BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG ---------o0o

---------

Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2012

Tên công trình:

Giải pháp Phát triển bền vững cây quế Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái

Nhóm ngành: KD3

Hà Nội, tháng 4/2012

Hà Nội, tháng 4 năm 2012
0

MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ .............................................................. LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................... 1 CHƢƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ..................... 4 I. Khái niệm “phát triển bền vững”............................................................................... 4 II. Nội dung cơ bản của Phát triển bền vững .................................................................. 6 1. Phát triển bền vững kinh tế .................................................................................... 7 2. Phát triển bền vững xã hội...................................................................................... 8 3. Phát triển bền vững môi trƣờng: ........................................................................... 10 III. Một số nguyên tắc Phát triển bền vững .................................................................... 11 IV. Các nhân tố tác động đến Phát triển bền vững ......................................................... 14 1. Nhóm các nhân tố kinh tế ...................................................................................... 14 2. Nhóm các nhân tố phi kinh tế ................................................................................ 16 V. Một số chỉ tiêu đánh giá Phát triển bền vững ............................................................. 16 1. Nhóm các chỉ tiêu về kinh tế ................................................................................ 16 2. Nhóm chỉ tiêu về xã hội ....................................................................................... 17 3. Nhóm chỉ tiêu về môi trƣờng ............................................................................... 19 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY QUẾ HUYỆN VĂN YÊN – TỈNH YÊN BÁI............................................................................................................ 20 I. Khái quát chung về cây quế và Thị trƣờng các sản phẩm từ quế trên Thế giới ......... 20 1. Khái quát chung về cây quế ................................................................................. 20 2. Cung và cầu về các sản phẩm từ cây quế trên thị trƣờng Thế giới......................... 21 II. Cây quế Văn Yên và các yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững cây quế Văn Yên ................................................................................................................................. 23 1. Các yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững cây quế Văn Yên ........................... 23 1.1. Vị trí địa lý, địa hình và các điều kiện tự nhiên ............................................ 23 1.2. Nguồn nhân lực ........................................................................................... 24 1.3. Chính sách của địa phƣơng.......................................................................... 24 2. Cây quế Văn yên và một số sản phẩm từ quế Văn Yên ......................................... 25 2.1. Cây quế Văn Yên ........................................................................................ 25 2.2 Một số sản phẩm từ quế Văn Yên ................................................................... 26 2.2.1 Sản phẩm Quế vỏ .................................................................................... 26 2.2.2 Sản phẩm Tinh dầu quế ........................................................................... 27 III. Thực trạng phát triển bền vững cây quế Văn Yên ................................................ 27 1. Bền vững kinh tế.................................................................................................. 27 1.1 Quy mô kinh tế: .............................................................................................. 27 1.1.1 Quy mô vùng trồng nguyên liệu ............................................................... 27 1.1.2 Quy mô vùng sản xuất, chế biến và kinh doanh ........................................ 29 1.2 Cơ cấu kinh tế ................................................................................................ 32 1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ...................................................................... 32 1.2.2 Ứng dụng khoa học kỹ thuật .................................................................... 34 2. Bền vững xã hội................................................................................................... 35 2.1 Thực trạng vấn đề lao động việc làm .............................................................. 35

0

2.2 Thực trạng cải thiện cuộc sống người dân và xóa đói giảm nghèo .................. 36 2.3 Thực trạng vấn đề văn hóa xã hội và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống ................................................................................................................... 37 2.4 Thực trạng phát triển nguồn lực con người .................................................... 38 2.4.1 Giáo dục và đào tạo ................................................................................ 38 2.4.2 Công tác y tế cộng đồng .......................................................................... 39 3. Bền vững Môi trƣờng .......................................................................................... 39 3.1 Thực trạng sử dụng và khai thác tài nguyên thiên nhiên vùng nguyên liệu ...... 39 3.2 Thực trạng bảo vệ và tái tạo tài nguyên môi trường ....................................... 39 3.3 Thực trạng sử dụng hóa chất độc hại và công tác xử lý phế thải..................... 41 IV.Một số hạn chế trong thực trạng phát triển bền vững cây quế Văn Yên ............... 41 1. Về kinh tế ............................................................................................................ 41 1.1 Nguyên liệu tại vùng trồng quế chưa được sử dụng triệt để ............................ 41 1.2 Sản phẩm từ quế mới chỉ là sản phẩm nguyên liệu thô.................................... 42 1.3 Hình thức xuất khẩu còn nhiều hạn chế .......................................................... 42 1.4 Ứng dụng khoa học kỹ thuật chưa cao ............................................................ 43 2. Về xã hội ............................................................................................................. 43 2.1 Lao động việc làm theo thời vụ, không có tính ổn định ................................... 43 2.2 Chất lượng lao động thấp............................................................................... 44 2.3 Bất bình đẳng trong thu nhập ......................................................................... 45 2.4 Nhận thức và tầm nhìn của người dân còn nhiều hạn chế ............................... 46 3. Về môi trƣờng ..................................................................................................... 46 3.1 Khói thải công nghiệp chưa được xử lý triệt để .............................................. 46 3.2 Kế hoạch phát triển tài nguyên rừng và trồng mới rừng nguyên liệu đạt kết quả thấp .............................................................................................................. 46 CHƢƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY QUẾ HUYỆN VĂN YÊN – TỈNH YÊN BÁI ........................................................................................ 48 I. Quan điểm – mục tiêu chiến lƣợc Phát triển bền vững cây quế Văn Yên .............. 48 II. Một số giải pháp Phát triển bền vững cây quế Văn Yên ................................................ 50 1. Nhóm giải pháp kinh tế ........................................................................................ 50 1.1 Thu hút vốn đầu tư vào địa phương ................................................................ 50 1.2 Mở rộng quy hoạch vùng trồng nguyên liệu.................................................... 50 1.3 Mở rộng hoạt động sản xuất chế biến các sản phẩm từ quế ............................ 51 1.4 Tăng cường khả năng ứng dụng khoa học công nghệ ..................................... 52 1.5 Tăng cường hoạt động xuất khẩu trực tiếp ........................................................ 53 1.6 Xây dựng khối liên kết ngành tại địa phương.................................................. 54 2. Nhó m g iải pháp xã hộ i .................................................................................. 55 2.1 Nâng cao chất lượng nguồn lao động, chính sách thu hút lao động .............. 55 2.2 Giải pháp nâng cao dân trí: .......................................................................... 55 3. Nhóm giải pháp tài nguyên môi trƣờng ............................................................... 56 3.1. Xử lý khói thải khu công nghiệp ................................................................... 56 3.2 Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng: ............................................................ 57

1

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Hình 1: Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trƣờng..................................... 7 Bảng 1: Chỉ tiêu hóa học của một số loại quế trên Thế giới .............................................. 21 Bảng 2: Khối lƣợng và giá trị nhập khẩu bình quân/năm mặt hàng quế trên Thế giới giai đoạn 2001 – 2010. ........................................................................................................... 22 Bảng 3: Diện tích trồng quế Huyện Văn Yên giai đoạn 2006-2010. (Đơn vị: ha) ............. 28 Bảng 4: Sơ lƣợc kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh CTy TNHH TM SX XNK Đạt Thành năm 2009 và 2010. (Đơn vị: VND) ....................................................................... 31 Bảng 5: Sản lƣợng xuất khẩu quế giai đoạn 2005 – 2010. (Đơn vị: Tấn) .......................... 32 Bảng 6: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Văn Yên giai đoạn 2007-2010. ............ 33 Biểu đồ 1: Tỷ trọng các nƣớc xuất khẩu quế theo khối lƣợng xuất khẩu và giá trị xuất khẩu ........................................................................................................................................ 23 Biểu đồ 2: Tỷ trọng sản lƣợng sản xuất của các thành phần kinh tế trong tổng sản lƣợng sản phẩm sản xuất từ quế năm 2011................................................................................. 29 Biểu đồ 3: Tỷ trọng các ngành kinh tế trong Tổng GTSX H.Văn Yên 2007 - 2010 .......... 33 Biểu đồ 4: Tỷ trọng lao động có việc làm trong tổng số lao động và Tỷ lệ thất nghiệp Huyện Văn Yên giai đoạn 2007 – 2010. .......................................................................... 35 Biểu đồ 5: TNBQ lao động tại các doanh nghiệp tại địa phƣơng và TNBQ lao động tại các nhà máy tinh dầu quế 2007 – 2010. ................................................................................. 36 Biểu đồ 6: Độ che phủ rừng và Độ che phủ rừng quế trong tổng diện tích rừng che phủ Huyện Văn Yên năm 2011............................................................................................... 40 DANH MỤC CÁC K Ý HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT PTBV XK NK HTX CNH – HĐH Cty TNHH TM SX Phát triển bền vững Xuất khẩu Nhập khẩu Hợp tác xã Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Công ty trách nhiệm hữu hạn Thƣơng mại Sản xuất

1

LỜI NÓI ĐẦU Trong khoảng mấy chục năm trở lại đây, Việt Nam đƣợc biết đến rộng rãi trên thế giới nhờ sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng đặc trƣng của miền nhiệt đới nóng ẩm. Một trong số những mặt hàng đặc trƣng ấy phải kể đến mặt hàng quế. Từ xa xƣa, cây quế đã đƣợc xem là một loại lễ vật quý giá đƣợc mang đi tiến cống và dâng lên các bậc vua chúa phong kiến. Trong dân gian, quế đƣợc coi là một trong bốn “tứ đại thuốc quý” là “sâm – nhung – quế - phụ”. Cho đến ngày nay, quế vẫn giữ nguyên đƣợc giá trị đa công dụng của nó. Hơn thế nữa, khi nhu cầu về mặt hàng này trên thế giới ngày càng tăng, thƣơng mại kinh tế quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới ngày càng mạnh, quế đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao hơn hẳn so với một số sản phẩm nông – lâm nghiệp khác. Quế là một loại cây đặc biệt bởi nó chỉ có thể sinh trƣởng và phát triển trong một điều kiện thổ nhƣỡng và khí hậu nhất định. Không phải đất nƣớc nào, vùng đất nào có nhu cầu là có thể trồng loại cây này. Vậy nên, những đất nƣớc có điều kiện tự nhiên phù hợp với sự sinh trƣởng của cây quế có thể nói là có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm này so với các nƣớc khác. Do đó giá cả mặt hàng quế rất cao và hiệu quả của ngành sản xuất chế biến quế cao hơn rất nhiều so với các sản phẩm khác cùng ngành. Việt Nam một trong số ít những đất nƣớc nhiệt đới nóng ẩm trên thế giới có điều kiện tự nhiên và khí hậu trời phú cho sự sinh trƣởng và phát triển của cây quế. Cây quế Việt Nam đƣợc trồng tập trung ở các vùng nhƣ Văn Yên (Yên Bái), Trà My – Trà Bồng (Quảng Nam), Thƣờng Xuân (Thanh Hóa), Quảng Lâm (Quảng Ninh) với sản lƣợng chủ yếu thuộc vùng quế Văn Yên của tỉnh Yên Bái. Từ rất lâu nay, Huyện Văn Yên đã nổi tiếng với các sản phẩm từ cây quế vỏ trên thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Xét về số lƣợng, quế Văn Yên đứng đầu trong các địa phƣơng trồng quế diện tích hơn 15 ngàn ha quế. Xét về chất lƣợng và sản lƣợng tinh dầu, quế Văn Yên đƣợc xếp thứ hai toàn quốc, sau quế Trà My của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Cho đến hiện nay, thu nhập từ trồng và khai thác cây quế đã trở thành một nhân tố quan trọng giúp thay đổi cuộc sống của những ngƣời dân

1

nơi đây, đặc biệt là đồng bào dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa của địa phƣơng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy những giá trị ấy vẫn chƣa thực sự xứng với tiềm năng vốn có của cây quế Văn Yên. Một số yếu điểm còn tồn tại đó là diện tích trồng tràn lan; chất lƣợng không đồng đều; thu mua, sản xuất, kinh doanh còn manh mún; sản phẩm tinh dầu thô mới chỉ sơ khai ở việc xuất khẩu sang thị trƣờng Trung Quốc với giá trị xuất khẩu thấp; chƣa chú trọng đến việc quảng bá sản phẩm sang các thị trƣờng tiềm năng… Với mong muốn đem lại một cái nhìn tổng quát về các sản phẩm từ cây quế và thực trạng trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm từ quế, đồng thời đƣa ra một số giải pháp phát triển bền vững cho việc phát huy tối đa tiềm năng từ quế Văn Yên nhằm mục tiêu nâng cao ứng dụng công nghệ khoa học vào việc sản xuất chế biến và duy trì nguồn gen quí, tăng trƣởng kinh tế địa phƣơng, xóa đói giảm nghèo, cải thiện thu nhập ngƣời dân, đảm bảo công bằng xã hội, phát triển con ngƣời và bảo vệ môi trƣờng, đề tài nghiên cứu“Giải pháp phát triển bền vững cho cây quế Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái” đƣợc ra đời.
Đề tài nghiên cứu thực hiện những mục tiêu nghiên cứu sau đây. Thứ nhất: làm rõ các khái niệm học thuật liên quan đến vấn đềphát triển bền vững; Thứ hai: phân tích và đánh giá thực trạng phát triển bền vững của cây quế Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái; Thứ ba: đề xuất những giải pháp cụ thể cho sự phát triển bền vững của cây quế Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái.

Đề tài nghiên cứu đƣợc viết dựa trên những thông tin thứ cấp về phát triển bền vững, các nguyên tắc và hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển này. Bên cạnh đó, phần phân tích thực trạng sử dụng chủ yếu thông tin thứ cấp do đặc điểm ngành quế địa phƣơng còn non trẻ và chƣa đƣợc chú trọng đầu tƣ, điều tra và thu thập số liệu qua các năm. Các thông tin về lý thuyết và tài liệu thu đƣợc đƣợc phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, suy luận logic và khái quát để đƣa ra thực trạng phát triển triển bền vững cây quế Văn Yên. Từ đó, đƣa ra những giải pháp cho chiến lƣợc phát triển bền vững, lâu dài cho quế Văn Yên tại địa phƣơng.

2

Đối tƣợng trọng tâm của công trình nghiên cứu là sự phát triển bền vững của cây quế Văn Yên xoay quanh các mục tiêu phát triển bền vững của địa phƣơng liên quan đến các vấn đề cốt lõi nhƣ kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trƣờng. Ngoài phần mục lục,mở đầu , kết luận và phụ lục, bài nghiên cứu đƣợc chia thành ba chƣơng: Chương I : Một số lý luận chung về phát triển bền vững Chương II: Thực trạng phát triển bền vững cây quế Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái Chương III: Một số giải pháp phát triển bền vững cây quế Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái.

3

CHƢƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG I. Khái niệm “phát triển bền vững” Thuật ngữ “Phát triển bền vững” là thuật ngữ đã xuất hiện trên 40 năm nay và ngày càng đƣợc hoàn thiện hơn trong chiến lƣợc toàn cầu giải quyết các vấn đề kinh tế, môi trƣờng và xã hội. Năm 1972, tại Stockholm, Thủy Điển, Hội nghị Liên hợp quốc về con ngƣời và môi trƣờng đƣợc coi là có quy mô toàn cầu đầu tiên với sự góp mặt của 113 quốc gia đã đƣợc tổ chức nhằm xem xét sự ảnh hƣởng của các hoạt động của con ngƣời tới môi trƣờng và đƣa ra những đƣờng lối giải quyết chung cho vấn đề môi trƣờng. Hội nghị đã khẳng định việc các quốc gia chú trọng cải thiện cuộc sống, đặc biệt là môi trƣờng sống cho nhân dân là hết sức cần thiết, đồng thời Hội nghị cũng ra tuyên bố về 26 nguyên tắc đảm bảo cho sự PTBV với nhận thức mới rằng bảo vệ và cải thiện môi trƣờng là vấn đề quan trọng, tác động đến hạnh phúc mọi ngƣời và phát triển kinh tế trên toàn thế giới [1]. Tuy nhiên, tuyên bố và những nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững nêu trên mới chỉ đề cập đến môi trƣờng mà chƣa đề cập đến các vấn đề khác của PTBV. Năm 1984, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi đó là Thủ tƣớng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development - WCED), nay còn đƣợc biết đến với tên Ủy ban Brundtland. Hoạt động của Ủy ban này trở nên nóng bỏng hơn khi báo cáo “Tƣơng lai chung của chúng ta” (Our Common Future) đƣợc xuất bản và lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ PTBV – một khái niệm cũng nhƣ một cái nhìn mới giúp cho các quốc gia hoạch định kế hoạch phát triển lâu dài. Theo Ủy ban Brundtland, thuật ngữ PTBV đƣợc định nghĩa là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu của ngày hôm nay mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai” [2]. Định nghĩa trên đã khái quát một cách chung nhất mục

4

tiêu của sự PTBV, đó là khả năng phát triển kinh tế lâu dài và không gây ra những ảnh hƣởng tiêu cực đến lợi ích của các lĩnh vực khác trong đời sống con ngƣời, cũng nhƣ lợi ích của thế hệ tƣơng lai. Nói cách khác, có thể hiểu PTBV phải bảo đảm đƣợc sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng, tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng đƣợc bảo vệ, gìn giữ. Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trƣờng và Phát triển (Hội nghị Rio) của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm trên và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trƣờng có tên Chƣơng trình nghị sự 21 (Agenda 21)
[1]

. Chƣơng trình đề xuất

rằng con ngƣời có thể giảm thiểu đƣợc đói nghèo khi cho con ngƣời quyền đƣợc sử dụng tài nguyên họ cần để phục vụ cuộc sống của chính họ. Mƣời năm sau Hội nghị Rio, năm 2002, tại Hội nghị thƣợng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thƣợng đỉnh Johannesburg), các nƣớc đã ngồi lại và cùng nhau nhìn lại quá trình thực hiện Chƣơng trình nghị sự 21 và tiếp tục hoàn thiện với các mục tiêu đƣợc ƣu tiên. Những mục tiêu này bao gồm xóa đói giảm nghèo, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trƣờng, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển. Tại Việt Nam, PTBV đã trở thành quan điểm và đƣờng lối của Đảng và Nhà Nƣớc. Ngay từ những năm 1991, “Kế hoạch quốc gia về môi trƣờng và phát triển bền vững giai đoạn 1991 – 2000” đƣợc ban hành đã tạo tiền đề cho quá trình PTBV ở Việt Nam. Quan điểm PTBV đã đƣợc khẳng định trong Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cƣờng công tác bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nƣớc. Bên cạnh đó, quan điểm PTBV đã đƣợc tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam và trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội giai đoạn năm 2001 – 2010 là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trƣởng kinh tế đi đôi với thực hiện

5

tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng” và “phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trƣởng, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trƣờng nhân tạo với môi trƣờng thiên nhiên, gìn giữ đa dạng sinh học. Hơn thế nữa, để thực hiện mục tiêu PTBV nhƣ Nghị quyết của Đảng đã đề ra, ngày 17/8/2004 “Định hƣớng Chiến lƣợc Phát triển bền vững ở Việt Nam” theo Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam đã đƣợc Chính phủ phê duyệt và triển khai tại các địa phƣơng trên cả nƣớc.[3] Cho đến thời điểm này, Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam đã phát huy những hiệu quả kinh tế - xã hội – bảo vệ môi trƣờng đáng kể cho mục tiêu PTBV của đất nƣớc. II. Nội dung cơ bản của Phát triển bền vững Năm 2002, Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về vấn đề
[3]

đã đánh dấu sự mở

rộng của định nghĩa tiêu chuẩn với ba điểm chính của PTBV là: kinh tế, xã hội, môi trƣờng. PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển bao gồm các mục tiêu:  Mục tiêu kinh tế - đặc biệt là tăng trƣởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, hiệu quả kinh tế, ổn định kinh tế.  Mục tiêu xã hội – đặc biệt là vấn đề việc làm, tiến bộ, công bằng xã hội, an ninh quốc phòng, giáo dục, y tế, văn hóa dân tộc và sinh hoạt cộng đồng.  Mục tiêu môi trƣờng – đặc biệt là phục hồi và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên có thể tái tạo và bảo tồn các tài nguyên không tái tạo đƣợc.

6

Hình 1: Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trƣờng
Mục tiêu kinh tế Tăng trƣởng cao, ổn định

Phát triển bền vững
Mục tiêu xã hội Cải thiện xã hội; Công bằng xã hội; Phát triển NNL Mục tiêu môi trƣờng Cải thiện chất lƣợng MT, bảo vệ MT, TNTN

Nguồn: Giáo trình Kinh tế phát triển. NXB: Đại học kinh tế quốc dân 2008[4] 1. Phát triển bền vững kinh tế Phát triển bền vững về kinh tế bao gồm những nội dung chính nhƣ: duy trì kinh tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao hiệu quả, hàm lƣợng, khoa học công nghệ và sử dụng tiết kiệm tài nguyên môi trƣờng và cải thiện môi trƣờng; thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất theo hƣớng sạch hơn và thân thiện với môi trƣờng; thực hiện quá trình “công nghiệp hóa sạch”; phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. Trong đó quan trọng nhất là mục tiêu duy trì tăng trƣởng kinh tế kết hợp với sự thay đổi của cơ cấu kinh tế và cuộc sống con ngƣời kể cả chất và lƣợng. Tăng trƣởng kinh tế là sự tăng lên về số lƣợng, chất lƣợng, tốc độ và quy mô của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trƣởng đƣợc so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trƣởng. Tăng trƣởng kinh tế bao gồm sự tăng trƣởng của tất cả các ngành, các khu vực trong nền kinh tế. Để có tăng trƣởng, mức tăng sản lƣợng phải lớn hơn mức tăng dân số [5]

7

Bên cạnh đó, tăng trƣởng kinh tế phải gắn liền với sự thay đổi trong cơ cấu dân số. Trên thực tế, trong quá trình phát triển, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hƣớng tỷ trọng của các khu vực kinh tế công nghiệp và dịch vụ tăng trong khi tỷ trọng của nông nghiệp giảm. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế phản ánh mức độ thay đổi của phƣơng thức sản xuất ngày càng hiện đại, những khu vực có năng suất cao, giá trị gia tăng lớn có tốc độ phát triển cao hơn sẽ dần dần thay thế những khu vực sản xuất có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp [5].Do đó, tƣơng trƣởng kinh tế muốn bền vững phải gắn liền với bền vững trong cơ cấu kinh tế. Hơn thế nữa, một nền kinh tế PTBV không chỉ là một nền kinh tế có sự tăng trƣởng kinh tế cao, có sự chuyển dịch kinh tế theo hƣớng hiện đại hơn mà còn phải hàm chứa trong sự phát triển ấy những ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật và sản xuất hiện đại. Việc ứng dụng khoa học công nghệ ấy phải đƣợc diễn ra trên tất cả các lĩnh vực và hoạt động của nền kinh tế, là nhân tố cốt lõi và quan trọng nhất giúp cho việc thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế đƣợc nhanh, mạnh và hiệu quả hơn. 2. Phát triển bền vững xã hội Phát triển bền vững về xã hội là sự phát triển dựa trên cơ sở và nền tảng cơ bản là sự tăng trƣởng trƣởng và phát triển bền vững về kinh tế. Để đạt đƣợc sự PTBV về xã hội, tăng trƣởng và phát triển kinh tế phải thực hiện đƣợc những mục tiêu cụ thể liên quan trực tiếp đến con ngƣời và xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội. Sự phát triển kinh tế phải đi đôi với việc giải quyết các vấn đề xã hội và con ngƣời, nâng cao và cải thiện chất lƣợng cuộc sống cho tất cả mọi ngƣời. Trong đó, xóa đói giảm nghèo, khuyến khích ngƣời dân tự vƣơn lên làm giàu chính đáng, trợ giúp ngƣời nghèo thoát nghèo, tạo thêm việc làm cho các đối tƣợng lao động đƣợc chú trọng hơn cả. Bên cạnh đó thực hiện nhiệm vụ tiếp tục hạ thấp tỉ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia tăng dân số và tình trạng thất nghiệp. Không những thế, bền vững xã hội còn hƣớng tới mục tiêu giải quyết các vấn đề về công bằng xã hội nhƣ tham nhũng, thất nghiệp, tệ nạn xã hội, chênh lệch thu nhập…

8

Tăng trưởng và phát triển kinh tế giúp phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ. Văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ là những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất lƣợng đời sống của ngƣời dân, không chỉ tác động trong thời gian ngắn mà sẽ tác động lâu dài đến sự phát triển của một quốc gia. Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dƣỡng tài năng, góp phần quan trọng vào việc phát triển đất nƣớc, xây dựng nền văn hóa và con ngƣời. Đầu tƣ cho giáo dục đào tạo chính là đầu tƣ cho một sự phát triển bền vững. Hơn thế nữa, trong thời đại hiện nay, giáo dục đào tạo phải gắn với phát triển khoa học công nghệ hiện đại – lực lƣợng sản suất trực tiếp của con ngƣời trong thời đại mới. Chỉ có bằng con đƣờng giáo dục thì mới nâng cao đƣợc tri thức, mới có đƣợc nền kinh tế tri thức, trong đó khoa học và công nghệ chiếm địa vị quyết định trong sự gia tăng và phát triển ấy. Bên cạnh đó, văn hóa cũng là một nhân tố quan trọng. Văn hóa có thể đƣợc xem nhƣ một nhân tố đặc trƣng mang tính chất tổng quát đánh giá sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Do đó, việc phát triển văn hóa quốc gia, nâng cao dân trí gắn liền với sự phát triển tiến bộ, hiện đại của thời đại công nghệ thông tin ngày nay cũng chính là một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển bền vững. Tăng trưởng và phát triển kinh tế nhằm mục tiêu phát triển con người Tăng trƣởng và phát triển kinh tế đảm bảo sự ổn định xã hội, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân và hƣớng đến mục tiêu cao nhất là phát triển con ngƣời. Trong một xã hội, con ngƣời phải đƣợc đảm bảo quyền tự do dân chủ của mình. Đó là quyền đƣợc sống theo hiến páp và pháp luật, đảm bảo những quyền cơ bản của con ngƣời nhƣ: quyền riêng tƣ, quyền sở hữu tài sản, quyền bình đẳng trƣớc pháp luật, quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do bầu cử. Hơn thế nữa, trong một quốc gia phát triển, quyền tự do dân chủ của con ngƣời không những đƣợc đảm bảo mà còn cần phải đƣợc phát huy mạnh mẽ để giúp con ngƣời bảo vệ cao nhất những lợi ích cá nhân, của bản thân, đƣợc tôn trọng, đƣợc bình đẳng, từ đó đóng góp cho mục tiêu cân bằng xã hội nói chung.

9

Con ngƣời là trung tâm của mọi sự phát triển trong vũ trụ. Phát triển kinh tế, phát triển xă hội nói chung muốn bền vững nhất thiết phải gắn liền với phát triển con ngƣời. Quan điểm phát triển con ngƣời là sự phát triển mang tính chất nhân văn, nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho ngƣời dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó. Những lựa chọn quan trọng nhất trong đó là đƣợc sống lâu và khỏe mạnh, đƣợc học hành và có đƣợc một cuộc sống ấm no. Bên cạnh đó, năm đặc trƣng cơ bản của quan điểm phát triển con ngƣời là: con ngƣời là trung tâm của sự phát triển, ngƣời dân vừa là phƣơng tiện và là mục tiêu của phát triển, chú trọng nâng cao vị thế của ngƣời dân (bao hàm cả sự hƣởng thụ và cống hiến), chú trọng việc tạo lập bình đẳng cho ngƣời dân về mọi mặt: dân tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch… và tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho ngƣời dân về: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. 3. Phát triển bền vững môi trƣờng: Môi trƣờng là không gian sinh tồn của con ngƣời, là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con ngƣời, là nơi chứa đựng, đồng hóa một phần chất thải của con ngƣời. Vì vậy, môi trƣờng bền vững là môi trƣờng luôn luôn thay đổi nhƣng đảm bảo thực hiện cả 3 chức năng nói trên. Trong xã hội bền vững, phát triển bền vững về môi trƣờng bao gồm các nội dung chính nhƣ: khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; không làm suy thoái, huỷ hoại môi trƣờng và nuôi dƣỡng, cải thiện chất lƣợng môi trƣờng. Do vậy, PTBV về môi trƣờng là sự sử dụng tài nguyên trong phạm vi khôi phục đƣợc về số lƣợng và chất lƣợng, sử dụng một cách tiết kiệm, hạn chế và bổ sung thƣờng xuyên bằng con đƣờng tự nhiên hoặc nhân tạo. Chất lƣợng môi trƣờng, không khí, đất, nƣớc, cảnh quan liên quan đến sức khỏe, tiện nghi, yêu cầu thẩm mỹ, tâm lý nhất thiết phải không bị các hoạt động của con ngƣời làm ô nhiễm. Các nguồn phế thải nhất thiết phải đƣợc xử lý và tái chế kịp thời. Ở Việt Nam, mục tiêu đảm bảo bền vững về môi trƣờng gồm các nội dung nhƣ: lồng ghép các nguyên tắc phát triển bền vững trong các chính sách và chƣơng trình phát triển vùng và quốc gia; đẩy lùi tình trạng suy thoái về tài nguyên môi
10

trƣờng trong những lĩnh vực cụ thể nhƣ diện tích đất có rừng che phủ, cung cấp nƣớc sạch hợp vệ sinh và điều kiện môi trƣờng nơi sinh sống, cải thiện điều kinh ăn ở sinh hoạt của nhân dân, kìm hãm sự ra tăng ô nhiễm, khuyến khích sản xuất sạch hơn, tích cực phòng ngừa và xử lý ô nhiễm môi trƣờng. Hơn thế nữa, khi biến đổi khí hậu đang ngày càng trở nên trầm trọng và Việt Nam vẫn còn là một đất nƣớc phần lớn là dân sô nghèo sống phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và khai thác các nguồn lực tự nhiên để đảm bảo sinh kế thì việc thực hiện bền vững môi trƣờng trong mối quan hệ với việc thực hiện các mục tiêu lớn khác của nền kinh tế trở thành một thách thức lớn cho các địa phƣơng nói riêng và cả quốc gia nói chung. III. Một số nguyên tắc Phát triển bền vững Phát triển bền vững là mục tiêu lớn lao của cả cộng đồng. Quá trình xây dựng PTBV của con ngƣời phải đƣợc dựa trên những nguyê tắc nhất định. Những nguyên tắc đó lien kết cộng đồng con ngƣời lại, tạo nên một xã hội PTBV. Chúng hƣớng dẫn hành vi con ngƣời chứ không phải là mệnh lệnh. Những nguyên tắc ấy giúp gắn kết những thành viên của cả cộng đồng để cùng hƣớng đến một mục tiêu chung của toàn xã hội. Nguyên tắc thứ nhất: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
[6]

..

Đây là nguyên tắc tạo nên sự gắn kết trong quá trình phát triển. Con ngƣời có trách nhiệm phải quan tâm đến đồng loại và các hình thức tồn tại khác nhau của sự sống trong hiện tại và tƣơng lai. Cần phải chia sẻ công bằng những phúc lợi và chi phí trong việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng giữa các cộng đồng với các nhóm có liên quan, giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo, giữa các thế hệ hiện tại với nhau và với các thế hệ tƣơng lai. Ngày nay, thế giới tự nhiên ngày càng bị tác động mạnh mẽ bởi hoạt động của con ngƣời. Vì vậy, phải con ngƣời phải làm sao để cho những tác động ấy không đe dọa sự sống của con ngƣời và muôn loài khác để con ngƣời có cơ hội dựa vào đó để sinh tồn và phát triển.Nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm, vừa thể hiện đạo đức của con ngƣời. Nguyên tắc thứ hai: Cải thiện chất lượng cuộc sống và con người của cộng đồng . Mục tiêu của sự phát triển kinh tế là không ngững nâng cao chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời. Mỗi một cộng đồng, một xã hội đều có những chiến lƣợc phát triển kinh tế khác nhau nhƣng đều cùng hƣớng đến một mục tiêu chung là xây dựng
[6]

11

một cuộc sống lành mạnh, no đủ cho con ngƣời. Do vậy, cải thiện chất lƣợng cuộc sống nhìn chung đƣợc đo lƣờng bằng các điều kiện sống cơ bản nhƣ ăn, ở, đi lại, việc làm, y tế, giáo dục và văn hóa ngƣời. Hơn thế nữa, chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời còn phải đƣợc thể hiện qua sự tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ và duy trì đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Nguyên tắc thứ ba: Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của hệ sinh thái[6]. Cuộc sống của loài ngƣời hoàn toàn phụ thuộc vào những hệ thống thiên nhiên trên trái đất. Tính đa dạng ấy tạo ra sự bền vững trong quá trnh phát triển hệ sinh thái trƣớc ́ những yếu tố từ tự nhiên, môi trƣờng hay con ngƣời Vì vậy, sự phát triển phải dựa trên cơ sở bảo bệ đƣợc cấu trúc, chức năng và tính đã dạng của hệ thống ấy. Đặc biệt, trong quá trình tiến hóa tự nhiên, những giống, loài mới sẽ hình thành trong điều kiện sinh thái mới và đồng thời triệt tiêu những giống loài khác. Do đó, bảo vệ sức sống và tính đa dạng của hệ sinh thái đồng nghĩa với việc bảo vệ các loài sinh vật, các giống gen quý và cả điều kiện tồn tại của chúng. Nguyên tắc thứ tƣ: Bảo đảm chắc chắn việc sử dụng các nguồn tài nguyên. Nguồn tài nguyên tái tạo bao gồm đất, nƣớc. không khí, thế giới động thực vật… phải đƣợc sử dụng sao cho chúng có thể phục hồi đƣợc. Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên không tái tạo đƣợc phải đƣợc kéo dài quá trình sử dụng bằng cách tái sinh tài nguyên, dùng tài nguyên có thể tái tạo đƣợc để thay thế hoặc sử dụng tiết kiệm. Chỉ có nhƣ vậy mới nguồn tài nguyên cung cấp cho hàng trăm triệu ngƣời hằng năm và cuộc sống của con ngƣời ngày càng tốt đẹp hơn Nguyên tắc thứ năm: Giữ vững khả năng chịu đựng của Trái đất. Khả năng chịu đựng của Trái đất thực chất là khả năng chịu đựng của tất cả các hệ sinh thái có trên Trái đất. Các tác động lên hệ sinh thái do đó tác động tới sinh quyển sao cho chúng có thể tự phục hồi. Khả năng chịu đựng này thay đổi theo từng vùng và rõ rang phụ thuộc rất lớn vào số lƣợng con ngƣời và hành vi sử dụng của con ngƣời. Chính sách kinh tế, chính sách dân số và cách sống của con ngƣời trên một địa bàn và khả năng chịu đựng của thiên nhiên rang buộc chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, dù là tự nhiên hay nhân tạo, chúng đều có một khả năng chịu đựng nhất định. Do vậy, việc giữ vững khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái kể trên là hết sức cần thiết,

12

đặc biệt là việc học tập và vận dụng tri thức con ngƣời vào việc ra tăng sức chịu đựng của các hệ sinh thái. Nguyên tắc thứ sáu: Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân trong sinh hoạt, sản xuất và tiêu dùng. Cuộc sống bền vững đƣợc xây dựng trên cơ sở những đạo đức mới. Do đó con ngƣời phải xem xét lại các giá trị và thay đổi cách ứng xử. Cuộc sống xã hội phải xây dựng, đề ra các tiêu chuẩn đạo đức và phê phán lối sống không dựa trên nguyên tắc bền vững. Sử dụng mọi hình thức giáo dục chính thức và không chính thức để mọi ngƣời có cách ứng xử và các hành vi đúng đắn trong việc tác động lên thiên nhiên, hƣớng tới sự phát triển tài nguyên thiên nhiên bền vững. Nguyên tắc thứ bảy: Để cho cộng đồng tự quản lý môi trường của mình. Con ngƣời đƣợc xem nhƣ là chủ thể của mọi hoạt động trong quá trình phát triển của sự vật hiện tƣợng. Do đó, chỉ khi nào mỗi ngƣời dân biết cách tổ chức và quản lý canh tác, sản xuất, sinh hoạt của mình một cách bền vững thì khi đó cộng đồng đó mới có thể phát triển bền vững và đạt đƣợc những mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và bảo vệ môi trƣờng cao hơn. Để cộng đồng tự quản lý môi trƣờng của mình nghĩa là gắn trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng với quyền lợi đƣợc hƣởng những giá trị, những lợi ích mà tài nguyên và môi trƣờng đem lại. Vì vậy, bằng việc tuyên truyền, giáo dục và đào tạo, bản thân mỗi thành viên của cộng đồng phải hiểu rõ đƣợc về môi trƣờng mình đang sinh sống, hiện trạng tài nguyên mình đang sử dụng, làm thế nào để khắc phục những tổn hại của tài nguyên này… Tuy nhiên, bên cạnh việc cộng đồng tự quản cũng nhất thiết cần đến sự phối hợp và giám sát của chính quyền địa phƣơng và các cơ quan chức năng. Nguyên tắc thứ tám: Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất cho việc PTBV. Mỗi xã hội tiến bộ phải dựa trên cơ sở nguồn thong tin phong phú, kiến thức dồi dào, cơ cấu pháp luật vững chắc, giáo dục toàn diện, nền kinh tế vững chắc và chính sách xã hội phù hợp. Hơn thế nữa, chính sách quốc gia phải gắn liền chính sách kinh tế với khả năng chịu đựng của môi trƣờng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Nguyên tắc chín: Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu. Trong thế giới ngày nay, không một quốc gia nào tồn tại theo phƣơng thức tự cấp tự túc. Vì vậy, sự PTBV toàn cầu phải là hành động của toàn dân, toàn nhân loại. Các nguồn tài nguyên của
13

hình tinh, nhất là không khí, nguồn nƣớc và các hệ sinh thái chỉ có thể bảo vệ bằng sự quản lý chung, mục đích chung và giải pháp thích hợp. Toàn cầu phải trở thành một liên minh vững chắc và có sự trợ giúp lẫn nhau giữa các quốc gia. IV. Các nhân tố tác động đến Phát triển bền vững Phát triển bền vững là tổng hòa của sự phát triển bền vững trên cả ba lĩnh vực: kinh tế, văn hóa và xã hội. Bên cạnh những điều kiện cơ bản cho sự PTBV nhƣ sự ổn định về chính trị – xã hội, sự phát triển khoa học – công nghệ, giáo dục - đào tạo, sự đồng thuận xã hội với các mục tiêu của phát triển bền vững, PTBV còn chịu sự tác động trực tiếp của hai nhóm nhân tố chủ yếu là nhóm các nhân tố kinh tế và nhóm các nhân tố phi kinh tế. 1. Nhóm các nhân tố kinh tế Nhóm các nhân tố kinh tế tác động đến PTBV bao gồm các nhân tố nhƣ: nguồn nhân lực, nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ. Về nhân tố nguồn nhân lực, mọi của cải vật chất đều đƣợc làm nên từ bàn tay và trí óc của con ngƣời. Vậy nên, trong các nguồn lực của xã hội thì nguồn nhân lực có tác động mạnh mẽ nhất quyết định sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trƣớc đến nay. Một nƣớc cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhƣng không có những con ngƣời có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt đƣợc sự phát triển nhƣ mong muốn. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực và trí lực của họ vận dụng vào lao động sản xuất. Phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lƣợng cao đƣợc đào tạo bài bản là yếu tố quyết định của sự PTBV.

