You are on page 1of 46

1. Lấy mẫu Dược liệu (DÐVN IV, PL 12.1, PL-231) 2. Xác đinh tỷ lệ vụn nát của Dược liệu (DÐVN II, PL 12.

12, PL-240) 3. Xác định tạp chất lẫn trong Dược liệu (DÐVN IV, PL 12.11, PL-239) 4. Xác định độ ẩm trong Dược liệu 5. Xác định lượng chất chiết được trong dược liệu (DÐVN IV, PL 12.10, PL-239)

1. Lấy mẫu Dược liệu (DÐVN IV, PL 12.1, PL-231) Lấy mẫu dược liệu là việc lựa chọn, thu thập các mẫu dược liệu cho việc kiểm tra chất lượng. Mức độ đại diện của các mẫu dược liệu được lấy có ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác và độ đúng của việc kiểm tra. Các yêu cầu chung về việc lấy mẫu dược liệu như sau: 1.1. Kiểm tra trước khi lấy mẫu Kiểm tra đối chiếu tên và nguồn gốc nguyên liệu; Kiểm tra đặc điểm và hình dạng bao gói; Kiểm tra sự nguyên vẹn, sạch sẽ, mức độ nhiễm mốc và tạp chất lạ của bao bì. Các bao gói không bình thường cần được kiểm tra riêng một cách kỹ càng. Ghi chép chi tiết kêt quả kiểm tra. 1.2. Cách thức lấy mẫu - Cách thức lấy mẫu:Tổng số bao gói dưới 5: Lấy mẫu từng bao gói. Dưới 100: Lấy mẫu 5 bao gói. Từ 100-1000: Lấy mẫu 5% tổng số bao gói. Trên 1000: Lấy 50 bao gói cộng thêm số bao gói bằng 1% của tổng số bao gói vượt quá so với 1000 bao gói. Dược liệu quý: Lấy mẫu từng bao gói, không kể số lượng các bao gói. Dược liệu được lấy ở trên giữa và cuối của mỗi bao gói bằng các phương tiện thích hợp (đối với bao gói lớn thì lấy sâu 10 cm dưới bề mặt của bao gói). Đối với thuốc có kích thước lớn thì lấy mẫu đại diện thích hợp.

- Khối lượng mẫu lấy: Nếu lượng dược liệu dưới 5 kg thì số lượng mẫu được lấy không ít hơn 3 lần số lượng đem thử nghiệm. Nếu lượng dược liệu lớn hơn 5 kg thì số lượng mẫu lấy được xác định như sau: Thuốc thông thường: 250 - 500 g; Thuốc bột: 200 g; Thuốc quý: 5 - 10 g (trừ khi có chỉ dẫn khác trong chuyên luận riêng). 1.3. Tạo mẫu đồng nhất Mẫu sau khi lấy được trộn đều để có một mẫu đồng nhất dùng cho thử nghiệm. Nếu khối lượng mẫu đồng nhất lớn hơn vài lần so với mẫu thử nghiệm thì làm một mẫu trung bình. Nếu dược liệu có kích thước nhỏ thì lấy một mẫu trung bình bằng phương pháp chia 4 như sau: San bằng mẫu thành hình vuông, chia mẫu theo 2 đường chéo thành 4 phần bằng nhau. Lấy 2 phần đối diện và trộn đều. Làm lại thao tác chia 4 cho đến khi thu được số lượng vừa đủ để làm mẫu thử và mẫu lưu. Trong trường hợp các dược liệu có kích thước lớn thì lấy mẫu trung bình bằng phương pháp khác thích hợp. Khối lượng của mẫu đồng nhất hoặc mẫu trung bình không ít hơn 3 lần số lượng của mẫu đem thử nghiệm. Lượng mẫu này được chia làm 3 phần, 1/3 dùng để phân tích, 1/3 để kiểm tra và số còn lại làm mẫu lưu giữ lại ít nhất 01 năm.

2. Xác định tỷ lệ vụn nát của dược liệu (DÐVN IV, PL 12.12, PL-240) Cân một lượng dược liệu nhất định (p gam) đã được loại tạp chất. Rây qua rây có số quy định theo chuyên luận riêng. Cân toàn bộ phần đã lọt qua rây (a gam). Tính tỷ lệ vụn nát (X%) theo công thức:

Ghi chú: Lượng dược liệu lấy thử (tuỳ theo bản chất của dược liệu) từ 100 đến 200g.

Ðối với dược liệu mỏng manh thì phải nhẹ nhàng tránh làm nát vụn thêm. Phần bụi và bột vụn không phân biệt được bằng mắt thường được tính vào mục tạp chất. về đầu trang 3. Xác định tạp chất lẫn trong dược liệu (DÐVN IV, PL 12.11, PL-239) Tạp chất lẫn trong dược liệu bao gồm tất cả các chất ngoài quy định của dược liệu đó như: Đất, đá, rơm rạ, cây cỏ khác, các bộ phận khác của cây không quy định làm dược liệu, xác côn trùng...

Cách xác định Cân một lượng mẫu vừa đủ đã được chỉ dẫn trong chuyên luận, dàn mỏng trên tờ giấy, quan sát bằng mắt thường hoặc kính lúp, khi cần có thể dùng rây để phân tách tạp chất và dược liệu. Cân phần tạp chất và tính phần trăm như sau:

a: Khối lượng tạp chất tính bằng gam p: Khối lượng mẫu thử tính bằng gam

Ghi chú: 1. Trong một số trường hợp nếu tạp chất rất giống với thuốc có thể phải làm các phản ứng định tính hoá học, phương pháp vật lý hoặc dùng kính hiển vi để phát hiện tạp chất. Tỷ lệ tạp chất được tính bao gồm cả tạp chất được phát hiện bằng phương pháp này. 2. Lượng mẫu lấy thử nếu chuyên luận riêng không quy định thì lấy như sau:

Hạt và quả rất nhỏ (như hạt Mã đề): 10 g. Hạt và quả nhỏ: 20 g. Dược liệu thái thành lát: 50 g. về đầu trang

4. Xác định độ ẩm trong dược liệu Ðộ ẩm là lượng nước chứa trong 100g dược liệu. Dược liệu tươi thường chứa một lượng nước rất lớn: lá chứa khoảng 60- 80% nước, thân và cành chứa khoảng 40- 50% nước. Không có một dược liệu nào đạt độ khô tuyệt đối (độ ẩm 0 %), nhưng đối với mỗi dược liệu đều được quy định một độ ẩm an toàn. Ðể bảo quản tốt, dược liệu cần có độ ẩm bằng hoặc dưới độ ẩm an toàn. Xác định độ ẩm là công việc đầu tiên phải làm khi tiến hành xác định chất lượng một dược liệu. Hàm lượng các hoạt chất như tinh dầu, chất béo, alcaloid, glycozit v.v... dều được quy định tính trên trọng lượng khô tuyệt đối của dược liệu. Việc xác định độ ẩm còn được tiến hành định kỳ hàng năm 2 lần trong các đợt kiểm kê dược liệu theo quy định của nhà nước. Các phương pháp xác định độ ẩm

* Phương pháp sấy Dược liệu là lá, rễ, thân cần được chia nhỏ trước khi xác định độ ẩm. Dược liệu là nụ hoa, hạt nhỏ có thể tiến hành xác định trực tiếp mà không cần chia nhỏ. Cho vào chén cân dùng để xác định độ ẩm, có nắp và đã được cân bì trước 5- 10g dược liệu. Chén cân cần có kích thước thích hợp để lớp dược liệu cho vào không dày quá 5 mm. Cho chén chứa dược liệu (đã mở nắp) vào tủ sấy, sấy ở nhiệt độ 100- 1050C trong 1 giờ. Cho chén vào bình hút ẩm đến khi nguội. Ðậy nắp và cân. Làm lại nhiều lần đến khi trọng lượng giữa 2 lần cân không vượt quá 0,5 mg. Ðộ ẩm (x %) của dược liệu được tính theo công thức sau:

p: Số gam của mẫu thử trước khi sấy a: Số gam của mẫu thử sau khi sấy * Phương pháp dùng dung môi (DÐVN IV, PL12.13, PL-240)

Có thể xác định độ ẩm của phần lớn các dược liệu bằng phương pháp sấy hoặc phương pháp cất với dung môi. Riêng với dược liệu chứa tinh dầu có hàm lương tinh dầu lớn hơn 2% thì bắt buộc phải sử dụng phương pháp dung môi để xác định độ ẩm. Phương pháp tiến hành

- Dụng cụ (hình vẽ) Dụng cụ gồm bình cầu A, được nối với ống sinh hàn C qua bộ phận xác định lượng nước. Bộ phận này bao gồm bầu ngưng tụ B, bộ phận chia vạch E và ống dẫn hơi D. Bộ phận chia vạch được chia độ đến 0,1 ml. Sau quá trình cất nước sẽ ngưng tụ ở đây vì vậy ta có thể đọc được dễ dàng lượng nước chứa trong dược liệu đem thử. Nguồn nhiệt thích hợp là bếp điện có biến trở hoặc đun cách dầu. - Cách tiến hành a/ Cho vào bình cầu đã được làm khô 200 ml toluen (hoặc xylen), 2ml nước. Lắp dụng cụ (đã được sấy khô). Cất khoảng 2 giờ. Ðể nguội trong 30 phút. Ðọc thể tích nước cất được ở ống hứng, chính xác đến 0,05 ml. b/ Thêm vào bình cầu một lượng mẫu thử đã Dụng cụ xác định hàm lượng nước bằng phương pháp cất với dung môi

cân chính xác tới 0,01 g có chứa khoảng 2- 3 ml nước. Thêm vài mảnh đá bọt. Ðun nóng nhẹ, khi toluen đã bắt đầu sôi thì điều chỉnh nhiệt để cất với tốc độ 2 giọt trong 1 giây. Khi đã cất được phần lớn nước sang ống hứng thì nâng tốc độ cất lên 4 giọt trong 1 giây. Tiếp tục cất cho đến khi mực nước cất được trong ống hứng không tăng lên nữa. Dùng 5- 10 ml toluen rửa ống sinh hàn. Cất thêm 5 phút nữa. Tách bộ phận cất ra khỏi nguồn nhiệt. Nếu còn có những giọt nước đọng lại trên thành ống sinh hàn thì dùng 5 ml toluen để rửa kéo xuống. Khi lớp nước và lớp toluen đã được phân tách hoàn toàn, đọc thể tích nước trong ống hứng. Ðộ ẩm (x %) của dược liệu được tính theo công thức sau:

V1: số ml nước cất được sau lần cất đầu V2: số ml nước cất được sau lần cất thứ hai p: số g mẫu đã cân đem thử

Lưu ý:

1. Nếu dùng toluen hoặc xylen đã bão hòa nước thì phần a/ không phải tiến hành 2. Toluen là dung môi dễ cháy vì vậy nguồn nhiệt phải là bếp điện kín, tránh lửa trong phòng thí nghiệm. về đầu trang 5. Xác định các chất chiết được trong dược liệu (DÐVN IV, PL 12.10, PL239)

5.1 Phương pháp xác định các chất chiết được bằng nước

Phương pháp chiết lạnh: Nếu không có chỉ dẫn đặc biệt trong chuyên luận riêng, cân chính xác khoảng 4,000 g bột dược liệu có cỡ bột nửa thô cho vào trong bình nón 250 300 ml. Thêm chính xác 100,0ml nước, đậy kín, ngâm lạnh, thỉnh thoảng lắc trong 6 giờ đầu, sau đó để yên 18 giờ. Lọc qua phễu lọc khô vào một bình hứng khô thích hợp. Lấy chính xác 20 ml dịch lọc cho vào một cốc thuỷ tinh đã cân bì trước, cô trong cách thủy đến cắn khô. Sấy cắn ở 1050C trong 3 giờ, lấy ra để nguội trong bình hút ẩm 30 phút, cân nhanh để xác định khối lượng cắn sau khi sấy, tính phần trăm lượng chất chiết được bằng nước theo dược liệu khô.

Phương pháp chiết nóng: Nếu không có chỉ dẫn đặc biệt trong chuyên luận riêng, cân chính xác khoảng 2,000 - 4,000 g bột dược liệu có cỡ bột nửa thô cho vào bình nón 100 hoặc 250 ml. Thêm chính xác 50,0 hoặc 100,0 ml nước, đậy kín, cân xác định khối lượng, để yên 1 giờ, sau đó đun hồi lưu trong cách thủy 1 giờ, để nguội, lấy bình nón ra, đậy kín, cân để xác định lại khối lượng, dùng nước để bổ sung phần khối lượng bị giảm, lọc qua phễu lọc khô vào một bình hứng khô thích hợp. Lấy chính xác 25 ml dịch lọc vào cốc thủy tinh đã cân bì trước, cô trong cách thủy đến cắn khô, cắn thu được sấy ở 1050C trong 3 giờ, lấy ra để nguội

trong bình hút ẩm 30 phút, cân nhanh để xác định khối lượng cắn. Tính phần trăm lượng chất chiết được bằng nước theo dược liệu khô.

5.2 Phương pháp xác định các chất chiết được bằng alcol Dùng các phương pháp tương tự như phương pháp xác định các chất chiết được bằng nước. Tuỳ theo chỉ dẫn trong chuyên luận riêng mà dùng ethanol hoặc methanol có nồng độ thích hợp để thay nước làm dung môi chiết.Với phương pháp chiết nóng thì nên đun trong cách thủy nếu dung môi chiết có độ sôi thấp Mục tiêu và nội dung môn học Nội dung chủ yếu của Thực tập Dược liệu là Thực hành Kiểm nghiệm Dược liệu. Mục tiêu môn học cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản để kiểm tra xem dược liệu có đúng không, có đạt các tiêu chuẩn của Dược điển không. Ðể làm được điều này trong quá trình thực hành, người học được làm quen, sử dụng các phương pháp khác nhau:

A. Phương pháp cảm quan (Phương pháp nhận thức Dược liệu) Bằng sự quan sát về hình dạng, thể chất, mầu sắc, mùi vị v.v..., người học có thể nhận biết từng vị Dược liệu. Trong chương trình thực hành người học phải nhận biết một số vị Dược liệu thường lưu hành trên thị trường, phần lớn là những Dược liệu thô, chưa qua quá trình chế biến và những cây tươi dùng làm nguyên liệu để chiết xuất các hoạt chất hoặc sử dụng trực tiếp . Với mỗi vị Dược liệu, cây thuốc người học phải trả lời được các nội dung sau: 1. Tên Dược liệu bằng tiếng Việt 2. Nguồn gốc dược liệu (Tên tên khoa học cây thuốc cho vị Dược liệu) 3. Nơi phân bố chính 4. Bộ phận dùng 5. Thành phần hoá học 6. Công dụng Nội dung chi tiết được trình bày trong tài liệu "Những cây thuốc vị thuốc thường dùng" B. Phương pháp vi học Bao gồm quan sát các đặc điểm vi học trên vi phẫu và trên bột một Dược liệu. Ðối với một vi phẫu, người học phải đạt được: 1. Cắt và nhuộm kép một vi phẫu Dược liệu 2. Lên tiêu bản (tiêu bản phải nhuộm được 2 màu, có thể phân biệt được các mô, tổ chức dưới kính hiển vi) 3. Nhận biết và chỉ được các đặc điểm

4. Vẽ sơ đồ tổng quát vi phẫu, có ghi chú các đặc điểm Ðối với một bột Dược liệu: 1. Lên tiêu bản bột 2. Quan sát và chỉ các đặc điểm 3. Vẽ các đặc điểm 4. Nhận biết được bột dược liệu không pha trộn và bột dược liệu có pha trộn với bột khác Nội dung chi tiết được trình bày cụ thể trong tài liệu "Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi " C. Phương pháp hoá học Bao gồm các phương pháp định tính, định lượng qua các giai đoạn: 1. Chiết xuất hoạt chất trong Dược liệu 2. Tiến hành các phản ứng định tính, định lượng 3. Tiến hành các phản ứng hoá học trên vi phẫu rồi quan sát các tổ chức có chứa các hoạt chất trên vi phẫu dưới kính hiển vi 4. Tiến hành vi thăng hoa rồi quan sát hình dáng tinh thể các chất dưới kính hiển vi... Ngoài những phương pháp chung trong kiểm nghiêm thuốc: lấy mẫu nghiên cứu, xác định độ ẩm, xác định độ tro ...Trong kiểm nghiệm Dược liệu còn sử dụng các phương pháp khác như xác định tỷ lệ vụn nát của Dược liệu, các tạp chất lẫn trong Dược liệu xác định lượng chất chiết ra được... các phương pháp này được ghi trong Dược điển Việt Nam và Dược điển nhiều nước trên thế giới. Một số nội dung chi tiết được trình bày cụ thể trong các bài thực tập. Nội dung thực hành Các nội dung thực hành Dược liệu được xếp theo thứ tự chương trong giáo trình lý thuyết. Tuỳ đối tượng (chính quy, chuyên tu, bằng 2,chuyên khoa CN) thực hành theo các bài khác nhau với mức độ yêu cầu khác nhau.

Lấy mẫu Dược liệu Xác đinh tỷ lệ vụn nát của Dược liệu Xác định tạp chất lẫn trong Dược liệu Xác định độ ẩm của dược liệu Xác định lượng chất chiết được trong dược liệu Dược liệu chứa carbohydrat Quan sát bột, hạt tinh bột

Dược liệu chứa glycosid Vi phẫu, soi bột Bạch chỉ Cam thảo bắc Đại hoàng Đảng sâm Hà thủ ô đỏ Hoàg kỳ Hoè,

Ích mẫu Kim ngân Ngũ bội tử Ngưu tất Ổi

Hoá học Định tính glycosid tim trong lá Trúc đào Định tính saponin trong dựợc liệu Xác định chỉ số phá huyết của Dược liệu Định tính, định lượng anthranoid trong dược liệu Định tính flavonoid trong dược liệu Định tính coumarin trong dược liệu Định tính Tanin trong dược liệu Hoá học

Dược liệu chứa alcaloid Vi phẫu, soi bột Bách bộ Cà độc dược Chè Hoàng liên Hoàng nàn Hoàng bá Ma hoàng Mã tiền Vông nem

Định tính alcaloid trong hạt Mã tiền Định lượng alcaloid toàn phần trong dược liệu Hoá học Định lượng tinh dầu trong Dược liệu Định lượng eugenol trong tinh dầu Hương nhu trắng Phát hiện tạp chất và chất giả mạo trong tinh dầu Ðịnh lượng citronelal, citral trong tinh dầu Sả (Oleum Citronellae) bằng hydroxylamin hydroclorid Ðịnh lượng menthol este hóa trong tinh dầu Bạc hà Ðịnh lượng menthol toàn phần: Ðịnh lượng citral trong tinh dầu Màng tang (Litsea cubeba Lauraceae) bằng hydroxylamin hydroclorid Ðịnh lượng Anethol trong tinh dầu Hồi (Illicium verum Illiciaceae) bằng phương pháp xác định nhiệt độ đông đặc

Dược liệu chứa tinh dầu Vi phẫu, soi bột

Bac hà Bạch đàn Đinh hương Gừng Hương phụ

Long não Quế Thiên niên kiện Tràm.

Dược liệu chứa chất béo Hoá học Định lượng chất béo trong Dược liệu Xác định chỉ số Iod của chất béo Kiểm nghiệm dược liệu theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam Bách bộ, Cà độc dược, Cát cánh, Củ bình vôi, Ðại hồi, Hà thủ ô đỏ, Hoàng bá, Hoàng kỳ, Hoàng liên, Hậu phác, Lá vông, Ma hoàng, Nhân trần, Núc nác, Quế, Tục đoạn, Thiên niên kiện

DL chua hydrocacbon

QUAN SÁT BỘT, HẠT TINH BỘT Nguyên liệu: Bột đã nghiền nhỏ, tinh bột Dong riềng, Ðậu xanh, Gạo, Hoài sơn, Khoai lang, Khoai tây, Mì, Ngô, Sắn, Sắn dây, Sen, Ý dĩ Hoá chất dụng cụ: Kính hiển vi, phiến kính, lamen đậy, dung dịch Lugol, nước cất, Các bước tiến hành: - Lên kính hạt tinh bột trong nước, - Quan sát ở vật kính 10. 40 hình dạng, kích thước, vân hạt, rốn hạt các hạt tinh bột. - Quan sát quá trình đổi màu của hạt tinh bột khi tác dụng với dung dịch Lugol - Vẽ vào vở các đặc điểm hạt tinh bột đã soi, mô tả, nhận xét

1.1. Tinh bột Dong riềng Tinh bột lấy từ thân rễ cây Dong riềng (Canna edulis Ker. Gawl.), họ Khoai riềng (Cannaceae). Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột hình trứng, vòng đồng tâm thấy rõ xung quanh rốn hạt, là tinh bột có kích thước hạt lớn nhất: 70-130µm (Ảnh 1.1.). Chú ý: Cây Dong riềng còn gọi là cây Khoai riềng, Củ đao, Củ đót. 1.2. Bột Ðậu xanh Bột lấy từ hạt Ðậu xanh (Phaseolus aureus Roxb.) họ Ðậu (Fabaceae). Bột trắng ngà. Soi kính hiển vi thấy hạt tinh bột hình trứng hay hình thận kích thước khoảng 30-40µm, rốn thường là một đường có phân nhánh (Ảnh 1.2.).

1.3. Tinh bột Gạo Tinh bột lấy từ quả hay "hạt" Gạo tẻ (Oryza sativa L.), họ Lúa (Poaceae). Bột màu trắng. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột hình đa giác có rốn rõ. Các hạt kích thước 3-9µm thường kết lại với nhau thành đám, (Ảnh 1.3.). 1.4. Tinh bột Hoài sơn Tinh bột lấy từ thân rễ cây Củ mài (Dioscorea persimilis Prain et Burkill), họ Củ nâu (Dioscoreaceae). Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột hình chuông kích thước 3080µm. Rốn là một điểm, các vòng đồng tâm thấy rõ (Ảnh 1.4.). 1.5. Tinh bột Khoai lang Tinh bột lấy từ rễ củ Khoai lang (Ipomoea batatas Lamk.), họ Bìm bìm (Convolvulaceae). Bột màu trắng. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột đơn hay kép đôi, hình dạng thay đổi. Rốn hạt hình sao hay phân nhánh vân đồng tâm thấy rõ ở những hạt tròn. Kích thước hạt to nhỏ không đều 10-50µm(Ảnh 1.5.). 1.6. Tinh bột Khoai tây Tinh bột lấy từ củ Khoai tây (Solanum tuberosum L.), họ Cà (Solanaceae). Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy những hạt tinh bột hình trứng riêng lẻ kích thước khoảng 30-100àm, hạt tròn, nhỏ 10-35µm thỉnh thoảng có những hạt kép do 2 hay 3 hạt đơn ghép lại. Rốn là một điểm ở đầu hẹp, vòng đồng tâm thấy rõ xung quanh rốn (Ảnh 1.6.). 1.7. Tinh bột mì Tinh bột lấy từ quả hay "hạt" Lúa mì (Triticum sativum Lamk.), họ Lúa (Poaceae). Bột màu trắng hay trắng ngà. Soi kính hiển vi thấy nhiều hạt tinh bột nhỏ hình tròn hay đa giác kích thước 2-6µm, nhiều hạt tinh bột lớn hình tròn kích thước 30-40àm, ít hạt có kích thước trung gian, các hạt không nhìn rõ rốn và vân (Ảnh 1.7.). 1.8. Tinh bột Ngô Tinh bột lấy từ quả hay "hạt" Ngô (Zea mays L.), họ Lúa (Poaceae). Bột màu vàng nhạt. Soi dưới kính hiển vi thấy các hạt tinh bột hình tròn, hình đa giác kích thước khoảng 10-30µm, rốn có thể phân nhánh, vân không rõ (Ảnh 1.8.).

1.9. Tinh bột Sắn Tinh bột lấy từ rễ củ Sắn (Manihot utilissima Pohl.), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy những hạt tinh bột tròn kích thước 5-25µm Rốn hình sao, vân không rõ (Ảnh 1.9.). 1.10. Tinh bột Sắn dây Tinh bột lấy từ rễ củ Sắn dây (Pueraria thomsoni Gagnep.), họ Ðậu (Fabaceae). Bột màu trắng mịn. Soi kính hiển vi thấy các hạt tinh bột đơn, kép đôi hay kép ba hình dạng thay đổi. Nhiều hạt hình tròn hay một đầu tròn kích thước 4-12µm. Rốn nhìn rõ, vân không rõ (Ảnh 1.10.). 1.11. Tinh bột hạt Sen Tinh bột lấy từ hạt cây Sen (Nelumbium speciosum Gaertn.), họ Sen (Nelumbonaceae). Bột màu trắng ngà. Soi dưới kính hiển vi thấy các hạt tinh bột đơn, kép đôi, kép ba, hình dạng khác nhau, nhiều hạt hình thận. Kích thước hạt 10-25µm (Ảnh 1.11.). 1.12. Bột ý dĩ Bột lấy từ hạt của cây Ý dĩ (Coix lachrymajobi L.), họ Lúa (Poaceae). Bột màu trắng ngà. Soi kính hiển vi thấy hạt tinh bột hình đĩa kích thước 5-20µm, rốn hạt thường phân nhánh, vân hạt không rõ (Ảnh 1.12. ). Chú ý: Ý dĩ thường bị giả mạo bởi hạt Cao lương (Sorghum vulgare Pers.)

DL chua glycosid tim Vi phau- soi bot

Radix Angelicae dahuricae end of page N ội dung 1. Định nghĩa dược liệu 2. Đặc điểm thực vật 3. Thành phần hoá học 4. Kiểm nghiệm 5. Tác dụng, công dụng 6. Ghi chú 7. Tài liệu tham khảo 2. Đ ặc đi ểm th ực v ật Cây cỏ, cao 0,5-1m hay hơn, sống lâu năm, thân hình trụ, rỗng, không phân nhánh. Lá to, có cuống, phần dưới phát triển thành bẹ ôm lấy thân, phiến lá xẻ 2-3 lần lông chim, mép khía răng, có lông ở gân lá mặt trên. Cụm hoa tán kép, mọc ở ngọn, hoa nhỏ màu trắng. Quả bế, dẹt, toàn cây có mùi thơm (Cây Bạch chỉ). Back to Top 3. Thành ph ần hoá h ọc Bạch chỉ chứa tinh dầu trong tinh dầu có các thành phần: α-pinen, β-pinen, camphen, myrcen, α-phelandren, α-terpinen, terpinolen, caryophylen*, ligustilid...và các hợp chất sesquiterpen. Ngoài tinh dầu, trong rễ củ Bạch chỉ có các dẫn chất coumarin: Angenomalin, Anomalin, Bergapten, Marmesin, Scopoletin*, Byak-angelicin, Byakangelicol, Oxypeucedanin, Imperatorin, Isoimperatorin, Phellopterin, Xanthotoxin,A nhydrobyakangelicin, Neobyakangelicol. 1. Đ ịnh nghĩa d ược li ệu Dược liệu dùng là rễ đã phơi hay sấy khô của cây Bạch chỉ (Angelica dahurica (Fisch. ex Hoffm), Benth. et Hook.f.) hoặc (Angelica dahurica (Fisch. ex Hoffm) Benth. et Hook.f. var. formosana (Boiss.) Shan et Yuan, họ Cần (Apiaceae).

4. Ki ểm nghi ệm 5.1 Đặc điểm dược liệu: Rễ nguyên, ít khi phân nhánh, thẳng hoặc hơi cong, đầu trên mang vết tích của cổ rễ, đầu dưới nhỏ dần, mặt ngoài vàng nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc, có dấu vết của rễ con và nhiều chỗ sần sùi nhô lên. Chất cứng chắc, khó bẻ, vết bẻ nhiều bột, mùi hắc, vị hơi cay (Vị thuốc Bạch chỉ). 5.2 Đặc điểm vi học Ðặc điểm vi phẫu Mặt cắt rễ tròn. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần gồm những tế bào hình chữ nhật xếp thành các vòng đồng tâm và dãy xuyên tâm. Mô mềm vỏ cấu tạo từ những tế bào thành mỏng, rải rác có các khuyết, các tế bào ở phía ngoài thường bị ép bẹp. Libe tạo thành các bó sít nhau. Trong libe rải rác có các ống tiết. Tầng phát sinh libe-gỗ tạo thành vòng rất rõ. Các mạch gỗ lớn tập trung thành các dãy hướng tâm trong mô mềm gỗ không hoá gỗ. Tia tuỷ rộng gồm 5-10 dãy tế bào (Vi phẫu rễ Bạch chỉ). Ðặc điểm bột dược liệu Bột màu trắng ngà, mùi hắc, vị cay hơi đắng. Soi kính hiển vi thấy rất nhiều hạt tinh bột hình tròn hoặc hình khối nhiều mặt, riêng lẻ (2) hay tập trung thành đám trong tế bào mô mềm (1), các mảnh mạch mạng hoặc mạch vạch (3) (Một số đặc điểm bột Bạch chỉ). 5.3 Định tính A. Bột dược liệu, chiết bằng ethanol trên cách thuỷ, lọc, cô dịch lọc. Cho một ít dịch lọc vào ống nghiệm, thêm 1 ml dung dịch natri carbonat 10%, hay natri hydroxyd 10% và 3 ml nước cất, đun cách thuỷ vài phút, để thật nguội, cho từ từ từng giọt thuốc thử Diazo sẽ xuất hiện màu đỏ cam. B. Lấy một ít bột dược liệu, thêm nước, lắc đều trong vài phút, lọc, nhỏ 2 giọt dịch lọc vào tờ giấy lọc, để khô, quan sát dưới ánh sáng tử ngoại (365 nm) thấy có huỳnh quang màu xanh da trời. C. Chiết bột dược liệu bằng ether trong ống nghiệm, Lấy dịch ether, thêm 2 - 3 giọt dung dịch hydroxylamin hydroclorid 7% trong methanol và 2 - 3 giọt dung dịch kali hydroxyd 20% trong methanol. Lắc kỹ, đun nhẹ trên cách thuỷ, để nguội, điều chỉnh pH 3-4 bằng acid hydrocloric loãng, sau đó thêm 1-2 giọt dung dịch sắt (III) clorid 1% trong ethanol, thấy xuất hiện màu đỏ tím. D. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Sắc ký lớp mỏng).

- Tiến hành sắc ký lớp mỏng dùng bản mỏng: Silicagel G sấy ở 1200C trong 2 giờ với hệ dung môi khai triển: Benzen - ethyl acetat (9: 1). Dung dịch thử: Bột dược liệu, chiết bằng ethanol trên cách thuỷ, lọc, cô dịch lọc Dung dịch đối chiếu: Lấy khoảng 5 g bột Bạch chỉ mẫu, tiến hành chiết như dung dịch thử. Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng các dung dịch trên. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở 365 nm, trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết cùng màu xanh da trời và giá trị Rf với vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu. Tiến hành sắc ký lớp mỏng....Sắc ký đồ dịch chiết Bạch chỉ.. 5. Tác d ụng và công d ụng Bạch chỉ có tác dụng làm hạ sốt, giảm đau. Liều nhỏ làm tăng huyết áp, mạch chậm, hơi thở kéo dài, liều cao có thể gây co giật, tê liệt toàn thân khi thí nghiệm trên súc vật. Bạch chỉ có tác dụng làm giãn động mạch vành Tác dụng kháng khuẩn đối với một số vi khuẩn: Escherichia coli, Shigella dysenteriae và Salmonella typhi. Trong đông y dùng để chữa cảm sốt, nhức đầu, đặc biệt vùng trán, ngạt mũi do bị lạnh. Chữa đau nhức răng, bị thương tích viêm tấy. Chữa khí hư ở phụ nữ. Ngày dùng: 5-10g. 6. Ghi chú Bạch chỉ là một vị thuốc được dùng trong các bài thuốc chữa nhức đầu, cảm mạo. Nước ta có di thực và trồng Bạch chỉ ở nhiều địa phương. Bạch chỉ trồng ở vùng mát (SaPa, Tam Ðảo) thường có củ lớn hơn, Bạch chỉ trồng ở đồng bằng thường ra hoa sớm, phần lõi bị hoá gỗ nhiều. Ðể giả mạo Bạch chỉ ở Trung Quốc người ta dùng rễ của một số cây trong họ Cần như: Heracleum scabridum ?Franch.; Seseli mairei Wolff. Y học cổ truyền nước ta có sử dụng vị dược liệu mang tên Bạch chỉ nam, là rễ của cây Bạch chỉ nam (Millettia pulchra Kurz.), họ Ðậu (Fabaceae). Cây mọc hoang nhiều ở các vùng rừng núi phía Bắc (Cây Bạch chỉ nam). Bạch chỉ nam dùng cùng một số vị thuốc khác chữa đau bụng, đi ngoài, chú ý phân biệt.
7. Tài li ệu tham kh ảo Bài giảng Dược liệu Tập I - 1998 Tr. 342-346. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam Tập I. - NXB khoa học và kỹ thuật - 2004. Tr. 127133. Dược điển Việt Nam III. Tr. 314-315

Nguyễn Viết Thân - Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi- NXB khoa học và kỹ thuật- 2003. Tr.45-47.

Cây Bạch chỉ (Angelica dahurica (Fisc h. ex Hoffm), Benth. et Hook.f.)

Vị thuốc Bạch chỉ (Radix Angelicae dahuricae)

Vi phẫu rễ Bạch chỉ . Một số đặc điểm bột Bạch chỉ

PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ LỚP MỎNG Nguyên tắc Cách tiến hành Đánh giá Nguyên tắc: Phương pháp sắc ký lớp mỏng được dùng để định tính, thử tinh khiết và đôi khi để bán định lượng hoặc định lượng hoạt chất thuốc. Sắc ký lớp mỏng là một kỹ thuật tách các chất được tiến hành khi cho pha động di chuyển qua pha tĩnh trên đó đã đặt hỗn hợp các chất cần tách. Pha tĩnh là chất hấp phụ được chọn phù hợp theo từng yêu cầu phân tích, được trải thành lớp mỏng đồng nhất và được cố định trên các phiến kính hoặc phiến kim loại. Pha động là một hệ dung môi đơn hoặc đa thành phần được trộn với nhau theo tỷ lệ quy định trong từng chuyên luận. Trong quá trình di chuyển qua lớp hấp phụ, các cấu tử trong hỗn hợp mẫu thử được di chuyển trên lớp mỏng, theo hướng pha động, với những tốc độ khác nhau. Kết quả, ta thu được một sắc ký đồ trên lớp mỏng. Cơ chế của sự chia tách có thể là cơ chế hấp phụ, phân bố, trao đổi ion, sàng lọc phân tử hay sự phối hợp đồng thời của nhiều cơ chế tùy thuộc vào tính chất của chất làm pha tĩnh và dung môi làm pha động. Ðại lượng đặc trưng cho mức độ di chuyển của chất phân tích là hệ số di chuyển Rf được tính bằng tỷ lệ giữa khoảng dịch chuyển của chất thử và khoảng dịch chuyển của dung môi: trong đó: a là khoảng cách từ điểm xuất phát đến tâm của vết mẫu thử, tính bằng cm. b là khoảng cách từ điểm xuất phát đến mức dung môi đo trên cùng đường đi của vết, tính bằng cm. Rf: Chỉ có giá trị từ 0 đến l. Cách tiến hành Dụng cụ Bình triển khai, thường bằng thuỷ tinh trong suốt có kích thước phù hợp với các phiến kính cần dùng và có nắp đậy kín. Ðèn tử ngoại, phát các bức xạ có bước sóng ngắn 254 nm và bước sóng dài 365 nm. Dụng cụ để phun thuốc thử.

Tủ sấy điều nhiệt để hoạt hóa và sấy bản mỏng và sắc ký đồ, hoặc để sấy nóng đối với một số phản ứng phát hiện. Tủ hút hơi độc. Máy sấy dùng để sấy khô sắc ký đồ và cho phép chấm nhanh nhiều lần những dung dịch pha loãng chất cần phân tích. Một máy ảnh thích hợp (với ống kính Macro) có thể chụp lưu giữ sắc ký đồ ở ánh sáng ban ngày với khoảng cách 30-50 cm. Tủ lạnh để bảo quản những thuốc thử dễ hỏng. Micropipet nhiều cỡ từ l, 2, 5, 10 đến 20 ml, các ống mao quản hoặc dụng cụ thích hợp. Bản mỏng tráng sẵn chất hấp phụ có chất phát quang thích hợp. Trường hợp phòng thí nghiệm không có điều kiện trang bị các loại bản mỏng tráng sẵn thì tự chuẩn bị lấy bản mỏng với các dụng cụ sau đây: Các tấm kính phẳng có kích thước phù hợp đã được xử lý trước bằng hóa chất rồi rửa sạch bằng nước và sấy khô. Thiết bị trải chất hấp phụ lên tấm kính thành một lớp mỏng đồng đều, có chiều dày thích hợp. Giá để xếp các tấm kính đã trải. Chuẩn bị bản mỏng Sắp xếp các bản mỏng và chuẩn bị thiết bị: Các phiến kính phải được lau chùi cẩn thận và tẩy sạch hoàn toàn các chất béo bằng cách ngâm trong dung dịch sulfocromic. Sau đó, cọ kỹ bằng bàn chải dưới tia nước máy rồi tráng nước cất và sấy khô trên giá ở nhiệt độ thường hay trong tủ sấy. Ðiều chế vữa của chất hấp phụ: Chất hấp phụ được chọn lọc sao cho phù hợp với yêu cầu phân tích như: Silicagel G, kieselguhr, cellulose, nhôm oxyd, trong số đó silicagel G được dùng thông dụng nhất. Trộn 25g silicagel G với 50 ml nước cất và nhào trong cối hoặc lắc mạnh trong bình nón có dung tích 200 - 250 ml, nút kín, trong 30 - 45 giây. Dịch treo tạo được ở dạng lỏng và đồng nhất, se lại trong vài phút sau đó, vì có bột bó. Rót ngay vào thiết bị trải đã điều chỉnh độ dày cho bản mỏng khoảng 0,25 mm (nếu không có chỉ dẫn trong chuyên luận riêng). Ðể nguyên các phiến kính tại chỗ khoảng 10 phút tới khi mặt trên hết bóng, hoặc để khô tự nhiên qua đêm tại nhiệt độ phòng. Hoạt hóa: Cho các bản mỏng đã khô mặt vào tủ sấy và sấy ở 105 - 110oC trong 30 phút (nếu không có chỉ dẫn ở chuyên luận riêng). Ðể nguội rồi bảo quản trong bình hút ẩm. Khi

dùng, nếu cần thì hoạt hóa lại bằng cách sấy ở 105-1100C trong 1 giờ rồi cạo bỏ một dải mỏng chất hấp phụ dọc hai bên cạnh của tấm kính. Chuẩn bị bình khai triển: Các bình khai triển thường là bình thủy tinh, hình hộp hay hình trụ, có nắp đậy kín, kích thước thay đổi tùy theo yêu cầu của các bản mỏng sử dụng. Bão hòa hơi dung môi trong bình bằng cách lót giấy lọc xung quanh thành trong của bình, rồi rót một lượng vừa đủ dung môi vào bình, lắc rồi để giấy lọc thấm đều dung môi. Lượng dung môi sử dụng sao cho sau khi thấm đều giấy lọc còn lại một lớp dày khoảng 5 mm đến 10 mm ở đáy bình. Ðậy kín nắp bình và để yên 1 giờ ở nhiệt độ 20 - 25oC. Muốn thu được những kết quả lặp lại, ta chỉ nên dùng những dung môi thật tinh khiết, loại dùng cho sắc ký. Những dung môi dễ bịến đổi về hóa học chỉ nên pha trước khi dùng. Nếu sử dụng những hệ pha động phức tạp phải chú ý đến những thành phần dễ bay hơi làm thay đổi thành phần của hệ pha động dẫn đến hiện tượng không lặp lại của trị số Rf. Chấm chất phân tích lên bản mỏng: Lượng chất hoặc hỗn hợp chất đưa lên bản mỏng có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả tách sắc ký, đặc bịệt ảnh hưởng rất lớn đến trị số Rf. Lượng chất quá lớn làm cho vết sắc ký lớn và kéo dài, khi đó, vết của các chất có trị số Rf gần nhau sẽ bị chồng lấp. Lượng chất nhỏ quá có thể không phát hiện được do độ nhạy của thuốc thử không đủ (thông thường độ nhạy của các thuốc thử trên 0,005 mg). Lượng mẫu thông thường cần đưa lên bản mỏng là 0,1 - 50 mg ở dạng dung dịch trong ether, c1oroform, nước hay dung môi thích hợp khác. Thể tích dung dịch từ 0,001 ml đến 0,005 ml đối với trường hợp đưa mẫu lên bản mỏng dưới dạng điểm và từ 0,l - 0,2 ml khi đưa mẫu lên bản mỏng dưới dạng vạch như trong trường hợp sắc ký điều chế. Ðối với sắc ký điều chế thì lượng chất có thể lên tới 10 - 50 mg. Ðối với các dung dịch có nồng độ rất loãng thì có thể làm giàu trực tiếp trên bản mỏng bằng cách chấm nhiều lần ở cùng một vị trí và sấy khô sau mỗi lần chấm. Ðường xuất phát phải cách mép dưới của bản mỏng 1,5cm - 2 cm và cách bề mặt dung môi từ 0,8 - 1 cm. Các vết chấm phải nhỏ, có đường kính 2 - 6 mm và cách nhau 15 mm. Các vết ở bìa phải cách bờ bên của bản mỏng ít nhất 1 cm để tránh hiệu ứng bờ. Khi làm sắc ký lớp mỏng bán định lượng, độ chính xác của kết quả phân tích phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác của lượng chất thử đưa lên bản mỏng, tức là thể tích dung dịch chấm lên bản mỏng. Do đó, với những trường hợp phân tích bán định lượng phải dùng các mao quản định mức chính xác. Khi không cần định lượng dùng micropipet hoặc ống mảo quản thường. Triển khai sắc ký: Ðặt bản mỏng gần như thẳng đứng với bình triển khai, các vết chấm phải ở trên bề mặt của lớp dung môi khai triển. Ðậy kín bình và để yên ở nhiệt độ không đổi. Khi dung môi đã triển khai trên bản mỏng được một đoạn theo quy định trong chuyên

luận, lấy bản mỏng ra khỏi bình, đánh dấu mức dung môi, làm bay hơi dung môi còn đọng lại trên bản mỏng rồi hiện vết theo chỉ dẫn trong chuyên luận riêng. Đánh giá: Quan sát các vết xuất hiện, tính giá trị Rf hoặc Rr và tiến hành định tính, phát hiện tạp chất hoặc định lượng như quy định trong chuyên luận riêng. Việc sắc ký lớp mỏng được tiến hành trong điều kiện chuẩn hoá cho kết quả có độ tin cậy cao hơn. Hiện nay người ta thường tiến hành sắc ký với sự giúp đỡ của hệ thống sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao

Bản mỏng Silicagel GF254 Dịch chiết/MeOH Hệ dung môi: Benzen - Ethylacetat (95:5) 1. Sắc ký đồ dịch chiết Đương quy 2. Sắc ký đồ dịch chiết Bạch chỉ A. Ảnh sắc ký đồ ở bước sóng 254nm B. Ảnh sắc ký đồ ở bước sóng 366nm C. Ảnh sắc ký đồ sau khi hiện màu bằng thuốc thử Vanilin/EtOH/H2SO4đ ở ánh sáng thường

SẮC KÝ ĐỒ DỊCH CHIẾT ĐƯƠNG QUY BẠCH CHỈ

Cây Bạch chỉ nam(Millettia pulchra Kurz.)

Radix Glycyrrhizae Index

1. Định nghĩa
dược liệu

2. Đặc điểm
thực vật 1. Đ ịnh nghĩa d ược li ệu Rễ, thân rễ phơi hay sấy khô của cây Cam thảo bắc Glycyrrhiza uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata Bat., Glycyrrhiza glabra L.), Họ Ðậu (Fabaceae)

3. Thành phần
hoá học

4. Kiểm nghiệm 5. Tác dụng,
công dụng

6. Ghi chú 7. Tài liệu tham
khảo 2. Đ ặc đi ểm th ực v ật Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,3-1m. Rễ dài có màu vàng nhạt. Thân có lông mềm, ngắn. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 9-17 lá chét hình trứng, mép nguyên. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành bông, hoa màu tím nhạt, tràng hoa hình cánh bướm. Quả đậu, cong hình lưỡi liềm, dài 3-4cm, rộng 6-8mm, quả màu nâu đen, có lông dày, chứa 2-8 hạt nhỏ, dẹt, màu nâu bóng. Mùa hoa: tháng 6-7; mùa quả: tháng 8-9. Loài Cam thảo Âu (Glycyrrhiza glabra L.) cũng được dùng với công dụng tương tự. Khác với cam thảo Bắc ở chỗ lá chét thuôn dài, hoa màu nâu nhạt, quả rất dẹt, thẳng hoặc hơi cong, dài 2-3 cm, rộng 3-4 mm, nhẵn bóng hoặc có lông ngắn, số hạt ít hơn. Chi Glycyrrhiza L. trên thế giới có khoảng 12 loài, phân bố ở vùng ôn đới ấm, hoặc á nhiệt đới thuộc Châu á, Châu Âu và Bắc Châu Phi. Tuy nhiên, nơi phân bố tập trung của nhiều loài lại là vùng Trung á, bao gồm Iran, Azecbaizan, Cazaxtan, ấn Ðộ, Nga, Trung Quốc và Mông Cổ. Cam thảo bắc được nhập vào nước ta từ Trung quốc và Liên xô cũ. Cho đến nay, Cam thảo bắc vẫn chưa trồng thành công ở nước ta. Dược liệu phải nhập hoàn toàn. 3. Thành ph ần hoá h ọc Các saponin, flavonoid, dẫn chất coumarin, đường, tinh bột...

- Glycyrrhizin là môt saponin thuộc nhóm olean, hàm lượng từ 10-14% trong dược liệu khô, chỉ có trong bộ phận ở dưới mặt đất, có vị ngọt (gấp 600 lần đường saccharose). Ðây là saponin quan trọng nhất của rễ Cam thảo. Glycyrrhizin được Robiquet phân lập năm 1809 dưới dạng mảnh màu vàng. Glycyrrhizin tinh khiết dạng bột kết tinh trắng dễ tan trong nước nóng, cồn loãng, không tan trong ether và chloroform. Glycyrrhizin ở trong cây dưới dạng muối Mg và Ca của acid glycyrrhizic. Dưới tác dụng của acid vô cơ, acid glycyrrhizic bị đẩy ra khỏi muối của nó. Khi thuỷ phân bằng acid thì nó cho phần aglycon là acid glycyrrhetic và 2 phân tử acid glucoronic. Acid glycyrrhetic có một OH ơ C3 (2 phân tử acid glucoronic nối vào đó), một nhóm carbonyl ở C-11 và ở C-30 là nhóm carboxyl. Glycyrrhizin trên thị trường là ammoni glycyrrhizat thu được bằng cách chiết bột cam thảo với nước rồi acid hoá để kết tủa, rửa tủa lại rồi hoà tan trong ammoniac, bốc hơi trong khay bằng mặt sẽ thu được những vẩy màu đen nhạt, bóng, tan trong nước và rất ngọt. Trong cam thảo còn có các dẫn chất triterpenoid khác như: acid liquiritic (acid này khác acid glycyrrhetic bởi nhóm carbonyl ở C-29), acid 18-a-hydroxyglycyrrhetic, acid 24hydroxyglycyrrhetic, glabrolid, desoxy glabrolid, isoglabrolid, 24-a-hydroxyglabrolid, acid liquiridiolic, acid 11-desoxyglycyrrhetic, acid 24-hydroxy 11-desoxoglycyrrhetic. - Các flavonoid là các nhóm hoạt chất quan trọng thứ hai có trong rễ cam thảo với hàm lượng 3-4%. Có 27 chất đã được biệt, quan trọng nhất là hai chất liquiritin (hay liquiritirosid) và isoliquiritin (hay isoliquiritirosid). Có nhiều flavonoid thuộc các nhóm khác: isoflavan (glabridin), isoflavon (glabron), isoflaven (glabren) - Những hoạt chất estrogen steroid: phần này tan trong ether dầu hoả. Những dẫn chất coumarin: umbelliferon, herniarin, liqcoumarin - Trong rễ cam thảo còn có 20-25% tinh bột, 3-10% glucose và saccharose. 4. Ki ểm nghi ệm 4.1. Ðặc điểm dược liệu Rễ hình trụ, dài 20-30 cm, đường kính 0,5-1,5 cm. Loại chưa cạo vỏ mặt ngoài màu nâu đỏ, nhiều nếp nhăn dọc. Loại đã cạo vỏ có màu vàng nhạt. Chất dai, khó bẻ, vết bẻ nhiều xơ, có màu vàng (Vị thuốc Cam thảo). 4.2. Ðặc điểm vi phẫu Mặt cắt dược liệu tròn, từ ngoài vào trong có: Lớp bần tương đối dày gồm những tế bào hình chữ nhật xếp thành vòng đồng tâm và dãy xuyên tâm, có nhiều chỗ bị nứt, rách, thường cuộn xoắn ra phía ngoài. Mô mềm vỏ cấu tạo từ những tế bào thành mỏng, phần ngoài thường bị ép bẹt. Libe gồm những tế bào nhỏ, xếp thành từng đám

hình nón cùng với các bó gỗ tạo thành từng chồng riêng biệt, trong libe có nhiều bó sợi. Tầng phát sinh libe-gỗ ở giữa phần libe và gỗ của mỗi bó. Gỗ có nhiều mạch gỗ to, nhỏ khác nhau, vi phẫu rễ các bó gỗ xuất phát từ tâm, vi phẫu thân rễ ở giữa có mô mềm ruột cấu tạo bởi những tế bào kích thước lớn, thành mỏng, trong mô gỗ có các bó sợi gỗ. Tia ruột cấu tạo từ 3-7 hàng tế bào. Trong các mô đặc biệt ở sát sợi có các tinh thể calci oxalat hình khối (Vi phẫu rễ Cam thảo). Quan sát vi phẫu dưới kính hiển vi huỳnh quang thấy mô gỗ và sợi có huỳnh quang vàng sáng (Vi phẫu thân rễ Cam thảo dưới kính hiển vi huỳnh quang). 4.3. Ðặc điểm bột dược liệu Bột màu vàng chanh, mùi thơm, vị ngọt. Soi dưới kính hiển vi thấy: Mô mềm mang tinh bột (1). Mảnh bần cấu tạo từ những tế bào hình đa giác (2). Mảnh mạch vạch, điểm (3). Bó sợi mang tinh thể calci oxalat hình khối kích thước khoảng 0,02-0,035 mm (4,5). Tinh bột hình tròn hoặc hình trứng kích thước khoảng 0,005-0,015 mm (6) (Một số đặc điểm bột Cam thảo). 1.4. Hoá học A. Nhỏ dung dịch amoniac lên bột dược liệu sẽ có màu vàng tươi, thêm acid sulfuric 80% sẽ có màu vàng cam. B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng. Sử dụng bản mỏng: Silicagel G đã hoạt hóa ở 105oC trong 1 giờ với hệ dung môi khai triển: Ether dầu hỏa (điểm sôi trong khoảng 30-60oC) - benzen - ethyl acetat - acid acetic băng (10:20:7:0,5). Dung dịch thử: Bột dược liệu acid hoá bằng acid hydrocloric và chiết bằng cloroform, đun hồi lưu trong 1 giờ, để nguội, lọc. Bốc hơi dịch chiết đến cắn, thêm vào cắn một ít ethanol. Dung dịch đối chiếu: Lấy acid glycyrrhetic, hoà tan trong ethanol để được dung dịch có nồng độ 1 mg/ml. Nếu không có acid glycyrrhetic, dùng bột Cam thảo chiết như dung dịch thử. Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng các dung dịch trên. Sau khi triển khai xong, lấy bản mỏng ra để khô ngoài không khí, phun dung dịch acid phosphomolypdic 10% trong ethanol (TT), sấy bản mỏng ở 105oC trong 5 phút. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết có cùng màu sắc và giá trị Rf với vết acid glycyrrhetic trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu. Nếu dùng Cam thảo để chiết dung dịch đối chiếu, trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Có thể sử dụng sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) để kiểm nghiệm Cam thảo. Quá trình chiết, hệ dung môi khai triển, thuốc thử hiện màu được trình bày ở Sắc ký đồ dịch chiết các dược liệu chứa saponin - vệt 8, ảnh I, II, III. Ðịnh lượng Cân chính xác một lượng bột dược liệu chiết nhiều lần bằng ethanol 20% trên nồi cách thủy sôi. Tập trung dịch chiết vào cốc có mỏ có dung tích 250 ml, thêm 30 ml ethanol (TT), để yên qua đêm. Lọc lấy phần nước trong và đuổi hết ethanol trên nồi cách thủy, để nguội. Thêm 1 ml amoni hydroxyd đậm đặc, khuấy đều. Ðặt tiếp vào trong nước đá đang tan trong 30 phút, ly tâm, lấy kết tủa, loại bỏ lớp nước. Thêm 10 ml ethanol (TT) vào ống ly tâm, khuấy kỹ cho tan lớp kết tủa, lọc qua giấy lọc đã tẩm ethanol, hứng dịch lọc vào một cốc đã cân bì sẵn, rửa ống ly tâm và giấy lọc với ethanol tới khi nước rửa hết màu vàng. Tập trung tất cả dung dịch ethanol, lại bốc hơi trên nồi cách thủy đến cắn, sấy cắn trong 3 giờ ở 105oC. Lấy ra để nguội trong bình hút ẩm. Cân tính kết quả. Hàm lượng acid glycyrrhetic trong dược liệu khô kiệt không được dưới 6%. 5. Tác d ụng và công d ụng Tác dụng: - Tác dụng gây trấn tĩnh, ức chế thần kinh trung ương, giảm vận động tự nhiên, hạ thể nhiệt, giảm hô hấp. - Tác dụng giảm ho - Tác dụng giải co thắt cơ trơn - Chữa loét đường tiêu hoá, ức chế tác dụng gây tăng tiết dịch vị của histamin. - Bảo vệ gan trong viêm gan mạn tính và tăng bài tiết mật. - Chống viêm gan và chống dị ứng - Tác dụng oestrogen - Chữa bệnh addison và trong cam thảo có acid glycyrrhizic cấu tạo gần như cortison nên có tác dụng trên sự chuyển hoá các chất điện giải, giữ Natri và clorid trong cơ thể, giúp sự bài tiết kali. Tác dụng giải độc, chứng minh Natri glycyrrhizat có hiệu lực chống lại tác dụng các chất gây độc trên tim, đồng thời kích thích cơ tim giống Adrenalin. Natri và kali glycyrrhizat có tác dụng giả độc mạnh đối với độc tố của bạch hầu, chất độc của cá, lợn, nọc rắn đồng thời có tác dụng bảo vệ chống choáng. Glycyrrhizin có khả năng giải độc đối với strychnin, độc tố uốn ván, cocain hydroclorid và cloral hydrat. Cam thảo

còn có tác dụng lợi tiểu, chữa táo bón, chữa một số bệnh về da. Dùng thời gian dài có thể gây phù. Công dụng Cam thảo sống được làm thuốc chữa cảm, ho mất tiếng, viêm họng, mụn nhọt, đau dạ dày, ỉa chảy, ngộ độc. Cam thảo chích có tác dụng bổ, chữa tỳ vị hư nhược, ỉa lỏng, thân thể mệt mỏi, kém ăn. Ngàydùng 4 - 20g dưới dạng bột, thuốc hàm, nước sắc và cao mềm. Cam thảo bắc còn dùng để: - Chữa bệnh loét dạ dày và ruột, tác dụng giảm loét, giảm co thắt cơ, giảm tiết acid hydrocloric. Ngày uống 3 - 5g, uống liền 7 - 14 ngày, sau đó nghỉ vài ngày để trành phù nề. - Chữa bệnh Addison, mỗi ngày uống 10 - 30 ml cao lỏng cam thảo bắc, uống liền 1 tháng hay hơn. Hiện tượng phù nhẹ do thuốc sẽ mất đi sau khi ngừng dùng thuốc. 6. Ghi chú - Tên khác: Diêm cam thảo, Sinh cam thảo, Phấn cam thảo. - Chích Cam thảo: Cam thảo phiến đem tẩm mật (cứ 1kg cam thảo phiến, dùng 200g mật, thêm 200g nước sôi), rồi sao vàng thơm. - Về mặt thực vật dược liệu Cam thảo có thể là rễ hoặc thân rễ, một số tài liệu có lưu ý về vấn đề này [24]. - Y học dân gian dùng một số cây mang tên Cam thảo: Cam thảo dây (Abrus precatorius L.), Cam thảo đất (Scoparia dulcis L.), chú ý tránh nhầm lẫn.
7. Tài li ệu tham kh ảo Bài giảng Dược liệu Tập I - 1998 Tr. 143-149. Dược điển Việt Nam III. Tr. 307 Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam Tập I. - NXB khoa học và kỹ thuật - 2004. Tr. 326331. Đỗ Tất Lợi - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - NXB Y học - 2003. Tr. 863-868. Nguyễn Viết Thân - Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi- NXB khoa học và kỹ thuật- 2003. Tr.35-36 Jean BRUNETON Pharmacognosy, Phytochemistry, Medicinal Plants - Technique & Documentation - Lavoisier, 1995 (Translated by Caroline K. Hatton) (549-554). Д.А. Муравьева - Фармакогнозия - Москва - Медицина 1991. Стр.261-266.

Rhizoma Rhei N ội dung

1. Định nghĩa dược
liệu

2. Đặc điểm thực
vật học Đ ịnh nghĩa d ược li ệu của cây Ðại hoàng (Rheum palmatum L.) hoặc (Rheum officinale Baillon) hoặc giống lai của hai loài

3. Thành phần hoá Dược liệu là thân rễ đã cạo vỏ và phơi hay sấy khô 4. Kiểm nghiệm
dụng

5. Tác dụng, công trên, họ Rau răm (Polygonaceae). 6. Ghi chú 7. Tài liệu tham
khảo

Đ ặc đi ểm th ực v ật Cây thuộc thảo lớn, sống dai nhờ thân rễ to. Lá mọc thành cụm từ thân rễ, có kích thước lớn, có cuống dài, có bẹ chìa, phiến lá hình tim rộng 30 - 40cm, phân thành 5 đến 7 thùy chính, các thùy này cũng có thể phân lần thứ hai hoặc đôi khi lần thứ ba. Lá của Rheum palmatum thì có những thùy sâu hơn R.officinale. Gân lá nổi mặt dưới, thường màu đỏ nhạt. Từ năm thứ 3 -4 thì xuất hiện 1 thân mọc lên cao 1 -2m mang một số lá nhỏ. Phần ngọn thân là chùm hoa hình chùy mang nhiều hoa. Bao hoa gồm 6 bộ phận màu trắng, xanh nhạt, hoặc đỏ nhạt, 9 nhị. Thành ph ần hoá h ọc Thành phần hoạt chất trong Đại hoàng chủ yếu là các dẫn chất anthranoid, tồn tại ở các dạng khác nhau: - Anthraquinon tự do gồm có: chrysophanol (1,8-dihydroxy-3-methylanthracene-9,10dione), emodin, physcion, aloe emodin (1,8-dihydroxy-3-(hydroxymethyl)anthracene9,10-dione) và rhein (4,5-dihydroxy-9,10-dioxo-9,10-dihydroanthracene-2-carboxylic acid).

- Các glucosid của anthraquinon. Chiếm khoảng 60 - 70% của toàn phần hoạt chất và gồm các glucosid của các aglycon nói ở trên. - Các glucosid của các anthranol và anthron tương ứng với những aglycon nói trên. Những dẫn chất này dễ bị oxy hóa thành các dẫn chất anthraquinon. - Các dẫn chất dimer dianthron tồn tại trong cây dưới dạng mono và diglucosid. Ví dụ: sennidin A, B, C . - Các heterodianthron carboxylic như rheidin A, B, C, các heterodianthron không có nhóm carboxyl như palmidin A (= heterodianthron của emodin và aloe emodin), palmidin B (= heterodianthron của aloe emodin và chrysophanol) và palmidin C (= heterodianthron của rheum emodin và chrysophanol). - Trong đại hoàng còn có deshydrodianthron như dirhein. - Thành phần thứ hai đáng chú ý là tanin (khoảng 5% - 12%) chủ yếu thuộc nhóm pyrocatechic và một phần thuộc nhóm pyrogallic. Các chất này dễ tan trong cồn. Ngoài ra trong đại hoàng còn có nhiều chất vô cơ (nhiều calci oxalat). Tinh bột, pectin; một chất nhựa ít được nghiên cứu cũng có tác dụng tẩy xổ. Ki ểm nghi ệm Ðặc điểm dược liệu Thân rễ tươi to, có thể có chiều dài 20-30cm, đường kính 8-10cm, có nhiều nhánh hình trụ đường kính 2-3cm. Sau khi đào về thì cắt bỏ rễ, còn thân rễ đem gọt bỏ vỏ ngoài, bổ nhỏ (dọc hoặc ngang) rồi phơi hoặc sấy khô. Cất giữ sau 1 năm mới dùng. Bên ngoài : Những miếng hình thù không giống nhau, thường có hình đĩa, hình trụ hoặc một mặt phẳng một mặt lồi đường kính 5-10cm. Mặt ngoài màu vàng nâu, đôi khi có những đám màu đen nhạt, trên mặt đôi chỗ thấy rõ một mạng lưới màu trắng, mắt hình quả trám. Khi bẻ vết bẻ có màu đỏ cam không mịn. Mùi đặc biệt, vị đắng và chát (Vị thuốc Đại hoàng). Vi học Ðặc điểm vi phẫu Vi phẫu cắt ngang từ ngoài vào trong có: Mô mềm vỏ hẹp, libe ít phát triển, tầng sinh libe - gỗ có 3 - 5 hàng tế bào, phía trong là phần gỗ xếp toả tròn. Phần ruột rộng có cấu tạo cấp ba được thành lập nhờ những tầng phát sinh phụ xuất hiện dưới dạng vòng tròn nhỏ sinh ra libe ở giữa và gỗ ở chung quanh. Các đám libe - gỗ cấp ba này có các tia ruột tỏa ra giống như những hình sao rất đặc biệt. Mô mềm có chứa tinh bột và tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Ðặc điểm bột dược liệu

Bột màu vàng sẫm, vị hơi đắng, mùi thơm dịu. Dưới ánh sáng tử ngoại có huỳnh quang nâu. Soi dưới kính hiển vi thấy: Mảnh bần (1), các mảnh tế bào mô mềm chứa tinh bột (2), các mảnh mạch chấm, mạch vạch, mạch mạng (3). Tinh thể calci oxilat hình cầu gai to, đường kính 0,05-0,08mm (4), thường bị vỡ thành các mảnh. Tinh bột hình tròn, có rốn hạt hình sao rõ, đường kính 0,01-0,02mm (5), đứng riêng lẻ hoặc kép đôi, kép 3, kép 4 hoặc tập trung thành khối. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm, bột có huỳnh quang màu nâu (Một số đặc điểm bột Đại Hoàng). Hoá học Định tính. Phản ứng Borntraeger: Bột dược liệu chiết bằng H2SO4 1N ở nhiệt độ sôi, lọc, dịch lọc đem lắc với đồng thể tích benzen. Lớp benzen có màu vàng do có các anthraquinon tự do hòa tan. Tách lớp benzen rồi lắc với ammoniac, lớp ammoniac sẽ nhuộm màu đỏ. Lớp benzen còn lại hơi có màu vàng (do chrysophanol) nếu đem lắc với dung dịch KOH N thì lớp benzen hết màu còn lớp KOH có màu hồng. Sắc ký. Dược điển Pháp 1965 dùng sắc ký giấy để định tính các dẫn chất anthranoid và để phát hiện sự trộn lẫn các loài Rheum khác như R. rhaponticum L., R. undulatum L. Các loài Rheum này ngoài các dẫn chất anthranoid còn có thêm một heterosid đặc biệt là rhaponticosid (= glucosid của trihydroxy-3,5,3-methoxy-4- stilben). Chất này có hoạt tính estrogen và có huỳnh quang xanh dưới ánh đèn tử ngoại. Người ta tiến hành sắc ký giấy bằng cách chấm 5 - 10ml một dung dịch 1/5 dược liệu trong cồn 60%, khai triển theo chiều đi lên với dung môi butanol-acid acetic-nước (4:1:5). Dưới ánh sáng tử ngoại thì có các vết da cam có các Rf khoảng 0,55 ; 0,70 và 0,95 (các dẫn chất anthranoid), các vết này có màu hồng đến đỏ ở ánh sáng thường sau khi phun dung dịch KOH trong cồn. Không được có những vết màu xanh dưới ánh đèn tử ngoại do rhaponticosid và genin của nó (Rf khoảng 0,5 và 0,80). Dược điển Trung quốc áp dụng S.K.L.M để xác định đối chiếu mẫu kiểm nghiệm với mẫu Đại hoàng chuẩn cùng tiến hành trong những điều kiện như nhau: chiết bằng methanol bốc hơi đến khô, thêm nước và acid hydrochloric rồi đun 30 phút trên nồi cách thủy để thủy phân. Làm nguội, chiết các anthraquinon tự do với ether, bốc hơi ether, hòa tan cặn trong chloroform để chấm chạy sắc ký. Sắc ký hai chiều với bản mỏng silicagel G. Dung môi thứ nhất là lớp trên của hỗn hợp benzen -ethylformat methanol - acid formic - nước (3:1 : 0,2 : 0,05 : 0,5), dung môi thứ hai là lớp trên của hỗn hợp hexan- ether dầu hỏa (điểm sôi 60 - 90oC)- ethylformat - acid formic - nước (3 : 1 :1,5 : 0,1 : 0,5). Phát hiện dưới đèn U.V (254nm ). Ðịnh lượng. Dược điển Việt nam chọn phương pháp Auterhoff để định lượng các dẫn chất anthranoid trong đại hoàng. Cân chính xác khoảng 0,05g dược liệu đã tán thành

bột mịn, cho vào một bình nón 100ml. Thêm 7,5ml acid acetic băng (T.T) và đun sôi hỗn hợp trong 15 phút với ống sinh hàn ngược. Sau khi nguội, thêm vào bình qua ống sinh hàn ngược 30ml ether ethylic (T.T) và đun sôi 15 phút trên nồi cách thủy. Làm nguội dịch chiết, lọc qua bông vào một bình gạn 300ml và rửa bông bằng 20ml ether ethylic (T.T). Cho bông vào bình nón, thêm 30ml ether ethylic (T.T) và đun sôi 10 phút nữa. Lọc dịch chiết ether đã làm nguội qua bông khác vào bình gạn nói trên. Tráng bình nón hai lần bằng ether ethylic (T.T), mỗi lần dùng? 10ml và lọc qua bông trên. Thêm cẩn thận 100ml dung dịch NaOH - ammoniac vào dịch chiết ether - acid acetic đựng trong bình gạn, lắc trong 5 -7 phút rồi làm nguội bình. Sau khi hỗn hợp đã phân lớp hoàn toàn, gạn lớp nước màu đỏ và trong suốt ở dưới vào một bình định mức 250ml. Chiết lớp ether còn lại với từng lượng 20ml dung dịch NaOH - ammoniac cho đến khi lớp nước không có màu. Tập trung các dung dịch nước kiềm vào bình định mức và thêm dung dịch kiềm tới vạch. Hút 25ml dung dịch thu được cho vào một bình nón và đun nóng 15 phút trên nồi cách thủy với ống sinh hàn ngược. Sau khi nguội, đo mật độ quang của dung dịch bằng quang kế với kính lọc màu lục, trong cốc dày 1cm, so sánh với nước. Khi dung dịch có màu quá sẫm, trước khi đo phải pha loãng bằng dung dịch NaOH - ammoniac. Nồng độ dẫn chất anthranoid trong dung dịch cần đo được biểu thị bằng 1,8 dihydroxy anthraquinon và xác định theo đường cong chuẩn xây dựng bằng các dung dịch cobalt chlorid. Ðể có đường cong chuẩn, pha một dãy dung dịch cobalt chlorid có nồng độ từ? 0,2 - 5% và đo mật độ quang của các dung dịch này, biết rằng mật độ quang học của dung dịch cobalt chlorid 1% bằng mật độ quang của 0,36mg 1,8dihydroxy anthraquinon trong 100ml dung dịch NaOH - ammoniac. Dược liệu phải chứa ít nhất 2,5% dẫn chất anthranoid biểu thị bằng 1,8 - dihydroxy anthraquinon. (Dung dịch HaOH - ammoniac : Cách pha xem phần đại cương) Ðịnh lượng các Anthranoid acid. Người ta cho rằng những dẫn chất carboxylic của đại hoàng có vai trò sinh lý đáng kể nên có khi tiến hành định lượng riêng phần này. Muốn vậy, từ dịch chiết các dẫn chất anthranoid toàn phần? trong chloroform (theo phương pháp chiết xuất chung) người ta trích ra một thể tích xác định rồi đem lắc với dung dịch natri hydrocarbonat trong nước. Dung dịch này chỉ hòa tan các dẫn chất anthranoid mà trong phân tử có gốc carboxyl. Tiếp theo, đem acid hóa dung dịch hydrocarbonat rồi chiết các dẫn chất anthranoid acid bằng ether, sau đó đem lắc dung dịch ether với dung dịch alcalihydroxyd rồi mới tiến hành so màu. Ðịnh tính

A.Ðun sôi 0,1 g bột dược liệu với 5 ml dung dịch acid sulfuric 1N trong 2 phút. Ðể nguội, lắc kỹ hỗn hợp với 10 ml ether ethylic (TT). Tách riêng lớp ether vào một bình gạn và lắc với 5 ml dung dịch amoniac 10% (TT). Lớp dung dịch amoniac sẽ nhuộm màu đỏ tím. B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Sắc ký lớp mỏng). Sử dụng bản mỏng Silicagel G đã hoạt hoá ở 105oC trong 1 giờ. Dung môi khai triển: Ether dầu hoả - ethyl acetat - acid formic (75:25:1). Dung dịch thử: Lấy 0,1 g bột dược liệu cho vào bình nón, thêm 30 ml nước và 1 ml acid hydrocloric đậm đặc (TT), đun trong cách thuỷ 15 phút. Ðể nguội, lọc, lắc dịch lọc với 25 ml ether ethylic (TT). Gạn lấy lớp ether, lọc qua natri sulfat khan. Bốc hơi dịch ether đến cắn. Hòa tan cắn bằng 1 ml ether. Dung dịch đối chiếu: Hoà tan emodin trong ether ethylic để được dung dịch có nồng độ 1mg/ml. Nếu không có chất chuẩn đối chiếu emodin, dùng 0,1 g bột Ðại hoàng, tiến hành chiết như dung dịch thử. Cách tiến hành: Chấm riêng rẽ lên bản mỏng các dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, để khô bản mỏng ở nhiệt độ phòng, quan sát bản mỏng dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm hoặc hơ trong hơi amoniac. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết phát huỳnh quang màu vàng, có cùng giá trị Rf với vết emodin trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu. Nếu dùng dược liệu đối chiếu, trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu. Có thể sử dụng sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (Planar chromatoraphy) để định tính Đại hoàng (Sắc ký đồ dịch chiết một số dược liệu chứa anthranoid vết 3, 12) Ðịnh lượng Cân chính xác khoảng 0,1 g bột dược liệu đã qua rây có kích thước mắt rây 0,180 mm, cho vào bình nón có dung tích 250 ml. Thêm 30 ml nước cất và đun hồi lưu trong cách thuỷ trong 15 phút. Ðể nguội, thêm 50 mg natri hydrocarbonat (TT), lắc đều trong 2 phút. Ly tâm, lấy 10 ml dịch trong cho vào một bình cầu dung tích 100 ml, thêm vào 20 ml dung dịch sắt (III) clorid 2% (TT) và đun hồi lưu trong cách thuỷ 20 phút. Sau đó thêm 1 ml dung dịch acid hydrocloric đậm đặc (TT) và tiếp tục đun hồi lưu 20 phút nữa. Ðể nguội, chuyển tất cả hỗn hợp vào một bình gạn và chiết với ether ethylic (TT) ba lần, mỗi lần 25 ml. Gộp tất cả dịch chiết ether rồi rửa với nước hai lần, mỗi lần 15 ml. Lọc lớp ether qua bông vào một bình định mức 100 ml. Rửa phễu với ether và

thêm ether tới vạch. Lấy chính xác 10 ml ether cho vào cốc có mỏ dung tích 50 ml và bốc hơi đến cắn. Hoà tan cắn với 10 ml dung dịch magnesi acetat 0,5% trong methanol (TT), đo độ hấp thụ ở bước sóng 515 nm với mẫu trắng là methanol (Phụ lục 3.1). Hàm lượng phần trăm dẫn chất hydroxyanthracen tính theo rhein, được tính theo công thức: X: Hàm lượng dẫn chất hydroxyanthracen A: Ðộ hấp thụ ở bước sóng 515 nm. m: Lượng dược liệu đã trừ độ ẩm, tính bằng gam (g). Dược liệu phải chứa ít nhất 2,2% dẫn chất anthracen tính theo rhein. Tác d ụng và công d ụng Các dẫn chất anthranoid trong Ðại hoàng có tác dụng làm tăng nhu động ruột. với liều thấp có tác dụng nhuận tràng, liều cao làm thuốc tẩy nhẹ dùng cho người đầy bụng, đại tiện bí. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác. Các chế phẩm có Đại hoàng tác dụng cả lên cơ trơn của bàng quang và tử cung do đó phụ nữ có thai hoặc người bị viêm bàng quang không nên dùng. Do có tác dụng phụ là gây sung huyết nên không dùng cho người bị trĩ. Vì đại hoàng có chứa nhiều calci oxalat nên không dùng lâu cho người bị sỏi thận oxalic. Ghi chú Chi Rheum có khoảng 50 loài, việc xác định các loài rất khó vì có lai tạo giữa các loài và do địa dư khí hậu của từng nơi mà hình thái và cả thành phần hoá học cũng có thay đổi. Dược Ðiển của Trung Quốc quy định dùng các loài: Rheum palmatum L. , Rheum tanguticum Maxim. ex Balf., Rheum officinale Baill. Dược điển ấn Ðộ đưa Rheum emodi Wall., vào danh sách Ðại hoàng dược dụng. Dược điển Nhật quy định: Ðại hoàng là thân rễ của các loài Rheum palmatum L., Rheum tanguticum Maxim. ex Balf., Rheum officinale Baill., Rheum coreanum Nakai và các giống lai giữa chúng... Ðại hoàng có nguồn gốc ở Trung Quốc được dùng từ lâu đời và dần dần thâm nhập vào Châu âu. ở Trung Quốc cây mọc hoang hoặc trồng ở Cam túc, Thanh Hải, Tứ xuyên. Ðại hoàng mọc ở tỉnh Tứ xuyên được ưa chuộng và gọi là Xuyên đại hoàng. Nước ta còn phải nhập Ðại hoàng từ Trung Quốc. Ðể làm giả và thay thế Ðại hoàng ở Trung Quốc người ta dùng một số loài Rheum khác như:

- Tàng biên đại hoàng - Rheum emodi Wall. - Hoa bắc đại hoàng - Rheum franzenbachii Munt. - Tín châu đại hoàng- Rheum palmatum L. X Rheum coreanum Nakai. - Thiên sơn đại hoàng- Rheum wittrochii Lundstr. - Cao sơn đại hoàng- Rheum nobile Hook. f. et Thoms. - Ấn quả đại hoàng- Rheum mooreroftianum Royle - Hà sáo đại hoàng- Rheum hotaoense C.Y. Cheng et C.T. Kao - Thổ đại hoàng Rumex chalepensis Mill. - Tâm diệp đại hoàng- Rheum acuminatum Hook. f. et Thoms. [31]. Bào chế đại hoàng trong Y học dân tộc cổ truyền : Dùng nước tẩm, ủ cho mềm rồi thái phơi khô Tửu đại hoàng tức là đại hoàng tẩm rượu: 50kg đại hoàng thêm 50kg rượu, cho vào nồi đun nhỏ lửa, hơi se thì lấy ra, thái, phơi chỗ mát. Ðại hoàng thán là đại hoàng thái miếng, cho vào nồi sao lửa đến khi bên ngoài có màu nâu cánh dán, vẫn còn hương vị đại hoàng, phun rượu.

Thục đại hoàng: thái miếng nhỏ, trộn với rượu, cho vào thùng đậy kín, đặt vào nồi nước, đun cách thủy cho chín, lấy ra phơi khô là được. Cứ 50kg đại hoàng thì 15 - 20kg rượu.

end of page Nội dung 1. Định nghĩa dược liệu 1. Đ ịnh nghĩa d ược li ệu Rễ phơi hay sấy khô của cây Đảng sâm (Codonopsis pilosula (Franch.) Nannf., họ Hoa chuông (Campanulaceae).

2. Đặc điểm thực vật 3. Thành phần hoá học 4. Kiểm nghiệm 5. Tác dụng, công
dụng

6. Ghi chú 7. Tài liệu tham khảo
2. Đ ặc đi ểm th ực v ật Cây nhỏ, mọc bò hay leo, sống lâu năm, phiến lá hình tim hoặc hình trứng, đầu tù hoặc nhọn, mép lá nguyên hoặc hơi lượn sóng. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, có 5 lá đài, tràng hình chuông (cây Đảng sâm (1) , cây Đẳng sâm (2)). Back to Top 3. Thành ph ần hoá h ọc Từ nhiều loài Codonopsis khác nhau người ta đã chiết ra các triterpenglycosid và các polysaccarid có tác dụng lên hệ miễn dịch. Nhiều loại đường khác nhau đã được chiết ra từ rễ Đảng sâm: glucose, galactose, arabinose, mannose, Xylose, rhamnose, ethyl-Dfructofuranoide... Back to Top 4. Ki ểm nghi ệm Ðặc điểm dược liệu Dược liệu thường có kích thước lớn và phân nhánh nhiều, màu sẫm, có nhiều nếp nhăn dọc, cứng chắc (Vi thuốc Đảng sâm). Vi học Ðặc điểm vi phẫu Mặt cắt có hình tròn. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần khoảng 4-5 hàng tế bào hình chữ nhật xếp đều đặn thành hàng đồng tâm và dãy xuyên tâm, hơi rách. Mô mềm vỏ cấu tạo bởi các tế bào hình nhiều cạnh hơi dài dẹt, xếp lộn xộn, rải rác có các đám tế bào mô cứng. Các tế bào libe nhỏ xếp sít nhau, trong libe có ống nhựa mủ xếp rải rác thành hàng và thành vòng ứng với bó libe gỗ. Libe thành dải dài chiếm phần lớn lát cắt. Các mạch gỗ xếp thành hàng (hai hàng) tạo thành hệ thống hình nan quạt toả ra từ tâm. Các bó libe-gỗ phân cách nhau bởi tia ruột rộng có tế bào thành mỏng (Vi phẫu Đảng sâm). Ðặc điểm bột dược liệu Màu vàng nhạt, mùi thơm, vị ngọt nhạt sau đắng. Soi kính hiển vi thấy: Mảnh mô mềm (1) có thể mang hạt tinh bột. Ðám tế bào mô cứng riêng lẻ màu vàng nhạt thành dầy (2). Mảnh mạch điểm (3). Tinh thể calci oxalat hình khối (4), kích thước 0,01-0,02 mm. Khối inulin nhiều hình dạng, thường có hình quạt (5). Hạt tinh bột hình tròn thường

đơn lẻ có rốn hạt phân nhánh kích thước 0,015-0,025 mm (6) (Một số đặc điểm bột Đảng Sâm) Ðịnh lượng Tiến hành theo phương pháp chiết nóng. Hàm lượng chất chiết được trong dược liệu bằng ethanol 45% không ít hơn 55%. Back to Top 5. Tác d ụng và công d ụng Rễ Đảng sâm dùng chữa tiêu hoá kém, kém ăn, đại tiện lỏng, mệt mỏi, ốm lâu cơ thể suy nhược, lòi dom, viêm thận, nước tiểu có albumin. Còn dùng làm thuốc bổ dạ dày, lợi tiểu, chữa ho, tiêu đờm. Back to Top 6. Ghi chú Dược điển Việt Nam II quy định Ðảng sâm là rễ đã phơi hay sấy khô của cây Ðảng sâm (Campanumoea javanica Blume) và một số cây cùng chi, họ Hoa chuông (Campanulaceae). Ðảng sâm còn có tên khác là Phòng đảng sâm, Lộ đảng sâm, Xuyên đảng sâm, Ðông đảng sâm... Trên thực tế người ta trồng, thu hái và sử dụng các loài khác nhau: - Codonopsis javanica Blunae, Ðảng sâm nam là loài Ðảng sâm mà ta khai thác trong nước - Codonopsis pilosula (Franch) Nannf., Ðảng sâm bắc thường trồng ở Thiểm Tây, Sơn Tây Trung Quốc - Codonopsis tangshen Oliv., Xuyên đảng sâm, trồng nhiều ở tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc - Codonopsis viridiflora Maxim., Ðảng sâm hoa xanh. - Codonopsis tubulosa Kom, Ðảng sâm hoa ống. - Codonopsis nervosa Nannf, Ðảng sâm mõm chó. - Codonopsis lanceolata Benth. et. Hook., Ðảng sâm bốn lá. - Codonopsis ussuriensis Hemsl. - Codonopsis clematidea Clarke Ðông y coi Ðảng sâm có thể dùng thay thế Nhân sâm trong các bệnh thiếu máu, vàng da, bệnh bạch huyết, viêm thượng thận, nước tiểu có albumin... Người ta còn gọi

Ðảng sâm là Nhân sâm của người nghèo vì có mọi công dụng của Nhân sâm lại rẻ tiền hơn. Rễ khô của cây Ðảng sâm nam (Codonopsis javanica) hơi giống rễ khô cây Tục đoạn (Dipsacus japonicus Miq., họ Tục đoạn (Dipsacaceae). Trung Quốc có trồng và sử dụng rễ cây Changium smyrnioides Wollf., họ Cần (Apiaceae) với tên Minh đảng sâm, cần chú ý phân biệt. Trên thị trường hiện nay có vị thuốc được gọi là "Đảng sân bắc" có đặc điểm bên ngoài và đặc điểm giải phẫu như sau: Ðặc điểm dược liệu Dược liệu là rễ có hình trụ dài 15-20cm, đường kính 0,3-0,5cm. Có khi phân nhánh thon dần về một đầu, mang nhiều sẹo của thân. Mặt ngoài có màu vàng nhạt, trên mặt có những rãnh dọc, ngang. Thể chất dẻo dai khó bẻ gãy, mặt cắt ngang thấy rõ lõi màu trắng (Vị thuốc Đảng sâm TQ). Vi học Ðặc điểm vi phẫu Mặt cắt ngang có hình tròn. Ngoài cùng là lớp bần gồm 5-6 lớp tế bào hình chữ nhật xếp thành hàng đồng tâm và dãy xuyên tâm. Mô mềm vỏ cấu tạo từ những tế bào thành mỏng hình đa giác xếp lộn xộn, lớp ngoài bị ép dẹp. Libe phát triển xếp thành dải dài chiếm phần lớn lát cắt. Trong libe có nhiều ống tiết nằm rải rác. Tầng phát sinh libe-gỗ tạo thành vòng liên tục. Gỗ phát triển tạo thành các bó hình nan quạt gồm các mạch gỗ hình tròn kích thước không đều nhau. Xen giữa các bó libe-gỗ là những tia ruột (Vi phẫu Đảng sâm TQ). Ðặc điểm bột dược liệu Có màu vàng nhạt, mùi thơm, vị hơi ngọt. Soi dưới kính hiển vi thấy: Mảnh mô mềm có thể mang hạt tinh bột (1). Mảnh mạch chủ yếu là mạch vạch (2). Mảnh bần (4) . Các hạt tinh bột thường đơn lẻ có hình tròn hay hình trứng (5), kích thước 0,0150,02mm. Có rất nhiều tế bào thành dày màu vàng nhạt (3, 6), hình dạng khác nhau, có khoang tế bào rộng thấy rõ ống trao đổi. Mảnh mô mang tuyến tiết có chứa các chất tiết màu vàng (7) (Một số đặc điểm bột Đảng sâm TQ). Ðịnh lượng Tiến hành theo phương pháp chiết nóng. Hàm lượng chất chiết được trong dược liệu bằng ethanol 45% không ít hơn 55%.

7. Tài li ệu tham kh ảo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam Tập I. - NXB khoa học và kỹ thuật - 2004. Tr. 739-743. Dược điển Việt Nam III. Tr. 359. Đỗ Tất Lợi - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - NXB Y học - 2003. Tr. 811-813. Nguyễn Viết Thân - Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi Tập I- NXB khoa học và kỹ thuật- 2003. Tr. 108-112.

http://duoclieu.net/duoclieu/duoclieu3.html