You are on page 1of 92

1

MỤC LỤC
MỤC LỤC ....................................................................................................................... 1 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .................................................................................. 4 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................... 5 LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 6 1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 6 2. Tổng quan nghiên cứu ............................................................................................... 7 3. Đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu ........................................................................... 7 4. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................................... 7 5. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................... 8 6. Kết quả nghiên cứu dự kiến ...................................................................................... 8 7. Kết cấu đề tài .............................................................................................................. 8 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM SỮA BỘT CÔNG THỨC ........................................................................ 9 1. Những khái niệm cơ bản ........................................................................................... 9 2. Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa bột công

thức 10 2.1. 2.2. 2.3. 2.4. 2.5. 2.6. Tiêu chí về chất lượng ......................................................................................... 11 Tiêu chí về bao bì, hình thức ............................................................................... 15 Tiêu chí về thương hiệu ....................................................................................... 16 Tiêu chí về giá cả ................................................................................................ 17 Tiêu chí về phương thức quảng bá sản phẩm ..................................................... 18 Tiêu chí về kênh phân phối.................................................................................. 21

3. Vai trò và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm sữa bột công thức của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trƣờng nội địa ........................... 22

2

CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM SỮA BỘT CÔNG THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƢỜNG NỘI ĐỊA ..................................................................................................... 28 1. Khái quát về tình hình phát triển kinh doanh của một số doanh nghiệp kinh doanh sữa tại Việt Nam ............................................................................................... 28 1.1. Các doanh nghiệp Việt Nam ................................................................................ 28 1.1.1. Công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk ........................................................ 28 1.1.2. Công ty cổ Phần sữa Hà Nội – Hanoimilk ......................................................... 29 1.2. Các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp nước ngoài.............................. 30 1.2.1. Công ty Thực phẩm và nước giải khát Dutch Lady Việt Nam ............................ 30 1.2.2. Công ty TNHH Dinh Dưỡng Mead Johnson ...................................................... 31 2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các sản phẩm sữa bột công thức Việt Nam................................................................................................................................ 31 2.1. Về giá cả ................................................................................................................ 32 2.2. Về chất lượng sản phẩm ...................................................................................... 38 2.3. Về phương thức quảng bá sản phẩm .................................................................. 44 2.4. Về hoạt động của các kênh phân phối ................................................................ 48 2.5. Về thương hiệu ..................................................................................................... 50 3. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của ngành sữa và mặt hàng sữa bột công thức tại Việt Nam ................................................................................................ 54 CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM SỮA BỘT VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƢỜNG NỘI ĐỊA ........................... 57 1. Quan điểm và định hƣớng phát triển ngành sữa và sản phẩm sữa bột của các doanh nghiệp Việt Nam......................................................................................... 57 1.1. Quan điểm phát triển............................................................................................ 57 1.2. Mục tiêu phát triển ............................................................................................... 58

3

1.3. Định hướng phát triển ......................................................................................... 60 2. Bí quyết thành công của một số thƣơng hiệu nổi tiếng thế giới và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam ........................................................... 61 2.1. Bí quyết thành công của một số thương hiệu nổi tiếng thế giới ........................ 61 2.2. Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam ...................................... 62 3. Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm sữa bột công thức của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trƣờng nội địa .................. 64 3.1. Giải pháp từ phía Nhà nước ................................................................................ 64 3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp .......................................................................... 70 KẾT LUẬN ................................................................................................................... 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 76 PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 78

4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Một số tiêu chuẩn về thành phần và hàm lượng chất dinh dưỡng trong nhóm sản phẩm sữa bột dành cho trẻ từ 0- 6 tháng tuổi .........................................12 Bảng 2: Một số tiêu chuẩn về thành phần và hàm lượng chất dinh dưỡng trong nhóm sản phẩm sữa bột dành cho trẻ từ 6- 12 tháng tuổi .......................................13 Bảng 3: Thị phần theo doanh thu các hãng sữa bột công thức giai đoạn 2006 – 2009 (đơn vị %) ........................................................................................................23 Bảng 4: Giá sữa của một số nhãn hiệu sữa bột công thức trên thị trường hiện nay ...................................................................................................................................32 Bảng 5: Quy hoạch phát triển các sản phẩm sữa giai đoạn 2015 – 2025 ...............58 Bảng 6: Quy hoạch phân bố công suất chế biến các sản phẩm sữa theo 6 vùng lãnh thổ (đơn vị: triệu lít) ..................................................................................................59 Bảng 7: Quy hoạch phát triển toàn ngành sữa giai đoạn 2015 – 2025 ...................60 Bảng 8: So sánh thuế suất nhập khẩu sữa của Việt Nam với một số nước ..............66 Biểu đồ 1: Số lượng bò sữa tại Việt Nam và sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm giai đoạn 2005 – 2014 (f – forecast: ước tính) 24 Biểu đồ 2: Doanh thu sữa bột công thức theo hình thức phân phối giai đoạn 2006 – 2010 (đơn vị %) ........................................................................................................48

5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt NLCT DN DNVN TCVN Cty TNHH EMI BMI CAC GSO Euromoniter International Business Moniter International Codex Alimentarius Commission General Statistics Office of Vietnam Food and Agriculture Organization World Trade Organization ASEAN Free Trade Area Tổng cục Thống kê Việt Nam Tổ chức Lương thực thế giới Tổ chức Thương mại thế giới Khu vực mậu dịch tự do ASEAN Vệ sinh an toàn thực phẩm Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt Năng lực cạnh tranh Doanh nghiệp Doanh nghiệp Việt Nam Tiêu chuẩn Việt Nam Công ty Trách nhiệm hữu hạn

FAO WTO AFTA VSATTP

6

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài Thời đại kinh tế hội nhập mở ra cho con người những cơ hội chưa từng có để nâng cao chất lượng cuộc sống. Vấn đề sức khỏe trong cuộc sống hiện đại ngày nay giờ đã trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu bởi con người một mặt được tận hưởng một cuộc sống vật chất đầy đủ hơn, tiện nghi hơn nhờ các thành tựu khoa học kĩ thuật, mặt khác lại phải gánh chịu những tác động tiêu cực do ảnh hưởng của chính sự phát triển đó với tốc độ chóng mặt. Là một sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, từ lâu sữa đã được coi là một loại thực phẩm thiết yếu. Sữa là loại thức uống đặc biệt, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và có mùi vị thơm ngon. Với những công dụng “thần kì”, sữa đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho mọi lứa tuổi với những mục đích khác nhau. Sữa được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, là mặt hàng phổ biến, có thể uống thường xuyên, liên tục, dễ dàng với hình thức đóng gói ngày càng tiện lợi. Thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng sữa như một “biện pháp” thuận tiện để bảo vệ và nâng cao sức khỏe, nhu cầu về sữa trên thị trường Việt Nam ngày càng tăng cao, đặc biệt là mặt hàng sữa bột. Bên cạnh các DNVN, trên thị trường sữa bột Việt Nam hiện nay có sự tham gia của rất nhiều thương hiệu đến từ nước ngoài như XO (Hàn Quốc), Meiiji (Nhật Bản), Abbott (Hoa Kỳ)… Tầm ảnh hưởng của các thương hiệu này tới người tiêu dùng Việt Nam là không nhỏ và có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh (NLCT) của các sản phẩm đến từ các doanh nghiệp (DN) trong nước. Ở mặt hàng sữa bột công thức – dòng sản phẩm được ưu tiên sản xuất nhất – dù thành phần dinh dưỡng không có nhiều khác biệt, người tiêu dùng Việt Nam vẫn có xu hướng thích mua những sản phẩm có xuất xứ từ nước ngoài với giá thành rất cao. Điều đó cho thấy thương hiệu sữa Việt Nam vẫn chưa thực sự có được vị trí vững chắc ngay trên chính thị trường nội địa của mình. Để mặt hàng sữa Việt nói chung hay sữa bột nói riêng có thể cạnh tranh hiệu quả và thu hút người tiêu dùng, các DN cần phải có những biện pháp để nâng cao NLCT của sản phẩm của mình trên cơ sở điều kiện về nguồn lực cũng như môi trường kinh doanh. Đó đồng thời cũng là một thách thức

7

lớn với các DNVN trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: tạo được dấu ấn riêng và khẳng định vị trí trên thị trường nội địa. Từ những lí do trên, lựa chọn dòng sản phẩm điển hình nhất của mặt hàng sữa, nhóm quyết định chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm sữa bột công thức của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa” làm nội dung nghiên cứu. 2. Tổng quan nghiên cứu Sữa là một ngành sản phẩm rất có tiềm năng tại Việt Nam, tuy nhiên sự phát triển của ngành lại không được như kì vọng. Tính đến thời điểm này, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về NLCT của ngành sữa tại Việt Nam, trong đó chủ yếu là các bài tiểu luận, khoá luận tốt nghiệp đại học và luận văn thạc sĩ. Có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Phạm Minh Tuấn (2006) – NLCT của công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk, luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; và Hoàng Hiếu Thảo (2010) – , luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế quốc dân, cùng những công trình nghiên cứu về các yếu tố có ảnh hưởng đến NLCT trong ngành sữa Việt Nam như bài trích “Thật giả thị trường sữa” trong tạp chí Thương Mại (2005); Nguyễn Phúc Thọ (2004) – Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh sữa bò tươi ở Hà Nội, luận án tiến sĩ, Đại học Nông Nghiệp I… 3. Đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là NLCT sản phẩm sữa bột công thức của các DNVN trên thị trường nội địa. Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng NLCT sản phẩm sữa bột công thức từ các DNVN, nhóm hướng tới mục tiêu đưa ra những giải pháp để giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và xây dựng thương hiệu sữa bột Việt Nam trên thị trường. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu có sử dụng và kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các đề tài về NLCT trước đó để phân tích và đánh giá. Đồng thời, nhóm cũng tiến hành

8

nghiên cứu theo phương pháp tìm kiếm và thu thập tài liệu từ các giáo trình, sách, báo, Internet, các báo cáo tổng hợp và chuyên ngành để xử lý, lựa chọn những thông tin cần thiết và phân tích, tổng hợp lại các thông tin cũng như số liệu để phục vụ cho công tác nghiên cứu. 5. Phạm vi nghiên cứu + Về mặt không gian, công trình nghiên cứu tập trung vào thị trường sữa bột công thức tại Việt Nam. DNVN ở đây được hiểu là DN 100% vốn Việt Nam. Sản phẩm của các hãng sữa nước ngoài, các công ty liên doanh với Việt Nam, các công ty có đại lí phân phối ở Việt Nam chỉ được đưa vào để so sánh, không thuộc phạm vi nghiên cứu. + Về mặt thời gian, công trình nghiên cứu đánh giá NLCT của các sản phẩm sữa bột công thức trong khoảng 6 năm trở lại đây (2005 – 2011), từ đó đề ra giải pháp cho giai đoạn tới (2012 – 2014). 6. Kết quả nghiên cứu dự kiến Dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích NLCT sản phẩm sữa bột công thức của các DNVN trên thị trường nội địa, nhóm nghiên cứu mong muốn thu được một bản báo cáo tổng hợp với độ dài khoảng 70 trang, đạt được hai mục tiêu chính là: o Đánh giá được NLCT của sản phẩm sữa bột Việt Nam ở thị trường trong nước hiện nay như thế nào o Từ những hạn chế, tìm lời giải đáp cho câu hỏi: cần làm gì để nâng cao NLCT và đẩy mạnh thương hiệu sữa bột Việt Nam 7. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, công trình nghiên cứu khoa học được kết cấu thành 3 chương  Chương I: Tổng quan chung về năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa bột công thức  Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm sữa bột công thức của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa  Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sữa bột Việt Nam trên thị trường nội địa

9

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM SỮA BỘT CÔNG THỨC
1. Những khái niệm cơ bản  Cạnh tranh Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học: “Cạnh tranh là đấu tranh đối lập giữa các tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”. Theo nhà kinh tế học A. Marshall: “Cạnh tranh là hiện tượng mà một người này ganh đua với một người khác, đặc biệt là khi bán hoặc mua một thứ gì đó, đồng thời thuật ngữ cạnh tranh gắn liền với cái xấu, nó được hiểu là một phần đáng kể của sự ích kỉ và dửng dưng đối với phúc lợi của những người khác”. Theo K.Marx: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế – xã hội phức tạp. Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có sự cạnh tranh bởi không có cạnh tranh sẽ không có sinh tồn và phát triển. Cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh được đưa ra, tuy đứng trên nhiều phương diện khác nhau để xem xét, nhìn chung các quan điểm đều hướng tới định nghĩa cạnh tranh như là một sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường tiêu thụ sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) nhằm giành được nhiều lợi thế nhất trên thị trường cũng như thu được lợi nhuận cao nhất thông qua việc ứng dụng các phương án, chiến lược hay các tiến bộ khoa học kĩ thuật nhằm tạo ra những sản phẩm ở mức năng suất và hiệu quả nhất.  Năng lực cạnh tranh Cạnh tranh diễn ra đồng nghĩa với việc phải có người cạnh tranh mạnh hoặc yếu, sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh hoặc yếu. Khả năng cạnh tranh đó chính là sức cạnh tranh hay còn được gọi là NLCT.  Sản phẩm sữa bột công thức

10

Sữa bột công thức là loại sản phẩm sữa bột thay thế sữa mẹ, được pha chế theo công thức đặc biệt tuân theo những tiêu chuẩn về dinh dưỡng, đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển tối ưu về thể chât và trí tuệ của trẻ trong những tháng đầu đời 1. Các loại sữa bột công thức thường được chia theo lứa tuổi trẻ em, phổ biến là các lứa tuổi: 0 – 6 tháng, 6 – 12 tháng, 12 – 36 tháng tuổi, trên 3 tuổi.  Năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa bột công thức Dựa trên định nghĩa về NLCT, có thể hiểu NLCT của sản phẩm sữa bột công thức là khả năng sản phẩm sữa bột của một DN nào đó được tiêu thụ nhanh chóng trong khi có nhiều sản phẩm cùng loại của các DN khác cũng được bày bán trên thị trường. 2. Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa bột công thức Bản chất của sản phẩm, sinh ra là để phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản phẩm này có cạnh tranh được với sản phẩm khác hay không thì không chỉ phụ thuộc vào bản thân sản phẩm mà sau cùng vẫn là sự lựa chọn của người tiêu dùng. Đối tượng được mua bán trên thị trường không chỉ là một số loại sản phẩm mà là một thị trường cung cấp hàng hóa – dịch vụ rộng lớn, đa dạng. Bên cạnh đó, đối tượng khách hàng trên thị trường không tập trung ở một nhóm người nhất định mà xuất hiện ở tất cả mọi lứa tuổi, từ trẻ em, thanh thiếu niên, đến người trung niên và người già. Nói cách khác, NLCT của sản phẩm bao gồm các chỉ tiêu thuần túy có lợi cho người tiêu dùng và do người tiêu dùng quyết định. Vì vậy tùy với từng loại sản phẩm hay đối tượng mua hàng thì những tiêu chí để đánh giá NLCT của sản phẩm lại có sự điều chỉnh khác nhau cho phù hợp với từng phân đoạn thị trường. Phạm vi đề tài đề cập đến NLCT sản phẩm sữa bột công thức của các DNVN trên thị trường nội địa. Trên cơ sở phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của sản phẩm nói chung, nhóm nghiên cứu xin được đưa ra một số tiêu chí đánh giá NLCT của sản phẩm sữa bột công thức theo tầm nhận thức của nhóm trong quá trình nghiên cứu vấn đề. Tuy chưa thể phản ánh được toàn diện mọi khía cạnh của
1

Codex Standard 71 – 1981

11

vấn đề, song những tiêu chí này cũng phần nào phản ánh được đối tượng nghiên cứu mà đề tài đang hướng tới, đó là NLCT sản phẩm sữa bột công thức của các DNVN với các tiêu chí về chất lượng, bao bì của sản phẩm, uy tín thương hiệu, nguồn gốc xuất xứ, giá cả, kênh phân phối, và cách thức tiếp cận thị trường của sản phẩm. 2.1. Tiêu chí về chất lượng Sản phẩm muốn cạnh tranh được trước hết phải có chất lượng. Mỗi sản phẩm có một chỉ tiêu chất lượng riêng biệt, một số sản phẩm có nhiều đặc tính có thể có nhiều chỉ tiêu chất lượng. Vậy chất lượng sản phẩm là gì? Có thể định nghĩa đó là mức độ của một tập hợp các đặc tính của sản phẩm, nếu tập hợp các đặc tính đó làm thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng thì sản phẩm được coi là có chất lượng. Nội dung của chất lượng sản phẩm biểu hiện ở hai mặt là trình độ kĩ thuật của sản phẩm và mặt kinh tế. Trình độ kĩ thuật gồm các chỉ tiêu về an toàn, vệ sinh, thẩm mỹ, công dụng, tiện dùng; mặt kinh tế thể hiện ở chi phí sản xuất, chi phí đảm bảo chất lượng, chi phí sử dụng và chi phí môi trường. Nhìn chung, chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng từ quá trình nghiên cứu, thiết kế, tạo ra, phân phối sản phẩm, các yếu tố của bản thân DN, bên cạnh đó là những yếu tố về công nghệ, máy móc – thiết bị, khoa học kĩ thuật, nguyên vật liệu, môi trường và yếu tố con người. Sản xuất sản phẩm đảm bảo chất lượng tốt không chỉ nâng cao NLCT của sản phẩm mà còn nâng cao hiệu suất của DN, đem lại hiệu quả kinh tế, sự giàu có và uy tín cho DN và quốc gia. Lấy chất lượng làm nền tảng, từ thực tiễn có thể thấy các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore... nhờ đó đã tạo ra được những “câu chuyện thần kì” về kinh tế mà cả thế giới phải khâm phục. Một sản phẩm sữa bột công thức được đánh giá là có chất lượng nếu đáp ứng được những chỉ tiêu nhất định. Về chỉ tiêu cảm quan: o Màu sắc: từ màu trắng sữa đến màu kem nhạt o Mùi vị: thơm ngọt đặc trưng của sữa bột, không có mùi vị lạ o Trạng thái: dạng bột, đồng nhất, không bị vón cục, không có tạp chất lạ Ứng với 3 nhóm đối tượng của sữa bột công thức, CAC đã xây dựng các bản tiêu chuẩn – Codex Standard quy định thành phần và hàm lượng các chất dinh dưỡng tối

12

thiểu cần có trong sữa bột, đặc biệt là sữa bột công thức dành cho trẻ. Qua các năm, những bản tiêu chuẩn này đã được sửa đổi, hoàn thiện nhằm đưa ra những tiêu chuẩn phù hợp hơn cho sự phát triển của trẻ cả về thể chất và trí tuệ. Xin được trích dẫn một số chỉ tiêu dinh dưỡng theo Codex Standard tại các bảng sau. Bảng 1: Một số tiêu chuẩn về thành phần và hàm lượng chất dinh dưỡng trong nhóm sản phẩm sữa bột dành cho trẻ từ 0- 6 tháng tuổi 2

2

Codex Standard 72 - 1981

13

Bảng 2: Một số tiêu chuẩn về thành phần và hàm lượng chất dinh dưỡng trong nhóm sản phẩm sữa bột dành cho trẻ từ 6- 12 tháng tuổi 3

Trẻ từ 0 - 6 tháng tuổi là nhóm trẻ chưa có sự phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ, thậm chí các chức năng của hệ thống miễn dịch, tiêu hóa mới chỉ bắt đầu hoạt động, do vậy trẻ không thể tiêu hóa các loại thức ăn khác, mà hầu như chỉ có thể tiêu hóa sữa mẹ hay sữa bột được sản xuất mô phỏng theo các thành phần của sữa mẹ. Vì vậy, các sản phẩm sữa bột dành cho nhóm tuổi này phải được sản xuất với yêu cầu nghiêm ngặt về hàm lượng và tỉ lệ các chất dinh dưỡng để vừa đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đồng thời đảm bảo không gây tác hại cho sự phát triển bình thường của trẻ. Bên cạnh đó, trẻ ở nhóm tuổi này rất nhạy cảm với
3

Codex Standard for Follow-up Formula, Codex standard 156-1987

14

môi trường, mùi vị và thường dễ có những phản ứng không tốt khi phải tiếp xúc với các hương thơm hay mùi vị lạ nên hương thơm, mùi vị của các sản phẩm sữa bột dành cho trẻ ở nhóm tuổi này cũng có yêu cầu rất nghiêm ngặt, thường là có hương thơm và mùi vị gần giống với sữa mẹ. Trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi về cơ bản đã có thể chất phát triển, hệ thống miễn dịch, tiêu hóa... đã có khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng có trong sữa để phục vụ cho nhu cầu phát triển. Đối với nhóm tuổi này, sữa đóng vai trò vừa là nguồn thức ăn chính, vừa là thức ăn bổ sung, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của trẻ cả về thể chất lẫn trí tuệ, do đó các tiêu chuẩn trong bản Codex 87 có phần mở hơn bản Codex 81. Với trẻ từ 12 – 36 tháng tuổi, đặc trưng của trẻ thuộc nhóm tuổi này là thể chất đã phát triển với hệ thống miễn dịch, hệ thống tiêu hóa hoàn thiện nên có khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng một cách tối đa. So với các nhóm tuổi trước, trong giai đoạn này sữa chỉ đóng vai trò là nguồn dinh dưỡng bổ sung. Vì vậy, các nhà sản xuất, trên cơ sở các nghiên cứu về dinh dưỡng đã đưa vào sản phẩm sữa các chất thành phần hỗ trợ phát triển trí não, hỗ trợ phát triển thị lực, hỗ trợ phát triển miễn dịch, hỗ trợ phát triển chiều cao, thể chất… Với nhóm trẻ trên 3 tuổi, sữa chỉ đóng vai trò là nguồn dinh dưỡng bổ sung và trẻ trong độ tuổi này đã uống được tất cả các loại sữa. Do đã có bộ máy tiêu hóa ổn định hơn so với các nhóm tuổi nhỏ hơn, khả năng đề kháng cũng tốt hơn, nên sữa bột dành cho các nhóm tuổi này có thể giảm bớt thành phần hay tỉ lệ một số thành phần có chức năng tăng đề kháng, dễ tiêu hóa, thay vào đó là các thành phần nhằm thúc đẩy sự phát triển về thể chất cũng như trí tuệ của trẻ ở mức tối đa. 4 Dưới sức ép của cạnh tranh, có những sản phẩm chỉ hơn/kém hoặc khác biệt ở tỉ lệ pha trộn một số thành phần dinh dưỡng nào đó đã tạo nên sự khác biệt về giá cả cũng như vị thế của sản phẩm trên thị trường. Chỉ tiêu về chất lượng theo quan niệm của số đông người tiêu dùng vẫn là yếu tố quan trọng nhất khi quyết định mua sản

4

Tham khảo Báo cáo đánh giá cạnh tranh 10 lĩnh vực, 2010, Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, trang 61-64

15

phẩm vì vậy xét một cách tổng thể, sản phẩm có chất lượng tốt nhất vẫn là sản phẩm cạnh tranh nhất. 2.2. Tiêu chí về bao bì, hình thức Bao bì nói chung được định nghĩa là tất cả những cái gì chứa đựng và bao bọc sản phẩm 5. Được đánh giá như một yếu tố quyết định của chiến lược sản phẩm, bao bì ngày càng chiếm vị trí nhất định trong nền kinh tế thị trường với những chức năng không chỉ đảm bảo về mặt kĩ thuật mà còn đáp ứng được về phương diện marketing. Góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy quá trình quảng bá hình ảnh, thương hiệu của sản phẩm, hình thức, mẫu mã, hay còn gọi là thiết kế mỹ thuật công nghiệp của bao bì sản phẩm là một trong những tiêu chí không thể không xét đến khi đánh giá NLCT của sản phẩm. Đây là một yếu tố rất quan trọng bởi trước khi lựa chọn tiêu dùng một mặt hàng, điều đầu tiên thu hút người tiêu dùng nằm ở chính sự hấp dẫn của bao bì. Nếu một bao bì có tính thẩm mỹ cao, gây được thiện cảm, sự tin cậy với khách hàng thì sản phẩm hoàn toàn có khả năng thuyết phục và giúp khách hàng nhanh chóng đưa ra quyết định của mình. Theo Philip R. Cateora 6, thiết kế mỹ thuật bao bì sẽ tạo ấn tượng tốt cho sản phẩm chất lượng cao, đặc biệt với những thị trường khó tính. Những nhà quản trị sản phẩm hàng đầu thế giới cũng đều cho rằng trình độ thiết kế mỹ thuật gắn liền với sản phẩm đẳng cấp cao. Với những khách hàng mua theo sở thích nhất thời thường sẽ có xu hướng chọn những sản phẩm có bao bì, hình thức đẹp mắt. Vì vậy tùy với từng đối tượng khách hàng, một sản phẩm có bao bì, mẫu mã đẹp cũng có thể được coi là một sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Bao bì, hình thức sản phẩm cũng là một tiêu chí rất quan trọng đối với sản phẩm sữa bột công thức, đặc biệt là những sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường. Một sản phẩm với bao bì hấp dẫn dễ gây thiện cảm và khiến khách hàng có cảm giác yên tâm, chắc chắn về chất lượng mặc dù chưa tiêu dùng sản phẩm. Nếu là hàng để đem tặng hay thăm hỏi thì hình thức bao bì đẹp lại càng là một yếu tố khiến người mua muốn mua sản phẩm. Với những đối tượng khách hàng không quá chung
5 6

“Giáo trình Marketing lí thuyết”, Đại học Ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000, trang 95 International Marketing (bản tiếng Anh), International Edition, 1997, trang 377

16

thủy với một nhãn hiệu nào đó thì sản phẩm có hình thức sản phẩm sẽ rất có lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút sự chú ý của những khách hàng đó. 2.3. Tiêu chí về thương hiệu Theo Jean Pierre Lacour 7, thương hiệu sản phẩm là tập hợp các dấu hiệu đặc trưng cho sản phẩm của một DN (như từ ngữ, hình vẽ, biểu tượng, màu sắc ... hay sự kết hợp giữa các dấu hiệu đó) nhằm phân biệt dễ dàng với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Như vậy bản chất của thương hiệu là việc đặc định hóa và pháp lí hóa sản phẩm, đảm bảo cho DN độc quyền sản phẩm của mình mang thương hiệu đó. Xây dựng được một thương hiệu không phải là một điều đơn giản, đó là một quá trình không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng hàng hóa – dịch vụ để sản phẩm có đủ khả năng cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành và trên hết là tạo được dấu ấn, gây dựng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu. Theo cách tiếp cận hiện đại, chuyên gia thương hiệu Richard Moore 8 cho rằng “Thương hiệu là một khái niệm trừu tượng. Thương hiệu tạo nên hình ảnh, uy tín sản phẩm của công ty và đọng lại trong tâm trí khách hàng theo thời gian”. Như vậy thương hiệu có vai trò rất lớn trong việc ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng. Nói cách khác, thương hiệu là một tài sản của DN. Khi một DN đã tự khẳng định được thương hiệu của mình, có nghĩa là sản phẩm của họ đã được nhận thức và đảm bảo tin cậy về chất lượng. Những khách hàng thận trọng khi đứng trước quyết định tiêu dùng một loại sản phẩm nào đó trên thị trường thường sẽ chú ý nhiều đến những thương hiệu mạnh, có uy tín, đôi khi những yếu tố khác của sản phẩm như giá cả, hình thức bao bì không được xét tới bởi thương hiệu đã nói lên tất cả. Thương hiệu là một tài sản vô hình của DN nhưng nó có giá trị rất lớn, lớn gấp nhiều lần giá trị tài sản hữu hình. Để tồn tại và phát triển một cách bền vững, các DN cần phải định vị thương hiệu, xây dựng cá tính riêng cho thương hiệu để khi nhắc đến một thông điệp nào đó người tiêu dùng sẽ nghĩ ngay đến thương hiệu của

7 8

Lexique du Marketing (bản tiếng Pháp), Editions Bertrand Lacoste, 1983, trang 71 “Thương hiệu dành cho lãnh đạo”, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, 2004, trang 28

17

DN, và phải bảo vệ thương hiệu của mình trong mắt người tiêu dùng. Đó là yếu tố quan trọng giúp nâng cao NLCT của DN cũng như sản phẩm của DN. Sữa bột công thức là sản phẩm sữa bột trẻ em được pha chế theo công thức đặc biệt thay thế sữa mẹ hoặc được bổ sung những vi chất đặc biệt dành cho các đối tượng đặc biệt; thường là trẻ em dưới 3 tuổi, do đó các tiêu chuẩn về chất lượng, VSATTP phải được kiểm định và có chứng nhận rõ ràng. Thương hiệu có thể được xem như một giấy chứng nhận đảm bảo chất lượng sản phẩm của DN. Với những người tiêu dùng không quá am hiểu về các loại sữa bột hay không có yêu cầu quá gắt gao về tiêu chuẩn sữa bột, thương hiệu nào được nhiều người sử dụng thì họ cũng sử dụng. Hơn nữa đã khẳng định được thương hiệu trên thị trường tức là sản phẩm đáp ứng được nhu cầu nhất định của số đông người tiêu dùng, do đó những khách hàng mới sẽ có xu hướng lựa chọn thương hiệu mà số đông chọn để có thể yên tâm về mặt chất lượng. Vì vậy thương hiệu là một tài sản quý của DN, thương hiệu càng mạnh càng nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. 2.4. Tiêu chí về giá cả Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao. Khi đạt tới một tiêu chuẩn nhất định, chất lượng sản phẩm của các DN có thể gần như tương đồng, khi đó các yếu tố khác, đặc biệt là giá cả sẽ trở thành một mối quan tâm với người tiêu dùng. Trong kinh tế vi mô, sở thích luôn bị giới hạn bởi đường thu nhập, do đó xu thế chung vẫn là “chất lượng là ưu tiên hàng đầu” nhưng giá cả vẫn là một vấn đề cần phải xem xét khi lựa chọn sản phẩm. Với các nước đang phát triển như Việt Nam, giá cả sản phẩm vẫn là một yếu tố rất thu hút, thậm chí với một số mặt hàng, giá cả còn được xem trọng hơn chất lượng. Giá cả thấp có thể coi là một lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên nếu chất lượng tốt đi kèm với giá thấp thì đây là một lợi thế cạnh tranh rất lớn vì nó đem lại lợi ích dễ thấy cho người tiêu dùng. Muốn duy trì sản phẩm ở mức giá thấp, DN phải giảm được chi phí. Muốn giảm chi phí, đòi hỏi DN phải sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân có trình độ cao, áp dụng công nghệ hiện đại, tăng cường nghiên cứu và ứng dụng, hạch toán chi tiết các loại chi phí để hạn chế những chi phí gây lãng

18

phí nguồn lực. Giảm chi phí là một điều kiện rất quan trọng trong trường hợp DN muốn có lợi nhuận bằng việc bán sản phẩm ở mức giá cạnh tranh mà vẫn đảm bảo chất lượng tương đương với chất lượng của các sản phẩm đối thủ khác. Đối với tiêu dùng trong mặt hàng thực phẩm dinh dưỡng như sữa bột, các tiêu chí như chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, thương hiệu ... thường được ưu tiên hơn tiêu chí giá cả, tuy nhiên giá cả vẫn là một yếu tố không thể không xét đến bởi trên thị trường có rất nhiều phân khúc, mỗi phân khúc là một tập hợp những người tiêu dùng có điểm tương đồng nhất định, điểm tương đồng đó có thể là sở thích, thói quen, hoặc mức thu nhập ... Ví dụ với thu nhập, với những đối tượng khách hàng có điều kiện kinh tế tốt, họ sẵn sàng mua những sản phẩm sữa bột với mức giá cao miễn sao đáp ứng được yêu cầu của mình, khi đó giá cả không còn là tiêu chí để đánh giá NLCT. Ngược lại, với những khách hàng có điều kiện kinh tế trung bình, bên cạnh việc so sánh chất lượng, thương hiệu của sản phẩm, họ còn phải cân nhắc đến yếu tố giá cả, khi đó một sản phẩm với mức giá có thể chấp nhận được , đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, bao bì ở một mức độ nào đó hoàn toàn có khả năng cạnh tranh cao hơn các sản phẩm cùng loại khác. Trong nhiều trường hợp, không nhất thiết là do ảnh hưởng của thu nhập, người tiêu dùng vẫn có thể lựa chọn sản phẩm có mức giá cạnh tranh hơn do thói quen, hoặc chỉ đơn thuần là tâm lí “ham rẻ”, hay quan niệm “càng đắt càng tốt”. 2.5. Tiêu chí về phương thức quảng bá sản phẩm Để sản phẩm được biết đến, DN phải có những chiến lược marketing nhất định nhằm xúc tiến, hỗ trợ việc bán hàng một cách hiệu quả. Có thể xem đây là một tiêu chí mang tính quyết định đến sự thành công cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm bởi một sản phẩm dù có chất lượng tốt, bao bì đẹp, xuất xứ đảm bảo, giá cả hợp lí mà không được quảng bá đúng cách thì sẽ không thể phát triển thương hiệu cũng như tìm được chỗ đứng trên thị trường. Hơn nữa với sự phát triển của công nghệ thông tin, một sản phẩm có phương thức marketing đúng hướng có thể đem lại thành công rất lớn mặc dù các yếu tố khác của sản phẩm có thể chưa đạt được mức cạnh tranh cao nhất. Thông thường, để thực hiện được các chiến lược nhằm xúc tiến

19

và hỗ trợ việc mua bán sản phẩm, DN cần các công cụ: quảng cáo, quan hệ công chúng, tham gia hội chợ triển lãm, bán hàng cá nhân và xúc tiến bán hàng 9.  Quảng cáo Quảng cáo là một nghệ thuật trong kinh doanh.Không ai có thể phủ nhận sức mạnh của quảng cáo bởi đây là một công cụ không thể thiếu được trong chiến lược marketing.Vậy quảng cáo là gì? Tập hợp trên 80 khái niệm về quảng cáo được đưa ra, có thể khái quát quảng cáo là một loại hình truyền thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm mục đích giới thiệu, đề xuất một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó để thu hút sự chú ý, thuyết phục khách hàng rồi tiến tới mua hàng. Xét theo phương tiện quảng cáo, có các nhóm phương tiện nghe nhìn như quảng cáo trên truyền hình, trên đài phát thanh, trên Internet; nhóm phương tiện in ấn như quảng cáo trên báo chí, trên tạp chí, trên catalogue, tờ rơi, lịch quảng cáo; nhóm phương tiện quảng cáo ngoài trời như biển tôn có đèn rọi, hộp đèn quảng cáo, đèn màu uốn, biển quảng cáo điện tử, pa-nô quảng cáo ... Nhìn chung có rất nhiều phương thức quảng cáo, dù ở dưới hình thức nào các quảng cáo cũng đều ẩn chứa một thông điệp từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng. Về phía người tiêu dùng, việc quyết định có mua hàng hay không cũng chính là cách họ đáp lại thông điệp quảng cáo và cho thấy chiến lược quảng cáo đã hiệu quả thực sự hay chưa.  Quan hệ công chúng Chuyên gia Marketing Philip R. Cateora định nghĩa “Công chúng là bất cứ nhóm người nào có mối quan tâm hay ảnh hưởng hiện tại hoặc tiềm năng đến khả năng đạt được những mục tiêu của DN”. Quan hệ công chúng là một công cụ marketing quan trọng không chỉ đối với DN mà còn là mối quan tâm của các nhà cung cấp, kinh doanh khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN. Về cơ bản, quan hệ công chúng hỗ trợ DN trong việc tung ra sản phẩm mới, giúp định vị lại sản phẩm ở giai đoạn chín muồi, gây ảnh hưởng tới một nhóm khách hàng mục tiêu cụ thể, bảo vệ những sản phẩm đang gặp rắc rối với công chúng trên thị trường

9

“Giáo trình Marketing lí thuyết”, Đại học Ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000, trang 146

20

và xây dựng hình ảnh của DN10. Quan hệ công chúng là một đắc lực góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của DN hiệu quả lên rất nhiều bởi công chúng vừa là động lực nhưng cũng có thể là chướng ngại vật cản trở mục tiêu mà DN hướng tới nếu sản phẩm không đạt đến kì vọng của họ. Khi chi phí quảng cáo ngày càng tăng lên, và không ít những quảng cáo gây thiếu thiện cảm với khán giả thì mối quan hệ công chúng càng phải được DN chú trọng đầu tư. Với mục đích nhằm tạo ra một bầu không khí tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau, một tư duy hướng về tương lai: thông tin – quan hệ – giao tiếp, thay vì xây dựng những chương trình quảng cáo tốn kém trên các phương tiện thông tin đại chúng mà chưa chắc đã thu được kết quả, quan hệ công chúng ngày càng hiệu quả hơn trong việc thuyết phục khách hàng mua sản phẩm với một thương hiệu cụ thể.  Hội chợ triển lãm Đây là loại hình cho phép hàng nghìn DN lập quầy hàng tạm thời để trưng bày sản phẩm tại một vị trí đã được định sẵn.Người mua có thể tìm được người bán tập trung tại một chỗ và hai bên có thể dễ dàng liên lạc với nhau mà không cần phải mất quá nhiều thời gian đi lại các nơi. Khi quyết định tham gia hội chợ triển lãm, DN có thể phải sử dụng phần lớn ngân sách của quỹ xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh, bên cạnh đó là cân nhắc những vấn đề khác như: lựa chọn hội chợ triển lãm nào, bố trí quầy hàng như thế nào để thu hút người xem ... Tham gia hội chợ triển lãm là một công cụ xúc tiến quan trọng, giúp DN quy tụ một lượng khách hàng lớn, có thể đánh giá ngay phản ứng của khách hàng, trưng bày giới thiệu sản phẩm trực tiếp và đánh giá được đối thủ cạnh tranh.  Bán hàng cá nhân Đây là phương pháp nói chuyện với một hay nhiều khách hàng để bán hàng. Do chi phí rất cao nên thường chỉ có những mặt hàng có giá trị lớn hay những trường hợp cần có sự tin tưởng của khách hàng đối với sản phẩm mới áp dụng hình thức này. Ưu điểm lớn nhất của hình thức này là sự thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa người bán và người mua để kịp thời giải đáp các thắc mắc và trao đổi thông tin.
10

“Giáo trình Marketing lí thuyết”, Đại học Ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000, trang 153

21

 Xúc tiến bán hàng Hình thức này bao gồm phiếu mua hàng giảm giá, vận hành thử, ưu đãi cho khách hàng thường xuyên, tặng hàng mẫu, giảm giá hậu mãi, bốc thăm trúng thưởng. Những hoạt động này giúp củng cố hơn nữa lòng tin và sự chung thủy của khách hàng đối với thương hiệu. Bên cạnh các yếu tố của chính sản phẩm, cách thức mà DN thâm nhập, tiếp cận thị trường và thu hút khách hàng là một yếu tố vô cùng quan trọng góp phần vào sự thành công của sản phẩm, và đó là một nghệ thuật kinh doanh mà không phải DN nào cũng có thể áp dụng một cách tối ưu. Một sản phẩm cho dù có chất lượng tốt, giá cả hợp lí nhưng nếu không có một chiến dịch quảng bá phù hợp thì sản phẩm có thể thất bại ngay từ giai đoạn còn trứng nước. Trên thị trường, mặt hàng sữa bột công thức không chỉ có một hai nhãn hiệu, các DN trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các DN nước ngoài. Sữa bột nhập khẩu tuy giá thành cao hơn, điều kiện tiếp cận với người tiêu dùng không thể thuận lợi bằng sữa bột nội địa nhưng vẫn được ưa chuộng hơn bởi có được lợi thế cạnh tranh về thương hiệu, nguồn gốc xuất xứ và tâm lí “càng đắt càng tốt” của số đông người tiêu dùng Việt Nam. Do đó các DN trong nước phải tận dụng lợi thế về điều kiện địa lí, thực hiện các chiến lược marketing nhằm thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng tới sản phẩm của mình, từ đó mới có thể khẳng định được thương hiệu sữa bột Việt Nam không chỉ trên thị trường nội địa mà trên cả thị trường thế giới. 2.6. Tiêu chí về kênh phân phối Kênh phân phối được định nghĩa là một hệ thống các tổ chức độc lập liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ sẵn sàng cho sử dụng hoặc tiêu dùng 11. Ở thị trường Việt Nam, kênh phân phối gồm nhiều loại, có thể là các DN lớn (siêu thị, trung tâm bách hóa...), những người bán buôn/lẻ (tiệm tạp hóa, cửa hàng, đại lí...). Trong nhận thức của người tiêu dùng, nơi bán sản phẩm chất lượng tốt là ở siêu thị (90%), kế đến là Metro (67%), ngoài ra là các tiệm tạp hoá vừa/lớn có bảng hiệu (52%), cửa hàng showroom/đại lý chính hãng, không có nhiều khác biệt giữa
11

“Giáo trình Marketing lí thuyết”, Đại học Ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000, trang 131

22

các khu vực. Xe bán dạo và các điểm bán hàng lề đường được xem là nơi bán sản phẩm chất lượng kém. Mặt hàng sữa bột công thức đa phần được mua bán tại các siêu thị, cửa hàng lớn để đảm bảo về an toàn chất lượng cũng như độ tin cậy về nguồn gốc xuất xứ. Đây cũng là một tiêu chí có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm bởi địa điểm phân phối an toàn, đáng tin cậy cũng phần nào tạo tâm lí yên tâm ở khách hàng về chất lượng và nguồn gốc của sản phẩm. 3. Vai trò và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm sữa bột công thức của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trƣờng nội địa Trong nhiều năm qua, điều kiện kinh tế – xã hội ở Việt Nam đã thay đổi rất nhiều, mức sống dân cư được cải thiện, thu nhập tăng lên dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe càng tăng lên. Đặc biệt ở các thành phố lớn, nhịp sống hiện đại giống như một guồng quay, con người phải liên tục vận động để kịp thích ứng với nhiều công việc khác nhau, do đó những thứ gì tiện dụng nhất, nhanh chóng nhất luôn được ưu tiên lựa chọn để tập trung thời gian vào những công việc quan trọng. Đó cũng là nguyên nhân lí giải tại sao sữa bột trẻ em ngày càng được sử dụng rộng rãi nhờ tính tiện lợi và dinh dưỡng của sản phẩm, và kéo theo đó là sự xuất hiện của hàng loạt các thương hiệu sữa bột cả trong nước và nước ngoài để kịp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Thị trường sữa bột công thức tại Việt Nam hiện nay có hai phân khúc chính: phân khúc thị trường cao cấp chủ yếu nằm trong tay các “đại gia ngoại quốc” với dòng sản phẩm sữa nhập khẩu như Gain của Abbott, Enfa A+ của Mead Johnson, Friso của FrieslandCampina – Dutch Lady Việt Nam... ; trong khi đó phân khúc thấp hơn lại thuộc về Dielac của Vinamilk, Nuti của Nutifood và một số sản phẩm được sản xuất trong nước của Dutch Lady Việt Nam. Từ bảng số thống kê dưới đây (Bảng 3) có thể thấy trong giai đoạn từ 2005 – 2009, tuy trong giai đoạn 2007 – 2008 có sụt giảm khoảng 0,1 – 0,2% do tác động của vụ bê bối sữa bột có chất melamine, Abbott vẫn là hãng sữa chiếm thị phần cao nhất với trên thị trường Việt Nam. Trong khi đó Vinamilk – DN sữa đứng đầu cả nước – mới chỉ nắm giữ thị phần chưa quá 20%.

23

Bảng 3: Thị phần theo doanh thu các hãng sữa bột công thức giai đoạn 2006 – 2009 (đơn vị %) 12 2006 Abbott Vietnam Mead Johnson Nutrition Meiji Dairies Corp Dutch Lady Vietnam Nestlé Vietnam Vinamilk Nutifood Khác Tổng 23,14 14,55 1,75 12,13 9,79 15,89 2,02 20,73 100 2007 22,84 14,76 1,53 12,91 9,06 16,66 1,96 20,28 100 2008 22,90 14,36 1,49 13,51 8,94 17,32 1,74 19,74 100 2009 23,34 14,31 9,07 17,98 1,83 33,47 100

Xét trên mặt bằng chung thị phần của các DN nước ngoài vẫn chiếm lượng đáng kể trên thị trường sữa bột Việt Nam. Từ những số liệu thống kê trên có thể thấy một thực tế đang tồn tại: sữa ngoại đang thao túng thị trường sữa bột Việt Nam. Phải chăng các DNVN đang đánh mất thị phần trên chính thị trường của mình? Không chỉ có vậy, các DN sữa ở Việt Nam cũng phải đối mặt với một vấn đề đó là “cung không đủ cầu”. Hiện nay nguồn nguyên liệu của DN xuất phát từ hai nguồn chính là nguyên liệu trong nước và nguyên liệu nhập khẩu. Nguồn nguyên liệu trong nước phụ thuộc chủ yếu vào tiềm năng phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa, tuy số lượng bò sữa và sản lượng sữa sản xuất có sự tăng trưởng đáng kể qua từng năm nhưng thực tế cho thấy nguồn nguyên liệu trong nước hiện nay chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu để sản xuất các loại sữa đặc, sữa tươi và sữa chua, còn với sữa bột thì nguyên liệu nguyên liệu nhập khẩu 100% từ nước ngoài, các DNVN chỉ thực hiện khâu cuối cùng của quá trình sản xuất là bổ sung các vi chất, sấy, phun, phối trộn, đóng gói bao bì.

12

Báo cáo Dairy products in Vietnam 2009, EMI

24

Biểu đồ 1: Số lượng bò sữa tại Việt Nam và sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm giai đoạn 2005 – 2014 13 (f – forecast: ước tính)
Sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm (đơn vị: 1000 tấn) Số lượng bò sữa (đơn vị: 1000 con) 2014f 2013f 2012f 2011 2010 2009 2008 2007 2006
559,539 253,605 486,556 220,526 423,092 191,762 345,608 142,7 306,662 128,583 278,19 115,518 262,16 107,983 234,438 98,659 215,953 113,215

Tổng đàn bò sữa nước ta liên tục tăng trong những năm vừa qua, tuy nhiên giai đoạn 2006 – 2009 tốc độ tăng khá chậm, thậm chí năm 2007 số lượng bò sữa suy giảm do khủng hoảng về giá sữa bột thế giới tác động đến giá thu mua sữa tươi của các công ty sữa (Bảng 4). Trong nhiều tháng, giá sữa tươi của nông dân bán bằng hoặc dưới giá thành nên người chăn nuôi buộc phải giảm đàn, thanh lọc loại thải đàn. Quá trình thanh lọc tuy giảm bớt số lượng bò sữa nhưng đã góp phần chọn lọc và nâng cao chất lượng giống bò sữa Việt Nam. Do đó tuy số lượng có giảm 12% nhưng sản lượng sữa tươi sản xuất được lại tăng trên 8,5% so với năm 2006 14. Giai đoạn 2008 – 2009, dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới và vụ bê bối về melamine từ Trung Quốc, tốc độ phát triển của đàn bò sữa và sản lượng sữa tươi cũng bị ảnh hưởng đáng kể. Tuy nhiên từ năm 2010, nền kinh tế
13 14

Tổng cục Thống kê Việt Nam, xem thêm Phụ lục 3 và 4 Chăn nuôi

2010-2020, Đỗ Kim Tuyên, Cục

25

thế giới chuyển sang giai đoạn dần phục hồi nên tình hình chăn nuôi và phát triển đàn bò sữa nước ta đã có những dấu hiệu tích cực. Tính đến năm 2011, quy mô đàn bò sữa cả nước đã lên tới 142,7 nghìn con, tăng 10,97%, cùng theo đó sản lượng sữa tươi sản xuất được tăng 12,7% so với cùng thời điểm năm 2010. Dẫn đầu ngành sản xuất sữa tại Việt Nam với thị phần lớn, dây chuyền công nghệ hiện đại, mạng lưới phân phối rộng và thương hiệu mạnh, Vinamilk sở hữu 11 nhà máy với tổng công suất 677.150 tấn sản phẩm/năm cùng 5 trang trại nuôi bò sữa ở Tuyên Quang, Nghệ An, Thanh Hóa, Bình Định và Lâm Đồng với tổng đàn bò đạt 5.900 con 15, nhưng hiện nay nguyên liệu do các trang trại của Vinamilk cung cấp và thu mua ngoài từ các hộ nông dân mới chỉ đáp ứng được 20 – 25% nhu cầu, còn lại nguồn nguyên liệu chính để sản xuất sữa vẫn phải nhập khẩu. Cùng với sự phát triển của ngành sữa về cả sản xuất và tiêu dùng, khi nhu cầu về sữa vượt quá khả năng cung ứng của các DN trong nước, việc nhập khẩu nguyên liệu là một giải pháp tất yếu. Theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành sữa, để đưa một dây chuyền sản xuất sữa bột vào hoạt động cần một khoảng thời gian từ 2 – 3 năm. Xét về mặt công nghệ, công nghệ sản xuất sữa bột ở Việt Nam hiện nay không đòi hỏi đặc biệt về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên đối với việc sản xuất sữa bột thì yêu cầu về tính chính xác của đầu vào (sữa nền và vi chất), nhiệt độ, độ ẩm, người sản xuất… đồng thời yêu cầu đảm bảo VSATTP trong suốt quy trình sản xuất là rất nghiêm ngặt. Đối với mặt hàng sữa bột công thức, nguyên liệu để sản xuất sản phẩm này không phải nước nào cũng có thể sản xuất được. Hầu hết các sản phẩm sữa bột trên thế giới đều được sản xuất dựa trên cơ sở sữa bột nền có pha trộn thêm các vi chất có lợi cho sức khỏe và sự phát triển của cơ thể như DHA, ARA... Tỷ lệ pha trộn tùy theo nghiên cứu của các hãng, còn sữa bột nền thì số lượng và hàm lượng các chất dinh dưỡng về cơ bản là giống nhau. Trên thế giới chỉ có một số ít các quốc gia có thể sản xuất sữa bột nền có chất lượng, điển hình có Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Hà Lan, do đó các DNVN sản xuất sữa bột cũng nhập khẩu nguyên liệu chủ yếu từ các quốc gia này để tiến hành công đoạn sản xuất sau đó và bán ra thị trường. Ở Việt Nam có rất nhiều DN sản xuất sữa bột nhưng trên thực tế, hiện
15

Báo cáo phân tích Công ty Cổ phần sữa Việt Nam (VNM - HOSE), ABS – Chứng khoán An Bình, 2011

26

chỉ duy nhất Vinamilk là DN có đầu tư dây chuyền sản xuất sữa bột từ sữa tươi, có tháp sấy từ sữa tươi thành sữa bột. Chi phí đầu tư cho dây chuyền sản xuất này là rất lớn, phụ thuộc vào tiềm lực tài chính và tiến bộ công nghệ của DN, nên đây cũng chính là nguyên nhân khiến các DN, đặc biệt là DN tư nhân không sẵn sàng bỏ chi phí để đầu tư dây chuyền sản xuất sữa bột. Hơn nữa, như đã phân tích ở trên, nguồn nguyên liệu sữa tươi trong nước còn khá khiêm tốn, chỉ đáp ứng được 20 – 25% đầu vào sản xuất sữa, vì vậy cho dù các DN có tiềm lực về tài chính, công nghệ cũng sẽ cân nhắc kỹ lưỡng về việc lựa chọn nguồn nguyên liệu trước khi quyết định đầu tư dây chuyền sản xuất sữa bột từ sữa tươi. Một nguyên nhân khác có thể kể đến là trong trường hợp sản phẩm không được ưa chuộng, hoạt động sản xuất kém hiệu quả thì rủi ro liên quan đến khoản đầu tư vào dây chuyền sản xuất càng cao và DN có thể bị thua lỗ. Vì vậy, hầu hết các DNVN đều chọn giải pháp an toàn hơn, đó là nhập khẩu sữa bột nền và các vi chất rồi tiến hành trộn theo công thức đã nghiên cứu hoặc mua lại từ các tổ chức nghiên cứu dinh dưỡng. Do phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài nên các DN trong nước thường không tránh khỏi những rủi ro từ biến động giá thế giới cũng như biến động tỉ giá trong nước. Vậy khái niệm “sữa nội” là sữa bột do các DN trong nước sản xuất, “sữa ngoại” là sữa bột nhập khẩu nguyên hộp giờ đây liệu có còn chính xác? Một nhận định nữa về thị trường sữa bột Việt Nam cũng rất đáng quan tâm đó là sự biến động về giá cả. Chỉ riêng trong hai năm 2007 – 2008, mức giá bình quân chung của sản phẩm sữa bột đã tăng gần 30%. Đến gần cuối năm 2011, thị trường lại chứng kiến sự tăng giá đồng loạt của các thương hiệu ngoại như Abbott, Nestlé... với mức tăng dao động từ 8% đến đỉnh điểm là 19%, đồng nghĩa với việc giá các loại sữa trên sẽ tăng trung bình từ 10.000 đồng – 100.000 đồng một hộp tùy theo thương hiệu và khối lượng. Việc tăng giá sản phẩm đem lại lợi nhuận hay chỉ vừa đủ để bù lỗ cho DN thì chỉ nội bộ DN biết, nhưng rõ ràng gánh nặng với người tiêu dùng không nhỏ chút nào. Đến đây một câu hỏi nữa lại được đặt ra: giá sữa bột nhập ngoại không hề rẻ, chất lượng cũng không khác nhiều nhưng vì sao vẫn thu hút người tiêu dùng? Nhắc đến giá cả lại nảy sinh một vấn đề: tại sao sữa bột ngoại khi nhập khẩu và bán tại thị trường Việt Nam lại có giá gấp 100 – 150% sản phẩm

27

tương tự được bán ở các nước cùng khu vực? Liên quan đến thị trường sữa bột Việt Nam rất nhiều câu hỏi “tại sao” được đặt ra bởi thực tế cho thấy thị trường sữa bột nước ta đang tồn tại rất nhiều nghịch lí. Nếu không có những giải pháp phù hợp để khắc phục thì các DNVN sẽ phải đối mặt với nguy cơ đánh mất thị trường của chính mình. Vì vậy bên cạnh những giải pháp hỗ trợ của Nhà nước, các DN phải biết tận dụng những lợi thế sẵn có và đầu tư cải thiện tất cả các khâu trong quá trình sản xuất thì từ đó mới có thể nâng cao NLCT của sản phẩm và khẳng định vị thế trên thị trường.

28

CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM SỮA BỘT CÔNG THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƢỜNG NỘI ĐỊA
1. Khái quát về tình hình phát triển kinh doanh của một số doanh nghiệp kinh doanh sữa tại Việt Nam Với khoảng 60 DN nội địa kinh doanh sữa, thị trường sữa Việt Nam hiện nay vô cùng đa dạng với gần 300 nhãn hàng từ sữa bột, sữa nước, sữa đặc, sữa chua và các sản phẩm sữa khác như kem, bơ, pho mát,…Thu nhập tăng cùng với sự gia tăng hiểu biết về lợi ích của sữa khiến nhu cầu tiêu dùng về sữa ngày càng tăng cao. Với mức tăng dân số hàng năm khoảng 1,2%/năm, tỷ lệ GDP tăng trưởng từ 6 – 8%/năm, cùng với con số không nhỏ các đơn vị tham gia kinh doanh, thị trường sữa Việt Nam được kì vọng là một thị trường cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng được nhu cầu về dinh dưỡng của người Việt Nam. Bên cạnh các DN nội địa, thị trường sữa Việt Nam còn có sự tham gia của các thương hiệu đến từ nước ngoài, có thể kể đến các thương hiệu như Abbott, Dumex, Nestlé, Mead Johnson... Dưới đây là những thông tin cơ bản về một số DN kinh doanh sữa nội địa và nước ngoài chiếm thị phần lớn trên thị trường sữa Việt Nam hiện nay. 1.1. Các doanh nghiệp Việt Nam Công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk 16 Công ty cổ phần sữa Việt Nam, với tên gọi Vinamilk được thành lập năm 1976, tiền thân là Công ty sữa, café miền Nam trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Thực phẩm miền Nam. Vinamilk tập trung mở rộng đầu tư và quy sản xuất giai đoạn 1991 – 2000 và tiến tới hoàn tất cổ phần hóa công ty và đổi tên thành như tên gọi hiện nay vào tháng 3 năm 2003. Năm 2006 đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của Vinamilk khi lần đầu tiên một công ty dinh dưỡng được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Vinamilk được vinh danh trong Top 200 DN xuất sắc nhất khu vực Châu Á năm 2010 do tạp chí Forbes Asia

1.1.1.

16

Bản tin Vinamilk - Quý 3/2011

29

bình chọn. Sản phẩm dinh dưỡng của Vinamilk quen thuộc và đa dạng với người tiêu dung qua 5 thương hiệu chính – Vinamilk: sữa tươi, sữa chua ăn, sữa chua uống, sữa chua men sống, kem, phô mai, sữa bột dành cho người lớn; Dielac: sữa bột dành cho bà mẹ, sữa bột dành cho trẻ em; Ridelac: bột ăn dặm dành cho trẻ em; Vfresh: sữa đậu nành, nước ép trái cây, Smoothie, trà các loại, nước nha đam; sữa đặc: Ông Thọ, Ngôi sao Phương Nam. Năm 2011, doanh thu của Vinamilk chạm mốc 1 tỉ USD (tương đương 22.279 tỷ VNĐ) 17, với số vốn điều lệ là 1,590 tỷ đồng (sau khi mua lại Công ty Cổ Phần sữa Sài Gòn năm 2004). Sở hữu dây chuyền sản xuất hiện đại nhất Việt Nam, thay thế công nghệ “gõ” bằng công nghệ “thổi khí” hiện đại, công nghệ tiệt trùng nhanh nhiệt độ cao để sản xuất sữa tươi tiệt trùng, các dây chuyền chính của Vinamilk bao gồm dây chuyền sữa đặc có đường (công suất 260 triệu hộp/năm), dây chuyền sữa tươi tiệt trùng (237 triệu lít/năm), dây chuyền sữa chua (56 triệu lít/năm), dây chuyền sữa chua men sống Probi (3,5 triệu lít/năm). Các sản phẩm sữa tươi 100% được sản xuất trên dây chuyền khép kín hiện đại bậc nhất, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2008, và hệ thống đảm bảo VSATTP theo tiêu chuẩn HACCP. Để củng cố niềm tin với người tiêu dùng, Vinamilk chú trọng đến chiến lược marketing hướng tới cộng đồng như tổ chức các hoạt động từ thiện, xây dựng các quý khuyến học và học bổng (Vinamilk ươm mầm tài năng trẻ Việt Nam) đồng thời truyển tải những thông điệp với người tiêu dùng qua kênh hình ảnh (bò sữa) và các clip quảng cáo. Vinamilk hiện đang có trên 240 nhà phân phối trên hệ thống phân phối sản phẩm và có trên 140.000 điểm bán hành trên hệ thống toàn quốc, bán hàng qua tất cả các hệ thống siêu thị. 1.1.2. Công ty cổ Phần sữa Hà Nội – Hanoimilk 18 Công ty cổ phần Sữa Hà Nội – Hanoimilk được thành lập ngày 02/11/2001 và bắt đầu khởi công xây dựng nhà máy chế biến sữa đầu tiên vào tháng 03 năm 2002. Năm 2004, Hanoimilk đạt mốc 100 triệu sản phẩm và được niêm yết trên thị trường
17

Theo http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/doanh-nghiep-viet/2012/01/vinamilk-vuot-moc-doanh-thu-1-tyusd-nam-2011/
18

Theo http://hanoimilk.com.vn/vi/trang-chu.html

30

chứng khoán vào năm 2006.Trước “cơn bão Melamine” năm 2008, Hanoimilk thực sự đối mặt với nhiều thách thức và sau đó sản phẩm sữa chủ lực Izzi ra đời đánh dấu sự phục hồi của Hanoimilk năm 2009. Các sản phẩm chính của Vinamilk tập trung quanh 2 dòng sản phẩm chính: sữa tiệt trùng: Izzi, Hanoimilk, Dinomilk; sữa chua uống: Yo-Tuti, Yoha. Hanoimilk hiện đang sở hữu dây chuyền sản xuất nhập khẩu từ tập đoàn Tetra Pak (Thụy Điển) với công suất 80 triệu lít sản phẩm/năm, với vốn đầu tư là 35.5 tỷ đồng (2003). Sản phẩm của Hanoimilk có mặt trên 64 tỉnh thành tuy nhiên thị trường tiêu thụ chính là miền Bắc và Bắc miền Trung. Kênh phân phối truyền thống của Công ty thông qua các nhà phân phối đến các điểm bán lẻ tại các tỉnh như Hà Nội, Hải phòng, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Nam Định, Hải Dương,...Hanoimilk cũng nhắm vào khai thác đối tượng tiêu dụng là trẻ em (là đối tượng tiêu dùng nhiều nhất và thường xuyên nhất, chiếm 41% nhu cầu thị trường sữa) với lượng khách hàng tiêm tăng là trẻ em từ 5-14 tuổi chiếm 30% dân số. 1.2. Các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp nước ngoài Công ty Thực phẩm và nước giải khát Dutch Lady Việt Nam Là thương hiệu của tập đoàn FrieslandCampina (Hà Lan), sản phẩm của Dutch Lady lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam dưới dạng sữa đặc được nhập khẩu năm 1924. Công ty Thực phẩm và nước giải khát Dutch Lady Việt Nam chính thức thành lập ngày 31 tháng 05 năm 1994 và mở rộng quy mô sản xuất, liên tục đầu tư trong giai đoạn 1996 – 2000. Dutch Lady Việt Nam là công ty thực phẩm đầu tiên tại Việt Nam nhận chứng chỉ ISO 9001 vào năm 2000, chứng chỉ HACCP năm 2002. Sản phẩm Dutch Lady Việt Nam có mặt trên thi trường chủ yếu là: sữa bột Cô Gái Hà Lan, sữa nước Cô Gái Hà Lan, sữa đặc, sữa chua uống. Sản phẩm Dutch Lady tới người tiêu dùng thông qua hệ thống hơn 150 nhà phân phối và 100.000 điểm bán lẻ, từ các siêu thị đến tiệm tạp hóa. Du nhập vào thị trường Việt Nam, người tiêu dùng quen thuộc với hình ảnh cô gái Hà Lan của các dòng sản phẩm Dutch Lady cùng các clip quảng cáo trên truyền hình “Bày tỏ nữa đi”, “Ngày của mẹ”… Đồng thời, Dutch Lady tạo lập những giá

1.2.1.

31

trị hướng tới cộng đồng thông qua chương trình phát triển ngành sữa, nhằm hỗ trợ nông dân chăn nuôi bò sữa và quý khuyến học Đèn Đom Đóm (thành lập 2002). 1.2.2. Công ty TNHH Dinh Dưỡng Mead Johnson 19 Mead Johnson là thương hiệu dinh dưỡng lâu đời của Hoa Kì, được thành lập từ năm 1905. Sản phẩm dinh dưỡng đầu tiên cho trẻ em xuất hiện trên thị trường năm 1911 với tên gọi Dextri-Maltose®. Mead Johnson liên tục tăng trưởng và có mặt trên bốn khu vực của thế giới – Bắc Mỹ, Châu Á Thái Bình Dương, Châu Âu và Mỹ Latin, mở rộng danh mục sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong lĩnh vực dinh dưỡng trẻ em. Sản phẩm sữa Mead Johnson quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam: Enfa Mama A+, Enfa Grow A+, Enfa Kid A+. Mead Johnson còn cung cấp các sản phẩm chuyên biệt dành cho trẻ em gặp vấn đề về tiêu hóa hay có các nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt khác. Với mục tiêu và triết lý hành động: “Nuôi dưỡng và mang lại khởi đầu tốt đẹp nhất cho trẻ em trên toàn thế giới”, Mead Johnson đã khởi động nhiều chương trình vì cộng đồng và đặc biệt vì trẻ em, điển hình như chương trình Giúp Đỡ Cho Trẻ Có Hoàn Cảnh Đặc Biệt (Helping Hand for Special Kids
TM

Program), chương trình giúp đỡ cho trẻ có

hoàn cảnh đặc biệt tạo điều kiện để các bác sĩ giúp đỡ cho các em bé có bệnh lý đặc biệt mà gia đình lại không có đủ khả năng để điều trị. Hiện nay, hơn 18.500 gia đình ở Hoa Kỳ đã tham gia vào chương trình này. 2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các sản phẩm sữa bột công thức Việt Nam Cạnh tranh trong ngành sữa luôn diễn ra mạnh nhất ở mảng sữa bột công thức bởi mảng sản phẩm này có sự tham gia của rất nhiều DN cả trong nước và nước ngoài. Mặt hàng sữa bột công thức đem lại lợi nhuận rất lớn cho nhà sản xuất (khoảng 40%) nên đây cũng là mặt hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu các mặt hàng sữa. Theo báo cáo của EMI – hãng chuyên nghiên cứu về thị trường và người tiêu dùng, đây là mảng sản phẩm có tốc độ phát triển nhanh nhất trong ngành thực phẩm đóng gói, với mức tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) đạt 20,8% trong giai đoạn 2004 – 2009. Năm 2009, tổng doanh thu sữa bột công thức
19

Theo http://www.giadinhenfa.com.vn/?p=intro

32

đạt hơn 6590 tỷ VNĐ, chiếm 35,6% doanh thu toàn ngành sữa, tăng mạnh về cả nhu cầu và nguồn cung sản phẩm đa dạng. Sau đây để tìm hiểu thực trạng NLCT của sản phẩm sữa bột công thức từ các DNVN, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích các yếu tố dựa trên cơ sở những tiêu chí đánh giá NLCT sản phẩm của các DNVN so với sản phẩm của các DN nước ngoài (chủ yếu là những DN chiếm thị phần lớn). 2.1. Về giá cả Với sữa bột công thức, giá cả không phải là yếu tố được ưu tiên hàng đầu như một số loại hàng hóa khác trên thị trường. Hơn nữa, một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng Việt Nam quan niệm rằng sữa bột “càng đắt thì càng tốt”, do vậy dù chất lượng sữa nội hiện không thua kém sữa ngoại, thậm chí còn có cùng nguyên liệu đầu vào, giá cả lại thấp hơn rất nhiều nhưng vẫn không thể tạo được sức hút với người tiêu dùng như các sản phẩm sữa nhập khẩu. Bảng 4: Giá sữa của một số nhãn hiệu sữa bột công thức trên thị trường hiện nay 20 Giá/hộp (VNĐ) 400g 900g 180.000

Hãng sữa

Nhãn hiệu

Vinamilk Nutifood Abbott Meiji

Dielac Alpha 123 91.000 Dielac Pedia 1+ Nuti IQ 2 Similac 1 Gain Plus 3 Meiji số 1

146.000 315.000 87.000 166.000

283.000 483.000 213.000 440.000 x 410.000

FrieslandCampina Friso Gold 1 Namyang Iam Mother 4

220.000 448.000 333.000 630.000 (*) (*) hộp 850g

(x) không có loại 400g

So với các dòng sản phẩm của Abbott, Mead Johnson, Meiji, hay XO, các sản phẩm của Vinamilk và Nutifood có mức giá thấp hơn rất nhiều, từ 20 – 70% tùy vào dòng sản phẩm (Alpha, Step, Pedia ...). Bậc cha mẹ nào cũng muốn lựa chọn những sản phẩm tốt nhất cho con mình, tuy nhiên điều kiện kinh tế của mỗi gia đình lại
20

Số liệu khảo sát thực tế, xem thêm ở Phụ lục 5

33

không hề giống nhau. Đặc biệt trong thời buổi “bão giá”, khi giá cả các mặt hàng đều tăng cao, việc chọn mua một sản phẩm sữa bột có giá gần 500.000 đồng hoặc cao hơn thế không phải là một quyết định chi tiêu đơn giản đối với những gia đình có điều kiện kinh tế trung bình. Do vậy đây là một lợi thế cạnh tranh rất lớn của các sản phẩm sữa bột Việt Nam, tuy nhiên với điều kiện hiện nay lợi thế này vẫn chưa đủ để sữa bột nội địa có thể giành lấy thị phần từ các nhãn hiệu sữa nhập khẩu trên chính thị trường của mình. Theo Thông tư số 104, sữa là một trong những hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá 21. Tuy nhiên thông tư 104/2008 còn quá nhiều kẽ hở, do đó các DN vẫn có thể lách luật và tiếp tục tăng giá sữa. Mức giá bình quân trên toàn thị trường của nhóm sản phẩm sữa bột, đặc biệt là sữa bột dành cho trẻ em liên tục tăng trong thời gian qua. Năm 2007, mức giá bình quân của nhóm sản phẩm sữa bột trên thị trường là 155,729 triệu đồng/tấn. Đến năm 2008, mức giá này tăng lên 187,956 triệu đồng/tấn, tăng 20,7% 22. Trong năm 2009, giá sữa tăng thêm 10 – 15% và là động lực chính cho tăng trưởng doanh thu bán sữa 23. Như vậy chỉ sau hai năm mức giá bình quân chung của nhóm sản phẩm sữa bột đã tăng hơn 30%. Trong những tháng đầu năm 2010, hầu hết các DN sữa nội, ngoại đều thực hiện hai đợt điều chỉnh tăng giá với mức tăng từ 6 – 18%. Cụ thể trong đợt tăng giá từ 2 tháng đầu năm, các hãng sữa ngoại như Abbott, FrieslandCampina... đều đồng loạt tăng giá bán từ 7 – 10%, Friso Gold có mức tăng hơn 20.000 đồng/hộp loại 900g, Abbott tăng hơn 1,04%, Meiji loại 1 tăng lên 362.000 đồng/hộp loại 900g. Với các hãng sữa nội, Vinamilk cũng có hai đợt điều chỉnh giá bán sữa bột tăng thêm khoảng 6%, dòng Dielac Alpha trọng lượng 900g có giá mới từ 147.400 – 150.500 đồng/hộp tùy loại 24. Đến tháng 7, 17 nhãn hiệu sữa bột của Dumex tăng giá thêm 10%, XO nhập khẩu từ Hàn Quốc điều chỉnh tăng thêm 2,5%, và sang đến đầu tháng 8, Abbott có đợt điều chỉnh tăng giá đồng loạt 7% với ba nhãn sữa

21 22

Thông tư số 104/2008/TT-BTC, Bộ Tài chính Theo http://www.tinkinhte.com/nd5/print/114316.html 23 Báo cáo ngành sữa 2009, Habubank Securities 24 Theo http://www.hanoimoi.com.vn/print/314332/print.htm

34

Similac Eye-Q Plus, Similac Gain Eye-Q Plus và Gain Plus Eye-Q 25. Lí giải về việc tăng giá, các DN cho rằng giá sữa bột nhập khẩu tăng cao là do đồng USD tăng giá so với VNĐ khiến giá sữa nguyên lon khi nhập về được quy đổi ra VNĐ tăng. Đại diện của Vinamilk cho biết giá sữa nguyên liệu nhập về để đóng gói trong nước tăng thêm khoảng 50% so với giá tháng 9/2009, giá đường để sản xuất tăng 100% nên công ty buộc phải tăng giá mới có thể bù đắp chi phí. Trái với đà tăng của các hãng sữa khác, Nestlé Việt Nam lại giảm giá ở các mặt hàng sữa từ 4 – 5%. Giám đốc đối ngoại của hãng này cho biết, yếu tố khiến hãng giữ được mức giá thấp là do tuân thủ đúng quy định của Bộ Tài chính về chi phí quảng cáo và tiếp thị đối với các sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi. 26 Bước sang năm 2011, ngày từ đầu tháng 1/2011, nhiều hãng sữa như: Friso, Hanco, Dutch Lady… đã đồng loạt tăng giá bán với mức tăng từ 5 – 10%. Gain Plus IQ loại 900g của Abbott tăng khoảng 10.000 đồng lên thành 400.000 đồng/hộp, Pediasure loại 900g tăng mạnh lên đến 490.000 đồng/hộp. Cũng trong năm 2011, các hãng sữa Mead Johnson, Abbott và Nestlé đã nộp hồ sơ cho Bộ Tài chính, đăng ký nâng giá sản phẩm. Cụ thể, Mead Johnson đăng ký tăng giá 18 – 19% cho 3 trong 35 dòng sản phẩm như Anfalac loại 400 gram, Lactofree Powder 400g, Prgestimil Lipid Powder 400g từ ngày 1/12; công ty TNHH Dược phẩm 3A chuyên phân phối sữa của Abbott nâng giá khoảng 9% đối với tất cả các loại sữa; Nestlé Việt Nam cũng áp dụng điều chỉnh giá lên 8% đến 10% đối với 2 loại sữa là Nan và Lactogen Gold từ ngày 20/12, trong khi đó cách đây hơn 3 tháng, dòng sữa Lactogen nhập khẩu từ Philippines của đơn vị này đã nâng giá 3% đến 10% 27. Đây là đợt tăng giá thứ 3 trong năm 2011 của thị trường sữa bột. Các loại sữa tăng giá trong lần này đều là sữa ngoại. Với mức tăng từ 8% đến đỉnh điểm là 19% như trên, giá các loại sữa của những hãng trên sẽ lên giá từ 10.000 đồng đến hơn 100.000 đồng mỗi hộp, tùy theo thương hiệu và khối lượng. Giải thích về việc tăng giá, nguyên nhân mà các hãng sữa đưa ra vẫn là chi phí đầu vào tăng cao do tỷ giá liên
25 26

Theo http://www.dantri.com.vn/c83/s83-420167/sua-tang-gia-dai-ly-cung-phat-sot.htm Theo http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/Kinh-te/314332/quan-ly-gia-sua-bot-nhieu-ke-ho-de-doanhnghiep-lach-luat.htm 27 Theo http://www.vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/12/sua-bot-ngoai-tang-gia-manh/

35

tục tăng, hay thuế nhập khẩu sữa cũng tăng từ 5% lên 10%, đặc biệt chi phí mua nguyên liệu cũng tăng mạnh từ 10 – 30%, lương nhân công và chi phí sản xuất đều tăng. Tuy nhiên từ tháng 4/2011 giá sữa trên thế giới đã liên tục giảm mạnh, nhưng giá sữa trong nước vẫn không có dấu hiệu giảm. Trái với “ma trận giá” của các hãng sữa ngoại, đại diện của Vinamilk cho biết các sản phẩm sữa bột của DN này đang thực hiện chương trình bình ổn giá theo chủ trương của thành phố nên không tăng giá đến hết năm 2011. Hiện ở TPHCM có đến 18 loại sữa dành cho trẻ em, người già và phụ nữ mang thai của hai hãng Nutifood và Vinamilk tham gia bình ổn giá. Đây cũng là cơ hội cho các hãng sữa nội thu hút một lượng khách hàng lớn trước đà tăng của các hãng sữa ngoại. Từ đầu tháng 1/2012, Vinamilk tuyên bố tăng giá một số sản phẩm sữa với mức tăng từ 5 – 7% bắt đầu từ ngày 23/1. Nguyên nhân của đợt điều chỉnh giá lần này theo đại diện Vinamilk là do giá nguyên liệu sữa hiện đã tăng hơn 20%, còn các nguyên vật liệu đầu vào khác cũng tăng từ 40 - 60%. Thêm vào đó, chi phí đầu vào cho sản xuất như điện, nước, phí vận chuyển, xăng dầu… hiện cũng đã tăng từ 10 – 15% so với cùng kỳ nên Vinamilk buộc phải điều chỉnh tăng giá bán để bù đắp một phần chi phí sản xuất, nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong năm 2012 28. Đợt tăng giá của Vinamilk liệu có phải là bước khởi đầu cho đà tăng giá của các hãng sữa nội, ngoại trong năm 2012 hay không cho đến giờ vẫn chưa có đáp án chính thức, nhưng dù là tăng giá dưới hình thức nào thì người tiêu dùng vẫn là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn nhất. Như đã đề cập ở trên, sữa là mặt hàng nằm trong danh mục bình ổn giá theo thông tư 104/2008 của Bộ Tài chính. Tuy nhiên theo quy định, chỉ khi DN tăng giá sữa từ 20% trở lên trong vòng 15 ngày thì Nhà nước mới áp dụng các biện pháp bình ổn giá. Với quy định này, DN chỉ cần tăng giá trong nhiều đợt, mỗi đợt từ 5 – 10% là có thể nằm ngoài vòng kiểm soát, thêm vào đó quy định này không áp dụng với các DN nước ngoài nên càng tạo điều kiện cho các DN nước ngoài có cơ hội
28

Theo http://www.baomoi.com/Home/ThiTruong/vneconomy.vn/Vinamilk-tang-gia-sua-vao-mung-1Tet/7757890.epi

36

“lách luật”. Để hạn chế tình trạng các hãng sữa bột nước ngoài tùy tiện tăng giá, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 122/2010 thay thế Thông tư 104/2008, theo đó tất cả các mặt hàng sữa bột nhập khẩu cho trẻ em dưới 6 tuổi phải đăng kí và kê khai giá với cơ quan quản lí giá. Thông tư được ban hành trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết, tuy nhiên giới chuyên gia cũng lo ngại rằng “giới hạn” của thông tư này chỉ có thể áp dụng với các DNVN còn với các DN nước ngoài vẫn rất khó kiểm soát giá bán. Giá sữa thế giới thường xuyên biến động tăng giảm thất thường do tác động của cung – cầu, tuy nhiên kể cả khi giá sữa trên thế giới ít biến động (năm 2010) hay có xu hướng giảm (năm 2009 giảm rất mạnh, đầu năm 2011 có tăng nhưng từ tháng 4/2011 đã có xu hướng giảm), giá sữa tại thị trường Việt Nam vẫn luôn trên đà tăng, đặc biệt là mặt hàng sữa bột. Đây chính là một trong những nghịch lí đang tồn tại trên thị trường sữa bột nước ta. Một nghịch lí khác cũng đang tồn tại trên thị trường đó là giá sữa bột nhập khẩu vào Việt Nam thuộc hàng rất cao so với mặt bằng chung trên thế giới. Theo khảo sát của Ban Bảo vệ người tiêu dùng của Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, giá sữa bột nguyên hộp nhập khẩu ở Việt Nam cao hơn từ 20 – 60% so với giá sữa cùng loại ở các nước trong cùng khu vực, cá biệt có trường hợp còn cao hơn từ 100 – 150%. Đây là điểm tương đối bất hợp lý bởi giá nguyên liệu trên thế giới giảm mạnh thì giá thành phẩm không thể giữ ở mức cao, hơn nữa mức thuế suất trung bình với sữa bột nguyên liệu ở Việt Nam là 3 – 5%, với sữa nguyên hộp là khoảng 20%, thấp hơn rất nhiều so với thuế nhập khẩu ở các nước khác trong khu vực (ví dụ như Thái Lan, mức thuế này dao động từ 9 – 40%). Theo Tiến sĩ Hồ Tất Thắng - Phó chủ tịch Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam 29, giá thành sữa phụ thuộc vào các yếu tố về thành phần vi chất, vi lượng, chi phí bao bì, đóng gói, lợi nhuận của các nhà sản xuất, phân phối, bán lẻ, quảng cáo, tuy nhiên chi phí sữa ngoại ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào các yếu tố như hình thành mạng lưới phân phối, chi phí cho quảng cáo, và các loại chi phí phục vụ quản lý, chi phí sản xuất cao hơn trong nước... Liệu đây có phải là
29

Theo http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/162656/Vi-sao-sua-bot-ngoai%C2%A0o-VN-dat-nhat-thegioi.html

37

hiện tượng “làm giá”, độc quyền của các nhà phân phối trong nước cấu kết nhằm thu lợi nhuận hay không? Trước khi có lời giải thích đáng cho câu hỏi trên thì cho đến nay người tiêu dùng là đối tượng phải gánh chịu những chi phí bất hợp lí trên. Đây chính là những bất cập đang tồn tại trên thị trường sữa bột Việt Nam hiện nay và cần phải có những giải pháp nhất định để đem lại công bằng cho người tiêu dùng. Có thể thấy ma trận giá sữa ở thị trường sữa bột Việt Nam rất khó kiểm soát. Theo kết quả từ cuộc khảo sát thị trường do nhóm nghiên cứu thực hiện vào giữa tháng 3/2012 ở một số đại lý sữa trên địa bàn Hà Nội, không chỉ riêng sữa ngoại mà ngay cả các hãng sữa nội đều có đợt điều chỉnh tăng giá ở hầu hết các mặt hàng từ 10 – 15%. Cũng chính bởi sữa ngoại và sữa nội đều đồng loạt tăng giá do đó khoảng cách về giá giữa hai phân khúc này vẫn còn tương đối lớn, nhưng nếu xét về số lần điều chỉnh tăng giá thì giá sữa ngoại vẫn tăng nhiều hơn. Giá sữa bột của các nhãn sữa ngoại trên thị trường hiện nay đang ở mức rất cao, dao động từ 350.000 – 700.000 đồng một lon có trọng lượng 900g, trung bình một lon như vậy các bé có thể uống hết trong khoảng 10 ngày, như vậy việc tiêu dùng sữa bột chiếm khoản chi phí khá lớn trong chi phí sinh hoạt hàng tháng của mỗi gia đình có con nhỏ. Với những gia đình có thu nhập chỉ ở mức trung bình, khá rõ ràng giá cả sẽ là một tiêu chí cần xem xét khi lựa chọn sản phẩm sữa bột công thức. Theo kết quả cuộc điều tra mà nhóm nghiên cứu đã tiến hành trên 100 bậc cha mẹ có con nhỏ đang tiêu dùng sữa bột công thức 30, trong 28% người tiêu dùng (28/100 người) sử dụng các nhãn sữa nội thì tiêu chí đầu tiên khiến họ lựa chọn sữa nội chính là giá cả. Đây có thể coi là một lợi thế cạnh tranh của các nhãn sữa nội so với sữa ngoại, phụ thuộc rất lớn vào khả năng tài chính của người tiêu dùng. Tuy nhiên ở một bộ phận người tiêu dùng khác, dù giá có tăng cao đến mức nào, sữa ngoại vẫn là lựa chọn hàng đầu được các bậc cha mẹ tin dùng. Theo đánh giá của nhân viên ở các đại lý sữa, các dòng sản phẩm của Abbott và Friso Gold của FrieslandCampina thường được nhập với số lượng lớn hơn sản phẩm của các hãng sữa khác, nguyên nhân được lí giải rất ngắn gọn là do người tiêu dùng thường xuyên chọn những nhãn sữa trên do đó phải
30

Xem thêm hình thức phiếu điều tra ở Phụ lục 6

38

nhập nhiều để cung đáp ứng kịp cầu. Các đại lý sữa cũng cho biết thêm mức tiêu thụ các sản phẩm sữa nội cũng rất lớn bởi mức giá tương đối phù hợp với một bộ phận người tiêu dùng, nhưng với phần đông khách hàng, đôi khi vì giá cả có phần khiêm tốn lại chính là yếu tố khiến họ không tin tưởng vào chất lượng của các sản phẩm sữa nội bởi quan niệm “tiền nào của nấy”. Nhận định này khá trùng khớp với kết quả điều tra mà nhóm đã tổng hợp. Theo số liệu điều tra thu được 31, trong 72% khách hàng (72/100 người) sử dụng các nhãn sữa nước ngoài, có tới 26,39% cho rằng một trong những lí do khiến sản phẩm sữa bột trong nước chưa thuyết phục được họ là do “Giá thấp nên cảm thấy không tin tưởng”. Có thể thấy yếu tố này hoàn toàn xuất phát từ tâm lý và quan điểm tiêu dùng của mỗi người, ở một khía cạnh nào đó, giá cả thấp hơn cũng chưa hẳn đã là một lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm sữa nội địa. 2.2. Về chất lượng sản phẩm Dưới góc độ tâm lí tiêu dùng, không ít người vẫn cho rằng sản phẩm đắt tiền nhất mới là sản phẩm có chất lượng tốt. Đây là một thực tế chưa thể thay đổi được, cho nên người tiêu dùng cần phải có kiến thức về sản phẩm, về đối tượng thụ hưởng trực tiếp sản phẩm để có được sự lựa chọn thông minh. Theo bà Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng Viện dinh dưỡng quốc gia, phương châm của viện là chú trọng tuyên truyền việc nuôi con bằng sữa mẹ bởi sữa mẹ là thức uống tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, và mọi hành vi quảng cáo cho các hãng sữa (kể cả sữa nội) đặc biệt là các sản phẩm cho trẻ dưới một tuổi là trái với nghị định của Chính phủ, nhưng không thể phủ nhận rằng sữa bột công thức vẫn là một sản phẩm thiết yếu trong việc hỗ trợ, bổ sung dưỡng chất cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Là sản phẩm dinh dưỡng dành cho trẻ em – đối tượng dễ bị thương tổn do sức đề kháng còn yếu, chất lượng phải luôn là yếu tố được ưu tiên hàng đầu. Đóng vai trò quan trọng là vậy nhưng đây cũng là loại thực phẩm có nguy cơ mất an toàn cao đối với người tiêu dùng, vì vậy chất lượng an toàn vệ sinh về nguyên liệu sữa bột cần phải được các cơ quan quản lý Nhà nước quan tâm, kiểm soát chặt chẽ. Các cơ sở sản xuất kinh doanh phải công bố tiêu chuẩn chất lượng, công khai hàm
31

Xem thêm số liệu thống kê ở Phụ lục 7

39

lượng dinh dưỡng, hàm lượng của các loại vi chất, vi lượng và đăng kí chất lượng tại cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng phải đảm bảo đủ điều kiện về an toàn vệ sinh thực phẩm mới được phép sản xuất. Tuy nhiên, thực tế ở thị trường sữa bột Việt Nam, rất nhiều cơ sở sản xuất, đặc biệt là những cơ sở sản xuất thủ công đã không tuân thủ các quy định của nhà nước trong việc quản lý chất lượng an toàn, vệ sinh, dẫn đến đưa ra thị trường những loại sữa không đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh. Nhưng dường như người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn mua hàng dựa theo cảm tính và bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác hơn là chú ý đến chất lượng sản phẩm. Cũng chính vì vậy, từ sau những vụ bê bối như sữa bột chứa melamine, chứa chất gây ung thư, hay sữa bột nhiễm khuẩn, người tiêu dùng mới thêm cảnh giác và quan tâm nhiều hơn đến chất lượng thực sự của sản phẩm. Trái với tâm lí “ham rẻ”, một bộ phận người tiêu dùng khác lại cho rằng sữa càng đắt tiền thì càng nhiều dưỡng chất, đặc biệt những loại sữa có chứa DHA, canxi, Tourine, A+... có khả năng kích thích hoạt động não bộ, tăng cường khả năng tư duy, giúp trẻ “cao hơn”, “thông minh hơn” lại càng được quan tâm. “Nắm thóp” được tâm lí này, hầu hết các hãng sữa ngoại đều nâng cấp các dòng sản phẩm truyền thống của mình thành những dòng sản phẩm “cao cấp hơn” có bổ sung một số “dưỡng chất” chứa trong sữa mẹ, đặc biệt là DHA và ARA – hai chất béo được cho là chiếm thành phần cao trong não bộ và được quảng cáo là làm cho trẻ trở nên “thông minh vượt trội”, ngoài ra kết quả còn được kiểm định bởi nghiên cứu, hay một tổ chức nào đó để củng cố thêm lòng tin ở người tiêu dùng. Trong một diễn đàn trực tuyến do báo điện tử Tiền Phong tổ chức 32, Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn – Trưởng Bộ môn Tâm lí học Trường Đại học Sư phạm TP HCM đã bày tỏ quan điểm “Phát triển chỉ số IQ của trẻ phụ thuộc vào yếu tố bẩm sinh - di truyền, không phải cứ uống nhiều sữa có các dưỡng chất hỗ trợ IQ là có IQ vượt trội. Chỉ số thông minh của bé phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau và dinh dưỡng không là yếu tố tiên quyết hay quyết định. IQ của con người phụ thuộc vào 70% yếu tố di truyền và 30%
32

Theo http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/162656/Vi-sao-sua-bot-ngoai%C2%A0o-VN-dat-nhat-thegioi.html

40

các yếu tố khác: môi trường giáo dục, cách thức giáo dục, sự tích cực hoạt động của đứa trẻ trong cuộc sống. Để có sự phát triển trí tuệ tốt, đừng nghĩ cứ uống sữa là đủ”. Liệu rằng uống sữa ngoại có thực sự giúp trẻ em thông minh hơn như trong các quảng cáo hay không thì chưa rõ, nhưng các vi chất như DHA, ARA trong sữa bột công thức vẫn chưa được xác định rõ ràng 33. Hiện nay, chất lượng sữa bột công thức vẫn được đánh giá theo tiêu chuẩn của năm 1998 về vi sinh vật, kim loại nặng, độc tố vi nấm, nhóm dinh dưỡng (đường, đạm, béo, vitamin) và một số chỉ tiêu vệ sinh khác. Để đảm bảo những sản phẩm thay thế sữa mẹ như sữa bột công thức an toàn cho sức khoẻ và sự phát triển bình thường của trẻ nhỏ, cần phải có những kiểm định khoa học cụ thể để chứng minh những sản phẩm này có hàm lượng dinh dưỡng tương đương sữa mẹ. Sữa bột công thức chứa đến hàng chục thành phần dinh dưỡng khác nhau, mỗi thành phần đều đóng vai trò nhất định. Những tác dụng như “thông minh hơn”, “đề kháng tốt hơn” đều chỉ là thông điệp quảng cáo của các công ty, còn thực tế ngoài một số thành phần “cơ bản” như canxi, protein, lipit có thể nắm được sơ qua, hầu hết với các thành phần còn lại người tiêu dùng đều không biết được tác dụng thực sự của thành phần đó là như thế nào. Theo xu hướng “nâng cấp sản phẩm”, các hãng đều đổi mới bằng cách bổ sung dưỡng chất mới trong thành phần sữa bột. Chung quy lại thì dưỡng chất vẫn là DHA, Tourin, A+ ..., nhưng giữa một loạt các sản phẩm đều nâng cấp thành phần tương tự nhau sẽ khó tạo được dấu ấn riêng, nên giải pháp của các DN để tạo sự khác biệt là đặt tên các chất có trong sản phẩm một cách gọi khác. Một số ghi có DHA và ARA, có hộp ghi tiền tố DHA, + AA rồi A +, hay omega 3, omega 6 ... Cứ khoảng vài tháng là một dòng sữa mới ra đời với tên gọi mới, trong thành phần có thêm các chất đặc biệt như canxi, DHA ... hoặc hương vị mới, bao bì mới với giá bán cao hơn sản phẩm cũ từ 3.000 đồng – 10.000 đồng. Đơn cử như dòng Gain của Abbott, sau khi tăng thêm vi chất giúp “tăng cường IQ”, thay đổi tên gọi từ Gain thành Gain Plus IQ và thay đổi mẫu mã của vỏ hộp thì giá đã tăng lên 9.000 đồng/hộp. Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sữa bột “có chứa DHA” để giúp trẻ “thông minh và cao lớn vượt trội” của các bậc cha mẹ,
33

Theo nhận định của ông Đào Quang Quyết, Phòng nghiệp vụ Trung tâm Kiểm nghiệm VSATTP, Viện Dinh dưỡng Việt Nam

41

không chỉ riêng các hãng sữa ngoại đồng loạt nâng cấp sản phẩm cũ thành những dòng mới có bổ sung DHA, các hãng sữa nội trong nước cũng cho ra mắt các dòng sản phẩm sữa bột chứa DHA. Tuy nhiên theo kết quả thử nghiệm của Trung tâm kĩ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 (Quatest 3) thì trong thành phần dinh dưỡng của nhãn sữa bột trẻ em Grow Milk IQ do Công ty TNHH Thực phẩm dinh dưỡng Vita sản xuất không tìm thấy chất DHA, trong khi đó hàm lượng này được ghi trên bao bì với mức từ 2 – 10 mg/100gr 34. Trước đó, cuối tháng 11/2011, cơ quan chức năng còn phát hiện tại công ty này loại sản phẩm sữa bột trên có nhãn ghi “nguyên liệu New Zealand – Australia”, nhưng kiểm tra sổ sách thì không thấy nguồn nhập từ 2 thị trường này. Giải thích về công dụng của DHA, PGS. TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Việt Nam cho biết DHA (Docosa Hexaenoic Aacid) là acid béo thuộc nhóm omega – 3. Đây là chất rất quan trọng nhưng cơ thể không thể tự tổng hợp được mà phải đưa vào từ nguồn thực phẩm. DHA có vai trò đặc biệt với trẻ em, nhất là trong giai đoạn từ 0 - 6 tuổi, để phát triển hệ thần kinh trung ương, não bộ, thị giác và sức khỏe tổng thể, các trẻ đẻ non và sơ sinh bình thường đòi hỏi phải cung cấp đủ DHA. Trong thành phần sữa mẹ đã cung cấp đủ EFAs cho trẻ (đủ hàm lượng DHA). Ngoài ra, DHA có nhiều trong cá và thủy sản, các loại dầu ăn có tiền tố DHA... 35. Đối với trẻ em, đây là hoạt chất quan trọng vì thế, việc hàm lượng DHA không có hoặc thấp hơn công bố là một hành vi đánh lừa người tiêu dùng và sẽ trực tiếp làm ảnh hưởng tới sự phát triển tối ưu của trẻ. Quan sát thị phần của các thương hiệu sữa bột trên thị trường, có thể thấy Abbott và Mead Johnson là hai thương hiệu nước ngoài đang thống lĩnh thị trường sữa bột Việt Nam. Vị thế vững vàng của hai thương hiệu trên khẳng định uy tín về chất lượng cũng như sự tín nhiệm từ phía người tiêu dùng. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, có không ít những vụ khiếu nại chất lượng gây xôn xao dư luận từ khách hàng liên quan đến sản phẩm của các hãng sữa này. Năm 2011, nhãn sữa Enfakid A+ của Mead Johnson gặp vấn đề về chất lượng với nghi vấn trong sữa có
34

Theo http://www.xahoi.com.vn/kinh-doanh/thi-truong-tieu-dung/khong-tim-thay-chat-dha-trong-sua-botgrow-milk-iq-nhu-cong-bo-70069.html 35 Theo http://www.dunghangviet.vn/hv/bao-ve-khach-hang/san-pham-khuyen-cao/2012/02/quang-cao-dhatrong-sua-bot-coi-chung-bi-lua.html

42

chứa dị vật lạ được cho là “bọ đen” theo khiếu nại của khách hàng. Tuy đại diện của Công ty TNHH Mead Johnson Nutrition Vietnam đã có phản hồi cho rằng những dị vật màu đen chỉ là hạt sữa cháy xém, không gây hại và sự xuất hiện của những dị vật này là bình thường trong ngành sữa, nhưng kết luận của DN trên vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lí và không nhận được sự đồng tình từ khách hàng đã mua sản phẩm trên. Cho đến nay vẫn chưa có một câu trả lời thỏa đáng cho sự việc này cũng như một kết luận kiểm nghiệm chính thức từ phía các chuyên gia hay tổ chức kiểm định, mặc dù Mead Johnson vẫn khẳng định sản phẩm của họ không hề có “bọ đen” nhưng sự việc trên đã phần nào gây chấn động tới tâm lí của những bậc cha mẹ trước giờ vẫn tin tưởng lựa chọn sản phẩm này. Nhãn sữa Grow Advance của hãng Abbott cũng không nằm ngoại lệ, theo thông tin từ đường dây nóng của Ban bảo vệ khách hàng trên website Phunutoday, rất nhiều người tiêu dùng đã phản ánh về tình trạng sữa bột của hãng không tan khi pha trong nước ấm và có hiện tượng nổi váng, không chỉ vậy những hạt sữa vón cục khi nếm có vị rất đắng. Tuy đã nhận được khiếu nại của khách hàng nhưng nhà phân phối chỉ đưa ra lời giải thích rất chung chung và không có bất cứ sự phản hồi hay giải quyết theo hướng thỏa đáng nào để đem lại công bằng cho người tiêu dùng. Trong những tháng cuối năm 2011, Nhật Bản cho biết đã phát hiện sữa bột Meiji của hãng Meiji Holdings Co chứ hàm lượng chất phóng xạ cesium lên tới 30,8 bq/kg, dấy lên sự quan ngại về bức xạ hạt nhân đang len lỏi vào thực phẩm dành cho trẻ nhỏ sau thảm họa động đất và sóng thần tại Nhật diễn ra hồi tháng 3/2011 36. Tuy công ty đã tiến hành kiểm nghiệm sau khi nhận được đơn khiếu nại từ một khách hàng và kết quả cho thấy cường độ phóng xạ cesium có trong các lô sữa bột Meiji Step, hộp 850gr, sản xuất hồi tháng 3 là 137 và 134, mức độ này được xem là an toàn và không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em. Nhưng Tổ chức Y tế Thế giới cũng cho biết nếu trẻ em ăn, uống phải các loại thực phẩm chứa chất phóng xạ có thể bị tích tụ trong tuyến giáp và gây ra căn bệnh ung thư. Người dân Nhật Bản quan ngại rằng chất phóng xạ phát tán trong không khí, đất và thực phẩm sau khi xảy ra thảm họa có thể gây tổn hại DNA, gây bệnh
36

Theo http://www.tintuc.me/kinh-te/Thi-truong/Sua-bot-tre-em-Meiji-bi-phat-hien-nhiem-phongxa/229300.html

43

bạch cầu và các loại ung thư khác, mà trẻ em lại là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất. Vì vậy cần phải loại bỏ tất cả các loại thực phẩm nhiễm xạ cho dù chúng ở mức độ an toàn hay không. Theo nhà sản xuất, mặc dù những sản phẩm sữa bột này chỉ bán ở Nhật Bản nhưng người tiêu dùng Việt Nam cũng không khỏi hoang mang vì sữa bột công thức của Meiji là một trong những nhãn hiệu được các bậc phụ huynh ưa chuộng. Trong quá trình thu thập thông tin ở các đại lý sữa, nhóm nghiên cứu có đặt ra câu hỏi: Chất lượng sữa nội đã được kiểm định là không kém gì sữa ngoại, vậy vì sao vẫn không được ưa chuộng như sữa ngoại. Bác bỏ quan điểm trên, nhân viên ở các đại lý sữa cho biết lí do khiến người tiêu dùng chỉ thích dùng sữa ngoại vì “sữa nội không thể bằng được sữa ngoại”, đó cũng quan điểm của đa số người tiêu dùng. Khi được hỏi về căn cứ để đưa ra quan điểm trên, họ cho biết một số bé uống Dielac không hợp và Abbott, Mead Johnson, Dumex... đã là những thương hiệu có tiếng nên chất lượng chắc chắn được đảm bảo. Cũng theo số liệu điều tra, khi được hỏi về tiêu chí lựa chọn nhãn sữa, 50% (36/72 người) đối tượng sử dụng sữa ngoại lựa chọn chất lượng là yếu tố hàng đầu khiến họ tiêu dùng sản phẩm trên. Thậm chí có tới 84,73% đánh giá chất lượng sản phẩm họ đang dùng ở mức rất cao và rất cao. Đối với những người sử dụng nhãn sữa trong nước, chỉ có 28,57% đánh giá cao chất lượng sản phẩm đang dùng, còn lại chỉ đánh giá ở mức trung bình hoặc thấp. Có thể thấy về chất lượng, các nhãn sữa nội chưa có được lợi thế cạnh tranh so với nhãn sữa ngoại. Lí do người tiêu dùng đưa ra khi lựa chọn sản phẩm sữa ngoại không phải là không có lý, tuy nhiên vẫn còn dựa nhiều vào cảm tính mà chưa dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học đã chứng minh. Tuy nhiên kết quả điều tra cũng cho thấy dù không chiếm tỉ lệ lớn nhưng một bộ phận người tiêu dùng đã thực sự có niềm tin với chất lượng sữa nội và lựa chọn sữa nội vì tiêu chí chất lượng. Nhìn chung, cách lựa chọn sản phẩm sữa bột của người tiêu dùng Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố cảm tính như giá cả, xuất xứ nước ngoài và bị chi phối bởi quảng cáo mà chưa có sự hiểu biết nhất định về thông tin sản phẩm và thông tin dinh dưỡng. Theo bà Bùi Thị Hương – Giám đốc đối ngoại của Vinamilk, thời gian qua Vinamilk có hợp tác với Viện Dinh dưỡng quốc gia – cơ quan đầu ngành về dinh dưỡng tại Việt

44

Nam – trong việc nghiên cứu các sản phẩm dinh dưỡng đặc thù cho người Việt Nam nhằm tìm ra một công thức sữa tối ưu. Có thể thấy sự hợp tác giữa một đơn vị sản xuất với một đơn vị nghiên cứu chuyên môn về dinh dưỡng là rất có lợi cho người tiêu dùng. Với những nghiên cứu khoa học đã, đang và sẽ được áp dụng thực tế, chắc chắn trong tương lai thị trường sẽ có được những sản phẩm có chất lượng cao, giá cả phải chăng, phù hợp với thu nhập của người Việt Nam và phù hợp với đặc thù phát triển của trẻ em Việt Nam. Sữa bột do Việt Nam sản xuất (Dielac) có đầy đủ thành phần dinh dưỡng và các dưỡng chất bổ sung tương đương sữa bột nhập ngoại. Thậm chí, Viện dinh dưỡng đã tiến hành thử nghiệm trên 500 trẻ em để so sánh hiệu quả giữa chất lượng sữa nội (Dielac Alpha) và sữa ngoại. Kết quả cho thấy sữa nội giúp trẻ phát triển chiều cao tương đương sữa ngoại và còn chiếm ưu thế hơn về cân nặng, trong khi giá thành chỉ bằng 1/3 giá sữa ngoại. Nhưng như đã đề cập ở trên, người Việt Nam còn quá tin vào quảng cáo sữa ngoại nên vẫn cho rằng thêm chất này chất kia vào sữa sẽ giúp trẻ thông minh hơn, trong khi Vinamilk quan niệm rằng quảng cáo là phải trung thực, đặt lợi ích người tiêu dùng lên trên hết. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến cho sản phẩm sữa bột của các DN nội địa như Vinamilk, Nutifood ... không được tin dùng và ưa chuộng như các thương hiệu nước ngoài. 2.3. Về phương thức quảng bá sản phẩm Khi sản phẩm được sản xuất ra, vấn đề mà DN quan tâm nhất đó là làm thế nào để bán được sản phẩm. Muốn có lợi nhuận thì sản phẩm phải cạnh tranh được, muốn cạnh tranh được thì phải lôi kéo được thật nhiều khách hàng, vậy làm thế nào để sản phẩm có thể thu hút được sự chú ý từ khách hàng? Ngoài các tiêu chí cơ bản như chất lượng tốt, giá cả phù hợp, bao bì đẹp mắt, một sản phẩm đáp ứng được tất cả các tiêu chí trên chưa hẳn đã là sản phẩm có sức cạnh tranh nhất nếu không có một chiến lược quảng bá phù hợp. Phương thức quảng bá là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới NLCT của sản phẩm. Không chỉ riêng với mặt hàng sữa bột công thức, hầu hết với mọi loại hàng hóa – dịch vụ, hình thức quảng bá phổ biến nhất là quảng cáo trên các phương tiện truyền thông (báo, đài, TV, Internet...) bởi tính đại chúng và khả năng tác động trực

45

tiếp tới tâm lí người xem (quảng cáo phát đi phát lại nhiều lần). Sữa bột công thức luôn là phân khúc sôi động nhất trên thị trường sữa Việt Nam bởi đây là mảng sản phẩm thu được nhiều lợi nhuận nhất do đó hoạt động cạnh tranh cũng diễn ra mạnh mẽ nhất. Lợi dụng tâm lí “thích dùng hàng ngoại” của người tiêu dùng Việt Nam và những lỗ hổng trong Luật quảng cáo sữa bột của Việt Nam, các DN nước ngoài liên tục có những chiêu thức quảng cáo cho dòng sản phẩm sữa bột công thức rất phong phú và tạo được không ít sự chú ý với dư luận. Với những chiêu thức “sữa có bổ sung lysine, DHA...” giúp trẻ “cao hơn”, “thông minh hơn”, sữa bột ngoại đã khiến không ít các bà mẹ tin rằng nếu không dùng sữa ngoài để bổ sung thì trẻ em sẽ không thể phát triển toàn diện được. Thậm chí để hiệu quả được nâng cao hơn nữa, nhiều hãng sữa còn cố tình quảng cáo sữa bột của họ có thành phần tương đương hoặc thậm chí tốt hơn cả sữa mẹ, gây ảnh hưởng tiêu cực tới thói quen nuôi con bằng sữa mẹ vốn vẫn được khuyến khích từ trước đến nay. Trong khi đó, sữa mẹ có nhiều chất dinh dưỡng mà không thể tìm thấy ở bất kì sản phẩm dinh dưỡng nào. Sữa mẹ chứa hơn 200 thành phần khác nhau, gồm các chất tăng khả năng miễn dịch, enzim, hoóc-môn, vitamin cũng như các dưỡng chất cần thiết khác. Sữa bột công thức không có đủ những kháng thể quý giá này và hàm lượng dinh dưỡng lại cao hơn so với nhu cầu của trẻ do đó khiến trẻ thường bị thừa cân, béo phì ngay từ khi còn nhỏ 37. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã chứng minh nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời giúp ngăn ngừa 13% trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, hơn nữa trẻ được bú sữa mẹ càng lâu sẽ càng có khả năng trí tuệ cao hơn, kĩ năng vận động, ngôn ngữ và khả năng nhận thức hoàn thiện hơn. Không những thế, thói quen nuôi con bằng sữa mẹ sẽ giúp tiết kiệm chi phí cho quốc gia, theo ước tính mỗi năm Việt Nam sẽ tiết kiệm được 594 triệu USD cho các chi phí chữa bệnh liên quan đến sản phẩm thay thế sữa mẹ không đủ dinh dưỡng hoặc nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam lại cho thấy sữa bột công thức vẫn là mặt hàng có doanh thu lớn nhất trong ngành sữa và còn có xu hướng tăng trong tương lai, đặc biệt khi quảng cáo sữa bột ngày càng
37

Theo nhận định của bác sỹ Phạm Thúy Hòa, Giám đốc Trung tâm thực phẩm và dinh dưỡng, Viện dinh dưỡng quốc gia, Bộ Y tế

46

nhiều thì tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ lại giảm đi. Theo thống kê của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), tính đến năm 2009, con số bà mẹ Việt Nam cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ chiếm 17%, thấp hơn một nửa so với một thập kỉ trước đây, trong khi đó lượng sữa tiêu thụ trên thị trường lại tăng tới 39%. Đến tháng 7/2010, theo một nghiên cứu của Bộ Y tế, con số này chỉ chiếm 10%. Mặc dù Chính phủ đã thực hiện mọi biện pháp tuyên truyền để khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhưng chừng ấy nỗ lực vẫn chưa đủ để thay đổi thói quen của người tiêu dùng. Theo quy định, tất cả các quảng cáo sữa bột đều phải có dòng chữ “Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ” tuy nhiên dòng chữ ấy lướt qua rất nhanh, hầu như không để lại ấn tượng với người tiêu dùng. Trong khi những chiến dịch vận động của Chính phủ tỏ ra kém hiệu quả, doanh thu bán hàng vẫn tăng và DN tiếp tục hưởng lợi. Doanh số bán sữa gia tăng là nhờ tác động của nhiều yếu tố: thu nhập tăng, thời gian nuôi con bằng sữa mẹ hạn hẹp... tuy nhiên không thể phủ nhận một phần đóng góp không nhỏ cho sự gia tăng doanh số đó xuất phát từ các hoạt động quảng cáo, tiếp thị nhiệt tình của DN. Để đẩy mạnh tiến trình tiêu thụ sản phẩm, các DN đã phải đầu tư một nguồn ngân sách khổng lồ vào hoạt động quảng cáo. Theo kết quả thanh tra của Bộ Tài chính, năm 2008, công ty TNHH Nestlé Việt Nam đã sử dụng tới 20,5 tỉ trên tổng số 32 tỉ đồng chi phí bán hàng để quảng cáo tiếp thị, và chỉ trong 6 tháng đầu năm 2009 chi phí quảng cáo đã lên tới hơn 13,5 tỉ đồng (chiếm 27% tổng chi phí). Với công ty Mead Johnson Nutrition Việt Nam, chi phí quảng cáo trên tổng chi phí chiếm khoảng 53% trong năm 2008 và 36% chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2009 38. Đến năm 2010, hai DN trên vẫn nằm trong danh sách đối tượng có chi phí quảng cáo vượt mức cho phép đến hàng trăm tỉ đồng mỗi đơn vị. Chỉ tính riêng trong năm 2010, chi phí dành cho hoạt động quảng cáo các sản phẩm sữa bột của các DN đã gấp 2,7 lần chi phí quảng cáo trong năm 2009. Bên cạnh hình thức quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, các DN còn có những chiêu thức tiếp thị sản phẩm qua các kênh phân phối, điển hình là tại các bệnh viện, trung tâm y tế... Nghị định 21/2006/NĐ-CP đã cấm quảng cáo sữa
38

Theo http://www.vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2009/12/3ba16fa3/

47

bột cho trẻ em dưới 1 tuổi, cấm bán sữa bột cho trẻ sơ sinh trong các bệnh viện (trừ nhà thuốc), cấm nhân viên bán sữa tiếp cận nhân viên y tế hay các bà mẹ tại những trung tâm chăm sóc y tế..., các DN luôn tìm được sơ hở để liên hệ với các khách hàng dưới mọi hình thức nhằm quảng bá sản phẩm, hạn chế việc nuôi con bằng sữa mẹ. Theo nguồn tin điều tra của AP, dù biết là vi phạm pháp luật, một số công ty sữa còn trả tiền hoa hồng cho bác sĩ để quảng cáo sản phẩm của họ. Lợi dụng việc các sản phẩm dinh dưỡng (trong đó có sữa bột công thức) được phép bày bán ở các hiệu thuốc bệnh viện, các DN tiếp thị “trá hình” bằng cách cho hiển thị tên hoặc logo ngay tại cơ sở y tế. Ngay trong hiệu thuốc, dù được khuyến nghị là nuôi con bằng sữa mẹ trong 24 tháng tuổi, nhưng sự xuất hiện của các quảng cáo sữa dành cho trẻ từ 12 – 24 tháng tuổi lại khiến người tiêu dùng không khỏi hoang mang. Một cách thức quảng bá khác mà nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu được khi quan sát hành vi mua bán giữa người tiêu dùng và nhân viên đại lý sữa đó là các nhân viên đại lý thường có xu hướng khuyến khích khách hàng lựa chọn sữa ngoại bởi họ cho rằng “sữa nào có chất lượng tốt nhất thì nên giới thiệu cho khách hàng”. Sự tiếp thị của nhân viên chắc chắn có một tác động không nhỏ tới quyết định mua hàng, điều này lại càng khiến các nhãn sữa nội trở nên kém cạnh tranh với sữa ngoại. Ngoài chiến dịch quảng cáo của các DN, một yếu tố khác có thể xem vừa là lợi thế vừa là bất lợi với khả năng cạnh tranh của sữa nội chính là nguồn tham khảo ý kiến của người tiêu dùng. Khi lựa chọn mua một sản phẩm nào đó, người tiêu dùng thường có rất nhiều nguồn tham khảo: từ bác sỹ, chuyên gia dinh dưỡng; từ quảng cáo trên TV, báo, đài... nhưng trong đó có một nguồn có sức chi phối rất lớn đó là từ bạn bè và người quen. Suy cho cùng quảng cáo cũng chỉ là chiến lược của DN, quảng cáo đâu phải đã là 100% sự thật, với những khách hàng thận trọng, nếu muốn họ tiêu dùng sản phẩm thì phải “nói có sách, mách có chứng”. Nhiều người sử dụng, nhiều người giới thiệu, chứng tỏ sản phẩm đó có uy tín, do vậy tác động từ người quen, bạn bè là rất lớn. Điều này hoàn toàn trùng khớp với số liệu từ cuộc điều tra mà nhóm nghiên cứu đã thực hiện, có tới 69% quyết định mua sản phẩm của người tiêu dùng là do tham khảo từ bạn bè, người quen. Đây có thể là lợi thế nếu số đông nguồn tham khảo tiêu dùng sữa nội và ngược lại, nếu số đông sử dụng

48

sữa ngoại thì đây lại là bất lợi đối với khả năng bứt phá của sữa nội. Ở thị trường tiêu dùng sữa bột công thức hiện nay, với niềm tin tuyệt đối khó có thể thay đổi với sữa ngoại, phương thức quảng cáo “truyền miệng” cũng hạn chế phần nào khả năng cạnh tranh của sữa nội. Nhìn chung, dù là dưới hình thức nào, hoạt động quảng cáo, tiếp thị tràn lan của các DN sản xuất sữa bột hiện nay không chỉ tiêu tốn một nguồn ngân sách khổng lồ mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lí của người tiêu dùng. Việc quảng cáo các dòng sản phẩm sữa bột một cách quá đà của một số DN không những gây phản cảm cho người tiêu dùng mà chưa chắc đã đem lại hiệu quả như mong muốn. Và quan trọng hơn là tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ dù đã được khoa học thừa nhận nhưng vẫn không thể thay đổi thói quen dùng sữa bột như một sản phẩm thay thế của các bà mẹ, hậu quả dễ thấy chính là những ảnh hưởng xấu tới sự phát triển về cả thể chất và trí tuệ của thế hệ tương lai. 2.4. Về hoạt động của các kênh phân phối Biểu đồ 2: Doanh thu sữa bột công thức theo hình thức phân phối giai đoạn 2006 – 2010 (đơn vị %) 39
Siêu thị/siêu thị lớn TT dinh dưỡng & sức khỏe
39,5 36 16 9 9,5 39 35,5 39,5 34 16,5 10 17 11

Đại lí tạp hóa nhỏ Các hình thức khác
39 33 38,5 32 18,5 11

15,5

2006

2007

2008

2009

2010

Hệ thống phân phối trong ngành sữa có tác động rất quan trọng đến quyết định doanh thu của các công ty. Ở Việt Nam, hiện nay sữa bột chủ yếu được phân phối qua kênh đại lí, các cửa hàng tạp hóa nhỏ và siêu thị. Lợi thế của các cửa hàng tạp hóa nhỏ chính là tính độc lập và khả năng xuất hiện trên toàn quốc. Siêu thị đang
39

Table 7, Baby Food – Vietnam, EMI 2010

49

dần trở thành điểm phân phối phổ biến nhờ khả năng cung cấp nhiều chủng loại hàng hóa đa dạng với mức giá cạnh tranh và đảm bảo tin cậy về nguồn gốc của sản phẩm. Còn hình thức phân phối qua các trung tâm dinh dưỡng như viện nhi, viện phụ sản, các quầy thuốc tại bệnh viện, hay các trung tâm tư vấn dinh dưỡng đang dần mất đi ưu thế. Ưu điểm của kênh phân phối này là người tiêu dùng vừa được giới thiệu về sản phẩm, bên cạnh đó còn nhận được dịch vụ tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia dinh dưỡng. Nhược điểm của hình thức này là khả năng bao phủ hẹp, chủ yếu chỉ có ở các thành phố lớn. Tuy có xu hướng giảm nhưng người tiêu dùng có được nhận thức đúng đắn về việc tiêu dùng sản phẩm với độ tin cậy được đảm bảo ở mức cao, hơn nữa các thành phố lớn vẫn là thị trường tiêu thụ chính của các sản phẩm sữa nên kênh phân phối này vẫn chiếm thị phần khá lớn trên thị trường. Mỗi DN đều có hệ thống phân phối riêng của mình. Với các DN trong nước, ví dụ như Vinamilk, tính đến ngày 31/12/2009 đã bán sản phẩm thông qua 240 nhà phân phối cùng với hơn 140.000 điểm bán lẻ trên toàn quốc. Đội ngũ bán hàng nhiều kinh nghiệm gồm 1.787 nhân viên bán hàng trên khắp đất nước đã hỗ trợ cho các nhà phân phối phục vụ tốt hơn các cửa hàng bán lẻ và người tiêu dùng, đồng thời quảng bá sản phẩm của DN. Đội ngũ bán hàng còn kiêm nhiệm phục vụ và hỗ trợ các hoạt động phân phối đồng thời phát triển các quan hệ với các nhà phân phối và bán lẻ mới. Bên cạnh đó, Vinamilk còn tổ chức nhiều hoạt động quảng bá, tiếp thị với các nhà phân phối địa phương nhằm quảng bá sản phẩm và xây dựng thương hiệu trên khắp đất nước 40. Với mạng lưới phân phối và bán hàng rộng khắp cùng đội ngũ nhân viên hoạt động hiệu quả, đây chính là yếu tố thiết yếu dẫn đến thành công trong hoạt động của Vinamilk, giúp DN chiếm được số lượng lớn khách hàng và đảm bảo việc đưa ra các sản phẩm mới và các chiến lược tiếp thị đầy cạnh tranh trên cả nước. Một số DN khác như Dutch Lady Việt Nam hiện phân phối sản phẩm thông qua hơn 150 nhà phân phối và 100.000 điểm bán lẻ. Với các công ty nước ngoài, khi bán hàng tại Việt Nam phải phân phối qua các đại lý ủy quyền để kiểm tra kiểm dịch chất lượng sản phẩm, đóng gói lại theo tiêu chuẩn Việt Nam, từ đó phân phối ra các kênh khác. Ngoài ra, các sản phẩm sữa
40

Theo http://www.vinamilk.com.vn/?vnm=market&id=28

50

nhập khẩu còn có một kênh phân phối không chính thức khác được gọi là “hàng xách tay” từ các thương hiệu hàng đầu thế giới như Mead Johnson, Abbott... Một số DN nhập một hoặc một vài container, hoặc vài tấn để phân phối lẻ. Lượng hàng này không phải là hàng nhập lậu vì các thủ tục đóng thuế và nhập khẩu vẫn được tiến hành đầy đủ. Tuy nhiên, lượng sữa bột nhập theo phương thức này nhãn mác không có tiếng Việt và không được bảo hành, đảm bảo chất lượng bởi nhà phân phối. Do đó hình thức này có số lượng không đáng kể, chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ trên thị trường. Một điểm đáng chú ý ở các kênh phân phối chính là cách trưng bày sản phẩm, một cách gián tiếp có thể ảnh hưởng tới tâm lý tiêu dùng của khách hàng. Khảo sát ở một số siêu thị và đại lý sữa tại Hà Nội, có thể thấy trong cách bày biện sản phẩm sữa bột có sự phân biệt nhãn hiệu. Các nhãn sữa như Dielac Alpha 123, Dielac Step, Nuti 1 – 2 – 3 – 4 được xếp trên những gian hàng bình thường như mọi hàng hóa khác, tuy nhiên những nhãn sữa đắt tiền hơn (hầu hết là nhãn sữa ngoại) được bày trang trọng trong các tủ kính có khóa hoặc ở những nơi dễ quan sát nhất. Đây chỉ là một yếu tố rất nhỏ nhưng lại có tác động không nhỏ tới tâm lý mua hàng. Người tiêu dùng có thể ngầm liên hệ “sản phẩm chất lượng cao được ưu tiên hơn”, với những người lần đầu tiêu dùng sản phẩm sữa bột công thức chắc chắn sẽ không thể không bị chi phối bởi cách sắp xếp trên, ở một khía cạnh nhỏ, sự sắp xếp phân biệt làm giảm lợi thế cạnh tranh của sữa nội vốn vẫn chưa thể tạo dựng được lòng tin với người tiêu dùng. 2.5. Về thương hiệu Khi bước vào tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới bằng việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, các DNVN nói chung và các DN kinh doanh ngành sữa nói riêng đều phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các DN nước ngoài. Điều đó không có nghĩa là trước khi gia nhập WTO thì DNVN không có đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài, nhưng cùng với sự gia tăng về dân số cũng như nhu cầu tiêu dùng, và sự thông thương, mở cửa nền kinh tế, rõ ràng con đường tiếp cận người tiêu dùng Việt Nam của các DN nước ngoài đã trở nên thuận tiện hơn rất nhiều. Mặt hàng sữa bột công thức càng không nằm ngoại lệ, với những

51

lợi thế sẵn có về xuất xứ cũng như công nghệ, các DN sản xuất sữa bột từ nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam với số lượng ngày càng lớn, và chiếm được lòng tin của người tiêu dùng. Cạnh tranh với chính các DN trong nước để gây dựng thương hiệu đã không phải là điều đơn giản, thì cạnh tranh thương hiệu với những thương hiệu khác đã rất nổi tiếng trên thế giới để giành lấy thị trường nội địa của mình lại càng là một thách thức lớn. Được đánh giá là một “đại gia” về ngành sữa ở Việt Nam, Vinamilk chiếm ưu thế ở hầu hết mọi dòng sản phẩm sữa tươi, sữa đặc, sữa chua, nhưng từ bảng số liệu trên có thể thấy vị thế của thương hiệu này tại thị trường sữa bột còn khá khiêm tốn. Tuy nhiên, một tín hiệu đáng mừng là thị phần của nhãn hiệu Dielac có xu hướng tăng qua các năm dù mức tăng còn khá chậm, chỉ khoảng 0,44%, trong khi đó thị phần nhãn hiệu Nuti của Nutifood vốn đã nhỏ lại có xu hướng tăng giảm khá thất thường, và còn rất nhiều DN nhỏ khác trong nước không có thương hiệu nhập về đóng gói chiếm thị phần không đáng kể. Trên thị trường sữa bột Việt Nam hiện nay tràn ngập các thương hiệu sữa nội – sữa ngoại với vô số các thông điệp tiếp thị. Thông điệp tiếp thị là một phần của chiến lược marketing, tuy nhiên nó tác động tới người tiêu dùng qua rất nhiều hình thức, từ quảng cáo trên báo đài, Internet, đến tờ rơi, áp phích... do đó một thông điệp gây ấn tượng với người tiêu dùng đã có thể giúp DN nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Chính vì vậy, để thương hiệu của mình cũng như thông điệp về sản phẩm được người tiêu dùng ghi nhớ, các DN lựa chọn giải pháp định vị thương hiệu và xây dựng cá tính riêng cho thương hiệu của mình. Các công ty sữa định vị thương hiệu của mình qua bốn chiến lược chính như lựa chọn định vị rộng cho thương hiệu, lựa chọn định vị đặc thù, lựa chọn định vị giá trị và tổng giá trị đối với thương hiệu sản phẩm. Sữa bột công thức là một nhánh sản phẩm trong ngành sữa nên việc định vị thương hiệu sữa bột công thức cũng không có sự khác biệt. Định vị rộng cho thương hiệu, trên thực tế ít có DN nào có thể đứng đầu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là các DN sữa bột Việt Nam với tiềm lực tài chính còn hạn chế lại thêm sự cạnh tranh quá lớn của các thương hiệu nước ngoài càng khó để đứng đầu thị trường sữa bột. Vì vậy một trong những giải pháp mà một DNVN đã

52

áp dụng tương đối thành công đó là dẫn đầu về giá thành thấp nhất. Năm 2008, Nutifood đã ra mắt sản phẩm sữa bột Nuti loại 20g với giá cực rẻ (ứng với dung lượng nhỏ). Tuy không khả quan ở khu vực thành thị nhưng chiến lược này lại giúp Nutifood tăng thị phần đáng kể ở các vùng nông thôn và bên cạnh những khu công nghiệp. Với việc lựa chọn định vị đặc thù, nhiều DN tìm cách định vị lợi ích chính đáng duy nhất trong số các khả năng: chất lượng tốt nhất, kết quả tốt nhất, uy tín nhất, sử dụng bền nhất, an toàn nhất, nhanh nhất, dễ sử dụng nhất, thuận tiện nhất, kiểu dáng đẹp nhất, hoặc phong cách nhất. Ví dụ như Abbott, trong nhiều năm liền luôn tự định vị như là “sữa bột tăng cường IQ cho trẻ”, tuy nhiên trước sự cạnh tranh quyết liệt của các đối thủ, định vị đó sớm trở nên lỗi thời nên vài năm trở lại đây Abbott đã chuyển sang định vị “Sữa bột số 1 Việt Nam”. Mead Johnson thì định vị “Gia đình Enfa A+” để khẳng định họ chỉ tập trung vào phân khúc trẻ em với những vi chất cần thiết cho trẻ. Có thể thấy cách định vị của hai DN trên đã tạo sự khác biệt và thu hút sự chú ý vì đã đánh trúng tâm lí của người tiêu dùng: sữa bột phải là “sữa tốt nhất”, của hãng “chuyên sản xuất sữa cho trẻ em”. Các DNVN tìm cho mình một lối định vị khác bằng cách khẳng định cá tính riêng. Ví dụ như Vinamilk định vị “Chất lượng quốc tế” để nhắc nhở cho người tiêu dùng Việt Nam thấy Vinamilk là công ty duy nhất của Việt Nam xuất khẩu sản phẩm sữa sang hơn 10 nước trên thế giới, tuy nhiên thời gian gần đây Vinamilk cũng dần chuyển sang định vị đơn giản hơn là “Mẹ yêu bé”. Còn NutiFood thì định vị là “Vì tương lai Việt” để khẳng định sản phẩm của mình là sản phẩm sữa thuần Việt nhất. Hai cách định vị trên nghe có thể không “hấp dẫn” bằng cách định vị của các thương hiệu nước ngoài nhưng ít nhiều cũng tạo được hứng thú với người tiêu dùng. Định vị giá trị cho thương hiệu là một việc không đơn giản. Giá trị của một sản phẩm sữa bột công thức được hiểu là dinh dưỡng và tác dụng của sản phẩm đó đem lại cho người sử dụng. Người tiêu dùng chỉ lựa chọn sản phẩm khi cho rằng đồng tiền mà họ bỏ ra để sở hữu sản phẩm xứng đáng với giá trị của nó. Đa số người tiêu dùng Việt Nam đều quan niệm “sữa đắt tiền là sữa tốt”, chính vì vậy các sản phẩm sữa bột nhập ngoại dù có giá thành rất cao nhưng vẫn thu hút một lượng

53

khách hàng đông đảo. Cùng với sự cạnh tranh của hàng loạt các thương hiệu khác cũng áp dụng công nghệ tiên tiến sản xuất được sản phẩm có chất lượng tương tự, DN tự hiểu rằng trong cạnh tranh nếu sản phẩm của họ chỉ dừng lại ở mức này thì sẽ bị những sản phẩm mới khác đào thải. Do vậy, các công ty sữa cả trong nước và nước ngoài đều thường xuyên đổi mới, nâng cấp sản phẩm sữa của mình để đạt được giá trị dinh dưỡng cao hơn sản phẩm hiện tại. Khi sản phẩm hiện tại đã được định vị trong tâm trí người tiêu dùng thì việc giới thiệu những sản phẩm mới cũng thuận lợi hơn rất nhiều. Có thể thấy lựa chọn định vị này giúp tăng thị phần của DN lên đáng kể, bởi càng nhiều dòng sản phẩm mà sản phẩm nào cũng có thị phần cao trên thị trường thì tổng thị phần của thương hiệu lại càng lớn. Với các DNVN việc phát triển hướng định vị này vẫn tương đối chậm chạp. Nhãn hiệu sữa bột công thức Dielac của Vinamilk cho đến nay mới chỉ có 3 dòng sản phẩm là Dielac Alpha 1 – 2 – 3, Dielac Alpha Step 1 – 2, Dielac Pedia – Pedia 1+ – Pedia 3+ dành cho trẻ thuộc từng độ tuổi. Nutifood thì phát triển dòng sữa Nuti 1– 2 – 3 – 4 dành cho trẻ em cũng ứng với từng độ tuổi. Trong khi đó, đi đầu trong việc đa dạng hóa chủng loại sản phẩm có lẽ phải kể đến Abbott. Chỉ riêng sữa bột công thức, đã có đến gần 10 dòng sản phẩm khác nhau được ra mắt chỉ để phục vụ nhu cầu của các bé. Từ dòng Gain thuần túy, Abbott đã nâng cấp lên thành Gain IQ rồi lần lượt Gain Plus IQ, từ Similac lần lượt có Similac IQ 1, Similac Gain IQ 2, Similac Gain Plus 3, từ Grow có Grow Advance, Grow Advance School... Nâng cấp sản phẩm bằng cách bổ sung thành phần dinh dưỡng, đồng nghĩa với việc giá thành sản phẩm cũng cao lên. Nhưng tâm lí người tiêu dùng là không ai muốn bỏ tiền ra để mua chất lượng dinh dưỡng thấp hơn, vì vậy dù giá sản phẩm tăng nhưng người tiêu dùng vẫn mua và dành sự quan tâm tới các dòng sản phẩm được nâng cấp, bởi những sản phẩm này tượng trưng cho phong cách sống cao hơn, riêng biệt hơn. DNVN trên thực tế cũng khó có thể định vị thương hiệu theo cách này bởi vị thế của các dòng sản phẩm hiện tại vẫn chưa có chỗ đứng vững chắc trong tâm trí người tiêu dùng do đó việc ra mắt quá nhiều sản phẩm mới hoàn toàn có thể gây thua lỗ cho hoạt động kinh doanh của DN.

54

Với chủ trương tổng giá trị cho thương hiệu, bên cạnh việc đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng, DN cần phải tập trung định vị dịch vụ hậu mãi của mình. Ngành dịch vụ ngày càng phát triển thì việc định vị lại càng quan trọng. Trong các DNVN, hiện nay chỉ có Vinamilk là thành lập một trung tâm dinh dưỡng để tư vấn dinh dưỡng cho khách hàng. Đây cũng là một hình thức phân phối sản phẩm, tuy chỉ phổ biến ở các thành phố lớn nhưng cũng góp phần nâng cao vị thế sản phẩm trong mắt người tiêu dùng bởi độ tin cậy được đảm bảo bởi các chuyên gia dinh dưỡng. Ngoài ra, Vinamilk cũng thiết lập một đường dây nóng để tư vấn dinh dưỡng trực tiếp cho khách hàng qua điện thoại, hình thức này có ưu điểm là nhanh chóng và tiện lợi và khá nhiều DN cũng áp dụng, nhưng không phải DN nào cũng thiết lập được một đường dây hiệu quả. Thương hiệu là một tài sản quý của DN. Để gây dựng và phát triển thương hiệu sữa bột Việt Nam ngày càng lớn mạnh, các DNVN cần phải có tầm nhìn chiến lược đúng đắn để định vị thương hiệu một cách hiệu quả, từ đó tạo dựng niềm tin về uy tín cũng như chất lượng của sản phẩm sữa bột mang thương hiệu Việt Nam đối với người tiêu dùng. Cạnh tranh với các thương hiệu nước ngoài vừa là thách thức nhưng đồng thời cũng là cơ hội để các DN trong nước học hỏi kinh nghiệm và tự tạo những bước tiến mới để cải thiện sản phẩm của mình. 3. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của ngành sữa và mặt hàng sữa bột công thức tại Việt Nam Nằm trong xu thế chung của các nước đang phát triển trên thế giới, nhu cầu về các sản phẩm sữa ở Việt Nam ngày càng tăng lên. Có thể thấy rõ điều này qua sự gia tăng doanh thu từ mặt hãng sữa của các hãng sản xuất tại Việt Nam, với tổng doanh thu các mặt hàng sữa tăng ổn định qua các năm với mức tăng trưởng trung bình là 16,61%. Năm 2009, tổng doanh thu đạt hơn 18.458,5 tỷ VNĐ, tăng 18,90% so với năm 2008 41. Điều này cho thấy cuộc khủng hoảng kinh tế trong 2 năm vừa qua không ảnh hưởng nhiều đến việc tiêu thụ sữa tại Việt Nam. Hiện nay, lượng tiêu dùng các sản phẩm sữa chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, với 10% dân số cả nước tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ khoảng 78% các sản phẩm
41

Theo Báo cáo ngành sữa của Habubank Securities

55

sữa 42. Mức tiêu thụ các sản phẩm từ sữa bình quân của người Việt Nam (tính đến năm 2011) là 14 lít/người/năm (theo quan niệm sữa chỉ dành cho trẻ em, người già, người ốm), vẫn còn thấp so với Thái Lan (23 lít/người/năm) và Trung Quốc (25 lít/người/năm) 43. Cùng với nhu cầu về sữa ngày càng tăng cao, thị trường sữa tại Việt Nam hiện có sự tham gia của rất nhiều các hãng sữa cả trong nước và nước ngoài với nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú về mẫu mã và chủng loại. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến các sản phẩm sữa bột công thức của DN trong nước phải chịu sự cạnh tranh rất lớn từ các thương hiệu của nước ngoài. Xét trên tất cả các tiêu chí về NLCT, các DNVN gần như không có được lợi thế cao hơn ở bất kì tiêu chí này. Điều này cũng một phần xuất phát từ vấn đề thiếu hụt nguồn nguyên liệu trong nước. Mặc dù Nhà nước và các DN nội địa đã chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu trong nước song nhìn chung, thực trạng chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam còn nhiều điểm cần khắc phục. Thứ nhất, quy mô chăn nuôi bò sữa còn nhỏ, phương thức chăn nuôi còn hạn chế, thức ăn chăn nuôi tận dụng nên đa số nông dân chưa có điều kiện để áp dụng khoa học công nghệ cao vào phát triển chăn nuôi bò sữa. Thứ hai, phần lớn nguồn nguyên liệu thức ăn tinh và các chất premix, vitamin… dùng trong chăn nuôi bò sữa phải nhập khẩu nên chi phí đầu vào chăn nuôi bò sữa cao, giá thành cao khiến cho khả năng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm còn hạn chế. Thứ ba, quỹ đất dành cho chăn nuôi bò sữa còn chật hẹp nên người chăn nuôi không có khả năng mở rộng quy mô sản xuất. Chừng nào những vấn đề này chưa được giải quyết, khi đó tình trạng thiếu hụt nguồn nguyên liệu sữa vẫn còn tiếp tục diễn ra. Bên cạnh đó, yếu tố thời tiết và khí hậu nhiệt đới nóng ẩm ở Việt Nam không thích hợp với việc chăn nuôi bò sữa cao sản nên phần nào cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và giá thành sản phẩm. Không làm chủ được nguồn nguyên liệu trong nước càng khiến DNVN phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài, điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới NLCT của các sản phẩm sữa bột trong nước.

42 43

Somer, 2009 Theo http://www.trustmilkdaily.com/san-pham-tu-sua/ban-tin-nganh-sua/Nganh-Sua-dang-no-luc-chiemlinh-thi-truong-noi-dia-17B

56

Tuy chiếm vị trí chủ đạo với hơn 75% thị phần trên thị trường sữa Việt Nam, ở mảng sản phẩm sữa bột, Vinamilk cũng như các thương hiệu sữa nội địa khác bị lấn át nghiêm trọng bởi các thương hiệu đến từ nước ngoài như Abbott, Mead Johnson, ... Với lợi thế về nguồn gốc xuất xứ cùng với những chiêu thức PR đầy khôn khéo, các nhãn hiệu sữa bột nước ngoài luôn là tâm điểm thu hút người tiêu dùng, trong khi đó các nhãn hiệu sữa bột Việt Nam lại khó tìm được chỗ đứng của mình trên chính thị trường nội địa. Như đã phân tích ở trên, nguyên nhân khiến cho sữa bột Việt Nam không chiếm lĩnh được thị trường xuất phát từ nhiều yếu điểm trong khâu sản xuất và xúc tiến thương mại, bên cạnh đó còn có một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đó là tâm lí “thích dùng hàng ngoại” của số đông người Việt Nam. Ngoài ra, mặc dù đã có sự can thiệp của Nhà nước, thị trường sữa bột Việt Nam còn tồn tại rất nhiều nghịch lí gây tác động xấu đến tâm lí cũng như thói quen mua sắm của các khách hàng. Vì vậy muốn nâng cao vị thế của hàng Việt trong mắt người tiêu dùng, các DN trong nước cần phải có giải pháp và chiến lược dài hạn để khắc phục những yếu điểm còn tồn đọng trong cơ chế sản xuất và quản lí hoạt động của DN, nhằm nâng cao NLCT của sữa bột Việt Nam một cách toàn diện.

57

CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM SỮA BỘT VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƢỜNG NỘI ĐỊA
1. Quan điểm và định hƣớng phát triển ngành sữa và sản phẩm sữa bột của các doanh nghiệp Việt Nam 1.1. Quan điểm phát triển Quyết định số 3399/QĐ-BCT của Bộ Công thương ban hành ngày 28 tháng 6 năm 2010 về quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 đã đưa ra những quan điểm và định hướng cụ thể nhằm xây dựng ngành công nghiệp sữa Việt nam phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến thành phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh để chủ động hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và khả năng xuất khẩu sang thị trường các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Với quan điểm phát triển ngành công nghiệp sản xuất sữa trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương, phát huy hết năng lực chế biến sẵn có, Nhà nước khuyến khích huy động tiềm lực của mọi thành phần kinh tế vào phát triển ngành gắn với phát triển vùng nguyên liệu. Có thể thấy đàn bò sữa nước ta phát triển trên tất cả các vùng sinh thái của Việt Nam, tuy nhiên khu vực Đông Nam Bộ vẫn là vùng tập trung số lượng bò lớn nhất do có những điều kiện địa lí thuận lợi phù hợp với việc chăn nuôi bò sữa. Vì vậy cần phải tận dụng lợi thế này cùng với những biện pháp khuyến khích lao động và mở rộng quy mô đàn bò sữa để nguồn nguyên liệu cung cấp có thể đáp ứng được nhu cầu của các nhà sản xuất và người tiêu dùng. Bên cạnh đó, quy trình sản xuất sữa cần phải bảo đảm VSATTP, nâng cao giá trị dinh dưỡng, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường sinh thái. Trên cơ sở áp dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến, Nhà nước đề ra quan điểm toàn ngành cần phải không ngừng đổi mới và cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới với chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Gia nhập WTO vừa là cơ hội vừa là thách thức với nền kinh tế Việt Nam, mặc dù trong nhiều năm qua doanh thu

58

ngành sữa vẫn liên tục tăng bất chấp hiệu ứng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, các DNVN đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường nội địa, nhưng không thể phủ nhận các nhãn hiệu sữa trong nước đang chịu sự cạnh tranh rất gay gắt từ các nhãn hiệu nước ngoài và ở mảng sản phẩm sữa bột các DN nội địa đang đứng trước nguy cơ đánh mất thị trường tiêu dùng của chính mình. Do đó DNVN cần phải đề ra những chiến lược nâng cấp sản phẩm theo hướng nâng tầm chất lượng, cải tiến mẫu mã, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến nhằm nâng cao NLCT của sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam. Do quy mô đàn bò sữa chưa đủ lớn để cung cấp sản lượng sữa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, ngành sữa Việt Nam mỗi năm đều phải tốn một khoản chi phí rất lớn trong việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài để sản xuất các mặt hàng sữa trong nước, đặc biệt là sữa bột. Trước tình hình đó, Nhà nước khuyến khích các DN trong nước đầu tư phát triển đàn bò sữa để tăng dần tỷ lệ tự túc nguyên liệu trong nước, giảm dần tỷ lệ sữa nguyên liệu nhập khẩu. 1.2. Mục tiêu phát triển Hướng đến mục tiêu phát triển toàn ngành sữa nói chung theo hướng hiện đại, đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến thành phẩm, nâng cao NLCT của các DN trong nước ở tất cả các mặt hàng, trong hội thảo “Quy hoạch phát triển ngành sữa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025”, Bộ Công thương đã đặt ra những mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển ngành, đặc biệt hai vấn đề quy hoạch đàn bò sữa và tập trung vào công nghiệp chế biến là hai yếu tố được đặt lên hàng đầu. Theo đó mục tiêu phát triển của ngành sữa được định hướng như sau: Bảng 5: Quy hoạch phát triển các sản phẩm sữa giai đoạn 2015 – 2025 44 Chỉ tiêu Sữa thanh, tiệt trùng Sữa đặc có đường (sữa hộp) Sữa chua Sữa bột các loại Đơn vị Triệu lít 2010 2015 2020 2025 480 780 400 120 80 1150 1500 410 160 120 420 210 170

Triệu hộp 377 Triệu lít 1000 tấn 86 47

44

Quyết định số 3399/QĐ-BCT

59

Bơ Phomat Kem các loại

Tấn Tấn 1000 tấn

6 72 13 22

8 84 20 44

10 97 27 65

13 107 38 83

Các sản phẩm sữa khác (bột dinh dưỡng) 1000 tấn

Sữa thanh tiệt trùng vẫn là nhóm hàng chủ lực của ngành sữa với chỉ tiêu tăng trưởng trên 30% trong năm 2025 so với năm 2010. Nhóm mặt hàng sữa bột các loại (gồm sữa bột công thức, sữa bột cho phụ nữ mang thai, sữa bột cho người già ...) cũng được đặt chỉ tiêu đạt 170.000 tấn trong năm 2025. Bảng 6: Quy hoạch phân bố công suất chế biến các sản phẩm sữa theo 6 vùng lãnh thổ (đơn vị: triệu lít)

Việc phân bố công suất chế biến sữa theo từng địa phương cũng có vai trò rất quan trọng bởi tùy theo điều kiện địa lí của từng vùng, quy mô đàn bò có thể khác nhau dẫn đến sản lượng sữa sản xuất được cũng có sự khác biệt. Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng vẫn là hai khu vực chủ chốt trong việc chăn nuôi bò sữa và sản xuất sữa tươi trên cả nước. Trong giai đoạn từ 2011 – 2015, DN cần đầu tư mở rộng và đầu tư mới tăng công suất tinh luyện thêm 1.000 tấn/ngày. Như vậy trong giai đoạn này, cần đầu tư mới thêm 2 dây chuyền tinh luyện với công suất từ 400-600 tấn/ngày. Với giai đoạn từ 2016 – 2020, tổng công suất yêu cầu tăng thêm khoảng 2.000 tấn/ngày. Để đáp ứng nhu cầu tăng thêm, cần đầu tư mới và mở rộng 3 nhà máy với công suất từ 600-800 tấn/ngày. Bước sang giai đoạn 2012 – 2025, công suất các nhà máy tinh luyện cần tăng thêm 1.400 tấn/ngày, đưa tổng công suất các nhà máy tinh luyện lên 2.411 ngàn tấn/năm với mức huy động công suất đạt khoảng 80%.

60

Bảng 7: Quy hoạch phát triển toàn ngành sữa giai đoạn 2015 – 2025 45 Chỉ tiêu Sản lượng sữa tươi sản xuất (lít) Mức tiêu thụ bình quân đầu người 1 năm (lít/người) Tỷ lệ sữa tươi sản xuất đáp ứng nhu cầu (%) Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 2015 1,9 21 2020 2,6 27 2025 3,4 34

35

38

40

90 – 100 120 – 130 150 – 200

Trong định hướng quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu, đến năm 2020, số lượng bò sữa cả nước sẽ đạt 426.088 con và đến năm 2025, số lượng bò sữa sẽ đạt 601.436 con. Bên cạnh đó, dự kiến sản lượng sữa đến năm 2020 sẽ đạt 934,5 ngàn tấn và đến năm 2025 đạt sẽ đạt 1.344,7 ngàn tấn. Theo đánh giá của các chuyên gia, mặc dù tốc độ phát triển đàn bò sữa ở nước ta hiện vẫn đang ở mức khá cao nhưng theo dự báo, đến năm 2020, tổng sản lượng sữa bò nước ta mới đáp ứng được 3536% và năm 2025 mới chỉ đáp ứng được gần 40% nhu cầu trong nước. Do đó, các cơ sở chế biến sữa vẫn phải phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. 1.3. Định hướng phát triển Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025, Bộ Công thương nước ta chủ trương:  Phát triển ngành theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất sạch hơn, xử lí chất thải triệt để, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm  Tiếp tục đầu tư mới và mở rộng các cơ sở sản xuất sẵn có nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và dành một phần xuất khẩu. Bên cạnh đó, cần phải tập trung phát triển năng lực sản xuất sữa thanh trùng và tiệt trùng, sữa bột và sữa chua. Các nhà máy xây dựng mới phải áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại để sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, đa dạng về chủng loại và mẫu mã.

45

Quyết định số 3399/QĐ-BCT

61

 Phát triển công nghiệp chế biến sữa theo hướng tăng dần tỷ lệ sử dụng nguyên liệu sữa tươi trong nước và giảm dần tỷ lệ nguyên liệu sữa bột nhập ngoại. Ngoài ra việc phát triển công nghiệp chế biến sữa phải gắn chặt với việc phát triển đàn bò sữa trong nước. Các cơ sở chế biến sữa phải có chương trình đầu tư cụ thể phát triển đàn bò sữa, bố trí địa điểm xây dựng các nhà máy chế biến sữa gắn với các trung tâm tiêu thụ sản phẩm và vùng chăn nuôi bò sữa tập trung. 2. Bí quyết thành công của một số thƣơng hiệu nổi tiếng thế giới và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam 2.1. Bí quyết thành công của một số thương hiệu nổi tiếng thế giới Với con số 200 nhà nhập khẩu trên cả nước, thị trường sữa Việt Nam mở ra cho người tiêu dùng cơ hội lựa chọn và tiêu dùng các sản phẩm sữa đa dạng và phong phú. Thực tế, có thể kể đến một số thương hiệu đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam như Abbott, Mead Johnson,…và thị phần của những thương hiệu này, đặc biệt ở một số dòng sản phẩm sữa, chiếm một tỉ lệ rất cao tại Việt Nam. Cụ thể, hãng sữa Abbott của Hoa Kì chiếm tới hơn 30% thị phần sữa bột Việt Nam. Vậy điều gì đã làm nên sự thành công của các thương hiệu sữa nước ngoài ngay tại chính thị trường Việt Nam? Abbott (Hoa Kì) là thương hiệu có lịch sử lâu đời 120 năm nghiên cứu và kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng, với dòng sản phẩm đa dạng, phục vụ nhu cầu nhiều đối tượng từ trẻ sơ sinh đến người già, từ nghiên cứu dinh dưỡng đến các liệu pháp y học cải thiện tình hình sức khỏe của người dân. Với phương châm hoạt động “lấy khoa học làm trung tâm để chăm sóc sức khỏe”, Abbott áp dụng những kĩ thuật khoa học tiên thấn nhất để cải thiện chất lượng sản phẩm, chăm sóc sức khỏe; đa dạng hóa sản phẩm; cam kết tạo dựng lòng tin và phát triển bền vững. Với lợi nhuận 38,9 tỉ USD tại 130 sản phẩm có mặt, Abbott đang là thương hiệu sữa bột được ưa chuộng nhất ở Việt Nam. Bên cạnh Abbott, có một thương hiệu khác cũng đến từ Hoa Kì có mặt trên thị trường sữa Việt Nam và được nhiều gia đình tin dùng, đó là Mead Johnson. Mead Johnson Nutritionals là một công ty hàng đầu thế giới về dinh dưỡng được thành lập trước đây gần 1 thế kỷ do ông Edward Mead Johnson sáng lập ra và tên của ông

62

cũng được dùng để đặt cho tên của công ty. Năm 1888, cuộc sống của bé trai Ted, con của E. Mead Johnson, lâm vào nguy khốn vì bé không lớn lên khi được nuôi dưỡng bằng chế độ bình thường mà phải nuôi bằng hỗn hợp nấu bằng lúa mạch. Nhiều năm sau, ký ức về kinh nghiệm nuôi ăn này có lẽ đã gợi cho E. Mead ý tưỡng phát triển nên một sản phẩm mà ngày nay đã đứng đầu doanh thu toàn thế giới về công thức sữa trẻ em, đó chính là Enfamil ®. Ngày nay trên thị trường Việt Nam, công thức Enfamil đã không còn trở nên xa lạ với người tiêu dùng Việt với dòng sản phẩm sữa quen thuộc Enfa. Mead Johnson đã phát triển các sản phẩm chuyên biệt, chuyên điều trị các vấn đề thường gặp trong việc hấp thu dinh dưỡng ở trẻ em. Điều đáng nói là dù dòng sản phẩm chuyên biệt này không mang lại lợi nhuận, nhưng vẫn luôn là tiêu chí trong sứ mệnh công ty, chính là cung cấp cho trẻ em, đặc biệt là các trẻ em mắc bệnh nghiêm trọng về đường tiêu hóa, một cơ hội để phát triển bình thường, một khởi đầu tốt đẹp nhất. Trên hết là dòng sản phẩm dinh dưỡng hàng ngày với chất lượng đã được kiểm nghiệm khoa học như: Enfamama A+. Enfalac A+, Enfapro A+, Enfagrow A+. Những sản phẩm này đã được chứng minh lâm sàng trong việc cung cấp những lợi ích lâu dài cho sự phát triển trí não, thể chất và hệ miễn dịch cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, mang lại một khởi đầu tốt đẹp và một tương lai tươi sáng hơn.Mead Johnson hiện đang có một trong những Trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn nhất thế giới, với đội ngũ chuyên gia dinh dưỡng nhi khoa nhiều hơn bất kỳ một công ty nào khác. Chính những đam mê, cũng như sự tập trung tuyệt đối vào nghiên cứu và phát triển về dinh dưỡng trẻ em đã giúp Mead Johnson Nutrition phát triển thành một trong những tập đoàn dinh dưỡng nhi khoa hàng đầu thế giới. Bằng chứng là các sản phẩm của Mead Johnson có mặt tại hơn 60 quốc gia trên thế giới, tiếp nối tâm huyết và mục tiêu ban đầu của Edward Mead Johnson là mang lại sự khởi đầu tốt đẹp nhất cho hàng triệu hàng triệu trẻ em trên thế giới. 2.2. Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam Đứng trước sự cạnh tranh của những thương hiệu uy tín hàng đầu thế giới về dinh dưỡng đang có mặt trên thị trường sữa Việt Nam, các DNVN đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn nhưng đồng thời cũng để lại cho DN những bài

63

học kinh nghiệm rất giá trị để từ đó DN có thể khẳng định vị thế của mình trên sân nhà trong tương lai không xa. Bài học thứ nhất là về vấn đề nguồn nguyên liệu. Có thể thấy nguồn nguyên liệu sản xuất sữa bột tại Việt Nam hiện nay phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu. Chính điều này đã và đang đem lại rất nhiều bất lợi cho sản phẩm của các DNVN, giá sữa hoàn toàn phụ thuộc vào giá sữa nguyên liệu trên thế giới, quy trình sản xuất kém chuyên nghiệp, còn yếu về mặt công nghệ của phần lớn các DN nội địa hiện nay hoàn toàn không thể cạnh tranh được với quy trình sản xuất khép kín và hiện đại của các DN nước ngoài. Bài học thứ hai là về chất lượng sữa bột công thức. Phần lớn các cơ sở sản xuất, kinh doanh sữa bột nội địa hiện nay đều không có lợi thế về công nghệ, thiết bị, máy móc, bởi đầu tư vào một dây chuyền sản xuất đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn, không phải là vấn đề DN có thể giải quyết trong ngắn hạn. Vì còn yếu kém về mặt công nghệ nên việc chất lượng sữa nội không được đánh giá cao cũng là điều dễ hiểu. Bài học thứ ba là về chiến lược xúc tiến thương mại. Tuy đã được những viện dinh dưỡng có uy tín kiểm chứng rằng chất lượng (của một số sản phẩm) không hề thua kém sữa ngoại, nhưng tại sao số đông người tiêu dùng Việt Nam vẫn mang tâm lý “hàng nội không tốt bằng hàng ngoại”? Thậm chí thời gian gần đây khi hàng loạt các nhãn sữa ngoại nổi tiếng đều phát sinh những vấn đề liên quan đến chất lượng (sữa Meiji nhiễm xạ, sữa Abbott có bọ đen ...) nhưng lượng tiêu dùng những sản phẩm trên vẫn không hề thuyên giảm? Nhiều nhãn hiệu sữa bột trong nước có mặt trên thị trường đã lâu nhưng vì sao thị phần vẫn không thể cao hơn một số nhãn hiệu nước ngoài mới chỉ thâm nhập thị trường? Chất lượng chỉ là một yếu tố, vấn đề quan trọng nhất nằm ở chiến lược xúc tiến thương mại của mỗi DN. Rõ ràng những chiến lược trên chưa thực sự hiệu quả nên chưa thể thuyết phục người tiêu dùng thay đổi quan điểm về chất lượng của một số sản phẩm sữa nội. Để không bị thất thế ngay trên chính thị trường nội địa của mình, không chỉ riêng các DN mà ngay cả Nhà nước cũng cần có những giải pháp nhằm nâng cao NLCT của sản phẩm sữa bột trong nước.

64

3. Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm sữa bột công thức của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trƣờng nội địa 3.1. Giải pháp từ phía Nhà nước Xuất phát từ thực trạng thị trường sữa bột công thức hiện nay, có thể thấy NLCT của các DNVN ở mặt hàng này còn rất hạn chế và khó có thể thống trị thị trường với mức thị phần cao như các hãng sữa của DN nước ngoài. Bên cạnh những yếu tố của môi trường bên trong của DN, những yếu tố của môi trường bên ngoài, điển hình như những chính sách của Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng để quyết định NLCT của DN.  Giải pháp nhằm quản lý giá sữa Hầu hết các mặt hàng nói chung và mặt hàng sữa nói riêng đều được điều tiết theo cơ chế thị trường. Để hạn chế tác động xấu từ biến động bất thường của thị trường đối với một số mặt hàng thiết yếu có ảnh hưởng đến đời sống dân sinh, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2008/NĐ-CP ngày 9/6/2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2003/NĐCP ngày 25/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giá quy định về danh mục các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá, trong đó có mặt hàng sữa. Theo thông tư số 104/2008/TT-BTC ngày 13/11/2008 (hướng dẫn thực hiện Nghị định số 170/2003/NĐ-CP và Nghị định số 75/2008/NĐ-CP), sữa là mặt hàng thuộc diện bình ổn giá theo đó trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động sẽ áp dụng các biện pháp bình ổn giá. Năm 2010 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 122/2010/TT-BTC qui định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giá và sửa đổi một số điều khoản trong Thông tư số 104/2008. Việc ban hành nhiều thông tư, nghị định có thể xem là một nỗ lực của Chính phủ nhằm hạn chế tình trạng giá sữa leo thang mất kiểm soát như hiện nay. Tuy nhiên DN vẫn có thể lợi dụng sơ hở trong những thông tư này và tiếp tục tăng giá một cách bất thường, đặc biệt là các DN nước ngoài vì thông tư này chỉ áp dụng với các DNVN. Mặc dù đã ban hành thông tư mới vào năm 2010 nhưng việc kiểm soát

65

giá sữa vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả và người tiêu dùng vẫn là đối tượng phải chịu thiệt sau mỗi đợt tăng giá sữa.  Giải pháp nhằm phát triển nguồn nguyên liệu Trước hiện trạng nguồn cung trong đủ đáp ứng nhu cầu trong nước khiến các DN phải chọn giải pháp nhập khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa, Chính phủ cũng ban hành các chính sách thuế đối với các sản phẩm sữa bột nói chung và sữa bột dành cho trẻ em nói riêng nhập khẩu vào thị trường Việt Nam. Các nước xuất khẩu sữa gồm cả xuất khẩu nguyên liệu sản xuất sữa và các sản phẩm sữa thành phẩm vào thị trường Việt Nam được chia làm hai nhóm chính là nhóm các nước thuộc WTO và nhóm các nước thuộc khối ASEAN tham gia khu vực mậu dịch tự do (AFTA).  Đối với các nước thuộc WTO, do đã là thành viên của WTO, được hưởng chế độ tối huệ quốc – MFN đồng thời cũng phải cam kết và thực hiện cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng sữa bột từ các nước thành viên, Việt Nam đã cam kết hạ mức thuế đánh vào sữa nguyên liệu và sữa thành phẩm (mức thuế áp dụng là thuế suất tối huệ quốc theo biểu cam kết thuế quan), trong đó mức thuế nhập khẩu đối với sữa nguyên liệu nhỏ hơn 20%, sữa thành phẩm nhỏ hơn 30%. Tuy nhiên, thuế suất tối huệ quốc hiện tại Việt Nam đang áp dụng thấp hơn nhiều so với mức đã cam kết, với mức áp dụng là 10% đối với nguyên liệu thô và 22% đối với bán thành phẩm, nghĩa là Việt Nam đã thực hiện sớm hơn so với thời hạn cam kết thực hiện và đây chính là một trong những điểm tạo bất lợi cho DN sản xuất trong nước
46

.

 Đối với các nước thành viên ASEAN tham gia AFTA, Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) đã được ký kết, quy định mức thuế áp dụng chung cho việc xuất khẩu nguyên liệu sữa hay các sản phẩm sữa thành phẩm vào Việt Nam là 5%. Thuế nhập khẩu hiện nay được áp dụng cho nguyên liệu sữa và sản phẩm sữa nhập khẩu vào Việt Nam phụ thuộc vào chủng loại sản phẩm sữa, nguyên liệu sữa, thành phần chất béo và đường cũng như nước xuất khẩu. Nghị quyết số 295/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 28/09/2007 đã ban hành biểu thuế suất theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất đối với từng nhóm hàng, biểu thuế
46

Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực năm 2010, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, trang

66

nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ưu đãi đối với từng nhóm hàng. Ngoài thuế suất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng (VAT) cũng được áp dụng ở mức 10% cho các sản phẩm sữa bột nói chung và sữa bột dành cho trẻ em nói riêng. Bảng 8: So sánh thuế suất nhập khẩu sữa của Việt Nam với một số nước 47

Từ bảng trên có thể thấy sữa nguyên liệu và sữa bột thành phẩm nói chung và mặt hàng sữa bột cho trẻ em nói riêng nhập khẩu vào Việt Nam đang áp dụng mức thuế cao hơn so với một số nước trong khu vực. Hiện nay chính phủ Việt Nam không áp dụng bất kỳ một hình thức quota nhập khẩu nào đối với nguyên liệu sữa và sữa thành phẩm để bảo vệ sản xuất trong nước bởi thực tế sản xuất trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ. So với Thái Lan thì đây cũng là điểm mở, vì tại Thái Lan hiện nay yêu cầu DN chỉ được nhập khẩu lượng sữa tương đương với lượng thu mua sữa tươi trong nước. Nắm bắt được hiện trạng nguyên liệu sản xuất “cung không đủ cầu”, Bộ Công nghiệp đã ban hành Quyết định số 22/2005/QĐ-BCN ngày 26 tháng 04 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, theo đó cần phải  Đẩy mạnh phát triển đàn bò sữa có hiệu quả kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh, hình thành các vùng chăn nuôi bò sữa tập trung trên cơ sở áp dụng rộng rãi tiến bộ kỹ thuật và các loại giống mới có năng xuất và chất lượng cao. Tập trung

47

Số liệu do Cục Quản lý cạnh tranh tổng hợp

67

nghiên cứu để tuyển chọn được đàn bò chủ lực cho ngành. Đầu tư các nhà máy, xưởng dự trữ thức ăn (ủ cỏ và các phụ phẩm) và chế biến thức ăn tinh cho bò  Phát triển công nghiệp chế biến sữa theo hướng tăng tỷ lệ sử dụng sữa tươi trong nước và giảm tỷ lệ sữa bột nhập ngoại. Các cơ sở sản xuất sữa phải có chương trình đầu tư cụ thể vào việc phát triển đàn bò sữa. Đến năm 2010, bên cạnh những thay đổi trong chính sách phát triển kinh tế, Quy hoạch trên chưa thực sự được xây dựng đúng với các điều kiện phát triển kinh tế, do đó “Quy hoạch phát triển ngành sữa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025” đã được xây dựng nhằm đưa ra những giải pháp hữu ích hơn và thích ứng những mục tiêu đề ra với điều kiện kinh tế nước ta hiện nay. Theo đó, một hệ thống các giải pháp và chính sách thực hiện quy hoạch đã được đề ra nhằm hoàn thành mục tiêu phát triển toàn ngành trong giai đoạn từ nay tới năm 2015, tầm nhìn 2020, trong đó có giải pháp để phát triển nguồn nguyên liệu trong nước: _ Xây dựng vùng chuyên canh tập trung nuôi bò sữa do các DN đầu tư hoặc thực hiện mô hình: DN lớn chủ đạo về con giống, dịch vụ kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm, hộ chăn nuôi gia đình tập trung nuôi bò sữa và khai thác sữa. _ Tạo quỹ hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu từ nguồn vốn huy động, tài trợ của các DN, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước _ Các DN, hộ chăn nuôi bò sữa tập trung được hưởng các chính sách ưu đãi đã nêu trong Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 và Quyết định số 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/2009 về phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thuỷ sản đến năm 2020 _ Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng các phòng kiểm nghiệm chất lượng sữa để làm đối trọng với các phòng kiểm nghiệm của các nhà máy chế biến sữa, tăng sự lựa chọn cho người chăn nuôi. _ Đầu tư phát triển nhà nước cho vay đầu tư dự án phát triển giống bò sữa; xây dựng mới, mở rộng cơ sở chăn nuôi bò sữa, cơ sở thu gom, chế biến sữa công nghiệp

68

Những định hướng trên là hết sức cần thiết bởi vấn đề thiết hụt nguồn nguyên liệu trong nước là một trong những điểm bất lợi rất lớn ảnh hưởng tới NLCT của các sản phẩm sữa bột công thức do DNVN sản xuất. Tuy nhiên để có thể thực hiện được những định hướng trên, đòi hỏi toàn ngành sữa phải có được sự phát triển đồng bộ ngay từ những khâu đầu tiên của quá trình sản xuất.  Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm Có thể thấy sau những vụ bê bối về chất lượng sữa tươi, sữa bột trên thị trường trong những năm qua, người tiêu dùng đã dần nâng cao cảnh giác và đặc biệt quan tâm đến vấn đề chất lượng của sản phẩm. Để xây dựng lại niềm tin của người tiêu dùng đối với chất lượng sản phẩm nhằm tránh những tác động tiêu cực tới lượng cung – cầu trên thị trường, Nhà nước cũng cần có một số giải pháp vừa để nâng cao chất lượng sản phẩm mà bên cạnh đó còn nâng cao NLCT của các sản phẩm nội địa. _ Thứ nhất là các giải pháp về VSATTP  Tăng cường kiểm tra chất lượng nguyên liệu và sản phẩm sữa sản xuất trong nước, nhập khẩu và lưu thông trên thị trường trong nước, để chống hàng lậu hàng kém chất lượng, không bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn VSATTP. Kết quả kiểm tra cần phải công khai và các hành vi vi phạm cũng cần xử lý nghiêm.  Ban hành tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm sữa theo thông lệ quốc tế để làm cơ sở giám sát, kiểm tra.  Kiểm soát chặt chẽ các dự án đầu tư mới để hạn chế việc sử dụng thiết bị có công nghệ lạc hậu không đảm bảo VSATTP, không cấp phép đầu tư cho các dự án không đầu tư hệ thống xử lý nước thải công nghiệp thoả mãn các quy định về bảo vệ môi trường. _ Thứ hai là các giải pháp về công nghệ  Khuyến khích các DN đầu tư nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất mua công nghệ, thiết bị tiên tiến của các nước phát triển, nhận chuyển giao công nghệ của các công ty hàng đầu thế giới để nâng tầm chất lượng thiết bị sản xuất từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm

69

 Khuyến khích các hoạt động nghiên cứu chuyển giao công nghệ sản xuất bao bì chất lượng cao, chất hỗ trợ chế biến, phụ gia, vi chất đảm bảo chất lượng và VSATTP ứng dụng trong ngành sữa.  Tăng cường năng lực nghiên cứu cho một số Viện nghiên cứu để có khả năng tập trung nghiên cứu các vấn đề khoa học công nghệ về chế biến và bảo quản sữa, VSATTP.  Giải pháp nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại  Tổ chức thường niên hội chợ triển lãm trong nước để các DN tham gia giới thiệu, quảng bá sản phẩm. Đồng thời hỗ trợ các DN tham gia các hoạt động trên ở nước ngoài theo chương trình xúc tiến thương mại quốc gia để mở rộng thị trường xuất khẩu.  Xây dựng chương trình sữa học đường quốc gia để học sinh mẫu giáo và tiểu học có thể tiếp cận, sử dụng sữa, góp phần nâng cao thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ.  Tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu rõ chất lượng các loại sữa, hướng dẫn người tiêu dùng đánh giá đúng chất lượng, công dụng sữa, lựa chọn sản phẩm để sử dụng.  Các DN xây dựng chiến lược kinh doanh, phát triển thị trường như xây dựng, phát triển rộng khắp hệ thống đại lý và tiêu thụ sản phẩm, phát huy vai trò của các chi nhánh nhằm tăng tính chủ động trong kinh doanh.  Các DN chủ động phát hiện những hành vi gian lận và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường, kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để xây dựng các biện pháp ngăn chặn.  Giải pháp xây dựng thương hiệu sản phẩm  Các DN cần xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển thương hiệu sản phẩm của mình dựa trên cơ sở truyền thống, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam.  Đối với các thương hiệu sản phẩm sữa Việt đã nổi tiếng, có uy tín trong nước, cần có chiến lược phát triển lâu dài trên cơ sở mở rộng sản xuất để giữ vững và phát triển thị phần, nâng cao chất lượng sản phẩm, không ngừng cải tiến mẫu

70

mã, đa dạng sản phẩm, củng cố và phát triển hệ thống tiêu thụ sản phẩm bảo đảm tin cậy, thuận lợi, uy tín với khách hàng.  Nhà nước tăng cường giám sát bảo hộ thương hiệu, nhãn mác, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, đấu tranh chống hàng lậu, hàng kém chất lượng để bảo đảm quyền lợi cho DN và người tiêu dùng.  Hoàn thiện các văn bản pháp luật để quản lý giá sữa, đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà sản xuất, phân phối và tiêu dùng.  Hoàn thiện cơ chế giám sát và quản lý chặt chẽ từ phía cơ quan quản lý về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường sữa, đặc biệt là hành vi quảng cáo gây ngộ nhận cho người tiêu dùng.  Tăng cường vai trò của Hiệp hội sữa Việt Nam trong quản lý ngành để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của DN và người tiêu dùng. 3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp Bên cạnh những chính sách hỗ trợ của Nhà nước, chính sách phát triển của nội bộ DN cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm của DN. Để nâng cao NLCT cho sản phẩm, trước hết DN phải áp dụng đồng bộ các biện pháp để nâng cao chất lượng cho hàng hóa dịch vụ của mình.  Chiến lược nhằm nâng cao chất lượng Đầu tư công nghệ hiện đại và phát triển mặt hàng Công nghệ là phương pháp, là bí mật, là công thức để tạo ra sản phẩm. Cùng với sự phát triển của xã hội, công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất sản phẩm của mỗi DN. Theo thời gian, công nghệ cũng dần phát triển và đổi mới qua từng giai đoạn, các DN hiện nay đều có xu hướng áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật, công nghệ hiện đại để tiết kiệm chi phí nhân lực, tiết kiệm thời gian tạo ra sản phẩm, tiết kiệm chi phí nguyên liệu đầu vào và năng lượng mà vẫn đạt được năng suất cao, đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt, không gây ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng công nghệ hiện đại vừa giúp DN tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó nâng cao NLCT của sản phẩm. Với các DN kinh doanh ngành sữa, công nghệ hiện đại lại càng đóng vai trò quan trọng. Ở phân khúc sữa bột, đặc biệt là sữa bột công thức

71

các DNVN chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các DN nước ngoài mà nguyên do chủ yếu là khoa học công nghệ của nước ta chưa phát triển đủ tầm để cạnh tranh với công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Do đó cần phải có sự đầu tư đồng bộ từ cơ sở vật chất của DN đến công nghệ sản xuất, chế biến trong các dây chuyền. Với hơn 35 tồn tại và phát triển, Vinamilk là thương hiệu sữa hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Sản xuất trên 200 mặt hàng sữa và các sản phẩm từ sữa như sữa đặc, sữa bột, sữa tươi..., Vinamilk luôn mở rộng quy mô các nhà máy để chế biến, sản xuất sữa kịp đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nhờ kinh doanh uy tín, bài bản, sản phẩm từ sữa của Vinamilk đến nay đã phủ kín thị trường trong nước từ thành thị đến vùng sâu, vùng xa, trở thành một thương hiệu đáng tin cậy. Phương châm hoạt động của DN này là phải làm ra sản phẩm thật tốt, có chất lượng cao, được kiểm nghiệm bằng khoa học và qua thực tế thì mới thuyết phục được người tiêu dùng. Để đạt được mục đích này, Vinamilk đã nỗ lực không ngừng để đảm bảo cùng một lúc 3 vấn đề cốt lõi, đó là chất lượng – giá cả – phong cách phục vụ. Có thể khẳng định rằng, tuy là DN trong nước nhưng về công nghệ sản xuất và chế biến thì không thua bất cứ một DN nào trên thế giới. Điều này đã được chứng minh qua những thành công rực rỡ của DN, là đại diện đầu tiên của Việt Nam có mặt trong Top 200 DN Châu Á xuất sắc nhất năm 2010 do tạp chí Forbes Asia bình chọn; được Vietnam Report (VNR) xếp hạng top 5 DN tư nhân lớn nhất Việt Nam, ngoài ra Vinamilk cũng được Nielsen Singapore xếp vào một trong 10 thương hiệu được người tiêu dùng Việt Nam yêu thích nhất. Đầu tư vào con người Trong các hoạt động đầu tư về chiều sâu, DN cần đặc biệt chú ý đến việc đào tạo đội ngũ kế thừa. Trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, bên cạnh công nghệ tiên tiến, hệ thống quản trị DN hiện đại, cần phải có con người biết sử dụng và vận hành nó. Máy móc có thể thay thế con người ở một số công đoạn, nhưng để thành công DN không chỉ cần máy móc hiện đại mà còn cần phải có nguồn nhân lực chất lượng để đưa ra những chiến lược phát triển đúng đắn. Do vậy ngoài việc chăm lo nâng cao đời sống cho mọi thành viên trong công ty, DN phải chú trọng đầu tư nâng cao trình độ tay nghề cho từng bộ phận, tạo điều kiện ngày càng tốt hơn về môi

72

trường làm việc cho nhân viên từ văn phòng đến nhà máy nhằm phát huy một cách tốt nhất năng lực làm việc của từng thành viên. Các DN cần phải lập chương trình và kế hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ và thợ lành nghề. Việc đào tạo phải tiến hành theo phương châm vừa phát triển chiều rộng nhằm đáp ứng yêu câu trước mắt, đồng thời cũng phải có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu, các cán bộ nghiên cứu khoa học đầu ngành để chuẩn bị cho phát triển ngành trong tương Lai. Kết hợp cả đào tạo trong nước và ngoài nước; cả chính quy và tại chức; cả ngắn hạn và dài hạn.  Chiến lược xây dựng thương hiệu Thương hiệu là tài sản quý của DN do đó đầu tư xây dựng thương hiệu là một hoạt động cần được quan tâm và thực hiện một cách hiệu quả. Các DNVN cần chú ý vào việc nghiên cứu từng khu vực thị trường, từng tập quán tiêu dùng, từng độ tuổi, giới tính để phát triển mạng lưới bán lẻ cho từng mặt hàng và quảng bá cho từng mặt hàng ở mỗi khu vực, địa phương khác nhau. Theo báo cáo đánh giá của BMI, ngay cả Vinamilk – DN sữa hàng đầu Việt Nam hiện nay vẫn còn gặp khó khăn trong việc phổ biến sản phẩm đến những địa phương có mức sống thấp.  Chiến lược xúc tiến thương mại Hướng về cộng đồng là một hoạt động mà các DN nên áp dụng, không chỉ giúp phổ biến sản phẩm của mình tới tất cả mọi người mà còn củng cố được lòng tin và thiện cảm của người tiêu dùng với sản phẩm. Cho tới nay, Vinamilk luôn được biết đến là DN hàng đầu hướng về cộng đồng cùng các hoạt động từ thiện xã hội. Bên cạnh việc tổ chức các hoạt động thăm hỏi, động viên, hỗ trợ khẩn cấp người dân vùng lũ, Vinamilk còn tham gia phụng dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Bến Tre, Quảng Nam, Đà Nẵng, xây dựng nhà tình thương tình nghĩa, hỗ trợ bệnh nhân nghèo thành phố thông qua Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo. Từ năm học 2003 – 2004, Vinamilk đã phối hợp với Bộ Giáo dục – Đào tạo thành lập “Quỹ học bổng Vinamilk – Ươm mầm tài năng trẻ Việt Nam”, năm học 2010 – 2011 là năm thứ 8 DN đã tài trợ cho quỹ học bổng này, với tổng giá trị giá lên tới trên 16 tỷ đồng. Vinamilk còn kết hợp với Quỹ Bảo trợ Trẻ em Việt Nam thành lập quỹ sữa "Vươn cao Việt Nam" với mục tiêu nhằm chia sẻ những khó khăn của trẻ em nghèo,

73

có hoàn cảnh đặc biệt, bị suy dinh dưỡng, khuyết tật… Đây là hoạt động nhằm góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam và mong muốn thay đổi một thế hệ người Việt mới. Việc cứu trợ, cũng như hàng loạt các chương trình hướng đến cộng đồng nhằm thể hiện tinh thần trách nhiệm của Vinamilk đối với xã hội, với cộng đồng, và là văn hoá của Vinamilk. Đây cũng là một điển hình về hoạt động từ thiện mà các DN trong nước nên học tập và áp dụng trong tương lai gần để tăng cường cả về chất lượng và số lượng các quỹ sữa từ thiện giúp cho tất cả trẻ em trên mọi miền đất nước đều có cơ hội được uống nguồn sữa sạch và an toàn.

74

KẾT LUẬN
Bất chấp sự gia tăng bất thường về giá trong thời buổi kinh tế khó khăn, các sản phẩm thuộc mặt hàng sữa bột và trong toàn ngành sữa nói chung vẫn đạt được doanh số rất tốt và có xu hướng tăng dần qua các năm. Khi mức sống ngày càng được nâng cao, các bậc cha mẹ đều mong muốn lựa chọn những sản phẩm tốt nhất cho con mình, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, thương hiệu là những yếu tố được xem trọng hơn cả. Điều này cũng giải thích phần nào vị trí thống trị của các nhãn hiệu nhập khẩu ở phân khúc sữa bột công thức, khả năng cạnh tranh của các nhãn sữa mang thương hiệu Việt Nam ở mảng sản phẩm này còn rất hạn chế. Một yếu tố khác lí giải cho sức hút mạnh mẽ của các sản phẩm nước ngoài nằm ở chiến lược quảng cáo, tiếp thị sản phẩm của các DN. Nắm bắt được tâm lí của người tiêu dùng cộng thêm lợi thế sẵn có về năng lực cạnh tranh của sản phẩm, các hãng sữa nước ngoài đã đầu tư một nguồn ngân sách không nhỏ cho những chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm trên các phương tiện báo đài. Lợi dụng sự thiếu hiểu biết trong việc đánh giá chất lượng sữa bột trên cơ sở khoa học của người tiêu dùng cùng với những biện pháp còn thiếu hiệu quả của Chính phủ Việt Nam, chiến dịch quảng cáo, tiếp thị của các DN sữa nước ngoài đang vượt quá tầm kiểm soát, một số quảng cáo được thổi phồng và nguy hiểm hơn là quảng cáo sai sự thật, khiến phần lớn các bà mẹ cho rằng “sữa bột tốt hơn sữa mẹ”, trong khi sữa mẹ mới là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, điều này gây ảnh hưởng rất tiêu cực đến thói quen nuôi con bằng sữa mẹ hiện đang được Chính phủ ra sức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh sự tăng giá bất thường của thị trường sữa bột trong nước, việc giá sữa nguyên liệu và các sản phẩm sữa nhập khẩu vào Việt Nam thuộc hàng cao nhất trên thế giới trong khi mức thuế nhập khẩu ở nước ta chỉ ở mức trung bình cũng là một trong những nghịch lí trên thị trường sữa bột cần sớm có biện pháp can thiệp của Nhà nước và chế tài để hạn chế tình hình trên. Một sản phẩm muốn thành công và đứng vững trên thị trường phải luôn đặt chất lượng lên làm yếu tố hàng đầu. Thực tế ở thị trường sữa bột nước ta trong

75

những năm gần đây xuất hiện rất nhiều vụ bê bối về chất lượng sữa bột dành cho trẻ em gây hoang mang cho một bộ phận lớn những người tiêu dùng trước giờ vẫn tiêu dùng sản phẩm đó. Tình trạng sữa bán theo cân, không rõ nguồn gốc xuất xứ vẫn trôi nổi trên thị trường, hay hàm lượng dinh dưỡng ghi trên bao bì hoàn toàn sai lệch với hàm lượng thực tế được kiểm tra ở một số nhãn sữa nội địa và nước ngoài, rồi thành phần sữa bột chứa những “dị vật” kì lạ, sữa nhiễm phóng xạ..., tất cả những sự việc trên đều là hồi chuông cảnh tỉnh người tiêu dùng cần có nhận thức đúng đắn trong việc đánh giá chất lượng và lựa chọn sản phẩm sữa bột cho con em mình. Xét trên mặt bằng chung, thị trường sữa bột công thức không phải là lợi thế của các DNVN. Tuy nhiên trong những năm gần đây thị phần của một số DN lớn đã có xu hướng tăng lên, nhờ vào chính sách cải tiến của chính DN cùng với những biện pháp khuyến khích của Chính phủ, và quan trọng hơn là sự thay đổi theo chiều hướng tích cực trong tâm lí mua hàng của một bộ phận người tiêu dùng. Trong tương lai, sữa bột công thức vẫn sẽ là một mặt hàng đạt được doanh thu rất cao và có xu hướng ngày càng tăng. Do đó các DNVN cần biết tận dụng những lợi thế sẵn có, cải tiến sản phẩm, tập trung vào chất lượng, áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật, công nghệ hiện đại và đề ra những chiến lược marketing đúng đắn để gây dựng và phát triển thương hiệu sữa bột Việt Nam không chỉ là một thương hiệu mạnh trong nước và còn là thương hiệu được tin dùng trên thế giới. Trong quá trình nghiên cứu, do kiến thức chuyên môn còn hạn hẹp nên đề tài không thể tránh khỏi những sai sót. Tuy nhiên nhóm nghiên cứu mong rằng đây sẽ là một đề tài hữu ích góp phần vào việc nhận định rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của các sản phẩm sữa bột công thức Việt Nam trên thị trường, hoàn thiện những giải pháp của DN và Chính phủ để nâng cao NLCT, đưa thương hiệu sữa bột Việt Nam lên một vị thế mới.

76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt
1. Giáo trình Marketing lí thuyết, trường Đại học Ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000 2. Giáo trình Marketing quốc tế, trường Đại học Ngoại thương, 2005 3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa – Trần Sửu, Nhà xuất bản Lao động, 2005 4. Thương hiệu dành cho lãnh đạo, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, 2004 5. Báo cáo ngành sữa 2009, Habubank Securities 6. Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực, 2010, Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương 7. 2020, Đỗ Kim Tuyên, Cục Chăn nuôi 8. Niên giám thống kê Việt Nam 2010 9. Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 10. Nghị định số 75/2008/NĐ-CP 11. Nghị định số 170/2003/NĐ-CP 12. Thông tư số 104/2008/TT-BTC 13. Thông tư số 122/2010/TT-BTC 2001-2 2010-

Tài liệu nước ngoài
1. Principles of Marketing, Philip Kotler 2. International Marketing , International Edition, 1997 3. Codex Standard for Follow-up Formula, Codex standard 4. Dairy products in Vietnam 2009, Euromonitor International 5. Drinking milk products in Vietnam 2011, Euromonitor International 6. Baby Food in Vietnam 2010, Euromonitor International 7. Vietnam Food and Drink Report Q3 – Q4 2011, Business Monitor International 8. Vietnam Dairy Milk Market 2000 – 2014, Datamonitor

77

9. Abbott Annual Report 2010

Một số trang web tham khảo
1. http://www.tinkinhte.com/nd5/print/114316.html 2. http ://www.vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/12/sua-bot-ngoai-tang-gia-manh/ 3. http://hanoimoi.com.vn/print/314332/print.htm 4. http://www.vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/12/sua-bot-ngoai-tang-gia-manh/ 5. http://www.baomoi.com/Home/ThiTruong/vneconomy.vn/Vinamilk-tang-giasua-vao-mung-1-Tet/7757890.epi 6. http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/xahoi/vichatluongcuocsong/2009/7/19 229.html 7. http://www.vinamilk.com.vn/?vnm=market&id=28 8. http://www.trustmilkdaily.com/san-pham-tu-sua/ban-tin-nganh-sua/Nganh-Suadang-no-luc-chiem-linh-thi-truong-noi-dia-17B

78

PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM SỮA (Ban hành kèm theo quyết định số 3399/QĐ-BCT, ngày 28 tháng 6 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công Thương) 1 2 3 4 5 6 7 8 Chỉ tiêu Sữa thanh, tiệt trùng Sữa đặc có đường (sữa hộp) Sữa chua Sữa bột các loại Bơ Pho mát Kem các loại Các sản phẩm sữa khác (bột dinh dưỡng) Tổng số quy sữa tươi Dân số Bình quân đầu người Tăng trưởng bình quân Sữa thanh, tiệt trùng Sữa đặc có đường (sữa hộp) Sữa chua Sữa bột các loại Bơ Pho mát Kem các loại Các sản phẩm sữa khác (bột dinh dưỡng) Tổng số quy sữa tươi Bình quân đầu người. Đơn vị Triệu lít Triệu hộp Triệu lít 1000 tấn Tấn Tấn 1000 tấn 1000 tấn 2010 480 377 86 47 6 72 13 22 2015 780 400 120 80 8 84 20 44 2020 1150 410 160 120 10 97 27 65 2025 1500 420 210 170 13 107 38 83

Triệu lít 1300 Triệu 86,70 người Lít/người 15 20062010 %/năm 18,4 %/năm 0,7 %/năm %/năm %/năm %/năm %/năm %/năm %/năm %/năm 7,2 -1,3 -0,3 -2,1 8,8 67,3

1900 91,13 21 20112015 10,0 1,0 7,0 11,0 5,0 3,0 8,0 15,0

2600 95,30 27 20162020 8,0 0,8 6,0 8,5 5,0 3,0 7,0 8,0

3400 99,18 34 20212025 6,0 0,5 5,0 7,0 5,0 2,0 7,0 5,0

5,3 1,1

7,8 1,0

6,7 0,9

5,5 0,8

79

PHỤ LỤC 2 NHU CẦU ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN NGÀNH (Ban hành kèm theo quyết định số 3399/QĐ-BCT, ngày 28 tháng 6 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công Thương) Đơn vị: Tỷ đồng
TT 1 2 3 4 Hạng mục Vốn cho công nghiệp chế biến Vốn cho phát triển nguyên liệu Vốn cho phát triển công nghiệp hỗ trợ Vốn xây dựng trạm thu mua sữa TỔNG TOÀN NGÀNH 2010-2015 2016-2020 2021-2025 1.190 2.150 720 180 4.240 1.280 3.130 630 190 5.230 1.500 3.490 850 220 6.060

PHỤ LỤC 3 SỐ LƢỢNG BÒ SỮA PHÂN THEO ĐỊA PHƢƠNG Đơn vị: con
Số TT Tỉnh/Thành phố 2006 CẢ NƢỚC Miền Bắc I 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Đồng bằng Sông Hồng Hà Nội Hải Phòng Vĩnh Phúc Hà Tây Bắc Ninh Hải Dương Hưng Yên Hà Nam Nam Định Thái Bình Ninh Bình 1.611 353 19 180 68 867 369 19 5 61 652 162 15 5 2 708 216 18 4 3 8 673 246 20 760 3.981 488 718 3.579 362 1.204 3.567 399 351 324 1.172 1.609 113.215 23.335 10.659 3.199 2007 98.659 17.845 9.136 3.156 Năm 2008 107.983 18.455 9.328 3.322 2009 115.518 16.992 8.337 5.865 2010 128.583 28.167 10.667 7.787

80

II 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 III 1 2 3 4 IV 1 2 3 4 5 6

Đông Bắc Hà Giang Cao Bằng Lào Cai Bắc Cạn Lạng Sơn Tuyên Quang Yên Bái Thái nguyên Phú Thọ Bắc Giang Quảng Ninh Tây Bắc Lai Châu Điện Biên Sơn La Hoà Bình Bắc Trung Bộ Thanh Hoá Nghệ An Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên - Huế Miền Nam

5.325

3.056

3.824

1.999

2.434

1.399 3

3.859 2 372 592

2.330 3 380

2.013 3

1.748

2.160 40

12

59

25 497 4.090 343 3.945 384 4.566 239 5.218 175 6.474

3.540 550 3.261 1.591 1.665 5

3.395 550 1.708 1.000 707 1

4.496 70 737 401 336

5.136 82 1.438 517 921

6.313 161 8.592 528 8.064

89.880 1.476 53 68

80.814 1.149 55 5

89.528 1.019 58

98.526 519 58

100.416 1.274 60

V 1 2 3 4 5 6 VI 1

Duyên Hải Nam Trung Bộ Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên Khánh Hoà Tây Nguyên Kon Tum

1.245 26 84 2.901

1.001 4 84 2.721

864

414

1.172

97 2.786

47 2.839

42 4.670

81

2 3 4 5 VII 1 2 3 4 5 6 7 8 VIII 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13

Gia Lai Đắk Lắk Đắc Nông Lâm Đồng Đông Nam Bộ TP Hồ Chí Minh Ninh Thuận Bình Phước Tây Ninh Bình Dương Đồng Nai Bình Thuận Bà Rịa - Vũng Tàu Đồng bằng sông Cửu Long Long An Đồng Tháp An Giang Tiền Giang Vĩnh Long Bến Tre Kiên Giang Cần Thơ Hậu Giang Trà Vinh Sóc Trăng Bạc Liêu Cà Mau 822 83 110 1.933 1.030 1.477 5.071 4.238 998 44 1.018 862 567 50 2.851 75.066 67.537 9 308 384 3.983 2.255 8 582 10.437 5.765 248 128 1.162 111 75 103 2.618 67.690 59.925 3 78 476 4.027 2.342 4 835 9.254 5.831 267 34 877 92 81 2.786 76.587 69.531 6 37 1.407 3.112 1.967 6 521 9.136 5.157 95 27 1.246 65 51 453 15.599 6.104 51 24 3.371 83 33 325 12.959 6.369 26 19 1.632 64 44 2.833 79.569 73.328 3 57 1.707 2.351 1.670 2.041 2.024 1.674 6 1.400 3.270 81.513 75.446 3

82

PHỤ LỤC 4 SẢN LƢỢNG SỮA BÒ PHÂN THEO ĐỊA PHƢƠNG Đơn vị: tấn
Số TT Tỉnh/Thành phố 2006 CẢ NƢỚC Miền Bắc I 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 II 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 III 1 2 Đồng bằng Sông Hồng Hà Nội Hải Phòng Vĩnh Phúc Hà Tây Bắc Ninh Hải Dương Hưng Yên Hà Nam Nam Định Thái Bình Ninh Bình Đông Bắc Hà Giang Cao Bằng Lào Cai Bắc Cạn Lạng Sơn Tuyên Quang Yên Bái Thái nguyên Phú Thọ Bắc Giang Quảng Ninh Tây Bắc Lai Châu Điện Biên 75 5.706 270 8.960 128 11.799 747 16.990 710 22.891 6.155 1 1 1 2.338 1 1 3.384 1 1 1 3.106 6.302 7 6.239 2.610 3.513 3.854 7.013 1.699 798 9 10 809 797 9 2.600 293 11 837 408 14 1.004 781 16 600 4.315 664 1.092 3.544 560 2.017 5.753 896 763 747 1.863 3.395 215.953 28.360 12.877 4.782 2007 234.438 24.669 12.025 5.214 Năm 2008 262.160 32.607 17.118 5.548 2009 278.190 37.344 16.291 12.406 2010 306.662 68.021 21.508 15.565

83

3 4 IV 1 2 3 4 5 6

Sơn La Hoà Bình Bắc Trung Bộ Thanh Hoá Nghệ An Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên - Huế Miền Nam

5.456 250 3.537 3.525 10 1 1

8.700 260 1.074 1.000 73 1

11.700 99 177 74 103

16.887 103 209 87 122

22.630 261 16.609 925 15.684

187.594 717 78 16

209.769 824 79 9

229.553 993 79

240.846 479 78

238.641 502 82

V 1 2 3 4 5 6 VI 1 2 3 4 5 VII 1 2 3 4 5 6 7 8 VIII

Duyên Hải Nam Trung Bộ Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên Khánh Hoà Tây Nguyên Kon Tum Gia Lai Đắk Lắk Đắc Nông Lâm Đồng Đông Nam Bộ TP Hồ Chí Minh Ninh Thuận Bình Phước Tây Ninh Bình Dương Đồng Nai Bình Thuận Bà Rịa - Vũng Tàu Đồng bằng sông Cửu Long

411

460

362

304

305

212 4.284

276 5.006

552 5.968

97 6.089

115 7.196

4.284 169.904 157.957 21

5.006 189.617 175.950 19 108

5.968 209.406 189.135 20 79 5.764

6.089 220.125 200.010

7.196 214.724 199.573 11

36 6.540 9.824 3.257 8.108 4.834 1.529

8.578 2.428

10.285 2.577

11.622 2.264

920 12.689

678 14.323

522 13.186

458 14.153

669 16.219

84

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13

Long An Đồng Tháp An Giang Tiền Giang Vĩnh Long Bến Tre Kiên Giang Cần Thơ Hậu Giang Trà Vinh Sóc Trăng Bạc Liêu Cà Mau

9.715 180 191 1.917 154 6

12.070 245 60 1.187 130 6

10.186 78 20 1.540 96 15

10.784 68 31 1.869 118 10

11.474 29 3 2.108 96 14

439 32 55

346 5

767

778

1.755

274

484

495

740

85

PHỤ LỤC 5 BẢNG GIÁ MỘT SỐ NHÃN SỮA BỘT TRÊN THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM (Số liệu được cập nhật đến ngày 19/03/2012 Tại đại lý sữa 126 Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Xuất xứ Hãng Nhãn sữa Similac 1 Similac Gain 2 Abbott Similac Isomil 2 Gain Plus 3 Gain IQ 3 Hoa Kỳ Mead Johnson Enfalac A+ Enfapro A+ Enfagrow A+ Insulac 1 Insulac Insulac 2 Insulac 3 Physiolac 1 Physiolac Pháp Naetalia Physiolac 2 Physiolac 3 Naetalia 1 Naetalia 2 Naetalia 3 Wakodo Wakodo 0 Wakodo 9 Meiji 1 Nhật Bản Meiji Meiji 2 Meiji 3 Morinaga Morinaga 1 Morinaga 2 Friesland Campina Hà Lan
(2) (3) (1)

Trọng lƣợng 320g x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x 230.000 225.000 x x x x x x x 350g x x x x x x x x x x x x x x x x x 270.000 275.000 x x x x x x x x x x x x x x 400g 283.000 235.000 275.000 213.000 252.000 225.000 218.000 193.000 210.000 205.000 190.000 225.000 212.000 x 199.000 192.000 187.000 x x x x x x x 220.000 215.000 198.000 365.000 365.000 330.000 190.000 180.000 170.000 800g x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x 850g x x x x x x x x x x x x x x x x x 519.000 479.000 x x x 500.000 450.000 x x x x x x x x x 900g 483.000 475.000 x 440.000 x 453.000 424.000 390.000 425.000 420.000 390.000 x 415.000 395.000 x x x x x 410.000 396.000 370.000 x x 448.000 443.000 403.000 x x 650.000 390.000 380.000 350.000

Friso Gold 1 Friso Gold 2 Friso Gold 3 Kabrita

Đan Mạch

Arla

Milex

x x

86

x Singapore S-26 x x Orgnic 1 Úc Orgnic Orgnic 2 Orgnic 3 XO Hàn Quốc Namyang x x x x x x Iam Mother 1 Iam Mother 2 Iam Mother 3 Iam Mother 4 Dutch Lady Step Dutch Lady Dutch Lady Step Gold Dielac Step 1 Vinamilk Dielac Step 2 Dielac Alpha 123 Dielac Pedia 1+ Nuti IQ1 Nutifood Nuti IQ2 Nuti IQ123 Nuti IQ456 x x x x x x x x x x Việt Nam x x x x x x x x

x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x

200.000 x x x x x 220.000 227.000 233.000 305.000 315.000 325.000 333.000 89.000 89.000 85.000 130.000 124.000 x 100.000 98.000 91.000 146.000 89.000 870.000 x x

x x x x x x x x x x 600.000 623.000 630.000 x x x x x x x x x x x x x x

x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x

430.000 430.000 395.000 570.000 570.000 570.000 x 415.000 430.000 x x x x 177.000 177.000 170.000 250.000 250.000 242.000 205.000 197.000 180.000 315.000 x 166.000 180.000 175.000

loại dành cho trẻ từ 0 – 6 tháng tuổi loại dành cho trẻ từ 1 – 3 tuổi (1) loại dành cho trẻ từ 0 – 12 tháng tuổi (2) loại dành cho trẻ từ 0 – 6 tuổi (3) loại dành cho trẻ từ 6 tuổi trở lên

loại dành cho trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi loại dành cho trẻ trên 3 tuổi

87

PHỤ LỤC 6 PHIẾU ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH TIÊU DÙNG SỮA BỘT CÔNG THỨC 1. Xin hỏi bé nhà anh/chị đang ở độ tuổi nào?  0 – 6 tháng  6 – 12 tháng  12 – 36 tháng  Trên 3 tuổi 2. Anh/chị đang sử dụng sản phẩm sữa bột công thức của các hãng sữa trong nƣớc (Vinamilk, Nutifood) hay các hãng sữa nƣớc ngoài (Abbott, Mead Johnson, Meiji,...)? (A) Các nhãn sữa trong nước  Nếu câu trả lời là (A), lí do gì khiến anh/chị không sử dụng các sản phẩm sữa bột nước ngoài?(có thể chọn nhiều phương án)  Giá cao  Chất lượng không khác sữa nội (B) Các nhãn sữa nước ngoài  Nếu câu trả lời là (B), vì sao các sản phẩm sữa bột trong nước chưa thuyết phục được anh/chị? (có thể chọn nhiều phương án)  Chưa hài lòng về chất lượng  Giá thấp nên chưa tin tưởng  Bao bì không hấp dẫn  Khác (xin vui lòng ghi rõ) ................................................................... 3. Anh/chị thƣờng sử dụng nhiều nhất sản phẩm sữa bột công thức của hãng sữa nào?  Abbott  Vinamilk  Friesland Campina  Meiji  Nutifood  Nestlé  Mead Johnson  XO  Dumex  Bé uống không hợp  Thương hiệu không nổi tiếng  Bao bì không hấp dẫn  Bé uống không hợp

 Khác (xin vui lòng ghi rõ) .........................................................................

 Khác (xin vui lòng ghi rõ) ......................................................................... 4. Tiêu chí đầu tiên nào khiến anh/chị lựa chọn sản phẩm của hãng sữa trên?  Giá cả  Chất lượng  Thương hiệu  Bao bì  Quảng cáo

88

 Lí do khác (xin vui lòng ghi rõ) .......................................................................... 5. Anh/chị biết đến sản phẩm trên qua hình thức nào? (có thể chọn nhiều phương án)  Quảng cáo trên TV, báo, đài  Internet  Bạn bè, người quen giới thiệu  Khác (xin vui lòng ghi rõ) ..................................................................................... 6. Anh/chị thƣờng mua sản phẩm trên ở đâu? (có thể chọn nhiều phương án)  Siêu thị  Các đại lí  Các cửa hàng tạp hóa nhỏ  Đặt hàng qua mạng  Bệnh viện phụ sản, TT dinh dưỡng

 Khác (xin vui lòng ghi rõ) ......................................................................... 7. Khi lựa chọn sản phẩm sữa, anh/chị thƣờng tham khảo ý kiến từ đâu? (có thể chọn nhiều phương án)  Từ bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng  Từ bạn bè, người quen  Từ quảng cáo  Khác (xin vui lòng ghi rõ) .........................

8. Anh/chị đánh giá chất lƣợng sản phẩm hiện đang dùng ở mức mấy? 1 tƣơng đƣơng với thấp nhất, 5 tƣơng đƣơng với cao nhất. 1 2 3 4 5 9. Trong tƣơng lai, anh/chị có ý định chuyển sang tiêu dùng sản phẩm của hãng sữa khác không? Nếu câu trả lời là Có xin vui lòng trả lời tiếp câu 10.  Có  Không hài lòng về chất lượng sản phẩm hiện tại  Giá cả sản phẩm hiện tại quá cao  Bé uống không hợp (bị trớ, đường ruột, hoặc không tăng cân)  Lí do khác (xin vui lòng ghi rõ) ...............................................................  Không

10. Lí do nào khiến anh/chị muốn chuyển sang tiêu dùng nhãn sữa khác?

89

PHỤ LỤC 7 THỐNG KÊ SỐ LIỆU ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH TIÊU DÙNG SỮA BỘT CÔNG THỨC Câu 1 Độ tuổi Số người Tổng Câu 2 (có thể chọn nhiều phƣơng án) Lí do không chọn (A) Nhãn sữa trong nước 28 28% Giá cao Chất lượng không khác gì sữa nội (B) Bao bì không hấp dẫn Bé uống không hợp Một số lí do khác Chưa hài lòng về chất lượng Giá thấp nên không tin tưởng Lí do không chọn (B) Nhãn sữa nước ngoài 72 72% Bé uống không hợp (A) Bao bì không hấp dẫn Thương hiệu không nổi tiếng Một số lí do khác _ Chưa dùng thử bao giờ nên chưa biết _ Bé không tăng cân 39 19 21 4 22 17 9 3 14 0 – 6 tháng 6 – 12 tháng 12 – 36 tháng Trên 3 tuổi 13 13% 31 31% 37 37% 19 19% 100 (ngƣời)

Câu 3 Hãng sữa Abbott Meiji Mead Johnson Vinamilk Số ngƣời sử dụng 25 3 13 19 XO Nestlé Dumex FrieslandCampina Hãng sữa Số ngƣời sử dụng 5 8 3 11

90

Nutifood

7

Khác

6

Câu 4 Tiêu chí lựa chọn Sữa ngoại Giá cả Thương hiệu Quảng cáo Chất lượng Bao bì Một số lí do khác 7 21 5 36 3 _ Bé uống hợp _ Bé đã quen dùng từ sơ sinh Sữa nội 13 3 2 10 0

Câu 5 (có thể chọn nhiều phƣơng án) Hình thức biết đến sản phẩm Quảng cáo trên TV, báo, đài Bạn bè, người quen giới thiệu Internet Khác Câu 6 (có thể chọn nhiều phƣơng án) Địa điểm mua sản phẩm Siêu thị Bệnh viện phụ sản, TT dinh dưỡng Các đại lí Đặt hàng qua mạng Các cửa hàng tạp hóa nhỏ Khác: nhân viên tiếp thị Câu 7 (có thể chọn nhiều phƣơng án) 10 7 46 8 29 20 51 25 4

91

Nguồn tham khảo ý kiến Từ bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng Từ bạn bè, người quen Từ quảng cáo Khác 19 69 11 6

Câu 8 Đánh giá chất lƣợng Sữa ngoại Sữa nội 0 0 1 (rất thấp) 0% 0% 2 3 2 (thấp) 82,77% 9 10,72% 17 3 (trung bình) 12,5% 39 4 (cao) 5 (rất cao) 30,56% 7,14%

54,17% 22 21,43% 2

60,71% 6

Câu 9 + 10 Chuyển sang dùng nhãn sữa khác Không hài lòng về chất lượng sản phẩm hiện tại 5 Giá cả sản phẩm hiện tại quá cao Lí do Bé uống không hợp (bị trớ, đường ruột, hoặc không tăng cân) Khác _ Muốn cho bé thử dùng nhiều loại sữa khác nhau để chọn ra loại hợp nhất Không 66 10 19

92

PHỤ LỤC 8
THỊ PHẦN MỘT SỐ NHÃN HIỆU SỮA BỘT CÔNG THỨC TRÊN THỊ TRƢỜNG SỮA BỘT DÀNH CHO TRẺ EM Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 – 2009 (ĐƠN VỊ: %)

Nhãn sữa Gain PediaSure Grow Similac Enfagrow Enfapro Enfalac Nestlé Gấu Nestlé Nan Cerelac Lactogen Meiji Dielac Ridielac Nuti Dutch Lady Friso Frisolac

Tên doanh nghiệp

2006

2007

2008 11,93 6,23 2,81 1,92 7,17 3,04 1,03 3,43 1,95 1,73 1,53 0,26 1,49 12,03 5,29 1,74 9,50 2,49 1,51

2009 12,20 6,35 2,86 1,94 7,09 2,98 1,01 3,48 2,04 1,82 1,48 0,22

12,23 11,88 Abbott Vietnam 6,93 2,20 1,78 7,59 Mead Johnson 3,05 0,98 4,09 1,94 Nestlé Vietnam 1,51 1,80 0,38 Meiji Vinamilk Nutifood 1,75 6,57 2,50 1,88 7,51 3,18 1,06 3,51 1,89 1,56 1,75 0,30 1,53

10,81 11,59 5,08 2,02 8,33 Dutch Lady Vietnam 2,40 1,40 5,07 1,96 8,86 2,58 1,47

12,49 5,49 1,83 -