14

Về nhân tố vốn, nguồn vốn bao gồm vốn đầu tƣ và vốn sản sản xuất là yếu tố mạnh mẽ tác động đến quá trình sản xuất nói riêng và PTBV nói chung. Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩm đầu ra. Vốn đầu tƣ không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng kể vào việc đầu tƣ theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất. Nền kinh tế sẽ không thể phát triển nếu năng lực về nguồn vốn kém. Trái lại, tăng vốn sản xuất, đặc biệt là tăng vốn đầu tƣ góp phần mạnh mẽ vào việc mở rộng quy mô sản xuất theo hƣớng phát triển bền vững về máy móc, kỹ thuật, khoa học công nghệ, giúp giải quyết công ăn, việc làm cho ngƣời lao động. Do vậy, trong phát triển kinh tế bền vững, nhiệm vụ phát triển sản xuất để mở rộng quy mô vốn sản xuất và mời gọi đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam là tối cần thiết. Về nhân tố tài nguyên thiên nhiên, nhìn chung, tài nguyên là dạng hàng hóa đặc biệt bởi chúng không phải đi qua quá trình sản xuất. Nếu đƣợc quản lý tốt, tài nguyên sẽ sản sinh lợi tức. Với nhiều quốc gia, khoản lợi tức này đóng góp rất lớn vào nguồn tài chính phục vụ phát triển đất nƣớc và trở thành điều kiện vững chắc cho PTBV. Song bên cạnh đó, có những quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có nhƣng lại sống dựa vào việc bán rẻ tài nguyên phục vụ lợi ích trƣớc mắt mà không tính đến nguồn lực của quốc gia cho các thế hệ tƣơng lai. Tăng trƣởng kinh tế chỉ là hƣ ảo nếu dựa chủ yếu vào khai thác quá mức tài nguyên đất đai và khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên ngƣ nghiệp và lâm nghiệp. Tài nguyên thiên nhiên nếu đƣợc sử dụng hợp lý sẽ trở thành nhân tố tác động tích cực đến sự PTBV, trái lại nếu bị khai thác và tàn phá nặng nề sẽ làm sụp đổ hoàn toàn mô hình PTBV. Về nhân tố khoa học công nghệ, đây là một nhân tố hết sức mới mẻ và hiện đại nhƣng lại trở thành nhân tố giúp thay đổi mạnh mẽ nhất cơ cấu kinh tế và xây dựng sự phát triển kinh tế dù trong thời kì kinh tế tri thức đang ngày càng phát triển. Ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất và kinh tế giúp giảm bớt sức ngƣời, sức của vào sản xuất, tăng năng suất lao động. Ứng dụng khoa học công nghệ vào đời sống sinh hoạt giúp nâng cao chất lƣợng sống của con ngƣời. Hơn thế nữa, khoa
15

học công nghệ kĩ thuật còn có thể biến một đất nƣớc không có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có trở thành một quốc gia có tiềm lực về tài nguyên nhờ nguồn tài nguyên tái tạo và tài nguyên mới. Do đó, trong thời kì CNH – HĐH nhƣ hiện nay, ứng dụng khoa học kỹ thuật trở thành một trong những nhân tố thiết yếu cho quá trình PTBV. 2. Nhóm các nhân tố phi kinh tế Nhóm các nhân tố phi kinh tế tác động đến PTBV bao gồm các nhân tố nhƣ thể chế chính trị, đƣờng lối phát triển kinh tế – xã hội, đặc điểm dân tộc - tôn giáo và đặc điểm văn hoá. Đây là nhóm nhân tố tác động gián tiếp đến quá trình PTBV nhƣng lại có tầm ảnh hƣởng rất lớn vì nó giúp định hƣớng và tạo điều kiện cho cả một xã hội trên con đƣờng xây dựng PTBV. Có thế khẳng đinh rằng, sự phát triển bền vững là kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó cóa một yếu tố cơ bản, quyết định hơn, chi phối tất cả những yếu tố trên, đó là yếu tố con ngƣời và gắn liền với nó là chế độ chính trị, đƣờng lối phát triển kinh tế xã hội. Xét một cách toàn diện, vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát huy lợi thế vị trí địa lý hay đƣa những phát minh khoa học vào cuộc sống phục vụ sự phát triển đều do con ngƣời, thông qua con ngƣời và chế độ chính trị, xã hội ở đất nƣớc mà họ đang sống thực hiện. Do vậy, đƣờng lối chính trị, kinh tế, xã hội là một nhân tố quan trọng giúp định hƣớng mô hình phát triển chung của xã hội và ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự PTBV của xã hội ấy. V. Một số chỉ tiêu đánh giá Phát triển bền vững 1. Nhóm các chỉ tiêu về kinh tế Tăng trưởng kinh tế: là sự gia tăng thu nhập thực tế hay sự gia tăng quy mô sản lƣợng của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Sự tăng lên này đƣợc thể hiện bằng hiện vật hoặc tiền (giá trị). Tăng trƣởng kinh tế là nền tảng cơ bản cho sự phát triển kinh tế. Chỉ tiêu này thích dụng với mọi quy mô kinh tế, kể cả quy mô ngành, doanh nghiệp hay gia đình cá nhân
[7]

. Tuy nhiên, đo lƣờng phát

triển kinh tế phải đƣợc thể hiện ở cả “lƣợng” và “chất”. Trong đó, “lƣợng” đƣợc

16

biểu hiện bằng sự tăng lên trong quy mô sản lƣợng và “chất” đƣợc biểu hiện qua sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay khả năng ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào các ngành sản xuất. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế phản ánh phƣơng thức con ngƣời sử dụng các nguồn lực của tự nhiên để làm ra của cải vật chất
[6]

. Chuyển dịch cơ

cấu kinh tế là sự di chuyển các nguồn lực của xã hội giữa các khu vực kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Xu thế dịch chuyển ấy phải diễn ra cùng chiều với xu thế khách quan mang tính thời đại và phải đóng góp cho sự tăng trƣởng kinh tế. Cụ thể, đối nền kinh tế Việt Nam nói chung, xu hƣớng này là chuyển dịch nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế dựa vào công nghiệp và dịch vụ có công nghệ hiện đại. Điều này đƣợc biểu hiện bằng giá trị sản xuất của lao động trong nông nghiệp giảm xuống, công nghiệp và dịch vụ tăng lên, đồng thời áp dụng triệt để tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thời kì CNH-HĐH. 2. Nhóm chỉ tiêu về xã hội Đánh giá sự PTBV về xã hội nhất thiết phải chú trọng đến nhóm các chỉ tiêu về giải quyết các vấn đề xã hội mà quan trọng nhất là cải thiện cuộc sống của ngƣời dân, xóa đói giảm nghèo, phân phối thu nhập; nhóm chỉ tiêu về sức khỏe và y tế cộng đồng, nhóm chỉ tiêu về giáo dục đào tạo, nhóm chỉ tiêu về văn hóa xã hội. Tuy nhiên, khi áp dụng chỉ tiêu này để đánh giá sự PTBV của một khu vực cụ thể, hệ thống chỉ tiêu này có thể đƣợc phân chia thành những nhóm chỉ tiêu nhỏ. Cụ thể nhƣ sau: Nhóm chỉ tiêu về lao động việc làm: Lao động việc làm luôn là một vấn đề nóng bỏng với xã hội nói chung. Lao động việc làm có sức ảnh hƣởng quan trọng và mạnh mẽ tới sự phát triển của nền kinh tế CNH-HĐH, nơi mà nhu cầu nâng cao chất lƣợng lao động phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là rất bức thiết. Bên cạnh đó, vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, đặc biệt là lao động, là vô cùng bức thiết. Do đó, các chỉ tiêu đánh giá về vấn đề tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm cho ngƣời lao động, tỷ lệ thất nghiệp địa phƣơng, trình độ dân trí và trình

17

độ lao động, chất lƣợng, tay nghề lao động là những tiêu chí đƣợc sử dụng để đánh giá trong nhóm chỉ tiêu này. Nhóm chỉ tiêu về cải thiện cuộc sống và xóa đói giảm nghèo: Đối với khu vực đại bộ phận khu vực kinh tế nƣớc ta, xóa đói giảm nghèo luôn luôn là vấn đề đƣợc quan tâm nhiều nhất từ những ngƣời quản lý và hoạch định chính sách. PTBV trƣớc tiên phải đảm bảo nâng cao và cải thiện cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng về cả vật chất và tinh thần, tạo nguồn thu nhập giúp xóa đói giảm nghèo, tăng tỉ lệ hộ khá giả, tiếp đến là giảm khoảng cách trong phân phối thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và tạo điều kiện cho việc thực hiện công bằng xã hội. Do đó, chỉ tiêu này bao gồm đƣợc đánh giá qua những tiêu chí nhƣ thu nhập bình quân đầu ngƣời, tỷ lệ xóa đói giảm nghèo hay số lƣợng hộ nghèo và cận nghèo. Nhóm chỉ tiêu về văn hóa và vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống: Văn hóa xã hội bao giờ cũng là một nhân tố quan trọng trong phát triển cộng đồng. Các hoạt động văn hóa xã hội tại Việt Nam diễn ra chủ yếu trong cộng đồng sinh sống của ngƣời dân gắn bó lâu đời với nhau. Do vậy, việc xây dựng văn hóa cộng đồng văn minh, hiện đại luôn luôn có sức ảnh hƣởng lớn lao. Điều đó không chỉ đƣợc thể hiện bằng những hoạt động sinh hoạt văn hóa, sự tiếp cận với công nghệ văn hóa hiện đại văn minh mà còn thể hiện ở ý thức giữ gìn và phát huy những nét đẹp văn hóa, những phong tục truyền thống của địa phƣơng. PTBV văn hóa xã hội bao gồm các chỉ tiêu về sinh hoạt văn địa phƣơng; khả năng tiếp cận với thông tin truyền thông hiện đại nhƣ phát thanh, truyền hình, điện thoại và các điều kiện cơ sở vật chất công cộng nhƣ điện, đƣờng… và những hoạt động tinh thần nhằm bảo tổn bản sắc văn hóa dân tộc, vùng miền, địa phƣơng. Nhóm chỉ tiêu về phát triển con người: bao gồm nhóm chỉ tiêu về quyền con ngƣời, giáo dục và đào tạo, y tế và chăm sóc sự khỏe cộng đồng. Trong bất cứ một xã hội dân chủ nào, con ngƣời cũng phải đƣợc đảm bảo quyền con ngƣời của mình. Đó là quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo, quyền đƣợc bầu cử và nói lên tiếng nói của mình để xây dựng và đóng góp cho cộng đồng. Ngoài ra, con ngƣời phải đƣợc đảm bảo những điều kiện cần thiết trong việc chăm sóc sức khỏe. Đặc biệt, vấn đề

18

này lại càng trở nên cần thiết đối với khu vực có khoảng cách địa lý xa những khu trung tâm, vấn đề đi lại khó khăn, ngƣời dân còn chƣa có ý thức cao trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Do vậy, chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng bao gồm các chỉ tiêu về công tác khám chữa bệnh, hoạt động chăm sóc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, mạng lƣới chăm sóc sức khỏe và cơ sở vật chất y tế từ đơn vị tỉnh, huyện đến xã, làng, bản. Bên cạnh đó, giáo dục và đào tạo là gốc rễ và ngọn nguồn của phát triển con ngƣời. Sự đánh giá PTBV về giáo dục đào tạo bao gồm các chỉ tiêu cơ bản nhƣ tình hình xây dựng cơ sở vật chất các cấp học, tỉ lệ phần trăm giáo viên giảng dạy và học sinh trong độ tuổi đi học các cấp, số xã đƣợc công nhận xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, chất lƣợng dạy học và đào tạo. 3. Nhóm chỉ tiêu về môi trƣờng Phát triển kinh tế luôn luôn phải đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trƣờng. PTBV nhất thiết phải không gây các ảnh hƣởng tiêu cực, hủy hoại môi trƣờng sống và gây hậu quả xấu cho thế hệ sau. PTBV về môi trƣờng gắn bó mật thiết với nhiệm vụ bảo vệ và tái tạo tài nguyên đất và tài nguyên rừng. Do đó, nhóm các chỉ tiêu về PTBV môi trƣờng bao gồm những chỉ tiêu nhƣ tình hình sử dụng đất đai, tỷ lệ phần trăm diện tích rừng, độ che phủ rừng, diện tích rừng khai thác, trồng mới, tỷ lệ phần trăm đất rừng và môi trƣờng bị thiệt hại do các vấn đề của tự nhiên và môi trƣờng… Bên cạnh đó, nhóm chỉ tiêu này cũng bao gồm những chỉ tiêu thể hiện sự tác động của con ngƣời tới môi trƣờng nhƣ t́nh h́nh t́nh h́nh xử lƣ chất thải và hóa chất ô nhiễm , t́nh h́nh sử dụng nguồn năng lƣợng sạch cũng nhƣ những nguồn tài nguyên tái tạo đƣợc và không tái tạo đƣợc, thực trạng tái tạo rừng và tìm kiếm những nguồn năng lƣợng mới…

19

CHƢƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY QUẾ HUYỆN VĂN YÊN – TỈNH YÊN BÁI I. Khái quát chung về cây quế và Thị trƣờng các sản phẩm từ quế trên Thế giới 1. Khái quát chung về cây quế Cây quế tên khoa học là Cinnamomum Cassia.BL thuộc họ long não Lauraceae[9]. Tên tiếng anh của nó là Cinnamon và tên thông thƣờng là cây quế. Ở Việt Nam, nhân dân ta gọi với tên gọi khác nhau theo từng địa phƣơng nhƣ Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái… Cây quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, cây trƣởng thành có thể cao trên 15 mét, đƣờng kính thân cây có thể đạt 1,3 m. Các bộ phận của cây quế nhƣ vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, trong đó vỏ cây có chứa nhiều tinh dầu nhất. Tinh dầu quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70-90%. Quế có bộ rễ phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng đan rộng và đan chéo vào nhau, vì vậy cây quế có khả năng sống tốt ở những vùng đồi núi dốc. Cây quế lúc nhỏ ƣa bóng râm, khi lớn thì cần nhiều ánh sáng và khi trƣởng thành thì hoàn toàn chịu sáng[8]. Về điều kiện sinh trƣởng và phát triển, do có bộ rễ phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng đan rộng và đan chéo vào nhau nên cây quế thích nghi ở những vùng đồi núi dốc với độ cao thích hợp từ 300 – 700m. Cây quế phát triển thích hợp trên loại đất mùn xốp, thoáng nƣớc. Quế sinh trƣởng tốt trên đất đồi núi có độ dốc thoải từ 10-200, tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn, nhƣng phải thoát nƣớc, độ pHKCL khoảng 5 – 6. Quế thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, mƣa nhiều, nắng nhiều với lƣợng mƣa cao từ 2000 mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân trong khoảng bình 20-250C, ẩm độ bình quân trên 80%. Tuy vậy, tại những khu vực này, quế cũng chỉ có thể sinh trƣởng đƣợc ở một số vùng nhất định. Do đó, loại cây này đã trở thành một loại cây đặc sản của vùng nhiệt đới nhƣ Việt Nam, Srilanca, Indonesia, Trung quốc, Ấn Độ, Madagasxca... Chất lƣợng các loại quế khác nhau của các nƣớc đƣợc so sánh với nhau bằng hàm lƣợng tinh dầu chứa trong quế. Hàm lƣợng càng nhiều, chất lƣợng quế càng tốt.
20

Bảng 1: Chỉ tiêu hóa học của một số loại quế trên Thế giới
Các chỉ tiêu so sánh Loại quế Độ ẩm (% max 12 12 12 14 12 Tổng hàm lƣợng tro ( % khô, max) 5 4 6 6 7 Lƣợng tinh dầu ( ml/100mg, min) 0,7- 1 1,3- 1,7 0,8- 1,0 2- 3,5 0,3- 0,4

Quế Srilaca Quế Trung Quốc Quế Indonesia Quế Việt Nam Loại quế

Nguồn: Nguyễn Năng Vinh, Kĩ thuật khai thác và sơ chế tinh dầu, NXB KHKT 1997 Về công dụng, quế đƣợc sử dụng nhƣ một vị thuốc quí. Quế có vị cay, tính đại nhiệt, vị đắng, thơm và ngọt, có tác dụng bổ mật, thông huyết mạch, dùng để chữa chứng chân tay co quắp, đau bụng do khí lạnh, chữa phong hàn, viêm khớp, hƣ tâm tỳ, mạch chạy nhỏ, bệnh dịch tả cấp tính hay để chữa đƣợc các bệnh về tiêu hoá, hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lƣu thông huyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên. Quế đƣợc dùng phổ biến trong một số ngành công nghiệp. Ngày nay, ngƣời ta thƣờng tách lấy Aldehyt từ cây quế rồi chuyển hóa thành những chất thơm có giá trị khác. Trong công nghiệp thực phẩm, quế đƣợc dùng làm gia vị để chế biến bánh kẹo, chất định hƣơng. Trong công nghiệp hàng tiêu dùng, quế đƣợc dùng làm nguyên liệu chế biến xà phòng, nƣớc hoa, dầu chải, phấn sáp... Bên cạnh đó, bột quế làm hƣơng vị đƣợc trộn với các vật liệu khác sau đó đem làm hƣơng. Hơn thế nữa, tại một số quốc gia xứ lạnh có ngành chăn nuôi phát triển, ngƣời ta còn dùng quế trong ngành chế biến thức ăn gia súc. 2. Cung và cầu về các sản phẩm từ cây quế trên thị trƣờng Thế giới Do đặc tính chỉ sinh trƣởng và phát triển trong một số ít những vùng nhiệt đới nên thị trƣờng XK – NK quế trên thế giới đã trở nên vô cùng phát triển. Trong

21

thời gian gần đây, cùng với các mặt hàng khác trong tập đoàn gia vị nhƣ hồ tiêu, gừng, tỏi… mặt hàng quế có xu hƣớng ngày càng tăng và chiếm một thị phần lớn. Khối lƣợng NK mặt hàng quế của toàn thế giới đang có xu hƣớng ngày càng tăng về cả khối lƣợng và giá trị. Bảng 2: Khối lƣợng và giá trị nhập khẩu bình quân/năm mặt hàng quế trên Thế giới giai đoạn 2001 – 2010. Năm
Khối lƣợng (Tấn) Giá trị(nghìn USD)

2001

2002

2003
90592

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

87587 106018

98599 102201 107268 116946 109271 119621 124237

122101 136146 126057 142355 150279 182407 198899 218072 210378 239759

Nguồn: Số liệu thống kê International Trade Centre 2011[10]. Với xu hƣớng phát triển cùng chiều với nhu cầu NK, giá trị NK mặt hàng quế sẽ cũng tăng đáng, dự báo cho một lƣợng cầu về quế sẽ vẫn tăng với một mức giá ổn định. Số liệu thống kê năm 2011 của tổ chức International Trade Centre cho thấy giá của mặt hàng quế trong khoảng 10 năm trở lại đây có nhiều biến động tăng, giảm khác nhau. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, giá cả mặt hàng quế có xu hƣớng tăng mạnh và ổn định, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển ngành trồng, sản xuất, chế biến và xuất nhập khẩu quế của các nƣớc. Các nƣớc NK quế trên thế giới chủ yếu thuộc nhóm các nƣớc có ngành công nghiệp mỹ phẩm, thực phẩm và hàng tiêu dùng rất phát triển với công nghệ kỹ thuật sản xuất hiện đại. Theo số liệu thống kê của International Trade Centre 2011
[10]

,

Mỹ, Ấn độ, Mexico… là nhóm các nƣớc dẫn đầu Thế giới về lƣợng NK mặt hàng quế. Trong khi nhu cầu NK quế ngày càng gia tăng không ngừng, sản lƣợng quế xuất khẩu ra thị trƣờng thế giới hàng năm vẫn chỉ là một con số hữu hạn do đặc điểm đặc trƣng về điều kiện tự nhiên và sinh trƣởng của loại cây này. Do đó, các nhóm các nƣớc nhiệt đới nhƣ Srilanca, Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam đƣợc xem là có lợi thế tuyệt đối về xuất khẩu quế so với các nƣớc khác. Mặc dù đƣợc xem là

22

một quốc gia có chất lƣợng tinh dầu trong các sản phẩm của quế rất cao và nguồn nguyên liệu dồi dào, tuy nhiên, tổng khối lƣợng XK của Việt Nam chỉ chiếm 5% tổng sản lƣợng Thế giới và chiếm 11% tổng giá trị XK sản phẩm quế trên Thế giới. Điều đó đặt ra cho Việt Nam một câu hỏi lớn về việc XK cây quế trực tiếp sang các nƣớc trên Thế giới và sự phát huy tối đa tiềm năng XK của các vùng quế trên cả nƣớc. Biểu đồ 1: Tỷ trọng các nƣớc xuất khẩu quế theo khối lƣợng xuất khẩu và giá trị xuất khẩu

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê International Trade Centre 2011[10]. II. Cây quế Văn Yên và các yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững cây quế Văn Yên 1. Các yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững cây quế Văn Yên 1.1. Vị trí địa lý, địa hình và các điều kiện tự nhiên Văn Yên nằm ở phía Bắc của tỉnh Yên Bái với tổng diện tích đất tự nhiên 139.154,11 ha. Tổng diện tích đất lâm nghiệp chiếm 75,03%. Vùng trồng quế của Văn Yên thuộc các xã vùng cao là địa bàn sinh sống của ngƣời Dao với nghề trồng quế từ lâu đời nhƣ Phong Dụ Thƣợng, Phong Dụ Hạ, Xuân Tầm, Mỏ Vàng, Nà Hẩu, Quang Minh, Viễn Sơn và Đại Sơn với. Nơi đây nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng địa hình núi cao và vùng bằng thấp ven sông Hồng kết hợp với kiểu địa hình lòng máng đƣợc tạo thành từ 2 dẫy núi Pú Luông và Con Voi, độ cao trung bình từ 300 m - 750 m so với mực nƣớc biển. Thành phần địa chất chủ yếu là các dạng đá phiến, là các loại đá phong hóa hình thành các loại đất có thành phần cơ

23

giới trung bình đến nặng. Vị trí phân bố và điều kiện địa hình đã tạo ra vùng khí hậu phù hợp với sự sinh trƣởng, phát triển của cây quế Văn Yên với tổng lƣợng mƣa trung bình trong năm là từ 1.800 - 2.200 mm/năm; nhiệt độ trung bình năm dao động từ 22,5 - 26,0 OC; độ ẩm trung bình đạt khá cao, từ 80,5 - 86,0 %; tổng lƣợng bốc hơi trung bình năm từ 700 - 900 mm/năm[8]. Trong khi đó, vùng chế biến và kinh doanh các sản phẩm từ quế tập trung chủ yếu tại trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của toàn huyện là thị trấn Mậu A và các xã lân cận. Với vị trí nằm trên tuyến đƣờng sắt Yên Bái – Lào Cai, đƣờng tỉnh lộ Yên Bái – Khe Sang và đƣờng cao tốc Nội Bài – Lào Cai, nơi đây là cầu nối kinh tế quan trọng đƣa sản phẩm quế Văn Yên ra các thị trƣờng tiêu thụ. Hơn thế nữa, thị trấn trung tâm này còn là địa phƣơng luôn bắt kịp sự phát triển của đất nƣớc thời CNH-HĐH thông tin, tạo điều kiện cho việc cập nhật thông tin, kỹ thuật, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, giao lƣu, giao thƣơng với các thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. 1.2. Nguồn nhân lực Số liệu thống kê [13] của các năm qua cho thấy sự ổn định trong quá trình gia tăng dân số và biến đổi cơ cấu dân số. Theo niên giám thống kê Huyện Văn Yên năm 2011, dân số trung bình đến năm 2010 là 117.242 ngƣời. Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 64,7%. Trong đó: số ngƣời có khả năng lao động là chiếm 98.9%, số ngƣời mất khả năng lao động chiếm 2.1%. Trong phân phối nguồn lao động, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế chiếm 85,48% nhƣng trong đó có tới 95% lao động làm việc trong khu vực nông lâm nghiệp. Trình độ lao động ở đây chủ yếu là lao động phổ thông, chƣa qua đào tạo tay nghề. Bình quân hàng năm, lực lƣợng lao động của huyện tăng thêm khoảng 5.000 lao động. Đây cũng đƣợc xem nhƣ một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành quế với những sản phẩm thô sơ nhƣ ở Văn Yên hiện tại. 1.3. Chính sách của địa phương Về chính sách cho vùng trồng nguyên liệu, UBND Huyện Văn Yên đã đề xuất những hoạch định và chính sách hỗ trợ hiệu quả cho ngƣời dân trồng quế. Vùng trồng quế chuyên biệt đƣợc quy hoạch tại 8 xã vùng cao nhằm khai thác tối đa

24

những điều kiện tự nhiên, đất đai, thổ nhƣỡng, khí hậu riêng biệt cho sự sinh trƣởng và phát triển của cây quế mà không phải vùng đất nào cũng có và phục vụ cho mục tiêu PTBV loài cây đặc biệt này. Về chính sách cho việc sản xuất, chế biến và kinh doanh các mặt hàng từ quế Văn Yên, UBND huyện Văn Yên đã đƣa ra những chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp tại địa phƣơng. Các nhà quản lý đóng một vai trò quan trọng cho việc thành lập Hiệp hội sản xuất, kinh doanh, chế biến sản phẩm quế và tổ chức Đại hội sản xuất, chế biến và kinh doanh quế giúp cho việc định hƣớng, phát triển và hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp kinh doanh quế tại địa phƣơng. Hơn thế nữa, bằng những nỗ lực trong việc xây dựng và thực thi dự án xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý dùng cho sản phẩm quế đƣợc trồng ở huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, ngày 1/10/2010, UBND huyện Văn Yên đã chính thức đón nhận văn bằng Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Văn Yên cho sản phẩm quế theo Quyết định số 01/QĐ-SHTT ngày 07/01/2010 của Cục trƣởng Cục Sở hữu trí tuệ [12]. Bảo hộ chỉ dẫn địa lý Văn Yên cho sản phẩm quế giúp khẳng định nguồn gốc, xuất xứ và chỉ rõ đƣợc tính chất, chất lƣợng đặc thù của sản phẩm quế Văn Yên so với các vùng quế khác. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng, lâu dài, góp phần làm tăng giá trị của sản phẩm quế, xây dựng vùng quế Văn Yên có thƣơng hiệu trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. 2. Cây quế Văn yên và một số sản phẩm từ quế Văn Yên 2.1. Cây quế Văn Yên Quế Văn Yên chủ yếu là loài Cinnamomum Cassia Blume, có đặc điểm thực vật giống quế Trung Quốc. Về mặt cảm quan, vỏ quế Văn Yên có các nốt sần nhỏ, bên ngoài có màu xanh xám, bên trong long vỏ quế có màu vàng nhạt đến vàng sậm. Về mặt chất lƣợng, quế Văn Yên có sự khác biệt rõ ràng so với quế các vùng khác thông qua chỉ tiêu về chất lƣợng tinh dầu đƣợc biểu hiện bằng hàm lƣợng ẩm thấp (14,06 – 15,74%), chỉ số khúc xạ của tinh dầu vỏ quế cao (1,6025 – 1,6058nD25), hàm lƣợng tinh dầu cao (4.38 – 6,07v/w), hàm lƣợng Aldehyt Cinamic trong tinh dầu cao (84 - 92 %)[8].

25

Vùng quế Văn Yên đƣợc hình thành từ lâu đời nay và gắn liền với cuộc sống của ngƣời Dao vùng cao Văn Yên. Ngƣời Dao nơi đây chịu khó, cần cù, đã gắn bó với cây quế, nghề quế từ lâu đời, do đó những kinh nghiệm trồng quế đặc trƣng nhƣ kỹ thuật chọn giống, trồng cây, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản cũng mang đậm bản sắc văn hóa bà con dân tộc Dao [12]. 2.2 Một số sản phẩm từ quế Văn Yên Cây quế ở Văn Yên là loại cây đƣợc tận dụng từ lá, vỏ đến thân cây và rễ cây để trở thành sản phẩm hàng hoá có giá trị. Cụ thể nhƣ: Vỏ quế có giá hiện thời khoảng 25 nghìn đồng/kg; thân quế bóc vỏ đi rồi có "vanh" từ 35 cm trở lên bán đƣợc giá trên một triệu đồng/m 3, còn loại nhỏ bán làm cây chống trong xây dựng đƣợc giá từ 15 đến 20 nghìn đồng/cây. Cành, ngọn, lá quế tận thu khi chặt tỉa thƣa và khi hạ cây bóc vỏ có giá bán 2.500 đồng/kg. Giá tinh dầu quế là hơn 630 nghìn đồng/kg. Nhƣ vậy, một cây quế từ vỏ, thân, cành, lá qua chế biến đều trở thành hàng hóa. Xét trên phƣơng diện rộng hơn, các sản phẩm chủ yếu từ cây quế Văn Yên là: quế vỏ và tinh dầu quế. 2.2.1 Sản phẩm Quế vỏ Sản phẩm quế vỏ Văn Yên sau khi phơi khô bên ngoài có màu xanh xám, bên trong có màu từ vàng nhạt, vàng sậm đến nâu vàng, khi nếm có vị rất cay sau đó có vị ngọt. Thời gian thu hoạch quế vỏ của vùng quế Văn Yên thƣờng đƣợc chia làm hai vụ: vụ 3 và vụ 8 với sản lƣợng quế vỏ tập trung chủ yếu vào vụ 3. Khi thu hoạch quế vỏ, ngƣời dân áp dụng các phƣơng thức khai thác trắng (chặt cả cây để thu vỏ và lá) và bóc vỏ quế bằng cách dùng dao sắc khoanh vòng trên thân quế, sau đó dùng một thanh tre mỏng tách nhẹ vỏ quế ra khỏi thân. Vỏ quế sau khi thu hoạch mang về đƣợc phơi khô tự nhiên dƣới bóng râm hoặc dƣới nắng nhạt, tránh nắng gắt vì sẽ bị mất dầu. Sau khi đƣợc các đơn vị thu mua, quế vỏ đƣợc tiếp tục phơi khô và phân loại thành: quế C (5 năm tuổi), quế B(5-10 năm), quế A (10- 15 năm). Cuối cùng, vỏ quế đƣợc bán trực tiếp ra thị trƣờng hoặc đƣợc sơ chế thành những sản phẩm chủ yếu nhƣ: quế chẻ, quế bào, và quế kẹp bằng phƣơng pháp thủ công.

26

Quế bào và quế chẻ đƣợc sơ chế và dùng làm thuốc trong khi quế kẹp đƣợc làm công phu bởi những nghệ nhân thƣờng bán mức giá cao và sử dụng để trƣng bày. 2.2.2 Sản phẩm Tinh dầu quế Tinh dầu quế Văn Yên có hàm lƣợng Aldehyt Cinnamic rất cao. Đây là một sản phẩm tiềm năng với giá trị kinh tế cao đƣợc đầu tƣ máy móc kĩ thuật sản xuất bởi hệ thống nhà máy tinh dầu quế tƣ nhân. Nguyên liệu sản xuất tinh dầu quế là thân quế nhỏ, cành, lá quế đƣợc tận dụng từ sau mỗi vụ thu hoạch hoặc quá trình tỉa cành, tỉa lá cho đồi quế. Khác với sản phẩm quế vỏ, sản phẩm tinh dầu quế đƣợc sản xuất quanh năm nhờ nguồn nguyên liệu dự trữ. Phƣơng thức sản xuất tinh dầu quế nhƣ sau: nguyên liệu cành, lá quế đã đƣợc ủ từ 20 – 25 ngày, sau đó đổ nƣớc vào nồi sản xuất công nghiệp cao hơn rãnh 5 cm, cho cành, lá quế vào nồi rồi nén chặt, đậy nắp. Nguyên liệu đƣợc đun khoảng 5 – 10 phút, nƣớc trong nồi sôi và hơi nƣớc mang theo tinh dầu quế qua ống dẫn hơi sang bình ngƣng, xuống hệ thống phân ly. Tại đây do tinh dầu có tỷ trọng nặng hơn nƣớc nên lắng xuống đáy bình. Tiếp theo đó, tinh dầu quế sau sản xuất đƣợc đóng thùng và bán ra thị trƣờng. Thị trƣờng xuất khẩu chủ yếu của sản phẩm tinh dầu quế Văn Yên chủ yếu là thị trƣờng Trung Quốc. III. Thực trạng phát triển bền vững cây quế Văn Yên 1. Bền vững kinh tế 1.1 Quy mô kinh tế: 1.1.1 Quy mô vùng trồng nguyên liệu Tại vùng rừng núi cao của huyện Văn Yên, đất trồng quế thƣờng là đất rừng hộ gia đình khai hoang từ lâu đời hay một phần đất khoán của nhà nƣớc. Khu vực này thuộc vùng rừng núi cao, xa trung tâm, địa hình, giao thông hiểm trở. Tại đây, quế đƣợc trồng trên gò, đồi với tổng diện tích là 15258.7 ha, chiếm hơn 70% tổng diện tích đất trồng quế của toàn tỉnh Yên Bái, gấp 3 lần diện tích vùng trồng quế của vùng quế Trà My[14] và gấp 10 lần diện tích vùng quế Quảng Ninh[15]. Diện tích rừng quế rộng lớn nhƣ trên khiến cho vùng quế Văn Yên có một lƣợng nguyên liệu lớn và dồi dào, chiếm tỷ trọng lớn trong sản lƣợng quế của đất nƣớc.

27

Bảng 3: Diện tích trồng quế Huyện Văn Yên giai đoạn 2006 -2010. (Đơn vị: ha)
2006 Diện tích Toàn Huyện Xuân Tầm Mỏ Vàng Phong Dụ Thƣợng Đại Sơn Phong Dụ Hạ Viễn Sơn Nà Hẩu Quang Minh Khác 14869 1863,8 1086,5 1359,1 1362.5 1113,5 966,7 380,4 304 6432,5 Trồng mới 2007 Diện Tích Trồng mới 956.2 150 130 120,5 60,1 70 30 8,2 27 360,4 2008 Diện tích 15235 1871,1 1497 1388 1373,2 1162.7 1097,6 463,1 248,2 6134,1 Trồng mới 1151 180 168,9 133 60 50 20 100 30 408,8 2009 Diện tích 15375 1896,1 1500 1409,2 1378,7 1173,6 1108,1 499,6 272,2 6137,5 Trồng mới 2010 Diện Tích Trồng mới 665 60 10 81,2 108.5 70 34 57,5 40 203,8

1062,4 15215.3 170 135,9 91,1 104 55,5 25 47 16 417,9 1846,1 1444,2 1375 1358,2 1152,6 1099,6 364,2 242,2 6333,2

853 15258,7 125 75 121,2 68,5 63 35,5 45 47 272,8 1861,1 1437 1393,4 1387,2 1188,6 1107,1 542,1 292,2 6050

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Văn Yên năm 2010 Có thể nhận thấy vùng nguyên liệu trồng quế luôn duy trì đƣợc trong khoảng trên dƣới 15 ngh́n ha đất lâm nghiệp . Trong đó, các xã quy hoạch trồng quế vùng cao chiếm 60% tổng diện tích , còn lại là diện tích trồng của một số xã vùng thấp khác nhƣ Hoàng Thắng , Xuân Ái, Ngị A. Tuy nhiên, nh́n vào tổng diện tích trồng quế của từng xă, đặc biệt là hai xã dẫn đầu toàn huyện nhƣ Xuân Tầm và Mỏ Vàng, có thể thấy rằng, sự thay đổi trong diện tích trồng quế qua các năm là không ổn định. Nếu nhƣ diện tích trồng mới của toàn huyện năm 2008 đạt 1150,7 ha thì đến năm 2009 là 853 ha và giảm xuống 665 ha năm 2010. Theo thông tin đƣợc công bố trên trang thông tin điện tử chính thức của quế Văn Yên
[12]

, sản lƣợng quế vỏ hàng năm xuất ra thị trƣờng của địa phƣơng này là

khoảng 4000 - 5000 tấn. Bên cạnh đó, từ năm 2008, khi ba nhà máy chiết xuất tinh

28

dầu quế lần lƣợt đƣợc xây dựng và đi vào hoạt động, mỗi năm, vùng trồng nguyên liệu cung cấp cho mỗi nhà máy khoảng từ 6000-8000 tấn cành lá quế
[17]

. Nếu nhƣ

khoảng 10 năm trƣớc đây, giá trị kinh tế thu đƣợc của ngƣời dân vùng nguyên liệu còn bấp bênh, thậm chí không tìm đƣợc đầu ra cho sản phẩm thì đến những năm trở lại đây, đặc biệt là trong năm 2009 và 2010, giá trị kinh tế từ vùng nguyên liệu quế đã tăng lên đáng kể. Năm 2008, giá mua quế vỏ tại chỉ ở mức 15-18.000 đồng/kg và 1000 đồng/kg nguyên liệu quế cành, quế lá thì đến năm 2010, mức giá này đã tăng lên 25.000 đồng/kg cho quế vỏ và 2.500/kg cho nguyên liệu quế cành,lá dân vùng trồng nguyên liệu quế. 1.1.2 Quy mô vùng sản xuất, chế biến và kinh doanh Vùng sản xuất, chế biến và kinh doanh là cầu nối quan trọng đƣa sản phẩm quế từ vùng trồng nguyên liệu ra thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Khu vực sản xuất, chế biến và kinh doanh quế tập trung chủ yếu tại khu vực trung tâm các xã và thị trấn, nơi điều kiện giao thông và giao thƣơng thuận lợi, dễ dàng. Sau quá trình thu mua nguyên liệu, các sản phẩm trên chủ yếu đƣợc chế biến thành các sản phẩm quế vỏ thô hay chiết xuất thành tinh dầu và buôn bán ra thị trƣờng qua các cơ sở tƣ nhân dƣới các hình thức chủ yếu nhƣ: Hộ gia đình, Hợp tác xã sản xuất, Doanh nghiệp tƣ nhân và Công ty TNHH. Biểu đồ 2: Tỷ trọng sản lƣợng sản xuất của các thành phần kinh tế trong tổng sản lƣợng sản phẩm sản xuất từ quế năm 2011.
[17]

. Theo

đó, cây quế Văn Yên mang lại giá trị kinh tế lên đến hàng chục tỉ đồng cho ngƣời

Nguồn: Tổng hợp số liệu sơ cấp từ phỏng vấn [17].

29

Hộ gia đình Hình thức sản xuất kinh doanh Hộ gia đình là hình thức kinh doanh chủ yếu, chiếm khoảng 70% số lƣợng những cơ sở sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ quế và buôn bán ra thị trƣờng khoảng 57% sản lƣợng quế vỏ Văn Yên và 23% sản lƣợng tinh dầu. Hình thức này hoạt động theo mùa vụ với quy mô nhà kho, sân phơi nhỏ phƣơng pháp lao động hoàn toàn thủ công. Do đó, chất lƣợng và điều kiện bảo quản sản phẩm không đƣợc hoàn thiện đến mức tối đa. Trong khi đó, giá bán ra thị trƣờng hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của các đối tác. Tuy nhiên, đối với khu vực nông thôn miền núi, thu nhập từ nhóm hoạt động này cũng góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lƣợng cuộc sống ngƣời dân. Hợp tác xã Hợp tác xã là một trong những mô hình hoạt động đƣợc ƣa chuộng tại khu vực nông thôn. Tại vùng NTMN Văn Yên, mô hình này cũng hết sức phát triển. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến HTX Quế Sơn. Với tổng diện tích mặt bằng đạt gần 2 ha với hệ thống nhà kính phục vụ hong, phơi quế và hệ thống nhà kho nhằm đảm bảo chất lƣợng sản phẩm, HTX Quế Sơn với 10 xã viên và 25-30 công nhân làm việc thời vụ đã đạt mức doanh thu năm 2011 là gần 9 tỷ đồng, đóng góp cho ngân sách nhà nƣớc gần 450 triệu đồng
[17]

. Các HTX khác kinh doanh mặt hàng

quế vỏ tuy không có đƣợc hệ thống cơ sở vật chất nhƣ Quế Sơn nhƣng cũng thu đƣợc một mức doanh thu tƣơng đối lớn, góp phần cải thiện cuộc sống và xây dựng địa phƣơng. Doanh nghiệp tƣ nhân và CTy TNHH Doanh nghiệp tƣ nhân và CTy TNHH là những hình thức hoạt động có quy mô lớn nhất trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ cây quế. Do đó, hình thức này, đặc biệt là CTy TNHH đòi hỏi vốn đầu tƣ nhiều hơn, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tốt hơn, chuyên môn nghiệp vụ kinh doanh và mối quan hệ với thị trƣờng bền ngoài chặt chẽ hơn.

30

Các DNTN trong lĩnh vực này chủ yếu là những hộ gia đình đã có kinh nghiệm lâu năm trong kinh doanh quế chuyển đổi mô hình lên hình thức doanh nghiệp để mở rộng quy mô hoạt động. Tuy nhiên, nói về quy mô hoạt động lớn nhất trong ngành quế Văn Yên phải kể đến mô hình CTy TNHH. Tiêu biểu trong khu vực này phải kể đến CTy TNHH TM SX XNK Đạt Thành tại xã Đông Cuông. Với tổng diện tích 5 ha bao gồm một nhà máy chiết xuất tinh dầu, hệ thống nhà kho gần 50.000m2 và hệ thống sân bãi, CTy TNHH TM SX XNK Đạt Thành trở thành đơn vị sản xuất tinh dầu quế lớn nhất Văn Yên với tổng số vốn đầu tƣ lên đến 20 tỷ đồng. Trong những năm vừa qua, lợi nhuận hàng năm của công ty không ngừng tăng. Hiện tại, Văn Yên có ba nhà máy cùng lắp đặt một hệ thống sản xuất nhƣ Đạt Thành với máy móc hiện đại đƣợc nhập khẩu từ Trung Quốc, giá trị lên tới 10 tỷ đồng, công suất thiết kế 200 tấn/năm. Có thể nói, sự xuất hiện của các nhà máy tinh dầu quế đã thay đổi một cách toàn diện bộ mặt của ngành quế Văn Yên. Bảng 4: Sơ lƣợc kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh CTy TNHH TM SX XNK Đạt Thành năm 2009 và 2010. (Đơn vị: VND) 2009 Doanh thu thuần Chi phí tài chính Chi phí quản lý kinh doanh Tổng lợi nhuận trƣớc thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế 12,250,205,000 799,600,100 615,210,000 1,311,269,400 0 1,311,269,400 2010 19,972,600,000 1,354,783,000 915,751,574 1,336,633,426 133,663,343 1,202,970,083

Nguồn: Báo cáo tài chính CTy TNHH TM SX XNK Đạt Thành năm 2010. 1.1.3 Quy mô xuất khẩu Do năng lực hạn chế của khu vực công nghiệp chế biến, hầu hết các sản phẩm từ quế trên cả nƣớc nói chung và quế Văn Yên nói riêng đều chỉ là sản phẩm thô, mới qua sơ chế và đóng gói theo phƣơng pháp hoàn toàn thủ công và đƣợc XK ra thị trƣờng nƣớc ngoài dƣới các hình thức và con đƣờng khác nhau.

31

Bảng 5: Sản lƣợng xuất khẩu quế giai đoạn 2005 – 2010. (Đơn vị: Tấn) Năm Sản phẩm quế Tăng/giảm so với năm trƣớc 2006 210 2007 166 -21% 2008 211 27% 2009 255 20% 2010 286 12%

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái năm 2010 Số liệu thống kê bảng trên cho thấy, sản lƣợng xuất khẩu này tƣơng đối ổn định, không có nhiều sự thay đổi lớn và giao động trong khoảng trên dƣới 20 % so với năm trƣớc. Tuy nhiên, con số sản lƣợng này lại là rất thấp so với tổng sản lƣợng quế vỏ (3000 – 4000 tấn) và sản lƣợng tinh dầu (270-300 tấn) hàng năm. Rõ ràng, sản lƣợng XK nhƣ trên hoàn toàn không xứng đáng với tiềm năng của cây quế Văn Yên. Tại đây, hai hình thức XK chủ yếu là XK trực tiếp và XK ủy thác. Hình thức XK tại chỗ qua việc buôn bán cho khách du lịch địa phƣơng hầu nhƣ không có. XK trực tiếp thƣờng đƣợc áp dụng chủ yếu đối với sản phẩm tinh dầu quế đƣợc sản xuất từ các nhà máy chiết xuất với thị trƣờng chủ yếu là Trung Quốc. Ngoài thị trƣờng này, quế Văn Yên cũng đƣợc XK ra những thị trƣờng lớn khác qua hình thức XK ủy thác theo mô hình: các doanh nghiệp XK sản phẩm qua các công ty trung gian hay các công ty XNK từ các địa bàn khác sẽ tự tìm kiếm thị trƣờng XK và nhận đơn hàng , sau đó triển khai sản xuất tại Văn Yên. Khi đó, các đơn vị sản xuất đóng vai trò là cơ sở sản xuất, là đối tác của công ty XK. 1.2 Cơ cấu kinh tế 1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong những năm trở lại đây, với những chính sách quản lý và khuyến khích sản xuất hiệu quả của địa phƣơng, cơ cấu kinh tế của huyện Văn Yên đã có những bƣớc chuyển dịch quan trọng, đúng hƣớng và phù hợp với đƣờng lối phát triển kinh tế theo xu hƣớng CNH – HĐH. Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong nền kinh tế địa phƣơng có xu hƣớng tăng dần, đồng thời tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống.

32

Bảng 6: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Văn Yên giai đoạn 2007-2010.
2007 GTSX Tổng Nông nghiệp Lâm Nghiệp Thủy Sản Công nghiệp XD & ĐT TM &DV 847134.1 430794.9 103634.1 5814 59435 112155 135301.1 2008 Tỷ Tỷ GTSX trọng trọng 100 1228382.9 100 50.85 12.23 0.69 7.02 13.24 15.97 488235.1 128026.3 3511.1 135845 317040 155725.4 2009 Tỷ trọng 1590146 100 GTSX 34.02 9.01 0.45 12.74 32.89 10.89 2010 GTSX 2175044 674717.6 166504.5 8781.4 262623.3 804960 257456.7 Tỷ trọng 100 31.02 7.66 0.40 12.07 37.01 11.84

39.75 540930.6 10.42 143292.3 0.29 11.06 25.81 12.68 7090.4 202613 523078 173142

Nguồn: Niên giám thống kê H.Văn Yên 2010. (Đ/v GTSX: triệu đồng. Đ/v tỷ trọng: %) Nhƣ vậy, khu vực các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, giá trị tuyệt đối vẫn tăng, song tỷ trọng của khu vực này trong tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế địa phƣơng lại giảm chứng tỏ nền kinh tế huyện Văn Yên trong những năm trở lại đây đã có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ, giảm dần tỷ trọng của các ngành nông lâm nghiệp thủy sản và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng đầu tƣ và thƣơng mại dịch vụ. Biểu đồ 3: Tỷ trọng các ngành kinh tế trong Tổng GTSX H.Văn Yên 2007 2010

Nguồn: Tổng hợp số liệu Bảng 8.

33

Cùng với xu hƣớng trên, ngành quế huyện Văn Yên cũng có những chuyển biến đáng kể trong cơ cấu ngành giữa khu vực những sản phẩm sản xuất bằng phƣơng pháp thủ công thô sơ (sản phẩm quế vỏ và tinh dầu quế sản xuất tại hộ gia đình) và những sản phẩm sản xuất bằng công nghiệp chế biến chiết xuất hiện đại (tinh dầu quế sản xuất tại nhà máy). Do có những hạn chế về hệ thống số liệu thống kê địa phƣơng cho ngành sản xuất còn non trẻ này, những số liệu dƣới đây là số liệu ƣớc tính sơ cấp đƣợc cung cấp từ những thƣơng nhân kinh doanh mặt hàng này theo phƣơng pháp phỏng vấn
[17]

. Nếu nhƣ tại thời điểm năm 2007, khi công nghệ chiết

xuất tại nhà máy thời điểm đó mới chỉ là sản xuất thử nghiệm, chƣa đi vào hoạt động chính thức, sản phẩm tinh dầu quế mới chủ yếu chiết xuất theo phƣơng pháp thủ công nên giá trị sản xuất chủ yếu của ngành quế là giá trị sản phẩm quế chế biến theo phƣơng pháp thủ công, ƣớc đạt tỷ trọng trên 80% thì sau ba năm, đến năm 2010, cùng với sự đi hoạt hoạt động ổn định với công suất tối đa của ba nhà máy chiết xuất, những con số này đã thay đổi rõ rệt. Giá trị các sản phẩm từ quế chế biến theo phƣơng pháp thủ công lúc này chỉ chiếm khoảng trên 50%, còn lại là tỷ trọng của các sản phẩm chế biến từ công nghệ chiết suất hiện đại. Nhƣ vậy, ngành quế Văn Yên đã và đang biểu lộ những sự chuyển dịch đáng kể từ khu vực trồng và khai thác lâm sản thuần túy sang khu vực sản xuất chế biến công nghiệp có tính hiện đại và khoa học hơn. 1.2.2 Ứng dụng khoa học kỹ thuật Đối với vùng trồng cây nguyên liệu quế, khoa học kỹ thuật đƣợc áp dụng triệt để trong kỹ thuật bảo tồn nguồn gen quý của loài quế vùng quế Văn Yên và nghiên cứu những giống quế mới có khả năng sinh trƣởng, phát triển tốt và cho sản lƣợng tinh dầu cao. Bên cạnh đó, áp dụng những nghiên cứu khoa học về thời gian sinh trƣởng và yêu cầu sinh trƣởng của cây quế trong từng thời kỳ giúp cho ngƣời nông dân có thể chủ động hơn trong việc tạo môi trƣờng phát triển tốt nhất cho cây quế. Kỹ thuật nông lâm kết hợp, trồng xen kẽ lúa nƣơng với quế là ví dụ tiêu biểu cho việc áp ụng khoa học kỹ thuật nhằm sử dụng đất một cách bền vững [20]. Đối với khu vực chế biến và sản xuất các sản phẩm từ quế, tiến bộ khoa học kỹ thuật đƣợc áp dụng mạnh mẽ nhất trong công nghệ chiết xuất tinh dầu tại các

34

nhà máy. Tại đây, hệ thống máy móc gồm 1 nồi hơi 5 tấn cung cấp nhiệt, 4 nồi nấu công nghiệp với sức chứa 1 tấn nguyên liệu/ 1 nồi, 6 bình làm lạnh và hệ thống ống dẫn đƣợc lắp đặt theo chu trình khép kín nhằm hạn chế tối đa sự bay mùi của tinh dầu. Hoạt động của hệ thống này diễn ra liên tục cả ngày và đêm theo cơ chế điện tử. Bên cạnh đó, những công đoạn nhƣ băm nhỏ nguyên liệu và đƣa nguyên liệu vào nồi công nghiệp cũng hoàn toàn sử dụng máy móc hiện đại Ứng dụng khoa học kỹ thuật trên đã giúp cho việc tiết kiệm tối đa sức lao động của con ngƣời, tăng năng suất lao động và nâng cao chất lƣợng sản phẩm tinh dầu quế. 2. Bền vững xã hội 2.1 Thực trạng vấn đề lao động việc làm Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010, huyện Văn Yên đã đạt đƣợc những thành quả tốt trong vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Theo niên giám thống kê huyện Văn Yên năm 2010, tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế trong tổng số lao động tăng từ 80% năm 2006 đến 95% năm 2010. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhƣng không có việc làm ngày càng giảm Biểu đồ 4: Tỷ trọng lao động có việc là m trong tổng số lao động và Tỷ lệ thất nghiệp Huyện Văn Yên giai đoạn 2007 – 2010.

Nguồn: Tổng hợp số liệu niên giám thống kê Huyện Văn Yên năm 2010. Xét về khả năng giải quyết vấn đề lao động việc làm, ngành trồng, chế biến sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ quế đã tạo ra cho thị trƣờng lao động địa phƣơng một nguồn công việc dồi dào. Tại vùng trồng nguyên liệu, nghề ƣơm hạt
35

giống, trồng quế, chăm sóc đồi quế và thu hoạch quế tạo ra một nguồn việc làm thƣờng xuyên cho bà con dân tộc vùng cao. Tại khu vực sản xuất, chế biến và kinh doanh, ba nhà máy chiết xuất tinh dầu quế đã tạo ra gần 200 việc làm cho ngƣời lao động, giảm bớt tình trạng thất nghiệp tại địa phƣơng. Bên cạnh đó, tại thời điểm mỗi vụ thu hoạch, mỗi một hộ gia trong hàng chục hộ gia đình thu mua quế đòi hỏi có ít nhất 7-10 lao động. Do đó, lƣợng việc làm thời vụ mà khu vực này tạo ra cho ngƣời dân địa phƣơng là vô cùng lớn. 2.2 Thực trạng cải thiện cuộc sống người dân và xóa đói giảm nghèo Theo số liệu thống kê năm 2011 của chi cục thống kê huyện Văn Yên, thu nhập bình quân đầu ngƣời ƣớc tính đạt 14 triệu đồng/ ngƣời / năm. Trong khi đó, ngƣời dân vùng trồng nguyên liệu có mức thu nhập đầu vào thƣờng đƣợc ƣớc tính theo hộ gia đình. Đây là thu nhập thƣờng xuyên đối với nguyên liệu cho chiết xuất tinh dầu quế và là thu nhập theo mùa vụ đối với quế vỏ và có sự chênh lệch giữa các năm tùy vào độ tuổi khai thác của quế. Ƣớc tính trung bình trong mỗi năm, tổng thu nhập từ quế vỏ của một hộ gia đình trung bình từ 90 đến trên 100 triệu đồng mỗi vụ và khoảng từ 25-30 triệu đồng từ bán nguyên liệu quế cành, lá và thân quế[17]. Biểu đồ 5: TNBQ lao động tại các doanh nghiệp tại địa phƣơng và TNBQ lao động tại các nhà máy tinh dầu quế 2007 – 2010. (Đơn vị: Triệu đồng)

Nguồn: Niên giám thống kê Tỉnh Yên Bái 2010 và Tài liệu Nhà máy tinh dầu quế [22]. Quan trọng hơn cả, trong những năm qua, vấn đề xóa đói giảm nghèo tại huyện vùng cao Văn Yên có những thay đổi rất tích cực. Năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo

36

còn tới 31,76%, thì đến năm 2010 tỷ lệ này đã giảm đáng kể còn 25,54%, đời sống của nhân dân không ngừng đƣợc cải thiện. Các xã nông thôn thuộc vùng trồng quế nhƣ Phong Dụ Thƣợng, Phong Dụ Hạ, Xuân Tầm, Mỏ Vàng, Nà Hẩu, Quang Minh, Viễn Sơn, Đại Sơn trƣớc đây là những xã vùng cao đặc biệt khó khăn, đời sống ngƣời dân vô cùng nghèo nàn, lạc hậu. Những năm trƣớc đây, số hộ đói nghèo ƣớc tính khoảng 90% tổng số hộ thì cho đến hiện nay, chỉ còn trên 50% số hộ thuộc diện hộ nghèo và khoảng 9% thuộc diện cận nghèo. Nhờ những giá trị kinh tế lớn lao từ cây quế, hàng trăm hộ dân sống trong địa bàn những xã vùng cao trên đã thoát ly nghèo đói và hơn thế nữa vƣơn lên làm giàu, thu đƣợc lợi ích kinh tế từ hàng chục đến cả trăm triệu đồng mỗi năm. 2.3 Thực trạng vấn đề văn hóa xã hội và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống Trong những năm gần đây, khi điều kiện kinh tế trở nên khá giả và điều kiện sống đƣợc cải thiện nhiều hơn,các hoạt động văn hoá, văn nghệ, hoạt động cộng đồng diễn ra sôi nổi, sâu rộng hơn với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn tạo không khí thi đua trong đời sống lao động sản xuất và học tập của các tầng lớp nhân dân. Trong môi trƣờng sống của các làng văn hóa, các khu phố, khu dân cƣ văn hóa, tệ nạn xã hội giảm đáng kể. Bên cạnh đó, ngƣời dân luôn tích cực hƣởng ứng và tham gia những hoạt động nâng cao ý thức cộng đồng nhƣ bài trừ tệ nạn xã hội, rèn luyện ý thức bảo vệ môi trƣờng, xây dựng hoạt động sinh hoạt thƣờng kỳ tại khu phố, làng, bản, nêu cao tự giác cá nhân và ý thức cá nhân đối với các vấn đề xã hội và cộng đồng. Tinh thần tự do tôn giáo và tự do dân chủ luôn đƣợc nêu cao. Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn huyện tiếp tục ổn định và đƣợc giữ vững, không xảy ra những vấn đề phức tạp. Hơn thế nữa, đối với các xã vùng cao gắn liền với nghề trồng quế, văn hóa xã hội không chỉ thể hiện đƣợc tính bền vững cộng đồng nhƣ trên mà còn gắn liền với những giá trị truyền thống dân tộc vùng cao. Điểm đặc biệt là những phong tục tập quán này đã có từ rất lâu đời và gắn liền với cây quế. Ngƣời Dao đỏ trồng quế tại vùng cao Văn Yên có tập tục rất độc đáo, ấy là mỗi khi các con lấy vợ, gả chồng thì cha mẹ và dòng họ cùng chia cho một đồi quế, coi đó nhƣ của hồi môn giống nhƣ của

37

ngƣời Kinh. Cây quế vì thế mà phát triển từ nƣơng rồi thành rừng từ khi nào không rõ. Cho đến ngày nay, những phong tục tập quán ấy vẫn đƣợc giữ nguyên vẹn. Bên cạnh đó, khi có một nền tảng kinh tế tƣơng đối vững chắc, ngƣời dân địa phƣơng đang dần dần khôi phục và phát huy những Lễ hội truyền thống xa xƣa. 2.4 Thực trạng phát triển nguồn lực con người 2.4.1 Giáo dục và đào tạo Trong năm học 2010 - 2011 trên địa bàn toàn huyện có 83 đơn vị trƣờng với, tăng 1,8% so với năm học trƣớc. Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 99,5%. Tỷ lệ huy động học sinh học hết Tiểu học vào Trung học cơ sở tăng 2,9% so với năm trƣớc. Bên cạnh đó, tích cực thực hiện chƣơng trình kiên cố hóa trƣờng, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên; hỗ trợ kinh phí xây dựng nâng cấp nhà ở, bếp, công trình vệ sinh, giƣờng nằm cho học sinh bán trú dân nuôi tại các xã vùng cao. Trong các đơn vị giáo dục có 27 đơn vị đạt chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và 27 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở. Bên cạnh đó, toàn Huyện có tới 16 đơn vị trƣờng đạt danh hiệu chuẩn Quốc gia. Hơn thế nữa, tại các xã vùng cao trồng quế nhƣ Đại Sơn, Viễn Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thƣợng có tới 4 trƣờng Phổ thông Dân tộc bán trú và Trung học cơ sở mới thành lập đi vào hoạt động, phục vụ cho công tác giáo dục con em đồng bào dân tộc. Ngoài sự chú trọng trong công tác giáo dục, trƣờng lớp cho học sinh các cấp, huyện Văn Yên còn tập trung tổ chức các lớp dạy nghề lao động nông thôn và lao động dân tộc thiểu số. Các lao động đƣợc đào tạo với các nghề nhƣ may dân dụng, kỹ thuật chăn nuôi - thú y, kỹ thuật trồng trọt - chế biến nông sản, quản lý và phát triển trang trại, nuôi thủy sản nƣớc ngọt và nghề nề. Sau khi đƣợc đào tạo, ngƣời lao động có thể tìm việc tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh và nhất là áp dụng vào trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế ngay tại gia đình. Kết quả đạt đƣợc trong những năm qua là tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện tăng lên đáng kể, từ 25,1% năm 2008 lên đến 30% năm 2010[21] và khoa học kỹ thuật canh tác đƣợc áp dụng triệt để tại các xã vùng cao, thay thế cho canh tác tập quán lạc hậu.

38

2.4.2 Công tác y tế cộng đồng Trong những năm vừa qua, huyện Văn Yên đã tích cực nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh, củng cố mạng lƣới y tế từ huyện đến các xã, thôn bản, thực hiện tốt công tác y tế dự phòng, triển khai đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, làm tốt công tác xã hội hoá về chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tiếp tục đƣợc đẩy mạnh, nhất là đối với địa bàn vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng có mức sinh cao. Bên cạnh đó, các cơ quan y tế, trạm xá tại các địa phƣơng của huyện luôn làm tốt công tác khám chữa bệnh cho ngƣời dân với tổng số lƣợt khám bệnh trong năm 2011 là 201.446 lƣợt. Toàn huyện có tới 26 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Cho đến năm 2011, tỷ lệ trẻ em dƣới 5 tuổi suy dinh dƣỡng chỉ còn 20%, giảm 1% so với năm trƣớc; tỷ lệ hộ dân dùng nƣớc hợp vệ sinh đạt 74,5%, tỷ lệ hộ dân có đủ ba công trình vệ sinh đạt 61,5%. Bên cạnh đó, huyện còn thực hiện việc cấp phát 25.155 thẻ bảo hiểm y tế cho ngƣời nghèo; 1.432 thẻ bảo hiểm y tế cho cựu chiến binh; 1.132 thẻ BHYT cho đối tƣợng Bảo trợ xã hội; cấp 6.255 thẻ khám chữa bệnh cho trẻ em dƣới 6 tuổi. 3. Bền vững Môi trƣờng 3.1 Thực trạng sử dụng và khai thác tài nguyên thiên nhiên vùng nguyên liệu Tại vùng quy hoạch trồng quế Văn Yên thuộc 8 xã vùng cao, tài nguyên thiên nhiên đƣợc tận dụng một cách tối đa cho sự sinh trƣởng và phát triển của cấy quế. Trƣớc đây, cây quế là cây mọc hoang trên địa bàn sinh sống vùng núi cao của dân tộc Dao. Sau đó, tận dùng tài nguyên quý giá này, cây quế đã đƣợc thuần hóa và trở thành loài cây xóa đói giảm nghèo cho vùng núi cao này. Hàng năm, quế đƣợc hai thác vào tháng 3 âm lịch và tháng 8 âm lịch. Đối với những hộ có điều kiện kinh tế khá giả, quế thƣờng đƣợc trồng đến trên 10 năm rồi mới đi vào khai thác và thu hoạch để thu đƣợc lợi ích cao nhất. Tuy nhiên , phần lớn những hộ trồng quế ở đây đều thu hoạch và khai thác vùng nguyên liệu trồng đƣợc theo tính chất tự phát khi có nhu cầu về tài chính. 3.2 Thực trạng bảo vệ và tái tạo tài nguyên môi trường Do đặc thù là một huyện miền núi vùng cao nên tài nguyên rừng là một thành phần quan trọng trong tổng thể môi trƣờng của huyện Văn Yên nên vấn đề quản lý
39

rừng, bảo vệ rừng và phát triển tài nguyên rừng luôn đƣợc chú trọng. Theo niêm giám thống kê Huyện Văn Yên năm 2011, tổng diện tích rừng trên địa bàn huyện Văn Yên là trên 89.289 ha với độ che phủ rừng đạt 72%. Với tổng diện tích vùng trồng nguyên liệu là 15.258,7 ha cùng với kế hoạch trồng mới diện tích hàng năm, ngành quế Văn Yên đã đóng góp một phần đáng kể trong tổng diện tích rừng toàn huyện, góp phần bảo vệ môi trƣờng, điều hòa nguồn nƣớc, cải tạo môi trƣờng sinh thái, bảo vệ đất rừng, đất đồi, chống xói mòn, rửa trôi và giảm nhẹ đến tối đa những ảnh hƣởng của thiên tai bão lũ điều hoà hàng năm đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của ngƣời dân vùng núi. Biểu đồ 6 Độ che phủ rừng và Độ che phủ rừng quế trong tổng diện tích rừng che phủ Huyện Văn Yên năm 2011.

Nguồn: Tổng hợp số liệu[18]. Bên cạnh đó, việc triển khai dự án giao khoán đất rừng, bảo vệ rừng tự nhiên, trồng rừng sản xuất, trồng rừng phòng hộ đƣợc đặc biệt quan tâm. Hoạt động tăng cƣờng tuyên truyền vận động, hƣớng dẫn nhân dân cách trồng và bảo vệ rừng cũng đƣợc tổ chức và diễn ra mạnh mẽ tại các địa phƣơng. Những dự án trên đã bƣớc đầu thu đƣợc những kết quả quan trọng nhƣ giữ lại những diện tích rừng tái sinh mạnh để khoanh và bảo vệ, không phá rừng tái sinh để trồng rừng phòng hộ, phát triển rừng sản xuất. Chất lƣợng rừng trồng mới cũng đƣợc nâng lên rõ rệt. Nhiều diện tích rừng sản xuất, rừng phòng hộ đặc dụng đã trồng phát triển rất tốt. Từ chỗ chỉ phá rừng làm nƣơng rẫy thì nay, ngƣời dân đã hăng hái nhận đất để trồng rừng hoặc nhận rừng trồng, rừng tái sinh để chăm sóc bảo vệ.

40

3.3 Thực trạng sử dụng hóa chất độc hại và công tác xử lý phế thải Đối với khu vực dân cƣ, nhờ có sự phát triển của hệ thống hạ tầng kỹ thuật cơ sở cấp huyện bao gồm hệ thống cấp thoát nƣớc, vệ sinh môi trƣờng đô thị, xử lý rác thải, phế thải đƣợc xử lý hợp vệ sinh nhƣng chƣa đúng cách và chƣa khoa học. Rác thải gia đình vẫn chƣa đƣợc phân loại và xử lý triệt để. Bên cạnh đó, tại các khu vực nông thôn miền núi vùng cao, trong khi một số hộ gia đình đã biết cách xử lý rác thải theo phƣơng pháp phân loại rác và đào hố ủ rác thải hữu cơ làm chất dinh dƣỡng cho đất thì một phần lớn các hộ gia đình khác vẫn chƣa biết cách xử lý rác thải và vệ sinh đúng đắn. Đối với hệ thống các nhà máy tinh dầu quế thuộc các cụm công nghiệp mới đƣợc xây dựng tại huyện Văn Yên, vấn đề xử lý phế thải cũng hết sức đƣợc chú trọng. Trên thực tế, nhà máy tinh dầu quế chỉ tập trung chiết xuất những sản phẩm thô nên tình trạng sử dụng hóa chất độc hại hầu nhƣ không xuất hiện. Hơn thế nữa, chu trình sản xuất gần nhƣ khép kín, bã nguyên liệu quế sau khi chƣng cất đƣợc sử dụng luôn làm nguyên liệu đốt, cung cấp nhiệt cho các nồi chƣng cất. Do vậy, lƣợng phế thải thải ra môi trƣờng là không đáng kể. Tuy nhiên, trong quá trình tạo nhiệt, nhiên liệu đốt cháy cũng tạo ra một lƣợng khói có chứa bụi thải ra môi trƣờng không khí. Với hệ thống phun nƣớc thƣờng xuyên ngay khi khói thải ra, nồng độ bụi trong đó hầu nhƣ đã đƣợc hạn chế. IV. Một số hạn chế trong thực trạng phát triển bền vững cây quế Văn Yên 1. Về kinh tế 1.1 Nguyên liệu tại vùng trồng quế chưa được sử dụng triệt để Cành và lá quế đƣợc sử dụng làm nguyên liệu trong chiết xuất tinh dầu quế chƣa đƣợc khai thác triệt để. Nhà máy tinh dầu quế thƣờng vận hành quanh năm với đặc điểm sản xuất cả ngày lẫn đêm để tiết kiệm nguồn nhiệt. Do vậy, sản lƣợng tinh dầu quế nhiều hay ít trong một năm phụ thuộc toàn bộ vào nguồn nguyên liệu cành và lá quế. Tại các nhà máy, trung bình một năm có khoảng 2 tháng nhà máy không có đủ nguyên liệu để chế biến. Trong khi đó, tại những vùng trồng quế tại các xã vùng cao, cành và lá quế tại các gò, đồi cao vẫn thƣờng bị chặt tỉa không mục đích sử dụng dù ngƣời dân hoàn toàn nhận thức đƣợc giá trị kinh tế và công dụng của
41

cành và thân lá. Nguyên nhân là do điều kiện đƣờng xá giao thông quá khó khăn trong việc di chuyển nguyên liệu ra vùng sản xuất để bán. Bên cạnh đó, cây quế sau khi bóc vỏ thƣờng đƣợc bán làm cọc chống trong ngành xây dựng với giá trị kinh tế không cao, còn lại thƣờng đƣợc sử dụng làm củi đốt. Trong khi đó, gỗ thân quế trên thực tế là một loại gỗ đặc biệt. Do thành phần chủ yếu của quế là các loại tinh dầu nên thân cây quế cũng mang đặc trƣng đó. Đặc điểm của gỗ quế là rất chắc và dù dùng trong thời gian dài cũng không bao giờ bị mối mọt. Vậy nên, gỗ quế thích hợp cho việc chế tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay sản xuất các sản phẩm sinh hoạt tiêu dùng làm từ gỗ. Với những đặc điểm ƣu việt nhƣ trên, việc không tận dụng tối đa tiềm năng từ gỗ quế là một sự lãng phí rất lớn. 1.2 Sản phẩm từ quế mới chỉ là sản phẩm nguyên liệu thô Tính đến thời điểm hiện tại, 100% sản phẩm từ quế của huyện Văn Yên là sản phẩm thô XK ra thị trƣờng nƣớc ngoài chủ yếu theo hình thức không trực tiếp sang những thị trƣờng nhƣ Trung Quốc và Đài Loan. Trong ngắn hạn, XK sản phẩm thô là một sự lựa tối ƣu nhất cho lợi ích trƣớc mắt của địa phƣơng. Tuy nhiên, xét trong dài hạn, XK sản phẩm thô với một mức giá dù cao hơn so với giá trung bình tại địa phƣơng nhƣng lại rẻ hơn so với giá trị thực và tiềm năng vốn có của sản phẩm đặc biệt này. Bên cạnh việc chỉ xuất ra thị trƣờng các sản phẩm nguyên liệu thô, hƣớng phát triển tiến bộ hơn cho cây quế huyện Văn Yên là phải sản xuất ra đƣợc sản phẩm cuối cùng. Nguyên nhân của vấn đề trên chủ yếu do sự thiếu thốn trong vấn đề vốn, cơ sở hạ tầng, công nghệ sản xuất, phƣơng thức sản xuất, máy móc và trang thiết bị. 1.3 Hình thức xuất khẩu còn nhiều hạn chế Trong ba hình thức XK chủ yếu là: XK trực tiếp, XK ủy thác và XK tại chỗ thì hình thức XK ủy thác vẫn là hình thức XK chủ yếu tại Văn Yên. Tiếp theo đó là hình thức XK trực tiếp. Tuy nhiên, hai hình thƣc XK này tạo ra những hạn chế lớn đối với giá trị kinh tế đem lại cho ngƣời dân trồng quế và kinh doanh quế cũng nhƣ đối với sự PTBV ngành quế địa phƣơng. Trong hoạt động XK ủy thác, hình thức những đơn vị, hộ gia đình chế biến quế đóng vai trò vừa là ngƣời sản xuất đơn hàng, vừa là đối tác của ngƣời XK là phổ biến. Do qua một khâu trung gian và lại

42

hoàn toàn không có thông tin về thị trƣờng cuối cùng mà sản phẩm của mình XK sang nên ngƣời dân hoàn toàn không thể chủ động về giá cả. Còn đối với hình thức XK trực tiếp, thị trƣờng XK chủ yếu là thị trƣờng Trung Quốc bởi lý do về chuyển giao máy móc kỹ thuật (trong chiết xuất tinh dầu) và quan hệ buôn bán đã có với thƣơng nhân Trung Quốc. Tuy nhiên, giá trị XK vẫn chƣa xứng đáng với giá trị thực của quế. Nguyên nhân trực tiếp của sự hạn chế trên là do sự yếu kém trong việc xúc tiến và mở rộng thị trƣờng xuất khẩu và nguyên nhân sâu xa là sự hạn chế về trình độ và nguồn nhân lực vế lĩnh vực XNK nói chung. 1.4 Ứng dụng khoa học kỹ thuật chưa cao Đối với vùng trồng nguyên liệu, giống cây là một nhân tố hết sức quan trọng. Tuy nhiên, mặc dù đã có những nghiên cứu về sự kết hợp bảo tồn nguồn gen quý với kỹ thuật hiện đại, tạo ra giống quế cho sản lƣợng tinh dầu và quế vỏ cao hơn nhƣng trên thực tế vẫn chƣa đƣợc thử nghiệm và áp dụng. Giống quế đƣợc sử dụng vẫn là những hạt giống đƣợc thu nhặt từ những cây quế già và ƣơm trồng. Do vậy, cây giống không đƣợc đảm bảo hoàn toàn về chất lƣợng. Nguyên nhân của hiện tƣợng trên là do sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa nghiên cứu khoa học và áp dụng thực tiễn cũng nhƣ sự chậm trễ của cơ quan quản lý địa phƣơng trong việc thi hành những chính sách hỗ trợ giống cho bà con vùng trồng quế. Đối với khu vực sản sản xuất và chế biến sản phẩm quế vỏ, phƣơng pháp lao động áp dụng chủ yếu là phƣơng pháp lao động thủ công và dựa hoàn toàn vào sức lao động của con ngƣời. Do không có sự hỗ trợ về máy móc, kỹ thuật nên phƣơng pháp này thực sự tốn nhiều thời gian và sức lao động của con ngƣời, đồng thời dễ dẫn đến khả năng giảm chất lƣợng sản phẩm quế do sản phẩm không đƣợc bảo quản ở những điều kiện tốt nhất khi thời gian sơ chế diễn ra quá lâu. 2. Về xã hội 2.1 Lao động việc làm theo thời vụ, không có tính ổn định Xét về vấn đề việc làm trong ngành quế huyện Văn Yên, ta có thể dễ dàng nhận thấy cầu về lao động chủ yếu tập trung tại hai vụ: vụ quế 3 và vụ quế 8 trong thời gian mỗi vụ kéo dài khoàng 3-4 tháng. Thời gian còn lại trong năm, những cơ sở

43

sản xuất quế vỏ hoặc sẽ bỏ không, hoặc chuyển sang kinh doanh tạm thời một số mặt hàng khác. Nhƣ vậy, những hộ gia đình và HTX tham gia chế biến và kinh doanh quế vỏ dƣờng nhƣ không có đƣợc sự chuyên biệt trong sản xuất, còn những lao động thời vụ cũng không duy trì đƣợc tính ổn định trong vấn đề thu nhập cá nhân. 2.2 Chất lượng lao động thấp Lao động chủ yếu trong ngành sản xuất và chế biến các sản phẩm từ quế hiện nay mới chỉ là lao động phổ thông. Khi tuyển lao động vào làm việc tại các nhà máy chiết xuất tinh dầu, hầu hết các lao động yêu cầu phải có kiến thức am hiểu về máy móc và trang thiết bị. Tuy nhiên, khi đi vào vận hành thực tế, bộ phận lao động này đều phải đƣợc đào tạo lại. Mặt khác, tại khu vực chế biến quế vỏ, khi đơn đặt hàng yêu cầu sản phẩm quế kẹp, một sản phẩm đòi hỏi tay nghề và kỹ năng cao thì lao động địa phƣơng lại hoàn toàn không đáp ứng đƣợc nhu cầu mà phải thuê mƣớn lao động tại những vùng quế khác có kĩ năng và tay nghề cao hơn. Nguyên nhân của vấn đề nêu trên một phần là do vấn đề học tập và học nghề của lao động địa phƣơng chƣa đủ nghiêm túc và hiệu quả để sử dụng kiến thức học tập vào thực tế, một phần khác có thể do định hƣớng đào tạo nghề của địa phƣơng đủ tính nghiêm túc, lâu dài và sát với thực tế. Bên cạnh đó, trình độ dân trí ngƣời dân khu vực vùng cao nơi đây đa phần còn nhiều rất nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, để phát triển hoạt động kinh doanh XK ra thị trƣờng nƣớc ngoài, các đơn đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động tri thức có trình độ ngoại ngữ, có kiến thức về kinh tế, tài chính và xuất nhập khẩu vững chắc. Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, 100% các đơn vị kể trên không thu hút đƣợc nguồn nhân lực trẻ đƣợc học tập và đào tạo bài bản về các vấn đề kể trên. Nguyên nhân của hiện tƣợng này một phần là sự hời hợt trong chính sách tuyển mộ và đãi ngộ xứng đáng cho lao động tri thức tại địa phƣơng, một phần lớn khác xuất phát từ tâm lý của các bạn trẻ tốt nghiệp các trƣờng đại học, cao đẳng thuộc các lĩnh vực kể trên không sẵn sàng trở lại phát triển vùng quê nông thôn miền núi nghèo không đầy đủ những điều kiện làm việc, phát triển, thăng tiến, điều kiện sinh hoạt, vui chơi, giải trí văn minh, tiến bộ nhƣ tại các thành phố lớn.

44

2.3 Bất bình đẳng trong thu nhập Tại khu vực miền núi Văn Yên, sự bất bình đẳng thu nhập thƣờng có thể nhận thấy rõ nhất khi so sánh thu nhập bình quân của ngƣời dân sống tại khu vực thị trấn, xã trung tâm với khu vực nông thôn vùng cao xa địa bàn trung tâm. Tuy nhiên, sự bất bình đẳng trong thu nhập vùng quế Văn Yên lại đƣợc thể hiện rõ nét nhất ngay tại khu vực các xã vùng cao trồng cây nguyên liệu quế. Tại các xã trồng quế nhƣ Phong Dụ Thƣợng, Phong Dụ Hạ, Xuân Tầm, Mỏ Vàng, Nà Hẩu, Quang Minh, Viễn Sơn, Đại Sơn, trong khi có những hộ gia đình có thu nhập từ quế từ vài chục đến hơn trăm triệu đồng một năm thì vẫn còn trên 50% số hộ thuộc diện hộ nghèo và khoảng 9% thuộc diện cận nghèo. Nguyên nhân chủ yếu của sự chênh lệch trên vẫn xuất phát từ sự lạc hậu trong đời sống sinh hoạt và sản xuất của đại bộ phận bà con dân tộc ít ngƣời vùng cao nơi đây. Khu vực sinh sống là địa bàn rừng núi quá cao và hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn cũng là nguyê nhân gây nên sự hạn chế trong khả năng tiếp cận thông tin, học tập và cải tiến kỹ thuật canh tác. Mặt khác, sự bất bình đẳng thu nhập còn xảy ra giữa ngƣời dân trồng quế và thƣơng nhân thu mua và buôn bán quế. Hầu hết phƣơng thức thu mua sản phẩm chính là quế vỏ trên địa bàn huyện Văn Yên là thu mua ngay tại vùng trồng nguyên liệu. Do những hạn chế về thông tin giá cả và thị trƣờng sản phẩm quế, ngƣời dân vùng trồng nguyên liệu khó có thể định giá đƣợc cho sản phẩm của mình và hơn thế nữa, ngoài việc bán sản phẩm cho các thƣơng nhân và HTX , họ hoàn toàn không thể tự tìm kiếm đầu ra cho cây quế. Do vậy, ngƣời dân hoàn toàn thụ động về giá cả sản phẩm của mình. Từ đó,hiện tƣợng “ép giá” xảy ra và là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng giữa thu nhập khu vực vùng trồng nguyên liệu và thu nhập khu vực kinh doanh. Bên cạnh đó, do thiếu vốn nên phần đông hộ gia đình trồng quế chọn cách trồng đồi quế đến khoảng 5 năm tuổi rồi bán cho những hộ hoặc thƣơng nhân khác có điều kiện kinh tế tốt hơn để có tiền mƣu sinh. Vì vậy, giá trị tận thu đƣợc của ngƣời trồng quế là không cao trong khi những ngƣời giàu có lại tăng thêm đƣợc phần nhiều thu nhập của mình.

45

2.4 Nhận thức và tầm nhìn của người dân còn nhiều hạn chế Khu vực vùng trồng nguyên liệu quế là khu vực mà trƣớc đây đời sống kinh tế của ngƣời dân hết sức khó khăn. Do đó, mục tiêu hàng đầu của họ là làm sao kiếm đƣợc tiền để đảm bảo cuộc sống của gia đình. Điều đó đã tạo nên một tâm lý chung là sẵn sàng hƣớng đến những cơ hội mang lại lợi ích kinh tế trƣớc mắt cao hơn và gần nhƣ không có tầm nhìn rộng cho tƣơng lai. Do vậy, cây quế đƣợc khai thác không có kế hoạch cụ thể mà thƣờng dựa vào nhu cầu kinh tế trong năm của ngƣời trồng quế; hay trƣờng hợp ngƣời dân đổ dồn khai thác khi thấy năm trƣớc giá lên cao khiến cho cung dƣ thừa, giá giảm; hoặc trƣờng hợp chặt đồi quế non để bán làm nguyên liệu chiết xuất tinh dầu khi thấy giá nguyên liệu tăng nhanh, phá đồi quế trồng sắn khi thấy giá sắn lên cao mà lại chỉ trồng ngắn ngày. Nguyên nhân của những vấn đề trên là do sự hạn chế trong hiểu biết về những kiến thức liên quan đến thị trƣờng, buôn bán và kinh doanh của ngƣời dân cũng nhƣ những hạn chế trong chính sách định hƣớng phát triển cho ngƣời dân vùng quế. 3. Về môi trƣờng 3.1 Khói thải công nghiệp chưa được xử lý triệt để Tại các nhà máy sản xuất tinh dầu quế, khói thải công nghiệp đƣợc thải ra trong quá trình đốt nguyên liệu, nhiên liệu tạo nhiệt chƣa đƣợc xử lý chƣa triệt để. Khói thải ra môi trƣờng mang nồng độ bụi và tạp chất bên trong. Dù đã có hệ thống phun nƣớc làm giảm nồng độ bụi, tuy nhiên, các thành phần độc hại khác từ khí thải vẫn thải ra môi trƣờng. Những cột khói đen từ nhà máy chế biến tinh dầu ít nhiều cũng đã gây ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng không khí, môi trƣờng tự nhiên nói chung và môi trƣờng sống của khu dân cƣ xung quanh nói riêng. 3.2 Kế hoạch phát triển tài nguyên rừng và trồng mới rừng nguyên liệu đạt kết quả thấp Diện tích chủ yếu của vùng cao Văn Yên là rừng núi. Vì vậy, việc tăng tỷ lệ che phủ của rừng và trồng mới các loại rừng phòng hộ, rừng sản xuất và bảo vệ rừng nguyên sinh hằng năm là hết sức quan trọng. Nhƣng trong thời gian vừa qua, kế hoạch mở rộng diện tích đất rừng hàng năm vẫn chƣa đƣợc thực hiện một cách triệt để khiến diện tích rừng hàng năm tăng lên không nhiều. Bên cạnh đó, tại một số địa bàn vùng
46

sâu vùng xa vẫn xảy ra một số hiện tƣợng chặt phá rừng bừa bãi để mƣu sinh hay đốt nƣơng làm rẫy, du canh du cƣ của một số bà con dân tộc thiểu số khiến cho sự mất cân bằng sinh thái xảy ra và ảnh hƣởng trực tiếp đến bà con sống tại khu vực này. Hiện tại, vùng nguyên liệu đƣợc trồng chủ yếu dựa trên đất khai hoang của bà con vùng núi từ nhiều năm trƣớc. Với những chính sách mở rộng diện tích đất trồng quế theo hình thức chủ yếu là giao đất giao rừng. Tuy nhiên, diện tích rừng khoán trong tổng số diện tích đất quế là không nhiều. Bên cạnh đó, sự quy hoạch của chính quyền chỉ mang tính chất khuyến khích và không triệt để dẫn đến hiện tƣợng đất trồng quế qua các năm diện tích không tăng lên nhiều hay bà con các vùng khác phá cây trồng để trồng quế khi thấy giá trị kinh tế lên cao dù nhận thức đƣợc đất đai thổ nhƣỡng không hoàn toàn phù hợp.

47

CHƢƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY QUẾ HUYỆN VĂN YÊN – TỈNH YÊN BÁI I. Quan điểm – mục tiêu chiến lƣợc Phát triển bền vững cây quế Văn Yên Chiến lƣợc PTBV cây quế Văn Yên dựa trên những nguyên tắc cơ bản của PTBV và áp dụng linh hoạt những nguyên tắc ấy vào điều kiện thực tại của địa phƣơng nhƣ: nâng cao nhận thức ngƣời dân vùng núi về vấn đề tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng, làng bản, địa phƣơng, cải thiện chất lƣợng cuộc sống và con ngƣời của cộng đồng, giữ gìn và bảo vệ sức sống và tính đa dạng của hệ sinh thái rừng, sử dụng các nguồn tài nguyên hợp lý, giữ vững khả năng chịu đựng của Trái đất bằng cách tiết kiệm và tái tạo những nguồn tài nguyên, thay đổi tập tục và thói quen lạc hậu của bà con vùng cao, nâng cao vai trò ngƣời dân trong việc tự quản lý môi trƣờng, thực hiện nhất quán chính sách PTBV từ TW đến địa phƣơng. Chiến lƣợc PTBV cây quế Văn trong thời gian tới cần đảm bảo thực hiện tốt những mục tiêu lớn nhƣ bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trƣờng, phát huy những tiềm năng thế mạnh của địa phƣơng, khắc phục những khó khăn đang gặp phải và đƣa ra những giải pháp hiệu quả đƣơng đầu với những thách thức sắp tới trên cơ sở những quan điểm nhất quán nhƣ sau: Giữ vững ổn định chính trị – xã hội trên địa bàn. Thực hiện chính sách phát triển cây quế trở thành cây trồng mũi nhọn của địa phƣơng giúp ngƣời dân xóa đói giảm nghèo. Chú trọng phát triển ngành quế bao gồm ngành công nghiệp chế biến và ngành kinh doanh các sản phẩm từ quế nhất quán với sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hƣớng xã hội chủ nghĩa của địa phƣơng, chớp thời cơ, cơ hội mở rộng quan hệ giao lƣu, hợp tác với những khu vực kinh tế khác, tạo mọi điều kiện tốt nhất thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp vào ngành quế. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong ngành trồng, chế biến, sản xuất và kinh doanh quế phát triển. Chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất hình

48

thức kinh tế hộ gia đình, đặc biệt là những gia đình vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn. Quan trọng nhất, tập trung phát triển hình thức kinh tế HTX, doanh nghiệp và đặc biệt là các Cty TNHH. Tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các thành phần kinh tế trên có đủ điều kiện và khả năng phát triển. Đồng thời, tạo ra mối liên kết giữa các thành phần này thông qua sự hoạt động có hiệu quả của Hiệp hội trồng, sản xuất, chế biến và kinh doanh quế. Áp dụng triệt để sự phát triển khoa học – công nghệ nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hƣớng CNH – HĐH gắn liền với tăng trƣởng nhanh ngành quế Văn Yên. Tăng giá trị sản xuất ngành quế tại khu vực ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ quế. Coi chất lƣợng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh sản phẩm quế là ƣu tiên hàng đầu. Đồng thời, chú trọng công tác giáo dục và đào tạo đội ngũ lao động địa phƣơng có chất lƣợng cao và thu hút nguồn lao động tri thức tham gia vào ngành nhiều hơn. Tạo sự đồng thuận xã hội với các mục tiêu của phát triển bền vững bằng cách đảm bảo hài hòa những lợi ích của cá nhân và của cộng động. Nâng cao hiệu quả kinh tế ngành quế phải kết hợp hài hòa với thực hiện bền vững xã hội với các nội dung thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo và nâng cao nhận thức của bà con dân tộc vùng cao, giảm bớt chênh lệch mức sống, bất bình đẳng thu nhập và giải quyết triệt để các vấn đề xã hội, đồng thời chú trọng phát triển văn hóa vùng miền. Phải đặc biệt quan tâm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cƣờng quốc phòng, an ninh tại địa phƣơng. Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trƣờng sinh thái, quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng, đảm bảo phát triển bền vững môi trƣờng. Chú trọng phát triển và mở rộng diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất tự nhiên và đặc biệt bảo tồn rừng nguyên sinh. Tăng cƣờng công tác quản lý và xử lý phế thải, chất thải cả khu vực khu dân cƣ và khu vực sản xuất công nghiệp nhằm đảm bảo môi trƣờng sống cho con ngƣời và tính bền vững của môi trƣờng trong tƣơng lai.

49

II. Một số giải pháp Phát triển bền vững cây quế Văn Yên: 1. Nhóm giải pháp kinh tế 1.1 Thu hút vốn đầu tư vào địa phương Có thể nhận thấy, tất cả những vấn đề cây quế Văn Yên gặp phải từ vùng trồng nguyên liệu đến vùng sản xuất, chế biến và kinh doanh đƣợc trình bày trong phần phân tích thực trạng PTBV cây quế Văn Yên đều xuất phát từ vấn đề thiếu vốn. Do vậy, nhiệm vụ thu hút vốn đầu tƣ cả trong nƣớc và nƣớc ngoài trở thành nhiệm vụ hàng đầu trong nhóm giải pháp cho Chiến lƣợc này. Các cơ quan quản lý, việc kêu gọi đầu tƣ không nên chỉ ở mức độ giới thiệu, mời gọi đầu tƣ đơn thuần mà cần chủ động thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tƣ bằng cách tích cực đƣa sản phẩm quế ra các hội chợ thƣơng mại trong nƣớc và quốc tế để quảng bá và xây dựng thƣơng hiệu quế Văn Yên. Bên cạnh đó, chủ động tổ chức những buổi hội thảo giới thiệu sản phẩm quế Văn Yên, hội chợ giới thiệu sản phẩm nông lâm sản địa phƣơng. Nhất thiết cần phải khiến các nhà đầu tƣ thấy rõ đƣợc tầm quan trọng của mặt hàng quế trên thị trƣờng Thế giới, vị trí của quế Văn Yên trong thị trƣờng quế Việt Nam và giá trị tiềm năng mà sản phẩm này đem lại. Mặt khác, các đơn vị sản xuất kinh doanh cũng cần chủ động tìm kiếm đối tác và quảng bá các sản phẩm của mình tới các thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế qua các kênh thông tin điện tử, các kênh thƣơng mại điện tử, chào hàng trực tiếp đến với các bạn hàng và tăng cƣờng quan hệ hợp tác đầu tƣ, mua bán hàng hóa. 1.2 Mở rộng quy hoạch vùng trồng nguyên liệu Bên cạnh việc quy hoạch vùng trồng quế tại khu vực các xã vùng cao của huyện Văn Yên là Phong Dụ Thƣợng, Phong Dụ Hạ, Xuân Tầm, Mỏ Vàng, Nà Hẩu, Quang Minh, Viễn Sơn và Đại Sơn, những nơi có điều kiện tự nhiên phù hợp nhất với sự phát triển và sinh trƣởng của cây quế tạo nên sản phẩm quế vỏ có chất lƣợng cao, cần mở rộng vùng trồng nguyên liệu chuyên biệt cung cấp cành và lá quế cho các nhà máy chế biến tinh dầu tại các xã, thị trấn lân cận các nhà máy chế biến tinh dầu quế đặt tại xã Đông Cuông, Hoàng Thắng và Dụ Thƣợng. Cây quế tại vùng quy hoạch trồng làm nguyên liệu chế biến tinh dầu sẽ chỉ trồng trong thời gian ngắn để tận thu cành, lá và thân quế nhỏ phục vụ sản xuất tinh dầu quanh năm.
50

Chú trọng xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng vùng quế thông qua những chƣơng trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội địa phƣơng nông thôn miền núi. Tận dụng những chƣơng trình, những dự án hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ để khắc phục tình trạng giao thông đi lại khó khăn, cơ sở vật chất, hạ tầng nông thôn yếu kém. Bên cạnh đó, việc khắc phục khó khăn này không chỉ nên trông chờ ở địa phƣơng và các chƣơng trình dự án của chính phủ, mà cần nhận đƣợc sự đóng góp tiền của của của chính bà con nông dân vùng trồng nguyên liệu và những đơn vị sản xuất, chế biến và kinh doanh các sản phẩm từ quế, những ngƣời có lợi ích sát sƣờn đối với loại cây này. Giải pháp này chỉ có thể đƣợc thực hiện nếu có sự thống nhất và liên kết cao giữa các thành phần kinh tế trong ngành quế vì một mục đích phát triển kinh tế dài lâu cho cây quế. 1.3 Mở rộng hoạt động sản xuất chế biến các sản phẩm từ quế Tại vùng trồng nguyên liệu ở các xã vùng cao giao thông đi lại khó khăn, giải pháp trƣớc mắt cần phát triển vùng sản xuất chế biến ngay tại chỗ. Để tận dụng tối đa nguyên liệu cành lá quế tỉa hàng năm không đƣợc tận thu, các hộ gia đình có thể thực nghiệm mô mình chiết xuất tinh dầu ngay tại hộ gia đình. Tuy nhiên, nếu sử dụng mô hình chiết xuất theo phƣơng pháp thủ công, lƣợng tinh dầu bay hơi trong quá trình chiết xuất là rất nhiều, làm giảm chất lƣợng sản phẩm. Do đó, đầu tƣ hệ thống trang thiết bị ở mô hình nhỏ phù hợp với quy mô hộ gia đình là giải pháp tốt nhất để khắc phục vấn đề nói trên. Tại khu vực sản xuất và chế biến các sản phẩm từ quế, bên cạnh việc duy trì và nâng cao các hoạt động chế biến sản xuất sản phẩm thô, đồng thời, nghiên cứu việc mở rộng sản xuất những sản phẩm tiêu dùng làm từ quế nhƣ gia vị quế, các sản phẩm khử mùi từ quế, lót giày quế... Ngoài ra, phát triển những sản phẩm làm từ gỗ quế nhƣ sản phẩm đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ, tăm quế... Việc phát triển thêm các sản phẩm từ quế kể trên sẽ góp phần làm tăng cầu việc làm, giúp giải quyết công ăn việc làm tại địa phƣơng và quan trọng hơn cả là giải quyết tình trạng nhàn rỗi giữa các vụ quế tại các cơ sở sản xuất và giảm bớt tình trạng lao động ngành quế chủ yếu là thời vụ khiến thu nhập ngƣời dân bất ổn định.

51

Bên cạnh đó, trên tất cả các khu vực sản xuất ngành quế, cần tăng cƣờng xây dựng hệ thống nhà kho khoa học và hợp lý nhằm đảm bảo chất lƣợng của quế không chỉ trong mùa vụ mà còn có thể bảo quản từ vụ này qua vụ khác trong trƣờng hợp giá quế năm đó không cao và không đủ chi phí cho việc sản xuất của ngƣời dân, Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, tất cả những nhà kho tại các cơ sở chế biến và sản xuất đều đƣợc xây dựng dựa trên kinh nghiệm của ngƣời kinh doanh quế. Do đó, sản phẩm vẫn bị giảm hàm lƣợng tinh dầu và mùi thơm, chất lƣợng không đƣợc đảm bảo nên nhất thiết phải cần đến sự giúp đỡ của các đơn vị nghiên cứu để đƣa ra một tiêu chuẩn phù hợp cho hệ thống nhà kho bảo quản quế. 1.4 Tăng cường khả năng ứng dụng khoa học công nghệ Đối với vùng trồng nguyên liệu, bên cạnh những kinh nghiệm trồng quế lâu năm của bà con địa phƣơng, cần áp dụng mạnh mẽ hơn nữa tiến bộ khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ trong phƣơng pháp chọn giống cũng nhƣ kỹ thuật gieo trồng. Mạnh dạn áp dụng những nghiên cứu về giống quế mới trên cơ sở phát triển nguồn gen quý nhƣng cho năng suất tinh dầu cao vào thực tế. Bên cạnh đó, thực nghiệm những nghiên cứu về quá trình sinh trƣởng nhƣ những yêu cầu về yêu cầu dinh dƣỡng, mật độ trồng, ánh sáng, độ ẩm…của quế vào thực tế để phát huy tối đa khả năng phát triển của quế. Đặc biệt chú ý phổ cập và lan rộng hình thức nông – lâm kết hợp trong 3 năm đầu, trồng quế xen kẽ với trồng sắn để tăng bong dâm cho quế, hạn chế cây bụi mọc, giữ đất giữ nƣớc và hơn nữa tăng thu nhập cho bà con trồng quế. Hơn thế nữa, đầu tƣ bón phân đúng cách và hợp lý cũng là một biên pháp hữu hiệu cho sự phát triển lâu dài của cây quế. Đối với khu vực sản xuất và chế biến các sản phẩm từ quế, ứng dụng khoa kỹ thuật cần đƣợc áp dụng mạnh mẽ hơn nữa bằng việc áp dụng những công nghệ chế biến và thiết bị máy móc sản xuất hiện đại. Cho đến thời điểm hiện tại, những công nghệ chế biến các sản phẩm từ quế và máy móc thiết bị hầu nhƣ còn rất hạn chế. Do vậy, giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là hợp tác với các đơn vị nƣớc ngoài chuyển giao máy móc kỹ thuật và công nghệ hiện đại để tiếp thu những thành quả khoa học kỹ thuật của thế giới, nâng cao chất lƣợng các sản phẩm của quế Văn Yên

52

theo hƣớng đa dạng hóa các sản phẩm chế biến từ quế vỏ, nâng cao hàm lƣợng Aldehyt Cinnamic trong chế biến tinh dầu và quan trọng hơn cả là sản xuất ra những mặt hàng tiêu dùng cơ bản từ quế để đƣa ra thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Đối với hoạt động kinh doanh, giải pháp sau đây mang tính chất tham khảo và sẽ có khả năng áp dụng khi có đủ điều kiện về nguồn nhân lực và khả năng cập nhật thông tin. Đó là việc sử dụng những nghiên cứu về cung cầu thị trƣờng và những tác động khác của nền kinh tế để có thể dự báo cầu về sản lƣợng quế cũng nhƣ sự biến đổi về giá cả mặt hàng quế trên thế giới. Đồng thời thực hiện những nghiên cứu trong hành vi ngƣời tiêu dùng, tìm và tạo ra những nhu cầu mới của chính thị trƣờng trong nƣớc đối với sản phẩm quế để phát triển mặt hàng quế không chỉ trên thị trƣờng xuất khẩu mà còn cả thị trƣờng tiêu dùng trong nƣớc. 1.5 Tăng cường hoạt động xuất khẩu trực tiếp Công tác xuất khẩu trực tiếp quế ra thị trƣờng nƣớc ngoài với những thị trƣờng tiềm năng nhƣ Mỹ, Ấn Độ, Mexico… cần đƣợc chú trọng và quan tâm hơn nữa. Muốn thực hiện đƣợc điều đó, nhất thiết phải quan tâm đến công tác tìm kiếm thông tin thị trƣờng, tìm kiếm đối tác. Phải để sản phẩm quế Văn Yên nói riêng và quế Việt Nam nói chung gia nhập vào thị trƣờng các tập đoàn gia vị hàng đầu thế giới và chứng minh đƣợc chất lƣợng ổn định cũng nhƣ nguồn cung dồi dào của sản phẩm này. Mạnh dạn mở rộng và tận dụng quan hệ hợp tác với các đối tác nƣớc ngoài. Sẵn sàng hợp tác theo hƣớng trao đổi máy móc, khoa học kỹ thuật, nhập khẩu trang thiết bị công nghệ, xuất khẩu sản phẩm.. Về phía cơ quan tổ chức địa phƣơng, cần tổ chức việc kiểm soát chất lƣợng quế xuất khẩu ra thị trƣờng trên cả hai sản phẩm quế vỏ và tinh dầu quế để đảm bảo đúng chất lƣợng của quế Văn Yên. Hạn chế đến mức tối đa công tác xuất khẩu, mua bán nhỏ lẻ và manh mún nhƣ hiện tại của các hộ gia đình, HTX. Tăng cƣờng hoạt động XK với số lƣợng lớn với mức giá trị xứng đáng với tiềm năng thực sự của cây quế Văn Yên. Giải pháp này có thể thực hiện bằng cách cấp phép XK cho một số những đơn vị nhất định có đủ khả năng giao dịch, tìm kiếm và hợp tác với các đối

53

tác nƣớc ngoài, có đủ kiến thức và năng lực xuất khẩu. Các đơn vị trên sẽ là đầu mối xuất khẩu của cả vùng quế Văn Yên. Đối với các thành phần kinh tế tham gia vào ngành quế địa phƣơng, cần phối hợp tốt với các chính sách của cơ quan quản lý vì lợi ích kinh tế lâu dài của sản phẩm quế. Các sản phẩm quế sau khi thu mua, chế biến nên tập trung về một đầu mối lớn nhất định tại các cơ sở đơn vị đƣợc cấp phép XK để khi sản phẩm XK ra thị trƣờng sẽ giảm đƣợc chi phí giao dịch, đảm bảo đƣợc cả về chất lƣợng và kiểm soát đƣợc giá cả bán ra. Đây là điều có lợi cho không chỉ những ngƣời thu mua, nhà XK mà cho cả kim ngạch XK của kinh tế địa phƣơng. Do vậy, các thành phần kinh tế phải nhận thức rõ đƣợc tất cả các mặt của vấn đề để cùng thực hiện chiến lƣợc vì lợi ích của cá nhân, cộng đồng và cả sự phát triển dài lâu của cây quế. 1.6 Xây dựng khối liên kết ngành tại địa phương Trong nội bộ ngành quế Văn Yên, cần có sự hợp tác giữa các khu vực trồng, sản xuất, chế biến và kinh doanh thông qua Hiệp hội trồng, sản xuất, chế biến và kinh doanh quế Văn Yên. Các bộ phận này phải có mối liên hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau. Do khu vực sản xuất và kinh doanh thƣờng bao gồm những đơn vị có tiềm lực kinh tế mạnh hơn nên đây sẽ là bộ phận giữ mối liên kết hộ trợ và tạm ứng về vốn cho khu vực trồng cây nguyên liệu theo cam kết và hợp đồng thu mua sản phẩm có trƣớc. Bên cạnh đó, các bộ phận trong ngành quế sẽ cùng phải nhất trí đồng lòng hi sinh một phần lợi ích cá nhân để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, đƣờng xá phục vụ mục đích chung. Bên cạnh đó, giải pháp có khả năng sẽ thực thi tốt đó là xây dựng Quỹ Tín dụng các hộ trồng, chế biến, sản xuất và kinh doanh quế nhằm giúp đỡ kịp thời những hộ gia đình khó khăn về vấn đề vốn sản xuất. Hơn thế nữa, cần tận dụng những mối liên kết ngành quế với các ngành sản xuất khác trên địa bàn huyện Văn Yên nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung. Một trong số những mối liên kết có thể vận dụng đó là liên kết ngành quế với các Nhà máy sản xuất giấy của địa phƣơng để cùng nghiên cứu sản xuất ra sản phẩm giấy đa dụng hƣơng quế hay liên kết với Công ty dƣợc phẩm Yên Bái để tiêu thụ sản phẩm quế dùng cho sản xuất dƣợc liệu. Bên cạnh đó, hoàn toàn có thể tận dụng và phát huy tiềm năng du lịch tại địa bàn có nhiều di tích lịch sử và đền chùa nổi tiếng thu

54

hút nhiều khách du lịch địa phƣơng ngay nhƣ Văn Yên để bán sản phẩm đặc sản đặc trƣng và quảng bá ra thị trƣờng ngoài. 2. Nhóm giải pháp xã hội 2.1 Nâng cao chất lượng nguồn lao động, chính sách thu hút lao động Thứ nhất, áp dụng triệt để phƣơng thức đào tạo nguồn lao động gắn liền với nhu cầu phát triển của thực tiễn. Giải pháp trƣớc mắt cho các vấn đề lao động việc làm tại địa phƣơng đó là gắn đào tạo các lớp dạy nghề tại địa phƣơng với nhu cầu lao động tại các đơn vị sản xuất chế biến và nhà máy sản xuất. Đồng thời, tăng cƣờng mối liên kết giữa các đơn vị đào tạo và đơn vị tiếp nhận bằng những cam kết về vấn đề việc làm tại các đơn vị sản xuất và chất lƣợng trình độ lao động đào tạo ra. Thứ hai, nâng cao chất lƣợng lao động thủ công tay nghề cao đối với những sản phẩm yêu cầu trình độ cao nhƣ quế kẹp bằng cách mở những lớp dạy nghề từ những nghệ nhân. Học tập và phát triển những tinh hoa trong làm nghề của các địa phƣơng vùng quế khác để ứng dụng và phát huy tại địa phƣơng. Thứ ba, thu hút nguồn lao động tri thức để phát triển nghiệp vụ xuất nhập khẩu tại địa phƣơng bằng những chính sách đãi ngộ và lƣơng thƣởng hợp lý. Mạnh dạn đầu tƣ vào bộ phận nguồn nhân lực có tri thức này. Hơn thế nữa, phải mở ra cho họ thấy con đƣờng rộng mở và tiềm năng của vùng quế Văn Yên, xây dựng cho họ niềm tin và hoài bão xây dựng quê hƣơng giàu đẹp và lớn mạnh bằng chính những sản vật tiềm năng của quê hƣơng. Thứ tƣ, cần nhận thức rằng không chỉ có những ngƣời làm kinh doanh mới cần có kiến thức về kinh tế mà cả những ngƣời dân tại vùng trồng quế cũng cần phải hiểu những kiến thức cơ bản về cung cầu và sự vận hành của thị trƣờng. Những lớp học ngắn hạn về những vấn đề trên cần phải đƣợc tổ chức để họ không còn giữ lối suy nghĩ nông cạn và tự phát, chỉ chú trọng lợi ích trƣớc mắt mà không tính đền lợi ích lâu dài. 2.2 Giải pháp nâng cao dân trí: Muốn PTBV, đại bộ phận ngƣời dân vùng cao cần phải có đƣợc nhận thức và trình độ dân trí đạt mức phổ cập. Tại khu vực vùng sâu vùng xa, cần chú trọng vấn
55

đề xóa nạn mù chữ và tái mù chữ đối với bà con vùng đồng bào miền núi, nhất là đối tƣợng thanh niên. Chính quyền địa phƣơng cần chú trọng hơn nữa về việc tu bổ, tu sửa, xây dựng trƣờng lớp và vấn đề giáo viên. Bên cạnh đó, xây dựng chƣơng trình phù hợp với ngƣời học nơi đây để đạt đƣợc kết quả cao hơn. Áp dụng đa dạng hóa các hình thức đào tạo, tăng cƣờng lớp bổ túc văn hóa, xây dựng tủ sách khoa học - kỹ thuật và pháp luật ngay tại địa phƣơng cho bà con. Nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần bằng những hoạt động bổ ích, văn minh. Vấn đề quan trọng nhất trong đó là trƣớc tiên phải khiến cho ngƣời dân nơi đây hiểu đƣợc tầm quan trọng của sự tích lũy kiến thức và thay đổi nhận thức tới đời sống và sức khỏe của bản thân và con cái sau này. Hơn thế nữa, nâng cao dân trí cho ngƣời dân vùng trồng quế để tiếp tục phát huy hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội miền núi, và đặc biệt là vùng trồng quế của đồng bào dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới. Tập trung đầu tƣ phát triển kết cấu hạ tầng, trƣớc hết là đầu tƣ xây dựng các tuyến giao thông huyết mạch kết nối của vùng, liên vùng với chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng mức hỗ trợ vốn, khoa học kỹ thuật đối với vùng dân tộc thiểu số gắn với việc giải quyết vấn đề nhà ở, đất ở, đất canh tác. Quy hoạch, bố trí lại dân cƣ ở những vùng đặc biệt khó khăn. Ngoài ra, tập trung phát triển nguồn nhân lực, giáo dục, nâng cao dân trí cho đồng bào. Triển khai công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức là ngƣời dân tộc thiểu số tại địa bàn vùng cao trồng quế; có chính sách ƣu đãi, khuyến khích nông dân phát triển kinh tế hộ gia đình, phát triển công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp truyền thống kết hợp trồng và phát triển cây quế. Nhanh chóng thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ, tự túc tự cấp sang sản xuất hành hóa. 3. Nhóm giải pháp tài nguyên môi trƣờng 3.1. Xử lý khói thải khu công nghiệp Xử lý khí thải công nghiệp tại các nhà máy chiết xuất tinh dầu bằng một số những phƣơng pháp khoa học đã đƣợc nghiên cứu để đảm bảo môi trƣờng khu công nghiệp và khu vực dân cƣ xung quanh bằng biện pháp công nghệ. Bên cạnh bộ phận phun nƣớc làm giảm nồng độ bụi trong khí thải thải ra môi trƣờng, các nhà máy sản xuất tinh dầu quế cũng cần có sự đầu tƣ riêng một hệ thống công nghệ xử lý khói thải theo mô hình của một số công ty môi trƣờng đã đƣa ra. Tuy sự đầu tƣ này là
56

không quá lớn so với lợi nhuận thu đƣợc từ các nhà máy chiết xuất tinh dầu nhƣng không phải đơn vị nào cũng sẵn sang đầu tƣ. Vậy nên, cần phải có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng và đƣa ra quy định nghiêm ngặt về khói thải, khí thải công nghiệp thải ra môi trƣờng cùng những yêu cầu kỹ thuật xử lý. Bên cạnh đó, các biện pháp quản lý đem lại hiệu quả tƣơng đối tốt trong việc ngăn ngừa ô nhiễm từ khói thải và xử lý khói thải từ đốt nhiên liệu nhƣng chỉ áp dụng đối với quy mô tiểu thủ công nghiệp và nhà máy nhỏ. Một số biện pháp quản lý có thể áp dụng nhƣ: không bố trí ống khói lò hơi ở các vị trí bất lợi nhƣ ở phía trên gió đối với cửa sổ của các nhà cao, không nhóm lò trong những giờ cao điểm có nhiều ngƣời tập trung; mồi lò bằng những nhiên liệu sạch dễ cháy nhƣ dầu lửa, không dùng cao su, nhựa…, bố trí cửa mái hoặc hệ thống gƣơng phản chiếu để ngƣời vận hành lò có thể nhìn thấy đỉnh ống khó, giảm việc tái nhóm lò nhiều lần bằng cách xả hơi dƣ thay vì tắt lò, không sơn ống khói bằng những màu gây kích thích thị giác nhƣ màu đen, đỏ, hạn chế sử dụng các loại nhiên liệu xấu làm phát sinh nhiều bụi và hơi khí thải nhƣ các loại gỗ có vỏ lụa, gỗ có ngâm tẩm hóa chất, cao su,… Đặc biệt, có thể đƣa chỉ tiêu vận hành lò không có khói đen vào tiêu chuẩn khen thƣởng những phân xƣởng sản xuất để khuyến khích tối đa tinh thần và thái độ làm việc bảo vệ môi trƣờng. 3.2 Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng: Việc bảo vệ và phát triển rừng trồng quế nói riêng và tài nguyên rừng nói chung cần hết sức chú trọng. Trong đó, tích cực thực hiện những chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến lâm, giao đất giao rừng và thực hiện các chính sách hƣởng lợi từ rừng cho ngƣời dân miền núi. Tuy nhiên, vẫn cần có các chính sách hỗ trợ khác nhƣ: tạo công ăn việc làm, đào tạo nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình cho đồng bào dân tộc, tạo đầu ra cho các sản phẩm nông lâm kết hợp, chế biến và bảo quản nông sản... Tiếp tục đổi mới hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp để đáp ứng nhu cầu cho công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Nhanh chóng xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp theo phƣơng thức tiếp cận dựa vào cộng đồng, trong đó mọi ngƣời dân đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nông lâm kết hợp, từ đó sẽ tạo đòn bẩy thúc đẩy sự tham gia của ngƣời dân

57

vào các hoạt động quản lý và bảo vệ rừng. Áp dụng tối da những giải pháp về kinh tế và xã hội với mục đích nâng cao đời sống kinh tế, xã hội cho ngƣời dân, giảm dần áp lực của ngƣời dân vào rừng, tạo cho ngƣời dân thói quen sử dụng các sản phẩm thay thế các sản phẩm truyền thống lâu nay vẫn lấy từ rừng, đồng thời, tạo sự phát triển bền vững cả về mặt sinh thái môi trƣờng cũng nhƣ về kinh tế, giúp ngƣời dân hƣởng lợi từ rừng một cách lâu dài và khoa học. Bên cạnh đó, tăng cƣờng sự phối hợp có hệ thống, có kế hoạch với các lực lƣợng liên quan để tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động về xâm hại tài nguyên rừng. Với công tác phòng cháy chữa cháy rừng, phải quán triệt phƣơng châm phòng là chính, chữa cháy kịp thời và hiệu quả. Xây dựng và duy trì hoạt động của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng tại các địa phƣơng. Có chính sách khen thƣởng và động viên kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân làm tốt công tác bảo vệ rừng. Song cơ bản nhất vẫn là phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển kinh tế xã hội, sử dụng rừng và hƣởng lợi từ rừng một cách bền vững và có hiệu quả lâu dài, có nhƣ vậy mới mong hạn chế và ngăn chặn đƣợc tình trạng phá rừng trái phép, xâm hại tài nguyên rừng. Đối với vùng trồng nguyên liệu quế, để đảm bảo khối lƣợng quế vỏ thu hoạch qua mỗi vụ dồi dào và ổn định về chất lƣợng, chính quyền địa phƣơng cần có những chính sách và biện pháp mạnh mẽ, triệt để và hiệu quả hơn nữa để tăng diện tích và chất lƣợng quế quế tại các vùng đã quy hoạch. Tuy nhiên, những biện pháp và chính sách đƣa ra không nên chỉ dừng ở mức độ khuyến khích, tuyên truyền ngƣời dân mà phải gắn kết nó với lợi ích và quyền lợi của ngƣời trồng quế tại địa phƣơng. Cụ thể nhƣ việc giao đất, giao rừng trồng quế đến tận tay ngƣời dân phải đi kèm với việc tạo điều kiện về giống quế, về học tập khoa học kỹ thuật trồng quế và vốn đầu tƣ ban đầu cho ngƣời dân, giúp họ ổn đinh cuộc sống và tận dụng đƣợc tối đa tài nguyên rừng tại địa bàn sinh sống để thoát nghèo. Bên cạnh đó, những biện pháp nhƣ liên kết ngƣời dân vùng trồng nguyên liệu với những đơn vị thu mua sản phẩm nhƣ ký kết hợp đồng ứng vốn, những cam kết hỗ trợ sản xuất và mua sản phẩm đầu cũng là một trong những biện pháp tốt giúp ngƣời dân vùng trồng quế ổn định đời sống kinh tế lâu dài và bền vững cho tƣơng lai sau này.

58

KẾT LUẬN Sự phát triển cây quế Văn Yên trong những năm vừa qua đã cho thấy tầm quan của loại cây này trọng vấn đề xóa đói giảm nghèo và thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi cao. Chúng ta có thể thấy rằng, trong hàng chục năm qua, nhờ có cây quế mà rất nhiều đồng bào dân tộc vùng cao Văn Yên đã có đủ cơm ăn, áo mặc, đã có điều kiện học hành và thay đổi chất lƣợng cuộc sống… Nền kinh tế địa phƣơng cũng đã có những sự thay đổi theo chiều hƣớng tích cực đáng kể khi có cơ hội giao lƣu với các nƣớc khác nhờ xuất khẩu. Nhƣng trên thực tế, giá trị cây quế Văn Yên có thể mang lại cho vùng đất nơi đây còn nhiều hơn thế. Quế Văn Yên là một loại cây lâm đặc trƣng của địa phƣơng có giá trị kinh tế cao nhƣng trên thực tế chƣa đƣợc phát huy đúng tiềm năng và năng lực vốn có của nó. Giống nhƣ sản vật cây gia vị nổi tiếng trên thị trƣờng Thế giới của địa phƣơng trên lãnh thổ Việt Nam nhƣ cà phê, cao su, thông nhựa, hạt tiêu… quế cần phải đƣợc quảng bá và xây dựng thƣơng hiệu rộng rãi hơn trên thị trƣờng quốc tế. Phát triển bền vững cây quế Văn Yên sẽ góp phần tăng cƣờng sự phát triển kinh tế địa phƣơng, góp phần xây dựng bền vững xã hội và cải thiện môi sinh môi trƣờng. Trong thời gian sắp tới, việc phát triển cây quế Văn Yên sẽ còn gặp nhiều khó khăn trên con đƣờng trở thành một cây mũi nhọn, một cây có khả năng xoá đói, giảm nghèo cho hàng trăm nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Vậy nên, đề tài nghiên cứu Chiến lƣợc Phát triển bền vững các sản phẩm từ cây quế Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái mong muốn sẽ góp phần nhỏ bé cho việc mở đầu định hƣớng phát triển lâu bền cho vùng đất đƣợc mệnh danh là “ vƣơng quốc quế” của cả nƣớc này.

59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Wikipedia – Phát triển bền vững http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1t_tri%E1%BB%83n_b%E1%BB%81n_v% E1%BB%AFn [2] Tatyana P. Soubbotina(2005), Không chỉ là Tăng trưởng kinh tế Nhập môn về Phát triển Bền vữn g, tr.10 [3] Chƣơng trình Nghị sự 21 của Việt Nam www.agenda21.monre.gov.vn [4] TS. Phạm Ngọc Linh và TS. Nguyễn Thị Kim Dung (2008) – Giáo trình Kinh tế phát triển , tr.191 [5] Bùi Thất Thắng (Tháng 7/2010), Phát triển kinh tế nhanh và bền vững – một số vấn đề lý luận, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 386 , tr.4 [6]TS. Lƣu Bách Dũng (tháng 3- 2008) Báo cáo khoa học đề tài : Nghiên cứu một số điển hình nông thôn miền núi Tây Bắc Phát triển bền vững, Ủy ban Dân tộc, tr.5 – tr.10 [7] Bùi Thất Thắng (Tháng 7/2010), Phát triển kinh tế nhanh và bền vững – một số vấn đề lý luận, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 386, trang 9 [8] Ủy ban nhân dân huyệ n Văn Yên (tháng 4/2009 ) Báo cáo tổng hợp dự án “Xác lập quyền đối với Chỉ dẫn địa lý Văn Yên cho sản phẩm quế của huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái , tr.13 [9] Bộ NN&PTNN (2006) Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác – Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương Lâm sản ngoài gỗ , tr.40 [10] International Trade Center Statistics http://www.trademap.org/tradestat/Country_SelProduct_TS.aspx [11] Website chính thức của UBND Huyện Văn Yên: http://www.yenbai.gov.vn/vi/org/htt /huyenvanyen/Pages/trangchu.aspx [12] Website quế Văn yên – Tỉnh Yên Bái www.quevanyen.com

60

[13] Cục thống kê tỉnh Yên Bái (Tháng 4 năm 2011) Niên giám thống kê huyện Văn Yên năm 2010 , Chi cục thống kê huyện Văn Yên [14] website quế Trà My: www.huongquexuquang.com. vn [15] Đỗ Mạnh Cƣờng (Tháng 12-2003) – Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam [16] Phạm Anh Tuấn (1998), Phát triển nghề trồng quế ở Việt Nam – tr.98 [17] Thông tin phỏng vấn từ các đối tƣợng: Ngƣời dân trồng quế: Trần Văn Thƣ – hộ trồng quế Hoàng Thắng. Trần Thị Liệu – hộ trồng quế Ngòi A Nguyễn Văn Quyết - hộ trồng quế Hoàng Thắng Trần Văn Thơ – trồng quế Xuân Ái Cơ sở sản xuất chế biến kinh doanh: Nguyễn Thị Hƣơng – Chủ nhiệm HTX Quế Sơn Nguyễn Văn San – Giám đốc công ty TNHH TM SX XNK Đạt Thành Nguyễn Văn Thể - Giám đốc nhà máy quế Hoàng Thắng [18] Báo Yên Bái http://www.baoyenbai.com.vn/12/82115/Hieu_qua_kinh_te_hop_tac_xa_o_Van_Ye n.htm [19] Báo cáo tài chính năm 2011 , Hợp Tác Xã Quế Sơn , An Thịnh , Văn Yên [20] Phạm xuân Hoàn cây quế trong hệ thống nông lâm kết hợp [21] Niêm giám thống kê huyện văn Yên năm 2010 [22] Báo cáo tổng quan tình hình hoạt động các nhà máy chiết xuất tinh dầu quế 2010

61

[23]Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011; Phương hướng nhiệm vụ năm 2012 – Huyện Văn Yên. [24] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 [25]. TS. Bùi Đại Dũng, ThS. Phạm Thu Phƣơng (2009), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội,. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25, tr.8291.

62