Chương I: Những cơ sở của hành vi cá nhân

Liệu những người lớn tuổi có xu hướng gắn bó với tổ chức hơn là những đồng nghiệp trẻ tuổi của họ ? Có một số tính cách nào đó tạo ra những người lao động tốt ? Tại sao nhiều người có xu hướng giải thích những sự thành công của họ là do những nỗ lực của bản thân họ nhưng lại đổ lỗi cho sự thất bại là do những yếu tố ngoài tầm kiểm soát ? Trả lời những câu hỏi này liên quan đến bốn biến:     Đặc tình tiểu sử Tích cách Nhận thức Học tập

1. Những đặc tính tiểu sử - Sẽ là hợp lý khi bắt đầu từ những cái sẵn có 1.1. Tuổi tác Tuổi tác càng cao con người càng ít muốn nghỉ việc và ngại những thay đổi trong công việc. Điều này có thể lý giải bởi vì họ có ít hơn những sự lựa chọn nghề nghiệp, những lý do về sức khỏe, ngoài ra còn những lợi ích khác mà họ nhận được nếu tiếp tục giữ vị trí công việc hiện tại như lương hưu, lương cao hơn,… Tuy họ ít muốn nghỉ việc nhưng điều này cũng không đảm bảo họ sẽ đi làm đều đặn, mối quan hệ giữa tuổi tác và sự vắng mặt phụ thuộc vào sự vắng mặt là có thể tránh được hay không tránh được. Mối quan hệ giữa tuổi tác và năng suất là không rõ ràng. Tuổi tác càng cao thì sự thỏa mãn đối với công việc càng cao, tuy nhiên hiện nay do sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ làm cho những kỹ năng của người lao động nhanh chóng bị lạc hậu, sự thỏa mãn đối với công việc cũng giảm dần. 1.2. Giới tính Không có một chứng cứ nào thực sự là rõ ràng và thuyết phụ cho thấy nam làm việc hiệu hơn hay là nữ, cũng không có sự khác biệt nào giữa nam và nữ trong sự thỏa mãn, hệ số vắng mặt và sự luân chuyển. 1.3. Tình trạng gia đình Một số nghiên cứu cho thấy những người có gia đình thường có hệ số vắng mặt, hệ số thuyên chuyển thấp và sự thỏa mãn cao đối với công việc tuy nhiên mối quan hệ là không rõ ràng. 1.4. Số người phải nuôi dưỡng

Một lần nữa chúng ta cũng không có nhiều những nghiên cứu để có thể kết luận có một mối quan hệ nào đó giữa số người phải nuôi dưỡng và năng suất, sự thuyên chuyển và sự thỏa mãn đối với công việc. Tuy nhiên, có những chứng cứ cho thấy có tương quan đồng biến giữa số người phải nuôi dưỡng và hệ số vắng mặt. 1.5. Thâm niên công tác Rõ ràng việc thực hiện nhiệm vụ trong quá khứ có liên quan đến kết quả của vị trí hiện tại, song thâm niên nói chung tự thân nó không phải là một căn cứ tốt để dự báo năng suất. 2. Tính cách – Những đặc điểm độc đáo, riêng có của một người 2.1. Khái niệm Tính cách là tổng hợp những cách thức mà con người phản ứng và tương tác với môi trường    Phản ứng với công việc  năng suất Phản ứng với người xung quanh  quan hệ nhân sự Phản ứng với bản thân  ý thức hoàn thiện bản thân

2.2. Các yếu tố xác định tính cách – câu trả lời không phải là trắng hay đen Tính cách do di truyền hay do môi trường hay do cả hai quyết định? 2.3. Các loại tính cách   Theo phẩm chất cá nhân: có 16 đặc tính mô tả tính cách Mức độ tự chủ: nội thuộc và ngoại thuộc

Những người ngoại thuộc cho rằng cuộc sống của họ bị kiểm soát bởi những thế lực bên ngoài, những người này thường nhận thấy họ ít có ảnh hưởng đến kết quả công việc. Vì vậy họ thường ít thỏa mãn đối với công việc, thường xuyên vắng mặt và hay thay đổi công việc. Những người nội thuộc cho rằng số phận của họ nằm trong tay họ, khi gặp khó khăn họ biết rằng chính họ chứ không phải ai khác có thể giải quyết vấn đề của họ. Những người này thường cảm thấy thỏa mãn và hãnh diện với công việc của họ, hệ số vắng mặt và thuyên chuyển thấp.  Định hướng thành tựu

Người có nhu cầu thành tựu cao thường cho rằng thành công hay thất bại của họ là do những hành động của họ gây ra. Điều này có nghĩa là họ thích những công việc mang tính thách thức, họ sẽ né tránh những công việc quá tẻ nhạt và những việc mà khó có cơ hội thành công.  Thực dụng

Những người thực dụng cũng là những người đạt hiệu quả cao trong công việc. Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh với những người thực dụng là vấn đề đạo đức.  Chấp nhận rủi ro

Có phải có những nhà quản trị chấp nhận rủi ro? Theo tôi thì không có nhà quản trị nào cho rằng những quyết định của mình là mạo hiểm cả, chỉ có những người luôn nói rằng “nhà quản trị đó đang đánh cược, họ thật là mạo hiểm” 3. Nhận thức Vấn đề không phải là sự thật và chân lý như thế nào mà là con người đang xem cái gì là sự thật và chân lý. 3.1. Những yếu tố bóp méo nhận thức  Đối tượng nhận thức

Khi con người quan sát một đối tượng có 4 xu hướng xảy ra  Tương quan vật nền  Tương tự, tương đồng (vơ đũa cả nắm)  Gần nhau (về không gian và thời gian)  Kết thúc: con người thường bổ sung thêm những thông tin cho đối tượng để nhanh chóng kết thúc cái nhìn của họ  Người nhận thức

Tùy thái độ, động cơ, lợi ích, kiến thức kinh nghiệm và mong đợi của một người mà một đối tượng có thể được nhận thức rất khác nhau.  Con người về cơ bản là thiên vị, ích kỷ và tham lam.  Con người thường thấy những gì mà họ muốn thấy và không thấy những gì mà họ không muốn thấy.

 Con người thường chỉ chú ý và nhận thức những cái gì được cho là mới đối với họ, những gì quen thuộc thường không được chú ý đến và bỏ qua.  Tình huống trong đó quá trình nhận thức diễn ra

Cùng một cuốn sách, tùy hoàn cảnh khác nhau mà có những sẽ có những cảm nhận khác nhau. 3.2. Nhận thức và việc ra quyết định của bản thân Các quan điểm khac nhau về việc ra quyết định  Quan điểm cổ điển – con người là những nhà thông thái

Quan điểm này cho rằng con người biết tất cả, thấy tất cả và vì vậy có thể tối ưu hóa hành vi của mình. Họ cho rằng con người sẽ biết rõ ràng vấn đề cần giải quyết của họ là gì, đâu là những giải pháp khả dĩ và con người có thể đo lường các giải pháp này để tìm ra một giải pháp tối ưu.  Quan điểm hành vi về ra quyết định – không ai là hoàn hảo cả

Quan điểm này cho rằng con người không thể tối ưu hóa hành vi của mình mà họ thường ra quyết định trên cơ sở sự thỏa mãn. Họ không chọn giải pháp tốt mà thường là những giải pháp chấp nhận được, khi đối mặt với những vấn đề phức tạp họ thường đơn giản hóa vấn đề đến mức có thể hiểu được vì họ nghĩ rằng họ chỉ cần tập trung vào những yếu tố cơ bản của vấn đề mà không cần chú ý tới tất cả sự phức tạp của nó. Nhưng tại sao họ lại không chọn giải pháp tối ưu khi mà nó thực sự nó tồn tại, câu trả lời chỉ là năng lực xử lý thông tin của con người là hạn chế. 3.3. Nhận thức về con người – một sự phán quyết về người khác  Thuyết quy kết:

Khi chúng ta quan sát một người, chúng ta thường không hiểu nguyên nhân của hành vi của họ nhưng chúng ta lại thường cố gắng giải thích tại sao họ lại cư xử như vậy theo một cách nào đó. Sự quy kết này phụ thuộc vào việc chúng ta diễn đạt sự riêng biệt, sự nhất trí và sự nhất quán.  Sự riêng biệt (tính cá biệt, tính thường xuyên): các hành vi khác nhau hay không trong những tình huống khác nhau.  Sự nhất trí: hành vi giống nhau trong những tình huống tương tự nhau  Sự nhất quán: hành vi giống nhau trong những tình huống khác nhau

 Hành vi được cho là do các nguyên nhân bên ngoài (không thể kiểm soát) khi sự riêng biệt cao, sự nhất trí cao và sự nhất quán là thấp và ngược lại (nguyên nhân bên trong) 3.4. Những hoạt động của nhà quản trị chịu ảnh hưởng lớn của nhận thức  Phỏng vấn tuyển chọn

Những ấn tượng về ứng cử viên của người phỏng vấn thường hình thành chỉ trong khoảng 4 – 5 phút đầu của cuộc phỏng vấn và chúng sẽ rất khó thay đổi, và thật không may các quyết định của người phỏng vấn đa phần dựa trên những ấn tượng ban đầu này.  Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ

Việc đánh giá một người làm việc hiệu quả hay không có thể khách quan (dựa vào doanh thu, năng suất) nhưng cũng có thể rất chủ quan, đặc biệt khi mà nhà quản trị khó mà lượng giá được những đóng góp của người lao động.  Đánh giá sự nỗ lực, sự trung thành

3.5. Những thiếu sót thường gặp khi phán quyết về người khác  Nhận thức có chọn lựa

Khi con người không thể thấy hết mọi thứ, họ sẽ thực hiện nhận thức có chọn lọc. Nghĩa là họ chỉ thấy những điều mà họ muốn thấy, những điều mà họ cho là nổi bật. Điều này cũng có thể lý giải tại sao một người lại dễ dàng tìm ra chiếc xe của mình trong bãi giữ xe rộng lớn.  Suy bụng ta ra bụng người

Sẽ là dễ dàng trong phán quyết người khác nếu cho rằng những người khác cũng giống như ta. Khi điều này xảy ra, những đánh giá về người khác sẽ như anh ta thấy chứ không phải như người khác thấy.  Vơ đũa cả nắm

Sự phán quyết về một người dựa trên những nhận thức về nhóm mà họ ở trong đó. Khi nói “đàn ông là mạnh mẽ, đam mê quyền lực còn phụ nữ thì ủy mị và phục tùng” thì khi đó chúng ta đang mắc phải thiếu sót là “vơ đũa cả nắm”  Sự phiến diện

Phán quyết về một người dựa trên những đặc tính mà người đó cho là quan trọng. Một người cho rằng một giáo viên nhiệt tình mới là một giáo viên giỏi thì khi đó họ sẽ đánh giá rất thấp những giáo viên có trình độ, hiểu biết và thông thái nhưng lại rất ít nói. 4. Học tập

4.1. Định nghĩa Học tập là tất cả những thay đổi trong hành vi mà điều này xảy ra như là kết quả của tất cả các kinh nghiệm Chú ý:    Học tập bao gồm những sự thay đổi hành vi Sự thay đổi tạm thời chỉ được coi như một sự thích nghi chứ không phải là học tập Một số kinh nghiệm (có thể do trải nghiệm hoặc học hỏi) là cần thiết cho học tập

4.2. Các thuyết về học tập  Thuyết điều kiện cổ điển (Ivan Paplop, Nga)

Cứ mỗi lần CEO đến thăm phân xưởng, các vị lãnh đạo ở đây sẽ cho các nhân công làm vệ sinh các cửa sổ và việc này được lặp lại nhiều lần. Sau này hễ khi các nhân công được yêu cầu phải dọn vệ sinh các cửa sổ, họ sẽ tự động nghĩ ngay đến một cuộc viếng thăm của CEO nhưng có thể sẽ không có một CEO nào tới cả. Việc biến những tín hiệu trung tín thành những tín hiệu có điều kiện và tạo ra các phản ứng của tín hiệu không điều kiện chính là nội dung cốt lõi của thuyết học tập có điều kiện. Tuy nhiên thuyết này giải thích cho các hành vi mang tính phản ứng hơn là tự nguyện.  Thuyết điều kiện hành động (B. F. Skinner)

Thuyết này cho rằng: hành vi là hàm số của những kết cục của nó. Việc lặp đi lặp lại của một hành vi chịu sự chi phối, hoặc được củng cố bởi những kết cục của hành vi. B. F. Skinner – nhà tâm lý học của đại học Harvard – người đã phát triển thuyết điều kiện hoạt động, cho rằng việc tạo ra những kết cục hài lòng theo một dạng hành vi cụ thể thì tần số của hành vi đó sẽ tăng lên. Vì vậy phần thưởng là rất có hiệu quả khi theo sau ngay một hành được mong muốn.  Thuyết học tập xã hội

Một người có thể học tập thông qua quan sát và kinh nghiệm trực tiếp của bản thân. Việc quan sát những điều sẽ xảy ra đối với một người nào đó hoặc nghe những điều mà người khác nói đến sẽ có ảnh hưởng đến việc người đó có thực hiện hành vi hay không. Thuyết học tập xã hội cho rằng quá trình học tập của một người trải qua 4 bước   Chú ý (điểm nổi bât) Tái hiện (dễ hình dung)

 

Thực tập (dễ thực hiện) Củng cố (phần thưởng và hình phạt)

4.3. Định dạng hành vi  Các phương pháp định dạng hành vi

 Củng cố tính cực (phần thưởng)  Củng cố tiêu cực: một sự đối phó để tránh những kết cục không mong đợi  Phạt và lờ đi: làm yếu đi những hành vi không được mong đợi.  Chương trình củng cố: liên tục hoặc gián đoạn (hệ số, khoảng cố định hoặc biến đổi)

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful