MỤC LỤC

Trang
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ......................... 1.1. Khái niệm và đặc điểm của hình thức xuất khẩu lao động ....................................... 1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu lao động trong phát triển kinh tế xã hội ................ 1.3. Các hình thức xuất khẩu lao động ............................................................................. Chương 2. DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ....................................... 2.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp xuất khẩu lao động ................................. 2.2. Điều kiện được cấp giấy phép chuyên doanh xuất khẩu lao động ............................ 2.3. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xuất khẩu lao động ........................................ Chương 3. NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ............................. 3.1. Khái niệm và đặc điểm của người lao động đi xuất khẩu lao động .......................... 3.2. Đối tượng và điều kiện được đi xuất khẩu lao động ................................................. 3.3. Quyền và nghĩa vụ của người lao động đi xuất khẩu lao động ................................. Chương 4. HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.................................................. 4.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng xuất khẩu lao động ....................................... 4.2. Nguyên tắc giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động ................................................... 4.3. Đàm phán và ký kết các loại hợp đồng xuất khẩu .................................................... 4.4. Đăng ký hợp đồng xuất khẩu .................................................................................... 4.5. Giải quyết tranh chấp về hợp đồng xuất khẩu lao động ............................................ Chương 5. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ....................... 5.1. Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động .................................................................. 5.2. Thanh tra nhà nước về xuất khẩu lao động ............................................................... 5.3. Xử phạt vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động ....................................................

CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1. Khái niệm xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một trong những chính sách lớn của Nhà nước ta. Trong những năm qua nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi để công dân Việt Nam có đủ điều kiện đi làm việc ở nước ngoài, bảo hộ quyền lợi ích hợp pháp của người lao động và của các tổ chức sự nghiệp, của các doanh nghiệp đi làm việc ở nước ngoài. Xuất khẩu lao động là một chính sách vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội giữ vai trò quan trọng không chỉ đối với người lao động, các doanh nghiệp mà còn đối với nhà nước và xã hội. Xuất khẩu lao động là một trong những thuật ngữ được tiếp cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt năm 1995 thì xuất khẩu được hiểu là việc “đưa hàng hóa, tư bản ra nước ngoài”. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, xuất khẩu lao động là việc đưa người lao động sang làm việc tại nước ngoài. Theo nghĩa hẹp thì pháp luật về xuất khẩu lao động là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các hình thức do pháp luật quy định trong đó các bên tham gia quan hệ mang các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. 2. Đặc điểm của hình thức xuất khẩu lao động - Thứ nhất: Chủ thể của hoạt động xuất khẩu lao động bao gồm các đối tượng sau: + Doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. + Người lao động Việt Nam có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài. + Người bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. + Tổ chức cá nhân có liên quan đến việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Người sử dụng lao động ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam. - Thứ hai: Cơ sở phát sinh quan hệ xuất khẩu lao động là thông qua các hợp đồng xuất khẩu lao động. Hợp đồng xuất khẩu lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. - Thứ ba: Mục đích của xuất khẩu lao động nhằm: + Giải quyết việc làm cho người lao động. + Tạo ra lợi ích về mặt kinh tế cho những người đi làm việc ở nước ngoài. + Bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước. + Góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. + Thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới. 3. Vai trò của XKLĐ trong phát triển kinh tế - xã hội Xuất khẩu lao động giữ vị trí và tầm quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nhà nước ta. Với ý nghĩa đó, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 Đảng ta đã xác định: “ Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh hóa xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”… “Đẩy mạnh XKLĐ, xây dựng và thực hiện đồng bộ, chặt chẽ cơ chế, chính sách về đào tạo nguồn lao động, đưa lao động ra nước ngoài, bảo vệ quyền lợi và tăng uy tín của người lao động Việt Nam ở nước ngoài”1 Xuất khẩu lao động được coi là hoạt động vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội:
1

Văn kiên Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 trang 210,211.

2

* Về kinh tế: + Xuất khẩu lao động góp phần đem lại nguồn thu nhập cho đất nước. + Xuất khẩu lao động góp phần tạo ra nguồn lợi nhuận đáng kể cho doanh nghiệp. + Xuất khẩu lao động tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, cho gia đình người lao động. + Xuất khẩu lao động góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy sự phát triển của đất nước. * Về xã hội: Xuất khẩu lao động là một chính sách của nhà nước ta góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động, người lao động sẽ được trang bị kỹ năng lao động công nghiệp, có nhiều kinh nghiệm trong lao động và sản xuất. Những người lao động này sẽ là nguồn lực lượng lao động phục vụ hữu ích cho các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất tại Việt Nam. Xuất khẩu lao động sẽ là kênh hạn chế các vấn đề xã hội có thể xảy ra. Đồng thời xuất khẩu lao động cũng là sợi dây thắt chặt mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước trên thế giới thông qua thị trường hợp tác lao động. 4. Các hình thức xuất khẩu lao động Hình thức xuất khẩu lao động là cách tiến hành, cách thể hiện hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hình thức xuất khẩu lao động có những đặc điểm sau: + Hình thức xuất khẩu lao động là hình thức do pháp luật quy định. + Hình thức xuất khẩu lao động được áp dụng cho các doanh nghiệp, các tổ chức, các đơn vị và người lao động đủ điều kiện đi làm việc ở nước ngoài. + Hình thức xuất khẩu lao động là cơ sở để đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Theo quy định tại Bộ luật lao động Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2006 quy định các hình thức đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thì người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo một trong các hình thức sau đây: * Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài Đây là trường hợp các tổ chức kinh tế Việt Nam được phép xuất khẩu lao động tuyển lao động Việt Nam để đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cung ứng lao động. Hình thức này tương đối phổ biến, được thực hiện rộng rãi trong những năm vừa qua và những năm tới.2 Hình thức này có các đặc điểm sau: + Chủ thể của hình thức này là các doanh nghiệp Việt Nam, các tổ chức kinh tế Việt Nam được phép xuất khẩu lao động và người sử dụng lao động nước ngoài. + Đối tượng của hình thức này là người lao động Việt Nam phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn điều kiện của người sử dụng lao động nước ngoài đặt ra. + Pháp luật điều chỉnh: do hệ thống pháp luật của nước sở tại quy định. - Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài1 Đưa người lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở nước ngoài. Đây là trường hợp doanh nghiệp tuyển lao động và chuyên gia Việt Nam đưa đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện hợp đồng kinh tế với bên nước ngoài; các doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh, liên kết chia sản phẩm hoặc các hình thức đầu tư khác ở nước ngoài.
2 1

Tìm hiểu pháp luật về xuất khẩu lao động, NXBCTQG, trang13 Luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Điều 6 khoản 1

3

Đặc điểm của hình thức này là: Việc tuyển người lao động là để thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp Việt Nam, các yêu cầu về tiêu chuẩn lao động, điều kiện lao động do doanh nghiệp Việt Nam đặt ra; doanh nghiệp Việt Nam sử dụng lao động có thể trực tiếp tuyển lao động hoặc ủy quyền cho doanh nghiệp cung ứng lao động tuyển lao động, doanh nghiệp Việt Nam đưa lao động đi nước ngoài, quản lý sử dụng lao động ở nước ngoài, bảo đảm các quyền lợi cho người lao động làm việc ở nước ngoài. Do đặc điểm của hình thức sử dụng lao động này nên quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động tương đối ổn định; việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động của người lao động khi làm việc ở nước ngoài có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, do hợp đồng được thực hiện ở nước ngoài nên ít nhiều có sự ảnh hưởng của pháp luật, phong tục tập quán của nước ngoài. Ngoài việc tuân thủ pháp luật Việt Nam, cả doanh nghiệp Việt Nam quản lý sử dụng lao động và người lao động Việt Nam còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật nước ngoài.2 - Đưa người lao động đi làm việc theo các dự án đầu tư ở nước ngoài. - Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề.3 - Theo hình thức hợp đồng cá nhân giữa người lao động Việt Nam với người sử dụng lao động nước ngoài.4 Hình thức này chưa thực sự phổ biến và thông dụng ở Việt Nam. Một số nhà đầu tư nước ngoài hiện nay đã đến Việt Nam và đưa ra rất nhiều tiêu chuẩn, điều kiện để tuyển chọn cho họ một lực lượng lao động có tay nghề cao, biết ngoại ngữ và có khả năng giao tiếp với người nước ngoài. Với những tiêu chí trên thì người sử dụng lao động nước ngoài sẽ tiến hành ký kết hợp đồng với người lao động Việt Nam. Tuy nhiên, có thể nói lao động nước ta đa phần không thông thạo ngoại ngữ, trình độ tay nghề còn thấp, tâm lý ngại tiếp xúc với người nước ngoài, việc hiểu biết phong tục tập quán của nước ngoài còn hạn chế do đó hình thức này chưa được phổ biến trong thực tế. Trong tương lai, đây là một hình thức có nhiều thuận lợi cho các bên, tạo ra sự chủ động trong việc tuyển chọn và sử dụng lao động. Nhưng hình thức này cũng cần phải có sự kiểm soát và quản lý của nhà nước Việt Nam tránh tình trạng các bên lợi dụng việc ký kết hợp đồng này để trục lợi bất chính gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích của các bên cũng như mối quan hệ giữa nhà nước Việt Nam với các nước khác. - Các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Hình thức này cho phép bên doanh nghiệp, người lao động Việt Nam với bên tổ chức, người sử dụng lao động nước ngoài lựa chọn để thực hiện hoạt động xuất khẩu lao động nhưng phải đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của nhà nước Việt Nam cũng như pháp luật của nước ngoài. 5. Sơ lược quá trình phát triển pháp luật về xuất khẩu lao động Trong những năm qua, nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật điều chỉnh về hoạt động xuất khẩu lao động tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như người lao động Việt Nam tham gia vào quan hệ này. Có thể nói, hệ thống văn bản pháp luật về xuất khẩu lao động ngày càng được hoàn thiện đáp ứng với xu thế chung của thời đại nhất là trong giai đoạn hiện nay nhà nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế. Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh về xuất khẩu lao động bao gồm:
2 3

Sđd, trang 14 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Điều 6 khoản 3 4 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Điều 6 khoản 4

4

- Bộ luật lao động năm 1994 (có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1995) đã dành riêng Mục V để quy định về lao động cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, người lao động nước ngoài tại Việt Nam, lao động ở nước ngoài. - Nghị định số 05/2000/NĐ- Cp ngày 03/3/2000 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam. - Nghị định số 152/1999/NĐ- CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ quy định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Đây được coi là một văn bản có bước đột phá, quy định khá chi tiết, cụ thể về việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài với VII chương và 28 điều. - Thông tư số 28/1999/TT- BLĐTBXH ngày 15/11/1999 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 152/1999/NĐ- CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ quy định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. - Thông tư liên tịch số 16/2000/TTLT- BTC- BLĐTBXH ngày 28/02/2000 của Bộ Tài chính và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thưc hiện chế độ tài chính đối với người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo Nghị định số 152/1999/NĐ- CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ. - Thông tư liên tịch số 33/2001/TTLT- BTC- BLĐTBXH ngày 24/5/2001 của Bộ Tài chính và Bộ lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn bổ sung, sửa đổi Thông tư liên tịch số 16/2000/TTLT- BTC- BLĐTBXH ngày 28/02/2000 của Bộ Tài chính và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thưc hiện chế độ tài chính đối với người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. - Quyết định số 68/2001/QĐ- TTg ngày 02/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp xử lý đối với tu nghiệp sinh Việt Nam tại Nhật Bản và Hàn Quốc tự ý bỏ hợp đồng tu nghiệp. - Thông báo số 155/TB- VPCP ngày 30/9/2002 của Văn phòng Chính phủ về ý kiến kết luận của Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm về thực hiện Đề án thí điểm đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở Malaysia. - Quyết định số 1247/2002/QĐ- BLĐTBXH ngày 17/10/2002 của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội ban hành Quy chế khen thưởng về công tác XKLĐ. - Quyết định số 440/2001/QĐ- NHNN ngày 17/4/2001 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. - Quyết định số 108/QĐ- QLLDNN ngày 23/8/2002 của Cục quản lý lao động nước ngoài về việc ban hành quy định tạm thời về chỉ đạo nghiệp vụ quản lý lao động thuộc Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia đối với đại diện các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam tại Malaysia. - Bộ luật lao động (sửa đổi bổ sung năm 2002) quy định riêng Mục Va về lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. - Nghị định số 81/2003/NĐ- CP ngày 17 tháng 7 năm 2003 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về người Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Nghị định này nhằm thay thế Nghị định số 152/1999/NĐ- CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ quy định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. - Thông tư số 22/2003/TT- BLĐTBXH ngày 13/10/2003 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 81/2003/NĐ- CP ngày 17 tháng 7 năm 2003 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về người Việt Nam làm việc ở nước ngoài. - Thông tư liên tịch số 107/2003/TTLT- BTC- BLĐTBXH về chế độ tài chính đối với người lao động, doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. - Nghị định số 113/2004/NĐ- CP ngày 16/4/2004 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động. 5

- Nghị định số 141/2005/NĐ- CP ngày 11/11/2005 về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. - Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/ BLĐTBXH- BNG ngày 31/3/2006 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Ngoại giao hướng dẫn thực hiện Nghị định số 141/2005/NĐ- CP ngày 11/11/2005 về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. - Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, do Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2006 gồm 8 chương, 80 điều. - Nghị định 126/CP ngày 1.8.2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. - Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT- BLĐTBXH- BTP hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về hưpự đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

6

CHƯƠNG II. DOANH NGHIỆP, TỔ CHỨC SỰ NGHIỆP ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI I. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP, TỔ CHỨC SỰ NGHIỆP ĐƯA NGƯỜI LAO
ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài a. Khái niệm Khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao động, một trong các bên không thể thiếu được đó là doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ cũng như chức năng chính của các doanh nghiệp, tổ chức này. Doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (gọi chung là doanh nghiệp xuất khẩu lao động) là doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động hoặc doanh nghiệp không có giấy phép nhưng có hợp đồng nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam, hoạt động đưa người lao động ra nước ngoài làm việc. b. Đặc điểm Doanh nghiệp xuất khẩu lao động có những đặc điểm sau: - Về chức năng: đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. - Điều kiện: Doanh nghiệp xuất khẩu lao động phải được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động hoặc phải được sự đồng ý cho phép của các cơ quan có thẩm quyền và tuân thủ pháp luật của nhà nước Việt Nam. Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động không được đưa lao động đi làm việc những ngành nghề mà pháp luật cấm. - Doanh nghiệp được xem xét cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là Giấy phép) là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt Nam. - Đối tượng của quan hệ này người lao động Việt Nam đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện lao động do phía nước ngoài đặt ra, quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nhận lao động, hoặc doanh nghiệp Việt Nam tuyển người lao động là để thực hiện hợp đồng nhận thầu, nhận khoán công trình, đầu tư ra nước ngoài, các yêu cầu về tiêu chuẩn lao động, điều kiện lao động do doanh nghiệp Việt Nam đặt ra, quản lý và sử dụng lao động Việt Nam ở nước ngoài, đảm bảo các quyền lợi cho người lao động làm việc ở nước ngoài. 2. Phân loại doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài + Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập, nâng cao tay nghề. + Tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. II. QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP, TỔ CHỨC SỰ NGHIỆP ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI 1. Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. a. Khái niệm doanh nghiệp hoạt động dịch vụ 7

Là doanh nghiệp hoạt động dịch vụ được nhà nước có thẩm quyền cho phép trực tiếp tổ chức hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đặc điểm + Đối tượng của doanh nghiệp dịch vụ là người lao động Việt Nam có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được đi làm việc ở nước ngoài. + Cơ sở phát sinh quan hệ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hợp đồng cung ứng lao động. Thông qua hợp đồng này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thiết lập. + Doanh nghiệp dịch vụ muốn tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao động doanh nghiệp phải có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật. + Doanh nghiệp dịch vụ phải có tiền ký quỹ. Đây là khoản tiền được cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. b. Điều kiện, thủ tục cấp giấy phép cho doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động * Điều kiện cấp giấy phép + Điều kiện về vốn pháp định: mức vốn cụ thể theo quy định của Chính phủ. Vốn pháp định của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là 5 tỷ đồng. + Doanh nghiệp phải có đề án hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nội dung đề án hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (khoản 1 Điều 9 của Luật) Đề án hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải thể hiện năng lực tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ có đủ trình độ và kinh nghiệm đáp ứng được yêu cầu của hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đề án bao gồm những nội dung sau đây: 1. Tên giao dịch, địa chỉ giao dịch, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, vốn và cơ cấu vốn, chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc người đại diện doanh nghiệp theo ủy quyền, vốn, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (nếu là doanh nghiệp đang hoạt động). 2. Phương án tổ chức bộ máy hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 3. Dự kiến thị trường đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, ngành nghề đưa lao động đi, địa bàn tuyển chọn lao động. 4. Phương án tuyển chọn người lao động, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động, quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài. 5. Phương án tài chính để thực hiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Doanh nghiệp phải có bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài và hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ lao động – Thương binh và xã hội. Trường hợp doanh nghiệp lần đầu tham gia hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì phải có phương án tổ chức bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết và hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Người lãnh đạo điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có trình độ từ đại học trở lên, có ít nhất ba năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hhoặc hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốc tế. + Có tiền ký quỹ theo quy định của Chính phủ.

8

1. Mức tiền ký quỹ là một tỷ đồng. Trường hợp tiền ký quỹ được sử dụng để giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến người lao động thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiền ký quỹ được sử dụng, doanh nghiệp phải nộp bổ sung cho đủ mức tiền ký quỹ theo quy định. 2. Doanh nghiệp ký quỹ tại Ngân hàng Thương mại nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. 3. Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước có quyền sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ.

* Thủ tục cấp giấy phép
Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ phải chuẩn bị hồ sơ bao gồm: * Văn bản đề nghị cấp giấy phép của doanh nghiệp. * Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. * Xác nhận về vốn pháp định, đề án hoạt động, bộ máy chuyên trách, người lãnh đạo điều hành. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội xem xét cấp giấy phép cho doanh nghiệp sau khi lấy ý kiến của một trong những người có thẩm quyền sau: - Thủ trưởng cơ quan ra quyết định thành lập hoặc đề nghị Thủ tướng Chính phủ thành lập đối với doanh nghiệp nhà nước. - Người ra quyết đinh thành lập đối với doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp. - Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính đối với doanh nghiệp không thuộc trường hợp trên. Trường hợp không cấp giấy phép, Bộ trưởng Bộ lao động thương binh xã hội phỉa trả lời và nêu rõ lý do bằng văn bản cho doanh nghiệp. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày được cấp hoặc đổi Giấy phép, doanh nghiệp phải có văn bản thông báo kèm theo bản sao Giấy phép gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và niêm yết công khai bản sao Giấy phép tại trụ sở chính của doanh nghiệp. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp hoặc đổi Giấy phép, doanh nghiệp phải đăng nội dung Giấy phép trên một trong các tờ báo viết của trung ương hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp. c.Thủ tục đổi, cấp lại, thu hồi giấy phép * Thủ tục đổi giấy phép - Điều kiện được đổi giấy phép: khi doanh nghiệp được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh nếu có đủ điều kiện về vốn pháp định. - Thủ tục: doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đổi giấy phép bao gồm: + Văn bản đề nghị đổi giấy phép của doanh nghiệp dịch vụ + Giấy phép đã được cấp cho doanh nghiệp dịch vụ. + Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được cấp lại. + Xác nhận về vốn pháp định, đề án hoạt động, bộ máy chuyên trách, người lãnh đạo điều hành. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà doanh nghiệp dịch vụ gửi hồ sơ đổi giấy phép đến Bộ lao động thương binh xã hội, quá thời hạn này mà doanh nghiệp không gửi hồ sơ đổi giấy phép thì giấy phép mặc nhiên hết hiệu lực. 9

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hựop lệ theo quy định, Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội xem xét đổi giấy phép cho doanh nghiệp dịch vụ. Trường hợp không đổi giấy phép phải trả lời và nêu lý do bằng văn bản cho doanh nghiệp biết. Trong thời gian từ ngày được cấp lại giấy chứng nhận đưang ký kinh doanh cho đến khi được đổi giấy phép hoặc nhận được thông báo về việc không được đổi giấy phép, doanh nghiệp được tiếp tục hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trong trường hợp không được đổi giấy phép, doanh nghiệp phải chấm dứt việc ký kết các hợp đồng cung ứng lao động, tuyển chọn lao động mới, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không được đổi giấy phép. Sau 90 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không được đổi giấy phép, doanh nghiệp dịch vụ phải chấm dứt hoạt động ký kết các hợp đồng liên quan đến việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tuyển chọn lao động; dạy nghề, dạy ngoại ngữ cho người lao động; tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài. * Thủ tục cấp lại giấy phép Điều kiện: doanh nghiệp được cấp lại giấy phép khi giấy phép bị mất, bị cháy, bị hư hỏng. Doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ bao gồm: + Giấy phép bị hư hỏng hoặc văn bản xác nhận của cơ quan công an nơi doanh nghiệp dịch vụ đặt trụ sở chính trong trường hợp giấy phép bị mất, bị cháy. + Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội cấp lại giấy phép cho doanh nghiệp dịch vụ. * Thủ tục thu hồi giấy phép Doanh nghiệp dịch vụ bị thu hồi giấy phép khi có một trong ácc trường hựop sau: * Doanh nghiệp không làm thủ tục đổi giấy phép hoặc không được đổi giấy phép. * Doanh nghiệp không có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ. + Doanh nghiệp không trực tiếp tổ chức hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. + Chưa có bộ máy chuyên trách để bồi dư1ỡng kiến thức cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài. + Người lãnh đạo điều hành chưa đủ điều kiện về trình độ và kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốc tế. * Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép mà không đưa được người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Doanh nghiệp dịch vụ vi phạm một trong các trường hợp sau: + Sử dụng giấy phép của doanh nghiệp khác hoặc cho người káhc sử dụng giấy phép của mình để hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Giao nhiệm vụ điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cho người đã quản lý doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép hoặc người đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên do vi phạm quy định của pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Đi làm việc hoặc đưa người lao động đi làm việc ở khu vực, ngành, nghề và công việc bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc không được nước tiếp nhận người lao động cho phép. + Lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài. + Lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức tuyển chọn, đào tạo, thu tiền của người lao động. + Tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc khi chưa đăng ký hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 10

+ Sau khi nhập cảnh không đến nơi làm việc hoặc bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng. + Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động. + Lôi kéo, dụ dỗ, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định của pháp luật. + Gây phiền hà, cản trở, sách nhiễu người lao động hoặc doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. d. Địa vị pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ * Quyền của doanh nghiệp dịch vụ Doanh nghiệp dịch vụ có các quyền sau đây: + Thực hiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức tuyển chọn người lao động tại các địa phương; + Ký kết hợp đồng cung ứng lao động với bên nước ngoài, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động, hợp đồng bảo lãnh với người bảo lãnh trước khi người lao động đi làm việc ở nước ngoài; * Hợp đồng bảo lãnh phải được lập thành văn bản, bao gồm những nội dung sau: - Phạm vi bảo lãnh (Việc bảo lãnh được thực hiện trong các trường hợp sau đây: + Người lao động đi làm việc theo Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ không ký quỹ hoặc không đủ tiền ký quỹ theo quy định tại Điều 23 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. + Người lao động đi làm việc theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức sự nghiệp khi tổ chức này yêu cầu thực hiện việc bảo lãnh. + Người bảo lãnh thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp về trách nhiệm bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ của người lao động đối với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp. + Trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và gây thiệt hại cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp mà người lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thì người bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để bù đắp thiệt hại phát sinh do người lao động gây ra cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp. Sau khi bù đắp thiệt hại, nếu tài sản của người bảo lãnh còn thừa thì phải trả lại cho người bảo lãnh.) - Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia bảo lãnh. - Thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. (Thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do người bảo lãnh và doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp thoả thuận; nếu không thỏa thuận được thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong một thời hạn hợp lý do doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp ấn định tính từ thời điểm người bảo lãnh nhận được thông báo của doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho người lao động.) - Xử lý tài sản của người bảo lãnh. + Thỏa thuận với người lao động về việc ký quỹ, giới thiệu người bảo lãnh; (Người bảo lãnh phải có đủ các điều kiện sau đây: * Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; * Có khả năng về kinh tế đáp ứng điều kiện trong hợp đồng bảo lãnh.) + Yêu cầu người lao động hoặc người bảo lãnh bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra theo quy định của pháp luật; + Đơn phương thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sau khi doanh nghiệp đã ba lần thông báo bằng thư bảo đảm trong thời gian một trăm tám mươi ngày, kể 11

từ ngày người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, mà người lao động hoặc người được uỷ quyền hợp pháp của người lao động không đến thanh lý hợp đồng; + Khiếu nại, khởi kiện về các quyết định hoặc hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ Doanh nghiệp dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây: + Các nghĩa vụ quy định tại các điều 13, 16, 18, 23, 24, 25 và 26 của Luật người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Trực tiếp tuyển chọn người lao động và không được thu phí tuyển chọn của người lao động. Khi tuyển chọn lao động tại địa phương, doanh nghiệp phải thông báo với Sở Lao động Thương binh và Xã hội; định kỳ sáu tháng, một năm báo cáo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội về kết quả tuyển chọn và số lượng người lao động của địa phương đã được đưa đi làm việc ở nước ngoài; + Phối hợp với chính quyền địa phương thông báo công khai, cung cấp cho người lao động đầy đủ các thông tin về số lượng, tiêu chuẩn tuyển chọn và các điều kiện của hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết, tổ chức hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo để dạy nghề, bổ túc tay nghề, ngoại ngữ cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với yêu cầu của từng thị trường lao động; + Tổ chức quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động do doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài; + Phối hợp với bên nước ngoài giải quyết các vấn đề phát sinh khi người lao động chết, bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro, bị bệnh nghề nghiệp, bị xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và giải quyết tranh chấp liên quan đến người lao động; + Báo cáo và phối hợp với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài; + Bồi thường cho người lao động, người bảo lãnh về những thiệt hại do doanh nghiệp gây ra theo quy định của pháp luật; + Thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động theo quy định của pháp luật; + Đóng góp vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của Luật này; + Định kỳ hằng năm, đột xuất báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Ngoài các nghĩa vụ trên, doanh nghiệp dịch vụ còn có trách nhiệm trong trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép, doanh nghiệp bị giải thể. * Đối với trường hợp doanh nghiệp dịch vụ bị thu hồi giấy phép Doanh nghiệp dịch vụ bị thu hồi giấy phép có các trách nhiệm sau: + Doanh nghiệp dịch vụ bị thu hồi Giấy phép có trách nhiệm tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hiệu lực. + Việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ trong trường hợp doanh nghiệp nộp lại hoặc bị thu hồi Giấy phép được thực hiện theo quy định sau: * Tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 26 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ được cơ quan nhà nước có 12

thẩm quyền sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ phát sinh đối với người lao động đến thời điểm chuyển giao; nếu tiền ký quỹ còn thừa thì doanh nghiệp được sử dụng để thanh toán các khoản nợ khác theo quy định của pháp luật về phá sản. + Việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của người lao động trong trường hợp doanh nghiệp dịch vụ bị thu hồi Giấy phép được thực hiện theo quy định sau: * Người lao động thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ về việc ký quỹ theo quy định để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Người lao động trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp dịch vụ nộp tiền ký quỹ vào tài khoản riêng được doanh nghiệp mở tại ngân hàng thương mại để giữ tiền ký quỹ của người lao động. * Tiền ký quỹ của người lao động được hoàn trả cả gốc và lãi cho người lao động khi thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tiền ký quỹ của người lao động được doanh nghiệp dịch vụ sử dụng để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra cho doanh nghiệp; khi sử dụng tiền ký quỹ để bù đắp thiệt hại, nếu tiền ký quỹ không đủ thì người lao động phải nộp bổ sung, nếu còn thừa thì phải trả lại cho người lao động. * Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định cụ thể thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thoả thuận với người lao động về việc nộp tiền ký quỹ; quy định thống nhất trong phạm vi cả nước mức trần tiền ký quỹ của người lao động phù hợp với từng thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thoả thuận với người lao động về việc nộp tiền ký quỹ; chủ trì phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của người lao động. * Đối với trường hợp doanh nghiệp bị giải thể Trách nhiệm của doanh nghiệp dịch vụ trong trường hợp bị giải thể được pháp luật quy định như sau: + Doanh nghiệp dịch vụ chỉ được giải thể sau khi đã hoàn thành mọi nghĩa vụ trong hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hiệu lực và bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật. + Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể, doanh nghiệp dịch vụ phải báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình của người lao động do doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài và phương án thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp trong Hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hiệu lực. + Doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ khác có Giấy phép để chuyển giao quyền và nghĩa vụ quy định trong hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hiệu lực nếu phương án chuyển giao được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chấp thuận. Khi chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho doanh nghiệp dịch vụ khác, tiền ký quỹ của người lao động, tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được chuyển cho doanh nghiệp tiếp nhận. Sau khi hoàn thành việc chuyển giao, doanh nghiệp dịch vụ phải thông báo cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và bên nước ngoài biết. + Sau khi đã hoàn thành các nghĩa vụ trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp dịch vụ được sử dụng tiền ký quỹ còn lại của doanh nghiệp để thanh toán các khoản nợ khác. * Đối với trường hợp doanh nghiệp dịch vụ bị phá sản 13

Trách nhiệm của doanh nghiệp dịch vụ trong trường hợp bị phá sản được pháp luật quy định như sau: + Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp dịch vụ phải báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tình hình của người lao động do doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài và phương án thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hiệu lực. + Doanh nghiệp dịch vụ tạm dừng việc ký kết hợp đồng, tổ chức tuyển chọn và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, kể từ ngày Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản cho đến khi Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. + Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thực hiện hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản được quy định như sau: - Doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ khác có Giấy phép để chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hiệu lực nếu phương án chuyển giao được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chấp thuận. Khi chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho doanh nghiệp dịch vụ khác, tiền ký quỹ của người lao động, tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được chuyển cho doanh nghiệp tiếp nhận. Sau khi hoàn thành việc chuyển giao, doanh nghiệp dịch vụ phải thông báo cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và bên nước ngoài biết; - Trường hợp doanh nghiệp dịch vụ không thỏa thuận được việc chuyển giao cho doanh nghiệp dịch vụ khác thì bàn giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hồ sơ của người lao động đang làm việc ở nước ngoài, tiền ký quỹ của người lao động, tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tiền dịch vụ thu trước của người lao động để Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động đang làm việc ở nước ngoài do doanh nghiệp đưa đi theo quy định của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 2. Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. a. Khái niệm doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu là doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua hợp đồng lao động giữa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu các công trình dự án ở nước ngoài. Đặc điểm của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu: + Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. + Đối tượng của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu là người lao động Việt Nam được tuyển chọn để đi làm việc ở nước ngoài. + Cơ sở phát sinh quan hệ là hợp đồng lao động giữa người lao động và doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu. + Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp: doanh nghiệp chỉ được đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong phạm vi các công trình, dự án mà doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu ở nước ngoài. b. Điều kiện và thủ tục đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu 14

Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài được đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau đây: + Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu phải được sự cho phép của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; + Người lao động được doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài phải có hợp đồng lao động với doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động; + Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu chỉ được đưa người lao động đi làm việc tại các công trình, dự án mà doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu ở nước ngoài; + Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu phải có phương án sử dụng và quản lý người lao động ở nước ngoài; có phương án tài chính đưa người lao động về nước trong trường hợp bất khả kháng; + Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người lao động làm việc ở nước ngoài cho doanh nghiệp phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc. Trong trường hợp doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu thực hiện hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thì doanh nghiệp phải tuân thủ các thủ tục do pháp luật quy định. Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền theo thủ tục sau: + Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu phải gửi Báo cáo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài kèm theo bản sao hợp đồng trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài, danh sách người lao động ký ợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cho Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. + Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu gửi báo cáo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm các nội dung sau đây: - Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu phải có phương án sử dụng và quản lý người lao động ở nước ngoài, trong đó nêu rõ số lượng người lao động đưa đi, ngành, nghề, thời hạn làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, điều kiện sinh hoạt, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác có liên quan đến người lao động; - Phương án tài chính đưa người lao động về nước trong trường hợp bất khả kháng. + Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được Báo cáo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp, nếu không chấp thuận phải nêu rõ lý do. c. Địa vị pháp lý của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu có các quyền và nghĩa vụ sau đây: + Tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; + Trực tiếp tổ chức đưa đi, quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài; + Ký kết và thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có nội dung phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 17 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. + Bảo đảm tiền lương cho người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước mà người lao động đến làm việc; + Bảo đảm điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt, bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc; + Bảo đảm để người lao động được kiểm tra sức khỏe định kỳ và khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn. 15

Trường hợp người lao động không còn khả năng tiếp tục làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp tổ chức và chịu chi phí đưa người lao động về nước; + Tổ chức đưa di hài hoặc thi hài người lao động chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài về nước và chịu mọi chi phí liên quan; thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam; + Báo cáo và phối hợp với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài; + Định kỳ hằng năm, đột xuất và khi hoàn thành hợp đồng trúng thầu, nhận thầu, báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình đưa người lao động của doanh nghiệp đi làm việc ở nước ngoài. 3. Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài a. Khái niệm Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài là trường hợp các tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư ra nước ngoài được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép được đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài. Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có các đặc điểm sau: + Tổ chức, cá đầu tư ra nước ngoài phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Tổ chức, cá nhân phải có các dự án đầu tư ra nước ngoài. + Đối tượng của tổ chức, cá nhân này là người lao động Việt Nam có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài được tuyển chọn đi làm việc ở nước ngoài. + Phạm vi hoạt động: các tổ chức, cá nhân chỉ được đưa người lao động ra nước ngoài trong phạm vi các cơ sở sản xuất, kinh doanh được đầu tư ở nước ngoài. b. Điều kiện và thủ tục đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư ra nước ngoài được đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau: + Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài phải được sự cho phép của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; + Tổ chức, cá nhân chỉ được đưa người lao động đi làm việc tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh do tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập ở nước ngoài; + Tổ chức, cá nhân phải có phương án sử dụng và quản lý người lao động ở nước ngoài; có phương án tài chính đưa người lao động về nước trong trường hợp bất khả kháng; + Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người lao động làm việc tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh do tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập ở nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật Việt Nam. Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài phải đảm bảo các thủ tục sau: - Tổ chức, cá nhân phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền về việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài phải gửi Báo cáo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài kèm theo bản sao Giấy chứng nhận đầu tư và tóm tắt nội dung dự án đầu tư ra nước ngoài, danh sách người lao động ký hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. + Tổ chức, cá nhân phải báo cáo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm các nội dung sau đây: 16

* Phương án sử dụng và quản lý người lao động, trong đó nêu rõ số lượng người lao động đưa đi, ngành, nghề, thời hạn làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, điều kiện sinh hoạt, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác có liên quan đến người lao động; * Phương án tài chính đưa người lao động về nước trong trường hợp bất khả kháng. * Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được Báo cáo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, nếu không chấp thuận phải nêu rõ lý do. c. Địa vị pháp lý của tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ sau: + Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có trách nhiệm tổ chức hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo để đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; Mục đích của việc dạy nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết nhằm tạo nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài có trình độ kỹ năng nghề, ngoại ngữ, kiến thức pháp luật và kiến thức cần thiết khác phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Bồi dưỡng kiến thức cần thiết phải bảo đảm các nội dung sau: * Truyền thống, bản sắc văn hoá của dân tộc; * Những nội dung cơ bản liên quan về pháp luật lao động, hình sự, dân sự, hành chính của Việt Nam và của nước tiếp nhận người lao động; * Nội dung hợp đồng ký giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài với người lao động; * Kỷ luật lao động, an toàn và vệ sinh lao động; * Phong tục tập quán, văn hoá của nước tiếp nhận người lao động; * Cách thức ứng xử trong lao động và đời sống; * Sử dụng các phương tiện giao thông đi lại, mua bán, sử dụng các dụng cụ, thiết bị phục vụ sinh hoạt đời sống hằng ngày; * Những vấn đề cần chủ động phòng ngừa trong thời gian sống và làm việc ở nước ngoài. + Trực tiếp tổ chức đưa đi, quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài; + Ký kết và thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có nội dung phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 17 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. + Bảo đảm quyền lợi của người lao động, giải quyết các vấn đề phát sinh theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Bảo đảm điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt, bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật Việt Nam; + Bảo đảm để người lao động được kiểm tra sức khỏe định kỳ và khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn. Trường hợp người lao động không còn khả năng tiếp tục làm việc ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải tổ chức và chịu chi phí đưa người lao động về nước; + Tổ chức đưa di hài hoặc thi hài người lao động chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài về nước và chịu mọi chi phí liên quan; thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp khác theo pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và quy định của pháp luật Việt Nam;

17

+ Báo cáo và phối hợp với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài; + Định kỳ hằng năm, đột xuất báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 4. Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề a. Khái niệm Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề là doanh nghiệp thực hiện chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua hợp đồng nhận lao động thực tập và hợp đồng đưa người lao động đi thực tập trong đó người lao động đi làm việc ở nước ngoài được thực tập, nâng cao tay nghề phù hợp với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề có các đặc điểm sau: + Doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Cơ sở để doanh nghiệp thực hiện chức năng này thông qua hợp đồng với cơ sở thực tập ở nước ngoài để đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài và hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề. + Mục đích của doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để thực tập, nâng cao tay nghề cho người lao động. b. Điều kiện và thủ tục cho doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề Doanh nghiệp được đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề khi có đủ các điều kiện sau đây: * Có hợp đồng với cơ sở thực tập ở nước ngoài để đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề (sau đây gọi là hợp đồng nhận lao động thực tập) và đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; * Có hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề (sau đây gọi là hợp đồng đưa người lao động đi thực tập); người lao động được doanh nghiệp đưa đi thực tập nâng cao tay nghề phải có hợp đồng lao động với doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động; * Ngành, nghề người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề phải phù hợp với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; * Có tiền ký quỹ thực hiện hợp đồng nhận lao động thực tập theo quy định của Chính phủ. Tiền ký quỹ của doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề (khoản 4 Điều 34 của Luật) 1. Tiền ký quỹ của doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề được cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề. 2. Mức tiền ký quỹ của doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề bằng 10% tiền vé máy bay một lượt từ nước mà người lao động đến làm việc về Việt Nam tính theo số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong Hợp đồng nhận lao động thực tập đã đăng ký. 18

3. Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề thực hiện việc ký quỹ tại Ngân hàng Thương mại nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và xuất trình xác nhận tiền ký quỹ tại thời điểm đăng ký Hợp đồng nhận lao động thực tập. 4. Sử dụng tiền ký quỹ: a) Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có quyền sử dụng tiền ký quỹ đối với Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề có thời gian dưới 90 ngày; b) Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước có quyền sử dụng tiền ký quỹ đối với Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề có thời gian từ 90 ngày trở lên. 5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề. Lệ phí cấp Giấy phép (khoản 4 Điều 10 của Luật) 1. Lệ phí cấp Giấy phép là 5 triệu đồng. Doanh nghiệp nộp lệ phí cấp Giấy phép tại thời điểm nhận Giấy phép. 2. Việc thu, quản lý và sử dụng lệ phí cấp Giấy phép được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. c. Địa vị pháp lý của doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề * Quyền của doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề. Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề có các quyền sau: + Ký kết hợp đồng nhận lao động thực tập với cơ sở tiếp nhận thực tập; ký kết hợp đồng đưa người lao động đi thực tập với người lao động trước khi người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; + Yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra theo quy định của pháp luật; + Khiếu nại, khởi kiện về quyết định hoặc hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Nghĩa vụ của doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề có các nghĩa vụ sau: + Thông báo công khai, cung cấp cho người lao động đầy đủ các thông tin về điều kiện của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; + Tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết, tổ chức hoặc liên kết với cơ sở đào tạo dạy ngoại ngữ cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề phù hợp với yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động; + Tổ chức quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động do doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; + Phối hợp với cơ sở tiếp nhận thực tập giải quyết các vấn đề phát sinh khi người lao động chết, bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro, bị bệnh nghề nghiệp, bị xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và giải quyết tranh chấp liên quan đến người lao động; + Báo cáo và phối hợp với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; 19

+ Bồi thường cho người lao động về những thiệt hại do doanh nghiệp gây ra theo quy định của pháp luật; + Thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi thực tập với người lao động theo quy định của pháp luật; + Giải quyết quyền lợi cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề trong trường hợp doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật; + Định kỳ, đột xuất báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 5. Tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. a. Khái niệm Tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là các tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được giao nhiệm vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có các đặc điểm sau: + Đây là các tổ chức sự nghiệp theo quy định của pháp luật có chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Mục đích của việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là mục đích phi lợi nhuận. + Cơ sở phát sinh hoạt động này thông qua việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thực hiện thỏa thuận quốc tế do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký với bên nước ngoài hoặc các trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ lao động- Thương binh và xã hội quyết định. b. Điều kiện để tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Tổ chức sự nghiệp được đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau đây: * Đây là tổ chức sự nghiệp thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; * Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ giao nhiệm vụ; * Người lãnh đạo điều hành tổ chức sự nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có ít nhất ba năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốc tế; * Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của tổ chức sự nghiệp là hoạt động phi lợi nhuận. c. Địa vị pháp lý của tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Quyền của tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có các quyền sau: + Tổ chức tuyển chọn, đào tạo và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Ký kết hợp đồng cung ứng lao động với đối tác nước ngoài, ký kết hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động theo quy định. + Yêu cầu người lao động giới thiệu người bảo lãnh;

20

+ Được thu một khoản tiền của người lao động để chi phí cho việc thực hiện đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế hoặc của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; + Yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra theo quy định của pháp luật; + Khiếu nại, khởi kiện về quyết định hoặc hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Đơn phương thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng không về nước hoặc tổ chức sự nghiệp đã ba lần thông báo bằng thư bảo đảm trong thời gian một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, mà người lao động hoặc người được ủy quyền hợp pháp của người lao động không đến thanh lý hợp đồng. * Nghĩa vụ của tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có các nghĩa vụ sau: + Xây dựng phương án tổ chức thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; + Báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về nội dung của hợp đồng cung ứng lao động (nếu có), hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và phương án tổ chức thực hiện trước khi đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Định kỳ, đột xuất báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ giao nhiệm vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài về tình hình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết, tổ chức hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo bồi dưỡng ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với quy định của điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế. + Báo cáo và phối hợp với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động làm việc ở nước ngoài, giải quyết các vấn đề phát sinh đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài; cử cán bộ đại diện để phối hợp với bên nước ngoài quản lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài tùy theo yêu cầu của từng thị trường lao động; + Thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động theo quy định của pháp luật. III. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TIỀN MÔI GIỚI VÀ TIỀN DỊCH VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 1. Những quy định của pháp luật về tiền môi giới a. Khái niệm Tiền môi giới là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho bên môi giới để ký kết và thực hiện hợp đồng cung ứng lao động. * Chủ thể: doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. * Điều kiện: + Doanh nghiệp chỉ được thu tiền môi giới sau khi ký hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và người lao động được phía nước ngoài chấp nhận vào làm việc hoặc cấp visa. 21

+ Đối tác nước ngoài có yêu cầu về tiền môi giới. * Cơ sở phát sinh: hợp đồng cung ứng lao động hoặc hợp đồng ký riêng. * Hậu quả pháp lý: Người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp một phần hoặc toàn bộ tiền môi giới. b. Mức tiền môi giới + Mức trần tiền môi giới cho các thị trường không vượt quá một tháng lương/người lao động cho một năm hợp đồng. Trường hợp do yêu cầu của thị trường đòi hỏi mức tiền môi giới cao hơn mức trần quy định thì doanh nghiệp báo cáo Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quyết định cụ thể mức tiền môi giới cho phù hợp sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Tài chính; + Doanh nghiệp đàm phán, quyết định mức tiền môi giới phù hợp với từng hợp đồng nhưng không vượt quá mức quy định tại điểm (a), khoản này; + Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quy định cụ thể mức tiền môi giới người lao động hoàn trả cho doanh nghiệp phù hợp với từng thị trường; + Tiền lương (tính theo tháng) để làm căn cứ xác định mức tiền môi giới là tiền lương cơ bản theo hợp đồng không bao gồm: tiền làm thêm giờ, tiền thưởng và các khoản trợ cấp khác. Riêng đối với sĩ quan, thuyền viên tàu vận tải biển, tiền lương theo hợp đồng (tính theo tháng) để làm căn cứ xác định mức tiền môi giới là tiền lương bao gồm tiền lương cơ bản và tiền lương phép. c. Quản lý và sử dụng tiền môi giới * Tiền môi giới phải được thể hiện trong hợp đồng cung ứng lao động hoặc hợp đồng riêng về tiền môi giới được ký giữa doanh nghiệp và bên môi giới; * Tiền môi giới phải được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng được hưởng. Nếu lợi dụng quy định về tiền môi giới để thu, chi sai mục đích, không đúng đối tượng, trục lợi thì người ra quyết định thu, chi phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật; * Phần tiền môi giới mà người lao động hoàn trả, nếu có, phải được ghi rõ trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Doanh nghiệp thu một lần tiền môi giới của người lao động trước khi người lao động xuất cảnh ra nước ngoài làm việc. Khi thu tiền môi giới của người lao động, doanh nghiệp phải cấp biên lai thu tiền cho người lao động. Khoản tiền môi giới mà người lao động hoàn trả không tính vào doanh thu của doanh nghiệp và doanh nghiệp không phải nộp thuế; * Phần tiền môi giới mà doanh nghiệp chi (nếu có) được hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. d. Hoàn trả tiền môi giới Trường hợp người lao động phải về nước trước thời hạn vì lý do bất khả kháng (thiên tai, chiến tranh, doanh nghiệp bị phá sản) hoặc không phải do lỗi của người lao động thì doanh nghiệp có trách nhiệm yêu cầu bên môi giới hoàn trả lại cho người lao động một phần tiền môi giới người lao động đã nộp theo nguyên tắc: người lao động làm việc chưa đủ 50% thời gian theo hợp đồng thì được nhận lại 50% tiền môi giới đã nộp. Người lao động đã làm việc từ 50% thời gian theo hợp đồng trở lên thì không được nhận lại tiền môi giới. Trường hợp không thể đòi được của bên môi giới thì doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả cho người lao động theo nguyên tắc trên và được hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. 2. Những quy định của pháp luật về tiền dịch vụ a. Khái niệm Tiền dịch vụ là khoản chi phí mà người lao động phải trả cho doanh nghiệp để thực hiện hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

22

Tiền dịch vụ không áp dụng đối với trường hợp người lao động đã hoàn thành hợp đồng ký với doanh nghiệp (kể cả thời gian gia hạn theo hợp đồng) và được chủ sử dụng lao động gia hạn hoặc ký hợp đồng lao động mới. 2. Mức tiền dịch vụ a) Mức trần tiền dịch vụ: Người lao động nộp tiền dịch vụ cho doanh nghiệp không quá một tháng tiền lương (hoặc tiền trợ cấp tu nghiệp) theo hợp đồng cho một năm làm việc; riêng sỹ quan và thuyền viên làm việc trên tàu vận tải biển không quá một tháng rưỡi tiền lương theo hợp đồng cho một năm làm việc. Tổng mức tiền dịch vụ tối đa không quá ba tháng lương theo hợp đồng/người/hợp đồng; b) Mức tiền dịch vụ phải được ghi rõ trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký kết giữa doanh nghiệp và người lao động; c) Tiền lương theo hợp đồng (tính theo tháng) để làm căn cứ xác định mức tiền dịch vụ là tiền lương cơ bản không bao gồm: tiền làm thêm giờ, tiền thưởng và các khoản trợ cấp khác. Riêng đối với sĩ quan, thuyền viên tàu vận tải biển, tiền lương theo hợp đồng (tính theo tháng) để làm căn cứ xác định mức tiền dịch vụ là tiền lương bao gồm lương cơ bản và lương phép. 3. Cách thức thu nộp và hoàn trả tiền dịch vụ a) Doanh nghiệp thoả thuận với người lao động để thu tiền dịch vụ một lần trước khi người lao động xuất cảnh hoặc thu nhiều lần trong quá trình thực hiện hợp đồng; b) Trường hợp người lao động phải về nước trước thời hạn vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do lỗi của người lao động thì doanh nghiệp chỉ được thu tiền dịch vụ theo thời gian (số tháng) thực tế người lao động làm việc ở nước ngoài; c) Trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật nước đến làm việc mà phải về nước trước hạn hoặc tự ý bỏ hợp đồng ở lại bất hợp pháp thì doanh nghiệp được thu tiền dịch vụ của người lao động theo thời hạn hợp đồng đã ký. 4. Loại tiền thu nộp và tỷ giá áp dụng a) Trường hợp doanh nghiệp thoả thuận với người lao động thu tiền dịch vụ một lần trước khi người lao động xuất cảnh thì thực hiện bằng đồng Việt Nam. Tỷ giá áp dụng: nếu tiền dịch vụ được tính trên cơ sở đồng đô la Mỹ thì áp dụng tỷ giá giao dịch bình quân của đồng đô la Mỹ so với đồng Việt Nam trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thu nộp. Nếu tiền dịch vụ được tính trên cơ sở các loại ngoại tệ khác thì áp dụng tỷ giá tính chéo giữa đồng đô la Mỹ so với ngoại tệ đó do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo tại thời điểm thu nộp; b) Trường hợp doanh nghiệp thoả thuận với người lao động thu tiền dịch vụ nhiều lần trong quá trình thực hiện hợp đồng thì doanh nghiệp thu tiền dịch vụ bằng đồng tiền mà người lao động được trả lương. Nếu thu một phần tiền dịch vụ trước khi người lao động xuất cảnh thì thực hiện bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá nêu trên. 1. Lệ phí cấp giấy phép hoạt động Lệ phí cấp giấy phép hoạt động về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 10.000.000 đ/giấy phép. Doanh nghiệp được hạch toán khoản nộp lệ phí cấp giấy phép vào chi phí hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 2. Thu, quản lý và thanh toán tiền đặt cọc

Doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài được phép thu tiền đặt cọc của người lao động để đảm bảo thực hiện hợp đồng đã ký kết.
Việc thu tiền đặt cọc phải ghi rõ trong hợp đồng do người lao động ký với doanh nghiệp đưa đi và thực hiện trong vòng 15 ngày trước khi người lao động xuất cảnh ra nước ngoài làm việc. 23

a. Mức và cách thức đặt cọc. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng thị trường, từng hợp đồng và từng đối tượng lao động cụ thể, doanh nghiệp thỏa thuận với người lao động về mức đặt cọc, thu một lần trước khi đi hoặc trừ dần vào tiền lương hàng tháng của người lao động nhưng tổng số tiền đặt cọc không vượt quá mức quy định sau: Mức tối đa tiền đặt cọc 01 lượt vé bay từ Việt Nam đến nước làm việc theo giá vé Nhật Bản, Hàn Quốc, của Hàng không Việt Nam và 01 tháng lương theo hợp Đài Loan đồng. 2 Các nước khác (kể cả đối 01 lượt vé bay từ Việt Nam đến nước làm việc theo giá vé tượng là sĩ quan và của Hàng không Việt Nam. thuyền viên) b. Loại tiền đặt cọc Tiền đặt cọc được tính bằng đôla Mỹ. Trường hợp thu bằng đồng Việt Nam thì căn cứ vào mức nộp bằng đôla Mỹ quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điể thu nộp. c. Quản lý tiền đặt cọc Chậm nhất là 15 ngày kể từ khi nhận tiền đặt cọc của người lao động, doanh nghiệp phải nộp toàn bộ số thu tiền đặt cọc của người lao động vào một tài khỏan của đơn vị mở tại Kho bạc Nhà nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Kỳ hạn gửi tiền được tính theo kỳ hạn hợp đồng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài đã ký kết. Việc rút tiền từ tài khỏan này chỉ được thực hiện khi doanh nghiệp xuất trình biên bản thanh lý hợp đồng với người lao động cho Kho bạc Nhà nước nơi doanh nghiệp mở tài khoản. Trường hợp người lao động không đến thanh lý hợp đồng, Kho Bạc Nhà nước chỉ cho rút tiền đặt cọc của người lao động khi có ý kiến bằng văn bản của Cục quản lý lao động với người nước ngoài - Bộ lao động – Thương binh và Xã hội. d. Thanh toán tiền đặt cọc Sau khi người lao động về nước, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo cho người lao động đến thanh lý hợp đồng đã ký kết. Việc thanh toán tiền đặt cọc được thực hiện cùng với việc thanh lý hợp đồng đã ký giữa doanh nghiệp đưa đi và người lao động. Người lao động có thể ủy quyền cho thân nhân (có xác nhận của UBND phường, xã) đến doanh nghiệp để thanh lý hợp đồng đã ký kết. + Trường hợp người lao động không gây thiệt hại về kinh tế cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải hoàn trả lại toàn bộ tiền đặt cọc cho người lao động và lãi tiền gửi theo quy định của Kho bạc Nhà nước nơi doanh nghiệp mở tài khoản. + Trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại về kinh tế cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp được quyền khấu trừ tiền đặt cọc và tiền lãi của người lao động theo quy định sau: Trong quá trình thực hiện, nếu người lao động vi pham hợp đồng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài sẽ bị xử lý như sau: - Bồi hoàn về vật chất đối với các thiệt hại do ngươi lao động gây ra cho chủ sử dụng lao động theo pháp luật của nước sở tại và cho doanh nghiệp đưa đi. - Phải nộp đủ các khoản về phí dịch vụ, bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân (nếu có) trên cơ sở mức lương theo hợp đồng và thời gian nộp được tính đến ngày người lao động về nước. 24 STT 1 Nước, khu vực

Trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và phải về nước do nguyên nhân khách quan (chiến tranh, thiên tai, xí nghiệp phá sản, sức khỏe v..v..) thì không phải nộp các khoản nghĩa vụ kể từ ngày chấm dứt hợp đồng. Số tiền đặt cọc sau khi khấu trừ (nếu còn), doanh nghiệp phải hoàn trả cho người lao động. Trường hợp người lao động tự chấm dứt hợp đồng trước thời hạn ra ngoài làm ăn bất hợp pháp hoặc sau ba tháng kể từ khi doanh nghiệp thông báo mà người lao động không đến thanh lý hợp đồng thì doanh nghiệp được quyền khấu trừ tiền đặt cọc và tiền lãi gửi của người lao động theo quy định và báo cáo Cục quản lý lao động với nước ngoài - Bộ lao động –Thương binh và Xã hội. Số tiền đặt cọc sau khi khấu trừ (nếu còn), doanh nghiệp có trách nhiệm theo dõi tại Kho bạc Nhà nước. Nếu tiền đặt cọc không đủ bù đắp thiệt hại do người lao động gây ra thì doanh nghiệp có quyền yêu cầu người lao động nộp thêm. 3. Phí doanh nghiệp Phí dịch vụ là doanh thu của doanh nghiệp về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Doanh nghiệp thu phí dịch vụ theo quy định sau: * Trường hợp tiền lương theo hợp đồng mà bên sử dụng lao động trả cho người lao động không bao gồm tiền ăn, ở, bảo hiểm tai nạn lao động và bảo hiểm y tế trong thời gian làm việc ở nước ngoài thì phí dịch vụ là 10% tiền lương theo hợp đồng. Riêng đối với sĩ quan và thuyền viên làm việc trên các tàu vận tải biển thì mức nộp phí dịch vụ là 16% tiền lương theo hợp đồng. * Trường hợp tiền lương theo hợp đồng bao gồm cả tiền ăn ở bảo hiểm, tai nạn lao động, bảo hiểm y tế mà không tách ra được thì người lao động phải nộp mức phí dịch vụ là 5 % tiền lương theo hợp đồng; đối với sĩ quan và thuyền viên làm việc trên các tàu vận tải biển thì mức nộp phí dịch vụ là 8% tiền lương theo hợp đồng. Nếu tách được các khoản tiền ăn ở, bảo hiểm y tế thì mức phí dịch vụ được tính theo quy định nêu trên. ( 10%). Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng lao động với bên sử dụng lao động và được trả với mức lương mới, hoặc trong thời gian làm việc mức lương trong hợp đồng được điều chỉnh thì mức nộp phí dịch vụ được tính lại theo mức lương mới kể từ ngày được điều chỉnh và thời gian nộp tính đến cả thời gian gia hạn hợp đồng . Thủ tục nộp phí dịch vụ: căn cứ hợp đồng giữa người lao động và doanh nghiệp, người lao động nộp phí dịch vụ theo quy định sau: Người lao động được trả lương bằng loại tiền nào thì phí dịch vụ được tính toán theo tỷ lệ quy định trên tiền lương bằng loại tiền đó hoặc tính trên số đôla Mỹ quy đổi tương đương từ loại tiền được trả theo tỷ giá tại từng thời điểm thanh tóan (tương ứng với từng thời điểm trả lương cho người lao động.) Trường hợp bên thuê lao động ở nước ngoài trả lương trực tiếp cho người lao động thì doanh nghiệp có thể thỏa thuận với người lao động để thu phí dịch vụ: thu trước một lần hoặc thu từng đợt trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nếu doanh nghiệp thu trước phí dịch vụ của người lao động thì phải thu bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại từng thời điểm thu tiền. Doanh nghiệp sử dụng phí dịch vụ để chi cho hoạt động xuất khẩu lao động của doanh nghiệp theo chế độ quản lý tài chính hiện hành, kể cả kiểm tra ngoại ngữ, kiểm tra tay nghề cho người lao động theo yêu cầu của hợp đồng đối với đối tác nước ngoài và giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài. 4. Phí quản lý 25

a. Mức phí quản lý Các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài nộp phí quản lý bưàng 1% khoản thu phí dịch vụ cho Cục quản lý lao động với nước ngoài - Bộ lao động –Thương binh và Xã hội. Trường hợp doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức nhận thầu khoán xây dựng, liên doanh liên kết chia tài sản ở nước ngoài hoặc đầu tư ra nước ngoài thì mức phí quản lý bằng 0,5% tổng quỹ lương trả cho người lao động. Doanh nghiệp được hạch toán khoản nộp phí quản lý vào chi phí hoạt động đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Doanh nghiệp tạm nộp phí quản lý cho Cục quản lý lao động với nước ngoài - Bộ lao động – Thương binh và Xã hội khi đăng ký hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Số tiền tạm nộp được căn cứ vào đăng ký số lưọng lao động, mức lương, thời gian làm việc của người lao động, theo hợp đồng và được quyết toán hàng năm. Sau 6 tháng kể từ khi người lao động được tuyển chọn đủ điều kiện đi làm việc ở nước ngoài, nếu doanh nghiệp chưa đưa đi được thì phải thông báo cho người lao động biết rõ lý do. Trong trường hợp nào đó, nếu người lao động không có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài nữa hoặc doanh nghiệp không thể sắp xếp cho người lao động đi được thì doanh nghiệp phải hoàn trả lại cho người lao động toàn bộ các khoản thu trước về tiền vé máy bay, tiền đặt cọc, phí dịch vụ, bảo hiểm xã hội, phí quản lý ngoài nước. (nếu có).

26

CHƯƠNG III. NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI
I. NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG VỚI DOANH NGIỆP, TỔ CHỨC SỰ NGHIỆP, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI 1. Điều kiện để người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài Theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật lao động 2002, “Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng lao động, tự nguyện và có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện khác theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và có yêu cầu của bên nước ngoài thì được đi làm việc ở nước ngoài”. Xuất phát từ quy định đó nên đối tượng được đi xuất khẩu lao động là mọi công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có đủ điều kiện thì được đi xuất khẩu lao động. Trừ các đối tượng sau: - Cán bộ công chức đang làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan dân cử, cơ quan đoàn thể chính trị - xã hội; - Sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ đang tại ngũ trong quân đội nhân dân, công an nhân dân; - Những người chưa được phép xuất cảnh, cụ thể: + Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang có nghĩa vụ thi hành bản án hình sự hoặc đang bị cơ quan điều tra yêu cầu chưa cho xuất cảnh hoặc chưa cấp hộ chiếu để phục vụ công tác điều tra tội phạm. + Người đang có nghĩa vụ thi hành bản án; chờ để giải quyết các tranh chấp về dân sự, kinh tế, hành chính, chờ thi hành quyết định xử phạt hành chính; đang có nghĩa vụ nộp thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ các trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản, bảo lãnh bằng tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó. + Người đã vi phạm quy chế xuất, nhập cảnh, bị xử phạt từ cảnh cáo hành chính trở lên thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ một đến năm năm tính từ ngày bị xử lý vi phạm. + Người bị nước ngoài trục xuất vì vi phạm pháp luật nước sở tại, nếu hành vi đó là nghiêm trọng, có hại cho lợi ích và uy tín của Việt Nam thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ một đến năm năm tính từ ngày trở về Việt Nam. + Người mà Bộ Y tế đề nghị chưa cho xuất cảnh vì lý do y tế. + Các trường hợp khác vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Tùy loại hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài hay đối với hợp đồng cá nhân mà người lao động đi làm việc ở nước ngoài có các điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người lao động khác nhau. Người lao động được đi làm việc ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau: + Người lao động có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; + Tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài; + Có ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức tốt; + Đủ sức khoẻ theo quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động; + Đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề và các điều kiện khác theo yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động; + Được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng kiến thức cần thiết; + Không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

27

Trường hợp người lao động có nguyện vọng và đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, người lao động sẽ nộp hồ sơ đi làm việc ở nước ngoài cho doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa đi làm việc ở nước ngoài. Hồ sơ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài gồm có: + Đơn đi làm việc ở nước ngoài; + Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người lao động và nhận xét về ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức; + Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp; + Văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ, chuyên môn, tay nghề và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức cần thiết; + Giấy tờ khác theo yêu cầu của bên tiếp nhận lao động. 2. Những nghề và khu vực ở nước ngoài không được đưa người lao động Việt Nam đi làm việc Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải có đủ điều kiện quy định pháp luật và được nhà nước Việt Nam bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp theo pháp luật Việt Nam , phù hợp với pháp luật quốc tế. Vì lợi ích quốc gia , để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,bảo đảm an toàn tính mạng ,sức khỏe, danh dự nhân phẩm cho người lao động, giữ gìn bản sắc văn hóa thuần phong mỹ tục, nhà nước quy định những khu vực và những công việc ở nước ngoài mà người lao động Việt Nam không được làm việc ở doanh nghiệp Việt Nam tuyển chọn và đưa lao động đến làm việc ở những khu vực, những công việc đó là trái pháp luật . Tại Điều 135c Bộ luật lao động 1995 (sửa đổi bổ sung năm 2002) đã quy định: “1. Nghiêm cấm việc tuyển và đưa lao động ra nước ngoài làm việc trái pháp luật . 2. Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, lợi dụng xuất khẩu lao động để tuyển chọn, đào tạo, tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc trái pháp luật thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người lao động”. Theo quy định pháp luật , doanh nghiệp không được đưa người lao động đi là những nghề, những khu vực sau đây: Khu vực, ngành nghề và công việc bị cấm đi làm việc ở nước ngoài (khoản 4 Điều 7 của Luật đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng) 1. Khu vực có chiến sự hoặc có nguy cơ xảy ra chiến sự, khu vực bị nhiễm xạ, khu vực bị nhiễm độc, khu vực đang có dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm. 2. Khu vực mà nước tiếp nhận lao động cấm người lao động nước ngoài đến làm việc. 3. Những nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không phù hợp với thể trạng của người Việt Nam; công việc ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của Việt Nam thuộc Danh mục cấm quy định kèm theo Nghị định này. 1. Nghề vũ công, ca sĩ, massage làm việc tại các nhà hàng, khách sạn hoặc các trung tâm giải trí. 2. Công việc phải tiếp xúc thường xuyên với chất nổ, chất độc hại trong luyện quặng kim loại màu (đồng, chì, thủy ngân, bạc, kẽm), tiếp xúc thường xuyên với mangan, điôxit thủy ngân. 3. Công việc tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở, khai thác quặng phóng xạ các loại. 4. Công việc sản xuất, bao gói phải tiếp xúc thường xuyên với các hóa chất axit nitơric, natri sunfat, disunfua cacbon, các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt chuột, sát trùng, chống mối mọt có độc tính mạnh. 5. Công việc săn bắt thú dữ, cá sấu, cá mập. 6. Công việc thường xuyên ở nơi thiếu không khí, áp suất lớn (dưới lòng đất, lòng đại dương). 28

7. Công việc liệm, mai táng tử thi, thiêu xác chết, bốc mồ mả. 8. Công việc mà nước tiếp nhận lao động và Việt Nam cấm./. - Nghề cấm: Đây là những nghề trước đây pháp luật quy định cấm: + Nghề vũ nữ, ca sỹ, masage tại các nhà hàng, khách sạn hoặc các trung tâm giải trí đối với người lao động nữ. + Công việc phải tiiếp xúc với chất nổ, chất độc hại trong luyện quặng kim loại màu (đồng, chì, thủy ngân, bạc, kẽm) dọn rác, tiếp xúc thừng xuyên với mang gan, điôxit thủy ngân; + Công việc phải tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở, khai thác quặng phóng xạ các loại; việc sản xuất, bao gói hoặc phải tiếp xúc thường xuyên với các hóa chất axit nitrie, natrisunfat, disunfua cacbon, các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt chuột, sát trùng, chống mối mọt có tính độc mạnh; + Những công việc săn bắt thú dữ, cá sấu, cá mập. + Những công việc phải điều trị hoặc trực tiếp phục vụ bệnh nhân các bệnh xã hội như phong hủi, HIV, những công việc mổ tử thi, liệm mai táng tử thi, thiêu xác người chết, bốc mồ mả. - Khu vực cấm: + Đang có chiến sự hoặc có nguy cơ xảy ra chiến sự; + Bị nhiễm xạ, nhiễm độc; Đối với một số nghề như phục vụ gia đình, dịch vụ trên các tàu biển du lịch đối với lao động nữ, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại khác và một số khu vực có tính chất phức tạp, trước khi ký hợp đồng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, các doanh nghiệp phải khai báo với Bộ Lao Động –Thương binh và xã hội. 3. Dạy nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động Mục đích của dạy nghề, ngoại ngữ và kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài là một nhiệm vụ quan trọng bắt buộc đối với các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động xuất khẩu lao động. Dạy nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động nhằm chủ động bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lương và đảm bảo uy tín cho đội ngũ lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế. Ngoài ra, dạy nghề, bồi dưỡng kiến thức cần thiết là nhằm tạo cho người lao động có khả năng đảm nhiệm và hoàn thành các công việc theo hợp đồng đã ký với bên nước ngoài. Dạy nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động nhằm tạo nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài có trình độ kỹ năng nghề, ngoại ngữ, kiến thức pháp luật và kiến thức cần thiết khác phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Do yêu cầu về chất lượng lao động của các nước nhập khẩu lao động ngày càng cao, nên trong những năm qua, số lượng người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng ngày càng nhiều. Tuy nhiên, chủ yếu là các doanh nghiệp tuyển chọn lao động đã có sẵn tay nghề rồi làm thủ tục đưa đi chứ số lao động do doanh nghiệp xuất khẩu lao động tổ chức đào tạo thì không nhiều. Chính vì vậy, chất lượng lao động không đồng đều và chưa đáp ứng hết được yêu cầu của người sử dụng lao động nước ngoài. Thậm chí, có trường hợp người lao động đã có chứng chỉ, bằng cấp nhưng thực tế không có tay nghề, hoặc tay nghề không đáp ứng yêu cầu mà doanh nghiệp không kiểm soát được. Khi phía nước ngoài kiểm tra tay nghề, thấy không đạt yêu cầu nên trả về Việt Nam hoặc bố trí công việc khác. Hầu hết người lao động Việt Nam chấp nhận làm việc khác. Số người bị trả về tuy không nhiều nhưng sau khi về nước thì tiến hành khiếu kiện đòi doanh nghiệp phải bồi thường. 29

Để khắc phục được tình trạng trên ngay từ giai đoạn đàm phán, ký kết hợp đồng cung ứng lao động , doanh nghiệp phải thỏa thuận cụ thể với bên nước ngoài về số lượng lao động của từng ngành nghề, từng loại việc, yêu cầu chuyên môn hoặc bậc thợ, đông thời phải tính toán khả năng khai thác nguồn lao động, quỹ thời gian cần thiết để đào tạo nghề cho người lao động theo hợp đồng. Đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động phải nhằm để chuẩn bị được một đội ngũ lao động có văn hóa; tức là có những hiểu biết cần thiết về ngoại ngữ, phong tục tạp quán, về pháp luật và đặc biệt là ý thức tổ chức kỷ luật, trách nhiệm thực hiện hợp đồng và tác phong làm việc. Người lao động Việt Nam nhìn chung là cần cù, thông minh nhưng có nhược điểm là thể lực yếu, chưa quen với tác phong làm việc và phong cách quản lý công nghiệp, ý thức kỷ luật kém. Một bộ phận người lao động thích tự do, phá hợp đồng đi làm việc ở nơi khác. Đây là vấn đề nổi cộm làm giảm uy tín của người lao động Việt Nam trong những năm vừa qua, mà trong đó một phần trách nhiệm thuộc về các doanh nghiệp xuất khẩu lao động do công tác tuyển chọn, đào tạo, giáo dục định hướng không đảm bảo chất lượng. Pháp luật quy định trách nhiệm của người lao động trong việc học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết như sau: + Người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài phải chủ động học nghề, ngoại ngữ, tìm hiểu pháp luật có liên quan và tham gia khóa bồi dưỡng kiến thức cần thiết do doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tổ chức. + Nhà nước có chính sách hỗ trợ đối với người lao động là đối tượng chính sách xã hội để học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của các doanh nghiệp, tổ chức, nhà nước trong việc đào tạo, giáo dục cho người lao động. Doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có trách nhiệm tổ chức hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo để đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nhà nước có chính sách đầu tư cho các cơ sở dạy nghề tạo nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài; hình thành một số trường dạy nghề đủ điều kiện về trang bị, thiết bị, chương trình, giáo trình và đội ngũ giáo viên để đào tạo người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Nhằm hạn chế những thiếu sót và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động; Bộ trưởng Bộ lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành quy chế đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (Ban hành kèm theo Quyết định số 1635/1999/ QĐ- LĐTBXH ngày 13/12/1999). Quy chế quy định rõ nội dung yêu cầu đào tạo, giáo dục định hướng và trách nhiệm của doanh nghiệp, của cơ sở đào tạo, của người lao động và trách nhiệm của cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Về nội dung đào tạo được quy định tại Điều 4 của Quy chế bao gồm: - Dạy ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của nước nhận lao động (theo hợp đồng); - Giáo dục những kiến thức cần thiết có liên quan như: + Kiến thức pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật (pháp luật lao động, hình sự, dân sự, xuất, nhập cảnh, cư trú,…). + Phong tục tập quán, điều kiện làm việc và sinh hoạt, quan hệ cư xử giữa chủ và thợ của nước nhận lao động, kinh nghiệm giao tiếp; + Nội dung hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký với phía nước ngoài và nội dung hợp đồng mà doanh nghiệp sẽ ký với người lao động; quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động trong việc thực hiện hợp đồng; 30

Trách nhiệm của doanh nghiệp với người lao động và trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp, đối với nhà nước; + Kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động… - Dạy nghề, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề theo hợp đồng; Về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động được tham gia đào tạo, giáo dục định hướng được quy định tại Điều 6 và Điều 7 Quy chế như sau: Người lao động có quyền được học tập đầy đủ các nội dung đào tạo, giáo dục định hướng theo quy định, được cấp chứng chỉ khi đạt kết quả kiểm tra, kết thúc khóa học nghề, khoá đào tạo giáo dục định hướng. Trong quá trình tham dự đào tạo, người lao động có các nghĩa vụ sau: + Chấp nhận sự bố trí, tổ chức đào tạo của doanh nghiệp được phép xuất khẩu lao động; + Nghiêm túc thực hiện nội quy của cơ sở đào tạo; + Trực tiếp đóng góp học phí đào tạo nghề (nếu có) theo quy định của nhà nước. Về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc đào tạo: Tại Điều 3 Quy chế đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã quy định việc đào tạo giáo dục định hướng được thực hiện tại các trung tâm, trường dạy nghề và đào tạo (gọi tắt là cơ sở đào tạo) thuộc các Bộ, ngành, địa phương có giấy phép hoạt động hợp pháp. Theo quy định tại Điều 8 của Quy chế doanh nghiệp có trách nhiệm: - Có văn bản nêu rõ nội dung, số lượng lao động, thời gian, mục đích yêu cầu đào tạo gửi đến một trong các cơ sở đào tạo theo quy định. - Trực tiếp thu, thanh toán học phí học nghề (nếu có) và giáo dục định hướng. - Ký kết, thanh lý hợp đồng đào tạo với doanh nghiệp xuất khẩu lao động. - Tổ chức đào tạo đúng nội dung, chương trình đào tạo theo quy định của pháp luật và hợp đồng đã ký với doanh nghiệp. - Cấp chứng chỉ nghề, chứng chỉ đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động đã hoàn thành khóa học. Chứng chỉ đào tạo giáo dục định hướng do Bộ lao động thương binh và Xã hội phát hành, quản lý. Người có thẩm quyền cấp chứng chỉ cấp chứng chỉ đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động là Giám đốc hoặc Hiệu trưởng. Cơ sở đào tạo không được thu thêm của người lao động bất cứ khoản phí nào ngoài quy định. Theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thì doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có trách nhiệm tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết, kiểm tra và cấp chứng chỉ cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài. Nội dung bồi dưỡng kiến thức cần thiết bao gồm: * Truyền thống, bản sắc văn hoá của dân tộc; * Những nội dung cơ bản liên quan về pháp luật lao động, hình sự, dân sự, hành chính của Việt Nam và của nước tiếp nhận người lao động; * Nội dung hợp đồng ký giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài với người lao động; * Kỷ luật lao động, an toàn và vệ sinh lao động; * Phong tục tập quán, văn hoá của nước tiếp nhận người lao động; * Cách thức ứng xử trong lao động và đời sống; * Sử dụng các phương tiện giao thông đi lại, mua bán, sử dụng các dụng cụ, thiết bị phục vụ sinh hoạt đời sống hằng ngày; * Những vấn đề cần chủ động phòng ngừa trong thời gian sống và làm việc ở nước ngoài. 2. Địa vị pháp lý của người lao động đi làm việc ở nước ngoài 31

a. Quyền của người lao động đi làm việc ở nước ngoài Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có các quyền sau đây: * Yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài cung cấp các thông tin về chính sách, pháp luật của Việt Nam về người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thông tin về chính sách, pháp luật có liên quan và phong tục, tập quán của nước tiếp nhận người lao động; quyền và nghĩa vụ của các bên khi đi làm việc ở nước ngoài; * Hưởng tiền lương, tiền công, thu nhập khác, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác quy định trong các hợp đồng và điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 40 của Luật này; * Được doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, pháp luật và thông lệ quốc tế trong thời gian làm việc ở nước ngoài; được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện các quyền và hưởng các lợi ích trong hợp đồng lao động, hợp đồng thực tập; * Chuyển về nước tiền lương, tiền công, thu nhập và tài sản khác của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động; * Hưởng các quyền lợi từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của pháp luật; * Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện về những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. b. Nghĩa vụ của người lao động đi là việc ở nước ngoài Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có các nghĩa vụ sau: + Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; tôn trọng phong tục, tập quán của nước tiếp nhận người lao động; đoàn kết với người lao động của nước tiếp nhận người lao động và người lao động của các nước khác; + Chủ động học nghề, học ngoại ngữ, tìm hiểu các quy định của pháp luật có liên quan; + Tham gia khóa bồi dưỡng kiến thức cần thiết trước khi đi làm việc ở nước ngoài; + Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động; + Làm việc đúng nơi quy định; thực hiện nội quy nơi làm việc và về nước sau khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thực tập theo quy định của nước tiếp nhận người lao động; + Chịu trách nhiệm về những thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã ký theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động; + Tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam và các hình thức bảo hiểm theo quy định của nước tiếp nhận người lao động; + Nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động; + Đóng góp vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của Luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 4. Địa vị của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ Trường hợp người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ, ngoài các quyền và nghĩa vụ trên, người lao động còn có các quyền, nghĩa vụ sau: + Ký kết hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ; + Được bổ túc nghề và có ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của hợp đồng lao động; + Được vay vốn của tổ chức tín dụng để đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật; 32

+ Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp doanh nghiệp dịch vụ vi phạm Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Được gia hạn hợp đồng lao động hoặc ký kết hợp đồng lao động mới phù hợp với quy định pháp luật của nước tiếp nhận người lao động; + Trả tiền dịch vụ và hoàn trả tiền môi giới (nếu có) cho doanh nghiệp dịch vụ; + Ký quỹ hoặc giới thiệu người bảo lãnh theo thoả thuận với doanh nghiệp dịch vụ để bảo đảm thực hiện hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ chậm nhất là một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. 5. Địa vị pháp lý của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài Ngoài các quyền và nghĩa vụ theo quy định trên, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài còn có các quyền và nghĩa vụ sau: * Ký kết hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp nhận thầu, trúng thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài; * Được bổ túc nghề và có ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; * Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài vi phạm Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; * Thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi lao động ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài. 6. Địa vị pháp lý của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề Ngoài các quyền và nghĩa vụ theo quy định trên, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề còn có các quyền và nghĩa vụ: + Ký kết hợp đồng đưa người lao động đi thực tập với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; + Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi thực tập; + Thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi thực tập với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề. 7. Địa vị pháp lý của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức sự nghiệp Ngoài các quyền và nghĩa vụ trên, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức sự nghiệp còn có các quyền và nghĩa vụ sau: * Ký kết hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức sự nghiệp; * Giới thiệu người bảo lãnh theo yêu cầu của tổ chức sự nghiệp; * Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp tổ chức sự nghiệp vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; * Nộp khoản tiền theo quy định của pháp luật. * Thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức sự nghiệp chậm nhất là một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày chấm dứt Hợp đồng lao động; * Được bổ túc nghề và có ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của hợp đồng lao động; 33

* Được vay vốn của tổ chức tín dụng để đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật; * Được gia hạn hợp đồng lao động hoặc ký kết hợp đồng lao động mới phù hợp với quy định pháp luật của nước tiếp nhận người lao động; II.NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG CÁ NHÂN Trong thời gian qua việc đi xuất khẩu lao động thông qua các doanh nghiệp gặp một số khó khăn nhất định về thủ tục nhất là đối với các thị trường lao động có thu nhập cao như thị trường Mỹ, Canada, Australia, Nhật Bản… Chính vì vậy hình thức đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân đang là một hình thức được các chuyên gia khuyên chọn nên đi hình thức này vì có nhiều ưu điểm nhất là tiết kiệm nhiều chi phí, việc làm bảo đảm. Nhưng hình thức này cũng có một số đòi hỏi đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài về trình độ, tay nghề, có kiến thức hiểu biết về phong tục tập quán nước sở tại. Đây là những yêu cầu làm hạn chế số lượng người lao động lựa chọn hình thức đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân. 1. Điều kiện đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân khi có đủ các điều kiện sau: + Người lao động có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; + Tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài; + Có ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức tốt; + Đủ sức khoẻ theo quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động; + Đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề và các điều kiện khác theo yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động; + Được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng kiến thức cần thiết; + Không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam. + Có hợp đồng cá nhân theo quy định của pháp luật; + Có giấy xác nhận việc đăng ký hợp đồng cá nhân của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người lao động thường trú. 2. Địa vị pháp lý của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân a. Quyền của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân. * Người lao động được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật của Việt Nam về người lao động đi làm việc ở nước ngoài; * Người lao động được cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc, pháp luật và thông lệ quốc tế trong thời gian làm việc ở nước ngoài; được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện các quyền và hưởng các lợi ích quy định trong hợp đồng cá nhân; * Người lao động được hưởng các quyền lợi từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của pháp luật; * Được chuyển về nước tiền lương, tiền công, thu nhập và tài sản khác của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc; * Được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động mới phù hợp với quy định pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc. b. Nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân + Đăng ký hợp đồng cá nhân với Sở lao động –Thương binh và xã hội nơi người lao động thường trú. 34

+ Tìm hiểu các quy định của pháp luật có liên quan; + Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc; + Thực hiện đúng hợp đồng cá nhân và nội quy nơi làm việc; + Chịu trách nhiệm về những thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã ký theo quy định pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc; + Tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam và các hình thức bảo hiểm theo quy định pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc; + Nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc; + Đóng góp vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của Luật này; + Đăng ký công dân tại cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam tại nước mà người lao động đến làm việc. IV. CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI 1. Tiền đặt cọc Người lao động trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài thông qua doanh nghiệp cung ứng lao động phải đặt cọc cho doanh nghiệp một khoản tiền để đảm bảo thực hiện hợp đồng ký kết. Mức đặt cọc cho doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng tối đa không vượt quá quy định tại phụ lục số 01/LT kèm theo thông tư này. Người lao động nộp tiền đặt cọc cho doanh nghiệp trong vòng 15 ngẳytớc khi xuất cảnh ra nước ngoài làm việc. Sau khi hoàn thành hợp đồng về nước, nếu không vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho chủ sở dụng lao động và doanh nghiệp đưa đi thì người lao động được nhận lại toàn bộ số tiền đã đặt cọc và tiền lãi theo quy định của Kho Bạc nhà nước. Nếu vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho chủ sử dụng lao động và doanh nghiệp đưa đi thì tiền đặt cọc bị khấu trừ theo quy định. Trong quá trình thực hiện, nếu người lao động vi pham hợp đồng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài sẽ bị xử lý như sau: - Bồi hoàn về vật chất đối vớicác thiệt hại do ngươi lao động gây ra cho chủ sử dụng lao động theo pháp luật của nước sở tại và cho doanh nghiệp đưa đi. - Phải nộp đủ các khoản về phí dịch vụ, bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân(nếu có) trên cơ sở mức lương theo hợp đồng và thời gian nộp được tính đến ngày người lao động về nước. Trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và phải về nước do nguyên nhân khách quan (chiến tranh, thiên tai, xí nghiệp phá sản, sức khỏe v..v..) thì không phải nộp các khoản nghĩa vụ kể từ ngày chấm dứt hợp đồng… 2. Phí dịch vụ Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có nghĩa vụ nộp phí dịch vụ cho doanh nghiệp đưa đi theo quy định sau đây: * Trường hợp tiền lương theo hợp đồng mà bên sử dụng lao động trả cho người lao động không bao gồm tiền ăn, ở, bảo hiểm tai nan lao động và bảo hiểm y tế trong thời gian làm việc ở nước ngoài thì phí dịch vụ là 10% tiền lương theo hợp đồng. Riêng đối với sĩ quan và thuyền viên làm việc trên các tàu vận tải biển thì mức nộp phí dịch vụ là 16% tiền lương theo hợp đồng. * Trường hợp tiền lương theo hợp đồng bao gồm cả tiền ăn ở bảo hiểm, tai nạn lao động, bảo hiểm y tế mà không tách ra được thì người lao động phải nộp mức phí dịch vụ là 5 % tiền 35

lương theo hợp đồng; đối với sĩ quan và thuyền viên làm việc trên các tàu vận tải biển thì mức nộp phí dịch vụ là 8% tiền lương theo hợp đồng. Nếu tách được các khỏan tiền ăn ở, bảo hiểm y tế thì mức phí dịch vụ được tính theo quy định nêu trên. ( 10%). Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng lao động với bên sử dụng lao động và được trả với mứclương mới, hoặc trong thời gian làm viẹc mức lương trong hợp đồng được điều chỉnh thì mức nộp phí dịch vụ được tính lại theo mức lương mới kể từ ngày được điều chỉnh và thời gian nộp tính đến cả thời gian gia hạn hợp đồng . Thủ tục nộp phí dịch vụ: căn cứ hợp đồng giữa người lao động và doanh nghiệp, người lao động nộp phí dịch vụ theo quy định sau: Người lao động được trả lương bằng loại tiền nào thì phí dịch vụ được tính toán theo tỷ lệ quy định trên tiền lương bằng loại tiền đó hoặc tính trên số đôla Mỹ quy đổi tương đương từ loại tiền được trả theo tỷ giá tại từng thời điểm thanh tóan ( tương ứng với từng thời điểm trả lương cho người lao động.) Trường hợp bên thuê lao động ở nước ngoài trả lương trực tiếp cho người lao động thì doanh nghiệp có thể thỏa thuận với người lao động để thu phí dịch vụ: thu trước một lần hoặc thu từng đợt trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nếu doanh nghiệp thu trước phí dịch vụ của người lao động thì phải thu bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại từng thời điểm thu tiền. 3. Bảo hiểm xã hội Người lao động thực hiện đóng và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định hiện hành của nhà nước. 4.Thuế thu nhập cá nhân Người lao động có thu nhập cao có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành của nhà nước. Trường hợp người lao động làm việc ở những nước đã ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam thì phải chỉ thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập theo quy định tại hiệp định đó. 5. Các chi phí khác Người lao động phải chịu các chi phí sau đây: + Tiền vé máy bay từ Việt Nam đến nước làm việc (trừ trường hợp được phía sử dụng lao động đài thọ) + Chi phí khám sức khỏe theo mức quy định của bộ y tế. + Chi phí làm hồ sơ thủ tục đi làm việc ở nước ngoài theo quy định hiện hành của nhà nước. Sau khi được tuyển chọn đủ diều kiện đi làm việc ở nước ngoài, nếu người lao động không có nhu cầu đi làm nữa thì người lao động phải chịu các khoản chi phí do doanh nghiệp đã chi ra để kiểm tra ngoại ngữ, kiểm tra tay nghề cho người lao động theo yêu cầu của hợp đồngvới đối tác nước ngoài và giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài. 6. Xử lý vi phạm Trong quá trình thực hiện, nếu người lao động vi pham hợp đồng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài sẽ bị xử lý như sau: - Bồi hoàn về vật chất đối với các thiệt hại do ngươi lao động gây ra cho chủ sử dụng lao động theo pháp luật của nước sở tại và cho doanh nghiệp đưa đi. - Phải nộp đủ các khoản về phí dịch vụ, bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân (nếu có) trên cơ sở mức lương theo hợp đồng và thời gian nộp được tính đến ngày người lao động về nước. 36

Trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và phải về nước do nguyên nhân khách quan (chiến tranh, thiên tai, xí nghiệp phá sản, sức khỏe v..v..) thì không phải nộp các khoản nghĩa vụ kể từ ngày chấm dứt hợp đồng…

37

CHƯƠNG IV. HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶ ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Khái niệm hợp đồng xuất khẩu lao động Hợp đồng là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản1. Hợp đồng xuất khẩu lao động, hợp đồng lao động, hợp đồng dân sự cũng như hợp đồng nói chung đều là sự thỏa thuận về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ. Hợp đồng là căn cứ để phát sinh quan hệ đồng thời cũng là yếu tố để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Hợp đồng xuất khẩu lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp với người lao động, giữa doanh nghiệp với người sử dụng lao động nước ngoài, giữa người sử dụng lao động nước ngoài với người lao động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 2. Đặc điểm của hợp đồng xuất khẩu lao động Hợp đồng xuất khẩu lao động là một loại hợp đồng do đó nó chứa đựng các dấu hiệu của một hợp đồng nói chung gồm những đặc điểm sau: - Về chủ thể: Người lao động Việt Nam với các doanh nghiệp, người lao động Việt Nam với người sử dụng lao động nước ngoài, doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người sử dụng lao động nước ngoài. - Về bản chất: Hợp đồng xuất khẩu lao động là một loại khế ước, là sự thỏa thuận giữa các bên. - Về nội dung: hợp đồng xuất khẩu lao động chứa đựng quyền và nghĩa vụ của người lao động, doanh nghiệp và người sử dụng lao động nước ngoài. Ngoài ra, hợp đồng xuất khẩu lao động còn mang những đặc điểm riêng so với các hợp đồng khác thông qua các dấu hiệu sau: * Hợp đồng xuất khẩu lao động là hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Một đặc điểm của hợp đồng xuất khẩu lao động là việc ký kết và thực hiện hợp đồng có liên quan đến các quốc gia khác nhau, có điều kiện địa lý, văn hóa, phong tục tập quán, mức sống khác nhau, chế độ pháp luật khác nhau. Từ đặc điểm đó đòi hỏi người đại diện tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng phải có những kiến thực cần thiết về pháp luật của Việt Nam và của nước sẽ tiếp nhận lao động1. Hơn nữa, việc thực hiện hợp đồng được diễn ra ở nước ngoài, chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài, nên khi người lao động Việt Nam sang nước ngoài làm việc không sao tránh khỏi những khó khăn, thiệt thòi. Ngoài ra, khi ra nước ngoài làm việc, người lao động cũng được ký hợp đồng với người sử dụng lao động nước ngoài, nhưng nội dung của hợp đồng không đúng hoặc trái với nội dụng của hợp đồng đã ký với doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam; hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng, người sử dụng lao động nước ngoài vi phạm hợp đồng nên người lao động Việt Nam đòi về nước hoặc bỏ hợp đồng để ra làm việc ở ngoài. Trong những năm vừa qua, từ thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu lao động cho thấy, phía Việt Nam gặp rất nhiều rủi ro khi ký kết và thực hiện hợp đồng. Do không có được những thông tin đầy đủ, chính xác về đối tác nước ngoài, nhất là không nắm được đầy đủ các thông tin có liên quan đến đơn vị trực tiếp sử dụng lao động nước ngoài
1 1

Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, trang 449. Tìm hiểu pháp luật về xuất khẩu lao động, NXBCTQG, trang 50.

38

như công việc, điều kiện làm việc, các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên… hay tình trạng doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam ký hợp đồng với đối tác nước ngoài này nhưng khi đưa người lao động Việt Nam sang làm việc thì người sử dụng lao động nước ngoài đưa người lao động sang làm cho một chủ sử dụng lao động khác; dó đó, không thực hiện được hoặc thực hiện không trọn vẹn hợp đồng cung ứng lao động ký với bên nước ngoài là điều khó tránh khỏi. * Hợp đồng xuất khẩu lao động là căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật về xuất khẩu lao động. Khi hợp đồng xuất khẩu lao động được ký kết sẽ làm phát sinh quan hệ lao động giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động, giữa doanh nghiệp Việt Nam với bên nước ngoài hoặc giữa người lao động với doanh nghiệp nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc doanh nghiệp đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam hoặc giữa người lao động với người sử dụng lao động nước ngoài. * Hợp đồng xuất khẩu lao động là căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh về xuất khẩu lao động, trong đó có thể áp dụng pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế, các hiệp định… để giải quyết. * Nội dung của hợp đồng có một số điều khoản riêng như: Tiền đặt cọc, ký quỹ và tiền máy bay… Ngoài ra, hợp đồng xuất khẩu lao động còn có một số đặc điểm khác như: - Cơ quan quản lý hợp đồng: Do Cục quản lý lao động nước ngoài quản lý. - Về gia hạn hợp đồng: Nếu người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thông qua doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động, mà được gia hạn hoặc ký tiếp hợp đồng lao động, thì phải báo cáo cho doanh nghiệp biết. Nếu người lao động trực tiếp ký hợp đồng với người sử dụng lao động nước ngoài khi hết hạn hợp đồng lao động, mà được gia hạn hoặc ký hợp đồng lao động mới, thì báo cáo với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại. - Về thủ tục đăng ký hợp đồng: Doanh nghiệp muốn đăng ký hợp đồng thì phải lập hồ sơ đang ký và gửi đến Cục quản lý lao động nước ngoài, nếu người lao động muốn đăng ký thì gửi hồ sơ đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội để làm thủ tục. Từ những đặc điểm trên cho thấy, hợp đồng xuất khẩu lao động là một loại hợp đồng rất phức tạp, đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người lao động phải có những kiến thức nhất định về pháp luật trong nước, pháp luật quốc tế, cũng như các điều ước quốc tế để tham gia ký kết hợp đồng, hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra. 3. Nguyên tắc giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động. Giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động là việc các bên bày tỏ ý chí theo những nguyên tắc và cách thức nhất định nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ lao động đối với nhau giưa các chủ thể tham gia và hoạt động xuất khẩu lao động. Nguyên tắc giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động là những tư tưởng chỉ đạo, chi phối các chủ thể trong quá trình giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động nhằm giúp cho việc giao kết hợp đồng đạt hiệu quả. Thông qua các quy định của pháp luật lao động, khi giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động các bên phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau: * Nguyên tắc tự do, tự nguyện: Yếu tố tự do, tự nguyện là một trong những điều kiện không thể thiếu của mọi hợp đồng nói chung và hợp đồng xuất khẩu lao động nói riêng. Khi tham gia giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động các bên phải bày tỏ ý chí của mình trên cơ sở của sự tự do, tự nguyện. Mọi hành vi cưỡng bức, lừa dối, đe dọa, ép buộc đều ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của hợp đồng xuất khẩu lao động. 39

Nguyên tắc tự do, tự nguyện phản ánh mặt chủ quan của các chủ thể khi tham gia quan hệ. Yếu tố tự do tự nguyện bị chi phối bởi tính tương đồng về năng lực chủ thể của các bên và tính chất đại diện. Khi tham gia quan hệ hợp đồng xuất khẩu lao động ý chí của các chủ thể được phản ánh vào trong hợp đồng mang tính đích danh và nó thể hiện ý chí đích thực. Không một cá nhân, tổ chức nào cso quyền ép buộc, can thiệp vào quá trình này. * Nguyên tắc bình đẳng: Tự do, tự nguyện và bình đẳng là các yếu tố khác nahu nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các chủ thể chỉ thực sự tự do, tự nguyện bày tỏ ý chí của mình trên cơ sở bình đẳng và chỉ có bình đẳng thực sự trên cơ sở tự do tự nguyện. Nếu nguyên tắc tự do, tự nguyện phản ánh mặt chủ quan của các chủ thể thì nguyên tắc bình đẳng nói lên tư cách pháp lý của các bên trong quá trình tham gia giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động. Khi tham gia giao kết hợp đồng xuất khẩu lao động các chủ thể phải tương đồng về vị trí, về phương thức biểu hiện trong quá trình thỏa thuận hợp đồng xuất khẩu lao động. Tuy nhiên việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các bên giao kết trong thực tiễn là vấn đề không đơn giản. Người lao động đi xuất khẩu lao động thường ở vị trí thế yếu, người sử dụng lao động nhà nước được coi là những người sở hữu tài sản, điều hành doanh nghiệp. Cho nên trong khi nhấn mạnh về nguyên tắc tự nguyện trên phương diện pháp lý cũng không nên phủ nhận hoặc xem nhẹ việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế. * Nguyên tắc không trái pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài. Nếu nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng là những nguyên tắc phản ánh mặt chủ quan, cái riêng trong quan hệ thì sự tôn trọng pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài là điều kiện cần thiết phản ánh cái chung của quan hệ. Tóm lại, khi ký kết hợp đồng xuất khẩu lao động các bên phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc trên. II. CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Hợp đồng cung ứng lao động Hợp đồng cung ứng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của Việt Nam với bên nước ngoài về điều kiện, nghĩa vụ của các bên trong việc cung ứng và tiếp nhận người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Hợp đồng cung ứng lao động phải phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động và có những nội dung chính sau đây: * Thời hạn của hợp đồng; * Số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài; ngành, nghề, công việc phải làm; * Địa điểm làm việc; * Điều kiện, môi trường làm việc; * Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; * An toàn và bảo hộ lao động; * Tiền lương, tiền công, các chế độ khác và tiền thưởng (nếu có); tiền làm thêm giờ; * Điều kiện ăn, ở, sinh hoạt; * Chế độ khám bệnh, chữa bệnh; * Chế độ bảo hiểm xã hội; * Điều kiện chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và trách nhiệm bồi thường thiệt hại; * Trách nhiệm trả chi phí giao thông từ Việt Nam đến nơi làm việc và ngược lại; * Tiền môi giới (nếu có); * Trách nhiệm của các bên khi người lao động bị chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài; 40

* Giải quyết tranh chấp; * Trách nhiệm giúp đỡ người lao động gửi tiền về nước. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có các nội dung cụ thể, phù hợp với nội dung của hợp đồng cung ứng lao động. Các thỏa thuận về tiền môi giới, tiền dịch vụ, tiền ký quỹ của người lao động phải được ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Bộ lao động - Thương binh và Xã hội quy định mẫu và nội dung của hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với từng thị trường lao động. Hợp đồng cung ứng lao động phải được đăng ký theo thủ tục pháp luật quy định. Đăng ký hợp đồng cung ứng lao động là một thủ tục bắt buộc, là bảo đảm về mặt pháp lý cho việc thực hiện hợp đồng cung ứng lao động. Sau khi hợp đồng cung ứng lao động được đăng ký, doanh nghiệp, người lao động mới được triển khai thực hiện hợp đồng và Nhà nước thực hiện việc kiểm soát đối với hoạt động cung ứng lao động. * Hợp đồng cung ứng lao động phải được đăng ký với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. * Hợp đồng cung ứng lao động có hiệu lực sau khi được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chấp thuận. * Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phải trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp, nếu không chấp thuận phải nêu rõ lý do. * Hồ sơ đăng ký hợp đồng cung ứng lao động gồm: + Văn bản đăng ký hợp đồng cung ứng lao động của doanh nghiệp dịch vụ; + Bản sao hợp đồng cung ứng lao động, có bản dịch bằng tiếng Việt; + Tài liệu chứng minh việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước tiếp nhận người lao động; + Phương án thực hiện hợp đồng cung ứng lao động; + Các tài liệu khác có liên quan theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đối với từng thị trường lao động. 2. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp với người lao động về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 3. Hợp đồng cá nhân. Hợp đồng cá nhân là sự thỏa thuận trực tiếp bằng văn bản giữa người lao động với bên nước ngoài về việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hợp đồng cá nhân phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc. Hợp đồng cá nhân bao gồm những nội dung chính sau đây: * Ngành, nghề, công việc phải làm; * Thời hạn của hợp đồng; * Địa điểm làm việc; * Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; * Tiền lương, tiền công; tiền làm thêm giờ; * Chế độ khám bệnh, chữa bệnh; * Chế độ bảo hiểm xã hội; * Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường hợp người lao động chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài; 41

* Giải quyết tranh chấp. Hồ sơ, thủ tục đăng ký hợp đồng cá nhân Hồ sơ đăng ký hợp đồng cá nhân với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người lao động thường trú bao gồm: * Đơn đăng ký kèm theo bản sao hợp đồng cá nhân, có bản dịch bằng tiếng Việt; * Bản chụp Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu; * Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người lao động thường trú hoặc của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người lao động và nhận xét về ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức. * Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Lao động Thương binh và Xã hội cấp Giấy xác nhận việc đăng ký hợp đồng cá nhân cho người lao động, nếu không chấp thuận phải trả lời và nêu rõ lý do bằng văn bản. Giấy xác nhận việc đăng ký hợp đồng cá nhân phải được xuất trình khi người lao động làm thủ tục xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài. Đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức hợp đồng cá nhân cần có một số lưu ý như sau: Hợp đồng cá nhân phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và quốc gia vùng lãnh thổ nơi người lao động đến làm việc. Trong quá trình đăng ký hồ sơ, người lao động phải chứng minh được người sử dụng lao động bảo lãnh sang làm việc, với các nội dung liên quan như ghi rõ ngành nghề, công việc phải làm, thời hạn hợp đồng, đại điểm làm việc, tiền lương, tiền làm thêm giờ, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội, giải quyết tranh chấp, quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường hợp người lao động chết trong thời gian làm việc… Sau khi đến được quốc gia, vùng lãnh thổ nơi làm việc, người lao động phải đến cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam để đăng ký tư cách công dân, thủ tục lưu trú. Trong trường hợp bị rủi ro, người lao động cần đến cơ quan này nhờ can thiệp, bảo vệ. Người lao động phải tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng hợp đồng cá nhân và nội quy nơi làm việc, chịu trách nhiệm về những thiệt hại do vi pạhm hợp đồng đã ký theo quy định của pháp luật của nơi đến làm việc. Nếu chứng minh trong thời hạn hợp đồng người lao động làm việc tốt, có kỷ luật, không để xảy ra vi phạm, người lao động mới có thể được gia hạn hợp đồng. So với quy định tại các văn bản pháp luật trước đây thì hợp đồng xuất khẩu lao động bao gồm 3 loại: hợp đồng cung ứng lao động; hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài; hợp đồng lao động ở nước ngoài. Tuy nhiên, quy chế pháp lý và thủ tục đăng ký của các loại hợp đồng này được quy định khác nhau tùy theo loại hợp đồng. Đối với hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (Đối với doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động, doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam) thủ tục quy định như sau: Theo khoản 2 Mục III Thông tư số 22/2003/TT- BLĐTBXH ngày 13/10/2003 của Bộ Lao động – Thương binh Xã hội, doanh nghiệp muốn đăng ký hợp đồng XKLĐ phải lập hồ sơ đăng ký gồm: - Một bản đăng ký hợp đồng. - Một bản sao hợp đồng ký với bên nước ngoài kèm theo bản dịch và các văn bản của nước nhận lao động liên quan đến hợp đồng có xác nhận của Tổng giám đốc hoặc Giám đốc doanh nghiệp. Đối với các hợp đồng đã được đăng ký và chấp thuận trước đó thì doanh nghiệp không phải nộp bản sao hợp đồng. 42

Đối với doanh nghiệp nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam, ngoài các tài liệu trên phải nộp thêm bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp không có giấy phép hoạt động XKLĐ) và phương án sử dụng lao động Việt Nam để thực hiện hợp đồng có xác nhận của cơ quan quản lý doanh nghiệp. Về thời hạn đăng ký hợp đồng: - Hồ sơ đăng ký hợp đồng được gửi đến Cục Quản lý lao động ngoài nước. Cục Quản lý lao động ngoài nước cấp cho doanh nghiệp phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký hợp đồng khi đã nhận đủ hồ sơ hợp lệ. - Sau 05 ngày làm việc đối với hợp đồng cung ứng lao động và 07 ngày làm việc đối với hợp đồng nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc dự án đầu tư ở nước ngoài, kể từ ngày cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký hợp đồng, nếu Cục Quản lý lao động ngoài nước không có ý kiến khác bằng văn bản thì doanh nghiệp đương nhiên được tổ chức thực hiện hợp đồng. Trường hợp chưa đủ điều kiện cần phải bổ sung hoặc không đủ điều kiện theo quy định thì Cục Quản lý lao động ngoài nước thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết. Như vậy, đối với từng hình thức XKLĐ khác nhau, doanh nghiệp XKLĐ muốn đăng ký hợp đồng đều trải qua những thủ tục khác nhau, đòi hỏi từng doanh nghiệp phải nắm rõ để việc đăng ký được thuận lợi, nhanh chóng, tránh những sai phạm đáng tiếc xảy ra. Đối với hợp đồng cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với người sử dụng lao động nước ngoài ( hợp đồng cá nhân) thủ tục quy định như sau: Theo khoản 3 Mục III Thông tư số 22/2003/TT- BLĐTBXH ngày 13/10/2003 của Bộ Lao động – Thương binh Xã hội, người lao động muốn đăng ký hợp đồng XKLĐ phải lập hồ sơ đăng ký gồm: - Giấy đăng ký đi làm việc ở nước ngoài có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc đơn vị quản lý trực tiếp. - Bản sao công chứng hợp đồng hoặc văn bản tiếp nhận làm việc có nội dung cơ bản như hợp đồng, được cơ quan có thẩm quyền của nước đến làm việc cho phép. Về thời hạn đăng ký hợp đồng: - Hồ sơ đăng ký hợp đồng được gửi đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi cư trú. Nếu hồ sơ đủ và hợp lệ, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp cho người lao động phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký hợp đồng. - Sau 05 ngày làm việc kể từ ngày cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký hợp đồng. Nếu Sở Lao động – Thương binh và Xã hội không có ý kiến khác thì người lao động được phép làm thủ tục xuất cảnh. Người lao động đang ở nước ngoài không do doanh nghiệp quản lý, nếu có hợp đồng lao động thì đăng ký hợp đồng với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại, hồ sơ gồm: Giấy đăng ký làm việc theo hợp đồng; bản chụp hộ chiếu; bản sao hợp đồng lao động. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, nếu cơ quan đại diện Việt Nam không có ý kiến khác thì người lao động có quyền thực hiện hợp đồng. III. GIAỈ QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Khái niệm Tranh chấp về hợp đồng xuất khẩu lao động là loại tranh chấp khá phức tạp. Sự phức tạp của các tranh chấp này thể hiện ở chỗ: quan hệ tranh chấp có liên quan đến nhiều bên bao gồm bên người sử dụng lao động nước ngoài, bên doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; doanh nghiệp dịch vụ; tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức cá nhân đầu tư ra nước ngoài trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Do đó có thể xảy ra những tranh chấp sau: 43

+ Tranh chấp giữa người lao động và doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đối với loại tranh chấp này hai bên sẽ giải quyết trên cơ sở hợp đồng ký giữa các bên và quy định của pháp luật Việt Nam. + Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động nước ngoài: các bên gải quyết trên cơ sở sự thảo thuận đã ký kết và quy định pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký với bên nước ngoài. + Tranh chấp giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người sử dụng lao động hoặc bên môi giới nước ngoài được giải quyết trên cơ sở thỏa thuân đã ký giữa các bên và quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký với bên nước ngoài. 2. Thủ tục giải quyết tranh chấp về hợp đồng xuất khẩu lao động Theo Nghị định số 81/2003/NĐ- CP ngày 17 tháng 7 năm 2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về người Việt Nam làm việc ở nước ngoài thì thủ tục giải quyết từng loại tranh chấp được giải quyết như sau: * Đối với tranh chấp giữa người lao động Việt Nam và doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài: Bao gồm các tranh chấp phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động với doanh nghiệp nhận thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài và tranh chấp về hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Các tranh chấp này được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký giữa hai bên và các quy định của pháp luật Việt Nam; trước hết, các bên phải cùng thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp, hòa giải trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của nhau. Trong trường hợp này, nếu các bên không thể thỏa thuận được với nhau thì một bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật hiện hành của Việt Nam. Về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp: Căn cứ vào quy định tại các Điều 166, Điều 167 của Bộ luật lao động 2002, các bên tranh chấp có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết trong thời hạn ba năm kể từ ngày tranh chấp xảy ra. Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết loại tranh chấp về hợp đồng XKLĐ là Tòa án cấp tỉnh nơi có trụ sở chính hoặc nơi cư trú của bị đơn. * Đối với tranh chấp giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài: Khi phát sinh tranh chấp giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài; trước hết người lao động cần phải kiến nghị với chủ sử dụng lao động để xem xét giải quyết. Khi đã kiến nghị mà không được giải quyết hoặc không đồng ý với việc giải quyết của người sử dụng lao động, thì người lao động phải thông qua doanh nghiệp Việt Nam hoặc đại diện doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài để thương lượng và giải quyết trên cơ sở hợp đồng lao động đã ký kết giữa hai bên và quy định của pháp luật nước nhận lao động. * Đối với tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài không trực tiếp sử dụng lao động Việt Nam: Khi có tranh chấp xảy ra thì được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Trong trường hợp, trong hợp đồng không quy định pháp luật nào sẽ áp được dụng để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động để giải quyết. * Đối với tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam và người sử dụng lao động nước ngoài: Trong trường hợp này, khi tranh chấp xảy ra thì được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký kết giữa hai bên (nếu có), hoặc các hợp đồng khác có liên quan. Trong trường hợp, hợp đồng 44

không quy định pháp luật nước nào được áp dụng để giải quyết thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động để giải quyết. * Đối với tranh chấp liên quan đến nhiều bên: Trong trường hợp này, được giải quyết tuân theo pháp luật do các bên thỏa thuận lựa chọn, nếu các bên không thỏa thuận được, thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động để giải quyết.

45

CHƯƠNG V. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
I. KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.Khái niệm quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động Việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự định hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là thời kỳ đổi mới đánh dấu bước phát triển quan trọng trên tất cả các phương diện khác nhau trong đó có quản lý nhà nước về lao động. Trong giai đoạn này, nhà nước ban hành các văn bản pháp luật lao động cụ thể trên các phương diện như tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, các quy định về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và các lĩnh vực khác để tạo cơ sở pháp lý cho người lao động cũng như người sử dụng lao động tham gia vào quan hệ lao động. Đồng thời nhà nước cũng quy định các biện pháp quản lý lao động một cách hữu hiệu từ quá trình tuyển dụng lao động, thực hiện quan hệ lao động đến việc thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động và xử lý các vi phạm pháp luật lao động. Có thể nói, quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động là một loại của quản lý nhà nước về lao động. Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra các điều kiện về môi trường pháp lý, tạo ra sân chơi cho hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được xác lập, duy trì và phát triển; đảm bảo quyền và lợi ích của doanh nghiệp, tổ chức, người lao động cũng như người sử dụng lao động trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hiện nay, trong các văn bản pháp luật lao động của nước ta chưa quy định khái niệm về quản lý nhà nước về lao động cũng như quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động. Tuy nhiên có thể tiếp cận quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trên các phương diện về kinh tế xã hội cũng như phương diện pháp lý. Về phương diện kinh tế- xã hội, quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động là một trong những lĩnh vực quản lý quan trọng của nhà nước nhằm định hướng tổ chức và bảo đảm việc tiến hành trên thực tế các loại hình quan hệ lao động nói chung và quan hệ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài nói riêng một cách hài hoà ổn định và đạt hiệu quả cao nhất đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Về phương diện pháp lý, quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động là một chế định pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về các nguyên tắc, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động cũng như những nội dung quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động. Với các cách hiểu trên thì quản lý nhà nước về lao động có những đặc điểm sau: Về chủ thể: Một bên chủ thể của quan hệ quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động bao giờ cũng là nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. ( Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động; Bộ lao động Thương binh xã hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp trong hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động.) Về tính chất: Chủ thể quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động là các cơ quan nhà nước nên tính chất quản lý nhà nước luôn có tính cưỡng chế, bắt buộc. Một bên chủ thể nhà nước là đại diện các cơ quan nhà nước bao giờ cũng có quyền đưa ra các mệnh lệnh còn một bên (người lao động, doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài) phải tuân thủ các mệnh lệnh đó. 46

Ngoài ra trong quan hệ này còn có sự tham gia của người sử dụng lao động nước ngoài với các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài do đó ngoài việc chịu sự quản lý của pháp luật Việt Nam còn có sự quản lý của pháp luật nước sở tại. Về mục đích: quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động giúp điều tiết các quan hệ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động tạo ra môi trường pháp lý vững chắc cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ này. 2. Các nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động + Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động không can thiệp vào các hoạt động tác nghiệp của các doanh nghiệp, các tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà tạo hành lang pháp lý để để các chủ thể này theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại. + Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động bảo đảm tính tập trung thống nhất trong phạm vi cả nước và có sự phân công, phân cấp và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài, giữa các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài. + Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động phải tiến hành đồng bộ, toàn diện với các chính sách kinh tế xã hội khác. 3. Nội dung quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động là một nội dung của công tác quản lý nhà nước về lao động. Quản lý nhà nước về lao động nói chung và quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động nói riêng là lĩnh vực quản lý tương đối đa dạng, và phức tạp vì lao động và xuất khẩu lao động vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội; phạm vi hoạt động quản lý rộng và có liên quan đến việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước của nhiều ngành khác nhau như liên quan đến hoạt động quản lý kinh tế của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các tổ chức kinh tế, đến hoạt động quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của cơ quan công an, đến hoạt động đối ngoại của cơ quan ngoại giao v.v… Để đảm bảo việc quản lý được tập trung, thống nhất và có hiệu quả; tại Điều 181 Bộ luật lao động năm 1995 (đã sửa đổi bổ sung năm 2001) đã quy định như sau: “1.Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước. Bộ lao động thương binh và xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động. Bộ cơ quan ngang bộ có trách nhiệm phối hợp với Bộ lao động thương binh và Xã hội để thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nước về lao động. 2. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động theo sự phân cấp của Bộ lao động thương binh và Xã hội. 3. Tổng liên doàn lao động Việt Nam và công đoàn các cấp tham gia giám sát việc quản lý nhà nước về lao động theo quy định của pháp luật. 4. Đại diện của người sử dung lao động, người sử dung lao động tham gia ý kiến với các cơ quan nhà nước về chính sách, pháp luật và các vấn đề liên quan tới quan hệ lao động theo quy định của Chính phủ.” Theo Điều 69 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, thì nội dung quản lý nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm: * Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, chính sách về người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 47

* Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Quy định nội dung chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Tổ chức quản lý và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác quản lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức bộ máy quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ hoạt động trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; nghiên cứu để thực hiện quản lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài bằng mã số. * Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực người lao động đi làm việc ở nước ngoài; đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế về người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Tổ chức hoạt động xúc tiến phát triển thị trường lao động ngoài nước; quy định khu vực, ngành, nghề và công việc mà người lao động không được đến làm việc ở nước ngoài; cung cấp thông tin về thị trường lao động ngoài nước cho các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và người lao động. * Cấp, đổi, thu hồi Giấy phép, đình chỉ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; quản lý việc đăng ký và hướng dẫn tổ chức thực hiện các loại hợp đồng theo quy định tại Luật này. * Kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. II. TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI Quản lý nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần phải có sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan này theo quy định sau: * Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài. * Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo sự phân công của Chính phủ. * Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo sự phân cấp của Chính phủ. Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động phụ thuộc vào trách nhiệm của doanh nghiệp, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Ban quản lý nhà nước về lao động và sự phối hợp giữa các cơ quan đó. * Trách nhiệm của doanh nghiệp. Đối với người lao động, doanh nghiệp phải có các trách nhiệm sau: - Phổ biến đầy đủ những nội dung trong chương trình giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; - Thông báo và phối hợp với đối tác nước ngoài (Công ty môi giới hoặc người sử dụng lao động) để đón và tiếp nhận người lao động tại cửa khẩu của nước sở tại. Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp phải cử cán bộ cùng đi và phối hợp với phía nước ngoài đưa người lao động đến nơi làm việc; - Cung cấp cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài: Số điện thoại, địa chỉ của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại (Ban Quản lý lao động, Bộ phận lãnh sự); số điện 48

thoại, địa chỉ, tên người đại diện của doanh nghiệp Việt Nam, công ty môi giới và người sử dụng lao động; - Trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày người lao động nhập cảnh, doanh nghiệp phải cử cán bộ đến nơi làm việc để nắm tình hình việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt của người lao động và giải quyết những khó khăn vướng mắc ban đầu của người lao động; - Giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động theo hợp đồng đã ký giữa các bên (giữa doanh nghiệp và người lao động, giữa người sử dụng lao động và người lao động); chủ động phối hợp với Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại để giải quyết những vụ việc phát sinh liên quan đến người lao động vượt quá khả năng của doanh nghiệp; - Đối với những vụ việc phức tạp như người lao động bị chết, bị tai nạn nghiêm trọng có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng hoặc vụ việc phát sinh liên quan đến người lao động thì chậm nhất là 03 ngày, kể từ ngày phát sinh vụ việc, doanh nghiệp phải cử cán bộ trực tiếp phối hợp với Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại để giải quyết. Đối với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc Ban quản lý lao động, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ định kỳ báo cáo theo các nội dung sau: + Tình hình lao động do doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước sở tại (số liệu báo cáo theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này). Số vụ việc phát sinh, trong đó số vụ việc còn tồn đọng chưa giải quyết, lý do; + Việc thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định 141 và các quy định pháp luật khác có liên quan. + Kịp thời báo cáo Cục Quản lý lao động ngoài nước và phối hợp với Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại để xử lý ngay sau khi phát hiện người lao động vi phạm quy định tại các Khoản 5, 6, 7 và 9 Điều 4 Nghị định 141. + Cung cấp toàn bộ hồ sơ trước khi xuất cảnh của người lao động có hành vi vi phạm quy định tại Nghị định 141 cho Cục Quản lý lao động ngoài nước khi có yêu cầu. * Trách nhiệm của cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài + Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài; xử lý hành vi vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này. + Nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, chính sách và phương thức tiếp nhận lao động nước ngoài của nước sở tại. + Thông tin, hướng dẫn các doanh nghiệp tiếp cận thị trường để ký kết Hợp đồng cung ứng lao động theo pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước sở tại. + Hỗ trợ cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam trong việc thẩm định các điều kiện và tính khả thi của các hợp đồng trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, địa vị pháp lý của đối tác nước ngoài. + Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của đại diện các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp Việt Nam tại nước ngoài trong việc quản lý, xử lý các vấn đề phát sinh đối với người lao động. + Báo cáo và kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết đối với những trường hợp có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật Việt Nam. + Phối hợp với các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và cơ quan, tổ chức của nước sở tại để đưa người lao động vi phạm về nước. * Trách nhiệm của Ban Quản lý lao động (đối với những địa bàn có Ban Quản lý lao động) + Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước và Người đứng đầu Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại; 49

+ Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất gửi Người đứng đầu cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước theo quy định. * Quan hệ phối hợp giữa các bộ phận thuộc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc quản lý lao động ở những địa bàn có Ban Quản lý lao động. + Đối với những vụ việc phát sinh liên quan đến người lao động có tính chất phức tạp hoặc ngoài phạm vi trách nhiệm, Ban Quản lý lao động tổng hợp tình hình, chủ động báo cáo với Người đứng đầu Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại để chỉ đạo các bộ phận liên quan phối hợp giải quyết. + Căn cứ tính chất vụ việc, đặc điểm địa bàn và tình hình nhân sự của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, người đứng đầu Cơ quan đại diện chỉ đạo và phân công trách nhiệm xử lý vụ việc cho các bộ phận trong Cơ quan đại diện. + Đối với những vấn đề phát sinh liên quan đến chính sách đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, ảnh hưởng đến quan hệ hai nước hoặc ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của số đông người lao động Việt Nam hoặc các vụ việc nghiêm trọng khác, Ban Quản lý lao động chủ động phối hợp với các bộ phận liên quan nghiên cứu đề xuất phương án giải quyết với Người đứng đầu Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để báo cáo các cơ quan chức năng trong nước. III. XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Khái niệm vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động. Vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động là hành vi( hành động hoặc không hành động) trái pháp luật lao động Việt Nam và pháp luật nước người lao động đến làm việc do cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại các quan hệ về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được pháp luật Việt Nam và pháp luật nước người lao động đến làm việc bảo vệ. Vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động là hành vi vi phạm xâm hại hoặc đe doạ xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, doanh nghiệp, người sử dụng lao động nước ngoài, của nhà nước Việt Nam và nước mà người lao động đến làm việc. Về hành vi: + Sử dụng Giấy phép của doanh nghiệp khác hoặc cho người khác sử dụng Giấy phép của mình để hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Giao nhiệm vụ điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cho người đã quản lý doanh nghiệp bị thu hồi Giấy phép hoặc người đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên do vi phạm quy định của pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Đi làm việc hoặc đưa người lao động đi làm việc ở khu vực, ngành, nghề và công việc bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc không được nước tiếp nhận người lao động cho phép. + Lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài. + Lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức tuyển chọn, đào tạo, thu tiền của người lao động. + Tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc khi chưa đăng ký hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này. + Sau khi nhập cảnh không đến nơi làm việc hoặc bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng. + Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động. + Lôi kéo, dụ dỗ, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định của pháp luật. 50

+ Gây phiền hà, cản trở, sách nhiễu người lao động hoặc doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Chủ thể của vi phạm về xuất khẩu lao động gồm các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, người lao động, tập thể người lao động, người sử dụng lao động nước ngoài khi thực hiện hành vi vi phạm các quy định về đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc. Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. 2. Các hình thức xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật xuất khẩu lao động a. Đối với vi phạm hành chính về xuất khẩu lao động Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, người lao động đi làm việc ở nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính theo quy định của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính. * Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: + Cảnh cáo; + Phạt tiền. + Ngoài hình thức xử phạt chính, các đối tượng trên còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: + Thu hồi Giấy phép; + Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. + Ngoài hình thức xử phạt chính và bổ sung, các đối tượng trên còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: - Đình chỉ có thời hạn hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định tại Điều 14 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; - Tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện Hợp đồng cung ứng lao động; - Đưa người lao động về nước theo yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; - Bồi thường thiệt hại và chịu mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm hành chính gây ra; - Các biện pháp khác do Chính phủ quy định. * Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: + Cảnh cáo; + Phạt tiền. Ngoài hình thức xử phạt chính quy định tại khoản 5 Điều này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung buộc về nước. Chính phủ quy định cụ thể hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính ở ngoài nước trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người lao động vi phạm. Pháp luật quy định cụ thể mức phạt đối với các hành vi vi phạm những quy định về đă lao động đi làm việc ở nước ngoài như sau: 51

* Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đôngf đối với doanh nghiệp có một trong các hành vi vi phạm sau: + Không báo cáo hoặc báo cáo không đầy đủ nội dung về các đơn vị trực thuộc được giao nhiệm vụ xuất khẩu lao động; + Không đăng ký hợp đồng; đăng ký không đầy đủ số lượng lao động theo hợp đồng hoặc đăng ký hợp đồng xuất khẩu lao động sau khi đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Không thực hiện đúng quy định về cử cán bộ làm đại diện quản lý lao động ở nước ngoài. + Không thực hiện đầy đủ và đúng hạn chế độ báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo quy định. + Không thực hiện thanh lý hợp đồng với người lao động. * Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với doanh nghiệp có một trong các hành vi vi phạm về: + Công bố công khai các tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn, quyền lưọi, nghĩa vụ của người lao động. + Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với người lao động; tổ chức cho người lao động đi và về nước theo đúng hợp đồng đã ký và theo quy định của pháp luật. + Quản lý vfa bảo vệ quyền lợi cảu người lao động trong thời gian làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại. * Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với doanh nghiệp có một trong những hành vi vi phạm sau: - Vi phạm một trong các quy định về: + Đăng ký hợp đồng xuất khẩu lao động với cơ quan quản lý nhà nước về lao động có thẩm quyền. + Trực tiếp tuyển chọn lao động và thu học phí tuyển chọn lao động. + Tổ chức đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật. + Trực tiếp thu phí xuất khẩu lao động, đóng tiền vào quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động theo quy định của Chính phủ. + Bồi thường thiệt hại cho người lao động do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng gây ra. - Quản lý tiền đặt cọc thu của người lao động không đúng quy định. * Phạt tiền tổ chức, cá nhân từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với những hành vi vi phạm sau: + Không được phép của cơ quan có thẩm quyền mà tiến hành tuyển chọn, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; + Lợi dụng danh nghĩa xuất khẩu lao động để tổ chức, tuyển chọn đào tạo, giáo dục định hướng nhằm thu lời bất chính; + Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài các nghề, công việc và khu vực thuộc danh mục cấm. * Trường hợp tổ chức cá nhân vi phạm về tiến hành tuyển chọn, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trài pháp luật; đưa lao động làm các công việc và khu vực thuộc danh mục cấm thì phải tổ chức đưa người lao động về nước theo yêu cầu của nước sở tại hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. * Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân bồi hoàn những thiệt hại và chịu mọi chi phí phát sinh gây ra cho người lao động do vi phạm các quy định nêu trên. * Thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính Ngay sau khi nhận được văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước sở tại hoặc của người sử dụng lao động nước ngoài, Người đứng đầu Cơ quan đại diện Việt Nam 52

ở nước ngoài phải cử viên chức ngoại giao hoặc viên chức lãnh sự thẩm tra, xác minh trong trường hợp cần thiết về hành vi vi phạm của người lao động nêu trong thông báo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước sở tại và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, cụ thể như sau: + Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước sở tại hoặc của người sử dụng lao động, viên chức ngoại giao hoặc viên chức lãnh sự được giao xử lý vụ việc phải lập biên bản vi phạm hành chính. Biên bản vi phạm hành chính được lập tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại hoặc tại nơi người lao động cư trú/làm việc; + Trường hợp người lao động không có mặt tại nơi lập biên bản vi phạm hành chính, thì biên bản được lập vắng mặt người vi phạm, trong biên bản phải ghi rõ lý do người lao động vắng mặt; + Biên bản sau khi lập xong phải được chuyển ngay cho người có thẩm quyền xử phạt. * Thủ tục ra quyết định xử phạt + Trong thời hạn ra quyết định xử phạt, viên chức ngoại giao hoặc viên chức lãnh sự được giao xử lý vụ việc có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ theo đúng thủ tục quy định để người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt. + Người đứng đầu Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể ủy quyền cho Người thứ hai trong Cơ quan đại diện quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Việc ủy quyền phải được thực hiện bằng văn bản. Người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính do mình thực hiện. * Chấp hành quyết định xử phạt + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, văn bản thông báo về việc người lao động không chấp hành quyết định xử phạt phải được gửi cho người bị xử phạt, Cục Quản lý lao động ngoài nước để thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. + Trường hợp không xác định được nơi cư trú của người bị xử phạt thì quyết định xử phạt, thông báo về việc không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được niêm yết công khai tại trụ sở Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại. + Sau ba mươi ngày, kể từ ngày ra văn bản thông báo về việc người bị xử phạt không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mà người bị xử phạt vẫn tiếp tục không chấp hành quyết định xử phạt, thì Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi toàn bộ hồ sơ vụ vi phạm về Cục Quản lý lao động ngoài nước để đề nghị và chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền ở trong nước xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm. * Hồ sơ vụ vi phạm + Hồ sơ vụ vi phạm bao gồm: - Văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước sở tại về người lao động vi phạm pháp luật; - Biên bản vi phạm hành chính; - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính; - Thông báo về việc không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; - Các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có). - Các tài liệu nêu trên, nếu bằng tiếng nước ngoài thì Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại dịch sang tiếng Việt và chứng thực hợp lệ, nếu là bản sao thì phải có chứng thực của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại. - Hồ sơ vụ vi phạm được lập thành hai bộ, một bộ lưu tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, một bộ gửi về Cục Quản lý lao động ngoài nước. * Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính 53

+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chánh thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra viên chuyên ngành khi tiến hành thanh tra độc lập, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với người lao động Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính ở nước ngoài theo các hình thức quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 75 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. b. Đối với vi phạm hình sự về xuất khẩu lao động Về hành vi: * Tổ chức cho người lao động ở lại nước ngoài trái phép là thực hiện một trong những hành vi sau đây giúp cho người lao động ở lại nước ngoài (ở lại nước tiếp nhận lao động theo hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài hoặc ở lại nước thứ ba) trái với các quy định của pháp luật Việt Nam: + Lập kế hoạch hoặc tư vấn cho người lao động ở lại nước ngoài trái phép; + Tạo các điều kiện về vật chất như: tìm chỗ ở, giới thiệu nơi tìm việc làm, cho tiền, cung cấp phương tiện... hoặc tạo các điều kiện khác như: làm các giấy tờ tuỳ thân giả, cung cấp các giấy tờ tuỳ thân... cho người lao động ở lại nước ngoài trái phép. * Cưỡng ép người lao động ở lại nước ngoài trái phép là dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, uy hiếp về tinh thần, khống chế hoặc lợi dụng sự lệ thuộc về vật chất hoặc có hành vi khác ép buộc người lao động ở lại nước ngoài trái phép. Về chủ thể: Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép quy định tại Điều 275 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) và hướng dẫn tại Thông tư này là công dân Việt Nam, người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam. Các đối tượng phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo hướng dẫn tại Thông tư này nếu trong cùng vụ án đó còn có đối tượng khác phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam. * Về đường lối xử lý + Việc định tội danh - Người nào thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần I của Thông tư này, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức người khác ở lại nước ngoài trái phép” quy định tại Điều 275 BLHS. - Người nào thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 Phần I của Thông tư này, thì bị thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép” quy định tại Điều 275 BLHS. - Người nào thực hiện nhiều hành vi trên mà các hành vi đó liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi này là điều kiện để thực hiện hoặc là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia), thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với các hành vi đã thực hiện về tội “tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép” quy định tại Điều 275 BLHS và chỉ phải chịu một hình phạt chung. Ví dụ: Nguyễn Văn A lập kế hoạch cho Nguyễn Văn B là người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái phép. Khi thấy Nguyễn Văn B không muốn ở lại nước ngoài thì Nguyễn Văn A đe doạ sẽ giết chết B hoặc vợ, con của B. Trong trường hợp này, Nguyễn Văn A phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với các hành vi đã thực hiện về tội “tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép”. - Người nào thực hiện nhiều hành vi trên mà các hành vi đó độc lập với nhau, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội độc lập tương ứng với các hành vi phạm tội là tội “tổ chức 54

người khác ở lại nước ngoài trái phép” và tội “cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép” quy định tại Điều 275 BLHS. Khi xét xử Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội và áp dụng Điều 50 BLHS để quyết định hình phạt chung. Ví dụ: Trần N làm hộ chiếu giả và tìm chỗ ở cho Lê Văn C để Lê Văn C ở lại nước ngoài trái phép, đồng thời Trần N lợi dụng Lê Thị M lệ thuộc mình về mặt vật chất và khống chế buộc Lê Thị M ở lại nước ngoài trái phép. Trong trường hợp này, Trần N bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội: tội “tổ chức người khác ở lại nước ngoài trái phép” đối với hành vi làm hộ chiếu giả và tìm chỗ ở cho Lê Văn C và tội “cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép” đối với hành vi lợi dụng Lê Thị M lệ thuộc mình về mặt vật chất và khống chế buộc Lê Thị M ở lại nước ngoài trái phép. + Xác định các tình tiết định khung tăng nặng - “Phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 Điều 275 BLHS là đã có từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần tổ chức cho người lao động ở lại nước ngoài trái phép; hai lần cưỡng ép người lao động ở lại nước ngoài trái phép mà không phân biệt các hành vi đó được thực hiện ở cùng một địa điểm trong một nơi làm việc hay ở các nơi khác nhau...) và trong các lần phạm tội đó người phạm tội chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. - “Gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 275 BLHS khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Tổ chức, cưỡng ép từ 5 người đến 10 người lao động ở lại nước ngoài trái phép; + Thu lợi bất chính từ việc tổ chức, cưỡng ép người lao động ở lại nước ngoài trái phép từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng. - “Gây hậu quả rất nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 275 BLHS khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Tổ chức, cưỡng ép từ 11 người đến 15 người lao động ở lại nước ngoài trái phép; + Thu lợi bất chính từ việc tổ chức, cưỡng ép người lao động ở lại nước ngoài trái phép từ trên 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng; + Làm cho nước tiếp nhận lao động tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc tiếp nhận lao động Việt Nam vào làm việc ở một số ngành, nghề. - “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 Điều 275 BLHS khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Tổ chức, cưỡng ép từ 16 người lao động trở lên ở lại nước ngoài trái phép; + Thu lợi bất chính từ việc tổ chức, cưỡng ép người lao động ở lại nước ngoài trái phép từ trên 300 triệu đồng trở lên; + Làm cho nước tiếp nhận lao động tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc tiếp nhận lao động Việt Nam làm việc. * Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người lao động ở lại nước ngoài trái phép “Người lao động ở lại nước ngoài trái phép” là công dân Việt Nam được đưa đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức xuất khẩu lao động mà trong thời hạn lao động hoặc hết thời hạn lao động theo hợp đồng đã tự ý trốn ở lại nước ngoài (ở lại nước tiếp nhận lao động theo hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài hoặc ở lại nước thứ ba) không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và được thể hiện bằng một trong các hành vi sau đây: + Bỏ trốn ngay sau khi nhập cảnh vào nước tiếp nhận lao động để ở lại nước ngoài trái phép quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 141/2005/NĐ- CP ngày 11- 11- 2005 của Chính phủ về quản lý lao động làm việc ở nước ngoài (sau đây viết gọn là Nghị định số 141); + Tự ý bỏ nơi đang làm việc theo hợp đồng lao động để ở lại nước ngoài trái phép quy định tại khoản 6 Điều 4 của Nghị định số 141; + Không về nước khi chấm dứt hợp đồng lao động theo thời hạn quy định của nước sở tại 55

quy định tại khoản 7 Điều 4 của Nghị định số 141. * Chủ thể của tội phạm + Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “ở lại nước ngoài trái phép” quy định tại Điều 274 BLHS và hướng dẫn tại Thông tư này là người lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Người lao động đã bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc về nước” theo đúng thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt quy định tại Điều 31 Nghị định số 141 nhưng sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo về việc không chấp hành quyết định xử phạt mà người bị xử phạt vẫn không chấp hành quyết định xử phạt. - Người lao động đã chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả “buộc về nước”, nhưng chưa hết thời hạn một năm kể từ ngày về nước lại được đưa đi làm việc hợp pháp ở nước ngoài dưới hình thức xuất khẩu lao động và đã thực hiện một trong các hành vi được hướng dẫn tại mục 1 Phần II của Thông tư này. + Những người khác không phải là chủ thể được hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 của mục này cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “ở lại nước ngoài trái phép” với vai trò đồng phạm. * Thẩm quyền, thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động ở nước ngoài * Thẩm quyền xét xử + Toà án có thẩm quyền xét xử các vụ án về tội “ở lại nước ngoài trái phép” và về tội “tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép” trong lĩnh vực xuất khẩu lao động theo hướng dẫn tại Thông tư này là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh) nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước trước khi xuất cảnh. + Việc xác định nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước trước khi xuất cảnh như sau: - Nơi bị cáo có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh; - Trong trường hợp bị cáo không có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh, thì nơi cư trú cuối cùng được xác định là nơi bị cáo có đăng ký tạm trú dài hạn hoặc nơi thường xuyên sinh sống trước khi xuất cảnh hay nơi bị cáo làm thủ tục xuất cảnh. * Thẩm quyền khởi tố, điều tra và truy tố + Việc khởi tố, điều tra và truy tố tội “ở lại nước ngoài trái phép” và tội “tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép” trong lĩnh vực xuất khẩu lao động theo hướng dẫn tại Thông tư này thuộc thẩm quyền của cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. + Thẩm quyền khởi tố, điều tra và truy tố của cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh được xác định theo thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh được hướng dẫn tại mục 1 Phần III của Thông tư này. + Khi cần thiết phải uỷ thác điều tra hoặc khi cơ quan điều tra cấp trên xét thấy cần trực tiếp điều tra, thì việc uỷ thác điều tra hoặc cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp điều tra được thực hiện theo quy định của pháp luật về điều tra hình sự. * Thủ tục Thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội “ở lại nước ngoài trái phép” và tội “tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài trái phép” trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phải thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS).

56

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2003), Thông tư số 22/2003/TT- BLĐTBXH ngày 13/10/2003 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 81/2003/NĐ- CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về người Việt Nam làm việc ở nước ngoài. 2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ ngoại giao (2006), Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BLĐTBXH- BNG ngày 31/3/2006 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 141/2005/NĐ- CP ngày 11/11/2005 của Chính phủ quy định về quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài. 3. Bộ tài chính – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2003), Thông tư liên tịch số 107/2003/TTLT- BTC – BLĐTBXH về chế độ tài chính đối với người lao động, doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. 4. Bộ lao động- Thương binh và xã hội – Bộ tài chính (2007), Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT- BLĐTBXH- BTC ngày 4/9/2007 quy định cụ thể về tiền môi giới và tiền dịch vụ trong hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 5. Bộ lao động- Thương binh và xã hội – Bộ tài chính (2007), Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT- BLĐTBXH- BTC ngày 11/7/2007 hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh và thanh ly hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 6. Bộ tài chính (2005). Quyết định của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành quy chế tài chính về quản lý, sử dụng quỹ hổ trợ xuất khẩu lao động. 7. Chính phủ (2003), Nghị định số 81/2003/NĐ- CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về người Việt Nam làm việc ở nước ngoài. 8. Chính phủ (2004), Nghị định số 113/2004/NĐ- CP ngày 16/4/2004 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động. 9. Chính phủ (2005), Nghị định số 141/2005/NĐ- CP ngày 11/11/2005 của Chính phủ quy định về quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài. 10. Chính phủ (2007), Nghị định số 126/2007/NĐ- CP ngày1/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 11. Chính phủ (2007), Nghị định số 144/NĐ- CP ngày 10/9/2007 xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 12. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Hội đồng nhân dân (2006). Kỷ yếu kỳ họp chuyên đề lần thứ tư và kỳ họp thứ bảy, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa V nhiệm kỳ 2004 – 2009. 14. Phạm Công Bẩy (2003). Tìm hiểu pháp luật về xuất khẩu lao động, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 15. Quốc hội (2001), Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 16. Quốc hội (2002), Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội 17. Quốc hội (2006), Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội

57

18. Quốc hội (2007), Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội 19. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vệt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội 20. Quốc hội (2006), Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 22. Trang web: http://www.luatvietnam.com.vn.

58

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful