Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 MỤC LỤC: A. TÌNH HUỐNG…………………………………………………………………..…2 B.

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG……………………………………………………...3 Câu 1…………………………………………………………………………………...3 Câu 2…………………………………………………………………………………...4 Câu 3…………………………………………………………………………………...5 Câu 4…………………………………………………………………………………...7 Câu 5………………………………………………………………………………….10 C. KẾT LUẬN………………………………………………………………………..11

1

hãy phân loại tội phạm đối với tội hiếp dâm. cả 4 tên thay nhau thực hiện hành vi hiếp dâm nạn nhân nhiều lần. (2 điểm) 5. Được B nhận lời mời đi chơi. (1 điểm) 4. V giao cấu với nạn nhân. A ngỏ lời yêu B và hẹn B đi chơi.(1 điểm) 3. (1 điểm) 2. Vậy ý kiến của anh chị thế nào? Giải thích rõ tại sao. (2 điểm) 2 . Giả thiết Q chỉ có hành vi giữ tay chân B để 3 tên A. Có ý kiến cho rằng A. N. TÌNH HUỐNG: A làm quen với B trên mạng. còn Q là người giúp sức. V là người thực hành. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS. Sau khi đưa nạn nhân đến chỗ vắng. V. Q và rủ ba tên cùng thực hiện tội phạm. Câu hỏi: 1. N. A. B nhận lời. Sau vài lần trò chuyện.Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 A. N. Xác định khách thể và đối tượng tác động của tội phạm trong vụ án. A có ý định hiếp dâm B nên gọi điện cho N. Q có phải là những người đồng phạm không? Xác định vai trò của từng người trong vụ án nêu trên. Tội hiếp dâm là tội có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Giải thích rõ tại sao. V.

tội hiếp dâm có thể là loại tội phạm nghiêm trọng. Tính nguy hiểm cho xã hội được cụ thể hóa ở tội ít nghiêm trọng là tính gây nguy hại không lớn cho xã hội. có thể phân loại tội phạm như sau: . Mức cao nhất của khung 3 .Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 B. Theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự quy định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù. đến 7 năm tù. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS. tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù. Tương ứng với bốn mức cao nhất của khung hình phạt: đến 3 năm tù. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS. đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG: 1. đến 15 năm tù và trên 15 năm tù. tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù. Mức cao nhất của khung hình phạt giành cho tội hiếp dâm theo khoản này là bảy năm cho nên tội phạm thuộc khoản này là tội phạm nghiêm trọng. Xét với tội hiếp dâm được quy định tại Điều 111 BLHS. ở tội nghiêm trọng là tính gây nguy hại lớn cho xã hội. . ở tội rất nghiêm trọng là tính gây nguy hại rất lớn cho xã hội và ở tội đặc biệt nghiêm trọng là tính gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội. tù chung thân hoặc tử hình. hãy phân loại tội phạm đối với tội hiếp dâm. tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù. rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng tùy theo các mức khung hình phạt. tù chung thân hoặc tử hình”. thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.Khoản 1 Điều 111 BLHS quy định: “ Người nào dung vũ lực.Khoản 2 Điều 111 BLHS quy định: “ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm…”.

trật tự. thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm”. lợi ích hợp pháp của tổ chức. . Mức cao nhất của khung hình phạt giành cho tội hiếp dâm theo khoản này là hai mươi năm.Khoản 4 Điều 111 BLHS quy định: “ Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm”. cùng với khái niệm về tội phạm: “ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự. các quyền. . xâm hại chế độ chính trị. nhân phẩm. Đây là hính phạt bổ sung cho nên không phân loại. do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Mức cao nhất của khung hình phạt giành cho tội hiếp dâm theo khoản này là mười năm cho nên tội phạm thuộc khoản này là tội phạm rất nghiêm trọng. chế độ kinh tế. nền văn hóa.Khoản 5 Điều 111 BLHS quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ. thống nhất. tù chung thân hoặc tử hình…” . toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. *Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. danh dự. chủ quyền. Quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ là những quan hệ được xác định trong Điều 8 BLHS. tài sản. tù chung thân hoặc tử hình cho nên tội phạm thuộc khoản này là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. xâm phạm những lĩnh vức khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. lợi ích hợp pháp khác của công dân. an ninh. thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm. xâm phạm độc lập. quốc phòng.Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 hình phạt giành cho tội hiếp dâm theo khoản này là mười lăm cho nên tội phạm thuộc khoản này là tội phạm rất nghiêm trọng. an toàn xã hội. sức khỏe.Khoản 3 Điều 111 BLHS quy định: “ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây. 2. 4 . . quyền. xâm phạm tới tính mạng. Xác định khách thể và đối tượng tác động của tội phạm trong vụ án. tự do.

CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. nạn nhân của vụ hiếp dâm. Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan có thể chia CTTP thành CTTP vật chất và CTTP hình thức. 3. A. Áp dụng vào tình huống trên thì đối tượng tác động chính là B. nạn nhân B chính là đối tượng tác động trong vụ án này. Đối tượng tác động của tội phạm có thể là con người. tinh thần của nạn nhân (xâm phạm đến quyền tự do và bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ) cũng bị ảnh hưởng. đồng thời thì nhân phẩm. Q đã làm biến đổi tình trạng bình thường của B. mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hành vi hiếp dâm của A. Cụ thể trong tội hiếp dâm được quy định tại Điều 111 BLHS thì đối tượng tác động của tội phạm chính là con người – cụ thể là người phụ nữ. Tội hiếp dâm là tội có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Giải thích rõ tại sao. V. các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội hay là các hoạt động bình thường của chủ thể. 5 . nhân phẩm của người phụ. danh dự.Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 Ta có thể thấy khách thể của tội phạm hiếp dâm là sức khỏe. Tội hiếp dâm là tội có cấu thành tội phạm hình thức. Q đã trực tiếp gây tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân. thậm chí có thể tước đi tính mạng của nạn nhân. hậu quả. danh dự. Với hành vi thay nhau hiếp dâm liên tục nạn nhân. bị hành vi phạm tội tác động đến để gây gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. N. V. CTTP hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội. * Đối tượng tác động của tội phạm: Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm. Vậy. N. CTTP vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi.

Từ đó có thể thấy rằng tội hiếp dâm là tội có CTTP hình thức vì: Trong cấu thành của tội hiếp dâm theo Điều 111 BLHS. Tội phạm được coi hoàn thành kể từ thời điểm thực hiên hết cả hai loại hành vi được mô tả ở trên. việc xác định loại tội nào có CTTP vật chất hay có CTTP hình thức phải dựa vào quy định của luật: . khi có hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân thì tội phạm đã hoàn thành chứ không phải là mới bắt đầu phạm tội. cho dù đã giao cấu được hay chưa thì vẫn bị coi là đã phạm tội hiếp dâm. đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác” là cách để thực hiện hành vi giao cấu. có nghĩa là khi hành vi giao cấu với nạn nhân được thực hiện mà không cần hậu quả xảy ra. đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác” và “ giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ”. Như vậy. Hậu 6 . Dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội được ghi nhận trong cấu thành của Điều 111 gồm hai hành vi“ dùng vũ lực. “Giao cấu với nạn nhẫn trái ý muốn của họ” trong cấu thành cơ bản của tội hiếp dâm vừa là hành vi vừa là mục đích của người phạm tội.Nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả khó xác định thì CTTP thường được xây dựng là CTTP hình thức. nhà làm luật chỉ ghi nhận duy nhất dấu hiệu của mặt khách quan là hình vi nguy hiểm cho xã hội không có dấu hiệu hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Chỉ cần có hành vi dùng vũ lực để giao cấu với nạn nhân. Hành vi “ dùng vũ lực. Nhưng không có nghĩa hành vi giao cấu là hậu quả của hành vi thứ nhất. . hành vi giao cấu chỉ thực hiện được khi sử dụng kết quả của hành vi thứ nhất.Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 Điểm khác nhau giữa CTTP vật chất và CTTP hình thức ở chỗ nhà làm luật quy định dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc hay không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP.Nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa thể hiện được hoặc chưa thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà đòi hỏi phải có cả hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì CTTP thường được xây dựng là CTTP vật chất.

V.Trường hợp cả 4 tên đều chưa đủ điều kiện để chịu trách nhiệm hình sự. có thể làm nạn nhân có thai. cùng tham gia vào một tội phạm: trong tình huống trên. V. 4. Tuy nhiên. làm tinh thần nạn nhân trở nên không ổn định dẫn đến nạn nhân có thể chết hoặc tự sát… Nếu người phạm tội có ý định hiếp dâm nhưng chưa thực hiện được hết hai hành vi mà mới chỉ thực hiện được hành vi thứ nhất và do yếu tố khách quan ngoài ý muốn mà không thực hiện được hành vi thứ hai thì bị truy cứu về tội hiếp dâm ở giai đoạn chưa đạt. N. N. N. N. Q. 7 . A. có nghĩa 4 tên A. cả 4 tên thay nhau thực hiện hành vi hiếp dâm nạn nhân nhiều lần”. Đồng thời A. 4. Các dấu hiệu về mặt khách quan: * Phải từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm.1) A. N . ta thấy A. N . V. V. Q có phải là những người đồng phạm không? Xác định vai trò của từng người trong vụ án nêu trên.Q có đầy đủ các dấu hiệu của đồng phạm. tình huống trên không nêu rõ cả 4 tên đều đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự. a. “ Sau khi đưa nạn nhân đến chỗ vắng.Q không phải là đồng phạm. VÌ vây. V. Trong tình huống trên. Điều này có nghĩa là đã thỏa mãn điều kiện phải từ hai người trở lên (ở đây có 4 người). gây tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân. Các dấu hiệu của đồng phạm bao gồm những dấu hiệu về mặt khách quan và những dấu hiệu về mặt chủ quan. có 4 người thực hiện hành vi phạm tội là: A. Q cũng thỏa mãn điều kiện của chủ thể đặc biệt của tội hiếp dâm (đều là nam giới).Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 quả của tội hiếp dâm rất đa dạng. V. Q có phải là những người đồng phạm không? Điều 20 BLHS quy định: “ Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. ta chia làm hai trường hợp: .

Q và rủ ba tên cùng hiếp dâm B. Khi 8 . A. V. Q được thực hiện trong sự thống nhất chung với nhau từ trước. N. Các dấu hiệu về mặt chủ quan: * Dấu hiệu lỗi: Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.Về ý chí: Những người đồng phạm cùng mong muốn hoặc muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. tất cả những hành vi của A. V. A có ý định hiếp dâm B nên gọi điện cho N. Những hành vi trên cho thấy A. N. Trong tình huống trên. V. Lỗi cố ý trong đồng phạm được thể hiện ở hai mặt lí trí và ý chí. V. Được B nhận lời mời đi chơi. Khi thực hiện hành vi. N. Sau vài lần trò chuyện. A. dùng vũ lực để giao cấu trái với ý muốn của B. Q thấy trước được hậu quả mà mình gây ra cũng như hậu quả chung mà cả nhóm gây ra. B nhận lời. xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm. Sau khi đưa nạn nhân đến chỗ vắng. * Những người này phải cùng thực hiên một tội phạm. Q đều nhận thức được hành vi của mình và của mình và của bạn mình là nguy hại lớn cho xã hội.Về lí trí: Mỗi người phải biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. A. . Q thỏa mãn các dấu hiệu về chủ thể của đồng phạm. . V. mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm. cả 4 tên thay nhau thực hiện hành vi hiếp dâm nạn nhân nhiều lần. danh dự của người khác. có nghĩa là A. N. cả 4 tên thay nhau thực hiện hành vi hiếp dâm nạn nhân nhiều lần” b. A ngỏ lời yêu B và hẹn B đi chơi. Q đã cùng thực hiện việc hiếp dâm B. V. N. N.Trường hợp cả 4 tên đều đủ điều kiện để chịu trách nhiệm hình sự. V. Q đều hoàn toàn nhận thức được hành vi nguy hại của mình. Mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện. “Sau khi đưa nạn nhân đến chỗ vắng.Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 . A làm quen với B trên mạng.

Q đều mong muốn đạt được mục đích của mình là hiếp dâm được B thỏa mãn được dục vọng của mình. cả 4 tên A. N. tình tiết “Sau khi đưa nạn nhân đến chỗ vắng. V. đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích trong trường hợp đồng phạm những tội có mục đích là dấu hiệu bắt buộc. Cả ba người N. N.2) Xác định vai trò của từng người trong vụ án nêu trên: * A. Cả bọn đã cùng nhau lên kế hoạch và cùng nhau thực hiện các hành vi để thực hiện mục đích mà cả nhóm đề ra – hiếp dâm B. Để thực hiện mục đích này A đã rủ thêm N. Trong vụ án này. Đối chiều với trường hợp 9 .Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 phạm tội. có hai loại trường hợp sau được coi là trực tiếp thực hiện tội phạm: trường hợp tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP hoặc trường hợp những người không tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP mà chỉ có hành vi (cố ý) tác động đến người khác để người này thực hiện hành vi mô tả trong CTTP. V. V. V. 4. sau vài lần trò chuyện A đã ngỏ lời yêu B. Q đều đồng tình với mục đích mà A đề ra. A và B quen nhau trên mạng. Q đã trực tiếp thực hiện hành vi dùng vũ lực và giao cấu với nạn nhân – hành vi được mô tả trong CTTP của tội hiếp dâm. Q đều là đồng phạm thuộc loại người thực hành. chỉ huy việc thực hiện tội phạm”. Q. cả 4 tên thay nhau thực hiện hành vi hiếp dâm nạn nhân nhiều lần” đã phản ánh bốn tên A. Q đều là người thực hành Khoản 2 Điều 20 BLHS quy định “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”. V. A có ý định là hiếp dâm B nên đã rủ B đi chơi. N. cầm đầu. cả A. Theo Luật Hình sự Việt Nam. V. * Dấu hiệu mục đích: Ngoài hai dấu hiệu cùng thực hiện và cùng cố ý. Như vậy. N. * A còn có vai trò là người tổ chức: Khoản 2 Điều 20 BLHS quy định về người tổ chức như sau “Người tổ chức là người chủ mưu.

N. Q đã trực tiếp tác động đến cơ thể của nạn nhân. N. Trong trường hợp này. Trong vụ án này Q là nam giới nên Q không thể là người giúp sức vì Q mang đầy đủ dấu hiệu của chủ thể đặc biệt. còn Q là người giúp sức. A còn gọi điện để rủ rê thêm N. đe dọa dung vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác”. V giao cấu với nạn nhân. Q cùng tham gia vào hành vi này. Nếu Q có hành vi giữ tay chân của B để 3 tên kia giao cấu với nạn nhân thì B cũng là người thực hành vì: . Vì thế có thể khẳng định rằng. V. 5. A. N. V là những người thực hành. Tức là Q đã thực hiện hành vi “dùng vũ lực. V thực hiện việc giao cấu. 10 . V là người thực hành. N. có nghĩa Q cũng là người trực tiếp tham gia việc thực hiện tội phạm. Nếu không.Q là người giữ tay chân nạn nhân để ba tên A. nhóm đồng phạm của bọn chúng mới được thành lập và cùng thực hiện tội phạm.Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 trong đề bài. do vậy hành vi của Q đã thỏa mãn tất cả các dấu hiệu của người thực hành trong vụ án. Có ý kiến cho rằng A. . ta có thể thấy A là người đã nảy sinh ý định hiếp dâm B sau khi được B nhận lời mời đi chơi.Do tội hiếp dâm là tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt nên những người đồng thực hiện chỉ có thể là những người có đủ dấu hiệu của chủ thể đặc biệt. Giả thiết Q chỉ có hành vi giữ tay chân B để 3 tên A. Vậy ý kiến của anh chị thế nào? Giải thích rõ tại sao. Từ đó. A. V đã thực hiện hành vi “Giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ”. N. ngoài vai trò là người thực hành. họ chỉ có thể là người giúp sức hoặc cá biệt có thể phạm tội khác. A còn đóng vai trò là người tổ chức trong vụ án trên.

xác định khách thể. Vì vậy để pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh thì chúng ta phải xác định được đúng các tình tiết vụ án và có những căn cứ chính xác. Nó có ảnh hưởng lớn đến việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Em xin chân thành cảm ơn! 11 . KẾT LUẬN: Trong tất cả các vụ án hình sự thì việc phân loại tội phạm. đối tượng tác động của vụ án.Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 C. thực tế đã xảy ra các vụ án mà chúng ta không xác định được các yếu tố trên gây khó khăn cho việc định tội danh cũng như quyết định hình phạt. xác định CTTP cũng như vai trò của người phạm tội là việc hết sức cần thiết.

được sửa đổi. Nxb. Trường Đại học Luật Hà Nội. 2009. “ Giáo trình Luật hình sự Việt Nam ”. CAND. Tp. Đinh Văn Quế. Tập 1. Các trang web: cafeluat. Thành phố Hồ Chí Minh. Tập I. Nxb. bổ sung năm 2009. 2. Bộ luật hình sự Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999. Hà Nội. “ Bình luận khoa học Bộ luật hình sự.Phần các tội phạm”. 2009 – 2010.com Sinhvienluat.vn 12 .Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. 4. 3.HCM.

Bài Tập Lớn Học Kỳ Môn Luật Hình Sự Modul 1 13 .