mô
hình hoá bởi một số xung (thông thường là 3 xung trên 5ms ) có biên độ và vị trí được
xác định bằng cực tiểu hoá sai lệch, có tính đến trọng số thụ cảm, giữa tiếng nói gốc và
tiếng nói tổng hợp. Phương pháp này có khả năng cho tiếng nói chất lượng cao tại tốc
độ bit quanh 10 kbps và thậm chí chỉ 4,8 kbps. Tín hiệu kích thích sẽ được tối ưu hoá
một cách kỹ lưỡng và người ta sử dụng kỹ thuật mã hoá dạng sóng để mã hoá tín hiệu
kích thích này một cách có hiệu quả.
Bảng dưới đây trình bày về một số chuẩn mã hoá đang được sử dụng trong thực
tế:
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 8
H.323 MCU
Đồ án tốt nghiệp
Hình 1.2 Các chuẩn mã hoá thoại.
Trong đó, các G.711 là thực hiện mã hoá PCM thông thường cho tốc độ 64
kbps, G.728 là kỹ thuật mã hoá CELP ở tốc độ 16 kbps với sự thay đổi độ trễ thấp,
G.729 là kỹ thuật mã hoá CELP cho tốc độ 8 kbps, G.723.1 cho tốc độ rất thấp ở 5,3
kbps và 6,3 kbps là các chuẩn mã hoá được dùng phổ biến trong công nghệ VoIP.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 9
H.323 MCU
Hình 2.1 Các phần tử kết nối mạng H.323.

Đồ án tốt nghiệp
CHƯƠNG II
CÁC GIAO THỨC TRONG VoIP
Trong một vài năm trở lại dây, công nghệ VoIP đã trở thành một công nghệ hứa
hẹn mang lại các lợi ích to lớn cho xã hội, nhiều tổ chức đã tiến hành nghiên cứu và
phát triển các giao thức cho VoIP mà đáng quan tâm hơn cả là hai giao thức H.323 và
SIP đang được tiến hành tại nhiều quốc gia trên thế giới.
2.1 Hệ thống VoIP H.323
2.1.1 Giới thiệu
Chuẩn H.323 cung cấp nền tảng cho việc truyền thông thoại, video và dữ liệu
qua các mạng dựa trên IP, bao gồm cả Internet. H.323 là khuyến nghị của ITU, nơi đưa
ra các chuẩn truyền thông đa phương tiện trên các mạng LANs, các mạng này không
đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS).
H.323 có thể dùng cho nhiều cơ cấu mạng khác nhau: chỉ có audio (IP
telephony), audio và video (videotelephony), audio và dữ liệu, tích hợp audio, video và
dữ liệu. Nó cũng có thể dùng cho truyền thông đa điểm đa phương tiện. H.323 cung cấp
rất nhiều loại hình dịch vụ và có thể dùng trong các lĩnh vực khác nhau.

2.1.2 Lịch sử phát triển của H.323
Ban đầu H.323 là giao thức dành cho LANs (1996), chỉ là kết nối thoại trên
mạng LAN. Sau đó là sử dụng trên mạng WAN, mạng VoIP riêng và sau cùng là giao
thức trên Internet. Trước kia nó được các giao thức của IETF chấp nhận như RTP- cung
cấp khả năng truyền thoại và video thời gian thực qua mạng IP trên toàn thế giới nhưng
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 10
H.323 MCU
H.323
Terminal
H.323
Terminal
H.323
Gateway
H.323
Terminal
H.323
Gatekeeper
IP
Network
H.323 system
PSTN ISDN
V.70
Terminal
H.324
Tẻminal
Speech
Terminal
H.320
Terminal
Speech
Terminal
Hình 2.1 Các phần tử kết nối mạng H.323.

Đồ án tốt nghiệp
thực tế H.323 lớn hơn so với giao thức chỉ dành riêng cho mạng LAN. Nhận thức được
điều này, ITU-T đã liên tục phát triển giao thức này. H.320 cũng tương tự như H.323 vì
nó cũng cung cấp truyền thoại, video và dữ liệu song H.323 lại được thiết kế cho truyền
thông qua mạng gói như Internet, LAN doanh nghiệp hay các mạng dựa trên IP khác
trong khi H.320 chỉ thiết kế để dùng cho ISDN.
Dù có nhiều lần bổ sung song điểm tập trung cần phải giải quyết vẫn là tính
tương thích ngược. Mỗi version mới được đưa ra có nhiều đặc điểm nhưng vẫn không
thoả mãn được tính phối hợp hoạt động. H.323 bao gồm các giao thức H.225.0-RAS,
Q.931- H.245, RTP/RTCP và các bộ mã hoá và giải mã thoại, video, dữ liệu như các bộ
mã hoá và giải mã thoại (audio) G.711, G.723.1, G.728..., cho video là H.261 và H.263,
cho dữ liệu là T.120. Các dòng thông tin dữ liệu được truyền trên giao thức RTP/RTCP.
RTP mang thông tin thực còn RTCP mang thông tin điều khiển và trạng thái. Thông tin
báo hiệu (ngoại trừ RAS) được truyền tin cậy trên giao thức TCP. Các giao thức sau xử
lý về báo hiệu:
•RAS: Quản lý việc đăng ký, chấp nhận và trạng thái dùng cho truyền
thông giữa một điểm cuối H.323 với một gatekeeper.
•Q.931: Quản lý việc thiết lập và điều khiển /kết thúc cuộc gọi.
•H.225: Điều khiển cuộc gọi.
•H.245: thảo luận về việc sử dụng kênh và các khả năng.
•H.235: bảo mật và nhận thực.
• H.450.x: các dịch vụ bổ trợ.
2.1.3 Sơ đồ mạng lưới
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 11
Đồ án tốt nghiệp
Hình 2.2 Sơ đồ mạng lưới mạng VoIP.
Hình trên cho thấy vị trí các phần tử cơ bản và kết nối của chúng trong mạng
VoIP sử dụng chuẩn H.323 và kết nối tới các mạng ngoài.
2.1.4 Bộ giao thức H.323
H.323 cung cấp nhiều loại hình dịch vụ từ thoại đến video và dữ liệu, thông tin
đa phương tiện. Lược đồ sau minh hoạ các giao thức H.323 khi so sánh với mô hình
OSI.
Với dịch vụ Audio có giao thức lớp ứng dụng là các chuẩn G (G.711, G.723,
G.729) và Video có giao thức lớp ứng dụng là các chuẩn H (H.261, H.263), chúng cùng
với các giao thức RTCP, RAS, RTP dựa trên nền giao tức UDP ở lớp vận chuyển.
- Với dịch vụ dữ liệu/fax: có chuẩn riêng, không dựa trên UDP, đó là T.120
cho dữ liệu và T.138 cho fax.
- Với các dịch vụ bổ sung: chỉ nằm trong lớp vận chuyển có các giao thức
báo hiệu và điều khiển, sử dụng TCP ở lớp vận chuyển phía dưới.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 12
Đồ án tốt nghiệp

Hình 2.3 Mô hình giao thức H.323 tương quan với mô hình OSI.
Các khuyến nghị giao thức H khác của ITU hoạt động cùng H.323:
H.235: Đặc tả tính bảo mật và mã hoá cho các đầu cuối theo H.323 và H.245.
H.450.N: H.450.1 đặc tả khung công việc cho các dịch vụ bổ sung như các
dịch vụ chuyển cuộc gọi, chuyển hướng cuộc gọi, giữ cuộc gọi, dừng cuộc
gọi, đợi cuộc gọi, chỉ dẫn có tin nhắn chờ, nhận dạng tên, kết thúc cuộc gọi,
yêu cầu cuộc gọi và chỉ dẫn cuộc gọi.
H.246: Đặc tả liên mạng giữa các đầu cuối H với các đầu cuối chuyển mạch
kênh.
RTP (Real Transfer protocol): Giao thức vận chuyển thời gian thực cung cấp các
chức năng vận chuyển phù hợp cho các ứng dụng truyền dữ liệu thời gian thực như
audio, video, hay dữ liệu mô phỏng qua các dịch vụ mạng như unicast hoặc multicast.
RTP không chiếm giữ nguồn địa chỉ và không đảm bảo chất lượng dịch vụ cho các dịch
vụ thời gian thực. Nó được bổ sung vào dữ liệu UDP trong H.323.
RTCP: Đảm bảo giao thức thời gian thực, nó cho phép giám sát luồng lưu lượng
phân tán trong mạng và thực hiện các chức năng điều khiển luồng, nhận dạng luồng
cho các lưu lượng thời gian thực.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 13
Đồ án tốt nghiệp
Các bản tin điều khiển: Bản tin báo hiệu Q.931, các bản tin thay đổi khả năng
H.245, bản tin giao thức RAS được mang trên lớp TCP tin cậy.
Hình 2.4 trình bày các chức năng giao thức của hệ thống VoIP sử dụng H.323
cho Audio.

Hình 2.4 Các chức năng giao thức của hệ thống VoIP.
• Chức năng điều khiển H.245 dùng kênh điều khiển H.245 để mang bản tin điều
khiển đầu cuối-đầu cuối để quản lý hoạt động thực thể H.323.
- Các bản tin: khả năng trao đổi, đóng và mở kênh logic, yêu cầu ưu tiên
mode, bản tin điều khiển luồng, lệnh và chỉ thị chung.
- Vị trí: thiết lập giữa hai điểm cuối, điểm cuối với MCU, điểm cuối và
Gatekeeper. Kênh điều khiển H.245 được mang trên kênh logic 0, kênh
logic này mở từ khi thiết lập kênh điều khiển H.245 đến khi kết thúc kênh
này.
- Có 4 loại bản tin H.245: Request, Response, Command, Indication. Bản
tin Request và Response được sử dụng bởi các thực thể giao thức, bản
tin Request yêu cầu một hành động xác định của máy thu, bao gồm cả
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
Audio
In/Out
Điều khiển
Hệ thống
Chuyển
tải

Audio
Chuyển
đổi IP
Mạng IP
(Internet)
14
Đồ án tốt nghiệp
những đáp ứng ngay lập tức. Bản tin Response đáp ứng lại yêu cầu tương
ứng. Bản tin Command yêu cầu một hành động nhưng không yêu cầu
đáp ứng. Bản tin Indication chỉ ra một thông báo và không yêu cầu bất
cứ một hành động hoặc đáp ứng nào. Đầu cuối H.323 sẽ đáp ứng tất cả
yêu cầu và lệnh H.245 và truyền chỉ thị phản ánh trạng thái của đầu cuối.
- Đầu cuối có khả năng phân tích tất cả các bản tin H.245 multimedia
System Control Message, gửi và nhận tất cả các bản tin để thực hiện các
chức năng đã được yêu cầu và các chức năng tuỳ chọn đã được hỗ trợ bởi
đầu cuối. Đầu cuối H.323 sẽ gửi bản tin Function Not Support để đáp
ứng bản tin Request, Response hoặc Command mà nó không hiểu được.
● Chức năng báo hiệu của RAS dùng bản tin H.225 để đăng ký, thừa nhận, thay
đổi độ rộng băng tần, trạng thái và thủ tục mở gói giữa điểm cuối và Gatekeeper.
Kênh báo hiệu RAS độc lập với kênh báo hiệu cuộc gọi và điều khiển H.245.
Thủ tục mở kênh logic H.245 không được dùng để thiết lập kênh báo hiệu RAS.
Trong môi trường mạng không có Gatekeeper, kênh báo hiệu RAS không được
sử dụng. Trong môi trường mạng có Gatekeeper, kênh báo hiệu được mở giữa
điểm cuối và Gatekeeper. Kênh báo hiệu RAS được mở trước để thiết lập bất kỳ
kênh khác giữa những điểm cuối H.323.
● Chức năng báo hiệu cuộc gọi H.225 để thiết lập kết nối giữa hai điểm cuối
H.323 sử dụng các bản tin trong khuyến nghị H.225 và các bản tin được hỗ trợ
Q.931. Một kênh điều khiển cuộc gọi tin cậy (TCP) được tạo ra qua mạng IP
trên một cổng TCP. Cổng này phát đi các bản tin điều khiển cuộc gọi Q.931 để
kết nối, giám sát và giải phóng cuộc gọi. Kênh báo hiệu cuộc gọi độc lập với
kênh RAS và kênh điều khiển H.245. Thủ tục mở kênh logic H.245 không được
dùng để thiết lập kênh H.245 và bất kỳ kênh logic nào khác giữa nhiều điểm
cuối H.323. Trong hệ thống không có Gatekeeper, kênh báo hiệu được mở giữa
hai điểm cuối liên quan tới cuộc gọi. Trong hệ thống có Gatekeeper, kênh báo
hiệu cuộc gọi được mở giữa hai điểm cuối và Gatekeeper hoặc giữa các điểm
cuối mà Gatekeeper chọn.
2.1.5 Các thiết bị cấu thành hệ thống H.323
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 15
Đồ án tốt nghiệp

Hình 2.5 Các thiết bị thành phần của hệ thống VoIP dựa trên H.323.
Hình 2.5 cho biết các thiết bị thành phần cơ bản cấu thành một mạng VoIP dựa
trên giao thức H.323. Theo khuyến nghị H.323, mạng VoIP có thể có 4 thiết bị cơ bản:
đầu cuối H.323, Gatekeeper, Multipoint Control Unit và Gateway.
2.1.5.1 Thiết bị đầu cuối H.323
Thiết bị đầu cuối H.323 là các điểm cuối phía khách hàng, cung cấp giao diện
trực tiếp giữa người dùng và mạng. Mạng VoIP sẽ cung cấp các khả năng truyền thông
thời gian thực hai chiều giữa đầu cuối với đầu cuối khác, với Gateway hay MCU để
trao đổi các tín hiệu điều khiển chỉ thị, audio, hình ảnh động hay dữ liệu giữa hai thiết
bị.
Hình 2.6 mô tả một cách tổng quát các khối chức năng của một đầu cuối H.323
bao gồm giao diện thiết bị người dùng, mã hoá audio, lớp H.225, chức năng điều khiển
hệ thống và giao diện với mạng gói. Tất cả các đầu cuối thoại H.323 bắt buộc phải có
một khối điều khiển hệ thống, lớp H.225.0, giao diện mạng và bộ mã hoá audio.
Khối điều khiển hệ thống cung cấp báo hiệu cho mục đích vận hành cấc đầu
cuối H.323, nó cung cấp các chức năng như điều khiển cuộc gọi, thay đổi băng tần theo
yêu cầu, chức năng tạo các bản tin thu phát mô tả và mở các kênh logic.
Lớp H.225.0 thực hiện chức năng định dạng audio, thiết lập và mở các kênh
logic chuyển đổi thông tin luồng dữ liệu vào các bản tin điều khiển báo hiệu.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 16
Đồ án tốt nghiệp


Hình 2.6 Thiết bị đầu cuối H.323.
Giao diện mạng có chức năng chuyển đổi dạng bản tin H.323 thành dạng thích
hợp trong mạng IP sử dụng các dịch vụ TCP, UDP.
Như vậy nó phải hỗ trợ:
• Giao thức báo hiệu cuộc gọi H.225.
• Giao thức báo hiệu kênh điều khiển H.245.
• Các giao thức RTP/RTCP cho các gói phương tiện.
• Các bộ mã hoá/giải mã thoại: là phần tử bắt buộc trong thiết bị
đầu cuối H.323. Các chuẩn mã hoá thường gặp là G.711, G.728 và
G.723.1. Không bắt buộc có các bộ mã hoá/giải mã Video. Bộ này có
chức năng mã hoá tín hiệu Video từ nguồn để truyền đi và giải mã tín
hiệu Video nhận được để đưa tới thiết bị hiện thị. Các chuẩn thường
dùng là H.261, và H.263.
2.1.5.2 Gateway H.323
Gateway (GW) là một điểm cuối trong mạng thực hiện các chức năng chuyển
đổi về báo hiệu và dữ liệu, cho phép các mạng hoạt động dựa trên các giao thức khác
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 17
Đồ án tốt nghiệp
nhau có thể phối hợp với nhau. Trong mạng VoIP, Gateway H.323 cho phép kết nối
mạng VoIP với các mạng khác. Nó cung cấp các khả năng truyền thông thời gian thực
và song hướng giữa các đầu cuối H.323 trong mạng gói với các đầu cuối trong mạng
khác hay với các Gateway khác. Trong khuyến nghị H.323, Gateway H.323 là một
phần tử tuỳ chọn và được sử dụng như là một cầu nối giữa các đầu cuối H.323 với các
đầu cuối H.310 (cho B-ISDN), H.320 (ISDN), H.321 (ATM), H.324M (Mobile).
Các chức năng chính của Gateway là:
• Cung cấp phiên dịch giữa các thực thể trong mạng chuyển gói (ví
dụ mạng IP) với mạng chuyển mạch kênh (ví dụ PSTN).
• Các Gateway cũng có thể phiên dịch khuôn dạng truyền dẫn,
phiên dịch các tiến trình truyền thông, phiên dịch giữa các bộ mã hoá/giải
mã hoặc phiên dịch giữa các đầu cuối theo chuẩn H.323 và các đầu cuối
không theo chuẩn này.
• Ngoài ra, nó còn tham gia vào việc thiết lập và huỷ bỏ cuộc gọi.
Các thành phần của một Gateway được mô tả trong hình sau:
Hình 2.7 Chức năng cơ bản của Gateway H.323.
a. Media Gateway: MGW
Media Gateway (MGW) cung cấp phương tiện để thực hiện chức năng chuyển
đổi mã hoá. Nó chuyển đổi giữa các mã truyền trong mạng IP (truyền trên
RTP/UDP/IP) với mã hoá truyền trong mạng SCN (PCM, GSM)…
MGW bao gồm các chức năng sau:
• Chức năng chuyển đổi địa chỉ kênh thông tin: cung cấp địa chỉ IP
cho các kênh thông tin truyền và nhận.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 18
Đồ án tốt nghiệp
• Chức năng chuyển đổi luồng: chuyển đổi giữa các luồng thông tin
giữa mạng IP và mạng SCN bao gồm việc chuyển đổi mã hoá và triệt
tiếng vọng.
• Chức năng dịch mã hoá: định tuyến các luông thông tin giữa
mạng IP và mạng SCN.
• Bảo mật thông tin: đảm bảo tính riêng tư của kênh thông tin kết
nối với GW.
• Kết cuối chuyển mạch kênh: bao gồm tất cả các phần cứng và giao
diện cần thiết để kết cuối cuộc gọi chuyển mạch kênh, nó phải bao gồm
các bộ mã hoá và giải mã PCM luật A và PCM luật µ.
• Kết cuối chuyển mạch gói: chứa tất cả các giao thức liên quan đến
việc kết nối kênh thông tin trong mạng chuyển mạch gói bao gồm các bộ
mã hoá/giải mã có thể sử dụng được. Theo chuẩn H.323 thì nó bao gồm
RTP/RTCP và các bộ mã hoá giải mã như G.711, G.723.1, G.729…
• Giao diện với mạng SCN: Kết cuối các kênh mang (ví dụ như
DSO) từ mạng SCN và chuyển nó sang trạng thái có thể điều khiển bởi
chức năng xử lý kênh thông tin.
• Chức năng chuyển đổi kênh thông tin giữa IP và SCN: chuyển đổi
giữa kênh mang thông tin thoại, fax, dữ liệu của SCN và các gói dữ liệu
trong mạng chuyển mạch gói. Nó cũng thực hiện chức năng xử lý tín hiệu
thích hợp ví dụ như: nén tín hiệu thoại, triệt tiếng vọng, triệt khoảng lặng,
mã hoá, chuyển đổi tín hiệu fax và điều tiết tốc độ modem tương tự.
Thêm vào đó, nó cũng thực hiện chuyển đổi giữa tín hiệu DTMF trong
mạng SCN và các tín hiệu thích hợp trong mạng chuyển mạch gói khi mà
các bộ mã hoá tín hiệu thoại không mã hoá tín hiệu DTMF. Chức năng
chuyển đổi kênh thông tin giữa IP và SCN cũng có thể thu thập thông tin
về lưu lượng gói và chất lượng kênh đối với mỗi cuộc gọi để sử dụng
trong việc báo cáo chi tiết và điều khiển cuộc gọi.
• OA&M: vận hành, quản lý và bảo dưỡng, thông qua các giao diện
logic cung cấp các thông tin không trực tiếp phục vụ cho điều khiển cuộc
gọi tới các phần tử quản lý hệ thống.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 19
Đồ án tốt nghiệp
• Chức năng quản lý: giao diện với hệ thống quản lý mạng.
• Giao diện mạng chuyển mạch gói: kết cuối mạng chuyển mạch gói.
b. Media Gateway Controler: MGC
Mỗi GW có phần điều khiển được gọi là Media Gateway Controler (MGC) đóng
vai trò phần tử kết nối MGW, SGW và GK. Nó cung cấp các chức năng xử lý cuộc gọi
cho GW, điều khiển MGW, nhận thông tin báo hiệu SCN từ SGW và thông tin báo hiệu
từ IP từ GK.
MGWC có thể bao gồm các khối chức năng sau:
• Chức năng GW H.225.0: truyền và nhận các bản tin H.225.0.
• Chức năng GW H.245: truyền và nhận các bản tin H.245.
• Chức năng xác nhận: thiết lập đặc điểm nhận dạng của người sử
dụng thiết bị hoặc phần tử mạng.
• Chức năng điều khiển GW chấp nhận luồng dữ liệu: cho phép
hoặc không cho phép một luồng dữ liệu.
• Báo hiệu chuyển mạch gói: bao gồm tất cả các loại báo hiệu cuộc
gọi có thể thực hiện bởi các đầu cuối trong mạng. Ví dụ như theo chuẩn
H.323 thì bao gồm: H.225.0, Q.931, H.225.0 RAS và H.245. Đối với một
đầu cuối H.323chỉ nhận thì nó bao gồm H.225.0 RAS mà không bao gồm
H.245.
• Giao diện báo hiệu chuyển mạch gói: kết cuối giao thức báo hiệu
chuyển mạch gói (ví dụ như H.323, UNI, PNNI). Nó chỉ lưu lại vừa đủ
các thông tin trạng thái để quản lí giao diện. Về thực chất, giao diện báo
hiệu chuyển mạch gói trong MGWC không kết nối trực tiếp với MGW
như là các thông tin truyền từ MGWC tới MGW thông qua chức năng
điều khiển cuộc gọi.
• Điều khiển GW: bao gồm các chức năng điều khiển kết nối logic,
quản lý tài nguyên, chuyển đổi giao diện (ví dụ như từ SS7 sang
H.225.0).
• Giám sát tài nguyên từ xa: bao gồm giám sát độ khả dụng của các
kênh trung kế của MGW, giải thông và độ khả dụngcủa mạng IP, tỉ lệ
định tuyến thành công cuộc gọi.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 20
Đồ án tốt nghiệp
• Quản li tài nguyên MGW: cấp phát tài nguyên cho MGW.
• Chức năng báo hiệu: chuyển đổi giữa báo hiệu mạng IP và báo
hiệu mạng SCN trong phối hợp hoạt động với SGW.
• Chức năng ghi các bản tin sử dụng: xác định và ghi các bản tin
báo hiệu và các bản thông tin truyền và nhận.
• Chức năng báo cáo các bản tin sử dụng: báo cáo các bản tin sử
dụng ra thiết bị ngoại vi.
• OA&M: vận hành, quản lí và bảo dưỡng thông qua các giao diện
logic cung cấp các thông tin không trực tiếp phục vụ cho điều khiển cuộc
gọi tới các phần tử quản lí hệ thống.
• Chức năng quản lí: giao diện với hệ thống quản lí mạng.
• Giao diện mạng chuyển mạch gói: kết cuối mạng chuyển mạch gói.
MG và MGC khác nhau ở các phần tử tài nguyên mức thấp và mức cao. MGC
chịu trách nhiệm quản lý các tài nguyên mức cao, nó có thể hiểu được tính sẵn sang của
các tài và quyết định sử dụng chúng một cách hợp lý (ví dụ như các bộ triệt tiếng vọng
được đặt trong GW VoIP chịu sự quản lí của MGC). MG chịu trách nhiệm quản lý các
tài nguyên mức thấp như là các thiết bị phần cứng để chuyển mạch và xử lý luồng
thông tin trong một GW.
c. Signalling Gateway: SGW
SGW cung cấp kênh báo hiệu giữa mạng IP và mạng SCN. Nó có thể hỗ trợ
chức năng kênh báo hiệu giữa mạng IP (ví dụ như H.323) hoặc báo hiệu trong mạng
SCN (ví dụ như R2, CCS7).
SGW có thể bao gồm các khối chức năng sau:
• Kết nối các giao thức điều khiển cuộc gọi SCN.
• Kết nối báo hiệu từ mạng SCN: phối hợp hoạt động với các chức
năng báo hiệu của MGWC.
• Chức năng báo hiệu: chuyển đổi giữa báo hiệu mạng IP với báo
hiệu mạng SCN khi phối hợp hoạt động với MGWC.
• Bảo mật kênh báo hiệu: bảo đảm tính bảo mật của kênh báo hiệu từ GW.
• Chức năng thông báo: ghi các bản tin sử dụng, xác định và ghi các
bản tin thông báo ra thiết bị ngoại vi.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 21
Đồ án tốt nghiệp
• OA&M: vận hành, quản lý và bảo dưỡng thông qua các giao diện
logic cung cấp các thông tin không trực tiếp phục vụ cho điều khiển cuộc
gọi tới các phần tử quản lý hệ thống.
• Chức năng quản lý: giao diện với hệ thống quản lý mạng.
• Giao diện mạng chuyển mạch gói: kết nối mạng chuyển mạch gói.
SG sẽ làm nhiệm vụ phân tích và chuyển các bản tin báo hiệu trong mạng PSTN
vào mạng H.323. Các bản tin báo hiệu như ISUP, SCCP, TSUP được chuyển đổi thành
dạng hợp lý tại GW báo hiệu và chuyển vào mạng IP.
2.1.5.3 Gatekeeper H.323: GK
Gatekeeper là một thực thể tuỳ chọn trong mạng H.323 để cung cấp các chức
năng biên dịch địa chỉ và điều khiển truy nhập mạng cho các thiết bị đầu cuối H.323,
các Gateway và các MCU. Ngoài ra, Gatekeepr cũng có thể cung cấp các dịch vụ khác
cho các phần tử mạng trên như quản lý băng thông hay định vị các Gateway.
Hình 2.8 Mỗi GK quản lý một vùng mạng H.323.
Về mặt logic, Gatekeeper là một thiết bị độc lập nhưng trong thực tế nó thường
được tích hợp với các phần tử mạng khác trong cùng một thiết bị vật lý. Mỗi GK quản
lý một vùng mạng, nếu trong mạng có một GK thì các điểm cuối phải đăng ký và sử
dụng các dịch vụ do nó cung cấp. Một vùng mạng H.323 được hiểu như một tập hợp
các node như đầu cuối, Gateway hay MCU. Một vùng được quản lý bởi một GK và các
điểm cuối trong mạng phải đăng ký với GK này.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 22
Gatekeeper
GW
GW
GW
GW
Zone 1
Gatekeeper
GW
GW
GW
GW
Zone 2
Telephone
Telephone
Đồ án tốt nghiệp
Hình 2.9 Mô hình giao thức và chức năng của GK.
Khi sử dụng Gatekeeper sẽ chỉ có duy nhất một Gatekeeper trong một vùng
H.323 tại bất kỳ thời điểm nào cho dù có nhiều thiết bị có thể cung cấp chức năng này
ở trong vùng đó. Nhiều thiết bị cung cấp chức năng báo hiệu RAS cho Gatekeeper
được đề cập đến như là các Gatekeeper dự phòng.
Gatekeeper cung cấp các dịch vụ cơ bản sau đây:
• Biên dịch địa chỉ: GK có thể biên dịch từ địa chỉ định danh sang
địa chỉ truyền tải. Điều đó được thực hiện bằng một bảng biên dịch. Bảng
này thường xuyên được cập nhật bằng các bản tin đăng ký của các điểm
cuối trong vùng quản lý của Gatekeeper.
• Điều khiển đăng nhập: GK quản lý quá trình truy nhập mạng của
các điểm cuối bằng các bản tin H.225.0.
• Điều khiển băng thông: GK quản lý băng thông của mạng bằng
các bản tin H.225.0.
• Quản lý vùng: GK sẽ cung cấp các chức năng trên cho các đầu
cuối được đăng ký với nó.
Ngoài ra, Gatekeeper còn cung cấp một số dịch vụ tuỳ chọn khác:
• Báo hiệu điều khiển cuộc gọi: GK quyết định có tham gia vào quá
trình báo hiệu cho cuộc gọi hay không.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 23
Đồ án tốt nghiệp
• Cấp phép cho cuộc gọi: GK GK quyết định có cho phép cuộc gọi
được tiến hành hay không.
• Quản lý băng tần
• Quản lý cuộc gọi
• Sửa đổi địa chỉ định danh
• Biên dịch số được quay: GK sẽ chuyển các số được quay sang số
E.164 hay số mạng riêng.
• Quản lý cấu trúc dữ liệu
Hình 2.10 Gatekeeper thông tin với các thành phần trong mạng.
2.1.5.4 Khối điều khiển đa điểm H.323: MCU
MCU là một điểm cuối trong mạng để cung cấp khả năng truyền thông hội nghị
cho ba điểm hay nhiều thiết bị đầu cuối và các Gateway tham gia một hội nghị đa điểm.
Nó cũng có thể kết nối hai thiết bị đầu cuối trong một hội nghị điểm-điểm mà sau đó có
thể phát triển thành một hội nghị đa điểm. MCU bao gồm hai phần: một bộ điều khiển
đa điểm (MC) bắt buộc và một bộ xử lý đa điểm (MP) tuỳ chọn.
MC cung cấp các chức năng điều khiển để hỗ trợ các hội nghị giữa ba hay nhiều
điểm cuối tham gia một hội nghị đa điểm. Nó thực hiện trao đổi khả năng với mỗi điểm
cuối trong một hội nghị. MC gửi một tập khả năng tới các điểm cuối để chỉ thị mô hình
hoạt động mà chúng có thể sử dụng. MC cũng có thể sửa lại tập các khả năng để gửi tới
các thiết bị đầu cuối khi các đầu cuối tham gia hay ra khỏi hội nghị hay vì một lý do
nào khác.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 24
IP QoS Network
Gatekeeper
Gateway B
1 2 3
4 5 6
7 8 9
* 8 #
Gateway A
1 2 3
4 5 6
7 8 9
* 8 #
H225 (Q931) call Setup (TCP)
H245 Call Control (TCP)
RTP (UDP)
H
2
2
5

R
A
S

(
U
D
P
)
H
2
2
5

R
A
S

(
U
D
P
)
Đồ án tốt nghiệp
MP nhận các dòng audio, video và data từ các điểm cuối trong một hội nghị đa
điểm. Nó sẽ xử lý tập trung các luồng phương tiện này và trả lại chúng cho các diểm
cuối. Nó có thể thực hiện các chức năng như trộn, chuyển mạch, hay các xử lý khác
dưới sự điều khiển của MC. MP có thể xử lý một luồng phương tiện đơn lẻ hay nhiều
luồng phương tiện phụ thuộc vào kiểu của hội nghị được hỗ trợ.
Hình 2.11 Mô hình giao thức của MCU.
Thành phần của khối điều khiển đa điểm gồm:
• Bộ điều khiển đa điểm: cung cấp chức năng điều khiển.
• Bộ xử lý đa điểm: thu nhận và xử lý các dòng thoại, video hoặc dữ liệu.
2.1.6 Ngăn xếp giao thức H.323
H.323 là một tập hợp của nhiều giao thức còn được gọi là họ giao thức H.323
mô tả quá trình truyền multimedia qua mạng gói. Nhìn chung, các thủ tục truyền báo
hiệu trong khuyến nghị H.323 đều dựa trên ngăn xếp giao thức sau:
Các bản tin điều khiển (như là các bản tin báo hiệu Q931, các bản tin thay đổi
khả năng H.245) được mang bởi lớp TCP tin cậy. Điều này đảm bảo rằng các thông tin
quan trọng sẽ được truyền lại nếu cần thiết và có thể khôi phục chính xác tại đầu thu.
Bản tin giao thức RAS, luồng media có thể truyền qua giao thức UDP vì đây là giao
thức truyền không tin cậy, nó không có các thủ tục kiểm tra chặt chẽ và truyền lại thông
tin như TCP, do đó nó phù hợp với các luồng thông tin media vốn không yêu cầu tính
an toàn cao như dữ liệu nhưng lại yêu cầu chặt chẽ về tính thời gian thực
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 25
Đồ án tốt nghiệp
Các luồng media thì được truyền qua lớp giao thức UDP không tin cậy và được
quản lý dựa trên 2 giao thức thời gian thực RTP và RTCP. RTP cung cấp chức năng
truyền tải mạng end-to-end phù hợp với các ứng dụng chuyển đổi thời gian thực như
audio, video qua các dịch vụ mạng đơn điểm hay đa điểm. RTP không chỉ ra nguồn tài
nguyên dành riêng và không đảm bảo mức chất lượng dịch vụ cho các dịch vụ thời gian
thực, việc này được đảm bảo bằng giao thức điều khiển thời gian thực (RTCP). RTCP
cho phép giám sát luồng lưu lượng phân tán trong mạng và thực hiện các chức năng
điều khiển luồng và nhận dạng luồng cho các lưu lượng thời gian thực.


Hình 2.12 Ngăn xếp giao thức H.323.
2.2 Giao thức khởi tạo phiên SIP
2.2.1 Giới thiệu
Giao thức khởi tạo phiên SIP (Secssion Initiation Protocol) là giao thức điều
khiển báo hiệu thuộc lớp ứng dụng được sử dụng để thiết lập, duy trì và kết thúc các
phiên multimedia hay các cuộc gọi qua mạng nền IP. SIP được sử dụng để thiết lập
điều khiển và xoá bỏ cuộc gọi. SIP liên kết với các giao thức IETF khác như SAP (giao
thức thông báo phiên), SDP (giao thưc mô tả phiên), RSVP (giao thức giữ trước tài
nguyên), RTP (giao thức truyền tải thời gian thực), RTSP (giao thức phân phối dòng tin
đa phương thức) cung cấp một số lượng lớn các dịch vụ VoIP. Cấu trúc SIP tương tự
như cấu trúc HTTP (Giao thức Client - Server) bao gồm tập hợp các yêu cầu được gửi
từ SIP client tới SIP server. Server xử lý các yêu cầu này và trả lời client, một bản tin
trả lời cùng với các bản tin liên kết với nó gọi là một SIP transaction.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 26
Đồ án tốt nghiệp
SIP cũng có thể kết hợp với các giao thức báo hiệu và thiết lập cuộc gọi khác.
Theo cách đó, một hệ thống đầu cuối dùng SIP để xác định địa chỉ hợp lệ của một hệ
thống và giao thức từ một địa chỉ gửi đến là giao thức độc lập. Ví dụ, SIP có thể dùng
để chỉ ra rằng người tham gia có thể thông qua H.323, cổng H.245, địa chỉ người dùng
rồi dùng H.245 để thiết lập cuộc gọi.
SIP hỗ trợ 5 dịch vụ trong việc thiết lập và kết thúc các phiên truyền thông:
• Định vị người dùng: xác định vị trí của người dùng tiến hành hội thoại.
• Năng lực người dùng: xác định các phương thức và các tham số
tương ứng trong hội thoại.
• Xác định những người sẵn sàng tham gia hội thoại.
• Thiết lập các tham số cần thiết cho cuộc gọi.
• Điều khiển cuộc gọi: bao gồm cả quá trình truyền và kết thúc cuộc gọi.
SIP là một giao thức chuẩn do IETF đưa ra nhằm mục đích thực hiện một hệ
thống có khả năng truyền qua môi trường mạng IP. SIP được định nghĩa như một
Client-Server trong đó các yêu cầu được bên gọi (bên Client) đưa ra và bên bị gọi
(Server) trả lời nhằm đáp ứng yêu cầu của bên gọi. SIP sử dụng một số kiểu bản tin và
trường mào đầu giống HTTP, xác định thông tin theo mào đầu cụ thể giống như giao
thức được sử dụng trên Web.
2.2.2 Các thành phần của hệ thống SIP
Có 3 thành phần : SIP terminal, SIP servers và SIP Gateway.
Hình 2.13 Các thành phần của hệ thống SIP.
2.2.2.1 Đầu cuối thông minh SIP
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 27
Đồ án tốt nghiệp
User Agent (UA): là thiết bị đầu cuối trong mạng SIP, có thể là một máy điện
thoại SIP, có thể là máy tính chạy phần mềm SIP.
• UAC (User Agent Client) là một ứng dụng chủ gọi, nó khởi đầu và gửi bản
tin yêu cầu SIP.
• UAS (User Agent Server) nó nhận và trả lời các yêu cầu SIP, nhân danh các
server, chấp nhận, chuyển hoặc từ chối cuộc gọi.
• UAC và UAS đều có thể kết thúc cuộc gọi.
2.2.2.2 SIP Server
SIP server thực hiện các chức năng của hệ thống SIP trong mạng như: điều
khiển, quản lý cuộc gọi, trạng thái người dùng.
Proxy Server: là phần mềm trung gian hoạt động cả như Server và Client để
thực hiện các yêu cầu thay mặt các đầu cuối khác. Tất cả các yêu cầu được xử lý tại chỗ
bởi Proxy Server nếu có thể, hoặc được chuyển cho các máy chủ khác. Trong trường
hợp Proxy Server không trực tiếp đáp ứng các yêu cầu này thì Proxy Server sẽ thực
hiện khâu chuyển đổi hoặc dịch sang khuôn dạng thích hợp trước khi chuyển đi.
Location Server: là phần mềm định vị thuê bao, cung cấp thông tin về những vị
trí có thể của phía bị gọi cho các phần mềm Proxy Server và Redirect Server.
Redirect Server: là phần mềm nhận yêu cầu SIP và chuyển đổi địa chỉ SIP
sang một số địa chỉ khác và gửi lại cho đầu cuối. Không giống như Proxy Server,
Redirect Server không bao giờ hoạt động như một đầu cuối tức là không gửi đi bất cứ
yêu cầu nào, Redirect Server cũng không nhận hoặc huỷ bỏ cuộc gọi.
Registrar Server: là phần mềm nhận các yêu cầu đăng ký REGISTER. Trong
nhiều trường hợp Registrar Server đảm nhiệm luôn một số chức năng an ninh như xác
nhận người sử dụng. Thông thường Registrar Server được cài đặt cùng với Proxy
Server hoặc Redirect Server hoặc cung cấp dịch vụ định vị thuê bao. Mỗi lần đầu cuối
được bật lên (thí dụ máy điện thoại hoặc phần mềm SIP) thì đầu cuối lại đăng ký với
Server. Nếu đầu cuối cần thông báo cho Server về địa điểm của mình thì bản tin
REGISTER cũng được gửi đi. Nói chung, các đầu cuối đều thực hiện việc đăng ký lại
một cách định kỳ.
2.2.2.3 SIP Gateway
Các Gateway thực hiện chức năng Internetworking giữa hệ thống SIP với các
mạng khác.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 28
Đồ án tốt nghiệp
2.3 So sánh giữa H.323 và SIP
SIP là một giao thức tương đối mới so với H.323, do đó nó tránh được một số
khuyết điểm và có nhiều ưu điểm hơn H.323 trong ứng dụng cho VoIP. Do H.323 được
thiết kế ngay từ đầu là sử dụng cho ATM và ISDN, do đó nó không phù hợp để điều
khiển lưu lượng thoại qua mạng IP. Phiên bản gần đây nhất của H.323 là Version 3 mới
hỗ trợ cho IP. H.323 vốn đã phức tạp với các mào đầu rất lớn và do đó không hiệu quả
trong mạng IP là nơi mà yếu tố băng tần là vô cùng quan trọng.
Mặt khác SIP được thiết kế cho Internet là loại hình mạng best effort nên nó có
khả năng đánh địa chỉ tốt hơn và tránh được sự phức tạp mở rộng khi phạm vi của các
mạng viễn thông ngày càng được mở rộng. SIP gọn nhẹ và phổ thông gần giống như
giao thức HTTP trên Internet. H.323 sử dụng mã hoá nhị phân cho các bản tin dạng
Binary trên nền tảng cấu trúc ASN.1 còn SIP là giao thức dựa trên nền tảng text như
HTTP.
H.323 đưa ra phương pháp đánh địa chỉ, kỹ thuật phát hiện vòng trong việc tìm
kiếm các tên miền phức tạp, chức năng này bị giới hạn và khó mở rộng khi phạm vi
mạng tăng nhanh. Điều này gây khó khăn trong việc giám sát trạng thái các bản tin.
Tuy nhiên SIP có chức năng rất hiệu quả trong việc sử dụng tuyến đường lưu trong
Header bản tin SIP và do đó có thể xử lý dễ dàng các bản tin lỗi. Bảng sau chỉ ra sự
khác biệt giữa H.323 và SIP.
Đặc điểm H.323 SIP
Cấu trúc Ngăn xếp Phần tử
Độ phức tạp Phức tạp Đơn giản
Tổ chức phát triển ITU IETF
Mã hoá Nhị phân (ASN.1) Text (HTTP)
Tính điều khiển cuộc gọi Có Có
Tính điều khiển được Có Không
Giao thức kèm theo H.225,H.245,H.450 SDP,HTTP,MIME
Dịch vụ Cung cấp bởi GK Cung cấp bởi Server
Giao thức truyền tải thời gian thực RTP RTP

2.4 Các loại hình dịch vụ thoại qua IP
Truyền thông thoại qua môi trường Internet chứ không qua môi trường PSTN
như thông thường đã được Vocaltec hiện thực hoá lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1995
khi Vocaltec đưa ra phần mềm điện thoại internet. Phần mềm này được thiết kế cho nền
máy tính cá nhân PC 486/33 MHz (hoặc cao hơn) có trang bị card âm thanh, loa, micro
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 29
Đồ án tốt nghiệp
thoại và modem, phần mềm thực hiện nén tín hiệu thoại và chuyển đổi thành các gói tin
IP để truyền dẫn qua môi trường Internet. Tuy nhiên, việc truyền thoại qua Internet
giữa hai máy PC này chỉ thực hiện được khi cùng đang sử dụng phần mềm thoại
Internet.
Sau đó một thời gian ngắn, điện thoại Internet đã phát triển nhanh chóng. Nhiều
nhà phát triển phần mềm đã đưa ra phần mềm điện thoại PC, nhưng quan trọng hơn là
các Gateway Server đã được sử dụng đóng vai trò là giao diện giữa Internet và PSTN.
Với trang bị các card xử lý âm thanh, các Gateway Server này cho phép khách hàng có
thể truyền thông thông qua các máy điện thoại thông thường.
Ban đầu, chỉ với sự mới lạ, điện thoại Internet đã cuốn hút được ngày càng
nhiều khách hàng bởi sự tiết kiệm rất hiệu quả giá thành cuộc gọi do nó đem lại so với
cuộc gọi thoại truyền thống. Khách hàng có thể tránh được các chi phí cho thoại đường
dài bằng cách thực hiện cuộc gọi qua mạng Internet với chi phí tương ứng với chi phí
truy nhập Internet.
Tất nhiên, so với mạng PSTN thì điện thoại Internet còn phải giải quyết các vấn
đề như độ tin cậy, chất lượng dịch vụ thoại, đó là những yêu cầu mà khách hàng mong
đợi giống như các cuộc gọi trong PSTN. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện nay, vấn đề chủ
yếu vẫn là giới hạn về độ rộng băng tần dẫn đến mất gói. Trong truyền thông thoại,
việc mất mát gói tin sẽ dẫn đến những ngắt quãng, khoảng lặng trong cuộc đàm thoại,
dẫn đến sự cắt đoạn cuộc đàm thoại, đó là điều không mong muốn đối với khách hàng
và khó có thể chấp nhận trong thông tin thương mại.
Các cuộc gọi thông qua mạng PSTN nội hạt đến Gateway Server gần nhất, tại
đó, tín hiệu thoại được số hoá (nếu chưa số hoá), nén vào các gói tin IP và chuyển lên
Internet để truyền tải đến Gateway ở phía đầu cuối thu. Với việc hỗ trợ cho cả các cuộc
thoại PC-to-telephone, telephone-to-PC và telephone-to-telephone, điện thoại Internet
đã chiếm được vai trò quan trọng trong hướng phát triển tiến tới tích hợp các mạng
thoại và mạng dữ liệu. Như vậy, về nguyên tắc các dịch vụ thoại qua giao thức IP bao
gồm một số loại sau đây:
• Máy điện thoại tới máy điện thoại (Phone to Phone).
• Máy tính tới máy điện thoại (PC to Phone).
• Máy tính tới máy tính (PC to PC).
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 30
Đồ án tốt nghiệp
2.4.1 Phone to phone
Trong loại hình dịch vụ này, bên chủ gọi và bên bị gọi đều sử dụng điện thoại
thông thường. Gateway ở mỗi phía làm nhiệm vụ chuyển tín hiệu thoại PCM 64 Kbps
thành các gói tin IP và ngược lại. Các gói tin này được gửi từ bên nói tới bên nghe
trong một mạng gói hoạt động dựa trên giao thức IP.
Hình 2.14 Kết nối từ máy điện thoại đến máy điện thoại.
2.4.2 PC to phone
Trong loại hình dịch vụ này, người gọi sử dụng một máy tính đa phương tiện để
thực hiện một cuộc gọi tới một thuê bao cố định PSTN hoặc thuê bao di động thông
thường. Tín hiệu thoại từ phía người gọi thông qua máy tính được đóng gói vào các gói
tin IP truyền qua mạng IP tới Gateway. Tại đó, các gói tin IP được chuyển đổi thành tín
hiệu 64 Kbps thông thường và chuyển tới tổng đài nội hạt của thuê bao bị gọi. Sau đó,
chuyển tới máy điện thoại của thuê bao bị gọi.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 31
Đồ án tốt nghiệp
Hình 2.15 Kết nối từ máy tính đến máy điện thoại.
2.4.3 PC to PC
Trong loại hình dịch vụ này, hai PC có thể được kết nối trực tiếp với nhau trong
cùng một mạng IP hay giữa các mạng IP với nhau thông qua một mạng trung gian khác
(như ISDN/PSTN). Trong các kết nối này, các PC đóng vai trò như các đầu cuối VoIP.
Nó là một máy tính đa phương tiện gồm sound card, loa, micro...và có phần mềm phục
vụ dịch vụ thoại Internet. Tín hiệu thoại từ phía người gọi thông thường qua máy tính
đa phương tiện được đóng vào các gói IP và truyền qua mạng. Hai đầu cuối có thể ở
trong cùng một mạng IP hoặc thuộc các mạng IP khác nhau. Trong trường hựop thứ
hai, các mạng IP có thể được kết nối với nhau qua một mạng trung gian. Mạng này có
thể là ISDN, PSTN hay Internet.
Hình 2.16 Kết nối từ máy tính tới máy tính.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 32
Đồ án tốt nghiệp
2.5 Giới thiệu về mạng VoIP Việt Nam
2.5.1 Tổng quan về mạng VoIP của Việt Nam
Hoà cùng xu hướng phát triển của nền viễn thông thế giới, trong những năm gần
đây mạng viễn thông Việt Nam đã phát triển một cách nhanh chóng đặc biệt là công
nghệ IP. Năm 2000, dịch vụ điện thoại qua mạng IP đã được công ty viễn thông quân
đội triển khai thử nghiệm. Tháng 7/2001, Vietel và VNPT đã chính thức được Tổng cục
Bưu điện cấp phép để khai thác loại hình dịch vụ này trong phạm vi trong nước và quốc
tế. Hiện nay, dịch vụ 171 liên tỉnh và quốc tế đã có mặt tại tất cả các tỉnh trong cả nước.
Đây là một dịch vụ dựa trên mạng gói IP với giá cước rẻ và chất lượng có thể chấp
nhận được bên cạnh dịch vụ thoại truyền thống PSTN. Sự ra đời của VoIP đã cho phép
khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn khi sử dụng các dịch vụ của mạng viễn thông.
Triển khai dịch vụ VoIP là một bước tiến quan trọng trong quá trình nâng cấp mạng
viễn thông và xây dựng mạng thế hệ sau. Phần này sẽ trình bày một cách tóm lược về
tình hình triển khai mạng và dịch vụ VoIP ở nước ta.
2.5.1.1 Phần mềm đầu cuối
Phần mềm đầu cuối là một thành phần cơ bản để một đầu cuối máy tính kết nối
mạng có thể tham gia vào một cuộc gọi điện thoại Internet. Mặc dù mới ra đời chưa lâu
nhưng ngày càng có nhiều chương trình cho phép thực hiện các cuộc gọi điện thoại qua
Internet. Tại Việt Nam, dịch vụ điện thoại Internet mới chính thức được Bộ Bưu Chính
Viễn Thông cho phép triển khai từ ngày 1/7/2003 và mới được phép cung cấp các dịch
vụ điện thoại Internet quốc tế. Các chương trình phần mềm được sử dụng phổ biến hiện
nay là các chương trình do các hãng sản xuất lớn và có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh
vực sản xuất phần mềm. Trong đó, điển hình là các chương trình như Personal Edition
V1.01 của Free Tel, Internet Connection Phone 2.0 của IBM, Internet Phone với video
4.5 của VocalTec, Netscape CoolTalk 3.0 đi kèm với trình duyện Netscape Navigator
3.0 và NetMeeting 2.0 đi kèm với trình duyệt Internet Exploer 4.0 của Microsoft. Đa số
những chương trình này cho phép người dùng đàm thoại miễn phí và chỉ mất cước truy
nhập Internet. Với một số chương trình còn cho phép dùng chung tài liệu trên màn
hình, truyền nhận file hay điều khiển các cuộc điện đàm giữa ba người cũng như sử
dụng thêm camera để có thể nhìn thấy nhau khi đàm thoại.
Bảng dưới đây sẽ đưa ra một số phần mềm tiêu biểu và trang Web liên kết với
chúng:
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 33
Đồ án tốt nghiệp
TT Tên sản phẩm URL
1 VocalTec Internet Phone http://www.vocaltec.com
2 TeleVox http://www.voxware.com
3 NetMetting http://www.microsoft.com/netmeeting
4 Intel Internet Video Phone http://www.intel.com
5 CU-SeeMe http://www.wpine.com
6 CoolTalk http://www.netscape.com
7 WebPhone http://www.netspeak.com
8 FreeTel http://www.freetel.com
9 VDOPhone http://www.vdo.net
10 Net2Phone http://www.net2phone.com

Bảng 3.1 Một số chương trình thoại Internet điển hình.
2.5.1.2 Sản phẩm Gateway
Gateway là một thiết bị không thể thiếu để kết nối mạng VoIP với các mạng
dịch vụ khác, mà phổ biến hiện nay là mạng PSTN. Nhìn chung, Gateway được xây
dựng dựa trên 5 cấu hình cơ bản:
 Gateway được xây dựng dựa trên server PC sử dụng card âm thanh: đây là
cấu hình đơn giản nhất nên giá thành rẻ. Tuy nhiên, card âm thanh không
có khả năng hỗ trợ các ứng dụng thời gian thực và không có chức năng
nén và giãn các luồng tín hiệu âm thanh do đó chất lượng thoại không cao,
đặc biệt là độ trễ lớn. Ngoài ra, card âm thanh còn khó cài đặt và không
được chuẩn hoá nên sẽ bị phụ thuộc vào nhà cung cấp thiết bị.
 Gateway được xây dựng dựa trên server PC sử dụng card xử lý tín hiệu số
chuyên dụng cho Internet: loại Gateway này có nhiều ưu điểm nổi bật so
với loại trên như các bộ xử lý tín hiệu số chuyên dụng sẽ có khả năng thay
thế CPU thực hiện các chức năng lấy mẫu, nén và truyền tín hiệu tiếng nói
tạo điều kiện cho CPU chỉ phải thực hiện các chức năng xử lý thời gian
thực và điều khiển cuộc gọi. Do đó, chất lượng thoại được cải thiện, độ trễ
giảm và cho phép PC có thể phục vụ đồng thời nhiều cuộc gọi hơn. Trong
khi đó, giá thành cũng khá rẻ nên loại này khá được ưa chuộng.
 Gateway gắn với một phần tử của mạng nội bộ (như router, hub
hayPABX): đây là loại Gateway được thiết kế cho mạng nội bộ, hãng
Cisco là một nhà sản xuất Gateway hàng đầu đã bổ sung thêm chức năng
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 34
Đồ án tốt nghiệp
của Gateway H.323 vào các router đầu cuối tốc độ cao của họ. Giải pháp
này cho phép thực hiện cả hai chức năng của mạng máy tính và của dịch
vụ thoại VoIP trong cùng một thiết bị.
 Gateway được xây dựng dựa trên card đa dụng NIC với khả năng ghép nối
với mạng điện thoại: loại Gateway này thích hợp để thực hiện các dịch vụ
thoại Internet cho các nhóm cá nhân nhỏ với giá thành rẻ hơn rất nhiều so
với các loại trên trong đó sử dụng card NIC là loại card chuyên dụng được
thiết kế cho thoại Internet.
 Gateway độc lập cho mạng thoại Inteternet: đây là loại Gateway phục vụ
cho mạng công cộng, nó được kết nối trực tiếp với các tổng đài điện thoại
và cơ sở hạ tầng của mạng Internet.
Hiện nay trên mạng VoIP của các nhà cung cấp dịch vụ của Việt Nam cũng sử
dụng các loại cấu hình trên. Trong đó, mạng VoIP thử nghiêm của VNPT do VDC quản
lý được xây dựng theo hệ thống của Cisco. Các Gateway thuộc họ Cisco 3882 thực
hiện chức năng kết nối với mạng PSTN. Đây là loại Gateway được cấu hình theo kiểu
sử dụng card thoại tích hợp với router và có cấu trúc DSP. Giao diện kết nối là tín hiệu
tương tự, cho phép xử lý 12 cuộc gọi đồng thời. Nó được thiết kế tuân theo chuẩn
H.323 và sử dụng chuẩn mã hoá G.729 cho tốc độ bít sau mã hoá là 7,9 kbps. Nó có
khả năng thu phát tín hiệu DTMF và không kiểm tra mức ưu tiên.
Mạng VoIP thử nghiệm của Vietel sử dụng Gateway của hãng Lucent. Đây là
loại Gateway sử dụng cấu hình tích hợp card thoại cho PC server, cấu trúc DSP, cho
phép giao diện với tín hiệu tương tự hay các luồng số E1/T1, PRI. Nó có khả năng phục
vụ 96 cuộc gọi đồng thời cho các cuộc gọi thoại hay fax. Gateway này tuân theo chuẩn
H.323 và mã hoá tín hiệu theo chuẩn G.723.1 cho tốc độ bít sau mã hoá là 5,3 kbps. Nó
hỗ trợ bộ đệm trượt đồng bộ và có khả năng thu phát DTMF cũng như kiểm tra mức ưu
tiên.
2.5.1.3 Thị trường kinh doanh dịch vụ
Do ưu điểm về giá thành rẻ và các dịch vụ mở rộng, dịch vụ VoIP và điện thoại
Internet mặc dù mới được triển khai đã và đang chiếm được một thị phần đáng kể trong
các cuộc gọi đường dài và quốc tế. Các dịch vụ này đã thu hút hầu hết các đối tượng sử
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 35
Đồ án tốt nghiệp
dụng như thuê bao gia đình, các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức và cơ quan nhà
nước...
Trên thị trường viễn thông thế giới, lưu lượng thoại đã tăng một cách chóng mặt
theo từng năm: năm 1997 trên thế giới chỉ có xấp xỉ 8 triệu phút điện thoại đường dài
VoIP, thì năm 1998 đã tăng lên tới 150 triệu phút, năm 1999 là 1,7 tỷ phút và năm 2000
đã lên tới 3,7 tỷ phút. Tại thị trường châu á đã có sự bùng nổ trong thị trường VoIP.
Theo các hãng phân tích viễn thông Yankee Group thì lưu lượng VoIP quốc tế ở châu á
năm 2000 đạt 969 triệu phút, năm 2002 vượt qua con số 1 tỷ phút và năm 2003 dự tính
sẽ đạt khoảng 4,72 tỷ phút, chiếm khoảng 12% lưu lượng thoại quốc tế gọi đi tại khu
vực này.
Tại Việt Nam, từ ngày 1/7/2001 Tổng Cục Bưu Điện đã cho phép Vietel và
VNPT chính thức khai thác dịch vụ điện thoại đường dài trong nước qua giao thức IP,
gọi tắt là VoIP và cho phép VNPT khai thác dịch vụ VoIP quốc tế. Ngày 1/7/2003 Bộ
Bưu Chính Viễn Thông đã chính thức cho phép các nhà cung cấp dịch vụ khai thác dịch
vụ điện thoại qua Internet quốc tế. Cho đến nay, đã có 4 nhà cung cấp dịch vụ được
phép cung cấp dịch vụ VoIP đường dài đó là VNPT với dịch vụ 171 và 1717, Vietel với
dịch vụ 178, SPT với dịch vụ 177 và ETC với dịch vụ 179. Các nhà cung cấp dịch vụ
đã triển khai mạng VoIP trong hầu hết các tỉnh trong cả nước. Mạng VoIP 171 của tổng
công ty bưu chính viễn thông Việt Nam đã phủ được tất cả 61 tỉnh trong cả nước và
cho phép tất cả các tỉnh thực hiện cuộc gọi 171 quốc tế. Mặc dù mới được triển khai,
nhưng tại nước ta dịch vụ thoại VoIP cũng đã chiếm được các thị phần đáng kể.
2.5.2 Thực trạng triển khai VoIP ở Việt Nam
2.5.2.1 Cơ sở hạ tầng mạng thoại
Ngành viễn thông Việt Nam tuy có xuất phát điểm rất thấp so với mặt bằng
chung của Viễn thông thế giới. Nhưng do chính sách phát triển đúng đắn của ngành với
chiến lược "đi tắt đón đầu" đã giúp cho nước ta có một cơ sở hạ tầng mạng vững chắc
có thể sánh ngang với cơ sở hạ tầng mạng của các nước hàng đầu trên thế giới, đặc biệt
là về cơ sở hạ tầng cho mạng thoại.
Về cơ bản, mạng thoại của nước ta được phân làm ba cấp: cấp cổng quốc tế do
VTI quản lý, cấp tổng đài Toll quốc gia do VTN quản lý và các tổng đài Host do các
Bưu điện tỉnh và thành phố quản lý. Ngoài ra, còn có hệ thống các tổng đài vệ tinh,
tổng đài độc lập được kéo tới các cụm có mật độ thuê bao lớn.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 36
Đồ án tốt nghiệp
Tất cả các tổng đài đã được số hoá và phần lớn có hỗ trợ phần mềm và card giao
diện ISDN. Các tổng đài của nước ta hiện nay sử dụng hầu hết là các tổng đài A100E10
của Alcatel sản xuất tại Pháp, EWSD của Siemens được sản xuất tại Đức hay NEC của
Nhật...
Hình 2.17 Thị phần các dịch vụ thoại đường dài.
Hệ thống mạng trung kế đã được quang hoá hoàn toàn. Tốc độ trung kế được tổ
chức dựa trên tiêu chuẩn châu Âu với tốc độ luồng cơ sở E1 là 2 Mbps. Mạng đường
trục đã được số hoá và quang hóa hoàn toàn với hệ thống SDH 2,5 Gbps và gần đây đã
đưa vào thử nghiệm hệ thống mạng đường trục quang tốc độ 20 Gbps.
Số hoá và quang hoá cũng đang được triển khai rất mạnh trong mạng truy nhập.
Mạng tích hợp số ISDN đã và đang phục vụ rất hiệu quả cho nhu cầu truyền số liệu của
đông đảo khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 37
Đồ án tốt nghiệp
Phương thức quay số được xây dựng theo chuẩn E.164 của ITU-T. Mỗi thiết bị
đầu cuối được xác định bằng một tổ hợp duy nhất: mã nước + mã vùng + số điện thoại
của thuê bao.
Như vậy, mạng thoại của nước ta đã có một cơ sở hạ tầng khá vững chắc. Tuy
nhiên so với các nước trên khu vực và trên thế giới, nước ta là một nước có cước phí
viễn thông khá cao. Do đó, đòi hỏi ngành viễn thông phải có các biện pháp nhằm giảm
dần cước phí của các dịch vụ viễn thông hiện nay đồng thời đưa ra các dịch vụ mới có
giá cả hấp dẫn hơn đối với khách hàng. Để thực hiện được các yêu cầu này thì mạng
gói sẽ là một sự lựa chọn để phát triển bổ sung có nhiều hứa hẹn.
2.5.2.2 Cơ sở hạ tầng mạng số liệu
Bên cạnh cơ sở hạ tầng khá tốt của mạng chuyển mạch kênh PSTN, ngành viễn
thông nước ta cũng đang ngày càng chú ý tới việc phát triển cơ sở hạ tầng mạng truyền
số liệu. Bên cạnh các mạng truyền số liệu riêng vừa và nhỏ, ngày 19/11/1997 nước ta
đã chính thức tham gia hệ thống mạng Internet toàn cầu với hai cổng quốc tế đặt tại Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh tương ứng đi Hồng Kông và Singapo với dung lượng
quốc tế ban đầu chỉ là 10 Mbps và dung lượng trung kế Bắc Nam chỉ đạt 12 Mbps.
Ngoài ra, ngành cũng thực hiện xây dựng mạng đường trục trên toàn quốc được gọi là
VietNam Net (VNN) do VDC quản lý.
Tới năm 2001 mạng Internet Việt Nam đã đạt tổng dung lượng là 42 Mbps. Các
kênh đi quốc tế được phân bố như sau: kênh 6Mbps đi Mỹ, kênh 16Mbps đi Hồng
Kông, kênh 2Mbps đi Nhật Bản, kênh 16 Mbps đi Singapore và kênh 2Mbps đi Úc.
Tính tới tháng 9/2003, VDC đã phối hợp với các nhà cung cấp viễn thông của
Hồng Kông và Sigapo để nâng cấp tốc độ tại hai cổng quốc tế do tổ chức này quản lý
lên tới 290 Mbps.
Trên mạng VNN, các nút truy nhập cũng đã được đặt tại tất cả các tỉnh và thành
phố trong cả nước. Hệ thống mạng đường trục đã được quang hoá hoàn toàn và mới
được nâng cấp từ 2,5 Gbps lên 20 Gbps. Với cơ sở hạ tầng mạng số liệu hiện nay,
khách hàng có thể tham gia truy nhập mạng một cách trực tiếp hoặc gian tiếp qua mạng
truy nhập của PSTN. Họ có thể thuê riêng kênh truy nhập Internet hay truy nhập thông
qua phương thức quay số 1260, 1269...Bên cạnh đó, công nghệ mạng truy nhập mới
xDSL đã được thử nghiệm và đang được triển khai trên mạng lưới sẽ có nhiều hứa hẹn
và trong một tương lai gần. Như vậy với sự nâng cấp cả hạ tầng mạng truy nhập, mạng
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 38
Đồ án tốt nghiệp
đường trục và tốc độ tại các cổng quốc tế, mạng số liệu của nước ta sẽ phát triển nhanh
chóng để có thể đáp ứng được các nhu cầu đang bùng nổ của mọi tầng lớp nhân dân,
đồng thời hỗ trợ đắc lực cho mạng thoại truyền thống. Xu hướng trong mạng thế hệ
sau, mạng truyền số liệu sẽ dần dần thay thế hoàn toàn cho mạng chuyển mạch kênh
truyền thống PSTN trong một tương lai không xa.
2.5.2.3 Hệ thống mạng truyền dẫn đường trục
Hệ thống mạng truyền dẫn của nước ta bao gồm mạng cáp quang đường trục có
cấu hình Ring vu hồi, được cấu trúc từ bốn vòng Ring con:
 Hà Nội - Hà Tĩnh (gồm cả Hà Đông và Hoà Bình).
 Hà Tĩnh - Đà Nẵng.
 Đà Nẵng - Quy Nhơn (và Đà Nẵng - Plâycu)
 Quy Nhơn (và Plâycu) - TP Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, còn có các tuyến liên tỉnh:
 Các tuyến liên tỉnh xuất phát từ Hà Nội:
 Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh.
 Hà Nội - Vĩnh Yên - Việt Trì - Yên Bái - Tuyên Quang - Thái
Nguyên - Bắc Cạn.
 Hà Nội - Phủ Lý - Nam Định - Thái Bình - Hưng Yên - Hải
Dương.
 Hà Nội - Phủ Lý - Nam Định.
 Các tuyến xuất phát từ TP Hồ Chí Minh:
 HCM - Biên Hoà - Vũng Tàu.
 HCN - Sông Bé - Đắc Lắc - Plây cu - Kon Tum.
 HCM - Cần Thơ.
 HCM - Tây Ninh.
 Tuyến Đà Nẵng - Tam Kỳ.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 39
Đồ án tốt nghiệp
 Tuyến Quy Nhơn - Play cu - Kon Tum - Đắc Lắc.
 Các tuyến xuất phát từ Cần Thơ:
 Cần Thơ - Cao Lãnh - Long Xuyên - Rạch Giá.
 Cần Thơ - Sóc Trăng - Minh Hải.
 Các tuyến xuất phát từ Tiền Giang:
 Tiền Giang - Bến Tre.
 Tiền Giang - Trà Vinh.
 Tuyến Bình Định - Gia Lai.
 Các tuyến xuất phát từ Gia Lai
 Tuyến Gia Lai - Kon Tum.
 Tuyến Gia Lai - Đắc Lắc.
2.5.3 Mạng VoIP của VNPT và của doanh nghiệp hiện nay
2.5.3.1 Mạng VoIP của VNPT
Hệ thống mạng VoIP của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông VNPT được triển
khai từ ngày 01/7/2001. Ban đầu hệ thống được giao cho VDC chịu trách nhiệm quản
lý và gần đây đã được chuyển giao cho VTN quản lý.
a. Cấu hình mạng thử nghiệm
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 40
Đồ án tốt nghiệp
Hình 2.18 Cấu hình mạng VoIP thử nghiệm của VNPT.
Hệ thống VoIP thử nghiêm của VNPT được xây dựng dựa trên hệ thống VoIP
của Cisco. Mạng được chia thành hai vùng được quản lý bởi hai Gatekeeper đang đặt
lần lượt tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Các thiết bị mạng là các thiết
bị của Cisco với các thiết bị cơ bản gồm:
 Gateway A85300 thực hiện các chức năng chuyển đổi tín hiệu.
 Router 3840 thực hiện các chức năng định tuyến các gói tin thoại.
 Gatekeeper 3882 thực hiện các chức năng quản lý miền.
 Bộ chuyển mạch IP 2948 thực hiện các chức năng chuyển mạch bản tin IP.
Ngoài ra, mạng còn các thiết bị khác như các server để đảm bảo cung cấp các
dịch vụ hay kết nối với mạng intranet...
b. Triển khai mạng lưới
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 41
Đồ án tốt nghiệp
Mạng VoIP ở nước ta bắt đầu được triển khai từ ngày 01/7/2001 tại Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh. Đến cuối năm 2001, số lượng các tỉnh được triển khai đã nâng
lên 10 tỉnh đó là:
 Ngày 09/7 năm 2001 tại Hải Phòng và Cần Thơ
 Ngày 28/8/2001 tại Đồng Nai và Quảng Ninh
 Ngày 21/9/2001 tại Đà Nẵng và Bình Dương
 Ngày12/11/2001 tại Đắc Lắk và Khánh Hoà.
Quá trình triển khai mạng VoIP được tiến hành theo phương thức mở rộng, bổ
sung. Các tỉnh có lưu lượng thoại đường dài lớn sẽ được ưu tiên triển khai trước rồi
mới đến các tỉnh có lưu lượng thoại đường dài thấp hơn. Các đối tượng có nhu cầu gọi
đường dài lớn hơn sẽ được ưu tiên cung cấp dịch vụ trước. Khi mới được triển khai,
phạm vi phục vụ của các cuộc gọi đường dài liên tỉnh bị giới hạn chỉ giữa các khu vực
và chưa cho phép thực hiện cuộc gọi trong phạm vi một khu vực. Các đối tượng tham
gia mới chỉ là các thuê bao điện thoại cố định và các điểm dịch vụ bưu điện có người
phục vụ. Sau nhiều lần triển khai mở rộng, tới ngày 22/9/2003 mạng VoIP đã được phủ
ở tất cả 61 tỉnh thành trong cả nước. Tất cả các thuê bao của 61 tỉnh thành có thể liên
lạc được với nhau thông qua dịch vụ 171. Đồng thời từ ngày 01/10/2003 dịch vụ 171 đã
được triển khai để cung cấp cho cả các máy card phone.
Về cơ bản, mạng VoIP của VNPT được triển khai thành hai giai đoạn dựa trên
hệ thống của hãng Siemens. Chức năng của các phần tử trong mạng như sau:
 hiQ 4000 (Open Service Platform): là một thiết bị để xây dựng và triển
khai các dịch vụ giá trị gia tăng thông qua các giao diện lập trình ứng dụng
mở API.
 hiQ 9200 (Softswitch): thực hiện chức năng chuyển mạch mềm. Đây là
thành phần trung tâm của hệ thống, nó điều khiển các thiết bị truy nhập,
các cổng trung kế, các máy chủ quản lý tài nguyên. hiQ 9200 cho phép kết
hợp các đặc điểm tốt nhất của mạng TDM hiện nay với các ưu điểm của
kiến trúc NGN dựa trên mạng gói trong tương lai. Một hiQ 9200 có thể
điều khiển đồng thời 10 triệu cuộc gọi với 1500 liên kết SS7 và 240.000
cổng trung kế tới các Gateway phương tiện.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 42
Đồ án tốt nghiệp
Hình 2.19 Cấu hình mạng cơ bản của Siemens.
 hiQ 20 (Routing and Registration Server): là máy chủ đăng ký và định
tuyến, có vai trò giống như một gatekeeper.
 hiQ 30 (LDAP Server Configuration): thực hiện các chức năng cấu hình
máy chủ LDAP.
 hiR 200 (OAM hiR200 IP Resource Server): máy chủ quản lý tài nguyên
IP.
Trong giai đoạn một, hệ thống mạng VoIP được xây dựng dựa trên nền tảng của
mạng truyền dẫn đường trục quốc gia và mạng truyền dẫn liên tỉnh trong đó bổ sung
thêm các thiết bị VoIP cần thiết (bao gồm Gateway và router) tại các bưu điện tỉnh
thành được triển khai như trong hình vẽ 2.20. Trong cấu hình này, tại mỗi địa phương
được triển khai dịch vụ VoIP sẽ được bổ sung thêm các thiết bị cơ bản bao gồm: một
Gateway VoIP (MG) làm nhiệm vụ chuyển đổi tín hiệu để tương thích giữa mạng IP và
mạng PSTN, một router (EXR) làm nhiệm vụ định tuyến các gói tin thoại đã được đóng
gói tại Gateway nguồn tới đúng Gateway đích tương ứng. Thông thường, các thiết bị
này được đặt gần tổng đài trung tâm tỉnh.
Tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ngoài các thiết bị cơ bản (Gateway và
router) còn được trang bị thêm các phần tử khác để thực hiện các chức năng quản lý và
điều khiển cho toàn bộ mạng lưới bao gồm hiQ 4000 với một giao diện lập trình mở
cho phép xây dựng dịch vụ mới, hiQ9200 thực hiện chức năng chuyển mạch mềm, hiR
200 thực hiện chức năng quản lý tài nguyên, hiQ 20/30 đóng vai trò của gatekeeper và
các firewall kết nối với cổng Internet quốc tế tại Singapo và Hồng Kông. Ngoài ra tại
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 43
Đồ án tốt nghiệp
Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh được trang bị các bộ chuyển mạch đa lớp
(Multilayer Switch) cho phép định hướng các bản tin theo hướng đi tối ưu nhất.
Hình 2.20 Cấu hình mạng VoIP giai đoạn một của VNPT do VDC quản lý.
Trong cấu hình giai đoạn một, các router đặt tại các tỉnh được kết nối với các
router đặt tại các khu vực trung tâm (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng) các
cuộc gọi đường dài giữa các miền sẽ phải thực hiện thêm hai khâu định tuyến tại các
router đặt tại khu vực trung tâm làm lãng phí tài nguyên mạng và tăng thời gian trễ lan
truyền.
Mạng VoIP giai đoạn hai đã được triển khai và lên cấu hình và sẽ được trên
mạng lưới . Nó được mô tả trong hình 2.21. Khi so sánh cấu hình kết nối của hai giai
đoạn triển khai mạng VoIP của VNPT sẽ nhận thấy rằng sự khác nhau cơ bản của hai
cấu hình này đó là sự kết nối giữa hệ thống VoIP của các tỉnh tới hệ thống mạng đường
trục. Trong cấu hình của giai đoạn hai, các router của các tỉnh sẽ được kết nối trực tiếp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 44
Đồ án tốt nghiệp
với các cổng giao tiếp quang của hệ thống mạng đường trục, do đó sẽ khắc phục được
các nhược điểm của giai đoạn một khi cuộc gọi được thực hiện giữa các khu vực khác
nhau, đồng thời tạo lên sự linh hoạt trong các cuộc gọi trong cùng một khu vực.
Hình 2.21 Cấu hình mạng VoIP giai đoạn hai của VNPT do VTN quản lý.
c. Đánh số và định tuyến
Do hiện nay, dịch vụ VoIP mới chỉ đáp ứng cho các thuê bao điện thoại. Do đó
các đầu cuối của mạng vẫn chỉ là các đầu cuối của mạng PSTN và việc đánh số các
thiết bị đầu cuối vẫn được thực hiện như trong mạng PSTN theo chuẩn E.164. Để thực
hiện gọi tới một thuê bao khác bằng dịch vụ VoIP, khách hàng chỉ cần quay thêm một
mã truy nhập dịch vụ trước khi quay số theo cách thông thường.
Đối với các thiết bị khác của mạng VoIP như Gateway và Router VoIP hay
gatekeeper, tuy về mặt logic đó là các thiết bị độc lập và mạng VoIP là một mạng độc
lập với mạng Internet nhưng khi nhìn về mặt vật lý thì các thiết bị này cũng đồng thời
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
Hình 2.22 Cấu hình mạng VoIP thử nghiệm của Vietel.
45
Đồ án tốt nghiệp
chính là các thiết bị của hệ thống cho phép truy nhập Internet gián tiếp thông qua quay
số. Do đó, cách đánh địa chỉ IP cũng sẽ giống với địa chỉ IP của mạng Internet hiện
nay.
Việc báo hiệu giữa các thiết bị mạng PSTN và các Gateway được thực hiện
bằng hệ thống báo hiệu R2 hoặc SS7. Báo hiệu trong mạng VoIP được thực hiện theo
chuẩn H.323 của ITU-T.
Việc định tuyến trong mạng VoIP được thực hiện bằng phương pháp định tuyến
tĩnh thông qua các bảng định tuyến được thiết lập và được cập nhật bởi người quản lý
mạng. Cụ thể như sau:
 Đối với cuộc gọi 171 trong nước: tuỳ theo từng thời điểm cụ thể, căn cứ
vào mạng điện thoại IP, Ban Viễn thông sẽ điện điều hành hướng dẫn các
đơn vị thực hiện việc định tuyến cuộc gọi 171 trong nước. Ví dụ, tại thời
điểm năm 2001 Hải Phòng, Quảng Ninh định tuyến về POP/VDC tại Hà
Nội để đi các tỉnh thuộc khu vực 2 và 3,... Quảng Ninh định tuyến qua
Hải Phòng.
 Đối với các cuộc gọi chiều đi quốc tế:
 Với các bưu điện thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các
tỉnh có đường trung kế trực tiếp với VDC, không có các tổng đài
không cho phép thực hiện quay số một giai đoạn (TDX-1B) sẽ thực
hiện định tuyến cuộc gọi từ các Host qua VoIP Gateway/VDC sang
VoIP Gateway/VTI.
 Với các bưu điện tỉnh và thành phố khác, các cục bưu điện trung
ương không có trung kế trực tiếp với VoIP Gateway/VDC hoặc các
bưu điện tỉnh, thành phố có hệ thống tổng đài không cho phép quay
số một giai đoạn (ví dụ Hải Phòng) thì cuộc gọi sẽ được định tuyến
từ các Host sang Toll/VTN sang VoIP Gateway VTI.
 Với các bưu điện tỉnh, thành phố có các họ tổng đài chỉ cho phép
thực hiện quay số hai giai đoạn sẽ thực hiện lập trình số đóng 1711,
Min/Max =4 digits
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
Hình 2.22 Cấu hình mạng VoIP thử nghiệm của Vietel.
46
Đồ án tốt nghiệp
 Chiều từ quốc tế về: Tất cả các cuộc gọi từ quốc tế về VTI đề định tuyến
qua tổng đài Toll/VTN về Host của các bưu điện tỉnh thành và các cục bưu
điện trung ương.
Ngoài ra, các hướng dẫn định tuyến khác dựa theo cấu trúc cụ thể của mạng
lưới...
2.5.3.2 Mạng VoIP của doanh nghiệp mới
Bên cạnh VNPT, trên thị trường viễn thông nước ta còn một số doanh nghiệp
mới cũng được phép triển khai và cung cấp dịch vụ VoIP. Đó là các doanh nghiệp công
ty viễn thông quân đội Vietel, công ty viễn thông Sài gòn SPT, công ty viễn thông điện
lực ETC và công ty viễn thông Hàng hải. Gần đây có thêm một doanh nghiệp mới đó là
Hà Nội Telecom cũng được phép tham gia thị trường dịch vụ này. Phần này sẽ xem xét
một số vấn đề liên quan đến hệ thống VoIP của các doanh nghiệp mới.
a. Cấu hình mạng thử nghiệm
Vietel là một doanh nghiệp mới điển hình trên thị trường dịch vụ VoIP. Cấu
hình mạng VoIP của Vietel khá đơn giản, nó được mô tả như sau:
Đây là một hệ thống của hãng Clarent đã được Vietel triển khai thử nghiệm.
Trong đó, tại mỗi điểm truy nhập mạng chỉ cần bổ sung thêm một Gateway của hãng
Clarent và một router A85300 của Cisco. Gateway thực hiện các chức năng chuyển đổi
tín hiệu và báo hiệuđể cho phép mạng VoIP kết nối với mạng PSTN. Router thực hiện
các chức năng định hướng cho các gói tin thoại giúp cho chúngđược đến đúng đích của
cuộc gọi. Hệ thống báo hiệu C7 được sử dụng để thực hiện trao đổi báo hiệu với các
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
Hình 2.22 Cấu hình mạng VoIP thử nghiệm của Vietel.
SD
CABLESPAN 23 ™ tellabs
Clarent
Gateway
SD
CABLESPAN 23 ™ tellabs
Clarent
Gateway
S D
C is co 17 20
B R I S / T
C O NS O LE
A U X W I C 0 O K
OK B2 B1
W I C 1 O K
D S U C P U
LN K 10 0 F D X
S 3
L OO P
LP
Cisco A85300
Router
S D
C i s c o 17 20
B R I S / T
CO NS O L E
A UX WI C 0 O K
OK B2 B1
W I C 1 O K
DS U CP U
LN K 1 00 F DX
S 3
L O O P
LP
Cisco A85300
Router
SD
Cisco AS5800SERIES
P ower
C I S C O Y S T E M S S
AXE
Hµ Néi
SD
Cisco AS5800SER IES
Power
C I S C O Y S T E M S S
AXE
Hå ChÝMinh
B¸o hiÖu C7
8xE1
8xE1
B¸o hiÖu C7
HÖthèng VoIP cña Vietel
1xE1
47
Đồ án tốt nghiệp
tổng đài PSTN. Các khách hàng sử dụng dịch vụ hiện nay là các thuê bao của mạng
PSTN và dịch vụ mà mạng hỗ trợ là kết nối Phone to Phone.
Để truy nhập vào mạng VoIP của Vietel, người dùng sử dụng mã truy nhập 178
trước khi bấm các số để xác định thuê bao bị gọi giống như thông thường. Phạm vi
triển khai của mạng VoIP của Vietel nói riêng và các doanh nghiệp mới nói chung khá
hẹp do các doanh nghiệp này phải thuê lại cơ sở hạ tầng mạng của VNPT.
b. Liên kết mạng VoIP của các doanh nghiệp mới và mạng của VNPT
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Bưu chính Viễn thông mới (DNM) như
công ty Viễn thông Quân đội (Vietel), công ty Viễn thông Điện lực (ETC), công ty
Viễn thông Sài gòn (SPT)... hiện nay chưa có cơ sở hạ tầng mạng riêng của mình. Do
đó, để có thể cung cấp dịch vụ tới khách hàng họ phải tiến hành thuê kênh của tổng
công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT) và các doanh nghiệp mới phải tiến
hành liên kết mạng VoIP của mình với mạng truy nhập PSTN của VNPT để có thể
cung cấp dịch vụ của họ cho các thuê bao điện thoại cố định của VNPT. Khi thực hiện
kết nối, các doanh nghiệp tham gia phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về kết nối kỹ
thuật. Cụ thể như sau:
b.1 Sơ đồ kết nối
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 48
Đồ án tốt nghiệp
Hình 2.23 Sơ đồ kết nối tổng quát mạng VoIP giữa DNM và VNPT.
b.2 Vị trí kết nối
 Vị trí kết nối về phía VNPT:
 Kết nối mạng nội hạt: cổng trung kế của tổng đài Tandem/Host của
bưu điện tỉnh, thành phố.
 Kết nối mạng đường dài: cổng trung kế của tổng đài Toll của VTN
 Kết nối mạng di động: cổng trung kế Gateway MSC của mạng di
động.
 Vị trí kết nối về phía doanh nghiệp mới: là cổng trung kế của các tổng đài
cổng IP
b.3 Số lượng điểm kết nối
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 49
Đồ án tốt nghiệp
Số lượng điểm kết nối tuỳ thuộc vào cấu trúc mạng cụ thể tại từng thời điểm.
Dung lượng kết nối theo yêu cầu của doanh nghiệp mới và khả năng đáp ứng của
VNPT. Trong quá trình khai thác, một trong hai bên có quyền đề nghị điều chỉnh dung
lượng kết nối nhưng phải báo trước ít nhất là 3 tháng cho phía bên kia.
b.4 Vận hành bảo dưỡng kết nối
Công tác vận hành, bảo dưỡng do mỗi bên quy định và thực hiện trong phạm vi
mạng lưới và đường truyền dẫn của mình. Khi có sự cố, hai bên cùng phối hợp giải
quyết theo quy trình phối hợp xử lý sự cố. Khi xuất hiện sự cố kỹ thuật hoặc có khiếu
kiện của khách hàng, hai bên sẽ thông báo cho nhau và cùng xác định nguyên nhân gây
lỗi trong thời gian sớm nhất.
b.5 An toàn và bảo vệ mạng lưới
Hoạt động của mạng lưới mỗi bên không được gây sự cố cho mạng lưới bên kia.
Trong trường hợp một mạng bị sự cố mà nguyên nhân là do mạng bên kia gây nên, bên
gây hỏng phải bồi thường cho bên bị hỏng.
Khi thực hiện những thay đổi trong mạng lưới có thể ảnh hưởng đến dịch vụ hay
hoạt động tại điểm kết nối, mỗi bên phải thông báo cho phía bên kia ít nhất là 3 tháng
trước khi thực hiện. Khi cần thiết, mỗi bên có quyền đề nghị phía bên kia giải thích và
làm sáng tỏ những thay đổi đó.
b.6 Yêu cầu đo kiểm
Để đảm bảo chất lượng kết nối và dịch vụ cung cấp cho khách hàng, thiết bị của
doanh nghiệp mới trước khi đưa vào kết nối hoà mạng phải được đo kiểm về báo hiệu
và đồng bộ đúng theo tiêu chuẩn hiện hành của Bộ Bưu chính Viễn thông.
b.7 Định tuyến cuộc gọi
 Dịch vụ VoIP trong nước: Từ thuê bao xuất phát -> Tandem/Host BĐT,
TP -> POP xuất phát của DNM -> POP nơi đến của DNM ->
Tandem/Host BĐT, TP đích -> thuê bao đích.
 Dịch vụ VoIP quốc tế chiều đi:
 Tại các tỉnh/thành phố có đặt POP của DNM: Từ thuê bao xuất
phát-> Tandem/Host BĐT,TP -> POP xuất phát của DNM -> POP
cổng quốc tế của DNM -> Mạng VoIP quốc tế -> thuê bao đích.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 50
Đồ án tốt nghiệp
 Tại các tỉnh/thành phố chưa đặt POP của DNM: Từ thuê bao xuất
phát -> Tandem/Host BĐT,TP -> Toll khu vực của VTN -> POP
cổng quốc tế của DNM -> Mạng VoIP quốc tế -> thuê bao đích.
 Dịch vụ VoIP quốc tế chiều về:
 Tại các tỉnh/thành phố có đặt POP của DNM: từ quốc tế -> POP
cổng quốc tế -> POP nơi đến của DNM -> Tandem/Host BĐT, TP
-> thuê bao đích.
 Tại các tỉnh/thành phố DNM không đặt POP: từ quốc tế-> POP
cổng quốc tế -> Toll VTN -> Tandem/Host BĐT, TP -> thuê bao
đích.
 Cuộc gọi quốc tế chiều về mạng di động: từ quốc tế -> POP cổng
quốc tế -> Toll VTN -> GMSC mạng di động -> thuê bao di động
đích.
2.5.4 Các dịch vụ trong mạng VoIP của VNPT
Loại hình dịch vụ VoIP tuy mới xuất hiện ở nước ta nhưng đã nhận được sự
hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo khách hàng. Các doanh nghiệp đã không ngừng
đưa ra các dạng dịch vụ khác nhau và nâng cao chất lượng dịch vụ để tăng khả năng
cạnh tranh của mình trên thị trường. Hiện nay, VNPT đã triển khai hai loại hình dịch vụ
thoại VoIP đó là dịch vụ "Gọi 171", dịch vụ "Gọi 1717" cho phép thực hiện các cuộc
gọi đường dài và quốc tế. Ngoài ra còn có dịch vụ điện thoại Internet "Fone VNN" hiện
mới chỉ được phép thực hiện các cuộc gọi ở phạm vi quốc tế.
2.5.4.1 Dịch vụ "Gọi 171"
Từ ngày 1/7/2001, Tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông bắt đầu mở dịch vụ
VoIP tại các tỉnh và thành phố trong nước với thương hiệu Việt Nam là "Gọi 171" và
thương hiệu tiếng Anh là "Call 171". Đây là một dịch vụ mới với giá thành rẻ hơn và
chất lượng có thể chấp nhận được.
Ban đầu, dịch vụ được triển khai tại một số tỉnh thành phố lớn có lưu lượng
đường dài lớn. Cụ thể như sau:
 Từ ngày 1/7/2001 triển khai tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
 Từ ngày 09/7/2001 triển khai ở Hải Phòng và Cần Thơ.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 51
Đồ án tốt nghiệp
 Từ ngày 28/8/2001 triển khai ở Đồng Nai và Quảng Ninh.
 Từ ngày 21/9/2001 triển khai tại thành phố Đà Nẵng và Bình Dương.
 Từ ngày 12/11/2001 triển khai tại Đắc Lắk và Khánh Hoà…
Bên cạnh đó, từ ngày 5/9/2001 VNPT cũng bắt đầu triển khai cung cấp dịch vụ
"Gọi 171" quốc tế. Qua nhiều lần mở rộng mạng lưới, cho đến ngày 22/9/2003 cả hai
dịch vụ này đã được triển khai tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước.
Đối tượng được cung cấp dịch vụ này bao gồm các thuê bao điện thoại cố định
(các máy điện thoại, các máy fax cố định có đăng ký dịch vụ gọi đường dài liên tỉnh),
khách hàng tại các bưu cục, đại lý bưu điện và khách hàng tại các điểm bưu điện văn
hoá xã tại các địa phương có mở dịch vụ. Trong thời gian đầu, chưa cung cấp dịch vụ
này tại các máy cardphone và tại các bàn khai thác viên, các thuê bao của các mạng
riêng (mạng của Bộ Quốc Phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại Giao…) và chưa mở dịch vụ
VoIP quốc tế của các doanh nghiệp SPT, Vietel tại các ghise công cộng có người phục
vụ. Ngày 01/10/2003, dịch vụ "Gọi 171" đã được mở rộng phạm vi cung cấp tới các
máy cardphone.
Để thực hiện các cuộc gọi VoIP từ các thuê bao điện thoại PSTN, người sử dụng
quay thêm một mã truy nhập để truy nhập vào mạng VoIP thay vì mạng PSTN.
Ví dụ khi muốn sử dụng dịch vụ VoIP của VNPT, khách hàng sẽ phải quay mã
truy nhập của "Gọi 171" là 171 trước khi quay số mã vùng và số thuê bao. Tức là trình
tự quay số sẽ như sau:
 Đối với cuộc gọi trong nước:
171+ 0 + Mã vùng + Số thuê bao
 Đối với cuộc gọi quốc tế:
 Quay một giai đoạn:
171 + 00 + Mã nước + Mã vùng + Số thuê bao
 Quay hai giai đoạn :
Bước 1: 171 + 1 + Chờ nghe âm thông báo
Bước 2: Quay tiếp: Mã nước + Mã vùng + Số thuê bao
Trong cuộc gọi đi quốc tế, cách quay số một giai đoạn được áp dụng cho các
thuê bao của các tổng đài Host và các tổng đài vệ tinh của Host (trừ các tổng đài TDX-
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 52
Đồ án tốt nghiệp
1B và các vệ tinh của nó) hoặc áp dụng cho các thuê bao của tổng đài độc lập không
đấu nối vào Host TDX-1B và thuộc họ DTS, HICOM, HOPOCOM, IMS, SRX, SDE,
DEFINITY và APR. Trong khi đó, cách quay số hai giai đoạn được áp dụng cho các
thuê bao của các tổng đài TDX-1B và các vệ tinh của nó hay các thuê bao của các tổng
đài độc lập đấu nối vào Host TDX-1B hoặc áp dụng cho các thuê bao của các tổng đài
thuộc họ VX,SSA và các hệ thống Viễn thông nông thôn IRT.
Đối với các dịch vụ của các nhà cung cấp khác, cách quay số hoàn toàn tương
tự. Trong đó, mã số truy nhập của các nhà cung cấp dịch vụ như sau:
 Tổng công ty Bưu chính Viễn thông VN-VNPT (171)
 Công ty điện tử Viễn thông quân đội-Vietel (178)
 Công ty Viễn thông Sài gòn-SPT (177)
 Công ty Viễn thông Điện lực-ETC (179)
Trong điều kiện mạng lưới hiện nay, khách hàng của tất cả các tỉnh thành trong
cả nước đã có thể sử dụng dịch vụ "Gọi 171" của VNPT để thực hiện các cuộc gọi liên
tỉnh và quốc tế, kể cả các cuộc gọi thuộc cùng một vùng với nhau.
2.5.4.2 Dịch vụ "Gọi 1717"
Bên cạnh dịch vụ "Gọi 171", gần đây VNPT còn đưa ra một dịch vụ sử dụng
công nghệ VoIP mới với thương hiệu "Gọi 1717". Đây là một dịch vụ điện thoại đường
dài trong nước và quốc tế sử dụng công nghệ VoIP với hình thức khách hàng mua thẻ
để sử dụng.
Dịch vụ "Gọi 1717" được cung cấp cho tất cả các đối tượng khách hàng có nhu
cầu sử dụng dịch vụ tại tất cả các máy điện thoại cố định (nhà thuê bao, các điểm công
cộng có người phục vụ như bưu cục, đại lý, điểm Bưu điện - Văn hóa xã). Tạm thời
chưa cung cấp dịch vụ cho các đối tượng như thuê bao điện thoại di động và các khách
hàng thuộc các mạng dùng riêng (như mạng của Bộ Quốc Phòng, Bộ Công an, Bộ
Ngoại Giao…)
Tính đến ngày 22/9/2003, cũng giống với dịch vụ "Gọi 171", "Gọi 1717" cũng
đã được triển khai trên phạm vi cả nước. Trong đó, trước mắt chưa cung cấp cuộc gọi
vào các dịch vụ VNN1260, VNN1268, VNN1269. VNN999, 101, 110, 107, 106, 105,
151, 141, 142, 143 và 145.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 53
Đồ án tốt nghiệp
Cách sử dụng dịch vụ "Gọi 1717" như sau:
 Bước 1: Quay số truy nhập dịch vụ "1717".
 Bước 2: Bấm phím 1 để sử dụng thông báo tiếng Việt, số 2 để chọn thông
báo hướng dẫn bằng tiếng Anh và số 3 để truy nhập đến trung tâm hỗ trợ
dịch vụ.
 Bước 3: Nhập mã số bí mật của tài khoản, kết thúc bằng phím #.
 Bước 4: Nhập số cho cuộc gọi.
 Gọi đi quốc tế: 00 + Mã nước + Mã vùng + số điện thoại cần gọi.
 Gọi trong nước: 0 + Mã vùng/Mã mạng di động + số điện thoại cần
gọi
Sau khi khách hàng bấm số điện thoại cần gọi và nếu số điện thoại là hợp lệ thì
hệ thống sẽ báo thời gian tối đa của cuộc gọi và thực hiện thiết lập cuộc gọi cho khách
hàng. Nếu số tiền còn lại không đủ để thực hiện cuộc gọi thì hệ thống sẽ báo cho khách
hàng và kết thúc cuộc gọi.
Nếu hệ thống không kết nối được với số điện thoại yêu cầu thì hệ thống sẽ thông
báo lỗi tới khách hàng, đề nghị khách hàng thử gọi lại sau và tự động kết thúc cuộc gọi.
Nếu hệ thống kết nối được với số điện thoại cần gọi thì khách hàng sẽ nghe
được tín hiệu hồi âm chuông. Khi thuê bao bị gọi nhấc máy thì cuộc gọi được coi là
thành công và khách hàng có thể đàm thoại trong khoảng thời gian tối đa theo thông
báo của hệ thống hoặc cho đến khi khách hàng chủ động ngắt cuộc gọi. Khi số tiền
trong tài khoản chỉ còn 1 phút thì hệ thống sẽ phát thông báo và sẽ tự động ngắt cuộc
gọi khi hết tiền trong tài khoản.
Sau khi kết thúc cuộc gọi thành công, hệ thống sẽ tính tiền mà khách hàng sử
dụng và trừ vào tài khoản của thẻ.
Như vậy, dịch vụ "Gọi 1717" về cơ bản cũng giống với dịch vụ "Gọi 171", chất
lượng dịch vụ cũng hoàn toàn tương đương.
2.5.4.3 Dịch vụ "Fone VNN"
Dịch vụ điện thoại Internet là một dịch vụ thoại sử dụng giao thức IP trên mạng
Internet công cộng để thiết lập các cuộc gọi giữa các máy điện thoại thông thường, các
máy tính cá nhân (PC) và các thiết bị đầu cuối khác. Dịch vụ Fone VNN là dịch vụ điện
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 54
Đồ án tốt nghiệp
thoại trên mạng Internet của VNN do tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông cung cấp
cho khách hàng. Sử dụng dịch vụ này khách hàng có thể thực hiện các cuộc gọi từ máy
tính cá nhân của mình tới các máy tính khác có kết nối Internet hay các máy điện thoại
cố định hoặc di động quốc tế.
Fone VNN là tên viết tắt của "Dịch vụ điện thoại Internet VNN", được cung cấp
trên trang Web "http://fone.vnn.vn" để cung cấp cho tất cả các đối tượng có nhu cầu
miễn là họ đang kết nối Internet. Hiện nay, có hai hình thức của cuộc gọi được Fone
VNN hỗ trợ đó là:
 Hình thức PC to PC: được sử dụng cho các cuộc gọi giữa các máy tính kết
nối Internet trong nước và quốc tế.
 Hình thức PC to Phone: chỉ được phép cung cấp dịch vụ gọi quốc tế chiều
đi, tức là gọi từ Việt Nam ra quốc tế.
Fone VNN có các tính năng sau:
 Đàm thoại PC to Phone: Fone VNN cho phép đàm thoại thời gian thực
giữa một máy tính cá nhân và một máy điện thoại thông thường (bao gồm
cả cố định và di động)
 Đàm thoại PC to PC: Fone VNN cho phép đàm thoại giữa hai số điện
thoại Internet Fone VNN.
 Đàm thoại Phone to PC: Dịch vụ Fone VNN cho phép đàm thoại thời gian
thực giữa một máy điện thoại thông thường với một số điện thoại Internet
VNN.
 Nhận fax: Fone VNN cho phép nhận bản fax từ máy fax thông thường. Hệ
thống dịch vụ sẽ tự động phân tích tín hiệu gọi đến. Nếu tín hiệu đến là tín
hiệu fax, hệ thống sẽ ngay lập tức thực hiện chức năng nhận fax.
 Hộp thư thoại: Trong trường hợp số điện thoại Internet Fone VNN không
sẵn sàng nhận cuộc gọi hoặc người sử dụng không muốn trả lời máy.
Người gọi đến có thể để lại lời nhắn qua hộp thư thoại.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 55
Đồ án tốt nghiệp
 Chuyển cuộc gọi: Fone VNN cho phép chuyển tiếp một cuộc gọi tới một
số điện thoại thông thường (cố định hoặc di động) hoặc tới một số điện
thoại Internet Fone VNN khác.
 Chat: Fone VNN cho phép khách hàng dịch vụ Fone VNN chatting với
nhau.
 Nhắn tin (SMS): Fone VNN cho phép khách hàng của dịch vụ gửi và nhận
các bản tin nhắn với máy điện thoại di động hoặc gửi/nhận tin nhắn với
nhau.
 Email: Fone VNN cho phép khách hàng gửi và nhận thư điện tử.
Ngoài ra, Fone VNN còn cung cấp cho khách hàng những dịch vụ giá trị gia
tăng khác: fax thông suốt, chuyển tiếp fax, cuộc gọi nhỡ, gọi lại, hiển thị số gọi đến,
nhận fax, thư thoại, danh bạ điện thoại, thông báo và lựa chọn trả lời.
Khi khách hàng muốn đăng ký sử dụng dịch vụ, trước hết họ phải đăng ký sử
dụng dịch vụ:
 Mua thẻ trả trước Fone VNN tại các điểm giao dịch của VDC, bưu điện
địa phương hay các đại lý bưu điện...
 Cào lớp tráng bạc để nhận được một mã số thanh toán.
 Truy nhập trang Web "http://fone.vnn.vn" để đăng ký user name, PIN và
các thông tin cá nhân khác.
 Nạp mã số thanh toán đề hoàn tất quá trình đăng ký
Sau khi đã đăng ký, khách hàng có thể sử dụng dịch vụ để thực hiện các cuộc
gọi của mình. Trình tự các bước khi sử dụng dịch vụ như sau:
 Truy nhập Internet.
 Chạy phần mềm quay số (Dowload từ địa chỉ "http://fone.vnn.vn")
 Nạp Account, PIN
 Thực hiện quay số như điện thoại thông thường tới số máy cần gọi (00 +
mã nước + mã vùng + số điện thoại cần gọi).
2.5.5 Tính cước trong mạng VoIP
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 56
Đồ án tốt nghiệp
2.5.5.1 Quy tắc tính cước hiện nay
Hiện nay, việc tính cước cho dịch vụ VoIP của nước ta nói riêng và trên thế giới
nói chung vẫn dựa trên các nguyên tắc cũ. Tức là căn cứ vào khoảng cách giữa hai thuê
bao và căn cứ vào thời gian đàm thoại. Trong khi đó, một tham số quan trọng là chất
lượng dịch vụ (QoS) lại chưa được tính đến.
Cụ thể, các mức cước của các dịch vụ VoIP đang được sử dụng ở nước ta như
sau:
 Dịch vụ trả sau 171
 Cước liên tỉnh
727 đồng/phút liên lạc giữa các tuyến thuộc vùng 1
1227 đồng/phút liên lạc giữa các tuyến thuộc vùng 2
1636 đồng/phút liên lạc giữa các tuyến thuộc vùng 3
 Riêng các tuyến Thái Bình-Nam Định, Bắc Ninh-Bắc Giang, Tiền
Giang-Bến Tre và ngược lại mức cước là 636 đồng/phút; tuyến liên
lạc Hà Nội-Hà Tây và ngược lại là 509 đồng/phút và không phân
biệt các giờ trong ngày và các ngày trong tuần.
 Dịch vụ trả trước 1717
 Cước liên tỉnh sử dụng chế độ tính cước là 01 phút + 01 phút,
không phân biệt phút đầu và phút tiếp theo. Phần lẻ thời gian cuối
cùng của cuộc liên lạc chưa đến 01 phút được tính là 01 phút.
Vùng 1: 750 đồng/phút
Vùng 2: 1.200 đồng/phút
Vùng 3: 1500 đồng/phút
 Cước quốc tế áp dụng cho các cuộc gọi tới tất cả các nước, các
vùng lãnh thổ là 0,70 USD/phút đầu và 0.07 USD/6 giây tiếp theo.
Đối với các cuộc liên lạc từ 23 giờ ngày hôm trước đến 7 giờ sáng
ngày hôm sau các ngày từ thứ hai đến thứ bảy, ngày lễ , chủ nhật
được giảm 20% cước dịch vụ điện thoại liên tỉnh và quốc tế.
Ưu điểm của mô hình tính cước này là:
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
Bộ tổng
hợp bản ghi
Gateway
Hình 2.24 Mô hình hệ thống tính cước mới.
Mạng IP
57
Đồ án tốt nghiệp
 Đơn giản, dễ triển khai
 Thuê bao dễ dàng kiểm soát được tình hình tài chính của mình
 Cho phép áp dụng mô hình trả trước (dịch vụ 1717), trong đó mỗi tài
khoản sẽ tương ứng với một mã truy nhập riêng.
Nhược điểm của hệ thống tính cước này:
 Chưa mềm dẻo
 Rất khó áp dụng cho các dịch vụ IP
2.5.5.2 Quy tắc tính cước trong tương lai
Không giống như mạng chuyển mạch kênh, trong mạng chuyển mạch gói tài
nguyên mạng không được khách hàng chiếm dụng hoàn toàn từ khi bắt đầu cuộc gọi tới
khi kết thúc cuộc gọi mà nó chỉ bị chiếm dụng khi khách hàng có nhu cầu trao đổi
thông tin. Còn tại các thời điểm khác, tài nguyên mạng sẽ bị thuê bao khác chiếm dụng.
Vì vậy, để đảm bảo lợi ích cho khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ của mạng chuyển
mạch gói thì một yêu cầu được đặt ra đó là phải xây dựng một mô hình tín cước mới.
Hệ thống tính cước mới phải đảm bảo hỗ trợ được cho các dịch vụ giá trị gia tăng trên
nền IP như thông điệp thống nhất, hội nghị VoIP, video, mạng riêng ảo. Ngoài ra, hệ
thống tính cước mới còn phải đảm bảo có thể dễ dàng thích ứng với các dịch vụ mơi sẽ
xuất hiện trong tương lai đồng thời phải hỗ trợ các phương pháp ghi cước mềm dẻo và
phải được hoạt động trên nguyên tắc tự động hoá.
Để tính cước cho nhiều lớp dịch vụ như VoIP, tính cước dựa trên mức độ sử
dụng (usage-based) là cần thiết. Nó cho phép thiết lập giá dịch vụ liên quan, và để điều
khiển tải của lưu lượng mạng thông qua các hợp đồng lưu lượng.
Tạo ra bản ghi chi tiết cho tính cước trên cơ sở mức độ sử dụng là thực sự khó
khăn trong mạng IP, bởi vì các gói dữ liệu liên quan đến một cuộc gọi không nhất thiết
phải đi qua cùng một tuyến đường để đến đích, và do đó chúng có thể có các QoS khác
nhau. Các Gateway IP/PSTN phải giám sát chất lượng toàn bộ cuộc gọi để đảm đạt
được SLA.
Thêm vào đó, dữ liệu tính cước thu thập được phải tương thích với các hệ thống
tính cước của các mạng khác hay của các nhà cung cấp dịch vụ để có thể trao đổi thông
tin tính cước.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
Bộ tổng
hợp bản ghi
Gateway
Hình 2.24 Mô hình hệ thống tính cước mới.
Mạng IP
58
Đồ án tốt nghiệp
Để đảm bảo được các yêu cầu trên, hệ tính cước sẽ bao gồm các thành phần như
trên.
Trong đó:
 Bộ thu thập dữ liệu mức độ sử dụng để giải quyết việc thu thập dữ liệu
mức độ sử dụng từ các phần tử mạng.
 Bộ tổng hợp bản ghi có nhiệm vụ tập hợp và chuyển đổi các các thông tin
về cách sử dụng thành dạng thức mà hệ thống tính cước hiểu được (còn
được gọi là XDR - IPDR)
 Hệ thống phân loại sẽ sử dụng các bản ghi mức độ sử dụng tại đầu vào
(nghĩa là: IPDR) để tính toán giá trị thành tiền tương ứng.
 Hệ thống tính cước bao gồm cả chăm sóc khách hàng nên mở rộng để định
nghĩa các loại dịch vụ mới và các dự kiến phân mức.



Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
Bộ thu
thậpcước
Bộ tổng
hợp bản ghi
Hệ thống
tính cước Gateway
Hình 2.24 Mô hình hệ thống tính cước mới.
Mạng IP
59
Đồ án tốt nghiệp
CHƯƠNG III
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
TRONG VoIP
3.1 Tổng quan về chất lượng dịch vụ trong VoIP
VoIP sử dụng mạng nền gói (cụ thể là mạng IP) để truyền các gói tin thoại qua
mạng. Tuy nhiên tại nơi thu các gói tin có thể bị mất hay trễ phụ thuộc vào môi trường
mạng cụ thể lúc đó: ví dụ như mạng bị lỗi, tắc nghẽn hay gói tin bị trễ qua các thành
phần mạng…Điều này làm giảm chất lượng thoại tại đầu thu, và do truyền dẫn thoại là
truyền dẫn thời gian thực nên phía thu không thể yêu cầu mạng truyền lại các gói tin bị
mất. Do mạng điện thoại PSTN truyền thống với các đặc điểm ưu việt về chất lượng
thoại đã từ lâu trở thành một phương tiện không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày
của chúng ta nên dịch vụ VoIP phải làm sao cung cấp trong mạng PSTN truyền thống.
Chất lượng dịch vụ được hiểu một cách đơn giản là “khả năng của mạng làm thế
nào để đảm bảo và duy trì các mức thực hiện nhất định cho mỗi ứng dụng theo như các
yêu cầu đã được chỉ rõ của mỗi người sử dụng”. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ được
quyết định bởi các user ở hai đầu cuối thoại. Do đó nhà cung cấp dịch vụ mạng đảm
bảo QoS người sử dụng yêu cầu và thực hiện các biện pháp để duy trì mức QoS khi
điều kiện mạng bị thay đổi vì các nguyên nhân như nghẽn, hỏng thiết bị hay sự cố liên
kết. Chất lượng dịch vụ cũng được phân cấp để tiện cho các nhà cung cấp dịch vụ tính
toán và đảm bảo QoS trong các kế hoạch truyền dẫn cụ thể của mình. Đối với các nhà
cung cấp dịch vụ truyền thông, chất lượng dịch vụ thường được đánh giá bằng các
phương pháp phản hồi từ phía khách hàng. Phương pháp này không mang lại hiệu quả
cao khi mà tính phức tạp và phạm vi của các mạng viễn thông hiện đại ngày một tăng,
đòi hỏi một phương pháp có tính tổng thể để đánh giá một cách toàn diện cho dịch vụ
thoại. Công nghiệp viễn thông chấp nhận một con số chung để mô tả chất lượng dịch
vụ, chất lượng cuộc gọi được gọi là điểm đánh giá trung bình: Mean Opinion Score
(MOS). MOS dao động từ 1 (mức tồi) đến 5 (mức tốt nhất). Các nhà cung cấp vào mức
MOS này để đưa ra mức chất lượng dịch vụ phù hợp cho dịch vụ của mình.
Bảng 3.1: Điểm đánh gia trung bình MOS.
Mức chất lượng Mức (Điểm) MOS
Xuất sắc 5
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 60
1
Đồ án tốt nghiệp
Tốt 4
Bình thường 3
Nghèo 2
Tồi 1
Đối với dịch vụ VoIP khi mạng truyền dẫn là mạng IP, các tham số hay các yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ và cần được đưa ra các chỉ số giới hạn là
• Băng thông.
• Trễ.
• Jitter (Biến động trễ).
• Mất thông tin.
• Tiếng dội.
• Độ tin cậy.
Tổ chức ITU đã phát triển mô hình E trong khuyến nghị G107 để đánh giá chất
lượng dịch vụ của mạng VoIP. Mô hình E đã chứng minh được tính ưu việt của nó
trong việc thiết lập kế hoạch truyền dẫn trong thực tế. Kết quả của mô hình E là một giá
trị truyền dẫn chung gọi là “Transmission Rating Factor” (R) thể hiện chất lượng đàm
thoại giữa người nói và người nghe. R dao động từ 1 đến 100 tuỳ thuộc vào các sơ đồ
mạng cụ thể. Giá trị R càng lớn thì mức chất lượng dịch vụ càng cao. Đối với dịch vụ
thoại qua IP, mô hình E là một công cụ đắc lực để đánh giá chất lượng dịch vụ. Mô
hình E có thể được sử dụng để hiểu các đặc điểm của mạng và thiết bị ảnh hưởng như
thế nào đến chất lượng thoại trong mạng VoIP. Mô hình E tạo ra sự suy giảm R cho các
loại mạng khác nhau và các thiết bị khác. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự suy giảm R là
loại mã hoá, độ trễ, tiếng dội, mất gói, và thuật toán mã hoá thông tin. Giá trị đầu ra của
mô hình E có thể chuyển thành giá trị MOS tương ứng để đánh giá chất lượng dịch vụ.
Bảng 3.2: Định nghĩa các loại chất lượng truyền dẫn thoại.
Giá trị R
Loại chất lượng truyền
dẫn thoại
Mức độ hài lòng của người sử dụng
90 ≤ R < 100
Tốt nhất Rất hài lòng
80≤ R <90
Mức cao Hài lòng
70 ≤ R <80
Mức trung bình Một số người không hài lòng
60 ≤ R <70 Mức thấp Nhiều người không hài lòng
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 61
1
Đồ án tốt nghiệp
50 ≤ R <60
Mức nghèo
Hầu như tất cả không hài lòng
Chú ý: Với giá trị R nhỏ hơn 50 không được khuyến nghị
3.2 Chất lượng dịch vụ trong VoIP
3.2.1 Chất lượng dịch vụ QoS
QoS được hiểu một cách đơn giản là khả năng của mạng làm thế nào để đảm
bảo và duy trì các mức thực hiện nhất định cho mỗi ứng dụng dịch vụ theo như yêu cầu
mà người sử dụng đã chỉ ra.
QoS là đặc tính có thể điều khiển và hoàn toàn xác định đối với các tham số có
khả năng định lượng.
Mô hình tham khảo cho QoS
Mạng A Mạng B
Đầu cuối Đầu cuối


QoS QoS
node I node N
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 62
1 N
Đồ án tốt nghiệp
QoS Mạng A QoS Mạng B
QoS end-to-end
Hình 3.1 Mô hình tham khảo cho chất lượng dịch vụ end-to-end.
Mô hình tham khảo QoS end-to-end thường có một hoặc vài mạng tham gia, mỗi
mạng lại có thể có nhiều node.
• Mỗi mạng tham gia này có thể đưa vào trễ, tổn thất hoặc lỗi do việc ghép
kênh, chuyển mạch hoặc truyền dẫn vì thế nó ảnh hưởng tới QoS.
• Hơn nữa, các biến động thống kê ở lưu lượng xuất hiện trong mạng cũng
có thể gây tổn thất do tràn bộ đệm hoặc do các liên kết nối các node
mạng bị nghẽn.
• Mạng có thể thực hiện định hình giữa các node hay giữa các mạng để tối
thiểu hoá tích luỹ trong biến động trễ và tổn thất.
• Về nguyên tắc, người sử dụng không cần biết đặc tính kỹ thuật của các
mạng tham gia miễn là mạng chuyển được lưu lượng đảm bảo QoS end-
to-end.
Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào tính kết hợp của nhiều yếu tố: các thành phần
mạng, có chế xử lý ở hai điểm đầu cuối, cơ chế điều khiển trong mạng. Đối với các
thành phần mạng (cơ sở hạ tầng vật lý) thông thường có 3 thành phần quan trọng: thiết
bị đầu cuối, phương tiện truyền dẫn và thiết bị chuyển mạch (các thiết bị trung chuyển
trên mạng). Đối với mỗi phần có các yêu cầu về QoS tương ứng. Nhìn chung QoS được
các User ở hai đầu cuối truyền thông quyết định. Nhà cung cấp dịch vụ sẽ nắm bắt
được đánh giá QoS thông qua ý kiến khách hàng MOS.
Với các loại mạng khác nhau thì việc xử lý thông tin và yêu cầu về chất lượng
dịch vụ cũng có những đặc điểm khác nhau: PSTN, ISDN, ATM,...liên quan đến truyền
dữ liệu/thoại/video...với kiểu truyền chuyển mạch kênh, chuyển mạch gói...Với PSTN
thời gian thực là quan trọng (cả trễ), tiếng vọng và tỷ lệ BER vì chủ yếu dịch vụ trên
PSTN là thoại, còn đối với các mạng gói thì lại chú ý đến băng thông, trễ,biến động trễ
và các cơ chế điều khiển trong mạng...
VoIP QoS: VoIP là sự tích hợp truyền thoại ttrên nền IP. Nếu chỉ dựa trên
Internet là mạng “best effort” thì rõ ràng kỹ thuật VoIP không có vấn đề QoS thực sự
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 63
Đồ án tốt nghiệp
nào (không đảm bảo về chất lượng cũng như phân biệt về các loại hình lưu lượng
truyền qua mạng này). Thực tế, VoIP để truyền thoại nên phải đảm bảo thời gian thực,
phải cung cấp được mức chất lượng dịch vụ tương đương với mức chất lượng đã được
mạng truyền thống PSTN cung cấp.
3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thoại trong VoIP
Chất lượng thoại bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nhiều yếu tố, có thể chia làm 6
chiều hướng QoS ảnh hưởng đến đầu cuối sử dụng sau:
• Độ khả dụng (Availability): yếu tố suy hao thiết bị và độ ổn định.
• Băng thông (cả loại thoả thuận và burst).
• Tiếng vọng.
• Trễ (delay or latency): trễ xử lý, gói hoá, truyền dẫn nối tiếp, bộ đệm và
hàng đợi, chuyển mạch...
• Biến động trễ: gồm jitter và Wander.
• Tổn thất (mất) gói hay tỉ lệ lỗi bit BER.
3.2.2.1 Độ ổn định
Độ ổn định cũng là mộtyếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.
Người sử dụng đã quen sử dụng mạng PSTN truyền thống với độ ổn định rất cao.
Mạng PSTN có khả năng truyền cuộc gọi cả ngày lẫn đêm và vào tất cả các ngày trong
năm do đó mạng VoIP hiện đại cũng phải đáp ứng được độ ổn định tương tự. Một năm
có 60*60*24*365 hay 31.536.000 giây. Giả thiết một mạng khả dụng 99% thời gian thì
số giờ mạng không sử dụng là 87,6 giờ, khoảng thời gian này là tương đối lớn. Nếu giá
trị độ khả dụng là 99,99% thì thời gian mạng không hoạt động chỉ là 50 phút một năm.
Tất nhiên nhà cung cấp dịch vụ cần có nhiều cơ chế dự phòng và khắc phục lỗi để đảm
bảo điều này.Bảng sau chỉ ra tính sẵn sàng của mạng và thời gian ngừng hoạt động:
Bảng 3.2: Tính sẵn sàng của mạng.
Tính sẵn sàng của mạng
Tổng thời gian ngừng hoạt động trong
một năm
99% 3.65 ngày
99.5% 1.825 ngày
99.9% 8.76 giờ
99.95% 4.38 giờ
99.99% 52.56 phút
99.995% 26.28 phút
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 64
Đồ án tốt nghiệp
99.999% 5.25phút

Ngày nay, thông số QoS khả dụng của mạng thường vào khoảng 99,995%, hay
khoảng 26 phút ngừng hoạt động trong một năm, kết nối khôi phục nhỏ hơn 4 giờ.
Cũng có sự khác nhau giữa độ khả dụng và độ tin cậy của mạng từ góc nhìn của từng
người sử dụng và từ góc nhìn mạng tổng thể. Thông số QoS khả dụng thường được quy
cho mỗi vị trí hoặc liên kết riêng lẻ. Một người sử dụng khó tính có thể than phiền rằng
một liên kết chỉ sẵn sàng 99,7% trong tháng sẽ được nhắc nhở rằng mạng sẽ đáp ứng
99,99% sẵn sàng như được quảng cáo và hứa hẹn là áp dụng cho toàn bộ mạng.
3.2.2.2 Băng thông
Là tốc độ truyền thông tin (tính bằng KB/giây, MB/giây…). Bình thường trong
môi trường mạng LAN, băng thông càng lớn càng tốt.
Rất nhiều mạng số liệu không được thiết kế cho nhu cầu băng tần theo thời gian
thực của tín hiệu thoại. Các mạng này thông thường không yêu cầu các dòng dữ liệu
gói hoá phải tới đích trong một khung thời gian hẹp (với độ trễ tương đối thấp). Khi
dịch vụ thoại được triển khai trên các hệ thống mạng này, một số các phương pháp
được thực hiện nhằm đảm bảo việc truyền dẫn thoại theo thời gian thực, tuy vậy chất
lượng thoại vẫn sẽ bị ảnh hưởng một khi các cơ chế này hoạt động không như mong
muốn. Mặc dù tín hiệu thoại chỉ yêu cầu một băng tần tương đối thấp nhưng nó đòi hỏi
phải có tính ổn định cao và trực tiếp.
Tuy nhiên, trong một mạng tích hợp dữ liệu và thoại, ta phải quyết định xem
mỗi dịch vụ phải sử dụng bao nhiêu băng thông. Những quyết định này dựa trên việc
xem xét cẩn thận sự ưu tiên và băng thông sẵn có. Nếu ta dành cho dich vụ thoại quá ít
băng thông thì chất lượng thoại là không chấp nhận được. Hay nói một cách khác thì
các dịch vụ thoại không thể chấp nhận băng thông nhỏ như lưu lượng của Internet.
Nếu mạng VoIP cũng sử dụng cùng một bộ mã hoá như mạng PSTN hiện nay
thì băng thông dành cho dịch vụ thoại sẽ còn lớn hơn cả băng thông được sử dụng trong
mạng PSTN. Bởi trong mạng VoIP, phần mào đầu trong các giao thức là rất nhiều. Ví
dụ, ta phải cần một tốc độ STM-4 (622,08 Mbps) hoặc cao hơn nữa để hỗ trợ cho hàng
nghìn cuộc gọi.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 65
Đồ án tốt nghiệp
Tuy nhiên, mạng VoIP lại thực hiện việc nén thoại và triệt khoảng lặng để giảm
băng thông hơn so với mạng chuyển mạch kênh truyền thống. Băng thông của mạng
VoIP có thể thay đổi so với mạng TDM có kích thước kênh cố định.
Việc xác định băng thông cho mạng dựa trên số cuộc gọi trong giờ cao điểm.
Bất cứ việc ghép băng thông nào đều có thể làm giảm chất lượng thoại. Người ta phải
dành riêng băng thông cho báo hiệu để đảm bảo các cuộc gọi đều được thực hiện và
giảm việc ngắt quãng dịch vụ.
Băng thông dành cho báo hiệu thay đổi tuỳ theo số lượng cuộc gọi và giao thức
báo hiệu được sử dụng. Nếu có rất nhiều cuộc gọi với thời gian ngắn thì băng thông
đỉnh cần cho báo hiệu phải lớn. Băng thông lớn nhất mà một giao thức báo hiệu IP cần
có phải bằng 3% của tất cả lưu lượng tải. ở ví dụ, băng thông báo hiệu cho 2000 cuộc
gọi trong 1 giây là xấp xỉ 4,8 Mbps (3 % x 160 Mbps).
Nhờ việc tính toán băng thông cho tải và báo hiệu, người ta có thể đáp ứng được
cho 2000 cuộc gọi được mã hoá theo chuẩn G.711 với băng thông lớn nhất là 164,8
Mbps. Đây là giá trị băng thông lớn nhất theo lý thuyết cho trường hợp trên. Nếu các
tham số như phương pháp mã hoá thoại, số cuộc gọi, tốc độ gói tin được tạo, cách nén
và việc sử dụng bộ triệt tiếng vọng thay đổi thì yêu cầu về băng thông cũng thay đổi
theo.
3.2.2.3 Tiếng vọng
Tiếng vọng trong thoại tạo ra khi người nói nghe thấy chính tiếng nói của mình.
Trong mạng VoIP thông thường, khối chức năng gói hoá số được đặt giữa hai đoạn
truyền dẫn analog. Giao tiếp giữa phần analog và mạng VoIP là các Gateway VoIP.
Gateway nguồn và đích thông tin với nhau qua mạng IP, trễ truyền gói qua mạng này
có thể lớn hơn 30 ms. Chính sự pha trộn các thiết bị số và các thiết bị analog trong kết
nối thoại là nguyên nhân chủ yếu gây ra tiếng vọng ở phía người nói.
Người sử dụng A Tiếng của A Người sử dụng B
Tx Rx
 Tiếng của B 
Rx Tx
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 66
Mạng thoại
Đồ án tốt nghiệp
Tiếng vọng của A
Hình 3.2 Tiếng vọng trong mạng thoại.
3.2.2.4 Trễ
Trễ là thời gian truyền trung bình của dịch vụ từ điểm vào đến điểm ra khỏi
mạng. Có nhiều dịch vụ đặc biệt là các dịch vụ thời gian thực như truyền thông thoại bị
ảnh hưởng rất lớn bởi trễ quá lớn và không cần thiết. Nếu trễ vượt quá 200ms thì người
sử dụng sẽ thấy sự ngắt quảng và đánh giá chất lượng thoại ở mức thấp.
Khi thiết kế bất kỳ một mạng gói nào để truyền thông tin thoại thì xử lý trễ luôn
luôn là một khâu quan trọng. Việc tính toán trễ một cách chính xác sẽ giúp các nhà
cung cấp dịch vụ thoại giám sát được chất lượng truyền dẫn trên mạng và đưa ra các
giải pháp hợp lý để khắc phục.
Trễ trong mạng thoại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thuật toán mã hoá, lỗi, mất
khung, thiết bị…ITU đã nghiên cứu độ trễ mạng cho các ứng dụng thoại trong khuyến
nghị G114. Khuyến nghị này định nghĩa 3 tầng trễ một chiều như sau:
Bảng 3.4: Định nghĩa các tầng trễ một chiều.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 67
Kho¶ng thêi gian trÔ M« t¶ ®Æc ®iÓm
0 - 150 ms
ChÊp nhËn cho hÇu hÕt c¸c øng dông
ng­êi dï ng
150 ms- 450 ms
Cã ¶nh h­ëng ®Õn chÊt l­î ng truyÒn
dÉn ®èi ví i c¸c øng dông. Nhµ qu¶n
lý mang cã thÓcung cÊp c¸c møc gií i
h¹n
> 450 ms
Kh«ng thÓchÊp nhËn cho c¸c môc
®Ých kÕho¹ch m¹ng chung. Tuy nhiªn
trong mét sè tr­êng hî p cô thÓcã thÓ
sö lý nh­ lµ mét gií i han trÔ.
Đồ án tốt nghiệp
Các giới hạn này được khuyến nghị dùng cho các nhà quản lý mạng quốc tế, do
đó yêu cầu nghiêm ngặt hơn các mạng thoại riêng rẽ. Với các mạng riêng, độ trễ 200ms
là hợp lý và 250ms là giới hạn.
Có hai loại trễ khác nhau: Trễ cố định và trễ thay đổi.
Thành phần trễ cố định bao gồm các thành phần trễ được them vào trực tiếp trên
một kết nối tổng.
Thành phần trễ thay đổi bao gồm các thành phần nảy sinh trong các hàng đợi
trong những bộ đệm tín hiệu trên các cổng nối tiếp kết nối với mạng WAN. Các bộ
đệm này tạo ra những thành phần trễ thay đổi hay chính là Jitter, trễ thay đổi được xử
lý bằng các bộ đệm loại jitter tại các Gateway/Router tại đầu thu.
a. Trễ Coder (Trễ xử lý)
Trễ Coder hay còn được gọi là trễ xử lý là thời gian một bộ xử lý tín hiệu số
DSP nén một mẫu PCM cộng với thời gian trễ thuật toán của Codec. Công nghệ xử lý
thoại ngày nay có nhiều bộ mã hoá khác nhau, mỗi bộ mã hoá lại xử lý theo một thuật
toán nén và mã hoá khác nhau và tốc độ xử lý thoại lại khác nhau nên độ trễ qua các bộ
mã hoá cụ thể cũng khác nhau. Ví dụ thuật mã hoá dự đoán tuyến tính mã đại số
(ACELP) xử lý mỗi khối thoại PCM trong vòng 10ms.
Bộ xử lý thuật toán mã hoá dự đoán tuyến tính mã đại số cấu trúc tích hợp (CE-
ACELP) có trễ xử lý khoảng 2,5 đến 10 ms phụ thuộc vào tải trọng của bộ xử lý tín
hiệu số DSP. Nếu tải trọng của bộ xử lý tín hiệu số đầy đủ với 4 kênh thoại thì độ trễ
xử lý có thể lên tới 10 ms. Nếu chỉ phải xử lý một kênh thoại thì độ trễ có thể chỉ là 2,5
ms. Tuy nhiên trong các kế hoạch truyền dẫn phải sử dụng mức 10 ms để tính toán trễ
cho bộ xử lý này.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 68
Đồ án tốt nghiệp
Thời gian giải nén vào khoảng 10% thời gian nén cho mỗi khối mẫu PCM. Do
có nhiều mẫu trong mỗi khung nên thời gian giải nén tương ứng với số lượng mẫu
trong khung. Do đó thời gian trễ của một khung 3 mẫu là 3 * thời gian trễ một mẫu.
Thời gian trễ tốt nhất và tồi nhất đối với các bộ mã hoá cụ thể:
Bảng 3.5: Thời gian trễ của các bộ mã hoá.
Trễ thuật toán:
Thuật toán nén căn cứ vào đặc điểm của tín hiệu thoại để xử lý các mẫu thoại
với mỗi mẫu thứ N sử dụng thuật toán nén có thể dự đoán mẫu tiếp theo thứ N+1 như
thế nào một cách khá chính xác. Việc xử lý này cũng gây ra trễ gọi là trễ thuật toán và
phụ thuộc vào độ dài của khối tin cần nén.
Tất nhiên việc này lặp lại nhiều lần ví dụ như các khối N+1, N+2 ...Thông
thường với mỗi cuộc thoại nó thêm vào 5 ms đối với trễ tổng trên liên kết. Với mỗi bộ
mã hoá khác nhau thì sử dụng một thuật toán nén khác nhau do đó thời gian trễ thuật
toán với từng bộ mã hoá cụ thể cũng khác nhau:
Trế thuật toán đối với G 726 là 0ms
Trế thuật toán đối với G 729 là 5ms
Trế thuật toán đối với G 723.1 là 7.5ms
Nói chung thời gian trễ bộ mã hoá được tính như sau:
Trễ Coder = (Trễ thời gian nén trên mỗi khối +Trễ thời gian giải nén trên
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 69
Đồ án tốt nghiệp
mỗi khối)* (Số khối trên một khung) + thời gian trễ thuật toán
Với bộ mã hoá G729 ta có thể tính được thời gian trễ codec = 10 +1*3+5 = 18 ms.
b. Trễ do mã hoá
Các bộ mã hoá thoại hiện đại hoạt động dựa trên việc tập trung các mẫu thoại
thành khung. Mỗi khung tín hiệu thoại đầu vào (gồm các mẫu thoại) được xử lý thành
các khung bị nén. Không thể tạo ra các khung thoại đã được mã hoá cho đến khi tất cả
các mẫu thoại của khung được tập trung đầy đủ trong bộ mã hoá. Do đó có trễ khung
xảy ra trước khi việc xử lý bắt đầu. Ngoài ra, nhiều bộ mã hoá cũng xem xét các khung
tiếp theo để cải thiện hiệu quả nén. Chiều dài của quá trình xem xét này gọi là thời gian
look – ahead của bộ mã hoá, lượng trễ này cũng là được tính vào trễ của bộ mã hoá.
c. Trễ đệm ở thiết bị đầu cuối IP
Card âm thanh và card điện thoại trong máy tính cá nhân PC thường có các bộ
đệm khá lớn để tạo ra một giao diện tốc độ cố định với bộ biến đổi A/D- D/A và một
giao diện không đồng bộ với lớp ứng dụng.
Ngoài ra, bộ tương thích (adapter) mạng và modem cũng sử dụng bộ đệm để
tăng hiệu quả truy cập mạng. Các bộ tương thích này được tối ưu hoá cho truyền thông
dữ liệu- là một ứng dụng mà trễ không phải là vấn đề quan trọng. Song với truyền
thoại, trễ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thoại thì sự tối ưu hoá này không phù
hợp.
Thêm vào các trễ trên, còn có trễ bộ đệm phần mềm. Các ứng dụng có thể lưu
trữ một lượng lớn dữ liệu để xử lý chúng dễ dàng và hiệu quả hoặc để quản lý jitter trễ
trong gói tin thu được.
d. Trễ đệm/gói hoá H.323
Trễ gói hoá hình thành trong quá trình tạo gói, trễ đệm xuất hiện khi phân rã
gói.Trễ gói hoá là thời gian cần thiết để thu thập đầy đủ thông tin của một gói. Khi sử
dụng các gói có chiều dài cố định với mã hoá dạng khung, thì khi gói hoá có thể có trễ
thêm vào nếu như chiều dài gói khác với chiều dài khung của bộ mã hoá.
Trễ đệm là do quá trình xếp hàng trong máy thu và thường được sử dụng để đền
bù jitter mạng. Việc tạo lại tín hiệu thoại yêu cầu các gói phải đến cùng lúc song do trễ
mạng thay đổi nên máy thu phải có bộ đệm để làm trễ các gói đến sớm và đồng bộ
chúng với các gói đến muộn.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 70
Đồ án tốt nghiệp
e. Trễ truyền dẫn mạng
Trễ mạng là thời gian truyền dẫn các gói qua mạng để đến đích. Các thành phần
của trễ mạng gồm:
• Trễ truyền dẫn, tạo ra do việc gửi một gói qua một liên kết (ví dụ như gửi
một gói có kích thước 256 byte qua một liên kết có tốc độ 64kb/s sẽ cần
32ms).
• Trễ truyền lan tạo ra do sự truyền lan tín hiệu qua liên kết vật lý. Trễ này
thường được bỏ qua nếu liên kết có chiều dài nhỏ hơn 1000km
• Trễ node, là trễ do bộ định tuyến thực hiện việc xếp hàng và xử lý các
gói.
• Trễ giao thức là trễ do các cơ chế khác nhau của mỗi giao thức, ví dụ như
giao thức TCP có phát lại các gói tin, hay trễ truy cập mạng (giao thức
Ethernet).
• Trễ Gateway tạo ra do việc liên kết giữa các mạng phải có thời gian xử lý
tại Gateway.
Trễ truyền dẫn mạng có thể được bỏ qua trong mạng PSTN, đối với mạng IP trễ
này rất lớn, do đó không thể bỏ qua.
f. Trễ tổng trung bình
Nhìn chung trễ tổng bao gồm tất cả các loại trễ trên cộng lại, trong mô hình E trễ
tổng trung bình từ miệng người nói đến tai người nghe được đặc trưng bởi tham số trễ
Ta. Hình sau mô tả quan hệ giữa độ trễ tổng và giá trị R trong mô hình E:
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 71
Đồ án tốt nghiệp
600
100
95
90
85
80
75
70
65
60
55
50
T1211140-99
500 400 300 200 100
R
Absolute delay (Ta) in ms
Hình 3.3 Mối quan hệ giữa độ trễ một chiều tổng và giá trị R trong mô hình E.
Theo đồ thị này thì giá trị trễ khuyến nghị là từ 300 đến 350 ms và giới hạn là
400 ms.
3.2.2.5 Biến động trễ
Biến động trễ là sự khác biệt về trễ của các gói khác nhau cùng trong một dòng
lưu lượng. Biến động trễ có tần số cao được gọi là jitter trong khi biến động trễ có tần
số thấp được gọi là wander. Jitter chủ yếu do sự sai khác về thời gian xếp hàng của các
gói liên tiếp trong một luồng gây ra và là vấn đề quan trọng nhất của QoS. Các loại lưu
lượng nhất định đặc biệt là lưu lượng thời gian thực như thoại thường chịu được jitter.
Khác biệt trong thời gian đến của các gói gây ra sự lên xuống trong thoại. Tất cả các hệ
thống truyền thoại đều có jitter. Khi jitter nằm vào khoảng dung sai định nghĩa trước thì
nó không ảnh hưởng thới chất lượng dịch vụ.
Jitter quá nhiều có thể được xử lý bằng bộ đệm, song nó lại làm tăng trễ nên lại
nảy sinh các khó khăn khác. Với các cơ cấu loại bỏ thông minh, các hệ thống IP
Telephony/VoIP sẽ cố đồng bộ luồng thông tin bằng cách loại bỏ gói theo kiểu lựa
chọn, nhằm tránh hiện tượng “walkie-talkie” gây ra khi hai phía hội thoại có trễ đáng
kể. Jitter phải nhỏ hơn 60ms (60ms là chất lượng trung bình, 20ms là chất lượng trung
kế Toll).
3.2.2.6 Tổn thất gói
Tổn thất, hoặc là bit hoặc là gói, có ảnh hưởng lớn với dịch vụ IP
Telephony/VoIP hơn là với dịch vụ dữ liệu. Trong khi truyền thoại, việc mất nhiều bit
hoặc gói của dòng tin có thể tạo ra hiện tượng nhảy thoại gây khó chịu cho người sử
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 72
Đồ án tốt nghiệp
dụng. Trong truyền dữ liệu, việc mất một bit hay nhiều gói có thể tạo ra hiện tượng
không đều trên màn hình nhất thời song hình ảnh (video) sẽ nhanh chóng được xử lý
như trước. Tuy nhiên, nếu việc mất gói xảy ra theo dây chuyền, thì chất lượng của toàn
bộ việc truyền dẫn sẽ xuống cấp. Tỷ lệ mất gói nhỏ hơn 5 % cho chất lượng tối thiệu và
nhỏ hơn 1 % cho chất lượng liên đài.
3.3 Một số công nghệ đo kiểm chất lượng thoại hiện nay
Theo phương pháp truyền thống, đo kiểm chất lượng thoại liên quan tới việc so
sánh các dạng sóng trên màn hình, đo kiểm tỉ lệ tín hiệu trên tạp âm và tổng méo hài
(THD) giữa chúng. Những phương pháp này cùng các phương pháp đo kiểm tuyến tính
khác chỉ thực sự hữu dụng trong một số trường hợp nhất định do chúng quan niệm rằng
những biến đổi trong dạng sóng tín hiệu thoại đại diện cho những tín hiệu méo không
mong muốn. Những phương pháp này cũng giả định rằng các kênh điện thoại về bản
chất là tuyến tính. Tuy nhiên trong các mạng VoIP cũng như các mạng thoại gói khác,
đặc biệt là khi sử dụng các bộ mã hóa - giải mã (Codec) tốc độ bít thấp như G.729 và
G.723, cả việc bảo toàn dạng sóng cũng như tính tuyến tính của kênh thoại đều không
được giả định. Các bộ Codec này cố gắng tái tạo lại âm thanh chủ quan của tín hiệu
hơn là hình dạng của dạng sóng âm thoại. Như đã trình bày, bản chất chuỗi và nhạy
cảm với thời gian của các mạng chuyển mạch gói yêu cầu cần phải có các phương pháp
đo kiểm khác thích hợp hơn. Cuối cùng do tính quan trọng ngày càng cao của chúng,
chất lượng hoạt động của các bộ hủy tiếng vọng, phát hiện sự tồn tại của thoại (VAD)
và các quá trình khác cần phải được đo kiểm một cách trực tiếp.
Để phân tích xem liệu một mạng IP có thể hỗ trợ VoIP hay không thì phải đánh
giá tính hiệu quả QoS của mạng đó. Đặc biệt, những vấn đề cần quan tâm sẽ như sau:
- Mạng có thể phân biệt lưu lượng VoIP với các loại lưu lượng khác như thế
nào ?
- Trong trường hợp tắc nghẽn mạng, tỷ lệ mất gói của thoại như thế nào so với dữ
liệu ?
- Thời gian trễ trung bình mà các gói thoại phải chịu là bao nhiêu ?
- Jitter trung bình bằng bao nhiêu ?
- Mạng có thể được mở rộng hay không nếu có một số lượng lớn các luồng ?
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 73
Đồ án tốt nghiệp
Hàng loạt các phép đo thử sau đã được thiết kế để nghiên cứu phẩm chất của các
hệ thống ưu tiên hoá chung trong các bộ định tuyến. Hình 2-13 trình bày cấu hình đo
thử.
Hình 3.4 : Cấu hình đo thử QoS.
Sử dụng thiết bị Smartbits, nhiều luồng lưu lượng đã được xác định và được
"tiêm" vào mạng IP. Các luồng lưu lượng này đại diện cho các loại tải khác nhau.
Chúng chỉ khác nhau ở địa chỉ IP, các số hiệu cổng, kích thước các gói hoặc tổ hợp của
các yếu tố này. Bằng việc quan sát đầu ra của mạng IP, ta có thể quyết định phải xử lý
các lưu lượng khác nhau như thế nào. Do vậy, băng thông của một kết nối liên tiếp đã
được cấu hình là 500 kbps. Do lưu lượng đi tới từ một cửa Ethernet 10 Mbps cho nên
tắc nghẽn bắt đầu xảy ra khi tải đầu vào vượt quá khoảng 6% (điểm tắc nghẽn thay đổi
tuỳ thuộc vào kích thước gói). Chẳng hạn, bằng việc sử dụng các gói kích thước 200
byte - bao gồm cả phần mào đầu và FCS - tốc độ gói tối đa trên mạng Ethernet 10
Mbps sẽ là 5682 gói/s. Nếu tải là 6%, tốc độ khung sẽ là 341 gói/s. Bằng việc sử dụng
giao thức đóng gói PPP trên một tuyến nối WAN, tốc độ bit sẽ là 573 kbps chỉ hơi vượt
ra ngoài dung lượng của tuyến. Điểm tắc nghẽn sẽ xuất hiện ngay khi các khung dài
hơn được sử dụng). Nếu băng thông WAN đã thay đổi, điểm tắc nghẽn cũng có thể
thay đổi.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 74
Bé ®Þnh
tuyÕn
Bé ®Þnh
tuyÕn
TuyÕn nèi tiÕp vËn hµnh PPP
B¨ng th«ng = 500 kbps
10 Mbps
Ethernet
10 Mbps
Ethernet
SmartBits ch¹y
ch­ í ng ng¹i
M¹ng I P ®ang ®­ î c ®o thö
Đồ án tốt nghiệp
Hình 3.5: Cấu hình chướng ngại
Trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm thoại, việc đo thử để biết mỗi sản phẩm
xử trí như thế nào đối với các chướng ngại là điều tương đối quan trọng. Hình 2-14
trình bày cấu hình đo thử cho các phép đo thử sau. Một máy tính chạy phần mềm IP với
hai NIC Ethernet đóng vai trò một bộ định tuyến "không hoàn hảo". Nó gửi lưu lượng
từ một đoạn này tới một đoạn khác trong điều kiện có thời gian trễ, có mất khung và có
sự biến thiên độ trễ, nhưng có thể điều khiển chúng. Một máy tính Abacus được sử
dụng để khởi tạo các cuộc gọi, tạo ra đầu vào thoại và đo chất lượng đầu ra thoại tại
đầu kia.
Phần mềm IP đã được cấu hình với độ mất khung 0%, 1% và 3%. Các chuẩn
G.711 và G.729 được sử dụng tại Gateway để khảo sát xem mỗi thuật toán mã hóa có
thể đối phó như thế nào với việc mất khung.
Bảng 3.6 : Kết quả PSQM với các tỉ lệ mất khung khác nhau.
Thuật toán mã
hóa
Mất
khung
PSQM
Nhỏ nhất Trung bình Lớn nhất
G.711
0% 0 0 1,6
1% 0 0,4 2,4
3% 0 1,0 2,9
G.729
0% 0,7 0,8 2,3
1% 0,7 1,3 2,9
3% 0,8 1,9 3,0
Với 0% mất khung, G.711 có một điểm PSQM bằng 0 biểu thị méo tín hiệu rất ít
hoặc không có méo. Với G.729, do tốc độ bit là 8 kbps, nó đưa vào một độ méo tín hiệu
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 75
Rout er Ro ut er
PhÇn mÒm I P
Bé ®Þnh tuyÕn
ví i mo®un tho¹ i
Bé ®Þnh tuyÕn
ví i mo®un tho¹ i
PRA PRA
Abacu s
Đồ án tốt nghiệp
nào đó ngay cả khi không có mất khung. Tuy nhiên, ảnh hưởng của mất khung tới cả
hai thuật toán mã hóa là có thể so sánh được. Mất khung 1% làm cho một PSQM tăng
lên 0,4 đối với G.711 và 0,5 đối với G.729. Tương tự như vậy mất khung 3% làm
PSQM tăng lên 1 và 1,1 tương ứng cho G.711 và G.729.
Cũng các phép đo thử như vậy được lặp lại một lần nữa, lần này sẽ không có
mất khung bởi vì các chướng ngại do trễ khác nhau được đưa vào. Đầu tiên, có thời
gian trễ 50 ms, và cuối cùng sử dụng một Jitter 100 ms. Bảng 3.7 tóm lược các kết quả:
Bảng 3.7 : Kết quả đo thử.
Thuật toán
mã hóa
Mất khung
PSQM
Nhỏ nhất Trung bình Lớn nhất
G.711
50 ms 0 0,3 1,3
50 ms jitter 0 0,2 2,2
100 ms jitter 0 0,6 2,8
G.729
50 ms 0,7 0,8 2,2
50 ms jitter 0,7 0,9 2,7
100 ms jitter 0,7 1,3 2,8
Các kết quả đo thử này cho thấy trễ 50 ms và Jitter 50 ms có tác động nhỏ nhất
tới điểm số PSQM (mặc dù trong phép tính điểm PSQM tiêu chuẩn không tính đến tác
động của độ trễ). Jitter 100 ms làm tăng 0,3 và 0,5 điểm tương ứng cho G.711 và
G.729. Cần giải thích rõ điều này để chỉ ra rằng các bộ định tuyến đã buộc phải cho
phép mất một số khung cũng không tạo ra thời gian trễ quá lớn bởi đã bù đầy cho Jitter.
3.3.1 Đo kiểm độ trung thực
3.3.1.1 MOS
Do bản chất khách quan cố hữu của việc đo kiểm chất lượng thoại, một phương
pháp đo kiểm tự nhiên dùng để xác định chất lượng thoại đó là sử dụng một số lượng
lớn người nghe đánh giá chất lượng thoại như là một phần của quá trình đo kiểm được
điều khiển tốt và xác định rõ ràng. Lợi ích của phương pháp này đó là đánh giá độ
trung thực có được trực tiếp từ từng cá nhân đã sử dụng điện thoại. Một lợi ích khác đó
là giá trị thống kê có được từ rất nhiều các đánh giá viên. Trên thực tế có một phương
pháp đã được sử dụng trong nhiều năm nay đó là MOS được miêu tả trong chuẩn P.800
của ITU-T.
Bảng 3.8 : MOS của các chuẩn mã hóa
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 76
Đồ án tốt nghiệp
Chuẩn mã hóa MOS
G.711 4,1 (64 kbps)
G.726 3,85 (32 kbps)
G.728 3,61 (15 kbps)
G.729 3,92 (8 kbps)
G.723.1 MP-MLQ 3,9 (6,3 kbps)
G.723.1 ACELP 3,65 (5,3 kbps)
Mặc dù có những lợi thế hết sức rõ ràng, MOS có một điểm khác biệt và một bất
lợi đáng quan tâm: đó là nó đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian cũng như nỗ lực. Tập hợp
hàng chục hay thậm chí hàng trăm người nghe tại một phòng thí nghiệm đo kiểm chất
lượng thoại để đánh giá chất lượng của một bộ sản phẩm thiết bị điện thoại hay phần
mềm dường như không phải là một phương pháp hiệu quả nhất. Những điều kiện của
cuộc thử nghiệm phải được giám sát và điều khiển một cách chặt chẽ, kết quả đo phải
được phân tích một cách kỹ lưỡng và toàn bộ quá trình này cần phải được lặp lại khi có
thiết bị mới hay phương pháp mã hoá thoại mới được phát triển. Do đó, làm sao để độ
trung thực có thể được đo kiểm theo một phương pháp có thể lặp lại, khách quan, và
với một chi phí hợp lý?
3.3.1.2 PSQM
Một trong những phương pháp đó là PSQM, được miêu tả rõ trong khuyến nghị
P.861 của ITU-T. Ðầu tiên được thiết kế để đánh giá các bộ mã hóa - giải mã thoại,
thuật toán PSQM đưa ra một phương pháp mà qua đó tín hiệu thoại trong băng tần từ
300-3400 Hz có thể được đo kiểm một cách khách quan cho méo, ảnh hưởng của tạp
âm, và tính trung thực toàn cục trong nghe hiểu. Như vậy hiểu một cách đơn giản,
PSQM là một người nghe tự động.
PSQM đánh giá chất lượng của các tín hiệu thoại theo cùng cách mà các bộ
Codec mã hoá và giải mã tín hiệu thoại thực hiện. Nó xác định xem khi nào thì một tín
thoại riêng biệt bị méo dựa trên quan điểm của người nghe, khi nào thì cảm thấy khó
chịu và khó hiểu với một tín hiệu méo. Ðể làm được điều này, PSQM sử dụng một tín
hiệu thoại rõ ràng và so sánh nó với một phiên bản méo ít hơn hoặc nhiều hơn với
phương pháp trọng số phức (complex weighting) quan tâm tới yếu tố quan trọng trong
nhận thức âm thoại là gì, ví dụ như sinh lý của tai người và các yếu tố nhận thức liên
quan tới người nghe dường như hay chú ý tới gì. PSQM đem lại một chỉ số tương đối,
chỉ ra sự khác biệt giữa tín hiệu méo và tín hiệu gèc đứng trên quan điểm của người
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 77
Đồ án tốt nghiệp
nghe thông qua thuật toán. PSQM chỉ ra âm thoại méo có chất lượng tốt hơn hay tồi
hơn tín hiệu nguyên thuỷ. Với PSQM, chỉ số méo đưa ra tương ứng rất gần với chỉ số
thống kê của một số lượng lớn người phản ứng trong cùng một tình huống đo kiểm (ví
dụ MOS).
PSQM đầu tiên được thiết kế đặc biệt cho chất lượng hiểu của âm thoại khi bị
ảnh hưởng bởi các bộ Codec nén thoại. Tuy nhiên với một số tác động như mất gói xảy
ra trên mạng truyền số liệu, không được phản ánh một cách đầy đủ trong các chỉ số
PSQM. Do đó, một phiên bản tăng cường cho PSQM gọi là PSQM+ đã được phát triển
để tương quan hơn với các chỉ số MOS trong trường hợp có những trục trặc trong quá
trình hoạt động của mạng.
3.3.1.3 PAMS
Một mô hình quan trọng khác trong đo kiểm độ trung thực trong nghe hiểu,
được phát triển trong thời gian gần đây đó là PAMS (Hệ thống đo kiểm phân tích tri
giác). PAMS sử dụng một mô hình tri giác tương tự như PSQM và cùng nhau chia sẻ
mục tiêu cung cấp một phương tiện đo kiểm khách quan, khả lặp cho chất lượng cảm
nhận thoại. PAMS sử dụng một mô hình xử lý tín hiệu khác với PSQM nhưng hiệu quả
hơn cùng với các dạng chỉ số khác với PSQM. Nó đưa ra một "Chỉ số chất lượng nghe"
và một "Chỉ số chất lượng nỗ lực nghe", cả hai đều tương quan với các chỉ số MOS và
đều trên một thang đo từ 1 tới 5.
3.3.2 Đo kiểm độ trễ
Như đã đề cập, trễ đầu cuối - đầu cuối có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng tới
chất lượng một cuộc đàm thoại. Nên nhớ rằng, trễ không ảnh hưởng tới âm thanh của
một cuộc đàm thoại mà ảnh hưởng tới nhịp điệu và cảm nhận của cuộc đàm thoại. Có
hai phương pháp chính trong đo kiểm trễ trong một môi trường thoại gói là: Acoustic
PING và MLS tương quan chéo tiêu chuẩn hoá.
Theo như thiết kế, cả hai phương pháp được sử dụng để đảm bảo việc đo kiểm
trễ là chính xác và nhất quán do trễ có thể thay đổi trong một môi trường VoIP động.
3.3.2.1 Acoustic PING
Acoustic PING sử dụng một tín hiệu âm thanh kiểm tra cực ngắn (narrow audio
spike) được truyền dẫn từ đầu cuối của một kênh thoại tới đầu cuối bên kia và đo
khoảng thời gian này. Phương pháp đơn giản này tương đối nhạy cảm với tạp âm và
suy hao do tín hiệu kiểm tra thật có thể bị che bởi các tạp âm khác trên kênh truyền hay
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 78
Đồ án tốt nghiệp
bị suy hao quá nhiều dẫn tới không thể phát hiện ra. Thêm vào đó, do độ hẹp tương đối
của tín hiệu kiểm tra khiến cho nó dễ bị ảnh hưởng xấu bởi tình trạng mất gói (bản thân
một tín hiệu kiểm tra chỉ chiếm từ 1 tới 2 gói). Acoustic PING cần phải được hỗ trî từ
các phương pháp khác để đảm bảo độ chính xác và ổn định.
3.3.2.2. MLS tương quan chéo tiêu chuẩn hoá
MLS sử dụng một tín hiệu đặc biệt được truyền qua một hệ thống cần đo kiểm.
Sau đó bằng các kỹ thuật xử lý tín hiệu số, tín hiệu thu được cùng với tín hiệu ban đầu
cùng được phân tích để xác định trễ từ đầu cuối đến đầu cuối. Phương pháp này được
gọi là MLS tương quan chéo tiêu chuẩn hoá, sử dụng một tín hiệu đo kiểm với âm
thanh rất giống với nhiễu trắng, trên thực tế nó có rất nhiều các đặc tính giống với
nhiễu trắng. Tuy nhiên khác với nhiễu trắng, tạp âm MLS (dãy có chiều dài tối đa) là
một mẫu tạp âm khả lặp và khả đoán tăng cường khả năng tính toán phân tích.
Sử dụng phương pháp này, giá trị trễ tính toán thực ra là một tập con của thông
tin thu được. Trễ tính toán theo phương pháp này chính xác hơn rất nhiều, đem lại kết
quả với độ phân giải cao hơn và khả năng chịu tạp âm cao hơn so với các phương pháp
âm thanh.
3.3.3 Đo kiểm tiếng vọng
Trong đo kiểm tiếng vọng, đầu tiên cần phải xác định đặc tính của cường độ
tiếng vọng và trễ tiếng vọng. Bên cạnh đó cũng cần phải xác định xem các bộ huỷ tiếng
vọng giải quyết với tiếng vọng có tốt không. Cuối cùng, sẽ là rất hữu dụng nếu đánh giá
được mức độ khó chịu mà tiếng vọng gây ra cho người dùng của hệ thống điện thoại.
Các khía cạnh này sẽ lần lượt được làm rõ dưới đây:
3.3.3.1 Xác định đặc tính tiếng vọng
Xác định đặc tính tiếng vọng hầu như luôn liên quan tới đo lường cường độ
tiếng vọng và trễ của tiếng vọng. Năng lượng mà một tiếng vọng bị suy hao tới tai
người nghe thường được gọi là suy hao tiếng vọng phản hồi ERL. ERL là một tham số
rất quan trọng do rất nhiều các bộ triệt tiếng vọng không có khả năng làm việc với các
tiếng vọng chưa bị suy hao ở một mức độ nhất định nào đó. Bên cạnh đó trễ của tiếng
vọng cũng phải nằm trong một khung thời gian nhất định để các bộ triệt tiếng vọng có
thể xử lý tín hiệu một cách hiệu quả. ERL và trễ tiếng vọng là các tham số cần phải cân
nhắc trong thiết kế mạng truy nhập và có một ảnh hưởng sâu sắc tới dạng và cấu hình
của bộ huỷ tiếng vọng được sử dụng. Việc nắm vững các đặc tính tiếng vọng giúp đưa
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 79
Đồ án tốt nghiệp
ra được một quyết định đúng đắn trong việc chọn bộ huỷ tiếng vọng hay thiết kế lại
mạng truy nhập để giải quyết những vấn đề trễ đặc thù của mạng.
3.3.3.2 Sự khó chịu trong cảm nhận gây ra bởi tiếng vọng
Tương tự như độ trung thực của âm thoại, ở đây yêu cầu những thuật toán đặc
biệt để có được một kết quả đo khách quan, tin cậy và ổn định. ITU-T đã định nghĩa
một số phương pháp đo lường những đặc tính của tiếng vọng: G.165 là một thuật toán
sử dụng nhiễu trắng, G.168 sử dụng những tín hiệu kiểm tra tần số thoại. Tuy nhiên
những phương pháp này dường như thích hợp nhất cho đo kiểm tại phòng thí nghiệm
và không phù hợp cho các bộ Codec tốc độ bít thấp, tại đó dạng sóng của tín hiệu thoại
không phải luôn luôn được duy trì. Nhưng bằng việc sử dụng một thuật toán khách
quan, dựa trên nhận thức như PSQM hay PAMS được miêu tả ở trên, chúng ta hoàn
toàn có khả năng đánh giá được ảnh hưởng của tiếng vọng tác động lên cảm nhận về
chất lượng thoại trên cả môi trường phòng thí nghiệm cũng như trên các mạng VoIP đã
được triển khai.
3.3.3.3 Các bộ huỷ tiếng vọng
Ðể đánh giá được chất lượng hoạt động của một bộ huỷ tiếng vọng, nhân viên
đo kiểm thường phải mô phỏng các hiện tượng của mạng truy nhập (trễ tiếng vọng,
ERL và đáp ứng tần số) và qua đó xác định khả năng khắc phục và xử lý các hiện
tượng này. Các tham số quan trọng khi đánh giá một bộ triệt tiếng vọng là:
- Thời gian hội tụ (Convergence time): thời gian cần thiết để một bộ triệt tiếng
vọng thích ứng với mạng truy nhập nội hạt và thực hiện việc giảm tiếng vọng
một cách thích đáng.
- Ðộ sâu hủy bỏ (Cancellation depth): sự thu nhỏ cường độ tiếng vọng đạt được
(đo lường theo db).
- Double-talk Robustness: đo kiểm khả năng huỷ tiếng vọng dưới điều kiện cả
hai đầu dây đồng thời nói.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 80
Đồ án tốt nghiệp
CHƯƠNG IV
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THOẠI TRONG MẠNG
VoIP BẰNG MÔ HÌNH- E.
4.1 Giới thiệu mô hình E
Mô hình E là một mô hình đánh giá chất lượng truyền dẫn cho điện thoại cầm
tay băng tần hẹp (300Hz đến 3400Hz). Mô hình được hình thành và phát triển từ những
năm 1993-1996 bởi một nhóm nghiên cứu của tổ chức ETSI khi nghiên cứu về "chất
lượng truyền thông thoại từ miệng đến tai qua mạng đối với máy điện thoại cầm tay,
băng tần 3,1kHz". Mô hình E được đưa ra lần đầu tiên trong báo cáo ETR 250 [1] của
ETSI vào năm 1996. Nhóm Study Group 12 (SG12) của ITU-T đã nghiên cứu và mở
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 81
Đồ án tốt nghiệp
rộng mô hình, đến tháng 12/1998 ITU-T phê chuẩn mô hình E thành khuyến nghị
G.107 mang tên: mô hình E, một mô hình tính toán sử dụng trong việc lập kế hoạch
truyền dẫn.
Trước khi xuất hiện mô hình E đã có 4 mô hình tính toán khác nhau để dự đoán
chất lượng truyền dẫn từ các phép đo khách quan. Các mô hình đó là [4]:
• Mô hình "Transmission Rating " xuất phát từ Mỹ và Canada
• Mô hình "CATNAP83" của Bristish Telecom
• Mô hình "Information Index" của Pháp
• Mô hình "OPINE" của nhóm NTT, Nhật Bản
Bốn mô hình này đã được tổng hợp thành cơ chế :"Transmission Quality
Index" . Các mô hình đều mang tính đơn giản hoá và chỉ có một số tham số giới hạn.
Trong đó, suy hao và nhiễu là những yếu tố quan trọng, ngoài ra không chú ý tới ảnh
hưởng của bộ mã hoá tốc độ thấp. Do ra đời trước khi xuất hiện thị trường viễn thông
không theo quy tắc cũ, khi mà các nhà quản trị viễn thông có thể điều khiển mạng của
họ trong từng chi tiết mang tính kĩ thuật lớn, nên các mô hình này không phù hợp với
các mạng hiện đại. Mô hình E được phát triển hoàn thiện hơn. Cũng sử dụng những
thuật toán và khái niệm trong các mô hình trước, song mô hình E quan tâm nhiều tới
trễ, tiếng vọng, quá trình xử lý tín hiệu số thay vì suy hao và nhiễu như các mô hình
trước đây, do đó rất phù hợp với mạng viễn thông hiện đại.
Mô hình E đánh giá chất lượng truyền dẫn thoại theo tham số truyền dẫn đầu ra
R. Tham số R được tính toán dựa vào tất cả các yếu tố gây suy hao trên đường truyền.
Từ giá trị R có thể dự đoán mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ trong mạng
hoặc chuyển đổi sang một số giá trị tương đương khác đã được sử dụng trước đó như
MOS, GoB, POW.
Với thuật toán tính toán dựa trên các suy hao trên toàn bộ kết nối, mô hình E đã
đánh giá được một cách toàn diện hiệu năng của mạng, tổng hợp tất cả các yếu tố có
thể ảnh hưởng đến chất lượng thoại mà không chỉ chú ý tới một tham số riêng lẻ nào.
Do đó mô hình E đặc biệt thích hợp cho công việc lập kế hoạch truyền dẫn. Công việc
này được tiến hành bởi các nhà thiết kế mạng để lập ra một mô hình mạng mới hoặc
nâng cấp các mạng cũ. Khi đó mô hình E được sử dụng để dự đoán mức độ hài lòng
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 82
Đồ án tốt nghiệp
của người dùng đối với các dịch vụ do mạng cung cấp trước khi triển khai dịch vụ đó
trên thị trường. Từ đó có thể điều chỉnh thiết bị để cho chất lượng truyền dẫn tốt nhất.
Cùng với sự ra đời của mô hình E trong khuyến nghị ITU-T G.107 là một loạt
các khuyến nghị khác có liên quan như G.108: hướng dẫn về mô hình E và việc lập kế
hoạch mạng, G.109: Định nghĩa chất lượng truyền dẫn thoại, G.113: Chi tiết về các
tham số truyền dẫn… Việc sử dụng mô hình E là cần thiết để thiết kế lập kế hoạch
mạng. Các phương pháp đánh giá chất lượng truyền dẫn thoại truyền thống như phương
pháp đánh giá chủ quan theo MOS không xét đến ảnh hưởng của các yếu tố gây suy
hao chính trong mạng như trễ, tổn hao gói… Mô hình E được đánh giá là một công cụ
phù hợp nhất trong việc tính toán tham số truyền dẫn để đánh giá chất lượng truyền dẫn
thoại.
Mô hình E ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trên thế giới, đồng thời việc
nghiên cứu và phát triển mô hình vẫn đang được tiến hành. Các phiên bản mới của nó
đã được đưa ra để khắc phục một số nhược điểm như phiên bản vào tháng 5/2000,
phiên bản mới nhất vào năm 2001. Hiện nay, mô hình E vẫn đang được nghiên cứu sâu
hơn để có thể áp dụng phổ biến trong mạng.
4.2 Cấu trúc và thuật toán mô hình E
Nguyên tắc cơ bản của mô hình E dựa trên một cấu hình tham khảo về kết nối
điện thoại từ đầu cuối đến đầu cuối (end-to-end), trong đó xuất hiện tất cả các tham số
truyền dẫn ảnh hưởng đến chất lượng thoại thu được.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 83
Đồ án tốt nghiệp

Hình 4.1 Cấu hình tham khảo của mô hình E.
Cấu hình tham khảo của mô hình E như trong hình 4.1, trong đó chia kết nối
end-to-end thành phía gửi và phía nhận bằng một trung tâm ảo gọi là điểm 0dBr. Mô
hình sẽ đánh giá chất lượng thoại thu được tại phía nhận, tức là phía người nghe trong
một cuộc gọi. Đây cũng là phía phải chịu ảnh hưởng của các loại suy hao trong khi nói
như sidetone, nhiễu phòng, tiếng vọng. Cấu hình tham khảo này gồm một mạch vòng 4
dây để có thể nhận biết được các suy hao do tiếng vọng bộ nói, tiếng vọng bộ nghe.
Tham số của mạch vòng gồm có WEPL, Tr. Các tham số SLR, RLR, và Nc được xác
định tại điểm 0dBr. Nhiễu phòng P và hệ số D được phân biệt ở phía gửi và phía nhận.
Do chất lượng thoại được đánh giá tại phía nhận nên để tính đến ảnh hưởng của các
loại suy hao đến phía nhận, một số tham số liên quan được xem xét tại phía nhận như
STMR, LSTR và TELR. Tất cả các tham số đầu vào khác được xác định giá trị cho
toàn bộ kết nối. Hình 3.7 chỉ rõ các tham số đầu vào này. Phần dưới đây sẽ giải thích ý
nghĩa của từng tham số.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 84
Đồ án tốt nghiệp
Các thuật ngữ và tham số sử dụng trong mô hình E đã được định nghĩa trong
một số khuyến nghị loại P và loại G có liên quan đến truyền dẫn của ITU-T. Trong đó
[4]:
• OLR (Overall Loudness Rating): Trong việc lập kế hoạch truyền
dẫn, Loudness Rating là một phép đo để xác định suy hao cường độ, hay
còn gọi là suy hao điện-âm (electro-acoustic loss) giữa hai giao diện nào
đó trong mạng (được tính bằng đơn vị dB). Nếu kênh truyền dẫn chia
thành nhiều đoạn thì LR của toàn mạch sẽ bằng tổng các LR thành phần.
Trong mô hình E, OLR là suy hao cường độ giữa miệng thuê bao nói và
tai thuê bao nghe trong kết nối.
• SLR (Send Loudness Rating): Là suy hao cường độ giữa miệng
thuê bao nói và điểm 0dBr.
• RLR (Receive Loudness Rating): Là suy hao cường độ giữa điểm
0dBr và tai của thuê bao nghe.
• TELR (Talker Echo Loudness Rating): Là suy hao tín hiệu thoại
vọng của người nói đến chính tai họ sau khi bị trễ qua mạng.
• STMR (Talker’s Sidetone, Sidetone Masking Rating): Là suy hao
cường độ tín hiệu từ miệng người nói đến chính tai họ qua đường
sidetone điện.
• LSTR (Listener’s Sidetone Rating): Là suy hao cường độ của
nhiễu phòng đến tại thuê bao thông qua đường sidetone điện.
• Factor (D ): Hệ số D là sự chênh lệch độ nhạy (dB) của
microphone giữa âm thanh thoại và các nguồn nhiễu khác (nhiễu phòng),
D = STMR - LSTR. Trong mô hình hệ số D gồm Ds và Dr: là hệ số cho
phía gửi và phía nhận.
• WEPL (Weighted Echo Pass Loss): Sự chênh lệch tổn hao cường
độ âm lượng giữa tín hiệu âm thanh thoại trực tiếp của người nói và tín
hiệu thoại vọng mà người nghe nhận được.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 85
Đồ án tốt nghiệp
• qdu (Quantizing Distortion Unit): Là đơn vị nhiễu lượng tử, nhiễu
này sinh ra do quá trình mã hoá và giải mã PCM và ngược lại. Mỗi lần
mã hoá đầy đủ từ tương tự sang số và ngược lại được coi là một qdu.
• Ie (Impairment equipment): Là tham số suy hao thiết bị, tham số
đặc trưng cho suy hao do quá trình xử lý số gây ra, như các bộ mã hoá tốc
độ thấp.
• A (Advantage factor): Là hệ số tích cực
• T (Mean one-way delay): Là trễ một chiều giữa phía nhận và một
điểm trong kết nối mà tại đó xảy ra ghép tín hiệu gây ra tiếng vọng (như
tại bộ hybrid).
• Tr (Round-Trip Delay): Là trễ vòng tròn chỉ xuất hiện trong mạch
vòng 4 dây, tại đó xảy ra sự "phản xạ kép" gây ra các suy hao do tiếng
vọng bộ nói.
• Ta (Absolute delay): Là trễ tuyệt đối, biểu thị tổng trễ một chiều
giữa phía gửi và phía nhận.
• Ps, Pr (Room Noise) : Là nhiễu phòng tại phía gửi và phía nhận.
• Nc (Circuit Noise): Là nhiễu mạch được tính tại điểm 0dBr.
Một số khái niệm khác có liên quan:
+ dBm: Là cường độ, hay mức của tín hiệu điện được tính theo 20lgP (dBm) với
R
U
P ·
, trong đó U là giá trị hiệu dụng của điện thế tín hiệu [đơn vị là V], R là trở
kháng đầu cuối [kOhm].
+ dBmp: Là giá trị dBm được tính để phù hợp với đặc tính tai nghe của con
người cũng như độ nhạy thu của handset (được gọi là yếu tố “psophometrically”-gọi là
yếu tố p).
+ dBr, “0 dBr point”(điểm 0dBr): Điểm 0dBr là điểm mà tại đó mức tín hiệu
được coi là chuẩn và có giá trị là 0 dBm. Tại các điểm khác trong mạng, mức tín hiệu
được coi là có giá trị tương đối, tính bằng dBr (chữ r là relative). Trong các mạng hỗn
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 86
Đồ án tốt nghiệp
hợp, điểm 0 dBr được xác định tại giao diện giữa hai mạng. Như vậy, với SLR và RLR
được tính cho điểm 0 dBr thì OLR là tổng của hai giá trị: OLR = SLR + RLR
+ dBm0, dBm0p: Là mức tín hiệu thực tế có tính đến và không tính đến yếu tố p
khi đi qua điểm 0dBr.
4.2.1 Tính toán giá trị truyền dẫn R
Nguyên tắc cơ bản của mô hình E dựa trên khái niệm được thiết lập hơn 20 năm
trước đây của J.Allnatt và đã được sử dụng trong mô hình OPINE của NTT, đó là [2]:
“Các yếu tố tâm lý trên cán cân tâm lý mang tính cộng ”
Mô hình E là một mở rộng của mô hình "Transmission Rating" của Mỹ và
Canada. Nó cũng đánh giá chất lượng truyền dẫn bằng tham số R, song có sự khác biệt
trong cấu trúc toán học và bao gồm các đặc tính từ nhiều mô hình khác nhau.
Kết quả đầu ra của quá trình tính toán là hệ số đánh giá truyền dẫn R. Đây là
tham số kết hợp ảnh hưởng của tất cả các tham số truyền dẫn liên quan trong kết nối.
Giá trị R được tính theo công thức sau:
A Ie Id Is Ro R + − − − · (4.1)
Trong đó:
• R
0
là tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu, nhiễu bao gồm các nguồn nhiễu mạch và
nhiễu phòng.
• Is (synchronous): bao gồm tất cả các suy hao xuất hiện gần như đồng thời
với tín hiệu thoại.
• Id (delay): là suy hao gây ra bởi trễ.
• Ie (equipment): là hệ số suy hao thiết bị, chính là các suy hao do codec
tốc độ thấp gây ra.
• A (advantage): là hệ số tích cực để bù vào các suy hao khác khi có những
tiến bộ của thiết bị truy nhập của người sử dụng.
Các giá trị R
0
, Is, Id trong mô hình E được chia nhỏ thành nhiều giá trị suy hao
khác nhau, được trình bày trong các phần dưới đây:
4.2.2 Tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu R
0
Tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu R
0
được xác định theo công thức sau:
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 87
Đồ án tốt nghiệp

) ( 5 . 1 15
0 0
N SLR R + − ·
(4.2)
+ SLR được tính tại điểm 0dBr trên đường truyền dẫn.
+ N
0
[dBmop] thể hiện tổng các nguồn nhiễu khác nhau, được tính theo công
thức sau:

1
]
1

¸

+ + + ·
10 10 10 10
10 10 10 10 lg 10
Nfo Nor Nos Nc
No
(4.3)
Trong đó:
+ Nc

[dBm0p]: là tổng của tất cả các nguồn nhiễu mạch khác nhau được xét tại
điểm 0dBm.
+ Nos [dBm0p]: là nhiễu mạch tương đương ở điểm 0 dBr, gây ra bởi nhiễu
phòng Ps ở phía gửi và được tính toán như sau:

2
) 14 ( 004 , 0 100 − − − + − − − · Ds OLR Ps Ds SLR Ps Nos (4.4)
Với: OLR · SLR + RLR.
+ Nor: là nhiễu mạch tương đương ở điểm 0 dBr, gây ra bởi nhiễu phòng Pt ở
phía thu:

2
) 35 (Pr 008 . 0 Pr 121 − + + − · e e RLR Nor (4.5)
Với Pre là nhiễu phòng hiệu dụng gây ra bởi vịêc nâng cấp Pr trong đường
sidetone người nói.
1
]
1

¸

+ + ·
10
) – 10 (
10 1 lg 10
LSTR
Pr Pre
(4.6)
+ Nfo [dBm0p] là nhiễu nền ở phía nhận:

RLR Nfor Nfo + ·
(4.7)
Với Nfor được đặt bằng: −64 dBmp.
4.2.3 Tham số suy hao Is
Tham số Is là tổng tất cả các suy hao xuất hiện gần như đồng thời với quá trình
truyền dẫn tín hiệu thoại như sidetone hoặc nhiễu lượng tử trong quá trình điều chế
xung mã. Tham số này được chia nhỏ thành 3 tham số suy hao theo công thức:

Iq Ist Iolr Is + + ·
(4.8)
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 88
Đồ án tốt nghiệp
Trong đó Iolr thể hiện sự giảm chất lượng do giá trị OLR quá thấp và được tính
theo công thức sau:

1
1
1
]
1

¸

¹
¹
¹
;
¹
¹
¹
¹
'
¹

,
_

¸
¸
+ ·
8

8
1 20
8
1
8
X X
Iolr
(4.9)
Với
X OLR No RLR · + + − 0 2 64 . ( )
(4.10)
Tham số Ist thể hiện suy hao do sidetone không tối ưu:

Ist
STMRo STMRo
· +
¸
¸

_
,

¸

1
]
1
1
+
¸
¸

_
,

¸

1
]
1
1
+ 10 1
12
5
46 1
23
36
6
1
6
10
1
10


(4.11)
Với:

1
]
1

¸

+ − ·
− − −
10 4 10
10 10 lg 10
TELR T STMR
e STMRo
(4.12)
Tham số Iq thể hiện những suy hao do méo lượng tử gây ra:
[ ]
Y
Iq 10 1 lg 15 + · (4.13)
Trong đó
10
46
15
100 G R
Y
o

+

· (4.14)

2
0602 . 0 258 . 0 07 . 1 Q Q G + + · (4.15)

) qdu lg( 15 37 − · Q
(4.16)
Trong công thức này qdu là số lượng qdu trong toàn bộ kết nối giữa phía gửi và
phía nhận.
4.2.4 Tham số suy hao liên quan đến trễ Id
Hệ số Id thể hiện toàn bộ suy hao do trễ của tín hiệu thoại, như tiếng vọng người
nói, tiếng vọng người nghe hay trễ quá lớn. Id được tạo thành từ 3 tham số là Idte, Idle,
Idd:
Id Idte Idle Idd · + + (4.17)
Tham số Idte là suy hao do tiếng vọng bộ nói (Talker Echo) gây ra:

( )
T
Re Roe Re Roe
Idte

2
e – 1 1 – 100
4
) – (
2

1
1
]
1

¸

+ + ·
(4.18)
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 89
Đồ án tốt nghiệp
Với:
) ( 5 . 1 RLR No Roe − − ·
(4.19)

) 14 ( 5 . 2 80 Re − + · TERV
(4.20)

2
3 . 0
6
150
1
10
1
lg 40
T
e
T
T
TELR TERV

+
+
+
− ·
(4.21)
Khi T < 1 ms, tiếng vọng bộ nói nên được coi như sidetone, tức là Idte · 0.
Ngoài ra thuật toán tính toán này cũng xét ảnh hưởng của STMR đến tiếng vọng bộ nói.
Nếu như giá trị STMR thấp thì có thể có một số ảnh hưởng không rõ ràng (bị che khuất)
đến tiếng vọng người nói, còn đối với STMR quá cao thì tiếng vọng bộ nói có thể đáng
chú ý hơn. Các giá trị TERV và Idte được điều chỉnh như sau:
Khi STMR < 9 dB: trong phương trình (2.21), TERV được thay bằng TERVs theo
công thức:

2
Ist
TERV TERVs + ·
(4.22)
Khi 9 dB ≤ STMR ≤ 15 dB sử dụng các công thức từ (2.18) đến (2.21)
Khi STMR > 15 dB, Idte được thay thế bởi Idtes, với:

2 2
Ist Idte Idtes + ·
(4.23)
Tham số Idle thể hiện các suy hao do tiếng vọng bộ nghe tạo ra, công thức tính
như sau:
169
4
) (
2
2
+

+

·
Rle Ro Rle Ro
Idle (4.24)
Với: Rle WEPL Tr · + + 105 7 1
25
. ( )( )
–0.
(4.25)
Tham số Idd thể hiện suy hao do trễ tuyệt đối Ta quá dài gây ra, tồn tại ngay cả
khi có điều khiển tiếng vọng hoàn hảo.
Với Ta < 100 ms:
0 · Idd
Với Ta > 100 ms:

( )
¹
¹
¹
;
¹
¹
¹
¹
'
¹
+

,
_

¸
¸
1
]
1

¸

+ − + · 2
3
1 3 1 25
6
1
6
6
1
6
X
X Idd
(4.26)
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 90
Đồ án tốt nghiệp
Trong đó:
X
Ta
·
¸
¸

_
,
lg
lg
100
2
(4.27)
4.2.5 Tham số suy hao thiết bị Ie
Tham số suy hao thiết bị Ie thể hiện các suy hao truyền dẫn gây ra bởi các thiết
bị đặc biệt như bộ mã hoá tốc độ bit thấp, hay thiết bị ghép kênh số: DCME (Digital
Circuit Multiplication Equipment). Thông thường tham số này được tính dựa vào chất
lượng của các bộ mã hoá tốc độ thấp và không liên quan đến các tham số đầu vào khác.
Chúng phụ thuộc vào kết quả thử nghiệm chủ quan là điểm số ý kiến bình quân của
khách hàng (MOS) cũng như kinh nghiệm mạng lưới. Giá trị Ie được cho trong phụ lục
I khuyến nghị G.113.
4.2.6 Tham số tích cực A (Advantage factor)
Tham số A là một khái niệm hoàn toàn mới và chưa được sử dụng trong các mô
hình tính toán trước đây. Nó có một ý nghĩa đặc biệt không liên quan đến các tham số
truyền dẫn khác. Tham số đã thể hiện ưu điểm của việc truy nhập mà một hệ thống nào
đó có thể có được để truyền thông. Vì khái niệm "chất lượng cao" liên quan đến sự
mong đợi của khách hàng được đáp ứng như thế nào. Do đó, chất lượng truyền dẫn của
toàn bộ kết nối do người dùng nhận biết được còn chịu ảnh hưởng bởi việc thiết lập kết
nối là dễ hay khó. Trong một số hoàn cảnh cụ thể, hệ thống không dây có ưu điểm hơn
so với hệ thống có dây khi cần thiết lập kết nối. Và các ưu điểm này có thể đền bù được
các ảnh hưởng chủ quan của một số sai sót do truyền dẫn thoại. Ví dụ như các kết nối
điện thoại di động hay các kết nối qua vệ tinh tới các vùng xa mà con người khó có thể
tới được, khi đó lắp đặt bằng hệ thống có dây sẽ là rất khó khăn. Tham số A phản ánh
các ưu điểm này và được tính vào chất lượng thoại toàn tuyến. Các giá trị của tham số
A được cho trong khuyến nghị G.133 như bảng 4.1.
Chú ý : Việc sử dụng tham số A và lựa chọn giá trị của nó trong một ứng dụng
nào đó là do nhà lập kế hoạch quyết định. Tuy nhiên các giá trị trong bảng 4.1 nên được
xem xét như là giới hạn trên.

Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 91
Đồ án tốt nghiệp
Bảng 4.1: Tham số ưu tiên A.
Hệ thống truyền thông Giá trị cực đại của A
Thông thường (có dây) 0
Di động trong một toà nhà với mạng tế bào 5
Di động trong vùng địa lý hoặc đang di chuyển
trong một phương tiện giao thông.
10
Truy nhập tới các vị trí khó đạt đến được ví dụ
như kết nối vệ tinh.
20
4.2.7 Các giá trị mặc định
Tất cả các giá trị đầu vào sử dụng trong mô hình E đều được lập ở giá trị mặc
định như chỉ ra trong bảng 4.2. Các giá trị mặc định này được khuyến nghị sử dụng cho
những tham số không thay đổi trong quá trình tính toán lập kế hoạch. Nếu tất cả các
tham số đều được đặt ở giá trị mặc định thì kết quả tham số R sẽ rất cao, xấp xỉ là
94.2.
Bảng 4.2: Các giá trị mặc định và khoảng cho phép của các tham số.
Tham số Viết
tắt
Đơn
vị
Gt
mặc
định
Khoảng
cho phép
Chú ý
Sending Loudness Rating SLR dB +8 0 ... +18 Chú ý 1
Receiving Loudness Rating RLR dB +2
−5 ... +14
Chú ý
1
Sidetone Masking Rating STM
R
dB 15 10 ... 20 Chú ý 2
Listener Sidetone Rating LSTR dB 18 13 ... 23 Chú ý 2
D-Value of Telephone, Send
Side
Ds – 3 –3 ... +3 Chú ý 2
D-Value of Telephone Receive
Side
Dr – 3
−3 ... +3
Chú ý 2
Talker Echo Loudness Rating TELR dB 65 5 ... 65
Weighted Echo Path Loss WEP
L
dB 110 5 ... 110
Mean one-way Delay of the T msec 0 0 ... 500
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 92
Đồ án tốt nghiệp
Echo Path
Round Trip Delay in a 4-wire
Loop
Tr msec 0 0 ... 1000
Absolute Delay in echo-free
Connections
Ta msec 0 0 ... 500
Number of Quantization
Distortion Units
qdu – 1 1 ... 14
Equipment Impairment Factor Ie – 0 0 ... 40
Circuit Noise referred to 0 dBr-
point
Nc dBm0
p
−70 −80 ... −40
Noise Floor at the Receive Side Nfor dBmp
−64
– Chú ý 3
Room Noise at the Send Side Ps dB(A) 35 35 ... 85
Room Noise at the Receive Side Pr dB(A) 35 35 ... 85
Expectation Factor A – 0 0 ... 20
Chú ý 1: Giá trị tổng giữa microphone hoặc máy thu và điểm 0 dBr
Chú ý 2: Biểu thức liên hệ : LSTR = STMR + D.
Chú ý 3: Hiện đang được nghiên cứu.
4.3 Kết quả đánh giá chất lượng truyền dẫn theo mô hình E
Tham số đầu ra mô hình E là tham số R. Theo kết quả tính toán, giá trị R nằm
trong dải từ 0 đến 100. Trong đó R = 0 thể hiện chất lượng rất thấp và R = 100 thể hiện
chất lượng rất tốt. Dựa vào tham số R, ta có thể đánh giá chất lượng truyền dẫn thoại.
Khuyến nghị ITU-T G.109 [3] đã định nghĩa các loại chất lượng truyền dẫn thoại ứng
với các mức độ hài lòng của người sử dụng (User satisfaction) theo tham số R như bảng
4.3.
Như vậy, ứng với R từ 50 đến 100 có 5 loại chất lượng thoại, với R nhỏ hơn 50
thì không được khuyến nghị sử dụng trong mạng.
Ngoài ra, giá trị R có thể chuyển đổi sang các thông số đánh giá chất lượng khác
như: GoB (Good or Better: tốt hoặc tốt hơn), PoW (Poor or Worse: Tồi hay tồi hơn).
Công thức chuyển đổi giữa các thông số dựa vào hàm Gauss như sau:


∞ −

·
x t
dt e x E
2
2
2
1
) (
π
(4.28)
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 93
Đồ án tốt nghiệp
%
16
60
100

,
_

¸
¸ −
·
R
E GoB
(4.29)
%
16
45
100

,
_

¸
¸ −
·
R
E PoW
(4.30)
Thông số MOS (Mean Opion Score: điểm số ý kiến bình quân khách hàng) cũng
có thể đạt được từ tham số R theo các công thức sau:
R<0: MOS = 1
0 < R < 100 : MOS = 1+ 0,035R +R(R-60)(100-R).7.10
-6
(4.31)
R > 100 : MOS = 4,5
Bảng 4.3: Định nghĩa các loại chất lượng truyền dẫn thoại.
Giá trị R Loại chất lượng truyền dẫn
thoại
Mức độ hài lòng của người sử dụng
90 ≤ R < 100
Best Rất hài lòng
80 ≤ R < 90 High Hài lòng
70 ≤ R < 80 Medium Một số người không hài lòng
60 ≤ R < 70
Low Nhiều người không hài lòng
50 ≤ R < 60
Poor Hầu như tất cả không hài lòng
Chú ý: Với giá trị R nhỏ hơn 50 không được khuyến nghị
Hình 4.2 thể hiện hàm số phụ thuộc GoB, PoW vào tham số R. Theo kết quả
trong hình thì khi R tăng GoB tăng rất nhanh, PoW giảm [2].
Hình 4.3 thể hiện hàm số phụ thuộc MOS vào tham số R. Bad, poor, fair, good,
excellent là 5 mức của MOS ứng với các thang điểm từ 1 đến 5.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 94
Đồ án tốt nghiệp
T1207870-96
POW
GOB
99
98
95
90
80
70
60
50
40
30
20
10
5
2
1
0 20 40 60 80 100 R
%
Hình 4.2 GoB và PoW là một hàm số của R.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 95
Đồ án tốt nghiệp
T1207880-96
0 20 40 60 80 100 R
MOS
Excellent 5
Good 4
Fair 3
Poor 2
Bad 1
Hình 4.3 MOS là một hàm số của R.
Trong một số trường hợp, người lập kế hoạch truyền dẫn có thể không quen sử
dụng tham số R để đánh giá chất lượng truyền dẫn. Khi đó họ có thể sử dụng một trong
các tham số trên dựa vào hình 4.4. Hình 4.4 nêu ra các mức tương ứng của các tham số
đầu ra mô hình E và các loại chất lượng thoại được khuyến nghị. Chú ý là với R nhỏ
hơn 50 là vùng không được khuyến nghị cho chất lượng truyền dẫn thoại.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 96
Đồ án tốt nghiệp
Hình 4.4 Mối quan hệ giữa tham số đầu ra của mô hình E và các loại chất lượng
truyền dẫn thoại.
4.4 Một số phưong pháp cải thiện QoS trong mạng VoIP
Do đặc điểm của loại hình dịch vụ lưu lượng thoại IP cần được hỗ trợ các biện
pháp tăng cường mức QoS để đảm bảo việc thoả mãn cho các yêu cầu từ phía người sử
dụng. Có nhiều phương pháp hỗ ttrợ chất lượng dịch vụ trong mạng VoIP.
Ngoài các biện pháp từ phía người sử dụng như tăng cường độ thông minh của
các thiết bị đầu cuối, sử dụng dịch vụ vào những thời điểm hợp lý thì về phía mạng
người ta khuyến nghị sử dụng một số phương pháp.
4.4.1 Tốc độ truy nhập cam kết (CAR: Committed Access Rate)
Phương pháp này là một chức năng của “bộ định tuyến chuyển mạch” của
Cisco. Cách tiếp cận đặc trưng của nhà cung cấp thiết bị được đưa ra ở đây không có
nhiều giới hạn như cảm giác đầu tiên, bởi phần lớn các bộ định tuyến trên mạng đều là
của Cisco.
Tuy nhiên, không phải tất cả các bộ định tuyến của Cisco đều có thể chạy trên
CAR. CAR giới hạn lượng băng thông sử dụng trên một liên kết cho bất kỳ ứng dụng
nào. Theo đó trên một liên kết T1, CAR có thể giới hạn truy cập WEB vào 50% của
lượng này, để 50% cho các ứng dụng khác như thoại. CAR không thêm QoS nhiều như
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 97
Đồ án tốt nghiệp
giới hạn cạnh tranh cho băng thông. CAR có thể được bổ sung vào một bộ định tuyến
truy nhập và cải thiện đáng kể hoạt động của mạng thạm chí trong trường hợp các bộ
định tuyến khác không biết chút gì về hoạt động của CAR.
4.4.2 Xếp hàng trên cơ sở lớp (CBQ: Class- Based Queuing)
Phương pháp này là một kế hoạt công cộng- vùng được Network Research
Group tại Lawrence Berkeley National Laboratory đề xuất. Theo đó mọi người được tự
do thực hiện công nghệ quản lý lưu lượng này. CBQ nằm ở lớp 3 của bộ định tuyến kết
nối truy nhập của mạng LAN và mạng WAN. CBQ chia lưu lượng của tất cả người sử
dụng ra thành các loại và ấn định băng thông cho từng loại. Các lớp có thể là các luồng
riêng biệt các gói tin hay đại diện cho một loạt tổng thể của ứng dụng, người sử dụng
hay máy chủ. Bản thân các lớp có thể được xác định bằng cách kết hợp địa chỉ IP, các
giao thức như TCP hay UDP và các cổng đại diện tương ứng cho các ứng dụng như
truyền tập tin, truy nhập WEB… CBQ có thể làm giảm bớt hiệu ứng cổ chai giữa LAN
và WAN, điều này rất linh động và không yêu cầu những thay đổi lớn với hạ tầng
internet.
4.4.3 Lớp dịch vụ (CoS: Class of Service)
Trong phần này, lớp dịch vụ có ý nghĩa là một nhám của một hay nhiều giá trị
của các thông số QoS đại diện cho một loại ứng dụng trọn vẹn. Tuy nhiên, CoS cũng là
một khái niệm LAN mới được định nghĩa trong tiêu chuẩn IEEE 802.1p. Tiêu chuẩn
này được sử dụng để tạo ra mạng LAN ảo có thể mở rộng các vùng kết nối trong một
WAN song hoạt động lại như một mạng LAN đơn lẻ. CoS sử dụng 3 bit trong phần tiêu
đề của một khung LAN. Các mức CoS có thể ánh xạ vào các mức điều khiển dịch vụ
(ToS) cảu IP hay được hỗ trợ trong các bộ định tuyến với một số cơ chế khác.
4.4.4 Các dịch vụ phân biệt (Diffserv)
DiffServ (Differentiated Service) được thiết kế để gộp tất cả các luồng có cùng
yêu cầu dịch vụ vào nhau. Ví dụ: RSVP sẽ dự trữ độ rộng băng thông cho một cuộc gọi
VoIP riêng trong khi DiffServ lại nhóm tất cả lưu lượng VoIP vào một luồng. Luồng
kết hợp này nhận loại chất lượng dịch vụ tuỳ theo ưu tiên ứng dụng.
Khi cơ cấu QoS như DiffServ được sử dụng, nó sẽ hoàn chỉnh tính linh hoạt
trong việc định nghĩa loại dịch vụ mà có thể được cấp trong mạng hội nhập thoại và dữ
liệu. Nó có nghĩa là hệ thống quản lý mạng cấp truy nhập tới các cơ cấu cho phép
người sử dụng cuối tạo ra các lớp dịch vụ tuỳ chọn cho mỗi ứng dụng.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 98
Đồ án tốt nghiệp
Kỹ thuật này là một kỹ thuật gắn bó chặt chẽ với VoIP và điện thoại Internet và
đã được công bố rộng rãi. DiffServ định nghĩa lại 6 trong số 8 bit trong trường ToS của
phần mào đầu trong gói IP cho phép các bit ToS được sử dụng để phân biệt các ứng
dụng. 6 bit này tổ hợp ra 64 lớp dịch vụ, nó đại diện cho các loại ứng dụng khác nhau
và sẽ được chuẩn hoá giữa tất cả các ISP và cả bộ định tuyến. Chuẩn DiffServ rất hấp
dẫn, nhưng tất nhiên là tất cả các bộ định tuyến phải hiểu và tuân theo các loại QoS của
DiffServ. DiffServ không có các đảm bảo thực hiện QoS hoàn toàn. Ví dụ, DiffServ tốt
nhất có thể làm cho VoIP là đảm bảo rằng các gói thoại được xếp hàng đầu tiên tới
cổng ra.
4.4.5 Quyền ưu tiên IP
Một trong những vấn đề với QoS trên Internet là thường xuyên có nhiều ISP chỉ
quan tâm đến truyền gói IP từ nơi này đến nơi kia. Một ISP thường không có một chút
ý niệm nào rằng lưu lượng nào là quan trọng khi nó đến từ một ISP khác. Quyền ưu
tiên IP cho phép 3 bit trong truờng ToS cảu phần mào đầu IP được đặt với giá trị từ 0
đến 7. Khoảng này xác định quyền ưu tiên của các gói tin khi nó chuyển từ ISP này tới
ISP khác, với 7 là quyền ưu tiên cao nhất. Theo đó, ISP tiếp theo có thể xử lý gói với
quyền ưu tiên đã được cho biết. Phương pháp này xung đột với phương pháp Diffserv
do trường ToS khác nhau và đòi hỏi tất cả các ISP phải hiểu cách sử dụng các bit này.
4.4.6 Chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS (MPLS: MultiProtocol Label
Switching)
Phương pháp này cũng là một chuẩn của IETF, nhưng nó có thể hoạt động dễ
dàng với cách tiếp cận DiffServ. DiffServ đặt ra một cơ chế để nhận biết CoS của IP
nhưng để lại một khoảng hoạt động lại cho nhà cung cấp dịch vụ. MPLS cung cấp một
cơ chế như vậy bằng cách yêu cầu bộ định tuyến trở thành các bộ chuyển mạch lớp 3.
Có nhiều cách để biến một bộ định tuyến thành một bộ chuyển mạch lớp 3, và một cách
trong số đó là gắn bộ định tuyến vào một mạng ATM và biến đổi một cách hiệu quả bộ
định tuyến thành chuyển mạch ATM. Trên cơ sở một phương pháp của Cisco gọi là
chuyển mạch cờ, MPLS đòi hỏi các ISP xây dựng một cơ sở hạ tầng MPLS mới để xử
lý các nhãn và do đó giữ được tất cả các đặc trưng của một bộ định tuyến IP và bộ
chuyển mạch ATM trên thiết bị. MPLS sẽ giải quyết được vấn đề riêng tư và khả năng
mở rộng cũng như sử dụng kênh ảo và các bộ xử lý gói.
4.4.7 Xếp hàng theo VC
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 99
Đồ án tốt nghiệp
Các bộ định tuyến thường được kết nối bởi các mạng kênh ảo (VC) như là
Frame relay hay ATM. Nhiều nhà cung cấp thiết bị chuyển mạch Frame relay và ATM
sử dụng một bộ đệm đầu ra đơn cho tất cả lưu lượng cho cùng một cổng ra. Xếp hàng
theo VC sử dụng các bộ đệm riêng cho các kênh ảo. Mỗi bộ đệm có thể được cấp cho
một mức ưu tiên, do đó các kênh thoại ví dụ có thể có được quyền ưu tiên hơn các kênh
ảo mang dữ liệu. Phương pháp này không thiết lập một quan hệ chắc chắn giữa các lưu
lượng IP và bản thân các số lượng kênh ảo, do đó mức ưu tiên lưu lượng cần phải được
xác định bởi các cơ chế khác.
4.4.8 Định tuyến theo chính sách
Đây là một khái niệm đã được đề cập đến trong một khoảng thời gian và cũng
đã được xây dựng thành các giao thức định tuyến như giao thức tìm đường ngắn nhất
(OSPF). Người quản lý mạng phải quyết định chọn lựa một hoặc nhiều chính sách để
áp dụng khi các bộ định tuyến xây dựng các bảng định tuyến cho chúng. Lấy một ví dụ,
bảo mật có thể là một chính sách định tuyến có thể được sử dụng để chỉ dẫn bộ định
tuyến chọn tuyến đường bảo mật nhất đầu tiên (ví dụ như là liên kết có sử dụng mã
hoá) và đặt tuyến đường ít bảo mật nhất làm lựa chọn cuối cùng (như các liên kết trên
viba hay các phương tiện quảng bá khác). Mỗi một chính sách yêu cầu một bảng định
tuyến riêng và được duy trì bởi mỗi bộ định tuyến. Thường thì trường ToS trong phần
mào đầu IP được sử dụng để quyết định bảng định tuyến được sử dụng cho một gói cụ
thể. Để có hiệu quả, các chính sách phải được ứng dụng phù hợp trên tất cả các bộ định
tuyến và cùng sử dụng một nguyên tắc.
4.4.9 Các hàng QoS
Cũng được gọi là các hàng lớp dịch vụ (CoS Queues), theo phương pháp này
các nhà cung cấp bộ định tuyến và bộ chuyển mạch thiết lập một số lượng nhỏ các hàng
đợi cho mỗi cổng ra và chia lưu lượng ra vào những hàng đợi trên cơ sở QoS cần thiết.
Đây là một loại “Xếp hàng theo VC không có các VC”. Không có VC để xác định QoS
cần thiết, QoS yêu cầu phải được đặt cho một luồng gói cá biệt bằng một cơ chế khác,
ví dụ dùng trường ToS. ToS này có thể được sử dụng để ánh xạ gói vào một lớp QoS
của một hạ tầng cơ sở mạng ở dưới. Các bộ chuyển mạch ATM thường có bốn hàng
đợi cho lưu lượng ra, nhưng cấp độ của những hàng đợi QoS dành cho chuyển giao gói
IP này là thuộc về tiện ích bị giới hạn, bởi vì tất cả các gói IP có xu hướng rơi vào cùng
một loại QoS của ATM.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 100
Đồ án tốt nghiệp
4.4.10 Loại bỏ sớm ngẫu nhiên (RED)
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc xác xuất chỉ dẫn một bộ định tuyến bắt
đầu bỏ qua gói tin khi vượt ngưỡng xếp hàng đã được thiết lập trước. Ví dụ, một bộ
định tuyến RED có thể bắt đầu ngẫu nhiên bỏ qua các gói khi một bộ đệm ra đạt đến 80
phần trăm dung lượng. Mục đích là ngăn chặn tràn bộ đệm và khả năng bị mất nhiều
gói có mức ưu tiên cao của cùng một nguồn. Theo đó, khi bắt đầu bị nghẽn, thay vì khả
năng bị mất nhiều gói thoại, một bộ định tuyến RED cố gắng làm mất một vài gói từ
nhiều nguồn khác nhau, và chúng có thể có mức ưu tiên thấp hơn. RED có thể kết hợp
với nhiều phương pháp khác và không cần bắt buộc phải được sử dụng trên tất cả các
bộ định tuyến thì mới mang lại hiệu quả cao.
4.4.11 Giao thức dữ trữ tài nguyên (RSVP)
Mục đích chính của RSVP (giao thức dữ trữ tài nguyên) là đảm bảo QoS đầu
cuối-đầu cuối (end-to-end) thông suốt qua mạng bằng cách dữ trữ băng thông cho các
ứng dụng unicast và multicast trên cơ sở các luồng riêng biệt.
Một vài năm trước RSVP là phương pháp dẫn đầu để bổ sung QoS vào một
mạng IP. Một máy chủ IP hỗ trợ RSVP có thể yêu cầu rất rõ ràng các giá trị thông số
QoS (64 kb/s, 100 ms trễ ổn định...) từ mạng, và các bộ định tuyến RSVP có thể cung
cấp QoS cần thiết. Theo đó, các yêu cầu RSVP thay đổi không những trong các bộ định
tuyến mà còn trong tất cả các máy chủ, không giống như hầu hết các phương pháp QoS
khác chỉ cung cấp trong bộ định tuyến. RSVP thực sự dự trữ trước tìa nguyên được yêu
cầu, do đó, ví dụ một liên kết 1,5 Mb/s có thể cung cấp tới 24 yêu cầu 64 kb/s và không
hơn. Trong RSVP thường bên nhận (chủ) là thiết bị yêu cầu QoS, không phải là bên gửi
(khách). Không có cơ chế nào làm cho máy chủ trả lại tài nguyên cho mạng trong bất
kỳ khung thời gian nào, điều này gây ra khó khăn khi đặt tỷ lệ RSVP vào một môi
trường có hàng ngàn máy chủ đang cần băng thông. Hầu hết những điểm quan trọng
của RSVP đã được chuyển vào DiffServ.
4.4.12 Kiểu dịch vụ (ToS: Type of Service)
Tiêu đề IP chứa trường 8 bit gọi là kiểu dịch vụ được sử dụng để ra mức ưu tiên
của gói trong một vài phạm vi QoS. Các nhà cung cấp bộ định tuyến thường bỏ qua
ToS bởi vì phần mềm thực hiện trên máy chủ IP không bao giờ thực sự đặt các bit này.
IP luôn là “cố gắng tối đa”, cho đến khi một số nhà sản xuất bắt đầu sử dụng trường
này cho mục đích riêng của họ. Trường ToS được định nghĩa lại trong DiffServ.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 101
Đồ án tốt nghiệp
4.4.13 Định hình lưu lượng (Traffic Shaping)
Có nhiều bộ định tuyến IP được liên kết với nhau bằng Frame relay và/hoặc
ATM. Với ATM, các gói IP đi vào mạng ATM được định hình tại thiết bị truy nhập để
ngăn chặn một sự bùng nổ lưu lượng do nghẽn mạng xương sống. Định hình bao gồm
chấp nhận bùng nổ từ thiết bị vào, đệm lưu lượng, và sau đó “san bằng” lưu lượng ra
theo kiểu là phân bố bùng nổ trong một khoảng thời gian dài, khoảng thời gian được
đặt trên cơ sở các thông số cấu hình. Bùng nổ lưu lượng quá một giới hạn nhất định thì
sẽ bị thiết bị vào bỏ qua, và giá trị giới hạn vào này cũng dựa trên cấu hình. Trong
mạng Frame relay, định hình lưu lượng là một phần của khái niệm tỉ lệ thông tin cam
kết (CIR: Committed Information Rate) và tỷ lệ thông tin vượt quá (EIR: Excess
Information Rate).
4.4.14 Xếp hàng hợp lý theo trọng số (WFQ: Weighted Fair Queuing)
Phương pháp này cũng có thể kết hợp với các công nghệ khác và thường được
đề cập đến trong các thảo luận về MPLS. WFQ gắn vào băng thông một ứng dụng nhận
trên một liên kết đầu ra. Mỗi luồng gói tin mà WFQ được gắn vào được đệm riêng biệt
và nhận băng thông biến đổi, trên nền tảng trọng số. Ví dụ, 100 gói dữ liệu và 100 gói
thoại có thể đến tại hai cổng trong cùng một khung thời gian và được xếp hàng vào
cùng một cổng ra. Thông thường, các gói sẽ được xếp hàng cùng nhau và được đưa ra
liên tiếp mà không quan tâm đến mức ưu tiên. Tuy nhiên, WFQ sẽ xuất các gói thoại
trước và sau đó là các gói dữ liệu. Phương pháp xếp hàng này là trọng số trong thiên vị
các gói thoại và vẫn hợp lý bởi vì 100 gói dữ liệu vẫn được gửi đi trước bất kỳ một gói
thoại tiếp theo nào.
Mỗi phương pháp đều có những ưu khuyết điểm riêng và đang tiếp tục được
hoàn thiện. Phần tiếp theo đây mô tả chi tiết giao thức dành sẵn tài nguyên RSVP là
một phương pháp đang được sử dụng rộng rãi.
OGW TGW
Call Setup Initiated
SETUP

Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 102
Đồ án tốt nghiệp
CALL PROCEEDING OGWTGW
Reservation Initiated
PATH
OGWTGW
Reservation Initiated PATH
RESV
RESV
OGW Originating Gateway
RESV CONFIRMATION TGW Terminating Gateway
H.323 Call Setup Signating
RSVP Reservation initiated by TGW
ALERTING RSVP Reservation initiated by OGW
CONNECT
Call Connected
Normal Call RELEASE COMPLETE
Disconnect initiated
OGWTGW PATHTEAR
Reservation Teardown OGWTGW
Initiated
PATHTEAR
Reservation Teardown
PATHTEAR initiated
PATHTEAR

Hình 4.5 Thiết lập cuộc gọi cho phép RSVP.
Một phương pháp thường được sử dụng trong các sơ đồ VoIP để bảo đảm chất
lượng dịch vụ trong đó mức yêu cầu về chất lượng dịch vụ phải được đảm bảo. Do đó
các đầu cuối điện thoại IP hay các Gateway thoại cần yêu cầu các trạm chuyển tiếp tín
hiệu thoại trong mạng cần đảm bảo mức tài nguyên end-to-end cho cuộc gọi. Các trạm
cần giám sát trạng thái cuộc gọi để cung cấp nguồn tài nguyên cho các ứng dụng và
cuộc gọi khác. Và nếu đủ tài nguyên dự trữ cho cuộc gọi nó chấp nhận cuộc gọi và đảm
bảo băng tần yêu cầu cho cuộc gọi đó. Phương pháp này gọi là mô hình QoS dịch vụ
tích hợp. Giao thức sử dụng cho mô hình này là giao thức dành sẵn tài nguyên (RSVP).
RSVP có một vài ưu điểm như có thể điều khiển quản lý cuộc gọi. Tuy nhiên, RSVP
cũng có một vài khuyết điểm. Khi VoIP được triển khai ngay lập tức RSVP trở thành
một thành phần chìa khoá cung cấp sự quản lý và QoS cho các luồng thông tin cho
VoIP. Tuy nhiên sự triển khai ban đầu cho VoIP có hai giới hạn. Giới hạn đầu tiên là
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 103
Đồ án tốt nghiệp
chức năng điều khiển xác nhận cuộc gọi (CAC: Call Admission Control) không thể
triển khai cùng với RSVP bởi vì quá trình dành sẵn tài nguyên không đồng bộ với tín
hiệu thoại. Một cuộc gọi vẫn có thể được thực hiện nếu quá trình dành sẵn tài nguyên
bị lỗi hay không thực hiện được. Sử dụng RSVP cho VoIP yêu cầu đồng bộ tín hiệu
thoại với tín hiệu RSVP. Điều này làm cho quá trình quản lý phức tạp thêm một chút.
Sự đồng bộ này đảm bảo rằng phía bị gọi chỉ được thông báo về cuộc gọi khi tài
nguyên đã được thiết lập. Sự đồng bộ này cũng đảm bảo cho thông báo khi tài nguyên
dự trữ không đủ. Giới hạn thứ hai là sự dành sẵn tài nguyên có thể không cung cấp chất
lượng tốt nhất trong suốt thời gian xảy ra tắc nghẽn. RSVP tạo ra một hàng đợi dành
sẵn cho mỗi luồng lưu lượng trong hệ thống và đảm bảo một độ trễ giới hạn. Tuy nhiên
các hàng đợi này trong một số trường hợp không thể cung cấp mức chất lượng dịch vụ
theo yêu cầu. Lợi ích của việc sử dụng RSVP giá thành (quản lý mào đầu và ảnh hưởng
hiệu năng).
Một cuộc gọi phải bắt đầu với 2 sự dành sẵn tài nguyên độc lập bởi RSVP
không cung cấp các dịch vụ quản lý và dự trữ băng tần song hướng. Mỗi GW thoại chịu
trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan cho GW kia và giám sát trạng thái tài nguyên.
Quản lý băng tần cuộc gọi VoIP sẽ không thể thực hiện nếu ít nhất một trong các quá
trình dành sẵn tài nguyên bị hỏng.
Trong hình trên một GW ban đầu (OGW) thiết lập một cuộc gọi tới một GW
cuối (TGW). OGW gửi một bản tin SETUP H.323 tới TGW để bắt đầu cuộc gọi. Bản
tin SETUP này sẽ mang thông tin QoS mà OGW chấp nhận cho cuộc gọi đến TGW.
TGW trả lời với bản tin H.323 CALL PROCEEDING. Cả hai GW này sẽ bắt đầu quá
trình yêu cầu dành sẵn nguồn tài nguyên bằng cách gửi một bản tin RSVP PATH...Quá
trình này là độc lập ở cả hai phía. Cuộc gọi sẽ không thể thực hiện nếu không nhận
được kết quả thông báo quá trình dành sẵn tài nguyên đã thành công (khi TGW nhận
được bản tin RSVP RESV và bản tin RSVP RESV CONFIRMATION). Tại thời điểm
này quá trình thiết lập cuộc gọi được tiếp tục và TGW gửi một bản tin H.323
ALRLETING tới OGW để thông báo rằng phía bị gọi đang ở trong trạng thái Alerting.
Một quá trình giải phóng kết nối thông thường diễn ra khi một bản tin H.323
RELEASE COMPLETE được gửi từ một phía nào đó sau khi cuộc gọi đã được thiết
lập. Tại thời điểm này quá trình giải phóng nguồn tài nguyên được thực hiện bằng các
bản tin PATH TEAR và RESV TEAR.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 104
Đồ án tốt nghiệp
OGW TGW

Call Setup Initiated SETUP
CALL PROCEEDING
OGWTGW
Reservation Initiated
PATH OGWTGW
Reservation Initiated
PATH
OGWTGW
Reservation Initiated
PATH
RESV
RESV
OGW Originating Gateway

OGWTGW RESV CONFIRMATION TGW Terminating Gateway
H.323 Call Setup Signating
RSVP Reservation initiated by TGW
Reservation Teardown RSVP Reservation initiated by OGW
Initiated RESV TEAR


Call Disconnect initiated
RELEASE COMPLETE

OGWTGW PATHTEAR
Reservation Teardown
initiated
PATHTEAR
PATHTEAR

Hình 4.6 Xử lý khi quá trình thiết lập RSVP bị hỏng.
Nếu ít nhất một quá trình dành sẵn tài nguyên bị lỗi, các GW thoại cần được cấu
hình lại theo các cách sau:
1. GW thoại có thể thông báo cho User về cuộc gọi bị hỏng hay chuyển
mạch sang trạng thái phân tán cuộc gọi.
2. Cuộc gọi có thể được định tuyến thông qua một tuyến khác.
3. Cuộc gọi có thể được kết nối với QoS tối thiểu.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 105
Đồ án tốt nghiệp
Trường hợp cuối xảy ra khi phía bị gọi nhận được các thông tin về khả năng
chấp nhận mức dịch vụ tối thiểu trong bản tin H.323 SETUP.

KẾT LUẬN
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 106
Đồ án tốt nghiệp
Thị trường viễn thông rộng lớn đang hướng tới sự tích hợp dịch vụ trong một
thiết bị người sử dụng duy nhất. Để làm được điều này cần thay thế mạng chuyển mạch
kênh truyền thống bằng một mạng gói linh hoạt hơn trong việc triển khai các dịch vụ
mới. Điều này sẽ cho phép tiết kiệm tài nguyên mạng và giá thành chi phí dịch vụ cho
người sử dụng. Cùng với tốc độ phát triển như vũ bão của các công nghệ mới, công
nghệ VoIP ra đời đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình phát triển của công
nghiệp viễn thông, đó là sự kết hợp giữa tín hiệu thoại vào mạng nền gói thay cho mạng
chuyển mạch kênh truyền thống. Những ưu điểm về giá cả, dịch vụ đã dành được sự
chấp nhận của người sử dụng trên toàn thế giới. Trong những năm qua, việc số người
sử dụng dịch vụ Internet Phone trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng tăng vọt
đã cho thấy công nghệ điện thoại VoIP sẽ thay thế dần công nghệ chuyển mạch kênh
truyền thống và dịch vụ VoIP sẽ là dịch vụ cơ bản trong trong mạng thế hệ kế tiếp. Có
thể nói vấn đề cơ bản trong việc triển khai dịch vụ VoIP vẫn là QoS, các tổ chức viễn
thông thế giới vẫn đang tiếp tục nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ
để đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu của người sử dụng, và nếu giải quyết tốt vấn đề này
trong tương lai có thể các mạng PSTN truyền thống có thể được thay thế hoàn toàn
bằng các mạng VoIP.
Một lần nữa em xin cảm ơn sự giúp đỡ quan tâm của gia đình, bạn bè và đặc biệt
là sự chỉ bảo của thầy Nguyễn Xuân Hoàng để em có thể hoàn thành tốt đồ án này.
Tài liệu tham khảo
[1] ETSI ETR 250, Transmission and Multiplexing; Speech Communication quality
from mouth to ear for 3.1kHz handset telephony across network, 1996.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 107
Đồ án tốt nghiệp
[2] ITU-T Recommendation, G.107- The E-Model, a computational model for use
in transmission planning, 12/1998, 5/2000.
[3] ITU-T Recommendation, G.109 - Definition of categories of speech
transmission quality, 1999.
[4] IEEE Communication Magazine (1/1997).
[5] Tạp chí bưu chính viễn thông, Chất lượng cuộc gọi trên mạng VoIP, Liên kết
mạng IP và mạng PSTN, 8/2001, 9/2001.
[6] Ts. Lê Ngọc Giao, Điện thoại IP, 10/2002.
[7] ITU-T, "Recommendation H.323: Packet-based multimedia communications
system".
[8] Prentice Hall, "Voice over IP", 2002.
[9] TS. Lê Ngọc Giao, "Cơ sở thoại Internet", 2002
[10] Ks Đào Nguyên Trung, Ks Lê Quốc Hùng,"Chất lượng cuộc gọi trên mạng VoIP
- Những vấn đề cần quan tâm", "Nâng cao chất lượng dịch vụ VoIP", Tạp chí
bưu chính viễn thông, 8/2001.
[11] Ths Đàm Thuận Trinh, "Nâng cao chất lượng dịch vụ VoIP", Tạp chí bưu chính
viễ thông, 8/2001.
[12] Ks Nguyễn Xuân Lượng, Ks Nguyễn Thức Kiên, "Điện thoại Internet - Internet
Telephony", Tạp chí bưu chính viễn thông, 7/2003.
[13] Nguyễn Dũng, "Liên kết mạng IP và mạng PSTN", Tạp chí bưu chính viễn thông,
9/2001.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 108
Đồ án tốt nghiệp
THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 109
Đồ án tốt nghiệp
%GoB Percent Good-or-Better Phần trăm số người đánh giá chất
lượng dịch vụ tốt hoặc tốt hơn.
%PoW Percent Poor-or-Worse Phần trăm số người đánh giá chất
lượng dịch vụ kém hoặc kém hơn.
A Expectation (Advantage) Factor Hệ số ưu tiên
ACELP Algebraic Code-Exited Linear
Prediction
Dự đoán tuyến tính kích thích theo

ADPCM Adaptive Differential Pulse
Code Modulation
Điều chế xung mã vi sai thích
nghi.
ADSL Asynmetric Digital Suscriber
Line
Đường dây thuê bao số không đối
xứng.
ANSI American National Standards
Institute
Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ.
B-ISDN Broadband ISDN ISDN băng rộng.
BRQ Bandwith ReQuest Yêu cầu băng tần.
CDMA Code Division Multiple Access Đa truy cập theo mã.
CELP Code Excided Linear Prediction Mã hoá dự đoán tuyến tính.
CTI Computer Telephony
Intergration
Tích hợp điện thoại máy tính.
D D- factor Hệ số D (D= STMR-LSTR)
DCME Digital Circuit Multiplication
Equipment
Thiết bị ghép kênh số.
ECAN Echo Canceller Bộ triệt tiếng vọng
EFR Enhanced Full Rate Codec Bộ mã hoá tốc độ tiên tiến
EL Echo Loss Suy hao tiếng vọng
ERL Echo Return Loss Tổn hao tiếng vọng tại bộ hybrid
ETSI European Telecommunications
Standards Institute
Tổ chức tiêu chuẩn viễn thông
Châu Âu.
ETC Electrical Telecommunication
Company
Công ty viễn thông điện lực.
ETSI European Telecomunication
Standards Institute
Viện tiêu chuẩn viễn thông châu
Âu.
FTP File Transfer Protocol Giao thức truyền file.
GCF Gatekeeper ConFirm Xác nhận gatekeeper.
GK GateKeeper Gatekeeper.
GQoS Guaranteed Quality of Service Bảo đảm chất lượng dịch vụ.
GRJ Gatekeeper ReJect Từ chối gatekeeper.
GRQ Gatekeeper ReQuest Yêu cầu gatekeeper.
IP Internet Protocol Giao thức Internet.
ITU International Tổ chức viễn thông quốc tế.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 110
Đồ án tốt nghiệp
Telecommunication Union
ITU-T ITU Telecommunication
Standardization Sector
Ngành chuẩn hoá viễn thông thuộc
tổ chức viễn thông quốc tế.
ISDN Intergrated Service Digital
Network
Mạng số đa dịch vụ.
ISP Internet Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ Internet.
LAN Local Area Network Mạng cục bộ.
LD-CELP Low Delay Code-Excited Linear
Prediction
Dự đoán tuyến tính theo mã có trễ
thấp.
LR Loudness Rating Tổn thất cường độ âm lượng.
LSTR Listenner’s Sidetone Rating Tham số suy hao cường độ nhiễu
phòng qua đường sidetone.
Lu, Ll Electrical Loss (upper), (lower) Suy hao tiếng vọng (đường phía
trên), (phía dưới).
Mbps Megabit per second Mêga bít trên 1 giây.
MC Multipoint Controller Bộ điều khiển đa điểm.
MCU Multipoint Control Unit Khối điều khiển đa điểm.
MP Multipoint Processor Bộ xử lý đa điểm.
MPLS Multi Protocol Label Switching Chuyển mạch nhãn đa giao thức.
MTU Maximum Transfer Unit Kích thước tối đa của một đơn vị
truyền tải.
PCM Pulse Code Modulation Điều chế xung mã.
PLC Packet Loss Concealment Giải thuật khắc phục tổn hao gói.
Po Room Noise Nhiễu phòng.
PSTN Public Switched Telephone
Network
Mạng điện thoại chuyển mạch
công cộng.
QoS Quality of Service Chất lượng dịch vụ.
qdu
qduu, qdul
Quantization distortion unit
qdu upper, qdu lower
Đơn vị nhiễu lượng tử
qdu cho đường truyền và đường
thu.
RAS Register Admission Status Kênh đăng ký, đăng nhập, trạng
thái
RLR Receive Loudness Rating Tổn hao cường độ âm lượng giữa
miệng người nói và một giao diện
trong mạng.
RTCP Real Time Control Protocol Giao thức điều khiển thời gian
thực.
RTP Real Time Protocol Giao thức thời gian thực
SCN Switched Curcuit Network Mạng chuyển kênh.
SGCP Simple Gateway Control
Protocol
Giao thức điều khiển gateway.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 111
Đồ án tốt nghiệp
SIP Session Initiation Protocol Giao thức khởi đầu phiên.
SPT Saigon PostTel Công ty Saigon Posttel.
SS7 Signalling System No.7 Hệ thống báo hiệu số 7.
T Mean One-way Delay Trễ một chiều trung bình.
Ta Absolute Delay Trễ tuyệt đối.
Tr Round Trip Delay Trễ vòng (trong mạch vòng 4
dây).
Tl lower Mean One-way Delay Trễ một chiều trung bình đường
phía dưới (đường về phía A).
Tu upper Mean One-way Delay Trễ một chiều trung bình đường
phía trên (đường về phía B).
Tul upper=lower Trễ trung bình khi cho cả đường
phía trên và phía dưới.
TCP Transmission Control Protocol Giao thức điều khiển truyền tải
TIA Telecommunication Industry
Association
Tổ chức công nghiệp viễn thông
VNPT Viet Nam Post and Telecom Tổng công ty Bưu Chính Viễn
Thông Việt Nam.
VoIP Voice over Internet Protocol Thoại truyền qua giao thức
Internet.
VAD Voice Activity Detection Bộ tách thoại tích cực.
VSELP Vector Sum Excited Linear
Prediction
Dự đoán tuyến tính kích thích theo
tổng vectơ.
WEPL Weighted Echo Path Loss Trọng số mất đường vọng.
WFQ Weighted Fair Queuing Hàng đợi thích ứng theo trọng số.
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 112
Đồ án tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
L i m đ u ờ ở ầ ......................................................................... 1
Ch ng I ươ ............................................................................ 3
T NG QUAN V D CH V VoIP Ổ Ề Ị Ụ ............................................. 3
1.1 Gi i thi u ớ ệ ........................................................................................................ 3
1.2 L ch s phát tri n VoIP ị ử ể ................................................................................... 4
1.2.1 u nh c đi m c a VoIP so v i m ng đi n tho i PSTN Ư ượ ể ủ ớ ạ ệ ạ
truy n th ng ề ố ...................................................................... 5
1.2.2 Các k thu t mã hoá và nén s trong VoIP ỹ ậ ố ................. 7
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 113
Đồ án tốt nghiệp
CH NG II ƯƠ ....................................................................... 10
CÁC GIAO TH C TRONG VoIP Ứ ............................................. 10
2.1 H th ng VoIP H.323 ệ ố ..................................................................................... 10
2.1.1 Gi i thi u ớ ệ ................................................................ 10
2.1.2 L ch s phát tri n c a H.323 ị ử ể ủ .................................... 10
2.1.3 S đ m ng l i ơ ồ ạ ướ ..................................................... 11
2.1.4 B giao th c H.323 ộ ứ .................................................. 12
2.1.5 Các thi t b c u thành h th ng H.323 ế ị ấ ệ ố
........................................................................................ 15
2.1.5.1 Thiết bị đầu cuối H.323 ............................................................................. 16
2.1.5.2 Gateway H.323 ............................................................................................... 17
a. Media Gateway: MGW ......................................................... 18
b. Media Gateway Controler: MGC ................................................... 20
c. Signalling Gateway: SGW ............................................................ 21
2.1.5.3 Gatekeeper H.323: GK ................................................................................... 22
2.1.5.4 Khối điều khiển đa điểm H.323: MCU .......................................................... 24
2.1.6 Ng n x p giao th c H.323 ă ế ứ ....................................... 25
2.2 Giao th c kh i t o phiên SIP ứ ở ạ .......................................................................... 26
2.2.1 Gi i thi u ớ ệ ................................................................ 26
2.2.2 Các thành ph n c a h th ng SIP ầ ủ ệ ố ............................. 27
2.2.2.1 Đầu cuối thông minh SIP ............................................................................. 27
2.2.2.2 SIP Server ...................................................................................................... 28
2.2.2.3 SIP Gateway .................................................................................................. 28
2.3 So sánh gi a H.323 và SIP ữ ............................................................................. 29
........................................................................................................ 29
2.4 Các lo i hình d ch v tho i qua IP ạ ị ụ ạ .................................................................. 29
2.4.1 Phone to phone ....................................................... 31
2.4.2 PC to phone ............................................................ 31
2.4.3 PC to PC ................................................................. 32
2.5 Gi i thi u v m ng VoIP Vi t Nam ớ ệ ề ạ ệ ................................................................. 33
2.5.1 T ng quan v m ng VoIP c a Vi t Nam ổ ề ạ ủ ệ ................... 33
2.5.1.1 Phần mềm đầu cuối ........................................................................................ 33
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 114
Đồ án tốt nghiệp
2.5.1.2 Sản phẩm Gateway ........................................................................................ 34
2.5.1.3 Thị trường kinh doanh dịch vụ ...................................................................... 35
2.5.2 Th c tr ng tri n khai VoIP Vi t Nam ự ạ ể ở ệ ..................... 36
2.5.2.1 Cơ sở hạ tầng mạng thoại .............................................................................. 36
2.5.2.2 Cơ sở hạ tầng mạng số liệu ............................................................................ 38
2.5.2.3 Hệ thống mạng truyền dẫn đường trục .......................................................... 39
2.5.3 M ng VoIP c a VNPT và c a doanh nghi p hi n nay ạ ủ ủ ệ ệ . 40
2.5.3.1 Mạng VoIP của VNPT .................................................................................. 40
a. C u hình m ng th nghi m ấ ạ ử ệ ......................................................... 40
b. Tri n khai m ng l i ể ạ ướ ................................................................... 41
c. ánh s và đ nh tuy n Đ ố ị ế ................................................................ 45
2.5.3.2 Mạng VoIP của doanh nghiệp mới ............................................................... 47
a. C u hình m ng th nghi m ấ ạ ử ệ ......................................................... 47
b. Liên k t m ng VoIP c a các doanh nghi p m i và m ng c a VNPT ế ạ ủ ệ ớ ạ ủ
......................................................................................................... 48
b.1 S đ k t n i ơ ồ ế ố ............................................................................ 48
b.2 V trí k t n i ị ế ố .............................................................................. 49
b.3 S l ng đi m k t n i ố ượ ể ế ố ............................................................... 49
b.4 V n hành b o d ng k t n i ậ ả ưỡ ế ố ..................................................... 50
b.5 An toàn và b o v m ng l i ả ệ ạ ướ .................................................... 50
b.6 Yêu c u đo ki m ầ ể ........................................................................ 50
b.7 nh tuy n cu c g i Đị ế ộ ọ .................................................................. 50
2.5.4 Các d ch v trong m ng VoIP c a VNPT ị ụ ạ ủ .................... 51
2.5.4.1 Dịch vụ "Gọi 171" ......................................................................................... 51
2.5.4.2 Dịch vụ "Gọi 1717" ....................................................................................... 53
2.5.4.3 Dịch vụ "Fone VNN" .................................................................................... 54
2.5.5 Tính c c trong m ng VoIP ướ ạ ...................................... 56
2.5.5.1 Quy tắc tính cước hiện nay ............................................................................ 57
2.5.5.2 Quy tắc tính cước trong tương lai ................................................................. 58
CH NG III ƯƠ ...................................................................... 60
CÁC PH NG PHÁP ÁNH GIÁ CH T L NG D CH V TRONG ƯƠ Đ Ấ ƯỢ Ị Ụ
VoIP ................................................................................. 60
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 115
Đồ án tốt nghiệp
3.1 T ng quan v ch t l ng d ch v trong VoIP ổ ề ấ ượ ị ụ ................................................. 60
3.2 Ch t l ng d ch v trong VoIP ấ ượ ị ụ ....................................................................... 62
3.2.1 Ch t l ng d ch v QoS ấ ượ ị ụ ........................................... 62
3.2.2 Các y u t nh h ng t i ch t l ng tho i trong VoIP ế ố ả ưở ớ ấ ượ ạ
........................................................................................ 64
3.2.2.1 Độ ổn định ..................................................................................................... 64
3.2.2.2 Băng thông .................................................................................................. 65
3.2.2.3 Tiếng vọng ................................................................................................ 66
3.2.2.4 Trễ ................................................................................................................. 67
a. Tr Coder (Tr x lý) ễ ễ ử .................................................................. 68
b. Tr do mã hoá ễ ............................................................................ 70
c. Tr đ m thi t b đ u cu i IP ễ ệ ở ế ị ầ ố ..................................................... 70
d. Tr đ m/gói hoá H.323 ễ ệ .............................................................. 70
e. Tr truy n d n m ng ễ ề ẫ ạ ................................................................. 71
f. Tr t ng trung bình ễ ổ ..................................................................... 71
3.2.2.5 Bi n đ ng tr ế ộ ễ ...................................................... 72
3.2.2.6 T n th t gói ổ ấ ....................................................... 72
3.3 M t s công ngh đo ki m ch t l ng tho i hi n nay ộ ố ệ ể ấ ượ ạ ệ ................................... 73
3.3.1 o ki m đ trung th c Đ ể ộ ự ............................................ 76
3.3.1.1 MOS .............................................................................................................. 76
3.3.1.2 PSQM ........................................................................................................... 77
3.3.1.3 PAMS ............................................................................................................ 78
3.3.2 o ki m đ tr Đ ể ộ ễ ....................................................... 78
3.3.2.1 Acoustic PING ............................................................................................... 78
3.3.2.2. MLS tương quan chéo tiêu chuẩn hoá .......................................................... 79
3.3.3 o ki m ti ng v ng Đ ể ế ọ ................................................. 79
3.3.3.1 Xác định đặc tính tiếng vọng .......................................................................... 79
3.3.3.2 Sự khó chịu trong cảm nhận gây ra bởi tiếng vọng ...................................... 80
3.3.3.3 Các bộ huỷ tiếng vọng ................................................................................... 80
CH NG IV ƯƠ ...................................................................... 81
ÁNH GIÁ CH T L NG THO I TRONG M NG Đ Ấ ƯỢ Ạ Ạ .................... 81
VoIP B NG MÔ HÌNH- E. Ằ .................................................... 81
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 116
Đồ án tốt nghiệp
4.1 Gi i thi u mô hình E ớ ệ ...................................................................................... 81
4.2 C u trúc và thu t toán mô hình E ấ ậ ................................................................. 83
4.2.1 Tính toán giá tr truy n d n R ị ề ẫ .................................. 87
4.2.2 T l tín hi u trên nhi u R0 ỉ ệ ệ ễ ...................................... 87
4.2.3 Tham s suy hao Is ố .................................................. 88
4.2.4 Tham s suy hao liên quan đ n tr Id ố ế ễ ...................... 89
4.2.5 Tham s suy hao thi t b Ie ố ế ị ...................................... 91
4.2.6 Tham s tích c c A (Advantage factor) ố ự ..................... 91
4.2.7 Các giá tr m c đ nh ị ặ ị ............................................... 92
4.3 K t qu đánh giá ch t l ng truy n d n theo mô hình E ế ả ấ ượ ề ẫ ............................... 93
4.4 M t s ph ong pháp c i thi n QoS trong m ng VoIP ộ ố ư ả ệ ạ ..................................... 97
4.4.1 T c đ truy nh p cam k t (CAR: Committed Access ố ộ ậ ế
Rate) ............................................................................... 97
4.4.2 X p hàng trên c s l p (CBQ: Class- Based Queuing) ế ơ ở ớ
........................................................................................ 98
4.4.3 L p d ch v (CoS: Class of Service) ớ ị ụ .......................... 98
4.4.4 Các d ch v phân bi t (Diffserv) ị ụ ệ ............................... 98
4.4.5 Quy n u tiên IP ề ư ..................................................... 99
4.4.6 Chuy n m ch nhãn đa giao th c MPLS (MPLS: ể ạ ứ
MultiProtocol Label Switching) ......................................... 99
4.4.7 X p hàng theo VC ế ................................................... 99
4.4.8 nh tuy n theo chính sách Đị ế ................................... 100
4.4.9 Các hàng QoS ....................................................... 100
4.4.10 Lo i b s m ng u nhiên (RED) ạ ỏ ớ ẫ ............................. 101
4.4.11 Giao th c d tr tài nguyên (RSVP) ứ ữ ữ ...................... 101
4.4.12 Ki u d ch v (ToS: Type of Service) ể ị ụ ...................... 101
4.4.13 nh hình l u l ng (Traffic Shaping) Đị ư ượ ................... 102
4.4.14 X p hàng h p lý theo tr ng s (WFQ: Weighted Fair ế ợ ọ ố
Queuing) ........................................................................ 102
K T LU N Ế Ậ ....................................................................... 106
Tài li u tham kh o ệ ả .......................................................... 107
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 117
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT 118

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful