You are on page 1of 123

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG ---------o0o--------Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng 2012

Tên công trình:

VƢỢT QUA CÁC RÀO CẢN KĨ THUẬT ĐỂ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU.
Nhóm ngành: KD3

Hà Nội, tháng 04 năm 2012

I

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI Viết Tắt Viết đầy đủ Tiếng Anh Viết đầy đủ Tiếng Việt ASEAN Association of South East Asian Nations CAP Common Authentication Policy EC EDI European Commision Electronic Data Interchange EU FAO European Union Food and Agriculture Organization GAP Good Agriculture Practice Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Tiêu chuẩn thị trường chung Ủy ban Châu Âu Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử Liên minh Châu Âu Tổ chức nông lương Liên Hiệp Quốc Giấy chứng nhận toàn cầu về thực hành nông nghiệp tốt GSP Generalized System of Preferences HACCP Hazard Analysis Critical Control Point Hệ thống ưu đãi phổ cập Hệ thống phân tích rủi ro bằng điểm kiểm soát tới hạn ISO Organization of International Standards ITC International Trade Centre MUTRAP Multilateral Trade Assistance Project OECD Organisation for Economic Co-operation Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế Trung tâm thương mại quốc tế Dự án hỗ trợ thương mại đa phương Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

II

and Development OPEC Organization of Petroleum Exporting Countries SA 8000 Social Accountability 8000 SPS Agreement on the Application of Sanitary and Phytosanitary Measures SWOT Strength, Weakness, Opportunity, Threaten TBT Technical Barriers to Trade UN COMTRADE Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức. Rào cản kỹ thuật trong thương mại Tổ chức Thống kê Thương mại hàng hóa thế giới USD WTO United States Dollar World Trade Organization NTD KHCN XK TH TMQT Đô la Mỹ Tổ chức thương mại thế giới Người tiêu dùng Khoa học công nghệ Xuất khẩu Trường hợp Thương mại quốc tế Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội Hiệp định về các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ

III

DANH MỤC BẢNG Tên bảng Bảng 1.1 Bảng 2.1 Bảng 2.2 Bảng 2.3 Bảng 2.4 Bảng 2.5 Nội dung Phân biệt rào cản pháp lý và rào cản kỹ thuật Kim ngạch XK một số mặt hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2005-2008 Kim ngạch nhập khẩu sản phẩm rau quả của EU với các quốc gia Kim ngạch nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của EU với các quốc gia giai đoạn 2007-2009 Kim ngạch nhập khẩu bia của Việt Nam với các quốc gia Kim ngạch nhập khẩu thức uống có cồn của Việt Nam với các quốc gia

IV

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Tên biểu đồ Biểu đồ 2.1 Nội dung Kim ngạch xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam vào thị trường Châu Âu và Thế giới giai đoạn 2007 – 2009

V

DANH MỤC HỘP NỘI DUNG Tên hộp Hộp 1.1 Hộp 2.1 Hộp 3.1 Hộp 3.2 Nội dung trang 18 45 52 65

VI

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ RÀO CẢN KĨ THUẬT TẠI THỊ TRƢỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EUROPEAN UNION – EU) ........................... 7 ĐỐI VỚI MẶT HÀNG NÔNG SẢN............................................................................... 7 1. Các khái niệm cơ bản về rào cản kỹ thuật : ............................................................... 7 1.1. Giới thiệu về rào cản kĩ thuật tại thị trường EU: ......................................................... 7 1.1.1. Các quan điểm về rào cản kĩ thuật tại thị trường EU: ............................................ 7 1.1.2. Mục đích chung của việc thiết lập rào cản kĩ thuật tại thị trường EU: .................. 9 1.1.3. Xu hướng rào cản kỹ thuật trong những năm gần đây: ........................................11 1.2. Giới thiệu về các mặt hàng nông sản chủ yếu: ..........................................................12 1.2.1. Khái niệm: ................................................................................................................12 1.2.2. Đặc điểm xuất khẩu của mặt hàng nông sản: ........................................................14 2. Những rào cản kĩ thuật đối với mặt hàng nông sản tại thị trƣờng EU: ..............15 2.1. Những rào cản kỹ thuật chung đối với mặt hàng nông sản tại thị trường EU:....... 16 2.2. Những rào cản kỹ thuật riêng của một số quốc gia trong Liên minh châu Âu đối với mặt hàng nông sản: ......................................................................................................20 3. Tác động của rào cản kĩ thuật của thị trƣờng EU đối với việc xuất khẩu nông sản của các nƣớc đang phát triển vào thị trƣờng này: ...............................................20 3.1. Một số nguyên tắc tác động cơ bản của hệ thống rào cản kỹ thuật: ........................20 3.2. Tác động tới giá hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường EU: ...............................21 3.3. Tác động tới nhóm hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường EU: .........................22 3.4. Tác động tới cơ cấu mặt hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường EU: ..................22 4. Kinh nghiệm đối phó hàng rào kỹ thuật tại EU đối với mặt hàng nông sản của một số nƣớc đang phát triển:........................................................................................... 23 4.1. Trung Quốc:.................................................................................................................23 4.2. Thái Lan: ......................................................................................................................25 4.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam. ................................................................31

VII

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA RÀO CẢN KĨ THUẬT TẠI THỊ TRƢỜNG EU TỚI VIỆC XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM ........................................................................................................................33 1. Tình hình xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trƣờng EU của các doanh nghiệp Việt Nam: ..............................................................................................................33 1.1. Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản:............................................................................33 1.2. Các sản phẩm phái sinh: .............................................................................................36 1.3. Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp: ..........................................37 2. Các chính sách vƣợt rào cản kĩ thuật, thúc đẩy xuất khẩu sang thị trƣờng EU của các doanh nghiệp nông sản Việt Nam: ..................................................................39 2.1. Các chính sách từ Chính phủ: .....................................................................................39 2.1.1. Các chính sách tài chính – tín dụng hỗ trợ, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông sản: .............................................................................................................................39 2.1.2. Giải pháp về công tác tiếp thị, thâm nhập thị trường. ...........................................40 2.1.3. Hoàn thiện hệ thống pháp lý ...................................................................................42 2.1.4. Tăng cường công tác quản lý chất lượng:..............................................................43 2.1.5. Đầu tư các công tác nghiên cứu các giống cây trồng hiệu quả. ...........................44 2.1.6. Đào tạo phát triển nguồn lực: .................................................................................45 2.2. Các chính sách từ Doanh nghiệp: ...............................................................................45 2.2.1. Đầu tư xây dựng thương hiệu: ................................................................................45 2.2.2. Đầu tư trang thiết bị chế biến và kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn EU và quốc tế ................................................................................................................................. .47 2.2.3. Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu: ................47 2.2.4. Xây dựng hệ thống nhân sự:....................................................................................48 CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI RÀO CảN KỸ THUẬT DÀNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM TẠI THỊ TRƢỜNG EU. .................................................................50 1. Quan điểm và định hƣớng thiết lập: .........................................................................50 1.1. Quan điểm:...................................................................................................................50 1.2. Mục tiêu: ......................................................................................................................50

VIII

1.3. Định hướng: .................................................................................................................50 2. Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cƣờng khả năng ứng phó với rào cản kỹ thuật dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam: .....................52 2.1. Đối với chính phủ:.......................................................................................................52 2.1.1. Tăng cường hơn nữa đàm phán song phương, đa phương với Liên minh Châu Âu (EU):.................................................................................................................................... 52 2.1.2. Hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhãn mác sinh thái để đối phó và vượt qua các rào cản môt trường: ................................................................................53 2.1.3. Nâng cao hiệu quả của hệ thống đại diện thương mại. đẩy mạnh hoạt động của các tham tán tại Liên minh Châu Âu (EU): ......................................................................54 2.1.4. Nhanh chóng tham gia các Hiệp hội đối với từng mặt hàng nông sản cụ thể: ....55 2.1.5. Hoàn thiện chính sách thuế đối với các máy móc và nguyên liệu nguồn để sản xuất và chế biến nông sản:.................................................................................................56 2.1.6. Nâng cao nhận thức và phổ biến thông tin đến các doanh nghiệp về các rào cản kỹ thuật: ................................................................................................................................ 57 2.1.7. Đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng, kết hợp nâng cao năng lực pháp lý trong Thương mại quốc tế của Việt Nam:...................................................................................59 2.1.8. Đa dạng hóa các hính thức đầu tư, thu hút nguồn vốn cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản xuất khẩu và sử dụng vốn có hiệu quả: ...............................................60 2.2. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam: .......................................60 2.2.1. Nhóm giải pháp về tổ chức xuất khẩu nông sản: ...................................................61 2.2.2. Nhóm giải pháp về tăng cường năng lực của doanh nghiệp: ...............................62 2.2.3. Nhóm giải pháp về tăng cường sự phối hợp với Nhà nước: .................................66 KẾT LUẬN .......................................................................................................................67 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................................69

1

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Năm 2011, hoạt động thương mại nông sản của EU chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại nông sản thế giới. Do đó, EU là một trong những đối tác quan trọng trong thương mại nông sản giữa các nền kinh tế trên thế giới, đồng thời là thị trường mơ ước của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, trong đó không loại trừ các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, EU cũng được biết đến như một khu vực áp dụng các rào cản kỹ thuật nhiều nhất so với các quốc gia và khu vực trên thế giới. Đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ cuối năm 2007 và cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu vừa qua, EU là khu vực điển hình có xu hướng tăng cường áp dụng các rào cản thương mại nhằm bảo hộ thị trường và sản xuất trong nước dưới nhiều hình thức khác nhau và đảm bảo công ăn việc làm cho một số lượng người lao động1. Thực tế cũng cho thấy, bên cạnh những rào cản kỹ thuật được đặt ra từ trước, bắt đầu từ ngày 01/01/2010, các nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam gặp phải nhiều thách thức hơn với hàng loạt những quy định mới mà một số đạo luật tại các thị trường XK chính của Việt Nam, đặc biệt là EU đã ban hành như: Những tiêu chuẩn REACH (quy định sản xuất không sử dụng hóa chất độc hại của EU), Hiệp định FLEGT của EU về thẩm quyền cấp phép sau khi kiểm tra tính hợp pháp của lô hàng thông qua các bằng chứng gốc, chứng chỉ chất lượng EUREP GAP đối với mặt hàng rau quả tươi … Trong khi đó, nông nghiệp lại là một trong những ngành thế mạnh của Việt Nam, đồng thời cung cấp việc làm cho gần 50% người lao động trên cả nước. Tính đến tháng 11 năm 2011, cả nước đã thu về khoảng 2 tỷ USD từ xuất khẩu nông lâm thủy sản, trong đó các mặt hàng nông sản chính đạt 895 triệu USD, tức gần 45%. Trong kim ngạch xuất khẩu năm 2011, tổng sản lượng nông nghiệp đã đem về

1 Rào cản kỹ thuật của EU với xuất khẩu của Việt nam - http://en.infotv.vn/xuat-nhap-khau/thi-truongxnk/50387-rao-can-ky-thuat-cua-eu-voi-xuat-khau-cua-viet-nam

2

doanh thu 13,7 tỷ USD2 , chiếm 14,27% tổng sản lượng xuất khẩu (96 tỷ USD3). Trong khi đó, EU luôn là bạn hàng quan trọng đối với mặt hàng nông sản Việt Nam, chỉ đứng thứ hai sau Hoa Kỳ (Năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt 16,5 tỷ USD, chiếm 17,188% tổng kim ngạch xuất khẩu). Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Thủ tướng Chính Phủ cũng đã nhấn mạnh “ phải hết sức coi trọng vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của nông nghiệp trong việc ổn định xã hội, bảo đảm an ninh lương thực và cải thiện đời sống nông dân.” Trên thực tế, chất lượng hàng nông sản Việt Nam đã và đang ngày càng được nâng cao, chỗ đứng của mặt hàng này trên thị trường trong và ngoài nước cũng dần có vị thế hơn. Song do tính chất nghiêm ngặt, phức tạp và gia tăng của các rào cản kỹ thuật tại thị trường EU, việc đối phó và vượt qua các rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng nông sản đang là vấn đề không mới mẻ nhưng vẫn hết sức khó khăn đối với các doanh nghiệp trong ngành của Việt Nam. Trước những thực tế đó, mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu nông sản tại thị trường Liên minh châu Âu đòi hỏi phải có sự nhìn nhận toàn diện về những rào cản kĩ thuật tại thị trường này mà mặt hàng nông sản Việt Nam có thể gặp phải trong quá trình xuất khẩu. Chỉ trên cơ sở nắm rõ các tiêu chuẩn, qui định kỹ thuật mà thị trường EU dành cho nông sản Việt Nam, ta mới có cơ sở rõ ràng trong đàm phán, yêu cầu đối tác mở cửa thị trường, đồng thời xây dựng được hệ thống các giải pháp thích hợp để vượt được rào cản, nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Tổng hợp các nội dung trên, nhóm đề tài quyết định chọn: “Vượt qua các rào cản kĩ thuật để thúc đẩy xuất khẩu nông sản sang Liên minh châu Âu” làm nội dung đề tài nghiên cứu.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Do xác định nông nghiệp là ngành dù đã có bề dày phát triển nhưng đầu ra của mặt hàng nông sản vẫn chưa được ổn định, việc sản xuất trong nước còn manh
2

Xuất khẩu nông sản cả năm 25 tỉ đô la , HN, 30/12/2011 , http://www.thesaigontimes.vn/Home/nongsan/tintucthitruong/68814/ 3 Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 96 tỷ đô la , Cục thông tin đối ngoại , 04/01/2012 , http://www.vietnam.vn/c1002n20120104163751671/nam-2011-kim-ngach-xuat-khau-cua-viet-nam-dathon-96-ty-usd.htm

3

mún, phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên trong khi đó việc xuất khẩu mặt hàng này ngày càng gặp nhiều rào cản. Do vậy, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học nhằm đưa ra một số giải pháp cải thiện vấn đề này và tìm ra hướng đi đúng cho xuất khẩu nông sản Việt Nam ra thị trường quốc tế. Cụ thể kể đến một số nghiên cứu như sau: Nghiên cứu khoa học của các Bộ, Ngành, các nhà Khoa học đã nghiên cứu những vấn đề lớn về Rào cản phi thuế quan như của PGS.TS Đinh Văn Thành (2005) trong cuốn “Nghiên cứu các rào cản trong TMQT và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam.” hay TS. Đào Thị Thu Giang (ĐH KTQD) với luận án: “Các biện pháp vượt rào cản phi thuế quan trong Thương Mại Quốc Tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.”. Ngoài ra, còn các nghiên cứu đi sâu vào các rào cản phi thuế quan đối với mặt hàng nông sản như “Các biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản trong TMQT” cũng của PGS.TS Đinh Văn Thành (2005) và “Nông Lâm sản Việt Nam – Tiếp cận thị trường EU và Hoa Kỳ: Thực trạng – Cơ hội – Thách thức” của TS. Cao Vĩnh Hải, Hội Thảo GAP 22/7/2008. Cuối cùng, trong việc tìm ra giải pháp vượt rào cản, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, cũng có nhiều nhà khoa học đưa ra nghiên cứu của mình, trong đó, phải kể đến: công trình nghiên cứu cấp bộ “Giải pháp đẩy mạnh Xuất Khẩu Hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Châu Âu” của PGS.TS Vũ Chí Lộc, Trưởng Khoa Sau Đại học, Đại học Ngoại Thương, NXB Lý luận Chính trị, 2004. Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, nhóm đề tài nhận thấy các nghiên cứu trên mới đi nghiên cứu chung về các rào cản phi thuế quan, chưa đi vào một loại rào cản cụ thể, hoặc chưa tập trung vào rào cản đối với mặt hàng nông sản tại một thị trường cụ thể như thị trường Liên minh châu Âu, cũng như đưa ra những giải pháp thực tế và cấp thiết để thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường EU. Vì lí do đó, trong đề tài này, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung phân tích những rào cản kỹ thuật mà các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam vào thị trường EU có thể gặp phải để từ đó giúp các doanh nghiệp có thể nhìn tổng quan đến chi tiết các rào cản kỹ thuật có thể gặp phải và có giải pháp vượt rào và xuất khẩu thuận lợi.

4

3. Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài sẽ làm rõ các luận cứ về rào cản kĩ thuật trên nhiều phương diện, và đặc biệt về rào cản kĩ thuật tại thị trường Liên minh châu Âu từ năm 2005 đến nay. Trên cơ sở phân tích các rào cản kĩ thuật thị trường EU đối với mặt hàng nông sản Việt Nam, nhóm đề tài sẽ đi sâu vào phân tích thực trạng và hiệu quả của việc đối phó những rào cản kĩ thuật đó của doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó, các giải pháp phối hợp đồng bộ giữa Chính phủ và Doanh nghiệp Việt Nam sẽ được nhóm nghiên cứu xem xét kĩ lưỡng, và đưa ra nhằm tăng cường năng lực vượt rào của các Doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam, nâng cao hiệu quả Xuất khẩu. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: Do đối tượng nghiên cứu là các rào cản kĩ thuật của thị trường liên minh châu Âu, đề tài sẽ dựa trên hệ thống lý luận về rào cản kỹ thuật của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các lý luận và quy định trong khuôn khổ của WTO và EU. Đề tài cũng tổng hợp và sử dụng các dữ liệu thông tin thứ cấp trên cơ sở số liệu thống kê của Việt Nam cũng như của Tổ chức Thống kê Thương mại hàng hóa thế giới UN COMTRADE về tình hình thị trường, lượng hàng hóa xuất khẩu; cũng như dữ liệu thứ cấp của các nghiên cứu cùng chủ đề trước đó; từ đó đưa ra các so sánh, nhận xét định tính và suy luận nhằm phân tích tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam vào thị trường EU trong bối cảnh các rào cản kỹ thuật tăng nhanh. Và để có biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trường EU đúng đắn và phù hợp, nếu việc phân tích các rào cản kỹ thuật là việc nghiên cứu bị động, phụ thuộc vào sự thay đổi chính sách của thị trường nhập khẩu thì việc chủ động nhìn nhận những điểm mạnh và những điểm hạn chế trong các chính sách từ phía Chính phủ và Doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam đối phó với các rào cản kỹ thuật để tiếp cân và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang thị trường EU sẽ được nhóm đề tài đi sâu nghiên cứu. 5. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

5

Đối tƣợng nghiên cứu: chủ yếu là các rào cản kĩ thuật của thị trường liên minh châu Âu có tính chất bảo hộ cho nông nghiệp mà chủ yếu tập trung vào những hình thức rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ những giải pháp hiện tại và khả thi trong tương lai nhằm chinh phục các rào cản đó. Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống các rào cản kỹ thuật rất đa dạng và biến đổi trong suốt thời gian qua, vì vậy, nhóm đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các rào cản kĩ thuật đối với mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam tại thị trường EU từ năm 2005 đến nay.

6. Kết quả nghiên cứu dự kiến: Dựa trên tìm hiểu thực tế về thực trạng vượt rào cản kỹ thuật tại thị trường EU để xuất khẩu nông sản Việt Nam, nhóm đề tài mong muốn sẽ đạt được một số kết quả nghiên cứu sau: - Đề tài đưa ra một cái nhìn từ tổng quan đến chi tiết về các rào cản kĩ thuật mà các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam có thể gặp phải khi thực hiện xuất khẩu vào thị trường EU; đồng thời làm rõ những đặc điểm nổi bật, cập nhật những thay đổi trong rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng nông sản tại thị trường EU. - Qua những khó khăn còn tồn tại, trả lời được câu hỏi: thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam vào EU như thế nào trong hoàn cảnh rào cản kỹ thuật gia tăng và hiện nay, Chính phủ và các doanh nghiệp đã làm được gì để khắc phục những khó khăn đó, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu nông sản vượt rào, tiếp cận thị trường EU. - Từ đó, qua những nghiên cứu, nhóm đề tài muốn tập trung đưa ra và xây dựng một hệ thống các giải pháp giúp các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam tăng cường khả năng ứng phó với các rào cản kĩ thuật.

6

7. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, Đề tài được kết cấu theo ba (03) chương như sau: Chương 1: Tổng quan chung về rào cản kỹ thuật tại thị trường Liên minh Châu Âu (European Union – EU) đối với mặt hàng nông sản. Chương 2: Thực trạng về sự ảnh hưởng của rào cản kỹ thuật tại thị trường EU tới việc xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tăng cường khả năng ứng phó với rào cản kỹ thuật dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam tại thị trường EU.

7

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ RÀO CẢN KĨ THUẬT TẠI THỊ TRƢỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EUROPEAN UNION – EU) ĐỐI VỚI MẶT HÀNG NÔNG SẢN 1. Các khái niệm cơ bản về rào cản kỹ thuật : 1.1. Giới thiệu về rào cản kĩ thuật tại thị trƣờng EU: Hiện nay, trong các loại rào cản thuộc hàng rào phi thuế quan, rào cản kỹ thuật được các quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển, sử dụng nhiều nhất. Có rất nhiều cách nhìn nhận và định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “rào cản kỹ thuật”, trong đó phải kể đến một số quan điểm sau: 1.1.1. Các quan điểm về rào cản kĩ thuật tại thị trƣờng EU: 1.1.1.1. Các quan điểm về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế: Nằm trong hệ thống hàng rào phi thuế quan, rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế (TBT) là một trong những biện pháp ngày càng được các nước phát triển áp dụng rộng rãi với nhiều mức độ khác nhau. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rào cản kỹ thuật thương mại: 1.1.1.1.1. Quan điểm của WTO: Theo WTO thì các rào cản kỹ thuật thương mại bao gồm các quy định kỹ thuật ( Technical regualations), các tiêu chuẩn kỹ thuật (Technical Standards). Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại (Agreement Technical Barriers to Trade) của WTO đã đưa ra hai định nghĩa phân biệt rõ ràng như sau: Các quy định kỹ thuật ( Technical regualation) thường được ghi trong các văn bản quy định đặc tính của sản phẩm hoặc các quá trình có liên quan đến sản phẩm và phương pháp sản xuất, trong đó bao gồm các điều khoản mang tính chất hành chính, mà việc tuân thủ theo là bắt buộc. Văn bản này cũng có thể bao gồm hoặc gắn liền với thuật ngữ, biểu tượng, cách thức bao gói, dán nhãn hoặc ghi nhãn áp dụng cho một sản phẩm, quy trình hoặc phương pháp sản xuất nhất định, Các tiêu chuẩn ( Standards) thường được quy định trong các văn bản do một cơ quan công nhận, ban hành để sử dụng rộng rãi và lâu dài, trong đó quy định các quy tắc, hướng dẫn hoặc các đặc tính đối với sản phẩm hoặc các quy trình sản xuất

8

và phương pháp sản xuất có liên quan. Trong đó việc tuân thủ các tiêu chuẩn này là tự nguyện. Văn bản tiêu chuẩn cũng có thể bao gồm hoặc gắn liền với thuật ngữ, biểu tượng, cách thức bao gói, dán mác hoặc ghi nhãn áp dụng cho một sản phẩm, quy trình hoặc phương pháp sản xuất nhất định. 1.1.1.1.2. Quan điểm của OECD: Năm 1997, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD cũng đưa ra định nghĩa về rào cản kỹ thuật thương mại như sau: “Rào cản kỹ thuật là những quy định mang tính chất xã hội”. Trong đó, các quy định mang tính chất xã hội được hiểu là “các quy định do một nhà nước đưa ra nhằm đạt được các mục tiêu về sức khỏe, an toàn, chất lượng và đảm bảo môi trường; căn cứ vào rào cản kỹ thuật thương mại, người ta có thể nhận thấy các mục tiêu này thông qua việc một nước ngăn cản hàng hóa không đảm bảo chất lượng nhập khẩu vào nước mình”. 1.1.1.2. Quan điểm về rào cản kỹ thuật tại thị trường EU: Trong tác phẩm “Tổng quan về các rào cản kỹ thuật khi xuất khẩu nông sản sang EU” vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Thomas Robert và DeRemer đã định nghĩa rào cản kỹ thuật trong thương mại là “các quy tắc và tiêu chuẩn khác nhau trên bình diện quốc tế nhằm chi phối doanh số và sản phẩm trên thị trường một quốc gia với mục tiêu bề ngoài là điều chỉnh sự không hiệu quả của thị trường do những nguyên nhân bắt nguồn từ các nhân tố nước ngoài liên quan đến quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm này”. 1.1.1.3. Quan điểm của nhóm nghiên cứu: Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về rào cản kỹ thuật thương mại, song nhìn chung có thể hiểu “Hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế là một hình thức bảo hộ mậu dịch, qua việc nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu hết sức khắt khe: Tiêu chuẩn về quy cách, mẫu mã, về chất lượng, về vệ sinh, về an toàn, về mức độ gây ô nhiễm môi trường,… Nếu hàng nhập khẩu không đạt được một trong những tiêu chuẩn kể trên thì không được nhập khẩu vào lãnh thổ một nước nào đó”.

9

Tuy nhiên, vẫn có sự nhầm lẫn giữa rào cản pháp lý và rào cản kỹ thuật qua tìm hiểu, nhóm đề tài xin đưa ra sự phân biệt như sau để làm rõ những đặc điểm cơ bản của rào cản kỹ thuật: Bảng 1.1. Phân biệt rào cản pháp lý và rào cản kỹ thuật Tiêu Thức Hình thức thể hiện Đối tượng áp dụng Rào cản pháp lý Các quy định hành chính nhập khẩu Cơ chế tác động Rào cản kỹ thuật Các tiêu chuẩn kỹ thuật cả hàng sản xuất trong

Chỉ áp dụng đối với hàng Có thể được áp dụng cho nước và hàng nhập khẩu. Tác động trực tiếp, tức Tác động chủ yếu về trung thời đến lượng hàng nhập hạn và dài hạn. khẩu.

Thời hạn áp dụng

Có thời hạn nhất định.

Có thể vô hạn.

Nguồn: TS. Đào Thị Thu Giang, Các biện pháp vượt rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, trang 10. 1.1.2. Mục đích chung của việc thiết lập rào cản kĩ thuật tại thị trƣờng EU: 1.1.2.1. Bảo hộ sản xuất trong nước: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với các cam kết cắt giảm các rào cản thuế quan, việc sử dụng TBT được coi như một công cụ bảo hộ sản xuất trong nước hiện hữu Về phía các quốc gia phát triển, với lộ trình cắt giảm thế quan phải hoàn thành sớm hơn các nước đang phát triển thì việc sử dụng các TBT để bảo vệ sản xuất trong nước là một biện pháp lợi thế. Nhờ vào trình độ KHCN phát triển cao, các quốc gia này đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật khá cao mà khó có nước đang phát triển nào đáp ứng được. Mức độ của các hàng rào kỹ thuật nỳ cũng có chiều hướng nâng cao dần lên. Đặt biệt là đối với nông sản , để bảo hộ nền nông nghiệp vốn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế trước hàng loạt các sản phẩm giá rẻ, đa dạng, phong phú từ các nước đang phát triển, các nước công nghiệp phát triển như

10

Mỹ, EU, Nhật, Canada,… đặt ra nhiểu hàng rào kỹ thuật rất khắt khe để hạn chế các sản phẩm này. Về phía các quốc gia đang phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức trên thị trường nội địa. Nếu không có sự chuẩn bị tốt thì dễ bị thua trên sân nhà do vậy các quốc gia này cũng đang đẩy mạnh sự dụng các biện pháp kỹ thuật để bảo hộ cho nền sản xuất trong nước. 1.1.2.2. Bảo vệ người tiêu dùng: Vấn đề an toàn sức khỏe người, nhất là đối với mặt hàng thực phẩm phải đặt lên hàng đầu khi nhập khẩu một loại hàng hóa nào đó vào thị trường của một quốc gia. Nhờ có các tiêu chuẩn kỹ thuật mà các quốc gia có thể kiểm soát được chất lượng sản phẩm, mức độ các yếu tố sử dụng, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm… chẳng hạn như tiêu chuẩn HACCP đối với hàng thủy sản, tiêu chuẩn kiểm dịch động thực vật SPS đối với các sản phẩm đa dạng từ sinh học. Trước khi được nhập khẩu vào một quốc gia, các sản phẩm sẽ được kiểm tra nghiêm ngặt, nếu không đáp ứng được các yêu cầu về an toàn đối với người tiêu dùng thì sẽ bị cấm nhập khẩu. Ngoài ra các sản phẩm còn phải có được các giấy chứng nhận chất lượng, an toàn vệ sinh theo yêu cầu của quốc gia nhập khẩu. 1.1.2.3. Bảo vệ môi trường: Các hàng rào kỹ thuật góp phần bảo vệ môi trường thông qua một số yêu cầu nhất định đối với sản phẩm, điển hình như bộ tiêu chuẩn về môi trường ISO 140000. Nhiều nước chẳng hạn như EU, Mỹ quy định sản phẩm gỗ phải có chứng nhận xuất xứ không phải là sản phẩm do chặt phá rừng trái phép hay yêu cầu về nhãn sinh thái cũng là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường, thông qua các quy định về quá trình sau khi tiêu dùng sản phẩm. Có thể thấy các rào cản kỹ thuật góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường và đồng thời nâng cao ý thức của các nhà sản xuất cũng như của người tiêu dùng đối với việc bảo vệ môi trường. 1.1.2.4. Bảo vệ người lao động: Một số rào cản kỹ thuật như chương trình WRAP hay phổ biến hơn là tiêu chuẩn SA 8000 về sử dụng lao động, trong đó quy định không được sử dụng lao

11

động trẻ em, lao động cưỡng bức, đối xử bất công bằng với nhân viên…trong quá trình sản xuất. Nếu sản phẩm nào vi phậm SA 8000 thì sẽ không được chấp nhận ở một số quốc gia. Điều này đã khiến cho nạn lạm dụng lao động trẻ em được giảm bớt, quyền lợi của người lao động được đảm bảo, các doanh nghiệp chú trọng hơn tới đời sống của công nhân viên… 1.1.2.5. Đảm bảo an ninh quốc gia: Chủ nghĩa khủng bố đang là vấn đề nan giải toàn cầu, đặc biệt là với các quốc gia như EU, Mỹ, các hành động khủng bố ngày càng tinh vi dưới dạng vũ khí sinh học… thì việc đẩy mạnh áp dụng các hàng rào kỹ thuật để đảm bảo an ninh quốc gia là điều hết sức cần thiết. Điển hình có thể thấy là Đạo luật Sẵn sang đối phó với khủng bố sinh học và an ninh y tế cộng đồng năm 2002 của Mỹ (Đạo luật chống Khủng bố sinh học). Đạo luật này đã đưa ra cả điều luật về an ninh và an toàn thực phẩm. Đạo luật này quy định rõ các yêu cầu về đăng ký cơ sở sản xuất thực phẩm, thiết lập và duy trì việc lưu trữ thực phẩm, gửi thông báo trước về các chuyến hàng nhập khẩu và xử phạt hành chính 1.1.3. Xu hướng rào cản kỹ thuật trong những năm gần đây: Việc người tiêu dùng ngày càng có nhiều các yêu cầu về hàng hóa an toàn và thân thiện với môi trường thể hiện ở việc ngày càng có nhiều các TBT hơn. bên cạnh những rào cản kỹ thuật được đặt ra từ trước, bắt đầu ngày 1/1/2010, các nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam gặp phải nhiều thách thức hơn với hàng loạt những quy định mới mà một số đạo luật tại các thị trường XK chính của Việt Nam, trong đó có EU đã ban hành như: Những tiêu chuẩn REACH (quy định sản xuất không sử dụng hóa chất độc hại của EU), Hiệp định FLEGT của EU về thẩm quyền cấp phép sau khi kiểm tra tính hợp pháp của lô hàng thông qua các bằng chứng gốc, chứng chỉ chất lượng GAP đối với mặt hàng rau quả tươi …Tuy nhiên sự phát triển và thay đổi nào, nếu theo dõi kỹ, ta đều thấy những xu hướng chung, theo đó, các chuyên gia kinh tế hiện nay cho rằng có 10 xu hướng4 rào cản kỹ thuật như sau: 01. Mở rộng từ lĩnh vực sản xuất và thương mại đến thương mại dịch vụ và đầu tư.
4

Ce.cn 05/01/2006

12

02. Xu hướng chuyển đổi từ các biện pháp tự nguyện sang nguyên tắc bắt buộc. 03. Mở rộng từ các sản phẩm cụ thể đến toàn bộ quá trình sản xuất và hoạt động. 04. Tăng sức ảnh hưởng và hiệu ứng khuếch tán. 05. Phát triển cùng với tiến bộ khoa học – kỹ thuật và mức sống. 06. Kết hợp rào cản kỹ thuật và vấn đề bằng sáng chế. 07. Các nước đang phát triển đẩy mạnh thực hiện TBT. 08. Tăng cường chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế. 09. Rào cản kỹ thuật về an toàn tiêu dùng ngày càng khắt khe. 10. Phối hợp các TBT, chống bán phá giá, biện pháp tự vệ và thuế quan. 1.2. Giới thiệu về các mặt hàng nông sản chủ yếu: Tìm hiểu về các rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng nông sản tại thị trường EU mới chỉ là hoạt động phụ thuộc (bị động) vào những qui định và tiêu chuẩn kỹ thuật của quốc gia và khu vực nhập khẩu, cũng như yêu cầu của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, ta cũng cần chủ động tìm hiểu và nắm rõ về những mặt hàng nằm trong danh mục mặt hàng nông sản, để biết những mặt hàng nông sản chịu rào cản kỹ thuật tại thị trường này là gì và đặc điểm xuất khẩu của chúng ra sao, từ đó, có thể đề ra những chính sách và giải pháp vượt rào phù hợp. 1.2.1. Khái niệm: 1.2.1.1. Quan điểm của WTO: Trong WTO, hàng hóa được chia làm hai (02) nhóm chính: nông sản và phi nông sản. Nông sản được xác định trong Hiệp đinh Nông nghiệp [ phụ lục] là tất cả các sản phẩm liệt kê từ Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hòa hóa mã số thuế). Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:  Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mì, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…;

13

 Các sản phẩm phái sinh như bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt,…;  Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô… Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống thuế mã HS [phụ lục] được xem là sản phẩm phi nông nghiệp (còn được gọi là sản phẩm công nghiệp). Trong thực tiễn thương mại thế giới, nông sản thường được chia thành 2 nhóm, gồm (i) nhóm nông sản nhiệt đới và (ii) nhóm còn lại. Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất thế nào là nông sản nhiệt đới nhưng những loại đồ uống (như chè, cà phê, ca cao), bông và nhóm có sợi khác (như đay, lanh), những loại quả(như chuối, xoài, ổi, và một số nông sản khác) được xếp vào nhóm nông sản nhiệt đới. Trên thực tế, nhóm nông sản nhiệt đới được sản xuất chủ yếu bởi các nước đang phát triển. 1.2.1.2. Quan điểm EU: Tuy EU không đưa ra một định nghĩa cụ thể về nông sản nhưng lại đưa ra danh sách chi tiết các mặt hàng được coi là nông sản. Các nhóm nông sản chủ yếu theo quan điểm của EU là: - Động vật sống - Thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ - Sản phẩm từ sữa - Các sản phẩm có nguồn gốc động vật - Cây sống và các loại cây trồng khác - Rau, rế và củ, thân củ có thể ăn được - Quả và quả hạch có thể ăn được - Cà phê, chè, phụ gia và các loại gia vị - Ngũ cốc - Các sản phẩm xay xát - Hạt và quả có dầu - Nhựa cánh kiến đỏ, gôm, nhựa cây, các chất nhựa - Các loại rau khác - Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật

14

- Các chế phẩm từ thịt Đường và các loại kẹo đường Cacao và các chế phẩm từ cacao Chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột Các chế phẩm từ rau, hoa quả, quả hạch và thực vật Các phụ gia có thể ăn được hỗn tạp Đồ uống, rượu mạnh và giấm Phần còn lại và phần bỏ đi từ ngành công nghiệp thực phẩm Thuốc lá và các sản phẩm tương tự Các sản phẩm khác không cho trong các chương từ 1 đến 24 trong Hiệp

định Nông nghiệp của WTO. Chi tiết các nhóm hàng được liệt kê trong phụ lục 1. 1.2.1.3. Quan điểm của Việt Nam: Theo sự phân chia có tính chất tương đối của Việt Nam, nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp. Các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản lại được gộp vào lĩnh vực công nghiệp. Do đó nông sản theo quan điểm của Việt Nam còn bao gồm một số sản phẩm không là nông sản (xét theo quan điểm của WTO) như các sản phẩm thuộc lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp. 1.2.1.4. Quan điểm của nhóm đề tài: Do đang tập trung nghiên cứu việc vượt rào cản kỹ thuật để xuất khẩu nông sản sang thị trường EU, nên trong các phần tiếp theo, nhóm đề tài sử dụng thuật ngữ “mặt hàng nông sản” theo quan điểm của EU. 1.2.2. Đặc điểm xuất khẩu của mặt hàng nông sản: Mặt hàng nông sản với những đặc điểm riêng của mình từ giai đoạn sản xuất tới trong quá trình xuất khẩu đã gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Thứ nhất, mặt hàng này đòi hỏi diện tích sản xuất trên quy mô rộng lớn, gắn liền với các điều kiện về địa lý của nơi sản xuất và xuất phát từ những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên và truyền thống sản xuất của đất nước.

15

Thứ hai, mặt hàng nông sản có đặc tính hữu cơ, hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ bị biến đổi phẩm chất theo thời gian, chịu ảnh hưởng của sâu bọ, dập nát hoặc giảm giá trị trong quá trình vận chuyển. Chính vì vậy, đây là một trong số những nhóm hàng khó bảo quản. Điều này, cho thấy một thực tế rằng, đây là mặt hàng không thể tích trữ trong một thời gian và cần phải được tiêu thụ nhanh chóng. Thứ ba, khối lượng và thành phần hàng nông sản phụ thuộc vào mùa vụ. Nông sản nào cũng có thời điểm cho phẩm chất tối ưu, nếu chúng được sản xuất trong thời gian đó thì năng suất, sản lượng và phẩm chất đạt được là tối ưu. Vì vậy, những nông sản trái mùa vụ thường cho năng suất không được như mong đợi. Thứ tư, nông nghiệp là ngành sản xuất chịu nhiều tác động của yếu tố ngoại cảnh khó kiểm soát nhất. Chất lượng và sản lượng hàng nông sản phụ thuộc cao vào điều kiện tự nhiên (thời tiết, sâu hại và dịch bệnh). Chính những đặc điểm này, khiến việc tiêu thụ mặt hàng nông sản cần phải diễn ra trong một khoảng thời gian hạn định để đảm bảo chất lượng nông sản, thỏa mãn yêu cầu của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, việc các rào cản kỹ thuật đặt ra nghiêm ngặt, các khâu kiểm dịch, kiểm tra chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe tại thị trường EU đã gây ra không ít khó khăn cho quá trình tiêu thụ, hay xuất khẩu vào thị trường này. Tóm lại, nắm rõ được những quan điểm chính về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế, đặc biệt là tại Liên minh Châu Âu, và hiểu rõ những mặt hàng nông sản chịu những rào cản đó, ta bước đầu nắm rõ những luận cứ cần thiết cho việc phân tích chi tiết rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng nông sản tại thị trường EU sau đây. 2. Những rào cản kĩ thuật đối với mặt hàng nông sản tại thị trƣờng EU: Trong giai đoạn hiện nay, khi xu thế tự do hóa thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ, EU là thành viên chủ chốt của WTO phải tuân thủ chặt chẽ các qui định của tổ chức này về việc giảm bớt các rào cản thuế quan. Vì vậy, các rào cản kỹ thuật trở thành biện pháp hữu hiệu để EU bảo hộ nền nông nghiệp trong nội khối. Lấy lý do về an toàn, sức khỏe, môi trườg, chất lượng và các vấn đề xã hội, các qui

16

định và yêu cầu của EU ngày càng nhiều và phức tạp, đặc biệt với hàng nông sản là đối tượng bảo hộ chặt chẽ của EU. 2.1. Những rào cản kỹ thuật chung đối với mặt hàng nông sản tại thị trƣờng EU: Tất cả các nước thành viên của EU đều áp dụng một chính sách thương mại chung với các nước ngoài khối. EU sử dụng một loạt các biện pháp có tính chất rào cản thương mại nhằm hạn chế sản phẩm nông nghiệp từ ngoài khối nhập khẩu vào thị trường EU, và những rào cản kỹ thuật này cơ bản vẫn dựa trên Hiệp định TBT của WTO: Đối với hàng nông sản, khi nhập khẩu vào thị trường EU phải đáp ứng được hệ thống rào cản kỹ thuật được đặt ra tại thị trường EU. Những rào cản kỹ thuật chính là qui chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU, qua tìm hiểu, nhóm đề tài nhận thấy các nội dung TBT chủ yếu được cụ thể hoá ở 4 qui định và tiêu chuẩn sau của sản phẩm: - Tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng: hệ thống quản lý ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường EU. Có thể coi ISO 9000 như một “ngôn ngữ” xác định chữ tín của doanh nghiệp và khách hàng, giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp, là sự khẳng định cam kết cung ứng sản phẩm có chất lượng tin cậy cũng như “phương tiện thâm nhập” vào thị trường EU mà các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý và tuân thủ. Các doanh nghiệp cũng cần tìm hiều về các quy định của Ủy ban EC số 1221/2008 ngày 05/12/2008, sửa đổi Quy định EC số 1580/2007 nhằm thực hiện các Quy định của Hội đồng EC số 2200/96, EC số 2201/96 và EC số 1182/2007 đối với rau quả, chẳng hạn như các tiêu chuẩn về tiếp thị; quy định này đề cập đến kích cớ, nhãn hiệu của sản phẩm. - Tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh dịch tễ: EU đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến hàng thực phẩm xuât skhaaur sang EU phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh cahwtj chẽ. Đặc biệt việc áp dụng hệ thống HACCP (Hazard Analysis Critical Point) trong các xí nghiệp chế biến hải sản là một yêu cầu không thể thiếu. Ngoài ra, Ủy ban EC còn đưa ra Chỉ thị ngày 23/02/1990 về các vật liệu và vật tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, cập nhật đến thời điểm hiện tại. Quy định này đề ra mức độ

17

nhiễm tối đa cho phép của các thành phần trong vật liệu nhựa vào thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe và an toàn của con người. - Quy định kỹ thuật về nhãn mác, đóng gói và bao bì: các qui định, tiêu chuẩn về nhãn mác, bao bì mà EU yêu cầu các nước xuất khẩu cần phải đạt được, có thể kể đến như là Tiêu chuẩn thị trường chung CAP cho mọi loại sản phẩm tươi (Chất lượng – Bao bì – Nhãn mác). Nếu xét đủ 3 yếu tố đó, thì nông sản của các quốc gia nhập khẩu sẽ được cấp chứng nhận CAP và được vào EU. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần chú ý về Chỉ thị của Nghị viện Hội đồng châu Âu số 94/62/EC ngày 20/12/1994 về đóng gói và rác thải bao gói, qui định các quốc gia thành viên EU phải áp dụng vào việc hạn chế sử dụng kim loại nặng và đảm bảo bao gói được đánh dầu và nhận dạng để tạo thuận lợi cho việc thu gom rác thải bao gói - Quy định kỹ thuật về môi trường: Khi nhắc đến các tiêu chuẩn, qui định kỹ thuật về môi trường, các doanh nghiệp cần chú ý đến các Chỉ thị của Hội đồng Châu Âu ngày 21/12/1978: cấm đưa ra thị trường cũng như cấm sử dụng các sản phẩm nhằm bảo vệ cây trồng có chứa các chất hoạt tính theo danh mục sửa đổi tại thời điểm ban hành Chỉ thị. Chỉ thị này nhằm đảm bảo các sản phẩm bảo vệ cây trồng sử dụng tại EU chỉ chứa các chất hoạt tính được phép. Mặc dù chỉ áp dụng trực tiếp đối với các nhà sản xuất và nhập khẩu các sản phẩm bảo vệ cây trồng, Chỉ thị này vẫn tác động gián tiếp tới các nhà xuất khẩu thực phẩm vì các khách hàng EU có khả năng sẽ đặt ra yêu cầu các cây trồng và sản phẩm thực vật mà họ mua để cung ứng cho thị trường EU phải được bảo vệ bởi những loại sản phẩm bảo vệ cây trồng được phép sử dụng theo Chỉ thị này. Ngoài ra, còn có Chỉ thị 98/8/EC của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu ngày 16/02/1998 về việc đưa ra thị trường các sản phẩm trừ sinh vật có hại, cũng đề ra những giới hạn sử dụng các chất diệt sinh vật có hại (các chất diệt sinh vật không phải sử dụng cho nông nghiệp) để làm sạch các thiết bị sản xuất thực phẩm. Đặc biệt đối với nông sản xuất khẩu sang thị trường EU, các doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu về Giấy chứng nhận toàn cầu về Thực hành nông nghiệp tốt GAP (hay EUREP GAP), bởi gần đây, việc cần có giấy chứng nhận này cho các sản phẩm nông nghiệp đang được áp dụng rộng rãi, và dần coi

18

như mặc định phải có khi các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tiếp cận thị trường EU. Hộp 1.1: EUREPGAP là tổ chức tư nhân, độc lập được thành lập từ năm 1997 theo sáng kiến của Nhóm công tác các nhà bán lẻ châu Âu Euro-Retailer Produce Working Group (EUREP). Thành viên của EUREPGAP gồm là các nhà sản xuất và bán lẻ nông sản. EUREPGAP đề ra các tiêu chuẩn tự nguyện, được thị trường EU thừa nhận để được cấp giấy chứng nhận toàn cầu về Thực hành nông nghiệp tốt (Good Agriculture Practice - GAP). GAP bao gồm những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, hàm lượng nitrat…), đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng. GAP khuyến khích phát triển một nền nông nghiệp hữu cơ hơn là hoá học. Qui trình kiểm tra sản phẩm tuân theo hệ thống rào cản kỹ thuật trên là hết sức gắt gao và đòi hỏi hàng nhập khẩu phài đáp ứng đầy đủ các yêu cầu. Các doanh nghiệp Việt Nam còn đối mặt với các rào cản liên quan đến toàn bộ quá trình sản xuất chủ yếu là các tiêu chuẩn về môi trường và trách nhiệm xã hội. Các rào cản này xuất phát chủ yếu từ việc các công ty đa quốc gia đặt hàng sản xuất tại các nước đang phát triển để tận dụng giá lao động thấp, luật pháp chưa chặt chẽ. Tuy nhiên, tại các nước nhập khẩu,đặc biệt tại thị trường EU chính quyền và người tiêu dùng đòi hỏi các sản phẩm đó phải được làm ra trong một môi trường trong sạch, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh, an toàn lao động và không có bóc lột v.v. Chính vì vậy, các công ty đa quốc gia/ các nhà nhập khẩu thường đưa ra những Bộ qui tắc ứng xử (Code of Conduct, COC) và yêu cầu các nhà cung cấp của mình tại các nước đang phát triển phải tuân thủ. Như vậy, các rào cản ký thuật thuộc loại này được Chính Phủ các nước nhập khẩu đư ẩ một cách gián tiếp thông qua các công ty đa quốc gia áp đặt lên các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu tại các nước đăng phát triển. Mấu chốt của vấn đề là sự chênh lệch trong trình độ phát triển kinh tế xã hội giữa các nước nhập khẩu (các nước phát triển) và các nước xuất khẩu

19

(các nước đang phát triển) khiến cho các tiêu chuẩn này thực sự trở thành bức tường khó vượt qua đối với hàng hóa xuất khẩu của các nước đang phát triển như Việt Nam. Mặc dù bản thân các tiêu chuẩn này mang ý nghĩa tích cực về tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, chúng là quá cao đối với các nước đang phát triển, giống như bắt một người vừa ốm dậy chyaj việt dã để tăng cường sức khỏe. Nội dung của các bộ qui tắc ứng xử này thường khác nhau tùy theo lĩnh vực, qui mô, hoạt động của từng công ty, nhưng chúng đều dựa trên các công ước của Tổ Chức Lao Động quốc tế (ILO) về quan hệ lao động, an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ), lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, thời gian làm việc, trả lương… Có 03 loại COC khác nhau: Loại COC thứ nhất là do các công ty đa quốc gia (bên mua) đưa ra cho các nhà cung cấp (bên bán) của mình. Bên mua sẽ cử người trực tiếp giám sát và yêu cầu bên bán thực hiện. Bên mua sẽ chịu chi phí giám sát, đánh giá còn bên bán chịu chi phí triển khai thực hiện. Đây là trường hợp thỏa thuận tự nguyện giữa những người mua hàng và người bán hàng và không cần phải có chứng chỉ. Hiện nay, đây là hình thức phổ biế nhất mà các doanh nghiệp đa quốc gia thực hiện đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Loại COC thứ hai là loại được cấp chứng chỉ khi áp dụng, như SA8000, WRAP. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phải làm việc với các công ty tư vấn để được cấp chứng chỉ. Các doanh nghiệp phải chịu hoàn toàn chi phí cho việc triển khai thực hiện và câos chứng chỉ. Hiện nay, mặc dù đã có nhận thức đầy đủ, nhưng phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam cũng không đủ năng lực để có được chứng chỉ SA 8000. Loại COC thứ ba bao gồm Sáng kiến về Đạo đức trong Kinh doanh (ETI), các công ước của ILO, bộ qui tắc Global Compact của Liên Hợp Quốc… Các bộ qui tắc này chưa được phổ biến nhiều cho các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh trách nhiệm xã hội, cũng vì các lý do đã phân tích như trên, các nhà nhập khẩu đã đưa ra các tiêu chuẩn “xanh”, “sạch” đối với sản phẩm từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm. Tiêu chuẩn thương mại “xanh” (Green Trade Barrer) trở thành rào cản thương mại “xanh”. Một số ngành xuất khẩu chủ lực của Việt

20

Nam trong đó có nông sản đang phải đối mặt ngày càng nhiều hơn với những rào cản kỹ thuật này. 2.2. Những rào cản kỹ thuật riêng của một số quốc gia trong Liên minh châu Âu đối với mặt hàng nông sản: Sau khi hàng nông sản Việt Nam đã vượt qua được các rào cản kỹ thuật và tiếp cận thị trường lớn EU, hàng hóa đó sẽ được phép lưu thông trong 27 nước thành viên của Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có một số luật định riêng như một biến dạng của rào cản kỹ thuật gây không ít khó khăn trong quá trình vận chuyển tiêu thụ hàng nông sản Việt Nam trước khi nhập khẩu vào thị trường quốc gia đó. Có thể kể đến các Bộ tiêu chuẩn riêng về chất lượng sản phẩm của mỗi quốc gia như NEN ở Hà Lan, DIN ở Đức, BSI của Anh Quốc hay AFNOR của Pháp. Mặc dù Ủy ban Châu Âu được giao quyền điều phối, đàm phán và tổ chức thực hiện các chính sách thương mại, giữa các quốc gia thành viên EU vẫn có sự khác biệt về tiêu chuẩn, kiểm tra và thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với một số sản phẩm. Những khác biệt này đóng vai trò như những rào cản đối với việc vận chuyển tự do các sản phẩm này trong EU và gây nên chậm trễ kéo dài trong việc bán hàng, do yêu cầu kiểm tra và chứng nhận sản phẩm theo các đòi hỏi khác nhau về sức khỏe và an toàn của các quốc gia thành viên. 3. Tác động của rào cản kĩ thuật của thị trƣờng EU đối với việc xuất Một số nguyên tắc tác động cơ bản của hệ thống rào cản kỹ thuật: khẩu nông sản của các nƣớc đang phát triển vào thị trƣờng này: 3.1. Trong quá trình nghiên cứu về tác động của các rào cản kỹ thuật, các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra tính hai mặt của các loại rào cản kỹ thuật. Một mặt, các tiêu chuẩn kỹ thuật này sẽ cho phép đạt tới một sự thống nhất về tiêu chuẩn trong mạng lưới sản xuất sản phẩm, đảm bảo chất lượng và uy tín đối với người tiêu dùng, nhằm tận dụng lợi thế quy mô. Mặt khác, tiêu chuẩn kỹ thuật còn được cho là một phương pháp nhằm tận dụng sự tiến bộ trong sản xuất ở các nước phát triển với các nước đang phát triển để hạn chế các mặt hàng nhập khẩu từ các nước đang phát

21

triển và bảo hộ mặt hàng đó ở nước nội tại tạo ra sự phân biệt đối xử với hàng hóa nhập khẩu, thu hẹp tiêu dùng và làm méo mó thương mại quốc tế. Qua tìm hiểu thực trạng nhập khẩu hàng nông sản của EU từ các nước đang phát triển, có thể thấy, mặc dù là khu vực nhập khẩu nông sản lớn nhất thế giới và cũng là khu vực nhập khẩu lớn nhất từ các nước đang phát triển, chính sách bảo hộ nông nghiệp của EU vẫn tác động rất lớn tới hoạt động nhập khẩu nông sản, đặc biệt từ các nước đang phát triển vào khu vực này. Ở đây, nhóm đề tài xin xem xét ảnh hưởng của chính sách này tới một số nhân tố chính trên thị trường nông sản: Do cơ chế tác động của rào cản kỹ thuật tới hoạt động xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển là rất phức tạp nên các nhà phân tích chỉ tập trung vào tác động của chúng tới chi phí, giá cả và khối lượng. Theo nghiên cứu của GS.TS Đào Thị Thu Giang, đã khái quát hóa mô hình lý thuyết cho việc xác định tác động của TBT tới hoạt động xuất khẩu thành tác động của NTB, trong giới hạn đề tài, nhóm nghiên cứu giả thuyết nhìn nhận mô hình này dưới tác động của TBT. Trong đó, mô hình sẽ xem xét tác động của các TBT tới 03 yếu tố cơ bản: chi phí sản xuất của các doanh nghiệp xuất khẩu, mức giá bán tại thị trường nhập khẩu và kim ngạch nhập khẩu 3.2. Tác động tới giá hàng nông sản nhập khẩu vào thị trƣờng EU: Chính sách NN chung của Liên minh câu tác động rất lớn tới giá hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường này. Các đòi hỏi cao của thị trường EU về các tiêu chuẩn và qui định kỹ thuật góp phần làm tăng giá nông sản xuất khẩu sang thị trường này của các nước đang phát triển. Lý do chính vì các nước đang phát triển phải chi trả khá nhiều cho các chi phí của việc kiểm dịch cũng như trang thiết bị máy móc công nghệ để đáp ứng các đòi hỏi của EU, những khoản chi này được phân chia vào giá thành xuất khẩu khiến giá tăng lên trong khi đó cùng các mặt hàng này xuất khẩu sang các thị trường dễ tính hơn thì không phát sinh những khoản chi này. Cụ thể, năm 2009, Luật Hóa chất Reach đã có hiệu lực, việc sử dụng bất kỳ hóa chất nào đều phải đăng ký và nghiên cứu tác động của hóa chất. Vì vậy khi doanh nghiệp Việt Nam sử dụng bất kỳ một hóa chất nào cho sản phẩm của mình thì đều phải mua hóa chất có nguồn gốc và

22

phải nghiên cứu tác động nên chi phí gia tăng đã kể. Với các nước phát triển chi phí này không phát sinh do đã đầu tư sẵn những công nghệ phù hợp. Giá trị trường nội địa cao không khuyến khích được người tiêu dùng tiêu thụ sản phẩm nên cũng không làm tăng khối lượng nhập khẩu của các quốc gia đang phát triển. Đây là những khó khăn lớn với các nước đang phát triển khó có thể khắc phục ngay trong ngắn hạn. 3.3. Tác động tới nhóm hàng nông sản nhập khẩu vào thị trƣờng EU: Về các hàng nông sản thiết yếu gồm ngũ cốc, thịt các loại, sữa và các sản phẩm từ sữa và đường thì có thể thấy đây là các mặt hàng mà EU không những có khả năng tự sản xuất mà còn sản xuất với chất lượng và sản lượng cao. Chính vì thế hàng rào kỹ thuật đối với những mặt hàng này là rất khắt khe, chặt chẽ khiến cho sản phẩm cùng loại của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam rất khó có thể cạnh tranh với sản phẩm nội khối điều này đồng nghĩa với cơ hội đặt chân vào thị trường EU của những mặt hàng này là rất nhỏ. Do điều kiện khí hậu, EU không có sản phẩm nhiệt đới nhưng nhu cầu của EU về những sản phẩm này ngày một tăng. Hàng nông nghiệp nói chung, đặc biệt là nông sản nhiệt đới khi thâm nhập vào thị trường EU phải tuân thủ hàng loạt các tiêu chuẩn cũng như các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhãn mác, bao bì cũng như các quy định về bảo vệ môi trường và các vấn đề xã hội. Bởi thế, hàng nông sản nhiệt đới của các nước đang phát triển nói chung và của Việt Nam nói riêng vào EU khó khăn hơn các mặt hàng cùng loại của các nước phát triển. Do các nước phát triển có thu nhập bình quân cao nên dẫn đến sự đòi hỏi cao của người tiêu dung về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm, các nước này sẽ dễ dàng hơn trong việc đáp ứng các quy định của EU. Trong khi đó, các nước đang phát triển chưa thích ứng được ngay với các đòi hỏi này vì yêu cầu trong nước còn ở mức thấp. 3.4. EU: Chính sách bảo hộ nông nghiệp của EU ảnh hưởng rất lớn đến cơ câu mặt hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển vào thị trường này. EU khuyến khích nhập khẩu các mặt hàng thô và không khuyến khích các mặt hàng đã qua chế biến. Tác động tới cơ cấu mặt hàng nông sản nhập khẩu vào thị trƣờng

23

Tóm lại, hoạt động xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển sang thị trường EU chịu ảnh hưởng rất lớn của chính sách bảo hộ nông nghiệp của Liên mình. Mặc dù những ràng buộc của Hiệp định nông nghiệp trong vòng Đàm phán Uruguay đã buộc EU phải có những biện pháp giảm dần các rào cản thương mại trong lĩnh vực này nhưng khó khăn với các nước đang phát triển vẫn còn là rất lớn. Điều này đòi hỏi các nước phải có những giải pháp nhằm tiếp cận có hiệu quả hơn thị trường khó tính này. 4. Kinh nghiệm đối phó hàng rào kỹ thuật tại EU đối với mặt hàng nông sản của một số nƣớc. Theo những lý luân ở trên về những rào cản kỹ thuật đặt ra cho mặt hàng nông sản xuất khẩu vào thị trường EU, EU là một thị trường cao cấp và khó tính, dù rào cản thuế quan và các biện pháp hỗ trợ đang giảm dần do sức ép từ nhiều quốc gia, nhưng những rào cản kỹ thuật thì ngày càng nhiều và khắt khe hơn. Tuy nhiên, EU vẫn là một thị trường hết sức hấp dẫn cho hàng nông sản của các nước đang phát triển. Chính vì vậy, các nước này đã sử dụng các biện pháp vượt rào cản cho mặt hàng nông sản của họ và đưa mặt hàng đó tiếp cận có hiệu quả vào thị trường EU, phù hợp với hoàn cảnh quốc gia đó nói chung và đặc điểm hàng nông sản của họ nói riêng. Dù vậy, do hàng nông sản các nước đang phát triển khi thâm nhập vào thị trường EU đều gặp phải sự bảo hộ chặt chẽ cho sản phẩm nội khối cũng như hệ thống rào cản thương mại, do đó vẫn tồn tại những hướng đi chung cho việc tiếp cận thị trường nông sản EU đối với các nước đang phát triển. Chính vì vậy, nhóm đề tài muốn nghiên cứu những kinh nghiệm của các quốc gia đó và kết hợp với thực tế xuất khẩu nông sản của Việt Nam để có thể một định hướng phát triển phù hợp với hoàn cảnh quốc gia nói chung và đặc điểm hàng nông sản Việt Nam nói riêng là mục tiêu nhóm đề tài hi vọng đạt được. Do tính chất hạn chế của đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ đi sâu nghiên cứu những giải pháp và kinh nghiệm sử dụng để xuất khẩu hiệu quả mặt hàng nông sản vào thị trường EU của hai quốc gia có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam là Thái Lan và Trung Quốc. 4.1. Trung Quốc:

24

Trung Quốc là đất nước có đất tự nhiên rộng, người đông, nhưng tỷ trọng đất canh tác trong tổng số diện tích tự nhiên nhỏ (chiếm 10,8%), đất canh tác bình quân đầu người rất thấp (0,11ha/người). Tuy vậy, nông nghiệp của Trung Quốc trong thời gian dài liên tiếp được mùa và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Hiện tại, Trung QUốc là nước có sản lượng nông sản lớn so với châu Á và thế giới. Cụ thể, là nước đứng thứ 2 thế giới về diện tích trồng hạt cốc, về diện tích trồng lúa nước (năm 2006). Năm 2008, Trung Quốc đã xuất khẩu được 5,25 triệu tấn gạo. Các loại cây trồng như đậu đỏ, rau quả, mía, bông và các cây khác của Trung Quốc cũng chiếm tỷ trọng lớn về diện tích gieo trồng và sản lượng. Sở dĩ Trung Quốc đạt được những thành tựu quan trọng trong sản xuất và xuất khẩu nông sản vì đã tập trung đầu tư có hiệu quả và áp dụng một số chính sách phù hợp cho lĩnh vực này. Cụ thể: Trung Quốc đã giải quyết tốt vấn đề ruộng đất, một vấn đề hết sức nhảy cảm đối với nông dân và nông thôn. Từ việc tiến hành cải cách ruộng đất đến xây dựng các mô hình phong phú dựa trên quyền tự chủ sản xuất của nông dân, tạo bước phát triển mới trong nông nghiệp. Đã có sự điều chỉnh về hình thức tổ chức sản xuất: Sau khi hộ nông dân đã trở thành các chủ thể mới của sản xuất nông nghiệp, Trung Quốc đã hình thành các tổ chức dịch vụ phục vụ nông nghiệp (các hợp tác xã tín dụng, mua bán, công ty cổ phần làm dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật cho nông dân) Trung Quốc là nước đi sau trong việc hiện đại hóa nông nghiệp so với các nước ở khu vực Bắc Á, nhưng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bởi vì, Trung Quốc đã nhận thức được tầm quan trọng của hiện đại hóa nông nghiệp và đã có sự đầu tư thích đáng cho quá trình đó. Trung Quốc đã đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi các giống lai, góp phần đưa sản lượng cơ giới hóa nông nghiệp, vì Trung Quốc đã lựa chọn chiến lược phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa với khẩu hiệu “ly nông bất ly hương”, hình thành trên các vùng công nghiệp mới ở các vùng nông thôn, phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ để thu hút lao động nông nghiệp.

25

Trung Quốc đã dùng sức mạnh tổng hợp để phát triển cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp nông thôn, trong đó vừa phát huy nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vừa phát huy nguồn nhân lực ở nông thôn bằng các chiến dịch xây dựng thủy lợi, giao thông. Trung Quốc đã có những chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo hướng xuất khẩu, như: Tập trung sản xuất các sản phẩm có ưu thế như ngũ cốc, cây công nghiệp (chè), chăn nuôi đại gia súc và chăn nuôi lợn, tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp giá thành sản phẩm, đặc biệt đã có những ưu tiên cho những sản phẩm có hàm lượng chât sxams cao như các loại giống lai (lúa lai, ngô lai) Chính Phủ Trung Quốc cũng có những chính sách ưu tiên cho xuất khẩu nông sản như: chính sách hạ thấp thuế xuất khẩu, đa dạng hóa các hình thức xuất khẩu, kể cả hình thức xuất khẩu phi mậu dịch, chính sách hạ giá đồng nhân dân tệ và thống nhất một mức tỷ giá thả nổi dựa theo thị trường có quản lý, đồng thời xóa bỏ những kiểm soát mang tính kế hoạch trong sử dụng ngoại hối Ngoài ra, trước và sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã thành lập khá nhiều trung tâm tư vấn WTO. Các trung tâm tư vấn WTO của Trung Quốc giúp các doạnh nghiệp địa phương huy động các nguồn lực địa phương nhằm hỗ trợ cho Chính phủ trong việc tham gia các hoạt động WTO một cách hiệu quả, bao gồm cả những hoạt động liên quan đến Vòng Đàm phán Đôha cũng như hỗ trợ doanh nghiệp trong việc vượt qua các thách thức và khai thác lợi ích thành viên WTO. Đây là một mô hình rất đáng học tập, nó không chỉ hỗ trợ Chính phủ mà còn cung cấp những thông tin về cơ hội cũng như thách thức trong hoạt động thương mại quốc tế cho các doanh nghiệp Trung Quốc.5 4.2. Thái Lan: Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống. Bắt đầu từ năm 1960, Thái Lan thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ nhất và đến nay là thứ 9. Trong thập niên 1970, Thái Lan thực hiện chính sách “hướng xuất khẩu”,

5

Giới thiệu về Trung tâm tư vấn WTO Thượng Hải, Trung Quốc – Bản tin MUTRAP, Quý II, 2009

26

ASEAN, Mỹ, Nhật Bản, đặc biệt là Châu Âu trở thành thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan Thái Lan xuất khẩu nhiều hơn 105 tỷ đô la hàng năm. Các sản phẩm xuất khẩu chính bao gồm gạo, hàng dệt may, giầy dép, hải sản, cao su, nữ trang, oto, máy tính và thiết bị điện. Thái Lan đứng dầu thế giới về xuất khẩu gạo, mỗi năm xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo tinh chế. Lúa là loại cây lương thực chính được trồng tại Thái Lan, với 55% đất đai trồng trọt được sử dụng để trồng lúa. Đất có thể canh tác được của Thái Lan cũng chiếm tỷ lệ lớn, 27,25% của toàn bộ khu vực sông Mekong.6 Trên thị trường nông sản quốc tế, Thái Lan đã gặt hái được nhiều thành công và một phần rất quan trọng đó là do các mặt hàng của Thái Lan có chất lượng cao, dành được lòng tin của NTD. Điển hình nhất đó là sản phẩm gạo. Chất lượng gạo của Thái Lan cao hơn hẳn chất lượng gạo của các đối thủ cạnh tranh. Kinh nghiệm cải tiến và quản lý chất lượng Những thành tựu trong hoạt động xuất khẩu nông sản của Thái Lan một phần là do chính phủ đã rất tích cực trong việc khuyến khích áo dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến và quản lý chất lượng, hiện đại để tăng năng suất và chất lượng nông sản. Một sự kiện tiêu biểu cho sự nỗ lực đó của Chính phủ Thái Lan phải kể đến đó là vào năm 1964, người nông dân Thái Lan ở hầu hết các vùng không tiếp cận được với việc cải thiện giống cây trồng, khả năng tài chính cũng không cho phép họ mua các loại phân bón thuốc trừ sâu, dẫn đến tình trạng năng suất thấp, hiệu quả sản xuất không cao. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp Thái Lan đã chứng kiến một bước tiến bộ đáng kể trong suốt những thập kỷ qua. Đó là bởi hai nguyên nhân chính: sự giới thiệu các giống cây trồng được tạo riêng, phù hợp với điều kiện của Thái Lan và việc sử dụng hiệu quả các loại thuốc trừ sâu và phân bón hóa học. Tuy vậy, do vấn đề an toàn thực phẩm mà Thái Lan cũng đang cố gắng giảm sự phụ thuộc vào phân bón và hóa chất, thay vào đó, Chính phủ Thái Lan khuyến khích người nông dân sử dụng phương pháp nâng cấp, cải tạo lại đất, kiểm soát chất lượng cũng như kiểm soát các con vật phá hoại mùa màng bằng các yếu tố được tìm
6

Thái Lan - http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_Lan#cite_note-10

27

thấy trong tự nhiên; cung cấp thông tin và hướng dẫn người dân sử dụng các loại phân bón vô cơ để cải thiện tình trạng đất và tạo ra các sản phẩm sạch vì nhu cầu về mặt hàng nông sản đã chế biến sạch đang ngày càng tăng cao trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó, Thái Lan cũng tập trung đầu tư nhiều công nghệ kỹ thuật cho các khâu ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng hàng nông sản như phơi, sấy, bảo quản và chế biến… và cho kiểm tra chất lượng và thử nghiệm kỹ càng ở mọi khâu, mọi giai đoạn, từ giai đoạn trước khi trồng trọt tới giai đoạn sau thu hoạch. Đồng thời, chính phủ Thái Lan cũng rất chú trọng tới khâu nghiên cứu và phát triển (R&D), một khâu nền tảng và quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng được những nhu cầu ngày một khắt khe của thị trường. Như vậy, bằng việc chủ động nâng cao và sử dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiến bộ, Thái Lan đã nhanh chóng vươn lên và trở thành một trong những quốc gia đứng đầu về việc sản xuất các mặt hàng nông sản trên thế giới. Kinh nghiệm định giá và kiểm soát giá: Để có thể có được kim ngạch xuất khảu cao như vậy trong thời gian qua, TL đã luôn phải tìm cách giảm chi phí sản xuất để có được một mức giá cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường. Chính phủ Thái Lan đã giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm là đầu vào cho quá trình sản xuất nông nghiệp như giống, phân bón, nông dụng cụ… Vì thế, hàng nông sản Thái Lan có lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới. Hơn nữa, các giống mới cũng được đưa vào thử nghiệm để có thể tăng năng suất, giảm chi phí. Đồng thời Thái Lan cũng đã xác định được một chiến lược giá khá đúng đắn. Với những thị trường cao cấp, người tiêu dùng quan tâm nhất tới chất lượng, sản phẩm phù hợp cho thị trường này là những sản phẩm ngon, an toàn mà không quan tâm quá tới giá cả.Vì vậy, việc tăng thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm và hoạt động theo một phong cách sản xuất mới là chú trọng vào chất lượng thay cho số lượng đã được khuyến khích thực hiện. Nếu hệ thống chứng nhận chất lượng hàng nông sản được cải thiện lên mức tiêu chuẩn quốc tế thì việc xuất khẩu hàng nông sản với giá cao sang các thị trường là một phương án khả thi.

28

Bên cạnh đó, để kiểm soát và ổn định giá cả, chính phủ Thái Lan đã mời các nước như Ấn Độ, Pa-kix-tan và Việt Nam cùng lập ra Ủy ban về hợp tác trong thương mại gạo (CRTC), hay còn gọi là “Giếng Lúa”. Nó hoạt động với mục đích bình ổn giá gạo trên thị trường quốc tế và thúc đẩy giá bằng việc hạn chế định lượng cung như nhóm OPEC đã làm với dầu lửa. Sự hợp tác như vậy không những giúp các nước này loại trừ chiến lược giảm giá giữa các đối thủ cạnh tranh với nhau mà còn nâng cao được năng lực cạnh tranh của từng nước trên các thị trường nhập khẩu. Thái Lan áp dụng hình thức này không chỉ với mặt hàng gạo mà còn với mặt hàng cao su. Thái Lan đã ký hiệp định ba bên với Malaysia. Sự hợp tác giữa các nước này nhằm kiểm soát thương mại cũng như để cùng nhau cải tiến kỹ thuật sản xuất. Kinh nghiệm theo đuổi và ký kết các hiệp ước thương mại song phương để đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản: Trong những năm qua, Thái Lan luôn đẩy mạnh việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương. Đây là một biệt pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng, nó cũng là một trong những lý do dẫn tới sự thành công của Thái Lan trên thị trường nông sản thế giới. Về lý thuyết thì những hiệp ước tự do thương mại song phương là đi ngược lại với tinh thần của WTO khi mong muốn tạo ra một môi trường bình đẳng, thuận lợi cho tất cả các nước thành viên vì các hiệp định tự do thương mại song phương tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia nhiều hơn các nước khác. Nhưng với tình hình hiện nay, khi các hiệp định đa phương còn nhiều bất cập thì các hiệp định thương mại song phương lại là giải pháp tối ưu. Từ năm 2001, Thái Lan đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương với các thị trường chính cũng như nhiều thị trường mới khác nhằm gắn chặt hơn nữa quan hệ đầu tư và thương mại của Thái Lan và thị trường quốc tế. Kể từ năm 2001, Thái Lan đã tham gia vào các cuộc đàm phán hiệp định thương mại tự do song phương với 8 nước (Nhật Bản, Mỹ, Pê-ru, Niu-di-lân, Ấn Độ, Trung Quốc, Úc, Ba Tư) trong số này, nhiều nước là

29

bạn hàng thương mại chủ yếu, chiếm tới hơn 50% tổng kim ngạch thương mại thế giới. Đây là một sự mở rộng và thâm nhập của hàng nông sản như gạo, sắn, cao su,… vào các thị trường truyền thống cũng như thâm nhập vào các thị trường mới. Có thể nói, mối quan hệ với Mỹ cũng đã góp phần làm nên thành công ngày nay. Thái Lan và Mỹ đã ký kết nhiều hiệp định trong đó có hiệp định về thương mại hàng nông sản. Trong năm 2004, Mỹ và Thái Lan đã đàm phán về hiệp định tự do thương mại, theo đó giảm và loại bỏ những rào cản thương mại và đầu tư giữa hai nước. Đây chính là cơ hội cho hàng nông sản Thái Lan thâm nhâoj sâu và dễ dang fhown vào thị trường Mỹ. Sự hỗ trợ về kinh tế đã mở rộng ở nhiều lĩnh vực, trong đó bao gồm phát triển nông nghiệp nông thôn, y tế, kế hoạch hóa gia đình và khoa học kỹ thuật. Cùng với sự hợp tác với Mỹ, Thái Lan đã đtj được những thành tích đáng khích lệ trong việc kiểm soát cây trồng, thực thi pháp luật và giảm nhu cầu. Kinh nghiệm phân phối hàng nông sản: Hiện nay, trên các thị trường nông sản thế giới, hàng nông sản của Thái Lan được ưa chuộng và nổi tiếng, một phần là do Thái Lan có một hệ thống phân phối, hợp lý và được đầu tư. Thứ nhất, hệ thống giao thông vận tải rất được chú trọng ở Thái Lan Thứ hai, các mặt hàng nông sản của Thái Lan giữ được thương hiệu của mình vì việc xuất khẩu được thực hiện qua các trung gian Thái Lan, không thông qua các nước trung gian để tái chế. Ngoài ra, các Doanh nghiệp Thái Lan cũng đẩy mạnh việc bán hàng qua mạng, bán buôn và xây dựng hệ thống bán lẻ của Thái lan ngay tại nước sở tại trong EU, điều này đã đánh vào tâm lý ưa thích mua lẻ của người tiêu dùng châu Âu. Đồng thời, với sự phát triển của Internet và sự mở rộng hệ thống mạng đã hỗ trợ đưa thông tin của các công ty xuất khẩu gạo Thái Lan đến gần hơn với nhiều người tiêu dùng. Về hoạt động xúc tiến thương mại hàng nông sản, Thái Lan đã từng có những bước thăng trầm trong hoạt động xuất khẩu nông sản của mình Trong năm 2006, Thái Lan đã tuyên bố đó là năm an toàn thực phẩm của Thái Lan nhằm mục đích biến Thái Lan trở thành một “gian bếp của thế giới” và là

30

một trung tâm sản xuất cac sản phẩm nông nghiệp sạch. Việc này đã đánh trúng tâm lý người tiêu dùng. Về việc cung cấp thông tin cho người nông dân và nhà xuất khẩu nông sản. Một sáng kiến đáng kể cảu Thái Lan là việc lập ra “ Thị trường tương lai” nơi cung cấp thông tin về tình hình thị trường, giá cả, nhu cầu trong thời gian tới để người nông dân biết được hướng để sản xuất và trông trọt, cũng như nhà xuất khẩu nắm được hướng ký kết hợp đồng. Kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ vốn của chính phủ. Thái Lan không tuyên bố bất cứ sự trợ cấp nào trong xuất khẩu nông sản trong lịch trình của WTO và vì vậy không thể trợ cấp được cho hàng nông sản. Sức cạnh tranh của hàng nông sản Thái lan cao. Vì thế, ngành nông nghiệp của Thái Lan gần như không chịu ảnh hưởng của sự gia tăng hàng nhập khẩu mà vẫn duy trì ở mức cao về khả năng cạnh tranh và hàng nhập khẩu cũng có lợi cho nhiều nangh công nông nghiệp mà sử dụng những sản phẩm này là sản phẩm thô Điều này đảm bảo đất nước vẫn đạt được lợi từ sự tự do hóa Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác nông nghiệp cũng có chương trình cấp tín dụng cho người kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng nông sản những khoản vay ngắn hạn, dài hạn và trung hạn để có thể tạo mọi điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp này. Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác Nông nghiệp có một chính sách hỗ trợ cho người nông dân rất đáng để chúng ta học tập. Đó là việc ngân hàng nhận thế chấp nông sản cho người nông dân vay vốn với lãi suất thấp, đồng thời thu mua và nhận ký gửi một số loại nông sản như thóc, lúa theo yêu cầu. quan: Để rút ngắn thời gian thông quan cho những mặt hàng nông sản xuất khẩu, Thái Lan đã sự dụng hệ thống EDI (hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử). Đến nay, 85% các mẫu khai báo được thực hiện trên hệ thống EDI. Thời gian trung bình cần thiết cho việc thu phí và thuế cũng như kiểm hóa giảm xuống còn ít hơn một tiếng, nhanh hơn nhiều so với trước đây khi chưa áp dụng hệ thống EDI (mất khoảng 3-4 Kinh nghiệm trong việc đơn giản hóa và hài hóa hóa thủ tục hải

31

tiếng) Ngoài ra, vào tháng 11/2002, vụ Hải quan đã giới thiệu một hệ thống khai báo trên nền Internet, chủ yếu sử dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thái Lan thực hiện việc đơn giản hóa và giảm thiểu đến mức tối đa các thủ tục và giải pháp đăng ký sản xuất kinh doanh, xuất khẩu của các doanh nghiệp. Các nhà xuất khẩu Thái Lan giờ đây có thể nhận giấy chứng nhận xuất khẩu từ một cơ quan độc nhất thay vì nhiều cơ quan như trước đây. Cơ quan Dược – Thực phẩm Thái Lan cũng có thể chứng nhận rằng nông sản xuất khẩu đó đáp ứng được các tiêu chuẩn ISO 1400. Những cải cách trong việc đơn giản hóa và hiện đại hóa các thủ tục hải quan đã hấp dẫn các nhà đầu tư vào thị trường trong nước, Thái Lan có nhiều lựa chọn hơn cho các sản phẩm cần nhập khẩu để sản xuất nông sản, tạo lợi thế cho hàng nông sản của Thái Lan từ quá trình sản xuất đến quá trình cạnh tranh giá cả tại thị trường EU. Hơn thế nữa, cũng giúp đẩy nhanh hoạt động hải quan trước khi xuất khẩu nông sản, góp phần đảm bảo thời gian bảo quản chất lượng nông sản. 4.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam. Sau quá trình nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc và Thái Lan, bài học rút ra cho Việt Nam đó là phối hợp đồng bộ các hệ thống chính sách sau: - Mở rộng, tăng cường đàm phán song phương, đa phương để đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản. - Nâng cao nhận thức cho các nhà sản xuất và kinh doanh hàng nông sản xuất khẩu về chất lượng sản phẩm và hệ thống tiêu chuẩn - Lập kế hoạch tiếp thị cho hàng nông sản xuất khẩu một cách có hệ thống. - Gắn kết công nghệ nguồn với xuất khẩu nông sản. - Lựa chọn phương thức thích hợp để chủ động đưa hàng nông sản thâm nhập thị trường EU. - Đăng ký và cố gắng xây dựng thương hiệu cho hàng nông sản trên thị trường EU. Ngoài ra, việc vượt rào các rào cản kỹ thuật là một cuộc chiến lâu dài đòi hỏi các doanh nghiệp Việt nam cần phải có một chiến lược phát triển dài hạn và tương đối toàn diện. Không thể giải quyết mọi vấn đề nếu chỉ bó hẹp trong phạm vi của

32

doanh nghiệp. Các rào cản ký thuật này còn liên quan đến nguồn cùng cấp nguyên liệu (như chính sách của Thái Lan hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu nông sản bằng việc hạ thuế đối với các nguyên liệu đầu vào) cũng như sự ủng hộ của Chính phủ khi tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho doanh nghiệp. Phần tiếp theo của đề tài, nhóm nghiên cứu sẽ chỉ ra thực trạng về sự ảnh hưởng của rào cản kĩ thuật tại thị trường EU tới việc xuất khẩu nông sản Việt Nam trong đó có đề cập đến thực trạng khả năng vượt rào để xuất khẩu nông sản của các doanh nghiệp Việt Nam.

33

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA RÀO CẢN KĨ THUẬT TẠI THỊ TRƢỜNG EU TỚI VIỆC XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM

1. Tình hình xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trƣờng EU của các doanh nghiệp Việt Nam: Như đã phân tích ở chương 1, kể từ năm 2005, khi Việt Nam bắt đầu đặt vấn đề gia nhập WTO, và kể từ 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức lớn nhất thế giới về thương mại này, Việt Nam đã có được sự tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu với việc mở rộng thị trường ra toàn cầu. Trong đó, một bạn hàng quan trọng của Việt Nam là Thị trường EU. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU trong nhiều năm liền đứng thứ 5 trong khối ASEAN. Tính 11 tháng đầu năm 2008, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU đứng sau Malaysia (16,195 tỉ Euro), Thái Lan (15,824 tỉ Euro), Singapore (15,060 tỉ Euro), Indonesia (12,353 tỉ Euro). Xét về nông sản, tỷ trọng của các mặt hàng này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU không ngừng tăng, đặc biệt là trong những năm gần đây. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng xuất khẩu, mặt hàng nông sản Việt Nam cũng phải đổi mặt với các rào cản phi thuế quan, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật đang ngày một nhiều và phức tạp. Dưới đây là những thông tin cụ thể về tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường EU trước việc các rào cản kỹ thuật đang được áp dụng ngày một nghiêm ngặt tại thị trường này. 1.1. Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản: Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản của Việt Nam xuất sang thị trường EU phải kể đến lúa gạo, cà phê, cao su, hạt điều, chè, rau quả tươi.. Với khối lượng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, các mặt hàng nông sản chủ lực này góp phần tạo nên sự tăng trưởng xuất khẩu cho nông sản Việt Nam sang EU. Bảng dưới đây sẽ cho thấy tình hinh xuất khẩu của các mặt hàng đó trong những năm gần đây:

34

Bảng 2.1: Kim ngạch XK một số mặt hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2005-2008 Đơn vị: USD Năm Rau quả Lạc nhân Hạt điều Cà Phê Thịt Đƣờng Các nông sản khác Tổng kim ngạch xuất khẩu Nguồn: Số liệu hải quan Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu sang EU thì cà phê chiếm tỉ trọng lớn nhất, trên 50% trong nhiều năm qua. Mặc dù tỉ trọng không có nhiều thay đổi, nhưng thực tế xuất khẩu cà phê vào EU trong những năm vừa qua liên tục tăng với tốc độ đáng nể. Kim ngạch xuất khẩu cà phê vào EU năm 2006 tăng 41%, con số này năm 2007, 2008 lần lượt là 38% và 14%. Tiếp theo phải kể đến là hạt điều. Giá trị xuất khẩu của hạt điều đứng thứ hai sau cà phê. Tuy vậy có thế thấy rằng giá trị tuyệt đối có tăng từ năm 2005 đến năm 2007 nhưng giá trị tương đối so với tổng kinh ngạch xuất khẩu của nước ta sang EU lại giảm đáng kể: từ 17.8% năm 2005 xuống còn 15.2% năm 2007. Điều này có thể do nhiều yếu tố tác động nhưng cũng cho ta thấy được sự mất dần lợi thế cạnh tranh của hạt điều với những sản phẩm nông nghiệp khác. Mặt hàng xuất khẩu thứ 3 vào EU là rau quả. Sau 2 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã đạt kim ngạch xuất khẩu rau quả vào EU không ngừng tăng cao với tốc độ tăng trên 30%/năm. Đồng thời, rau quả của Việt Nam càng ngày càng khẳng 674.87 946.96 1388.91 1693.91 105.98 2005 133.83 0.16 120.23 313.48 1.19 2006 106.49 0.17 91.58 529.37 1.13 0.14 218.08 2007 187.32 0.14 165.45 855.31 1.70 0.15 178.85 2008 282.61 0.14 256.91 988.56 1.60 0.01 110.08

35

định được vị trí của mình trên thế giới. Các quy trình kiểm soát chất lượng quốc tế (HACCP, GAP…) hiện đã dần được áp dụng với một số mặt hàng như thanh long (Bình Thuận), Bưởi (Vĩnh Long)… Mặc dù giá trị tương đối lớn nhưng tỉ trọng xuất khẩu rau quả sang EU so với tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam là rất nhỏ. Bởi phần lớn mặt hàng rau quả nước ta được xuất khẩu chủ yếu vào các thị trường Đài Loan, Trung quốc, Nhật Bản, LB Nga… do vị trí địa lý gần hơn và đây cũng là những thị trường khá dễ tính, không đòi hỏi khắt khe như EU. Mặt khác, theo CBI, EU tiêu thụ mỗi năm 75 triệu tấn hoa quả tươi và 62 triệu tấn rau, trong đó, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này là 34000 tấn quả( tương đương với 0.045%) và 6000 tấn rau ( tương đương với 0.0097%) và tỉ trọng rau quả của Việt Nam xuất khẩu vào EU so với tổng giá trị nhập khẩu của EU chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ là 0.67%. Mặc dù nhu cầu rau quả hàng năm của thị trường EU là rất lớn nhưng có thế thấy rằng rau quả Việt Nam vẫn chưa tiếp cận được nhiều vào thị trường tiềm năng này. Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam vào EU còn khá nhỏ so với các thị trường khác nhất là thị trường Châu Á (Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,..). Bảng 2.2: Kim ngạch nhập khẩu sản phẩm rau quả của EU với các quốc gia Kim ngạch nhập khẩu sản phẩm rau quả của EU với các quốc gia Việt Nam Thế giới Tỷ lệ nhập khẩu rau quả Việt Nam của EU so với tổng trị giá nhập khẩu mặt hàng này Nguồn: Số liệu của ITC dựa trên số liệu thống kê của UN COMTRADE % 0.2548 0.1608 0.1546 0.0835 0.0804 0.0774 nghìn USD nghìn USD 183 131 117 103 110 106 Đơn vị 2004 2005 2006 2007 2008 2009

71.834 81.479 75.678 123.361 136.883 137.022

36

Phần nhiều vì rào cản kỹ thuật tại EU ngày càng khắt khe hơn các quốc gia khác. Mới đây, nhiều lô hàng rau quả của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU đã bị thông báo vi phạm các qui định về an toàn thực phẩm, và theo đó, Tổng vụ Sức khỏe và Người tiêu dùng của Ủy ban Châu Âu (EC) thông báo, kể từ 15/01/2012, nếu phát hiện thêm 5 trường hợp vi phạm quy định an toàn thực phẩm, EU sẽ cấm nhập khẩu rau quả của Việt Nam. Điều này đe dọa trực tiếp tới khả năng xuất khẩu mặt hàng rau quả Việt Nam sang thị trường EU, đồng thời làm giảm uy tín của mặt hàng này trên thị trường thế giới.
1.2. Các sản phẩm phái sinh:

Trong các sản phẩm phái sinh của Việt Nam xuất khẩu sang EU phải kể đến mặt hàng thịt, trị giá mặt hàng này xuất sang EU hàng năm theo số liệu hình 1, đều chiếm khoảng hơn 50% tổng trị giá mặt hàng này của Việt Nam xuất khẩu ra thế giới. Mặt hàng này có giảm đi nhưng lượng giảm không đáng kể và thực ra chỉ giảm vào năm 2008 xuống khoảng hơn 1.500 nghìn USD, rồi lại tăng lên khoảng hơn 2.500 nghìn USD vào năm 2009. Tuy nhiên, thịt xuất khẩu của Việt Nam hiện tại vẫn chưa có được chỗ đứng trên thị trường thế giới, hơn nữa Việt Nam được coi là quốc gia có nguy cơ dịch lở mồm long móng cao và cũng là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch cúm gia cầm nên việc xuất khẩu thịt của Việt Nam vào thị trường EU vẫn chưa thực sự phát triển, điều này được làm rõ trong bảng 4, qua những số liệu, ta thấy, lượng thịt Việt Nam xuất khẩu sang EU chiếm thị phần rất khiêm tốn trong tổng lượng nhập khẩu mà EU cần ( dưới 0.5% ở các năm).

37

Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam vào thị trường Châu Âu và Thế giới giai đoạn 2007 - 2009
5,000 4,500 4,000 3,500 3,000 2,500 2,000 1,500 1,000 500 0 2007 2008 2009 EU Thế giới

Nguồn: Số liệu của ITC dựa trên số liệu thống kê của UN COMTRADE Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của EU với các quốc gia giai đoạn 2007-2009 Kim ngạch nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của EU với các quốc gia Việt Nam Thế giới Tỷ lệ nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt Việt Nam của EU so với tổng trị giá nhập khẩu mặt hàng này Nguồn: Số liệu của ITC dựa trên số liệu thống kê của UN COMTRADE
1.3. Các sản phẩm đƣợc chế biến từ sản phẩm nông nghiệp:

Đơn vị

2007

2008

2009

nghìn USD nghìn USD

2,190 699,911

1,581 809,797

2,661 640,310

%

Trong các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường EU phải kể đến là thức uống không cồn ( nước,

38

nước trái cây, nước ép rau,…), bia làm từ mạch nha và rượu mạnh (nồng độ cồn khi biến đổi trên >80%). Bảng 2.4: Kim ngạch nhập khẩu bia của Việt Nam với các quốc gia Kim ngạch nhập khẩu bia của Việt Nam với các quốc gia EU Thế giới Tỷ lệ nhập khẩu bia Việt Nam của EU so với tổng trị giá nhập khẩu mặt hàng này của thế giới Nguồn: Số liệu của ITC dựa trên số liệu thống kê của UN COMTRADE Bảng 2.5: Kim ngạch nhập khẩu thức uống có cồn của Việt Nam với các quốc gia Kim ngạch nhập khẩu thức uống có cồn của Việt Nam với các quốc gia EU Thế giới Tỷ lệ nhập khẩu thức uống có cồn của Việt Nam của EU so với tổng trị giá nhập khẩu mặt hàng này của thế giới Nguồn: Số liệu của ITC dựa trên số liệu thống kê của UN COMTRADE Chiếm tỉ trọng lớn nhất chính là các thức uống không cồn như nước , nước ép trái cây, nước ép rau quả. Theo số liệu thông kê, năm 2008, giá trị xuất khẩu của mặt hàng này sang EU là 3473 nghìn USD chiếm 10,23% tổng giá trị xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam. Con số này tăng lên đến 4340 nghìn USD trong năm 2009 và chiếm 12.01% tổng giá trị xuất khẩu thức uống không cồn của Việt Nam. Tuy giá trị xuất khẩu của mặt hàng này xuất sang EU có tăng tuy nhiên nó chỉ chiếm % 1,159 10,228 12,01 nghìn USD nghìn USD 280 24,155 3,473 33,953 4,340 36,136 Đơn vị 2007 2008 2009 % 4,138 2,773 4,054 Đơn vị nghìn USD nghìn USD 2007 346 8,361 2008 477 17,204 2009 598 14,752

39

một phần rất nhỏ trong giá trị nhập khẩu mặt hàng này của EU, cụ thể là 0.05% năm 2008 và 0.0699% năm 2009. Điều này cho thấy, thức uống không cồn của nước ta chưa thực sự có được chỗ đứng vững chắc tại một thị trường khó tính như EU. Bia làm từ mạch nha là mặt hàng đứng 2 trong nhóm các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp xuất sang EU của Việt Nam. Qua bảng số liệu ta có thể thấy rằng bia đã từng là đồ uống mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong nhóm này ở năm 2007 tuy nhiên nó đã mất dần vị thế của mình trong các năm tiếp theo 2008 và 2009. Điều này đặt ra 1 câu hỏi lớn là lý do tại sao lại có sự hoán đổi vị trị này? Một lý do dễ thấy đó là chất lượng cũng như hương vị bia của ta chưa thể sánh được với bia được sản xuất ngay tại EU cũng như từ các thị trường khác như Mỹ, Nhật Bản,… dó đó việc sụt giảm giá trị tương đối trong tổng kim ngạch là điều dễ hiểu. 2. Các chính sách vƣợt rào cản kĩ thuật, thúc đẩy xuất khẩu sang thị trƣờng EU của các doanh nghiệp nông sản Việt Nam: Đứng trước thực trạng khó khăn trong xuất khẩu nông sản Việt Nam vào thị trường EU, Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành đã và đang sử dụng những chính sách nhất định để hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng chủ lực này vào thị trường tiềm năng EU. 2.1. Các chính sách từ Chính phủ: 2.1.1. Các chính sách tài chính – tín dụng hỗ trợ, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông sản: Nghị quyết số 05/2001/NQ-CP ngày 24/05/2001 của Chính phủ và Quyết định số 908/QĐ-TTg ngày 26/07/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ nông sản và nâng cao thu nhập cho nông dân trong đó nổi bật là miễn giảm thuế nông nghiệp, đầu tư cho công tác giống, giãn nợ và khoanh nợ cho các hộ nghèo, thực hiện thưởng theo kim ngạch cho một số nông sản xuất khẩu chủ lực. Bên cạnh đó, Chính Phủ còn đưa ra cá ưu đãi về tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản sang thị trường EU, thành lập các quỹ bảo hiểm xuất khẩu để tránh những tác động tiêu cực do sự biến động của thị trường hàng hóa thế giới, đồng thời cung ứng các loại nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu.

40

Tuy vậy số lượng các doanh nghiệp được hỗ trợ tài chính còn rất hạn chế do những điều kiện còn khá ngặt nghèo. Hơn nữa hệ thống hành chính của Việt Nam còn khá quan liêu gây cản trở việc xin và nhận cấp vốn của doanh nghiệp. 2.1.2. Giải pháp về công tác tiếp thị, thâm nhập thị trƣờng. Chính phủ và các Bộ đã thành công trong việc đưa Việt Nam chính thức gia nhập WTO năm 2007. Điều này giúp nước ta có nhiều lợi ích trong việc vượt qua các rào cản kỹ thuật đối với hàng nông sản trên thị trường EU bởi vì: thứ nhất, cả Việt Nam và EU đều phải thực hiện Hiệp định TBT theo những nguyên tắc chung của WTO, điều này sẽ giúp hạn chế những tiêu chuẩn kỹ thuật vô lý, mang tính phân biệt đối sử và bảo hộ cao; thứ hai, khi trở thành viên của WTO, Việt Nam được hưởng chế độ giải quyết kiện cáo, tranh chấp bình đẳng hơn với EU và các quốc gia thành viên khác.  Chính phủ và các Bộ liên quan đã và đang nỗ lực xúc tiến, đẩy nhanh tiến trình đàm phán và kí kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU. Kết quả đạt được hiện nay: Việt Nam và EU đã hoàn tất các công việc kỹ thuật, trong đó có Tài liệu tham chiếu, để hướng tới khởi động đàm phán một Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương. Ý tưởng về việc nâng tầm quan hệ thương mại giữa các nước ASEAN và EU đã có từ lâu. Từ ý tưởng này, năm 2005, EU và ASEAN đã thành lập Nhóm Tầm nhìn về quan hệ đối tác kinh tế ASEAN-EU để nghiên cứu khả thi việc đàm phán và thiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-EU nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác và liên kết kinh tế giữa hai bên. Dựa trên báo cáo và khuyến nghị của Nhóm Tầm nhìn, tháng 5 năm 2007, các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Cao ủy Thương mại EC đã quyết định khởi động đàm phán Khu vực Thương mại Tự do giữa EU với cả khối ASEAN (cách tiếp cận khu vực-khu vực). Là một thành viên của ASEAN và là nước điều phối hợp tác kinh tế ASEAN-EU, Việt Nam luôn ủng hộ và thúc đẩy cách tiếp cận khu vực-khu vực nói trên. Song song với tiến trình này, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 41 vào tháng 8 năm 2009, các Bộ trưởng kinh tế ASEAN cũng quyết định các nước ASEAN có thể khởi động việc đàm phán Hiệp định FTA song phương với EU

41

nhằm thúc đẩy hơn nữa hợp tác của các nước ASEAN với EU. Một số nước ASEAN cũng đã khởi động tiến trình song phương này, phù hợp với lộ trình chung đã được các Bộ trưởng ASEAN thống nhất.  Thành lập Trung tâm Xúc tiến thương mại Việt Nam tại EU với các hoạt động nhằm hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam: - Thành lập dự án Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III hỗ trợ về mọi mặt cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản sang EU. - Thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại năm 2010, nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm của ngành nông nghiệp, Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nông nghiệ đã xây dựng kế hoạch tổ chức, tham dự một số Hội chợ triển lãm ở trong và ngoài nước cụ thể như sau: o Trong nước  Hội chợ Xuân Canh Dần: thời gian từ ngày 05-11/2/2010 tại Khu hội chợ triển lãm giao dịch Kinh tế và Thương mại ( đường Hoàng Quốc Việt, Cầu giấy, Hà Nội)  Hội chợ Thương mại Nông nghiệp khu vực phía bắc từ 5/2010 tại Khu Hội chợ triển lãm giao dịch Kinh tế và Thương mại ( đường Hoàng Quốc Việt, Cầu giấy, Hà Nội)  Triển lãm Lương thực và thực phẩm quốc tế tại Việt Nam – VNRF EXPO 2010 từ 7-12/11/2010 tại Khu Hội chợ triển lãm giao dịch Kinh tế và Thương mại ( đường Hoàng Quốc Việt, Cầu giấy, Hà Nội).  Hội chợ Triển lãm Nông nghiệp Quốc tế - AgroViet 2010, thời gian: 12/2010 tại Khu Hội chợ triển lãm giao dịch Kinh tế và Thương mại ( đường Hoàng Quốc Việt, Cầu giấy, Hà Nội) o Ngoài nước:  Hội chợ thực phẩm và đồ uống quóc tế SIAL CHINA 2010 từ 1921/05/2010 tại Thượng Hải – Trung Quốc.  Triển lãm quốc tế về Thực phẩm mùa hề - Summer Fancy Food Shows 2010 từ 27-29/06/2010 tại New York – Hoa Kỳ.  Hội chợ qốc tế về Thực phẩm và Đồ uống SIAL PARIS 2010

42

o Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khi tham gia các chương trình:  Đối với chương trình Hội chợ Triển lãm được tổ chức ở trong nước, các DN tham gia sẽ được hỗ trợ 50% chi phí thuê gian hàng.  Đối với chương trình Hội chợ Triển lãm được tổ chức ở nước ngoài, các DN tham gia sẽ được hỗ trợ 100% chi phí thuê gian hàng; tuyên truyền, quảng cáo.  Đối với chương trình khảo sát thị trường, các DN tham gia sẽ được hỗ trợ 100% chi phí vé máy bay. Tiếp nối năm 2010 là năm đánh dấu 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – EU và năm bản lề của chương trình Xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia, trong năm 2011, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tiếp tục tổ chức chương trình Khảo sát thị trường, xúc tiến thương mại tại các nước châu Âu nhằm góp phần gia tăng cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư với Liên minh Châu Âu cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Tham gia chương trình Khảo sát thị trường, xúc tiến thương mại Việt Nam – EU tại các nước Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức và Ý, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội gặp gỡ, làm việc với các đối tác EU cũng như các Phòng Thương mại và các tổ chức xúc tiến kinh doanh sở tại. Ngoài ra, đoàn doanh nghiệp Việt Nam còn tham gia hoạt động khảo sát thị trường, đi thực tế tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh và tìm hiểu tập quán tiêu dùng, tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá tại các nước thuộc Liên minh Châu Âu. Các biện pháp trên đã đánh dấu nỗ lực của chính phủ góp phần giúp các Doanh nghiệp trong nước có thể dễ dàng tiếp cận thị trường khó tính như EU. Thêm nữa, giúp cho các Doanh nghiệp có thể có được thêm các lợi thế trong quá trình đàm phán xâm nhập và kí kết hợp đồng. 2.1.3. Hoàn thiện hệ thống pháp lý Chinh phủ và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, cũng như cải cách hệ thống luật pháp để tạo điều kiện pháp lý cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản hoạt động

43

 Quyết định số 444/ QĐ- TTg về việc phê duyệt Đề án triển khai thực hiện Hiệp định TBT tại Việt Nam  Quyết định số 114/ 2005/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của mạng lưới TBT Việt Nam  Luật TC và QCLT  Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa  Luật Đo lường: số 04/2011/QH13 ban hành ngày 11/11/2011.  Luật của các Bộ/ngành ( Luật VSATTP, v.v…) Ngoài ra, Quyết định số 80/QĐ-TTg về việc “Tiêu thụ hàng hóa nông sản qua hợp đồng” ra đời ngày 24/06/2002 đã giúp cho mối quan hệ giữa nhà nông với doanh nghiệp chế biến hàng xuất khẩu đạt được những thuận lợi nhất định. Biện pháp này góp phần thúc đẩy xuất khẩu do doanh nghiệp có thể yên tâm có nguồn cung cấp nông sản ổn định để xuất khẩu, còn người nông dân không phải lo lắng đến yếu tố thđầu ra cho các sản phẩm mà mình sản xuất ra. Thực hiện hợp đồng tiêu thụ hàng nông sản sẽ khắc phục được tình trạng các doanh nghiệp phải đi mua gom hàng từ phía các hộ nông dân khi đến thời xuất khẩu khiến cho khối lượng mua vào rất bấp bênh, giá cả không ổn định hơn nữa không đảm bảo được rõ nguồn gốc xuất xứ của nông sản theo quy định của EU. Các doanh nghiệp cũng tránh được việc phải cạnh tranh với nhau trong thu mua nông sản để thực hiện hợp đồng xuất khẩu, tránh được việc phải mua nông sản với giá quá cao mà chất lượng có thể không đảm bảo, làm ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu. Còn người nông dân sẽ không lo bị ép giá tập trung đầu tư nâng cao chất lượng cũng như năng suất nông sản. Tuy nhiên, việc thực hiện “Tiêu thụ hàng hóa nông sản qua hợp đồng” đang phát sinh một số hạn chế và trở ngại, khiến nhiều mục tiêu đề ra chưa thực hiện được. Những hạn chế này liên quan đến việc các bên chưa tôn trọng hợp đồng hay hợp đồng chưa quy định rõ trách nhiệm của các bên. 2.1.4. Tăng cƣờng công tác quản lý chất lƣợng: Áp dụng nghiêm ngặt chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với hàng xuất khẩu. Nhà nước xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn hàng hóa – dịch vụ xuất khẩu mang tính quốc tế ( tiêu chuẩn HÀNG VIỆT NAM CHẤT LƯỢNG

44

CAO..) trong đó có hướng dẫn cụ thể cho từng thị trường, có chính sách thưởng, phạt nghiêm minh đối với các doanh nghiệp trong việc tuân tủ các quy định về chất lượng, áp dụng hệ chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với các doanh nhiệp Cụ thể, tiêu chuẩn Nhà nước về yêu cầu kỹ thuật đối với gạo xuất khẩu là TCVN 5644-1999. Theo đó, các tiêu chuẩn đánh giá là màu sắc, mùi vị là phải đặc trưng cho từng giống, loại gạo đó, không biến màu, không bị hư hỏng và không có mùi vị lạ. (phân tích tác động của tiêu chuẩn này) Đối với cà phê xuất khẩu, Nhà nước đã có tiêu chuẩn cấp Nhà nước cho cà phê hiện nay là TCVN 4193-2005 phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế…. Yêu cầu kỹ thuật đối với chè là TCVN 1454-1993. Tiêu chuẩn này đang áp dụng cho chè đen rời được sản xuất từ đọt chè tươi theo phương pháp truyền thống OTD hoạc CTC qua các công đoạn: héo, vò (hoặc nghiền, cắt), lên men, sấy khô và phân loại. Trên hết, theo thông kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì Việt Nam đang có 325 tiêu chuẩn về chất lượng nông sản. Song chỉ có 100 tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn ngành ( đạt khoảng 30.8%) hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế. Thậm chí, Cục chế biến Nông lâm sản và Nghề muối ( Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) thừa nhận chưa có tiều chuẩn hiện hành nào xây dựng cho lĩnh vực, ngành nghề nông thôn. Việt Nam hiện còn thiếu rất nhiều các tiêu chuẩn và phương pháp thử, xác định các yếu tố chất lượng sản phẩm, các tiêu chuẩn chế biến nông lâm sản… 2.1.5. Đầu tƣ các công tác nghiên cứu các giống cây trồng hiệu quả. Trong 5 năm 2001-2005, Nhà nước đã đầu tư 141,5 tỷ đồng cho chương trình giống cây trồng nông, lâm nghiệp và giống vật nuôi. Với sự đầu tư này các nhà khoa học và công nghệ nông nghiệp đã tạo ra nhiều giống cây trồng và vật nuôi khá tốt. Nhiều giống cho năng suất cao, chất lượng tương đương với các nước sản xuất nông nghiệp tiên tiến. Về cây trồng, chúng ta đã công nhận 69 giống lúa, 31 giống ngô, 4 giống cây có củ, 12 giống đậu tương, 8 giống lạc, 2 giống đậu xanh, 1 giống vừng, 8 giống ca

45

cao, 7 giống cây ăn quả… có phẩm chất tốt, cho năng suất cao hơn giống cũ 710%... Về vật nuôi, chúng ta đã nghiên cứu lai tạo và khảo nghiệm thành công các cặp lợn lại có tỷ lệ nạc 56-60%. Chọn lọc được 224 con bò cái F2 và 7/8 máu ngoại. đạt sản lượng hơn 4000kg sữa/ chu kỳ, trong đó có 925 con đủ tiêu chuẩn đưa vào đàn hạt nhân. Phát triển được đàn bò lai hướng thít với các giống Charolais, Hereford, Red Bradman…. Nhìn chung, chúng ta đã xây dựng được cơ sở vật chất tương đối đồng bộ, với nhiều trang thiết bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu cho những công trình nghiên cứu đòi hỏi công nghệ cao. Tuy nhiên, trong thực hiện chương trình cũng còn một số hạn chế đó là: Các nội dung nghiên cứu chọn tạo giống còn phân tán, thiếu liên kết, còn ít nội dung nghiên cứu phục vụ cho các vùng sinh thái khó khăn như miền núi phía Bắc, miền trung Tây Nguyên. Bên cạnh đó, chất lượng một số giống chọn chưa thực sự cao, có giống chưa sản xuất, tiếp nhận, thiếu bền vững trong sản xuất hoặc trong cạnh tranh với các giống nhập khẩu. Việc nhập mốt số giống cây trồng không đem lại hiệu quả, do không thích nghi với điều kiện sinh thái gây thiệt hại cho sản xuất. Trình độ nghiên cứu cơ bản còn chưa cao, chuyển giao nghiên cứu chọn tạo giống vào sản xuất thiếu sự gắn kết giữa các đơn vị nghiên cứu. Do đó làm giảm hiệu quả của chủ trương đã đề ra ban đầu. 2.1.6. Đào tạo phát triển nguồn lực: Chính phủ đang và sẽ tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn và chương trình đào tạo nghề cho nông dân chuyển sang phi nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa. Mục tiêu của chương trình: từ 2009 đến 2020 mỗi năm đào tạo nghề nông nghiệp cho khoảng 300000 lao động nông thôn. Phấn đấu tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo đạt 20% năm 2010, 40% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020. Tổng kinh phí cho Chương trình giai đoạn 2009- 2020 là 7018 tỷ đồng, riêng 5 năm 2011-2015 là 2977 tỷ đồng. 2.2. Các chính sách từ Doanh nghiệp: 2.2.1. Đầu tƣ xây dựng thƣơng hiệu:

46

Hộp 2.1: Trong bài viết đăng trên Tạp chí Thành Đạt, số 4, trang 24, năm 2009, mang tên: “Xây dựng thương hiệu: Lối thoát cho nông sản Việt nam”, tác giả Nguyễn Khánh Trung đã cung cấp cho chúng ta một số thông tin giá trị: Năm 2003, Đại học kinh tế TP.HCM (phối hợp với VietnamMarcom) cùng với sự bảo trợ của Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Trung Nguyên phối hợp tổ chức chương trình được mang tên: “Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam” với “tham vọng” trong vòng 3 năm xây dựng thành công được 30 thương hiệu nông sản. Và rồi, những cái tên như: Bưởi năm roi Hoàng Gia, sầu riêng Cái Mơn Chín Hóa, gạo Sông Hậu Sohafarm ,… lần lượt ra đời. Thực chất, đây là một nỗ lực cần thiết của những người làm trong lĩnh vực marketing mà tiêu biểu là Công ty VietnamMarcom. Tuy nhiên, đã 6 năm trôi qua, những thương hiệu trên đi đâu về đâu không ai kiểm chứng. Và dường như, chương trình đó có vẻ là những sự thể nghiệm của những bạn trẻ vừa tốt nghiệp các khóa học của VietnamMarcom hơn là một sự bài bản, cần thiết để thương hiệu Việt chắp cánh. Do đó, trong vòng 3-5 năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản nói riêng đã thấy được tầm quan trọng của việc sở hữu một thương hiệu mạnh một thương hiệu có thể giúp họ đứng vững ở các thị trường khó tính như EU. Với nỗ lực của Cơ quan chức năng, đặc biệt là của bản thân các doanh nghiệp hiện nay đã có rất nhiều thương hiệu nông sản Việt đã xâm nhập thành công và đứng vững được tại thị trường EU như: Vinacafé, cà phê Trung nguyên, hồ tiêu Chử Sê, Vinamit, Intimex,…. Không những thế, các doanh nghiệp này còn tập trung xây dưng website riêng để quảng bá và tri ân khách hàng. Các website này giúp danh tiếng của các doanh nghiệp vượt xa biên giới quốc gia và không chịu bất cứ một rào cản thương mại nào. Tuy nhiên, so với tiềm năng xuất khẩu nông sản của chúng ta số lượng thương hiệu mạnh còn quá ít. Đặc biệt, việc có được thương hiêu mạnh đã khó việc giữ cho nó luôn trong lòng người tiêu dùng lại càng khó hơn. Nhưng một số doanh

47

nghiệp đã không biết quý trọng nó mà đang dần làm cho thương hiệu đó mờ nhạt và thiếu uy tín. 2.2.2. Đầu tƣ trang thiết bị chế biến và kiểm định chất lƣợng theo tiêu chuẩn EU và quốc tế: Đa phần các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản đã có đầu tư đáng kể cho các trang thiết bị chế biến và kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn EU và quốc tế. Điển hình là tại công ty cổ phần INTIMEX, công ty mời các cán bộ kiểm duyệt nhà nước giám sát như kiểm định SJS, kiểm định cà phê, Vinacontrol. Hay công ty Vinacafe Biên Hòa đầu tư hàng tỷ đồng để nhập khẩu hệ thống dây chuyền sản xuất cà phê hòa tan từ Đài Loan… Tuy vậy, hiện nay vẫn còn sự chênh lệch nhất định giữa chất lượng nông sản của nước ta với các tiêu chuẩn do EU đặt ra. Điều này một phần cũng bắt nguồn từ việc thay vì nhập khẩu máy móc, dây chuyền sản xuất từ chính EU thì các doanh nghiệp vẫn chủ yếu nhập khẩu từ Đài Loan, Trung Quốc… dẫn tới các chỉ số kỹ thuật, chất lượng nông sản chế biến ra sẽ khác đôi chút so với chuẩn mà EU mong muốn. 2.2.3. Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lƣợng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu: Không những chỉ đầu tư trang thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại, ngày càng nhiều doanh nghiệp áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đạt chuẩn xuất khẩu nhằm tăng năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Những ví dụ điển hình có thể kể đến sau: Trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê, Vinacafe Biên Hòa đi đầu trong việc áp dụng những tiêu chuẩn khắc khe cho nguyên liệu cũng như sản phẩm đầu ra của chính công ty. Về nguyên liệu đầu vào, công ty áp dụng bộ tiêu chuẩn cà phê nguyên liệu riêng cao hơn tiêu chuẩn cà phê hạt xuất khẩu giúp đảm bảo được chất lượng và độ đồng nhất cho cà phê thành phẩm. Các tiêu chuẩn trong quá trình sản xuất và đóng gói cũng được đặc biệt chú trọng. Công ty sở hữu các thiết bị đóng gói tiêu chuẩn Châu Âu. Nhờ những nỗ lực này mà sản phẩm của công ty luôn là hàng Việt Nam chất lượng cao, Sản phẩm Việt Nam tốt nhất 2010, Thương hiệu Nổi tiếng do VCCI - Nielsen điều tra, Doanh nghiệp Xuất Khẩu Uy tín và Giải thưởng quốc tế WIPO của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới thuộc LHQ,..

48

Đối với lĩnh vực xuất khẩu rau quả sấy phải kể đến Vinamit. Nhu cầu đảm bảo về chất lượng và tính dinh dưỡng của sản phẩm cũng được Vinamit tuân thủ nghiêm ngặt, trải qua những quy trình sơ chế khép kín và cấp đông bởi các Nhà máy sơ chế và kho cấp đông, được xây dựng tại các vùng nguyên liệu trọng điểm. Từ những sự đầu tư đúng mức này, nguồn nguyên liệu cho Vinamit trên tòan quốc được vận chuyển về các nhà máy sản xuất luôn được bảo quản và duy trì chất lượng tốt, đảm bảo phục vụ cho mục tiêu sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao. Ngoài ra, Vinamit hiện có hai cụm nhà máy chế biến hòan chỉnh với quy mô 10 hecta, công xuất 20 tấn thành phẩm/ ngày. Tại đây, việc sản xuất và đóng gói được thực hiện và giám sát nghiêm ngặt theo những tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế BVQI, HACCP, GMP, ISO, đảm bảo cho thành phẩm có được sự tin tưởng và đánh giá cao ở mọi thị trường mà Vinamit tham gia. Nhờ vậy mà công ty sở hữu nhiều giải thưởng và chứng nhận đặc biệt là chứng nhận HACCP đạt được năm 2006. Trên đây là những gương điển hình về áp dụng hế thống tiêu chuẩn sản xuất phù hợp với yêu cầu kĩ thuật. Tuy nhiên, việc áp dụng này chưa được áp dụng trên tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu do vậy hàng hóa nông sản của ta sang EU vẫn còn bị hạn chế nhiều. 2.2.4. Xây dựng hệ thống nhân sự: Để phát huy hết hiệu quả của máy móc hiện đại cũng như giám sát, kiểm tra được các tiêu chuẩn kĩ thuật thì cần phải có đội ngũ cán bộ, công nhân viên có trình độ phù hợp. Chính vì thế mà nhiều doanh nghiệp hiện nay luôn chú trọng yếu tố con người, đầu tư phát triển, nâng cao trình độ của họ. Vinacafe Biên Hòa trang bị cả 1 phòng kiểm định kỹ thuật với các kỹ sư, chuyên viên có trình độ trong việc kiểm tra đánh giá chất lượng cà phê thành phẩm cũng như cà phê nguyên liệu. Một ví dụ khác đó là Vinamit. Để vận hành những quy trình công nghệ hiện đại yêu cầu phải có đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao và lòng nhiệt tình công việc. Vinamit hiện có trên 500 nhân sự chuyên nghiệp, trực thuộc trong hệ thống văn phòng, nhà máy, đội ngũ bán hàng và chăm sóc khách hàng… phủ rộng trên tòan quốc. Không chỉ đầu tư chuyên viên kỹ thuật, các doanh nghiệp cũng chú trọng xây dựng đội ngũ am hiểu về luật pháp. Đội ngũ cố vấn, luật sư sẽ giúp các doanh

49

nghiệp am tường hơn về hệ thong luật pháp cũng như cách cư xử của chính phủ tại thị trường nhập khẩu. Từ đó sẽ hạn chế được việc sai phạm do thiếu hiểu luật cũng như tăng tỷ lệ thắng kiện trong tranh chấp lợi ích. Tuy lợi ích cửa việc sở hữu đội ngũ nhân sự giỏi là rất to lớn nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp đều coi trọng nó. Điều này khiến cho độ tin cậy của các doanh nghiệp đối tác không thật vững vàng do tâm lý e ngại do có thể đã từng hợp tác với các doanh nghiệp như vậy.

50

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI RÀO CảN KỸ THUẬT DÀNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM TẠI THỊ TRƢỜNG EU. 1. Quan điểm và định hƣớng thiết lập: 1.1. Quan điểm: Theo quyết định số: 124/QĐ-Ttg được ban hành ngày 02 tháng 02 năm 2012 về quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã đưa ra những quan điểm và mục tiêu phát triển có tính định hình rõ ràng cho con đường sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, áp dụng khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản xuất. Bên cạnh đó, theo Quan điểm và định hƣớng xuất nhập khẩu nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (PGS.TS Lê Danh Vĩnh et al., Thứ trưởng thường trực Bộ Công Thương) cũng nêu rõ quan điểm và định hướng xuất khẩu của Việt Nam theo xu hướng nhanh và bền vững, tiếp tục chú trọng và đẩy mạnh xuất khẩu. 1.2. Mục tiêu: Với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp theo hướng toàn diện, bền vững, mà một trong những yếu tố tạo nên sự bền vững cho nông nghiệp là có đầu ra ổn định, xuất khẩu ổn đinh, Chính Phủ đã đề ra mục tiêu: Trong giai đoạn năm 2011-2020: cơ cấu ngành nông nghiệp chiếm 64,7% tỉ trọng toàn ngành Nông – Lâm – Ngư Nghiệp, tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm từ 3,5 – 4%, kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp là 22 tỷ USD Cũng trong giai đoạn này, xuất khẩu nước ta chú trọng chất lượng, tập trung phát triển xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động rẻ như thuỷ sản, nông sản,... 1.3. Định hƣớng: Với quan điểm và mục tiêu phát triển nông nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu như vậy thì việc một mặt hàng chủ lực của Việt Nam như mặt hàng nông sản, gặp phải rào cản kỹ thuật, dẫn tới giảm sản lượng xuất khẩu sang một thị trường lớn như EU là điều cần phải khắc phục. Chính vì vậy, nhằm giải quyết vấn đề đó, theo

51

Chương trình hành động triển khai đề án thực thi hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại giai đoạn 2011-2015, ban hành kèm theo Thông tư số: 24/2011/TTBKHCN ngày 30 tháng 09 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, nước ta chủ trương: Về xây dựng các biện pháp kỹ thuật để triển khai áp dụng trong hoạt động xuất khẩu nhập khẩu bảo đảm sự phù hợp với quy định của hiệp định TBT và pháp luật Việt Nam: tập trung vào nghiên cứu, đề xuất khả năng và phương thức áp dụng các biện pháp kỹ thuật được các thành viên WTO áp dụng trong thương mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu, bảo đảm an toàn, sức khoẻ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sinh thái..., xây dựng và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật để “phòng vệ ”sự xâm nhập của hàng hóa nhập khẩu kém chất lượng, bảo đảm an toàn cho người, động vật, thực vật, bảo vệ môi trường... Về việc hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và thúc đẩy xuất khẩu, nhập khẩu: tập trung nghiên cứu, phổ biến và triển khai các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua rào cản kỹ thuật phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt các quy định của WTO; tổ chức các kênh tham vấn (trực tuyến, hội nghị,...) cho doanh nghiệp về các biện pháp kỹ thuật được xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung ở trong nước cũng như ở nước ngoài; hình thành mạng lưới tư vấn, giải đáp cho doanh nghiệp về hàng rào kỹ thuật của các thị trường; giải pháp đáp ứng yêu cầu của thị trường, vượt qua hàng rào kỹ thuật cho doanh nghiệp đối với các lĩnh vực hoặc hàng hoá cụ thể; áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến; thử nghiệm, đo lường, đánh giá, thẩm định, giám sát chất lượng và môi trường...; triển khai hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy năng suất chất lượng, phát triển tài sản trí tuệ, đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng... Về việc nâng cao hiệu quả của hoạt động phổ biến, tuyên truyền về vai trò và ảnh hưởng của hàng rào kỹ thuật trong thương mại đối với sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng sản phẩm, hàng hoá: mở chuyên mục về TBT trên kênh truyền hình, tổ chức tọa đàm về các chủ đề TBT mà doanh nghiệp và người tiêu dùng quan tâm; đăng tải tin tức, bài viết, phóng sự về TBT trên báo, tạp chí; phát hành bản tin, tờ

52

rơi giới thiệu về TBT, Đề án TBT, mạng lưới các cơ quan, tổ chức về TBT, văn bản pháp luật, tài liệu về TBT...; xây dựng và hoàn thiện cổng thông tin, trang thông tin điện tử về TBT đáp ứng yêu cầu quản lý và nhu cầu thông tin của doanh nghiệp, người tiêu dùng; tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn tuyên truyền, phổ biến thông tin liên quan về TBT. 2. Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cƣờng khả năng ứng phó với rào cản kỹ thuật dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam: Dựa trên cơ sở về quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển đã nêu ở phần trước, nhóm nghiên cứu xin đưa ra một số kiến nghị về các giải pháp mà Chính phủ có thể áp dụng để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam vượt rào, tiếp cận thị trường EU. Đồng thời, nhóm cũng đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp chủ động đối phó với những biến tướng mới ngày một phức tạp của loại rào cản này. Theo đó, các cơ sở lý luận của chương 1 và những bài học thực tiến trong chương 2 sẽ được sử dụng như là nền tảng cho các kiến nghị và giải pháp dưới đây: 2.1. Đối với chính phủ: 2.1.1. Tăng cƣờng hơn nữa đàm phán song phƣơng, đa phƣơng với Liên minh Châu Âu (EU): Tăng cường đàm phán song phương, đa phương với Liên minh Châu Âu (EU) nhằm đạt được những cơ hội thiết lập quan hệ buôn bán hiệu quả hơn cũng như đạt được những thỏa thuận có lợi hơn để vượt rào thành công cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, đẩy mạnh xuất khẩu. Trước tình trạng hàng nông sản Việt Nam đang ngày một gặp khó khăn hơn với các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật của các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU), Việt Nam cần nhanh chóng đi tới ký kết các Hiệp định song phương và đa phương. Các hiệp định song phương và đa phương này sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các điều kiện ưu đãi mậu dịch cho sản phẩm nông nghiệp. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần đẩy mạnh đàm phán với EU để ký kết các thỏa thuận chung về vệ sinh dịch tễ, các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng nông sản, cũng như các thủ tục hải quan và các giấy chứng nhận kiểm dịch

53

cần có, để phù hợp với yêu cầu của thị trường chung EU và cân đối so với sự phát triển của Việt Nam. Ngoài mục tiêu ký kết các Hiệp định và thỏa thuận chung giữa Việt Nam và EU, Bộ Công Thương cũng nên tổ chức các chuyến đi thăm khảo sát thị trường cho các quan chức cấp cao cũng như đại diện của các doanh nghiệp xuất khẩu mạnh của Việt Nam. Trước tiên, là để nâng cao mối quan hệ ngoại giao, hợp tác cùng phát triển giữa Việt Nam và các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu; học tập những ứng dụng công nghệ trong sản xuất và chế biến nông sản phù hợp nhu cầu của người tiêu dùng châu Âu; sau là để giúp các cán bộ cao cấp và các doanh nghiệp có sự nhận thức đúng đắn về thực trạng rào cản kỹ thuật mà mặt hàng nông sản Việt Nam đang gặp phải tại thị trường EU và đưa ra những kế hoạch ứng phó và phát triển phù hợp. 2.1.2. Hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhãn mác sinh thái để đối phó và vƣợt qua các rào cản môt trƣờng: Nhãn mác là nhân tố mà thị trường EU rất coi trọng và đang dần đặt ra những qui định về việc yêu cầu các mặt hàng nhập khẩu cần có các nhãn mác cụ thể. Giải quyết các vấn đề về nhãn mác sinh thái không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiết kiệm thời gian, chi phí mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường EU của mặt hàng nông sản. Hiện nay, do sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt, các yếu tố môi trường đã và đang có nguy cơ bị lợi dụng để làm các rào cản kỹ thuật trong TMQT. Nhiều thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, trong đó có EU đã yêu cầu có nhãn sinh thái đối với hàng nhập khẩu. Trên thế giới, hiện nay đang có 30 chương trình nhãn sinh thái khác nhau đang gây phiền toái và đã thực sự trở thành các rào cản kỹ thuật cho thương mại, Chẳng hạn như nhãn hiệu ngư nghiệp bền vững… Vì vậy, Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế đã có sự quan tâm đáng kể đối với các ý tưởng về một hình thức nhãn sinh thái mang tính chất quốc tế. Hộp 3.1: Ban kỹ thuật ISO/TC 207 về quản lý môi trường của ISO đã thiết lập Phân ban kỹ thuật ISO/TC 207/SC3 để xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế về vấn đề này (hiện có 46 nước là thành viên của Phân ban kỹ thuật này, trong đó có Việt

54

Nam). Một số định hướng chính trong việc xây dựng các tiêu chuẩn về nhãn môi trường đã được sdd với các tiêu chuẩn sau: ISO 14020: Nhãn môi trường và sự công bố các nguyên tắc chung (thông qua và ban hành năm 1998) ISO/DIS 14021: Nhãn môi trường và sự công bố Nhãn môi trường kiểu II: Các giải pháp môi trường tự công bố (dự thảo). Giải pháp về môi trường do các nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán lẻ hoặc bất cứ ai khác đều được lợi mà không cần sự tham gia của cơ quan chứng nhận bên thứ ba độc lập. Đây là sự tự công bố về mặt môi trường mang tính thông tin của DN (ví dụ về khả năng tái chế, tính không hủy hoại môi trường sinh thái), đôi khi có thể được công bố dưới hình thức một chương trình hiệu chuẩn. ISO/CD 140204: Nhãn môi trường và sự công bố Nhãn môi trường kiểu I: Các nguyên tắc hướng dẫn và quy trình thủ tục (dự thảo). Chương trình thực hành bên thứ ba dựa trên cơ sở đã chuẩn cứ một cách tự nguyện nhàm cấp nahnx mỗi trường có yêu cầu về sự ưu tiên đối với môit rường tổng thể của sản phẩm trong một kiểu loại sản phảm cụ thể dựa trên chu trình sôngs của snar phẩm . Theo đánh giá cảu nhiêuc huyên gia, ISO 14024 thể hiện nhiều sự hạn chế đối với chương trình nhãn sinh thái vì nó chưa phù hợp với điều kiện của các nước đang phát triển khi phải chi phí lớn và thường xuyên cho việc thử nghiệm và kiểm tra. Mặc dù quy định trên còn đang tiếp tục thảo luận nhưng Việt Nam đã ủng hộ sáng kiến về nhãn mác môi trường kiểu II và cần triển khai dự án tiến hành điều tra, nghiên cứu cơ sở khoa học kỹ thuật và thực tiễn cho việc hình thành cơ chế cấp nhãn sinh thái ở Việt Nam. 2.1.3. Nâng cao hiệu quả của hệ thống đại diện thƣơng mại. đẩy mạnh hoạt động của các tham tán tại Liên minh Châu Âu (EU): Các thương vụ chính là đơn vị tiên phong nhằm nâng cao khả năng cảnh báo sớm các rào cản kỹ thuật tại các thị trường cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản và các cơ quan quản lý có liên quan.

55

Hiện nay, Việt Nam đã có 55 thương vụ tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và 7 chi nhánh thương vụ tại Tổng lãnh sự quán tại các khu vực thị trường lớn. Hệ thống các thương vụ đã góp phần tạo môi trường pháp lý thuận lợi đẻ củng cố, phát triển, mở rộng thị trường nước ngoài, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thông tin, điều tra thị trường, tìm đối tác kinh doanh, tham gia công tác xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường và tăng xuất khẩu các mặt hàng. Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác nghiên cứu thị trường của các thương vụ còn thiếu và yếu, các tham tán thương mại chưa dự báo được tình hình, dẫn đến tình trạng ứng phó bị đông, chạy theo biến động cảu thị trường thế giới. Những phân tich strong chương hai cho thấy hệ thống các thương vụ còn có vài trò chưa thật sự nổi bật trong nỗ lực hỗ trọ các sdoanh nghiệp. trong thời gian tới, các thương vụ cần phải được tăng cường năng lực để trở thành trung tâm thông tin của quốc gia tại các nước sở tại làm cầu nối tin cậy cho các thương nhân cac nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các cán bộ thương vụ phải được bồi dưỡng nghiệp vụ để có thể nắm bắt nhu của xuất khẩu thông tin cảnh báo đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có nguy cơ bị vấp phải các rào cản kỹ thuật tại các thị trường. Đặc biệt, với ưu thế nắm rõ hệ thống pháp luật thương mại của nước sở tại, các thương vụ cần sớm phát hiện và hỗ trợ các doanh nghiệp từ cung cấp thông tin tới bố trí các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc nhằm xử lý kịp thời các trở ngại, rào cản thị trường. Mặt khác, các tham tán thương mại cần tập trụng nghiên cứu tình hình chính trị, thị trường, hàng hóa, chính sách và biện pháp quản lý xuất nhập khẩu cảu các nước nhằm tư vấn kiên nghị các giải pháp mang tính định hướng về chính sách đối với từng thị trường. 2.1.4. Nhanh chóng tham gia các Hiệp hội đối với từng mặt hàng nông sản cụ thể: Việt Nam cũng cần nhanh chóng đẩy mạnh hơn nữa quá trình tham gia các Hiệp Hội của Thế giới và khu vực với từng mặt hàng nông sản như đã từng tham gia Hiệp hội Cà phê, Hiệp hội chè thế giới, Hiệp hội các nước xuất khẩu gạo,… Đây là việc làm hết sức cần thiết bởi: Thứ nhất, các hiệp hội là tập hợp của các thành viên có cùng quyền lợi và có nhiều điểm chung về thế mạnh xuất khẩu, do đó,

56

phương hướng và hành động của mỗi tổ chức sẽ vì quyền lợi của các quốc gia thành viên; Thứ hai, việc tham gia vào một tổ chức các quốc gia có cùng thế mạnh như mình có thể giúp Việt Nam học tập kinh nghiệm từ bạn bè quốc tế, để khắc phục những yếu kém và phát triển thế mạnh, đây là một cơ hội phát triển cho nông nghiệp Việt Nam nói chung chứ không riêng gì về xuất khẩu nông sản; Thứ ba, khi gặp phải một vấn đề về việc xuất khẩu vào thị trường EU nói riêng và ra thế giới nói chung do sự bảo hộ của các nước nhập khẩu dưới hình thức rào cản kỹ thuật hay dưới các hình thức bảo hộ khác, sự phản ứng lại của Hiệp hội các quốc gia sẽ có trọng lượng hơn so với tiếng nói của chỉ một quốc gia. Hơn thế nữa, việc tham gia vào các Hiệp hội xuất khẩu nông sản có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam có chiến lược xúc tiến thương mại hiệu quả hơn khi tăng cường hoạt động marketing thông qua các Hiệp hội này, nhằm tuyên truyền quảng cáo bằng nhiều hình thức phong phú, giới thiệu sản phẩm một cách tỉ mỉ, chu đáo tới các khách hàng, tăng uy tín sản phẩm. Đồng thời qua đó, các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để nắm rõ và xử lý thông tin về nhu cầu, giá cả thị trường, từ đó, có định hướng tốt hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nông sản xuất khẩu ở trong nước. Chính vì các lí do đó, việc nhanh chóng tham gia các Hiệp hội đối với từng mặt hàng nông sản, Hiệp hội xuất khẩu các mặt hàng nông sản, đặc biệt là những mặt hàng nông sản Việt Nam đang gặp phải vấn đề về rào cản kỹ thuật tại thị trường EU như: mặt hàng rau, mật ong,…, đang ngày càng trở nên cấp thiết. 2.1.5. Hoàn thiện chính sách thuế đối với các máy móc và nguyên liệu nguồn để sản xuất và chế biến nông sản: Hoàn thiện chính sách thuế đối với các máy móc, thiết bị và nguyên liệu nguồn theo hướng hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất nông sản trong nước, từ đó tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm và cạnh tranh về giá cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản. Như đã phân tích ở chương 1, Thái Lan đã thành công trong việc cạnh tranh giá cũng như phát triển khoa học công nghệ trong sản xuất nông sản, cho ra những sản phẩm nông sản có chất lượng cao, giá thành phù hợp; đó là nhớ Chính phủ Thái

57

Lan đã có những chính sách giảm thuế đối với các mặt hàng máy móc, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất nông sản. Đây là một kinh nghiệm Việt Nam có thể học tập. Để có thể hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam vượt rào thành công tại một thị trường khó tính, yêu cầu cao về kĩ thuật như thị trường Châu Âu.việc sản xuất nông sản trong nước cần phải có sự đầu tư về khoa học kỹ thuật, trang bị máy móc hiện đại, sản xuất dựa trên tiêu chuẩn, nhu cầu của người tiêu dùng châu Âu. Một trong những giải pháp quan trọng là miễn hoặc giảm thuế đối với các công nghệ nguồn nhập khẩu từ chính thị trường châu Âu. Điều này cho phép các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với những công nghệ hiện đại phục vụ cho sản xuất nông sản xuất khẩu sang chính thị trường châu Âu, giúp đảm bảo thỏa mãn những yêu cầu có tính kĩ thuật của thị trường này. Bên cạnh đó, nhập khẩu công nghệ sẽ hạn chế tính trạng xuất siêu sang EU ( Năm 2011, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt hơn 24 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt 16,5 tỷ USD và nhập khẩu từ EU đạt 7,3 tỷ USD), điều này có thể giúp các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam giảm bớt khó khăn trong việc gặp phải các cản trở từ phía EU, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam tại thị trường EU. 2.1.6. Nâng cao nhận thức và phổ biến thông tin đến các doanh nghiệp về các rào cản kỹ thuật: Thị trường EU được biết đến như một thị trường khó tính với hệ thống rào cản kỹ thuật ngày một đa dạng và phức tạp. Có những biến tướng của rào cản kỹ thuật rất khó nhận thấy và có biện pháp ứng phó kịp thời. Chính vì vậy, để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam vượt rào thuận lợi và xuất khẩu nông sản vảo thị trường EU, Chính phủ cần có những chính sách, giải pháp hỗ trợ nâng cao nhận thức và phổ biến thông tin đến các doanh nghiệp về các rào cản kỹ thuật. Cụ thể là: Bên cạnh những cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm giới thiệu cho các doanh nghiệp về những quy định và tiêu chuẩn trong hệ thống rào cản kỹ thuật, Chính phủ cũng cần tạo điều kiện tổ chức các đoàn doanh nghiệp đi khảo sát, thực tế thị trường và tiếp xúc với các cơ quan quản lý nhập khẩu của thị trường EU, qua

58

đó giúp doanh nghiệp có được sự nhìn nhận và đánh giá thực tế về thị trường này. Trong trường hợp có sự chuẩn bị trước và có sự hỗ trợ của Nhà nước thì các chuyến đi của doanh nghiệp thường hiệu quả cao hợn. Ví dụ: nhân dịp các chuyến thăm cấp cao, các đoàn của Chính Phủ, các đoàn do các sở Thương mại tổ chức… Tạo dựng nhiều kênh thông tin tới các doanh nghiệp, ví dụ: các ấn phẩm, các trang web, các điểm (cơ quan) cung cấp thông tin. Hiện nay, đã có không ít ấn phẩm và các trang web của các cơ quan hữu quan được xây dựng nhằm mục địch này (ví dụ như của Bộ Công Nghiệp, Bộ Công Thương, Phòng Thương Mai và Công nghiệp Việt Nam…). Tuy nhiên, nội dung các thông tin về thị trường còn chưa đầy đủ và chưa được cập nhật thường xuyên (đặc biệt là thông tin trên các trang web) Chính Phủ cũng có thể đứng ra xây dựng cơ chế phối hợp trao đổi thông tin, ý kiến giữa cộng đồng doanh nhiệp với các cơ quan quản lý nhà nước. Ngoài những quy định ủa các thị trường EU thì các doanh nghiệp cũng phải nắm bắt được các chính sách, quy định mới của Việt nam. Việc thường xuyên trao đổi thông tin sẽ giúp doanh nghiệp có được tiếng nói chung với các cơ quan quản lý nhà nước, phối hợp hành động một cách đồng bộ, có hiệu quả. Trên cơ sở thông tin có được, các doanh nghiệp có thể điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanhh một mặt đảm bảo phù hợp với yêu cầu và thị hiếu tiêu dùng tại thị trường EU, mặt khác đáp ứng đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật chất lượng khắt khe do thị trường này quy định. Ví dụ như, ở nhiều thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, điển hình là EU, các Chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội thường viện cớ rằng hàng hóa Việt Nam không đáp ứng tiêu chuẩn SA 8000 để cản trở xuất khẩu hàng hóa Việt Nam. Khi đó, một mặt Nhà nước Việt Nam cần phải lồng ghép kiến thức về SA 8000 vào chương trình phổ biến kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế để nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp về triển khai thực hiện và đăng ký để được cấp chứng chỉ SA8000, mặt khác Nhà nước cũng cần hỗ trợ về tư vấn pháp luật và điều kiện vật chất để các doanh nghiệp có thể vượt qua rào cản này một cách tốt nhất như những hỗ trợ cụ thể để giải quyết các vấn đề đời sống xã hội của người lao

59

động như nhà ở, bệnh viện, trường học và các dịch vụ phúc lợi xã hội khác, những vấn đề vượt ra khỏi khả năng của doanh nghiệp. 2.1.7. Đầu tƣ và phát triển cơ sở hạ tầng, kết hợp nâng cao năng lực pháp lý trong Thƣơng mại quốc tế của Việt Nam: Đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn lực con người là sự đầu tư mang tính chất dài hạn, là sự hỗ trợ cơ bản của Nhà nước đối với Doanh nghiệp, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thiểu chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thế giới nói chung và vượt rào cản kỹ thuật tại thị trường EU nói riêng. Chính phủ cần có sự đầu tư quy hoạch đồng bộ và rõ ràng, tạo những vùng sản xuất hàng hóa tập trung và vùng cung cấp nguyên liệu có chất lượng cao phục vụ chế biến và sản xuất. Việc làm này cho phép các doanh nghiệp khai thác một cách hợp lý lợi thế so sánh trong nông nghiệp, tạo nguồn hàng xuất khẩu tập trung có qui mô lớn, và chất lượng tốt hơn, khắc phục tính phân tán, manh mún còn tồn tại trong bố trí sản xuất nông nghiệp tại một số khu vực ở nước ta. Việc quy hoạch đồng bộ có nghĩa là đầu tư quy hoạch trên cả 7 khâu liên hoàn: Sản xuất, Thu hoạch, Chế biến, Đóng gói, Bảo quản, Vận chuyển, Cảng khẩu. Ngoài ra, Chính phủ cũng cần có sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nhằm giải quyết vấn đề môi trường, để việc sản xuất mang tính chất dài hạn và bền vững. Bên cạnh việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, việc đào tạo nguồn nhân lực cũng cần có sự quan tâm đúng mực. Chính phủ cần đưa ra các chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực trong phát triển nông nghiệp. Quan trọng hơn, để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam trong việc vượt rào cản kỹ thuật tại một thị trường với các rào cản phức tạp như EU, Chính phủ Việt Nam cần có chính sách chọn lựa và hỗ trợ một số luật sư Việt Nam, là người có phẩm chất chính trị tốt, có năng lực chuyên môn và trình độ ngoại ngữ để gửi đi đào tạo ở nước ngoài, mà có thể là ở ngay các nước trong khối Liên minh châu Âu, nhằm bổ sung thêm các trọng tại kinh tế, thương mại có đẳng cấp quốc tế, để tham gia có hiệu quả vào việc giải quyết các tranh chấp trong thương mại quốc tế.

60

2.1.8. Đa dạng hóa các hính thức đầu tư, thu hút nguồn vốn cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản xuất khẩu và sử dụng vốn có hiệu quả: Như đã phân tích ở trên, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn lực con người là một vấn đề cần thiết để hỗ trợ các doanh nghiệp. Tuy nhiên, một trong những vấn đề nan giải đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng là làm thế nào để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng trong thời gian ngắn nhất với nguồn lực hạn chế. Đa dạng hóa các hình thức đầu tư từ vốn vay ODA tới BOT và nguồn khác là một trong những hướng giải quyết. Nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp là rất lớn, trong khi khả năng còn quá nhỏ, do vậy, việc Chính phủ đứng ra hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thu hút vốn cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản xuất khẩu, là việc làm cần thiết. Chính phủ có thể tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nông sản xuất khẩu nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, tạo bước đột phá về chất lượng, mẫu mã, sản phẩm và giảm chi phí; đó có thể là các chính sách về miễn, giảm thuế trong thời gian đầu, hỗ trợ về tín dụng và lãi suất, hay giảm thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị chế biến nông sản như đã phân tích. Giúp đỡ các doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư là một mặt, mặt khác, Chính phủ cũng cần có kế hoạch quản lý nguồn vốn đầu tư đó sao cho hiệu quả. Cụ thể là: Chính phủ cần ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho các loại cây trông vật nuôi vốn là các mặt hàng xuất khẩu chiến lược sang thị trường EU như: cà phê, hạt điều, cao su,… các sản phẩm nhiệt đới,…hay tập trung nguồn vốn vào các khâu có tính quyết định như: thủy lợi, giao thông, điện, cơ sở chế biến,… Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có thể bố trí thành lập thêm các quĩ hỗ trợ sản xuất, và tiêu thụ hàng nông sản xuất khẩu như quĩ bảo hiểm, quĩ hỗ trợ phát triển,… 2.2. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam: Nhận sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, để vượt rào và tiếp cận thành công thị trường EU, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam cũng cần chủ động trong việc tìm hiểu về các loại rào cản kỹ thuật, và có chiến lược chuẩn bị và thực hiện vượt rào phù hợp.

61

2.2.1. Nhóm giải pháp về tổ chức xuất khẩu nông sản: 2.2.1.1. Lựa chọn thị trường mục tiêu phù hợp: Liên minh Châu Âu (EU) hiện nay gồm 20 nước cộng hòa, 6 vương quốc và 1 công quốc. Số liệu này cho thấy đây là một thị trường rất đa dạng, và như đã phân tích ở chương 1, dù các quốc gia trong khối Liên minh Châu Âu (EU) đều tuân theo những qui định và tiêu chuẩn kĩ thuật chung nhưng mỗi quốc gia lại có cơ cấu kinh doanh, tập quán kinh doanh khác nhau, nên cũng có những bộ tiêu chuẩn, qui định kỹ thuật riêng. Chính vì vây, khi tiếp cận thị trường EU, nếu chỉ xác định thị trường EU là thị trường mục tiêu thì chưa cụ thể, để tránh việc bỡ ngỡ khi xuất khẩu nông sản vào từng quốc gia thuộc thị trường này, các doanh nghiệp Việt Nam cần có sự cân nhắc kĩ lưỡng, loại bỏ và lựa chọn thị trường mục tiêu chính xác. Các doanh nghiệp ban đầu có thể tổ chức nghiên cứu tại văn phòng, đặc biệt là nghiên cứu qua internet, để có những đánh giá sơ bộ một cách nhanh chóng và tiết kiệm. Sau đó, để đảm bảo tính chính xác, các doanh nghiệp có thể nghiên cứu thực địa thông qua các công ty tư vấn độc lập, thông qua các buổi hội thảo, triển lãm giới thiệu sản phẩm như đã đề cập ở phần trước hoặc bằng cách tham gia các chuyến thăm khảo sát thị trường được tổ chức hay hỗ trợ từ phía Nhà nước… Việc lựa chọn thị trường mục tiêu phù hợp là bước đầu tiên, rất quan trọng, cần phải được tiến hành cẩn thận và suy xét thấu đáo bởi không phải cứ thị trường lớn nhất và giàu có nhất thì sẽ phù hợp. Có thể xem xét rằng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam, với đặc tính thường nhỏ, lẻ và có tính thời vụ nên có thể khó đáp ứng nhu cầu cao của một số quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu (EU), trong khi đó, một số quốc gia nhỏ hơn, những nhà nhập khẩu nhỏ, thường mềm dẻo hơn trong các quy định, có thể sẽ là sự lựa chọn tốt hơn. 2.2.1.2. Lựa chọn phương thức và lập kế hoạch chi tiết xuất khẩu nông sản: Sau khi có sự lựa chọn thị trường mục tiêu và tìm hiểu về thị trường nhập khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần có sự đầu tư nghiên cứu, lựa chọn phương thức thích hợp để đưa hàng nông sản tiếp cận thị trường EU, cũng như lập kế hoạch tiếp thị cho hàng nông sản xuất khẩu một cách có hệ thống. Thị trường EU

62

rộng lớn với nhu cầu đa dạng, trong khi, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam cũng đa dạng về qui mô và loại hình doanh nghiệp. Do đó, để vượt rào và thâm nhập tốt vào thị trường EU, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam cần có hướng đi phù hợp. Cụ thể như là: Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam với qui mô vừa và nhỏ, có tiềm lực kinh tế có hạn, có thể liên kết với cộng đồng ngoại kiều tại EU, từ đó, xuất khẩu vào đây những mặt hàng mà Cộng đồng này có nhu cầu lớn. Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam với qui mô và tiềm lực kinh tế lớn hơn, có thể xem xét giải pháp liên doanh với các công ty trên thị trường EU, đặc biệt là trở thành công ty con của các công ty này. Khi liên doanh, các doanh nghiệp của các nước đang phát triển sẽ tiếp cận được những công nghệ hiện đại, đặc biêt, trong chế biến nông sản xuất khẩu, thì công nghệ hết sức quan trọng. Công nghệ hiệu quả đem lại cho sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm cũng như bảo vệ môi trường. Nhờ đó, sản phẩm sẽ tăng hàm lượng chế biến, đồng thời thỏa mãn các qui định của EU. Mặt khác, khi liên doanh, phía EU sẽ đồng trách nhiệm trong việc tiêu thụ sản phẩm, các công ty này nắm rõ về nhu cầu cũng như thị hiếu của người tiêu dùng EU, do đó, sẽ có những giải pháp hiệu quả để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU. Bằng cách này, hàng nông sản chế biến của Việt Nam có thể trực tiếp thâm nhập vào thị trường EU mà tránh được những rào cản kỹ thuật khắt khe cũng như không phải lo lắng về hướng tiếp cận thị trường của sản phẩm. Hơn thế nữa, từ thực tiễn kinh doanh quốc tế cho thấy, nếu có yếu tố nước ngoài thì các phán quyết của đối tác thường có lợi cho bên Việt Nam hơn trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp. Trên cơ sở lựa chọn và nghiên cứu thị trường mục tiêu, ngay sau khi có một hướng đi cụ thể, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam cần đưa ra chiến lược xuất khẩu một cách cụ thể và chi tiết, lập nên kế hoạch cụ thể xuất cho ai, khi nào, đi đâu và với cách thức như thế nào. Bởi lẽ, đối với một mặt hàng có nhiều đặc tính đặc biệt như mặt hàng nông sản (như đã phân tích ở chương 1), việc nhanh chóng đưa ra chiến lược và kế hoạch hợp lí là rất quan trọng. 2.2.2. Nhóm giải pháp về tăng cƣờng năng lực của doanh nghiệp:

63

2.2.2.1. Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển thị trường: Để có thể chủ động đối phó và vượt qua các rào cản kỹ thuật tại thị trường EU, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu thị trường nhằm hiểu rõ hơn về thị trường nước ngoài và để cho các nhà nhập khẩu hiểu rõ hơn về hàng hóa của doanh nghiệp mình. Bất cứ một công việc kinh doanh nào nếu muốn thành công đều phải bắt đầu từ nghiên cứu thị trường, dù là những việc kinh doanh nhỏ, do đó, đối với việc xuất khẩu một mặt hàng chủ lực như nông sản sang thị trường lớn và phức tạp như EU, việc làm này càng cần được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đầu tiên. Những báo cáo chi tiết từ nghiên cứu thị trường càng chính xác thì doanh nghiệp càng nắm rõ được về thị trường mình chuẩn bị xuất khẩu, có những ràng buộc, yêu cầu như thề nào về qui định và tiêu chuẩn kĩ thuật, từ đó, có thể đưa ra được những hướng phát triển phù hợp cho sản phẩm cũng như hướng phát triển chung của doanh nghiệp. Tuy nhiên, muốn nâng cao năng lực tiếp cận thị trường cần phải đầu tư vốn và đội ngũ nhân viên nghiên cứu thị trường. Đây là điểm yếu mà các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải giải quyết nếu muốn thành công trong việc tìm hiểu các rào cản kỹ thuật và tiếp cận thị trường EU. Ngay từ bây giờ các doanh nghiệp phải bắt tay đầu tư xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp mình một cách hợp lý và chuyên nghiệp, có bài bản. Chứ không thể thực hiện cách làm ăn tự phát, tự tiện và nhất thời. Đặc biệt, trong chiến lược nghiên cứu và tiếp cận thị trường tại một thị trường rộng lớn như EU, khi mà EU đang ngày càng yêu cầu khắt khe về xuất xứ, tên gọi có bảo hộ với WTO; và sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam lại có tính chất tương đồng với một số quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan, thì vấn đề danh tính của sản phẩm là hết sức cần thiết, nhất thiết doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam phải quan tâm đến xây dựng và phát triển thương hiệu của mình. Doanh nghiệp phải coi thương hiệu là công cụ bảo vệ lợi ích của mình. Doanh nghiệp phải sáng tạo trong làm nhãn hiệu và ý thức về bảo hộ nhãn hiệu của mình và của các doanh nghiệp khác. Phải coi nhãn hiệu là tài sản của doanh nghiệp, phải đăng ký sở

64

hữu công nghiệp mặc dù có tốn kém chi phí. Kiên quyết không copy hoặc nhái nhãn hiệu của người khác. Bên cạnh việc đăng ký, doanh nghiệp cũng cần phải chú trọng đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu, có kế hoạch cụ thể để xây dựng và khẳng định thương hiệu sản phẩm. Xây dựng và phát triển thương hiệu là bước quan trọng trong việc phát triển thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sau khi vượt rào thành công cần để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU. Hơn thế nữa, mặc dù, như đã phân tích ở phần chính sách đối với chính phủ, các doanh nghiệp có thể được hỗ trợ thông tin về các rào cản kỹ thuật hay những biến tướng mới của chúng từ phía các tham tán thương mại, từ phía Nhà nước. Nhưng bản thân các doanh nghiệp cũng phải chủ động tích cực trong việc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu các rào cản kỹ thuật mà mặt hàng nông sản của mình có thể gặp phải tại thị trường EU thông qua việc mở các phòng thông tin kinh tế và thị trường, có nhiệm vụ thường xuyên thu thập xử lý và cung cấp thông tin cho lãnh đạo doanh nghiệp, để có những quyết định kịp thời trước những thay đổi ngày một nhiều của hệ thống rào cản kỹ thuật tại thị trường này. 2.2.2.2. Tăng cường năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm thông qua bộ tiêu chuẩn quốc tế: Nông sản là một mặt hàng gặp phải nhiều rào cản về kỹ thuật tại thị trường EU, mà việc quyết định nông sản đạt được những tiêu chuẩn, quy định nào hoàn toàn phụ thuộc vào nước nhập khẩu thuộc thị trường EU, do vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam cần chủ động trong việc thiết lập hệ thống tiêu chuẩn ban đầu cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp mình, để đáp ứng được yêu cầu của nước nhập khẩu. Từ việc thiết lập những yêu cầu về chất lượng hàng nông sản cần đạt được như vậy, các doanh nghiệp cần đầu tư vốn và phổ biến công nghệ sản xuất, từ đó mới có thể thu hoạch được sản phẩm đủ tiêu chuẩn. Các doanh nghiệp có tiềm lực về kinh tế có thể theo đuổi mô hình khép kín: “sản xuất – thu mua – chế biến – tiêu thụ”. Với mô hình này, các doanh nghiệp sẽ đứng trước cơ hội và thách thức, cơ hội để nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, thách thức bởi hao tốn chi phí trong ngắn hạn.

65

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam cần nhận thức rõ rằng: số lượng hàng rào kỹ thuật đang tăng lên, đặc biệt với hàng nông sản ở thị trường EU, nhiều doanh nghiệp đã mất cơ hội kinh doanh do các qui định ngày càng tăng đó. Do đó, thách thức đối với các nhà xuất khẩu nông sản của Việt Nam là phải đáp ứng được các tiêu chuẩn đó, để vượt rào và thành công trên thị trường EU. Vì vậy, để vượt qua các rào cản kỹ thuật, các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng và triển khai áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng quốc tế như: HACCP, ISO 9000, ISO 14000, SA 8000,… Các chứng nhận này cho các doanh nghiệp xuất khẩu được xem như giấy thông hành để đi vào thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn hàng hóa như EU. 2.2.2.3. Tăng cường năng lực pháp lý của doanh nghiệp: Đối với việc vượt rào để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản vào thị trường EU, các doanh nghiệp cần nắm rõ về các luật định, quy tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật. Đặc biệt, khi tham gia vào nền kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp rất khó tránh khỏi những khó khăn trong việc làm thủ tục kiểm định chất lượng sản phẩm, đăng kí chứng nhận chất lượng,… Do đó, mỗi doanh nghiệp Việt Nam cần phải có cho mình một đội ngũ nhân viên am hiểu về lĩnh vực này, nhằm nâng cao năng lực pháp lý của doanh nghiệp trong những giao dịch quốc tế. Một đội ngũ nhân viên có thể giúp doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam nâng cao năng lực pháp lý có thể cần bao gồm một nhóm các nhân viên có nhiều năm kinh nghiệm, các nhân viên trẻ, có nhiệt huyết, đam mê tìm hiểu, các nhân viên có chuyên môn và am hiểu về các mặt hàng nông sản,… Doanh nghiệp nên có chính sách đào tạo cho nhân viên của mình về các nghiệp vụ kể trên, tổ chức đưa cán bộ ra nước ngoài, mà cụ thể là các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU), để có thể nắm rõ được những thay đổi về hệ thống rào cản, cũng như đặc điểm thị trường EU,… Doanh nghiệp cũng có thể tranh thủ các nguồn hỗ trợ tài chính của Nhà nước và các tổ chức quốc tế cho công tác đào tạo, đồng thời chủ động bố trí kinh phí để đào tạo các chuyên gia, nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý doanh nghiệp có sự

66

am hiểu tốt về rào cản kỹ thuật tại thị trường EU nói riêng và hệ thống rào cản kỹ thuật quốc tế nói chung. 2.2.3. Nhóm giải pháp về tăng cƣờng sự phối hợp với Nhà nƣớc: Các doanh nghiệp cần chủ động tham gia các hoạt động của Nhà nước, hiệp hội ngành hàng nông sản. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần tích cực tham gia các diễn đàn, hội thảo do cơ quan Nhà nước tổ chức, nhằm trao đổi, đề xuất thông tin về tình hình rào cản tại thị trường EU nói riêng và các thị trường trên thế giới nói chung. Hộp 3.2: Các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể tiếp cận và tìm kiếm sự tư vấn về rào cản kỹ thuật tại các địa điểm sau: Văn phòng TBT Việt Nam: Tổng Cục tiêu chuẩn đo lường – chất lượng, Bộ KHCN, http://www.tbtvn.org Các điểm TBT trong mạng lưới TBT tại các Bộ liên quan (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Thông tin – Truyền thông, Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế.) Các điểm TBT tại cac Chi cục: Tiêu chuẩn đo lường chất lượng địa phương (64 tỉnh, thành). Từ đó, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận và tìm kiếm sự giúp đỡ từ phía các cơ quan hữu quan. Ví dụ như các doanh nghiệp cần duy trì thường xuyên hoạt động với Cục Quản lý Cạnh tranh ( Bộ Công Thương), Văn phòng TBT Việt Nam, các tham tán thương mại Việt Nam ở các nước,… để cập nhật thường xuyên tình hình chuyển động của các rào cản kỹ thuật tại thị trường EU.

67

KẾT LUẬN Thị trường EU luôn là điểm đến hấp dẫn của hàng nông sản các nước đang phát triển, không loại trừ Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam là một quốc gia có điều kiện thuận lợi để phát triển sản phẩm nông nghiệp thành mũi nhọn xuất khẩu. Tuy nhiên, theo xu hướng chung của thế giới, các loại rào cản thuế quan đang ngày một giảm dần và thay vào đó là các loại rào cản phi thuế quan mà trong đó là những rào cản kỹ thuật, loại rào cản phức tạp và ngày một đa dạng, những loại rào cản kỹ thuật này như một lá chắn bảo hộ thị trường EU, ngăn cản sự thâm nhập của nông sản Việt Nam, đe dọa đến việc xuất khẩu, mất thị trường và thậm chí ảnh hưởng đến uy tín của mặt hàng nông sản Việt Nam, nếu bị cấm tiêu thụ trong thị trường lớn này. Chính vì những lí do đó, nhóm đề tài muốn qua những tài liệu tổng hợp được, đưa ra cái nhìn tổng quan về các loại rào cản kỹ thuật tại thị trường EU, đánh giá về tác động của những loại rào cản này tới việc xuất khẩu nông sản của Việt Nam vào thị trường EU, từ đó góp phần định hướng và đưa ra những kiến nghị giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt Nam vượt rào thuận lợi. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đề tài đã đạt được những kết quả sau: Thứ nhất, đề tài đã tổng hợp và đưa ra cái nhìn tổng quan chung về các loại rào cản kỹ thuật các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam có thể gặp phải khi tiếp cận thị trường EU. Trên cơ sở kinh nghiệm của Trung Quốc và Thái Lan, rút ra bài học cho các Việt Nam. Thứ hai, đề tài đi sâu đánh giá thực trạng xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam vào thị trường EU trước thực tế tăng dần các loại rào cản kỹ thuật ngày một phức tạp tại thị trường này. Đồng thời nhóm đề tài cũng chỉ ra những giải pháp hiện tại từ phía Nhà nước và bản thân các doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp Việt Nam vượt rào, xuất khẩu nông sản vào thị trường EU. Cuối cùng, nhóm đề tài đã đưa ra một số kiến nghị và giải pháp tới Chính phủ và các doanh nghiệp nhằm hoàn thiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam vượt rào, tiếp cận thị trường EU.

68

Do tính chất hạn chế về quy mô và năng lực nghiên cứu, nhóm đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các loại rào cản kỹ thuật tại thị trường châu Âu đối với mặt hàng nông sản Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, không khỏi những hạn chế về kiến thức chuyên môn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên, nhóm đề tài mong muốn đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích góp phần vào việc nghiên cứu, tìm ra giái pháp hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam đối phó kịp thời với các rào cản kỹ thuật, vượt rào thuận lợi, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang thị trường EU.

69

TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. 1. Giáo dục Các biện pháp phi thuế đối với hàng nông sản trong TMQT, PGS.TS Giải pháp đẩy mạnh Xuất khẩu Hàng hóa của Việt Nam sang thị Hướng dẫn Doanh nghiệp về Hệ thống TMTG, Trung tâm Thương Xuất nhập khẩu hàng hóa – International Merchandis Trade Vietnam Nông nghiệp Việt Nam và Định hướng phát triển Giai đoạn 2010 – Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam, Trung tâm Thương mại Đinh Văn Thành (Chủ biên), NXB Lao Động trường Châu Âu, PGS.TS Vũ Chí Lộc, NXB Lý luận Chính trị - 2004 mại quốc tế-Ban Thư kí khối thịnh vượng chung, NXB Chính trị Quốc Gia – 2001 2006, NXB Thống kê 2008 2015, Bản tin ISG, quý IV, 2010 Quốc tế UNCTAD/WTO (ITC) và Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) Nông Lâm Sản Việt Nam Tiếp cận thị trường EU và Hoa Kí: Thực trạng – Cơ hội và Thách thức, Ts. Cao Vĩnh Hải Trung tâm Tư vấn Môi trường Tài nguyên và Giảm nghèo Nông thôn Báo cáo thường niên ngành nông nghiệp nông thôn 2010, triển vọng Báo cáo thường niên ngành nông nghiệp nông thôn 2011, triển vọng Thương mại nông sản của Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO, Viện Các biện pháp vượt rào cản Phi thuế quan trong Thương mại quốc tế 2011, Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Hà Nội 2012, Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Hà Nội chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn 2008 tiến sĩ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, TS. Đào Thị Thu Giang, Luận văn Giáo trình, sách, báo, tạp chí, luận văn, báo cáo Tài liệu tiếng Việt: Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế, TS Bùi Thị Lý (chủ biên), NXB

70

-

Hoạt động xuất nhập khẩu nông sản của Việt Nam – EU, Khóa luận Kinh nghiệm thực tiễn Xuất Khẩu nông sản của các nước Công

tốt nghiệp, phòng đọc nội sinh.Mã: LV.03835 nghiệp mới khu vực Đông Á và bài học cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, phòng đọc nội sinh. Mã: LV.04714 Báo cáo 2: Vượt qua các rào cản TBT để thúc đẩy xuất khẩu sang

Liên minh Châu Âu, MUTRAP, 07/2009.

2. -

Tài liệu tiếng Anh: Tổng quan về các rào cản kỹ thuật khi xuất khẩu nông sản sang EU, The Effects of EU’s Common Agricultural Policy on Thailand’s

Robert.D và Deremer.K -

Exports to Europe , Supansa Kajavong Agriculture in China and Brazil: Challenges and Opportunities, Mario

Queiroz de Monteiro Jales & Marcos Sawaya Jank &Shunli Yao & ColinA.Carter.

II. 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12.

Website: http://www.wto.org http://trungtamwto.vn/ www.vneconomy.vn http://www.import40.ru/ http://wto.nciec.gov.vn/ http://www.fao.org/ www.moit.gov.vn www.agroviet.gov.vn http://tamnhin.net www.viettrade.gov.vn www.vnep.org.vn http://www.trademap.org/Bilateral_TS.aspx

http://www.tinkinhte.com/n%C3%B4ng%20s%E1%BA%A3n/nd5-

71

search.2/http://www.mpi.gov.vn/portal/page/portal/bkhdt/16424/16903/126406?p_p age_id=412469&p_cateid=353565&article_details=1&item_id=2116790http://rauh oaquavietnam.vn/default.aspx?tabID=5&ID=31&LangID=1 13. http://ec.europa.eu/trade/creating-opportunities/trade-topics/european-

competitiveness/non-tariff-barriers/#_acaas
14.

http://en.infotv.vn/xuat-nhap-khau/thi-truong-xnk/50387-rao-can-kyQuy định của Ủy ban EC số 1221/2008 ngày 05/12/2008: http://eurChỉ thị của Nghị viện Hội đồng châu Âu số 94/62/EC ngày

thuat-cua-eu-voi-xuat-khau-cua-viet-nam 15.

ex.europa.eu/LexUriServ/LexUriServ.do?uri=OJ:L:2008:336:0001:0080:en:PDF 16.

20/12/1994: http://eurlex.europa.eu/LexUriServ/LexUriServ.do?uri=CONSLEG:1994L0062:20050405:E N:PDF

i

PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1: Danh sách các sản phẩm đƣợc coi là nông sản của EU STT 1 Động vật sống Thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ Sản phẩm từ sũa Động vật sống Thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ Sữa và các sản phẩm từ sữa, trứng chim và trứng gia cẩm; 2 mật ong tự nhiên; sản phẩm ăn được gốc động vật, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác… Các sản phẩm có nguồn gốc động vật 3 Các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật khác (không bao gồm các sản phẩm từ cá trong chương này) Cây sống và các loại cây trồng khác 4 Cây sống và các loại cây trồng khác, củ, rễ và các loại tương tự, cành hoa rời và các loại cành lá trang trí,… 5 Rau, rễ và củ, thân củ có thể ăn được Quả và quả hạch có thể ăn được 6 Rau và một số loại củ, thân củ, rễ ăn được… Quả và quả hạch ăn được; vỏ quả thuộc chi cam quýt hoặc các loại dưa… 7 8 9 Cà phê, chè, phụ gia và các loại gia vị Cà phê, chè, phụ gia và các loại gia vị… Ngũ cốc Các sản phẩm xay sát Ngũ cốc Các sản phẩm xay xát, malt, inulin, gluten lúa mì

ii

Hạt và quả có dầu 10

Hạt và quả có dầu, các loại hạt và quả khác hoặc cây dược liệu, rơm, rạ, và cây làm thức ăn chăn nuôi…

Nhựa cánh kiến đỏ, gốm, nhựa cây, 11 các chất nhựa

Nhựa cánh kiến đỏ, gốm, nhựa cây, các chất nhựa và các chất chiết suất từ thực vật khác

Các loại rau khác 12

Nguyên liệu trồng từ rau, các loại rau khác chưa được phân loại hoặc chưa bao gồm trong đây.

Mỡ và dầu động thực vật hoặc thực vật 13

Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật và các sản phẩm tách từ chúng, mỡ ăn được đã được chế biến, các loại sáp động vật và thực vật…

Các chế phẩm từ thịt 14 Đường và các loại kẹo đường… Ca cao và các chế phẩm từ ca cao… Chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột 17

Các chế phẩm từ thịt (không bao gồm các sản phẩm từ cá trong các chương này) Đường và các loại kẹo đường… Ca cao và các chế phẩm từ ca cao Chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột hoặc sữa (không bao gồm các sản phẩm từ cá trong chương này)

15

16

18

Các chế phẩm từ rau, hoa quả, quả hạch và thực vật

Các chế phẩm từ rau, hoa quả, quả hạch và các phần khác của

iii

cây. 19 20 Các phụ gia có thể ăn được hỗn tạp Đồ uống, rượu mạnh, giấm Phần còn lại và phần bỏ đi từ ngành 21 công nghiệp thực phẩm Các phụ gia có thể ăn được hốn tạp Đồ uống, rượu mạnh và giấm Phần còn lại và phần bỏ đi từ ngành công nghiệp thực phẩm, cỏ khô cho động vật đã có thể ăn được. 22 Thuốc lá và các sản phẩm tương tự Thuốc là và các sản phẩm thay thế thuốc lá được sản xuất Các sản phẩm khác không cho trong các chương từ 1-23 23 Các sản phẩm theo WTO khác không cho trong các chương từ 1-23: mannitol, sorbitol, tinh dầu, anbuminoit, tinh bột và hồ đã biến đổi, hồ, da, lông,…

iv

PHỤ LỤC 2: Chất phụ gia trong thực phẩm  Đối với phụ gia thực phẩm là phẩm màu: Phẩm màu được thêm vào thực phảm để giữ ổn định màu của thực phẩm khi bị sự tác động của quá trình chế biến, lưu kho, đóng gói và phân phối. Đồng thời nó cũng mang lại một bề ngoài hấp dẫn. Chỉ được dùng các chất màu đã quy định trong chỉ thị 94/36/EC để làm phụ gia trong thực phẩm: STT 1 Tên chất màu Riboflavin và riboflavin-5photphat 2 Phức đồng của clophyl và clophylin 3 4 5 6 7 8 Sulphit ammonia caramen Củ cải đường đỏ, betamin Chất caramen Cac bon thực vật Antoxian TiO2 Không được cho thêm phụ gia vào các thực phẩm sau (trừ trường hợp đặc biệt): STT 1 Tên thực phẩm Thực phẩm chưa chế biến Sữa, pho mát tươi hay tiệt trùng Dầu và mỡ có nguồn gốc động vật hay thực vật 4 Bột mì và các sản phẩm từ bột Mì ống và gnocchi 18 Bánh mì và các sản phẩm tương tự 5 19 Thức ăn cho trẻ em STT 15 Tên thực phẩm Nước uống đóng chai và đóng thùng 2 16 Sữa được bảo quả như chỉ thị 76/118/EEC 3 17 Trứng và các sản phẩm từ trứng 11 12 13 14 15 Tinh dầu ớt, capxaixin, capsorubin Ion oxit và hydroxit Sulphit caramen Carotin Canxi cacbonat 10 Amomia caramen STT 9 Tên chất màu Clophyl và clophylin

v

6

Đường, bao gồm cả đường monosaccarit và đisaccarit

20

Bột khoai tây và đóng hộp, cà chua đóng hộp Thịt gia cầm, cá, động vật thân mềm, động vật có vỏ Cà phê rang, chè, rau diếp xoăn hay chất chiết từ các loại đó.

7

Trái cây, rau (bao gồm khoai tây) và nấm sấy khô, đóng hộp, đã qua chế biến

21

8

Sản phẩm coca và thành phần socola trong sản phẩm socola Đường malt và các sản phẩm của nó Bơ được làm từ sữa cừu và sữa dê

22

9

23

Muối, các sản phẩm thay thế muối, gia vị, gia vị hỗn hợp

10

24

Sữa chocolate Bơ Súp cà chua Mứt Mật ong

11 12 13 14

Sữa lên men Kem, bột kem Nước hoa quả Giấm 

25 26 27 28

Đối với phụ gia thực phẩm là chất làm ngọt:

Thực phẩn có chất làm ngọt thì trên bao bì phải ghi tên chất làm ngọt đã sử dụng hoặc chất làm ngọt đó phải có thành phần từ những thành tố làm ngọt ghi trên bao bì. Việc dán nhãn sản phẩm có chất làm ngọt phải ghi khuyến cáo:”sử dụng nhiều sẽ gây bệnh đường ruột” và phải ghi rõ chất đó có nguồn gốc từ đâu.  Đối với phụ gia thực phẩm là hương liệu: Hương liệu được sử dụng trong thực phẩm làm cho thực phẩm thơm hơn và ngon hơn. Hương liệu là nguồn bổ sung vào thực phẩm. Hương liệu được chế biến từ các nguồn khác nhau và được chia thành 2 loại: loại được coi là thực phẩm và không coi là thực phẩm. Cụ thể là: - Hương liệu từ thực phẩm hay thảo mộc, gia vị được coi là thực phẩm. - Hương liệu từ rau, nguyên liệu thô từ động vật thì không được coi là thực phẩm

vi

- Các hợp chất làm hương liệu thu được từ các quá trình chế biến vật lý hợp lý hay quá trình chế biến từ rau quả, nguyên liệu thô từ động vật có sử dụng enzim hay vi sinh vật được coi là thực phẩm - Các hợp chất hóa học làm hương liệu được chế biến từ quá trình tổng hợp hóa học và tách hóa học giống các hương liệu tự nhien có trong thực phẩm hay thảo mộc, gia vị được coi là thực phẩm - Các hợp chất hóa học làm hương liệu được chế biến từ quá trình tổng hợp hóa học hay tách hóa học giống với các hương liệu có trong rau quả, nguyên liệu thô từ động vật không coi là thực phảm Hương liệu dùng làm phụ gia thực phẩm phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Hương liệu không được đưa ra thị trường để bán cho người tiêu dùng cuối cùng nếu: (1) tên hay tên kinh doanh và địa chỉ của nhà sản xuất, đóng gói, phân phối không được ghi rõ ràng, dễ đọc, không thể tẩy xóa;(2) tên “flavouring” hoặc các tên đặc biệt khác không được mô tả đầy đủ và rõ ràng, chính xác;(3) lượng các loại hương liệu trong nó không được cung cáp rõ ràng, dễ đoc và có thể tẩy xóa. - Hương liệu dùng làm phụ gia thực phẩm phải đảm bảo: không chứa bất kì một nguyên tố hay hợp chất nào có hàm lượng độc tố nguy hiêm; phải tuân theo bất cứ một tiêu chuẩn nào về độ tinh khiết, không chứa hơn 3mg/kg aseni, chì không quá 10mg/kg. catni không quá 1mg/kg, thủy ngân không quá 1mg/kg. - Lượng hương liệu và thành phần hương liệu tuân thủ bảng sau: Bảng 1: Lượng tối đa chất làm hương vị có mặt trong thực phẩm và đồ uống Chất 3,4-benzopyrene Trong thực phẩm 0.03mg/kg Trong đồ uống 0,0 mg/kg

Bảng 2: Lượng tối đa chất làm từ hương liệu hay một thành phẩn thực phẩm có tính chat làm hương liệu có trong thực phẩm Chất Trong thực phẩm ( mg/kg) Trong đồ uống (mg/kg) Trƣờng hợp đặc biệt

Axit agaric

20

20

100 mg/kg trong

vii

thức uống có cồn hay thực phẩm có chứa nấm Aloin 0.1 0.1 50mg/kg trong thức uống có cồn Beta asaron 0.1 0.1 1mg/kg trong thức uống có cồn và gia vị trong thức ăn snack Becberin 0.1 0.1 10mg/kg trong thức uống có cồn Cumarin 2 2 10mg/kg trong các loại mứt, caramen 50mg/kg trong kẹo cao su 10mg/kg trong thức uống có cồn Hypericine 0.1 0.1 10mg/kg trong thức uống có cồn 1mg/kg trong mức kẹo Axit cianua 1 1 50mg/kg trong kẹo nuga, bánh hạnh nhân và các sản phẩm thay thế khác 1mg/kg thể tích cồn trong thức uống có cồn

viii

Pulegone

25

100

250 mg/kg trong mức kẹo bạc hà và trong thức uống có hương vị bạc hà 350mg/kg trong mứt kẹo bạc hà

Quassine

5

5

10mg/kg trong mứt kẹo và kẹo thơm. 50mg/kg trong thức uống có cồn.

Safrole và iso safrole

1

1

2mg/kg trong thức uống có cồn dưới 25% và 5mg/kg trong thức uống có cồn trên 25%

Santonin

0.1

0.1

1mg/kg thức uống có cồn trên 25%

Alpha và beta thuyone

0.5

0.5

5mg/kg trong thức uống có cồn dưới 25% và 10mg/kg thức uống có cồn trên 25% 25mg/kg trong thực phẩm có cây xô.

ix

PHỤ LỤC 3: Hiệp định nông nghiệp, phụ lục 1, diện sản phẩm 1. Hiệp định này sẽ được áp dụng đối với các sản phẩm sau đây: HS chương 1 đến 24, trừ cá và các sản phẩm từ cá, cộng: HS mã sỗ HS mã sỗ HS nhóm HS các nhóm 2905.43 2905.44 33.01 35.01 đến 35.05 (mannitol) (sorbitol) (tinh dầu) (các chất anbumin, các dạng tinh bột, keo) HS mã số 3809.10 (Các chất hoàn thiện)

HS mã số HS các nhóm HS nhóm HS các nhóm HS các nhóm

3823.60 41.01 đến 41.03 43.01 50.01 đến 50.03 51.01 đến 51.03 52.01 đến 52.03

(sorbitol n.e.p) (da thú vật và da các loại) (da lông thô) (tơ thô và tơ phế liệu) (lông cừu và lông động vật)

HS các nhóm

(bông thô, bông phế liệu, chải hoặc chưa chải)

HS nhóm HS nhóm

53.01 53.02

(lanh thô) (gai dầu thô)

Các sản phẩm trên đây không giới hạn diện sản phẩm áp dụng của Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động, thực vật… 2. Các miêu tả hàng hóa trong ngoặc đơn chưa nhất thiết là đầy đủ. PHỤ LỤC 4: Trích QUYẾT ĐỊNH: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030. Điều 1: Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, với các nội dung chủ yếu sau: I. QUAN ĐIỂM QUY HOẠCH:

x

1. Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) phải theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, hiệu quả và tính bền vững của nền nông nghiệp. 2. Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp phải dựa trên cơ sở đổi mới tư duy, tiếp cận thị trường, kết hợp ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất, nước, nhân lực được đào tạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái để khai thác hiệu quả lợi thế và điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, mỗi địa phương. 3. Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn kết chặt chẽ sản suất với công nghiệp bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ; tích tụ ruộng đất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. 4. Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn với chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn, điều chỉnh dân cư, cùng với nguồn nhân lực được đào tạo, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao. 5. Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp phải có hệ thống chính sách đảm bảo huy động cao các nguồn lực xã hội, trước hết là đất đai, lao động, rừng và biển, phát huy sức mạnh hội nhập quốc tế và sự hỗ trợ của nhà nước. II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN: 1. Mục tiêu chung: Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh; áp dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, nguồn nước, lao động và nguồn vốn; nâng cao thu nhập và đời soonsgs của nông dân, ngư dân, diêm dân và người làm rừng. 2. Một số chỉ tiêu cụ thể: a) Thời kỳ 2011-2020

xi

- Cơ cấu ngành nông lâm thủy sản đến năm 2020: Nông nghiệp 64,7%, lâm nghiệp 2%, thủy sản 33,3% - Tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản bình quân từ 3,5-4%/năm. - Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản 4,3-4,7%/năm. - Độ che phủ của rừng đạt 44-45% vào năm 2020 - Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 40 tỷ USD, trong đó nông nghiệp 22 tỷ USD, lâm nghiệp 7 tỷ USD, thủy sản 11 tỷ USD. - Giá trị sản lượng trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp bình quân 70 triệu đồng. b) Tầm nhìn 2030: - Cơ cấu ngành nông lâm thủy sản đến năm 2030: Nông nghiệp 55%, lâm nghiệp 1,5%, thủy sản 43,5%. - Tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản bình quân từ 3-3,2%/năm - Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản 4-4,3%. - Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 60 tỷ USD, trong đó nông nghiệp 30 tỷ USD, lâm nghiệp 10 tỷ USD, thủy sản 20 tỷ USD. - Giá trị sản lượng trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp bình quân 100-120 triệu đồng. III. ĐỊNH HƢỚNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUÁT NÔNG NGHIỆP THEO NGÀNH HÀNG ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN NĂM 2030: 1. Quy hoạch sử dụng đất: a) Khai hoang mở thêm đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản từ năm 2011 đến năm 2020 khoảng 1,1 triệu ha; bao gồm cho trồng lúa 37 ngàn ha, cây hàng năm 60 ngàn ha, cây lâu năm 100 ngàn ha, trồng rừng 930 ngàn ha. b) Đất sản xuất nông nghiệp năm 2020 là 9,59 triệu ha, giảm 580 ngàn ha so với năm 2010; bố trí đất cây hàng năm 6,05 triệu ha, trong đó đất lúa 3,812 triệu ha, đất cây thức ăn chăn nuôi 300 ngàn ha; đất cây lâu năm 3,54 triệu ha.

xii

c) Đất lâm nghiệp đến năm 2020 là 16,2 – 16,5 triệu ha, tăng thêm 879 ngàn ha so với năm 2010; bao gồm rừng sản xuất 8,132 triệu ha, rừng phòng hộ 5,842 triệu ha, rừng đặc dụng 2,271 triệu ha. d) Đất nuôi trồng thủy sản 790 ngàn ha, tăng thêm 99,7 ngàn ha so với năm 2010; trong đó diện tích nuôi trồng ở đồng bằng song Cửu Long chiếm 70%. e) Đất sản xuất muối ổn định 14,5 ngàn ha, trong đó sản xuất muối công nghiệp 8,5 ngàn ha. 2. Cây lương thực: a) Lúa: - Bảo vệ quỹ đất lúa ổn định từ năm 2020 là 3,812 triệu ha, trong đó lúa nước 2 vụ trở lên là 3,2 triệu ha; áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến để đạt sản lượng 41-43 triệu tấn năm 2020 và 44 triệu tấn năm 2030, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu. - Chế biến lúa gạo: Đầu tư công suất chế biến công nghiệp đạt 25 triệu tấn/năm, đủ năng lực chế biến 60% tổng sản lượng thóc. Tuân thủ các quy trình công nghệ trong chuỗi sản xuất sản phẩm từ thu mua, sấy bảo quản, xay xát, dự trữ , lưu thong, đưa tỷ lệ gao thu hồi trên 68%; giảm tổn thất sau thu hoạch lúa còn 56%; cải thiện chất lượng gạo xuất khẩu: tỷ trọng gạo 5-10% tấm chiếm 70% sản lượng, tỷ lệ hạt trắng bạc không quá 4%, tỷ lệ hạt hư hỏng không quá 0,2%, hạt vàng không quá 0,2%. Đến 2015, giá trị gia tăng của gạo xuất khẩu tăng 10-15% so với hiện nay do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm. b) Ngô: Mở rộng diện tích ngô bằng tăng diện tích vụ Đông ỏ đồng bằng song Hồng, tăng diện tích trên đất một vụ lúa ở các tỉnh trung du miền núi Bắc, Tây Nguyên, duyên hải Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bô; thâm canh ngô để đáp ứng khoảng 80% nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi. c) Sắn: Ổn định diện tích sắn 450 ngàn ha vào năm 2020, sản lượng khoảng 11 triệu tấn để làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu sinh học; sử dụng đất có độ dốc dưới 15o, tầng dày trên 35cm chủ yếu ở trung dung miền núi phía Bắc, duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ để sản xuất.

xiii

3. Rau các loại: Diện tích đất quy hoạch khoảng 400 ngàn ha, đưa hệ số sử dụng đất lên 2,5-3 lần, tăng diện tích rau vụ Đông và tăng vụ trên đất khác, đảm bảo diện tích gieo trồng đạt 1,2 triệu ha, với sản lượng khoảng 20 triệu tấn,trong đó trung du miền núi phía Bắc 170 ngàn ha, đồng bằng song Hồng 270 ngàn ha, Bắc Trung Bộ 120 ngàn ha, Nam Trung Bộ 80 ngàn ha, Tây Nguyên 110 ngàn ha, Đông Nam BỘ 120 ngàn ha, đồng bằng song Cửu Long 330 ngàn ha. Sản xuất rau hướng vòa nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm, xây dựng các vùng sản xuất rau tập trung, áp dụng công nghệ cao, sản xuát theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), hữu cơ. 4. Cây đậu tương: Diện tích đất quy hoạch khoảng 100 ngàn ha, tận dụng tăng vụ trên đất lúa đển năm 2020 diện tích gieo trồng khoàng 350 ngàn ha, sản lượng 700 ngàn tấn; vùng sản xuất chính là đồng bằng song Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. 5. Cây lạc: Diện tích đất quy hoạch khoảng 150 ngàn ha và trên đất lạc – lúa để ổn định diện tịch gieo trồng khoảng 300 ngàn ha, sản lượng trên 800 ngàn tấn, vùng sản xuất chính là duyên hải Bắc Trung Bộ, trung du miền núi phía Bắc, duyên hải Nam Trung Bộ. 6. Cây mía: Diện tích quy hoạch ổn định 300 ngàn ha; trong đó vùng nguyên liệu các nhà máy 220 ngàn ha. Bố trí 4 vùng trọng điểm Bắc Trung Bộ 80 ngàn ha, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên 53 ngàn ha, Đông Nam Bộ 37 ngàn ha, đồng bằng song Cửu Long 52 ngàn ha. Tập trung thâm canh, đảm bảo có tưới, sử dụng giống có năng suất, trữ đường cao và rải vụ, đưa năng suất mía vào năm 2020 đạt khoảng 80 tấn/ha. Chế biến đường: Không xây dựng thêm nhà máy mới, tập trung mở rộng công suất các nhà máy hiện có, đầu tư chiều sâu, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất để nâng cao hiệu suất thu hồi và chất lượng sản phẩm; đầu tư thêm phần sản xuất

xiv

đường luyện để đáp ứng nhu cầu thị trường. Đến năm 2020 tổng công suất ép đạt 140000 TMN, sản lượng đạt 2 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu nội tiêu và có thể xuất khẩu. 7. Cây bông: Phát triển cây bông vải để thay thế một phần nguyên liệu bông xơ nhập khẩu; đến năm 2020 diện tích bông đạt trên 40 ngàn ha, sản lượng bông xơ đạt 50000 tấn. Phát triển cây bông vụ mưa nhờ nước trời ở các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, trung du miền núi phía Bắc. Tập trung phát triển bông có tưới bằng phương pháp tưới nhỏ giọt tại các tỉnh Tây Nguyên; bằng hệ thống giếng khoan tại các tỉnh duyên hải miền Trung; bằng hệ thống thủy lợi tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. 8. Thuốc lá: Diện tích quy hoạch ổn định 40 ngàn ha, đáp ứng 90% nguyên liệu cho các nhà máy thuốc lá hiện có. Phát triển sản xuất chủ yếu ở trung du miền núi phía Bắc, duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. 9. Cây thức ăn chăn nuôi: Diện tích đất bố trí 300 ngàn ha, tăng 260 ngàn ha so với năm 2010. Vùng sản xuất chính gắn với vùng chăn nuôi gia súc lớn là trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. 10. Cây chè: Diện tích đất bố trí ổn định lâu dài 140 ngàn ha, tăng 10 ngàn ha so với năm 2010, trong đó các tỉnh trung du miền núi phía Bắc khoảng 7 ngàn ha, Lâm Đồng 3 ngàn ha. Áp dụng quy trình sản xuất chè sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng các giống cây chè mới năng suất và chất lượng cao để trồng mới và trồng tái canh. Chế biến chè: Đầu tư mới và cải tạo nâng cáp nhà máy chè theo hướng hiện đại, đạt tổng công suat 840000 tấn búp tươi/năm; chế biến công nghiệp 70% sản lượng chè búp tươi, với sản lượng 270000 tấn chè khô. Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng: 55% chè đen và 45% chè xanh; đến 2020 giá chè Việt Nam xuất khẩu ngang bằng giá bình quân thế giới.

xv

11. Cây cà phê: Diện tích đất bố trí là 500 ngàn ha, trong đó diện tích cà phê chè khoảng 60 ngàn ha; vùng sản xuất chính Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, duyên hải Bắc Trung Bộ. Chế biến cà phê: Bằng các hình thức kinh tế hợp tác giữa doạnh nghiệp và nông dân, tăng tỷ lệ cà phê được chế biến ở quy mô công nghiệp từ 20% năm 2010, lên đến 40% năm 2015 và 70% năm 2020; tương ứng giảm tỷ lệ chế biến cà phê thóc, cà phê nhân xô ở quy mô hộ gia đình từ 80% xuống còn 60% năm 2015 và 30% năm 2020. Tăng tỷ lệ cà phê chế biến ướt từ 10% sản lượng năm 2010 lên 20% năm 2015 và 30% năm 2020. Mở rộng quy mô, công suất chế biến cà phê bột, cà phê hòa tan từ 10000 tấn năm 2010 lên 20000 tấn năm 2015 và 30000 tấn năm 2020. 12. Cây cao su: Giữ nguyên mục tiêu ổn định diện tích 800 ngàn ha và định hướng quy hoạch ở các vùng như Quyết định số 750/QĐ- TTg ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn 2020. Sau năm 2015, trên cơ sỏ đánh giá hiệu quả diện tích cao su đã trồng và quỹ đất của các vùng để xem xét điều chỉnh quy mô diện tích cao su phù hợp, hiệu quả và bền vững. Chế biến cao su: Năm 2015 tổng công suất chế biến khoảng 1,2 triệu tấn mủ khô/năm. Đến năm 2020 tổng công suất chế biến khoảng 1,3 triệu tấn mủ khô/năm. Cải tiến công nghệ, tạo cơ cấu sản phẩm hợp lý, bao gồm: Mủ cốm SVR 3L, SVR 5L chiếm khoảng 40%, mủ kem 20%, mủ cao su kỹ thuật RSS, SR & SVR 10, SVR 20 chiếm khoảng 40% để nâng cao giá trị xuất khẩu Từ nay đén năm 2020, phải đầu tư tăng thêm công suất chế biến là 500000 tán mủ khô/năm. Đối với cao su đại điền quy mô nhà máy có công suất từ 6000 20000 tấn/năm; đối với những nhà máy đã xây dựng cần tiếp tục nâng cấp, hoàn chỉnh thiết bị, đồng bộ hóa dây chuyền. Tuân thủ quy trình kỹ thuật và quản lý, thực hiện việc kiểm phẩm cao su xuất khẩu.

xvi

Xây dựng các nhà máy sản xuất săm, lốp ô tô, xe máy…, đưa tỷ trọng sử dụng mủ cao su trong nước lên tối thiểu 30% vào năm 2020. 13. Cây điều: Diện tích đất bố trí 400 ngàn ha, tiếp tục trồng mới từ nay đến năm 2020 khoảng 20 ngàn ha, chủ yếu sử dụng đất chưa sử dụng; các vùng trồng điều chính là Tây Nguyên, ĐÔng Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ. Chế biến điều: Đa dạng hóa sản phảm ngành điều, nâng tỷ lệ nân điều chế biến đạt tối thiểu 40% dưới các dạng ( hạt điểu rang muối, bơ hạt điều, bánh kẹo nhân điều..,); đồng thời tăng tỷ lệ tiêu thụ hội tiêu để tránh rủi ro do thị trường xuất khẩu có những biến động xấu, mặt khác sử dụn triệt để nhân điều bị vỡ do quá trình áp dụng cơ giới hóa thay thế lao động thủ công. 14. Cây hồ tiêu: Ổn định 50 ngàn ha như hiện nay, các vùng trồng chủ yếu là Đông Nam Bộ 26,8 ngàn ha, Tây nguyên 17,8 ngàn ha, Bắc Trung Bộ 3,7 ngàn ha, duyên hải Nam Trung Bộ 1,2 ngàn ha, đồng bằng song Cửu Long 500 ha. Chế biến hồ tiêu: Đầu tư cải tạo nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có, trong đó có 14 nhà máy đảm bảo kỹ thuật chế biến tiên tiến chất lượng cao, an toàn thực phẩm. Đồng thời đầu tư mở rộng công suất và đầu tư mới các nhà máy chế biến tiêu trắng, nâng tỷ lệ sản phẩm tiêu trắng từ 19,4% năm 2010 lên 30% vào năm 2020. Đầu tư để nâng tỷ lệ sản phẩm tiêu nghiền bột tà 12,2% năm 2010 lên 25% năm 2020. 15. Cây dừa: Ổn định diện tích 140 ngàn ha, vùng sản xuất chính là đồng bằng song Cửu Long, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và duyên hải Nam Trung Bô. 16. Cây ca cao: Diện tích bố trí khoảng 50 ngàn ha, vùng sản xuất chính là đồng bằng song Cửu Long và duyên hải Nam Trung Bô. 17. Cây ăn quả: Diện tích bố trí khoảng 910 ngàn ha, trong đó 810 ngàn ha các cây ăn quả chủ lực như vải 140 ngàn ha, nhãn 140 ngàn ha, chuối 145 ngàn ha, xoài 110 ngàn

xvii

ha, cam, quýt 115 ngàn ha, dứa 55 ngàn ha. Các vùng trồng chủ yếu là trung du miền núi phía Bắc 200 ngàn ha; đồng bằng song Hồng 80 ngàn ha; Bắc Trung Bộ 70 ngàn ha, duyên hải Nam Trung Bộ 35 ngàn ha, Đông Nam Bộ 145 ngàn ha, Tây Nguyên 30 ngàn ha, đồng bằng song Cửu Long 350 ngàn ha. Sản xuất các loại cây ăn quả phải hướng tới mở rộng áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Chế biến hoa quả: Nâng cao công suất và hiệu quả của các nhà máy chế biến hiện có (hiện mới đạt khoảng 30% thiết kế toàn ngành). Sản phẩm chế biến chính gồm các loại hoa quả đông lạnh, đóng hộp, chiên sấy, nước quả tự nhiên, nước quả cô đặc, đông lạnh; chú trọng các loại sản phẩm đông lạnh, nước quả cô đặc (dứa, vải, lạc tiên, xoài cô đặc). Tăng cường năng lực bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch cẩ về số lượng và chất lượng từ 25% hiện nay xuống dưới 15% trong vồng 10 năm tới. Áp dụng KHCN kéo dài thời vụ của các loại trái cây, các biện pháp bảo quản tiên tiến, các phương pháp chiếu xạ, khử trùng bằng nước nóng để xuất khẩu tươi các loại trái cây chủ lực ( thanh long, vải , xoài, nhãn, bưởi, chôm chôm…). 18. Chăn nuôi: Phát triển các loại gia súc, gia cầm theo hướng chăn nuôi trang trại, công nghiệp, bán công nghiệp gắn với các cơ sở giết mổ, chế biến và xử lý chất thải, đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường. a) Quy hoạch đàn vật nuôi: Lợn: Tập trung phát triển đàn lợn phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước. Phát triển nuôi lợn chất lượng cao ở một số vùng có lợi thế như đồng bằn song Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ theo hướng sản xuất công nghiệp, đảm bảo an toàn dịch bệnh, vệ sinh thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu. Tổng đàn lợn và năm 2020 đạt 34 triệu con, sản lượng thịt hơi khoảng 4,8 – 4,9 triệu tấn. Trâu, bò: Phát triển đàn trâu chủ yếu để lấy thịt, số lượng trâu năm 2020 đạt khoảng 3 triệu con, các vùng chăn nuôi chính là các tỉnh trung du miền núi phía B ắc và duyên hải Bắc Trung Bộ.

xviii

Phát triển đàn bò thịt có năng suất cao, thịt ngon, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đưa đàn bò năm 2020 đạt khoảng 12 triệu con, với sản lượng thịt hơi khoảng 650 ngàn tấn. Mở rộng chăn nuôi bò sữa ở ven các đô thị có điều kiện và một số địa bàn có lợi thế, nâng cao quy mô đàn bò sữa năm 2020 lên 500 ngàn con. - Gia cầm: Phát triển gia cầm theo hướng chăn nuôi tập trung có quy mô phù hợp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước; chủ động kiểm soát dịch bệnh hướng tơi khống chế được dịch cúm gia cầm. Đàn gia cầm năm 2020 đạt khoảng 360 -400 triệu con; sản lượng thịt hơi 2 – 2,5 triệu tấn và 14 tỷ quả trứng. b) Giết mổ, chế biến: Xây dựng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm theo hướng tập trung công nghiệp, mạng lưới phân phối thịt tươi sống và chế biến công nghiệp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Đến năm 2020, tổng sản lượng thịt hơi (chủ yếu thịt lợn, gia cầm, bò) 7 triệu tấn, tương đương 5 triệu tấn thịt xẻ. Tỷ lệ thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp với tổng sản lượng thịt đạt trên 35%, khoảng 2 triệu tấn; trong đó chế biến công nghiệp chiếm 25%, khoảng 500 ngàn tấn. IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU: 1. Nâng cao nhận thức, tập trung chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển ngành trong kinh tế thị trường. - Tăng cường công tác quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch để đảm bỏa phát triển ngành có định hướng, bền vững. Các địa phương phải nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác quy hoạch ngành nông nghiệp trên địa bạn; chỉ đạo, hướng dẫn ngành nông nghiệp và các ngành liên quan tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung quy hoạch phù hợp với điều kienj cụ thể của địa phương. - Xây dựng chương trình phát triển kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo các điều kiện cần và đủ để thực hiện quy hoạch đã được duyệt. 2. Phát triển thị trường và xúc tiến thương mại để thực hiện các mục tiêu của quy hoạch a) Thực hiện tốt các cam kết với ASEAN trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp; đặc biệt là an ninh lương thực, thú y, bảo về thực vật, thủy sản, lâm nghiệp;

xix

với WTO về kiểm dịch động thực vật, đầu tư, dịch vụ; các Hiệp định bảo vê và kiểm dịch động thực vật, thú y đối với các nước nhập khẩu nông nghiệp, lâm, thủy sản Việt Nam, tạo điều kiện thực hiện quy hoạch phát triển sản xuất kể cả đầu vào và đầu ra. b) Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình xúc tiến thương mại nông lâm thủy sản, giữ vững các thị trường lớn, truyền thống (Trung Quốc, EU, Nhật, Mỹ, Philippin, Indonexia, Iraq…) và mở rộng các thị trường Đông Âu, Trung Đông, Hàn Quốc… nhằm thúc đẩy tiêu thụ nông sản. c) Hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và tiêu chuẩn chất lượng các sản phẩm nông, lâm, thủy sản xuất khẩu chủ lực; đáp ứng yêu cầu về chất lượng, mẫu mã và quy cách của các nước nhập khẩu. d) Phát triển, mở rộng thị trường nội địa, nhất là các khu du lịch, các đô thị, khu dân cư lớn. e) Các địa phương hướng dẫn các doanh nghiệp quy hoạch, đầu tư các vùng nguyên liệu, thực hiện kí kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với người sản xuất, tạo nguồn hàng ổn định cho chế biến và xuất khẩu. 3. Nghiên cứu, chuyển giao KHCN và đào tạo nguồn nhân lực a) Nhà nước đảm bỏa ưu tiên vốn đầu tư ngân sách cho nghiên cứu chuyển giao KHCN,tương ứng với nhiệm vụ phát triển nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản theo quy hoạch đã duyệt. b) Tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới về KHCN trong sản xuất, phòng chống dịch bệnh, bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản; khai thác hải sản, cơ khí đóng tàu, máy tàu, thiết lập hệ thống thong tin quản lý nghề cá biển. c) Tiếp tục đổi mới chính sách KHCN, tăng cường xã hội hóa nghiên cứu, chuyển giao KHCN; đổi mới chính sách đãi ngộ theo hướng khuyến khích và phát hủy tốt các nguồn lực KHCN, thu hút các thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.

xx

d) Tăng cường năng lực của hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; hệ thống bảo vệ thực vật, thú y, hệ thống quản lý chất lượng nông lâm thủy sản, các dịch vụ khác phục vụ sản xuất nông, lâm, thủy sản. e) Nâng cao năng lực cán bộ kỹ thuật, quản lý, thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề đảm bảo cho nông dân tiếp cận được các công nghệ mới đưa vào sủ dung trong sản xuất và khai thác các nguồn tài nguyên, sử dụng các thiết bị máy móc vào sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. 4. Phát triển cơ sỏ hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản theo quy hoạch. a) Thủy lợi Phát triển thủy lợi theo hướng hiện đại hóa tăng hiệu quả cấp nước cho sản xuất và đời sống, chủ động phòng, chóng và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, từng bước thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. Bảo đảm cấp nguồn nước để khai thác có hiệu quả 4,5 triệu ha đất canh tác hàng năm (trong đó có 3,8 triệu ha đất lúa), tiến tới tưới chủ động cho 100% diện tích đất lúa vụ. Nâng năng lực tưới cho các vùng trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả tập trung, cấp nước cho nuôi trồng thủy sản 0,79 triệu ha, trong đó 80% diện tích nuôi trồng được cấp nước chủ động. Tăng cường khả năng tiêu thoát nước ra các song chính, bảo đảm thoát nước cho các vùng đồng bằng, vùng thấp trũng với tần suất thiết kế 5-10%, có giải pháp công trình thích ứng với biến đổi khí hậu. ……. b) Giao thông nông thôn Thực hiện quy hoạch hệ thống, nối liền giữa giao thong nông thôn với tỉnh lộ, quốc lộ hướng tới mục tiêu thúc đẩy phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa. Ưu tiên làm đường ở các vùng cao, miền núi, nhất là các huyện, xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% đảm bảo đến năm 2020, hệ thống giao thông tương ứng các vùng khác tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa. Mở mang hệ thống giao thông lên các vùng gò đồi, tạo điều kiện đẻ phát triển các khu công nghiệp, các đô thị mới mà không ảnh hưởng đến đất canh tác nông nghiệp thuần thục.

xxi

c) Về hạ tầng thủy sản…… d) Về hạ tầng nông nghiệp Đầu tư nâng cao năng lực hệ thống cơ sơ hạ tầng nghiên cứu KHCN, nhất là chọn, tạo, sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi; bảo vệ thực vật, thú ý, kiểm ra chất lượng giống, phân bón, sản phẩm nông nghiệp. e) Phát triển hạ tầng phục vụ thương mại Phát triển hệ thống bưu cục, hệ thống điện thoại, điểm bưu điện văn hóa xã đạt 100% năm 2020; tỷ lệ dân nông thôn được tiếp cận internet là 30%. Nhà nước tạo điều kiện và hỗ trợ các xã xây dựng; đầu tư phát triển hệ thống các chợ đầu mối bán buôn nông, lâm, thủy sản, các chợ đường biên, các chợ khu vực theo quy hoạch chợ đã đươc thủ tướng chính phủ phê duyệt. Đầu tư các trung tâm bán buôn ở các vùng nông lâm thủy sản hàng hóa tập trung, dịch vụ ở nông thôn 5. Tiếp tục đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ ở nông thôn 6. Đất đai 7. Cơ giới hóa nông nghiệp a) Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất tăng từ 70% năm 2010 lên 95%, khâu gieo trồng, chăm bón từ 25% lên 70%, khâu thu hoạch từ 30% lên 70%, khâu chế biến từ 30% lên 80%. b) Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất máy động cơ, máy canh tác phục vụ sản xuất nông lâm ngư diêm nghiệp với giá thành hợp lý. Mở rộng sản xuất theo hướng tập trung chuyên cnah, hình thành cánh đồng mẫu lớn, nhằm tạo điều kiện cho nông dân, doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất nông lâm ngư nghiệp diêm nghiệp ứng dụng nhanh cơ giới hóa và các khâu từ sản xuất – bảo quản – chế biến vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm.

xxii

PHỤ LỤC 5: KHUNG CHƢƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN THỰC THI HIỆP ĐỊNH HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƢƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2011-2015 (Ban hành kèm theo Thông tư số: 24/2011/TT-BKHCN ngày 30 tháng 9 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) CHƢƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN THỰC THI HIỆP ĐỊNH HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƢƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2011-2015 CỦA BỘ, TỈNH/THÀNH PHỐ.............. I. MỤC TIÊU Triển khai thực hiện Đề án thực thi Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại giai đoạn 2011-2015 được phê duyệt tại Quyết định số 682/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ. II. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN (Các nhiệm vụ của Chương trình được xác định trên cơ sở bám sát các nhiệm vụ chủ yếu của Đề án TBT giai đoạn 2011-2015 và phù hợp với đặc thù của Bộ, ngành, địa phương; trong đó phải cụ thể hoá được nội dung công việc, giải pháp thực hiện, tiến độ và phân công cơ quan, đơn vị thực hiện) 1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động về hàng rào kỹ thuật trong thƣơng mại a) Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến áp dụng hàng rào kỹ thuật ở Việt Nam. b) Nghiên cứu áp dụng công cụ nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật (phương pháp đánh giá tác động quản lý, quy chế thực hành quản lý tốt, phương pháp đánh giá hiệu quả áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật…).

xxiii

2. Xây dựng các biện pháp kỹ thuật để triển khai áp dụng trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu bảo đảm sự phù hợp với quy định của hiệp định TBT và pháp luật Việt Nam a) Nghiên cứu, đề xuất khả năng và phương thức áp dụng các biện pháp kỹ thuật được các thành viên WTO áp dụng trong thương mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu, giảm nhập siêu, bảo đảm an toàn, sức khoẻ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sinh thái... b) Xây dựng và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật để “phòng vệ ”sự xâm nhập của hàng hóa nhập khẩu kém chất lượng, bảo đảm an toàn cho người, động vật, thực vật, bảo vệ môi trường... c) Xây dựng và áp dụng các cơ chế kiểm soát chất lượng hàng hoá nhằm ngăn chặn sự thâm nhập và lưu thông trên thị trường của hàng hoá nhập khẩu kém chất lượng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. d) Ký kết hiệp định hoặc thoả thuận kiểm tra tại bến đi (preshipment inspection) và hiệp định hoặc thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp, đặc biệt đối với hàng hoá là nguyên liệu, phụ tùng phục vụ sản xuất. đ) Xây dựng hệ thống cảnh báo nhanh về nguy cơ mất an toàn của hàng hoá sản xuất trong nước và nhập khẩu; tham gia vào hệ thống cảnh báo nhanh về chất lượng hàng hoá giữa các nước. 3. Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và thúc đẩy xuất khẩu, nhập khẩu a) Nghiên cứu, phổ biến và triển khai các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua rào cản kỹ thuật phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt các quy định của WTO. b) Tổ chức các kênh tham vấn (trực tuyến, hội nghị,...) cho doanh nghiệp về các biện pháp kỹ thuật được xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung ở trong nước cũng như ở nước ngoài. c) Hình thành mạng lưới tư vấn, giải đáp cho doanh nghiệp về hàng rào kỹ thuật của các thị trường; giải pháp đáp ứng yêu cầu của thị trường, vượt qua hàng rào kỹ thuật cho doanh nghiệp đối với các lĩnh vực hoặc hàng hoá cụ thể.

xxiv

d) Phát triển dịch vụ tư vấn xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá sự phù hợp; áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến; thử nghiệm, đo lường, đánh giá, thẩm định, giám sát chất lượng và môi trường... đ) Triển khai hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy năng suất chất lượng, phát triển tài sản trí tuệ, đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng... 4. Tăng cƣờng năng lực của các cơ quan quản lý nhà nƣớc và tổ chức kỹ thuật trong xây dựng và triển khai các biện pháp kỹ thuật trong thƣơng mại a) Tổ chức đào tạo, tập huấn kỹ năng xây dựng văn bản pháp luật, cập nhật kiến thức về pháp luật, thương mại và TBT cho cơ quan, tổ chức và chuyên gia tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật liên quan đến TBT. b) Đào tạo, tập huấn về kỹ năng đàm phán và kiến thức chuyên môn về TBT cho các cán bộ đàm phán về TBT. c) Tăng cường năng lực kỹ thuật cho các tổ chức đánh giá sự phù hợp phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, thực hiện có hiệu quả các quy định về TBT. 5. Duy trì và nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Ban liên ngành TBT, Mạng lƣới TBT Việt Nam a) Đào tạo, tập huấn cho thành viên Ban liên ngành TBT, cán bộ của Mạng lưới TBT Việt Nam về kiến thức pháp luật, thương mại, kỹ năng chuyên môn về TBT... b) Duy trì hoạt động của Ban liên ngành TBT (nghiên cứu, đề xuất chủ trương, giải pháp nhằm thực hiện nghĩa vụ quy định trong Hiệp định TBT ở Việt Nam; tham gia các hoạt động về TBT trong, ngoài nước...). c) Phối hợp giữa các cơ quan trong Mạng lưới TBT Việt Nam với các cơ quan, tổ chức có liên quan để thực thi các nhiệm vụ thuộc Đề án TBT giai đoạn 2011-2015. d) Điều tra nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp, xác định các vấn đề và đối tượng cần ưu tiên trong hoạt động tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, cung cấp thông tin, tư vấn về TBT. đ) Tiếp cận và sử dụng thông tin về TBT trong hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại thông qua chương trình quốc gia hàng năm về xúc tiến thương mại.

xxv

e) Bố trí nhân lực, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan trong Mạng lưới TBT. 6. Nâng cao hiệu quả của hoạt động phổ biến, tuyên truyền về vai trò và ảnh hƣởng của hàng rào kỹ thuật trong thƣơng mại đối với sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng sản phẩm, hàng hoá a) Mở chuyên mục về TBT trên kênh truyền hình, tổ chức tọa đàm về các chủ đề TBT mà doanh nghiệp và người tiêu dùng quan tâm; đăng tải tin tức, bài viết, phóng sự về TBT trên báo, tạp chí; phát hành bản tin, tờ rơi giới thiệu về TBT, Đề án TBT, mạng lưới các cơ quan, tổ chức về TBT; văn bản pháp luật, tài liệu về TBT... b) Xây dựng và hoàn thiện cổng thông tin, trang thông tin điện tử về TBT đáp ứng yêu cầu quản lý và nhu cầu thông tin của doanh nghiệp, người tiêu dùng. c) Tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn tuyên truyền, phổ biến thông tin liên quan về TBT. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thực hiện Đề án. 2. Các quy định khác của Bộ, ngành, địa phương. __________________________

xxvi

PHỤ LỤC 6:

QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 2011-2020
PGS. TS. Lê Danh Vĩnh Thứ trƣởng Thƣờng trực Bộ Công Thƣơng Chủ tịch Hội đồng Khoa học Bộ Công Thƣơng TS. Hồ Trung Thanh Viện Nghiên cứu Thƣơng mại I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2001-2010 Trong những năm qua, phát triển xuất khẩu đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của đất nước. Xuất khẩu đã trở thành một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế, xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo. Nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2010 ở mức cao, đạt 19%/năm. Quy mô xuất khẩu tăng từ 15 tỷ USD năm 2001 lên 72,19 tỷ năm 2010, tăng hơn 4,7 lần. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trên GDP tăng từ 46% năm 2001 lên 70% năm 2010. Mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú và đa dạng. Nếu như năm 2004, Việt Nam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD thì đến hết năm 2010 đã có 18 nhóm hàng, trong đó có 10 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và 8 nhóm hàng trên 2 tỷ USD. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 220 nước và vùng lãnh thổ. Trong 10 năm qua, xuất khẩu đã đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế bên cạnh các yếu tố khác là tiêu dùng, đầu tư và nhập khẩu7. Tăng trưởng
7

Theo ®iÓm phÇn tr¨m, n¨m 2002, GDP t¨ng 7,08% th× xuÊt khÈu ®ãng gãp 5,89 ®iÓm phÇn tr¨m, t-¬ng øng n¨m 2003 lµ 7,34 vµ 11,66; n¨m 2004: 7,79 vµ 16,80; n¨m 2005: 8,44 vµ 15,13; n¨m 2006: 8,23 vµ 17,78;

xxvii

xuất khẩu cao và tương đối ổn định trong nhiều năm đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô như hạn chế nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ. Chính sách khuyến khích xuất khẩu trong giai đoạn vừa qua cũng đã góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái. Khả năng đáp ứng các quy định về môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm của nhiều nhóm hàng được nâng cao8. Các phương pháp sản xuất thân thiện môi trường ngày càng được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Phát triển xuất khẩu đã góp phần tạo thêm việc làm9, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với khu vực nông thôn. Phát triển xuất khẩu cũng đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao trình độ lao động, hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế, công nghệ nước ta còn thấp, chính sách nhập khẩu trong thời gian qua đã tạo thuận lợi để Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến, giải quyết sự thiếu hụt về nguyên, nhiên liệu, máy móc thiết bị. Nhập khẩu đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện trình độ công nghệ của nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Người tiêu dùng được tiếp cận hàng hóa và dịch vụ rẻ hơn và tốt hơn… Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua phát triển chưa bền vững. Giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu còn thấp do chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố về điều kiện tự nhiên và nguồn lao động rẻ. Chính sách phát triển xuất khẩu trong thời gian qua quá chú trọng đến chỉ tiêu về số lượng, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng và hiệu quả xuất khẩu. Chúng ta chưa khai thác một cách hiệu quả lợi thế cạnh tranh xuất khẩu dựa vào công nghệ, trình độ lao động, quản lý… để tạo ra các nhóm hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao, có hàm lượng

n¨m 2007: 8,48 vµ 19,8 vµ n¨m 2008 lµ 6,18 vµ 3,57. Theo tû lÖ phÇn tr¨m, n¨m 2002, xuÊt khÈu ®ãng gãp 83,25%; n¨m 2003: 158,78%; n¨m 2004: 215,71%; n¨m 2005: 179,25%; n¨m 2006: 206,04%; n¨m 2007 lµ 233,53% vµ n¨m 2008 lµ 57,57%. 8 Năm 2009, có 295 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam được EU cấp chứng nhận về chất lượng và VSATTP. 9 Năm 2008, có 3,6 triệu lao động tham gia xuất khẩu trong ngành dệt may, ngành da giày là 660.000 người, điện tử 230.000 người và thủ công mỹ nghệ là 1,88 triệu người.

xxviii

khoa học, công nghệ cao10, có khả năng tham gia vào khâu tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Bên cạnh đó, mở rộng xuất khẩu đang có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường. Tăng trưởng xuất khẩu của nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào việc khuyến khích khai thác các nguồn lợi tự nhiên và sử dụng ngày càng nhiều các yếu tố đầu vào làm gia tăng áp lực gây ô nhiễm11. Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh từ hoạt động xuất, nhập khẩu mà chúng ta chưa có cơ chế, chính sách để giải quyết hiệu quả. Chia sẻ lợi ích từ xuất khẩu chưa thật bình đẳng, đặc biệt là lợi ích thu được từ các nhóm hàng xuất khẩu có nguồn gốc thiên nhiên. Gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong quá trình tự do hóa thương mại. Cơ hội về thu nhập và việc làm dựa vào xuất khẩu chưa thật sự bền vững đối với nhóm xã hội dễ bị tổn thương là người có thu nhập thấp, khu vực nông nghiệp. Xung đột chủ thợ có xu hướng gia tăng12. Nhập khẩu chưa bền vững do vẫn chú trọng nhập khẩu công nghệ trung gian, khuyến khích nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ, chưa có biện pháp dài hạn để kiềm chế nhập siêu, nhập khẩu cạnh tranh chưa được khuyến khích đúng mức… Nhập khẩu chưa được quản lý tốt đã góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm và suy thoái môi trường. Tình trạng nhập khẩu hàng hóa không đảm bảo các quy định an toàn và môi trường còn khá phổ biến, nhất là nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc. Tình trạng nhập khẩu thiết bị lạc hậu, thực phẩm kém chất lượng, hóa chất độc hại từ Trung Quốc và qua các cửa khẩu tiếp giáp với Lào và Căm Pu Chia chưa được ngăn chặn.
10

Tính đến hết năm 2009, tỷ trọng hàng xuất khẩu công nghệ cao của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, tỷ lệ này của Trung Quốc là 35%, Thái Lan là 40%, Malaysia là 60%. Điều đáng nói là tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam ít thay đổi trong 10 năm gần đây. 11 Chỉ trong hơn hai thập kỷ qua, diện tích rừng ngập mặn Việt Nam giảm đi hơn một nửa, trung bình mỗi năm mất đi gần 20.000 ha, hơn 80% độ che phủ đã bị ảnh hưởng. Các đầm nuôi tôm là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng phá huỷ này. 12 Tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng mạnh trong thời gian kể từ năm 2006, song đặc biệt tăng nhanh trong 2 năm 2007 và 2008. Trong năm 2008, cả nước có 720 cuộc đình công, gấp 4,7 lần so với năm 2005 và gấp hơn 10 lần so với năm 2000. Các vụ đình công xảy ra chủ yếu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và có xu hướng ngày một tăng. Tuy nhiên, đến năm 2009 thì số vụ đình công giảm hẳn, chỉ còn 216 vụ.

xxix

Quản lý nhập khẩu chưa tốt làm nảy sinh hiện tượng gian lận thương mại, một số nhóm người thu lợi bất chính từ hoạt động nhập khẩu, làm trầm trọng thêm sự bất ổn định kinh tế và xã hội. Nguyên nhân của tình trạng nói trên là do, trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách xuất, nhập khẩu thời kỳ 2001-2010, chúng ta chưa thật sự quan tâm đúng mức đến chất lượng tăng trưởng, thiên về chỉ tiêu số lượng, coi nhẹ những ảnh hưởng tiêu cực của xuất khẩu đối với xã hội và môi trường, duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chưa chú trọng đúng mức để tạo tiền đề cho việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu. Một số chỉ tiêu trong chiến lược xuất, nhập khẩu thời kỳ 2001-2010 không thực hiện được. Chẳng hạn như, chỉ tiêu về cân bằng xuất nhập khẩu vào năm 2010, chỉ tiêu nhập khẩu 40% công nghệ nguồn, chỉ tiêu về chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng hàng chế biến, công nghệ, lao động chất lượng cao... Hạn chế về năng lực thực thi các quy định về môi trường, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, các vùng nuôi trồng thủy sản, khu vực khai thác và chế biến khoáng sản là nguyên nhân gây nên suy thoái môi trường. Chúng ta chưa có chính sách chia sẻ lợi ích hợp lý trong hoạt động xuất khẩu và hạn chế rủi ro của hoạt động xuất khẩu. Điều này thấy rất rõ trong việc các đầu nậu thu gom nông sản ép giá đối với nông dân, các thương lái vật tư sản xuất nông nghiệp nâng giá để trục lợi, các công ty môi giới lao động (đặc biệt là lao động nước ngoài), tư vấn chuyên môn định phí quá cao… Hoạt động xuất khẩu dễ bị tổn thương trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là các nhóm xuất khẩu dựa vào lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động rẻ như nông sản, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ… Chính sách của nhà nước để hạn chế rủi ro chưa được thực hiện một cách liên tục và kịp thời. Biến động giá cả của một số mặt hàng xuất khẩu như gạo, cà phê trong năm 2008 cho thấy Chính phủ còn bị động trong việc điều hành xuất khẩu. Lợi ích từ xuất khẩu không được chia sẻ một cách hợp lý tiềm ẩn nguy cơ xung đột xã hội, giảm lòng tin của người dân vào các chính sách của nhà nước. Phát triển xuất, nhập khẩu bền vững đặt ra hết sức cấp bách đối với nước ta trong giai đoạn 2011-2020, giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, với

xxx

mục tiêu chủ yếu là coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng, ổn định xã hội, bảo vệ tốt môi trường. Đây là chủ trương lớn của Đảng cho giai đoạn 2011-2020. Yêu cầu phát triển xuất, nhập khẩu bền vững càng bức xúc hơn trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu hơn với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thực hiện các cam kết FTA ở mức độ cao hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng cơ hội mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, do đó khuyến khích khai thác tài nguyên và gia tăng sử dụng các yếu tố đầu vào liên quan đến môi trường, tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường qua biên giới. Áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và sự biến động kinh tế thế giới đang là thách thức đối với việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và bền vững, hạn chế mất cân đối ngoại thương. Mở cửa thị trường, thực hiện các cam kết thương mại quốc tế có thể làm nảy sinh các vấn đề xã hội như việc làm, thu nhập, xung đột xã hội... nếu như không có các chính sách đúng đắn và kịp thời. Như vậy ở nước ta, trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo còn đang tiềm ẩn những nhân tố làm chệch định hướng phát triển bền vững kinh tế nói chung và xuất, nhập khẩu nói riêng. II. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 2011-2020 Mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. Tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu. Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển, không gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường. Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính trị - xã hội; ổn định chính trị - xã hội là tiền đề, điều kiện để phát triển

xxxi

nhanh và bền vững. Đây là quan điểm định hướng cho các ngành, các lĩnh vực xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển bền vững. Trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thời kỳ 2011-2020, quan điểm cụ thể để phát triển xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian tới là: (1) Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác triệt để lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, đảm bảo tốc độ và chất lượng tăng trưởng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Trong những năm tới, xuất khẩu vẫn là động lực chính của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Vì vậy, cần phải kiên trì định hướng công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu. Đây là chủ trương cần được quán triệt trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới. Trong bối cảnh hiện nay, khi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu làm sụt giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, nhiều quan điểm cho rằng, cần chuyển định hướng phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu sang thay thế nhập khẩu và phát triển thị trường nội địa. Thực tế cho thấy là nhiều nước trên thế giới đã làm như vậy thông qua các biện pháp như tăng cường bảo hộ thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng... Tuy nhiên, đối với Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, thị trường trong nước chưa phát triển, cần tranh thủ nguồn lực bên ngoài, nhất là FDI, để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển xuất khẩu là con đường để Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu cần phải nhanh chóng thay đổi mô hình tăng trưởng. Trong những năm qua, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có về tài nguyên và lao động rẻ. Lợi thế nói trên hiện tại và một vài năm tới vẫn đang phát huy tác dụng. Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy rằng, nguồn lực tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Những hạn chế mang tính cơ cấu về lợi thế tự nhiên như khả năng khai thác, đánh bắt, nuôi trồng sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong dài hạn. Đó là chưa kể đến những tác động tiêu cực đến môi trường được xem như một hạn chế cản trở tăng trưởng xuất khẩu. Lợi thế lao động rẻ cũng ngày càng giảm dần trong bối cảnh chênh lệch tiền lương lao động ở nước ta và các nước giảm dần và nhu cầu cao trên

xxxii

thị trường thế giới về những hàng hóa có hàm lượng công nghệ và khoa học ngày càng cao. Do đó, dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiều rộng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh sẵn có, xuất khẩu Việt Nam khó có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức cao. Bên cạnh đó, cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu cũng là áp lực phải nhanh chóng chuyển sang mô hình tăng trưởng mới. Mô hình tăng trưởng mới là mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa vào việc khai thác lợi thế cạnh tranh động để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả xuất khẩu trên cơ sở đẩy mạnh cải cách thể chế, sử dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại. Chuyển từ phát triển xuất khẩu theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ việc dựa chủ yếu vào lợi thế so sánh sẵn có (tĩnh) sang lợi thế cạnh tranh động là nhân tố quyết định chất lượng tăng trưởng xuất khẩu; duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, phù hợp với xu hướng biến đổi của thị trường, do đó, hạn chế được rủi ro khi thị trường thế giới biến động bất lợi. Thực hiện định hướng phát triển xuất khẩu theo chiều sâu cũng là giải pháp để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khắc phục nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình, nâng cao vị thế quốc gia, đảm bảo phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Trong giai đoạn tới, chất lượng phát triển phải là mục tiêu hàng đầu. Cần khắc phục tư tưởng coi trọng số lượng, chạy theo thành tích cục bộ và ngắn hạn. Nhiều chỉ tiêu xuất khẩu trong giai đoạn vừa qua chỉ phản ánh về mặt số lượng mà chưa phán ánh được hiệu quả đầu tư, các tác động về mặt xã hội, môi trường. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, trong thời gian qua, nước ta đã đầu tư quá mức cho xuất khẩu mà chưa tính toán đến hiệu quả của nó. Điều này dẫn đến sự hao phí nguồn lực, sử dụng không hiệu quả vốn đầu tư, làm nảy sinh hành vi tiêu cực như tham nhũng, gian lận thương mại. Cần phải tính toán xem mỗi một đô la giá trị xuất khẩu mà ta mang về đem lại bao nhiêu lợi nhuận đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Chủ trương phát triển xuất khẩu là đúng đắn, tuy nhiên nếu không có chiến lược phát triển đúng hướng, tập trung vào các ngành có lợi thế mà đầu tư dàn trải, tràn lan thì chúng ta không thể có được các sản phẩm có vị thế cạnh tranh quốc tế. Thực

xxxiii

tế cho thấy, trong 25 năm đổi mới, Việt Nam chưa có nhiều những thương hiệu hàng hóa và doanh nghiệp có uy tín quốc tế, ngoại trừ một số sản phẩm có được sự nổi tiếng do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên. (2) Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên, nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của hàng hóa xuất khẩu. Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường ở nước ta trong những năm tới là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ được các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường. Đây là định hướng phát triển bền vững về môi trường cho các ngành kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng. Trên cơ sở mục tiêu phát triển bền vững về môi trường của nước ta trong thời gian tới, quan điểm phát triển xuất khẩu và bảo vệ môi trường được khái quát ở những khía cạnh sau đây: Trước hết, tăng trưởng xuất khẩu phải trên cơ sở khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Cần nhận thức đầy đủ rằng, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên là cơ sở của sự phát triển bền vững. Đối với Việt Nam, một đất nước được thiên nhiên ưu đãi, có trình độ phát triển thấp, khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên sẽ tạo thuận lợi để tích lũy ban đầu cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Lợi thế về điều kiện tự nhiên đã tạo thuận lợi cho Việt Nam xếp thứ hạng cao hiện nay về xuất khẩu một số sản phẩm như gạo (thứ hai thế giới), cà phê (thứ hai thế giới), hạt tiêu (số một thế giới), hạt điều (thứ ba thế giới). Một số mặt hàng khác như dầu thô, thủy sản đang có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian qua, chúng ta chưa khai thác một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Tăng trưởng xuất khẩu một số mặt hàng như cà phê, hạt điều, cao su, chè kéo theo sự suy giảm diện tích rừng và đa dạng sinh học. Tương tự, khai thác thủy sản theo lối hủy diệt, quá mức làm suy giảm nghiêm trọng sinh quyển

xxxiv

biển. Tăng diện tích nuôi trồng thủy sản cùng với giảm diện tích rừng ngập mặn. Tăng trưởng xuất khẩu của nước ta đang tiềm ẩn nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và mất cân bằng sinh thái. Khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai và gây nên những hệ lụy đối với môi trường và xã hội. Thứ hai, tăng trưởng xuất khẩu phải đi đôi với việc hạn chế ô nhiễm môi trường. Trong những năm tới, Việt Nam phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quá trình này sẽ khuyến khích khai thác tài nguyên và sử dụng ngày càng nhiều năng lượng và nguyên liệu đầu vào. Xuất khẩu trong giai đoạn tới sẽ tập trung vào tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến. Nếu không có những biện pháp kiểm soát ô nhiễm, môi trường sinh thái nước ta sẽ ô nhiễm nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường còn làm giảm khả năng xuất khẩu và ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu. Thứ ba, phát triển xuất khẩu trong giai đoạn tới phải chú trọng nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của hàng hóa xuất khẩu, áp dụng các quy trình và phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường. Xu hướng áp dụng các tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế ngày càng phổ biến để giải quyết các vấn đề toàn cầu và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Các tiêu chuẩn môi trường đối với sản phẩm, quy trình chế biến ngày càng được các nước áp dụng rộng rãi và ở mức cao hơn như những rào cản kỹ thuật trong buôn bán quốc tế. Việt Nam xuất khẩu nhiều mặt hàng nhạy cảm với môi trường và an toàn như nông sản, thủy sản. Đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường phải được nhìn nhận như là một biện pháp để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và cải thiện môi trường trong nước. Thứ tư, phát triển xuất khẩu bền vững ở nước ta trong giai đoạn tới phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi", trong đó ưu tiên cho phát triển kinh tế. Cần khắc phục quan điểm cực đoan trong việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên. Bảo tồn thiên nhiên quá mức sẽ ảnh hưởng

xxxv

đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, công cuộc xóa đói giảm nghèo và hậu quả là gây khó khăn cho việc quản lý tài nguyên. Khai thác hợp lý và có chính sách quản lý môi trường linh hoạt sẽ khuyến khích người hưởng lợi có ý thức chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển chúng để khai thác bền vững trong tương lai. Tuy nhiên khai thác quá mức tài nguyên để đạt được sự tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn sẽ dẫn đến suy thoái và cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các thế hệ tương lai. (3) Phát triển xuất khẩu góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, tạo nhiều việc làm đảm bảo công bằng xã hội, chia sẻ lợi ích hợp lý giữa các thành phần tham gia xuất khẩu. Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội được đề ra trong Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam là: “Đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần”. Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai. Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường, xây dựng lối sống lành mạnh, hài hòa, gần gũi và yêu quý thiên nhiên.

xxxvi

Trên cơ sở mục tiêu phát triển bền vững về xã hội của nước ta trong giai đoạn tới, quan điểm phát triển xuất khẩu về mặt xã hội được thể hiện ở một số điểm sau đây: Thứ nhất, phát triển xuất khẩu góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm. Các cấp, các ngành, địa phương cần quán triệt quan điểm này trong hoạch định chính sách phát triển trong giai đoạn tới. Hơn 70% dân số sống ở nông thôn, dựa chủ yếu vào nguồn lợi tự nhiên. Phát triển xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thủy sản trong thời gian qua đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là những vùng trồng cà phê, cao su (Tây Nguyên), lúa gạo, thủy sản (Đồng bằng sông Cửu Long). Xuất khẩu các mặt hàng sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, thủy công mỹ nghệ, điện tử, đồ gỗ... thu hút một lượng lao động lớn, cải thiện đời sống của người dân lao động. Mặc dù, xuất khẩu của nước ta trong thời gian qua chưa thể hiện được xu hướng công nghiệp hóa, nhưng đóng góp về mặt xã hội là rất to lớn. Thứ hai, phát triển xuất khẩu đóng góp vào nâng cao chất lượng lao động, trình độ quản lý. Cần nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến và giá trị gia tăng cao để cải thiện nguồn nhân lực, thu hút lao động nông nghiệp. Chất lượng lao động và trình độ quản lý của các doanh nghiệp nước ta còn hạn chế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế tăng trưởng xuất khẩu bền vững. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chính sách đào tạo nguồn nhân lực và khuyến khích sử dụng người có trình độ chuyên môn cao là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu. Thứ ba, cần có chính sách để giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Trước hết, cần giải quyết các vấn đề xã hội do tập trung lao động (nhất là lao động nữ) ở một số ngành như da giày, dệt may. Đây là một vấn đề đang bức xúc mà chưa được sự quan tâm của các ngành. Cần tạo môi trường sinh sống ổn định cho người lao động như nhà ở, các dịch vụ phục vụ đời sống hàng ngày. Thứ hai, cải thiện môi trường lao động để đảm bảo sức khỏe và an toàn cho công nhân. Thứ ba, cần tính đến những vấn đề khác như việc xây dựng gia đình cho công nhân, cuộc sống con cái của họ sau này...

xxxvii

Thứ tư, cần có chính sách chia sẻ lợi ích thu được từ xuất khẩu một cách hợp lý giữa những nhóm xã hội, nhất là trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Xử lý tốt vấn đề này sẽ tăng hiệu quả xuất khẩu, khai thác hợp lý tài nguyên và tránh được các xung đột xã hội có liên quan. Đây cũng là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, chúng ta chưa có một thiết chế hữu hiệu để kiểm soát phân phối thu nhập giữa các bên tham gia vào chuỗi giá trị. Thực tế cho thấy, người lao động, phần lớn là người sản xuất (nông dân) bị thua thiệt trong phân phối thu nhập. Người được hưởng lợi nhiều nhất là các nhà hoạch định chính sách, môi giới, nhà xuất khẩu trung gian. Trường hợp người trồng cà phê, trồng lúa, cá tra... bị các thương lái ép giá trong trường hợp có biến động thị trường còn khá phổ biến ở nước ta. Một vấn đề nữa là chia sẻ lợi ích giữa những người dân bản địa, nơi có tài nguyên đa dạng sinh học. Những người khai thác là những người ở nơi khác đến. Trường hợp dễ nhận thấy là những đầm nuôi tôm, rừng trồng cà phê, chè... Mở rộng diện tích trồng cà phê, nuôi tôm ở vùng có rừng tự nhiên và ngập mặn làm mất đi nguồn lợi sinh sống của người dân bản địa. Họ phải đi sâu vào các cánh rừng khác và tiếp tục phá hoại môi trường. Như vậy, chia sẻ lợi ích giữa các nhóm xã hội không những là vấn đề xã hội mà còn là vấn đề môi trường. Vấn đề chênh lệch giàu nghèo ở nước ta hiện nay cũng có nguyên nhân từ việc chia sẻ chưa hợp lý lợi ích từ xuất khẩu. Trong nền kinh tế thị trường, khác nhau về năng lực dẫn đến khác nhau về thu nhập là tất yếu khách quan. Tuy nhiên, một bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng bằng cách dựa vào khai thác nguồn lợi tự nhiên một cách phi pháp, trục lợi bằng những cách thức kinh doanh thiếu lành mạnh. Kinh doanh xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ phân hóa sâu sắc giàu nghèo. Thứ năm, cần có quan điểm tổng thể, dài hạn trong quản lý, khai thác tài nguyên và tài sản quốc gia. Trước hết là đảm bảo lợi ích quốc gia, sự phát triển cân đối giữa các vùng và hài hòa lợi ích của các thế hệ. Khắc phục cách nhìn cục bộ địa phương, tư duy ngắn hạn, nhiệm kỳ trong quản lý và khai thác tài nguyên, sử dụng tài sản công. Tài nguyên quốc gia là tài sản chung của toàn dân, các công dân các

xxxviii

thế hệ khác nhau có quyền được hưởng lợi. Không xử lý tốt vấn đề lợi ích trong khai thác và sử dụng tài sản quốc gia sẽ làm nảy sinh nguy cơ xung đột xã hội, giảm niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước. (4) Đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ tiên tiến, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất được, hạn chế nhập khẩu hàng hóa nguy hại đối với môi trường và sức khỏe, cân đối xuất, nhập khẩu theo hướng hạn chế nhập siêu, tiến tới cân bằng cán cân thương mại. Chính sách quản lý nhập khẩu trong giai đoạn 2011-2020 cần tập trung vào việc xử lý những vấn đề như: cân bằng cán cân thương mại, khuyến khích nhập khẩu cạnh tranh, trước hết là công nghệ nguồn; hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất được; quản lý nhập khẩu hàng hóa không đảm bảo các quy định về sức khỏe và môi trường. Trong bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô như lạm phát gia tăng, cán cân thanh toán thâm hụt, hạn chế nhập khẩu hợp lý có vai trò quan trọng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Để giảm nhập siêu, biện pháp dài hạn là phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu, trên cơ sở nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam, quản lý nhập khẩu đối với các doanh nghiệp nhà nước và đẩy mạnh tự do hóa thương mại. III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 20112020 (1) Định hướng phát triển xuất khẩu Chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn đến 2020 cũng đề ra mục tiêu là: “Nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ; mở rộng và đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh; hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới”. Trên cơ sở mục tiêu định hướng chung nêu trên, một số định hướng cụ thể phát triển xuất khẩu trong giai đoạn 2011-2020 là:

xxxix

- Xác định phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới phù hợp với xu hướng biến đổi của thị trường thế giới và lợi thế của Việt Nam là khâu đột phá trong phát triển xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Các mặt hàng mới là các mặt hàng chế tạo công nghệ trung bình và công nghệ cao. - Giai đoạn 2011-2015 tập trung phát triển xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động rẻ như thuỷ sản, nông sản, dệt may, điện tử, các sản phẩm chế tác công nghệ trung bình... Tuy nhiên cần chuẩn bị điều kiện để gia tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến. - Giai đoạn 2016-2020 tập trung phát triển các mặt hàng công nghiệp mới có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ và chất xám cao, trên cơ sở thu hút mạnh đầu tư trong nước và nước ngoài vào các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu, những ngành chế tạo công nghệ trung bình và công nghệ cao. - Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm xuất khẩu hàng thô, nông sản, thuỷ sản, tăng tỷ trọng hàng công nghiệp, đặc biệt là hàng công nghiệp chế tạo như điện tử, viễn thông, vật liệu xây dựng, đồ gỗ… - Không khuyến khích phát triển sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng thu hút nhiều lao động rẻ, ô nhiễm môi trường, giá trị gia tăng thấp. Chú trọng phát triển các mặt hàng xuất khẩu thân thiện môi trường, hạn chế sử dụng năng lượng và tài nguyên. - Tập trung phát triển thị trường cho các sản phẩm có sức cạnh tranh lớn, có giá trị gia tăng cao hoặc các nhóm sản phẩm có tỷ trọng kim ngạch lớn. Trước hết là khai thác cơ hội mở cửa thị trường từ các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu và các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN… Khai thác các thị trường tiềm năng như Nga, Đông Âu, châu Phi và châu Mỹ La tinh… (2) Định hướng nhập khẩu - Khuyến khích nhập khẩu công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn trên cơ sở khai thác lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do với các nước có nền công nghiệp phát triển.

xl

- Hạn chế nhập khẩu các loại hàng hóa sản xuất trong nước, nhập khẩu hàng xa xỉ, có chính sách phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu. - Áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước, hạn chế ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe, thông qua việc xây dựng các biện pháp phi thuế quan phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, các biện pháp tự vệ khẩn cấp, áp thuế chống bán phá giá, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch động thực vật… - Ngăn chặn việc nhập lậu hàng từ các nước ASEAN và Trung Quốc để bảo vệ hàng sản xuất trong nước. Tranh thủ mở cửa thị trường trong các FTA mới để đa dạng hóa thị trường nhập khẩu và nhập khẩu công nghệ nguồn. IV. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 1. Tiếp tục đổi mới tư duy và nhận thức về phát triển nhanh và bền vững: Trước hết, chuyển từ tư duy phát triển kinh tế theo chiều rộng sang tư duy phát triển theo chiều sâu, tư duy theo số lượng sang tư duy chất lượng, hiệu quả. Thứ hai, chuyển từ tư duy và nhận thức ngắn hạn, cục bộ, nhiệm kỳ trong phát triển kinh tế sang tư duy và nhận thức một cách tổng thể, dài hạn. Thứ ba, cần có tư duy toàn cầu về phát triển kinh tế, chuyển từ tư duy quốc gia sang tư duy toàn cầu. Thứ tư, chuyển từ tư duy hành chính, mệnh lệnh sang tư duy kinh tế - kỹ thuật. Thứ năm, chuyển từ tư duy phòng thủ, bảo hộ, đối phó sang tư duy tấn công, mở cửa, chủ động chiếm lĩnh thị trường. Thứ sáu, đổi mới tư duy về quản lý nhà nước. Thứ bảy, nhận thức về việc phát huy nội lực và ngoại lực. 2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa: Tiếp tục hoàn thiện một số chính sách vĩ mô nhằm tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, có hiệu quả, thúc đẩy cạnh tranh và tạo lòng tin để các doanh nghiệp và nhân dân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất. Khuyến khích kinh tế tập thể và tư nhân phát triển lâu dài. Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp nhà nước. Tích cực thu hút đầu tư nước ngoài. Hình thành đồng bộ các loại hình thị trường, các công cụ điều tiết thị trường như cơ chế giá, thuế, tiền lương, tỷ giá... Duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô bằng cách

xli

hoàn thiện các chính sách tài chính, cân đối ngân sách, ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế. Đẩy mạnh cải cách hành chính. 3. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Chuyển nền kinh tế từ tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển chủ yếu theo chiều sâu, trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến để tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung và hiệu quả của vốn đầu tư nói riêng. Chuyển nền kinh tế từ khai thác và sử dụng tài nguyên dưới dạng thô sang chế biến tinh xảo hơn, nâng cao giá trị gia tăng từ mỗi một đơn vị tài nguyên được khai thác. Triệt để tiết kiệm các nguồn lực trong phát triển, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên khan hiếm và hạn chế tiêu dùng lấn vào phần của các thế hệ mai sau. 4. Phát triển khoa học và công nghệ: Ưu tiên nhập khẩu công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn, nhập khẩu bằng sáng chế phát minh để ứng dụng, tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và phối hợp nghiên cứu triển khai. Xây dựng trung tâm công nghệ cao thu hút đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia để từng bước rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước trong khu vực. Phát triển thị trường khoa học, công nghệ nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận và tăng tính thanh khoản các nguồn vốn đầu tư cho R&D, đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ. Thực hiện cơ chế khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển khoa học, công nghệ. 5. Chính sách đối với các thành phần kinh tế: Đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính chủ động, hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Các giải pháp lớn là cổ phần hóa, sáp nhập, bán, cho thuê. Khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải được coi là nhiệm vụ lâu dài và then chốt để chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu. Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh lâu dài và hiệu quả ở nước ta. Tăng cường khả năng liên kết ngành kinh tế, xây dựng các tập đoàn kinh tế mạnh cũng là một giải pháp để nâng cao chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu.

xlii

6. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ: Xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn và đào tạo lại. Có chính sách trọng dụng nhân tài, đãi ngộ hợp lý đối với người lao động, nhất là những người có nhiều cống hiến cho đất nước. Cải cách hệ thống tiền lương theo tiêu chí công bằng và theo năng lực, chất lượng và hiệu quả làm việc; đồng thời, thiết lập một hệ thống bảo hiểm xã hội. 7. Phát triển kết cấu hạ tầng: Ưu tiên thu hút đầu tư trong và ngoài nước để cải thiện cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ: giao thông, cung cấp điện, bến cảng, kho tàng, văn phòng… 8. Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế: Thực hiện tốt các cam kết Việt Nam đã ký kết, nhất là các cam kết gia nhập WTO và các FTA. Tổ chức tham gia một cách hiệu quả vào các vòng đàm phán thương mại thế giới. Đổi mới cơ chế và tổ chức điều phối liên ngành trong việc đàm phán và thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Trước hết là kiện toàn bộ máy của Ửy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế. Tăng cường năng lực và hoạt động của các cơ quan ngoại giao, thương vụ để dự báo và xử lý các trường hợp biến cố đối với thị trường xuất khẩu. Đào tạo đội ngũ cán bộ trong đàm phán vững vàng về chính trị, thành thạo nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ. 9. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội: Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam nêu rõ mối quan hệ giữa phát triển bền vững với bảo đảm ổn định chính trị, xã hội. Một trong những nguyên tắc phát triển bền vững là kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Môi trường chính trị, xã hội ổn định của Việt Nam trong những năm qua là nhân tố quan trọng đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Môi trường chính trị ổn định là một trong những yếu tố hấp dẫn đầu tư nước ngoài vào nước ta trong những năm qua. Chính trị, xã hội ổn định cũng là yếu tố làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư trong nước.

xliii

Tài liệu tham khảo 1. Bộ Công Thương (2010), Báo cáo tình hình hoạt động của ngành công thương năm 2010. 2. Bộ Thương mại (2002), Chiến lược xuất nhập khẩu Việt Nam thời kỳ 2001-2010, www.moit.gov.vn. 3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21), được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ, http://www.monre.gov.vn/monreNet/. 4. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. 5. Hội đồng lý luận Trung ương (2007): “Khi Việt Nam đã vào WTO”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.