You are on page 1of 42

Lúc 17g ngày 15/7, chín chú chuột con chuyển phôi đầu tiên đã chào đời tại Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học Phân tử, trường ĐH Khoa học Tự nhiên

TP.HCM.

Lúc 17g ngày 15/7, chín chú chuột con chuyển phôi đầu tiên đã chào đời tại

Chuột Hope mẹ và chín chú chuột Hope con mới ra đời khỏe mạnh trong điều kiện nuôi bình thường.

Đây là kết quả của hơn hai năm miệt mài nghiên cứu và thử nghiệm đề tài cấy chuyển phôi trên động vật, sau khi đã thực hiện hàng trăm thí nghiệm cấy phôi trên chuột và đều… thất bại trước khi đi đến kết quả thành công này.

Trong số mười tế bào phôi cấy vào chuột nhắt trắng, chín tế bào đã phát triển thành chuột con, tỷ lệ đạt 90%. Để lấy tế bào phôi, chuột cái (X) sau khi cho giao phối phải được theo dõi và tính ngày. Sau đó, chuột sẽ được mổ để lấy ống dẫn trứng và tách tế

bào phôi. Song song với việc lấy tế bào phôi của chuột cái mang thai, một con chuột cái khác (Xm) được kích hoạt và ở trạng thái chuẩn bị mang thai (cho giao phối với chuột đực đã bị thắt ống dẫn tinh). Khi lấy ra từ chuột cái (X), tế bào phôi sẽ được cấy vào chuột cái (Xm). Tế bào phôi này phải đảm bảo không bị ảnh hưởng của độ rung, ánh

sáng

...

và giữ trong tủ ấm 5-10 phút, sau đó được cấy vào cho

chuột Xm.

Khâu khó nhất trong quy trình là cấy phôi vào tử cung cho chuột. Rất nhiều lần chuột sau khi được cấy tế bào phôi có biểu hiện thụ thai, thế nhưng sau đó không sinh được con. Ống dẫn trứng của chuột rất bé (chỉ bằng sợi tóc). Trong quá trình cấy phôi, nhóm nghiên cứu đã phải thao tác trên kính hiển vi và sử dụng những ống hút nhỏ (micro-pipe) với đường kính 85-100 micromet để đưa phôi vào tử cung chuột.

Lúc 17g ngày 15/7, chín chú chuột con chuyển phôi đầu tiên đã chào đời tại

Mổ tử cung của chuột mang thai để lấy vòi trứng.

Chuột mẹ sau khi sinh nở thành công đã được nhóm nghiên cứu đặt tên là " Hope" (Hy vọng).

Lúc 17g ngày 15/7, chín chú chuột con chuyển phôi đầu tiên đã chào đời tại

Nhóm nghiên cứu gồm các cán

bộ trẻ Khoa Sinh trường ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM, người

ngồi là ThS Phan Kim Ngọc.

"Đối với công nghệ cấy chuyển phôi trên động vật, Việt Nam đã chuyển phôi trên bò hơn được hơn 20 năm. Tuy nhiên, khác với bò, tử cung của chuột rất bé. Tế bào phôi của chuột chỉ có kích thước bằng tế bào, phải xem qua kính hiển vi mới có thể thấy được. Vì vậy, rất nhiều phòng thí nghiệm trên toàn quốc khi áp dụng kỹ thuật cấy phôi lên chuột đã thất bại.” -ThS Phan Kim Ngọc, chủ nhiệm đề tài, cho biết - "Việc ra đời của những chú chuột đầu tiên được sinh sản bằng phương pháp chuyển phôi đã

mở ra nhiều triển vọng trong lĩnh vực y học và cả chăn nuôi. Chẳng hạn, có thể kiểm tra toàn bộ cơ chế di truyền gien của tế bào, xem xét những bệnh tật mà động vật có thể mắc phải khi được sinh ra,

Ứng dụng công nghệ cấy truyền phôi tạo giống bò sữa tại Thanh Hoá

Công nghệ cấy truyền phôi ở động vật đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới. Năm 1951, con

bê đầu tiên sinh ra đầu tiên từ công nghệ cấy truyền phôi đã đánh dấu bước thành công đầu tiên của công nghệ này. Ngày nay, công nghệ phôi đã trở thành một biện pháp cải tạo giống gia súc nhanh nhất, hiệu quả nhất. Công nghệ đã được áp dụng ở nhiều nước chăn nuôi tiên tiến như:

Mỹ, Canada, Nhật Bản, Pháp, Newzealand…Trên thế giới đã có 75 - 95% bò đực giống có năng suất sản lượng sữa cao đang sử dụng được tạo ra từ công nghệ cấy truyền phôi.

ở Việt Nam, năm 1978 tại Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia đã bắt đầu nghiên cứu công nghệ cấy truyền phôi, đến năm 1986 thì con bê đầu tiên ở Việt Nam ra đời. Đến nay, nước ta có trên 200 con bê đã được ra đời, một số tỉnh đã thành công trong công nghệ này như Hà Nội, Hà Tây cũ, Thành phố Hồ Chí Minh…

Thực hiện Nghị quyết 06/NQ-TU của ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá về phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm thời kỳ 2003-2010. UBND tỉnh Thanh Hoá; Sở Nông nghiệp & PTNT; Sở khoa học và công nghệ, đã phê duyệt triển khai đề tài: “ứng dụng công nghệ cấy truyền phôi tạo giống bò sữa tại Thanh Hoá”. Đây là đề tài mang tính công nghệ cao và có ý nghĩa thực tiễn lớn. Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật chăn nuôi Thanh hoá đã triển khai đề tài với sự phối của Viện nghiên cứu chăn nuôi, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Tỉnh, Chi cục thú y Tỉnh và các cơ quan hữu quan khác. Đề tài được triển khai tại huyện Hoằng Hoá và Thành phố Thanh Hoá.

Để triển khai thành công đề tài ứng dụng khoa học và công nghệ cấy truyền phôi tạo giống bò sữa tại Thanh Hoá, các chuyên gia chăn nuôi của Tỉnh đã sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cấy truyền phôi như:

  • - Cấy phôi theo phương pháp không phẫu thuật qua đường sinh dục của Bò cái bằng dụng cụ

chuyên ngành.

  • - Giải đông phôi đông lạnh.

  • - Gây động dục đồng pha bằng các hoóc môn sinh dục đối với bò cái nhận phôi.

  • - Chọn Bò cái nhận phôi có trọng lượng trên 250kg/con trở lên, sinh lý sinh sản tốt, sinh trưởng phát triển tốt, là Bò cái tơ hoặc Bò đã được sinh sản 1 - 2 lần.

Sau thời gian thực hiện 24 tháng (từ tháng 7/2006 đến tháng 7/2008) đề tài đã được Hội đồng khoa học chuyên ngành cấp tỉnh nghiệm thu, đánh giá cao.

Cấy truyền phôi là sự chuyển phôi từ cơ thể mẹ này (mẹ cho) sang một cơ thể mẹ khác (mẹ nhận). Sự thành công này phụ thuộc vào môi trường cơ thể mẹ nhận, giới hạn của sự miễn dịch, sự trao đổi tín hiệu giữa mẹ với phôi, tín hiệu này phải thể hiện sự đồng pha giữa mẹ và con.

Nguyên tắc của công nghệ cấy truyền phôi là lấy phôi ở vị trí nào trong đường sinh dục của con cho, thì khi cấy, phải cấy đúng vị trí đó trong đường sinh dục của con nhận. Hiện nay chúng ta đang sử dụng phôi đông lạnh của nước ngoài, phôi này được tạo tạo ra từ những con bò bố, bò mẹ có sản lượng sữa từ hơn 6000 lít/một chu kỳ (bò cái sau khi được thụ tinh tạo thành phôi, phôi sẽ được lấy ra và được bảo quản trong ni tơ lỏng âm 196 o C ).

Sau 2 năm thực hiện đề tài đã cấy truyền phôi, số bò có chửa 3 tháng là 45% (9 con) số bê sinh ra trên số bò có chửa là 66% (6 con), số bê sinh ra trên số bò nhận phôi là 30% (6 con).

Đề tài đã khẳng định công nghệ cấy truyền phôi thành công và có thể mở rộng trên địa bàn Thanh hoá. Quá trình thực hiện đề tài đã đào tạo được một đội ngũ kỹ thuật nắm vững quy trình, thao tác cấy truyền phôi. Từ đó giúp ngành chăn nuôi của Tỉnh nhà tạo ra những con giống tốt là hạt nhân, nhân nhanh giống tốt, quý hiếm, khai thác triệt để tiềm năng di truyền của các cá thể cao sản; nâng cao khả năng sinh sản, tăng năng suất sữa, thịt, rút ngắn thời gian tuyển chọn giống.

Tuy nhiên, để đề tài được mở rộng ra sản xuất, đề nghị các cấp, các ngành cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư để công nghệ cấy truyền phôi được nhân rộng trong sản xuấ

Túi phôi chuyển ở con ngƣời trong thụ tinh ống nghiệm. A solution to the multiple pregnancy epidemic. Một giải pháp cho nhiều dịch bệnh mang thai.

Department of Obstetrics and Gynecology, Brigham and Women's Hospital, Harvard Medical

School, Boston, Massachusetts, USA. Khoa sản và phụ khoa, Bệnh viện Brigham và phụ nữ, Trường Y khoa Harvard, Boston, Massachusetts, Mỹ.

Abstract Tóm tắt

Since the 1950s, the incidence of twin gestation has doubled and the incidence of triplets has

increased approximately sevenfold in the United States. Từ những năm 1950, tỷ lệ mang thai song sinh đã tăng gấp đôi và tỉ lệ sinh ba đã tăng khoảng gấp bảy tại Hoa Kỳ. Of extreme

concern is the fact that many of these multiple pregnancies are iatrogenic: 35% of twin gestations and 77% of higher-order pregnancies are the result of some form of infertility therapy. Quan tâm

cao độ là một thực tế rằng nhiều người trong số này đa thai là iatrogenic: 35% gestations sinh đôi

và 77% có thai bậc cao là kết quả của một số hình thức điều trị vô sinh. Anything that can be

done to reduce the number of these multiple pregnancies would benefit our patients and society.

Bất cứ điều gì có thể được thực hiện để giảm số lượng các đa thai sẽ có lợi cho bệnh nhân và xã hội của chúng tôi. Great hope is placed on emerging blastocyst technology, which has the

potential of achieving higher pregnancy rates per embryo transfer while reducing the risk of

multiple pregnancy. hy vọng lớn được đặt trên công nghệ túi phôi đang phát triển, trong đó có

khả năng đạt được tỉ lệ có thai cao hơn cho mỗi chuyển phôi trong khi giảm các nguy cơ của thai kỳ nhiều. We present the evolution of the blastocyst transfer concept and the technical aspects involved. Chúng tôi trình bày sự tiến hóa của khái niệm chuyển phôi nang và các khía cạnh kỹ thuật liên quan. The article also outlines the experience with blastocyst culture and transfer at Brigham and Women's Hospital, Boston, and describes identifiers for application of blastocyst

transfer. Bài viết cũng trình bày những kinh nghiệm nuôi cấy phôi nang và chuyển giao tại

Brigham và Women's Hospital định danh, Boston, và mô tả cho ứng dụng chuyển giao phôi nang. The number of eight-cell embryos on day 3 is an independent marker for the selection of

patients who would benefit from transfer on day 5. Số lượng phôi tám-cell vào ngày thứ 3 là một dấu hiệu độc lập cho các lựa chọn của bệnh nhân sẽ được hưởng lợi từ chuyển nhượng vào ngày

thứ 5. With no eight-cell embryos on day 3, 0% and 33% pregnancies resulted from day 5 vs. day 3 transfers, suggesting that these cases would not benefit from day 5 transfer. Khi không có phôi tám-cell vào ngày thứ 3,% 0 và mang thai 33% kết quả của ngày thứ 5 so với 3 ngày chuyển, gợi ý rằng những trường hợp này sẽ không được hưởng lợi từ chuyển nhượng 5 ngày.

When at least one eight-cell embryo is available, there is no difference in ongoing pregnancy rates between day 5 and day 3 transfers, but there is a significant decrease in multiple gestations

with day 5 transfers. Khi có ít nhất một trong tám tế bào phôi có sẵn, không có sự khác biệt trong

tỷ lệ mang thai đang diễn ra giữa ngày 5 và 3 chuyển ngày, nhưng có sự giảm đáng kể trong nhiều gestations với ngày thứ 5 chuyển.

Công nghhtrsinh sn (ART)

The term ART is used in different contexts but should cover induction of ovulation, sperm preparation, intrauterine insemination, IVF, ICSI, (GIFT, ZIFT,), SSC and genetic testing and

manipulation. Các ART hạn được sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau nhưng phải bao trùm cảm ứng của sự rụng trứng, chuẩn bị tinh trùng, thụ tinh trong tử cung, IVF, ICSI, (GIFT,

ZIFT,), SSC và di truyền kiểm tra và thao tác. Many of these treatments fall outside the scope of this ebook and so I have limited the discussion to those listed below. Nhiều phương pháp điều trị này nằm ngoài phạm vi của ebook này và vì vậy tôi đã giới hạn các cuộc thảo luận với những người được liệt kê dưới đây.

1) IN VITRO FERTILISATION (IVF) 1) Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)

This type of treatment, the first to be introduced in 1978 still remains as the mainstay of ART today. Đây là loại điều trị, người đầu tiên được giới thiệu vào năm 1978 vẫn còn là chỗ dựa chính của ART ngày hôm nay. The object of IVF is to add sperm to eggs in the laboratory (instead of the Fallopian tube) in situations where the normal pathway via the Fallopian tubes is damaged or absent, or sperm is not functioning normally. Các đối tượng của IVF là thêm tinh trùng với trứng trong phòng thí nghiệm (thay vì ống dẫn trứng) trong trường hợp con đường bình thường thông qua các ống dẫn trứng bị hư hỏng hoặc vắng mặt, hoặc tinh trùng không hoạt động bình thường. The process of IVF requires a significant time contribution and is emotionally stressful. Quá trình thụ tinh ống nghiệm yêu cầu đóng góp một thời gian đáng kể và là cảm xúc căng thẳng. When performed for the correct reasons, it offers a pregnancy (success) rate of approximately 30-50% percent per single attempt. Khi thực hiện vì những lý do chính xác, nó cung cấp một thai kỳ (thành công) tỷ lệ khoảng 30-50 phần trăm% một nỗ lực đơn lẻ. Units specialising in ART undertake this type of treatment. Các đơn vị chuyên thực hiện ART loại điều trị. (see choosing an IVF unit) (Xem lựa chọn một đơn vị IVF)

A treatment cycle requires the stimulation of multiple eggs in the ovary using drugs such as clomiphene citrate, HMG, FSH GnRH agonists/antagonists and/or HCG. Một chu trình điều trị đòi hỏi phải có sự kích thích của nhiều trứng trong buồng trứng bằng cách sử dụng các loại thuốc như clomiphene citrate, HMG, GnRH agonist VSATTP / đối kháng và / hoặc HCG. At an appropriate time, eggs are collected either by ultrasound as an outpatient procedure, or rarely by laparoscopy. Tại một thời điểm thích hợp, trứng được thu thập bằng siêu âm như là một thủ tục ngoại trú, hoặc hiếm khi được phẫu thuật nội soi. The sperm is collected, prepared and added to the eggs in the laboratory. Các tinh trùng được thu thập, chuẩn bị và thêm vào những quả trứng trong phòng thí nghiệm. Once fertilisation and division of the eggs has occurred, usually after forty-four hours, normally one or two embryos are replaced into the mother's uterus by means of a thin plastic tube (transfer catheter) inserted via the vagina and cervix. Sau khi thụ tinh và phân chia của trứng đã xảy ra, thường là sau khi bốn mươi bốn giờ, thường có một hoặc hai phôi được thay thế vào tử cung của mẹ bằng một ống nhựa mỏng (chuyển ống thông) chèn vào thông qua âm đạo và cổ tử cung. (See Fig. 7.1 ). (Xem hình 7.1.).

2) INTRACYTOPLAMIC SPERM INJECTION (ICSI) 2) INTRACYTOPLAMIC INJECTION tinh trùng (ICSI)

ICSI represents one of the major advances in human reproduction and ART that occurred in the 90's. ICSI đại diện cho một trong những tiến bộ quan trọng trong sinh sản của con người và ART xảy ra vào những năm 90. It differs from IVF by what happens once the eggs and sperm reaches the laboratory. Nó khác với thụ tinh ống nghiệm bởi những gì xảy ra khi trứng và tinh trùng đạt đến các phòng thí nghiệm. Essentially a single moving sperm is injected into a single mature egg. Về cơ bản một tinh trùng duy nhất di chuyển được tiêm vào một trứng trưởng thành duy nhất.

Thus the couple requires very few sperm for this type of therapy. Như vậy hai vợ chồng cần tinh trùng rất ít cho loại trị liệu. ICSI has opened up treatment to a whole new group of patients in whom classical IVF was unsuccessful. ICSI đã mở ra điều trị cho một nhóm hoàn toàn mới của các bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm cổ điển đã không thành công. This includes males with very low sperm counts (< 5 million / ml), males with antisperm antibody problems, couples who have had failed fertilisation at IVF. Điều này bao gồm nam giới với số lượng tinh trùng rất thấp (<5 triệu / ml), nam giới có vấn đề kháng thể antisperm, cặp vợ chồng người đã thụ tinh không thành công tại IVF. Once embryos are formed, embryo transfer is identical to IVF. Sau khi phôi thai được hình thành, phôi chuyển trùng với thụ tinh ống nghiệm.

3) GAMETE INTRAFALLOPIAN TRANSFER (GIFT) 3) giao tử INTRAFALLOPIAN CHUYỂN (GIFT)

This procedure developed as an offshoot of the IVF technology in the 1980's. Thủ tục này phát triển như là một nhánh của công nghệ thụ tinh ống nghiệm trong những năm 1980. It differs from IVF in that it requires the presence of normal Fallopian tubes. Nó khác với thụ tinh ống nghiệm ở chỗ nó đòi hỏi sự hiện diện của ống dẫn trứng bình thường. Today because of the high success rates achieved with IVF it is seldom used. Hôm nay vì tỷ lệ thành công cao đạt được với thụ tinh ống nghiệm nó hiếm khi được sử dụng. The procedure did involve the placing of an egg sperm mixture in the Fallopian tube via laparoscopy. Các thủ tục đã làm liên quan đến việc đặt của một hỗn hợp tinh trứng trong ống dẫn trứng qua nội soi.

4) EMBRYO FREEZING AND REPLACEMENT (Transfer) 4) phôi đông lạnh và thay thế (chuyển giao)

Advances in freezing technology allow unused embryos, provided they are structurally normal,

to be frozen and stored. Tiến bộ trong công nghệ phôi đông lạnh cho phép sử dụng, miễn là chúng được cấu trúc bình thường, được đông lạnh và lưu trữ. Embryos can be stored for years without any apparent defects occurring. Phôi có thể được lưu trữ trong nhiều năm mà không có bất kỳ lỗi rõ ràng xảy ra. These can be thawed and replaced in normal cycles greatly simplifying the patient's treatment cycle and costs. Đây có thể được làm tan đá và thay thế trong các chu kỳ bình thường rất đơn giản hóa chu trình điều trị và chi phí của bệnh nhân. At this time it would appear that the pregnancy rate from frozen embryos is lower than that from fresh embryos. Tại thời điểm này có thể thấy rằng tỷ lệ mang thai từ phôi đông lạnh thấp hơn từ các phôi mới.

Unfortunately at the time of writing while some eggs have been successfully frozen the technology has not reached the same level as that for embryos and is not a routine clinical procedure. Thật không may tại thời điểm viết trong khi một số trứng đã được đông lạnh thành

công công nghệ đã không đạt đến mức độ như đối với phôi và không phải là một thủ tục lâm

sàng.

5) BLASTOCYST CULTURE 5) nuôi cấy phôi nang

The embryo is usually replaced at the 2-8 cell stage of development. phôi thường được thay thế ở giai đoạn 2-8 tế bào phát triển. The blastocyst (multicellular stage with fluid compartment) stage may be reached by prolonging the culture of the embryo in the laboratory for a longer period and

if it reaches the blastocyst stage can be transferred to the uterus at that time. Các túi phôi (giai

đoạn đa bào với các ngăn chứa chất lỏng) giai đoạn có thể đạt được kéo dài văn hóa của phôi trong phòng thí nghiệm trong một thời gian dài hơn và nếu nó đạt đến giai đoạn túi phôi có thể được chuyển giao cho tử cung vào thời điểm đó. This scientific approach helps in selecting the embryo(s) with a greater chance of succeeding. Cách tiếp cận khoa học giúp lựa chọn các phôi (s) với một cơ hội lớn của thành công. To achieve this degree of development special laboratory conditions are required. Để đạt được trình độ của điều kiện phát triển phòng thí nghiệm đặc biệt được yêu cầu.

6) ASSISTED HATCHING 6) HỖ TRỢ nở

The term hatching applies to the embryo (which has now reached the blastocyst stage), which develops in the original egg covering called the Zona Pellucida or clear zone. Các nhn áp dụng đối vi phôi thai (mà bây giờ đã đạt đến giai đoạn túi phôi), trong đó phát triển trong trứng ban đầu được gi là màng bao phZona, khu rõ ràng. Once the embryo reaches the uterus and before it can implant into the uterine wall this outer clear zone must open and the embryo comes out (hatches). Sau khi phôi thai đến tử cung và trước khi nó có thcy ghép vào thành tcung này rõ ràng bên ngoài khu vc phi mphôi đi ra (hầm). Failure of hatching will prevent conception and currently it is thought that, it may apply to a small number of patients, especially those on ART programmes who are 38 years and older, who have had many embryos replaced without a pregnancy and embryos that have been frozen prior to replacement. Tht bi ca nuôi sẽ ngăn ngừa ththai và hiện nay người ta cho rng, nó có tháp dng cho mt sít bnh nhân, nht là về chương trình ART 38 năm trở lên là những người, những người đã có nhiu thay thế mà không có phôi thai, phôi đã được đông lạnh trước khi thay thế. Assisted hatching means procedures which artificially thin out the zona pellucida. Htrợ nuôi có nghĩa là thủ tc mà nhân to ra các màng mng zona. Different techniques to assist hatching exist and one of these involves the use of a non-contact laser. các kthuật khác nhau để htrnuôi tn ti và là mt trong nhng liên quan đến vic sdng mt laser không tiếp xúc.

7) GENETIC TESTING 7) KIỂM TRA DI TRUYỀN

Genetic testing represent one of the most exciting fields of medicine in the new century and its impact is and will be enormous. Thử nghiệm di truyền đại diện cho một trong những lĩnh vực hấp dẫn nhất của y học trong thế kỷ mới và tác động của nó đang và sẽ là rất lớn. Genetics involves the study of heredity, by testing the information carried in each and every human cell that makes each one of us unique. Di truyền liên quan đến việc nghiên cứu di truyền, bằng cách kiểm tra các thông tin mang trong mỗi tế bào và mỗi con người mà làm cho mỗi người chúng ta độc đáo. In the field of fertility certain genetic tests are already available. Trong lĩnh vực thử nghiệm khả năng sinh sản di truyền nào đó đã có sẵn. These genetic tests can already be performed to diagnose special causes of infertility. Các xét nghiệm di truyền đã có thể được thực hiện để chẩn đoán nguyên nhân đặc biệt của vô sinh. In addition the embryo can undergo certain genetic tests before it is returned to the mother's uterus during IVF/ICSI cycles to exclude certain genetic problems and this is referred to as Pre-implantation Genetic Diagnosis (PGD). Ngoài ra

các phôi thai có thể trải qua một số thử nghiệm di truyền trước khi nó được trả lại vào tử cung

của người mẹ trong quá trình thụ tinh ống nghiệm / chu kỳ ICSI để loại trừ một số vấn đề về di truyền và điều này được gọi là Dự bị chẩn đoán di truyền cấy (PGD).

For more information you will need to discuss these topics with your fertility specialist. Để biết thêm thông tin bạn sẽ cần phải thảo luận về các chủ đề này với chuyên gia khả năng sinh sản của bạn.

8) CHOOSING AN IVF UNIT 8) LỰA CHỌN ĐƠN VỊ AN thụ tinh ống nghiệm

There is little doubt that many couples experience a great deal of difficulty in choosing an IVF unit. Không ai nghi ngờ rằng nhiều cặp vợ chồng trải nghiệm rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn một đơn vị thụ tinh ống nghiệm. Obviously many factors are involved in this decision, including cost, convenience, level of emotional and medical care, but one of the most important is success rate. Rõ ràng là nhiều yếu tố có liên quan đến quyết định này, bao gồm cả sự thuận tiện, chi phí, mức độ tình cảm và chăm sóc y tế, nhưng một trong những quan trọng nhất là tỷ lệ thành công. In determining a unit's success rate, certain basic information is needed and any unit you choose must provide this data. Khi xác định tỷ lệ thành công của đơn vị, một số thông tin cơ bản là cần thiết và các đơn vị bạn chọn phải cung cấp dữ liệu này. If they cannot, one should be cautious! Nếu họ có thể không, nên phải thận trọng!

In order to achieve a pregnancy the process of ART requires the replacement of embryos. Để đạt được một thai kỳ quá trình ART đòi hỏi sự thay thế của phôi. Poor quality units will often replace a large number of embryos to achieve a success as their business depends upon success.

Người nghèo chất lượng đơn vị thường sẽ thay thế một số lượng lớn phôi để đạt được một thành

công như kinh doanh của họ phụ thuộc vào sự thành công. Unfortunately replacing high numbers of embryos increases the chances of a pregnancy but at the same time also increases the chance of a multiple pregnancy. Không may thay thế một số lượng lớn phôi thai làm tăng nguy cơ của thai kỳ, nhưng đồng thời cũng làm tăng cơ hội mang thai nhiều. Multiple pregnancy carries its own risks for mother and babies not to mention the impact of multiple pregnancies on the couple. Mang thai nhiều rủi ro riêng của mình cho mẹ và trẻ sơ sinh không phải đề cập đến tác động của đa thai trên vợ chồng. In addition some units offer selective reduction of multiple pregnancies and in general this is unacceptable medical practice, as multiple pregnancies should be avoided if

possible or kept to twins if at all possible! Ngoài ra một số đơn vị cung cấp giảm đa thai có chọn lọc và nói chung đây là nghề y không thể chấp nhận, như là đa thai nên tránh nếu có thể, giữ cho anh em sinh đôi nếu có thể!

The essential information you require is listed below: Các thông tin cần thiết bạn cần được liệt kê dưới đây:

  • 1. 1. How many treatment cycles has the unit performed in the last year? Làm thế nào nhiều chu

kỳ điều trị có các đơn vị thực hiện trong năm qua? Preferably 150 or more. Tốt hơn 150 hoặc

nhiều hơn.

  • 2. 2. What is the average number of embryos transferred? số trung bình của phôi chuyển là gì?

Preferably 1 or 2 under exceptional circumstances 3. Ưu tiên 1 hoặc 2 trong trường hợp đặc biệt

3. 3. What is the overall pregnancy rate for the last year? tỷ lệ mang thai tổng thể cho năm cuối cùng là gì? = N x 100 / T = N x 100 / T

N= number of women achieving a pregnancy, meaning having a pregnancy sac in the uterus with

a foetus and foetal heart at 6 weeks gestation, as seen on ultrasound N = số lượng phụ nữ đạt được một thai kỳ, có nghĩa là có một túi thai trong tử cung với một bào thai và tim thai lúc 6 tuần

tuổi thai, như được thấy trên siêu âm

T= number of women having an embryo transfer per year. T = số lượng phụ nữ có một chuyển phôi / năm.

This answer will depend upon female age and so one should request results as follows Câu trả lời sẽ phụ thuộc vào tuổi tác và vì vậy một trong những nữ nên yêu cầu kết quả như sau

Pregnancy Rate (%) Per Transfer (Embryos transferred 2) Mang thai Tỷ lệ (%) Mỗi Chuyển giao (Phôi chuyển 2)

Female age (years) Nữ

Average ART Unit Trung Excellent ART unit Đơn

tuổi (năm)

bình Đơn vị ART

vị xuất sắc ART

20-30 20-30

35 35

50-60 50-60

30-34 30-34

25 25

50 50

35-39 35-39

15 15

35 35

40-44 40-44

5 5

15 15

By transferring no more than 2 embryos the only risk of multiple pregnancies would be twins.

Bằng cách chuyển không quá 2 phôi nguy cơ duy nhất của đa thai sẽ sinh đôi. Some good units are now considering the transfer of a single embryo only! Một số đơn vị tốt hiện đang cân nhắc việc chuyển nhượng chỉ có một phôi duy nhất! Be extremely cautious of units that ROUTINELY transfer 3 or more embryos, as there are both medical and social complications associated with multiple pregnancies! Hãy vô cùng thận trọng của các đơn vị thường xuyên chuyển 3 hoặc nhiều phôi, như là có cả hai biến chứng y tế và xã hội liên quan đến đa thai!

Frozen embryo pregnancy rates using the same criteria and 2 embryos per transfer would be 5- 15% for an average unit and 15-25% for a good unit. Phôi đông lạnh tỉ lệ có thai bằng cách sử dụng cùng một tiêu chí và 2 phôi mỗi chuyển giao sẽ được 5-15% cho một đơn vị trung bình và 15-25% cho một đơn vị tốt.

When it comes to cost remember that cost effectiveness is more important than cost! Khi nói đến chi phí nên nhớ rằng hiệu quả chi phí quan trọng hơn chi phí! In addition always ensure that you have a full breakdown of the costs in writing so you can avoid so called hidden costs! Ngoài ra

luôn luôn đảm bảo rằng bạn có một sự cố đầy đủ các chi phí bằng văn bản để bạn có thể tránh cái gọi là phí!

Finally make sure that all your queries have been answered to your satisfaction and don't accept vague statements but get information and results in writing! Cuối cùng hãy chắc chắn rằng tất cả

các truy vấn đã được trả lời thỏa đáng của bạn và không chấp nhận báo cáo mơ hồ nhưng có được thông tin và kết quả bằng văn bản!

9) FUTURE 9) TƢƠNG LAI

Fortunately for you, the patients, our knowledge of human reproduction and treating the related problems are progressing so rapidly that over 80% of couples attending a fertility specialist can

be helped to have their own child. May mắn cho bạn, các bệnh nhân, kiến thức của chúng ta về sinh sản con người và điều trị các vấn đề liên quan đang tiến triển nhanh đến trên 80% các cặp vợ chồng tham dự một chuyên gia sinh sản có thể được giúp đỡ để có con riêng của họ. It pays you to keep up to date and updates of this book will be released when appropriate. Nó trả tiền cho bạn để giữ được cập nhật và cập nhật của cuốn sách này sẽ được phát hành khi thích hợp.

Increasing the odds of a successful Blastocyst culture In Vitro Fertilization (IVF)

Tăng tỷ lệ cƣợc của một nền văn hóa túi phôi thụ tinh thành công trong ống nghiệm (IVF)

by bởi

các truy vấn đã được trả lời thỏa đáng của bạn và không chấp nhận báoLers Thisayakorn February 03, 2008 Lers Thisayakorn 3 tháng 2 năm 2008 Increasing the odds of a successful Blastocyst culture In Vitro Fertilization (IVF) Tăng tỷ lệ cược của một nền văn hóa túi phôi thụ tinh thành công trong ống nghiệm (IVF) Technology to help infertility is so advanced now that chances of successful IVF pregnancy are extremely good. Công nghệ để giúp vô sinh là để nâng cao bây giờ mà cơ hội của thai kỳ thụ tinh ống nghiệm thành công là rất tốt. Our twins were born of IVF 15 years ago and technology has since improved to a new level. cặp song sinh của chúng tôi đã được sinh ra của thụ tinh ống nghiệm 15 năm trước đây và công nghệ đó đã nâng cao lên một cấp độ mới. Blastocyst culture is the most advance infertility treatment which involves in vitro fertilization and embryo culture for 5 to 6 days until it reaches the blastocyst stage – a final stage of embryo that is ready to implant in the uterine wall to impregnate. Túi phôi văn hóa là điều trị vô sinh nhất trước đó trong thụ tinh ống nghiệm liên quan đến văn hóa và phôi từ 5 đến 6 ngày cho đến khi nó đạt đến giai đoạn túi phôi - một giai đoạn cuối cùng của phôi thai đó là sẵn sàng để cấy ghép vào thành tử cung để thụ thai. The best embryos are selected and transfer into the uterine cavity after they have been analyzed for abnormal chromosome. Các phôi tốt nhất được lựa chọn và chuyển vào trong khoang tử cung sau khi họ đã được phân tích nhiễm sắc thể bất thường. The treatments would help tubal blockage, severe pelvic adhesion, endometriosis, male factor and unexplained infertility cases. Các phương pháp điều trị sẽ giúp tắc nghẽn ống dẫn trứng, dính vùng chậu nặng, màng trong dạ con, yếu tố nam và các trường hợp vô s inh không rõ nguyên nhân. " id="pdf-obj-9-20" src="pdf-obj-9-20.jpg">

Lers Thisayakorn February 03, 2008 Lers Thisayakorn 3 tháng 2 năm 2008

Increasing the odds of a successful Blastocyst culture In Vitro Fertilization (IVF) Tăng tỷ lệ cược của một nền văn hóa túi phôi thụ tinh thành công trong ống nghiệm (IVF)

Technology to help infertility is so advanced now that chances of successful IVF pregnancy are extremely good. Công nghệ để giúp vô sinh là để nâng cao bây giờ mà cơ hội của thai kỳ thụ tinh ống nghiệm thành công là rất tốt. Our twins were born of IVF 15 years ago and technology has since improved to a new level. cặp song sinh của chúng tôi đã được sinh ra của thụ tinh ống nghiệm 15 năm trước đây và công nghệ đó đã nâng cao lên một cấp độ mới.

Blastocyst culture is the most advance infertility treatment which involves in vitro fertilization and embryo culture for 5 to 6 days until it reaches the blastocyst stage a final stage of embryo that is ready to implant in the uterine wall to impregnate. Túi phôi văn hóa là điều trị vô sinh nhất trước đó trong thụ tinh ống nghiệm liên quan đến văn hóa và phôi từ 5 đến 6 ngày cho đến khi nó đạt đến giai đoạn túi phôi - một giai đoạn cuối cùng của phôi thai đó là sẵn sàng để cấy ghép vào thành tử cung để thụ thai. The best embryos are selected and transfer into the uterine cavity after they have been analyzed for abnormal chromosome. Các phôi tốt nhất được lựa chọn và chuyển vào trong khoang tử cung sau khi họ đã được phân tích nhiễm sắc thể bất thường. The treatments would help tubal blockage, severe pelvic adhesion, endometriosis, male factor and unexplained infertility cases. Các phương pháp điều trị sẽ giúp tắc nghẽn ống dẫn trứng, dính vùng chậu nặng, màng trong dạ con, yếu tố nam và các trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân.

Traditional IVF is to implant embryo after rearing only 2-3 days externally into the intrauterine at the cleaving stage of only 4-8 cells. Truyền thống thụ tinh ống nghiệm là sau khi nuôi cấy phôi chỉ 2-3 ngày bên ngoài vào trong tử cung ở giai đoạn chỉ có 4-8 tách tế bào. Blastocyst is a 5 days old embryo that is formed after the conception of egg and sperm. Phôi nang là một tuổi phôi ngày 5 mà được hình thành sau khi thụ thai của trứng và tinh trùng. The embryo size before being embedded is 120-150 cells. Kích thước phôi trước khi được nhúng là 120-150 tế bào. It is made possible by the advanced environmental control in prolonging external embryo rearing. Nó được thực hiện bởi các kiểm soát môi trường tiên tiến trong việc kéo dài nuôi phôi bên ngoài. Embryo at Blastocyst stage can be implanted directly into the intrauterine, which gives a better chance of pregnancy. Phôi thai ở giai đoạn phôi nang có thể được cấy ghép trực tiếp vào trong tử cung, trong đó cung cấp một cơ hội tốt hơn của thai kỳ.

IVF can be performed together with Testicular Sperm Extraction (TESE) and Intra Cytoplasmic Sperm Injection (ICSI) to achieve a

higher pregnancy rate. IVF có thể được thực hiện cùng với tinh trùng tinh hoàn chiết (TESE) và tinh trùng nội tế bào chất Injection (ICSI) để đạt được một tỉ lệ có thai cao hơn.

TESE is method where the semen is extracted from the testicles for cases where man is unable to produce sperm. TESE là phương pháp mà tinh dịch được chiết xuất từ tinh hoàn đối với trường hợp người đàn ông không thể sản xuất tinh trùng. The semen tube may be clogged or partially cut off (sterile). Các ống tinh dịch có thể bị tắc hoặc một phần cắt bỏ (vô trùng). TESE is a minor and uncomplicated operation. TESE là một hoạt động nhỏ và không biến chứng. A part of the testicle tissue is clipped off and needle is inserted to extract sperm. Một phần của mô tinh hoàn được cắt ra và kim được chèn vào để lấy tinh trùng. Local anesthetic or anti- suppressant is used for this simple operation. Địa phương gây mê hoặc chống ức chế, được sử dụng cho hoạt động này đơn giản.

Sperm is injected into the egg by ICSI process. Tinh trùng được tiêm vào trứng của quá trình ICSI. ICSI is a direct injection of a single sperm into each egg. ICSI là tiêm trực tiếp một tinh trùng duy nhất vào mỗi trứng. This is one way of conception for patients who have a few sperm or has no sufficient amount of sperms to penetrate the egg. Đây là một cách thụ thai cho những bệnh nhân có tinh trùng ít hoặc không có đủ lượng tinh trùng thâm nhập vào trứng. A typical IVF process would be as follow: Một quá trình thụ tinh ống nghiệm điển hình sẽ là như sau:

  • 1. 1. Drugs are given to cause “Super Ovulation” to produce multiple eggs. Thuốc này được dùng để gây ra "Super rụng trứng" để

sản xuất nhiều trứng.

  • 2. 2. Eggs are retrieved using a vaginal ultrasound probe to guide a needle into the ovaries. Trứng được lấy ra bằng cách sử dụng

một đầu dò siêu âm âm đạo để hướng dẫn một kim vào buồng trứng. The procedure does not require general anesthesia and is performed with just simple intravenous sedation. Các thủ tục không cần gây mê và được thực hiện với chỉ gây tê tĩnh mạch đơn giản. An anesthesiologist is on site to administer the sedation for safety and comfort. Một bác sĩ gây mê là trên trang web để quản lý an thần cho an toàn và thoải mái.

  • 3. 3. Extracted or ejaculated sperms are capacitated (a biochemical and structural change in the laboratory), to isolate motile and

healthy sperms prior to fertilization process. hoặc ejaculated trích xuất tinh trùng được capacitated (a và cấu trúc thay đổi sinh hóa

trong phòng thí nghiệm), để phân lập và khỏe mạnh tinh di động hơn trước khi quá trình thụ tinh.

  • 4. 4. Removed follicular fluid from the ovaries is examined in the laboratory for eggs. Loại bỏ nang dịch từ buồng trứng được kiểm

tra trong phòng thí nghiệm cho trứng. Eggs are isolated and placed in culture media where they are allowed to further mature. Trứng được phân lập và được đặt trong môi trường nuôi cấy, nơi họ được phép tiếp tục trưởng thành. A few hours later, portions of the processed sperms are placed around each egg. Một vài giờ sau đó, những phần của tinh trùng được chế biến được đặt trên mỗi quả trứng. Only 50 to 100 thousand sperms are needed for each egg. Chỉ 50-100000 tinh trùng là cần thiết cho mỗi quả trứng. The eggs and sperms are left to incubate together in a carefully controlled environment. Những quả trứng và tinh trùng còn lại để ấp với nhau trong một môi trường được kiểm soát cẩn thận. Approximately 18 to 24 hours following insemination, the eggs are inspected under the microscope to determine how many have been successfully fertilized. Khoảng 18 đến 24 giờ sau thụ tinh, trứng được kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định bao nhiêu người đã được thụ tinh thành công. These embryos will be cultured in the laboratory as they continue to grow and develop until they reach Blastocyst stage. Những phôi sẽ được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm khi họ tiếp tục phát triển và phát triển cho đến khi chúng đạt đến giai đoạn túi phôi.

  • 5. 5. Two healthy embryos are transferred via a thin, soft plastic catheter through the cervix into the uterine cavity. Hai phôi khỏe

mạnh được chuyển qua một mềm, ống nhựa mỏng qua cổ tử cung vào trong khoang tử cung. They are then deposited in the upper part of the uterus and the catheter is withdrawn. Họ sau đó được gửi vào phần trên của tử cung và ống thông được rút lại. This is generally a painless procedure and the patient remains in bed for 2 hours before being discharged home. Điều này nói chung là một thủ tục không gây đau và bệnh nhân vẫn còn nằm trên giường trong 2 giờ trước khi thải nhà. As implantation will take place in the following two or three days, patient is advised to stay home for sufficient rest. Khi cấy ghép sẽ diễn ra trong những ngày sau hai hoặc ba, bệnh nhân được khuyên nên ở nhà nghỉ ngơi đầy đủ.

  • 6. 6. Patient will administer daily vaginal suppository of progesterone to enhance implantation. Bệnh nhân sẽ quản lý hàng ngày

thuốc đạn âm đạo của progesterone để nâng cao cấy. Ten to twelve days after the embryo transfer, blood pregnancy test is performed. Mười đến mười hai ngày sau khi chuyển phôi thai, xét nghiệm máu khi mang thai được thực hiện. Rising blood levels of the pregnancy hormone, “hCG”, indicates that implantation has occurred. nồng độ trong máu tăng cao của các hormon thai kỳ, "hCG", cho thấy cấy rằng đã xảy ra. Approximately 10 days after the first hCG lift, ultrasound is performed to confirm pregnancy. Khoảng 10 ngày sau khi nâng hCG đầu tiên, siêu âm được thực hiện để xác nhận mang thai. Fetal pole and fetal heart beating indicate the beginning of a new life. Thai cực và đánh đập tim thai chỉ bắt đầu của một cuộc sống mới.

Chuyển phôi

From Wikipedia, the free encyclopedia TWikipedia tiếng Vit Jump to: navigation , search Bước ti: chuyển hướng , tìm kiếm

Embryo transfer refers to a step in the process of in vitro fertilization (IVF) whereby one or several embryos are placed into the uterus of the female with the intent to establish a pregnancy . Phôi chuyển giao đề cập đến một bước trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), theo đó một hoặc một số phôi được đặt vào tử cung của phụ nữ với mục đích thiết lập một kỳ mang thai .

8-cell embryo for transfer 3 days after fertilization 8-t ế bào phôi để chuy ể n[ hide ]1 Fresh versus frozen 1 tươi đông lạ nh so v i o  2 Uterine preparation 2 t cung chu n b 3 Timing 3 Timing4 Procedure 4 Th t c5 Embryo number 5 phôi s 5.1 e-SET 5,1 e-SET6 Follow-up 6 Theo dõi7 Third-party reproduction 7 sinh s n c a bên th ba8 History 8 L ch s 9 Embryo transfer in livestock 9 phôi chuy n gia súc10 Footnotes 10 Chú thích11 External links 11 Tham kh o [ edit ] Fresh versus frozen [ s a ] tươi so với đông lạ nh Embryos can be either “fresh” from fertilized egg cells of the same menstrual cycle , or “frozen”, that is they have been generated in a preceding cycle, cryopreserved , and are thawed just prior to the transfer. Phôi có thể là "tươi" từ tế bào trứng đã thụ tinh của cùng một chu kỳ kinh nguyệt , hoặc "đóng băng", đó là họ đã được tạo ra trong một chu kỳ trước, cryopreserved , và được làm tan đá ngay trước khi chuyển giao. Babies born from frozen IVF embryos are less likely to be born prematurely or underweight than are those conceived during fresh treatment cycles, three independent teams of scientists have found. Em bé sinh ra từ phôi đông lạnh thụ tinh ống nghiệm là ít có khả năng sinh non hoặc nhẹ cân hơn những người thụ thai trong chu kỳ điều trị mới, ba đội độc lập của các nhà khoa học đã tìm thấy. One of the studies also recorded lower rates of stillbirth and early death among frozen-embryo babies. Một trong những nghiên cứu cũng ghi " id="pdf-obj-12-2" src="pdf-obj-12-2.jpg">

8-cell embryo for transfer 3 days after fertilization 8-tế bào phôi để chuyn 3 ngày sau khi thtinh

Contents Ni dung

[ edit ] Fresh versus frozen [ sa ] tươi so với đông lạnh

Embryos can be either “fresh” from fertilized egg cells of the same menstrual cycle , or “frozen”, that is they have been generated in a preceding cycle, cryopreserved , and are thawed just prior to the transfer. Phôi có thể là "tươi" từ tế bào trứng đã thụ tinh của cùng một chu kỳ kinh nguyệt , hoặc "đóng băng", đó là họ đã được tạo ra trong một chu kỳ trước, cryopreserved , và được làm tan đá ngay trước khi chuyển giao. Babies born from frozen IVF embryos are less likely to be born prematurely or underweight than are those conceived during fresh treatment cycles, three independent teams of scientists have found. Em bé sinh ra từ phôi đông lạnh thụ tinh ống nghiệm là ít có khả năng sinh non hoặc nhẹ cân hơn những người thụ thai trong chu kỳ điều trị mới, ba đội độc lập của các nhà khoa học đã tìm thấy. One of the studies also recorded lower rates of stillbirth and early death among frozen-embryo babies. Một trong những nghiên cứu cũng ghi

nhận mức giá thấp hơn của thai chết lưu và cái chết sớm trong số các em bé đông lạnh phôi. The results, from researchers based in the United States, Australia and Finland, suggest that far from being riskier than conventional IVF, as is generally thought, cycles using frozen embryos may

actually be safer, Mark Henderson of the Times London reported in November 2008. Kết quả, từ các nhà nghiên cứu có trụ sở tại Hoa Kỳ, Úc và Phần Lan, cho rằng đến nay không bị rủi ro hơn

so với thông thường thụ tinh ống nghiệm, như thường nghĩ, chu kỳ sử dụng phôi đông lạnh thực sự có thể được an toàn hơn, Mark Henderson của London Times báo cáo trong tháng mười một năm 2008.

[ edit ] Uterine preparation [ sa ] tcung chun b

In the human, the uterine lining ( endometrium ) needs to be appropriately prepared so that the embryo(s) can implant. Trong con người, nội mạc tử cung ( nội mạc tử cung ) cần phải được chuẩn bị thích hợp để các phôi (s) có thể cấy ghép. In a natural or stimulated cycle, the embryo transfer takes place in the luteal phase at a time where the lining is appropriately undeveloped in relation to the status of the present Luteinizing Hormone. Trong một hoặc kích thích chu kỳ tự nhiên, việc chuyển phôi diễn ra trong giai đoạn hoàng thể tại một thời gian, nơi lót phù hợp là không phát triển trong quan hệ với tình trạng hiện tại luteinizing hormone. In a cycle where a "frozen" embryo is transferred, the recipient woman could be given first estrogen preparations (about 2 weeks), then a combination of oestrogen and progesterone so that the lining becomes receptive for the embryo. Trong một chu kỳ mà một "đông lạnh" phôi được chuyển giao, người phụ nữ người nhận có thể được đưa ra chế estrogen đầu tiên (khoảng 2 tuần), sau đó là một sự kết hợp của estrogen progesterone để lót trở nên dễ tiếp thu đối với phôi thai. The time of receptivity is the implantation window . Thời điểm tiếp thu được các cửa sổ cấy .

Limited evidence also supports removal of cervical mucus before transfer. [ 1 ] Bằng chứng hạn chế cũng hỗ trợ loại bỏ các chất nhầy cổ tử cung trước khi chuyển giao. [1]

[ edit ] Timing [ sa ] Thời điểm

In stimulated cycles in human IVF, embryos are typically transferred 3 days after fertilization and may then be at the eight-cell stage, or they are transferred 2 to 3 days later when they have reached the blastocyst stage. Trong chu kỳ kích thích ở con người thụ tinh ống nghiệm, phôi thường được chuyển 3 ngày sau khi thụ tinh và sau đó có thể được ở giai đoạn tế bào tám, hoặc họ được chuyển giao 2-3 ngày sau khi họ đã đạt đến phôi nang giai đoạn. Embryos who reach the day 3 cell stage can be tested for chromosal or specific genetic defects prior to possible transfer by preimplantation genetic diagnosis ( PGD ). Phôi người đã đạt đến giai đoạn 3 di động ngày có thể được thử nghiệm cho chromosal hoặc khuyết tật di truyền cụ thể trước khi chuyển giao có thể do di truyền chẩn đoán preimplantation ( PGD ).

Monozygotic twinning is not increased after blastocyst transfer compared with cleavage-stage embryo transfer. [ 2 ] Monozygotic kết nghĩa là không tăng sau khi chuyển phôi nang so với giai đoạn phôi phân cắt chuyển giao. [2]

[ edit ] Procedure [ sa ] Thtc

The embryo transfer procedure starts by placing a speculum in the vagina to visualize the cervix, which is cleansed with saline solution or culture media. Thủ tục chuyển phôi bắt đầu bằng cách đặt một mỏ vịt trong âm đạo để hình dung cổ tử cung, đó là làm sạch bằng dung dịch muối phương tiện truyền thông hay văn hóa. A soft [ 1 ] transfer catheter is loaded with the embryos and handed to the clinician after confirmation of the patient's identity. Một mềm [1] ống thông chuyển được nạp với các phôi và giao cho các bác sĩ lâm sàng của bệnh nhân sau khi xác nhận danh tính của các. The catheter is inserted through the cervical canal and advanced into the uterine cavity. Ống thông này được đưa vào thông qua các kênh cổ tử cung và tiên tiến vào trong khoang tử cung.

There is good and consistent evidence of benefit in ultrasound guidance , [ 1 ] that is, making an abdominal ultrasound to ensure correct placement, which is 12 cm from the uterine fundus. Có tốt và phù hợp bằng chứng về lợi ích trong việc hướng dẫn siêu âm, [1] có nghĩa là, làm siêu âm bụng để đảm bảo vị trí chính xác, đó là 1-2 cm từ đáy tử cung. Anesthesia is generally not required. Gây mê nói chung là không cần thiết. Single embryo transfers in particular require accuracy and precision in placement within the uterine cavity. chuyển phôi đơn đặc biệt yêu cầu độ chính xác và độ chính xác tại vị trí trong khoang tử cung. The optimal target for embryo placement, known as the maximal implantation potential (MIP) point, is identified using 3D/4D ultrasound. [ 3 ] However, there is limited evidence that supports deposition of embryos in the midportion of the uterus. [ 1 ] Các mục tiêu tối ưu cho vị trí phôi, được gọi là tiềm năng cấy tối đa (MIP) điểm, được xác định bằng cách sử dụng siêu âm 3D/4D. [3] Tuy nhiên, có bằng chứng hạn chế hỗ trợ lắng đọng của phôi trong midportion của tử cung. [1]

After insertion of the catheter, the contents are expelled and the embryos are deposited. Sau khi đặt ống thông, nội dung là bị đuổi học và các phôi được lưu ký. Limited evidence supports making trial transfers before performing the procedure with embryos. [ 1 ] After expulsion, the duration that the catheter remains inside the uterus has no effect on pregnancy rates. [ 4 ] Limited evidence suggests avoiding negative pressure from the catheter after expulsion. [ 1 ] After withdrawal, the catheter is handed to the embryologist, who inspects it for retained embryos. Bằng chứng hạn chế hỗ trợ thực hiện chuyển giao thử nghiệm trước khi thực hiện các thủ tục với phôi. [1] Sau khi trục xuất, thời hạn ống thông vẫn còn bên trong tử cung không ảnh hưởng đến tỷ lệ mang thai. [4] Limited bằng chứng cho thấy tránh áp lực tiêu cực từ các ống thông sau khi trục xuất. [1] Sau khi thu hồi, ống thông được giao cho phôi, người kiểm tra nó cho phôi giữ lại.

In the process of zygote intrafallopian transfer (ZIFT), eggs are removed from the woman, fertilised, and then placed in the woman's fallopian tubes rather than the uterus. Trong quá trình

chuyển intrafallopian hợp tử (ZIFT), trứng được lấy ra từ người phụ nữ, thụ tinh, và sau đó được đặt trong ống dẫn trứng của người phụ nữ hơn là tử cung.

[ edit ] Embryo number [ sa ] sphôi

A major issue is how many embryos should be transferred. Một vấn đề lớn là làm thế nào nhiều phôi nên được chuyển giao. Placement of multiple embryos carries the risk of multiple pregnancy. Vị trí của phôi mang nhiều nguy cơ mang thai nhiều. In the past, physicians have

often placed too many embryos in the hope to establish a pregnancy. Trong quá khứ, các bác sĩ thường đặt quá nhiều phôi với hy vọng thành lập một thai kỳ. However, the rise in multiple pregnancies has led to a reassessment of this approach. Tuy nhiên, sự gia tăng đa thai đã dẫn đến một đánh giá lại các phương pháp tiếp cận này. Professional societies and in many countries, the legislature, have issued guidelines or laws to curtail a practice of placing too many embryos in an

attempt to reduce multiple pregnancies. Chuyên nghiệp và xã hội ở nhiều nước, các cơ quan lập pháp, có hướng dẫn đã ban hành hoặc pháp luật để ngăn chặn một thực tế của việc đặt quá nhiều phôi trong một nỗ lực để giảm đa thai.

[ edit ] e-SET [ sửa ] e-SET

The technique of selecting only one embryo to transfer to the woman is called elective-Single Embryo Transfer (e-SET) or, when embryos are at the blastocyst stage, it can also be called elective single blastocyst transfer (eSBT) [ 5 ] . Kỹ thuật này chỉ có một lựa chọn phôi để chuyển giao cho người phụ nữ được gọi là tự chọn-đơn phôi Chuyển giao (e-SET), hoặc, khi phôi thai đang ở giai đoạn phôi nang, nó cũng có thể được gọi là túi phôi tự chọn duy nhất chuyển giao (eSBT) [5] . It lowers the risk of multiple pregnancies, compared with eg Double Embryo Transfer (DET) or double blastocyst transfer (2BT), with a twinning rate of approximately 3.5% in sET compared with approximately 38% in DET, [ 6 ] or 2% in eSBT compared with approximately 25% in 2BT [ 5 ] . Nó làm giảm nguy cơ đa thai, so với ví dụ như chuyển phôi đôi (DET) hoặc chuyển túi phôi tăng gấp đôi (2BT), với tỷ lệ kết nghĩa của khoảng 3,5% trong bộ so với khoảng 38% trong DET, [6] hoặc 2% eSBT so với khoảng 25% trong 2BT [5] . At the same time, pregnancy rates is not significantly less with eSBT than with 2BT. [ 5 ] Furthermore, SET has better outcomes in terms of mean gestational age at delivery, mode of delivery, birthweight, and risk of neonatal intensive care unit necessity than DET. [ 6 ] e-SET of embryos at the cleavage stage reduces the likelihood of live birth by 38% and multiple birth by 94%. [ 7 ] Evidence from randomized, controlled trials suggests that increasing the number of e-SET attempts (fresh and/or frozen) results in a cumulative live birth rate similar to that of DET. [ 7 ] Đồng thời, tỷ lệ mang thai không phải là ít hơn đáng kể với eSBT hơn với 2BT. [5] Hơn nữa, SET có kết quả tt hơn vtui thai có nghĩa là lúc giao hàng, phương thức giao hàng, cân, và nguy cơ thâm canh chăm sóc trẻ sơ sinh cần thiết hơn DET. [6] e-SET của phôi ở giai đoạn phân chia làm giảm khả năng sinh sng của 38% và nhiều sinh bởi 94%. [7] Dẫn chứng từ ngẫu nhiên, các thử nghiệm kiểm soát cho thấy tăng số lượng các-SET cố gắng e ( tươi và / hoặc đông lạnh) kết quả trong một tỷ lệ sinh sống tích lũy tương tự như của DET. [7]

[ edit ] Follow-up [ sa ] Theo dõi

Patients usually start progesterone medication after egg (also called oocyte) retrieval. Bệnh nhân thường bắt đầu uống thuốc progesterone sau khi trứng (còn gọi là noãn bào) thu hồi. While daily intramuscular injections of progesterone-in-oil (PIO) have been the standard route of administration, PIO injections are not FDA-approved for use in pregnancy. Trong khi tiêm bắp ng ngày của progesterone-dầu-in (PIO) đã được các tuyến đường đạt tiêu chuẩn của chính quyền, PIO tiêm không được FDA chấp thuận cho sử dụng trong thai kỳ. A recent meta-analysis showed that the intravaginal route with an appropriate dose and dosing frequency is equivalent to daily intramuscular injections. [ 8 ] In addition, a recent case-matched study comparing vaginal progesterone with PIO injections showed that live birth rates were nearly identical with both

methods. [ 9 ] A duration of progesterone administration of 11 days results in almost the same birth rates as longer durations. [ 10 ] Một meta-phân tích gần đây cho thấy con đường intravaginal với một liu lượng thích hợp và tn số tương đương với liều tiêm bắp hàng ngày. [8] Ngoài ra, một trường hợp gần đây, xuất hiện nghiên cứu so sánh progesterone âm đạo với PIO tiêm cho thấy tỷ lệ sinh sống gần giống nhau với cả hai phương pháp. [9] Một thời gian quản lý progesterone của 11 kết quả ngày trong gần như cùng một tỷ lệ sinh là thời lượng lâu hơn. [10]

Patients are also given estrogen medication in some cases after the embryo transfer. Bệnh nhân cũng được cho thuốc estrogen trong một số trường hợp sau khi chuyển phôi. Pregnancy testing is done typically two weeks after egg retrieval. Mang thai thử nghiệm được thực hiện thường hai tuần sau khi thu hồi trứng.

[ edit ] Third-party reproduction [ sa ] sinh sn ca bên thba

It is not necessary that the embryo transfer be performed on the female who provided the eggs. Nó không phải là cần thiết là việc chuyển phôi được thực hiện trên những phụ nữ đã cung cấp những quả trứng. Thus another female whose uterus is appropriately prepared can receive the embryo and become pregnant. Vì vậy, một phụ nữ có tử cung là một cách thích hợp chuẩn bị có thể nhận được các phôi thai và mang thai. Embryo transfer may be used where a woman who has eggs but no uterus and wants to have a biological baby; she would require the help of a gestational carrier or surrogate to carry the pregnancy. chuyển phôi có thể được sử dụng khi một người phụ nữ có trứng nhưng không có tử cung và muốn có một em bé sinh học, cô sẽ yêu cầu sự giúp đỡ của một tàu sân bay thai hoặc thay thế để mang thai. Also, a woman who has no eggs but a uterus may resort to egg donor IVF, in which case another woman would provide eggs for fertilization and the resulting embryos are placed into the uterus of the patient. Ngoài ra, một người phụ nữ không có trứng nhưng tử cung có thể nghỉ mát để các nhà tài trợ trứng thụ tinh ống nghiệm, trong trường hợp một phụ nữ khác sẽ cung cấp trứng để thụ tinh và phôi kết quả được đặt vào tử cung của bệnh nhân. Fertilization may be performed using the woman's partner's sperm or by using donor sperm. Bón phân có thể được thực hiện bằng cách sử dụng tinh trùng của đối tác của người phụ nữ hoặc bằng cách sử dụng tinh trùng hiến tặng. 'Spare' embryos which are created for another couple undergoing IVF treatment but which are then surplus to that couple's needs may also be transferred. 'Phụ' phôi được tạo ra cho một cặp vợ chồng trải qua thụ tinh ống nghiệm điều trị nhưng sau đó thừa với nhu cầu đó của hai người cũng có thể được chuyển giao. Embryos may be specifically created by using eggs and sperm from donors and these can then be transferred into the uterus of another woman. Phôi có thể được đặc biệt tạo ra bằng cách sử dụng trứng và tinh trùng từ các nhà tài trợ và sau đó có thể được chuyển vào tử cung của người phụ nữ khác. A surrogate may carry a baby produced by embryo transfer for another couple, even though neither she nor the 'commissioning' couple is biologically related to the child. Một đại diện có thể mang theo một em bé được sản xuất bằng chuyển phôi cho cặp vợ chồng khác, mặc dù không phải cô ấy cũng không phải là 'thử' cặp vợ chồng là sinh học liên quan đến đứa trẻ. Third party reproduction is controversial and regulated in many countries. sinh sản của bên thứ ba là gây tranh cãi và quy định ở nhiều nước. Persons entering gestational surrogacy arrangements must make sense of an entirely new type of relationship that does not fit any of the traditional scripts we use to categorize relations as kinship, friendship, romantic partnership or market relations. [ 11 ] Surrogates have the experience of carrying a baby that they conceptualize as not of their own kin, while intended mothers have the experience of waiting

through nine months of pregnancy and transitioning to motherhood from outside of the pregnant body. Người vào các thỏa thuận đẻ thuê thai phải làm cho tinh thần của một loại mới của mối quan hệ hoàn toàn không phù hợp bất kỳ của các kịch bản truyền thống chúng tôi sử dụng để phân loại các mối quan hệ như quan hệ họ hàng, hữu nghị, hợp tác quan hệ lãng mạn hoặc thị trường. [11] Surrogates có kinh nghiệm thực một em bé mà họ khái niệm là không thân nhân của họ, trong khi bà mẹ có kinh nghiệm dự định chờ đợi đến chín tháng mang thai và chuyển sang làm mẹ từ bên ngoài của cơ thể mang thai. This can lead to new conceptualizations of body and self. [ 11 ] Điều này có thể dẫn đến conceptualizations mới của cơ thể và tự. [11]

[ edit ] History [ sa ] Lch s

The first transfer of an embryo from one human to another resulting in pregnancy was reported in July 1983 and subsequently led to the announcement of the first human birth February 3, 1984. [ 12 ] This procedure was performed at the Harbor UCLA Medical Center [ 13 ] under the direction of Dr. John Buster and the University of California at Los Angeles School of Medicine. Việc chuyển giao đu tiên của một phôi thai từ một con người đến một kết quả trong thai kỳ đã được báo cáo vào tháng Bảy năm 1983 và sau đó đã dẫn đến việc công bố sự ra đời của con người đầu tiên 03 tháng hai năm 1984. [12] Thủ tục này được thực hiện tại Trung tâm y tế UCLA Cảng [13 ] dưới sự chỉ đạo của tiến sĩ John Buster và Đại học California tại Los Angeles học Y khoa.

In the procedure, an embryo that was just beginning to develop was transferred from one woman in whom it had been conceived by artificial insemination to another woman who gave birth to the infant 38 weeks later. Trong thủ tục, một phôi thai đó chỉ là bắt đầu phát triển đã được chuyển giao từ một người phụ nữ mà nó đã được hình thành bởi thụ tinh nhân tạo cho một người phụ nữ đã sinh cho trẻ sơ sinh trong 38 tuần sau đó. The sperm used in the artificial insemination came from the husband of the woman who bore the baby. [ 14 ] [ 15 ] Các tinh trùng được sử dụng trong thụ tinh nhân tạo đến từ người chồng của người phụ nữ đã mang em bé. [14] [15]

This scientific breakthrough established standards and became an agent of change for women suffering from the afflictions of infertility and for women who did not want to pass on genetic disorders to their children. Điều này mang tính đột phá khoa học thành lập các tiêu chuẩn và trở thành một tác nhân của sự thay đổi đối với phụ nữ đau khổ từ những phiền não của vô sinh và cho những phụ nữ không muốn truyền rối loạn di truyền cho con cái. Donor embryo transfer has given women a mechanism to become pregnant and give birth to a child that will contain their husband's genetic makeup. Nhà tài trợ chuyển phôi đã cho phụ nữ một cơ chế mang thai và sinh một đứa con sẽ chứa các cấu trúc gen của người chồng của họ. Although donor embryo transfer as practiced today has evolved from the original non-surgical method, it now accounts for approximately 5% of in vitro fertilization recorded births. Mặc dù các nhà tài trợ chuyển phôi như hiện nay thực hành đã phát triển từ phương pháp không phẫu thuật ban đầu, nó hiện chiếm khoảng 5% trong thụ tinh ống nghiệm Sinh ghi lại.

Prior to this, thousands of women who were infertile , had adoption as the only path to parenthood. Trước đó, hàng ngàn phụ nữ bị vô sinh , đã nhận con nuôi là con đường duy nhất để cha mẹ. This set the stage to allow open and candid discussion of embryo donation and transfer. Điều này thiết lập giai đoạn để cho phép các cuộc thảo luận cởi mở và thẳng thắn của phôi và

chuyển giao. This breakthrough has given way to the donation of human embryos as a common practice similar to other donations such as blood and major organ donations. Bước đột phá này đã mở đường cho những đóng góp của phôi thai người là một thực tế phổ biến tương tự như đóng góp khác như máu và đóng góp quan trọng. At the time of this announcement the event was captured by major news carriers and fueled healthy debate and discussion on this practice which impacted the future of reproductive medicine by creating a platform for further advancements in

woman's health. Tại thời điểm công bố sự kiện này được chụp bởi nhà cung cấp tin tức quan trọng và thúc đẩy cuộc tranh luận lành mạnh và thảo luận về thực tế này mà ảnh hưởng đến tương lai của y học sinh sản bằng cách tạo ra một nền tảng cho tiến bộ hơn nữa trong sức khỏe của người phụ nữ.

This work established the technical foundation and legal-ethical framework surrounding the clinical use of human oocyte and embryo donation , a mainstream clinical practice, which has evolved over the past 25 years. [ 14 ] [ 15 ] Building upon this groundbreaking research and since the initial birth announcement in 1984, well over 47,000 live births resulting from donor embryo transfer have been and continue to be recorded by the Centers for Disease Control(CDC) [ 16 ] in the United States to infertile women, who otherwise would not have had children by any other existing method. [ 17 ] [ 18 ] Công việc này được thành lập nền tảng kỹ thuật và đạo đức khuôn khổ pháp lý xung quanh việc sử dụng lâm sàng của con người trứng phôi , một chính thực hành lâm sàng, trong đó đã phát triển trong những năm qua 25. [14] [15] Xây dựng dựa trên nghiên cứu đột phá này và kể từ sinh ban đầu thông báo vào năm 1984, hơn 47.000 người sinh sống kết quả từ chuyển phôi nhà tài trợ đã và tiếp tục được ghi do Trung tâm kiểm soát dịch bệnh (CDC) [16] tại Hoa Kỳ cho phụ nữ vô sinh, những người khác sẽ không có trẻ em bởi bất kỳ phương pháp hiện hành khác. [17] [18]

[ edit ] Embryo transfer in livestock [ sa ] chuyển phôi trong chăn nuôi

chuyển giao. This breakthrough has given way to the donation of human embryos as a commonoocyte and embryo donation , a mainstream clinical practice, which has evolved over the past 25 years. Building upon this groundbreaking research and since the initial birth announcement in 1984, well over 47,000 live births resulting from donor embryo transfer have been and continue to be recorded by the Centers for Disease Control(CDC) in the United States to infertile women, who otherwise would not have had children by any other existing method. Công việc này được thành lập nền tảng kỹ thuật và đạo đức khuôn khổ pháp lý xung quanh việc sử dụng lâm sàng của con người trứng phôi , một chính thực hành lâm sàng, trong đó đã phát triển trong những năm qua 25. Xây dựng dựa trên nghiên cứu đột phá này và kể từ sinh ban đầu thông báo vào năm 1984, hơn 47.000 người sinh sống kết quả từ chuyển phôi nhà tài trợ đã và tiếp tục được ghi do Trung tâm kiểm soát dịch bệnh (CDC) tại Hoa Kỳ cho phụ nữ vô sinh, những người khác sẽ không có trẻ em bởi bất kỳ phương pháp hiện hành khác. [ edit ] Embryo transfer in livestock [ s a ] chuy ển phôi trong chăn nuôi Embryo transferred Charolais calves with their Angus and Hereford recipient mothers. Phôi chuy ể n Charolais bê v ớ i h ọ Angus và m ẹ ngườ i nh ậ n Hereford. Embryo transfer techniques allow top quality female livestock to have a greater influence on the genetic advancement of a herd or flock in much the same way that artificial insemination has allowed greater use of superior sires. ET also allows the continued use of animals such as competition mares to continue training and showing, while producing foals . Phôi chuyển giao kỹ thuật cho phép chất lượng hàng đầu nữ chăn nuôi để có một ảnh hưởng lớn hơn vào sự tiến bộ di truyền của một đàn hoặc đàn trong cùng một con đường nhiều đến thụ tinh nhân tạo đã cho phép sử dụng lớn hơn của đực giống cao cấp. ET cũng cho phép tiếp tục sử dụng động vật như vậy như ngựa cạnh tranh để tiếp tục đào tạo và hiển thị, trong khi sản xuất foals . The general " id="pdf-obj-18-49" src="pdf-obj-18-49.jpg">

Embryo transferred Charolais calves with their Angus and Hereford recipient mothers. Phôi chuyn Charolais bê vi hAngus và mẹ người nhn Hereford.

Embryo transfer techniques allow top quality female livestock to have a greater influence on the genetic advancement of a herd or flock in much the same way that artificial insemination has allowed greater use of superior sires. [ 19 ] ET also allows the continued use of animals such as competition mares to continue training and showing, while producing foals . Phôi chuyển giao kỹ thuật cho phép chất lượng hàng đầu nữ chăn nuôi để có một ảnh hưởng lớn hơn vào sự tiến bộ di truyền của một đàn hoặc đàn trong cùng một con đường nhiều đến thụ tinh nhân tạo đã cho phép sử dụng lớn hơn của đực giống cao cấp. [19] ET cũng cho phép tiếp tục sử dụng động vật như vậy như ngựa cạnh tranh để tiếp tục đào tạo và hiển thị, trong khi sản xuất foals . The general

epidemiological aspects of embryo transfer indicates that the transfer of embryos provides the opportunity to introduce genetic material into populations of livestock while greatly reducing the risk for transmission of infectious diseases. Các khía cạnh dịch tễ học chung của chuyển phôi chỉ ra rằng việc chuyển phôi cung cấp cơ hội để giới thiệu vật liệu di truyền vào dân số của vật nuôi, trong khi giúp giảm thiểu nguy cơ lây truyền các bệnh truyền nhiễm. Recent developments in the sexing of embryos before transfer and implanting has great potential in the dairy and other livestock industries. [ 20 ] Gần đây phát triển trong sexing của phôi trước khi chuyển giao và cấy có tiềm năng lớn trong chăn nuôi bò sữa và các ngành công nghiệp khác. [20]

Bài viết này bàn về các kỹ thuật cấy ghép phôi thai cho động vật móng guốc, đặc biệt là gia súc, trâu nước. It outlines techniques in current use, and their success rate. Nó phác thảo kỹ thuật trong việc sử dụng hiện tại, và tỷ lệ thành công của họ. It describes how to recover embryos from donors, by either surgical or non-surgical techniques. Nowadays, non-surgical collection techniques are generally preferred. Nó mô tả làm thế nào để phục hồi phôi từ các nhà tài trợ, bằng cách hoặc không phẫu thuật kỹ thuật phẫu thuật. Ngày nay, bộ sưu tập các kỹ thuật phẫu thuật thường không ưa thích. It describes how to handle the embryos, and how to transfer them. Nó mô tả làm thế nào để xử lý các phôi thai, và làm thế nào để chuyển chúng. Equipment and procedures are described in detail. Thiết bị và thủ tục được mô tả chi tiết. Finally, it outlines the factors influencing the success of embryo transfer. Cuối cùng, nó vạch ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của cấy phôi. Of these, operator skill is one of the most important . Trong số này, nhà điều hành kỹ năng là một trong những quan trọng nhất.

Introduction Gii thiu

Embryo transfer (ET) techniques are very effective for the propagation of superior genes. This technology has been in use for several years, and allows breeders of livestock to share their most valuable germplasm at an international as well as a domestic level without depleting their genetic base. Embryo movement provides a humane alternative to the stress of transporting live animals. Research to date has shown that this method of moving genetic material can be very safe with regard to preventing the introduction of infectious diseases into previously unaffected

populations. Chuyển phôi (ET) kỹ thuật này rất hiệu quả cho công tác tuyên truyền của gen cao cấp. Công nghệ này đã được sử dụng trong nhiều năm, và cho phép nuôi gia súc để chia sẻ nguồn gen có giá trị nhất của họ tại một quốc tế cũng như trong nước cấp mà không làm suy yếu của di

truyền . di chuyển phôi cơ sở cung cấp một thay thế nhân đạo đến sự căng thẳng của vận chuyển động vật sống ngày. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp này di chuyển vật liệu di truyền có thể rất an toàn đối với phòng chống sự xuất hiện của các bệnh truyền nhiễm vào dân số bị ảnh hưởng trước đây.

The method of embryo transfer, which is used for the increase of the reproductive ability of female animals, is now a routine practice in cattle breeding in many countries of the world.

Phương pháp chuyển phôi, được sử dụng cho việc tăng khả năng sinh sản của động vật nữ, bây

giờ là một thực hành thường xuyên trong chăn nuôi gia súc tại nhiều nước trên thế giới. Its application in buffalo breeding, however, started only about two decades ago, with the birth of

the first calf as a result of embryo transfer. ứng dụng của nó trong chăn nuôi trâu, tuy nhiên, bắt đầu chỉ có khoảng hai thập kỷ trước đây, với sự ra đời của con bê đầu tiên như là một kết quả của việc chuyển phôi.

Embryo transfer is a technology that requires expertise in many areas. Chuyển phôi là một công nghệ mà yêu cầu chuyên môn trong nhiều lĩnh vực. It includes several consecutive stages such as the selection of donors (genetically superior and with normal reproduction), selection of recipients (of low genetic but high reproductive ability), hormonal treatment of the donors for the induction of superovulation, fertilization of the donors, embryo recovery from the donors,

evaluation of embryos recovered and embryo transfer to the recipients by either surgical or non- surgical methods which would complete the pregnancy and give birth to a calf. Nó bao gồm nhiều giai đoạn liên tiếp như lựa chọn của các nhà tài trợ (di truyền cao và với sinh sản bình thường), lựa chọn của người nhận (trong di truyền cao khả năng sinh sản nhưng thấp), nội tiết điều trị của các nhà tài trợ cho các cảm ứng của superovulation, thụ tinh của các nhà tài trợ, phôi phục hồi từ các nhà tài trợ, đánh giá của phôi thu hồi và chuyển phôi cho người nhận bằng cách hoặc các phương pháp phẫu thuật không phẫu thuật mà có thể hoàn thành việc mang thai và sinh

con bê. While each stage is simple and usually a matter of common sense, it must be carried out properly in coordination with all preceding and subsequent steps, otherwise failure will result.

Trong khi mỗi giai đoạn là đơn giản và thường là vấn đề ý thức chung, nó phải được thực hiện

đúng cách phối hợp với tất cả và tiếp bước trên, nếu không sẽ không kết quả.

Research with cattle, pig, sheep and goat embryos shows that embryo transfer can be a safe, effective means of preventing the spread of many pathogens, provided that proper sanitary procedures for collection, handling, and transfer are used. The embryo is an unlikely host for many pathogens because of primary resistance provided by the zona pellucida. Nghiên cứu với, lợn, cừu, dê phôi gia súc cho thấy, chuyển phôi có thể là một phương tiện hiệu quả an toàn, ngăn chặn sự lây lan của mầm bệnh rất nhiều, với điều kiện vệ sinh đúng thủ tục cho bộ sưu tập, xử lý, và chuyển giao được sử dụng. Phôi là một máy chủ không cho nhiều tác nhân gây bệnh vì sức đề kháng chính cung cấp bởi các màng zona. Secondary resistance factors, such as the early stage of development, small size, and limited mobility, also reduce the potential exposure of the embryo.

các yếu tố kháng phụ, chẳng hạn như giai đoạn đầu phát triển, kích thước nhỏ và tính di động hạn chế, cũng làm giảm sự phơi nhiễm tiềm năng của phôi thai. The facts that many bacterial and viral pathogens are too large to penetrate the intact zona pellucida and that some do not survive

well in embryo support media, further reduce the possibility of transmitting an infectious agent via embryo transfer. Các dữ kiện mà tác nhân gây bệnh do vi khuẩn và virus nhiều quá lớn để xâm nhập vào màng zona nguyên vẹn và có một số không tồn tại tốt trong các phương tiện truyền thông hỗ trợ phôi, tiếp tục giảm khả năng truyền một tác nhân truyền nhiễm thông qua chuyển giao phôi.

Success in ET depends on the ability to perform a series of technical steps and simultaneously minimize factors known to have a negative effect on the percentage of transfers that result in the birth of healthy offspring. Thành công trong ET phụ thuộc vào khả năng thực hiện một loạt các bước kỹ thuật và đồng thời giảm thiểu các yếu tố được biết là có một tác động tiêu cực về tỷ lệ chuyển mà kết quả là sự ra đời của đứa con khỏe mạnh. Sound sanitary measures at all stages are vital to ensure success. các biện pháp vệ sinh âm thanh ở tất cả các giai đoạn là quan trọng để đảm bảo thành công. Poor hygiene will jeopardize the health of donors, reduce pregnancy rates, and increase the risk of transmitting infections when embryos are transferred. Vệ sinh sẽ gây nguy hiểm cho người nghèo sức khỏe của các nhà tài trợ, giảm tỷ lệ mang thai, và làm tăng nguy cơ truyền nhiễm khi phôi được chuyển giao. This Bulletin addressed some of the technical

aspects, with a focus on recovery, handling and transfer of embryos. Bản tin này đề cập một số các khía cạnh kỹ thuật, tập trung xử lý, thu hồi và chuyển giao phôi.

Embryo Recovery Phôi Recovery

Surgical and non-surgical methods are employed in recovering embryos in large animals. Whether the embryos are recovered surgically or non-surgically, cleanliness at all stages is mandatory. For example, it is illogical to pass a sterile catheter into the uterus of a cow past a vulva grossly contaminated with feces. Phẫu thuật và phẫu thuật phương pháp không được sử

dụng trong việc khôi phục phôi ở động vật lớn

Cho dù các phôi được thu hồi bằng phẫu thuật

.. hay không phẫu thuật, sạch sẽ ở tất cả các giai đoạn là bắt buộc Ví dụ, nó là bất hợp lý để thông qua một ống thông vô trùng vào tử cung của một con bò qua âm hộ là hết sức bị ô nhiễm phân.

The vulva and tailhead should be scrubbed with soap and water, disinfected, and then adequately rinsed prior to catheterization. Disinfectants must be used with great caution, since many of these

chemicals are toxic to embryos. Âm hộ và tailhead nên được chùi bằng xà phòng và nước, khử trùng, sau đó rửa sạch đầy đủ trước khi đặt ống thông. Thuốc khử trùng phải được sử dụng thận trọng, vì nhiều người trong số các hóa chất này rất độc hại cho phôi.

Restraint of donors should not be overly stressful. Hạn chế các nhà tài trợ không nên quá căng thẳng. However, adequate control is necessary to minimize movement and ensure the safety of animals and personnel. Tuy nhiên, kiểm soát đầy đủ là cần thiết để giảm thiểu sự chuyển động và đảm bảo sự an toàn của động vật và nhân sự. Sedatives or tranquilizers should be used prudently and in accordance with the manufacturer's instructions. Thuốc an thần hoặc thuốc an thần nên được sử dụng thận trọng và phù hợp với hướng dẫn của các nhà sản xuất. Local, epidural, paravertebral, or general anesthetics should be administered with care. , Ngoài màng cứng, paravertebral, hay nói chung thuốc gây tê cục bộ nên được quản lý cẩn thận. Particular attention should be paid to the site of the injection, the type of drug used, and the concentration of the dose. Animals under general anesthesia should be monitored constantly by a competent person other than the surgeon collecting the embryos. Chú ý đặc biệt nên được trả cho các trang web của tiêm, các loại thuốc được sử dụng, và nồng độ liều dùng. Động vật dưới gây mê toàn thân nên được theo dõi thường xuyên bởi một người có thẩm quyền khác ngoài các bác sĩ phẫu thuật thu phôi. A high level of skill is required for laparoscopic methods of collection and transfer of embryos. Một mức độ cao về kỹ năng cần thiết cho phương pháp nội soi của bộ sưu tập và chuyển giao phôi.

Equipment that comes in contact with the donor, or is contaminated by her secretions and excretions, must be thoroughly cleaned and disinfected prior to use with another animal. This include items such as squeeze chutes and trolleys as well as surgical instruments. Thiết bị tiếp xúc với các nhà tài trợ, hoặc là bị ô nhiễm bởi chất bài tiết của cô tiết và, phải được rửa sạch và khử trùng trước khi sử dụng với các động vật khác. Điều này bao gồm các hạng mục như chutes bóp và xe đẩy cũng như dụng cụ phẫu thuật. Recovery catheters, tubing, dishes, and other equipment that come into direct contact with uterine fluids or recovery medium should not be used without being resterilized. When it is possible, sterile disposable items should be used. Phục hồi ống thông, ống, món ăn, và các thiết bị khác có tiếp xúc trực tiếp với chất dịch tử cung hoặc vừa thu hồi không được sử dụng mà không bị resterilized. Khi có thể, dùng một lần các mục vô trùng nên được sử dụng. Disposable plastic gloves (or a clean, sterile, rubber sleeve) should be

used when embryos are collected non-surgically, and full aseptic procedures are necessary for surgical collections. Embryo recovery media should be of high quality. Biological constituents of media should be specified to be pathogen-free. nhựa bao tay dùng một lần (hoặc một, sạch sẽ vô

trùng, cao su, ống tay áo) nên được sử dụng khi phôi được thu thập không phẫu thuật, và

trùng các thủ tục đầy đủ là cần thiết cho các bộ sưu tập phẫu thuật

phục hồi phương tiện truyền

.. thông nên được phôi cao chất lượng các thành phần sinh học của các phương tiện truyền thông cần được quy định là tác nhân gây bệnh miễn phí.

Care should be taken during the recovery process to avoid damage to the donor's reproductive tract. Nên cẩn thận trong quá trình phục hồi để tránh thiệt hại cho đường sinh sản của nhà tài trợ. Excessive manipulation of the reproductive tract or collection equipment can cause adhesions of the oviducts or fimbriae and hemorrhage of the uterus. Quá nhiều thao tác của đường sinh sản hoặc thiết bị thu có thể gây dính của ống dẫn trứng hoặc fimbriae và xuất huyết tử cung.

Overinflation of the cuff of the catheter in the case of non-surgical recovery from cattle, or dilating the uterus with an excessive volume of collection medium, can tear the endometrium or

rupture the uterus. Overinflation của túi hơi của ống thông trong trường hợp phẫu thuật không phục hồi từ gia súc, hoặc giãn tử cung với khối lượng quá mức của trung thu, có thể xé nội mạc tử cung hay vỡ tử cung.

The volume of medium infused and recovered should be recorded as a gauge of efficiency of the procedure for recovery of embryos. Khối lượng trung bình truyền và thu hồi sẽ được ghi nhận là một tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của thủ tục phục hồi của phôi. If direct filtration of collection medium is used in the recovery of embryos, filters should be used with great care according to

the manufacturer's instructions. Nếu trực tiếp lọc trung thu được sử dụng trong sự phục hồi của phôi, các bộ lọc nên được sử dụng với rất quan tâm theo hướng dẫn của các nhà sản xuất.

Surgical Collection of Embryos Phẫu thuật Bộ sƣu tập của phôi

Early collection techniques involved either slaughtering the females and excising the oviducts, or surgically removing the oviducts from live females at 72 hours postovulation so that the embryos could be recovered by flushing. Đầu thu kỹ thuật liên quan đến giết mổ hoặc con cái và excising các ống dẫn trứng, hoặc phẫu thuật loại bỏ các ống dẫn trứng của phụ nữ sống ở 72 giờ postovulation để các phôi có thể được phục hồi bằng đỏ bừng. This defeated the primary purpose of superovulation, so other methods were developed. Điều này đánh bại mục đích chính của superovulation, các phương pháp khác để được phát triển. A surgical method was developed first. This is done by performing a laparotomy (flank or midline abdominal incision) to expose the reproductive tract. Một phương pháp phẫu thuật được phát triển đầu tiên. Điều này được thực hiện bằng cách thực hiện một laparotomy (sườn hoặc đường giữa vết mổ bụng) để ra đường sinh sản. A clamp or the thumb and forefinger can be used to block the distal one-third of the uterine horn, so that fluid injected into that segment can be forced through the oviduct with a gentle milking action and collected at the infundibulum. Một cái kẹp hoặc ngón tay cái và ngón trỏ có thể được sử dụng để ngăn chặn một xa-thứ ba của sừng tử cung, do đó, chất lỏng bơm vào phân khúc có thể bị buộc phải thông qua vòi trứng với một hành động nhẹ nhàng vắt sữa và thu thập tại phễu này. An alternate procedure is to occlude the uterine horn at the body of the uterus. Culture medium is introduced through a puncture at the uterotubal junction or through the oviduct until the uterus is turgid. Một thủ thuật thay thế là để hâ p thụ sừng tử cung tại cơ tử

cung. Vừa được giới thiệu văn hóa thông qua đâm một ở ngã ba uterotubal hoặc thông qua vòi trứng cho đến khi tử cung được khoa trương. The uterus is then punctured with a blunt needle attached to a flexible catheter. The pressure will cause the medium to gush through the catheter,

with enough turbulence to carry the embryos into a collection tube. tử cung sau đó được thủng với một cây kim cùn gắn liền với một ống thông linh hoạt. Các áp lực sẽ gây ra các trung phun ra

qua ống thông, với những biến động đủ để thực hiện các phôi vào một ống thu gom. These procedures allow for the recovery of a high percentage of embryos. Các thủ tục này cho phép phục hồi của một tỷ lệ cao của phôi. However, because of the surgical trauma and resulting adhesions they can be repeated only a few times. Tuy nhiên, do chấn thương trong phẫu thuật và dính kết quả họ có thể được lặp đi lặp lại chỉ một vài lần. Adhesions make it difficult, if not impossible, to expose the reproductive tract repeatedly, and limit surgical interventions to a maximum of around three. Dính làm cho nó khó khăn, nếu không phải là không thể, để lộ các đường sinh sản nhiều lần, và hạn chế can thiệp phẫu thuật để tối đa khoảng ba.

The first successful cattle ET studies obtained from the embryos by a surgical procedure. The donor, which had fasted and been tranquilized, was anaesthetized by way of an initial intravenous knockdown injection, followed by intubation and closed circuit anaesthesia (eg with

a halothane/oxygen mixture). Các gia súc đầu tiên nghiên cứu thành công ET thu được từ các phôi thai của một thủ tục phẫu thuật,. Các nhà tài trợ đã nhịn ăn và được tranquilized, đã được gây mê bằng cách tiêm tĩnh mạch một knockdown ban đầu, tiếp theo là đặt nội khí quản và gây mê mạch kín (ví dụ với một halothane / oxy hỗn hợp). In the mid-ventral laparotomy procedure, the uterus was exteriorized and a fine cannula introduced into the ovarian end of the oviduct; flushing fluid was then gently forced through from the uterus. Trong bụng laparotomy thủ tục giữa, tử cung đã được exteriorized và một ống thông tốt giới thiệu vào cuối vòi trứng buồng trứng của các; xả chất lỏng sau đó nhẹ nhàng buộc phải thông qua từ tử cung.

Cattle embryos enter the uterus four days after the end of estrus. Bò phôi nhập tử cung bốn ngày sau khi kết thúc động dục. The majority of recovery attempts were timed for about seven days after the cow was no longer on heat. Đa số các nỗ lực phục hồi được tính thời gian khoảng bảy ngày sau khi các con bò đã không còn trên lửa. In the early days, milking cows were not regarded as good candidates for surgical recovery. Trong những ngày đầu, bò vắt sữa không được coi là ứng cử viên tốt cho phẫu thuật phục hồi. There was the danger that they might become ketotic when they fasted prior to surgery, while their recovery from the intervention

might be prolonged and occasionally complicated by hypocalcemia. Có những nguy hiểm mà họ có thể trở thành ketotic khi họ nhịn ăn trước khi phẫu thuật, trong khi hồi phục của họ từ can thiệp có thể được kéo dài và đôi khi phức tạp bởi hypocalcemia.

Before 1976, most bovine embryos were collected via mid-line laparotomy or, less commonly, via a flank incision. Trước năm 1976, phôi bò nhất được thu thập qua giữa dòng laparotomy hay, ít phổ biến, thông qua một đường rạch sườn. The alternative surgical procedure, using the flank incision after employing local anaesthetic and with the donor under sedation, was the preferred

option for large animals like cows. Các thủ tục phẫu thuật thay thế, sử dụng các vết rạch sườn sau khi sử dụng gây tê cục bộ và với các nhà tài trợ theo an thần, là lựa chọn ưa thích cho động vật lớn như con bò.

In most cases, embryos are recovered six to eight days after the beginning of estrus (day 0). Embryos can be recovered non-surgically as early as four days after estrus from some cows, but prior to day 6 recovery rates are lower than on days 6 to 8. Trong hầu hết trường hợp, phôi được thu hồi từ sáu đến tám ngày sau khi bắt đầu động dục (ngày 0) trên. Phôi có thể được phục hồi không phải phẫu thuật sớm nhất là bốn ngày sau khi động dục từ một số con bò, nhưng trước khi phục hồi ngày 6 đến mức giá thấp hơn ngày 6-8. Embryos can also be recovered on days 9 to 14 after estrus. Phôi cũng có thể được phục hồi vào ngày 9-14 sau khi động dục. However, they hatch from the zona pellucida on day 9 to 10, making them more difficult to identify and isolate, and more susceptible to infection. Tuy nhiên, khi nở từ màng zona vào ngày 9-10, làm cho chúng khó khăn hơn để xác định và cô lập, và dễ bị nhiễm trùng. After day 13, embryos elongate dramatically and are sometimes damaged during recovery or become entangled with each other. Procedures for cryopreservation and bisection have been optimized for 6-8 days embryos, which is another reason for choosing this time. Sau ngày 13, phôi mọc dài ra đáng kể và đôi khi bị hư hỏng trong quá trình phục hồi hoặc trở nên vướng mắc với nhau chia la m hai đoạn. Thủ tục trữ lạnh và đã được tối ưu hóa cho 6-8 ngày phôi thai, mà là một lý do cho việc lựa chọn thời gian này. A small percentage of embryos remain in the oviduct after day 7. Một tỷ lệ nhỏ các phôi còn lại trong vòi trứng sau ngày thứ 7. Unfortunately these are not recoverable with current non- surgical procedures. Thật không may này không thể phục hồi với không phẫu thuật hiện hành.

Several workers during the early years of cattle ET research developed procedures for the non- surgical recovery of embryos. Một số công nhân trong những năm đầu của ET nghiên cứu gia súc phát triển thủ tục phẫu thuật phục hồi không phải của phôi. However, it was animal welfare considerations and the problem of adhesions that focused attention in the early 1970s on developing non-surgical procedures. Tuy nhiên, nó đã được cân nhắc quyền lợi động vật và vấn đề dính mà tập trung chú ý vào đầu năm 1970 phát triển các thủ tục phẫu thuật không. It was clear that non-surgical, methods would greatly facilitate the production of cattle ET, especially with certain categories of donors. Rõ ràng là không phẫu thuật, phương pháp rất nhiều sẽ tạo thuận lợi cho sản xuất của gia súc ET, đặc biệt là với một số loại nhà tài trợ. As already mentioned, high-yielding dairy cows, are likely to have problems if they fast before surgery, while there are often difficulties in exteriorizing the tract. Như đã đề cập, năng suất chăn nuôi bò sữa cao, có thể có vấn đề nếu họ nhanh chóng trước khi phẫu thuật, trong khi có thường khó khăn trong exteriorizing đường.

Non-Surgical Collection of Embryos Không phẫu thuật Bộ sƣu tập của phôi

Non-surgical techniques of recovery have been developed for cows and mares that give results essentially equal to surgical methods. Các kỹ thuật phẫu thuật không phục hồi đã được phát triển cho bò và ngựa cái mà cho kết quả chủ yếu bằng phương pháp phẫu thuật. They involve the use of a size 18 to 24 French Foley catheter (two-way flow catheter) which allows flushing fluids to pass into the uterus, and then allows fluid to be returned from the uterus to a collecting receptacle. A small balloon near the end of the catheter, which can be inflated just inside the uterine horn to prevent the flushing fluid escaping through the cervix, is also a feature. Họ liên quan đến việc sử dụng các kích thước 18-24 ống thông Foley Pháp (ống thông hai chiều dòng chảy) cho phép xả nước để đi vào tử cung, và sau đó cho phép chất lỏng phải được trả lại từ tử cung để một thùng thu. Một quả bóng nhỏ gần cuối ống thông, có thể được tăng chỉ bên trong sừng tử cung để ngăn chặn việc xả chất lỏng thoát ra qua cổ tử cung, cũng là một tính năng. The

Foley catheter is larger in diameter than the normal insemination instrument, and occasionally

cannot be passed without first using a cervical dilator on the cervix. Các ống thông Foley là lớn hơn đường kính hơn so với các dụng cụ thụ tinh bình thường, và đôi khi không thể được thông qua mà không đầu tiên sử dụng một gân la m trương một khi quản cổ tử cung trên cổ tử cung.

With non-surgical collection methods, it is difficult to determine how many ovulation sites are present on the ovary, so it is not possible to determine when all of the embryos have been

collected. In controlled experi-ments, about 50% of embryos resulting from superovulation are recovered whether surgical or non-surgical procedures are used. Với bộ sưu tập các phương pháp phẫu thuật không, rất khó để xác định các trang web nhiều sự rụng trứng có mặt trên buồng trứng, nên không thể xác định khi tất cả các phôi đã được thu thập. Trong experi kiểm soát- ments, khoảng 50% phôi kết quả từ superovulation được thu hồi có hoặc không làm thủ tục phẫu thuật phẫu thuật được sử dụng.

In cattle, embryos are collected normally on days 6 to 8 (average day 7) after the onset of the estrus induced by superovulation. Trong gia súc, phôi được thu thập thông thường vào ngày 6-8 (trung bình ngày 7) sau khi xuất hiện các động dục gây ra bởi superovulation. In buffalo, embryos are collected on days 5 to 6 after superovulatory estrus, because the rate of development of buffalo embryo is 24 to 36 hours faster than cattle (Drost and Elsden 1985, Jainudeen 1989, Duran et al. 1998, Misra et al. 1998). Trong trâu, phôi được thu thập vào ngày 5-6 sau khi động dục superovulatory, vì tốc độ phát triển của phôi thai con trâu là 24 đến 36 giờ nhanh hơn so với bò (Drost và Elsden 1985, Jainudeen năm 1989, Duran et al. 1998 Misra et al. 1998).

Flushing of superovulated buffalo on day 7 leads to poor embryo recovery, since a sizable proportion of embryos are at the hatched blastocyst stage, which is difficult to identify from debris. Moreover, for micromanipulation/microsurgery of embryos, as well as for movement of embryos from one farm to another, only embryos with intact zona pellucida are required.

Flushing của trâu superovulated vào ngày 7 dẫn đến phục hồi phôi người nghèo, vì một tỷ lệ khá lớn của phôi thai đang ở giai đoạn phôi nang nở, đó là khó khăn để xác định từ các mảnh vụn. Hơn nữa, cho micromanipulation / vi phẫu của phôi, cũng như chuyển động của phôi từ một trang trại khác, chỉ có phôi với màng zona còn nguyên vẹn được yêu cầu.

Buffalo embryos are isolated and evaluated at 75 X magnification, and viable embryos are classified and graded on their morphological appearance, are as those of cattle (Mapletoft 1986).

phôi Buffalo được cô lập và đánh giá ở độ phóng đại X 75, và phôi được phân loại và chấm điểm

dựa trên sự xuất hiện hình thái của họ, như những người trong gia súc (Mapletoft 1986).

Excellent and good grade embryos are selected for cryopreservation, while fair and poor quality

embryos are transferred to the synchronized recipients. Tuyệt vời và phôi cấp tốt được lựa chọn để trữ lạnh, trong khi người nghèo chất lượng phôi và công bằng được chuyển đến người nhận đồng bộ. All viable embryos are given 10 serial washings in sterilized holding medium (DPBS supplemented with 0.4% BSA), following the guidelines of the International Embryo Transfer Society. Tất cả các phôi được cho 10 rửa tiệt trùng nối tiếp trong tổ chức trung bình (DPBS bổ sung với 0,4% BSA), theo hướng dẫn của Hiệp hội quốc tế chuyển phôi.

Estimating Ovulatory Response by Palpation Per Rectum Ƣớc tính rụng trứng đáp ứng của mỗi Sờ nắn trực tràng

Many workers have now shown that embryo recovery rates comparable to those achieved by surgery can be achieved by non-surgical methods, once the appropriate manipulative experience and skills have been acquired. Nhiều công nhân đã cho thấy rằng tỷ lệ phôi phục hồi so sánh với những người đạt được bằng cách phẫu thuật có thể đạt được bằng phương pháp không phẫu thuật, một khi thao tác thích hợp kinh nghiệm và kỹ năng đã được mua lại. In contrast to surgical recovery, the precise embryo recovery rate may not always be known accurately when palpation of the corpora lutea per rectum is the method used in estimating the number of ovulations induced. A critical evaluation of ultrasonic monitoring of superovulation in donors treated with PMSG was made by Robertson et al. (1993). Trái ngược với sự phục hồi phẫu thuật, các phôi thai chính xác tỷ lệ phục hồi có thể không phải luôn luôn được biết chính xác khi sờ của lutea trực tràng mỗi corpora là phương pháp được sử dụng trong ước tính số lượng ovulations gây ra PMSG. Quan trọng Một đánh giá siêu âm giám sát của superovulation trong điều trị với các nhà tài trợ đã được thực hiện bởi et al Robertson. (1993). They concluded that the presence of luteinized follicles greatly reduced the accuracy of identifying structures in superovulated ovaries. Họ kết luận rằng sự hiện diện của nang luteinized giảm đáng kể tính chính xác của việc xác định cấu trúc trong buồng trứng superovulated.

Catheters and Filters Ống thông và Bộ lọc

The non-surgical recovery methods in current use are based on the use of the Foley catheter. Recovery systems may be either two-way or three-way, but an inflatable balloon cuff should always be used. Các phẫu thuật phục hồi phương pháp không sử dụng hiện nay đều dựa trên việc sử dụng các ống thông Foley. Hệ thống phục hồi có thể là hai chiều hoặc ba chiều, nhưng một quả bóng bơm hơi vòng bít phải luôn luôn được sử dụng. In the two-way system, the flushing medium is introduced and recovered using the same channel. Three-way systems have separate lumens for the introduction and the recovery of the medium from the uterus. Trong hệ thống hai chiều, các trung xả được giới thiệu và thu hồi bằng cách sử dụng cùng một kênh. Ba-cách hệ thống có lumens riêng cho việc giới thiệu và phục hồi của môi trường từ tử cung. Recoveries are generally carried out in any normal animal crush, but in a suitably warm atmosphere. Thu hồi thường được thực hiện ở bất kỳ lòng động vật bình thường, nhưng trong một bầu không khí ấm áp phù hợp. In some crushes, the front is raised about 30 cm above the ground to facilitate the drainage of flushing medium from the donor. During the 1980s, commercially produced filter devices which would retain embryos, while letting much of the cellular detritus pass through,

were introduced and found to be very useful. Trong một số nghiền nát, phía trước được nâng lên khoảng 30 cm so với mặt đất để tạo điều kiện thoát nước của trung xả từ nhà tài trợ,. Trong thập niên 1980 thương mại sản xuất thiết bị lọc mà sẽ giữ lại phôi, trong khi cho phép nhiều các mảnh vụn tế bào đi qua, đã được giới thiệu và tìm thấy là rất hữu ích. Such filters were especially valuable in speeding up the location and identification of embryos under the microscope. bộ lọc này đã được đặc biệt là có giá trị trong đẩy mạnh vị trí và nhận dạng của phôi dưới kính hiển vi.

Various descriptions of equipment designed for embryo collection in cattle have been published. In the former East Germany, Rehbock et al. (1990), provided an illustrated account of the Buhner automatic catheter, designed for transcervical embryo collection. Nhiều mô tả của thiết

bị được thiết kế cho bộ sưu tập phôi ở gia súc đã được công bố

Trong Đông Đức cũ, Rehbock

.. và cộng sự (1990), cung cấp một tài khoản minh họa của các ống thông Buhner tự động, được

thiết kế cho bộ sưu tập phôi ngã. This device gave a recovery rate of flushing medium ranging

from 81 to 100%. Thiết bị này đã đưa ra một tỷ lệ thu hồi trung bình khác nhau, đỏ bừng 81-

100%.

Epidural Anesthesia Gây tê ngoài màng cứng

After the donor is placed in the crush, caudal epidural anesthesia is introduced by injecting 5-10 mL of analgesic (2% procaine or lignocaine hydrochloride) into the space between the first and second coccygeal vertebrae. Sau khi nhà tài trợ được đặt trong lòng người, gây tê ngoài màng cứng đuôi được giới thiệu bằng cách tiêm thuốc giảm đau 50-10 ml (2% Procain hoặc hydrochloride lignocaine) vào không gian giữa các đốt sống thứ hai và lần đầu tiên coccygeal.

Care must be taken not to give too large a dose, otherwise the cow may lose control of its hind

legs. Chăm sóc phải được thực hiện không quá lớn cho một liều, nếu không con bò có thể mất kiểm soát của hai chân sau của nó. When the epidural block has become effective, the rectum is completely emptied. The vulva area is washed, first with an antiseptic skin wash and then with

surgical spirit, and finally dried. Khi khối ngoài màng cứng có hiệu lực, trực tràng là hoàn toàn trống. Các khu vực được rửa âm hộ, đầu tiên với một chất khử trùng rửa da và sau đó với tinh thần phẫu thuật, và cuối cùng là sấy khô.

Flushing Procedures Thủ tục Flushing

Consideration in the flushing of donors includes the following: Xem xét trong xả của các nhà tài trợ bao gồm:

Flushing fluid must reach the tip of the uterine horn, since this is where most of the embryos are

likely to be one week after estrus. Flushing dch phải đạt đỉnh ca sng tử cung, vì đây là nơi mà hu hết các phôi có thslà mt tuần sau khi động dc. All flushing fluid introduced into the uterine horn should be recovered. Tt ccác cht lỏng đỏ

bừng đưa vào sừng tcung cn được phc hi. The flushing should always be carried out with a minimum of stress and trauma to the donor. x

nước luôn cần được thc hin vi ti thiểu là căng thẳng và tổn thương cho nhà tài trợ. The success of a "flush" is directly related to the success of fluid recovery. Sthành công ca mt "x" là trc tiếp liên quan đến sthành công ca sphc hi cht lng.

An effective flush should return 90-100% of fluid initially introduced. Một tuôn ra hiệu quả nên trở lại 90-100% của chất lỏng ban đầu giới thiệu. The aim is to recover embryos at the blastocyst stage of development, which normally would be expected seven days after the time of breeding.

Mục đích là để phục hồi phôi ở giai đoạn túi phôi phát triển, mà thông thường sẽ được mong đợi

bảy ngày sau thời điểm chăn nuôi.

Cervical Dilation in Heifers Cổ tử cung giãn nở trong bê

One problem that can face non-surgical recovery attempts is the passage of catheters through the cervix of the donor animal during the luteal phase of the estrous cycle, particularly in heifers. Simple mechanical dilation with a metal cervical expander may not always provide the solution and there may be a risk of trauma. Một vấn đề mà có thể phải đối mặt với phẫu thuật phục hồi nỗ lực không có việc thông qua ống thông qua cổ tử cung của động vật nhà tài trợ trong giai đoạn

hoàng thể của chu kỳ sinh sản, đặc biệt là ở bê. Cơ giãn đơn giản với một cổ tử cung giãn nở kim loại có thể không phải luôn luôn cung cấp các giải pháp và có thể có một nguy cơ chấn thương.

For this reason, there have been attempts to dilate the cervix by way of special devices (Ushijima et al. 1993) or by applying various agents. Vì lý do này, đã có những nỗ lực để làm giãn cổ tử cung bằng thiết bị đặc biệt (Ushijima và cộng sự năm 1993.) Hoặc bằng cách áp dụng các đại lý khác nhau. In some reports, carbachol has been used. Trong một số báo cáo, carbachol đã được sử dụng. This preparation is reported as being effective, easy to administer and relatively inexpensive (Zraly et al. 1980). chuẩn bị này được báo cáo như là hiệu quả, dễ dàng quản lý và tương đối rẻ tiền (Zraly và cộng sự năm 1980.).

Though surgical methods were employed in recovering embryos in the first successful cattle embryo transfer studies, at present a non-surgical recovery method via the cervix is the technique of choice. Mặc dù các phương pháp phẫu thuật được sử dụng trong phôi phục hồi trong việc chuyển giao thành công đầu tiên nghiên cứu phôi gia súc, hiện nay một phương pháp phẫu thuật không phục hồi thông qua cổ tử cung là kỹ thuật của sự lựa chọn.

Handling of Embryos Xlý Phôi

Careful handling of embryos between collection and transfer is necessary to prevent the transmission of pathogens. Xử lý cẩn thận của phôi giữa thu và chuyển giao là cần thiết để ngăn chặn việc truyền các mầm bệnh. The use of aseptic techniques, sterile solutions, and sterile equipment is essential. Việc sử dụng kỹ thuật vô trùng, các giải pháp vô trùng, và các thiết bị vô trùng là điều cần thiết. In dealing with the handling of embryos in laboratories, where inevitably they come into contact with glassware, petri dishes, plastic straws and other equipment, exposure to toxic factors must always be a consideration. Trong giao dịch với việc xử lý của phôi trong phòng thí nghiệm, nơi mà chắc chắn họ tiếp xúc với thủy tinh, đĩa petri, ống hút nhựa và các thiết bị khác, tiếp xúc với các yếu tố độc hại luôn luôn phải được xem xét. It is, for example, essential to provide adequate aeration of straws after their sterilization, in order to remove the powerful antimicrobial, ethylene oxide (Schiewe et al. 1988). Đó là, ví dụ, điều cần thiết để cung cấp thông khí đầy đủ của ống hút sau khi triệt sản của họ, để loại bỏ các kháng sinh mạnh mẽ, ethylene oxide (Schiewe và cộng sự năm 1988.).

After flushing medium is collected, it should be taken to a separate processing laboratory (or separate work area on the farm) for the recovery, evaluation, washing, manipulation, and freezing of embryos. Sau khi vừa xả được thu thập, cần được đưa đến một phòng thí nghiệm chế biến riêng biệt (hay khu vực làm việc riêng về nông trại) cho các, phục hồi thẩm định, thao tác, rửa, và đông lạnh của phôi. Embryos should be recovered as soon as possible from the flushed medium. Phôi sẽ được phục hồi càng sớm càng tốt từ các trung xóa.

Care should be taken that no embryos are lost. Flushed medium contains a lot of mucus, blood

and debris, and these might have detrimental effects on embryos. Chăm sóc cần được thực hiện mà không có phôi bị mất,. Flushed vừa chứa rất nhiều, chất nhầy của máu và các mảnh vụn và

những điều này có thể có tác động có hại trên phôi. Discovered embryos should be immediately transferred to fresh storage medium, and washed several times. phôi phát hiện được ngay lập tức chuyển sang phương tiện lưu trữ mới, và nhiều lần rửa. Throughout this process, the embryos

should be kept clean and handled appropriately. Trong suốt quá trình này, phôi sẽ được giữ sạch và xử lý thích hợp.

A processing laboratory for embryos should be scrupulously maintained, and separated from animals and other dirty areas. Một phòng thí nghiệm chế biến phôi phải được duy trì nghiêm ngặt, và tách ra từ động vật và các khu vực bẩn khác. Ideally, it should be built from materials that permit effective cleansing and disinfection. Lý tưởng nhất, nó phải được xây dựng từ vật liệu có hiệu quả cho phép làm sạch và khử trùng. All work surfaces on which embryos are placed must be kept thoroughly clean and dry. Tất cả các bề mặt làm việc trên đó phôi được đặt phải được giữ sạch và khô hoàn toàn. In addition to sanitation, there should be strict regulation of temperature, illumination, and movement of personnel. Ngoài việc vệ sinh, cần có quy định nghiêm ngặt về nhiệt độ, chiếu sáng, và chuyển động của nhân viên.

Conditions on farms vary, so common sense is needed in selecting the best location for handling embryos. Điều kiện về trang trại khác nhau, phổ biến ý thức như vậy là cần thiết trong việc lựa chọn vị trí tốt nhất để xử lý phôi. It is important to protect the embryo from extremes of temperature. Điều quan trọng là để bảo vệ phôi thai từ thái cực của nhiệt độ. The optimal temperature range for removed embryos prior to freezing or transfer is from 20°C to 30°C. Nhiệt

độ tối ưu cho phôi loại bỏ trước khi đóng băng hoặc chuyển là từ 20 ° C đến 30 ° C. Temperature is of great concern if embryos are to be frozen after they are held for an extended period. Nhiệt độ là mối quan tâm rất lớn nếu các phôi sẽ được đông lạnh sau khi được tổ chức cho một thời

gian dài. Although some investigators feel that embryos should be maintained at refrigerator

temperature (4°C) prior to freezing, there have been no definitive experiments to prove this. Mặc dù một số nhà điều tra cảm thấy rằng phôi thai nên được duy trì ở nhiệt độ trong tủ lạnh (4 ° C) trước khi đóng băng, đã có dứt khoát không có thí nghiệm để chứng minh điều này.

Sterility of plasticware and glassware that has been in contact with embryos or media is vitally

important for maintaining embryo quality. Vô sinh của plasticware và thủy tinh đã được tiếp xúc với phôi thai hoặc phương tiện truyền thông là cực kỳ quan trọng cho việc duy trì chất lượng

phôi. Embryonic chemicals are also of concern. Known toxins include heavy metals, detergents, disinfectants, gases, and rubber antioxidants on such surfaces as plungers of syringes. Phôi hóa

chất cũng được quan tâm. Độc tố đã biết bao gồm kim loại nặng, chất tẩy rửa, chất tẩy, chất khí,

và chất chống oxy hóa cao su trên bề mặt như mặt plungers bơm kim tiêm. To avoid problems or questions related to embryo toxic substances, the usual solution is to implement careful washing of laboratory glassware, using non-toxic detergents that are specially made for use in tissue culture laboratories. Để tránh những vấn đề hoặc câu hỏi liên quan đến chất độc phôi thai, các giải pháp thông thường là thực hiện cẩn thận rửa dụng cụ thủy tinh phòng thí nghiệm, sử dụng

chất tẩy rửa độc hại không được làm đặc biệt để sử dụng trong các phòng thí nghiệm nuôi cấy

mô.

Contamination of the air with dust, engine fumes, aerosol disinfectants, insecticides, tobacco smoke, etc. can be hazardous to embryos. These substances readily accumulate on glass, plastic and bench surfaces, and will also be absorbed by media. All activities associated with the

creation of these forms of contamination should be avoided. Ô nhiễm không khí với bụi, khói động cơ, bình phun thuốc khử trùng, thuốc trừ sâu, thuốc lá hút thuốc lá, vv có thể được độc hại cho phôi,. Các chất này dễ dàng tích tụ, kính trên băng ghế nhựa và các bề mặt và cũng sẽ được

hấp thụ bởi các phương tiện truyền thông. Tất cả các hoạt động liên quan việc tạo ra các hình thức ô nhiễm cần phải tránh.

Media for collecting, holding, culturing, and freezing embryos should be of high quality, and should be prepared with high-quality water. All holding media should be filtered through a membrane of 0.22 µm pore size prior to use. Phương tiện truyền thông để thu thập, tổ chức, nuôi trồng, và phôi đông lạnh nên có chất lượng cao, và phải được chuẩn bị với chất lượng nước cao. Tất cả các phương tiện truyền thông đang nắm giữ sẽ được lọc qua màng của kích thước lỗ 0,22 μm trước khi sử dụng. A separate set of dishes and pipettes should be used to handle embryos from each donor to prevent inadvertent mixing of embryos. Một bộ riêng biệt của món ăn và pipettes nên được sử dụng để xử lý phôi từ từng nhà tài trợ để ngăn ngừa vô ý trộn của phôi. Careful labeling of dishes and pipettes will help to assure that this segregation is maintained. Cẩn thận ghi nhãn các món ăn và pipettes sẽ giúp đảm bảo rằng sự phân biệt này được duy trì.

Searching for Embryos Tìm kiếm Phôi

Before embryos are recovered, small dishes which contain 3-5 mL of storage medium (D-PBS +

20% Calf Serum) are prepared and kept warm on a 37°C slide warmer. Trước khi phôi được thu hồi, các món ăn nhỏ chứa 3-5 ml môi trường lưu trữ (D-PBS + 20% bê huyết thanh) được chuẩn bị và giữ ấm vào một slide 37 ° C ấm hơn.

When embryos are detected, they are aspirated according to the following procedure. Khi phôi

được phát hiện, chúng được hút theo quy trình sau đây.

A mouthpiece is attached to a micropipette. cơ quan ngôn luận là thuc micropipette mt. The

tip of the pipette is washed by aspirating storage medium 2-3 times. Nhng mo ca pipette được ra sch bằng aspirating lưu trữ trung bình 2-3 ln. Each aspirate is discarded every time the tip is washed. Mỗi hút được bỏ đi mỗi lần đầu được ra sch. A small amount of storage medium is poured in above the detected embryo, and aspirated with

the micropipette. The embryo is then transferred to the storage medium. Mt số lượng nhcác phương tiện lưu trữ được đổ ở phía trên phôi phát hin, và hút vi micropipette này. Phôi sau đó được chuyển giao cho các phương tiện lưu trữ. Aspiration of mucus or debris together with the embryo cannot be avoided completely. Khát vng ca cht nhn hoc các mnh vcùng vi phôi thai không thể tránh được hoàn toàn. Thus, the isolated embryo must be washed several times until the medium becomes clean. Vì vy, các phôi thai bcô lp phải được ra nhiu lần cho đến khi va trnên sch s.

Before searching for embryos under the microscope, the volume of recovered medium must be reduced without loss of embryos. Trước khi tìm kiếm phôi dưới kính hiển vi, khối lượng trung bình thu hồi phải được giảm mà không mất của phôi. For this purpose, the following two methods can be employed. Với mục đích này, các phương pháp sau hai có thể được sử dụng.

Cylinder stationary method Phương pháp phòng phẩm xi lanh

The recovered medium is collected in a 1,000 mL cylinder, and placed in a 37°C water bath or at room temperature. It is allowed to stand for 30 minutes. Các trung thu hồi được thu thp trong một xi lanh ml 1000, và được đặt trong một C 37 ° nước tm hoc nhiệt độ phòng. Nó được

cho phép để yên trong 30 phút. During this period, all the embryos will settle to the bottom. Trong thi gian này, tt ccác phôi slng xuống đáy. After 30 minutes, all but 50 mL of medium at the bottom is siphoned out slowly, using a drip

tube or a silicone tube with clamp. Sau 30 phút, tt cả nhưng 50 ml trung ở phía dưới là hút ra tt, bng cách sdng mt ng nhgit hoc silicone ng vi kp. The remaining medium is poured into a dish. Các phương tiện còn lại được đổ vào một món ăn. The emptied cylinder must be washed with 20-30 mL of medium three times, using a ball pipette. Các trlàm trng phải được ra sch vi 20-30 ml trung ba ln, bng cách sdng mt pipette bóng. The medium used for rinsing is also poured into a dish. Các phương tiện được sdụng để rửa cũng được đổ vào một món ăn.

Mesh filtration method Mesh phương pháp lọc

Using a filter system ("EmCom": Immuno-system) can speed up the process of isolating

embryos. Sdng mt hthng lc ("EmCom": hthng min dch) có thể tăng tốc quá trình cách ly phôi. This system filtrates the recovered medium through a 70u meshed filter. Hthng này filtrates trung thu hi thông qua mt 70u meshed lc. The bottle is rotated slowly, without making any bubbles. chai này được luân chuyn tt, mà

không thc hin bt kz bong bóng. The entire recovered medium is poured into the filter system. Các phương tiện bthu hi toàn bộ được đổ vào hthng lc. As in the first procedure, the emptied bottle should be rinsed thoroughly. Như trong thủ tục đầu tiên, các chai làm trng phải được ra kỹ lưỡng. Throughout the filtrating process, the filter system should never be empty. Trong sut quá trình

filtrating, hthng lc không bao giờ được để trng. Some of the remaining medium should always be covering the filter. Mt số phương tiện còn li phi luôn luôn được bao gm các blc. Eventually about 40-50 mL of recovered medium containing embryos will remain in the filter

system. Cui cùng khong 40-50 ml phc hi có cha phôi trung bình sẽ ở li trong hthng blc. As embryos are sometimes captured in mucus, all mucus attached to the mesh must be washed out by pipetting with a ball pipette. Khi phôi thai đôi khi bị bt trong cht nhn, tt ccác cht nhy thuộc lưới phải được ty sch bng pipetting vi mt pipette bóng.

The remaining medium and rinsed medium are poured into one or two examination dishes.

Square grid lines of 10-15 cm should have been drawn on bottom of the dishes. Các phương tiện còn lại và vừa rửa sạch được đổ vào hai kiểm tra các món ăn hay một. Lưới đường Quảng trường

10-15 cm cần phải có được rút ra trên dưới cùng của món ăn. These dishes are examined for embryos under a stereo microscope, at 10-15 x magnification Những món ăn được kiểm tra đối với phôi thai dưới kính hiển vi âm thanh nổi, tại 10-15 x phóng đại

A sterilized glass stick, one end of which is stretched to a fine point, is useful in searching for

embryos in the mucus. Một thanh thủy tinh tiệt trùng, một đầu được kéo dài đến một điểm tốt, rất hữu ích trong việc tìm kiếm phôi trong các chất nhầy.

Throughout the whole process of embryo handling, the greatest care should be taken not to damage the embryos before transfer or freezing. In this regard, the following hygiene precautions are important: Xuyên suốt toàn bộ quá trình xử lý phôi, sự chăm sóc lớn nhất cần được thực hiện

không phải để gây thiệt hại các phôi trước khi chuyển nhượng hoặc đóng băng quan trọng. Về vấn đề này, vệ sinh theo các biện pháp phòng ngừa là:

Hygiene Precautions Đề phòng vệ sinh

Sterile Technique Kthut vô trùng

If a clean booth is available, it is convenient to use this for embryo handling, to reduce the chance of infection with bacteria. Nếu một gian hàng sạch có sẵn, nó là thuận tiện để sử dụng để xử lý phôi, để giảm nguy cơ nhiễm vi khuẩn. If no such booth is available, the micropipette should be put in a test tube laid slant-wise in a tube rack, in order to keep it clean. Nếu không có gian hàng đó có sẵn, micropipette phải được đặt trong ống nghiệm đặt nghiêng-khôn ngoan trong một giá đỡ ống, để giữ cho nó sạch sẽ.

Contamination Ô nhim

All instruments and media that come into contact with the embryos should be kept free of any contamination by chemicals, mineral deposits on glassware, lubricants used in disposal syringes

etc. Tất cả các dụng cụ và phương tiện truyền thông tiếp xúc với các phôi sẽ được giữ miễn phí của bất kỳ ô nhiễm bởi các hóa chất, khoáng sản trên thủy tinh, dầu nhờn sử dụng trong tiêm xử

lý vv

Temperature Nhiệt độ

After the recovered embryos are moved to fresh sterile medium, they should be kept at 37°C on a

slide warmer or at room temperature (20-30°C). Sudden changes of temperature should be avoided. Sau khi phôi thu hồi được chuyển đến trung tươi tiệt trùng, họ nên được giữ ở 37 ° C trên một slide ấm hơn hoặc ở nhiệt độ phòng (20-30 ° C) nên đột ngột. Thay đổi của nhiệt độ thể tránh được. High temperatures (of 40°C or more) can easily kill the embryos. Nhiệt độ cao (40 ° C hoặc hơn) dễ dàng có thể giết chết các phôi.

Ultraviolet Rays Tia cc tím

Ultraviolet rays are known to have a detrimental effect on embryos. Tia cực tím được biết là có một ảnh hưởng bất lợi trên phôi. Therefore, direct irradiation of sunlight on embryos should be avoided. Do đó, trực tiếp chiếu xạ của ánh sáng mặt trời trên phôi thai nên tránh.

Changes in the Medium Thay đổi trong các trung

A small volume of medium in an uncovered dish may evaporate, so there is a change in concentration. Một lượng nhỏ vừa phát hiện ra một món ăn có thể bốc hơi, vì vậy có sự thay đổi nồng độ. The dish should always be kept covered, as much as possible. Món ăn nên luôn luôn được giữ được, càng nhiều càng tốt. This is also important for preventing contamination. Đây cũng là quan trọng để ngăn ngừa ô nhiễm.

Transfer of Embryos Chuyn phôi

Various methods of transferring embryos have been developed. Nhiều phương pháp chuyển phôi đã được phát triển. The efficiency of transfer depends on many factors, but the most important are the experience and skill of the person(s) doing the transfer. Hiệu quả của chuyển giao phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là những kinh nghiệm và kỹ năng của người (s) làm việc chuyển giao.

There are two methods of transferring embryos; surgical and non-surgical. Có hai phương pháp chuyển phôi; phẫu thuật và không phẫu thuật. The surgical methods have in the past given higher and more consistent pregnancy rates. Các phương pháp phẫu thuật có trong quá khứ cho phù hợp hơn tỷ lệ mang thai cao hơn. However, skillful technicians can now effect similar high pregnancy rates with non-surgical (through the cervix) methods. Therefore, this method has

become widely adopted. Tuy nhiên, kỹ thuật viên lành nghề có thể hiệu mang thai tương tự với mức giá cao không phẫu thuật (thông qua cổ tử cung) phương pháp,. Vì vậy phương pháp này đã trở thành chấp nhận rộng rãi.

Surgical Transfer Chuyển phẫu thuật

The work of Rowson et al. (1969) marked an important turning-point in cattle ET prospects, by showing that an acceptable pregnancy could be achieved, albeit by a surgical technique. Công việc của et al Rowson. (1969) đánh dấu một biến quan trọng điểm trong triển vọng gia súc ET, bằng cách hiển thị rằng một thời kỳ mang thai chấp nhận được có thể đạt được, mặc dù theo một kỹ thuật phẫu thuật. The mid-ventral laparo-tomy technique employed in these Cambridge studies involved general anesthesia, with surgical preparation of the midline just anterior to the mammary gland of the recipient. Các laparo-tomy giữa bụng kỹ thuật sử dụng trong các nghiên cứu này Cambridge tham gia gây mê toàn thân, chuẩn bị phẫu thuật của chỉ đường giữa phía trước của tuyến vú của người nhận. After the uterus had been brought to the site of the incision and the location of the corpus luteum confirmed, a small puncture was made in the uterine wall to provide access to the lumen of the uterine horn ipsilateral to the corpus luteum. Sau khi tử cung đã được đưa đến trang web của vết mổ và vị trí của thể vàng xác nhận, một thủng nhỏ đã được thực hiện trong thành tử cung để cung cấp truy cập vào các lumen của sừng tử cung cùng bên với thể vàng. The transfer pipette was introduced through the puncture, and the embryo deposited. Các pipette chuyển giao đã được giới thiệu qua thủng, và các phôi nộp. Although the mid-ventral procedure could be carried out quickly on heifers, it was clearly not a procedure for use on farms. Mặc dù các-bụng thủ tục giữa có thể được thực hiện nhanh chóng trên bê, nó đã được rõ ràng không phải là một thủ tục để sử dụng trên các trang trại. As well as being both labor and capital intensive, the technique was not at all suitable for milking cows. Cũng như là cả hai và vốn nhiều lao động, kỹ thuật không phải ở tất cả thích hợp cho việc vắt sữa bò.

When surgical transfers are used, most commercial ET operators have adopted the flank surgical

approach. Khi chuyển phẫu thuật được sử dụng, khai thác thương mại nhất ET đã áp dụng các phương pháp phẫu thuật bên cánh. The recipient stands sedated and under local anesthesia (paravertebral block). The site of the incision is the sublumbar fossa, and the embryo is transferred into the upper third of the uterine horn. người nhận đứng gây mê và gây tê tại chỗ (paravertebral khối),. Các trang web của vết mổ là sublumbar các hố và phôi được chuyển vào

thứ ba trên của sừng tử cung. Prior to surgery, the location of the corpus luteum is established to show the side on which the transfer should be made. Trước khi phẫu thuật, vị trí của thể vàng được thành lập để hiển thị bên trên đó chuyển giao phải được thực hiện. In comparison with the mid-ventral procedure, the flank approach is widely recognized as being a highly effective, practical and rapid means of performing surgical transfers with a minimum of equipment, facilities and labor. So với các-bụng giữa thủ tục, cách tiếp cận sườn được công nhận như là một hiệu quả, thiết thực và nhanh chóng có nghĩa là cao điểm thực hiện chuyển phẫu thuật với tối thiểu là thiết bị, phương tiện và lao động.

As to the reasons for using the surgical approach, this is likely to be in an effort to give the recipient the greatest opportunity of becoming pregnant with the embryos that are available. According to Coultard (1991), if the embryo has been frozen and thawed or is second grade, a 10% or so improvement in pregnancy rate may be achieved with the flank surgical approach, in

comparison with non-surgical methods. Vì những lý do cho sử dụng phương pháp phẫu thuật, điều này có thể sẽ là trong một nỗ lực để cung cấp cho người nhận cơ hội lớn nhất trong khi mang thai với phôi có sẵn. Theo Coultard (1991), nếu các phôi đã được đông lạnh và rã đông hoặc là lớp hai, một% hoặc để cải thiện tỷ lệ mang thai 10 có thể đạt được với phương pháp phẫu thuật bên cánh, so với phương pháp không phẫu thuật.

In experiments with water buffaloes, the surgical method of embryo transfer has been used to only a limited extent. Trong thí nghiệm với con trâu nước, phương pháp phẫu thuật cấy phôi đã được sử dụng để hạn chế ở một mức độ mà thôi. Bhattacharya et al. (1998) transferred by this method 9-day old fresh buffalo embryos and registered pregnancy in a buffalo cow, which,

unfortunately, aborted. Bhattacharya và cộng sự. (1998) chuyển nhượng bằng cách này 9-ngày tuổi trâu phôi thai mới phương pháp và đăng ký tại một con bò con trâu, trong đó, thật không

may, hủy bỏ. In Bulgaria, two transfers were performed but no pregnancy was registered. Tại Bulgaria, hai chuyển được thực hiện nhưng mang thai không được đăng ký. A success was achieved only in 1987, when Misra and associates in India obtained the first buffalo calf born by

surgical embryo transfer (Kurup 1988, Bhattacharya et al. 1988). Một thành công đã đạt được chỉ trong năm 1987, khi Misra và các cộng sự ở Ấn Độ thu được những con bê con trâu đầu tiên sinh ra do phẫu thuật chuyển phôi (Kurup 1988, Bhattacharya et al. 1988). Subsequently, a few more calves were born in India in this way. The surgical method, however, was abandoned as impractical. Sau đó, một vài con bê được sinh ra nhiều hơn ở Ấn Độ bằng cách này. Các phương pháp phẫu thuật, tuy nhiên, đã bị bỏ như không thực tế. In all later experiments, non-surgical methods of embryo transfer were used. Trong tất cả các thí nghiệm sau đó, phương pháp không phẫu thuật chuyển phôi đã được sử dụng.

Non-Surgical Transfer Không phẫu thuật chuyển giao

Although numerous instruments designed specifically for the non-surgical transfer of cattle embryos were described in the literature during the 1960s and early 1970s (Gordon 1983), it was the successful application of the Cassou AI gun which eventually proved to the answer to this particular problem. Mặc dù rất nhiều công cụ thiết kế đặc biệt cho các phẫu thuật chuyển giao không của phôi bò được mô tả trong các tài liệu trong thập niên 1960 và đầu những năm 1970 (Gordon 1983), nó đã được ứng dụng thành công của AI súng Cassou mà cuối cùng đã chứng minh cho câu trả lời cho vấn đề này đặc biệt . Since the mid-1970s, several variants of the

standard inseminating gun have been marketed for cattle ET. Từ những năm 1970 giữa, một vài biến thể của súng inseminating tiêu chuẩn đã được bán trên thị trường cho gia súc ET. Coultard (1991) describes his transfer procedure in the United Kingdom, using a modified insemination

gun. Coultard (1991) mô tả thủ tục chuyển nhượng của ông tại Vương quốc Anh, sử dụng một khẩu súng thụ tinh nhân sửa đổi. This gun has a special sheath with a metal tip and two side outlets. súng này có một vỏ bọc đặc biệt với một đầu kim loại và hai cửa bên. In carrying out the transfer, the recipient is given epidural anesthetic and the sheathed, loaded gun is inserted into a sterile, loose plastic outer sheath; this is passed up into the cervix and the gun forced through the outer sheath. Khi thực hiện việc chuyển giao, người nhận được cho thuốc gây mê ngoài màng cứng và, có vỏ bọc súng nạp được đưa vào một, vô trùng vỏ nhựa bên ngoài lỏng, điều này được truyền lên vào cổ tử cung và súng buộc phải thông qua vỏ bọc bên ngoài.

ET of buffalo is of recent origin. ET của con trâu có nguồn gốc gần đây. The pioneering work of Drost and associates (1983) in Florida resulted in the birth of first live buffalo calf through non- surgical embryo transfer. Các công trình tiên phong của Drost và các cộng sự (1983) ở Florida dẫn đến sự ra đời của sống con bê con trâu đầu tiên thông qua phẫu thuật chuyển phôi không. This work aroused considerable interest in several buffalo rearing countries. Công việc này làm dấy lên sự quan tâm đáng kể trong việc nuôi một vài con trâu nước. Subsequent work was carried out in India, Bulgaria, Thailand, Pakistan, Malaysia (for review see Misra 1993), Italy (Schallenberger et al. 1990), Vietnam (Uoc et al . 1992a,b), Philippines (Cruz et al. 1991), Japan (Ocampo et al. 1988), Egypt (Ismail et al. 1993) and China (Wang et al. 1994). làm việc tiếp theo được thực hiện tại Ấn Độ, Bulgaria, Thái Lan, Pakistan, Malaysia (để xem xét xem Misra 1993), Ý (Schallenberger et al. 1990), Việt Nam (Nguyễn Ước et al,. 1992a b), Philippines (Cruz et al. 1991 ), Nhật Bản (Ocampo et al). năm 1988, Ai Cập (Ismail et al. 1993) và Trung Quốc (Wang et al. 1994).

The first non-surgical embryo transfer in buffaloes was performed by a research team at the University of Florida, Gainsville, USA. Các phẫu thuật đầu tiên không phôi chuyển ở trâu đã được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu tại Đại học Florida, Gainsville, Mỹ. The team transferred a seven-day buffalo embryo to a recipient, resulting in the first live-born buffalo calf in the world by this method in 1983 (Drost et al. 1983). Nhóm nghiên cứu chuyển giao một ngày phôi trâu bảy tới người nhận, kết quả là sinh ra con bê con trâu sống đầu tiên trên thế giới theo phương pháp này vào năm 1983 (et al Drost năm 1983.). Drost is also the pioneer in trials on between-species transfer. Drost cũng là người tiên phong trong các thử nghiệm về chuyển giao giữa các loài. Under his management, a team transferred a buffalo embryo to a recipient cow, which, however, aborted at 2-3 months of pregnancy (Drost et al. 1986). Thuộc quyền quản lý của mình, một nhóm chuyển phôi trâu để nhận một con bò, trong đó, tuy nhiên, bị hủy bỏ từ 2-3 tháng của thai kỳ (Drost và cộng sự năm 1986.). This between-species experiment was later repeated in India, where Misra et al., Kurup (1988), transferred a cow embryo to a buffalo cow, which, however, aborted after 82 days of pregnancy. Điều này giữa các loài này sau đó được lặp đi lặp lại thí nghiệm ở Ấn Độ, nơi Misra et al., Kurup (1988), chuyển một phôi bò cho một con bò con trâu, trong đó, tuy nhiên, bị hủy bỏ sau 82 ngày của thai kỳ.

The first non-surgical embryo transfer in Bulgaria was performed at the end of 1984 and resulted

in pregnancy, but the recipient buffalo cow aborted in the third month of pregnancy. Các phẫu thuật đầu tiên không phôi chuyển ở Bulgaria đã được thực hiện vào cuối năm 1984 và kết quả

trong thai kỳ, nhưng các con bò con trâu người nhận bị hủy bỏ trong tháng thứ ba của thai kỳ. In April, 1986, at the Buffalo Research Institute in Shumen, Bulgaria, a large scale Bulgarian- American experiment on embryo transfer in buffaloes was carried out. Trong tháng Tư, năm 1986, tại Viện Nghiên cứu Buffalo Shumen, Bulgaria, một quy mô lớn Bungari-Mỹ thử nghiệm về chuyển giao phôi trong trâu đã được thực hiện. As a result of this experiment, for the second time in the world and for the first time in Europe, four live born buffalo calves were obtained at the beginning of 1987. kết quả của thí nghiệm này, cho thời gian thứ hai trên thế giới cho và lần đầu tiên châu Âu, bốn sống sinh trâu bò một Khi đã thu được vào đầu năm 1987. In February, 1988, the Bulgarian team obtained three more live born buffalo calves (Alexiev et al. 1988). Trong tháng hai năm 1988, đội Bungari thu được thêm ba sống sinh ra bê con trâu (Alexiev et al.

1988).

The very first experimens showed that the embryo transfer technology applied to cows cannot produce the same results in buffaloes, due to the reproductive peculiarities of the latter species. Following a number of experiments, the Bulgarian and American scientists established that

buffalo embryos develop more intensively during the first four days than cattle. Việc đầu tiên experimens rất cho thấy, chuyển giao công nghệ phôi áp dụng cho bò không thể sản xuất các kết quả tương tự ở trâu, do đặc thù sinh sản của loài sau này. Sau một số thí nghiệm, và người Mỹ các nhà khoa học Bungari thành lập mà phôi trâu phát triển thêm mạnh mẽ trong bốn ngày đầu tiên hơn so với bò. Hence, the optimal time for their recovery is between the 5 th and the 6 th day from the beginning of the true estrus of the donor buffalo cows. Do đó, thời gian tối ưu cho phục hồi của họ là giữa tháng 5 và ngày th 6 từ đầu động dục thực sự của những con bò con trâu nhà tài trợ. Transfer at this time contributes greatly to its success. Chuyển nhượng tại thời điểm này góp phần rất lớn vào sự thành công của nó.

Blastocysts

A blastocyst is a highly differentiated, highly developed embryo that has grown to the point where it is ready to attach to the uterine wall (implantation). Phôi thai có một phát triển phôi thai cao, rất khác biệt đó đã phát triển đến điểm mà nó đã sẵn sàng để đính kèm vào thành tử cung (cấy). Blastocyst transfer is claimed to be more physiological than pronucleate or cleaved-embryo since it mimics nature more

closely. chuyển phôi nang là yêu cầu để có thêm sinh lý hơn pronucleate hoặc cắt phôi kể từ khi nó bắt chước tính chất chặt chẽ hơn. As the embryo advances in the development, after 5-6 days it becomes a blastocyst. Như những tiến bộ trong phát triển phôi, sau 5-6 ngày nó sẽ trở thành một túi phôi. The blastocyst has an outer thin layer of cells which will later form the placenta, and an inner cell mass which will develop into the fetus. túi phôi có một lớp mỏng bên ngoài của tế bào mà sau này sẽ hình thành nhau thai, và bên trong khối tế bào này sẽ phát triển thành thai nhi. A blastocyst has about 120 cells. Phôi thai có khoảng 120 tế bào.

The usual embryo development is: Sự phát triển phôi thai bình thường là:

A single cell embryo is called a 2PN zygote (for 2 pronuclei). Một phôi tế bào đơn được gọi là hợp tử 2PN (cho 2 pronuclei). The 2PN zygote divides into an embryo (2-4 cells), the "morula" approx. Các hợp tử 2PN chia thành một phôi thai (2-4 tế bào), các "morula" xấp xỉ. 16 - 32 cells) and finally a "blastocyst" embryo. 16-32 tế bào) và cuối cùng là một "túi phôi" phôi thai. The embryo spontaneously "hatches" from its shell (zona pellucida) at the blastocyst stage of development and is ready to attach to the uterine wall.

Các phôi thai một cách tự nhiên "nở" từ vỏ của nó (zona màng) ở giai đoạn túi phôi phát triển và sẵn sàng để đính kèm vào thành tử cung.

Blastocyst culture is not a new technology. Túi phôi văn hóa không phải là một công

Blastocyst culture is not a new technology. Túi phôi văn hóa không phải là một công nghệ mới. Indeed Cohen et al. Thật vậy Cohen et al. reported, in the Lancet in 1985, a birth following the transfer of replacement of hatching blastocyst cryopreserved at expanded blastocyst stage. báo cáo, trong The

Lancet vào năm 1985, một sinh sau việc chuyển giao nuôi thay thế túi phôi ở giai đoạn phôi nang

cryopreserved mở rộng. However, with the use of a single medium formulation, with or without coculutre, blastocyst transfer did not significantly increase implantation rates compared to those obtained following

embryo transfer on day 3, and has therefore not been embraced by the IVF community. Tuy nhiên, với việc sử dụng một công thức vừa đơn, có hoặc không có coculutre, túi phôi chuyển giao đã không tăng đáng kể tỷ lệ cấy so với những người thu được sau chuyển phôi vào ngày thứ 3, và do đó không được chấp nhận bởi cộng đồng IVF. In a paper published in Human Reproduction Journal Barnes and his colleagues introduce the sequential culture media (the embryos are cultured in different media according to their stage of growth) which led to increases in blastocysts implantation rates. This new development represent a culture media that using the specific energy sources and amino acids with the specific intent of developing viable embryos. Trong một bài báo đăng trên Tạp chí Sinh sản nhân Barnes và các đồng nghiệp giới thiệu văn hóa truyền tuần tự (các phôi được nuôi trong các phương tiện truyền thông khác nhau tùy theo giai đoạn của họ về tăng trưởng) đã dẫn đến tăng tỷ lệ blastocysts cấy. Điều này phát triển mới đại diện cho một phương tiện truyền thông văn hóa mà sử dụng các nguồn năng lượng cụ thể và các acid amin với mục đích cụ thể của phát triển phôi. The development of this culture media does not necessarily resulted in higher numbers of blastocysts but allow the development of more viable blastocysts as evidenced by the high implantation rates achieved Sự phát triển của văn hoá phương tiện truyền thông này không nhất thiết dẫn đến con số cao hơn của blastocysts nhưng cho phép sự phát triển của nhiều blastocysts khả thi bằng chứng là tỷ lệ đạt được cấy cao

Day 4, early blastocyst 4 Ngày, đầu túi phôi Blastocyst Grade IAB Lớp túi phôi IABhttp://www.ivf.com/morphology.html Được đăng tại: http://www.ivf.com/morphology.html GOOD 1. Fully expanded or hatching day-five GOOD 1. Hoàn toàn mở rộng, nở lăm ngày ADEQUATE 2. Fully expanded or hatching day-six Đầy đủ 2. Hoàn toàn mở rộng, nuôi sáu ngày Moderate expansion day-five Trung bình hằng năm mở rộng MEDIOCRE 3. Moderate expansion day-six Tầm thường 3. Trung bình mỗi ngày sáu mở rộng Early cavitation day-five Đầu năm xâm thực ngày POOR 4. Early cavitation day-six NGHÈO 4. Ngày đầu sáu xâm thực " id="pdf-obj-38-2" src="pdf-obj-38-2.jpg">
Day 4, early blastocyst 4 Ngày, đầu túi phôi Blastocyst Grade IAB Lớp túi phôi IABhttp://www.ivf.com/morphology.html Được đăng tại: http://www.ivf.com/morphology.html GOOD 1. Fully expanded or hatching day-five GOOD 1. Hoàn toàn mở rộng, nở lăm ngày ADEQUATE 2. Fully expanded or hatching day-six Đầy đủ 2. Hoàn toàn mở rộng, nuôi sáu ngày Moderate expansion day-five Trung bình hằng năm mở rộng MEDIOCRE 3. Moderate expansion day-six Tầm thường 3. Trung bình mỗi ngày sáu mở rộng Early cavitation day-five Đầu năm xâm thực ngày POOR 4. Early cavitation day-six NGHÈO 4. Ngày đầu sáu xâm thực " id="pdf-obj-38-4" src="pdf-obj-38-4.jpg">

Day 4, early blastocyst 4 Ngày, đầu túi phôi Blastocyst Grade IAB Lớp túi phôi IAB

Day 4, early blastocyst 4 Ngày, đầu túi phôi Blastocyst Grade IAB Lớp túi phôi IABhttp://www.ivf.com/morphology.html Được đăng tại: http://www.ivf.com/morphology.html GOOD 1. Fully expanded or hatching day-five GOOD 1. Hoàn toàn mở rộng, nở lăm ngày ADEQUATE 2. Fully expanded or hatching day-six Đầy đủ 2. Hoàn toàn mở rộng, nuôi sáu ngày Moderate expansion day-five Trung bình hằng năm mở rộng MEDIOCRE 3. Moderate expansion day-six Tầm thường 3. Trung bình mỗi ngày sáu mở rộng Early cavitation day-five Đầu năm xâm thực ngày POOR 4. Early cavitation day-six NGHÈO 4. Ngày đầu sáu xâm thực " id="pdf-obj-38-11" src="pdf-obj-38-11.jpg">

A high quality human blastocyst. Một túi phôi chất lượng cao của con người. The cells which will become the fetus are in the area marked as "ICM" (inner cell mass), the blastocoel cavity in the center is marked as "C", The trophectoderm cells that will form the placenta surround the cavity - one is marked with a "T"

Các tế bào đó sẽ trở thành bào thai đang ở trong khu vực đánh dấu là "ICM" (bên trong tế bào khối

lượng), khoang blastocoel ở trung tâm được đánh dấu là "C", các tế bào trophectoderm đó sẽ hình thành nhau thai bao quanh khoang - một được đánh dấu với một "T"

There are several way to score the blastocysy. Có một số cách để ghi các blastocysy. Below can be find the one published by Michael J Tucker PhD FIBiol HCLD Georgia Reproductive Specialists, Atlanta, GA 30342 Dưới đây có thể được tìm thấy một công bố của Michael J Tucker sĩ FIBiol HCLD Georgia Chuyên gia sinh sản, Atlanta, GA 30342 Published at: http://www.ivf.com/morphology.html Được đăng tại: http://www.ivf.com/morphology.html

GOOD

1. Fully expanded or hatching day-five GOOD 1. Hoàn toàn mở rộng, nở lăm ngày

ADEQUATE

2. Fully expanded or hatching day-six Đầy đủ 2. Hoàn toàn mở rộng, nuôi sáu

ngày

Moderate expansion day-five Trung bình hằng năm mở rộng

MEDIOCRE

3. Moderate expansion day-six Tầm thường 3. Trung bình mỗi ngày sáu mở rộng

Early cavitation day-five Đầu năm xâm thực ngày

POOR

4. Early cavitation day-six NGHÈO 4. Ngày đầu sáu xâm thực

Morula day-five (?six) Morula ngày-năm (? Sáu)

Add to this two alphabetic scores to grade ie, Thêm vào hai điểm này tức là chữ cái đến lớp, 1st). 1). Inner Cell Mass Inner Cell Mass 2nd). 2). Trophectoderm Trophectoderm

GOOD

A. high cell number with good cell/cell adhesion GOOD A. cao số lượng tế bào với

tế bào tốt / tế bào bám dính

MEDIOCRE

B. lower cell number with poorer cell/cell attachment B. tầm thường thấp hơn số tế

bào với tế bào nghèo / tế bào đính kèm

POOR

C. no cells apparent (ICM) sparse granular (degenerate?) cells (trophectoderm) C.

nghèo không có các tế bào rõ ràng (ICM) thưa thớt hạt (thoái hóa?) Tế bào (trophectoderm) For example, a good quality well-expanded blastocyst on day-six with good cell count in the ICM (>12 to 15), and good integrity of the trophectoderm would be scored as 2AA Ví dụ, một chất lượng tốt cũng như

mở rộng phôi nang vào ngày sáu với số lượng tế bào tốt trong các ICM (> 12 đến 15), và toàn vẹn tốt của trophectoderm sẽ được chấm điểm như 2AA

A second example: a fully-expanded blastocyst on day-five with nice trophectoderm but non-existent ICM would be scored as 1CA Một ví dụ thứ hai: mở rộng đầy đủ túi phôi một ngày-năm với trophectoderm đẹp, nhưng không tồn tại ICM sẽ được chấm điểm như 1CA Another blastocyst scoring system was published by Gardner et al. Một hệ thống tính điểm túi phôi được xuất bản bởi et al Gardner. Fertility and Sterility 73 1155-1158, and given below Khả năng sinh sản và vô sinh 73 1155-1158, và đưa ra dưới đây

What might be the advantage of using Blastocysts culture and transfer? Điều gì có thể là

What might be the advantage of using Blastocysts culture and transfer? Điều gì có thể là lợi thế của việc sử dụng Blastocysts văn hóa và chuyển giao? The ability to identify those embryos that are well developed and choose one for transfer. • Khả năng xác định những phôi được phát triển tốt và chọn cho chuyển nhượng. • More adequate synchronization of embryonic stage with the female endometrium. • đủ đồng bộ hơn nữa của giai đoạn phôi thai với nội mạc tử cung nữ. • Uterine contractions are reduced by day 5 thereby reducing the chance of an embryo being expelled. • co thắt tử cung được giảm ngày thứ 5 do đó làm giảm cơ hội của một phôi thai bị trục xuất.

The ability to undertake cleavage stage embryo biopsy which is easier and less harmful when the biopsy blastomere has to be taken. • Khả năng thực hiện sinh thiết phôi giai đoạn phân cắt được dễ dàng hơn và ít độc hại hơn khi blastomere sinh thiết phải được thực hiện. • Increase implantation rate which need to transfer less number of embryos. • Tăng tỷ lệ cấy cần chuyển số ít của phôi. • Blastocyst stage embryos freeze as well, if not better, than cleavage stage embryos. • túi phôi giai đoạn phôi đông lạnh là tốt, nếu không tốt hơn, so với phôi giai đoạn phân chia. What might be the disadvantage of using Blastocysts for transfer? Điều gì có thể là bất lợi của việc sử dụng Blastocysts chuyển giao? • Patient may not have an embryo suitable for transfer. • Bệnh nhân có thể không có một phôi thai phù hợp cho việc chuyển giao. • Increase rate of monozygotic twins. • Tăng tỷ lệ sinh đôi monozygotic.

The possibility to grow the embryos to the blastocyst stage should be offered to followings: Khả năng để phát triển các phôi đến giai đoạn túi phôi nên được cung cấp cho sau:

Patients with either a good response to gonadotropins or with >4 eight-cell embryos on day 3. Bệnh nhân có tốt một phản ứng, hoặc để gonadotropins hoặc với> 4-tế bào phôi tám vào ngày thứ 3. If there is need for embryo biopsy at the cleavage stage for genetic analysis. Nếu có nhu cầu sinh thiết phôi thai ở giai đoạn phân chia để phân tích di truyền. The embryo can then be cultured to the blastocyst stage without compromising its viability while the genetic tests are performed. Phôi có thể được nuôi đến giai đoạn túi phôi mà không làm giảm khả năng tồn tại của nó trong khi các xét nghiệm di truyền được thực hiện. Patients who were selected for one embryo transfer. Bệnh nhân đã được lựa chọn cho một chuyển phôi. Patients who had repeatedly failed to achieve a pregnancy following the transfer of good quality cleaved embryos (If the embryo arrest and did not develop to blastocyst, this may indicate a potential problem).

Những bệnh nhân đã nhiều lần thất bại trong việc đạt được một thai sau chuyển phôi phân cắt chất lượng tốt (Nếu việc bắt giữ phôi và không phát triển để túi phôi, điều này có thể chỉ ra một vấn đề tiềm năng).

Patient who do not wish to have their spare embryos frozen for whatever reasons may be advised to have blastocyst transfer. Bệnh nhân không muốn có phôi đông lạnh tùng của họ đối với bất cứ lý do có thể được khuyên nên có chuyển túi phôi