You are on page 1of 28

THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU CHO truyền hình kỹ thuật số

Đặc tính của chất lượng tín hiệu là một khía cạnh trong đó hệ thống kỹ thuật số khác nhau từ các đối tác tương tự của họ. Với tín hiệu truyền hình analog, các kỹ sư có thể dễ dàng đo lường sức mạnh truyền tải hoặc nhận ở đỉnh cao của xung đồng bộ. Công suất trung bình khác nhau tùy thuộc vào nội dung hình ảnh. Phương pháp có sẵn cho riêng đo mức công suất sóng mang âm thanh và sắc độ. Biến dạng phi tuyến được đặc trưng bởi tăng phân và giai đoạn, độ sáng phi tuyến, và ICPM. Biến dạng tuyến tính được đánh giá về phản ứng quét và chậm trễ nhóm. Đối với các hệ thống truyền hình kỹ thuật số, một số của các phép đo hiệu suất quen thuộc là hơi khó nắm bắt. Một xung đồng bộ thường xuyên theo định kỳ không có sẵn cho mục đích đo lường sức mạnh phong bì cao điểm. Các dữ liệu đại diện cho video, sắc độ, và âm thanh được ghép thành một dòng kỹ thuật số phổ biến, các hãng vận tải hình ảnh, sắc độ, và âm thanh riêng biệt không tồn tại. Bởi vì bản chất ngẫu nhiên của tín hiệu baseband, công suất trung bình trong băng thông truyền tải là hằng số. Các biện pháp chất lượng quan tâm bao gồm công suất trung bình, tỷ lệ công suất đỉnh trung bình, tỷ lệ tiếng ồn (C / N), tỷ lệ năng lượng trung bình cho mỗi bit mật độ tiếng ồn (Eb / N0), biểu tượng và tỷ lệ lỗi phân khúc (SER), tỷ lệ lỗi bit (BER), cường độ vector lỗi (EVM), mắt mô hình mở, can thiệp intersymbol (ISI), chuyển đổi AM-AM, AM-PM chuyển đổi, và tái phát triển quang phổ. Đặc tính của sự biến dạng tuyến tính bằng cách đáp ứng tần số và sự chậm trễ nhóm là chung cho cả hai hệ thống analog và kỹ thuật số.

Kênh công suất là một chức năng của tỷ lệ nhiễu tiếng ồn và băng thông kênh. Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến tiếng ồn và các lỗi hệ thống truyền ở người nhận sẽ được thảo luận đầu tiên. Sau đó là một cuộc thảo luận về các yếu tố mô tả hiệu suất máy phát. HỆ THỐNG NHIỄU Lý tưởng nhất, một hệ thống truyền dẫn truyền hình kỹ thuật số nên cung cấp một tín hiệu suy giảm miễn phí cho tất cả các địa điểm tiếp nhận trong khu vực dịch vụ. Rõ ràng, sẽ có một số địa điểm lý tưởng này không thể đạt được. Trong một hệ thống thực tế, biến dạng tuyến tính, biến dạng phi tuyến, và các nguồn khác nhau của tiếng ồn và nhiễu sẽ làm giảm tín hiệu. Ảnh hưởng chung của những khiếm khuyết là làm suy giảm các tàu sân bay tiếng ồn cộng với tỷ lệ can thiệp (C /( N+I)). Trong trường hợp không có sự can thiệp, thuật ngữ này làm giảm quen thuộc hơn C / N. Tâm đầu tiên là trường hợp mà không có sự can thiệp từ kỹ thuật số khác hoặc tín hiệu analog. Biết năng lượng tín hiệu nhận được và cường độ tiếng ồn tại vị trí tiếp nhận cho phép xác định C / N và tiếng ồn hạn chế phạm vi bảo hiểm đường viền trong sự vắng mặt của đa đường và can thiệp. Phương pháp xác định công suất trung bình của tín hiệu nhận được, Pr, được thảo luận trong Chương 8. Công suất sóng mang trung bình, C, được coi là tương đương với Pr sau khi điều chỉnh để nhận được ăng-ten và suy giảm đăt xuông. Tại địa điểm nhận ở xa, nhiễu nhiệt là nguồn nhiễu chiếm ưu thế trong sự vắng mặt của nhiễu đa đường hoặc can thiệp nghiêm trọng. Nhiễu nhiệt thường được giả định là phụ trắng Gaussian tiếng ồn (AWGN). Quang phổ điện tiếng ồn của AWGN bằng phẳng trên một băng thông vô hạn với mật độ phổ công suất N0 / 2 (W/H). Tổng công suất nhiễu, tổng N, trong một kênh băng thông, B, là sản phẩm của N0 và B, N= N0B Phần lớn công suất nhiễu là do tiếng ồn tạo ra trong giai đoạn đầu vào của máy thu. Tổng công suất nhiễu tại đầu vào máy thu có thể được thể hiện như N= kTsB (W) k là hằng số Boltzmann (1,38x10-23 J / K) và Ts là hệ thống Tiếp nhận nhiễu ồn nhiệt độ kelvin. Công thức này có thể được viết bằng decibel trên một miliwatt (dBm) N(dBm)= -198.6 + 10logB + 10logTs

Đối với truyền dẫn DTV ở Hoa Kỳ, băng thông kênh là 6 MHz, do đó giới hạn tiếng ồn nhiệt cho một người nhận hoàn hảo ở nhiệt độ phòng, Nt, Nt= 1,38 x 10-23 x 290 x 6 x 106 = 24,01 x 10-15 W Chuyển đổi dBm, giới hạn tiếng ồn nhiệt là 106,2 dBm. Đối với 7 - 8 - MHz kênh quy định trong các tiêu chuẩn DVB-T và ISDB-T, giới hạn tiếng ồn nhiệt là 105,7 và 105,2 dBm, 3 tương ứng. Để xác định sức mạnh nhận ngưỡng, PMR, yêu cầu ở người nhận, ngưỡng tỷ lệ tiếng ồn và nhận con số tiếng ồn, NF, phải được thêm vào các giới hạn tiếng ồn nhiệt. Đó là, Pmr=Nt + C/N + NF Để xác định công suất ngưỡng ăng ten, mất hàng phía trước của người nhận phải được thêm vào và nhận được ăng-ten trừ khỏi công suất nhận ngưỡng: Pma = Pmr – Gr + L Đối với mục đích lập kế hoạch ở Mỹ, FCC Ủy ban tư vấn về dịch vụ truyền hình tiên tiến đã đề nghị giá trị tiêu chuẩn cho nhận con số tiếng ồn, sự mất mát của ăng-ten nhận được đường truyền, và ăng-ten tại tần số trung bình hình học của mỗi RF bands.4 những yếu tố quy hoạch được thể hiện trong Bảng 2-1. Ngưỡng kết quả nhận được quyền lực tại các ăng-ten và thiết bị đầu cuối thu cũng được hiển thị trong hai dòng cuối cùng của bảng này. Nhận đạt yêu cầu được quy định tại các điều khoản của ngưỡng khả năng hiển thị (TOV). Đối với hệ thống DTV Mỹ này được thiết lập tại một giá trị C / N ngưỡng 15,2 dB. Một bảng tương tự cho hệ thống DVB-T bằng cách sử dụng kênh 8-MHz được xây dựng trong Bảng 2-2. Đối với hệ thống này, ngưỡng lý thuyết C / N để truyền nonhierarchical trong một kênh Gaussian dao động từ 3,1 đến 29,6 dB.5 Đối với Bảng 2-2,

a 7/8 bên trong tỷ lệ mã, ∆/Tu của 1/8 và 16 QAM được giả định, năng suất một ngưỡng C / N của 13,9 dB cần thiết để đạt được một BER của 2 x 10 -4 trước khi R / S giải mã. các tải trọng dữ liệu tương ứng với tỷ lệ là 19,35 Mb / s. Đây chỉ là một trong nhiều kịch bản có thể, các mục trong bảng này không nên được hiểu như lập kế hoạch yếu tố. Một sự khác biệt đáng kể giữa các bảng này và Bảng 2-1 là người nhận con số tiếng ồn thấp hơn nhiều. Ngoài ra, các giá trị khác nhau của ăng-ten và mất đường được giả định cho các phần trên và dưới của băng tần UHF. Đối với hệ thống ISDB-T, tối thiểu lý thuyết C / N cần thiết để đạt BER của 2 x 10-4 là 16,2 dB, bằng cách sử dụng cùng một băng thông kênh, điều chế, tỷ lệ mã bên trong, và khoảng bảo vệ tỷ lệ như giả định trước đó cho DVB-T. Tốc độ dữ liệu tải trọng tương ứng là 18,93 MB mỗi giây (MB / s). Như vậy, trong ví dụ này, hệ thống DVB-T có khả năng hiệu suất tốt hơn so với hệ thống ISDB-T khoảng 2,3 dB trong khi vẫn đạt được tốc độ dữ liệu cao hơn một chút. Trong thực tế, sự khác biệt hiệu suất dao động từ 1,4 đến 2,7 dB cho tất cả các tỷ lệ mã bên trong có thể, và các loại điều chế. Trong chế độ phân cấp, hệ thống DVB-T yêu cầu C / N cao hơn ngưỡng và đạt được tốc độ dữ liệu thấp hơn. Tại thời điểm viết bài này, một mất mát thực hiện lên đến 1 dB đã được đo trên ISDB-T, DVB-T mất thực hiện đo được là 2,7 dB.7 phần cứng và phát triển phần mềm tham gia thảo luận, cải tiến hiệu suất nên được dự kiến. Hiện nay, hiệu suất thực tế của cả hai hệ thống là về bình đẳng, nhưng tiềm năng lớn hơn để cải thiện ủng hộ của DVB-T.

Nhiễu bên ngoài Mặc dù nó là tiêu chuẩn thực hành để thực hiện các phép tính như trình bày trong Bảng 2-1 và 2-2, điều này có thể kể một câu chuyện hoàn chỉnh. Những kết quả này đại diện cho năng lượng tối thiểu cần thiết trong một môi trường giới hạn tiếng ồn ngẫu nhiên, do nhận. Để có được tiếng ồn hệ thống tổng thể, ảnh hưởng của nhiệt độ tiếng ồn ăng-ten, Ta ,

và sự đóng góp tiếng ồn của đường dây ăng-ten thu phải được bao gồm. Kết quả là nhiệt độ hư cấu chiếm tổng số tiếng ồn tại đầu vào đến máy thu. Khi những tác động của ăng-ten và dòng trên tổng số được bao gồm, tổng số tiếng ồn điện có sẵn ở người nhận là

nơi ˛ αr là yếu tố suy giảm đường, T0 là nhiệt độ môi trường xung quanh, và Tr là tiếng ồn nhận nhiệt độ. Công suất nhiễu ăng-ten là suy giảm bởi các đường dây truyền tải, đóng góp tiếng ồn của dòng được thêm trực tiếp vào tiếng ồn thu. Nhiệt độ thu tiếng ồn liên quan đến các yếu tố tiếng ồn, F,

Nhận tiếng ồn là yếu tố liên quan đến con số tiếng ồn NF= 10 log F Đường dây truyền tải mất mát, L, có liên quan đến yếu tố suy giảm L = 10logαr Với sự bao gồm của những yếu tố này, nhiệt độ của hệ thống, tham chiếu đến đầu vào máy thu, được cho bởi Ts Để minh họa sự tác động của các nguồn tiếng ồn bên ngoài, tiếng ồn, nhiệt độ tương đương và các khoản đóng góp sức mạnh tiếng ồn cho mỗi thành phần được liệt kê trong Bảng 2-3 cho nhiệt độ môi trường xung quanh giả định là 290 K. nhận nhiệt độ tiếng ồn được tính toán từ số liệu đưa ra tiếng ồn Bảng 2-1 cho hệ thống Mỹ DTV. Tổng của tất cả các đóng góp được hiển thị như hệ thống sàn nhận được tiếng ồn. Hai trường hợp được hiển thị. Đầu tiên là một xấp xỉ tốt cho khu vực nông thôn, dựa trên đường cong có nhãn "nông thôn" trong Hình 2-1. Thứ hai là dựa trên đường cong có nhãn "ngoại thành." Những đường cong này cho thấy ảnh hưởng ngày càng tăng của các tiếng ồn xung tại các tần số thấp hơn. Nhiệt độ tiếng ồn ăng-ten được giả định là bằng các giá trị trên những đường cong. Các tín hiệu ngưỡng yêu cầu ở đầu vào máy thu theo các điều kiện giả định cũng được hiển thị trong Bảng 2-3. Kể từ khi tiếng ồn hệ thống tổng số đã bao gồm sự đóng góp nhận, ngưỡng thu tín hiệu được xác định chỉ đơn giản bằng cách thêm ngưỡng C / N tổng số tiếng ồn sàn. Các kết quả được hiển thị cho mức tín hiệu ngưỡng trong 2-3 Bảng cao hơn so với Bảng 2-1 và những người bình thường được công bố trong ngân sách tiếng ồn thu DTV. Điều này là do ước tính của tiếng ồn hệ thống thường được công bố xem xét chỉ có các con số tiếng ồn của máy thu và bỏ qua sự đóng góp của các nguồn bên ngoài thông qua các ăng-ten nhận được và truyền tải tiếng ồn đường dây hệ thống.

Hình 2-1 và tính toán trong Bảng 2-1 và 2-3 là đóng góp-tion của tiếng ồn tự nhiên và nhân tạo để nhiệt độ tiếng ồn hệ thống ăng-ten và phụ thuộc nhiều vào vị trí, cho dù trong một đô thị, ngoại ô, hoặc nông thôn môi trường. Tại các khu vực ngoại thành sàn tiếng ồn hệ thống có thể bị phân hủy bởi các nguồn bên ngoài hơn 2 dB tại UHF, thấp băng tần VHF, sự xuống cấp có thể được hơn 20 dB. Tiếng ồn ở khu vực thành thị có thể cao hơn 16 dB tại các địa điểm ngoại thành. Khu vực nông thôn có thể được êm hơn so với các khu vực ngoại thành 18 dB hoặc nhiều hơn. Kể từ khi nhận đô thị và ngoại thành có nhiều khả năng là trong các lĩnh vực của cường độ tín hiệu cao, có một số biện minh cho việc sử dụng các giá trị thấp nhất cho nhiệt độ tiếng ồn ăng-ten để ước tính các giới hạn bảo hiểm trong nhiều trường hợp. Trạm UHF có thể mong đợi để thưởng thức 3 để lợi thế của tiếng ồn 20 dB trên trạm VHF băng tần thấp và 3 - 6 dB lợi thế hơn các trạm băng tần cao. Lợi thế do tiếng ồn thấp hơn mức độ có xu hướng bù đắp cho các khoản lỗ tuyên truyền cao hơn kinh nghiệm tại các tần số cao hơn. Trong thực tế, sự mất mát dòng thay đổi cài đặt nhận cũng như tần số. Con số tiếng ồn của máy thu khác nhau tùy thuộc vào nhà sản xuất, sản xuất toler-ances, và tần số. Trong các bảng nó được giả định rằng các ăng-ten bên ngoài sẽ được sử dụng. Ở những địa điểm nơi một ăng-ten bên trong được sử dụng, tối thiểu nhận được sức mạnh được tăng lên bởi sự khác biệt trong ăng-ten. Điều này cũng thay đổi từ trang này sang trang khác. Việc đạt được ăng-ten khác nhau với nhà sản xuất, dung sai sản xuất, tần số và. Vì vậy, sức mạnh ngưỡng thu phải được hiểu cho nó là gì - một ước tính có giá trị thực tế trong bất kỳ vị trí nhất định phụ thuộc vào nhiều biến trang web cụ thể. Hệ thống mức độ tiếng ồn cao hơn do các nguồn bên ngoài là chất lượng phù hợp với đo lường lĩnh vực ở Hoa Kỳ. Charlotte, North Carolina, DTV lĩnh vực tests8 có sáu trang web mà không có sự can thiệp đồng kênh đã được ghi nhận trên kênh 6. Tiếng ồn sàn trung bình ghi nhận tại các trang web này là 67,9 dBm, tối thiểu là 73 dBm và tối đa là 64 dBm. Điều chỉnh các giá trị để đạt được hệ thống VHF là 25,5 kết quả dB trong một tiếng ồn sàn trung bình 93,4 dBm, tối thiểu là 98,5 dBm, và tối đa là 89,5 dBm. Người nhận sức mạnh tương đương đầu vào tiếng ồn cho người nhận được sử dụng (NF D 6 dB) là 100,2 dBm, 1,7 dB dưới giá trị đo tối thiểu (sau khi điều chỉnh để đạt được hệ thống). Giá trị tối thiểu được rõ ràng đo tại một vị trí nông thôn khoảng 21 dặm về phía đông bắc của các trang web truyền. Hết (nhưng không phải tất cả) của các địa điểm mà tại đó tầng tiếng ồn cao hơn đã được quan sát thấy xuất hiện là tại các khu đô thị hoặc ngoại thành hơn. Vị trí mà ở đó ồn tối đa được đo là một phần của lưới điện Charlotte. Đối với UHF, tiếng ồn sàn trung bình ghi nhận tại các trang web thử nghiệm Charlotte 71,0 dBm, tối thiểu là 71,9 dBm và tối đa là 68,2 dBm. Điều chỉnh các giá trị để đạt được hệ thống UHF của 29,4 kết quả dB trong một tiếng ồn sàn trung bình 100,4 dBm, tối thiểu là 101,3 dBm, và tối đa là 97,6 dBm. Nhận tương đương tiếng ồn điện đầu vào cho người nhận được sử dụng

(NF D 7 dB) là 99,2 dBm, 2.1 dB trên giá trị đo được tối thiểu, 2.4 dB dưới giá trị đo được tối đa, và 1,2 dB trên giá trị đo trung bình (sau khi điều chỉnh để đạt được hệ thống). Từ những dữ liệu có thể kết luận rằng việc sử dụng năng lượng thu tiếng ồn đầu vào chỉ là một yếu tố dự báo tốt hơn nhiều tiếng ồn sàn tại UHF. Sự thay đổi trong tiếng ồn điện từ vị trí này đến vị trí khác là ít hơn nhiều UHF. Tác động của tiếng ồn do con người tạo ra tại VHF được công nhận trong Hướng dẫn thực hiện cho DVB-T. Tiếng ồn điện được giả định tăng 6 dB trong I ban nhạc và 1 dB trong ban nhạc III. Trợ cấp không được thực hiện cho tiếng ồn do con người tạo ra trong các ban nhạc IV và V. TRUYỀN LỖI Có ít nhất ba phương pháp khác nhau có thể được sử dụng để đếm truyền lỗi: phân khúc tỷ lệ lỗi, tỷ lệ lỗi bit, và tỷ lệ lỗi biểu tượng. Tỷ lệ lỗi biểu tượng được định nghĩa là xác suất của một lỗi biểu tượng trước khi mã hóa sửa lỗi về phía trước. Số lượng này thường được vẽ như là một chức năng của C / N hoặc số lượng có liên quan, Eb / N0. Mối quan hệ giữa Eb / N0 và C / N có thể được bắt nguồn như sau. Công suất sóng mang trung bình có thể được viết as

nơi Es được định nghĩa là năng lượng cho mỗi biểu tượng và T là thời gian biểu tượng. Năng lượng trung bình cho mỗi bit do đó

trong đó Rb là tốc độ truyền theo bit mỗi giây và M là số các cấp. Ví dụ, trong 8 VSB, MD 8, do đó Eb D Es / 3. Chia cả hai bên N0, chúng ta thấy rằng Eb / N0 là liên quan đến C / N

Cả hai số lượng được thường được biểu diễn bằng decibel, vì vậy các biểu hiện sau thường được viết

Hình 2-2. Symbol tỷ lệ lỗi so với S / N. (Từ hệ thống uỷ ban truyền hình tiên tiến, "Hướng dẫn việc sử dụng các tiêu chuẩn ATSC Truyền hình kỹ thuật số," tài liệu A/54, ATSC, Washington, DC, 4 Tháng Mười, 1995, được sử dụng với sự cho phép.)

Băng thông nhận tiếng ồn được giả định bằng băng thông kênh. Biểu thức này cho phép so sánh công bằng của việc thực hiện tương đối của các hệ thống khác nhau có khác nhau C / N ngưỡng và tốc độ dữ liệu trên cơ sở của Eb / N0, với điều kiện là tỷ lệ lỗi là tương đương. Nếu tỷ lệ lỗi không tương đồng, điều chỉnh thêm được yêu cầu. Tỷ lệ lỗi bit, xác suất của một lỗi chút trước khi FEC, cũng thường được vẽ như là một chức năng của Eb / N0. Tỷ lệ phân khúc lỗi liên quan đến xác suất của một lỗi trong một đoạn dữ liệu, sau khi chuyển tiếp sửa lỗi. Đo tỷ lệ lỗi phân khúc so với S / N cho 8 VSB chế độ phát sóng trên mặt đất được thể hiện trong hình 2-2. Đó là rõ ràng rằng hệ thống này là khá mạnh mẽ cho đến khi mức ngưỡng được tiếp cận. TOV đã được xác định xảy ra cho một phân đoạn của tỷ lệ lỗi 1,93 ð 10 4. Nhắc lại rằng chiều dài phân đoạn là 832 biểu tượng và biểu tượng tỷ lệ là 10,76 Msymbols / s, rõ ràng là TOV tương ứng đến 2,5 lỗi phân đoạn trong một giây. BER tương đương là 3 ð 10 6 sau khi R / S giải mã. Đây là hướng dẫn để so sánh DVB-T và ATSC hệ thống bằng cách sử dụng Eb / N0. So sánh như vậy đã được thực hiện bởi Wu, 10 người kết luận rằng hệ thống ATSC nắm giữ

một lợi thế mang tính lý thuyết DVB-T của khoảng 1,3 dB. Lợi thế này có thể được chiếm hoàn toàn mạnh hơn R / S và mã xoắn

được sử dụng cho hệ thống ATSC. Như hiện nay triển khai thực hiện, lợi thế là 3.6 dB trong kênh AWGN. Đo trên hệ thống ATSC kết quả chỉ trong một mất mát thực hiện 0,4-dB. Với những cải tiến, sự mất mát thực hiện của cả hai hệ thống này sẽ được giảm xuống, hệ thống DVB-T có cải tiến lớn hơn tiềm năng.

ERROR VECTOR Tầm quan trọng

Chất lượng của tín hiệu trong băng tần cũng có thể được thể hiện về độ lớn vector lỗi. Đây là một biện pháp hữu ích số lượng được xác định là giá trị (RMS) root-mean-vuông của sự khác biệt độ lớn vector giữa các điểm chòm sao lý tưởng, Di, và các điểm chòm sao thực tế, Đà, I - Q sơ đồ, thể hiện theo phần trăm. Một tín hiệu lỗi vector ei, có thể được tính ở từng thời điểm biểu tượng: Ei = Di - Yi EVM thường được tính như là một trung bình trên một số lượng lớn, Ns, mẫu, do đó

Một hoàn hảo hệ thống truyền dẫn kỹ thuật số sẽ triển lãm một EVM 0%. Mối quan hệ nghịch đảo giữa EVM và C / N có thể được nhìn thấy bằng cách xem xét các tín hiệu báo lỗi để được tiếng ồn. C / N chỉ đơn giản là tỷ lệ giá trị RMS của các điểm chòm sao mong muốn với giá trị RMS của tiếng ồn:

Mối quan hệ giữa C / N và EVM được minh họa trong Hình 2-3, đó là một âm mưu thực hiện trong băng tần đo tại đầu ra của một máy phát 8 VSB DTV. Trên hầu hết các phạm vi của các phép đo, EVM là tỉ lệ nghịch với C / N. Chỉ có giá trị thấp của EVM là một mối quan hệ rõ ràng phức tạp hơn. Nhìn chung, EVM có thể được coi là biện pháp tổng thể tốt nhất trong băng tần hoạt động DTV. Nó sẽ đưa vào tài khoản của tất cả các khiếm góp phần can thiệp intersymbol (ISI), nguyên nhân của lỗi biểu tượng và bit. ISI được gây ra bởi bất kỳ năng lượng trong một thời gian biểu tượng có thể can thiệp với tiếp nhận trong một thời gian biểu tượng. Ngoài tiếng ồn, năng lượng này có thể là do phân tán trong các kênh do biến dạng tuyến tính hoặc lỗi

thời gian gây ra bởi bandlimiting trong hệ thống. Smears kênh đáp ứng và sự chậm trễ tín hiệu truyền ở người nhận. Khi ISI trở nên đủ nghiêm trọng, những sai lầm nhận giá trị của các biểu tượng truyền.

Để giảm thiểu các tác động của sự phân tán và tối đa hóa miễn nhiễm tiếng ồn và ISI kết quả trong hệ thống ATSC, các xung vuông ở đầu vào 8 VSB điều biến hình bằng phương tiện của một bộ lọc Nyquist. Điều này thấp qua bộ lọc có pha tuyến tính đáp ứng biên độ bằng phẳng trên hầu hết các passband của nó, xấp xỉ một bộ lọc thông thấp lý tưởng. Trong thực tế, thấp vượt qua bộ lọc lý tưởng với váy vô cùng dốc là không thể thực hiện được thể chất. Vì vậy, phản ứng của các bộ lọc Nyquist thực sự được thực hiện dần dần thêm một chút. Hình dạng xung tại đầu ra của bộ lọc Nyquist được mô tả rất gần chức năng sinc quen thuộc,

Chức năng này có tài sản mà nó là bằng không tại t D ST, t D š2T, t D š3T, và như vậy, nhưng bằng sự thống nhất cho t D 0. Vì vậy, xung xảy ra tại thời gian biểu tượng khác hơn t D 0 không đóng góp sức mạnh biểu tượng nhận được và có ISI không. Chức năng sinc có thể được nhân rộng bởi bất kỳ chức năng khác mà không cần thay đổi thời gian của số không, do đó bảo quản tài sản của không có ISI. Sự lựa chọn thông thường là nhân bởi một chức năng có một đặc tính root-lớn lên-cô sin đáp ứng. Hình dạng xung kết quả là một chức năng sinc sửa đổi: 11

Dạng xung này cũng có tài sản mà nó là bằng không tại t = ± T, t = ± 2T,t = ± 3T, và như vậy, nhưng bằng sự thống nhất cho t = 0. Với chức năng sinc, xung xảy ra vào những thời điểm biểu tượng khác với t = 0 không đóng góp sức mạnh biểu tượng nhận được và có ISI không, nửa băng thông điện 1/2T. Các đuôi này giảm xung với tốc độ nhanh hơn so với các bộ lọc thông thấp lý tưởng, vì vậy mà thời gian chính xác không phải là quan trọng. Băng thông một nửa sức mạnh của bộ lọc này thường được gọi là băng thông Nyquist, mà cho hệ thống DTV Mỹ là 5,38 MHz. Băng thông bộ lọc đầy đủ là lớn bởi một nhân tố của 1+ αN, do đó băng thông kênh là 1,1152 x 5,38 hoặc 6 MHz. Bên ngoài băng tần này, phản ứng là số không. EYE MẪU Các mô hình mắt là một phương pháp thuận tiện cho việc đánh giá trực quan và chất lượng ISI và C / N hiệu suất của một hệ thống truyền dẫn kỹ thuật số. Các tín hiệu được hiển thị trên một dao động được thiết lập để kích hoạt đồng thời biểu tượng. Việc kiên trì của phạm vi tạo ra một hỗn hợp của tất cả các dạng sóng có thể. Ở mỗi cấp độ của tín hiệu, các dạng sóng chồng chéo sản xuất một mô hình tương tự như mắt người. Mức độ mà đôi mắt là mở cửa là một biện pháp của ISI và do đó tín hiệu chất lượng. Mở mắt nên là lớn nhất tại thời điểm lấy mẫu. Mắt mở 100% tương ứng với một EVM 0%. Biện pháp định lượng gần đúng của C / N có thể được làm từ hình ảnh đánh giá của mắt pattern.12 biên độ tín hiệu được biểu diễn bằng khoảng cách từ trung tâm đến trung tâm giữa các cấp biểu tượng, ồn V. được đại diện bởi độ dày tích lũy của các đường giao nhau ở mỗi cấp biểu tượng, ∆ V. Tỷ lệ đăng nhập của các khoảng cách, 20 log( V / ∆V), là một ước tính tỷ lệ C / N. Ví dụ, nếu ∆V = 0,1 V, giá trị C / N là 20 dB. Tương tự như bế mạc của mắt chiều ngang có thể là một dấu hiệu của thời gian jitter. NHIỄU Mặc dù sàn tiếng ồn là một khái niệm hữu ích để ước lượng mức tối đa bảo hiểm, trong thế giới thực sự can thiệp thường Hiện nay, xu hướng đặt giới hạn thêm chi tiết về bảo hiểm. Can thiệp vào tín hiệu có thể có nguồn gốc với các trạm đồng kênh và kênh lân cận. Tín hiệu tiếp tục loại bỏ tần số có thể là các giai điệu âm hoặc các sản phẩm xuyên điều chế (KCN). Trong bất kỳ trường hợp nào, mức độ của các tín hiệu tại nguồn của họ thường là bên ngoài sự kiểm soát của các trạm mà họ can thiệp. Trong thời gian chuyển tiếp, sự can thiệp có thể đến từ cả hai tín hiệu truyền hình analog và kỹ thuật số. Chỉ có những tác động của sự can thiệp vào tín hiệu truyền hình kỹ thuật số sẽ được thảo luận.

Vị trí địa lý, các kênh, và năng lượng bức xạ hiệu quả (ERP) của hiện tại trạm tương tự hiện đang được cố định. Đài kỹ thuật số nói chung sẽ được đặt tại hoặc gần các trang web tương tự với sức mạnh đủ để nhân rộng dịch vụ tương tự. Những yếu tố này và các bài tập kênh của các dịch vụ kỹ thuật số là điểm khởi đầu cho phân tích can thiệp. Tuyên truyền các tín hiệu can thiệp là phụ thuộc vào các yếu tố ảnh hưởng đến tín hiệu mong muốn. Với AERP, tháp địa điểm các thông số, và hoạt động kênh, thời gian khác nhau mức tín hiệu tại một địa điểm cụ thể phụ thuộc vào khoảng cách, địa hình yếu tố, điều kiện khí quyển, và các nguồn đa. Các phương pháp được mô tả trong chương 8 có thể được sử dụng để ước tính mức độ này bằng cách sử dụng các thông số của các trạm can thiệp (s).

NHIỄU ĐỒNG KÊNH

Tín hiệu đồng kênh là các tín hiệu mong muốn cho các trạm tại các thị trường khác. Thu truyền hình kỹ thuật số phát hiện một tín hiệu đồng kênh kỹ thuật số khác như là nguồn của tiếng ồn. Khi giá trị C / N thấp hơn ngưỡng do sự kết hợp của nguồn nhiệt và giao thoa, tiếp nhận sẽ thất bại. Tiếng ồn nhiệt và quyền hạn tín hiệu nhiễu là phụ gia, do đó ngưỡng C / (N +I) tăng trong tỷ lệ nghịch với sự can thiệp đồng kênh. Điều này được minh họa trong Hình 2-4, trong đó cho thấy ngưỡng như là một chức năng của nhà cung cấp dịch vụ can thiệp tỷ lệ C / N, C / I, đối với một cặp 8 VSB DTV trạm hoạt động trên cùng một kênh, giả định một

Hình 2-5. C / I so với C / N. (Từ DTV Sổ tay Tập huấn Express, được sử dụng với mỗi nhiệm vụ.)

omnidirectional nhận được ăng-ten. Khi giá trị C / I là cao, nói lớn hơn 35 dB, ngưỡng C / N phương pháp tiếp cận 15,2 dB, giá trị can thiệp. Khi tăng can thiệp, ngưỡng C / N tăng tương ứng. Rõ ràng là gần mép vùng phủ sóng hạn chế tiếng ồn, C tối thiểu / I là cao hơn nhiều so với trong khu vực C / N cao. Ở rìa của vùng phủ sóng hạn chế tiếng ồn, không có sự can thiệp có thể được dung thứ. Trong thời gian chuyển tiếp, trạm đồng kênh analog cũng có thể ảnh hưởng đến dịch vụ truyền hình kỹ thuật số. Kết quả xét nghiệm tại Trung tâm Truyền hình thử nghiệm nâng cao (ATTC) 13 trên hệ thống VSB 8 bằng cách sử dụng một phòng thí nghiệm phi thương mại DTV demodulator được hiển thị trong hình 2-5. Từ những thử nghiệm này rõ ràng là thấp DTV carrier-to-noise tỷ lệ (C / N <19,2 dB) tỷ lệ mong muốn-to-không mong muốn quan trọng, D / U, là 7 dB. Đó là, các tín hiệu mong muốn được vượt quá tín hiệu không mong muốn 7 dB cho tiếp nhận DTV chấp nhận được. Tại giá trị quan trọng D / U, hình DTV đã suy giảm với các hình vuông màu đen đông lạnh trong thời gian và âm thanh đã bị tắt tiếng. Giá thấp D / U, hình ảnh, âm thanh và dữ liệu thất bại hoàn toàn. Các phòng thí nghiệm DTV demodulator được trang bị với một bộ lọc từ chối đồng kênh NTSC, tự động chuyển trong khi giá trị C / I giảm xuống dưới 16,5 dB. Tại carrier-to-noise tỷ lệ cao (C / N> 23 dB), quan trọng D / U 2 dB. Tại thời điểm viết bài này, không có dữ liệu có sẵn với người tiêu dùng cấp thu. Một

NTSC đồng kênh từ chối bộ lọc có thể không nhất thiết phải có mặt trong tất cả các thu thương mại. Các dữ liệu thử nghiệm tham chiếu là cơ sở phân bổ kênh ở Hoa Kỳ, nơi bảo vệ đồng kênh analog-to-kỹ thuật số được sử dụng tỷ lệ là 1,8 dB. Đối với DVB-T, tỷ lệ bảo vệ tương ứng là 4 dB. Nói chung, không có cải thiện nên được dự kiến từ việc sử dụng của người vận chuyển chính xác bù đắp bởi các máy phát tương tự kể từ khi tín hiệu can thiệp có thể đến từ bất kỳ một trong nhiều trạm. Một số trạm tương tự có thể bù đắp các tàu sân bay trực quan bằng 10 kHz, với dung sai lên đến S1 kHz. Trong sự vắng mặt của một bù đắp NTSC, bù đắp tần số thí điểm DTV bằng 28,615 kHz trên tần số bình thường của nó có tác dụng đặt các hình ảnh NTSC, sắc độ, và các tín hiệu âm thanh gần nulls của NTSC từ chối bộ lọc trong DTV receivers14 được trang bị với các bộ lọc. Nhiễu kênh lân cận

Một tín hiệu kênh lân cận có thể là tín hiệu mong muốn cho các trạm khác hoặc kết quả của các sản phẩm xuyên điều thứ ba hoặc cao hơn trật tự được tạo ra trong các bộ khuếch đại quyền lực của các chất dẫn truyền khác. Dù nguồn gốc, những tín hiệu này xuất hiện như là các dải biên tạp trong kênh lân cận ngay bên ngoài các kênh mong muốn. Khi tạo ra bởi các máy phát truyền hình kỹ thuật số, các thành phần này xuất hiện như tiếng ồn. Những chiếc mặt nạ FCC và DVB-T xác định các giới hạn nghiêm ngặt về sự can thiệp này tại đầu ra của hệ thống máy phát. Tiếng ồn còn lại sau khi áp dụng mặt nạ cho biết thêm tiếng ồn từ các nguồn khác. Có rất ít sự khác biệt giữa hiệu quả của sự can thiệp từ các dải biên TV kỹ thuật số trên hoặc thấp hơn. Hiệu ứng này cũng tương tự như của nhiễu đồng kênh kỹ thuật số-to-kỹ thuật số, ngoại trừ việc các cấp độ được bù đắp bởi 45 dB. Điều này tương đương với tổng số tiếng ồn điện so với mức trung bình trong băng tần điện từ sử dụng một mặt nạ khí thải. ANALOG TO DIGITAL TV Đối với thiết bị tương tự trên các kênh lân cận, mối quan tâm lớn cho màu sắc, hình ảnh, và các hãng âm thanh can thiệp với các tín hiệu truyền hình kỹ thuật số thông qua các kênh lân cận từ chối ban nhạc của người nhận. Không có hiện vật được sản xuất cho đến khi đạt được một giá trị quan trọng D / U. D / U quan trọng là 48 dB thấp hơn liền kề NTSC và dB 49 cho một tín hiệu trên NTSC liền kề. Do đó, các tín hiệu không mong muốn có thể được là 49 dB lớn hơn so với tín hiệu mong muốn. Tại một D / U trên mức này, tiếp nhận không đột ngột - đó là không có hình ảnh, âm thanh, hoặc dữ liệu. Các dải của một trạm tương tự liền kề cũng có thể can thiệp với các tín hiệu trong băng tần truyền hình kỹ thuật số. Ví dụ, các đặc điểm kỹ thuật cho reinsertion biên thấp hơn

đối với máy phát NTSC chỉ là 20 dB. Để hiểu biết của người viết, không có xét nghiệm đã được tiến hành để đo lường mức độ của hiệu ứng này.

phát tín YÊU CẦU

Để cung cấp mong muốn C / N ở người nhận, nó là cần thiết rằng hệ thống máy phát tạo ra một tín hiệu của tiếng ồn và của cả hai biến dạng tuyến tính và phi tuyến năng lượng đủ cao để che khu vực dịch vụ miễn phí. Công suất trung bình là tham số đó hiệu suất của một hệ thống máy phát truyền hình kỹ thuật số được tham chiếu. Tín hiệu miền thời gian điển hình phong bì cho một tín hiệu điều chế 8-VSB được thể hiện trong hình 2-6. Lưu ý sự thay đổi lớn trong các đỉnh núi phong bì. Rõ ràng, không có đỉnh cao định tương ứng với xung đồng bộ quen thuộc của truyền hình analog. Không phải là có một phong bì cao điểm dự đoán được mức độ tín hiệu. Tuy nhiên, mức công suất trung bình là hằng số. Một phong bì tương tự có thể được vẽ cho tín hiệu OFDM. Do đó, quyền lực của một đài truyền hình kỹ thuật số thường được công bố về sản lượng điện trung bình máy phát (TPO) hoặc công suất trung bình hiệu quả bức xạ. Bên cạnh là một hằng số cho bất kỳ sự kết hợp của âm thanh, video và dữ liệu, có nhiều lợi thế để sử dụng điện năng trung bình để mô tả một hệ thống truyền hình truyền dẫn số. Kỹ thuật đo công suất trung bình được phát triển tốt. Đối với các hệ thống năng lượng cao, sử dụng nhiệt lượng một cung cấp một phương tiện hữu ích của hiệu chỉnh hệ thống điện sản lượng trung bình. Các công cụ đọc trung bình khác bằng cách sử dụng các phương pháp mà phụ thuộc vào sự phát triển của một cấp độ dc do sưởi ấm của phần tử cảm biến cũng có thể được sử dụng. Bởi vì mức công suất trung bình là hằng số trong thời gian và quang phổ liên tục trên hầu hết các băng thông kênh, mức độ quyền lực tương đối dễ dàng có thể được xác định bởi sự hội nhập của phổ bức xạ.

Mặc dù công suất trung bình được sử dụng để thiết lập các máy phát và trạm xếp hạng, kiến thức về sức mạnh cao điểm không phải là không quan trọng. Khoảng không đủ phải được cho phép trong các bộ khuếch đại trung gian và cuối cùng của máy phát cũng như bất cứ thành phần phi tuyến khác trong chuỗi truyền dẫn để tránh quá nhiều Compres-sion, do đó yêu cầu để khuếch đại quyền lực rất tuyến tính. Hơn nữa, việc đánh giá, công suất đỉnh của các đường dây truyền tải, các bộ lọc, hệ thống RF, và ăng-ten phải được xác định đúng cách để tránh sự cố về điện áp. Các con số mô hình của hầu hết các thiết bị phát sóng thường assignal về một đánh giá cao điểm. Điều này dường như là do truyền thống các loại thiết bị đánh giá tương tự về xếp hạng đồng bộ đỉnh cao của họ hơn bất kỳ đo lường xác định. Tuy nhiên, đo công suất đỉnh là khó khăn hơn nhiều và trong nhiều trường hợp không cần thiết. Nó được phổ biến thực hành để ước tính tỷ lệ cao điểm trung bình (PAR) dựa trên các giả định hợp lý, và nhân yếu tố này bởi quyền năng trung bình để có được một ước tính, công suất đỉnh. Cải cách hành chính có thể được ước tính trên cơ sở của chức năng phân phối tích lũy (CDF). Điều này được minh họa bằng cách sử dụng dữ liệu từ 8 VSB bài kiểm tra trong Hình 2-7. Lưu ý rằng cải cách hành chính không vượt quá 7,5 dB về 99,99% thời gian. Đối với các tín hiệu COFDM, cải cách hành chính tương ứng là khoảng 10 dB. Những con số này được coi là có tính toán đầy đủ để xác định nén cho phép trong một bộ khuếch đại quyền lực. Peak-to-tỷ lệ trung bình trong 8 VSB máy phát lên đến 11 dB đã được báo cáo. Các giá trị cao hơn có thể được sử dụng để chọn một đường truyền bảo thủ dựa trên điện áp phân tích hoặc

để xác định khoảng không trong các thành phần đó phải là cực kỳ tuyến tính, như exciter. Các tín hiệu đỉnh lớn liên quan đến kết quả mức trung bình tín hiệu nén trong giai đoạn đầu ra của khuếch đại công suất thực tế. Phi tuyến kết quả sản xuất các sản phẩm xuyên điều chế bậc cao, được quan sát như lây lan quang phổ. Hình 2-8 cho thấy quang phổ của một tín hiệu VSB 8 đo tại đầu ra của một bộ khuếch đại điện điển hình. Các tín hiệu trong băng thông kênh cơ bản là không đổi ngoại trừ một cành trong quang phổ ở phía bên trái. Tăng đột biến này là do sự hiện diện của các tín hiệu thí điểm. Bên ngoài băng thông kênh có bằng chứng mọc của quang phổ. Trong một bộ khuếch đại tuyến tính lý tưởng, năng lượng trong khu vực này sẽ được hạn chế đến mức tạo ra trong exciter. Mức độ đo bằng một bộ khuếch đại thực tế phụ thuộc vào mức độ mà bộ khuếch đại là lái xe vào nén trong các đỉnh tín hiệu cũng như các đặc tính cụ thể phi tuyến của bộ khuếch đại. Lây lan quang phổ là một thông số rất quan trọng, nó sẽ xác định mức độ nhiễu cho các đài kỹ thuật số và tương tự được phân bổ cho các kênh lân cận. Từ quan điểm của kênh lân cận, năng lượng out-of-band chỉ đơn giản là trở thành một nguồn tiếng ồn. Thậm chí nếu không có phân bổ kênh lân cận, FCC và các thông số kỹ thuật DVB-T yêu cầu giới hạn nghiêm ngặt để tín hiệu out-of-band. Ví dụ, bức xạ mặt nạ FCC được uỷ quyền được thể hiện trong hình 2-9. các Tài liệu tham khảo của 0-dB được đặt ở mức công suất trung bình trong băng tần. Trong thực tế, mặt nạ yêu cầu tất cả các tín hiệu bên ngoài phân bổ kênh 6-MHz 36,7 dB dưới mức trung bình trong kênh cấp, giảm trong thời trang tuyến tính 99,7 dB dưới mức trong kênh ở tần số 6 MHz ở trên và dưới

cạnh kênh. Khi mặt nạ được vẽ ở đây, nó được giả định rằng băng thông độ phân giải của máy phân tích quang phổ là cố định một giá trị đủ nhỏ (nói, 30 kHz) đúng trình bày trong băng tần và out-of-band đo. như nhau mặt nạ cho hệ thống DVB-T được thể hiện trong hình 3-10 và 3-11. Không cần phải nói, để đạt được mức độ yêu cầu của các mặt nạ có thể áp dụng đòi hỏi một bộ khuếch đại quyền lực với khoảng không đầy đủ, kiểm soát quyền lực chính xác, ổn định và mạch precorrection kiểm soát chính xác, và một đầu ra thiết kế bộ lọc bandpass. Chuyển đổi AM-to-AM là cơ chế chính phổ mọc lại xảy ra. Thuật ngữ này được sử dụng để mô tả mức độ mà điện áp đầu ra của máy phát là tỷ lệ thuận với đầu vào. Giai đoạn đầu ra cũng có thể là một chức năng của trình độ đầu vào. Độ lệch từ giai đoạn tuyến tính lý tưởng được mô tả như là chuyển đổi AM-PM. Một máy phát hoàn toàn tuyến tính sẽ sản xuất không có AM / AM hoặc AM / PM. Hãy xem xét một bộ khuếch đại thực tế (hoặc bất kỳ thành phần khác quasilinear). Trong miền thời gian, sản lượng, Vì vậy, của phi tuyến thứ ba để có thể được mô tả như là một chức năng của đầu vào, Si, như sau:

Vì vậy, S0 = Gsi + g3Si3

trong đó g là đạt được của bộ khuếch đại trong khu vực tuyến tính của chức năng chuyển giao và g3 đại diện cho mức độ thứ ba để phi tuyến. Vì vậy, nếu g3 là số không, khuếch đại là lý tưởng, không có AM / AM hoặc AM / PM chuyển đổi. Nếu g3 là khác không,

bộ khuếch đại là phi tuyến. Kết quả là AM / PM và AM / PM sẽ làm gia tăng cho các sản phẩm xuyên điều thứ ba để tái phát triển phổ. Chức năng chuyển phi tuyến được minh họa trong hình 2-10 cho trường hợp của g D 10 (20 dB) và g3 D 1. Trên hầu hết các phạm vi đầu vào, đầu ra tăng lên tỷ lệ thuận với đầu vào. Lưu ý rằng khi tín hiệu đầu vào là về sự thống nhất (0 dB), nén là khoảng 1 dB. Khi tín hiệu đầu vào tăng đến một giá trị là 1,8 (5 dB), không tăng sản lượng xảy ra. Nén vào thời điểm này là khoảng 3,4 dB. Ngoài thời điểm này, gia tăng đầu vào sản xuất tín hiệu đầu ra ít hơn. Một số bộ khuếch đại thực tế, chẳng hạn như klystrons, trên thực tế triển lãm loại đặc tính phi tuyến, trong đó sản lượng giảm khi tín hiệu đầu vào tăng vượt quá một giá trị giới hạn. AM-to-PM chuyển đổi có thể được minh họa bằng cách xem xét nhiệm kỳ thứ ba-trật tự trong chức năng chuyển giao phức tạp. Trong trường hợp này chúng tôi chỉ đơn giản là viết

g3 = g3I + jg3Q

nơi g3I là các thành phần trong giai đoạn của thời hạn phi tuyến và g3Q là thành phần vuông góc. Phi tuyến pha và biên độ được minh họa trong Hình 2-11 đối với trường hợp của g3I D g3Q D 1. Khi tăng tín hiệu đầu vào, giai đoạn đầu ra chậm. Tại điểm nén 1-dB, giai đoạn chuyển đổi bất thường là khoảng 7 °, điển hình của bộ khuếch đại thực tế.

Mối quan hệ giữa AM / PM và mọc lại quang phổ có thể được minh họa bằng cách xem xét các tín hiệu đầu vào, Si, được tạo thành từ hai tông màu, S1 và S2, ở tần số góc ω1 và ω2, tương ứng, có nghĩa là,

Si = S1 + S2

Khi các tín hiệu này được đưa vào biểu thức Vì vậy, kết quả là

Vì vậy: S0 = g(S1+S2) + g3(S1 + S2)3

Mở rộng thời hạn khối và sau khi một số đại số, chúng tôi có được

( S1 + S2)3 = S13 + S23 + 3S13

Rõ ràng là các tín hiệu cơ bản đã được bảo tồn và khuếch đại. Tuy nhiên, tín hiệu bổ sung, S3, S3, 3S2 S2, và 3S1 S2, đã được tạo ra. Đó là 1212 cũng được biết rằng những tín hiệu mới, trong số những người khác, ở tần số 3ω1, 3ω2, Ω2 2ω1, và 2ω2 - ω1. Các tín hiệu hòa thứ ba tại 3ω1 và 3ω2 tốt bên ngoài các kênh và có thể được lọc. Tuy nhiên, sự khác biệt tín hiệu 2ω1 ω2 và 2ω2 ω1 và gần kênh và đại diện cho các sản phẩm xuyên (KCN) hoặc mọc lại quang phổ. Nhận thức được rằng các tín hiệu kỹ thuật số có thể được mô tả như là một quang phổ liên tục, rõ ràng là mọc lại quang phổ liên tục do phi tuyến được hiển thị trong các dữ liệu đo được mong đợi. trong

thực tế, biên độ của các sản phẩm xuyên điều chế có thể được tính bằng cách sử dụng loại mô hình. Trong trường hợp không có nguồn tiếng ồn khác, quang phổ mọc lại đặt một giá trị tối thiểu trên sàn tiếng ồn truyền trong băng tần. Xem xét trường hợp khi ω1 và ω2 rất gần nhau và gần trung tâm của các kênh, 2,5 và 3,5 MHz trên mép kênh. Trong trường hợp này, các khu công nghiệp sẽ là 1 MHz trên và dưới các tông màu cơ bản, nằm trong băng thông kênh. Những sản phẩm xuyên đại diện cho tiếng ồn đối với tín hiệu mong muốn. Một lần nữa xem xét các tín hiệu kỹ thuật số như là một quang phổ liên tục, rõ ràng là phi tuyến hệ thống máy phát đặt một giới hạn trên về tỷ lệ carrier-to-noise. Có nguồn tiếng ồn khác hơn so với các sản phẩm do biến dạng phi tuyến trong một hệ thống truyền nhiệt và thứ ba-order. Ví dụ, quantization tiếng ồn trong chuyển đổi digital-toanalog và tiếng ồn giai đoạn dao động đóng góp vào tổng quyền lực tiếng ồn. Trong một hệ thống máy phát được thiết kế tốt và duy trì tốt, các nguồn này cần được nhỏ.