NỘI CÔNG THIẾU LÂM

Những điểm cần lưu ý
• • • • • • • • • • Người từ 6 tuổi trở lên Nên chọn tập nơi yên tĩnh, không khí trong sạch. Không tập nơi có gió lùa Ăn vừa đủ no, không say rượu Giải khai đại tiểu tiện trước khi tập, không nên nhịn trong khi tập Y phục rộng Không nên tập lúc tinh thần không thoải mái, hoặc đang bị cảm, cúm, sốt, Trong khi tập nếu có tiếng người gọi hoặc điện thoại reo cũng không nên đáp lại ngay Tập thường xuyên, tuần tự tiệm tiến từ nhẹ đến nặng, từ ít đến nhiều Khi tập phải tập trung tinh thần, tránh những suy nghĩ lung tung Khi tập xong không nên uống, rửa hay tắm bằng nước lạnh ngay

1. VÙNG RIÊNG CỦA NỘI CÔNG VÀ NGOẠI CÔNG
Phàm vào việc luyện tập võ thuật, trừ các loại quyền pháp ra, nhất định kiêm luyện một, hai loại (1) (2) công phu để giúp cái bất túc . Dường như tất cả đều lấy thủ pháp làm phép tắc của động tác khi (3) gặp kẻ địch, còn công phu thì làm gốc rễ của chế địch lấy thắng. Nếu luyện được công phu mà không thành thuộc quyền pháp là thiếu, mặc dù thiếu là ít. Ngược lại, nếu biết quyền pháp mà không tập công phu thì động tác tuy nhanh nhạy nhưng lại không đủ để chế người, kết quả là nhất định cái bị thiếu đó là thiếu rất lớn. Cho nên dân gian có câu: “đánh quyền mà không luyện công, đến già là một bãi trống” (đả quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không). Công phu ấy không thể không luyện. Chú thích: (1) Công phu: Từ ngữ chỉ chung các phương pháp luyện tập nào đó. (2) Bất túc: Không đủ. Bất cứ một bài tập võ thuật nào cũng đều gây ra một tác dụng phụ có hại, cái đó gọi là bất túc, cần phải luyện công phu để hỗ trợ, tránh cái hại ớn khi bài tập lặp lại nhiều lần. (3) Chế: Trói buộc. (1) Loại công phu cũng nhiều không kể xiết, nếu phân vùng đại thể thì không ngoài hai loại là nội (2) (3) công và ngoại công. Ngoại công thì chuyên luyện cương kình , như phép “đả mã an thiết tý bạc” , (4) (5) chế người thì có thừa mà tự vệ thì không đủ. Nội công thì chuyên luyện nhu kình như “Dịch cân (6) (7) kinh”, phép luyện rèn điều hành khí vào mạc để đủ chắc khắp thân thể, tuy không đủ để chế (8) (9) người, nhưng luyện đến cảnh “lò lửa thuần xanh” , chẳng những bị quyền đánh cước đạp không thể tổn thương dến sợi tơ sợi tóc, mà dao cắt, kiếm đâm cũng không hề bị tổn thương. Chú thích: (1) Đại thể: Phân loại lớn nói chung. (2) Cương kình: Cứng mạnh dữ dội. (3) Tên một phép luyện đánh yên ngựa cho cánh tay như sắt (4) Tự vệ: Che gữ thân mình. (5) Nhu kình: Mềm mạnh dữ dội. (6) Hành khí: Dùng ý dẫn khí đi. (7) Mạc: Màng dai bao bọc các tổ chức gân, cơ, xương trong thân mình. (8) Lò lửa thuần xanh: Một thuật ngữ riêng, chỉ mức độ đạt được của phép luyện khí (có tính chất tượng trưng). (9) Cước: Chân. 1

(1) Dựa theo đó mà bàn thì nội công hơn hẳn ngoại công, chắc chắn không phải đợi trí giả về sau mới biết. Người luyện tập võ thuật vốn là lấy khỏe mạnh thể phách, trừ bệnh tật, kéo dài tuổi thọ làm gốc. Học cái đó kiêm để phòng rắn độc, thú dữ xâm phạm và hại vạ của trộm cướp gây ra ngoài ý muốn, cho nên không dạy người đánh giết, đấu hận đò thù. (2) Vì vậy, lời thiền sư Hàm Hư nói rằng: “Người học võ kỹ , tôn sùng đức, không tôn dùng lực, coi (3) (4) nặng thủ , không coi nặng công , chỉ giữ cái tĩnh ấy, tĩnh là cỗ máy sống, chỉ riêng công mới động, động là cỗ máy chêt”. Người luyện ngoại công, khi chẻ, đánh, dính, đâm (bốn kỹ thuật tấn công là phách, kích, niêm, (5) (6) thích), trong ý niệm đều ở chế áp người, đó là nặng ở công. Chú thích: (1) Trí giả: Người có hiểu biết sâu rộng. (2) Võ kỹ: Kỹ thuật nghề võ. (3) Thủ: Giữ mình. (4) Công: Tiến đánh. (5) Ý niệm: Tự mình nhắc nhở mình. (6) Chế áp: Trói buộc ép người. (1) Nếu thủ thì loại công phu ấy hoàn toàn mất hiệu dụng . Công thì không những đủ để giết người, (2) cũng lại đủ để tự giết mình cho nên gọi là cỗ máy chết (tử cơ). Người luyện nội công, vận khí đủ khắp thân thể như dựng trường xây lũy, ý niệm ở tự giữ gìn, người khác đến công họ, họ cũng rất tự nhiên để chịu đựng người đánh một cách bất ngờ, không đến nỗi phải giết người là nhờ một chữ thủ. Công phu ấy đúng là lớn, tức là có thể giữ gìn, không cần phải ra khỏi thủ để công người ta, đã không (3) đắc chí , thế của họ tất biết gặp khó mà tự lùi, cho nên gọi đó là cỗ máy sống (sinh cơ). Nhưng người học võ phần nhiều là luyện tập ngoại công mà ít thấy luyện nội công. Vì sao lại thế? Bởi vì học ngoại công tương đối dễ dàng mà thời gian học lại ngắn, nhiều là ba năm, ít là một năm có thể đạt được. Chẳng hạn, luyện “đả mã an” (đánh yên ngựa), sau ba năm quyền như sắt đá, dùng lực đánh một nhát có thể thủng tường vách. Chú thích: (1) Hiệu dụng: Kết quả sau khi đã dùng. (2) Vận khí: Dùng khí dẫn ý đi đến trong cơ thể. (3) Đắc chí: Đạt được mong muốn. Tâm lý tránh nặng được nhẹ chắc chắn người đời đều có. Nếu đến với nội công thì dứt khoát không (1) có ách nào khác là từng bước, từng bước mà tiến lên, thâm áo lạ thường, học cái đó đã rườm rà khó làm mà lại hao tổn ngày giờ và không hẹn thời gian sẽ thành công, cho nên người ta đều sợ cái khó đó mà lùi bước. Khi đã vào cửa thiếu lâm, họ bước đầu đều chưa biết trong phái Thiếu Lâm cũng có nội công tinh (2) thuần và họ đều bỏ cái đó mà học ngoại công, đúng là tâm lý tránh nặng được nhẹ. Đến khi luyện nội công thì họ không theo nền tảng, vừa vào tay đã luyện, khi khó thì tự họ không giữ được lời hứa. Nếu như người nào đó có ý chí cứng rắn, thân thể khỏe mạnh mà lại có đủ thông minh sớm thì luyện (3) cái này lại rất phù hợp, bởi vì nội công chắc chắn là nặng về đòi hỏi tính “ngộ” . Chú thích: (1) Thâm ảo: Tinh vi, sâu xa, khó hiểu (2) Tinh thuần: Tinh xảo thuần khiết. (3) Ngộ: Hiểu rất rõ ràng.

2. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA NỘI CÔNG VÕ THUẬT VÀ NỘI CÔNG ĐẠO GIA
của Đạo gia. Người ngày (2) nay (tức cuối đời Thanh- TG) nói đến nội công đều nhằm vào nội công luyện đan tu Đạo của Đạo gia, vì vậy họ nói Thiếu Lâm thuộc về ngoại gia mà không có nội công. Cũng do đó họ nói Thiếu Lâm là học trò đức Thích ca, lấy cứu vớt mọi chúng sinh làm mục đích ý nghĩa, không chuyên tu mạng 2 Nội công trong võ thuật thì không giống nhau với công phu nội tráng (1)

(3) thọ của một mình, cho nên không có việc gọi là luyện đan. Bởi thế họ nói người ngoài giới tu Đạo đúng là đã không tu luyện thuật này, từ đó mà nói chắc chắn rằng không có nội công. Đây thật là một nhầm lẫn rất lớn. Chú thích: (1) Nội tráng: Khỏe tinh, khí thần bên trong (2) Luyện đan: Phép tu của Đạo gia làm cho tinh, khí, thần biến thành thuốc trường sinh. (3) Mạng thọ: Thân mình sống lâu dài. Họ không biết rằng có sự khác nhau của nội công trong võ thuật với nội công của Đạo gia. Hai cái đó có thể làm ấn chứng cho nhau, mà tuyệt đối không thể trộn lẫn nhau làm một, mặc dầu cũng có phần nào giống nhau, tức là vận hành khí huyết để đầy đủ khắp thân thể. Điều đó chứng minh trong võ thuật ở phái Thiếu Lâm cũng có nội công mà không phải chỉ trong phái Võ Đang mới có. Trong Đạo gia, phép luyện ấy nặng ở "vận khí, ngưng thần, tụ tinh" làm cho ba điều ấy kết hợp với nhau, đem hai khí âm dương trong bản thân trộn hòa vào nhau mà gọi tên là "hòa hợp âm dương". Âm (1) dương đã hòa, nhất định làm cho tinh (âm) thần (dương) cấu hợp , như làm đạo vợ chồng thì gọi là (2) long hổ cấu. Sau khi đã cấu, tinh thần đã ngưng tụ, mà thành thai thì gọi là "thánh mẫu linh thai" . Chú thích: (1) Cấu hợp: Kết hợp hai nhà trai gái với nhau (2) Thánh mẫu linh thai: Thuật ngữ chỉ kết quả bước đầu của phép tu đạo. (1) (2) Đợi đến khi linh thai kết thành mà đủ tượng của ngã thì gọi là "phôi dục anh nhi" mà thành đan lớn, từ đó mà chứng đạo thành tiên. (3) Luyện như thế là nội công. Người luyện lấy phép "thiêu duyên luyện hống" chắc chắn là không nhiều, nhưng cũng gọi đó là nội công, tuy không hẳn là đơn giản dễ dàng đạt tới đó nhưng người ta đã lấy cái đó làm mục đích cầu mong để thúc đẩy luyện tập. Nó với võ công không có mảy may quan hệ. (4) Tuy người tu sau khi chứng được Đạo, làm thành cái thân bất hoại mà không lo sợ sự xâm hại từ bên ngoài, nhưng người thành công ở mức đó từ xưa đến nay cố thể nói là rất hiếm. Chú thích: (1) Tượng của ngã: Hình ảnh của bản thân người tu hiện ra bằng cảm nhận của phép tu. (2) Phôi dục anh nhi: Thai nhỏ đẻ ra sơ sinh, một mức độ của đắc đạo. (3) "Thiêu duyên luyện hống": Phép luyện thuốc trường sinh bất tử ngày xưa xây lò bát quái nấu duyên (chì) luyện (thủy ngân) hy vọng được tiên đan. Đời nhà Đường, loại thuốc này đã làm chết các vua Đường Thái Tông, Hiến Tông, Mục Tông, Kính Tông, Vũ Tông, Tuyên Tông và nhiều đại thần. Từ đó đạo gia bỏ phép luyện ngoại đan này, nhưng vẫn giữ các khái niệm đó mà dùng vào luyện nội đan lấy duyên (chì) để chỉ về tinh, lấy hống (thủy ngân) để chỉ về khí. (4) Bất hoại: Không gì làm hỏng được. Nội công trong võ thuật không thể coi ngang với "linh thai", "phôi phục", riêng vận khí thì giống nhau. Đó là lấy thần đưa vào khí, lấy khí sai khiến lực, lấy lực chắc chắn đôi chân. Ba cái ấy đi theo thứ tự, qua lại, đi khắp vòng không nghỉ thì thân khỏe mà thịt chắc. Sự sống của con người ta chắc chắn nhờ trọn vẹn ở khí huyết, mà khí vận hành hoàn toàn là ở trong phủ, ngoài việc cùng với huyết (1) (2) dịch dựa theo đúng cân lạc mà tuần hành tương ứng ở giữa thể mạc, khí chắc chắn sẽ không thể đi tới đâu. Nội công võ thuật được gọi là nội công bởi vì đem khí huyết vận ở trong mạc, là phép làm cho thân (3) thể rắn cứng, cũng không như Đạo gia tu luyện khí rót xuống "đan điền" trộn lẫn tinh hợp với thần (tinh sinh khí, khí sinh thần). Chú thích: (1) Cân: Gân. (2) Lạc: Mạch nối các đường kinh. (3) Đan điền: Ruộng thuốc, là tên một vùng bụng dưới của con người, khoảng từ huyệt Khí hải đến 3

huyệt Quan nguyên, là chỗ dựa của nguyên khí toàn thân. Người tu luyện lấy đây làm lò luyện tinh hóa khí. Sau khi luyện công trong võ thuật đã thành, con người có thể sống lâu không già, toàn thân rắn chắc, muốn khí chảy vào chỗ nào thì khí đến ngay nơi ấy, nơi khí đến thì gân thịt như sắt, quyền đánh chân đạp khác thường cũng không thể hại, kiếm đâm búa chẻ cũng không sợ. Nhưng nếu chỉ luyện được một bộ phận của nội công đã thôi, thì không thể đạt được những điều đã nói ở trên. Luyện tập nội công trong võ thuật chắc chắn phức tạp, rườm rà gấp năm, bảy lần so với ngoại công, nhưng so với nội công của Đạo gia thì dễ dàng hơn nhiều.

3. ĐIỂM THEN CHỐT CHỦ YẾU CỦA NỘI CÔNG
Luyện tập nội công, lúc bắt đầu rất khó, không như luyện ngoại công chỉ cần dựa vào động tác của chi thể và làm chăm không lười thì có thể thu được hiệu quả. Bởi vì nội công nặng ở vận khí, nếu ta muốn khí đến lưng thì sẽ đầy ắp ở lưng, nếu ta muốn khí đến cánh tay thì khí sẽ đầy ắp ở cánh tay, khí đảm đương ý đó không đi không được, cái đó có thể thu được thực dụng. Thử nghĩ ý muốn là như thế, nhưng nói mới dễ làm sao? Khí vốn không tự đi, nó đi là do thần đi. Cho nên khi tập buổi tập đầu tiên, phải lấy thần đưa vào khí. Khi bắt đầu tập luyện, do không có một nền tảng mà muốn khí đảm đương ý vận hành không vướng các kết khối, nhất định không thể được. Cái gọi là lấy thần đưa vào khí là theo tưởng niệm lúc bắt đầu tập, như ta muốn khí chảy vào lưng, ý ta tưởng trước khi khí đến lưng, khí tuy chưa tới nhưng thần đã tới. Nghĩ như thế lâu dài, khí nhất định có thể dần dần theo thần đều đến. Cái gọi là khí lấy thần để đi là như thế. Đây là phép tắc ở bước thứ nhất. Cũng rất khó phân biệt đến từ ý tưởng mà thành sự thật. Dẫu rất nhiều lời cũng chưa thể tả gãy gọn hết về nó, vạn việc đều như thế, không chỉ một việc hành công. Khi mới bắt đầu tập, cần định chắc chắn một vùng mà lấy thêm vận dụng ý, trước hết là ý đến, sau đó là thần theo ý đến, cuối cùng là khí theo thần đến. Sau khi đạt tới mức cuối cùng của bước một, lại đổi một bộ phận khác, theo đúng phép vận hành đó, làm như thế khắp mọi nơi chốn, thay đổi dần dần để đến toàn thân. Lại thay đổi tiến lên một bước làm cho khí có thể theo thần vận đi các vùng toàn thân không một chút vướng trệ. Đó là công lớn đã thành. Riêng bốn chữ “dĩ thần đầu khí” (lấy thần đưa vào khí) nói thì không khó, làm thì chỉ thấy khó. (1) Luyện đến thành công hay không, thời gian luyện nhiều hay ít, thì thành công chỉ có một then chốt ở đó. (2) Hành công tối kỵ là các việc thô nổi (thô phù), tiến táo bạo (táo tiến), hám được (tham đắc), nhảy vọt (việt liệp). Luyện tập ngoại công chắc chắn cũng kỹ như thế. Chú thích: (1) Hành công: Làm việc luyện công. (2) Tối kỵ: Cần kiêng tránh nhất. Song luyện tập nội công cái kỵ đó hơn nhiều, bởi vì ở ngoại công nếu phạm số kỵ đó tuy đã đủ để làm hại nhưng cái hại đó vẫn chỉ tới chi thể. Nếu ở nội công mà phạm những tệ bệnh ấy là làm hại vùng trong lại khó chữa, cho nên đây là việc cần chú ý. Không thấy ai nói do luyện tập nội công mà thành chứng tàn phế hoặc phát bệnh điên cuồng bại (1) liệt, bởi vì người ta không quy tội ở di hại của nội công. Họ rất không biết khi họ hành công nhất định đã phạm tệ bệnh kể trên mà gây ra đến như thế. “Thô nông” thì thần khí dễ tan, “tiến táo bạo” thì thần khí thúc gấp, “nhảy vọt” thì khí không theo thần, “hám được” thì thần bại, khí hại. Tất cả đều là hại lớn của hành công, người phạm bệnh tệ ấy rất khó cứu. Do sự sống của con người dựa cả vào việc thở hít khí, khí còn thì sống, khí hết thì chết, khí vượng thì khỏe cứng, khí tán thì bệnh tật. Chú thích: (1) Di hại: Cái hại về sau mới bộc lộ ra. Vận hành khí không đúng là đủ đưa đến có hại, không phải nói cũng có thể biết. Người tâm thô khí nổi, vận khí không đúng, làm cho khí ở vào ngã ba đường, như đi vào ngõ cụt, thế tất thành tàn tật. Nếu như tiến táo bạo, nhảy vọt, công chưa tới mà muốn gượng đạt đến chỗ trên nữa thì như đứa trẻ con 4

muốn được. không dạy người lấy việc “hiếu dũng đấu hận” cho nên thiền sư Hàm Hư có học tập võ thuật. chịu đựng gian khổ để dựng chí. Họ biết rằng giết người là việc mất đức. mong người học cẩn thận. lúc ấy tăng chủ mới dạy kỹ thuật. chưa có hiểu biết nhiều. chui ở dưới sâu như cá lóc cũng có thể cảm động. bị đánh ở nơi đông người. Trải qua 3 năm dài. thú. đi theo con đường đó là sai với mục đích ý nghĩa của luyện công. ý chí đó hơi ngược lại với người thường. khí kiêu căng được mài dần gần hết. chẳng khó với thành công của nó. họ có thể nín chịu. Xem lại việc đó thấy người kia đã mài hết cái kiêu căng ấy mà không phải là tự tu dưỡng hết. là tâm thô khí nổi. bỏ xa mục đích ý nghĩa của võ học. nét kiêu ngạo rất riêng khác và tiếng nói lại oang oang nhưng vẫn được ông giữ lại trong chùa. không hành động bừa bãi để đến nỗi làm cho người khác bị tổn thương. thắng cũng không ích gì mà bại thì tàn thân. không phải là do nội công không đủ tốt đã để lại di hại. không những không có thể thành công mà nhẹ thì hại đến chi thể. Phải nói rằng trước hết đó là việc nhỏ. cho nên đã không làm thế. trơ như vàng đá cũng có thể mở ra. sương tuyết cũng không bỏ đứt quãng. điên cuồng là một loại chứng bệnh. Nếu ngẫu nhiên thắng.lúc đầu chỉ mới có thể bước dò dẫm mà bảo nó nhảy vọt. khỏe mạnh. mà đúng là nếu để cái kiêu căng rất nặng ấy học được võ công. mỗi ngày ấn định nhiều ít bó củi. Cái sức đủ để uốn cong thân người ta mà không thể làm gục cái tâm người ta. nặng thì nguy tới mạng sống. nhưng cuối cùng cũng không thể làm cho người ta vui lòng kính phục thành thật lâu dài mãi mãi. Người ta nói rằng tham nhiều. không đủ số quy định đó thì đi lấy cả đêm. và ông đã nói: “tôn sùng đức. TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC Mục đích của luyện tập võ công là rèn luyện thân thể cho rắn chắc. thực chỉ do đó mà đến. bước đầu không nhất định phải dùng vũ lực nặng mà mới gặp có thể đã làm cho người ta gập người kính phục. từ sâu thẳm ông sợ rằng sẽ gây vạ ở ngoài làm ảnh hưởng tới danh dự Thiếu Lâm. Không phải võ công đó không tới mà là đức đó không tới. Riêng kẻ nào đó cướp được một hai thế tay. Đó không chỉ là tăng chủ muốn thử thách. Điều đó tục ngữ gọi là “có gậy thứ nhất lại có gậy thứ hai” là thế. Người có phẩm chất tốt đẹp tập việc võ thì giữ thân mà xa vạ. Nếu như không giảng đạo đức mà chuyên việc võ công. Nếu người ấy công phu đã tinh. Người có tính tình tàn bạo tập việc võ thì dẫn đến vạ. có lễ. (2) Điềm đạm: Bình tĩnh nhẹ nhàng. ngậm sự nhịn để đợi chờ. mà không nín chịu thì chỉ ở khoảnh khắc giơ chân đưa tay của họ đều đủ để giết người. Thường thấy người võ thuật công phu thâm hậu kiêm điềm đạm. biết qua loa võ công nông cạn. Cử động ngang ngạnh thế đúng là con đường tự sát. tuy có đủ sức để làm cho người ta ở một thời phải cúi đầu kính nể. cướp. lấy cái dùng hào nhoáng bề ngoài mà cuối cùng là bại ở dòng sông bẩn thỉu. không tôn sùng sức”. ta cũng không phải chờ đến lúc chết mà sớm hay muộn sẽ có người thắng lại ta. người đó trải qua hết mọi thử thách chỉ mong lấy được kỹ thuật nghề võ. Bại liệt. Thoạt đầu ông không dạy kỹ thuật nghề võ. rước về cái sai. cũng là để phòng nạn trùng. Chú thích: (1) Ấu trĩ: Non kém. đối với loại then chốt đó nếu họ có chú ý thêm thì chỉ khó với đả phá nó. dù mưa gió. quá lắm thì hiếu dũng đấu hậu. êm ái có thể gần gũi. cho nên người học võ thuật đối với việc tu dưỡng đạo đức cũng là việc rất trọng yếu. Anh ta không ngần ngại. Thiết nghĩ. Tự mình ta đụng với người một trận quyền. Phàm người luyện tập nội công. tăng chủ im lặng quan sát người đó thấy anh ta kiêu ngạo tự mãn. 4. muốn bộc lội rõ cái mình có thể làm. lý đó nhất định không thể khác. dấu kín công phu sâu. Ôi! tới tột cùng của đức. giơ tay quăng chân. trộm. Chú thích: (1) Thâm hậu: Sâu sắc có bề dầy. Cho nên tu dưỡng đức tính nên đồng thời cùng tiến với võ công. ít có đứa không ngã. 5 . hàng ngày chỉ ra lệnh cho người đó vào núi hái củi. Giả sử thấy có người bị làm nhục ở trên đường lúc đang đị. (1) mà đúng là do người luyện tập không tự xét kỹ để cho bị có cái hại ấu trĩ ấy. Xưa thấy có người đem thân hoc tập võ Thiếu Lâm.

mỗi giờ làm một lần tập là đẹp. không những không thể trông đợi vào việc tập đó có thành. cho nên phải chú ý. Bởi thế sau khi chúng ta học được võ nghệ. (2) Y bát: Áo cà sa và bát xin ăn của sư tổ đời trước trao lại cho đời sau làm tin là theo dòng chính thống. bệnh ở trong tăng thịnh mà thành nhiều loại bệnh lạ. giết người. Không như thế thì khi bệnh ở trong không được trù. đối với viêc tu dưỡng đạo đức cũng nên chú ý kèm theo. Qua việc đó cũng có thể thấy võ thuật Thiếu Lâm đối với tu dưỡng đức tính cũng rất được chú ý. (2) (3) Trị tạng tức là điều trị nội tạng làm cho tạng sạch không có ngoại tà xâm nhập. thập kỵ (10 điều kiêng tránh) và thập bát thương (18 cái hại) đều là then chốt cần nhất trong phép trị tạng. hợp hai khí âm dương trộn lại thì thành tượng (hình ảnh) của tiên thiên . 6 . trừ bỏ mọi bệnh tật. lấy Ngọ (1) để gặp âm sinh. nếu (3) người có tính tình cường bạo có thể mời ra ngoài tất cả mọi cửa. cố (1) khí làm chủ. lúc này thần (2) của sự suy nghĩ được yên tĩnh. Những việc tập ngồi. Luyện nội công. (3) Cường bạo: Dùng sức mạnh một cách ác độc. ngoài việc tự thân tu dưỡng. nhảy qua thân phận của mình. Đến khi ngoại tà lấn vào. phổi. Việc nhất định chọn người tính tình tốt lành mới truyền cho y bát . như thế cũng làm cho sở học sẽ (4) thất truyền cũng không thể được. không được lấy việc làm trước là con đường đúng. Sau khi trị tạng đã chắc chắn trọn vẹn mới theo đúng phép hành công. đều cần lấy ngưng thần. trước hết làm (2) ảnh hưởng đến môn sư .Trong 10 điều ngăn cấm cũng có một điều giới sát (cấm giết người) và háo dũng (ham khoe sức mạnh) đấu hận (đánh trả thù). Muốn ngưng thần. làm giặc. tên thầy. quá lắm lại có thể bị nó tàn hại. Hun đúc như thế thì người ta sẽ học đến thành. cuối cùng đến nỗi có thuốc cũng không thể cứu. gan. tập thổ nạp (thở khí ra. đối với việc nhận học trò cũng (2) cần chú ý thêm đặc biệt. thận. không thể không có quan hệ giúp nhau giữa con người và con người. Cho nên người đời thường nói: “Tập ngồi dễ thành ngu xuẩn (Bạch si). tập thổ nạp đều chưa thể làm trước việc điều trị nội tạng. hít khí vào) dễ thành lao phổi”. quá (1) lắm thì lại phiêu bạt giang hồ làm trộm. Sau khi đã nhận học trò. (2) Tạng: 5 tạng là tim. QUAN HỆ CỦA HÀNH CÔNG VỚI TRỊ TẠNG Phàm người luyện tập võ thuật không kể là ở ngoại công hay nội công. tụ khí lại không thể không làm công dẹp trừ mọi suy nghĩ bậy. (4) Thất truyền: Mất đi sự truyền nối của dòng phái. Giờ hành công lấy Tý và Ngọ. khi ta buông thả sẽ làm cho ngày tập không để lại dấu vết. mọi tạp niệm không có chỗ mà sinh. Chú thích: (1) Phiêu bạt: Trôi nổi. Chú thích: (1) Tinh thâm: Hiểu rõ một cách tỷ mỷ sâu sắc. máy móc trong thân thể không làm việc. thường ngày ngoài viêc đốc thúc luyện tập công phu ra. sau đó mới luyện tập công phu thì thần trọn vẹn. (2) Môn sư: Cửa thầy. tỳ. việc cần là ghi chắc ở tâm. thu hiệu quả rất nhanh. một khí hỗn nhiên thành công tự nó dễ dàng. 5. Phàm hành công có thập yếu (10 điều cần thiết). (1) Phàm người có võ thuật tinh thâm . giữ ý ở mọi nơi. nhất định không đến nỗi để họ vượt qua lẽ phải. Lấy Tý để gặp dương sinh. dẫm đạp lên tiền bạc. Chú thích: (1) Cố khí: Chắc chắn phần khí. thành công sẽ nhiều. ngoại tà dễ vào. (3) Ngoại tà: Bệnh từ ngoài vào. lúc đó mới có thể có hiệu quả. khí đầy đủ. nếu háo dũng đấu hận chắc chắn đủ để hại người.

Thận Xuy bão thủ tất đầu bình (Thận nên dùng Xuy. bên ngoài chủ về mắt. không được đứt quãng là hiệu quả như thần. Xuy thuộc thận hề. (Ha thuộc tim. Chỉ bởi cái hỏa của gan xông lên tới. Tứ quý Hô tỳ thượng hóa xan (Bốn đoạn cuối của bốn mùa dùng Hô. Thiết kỵ xuất thanh văn lưỡng nhĩ (Tất cả đều kỵ tiếng ra để hai tai nghe thấy). tâm phiền nhiệt. Đông Xuy thủy vượng khảm cung an (Mùa đông dùng Xuy. Hi. nằm yên mà Hi). ngoài chủ thiệt. đúng là lấy được phổi hành kim mềm mại). Hu.Hu thuộc phế. bên ngoài chủ da lông. Yêu 7 . trên tạng tỳ. (Hư thuộc gan. Bài ca khen ngợi công ấy (Tán công ca) . Dĩ Hu trị chi y bất lao. Thu Hu định thân kim phế nhuận (Mùa thu dùng Hu. ngoài chủ nhĩ. Tỵ trung lưu thuế kiêm hàn nhiệt. Hầu kết. nước mắt như khóc. ôm lấy hai đầu gối ngang nhau). (Hu thuộc phổi. Lấy Hu trị cái đó thì không bị lao). . hai bàn tay dính chéo lên đỉnh đầu). Cảm gió ho hắng. Thương phong khái thấu đàm các giao. Chừng bệnh sâu và kéo dài lấy Ha đó. Hầu kết và lưỡi mọc mụn đều bị tiêu diệt). Màng đỏ lờ mờ. gõ răng nuốt nước bọt. hai tay giơ lên cao cứng mạnh). . Hàng ngày tĩnh tọa . Xuy. Bài ca ứng với thời hậu của sáu chữ (Ứng thời hậu ca) Xuân Hư minh mục mộc quyết can (Mùa xuân dùng Hư.Hư thuộc can hề. Hô. Trong mũi chảy ra nước mũi có kèm nóng rét. ngoại bì mao. bữa ăn được tiêu hóa tốt). Trong miêng khô đắng. bên ngoài chủ lưỡi. niệm sáu chữ đó có thể lấy đó trừ trăm thứ bệnh của tạng phủ. Hạ nhật Ha tâm hỏa tự nhàn (Mùa hạ dùng Ha. Riêng khi niệm nên nhẹ. tâm nóng bứt rứt.Ha thuộc tâm hề.(3) Quyết để trị tạng chỉ có sáu chữ là: Ha. mọi thứ đờm dính. Tỳ bệnh Hô thời tu tối khẩu (Bệnh tỳ dùng Hô. Tam tiêu hữu nhiệt ngoại Hi ninh (Tam tiêu có nhiệt. Bài ca về hành công 6 chữ rằng (Lục tự hành công ca) Can dụng Hư thời mục tình tinh (Gan khi dùng Hư. (2) Tạp niệm: Mọi nhắc nhở hỗn tạp trong đầu óc (3) Tĩnh tọa: Ngồi yên lặng. Lương tật thâm nạn dĩ Ha chi. tai không nghe thấy tiếng là khéo nhất. Dùng Hư thì chữa cái đó rất nhanh). mắt mở to tròng mắt). Tâm Ha đỉnh thượng liên xoa thủ (Tim nên dùng Ha. mộc chọn lấy gan). hầu sang giai tiêu diệt. miệng chúm lại). Phế nghi Hu xứ thủ song kình (Phổi nên dùng Hu. lại cần liền một hơi thẳng xuống. Chỉ nhân can hỏa thượng lai công Hư nhi trị chi hiệu tối tốc. mắt sáng. ngoại chủ mục Xích ế hôn mông lệ như khóc. Chú thích: (1) Tiên thiên: Khí của Trời và Đất vốn tự có từ trước. Kỳ công chân thắng bảo thần đan (Công ấy đúng là tốt hơn cả thuốc thần quý giá). Tâm hỏa tự an nhàn). Hư. Khẩu trung càn khổ. Tam tiêu trưởng quan Hi trừ nhiệt (Tam tiêu là chức quan lớn dùng Hi thì trừ được nhiệt). vượng thủy thì thận(khảm) được yên).

Mới đầu bắt tay vào nội công. tên mục tuy gọi khác nhau mà thực tế thì không có nhiều chỗ khác nhau. Vi vi thổ khí dĩ Xuy chi. (Hô thuộc tỳ. 8 . phế yếu thì sức ít. bên ngoài chủ tai. tất thống dương đạo suy. Chỉ sau khi thiền sư Tuệ Mãnh trụ trì ở Nam Trung treo bảng dạy học trò. nhưng ở từng lúc. phái Giang Tây gọi là “Dũng tử kình” (cái thùng cứng mạnh). Bất dụng cứu phương dữ được lý (Xuy thuộc thận. Chỉ có một việc thở hít. lấy Hô trị cái đó bụng trở lại như xưa). Mà người luyện tập nội công đối (1) với việc điều lý . chủ về trung tiêu tỳ thổ. Hô suốt cả loạt bài ca trên là công trị tạng thật lớn. 6. Xuy (6). Không phải dùng phép cứu ngải và bài thuốc nào khác). Đản tu nhất tự dĩ Hi chi. Hu (9). như Hư (8). cho nên đưa ra phép này để dễ học tập nội công. Thở. không những không được ích. từ đó mới truyền thuật thở hít. Đã có người bỏ hết việc. Ha (7). phải khổ công luyện thở hít trên dưới một phen. chân tay mỏi mệt ruột ỉa chảy nhiều. làm cho võ thuật phương Nam cũng thường coi trọng đạo ấy. gối đau và liệt dương. khổ công luyện tập thở hít để tăng thêm khí lực. Luyện tập thở hít cũng có nhiều điều phải kiêng tránh. Lưng buốt. bởi vì điều hòa tạng phủ ở bên trong thì thần trọn vẹn.Hô thuộc tỳ hề chủ trung thổ. nạp vào cái trong sạch. hít là phép căng chướng hay thả trùng vùng phổi. lợi cho hành công. Phế khỏe thì sức vượng. làm theo đúng phép này cũng đã có thể trừ được bệnh khỏe được thân. Trở lại trật tự tự nhiên vốn có) nội tạng cần phải chú ý nhất ngoài những cái bao la khác. Phế là phủ (nơi chứa giữ) của khí. (Lời người dịch: Theo sách “ Châm cứu đại thành” và sách “ Quách lâm khí công” thì khi hô 6 chữ có kèm theo các con số. (Hi thuộc tam tiêu trị chất lỏng úng tắc. người học dần dần chú ý. Họ lấy thở dài hít ngắn làm bí truyền. cho nên trong phái Thiếu Lâm đối với việc này đã được chú ý khác thường. Tức là nếu không muốn luyện tập võ công. Về nguyên tắc này ở phương Bắc được coi trọng tột bậc. Thuật này giới võ nghệ hai tỉnh Hà Nam. nếu ngẫu nhiên. . cho nên có khí kích động ở vùng ngực. Giang Tây đều coi là diệu pháp không gì hơn. Thử hiệu thường hành dung dị đắc. -Hi thuộc tam tiêu trị úng tắc. nhìn bề ngoài tưởng như giản tiện tột bậc và dễ làm. Tứ chi trệ muộn trường tả da. khí đủ. lấy âm Xuy ấy. tam tiêu thông suốt thì trừ được cái nhiệt bị chứa lại. Hung đường phúc trướng khí như cổ. Hô (5). trên việc hành công sẽ phát sinh chướng ngại lớn nhất. bụng. mà ngược lại bị đủ mọi thứ hại. Nói đến lực không thể tách rời việc thở khí. Chú thích: (1). nhưng cần lấy một chữ Hi ấy. cần tìm thêm tài liệu khác để xác minh các số này có phải là số lần hô của các âm hay không?). làm cho người ta dùng gậy gỗ cứng hoặc sắt đành mạnh mà không thấy đau đớn. trước hết làm phép này mà lý nội tạng ấy để tránh và trừ mọi chướng ngại. lý ấy từ ngàn xưa đã không sai. Lý: Trở lại trật tự tự nhiên vốn có. không cẩn thận. khí là vua của lực. Hi (4). Hô nhi trị chi phúc như cố. là có ý thổ ra cái dơ bẩn. quá lắm thì làm thành các loại bệnh lạ đến nỗi không thể cứu chữa. phái Hà Nam gọi là “Đan điền đề khí thuật” (thuật nâng khí ở vùng đan điền). NỘI CÔNG VỚI THỞ RA HÍT VÀO Phép thở ra hít vào ở Đạo gia gọi là thổ nạp. Nếu như tạng phủ ở bên trong không điều thì thần với khí tách rời nhau. Tam tiêu thông xướng trừ tích nhiệt. còn người trong giới võ thuật phương Nam hình như ít chú ý. đầu. Thở hơi ra nhè nhẹ. Nhưng muốn khí đó đi kích động như cái lưới bọc lấy mà đầy cứng trong thân mình cũng không phải là việc dễ. ngoại tà dễ dàng xâm nhập mà thành bệnh bên trong. khí đi kích động như cái lưới bọc lấy thân cho nên thế”. ngực bụng trướng hơi căng như trống. sườn. hiệu quả này thường dễ dàng làm được).toan. từng nơi đều phải xét chọn. Thiền sư Hồng Tuệ nói rằng: “Công của thở hít có thể làm cho khí xuyên suốt toàn thân.

Người bình thường chưa từng luyện qua công phu thì mạch lạc. từ từ. còn ở người luyện tập võ công. Ba hạng việc cần đó là “tiệm tiến. lấy mồm thở hít không có hại. việc đó càng cần phải coi trọng. Giờ giấc và nơi thở hít cũng rất là trọng yếu. nặng thì phủ tạng bị rung động quá mức cũng đủ để phát sinh tổn hại lớn. còn ở việc sắc dục. dùng miệng thổ khí. 7. phách khỏe. Có thể nói rằng trong 10 người sẽ có đến 89 người là thế. để đến nỗi không gom sửa được. Về sau nói chung dùng lỗ mũi thở hít mới có thể tránh được nạn khí dơ bẩn lẩn vào vùng phổi. đều đủ hại đến thân thể. TAM YẾU CỦA LUYỆN CÔNG Luyện tập công phu có ba hạng việc cần. tán thần khí. huyết. thấy lạ thì thay lòng đổi ý. hoặc có đầu không đuôi. Hít vào từ từ. tối và yên lặng thì nhiều khí trong sạch. Nếu có một tấm lòng bền bỉ. 9 . tâm trí không yên. Luyện tập nội công vốn là muốn cho tinh. cái vạ sắc dục chắc chắn không kém cái hại của nước lụt và mãnh thú. nạp (hít vào) khí trong sạch để tăng khí lực. dùng sức quá mạnh tất sẽ bị hại. có một việc làm tối khẩn yếu của luyện công mà người ta lại rất là khó tránh. huyết khí úng tích mà thành các loại hại không rõ ràng. Riêng số người có thể chăm chỉ luyện tập cẩn thận. bền lòng làm đều đặn. mười năm sẽ thành lớn. vỡ tràn lan không sót lại. thậm chí bởi thế mà chết non. cũng không trước thêm sau bớt. Tuy nhiên. Nếu như thở hít quá mạnh và thêm bớt đều là đại kỵ. khí kết tụ lại giúp nhau mà làm nên thành quả thân cứng. Khí tán ở ngoài thì cái hại là nhỏ. do đó càng dễ bị hại sâu. người đời đều quy về lỗi không tốt của võ thuật. không thể quá mạnh. Nếu phạm bệnh ấy thì khí tán thần hao. chỗ ý đến thì khí không thể không đến. nhưng chỉ lấy 3 miệng đến 7 miệng khí làm mức. không kể là ngoại công hay nội công là việc cần làm. do luyện tập võ công mà gặp chứng tàn tật lao thương. mà suy yếu thân thể. xương thịt đầy chắc. chăm chỉ năm giữ mới có thể thành công. Người ta lập thân ở đời. thần. lấy 49 nhịp thở hít làm một định. với thầy có tên tuổi chỉ bảo. nếu tán ở trong sẽ công dội nội phủ thì hại rất dữ dội. không kể là người luyện ngoại công hay luyện nội công thì ba năm sẽ thành nhỏ. có thể gọi là cái diệu của vận hành cực nhanh nhạy. hằng tâm. Một việc sắc dục đúng là đủ để hao tinh huyết. dần dần tăng thêm đến 81 thì dừng.Khi mới bắt đầu tập luyện. thở hít cần chậm chậm. tiết dục” (tiến chậm. Nếu như đã luyện công mà còn ham sắc dục sẽ không đủ để có ích. khí hít vào thuần trong sạch không gì so sánh được. đồng thời khí dơ bẩn ở trong miệng thở ra cũng dễ tan mất. ngược lại không thể nói là hơn không luyện. gân xương toàn thân thả lỏng tuy chẳng tới mức ngưng trệ. Mới đầu tập có thể đi theo từng bước chầm chậm làm cho gân xương. Nếu luyện tập được như trên thì sau khi công thành sẽ thấy gân mạch khắp người linh hoạt. không kể là việc gì đều phải bền lòng. tức là chữ “dục”. Khi thở hít lại cần một hơi đến dưới cùng. đúng là cả trăm không được lấy một. đó cũng là điều phải kỵ. ví như cày vỡ ruộng hoang. dùng để thổ (thở ra) hết khí dơ bẩn. Thường gặp hiện tượng này ở lứa tuổi thiếu niên. Vì thế luyện tập võ công. đem đuổi cái ác vẩn đục ở phổi ra. Khí huyết ở thân người sau khi đã qua rèn luyện thì linh hoạt dễ động. nếu như lúc đó mà phạm dâm dục thì toàn bộ tinh hoa sẽ nhất định ở vào thế như vỡ đê sóng lớn. không thể không biết. Nếu như gặp khó nghĩ lùi. ở đó khí sạch ít mà khí dơ bẩn nhiều. Khi hít thở cần chuyên tâm nhất chí. là lúc thở hít rất phù hợp. Cho nên mọi việc suy nghĩ phải được cấm ngăn. Khoảng sáng sớm khí trong sạch. đúng là ngang với không học. lại được vui. nhẹ thì gân lạc căng chùng mất điều. Nếu quá vội vàng mà luyện thuật đó nhanh chóng dữ dội. Nếu là nơi bụi bẩn hôi tanh và trong nhà cũng đều phải tránh. Ngoài ra. Nơi thở hít thì phải chọn nơi trống rộng. không những không biết hướng tránh. đầu cuối không trễ nải mà đạt tới thành công. Mới bắt đầu thở hít. nhưng cũng nhất định không linh hoạt trọn vẹn so với người luyện tập võ công. Thoạt đầu có thể làm cho co nở vùng phổi. khí huyết có thể theo thở hít mà đi suốt. mạch lạc theo đó mà linh hoạt dần dần. không suy nghĩ vẩn vơ. Người luyện công đã được truyền phương pháp đúng. Nếu như hoàn toàn dùng mũi nạp khí. Thế là vì sao? Bởi cái khó của võ công không dễ luyện thành chăng? Không đúng! chỉ bởi người học không bền bỉ mà đến thế. còn hiệu quả lớn thì chưa có thể thần tốc (nhanh như thần). hạn chế ham muốn). Riêng nước lụt và mãnh thú người ta có thể biết rõ hướng tránh. đó mới là kết quả ban đầu. tất cả bởi người học không biết tiến chậm từ từ. nhất định không làm người ta không được chút ít gì. lực không thể không đến. giữa đường dừng đứt. lại phải có lòng bền bỉ đi trước. Thở hít lần thứ nhất thế nào thì đến thở hít lần cuối cùng tốc độ vẫn đúng dạng như cũ. Người bình thường nên lấy thanh tâm quả dục làm việc cần để giữ gìn cuộc sống. Số nhịp bắt đầu từ 49.

Công hiệu đó là cầu điều hòa nội phủ trăm bệnh không sinh. nhất định khó sử dụng. Mà vận khí như thế cũng không phải một. tinh huyết ngưng chắc chắn mà thu được cái hiệu của thành công. ngay từ bước đầu có thể chế được người. ít nhất cũng phải sáu bảy năm. Khi luyện tập. nhưng trong cửa Thiếu Lâm. tại sau nhất định phải cầu được cái phép chế người. nhưng có thể đem thần khí hợi hợp vận hành ở nội phủ và có thể tới được trong mạc của gân bắp. Còn ở ngoại công chuyên nặng ở luyện tập thực lực. mà là dùng rìu búa. Phép trị tạng đó là phương pháp phóng to cái cái sạch sẽ ở nội phủ. Khi gặp địch. có thể vận một miệng khí lớn để đánh người ở xa ngoài trăm bước mà không chút nào không tới. Võ thuật vốn vì cứng thân và để phòng nạn mà luyện tập. khí tán thần hại. Ba việc đưa ra trên đây. điều hòa thần khí. bởi vì nội phủ không sạch. nhưng ở nội công khó khăn sẽ nhiều hơn. đảm đương ý ấy khí không đi không thể được. khí là chất vốn nhu.Cho nên người tập luyện nội công. Tạm thời bị thương không biết đến vết thương là gì.Tuy không thể vận khí để đánh người nhưng cũng có thể lấy thần đưa vào khí. Nếu người thiến tính ngu dốt. Muốn vượt qua được những khó khăn đó dứt khoát không phải là việc dễ. Công phu bậc ấy trong cửa Thiếu Lâm có thể rất nhiều mà ngày nay cũng khó thấy. không rắn nào mà không vào. động tĩnh vì nhau. lấy khí vận sức. sau đó có thể thần trọn vẹn khí đủ. . lại rất thần tốc. không dám coi nhẹ. hai năm có thể thành. vận thì thành cương để có thể chống đỡ giặc ngoài. không thể chỉ tổn hao sáu bảy năm đó. Cho nên người luyện tập nội công nên kiêm trị tạng. . ở trong vòng trăm bước lấy mạng người như lấy vật ở trong túi sâu. Kiếm tiên ngày xưa do có thể vận khí đúc kiếm. Nếu không trước hết khử bệnh làm cho thần khí đầy đủ trọn vẹn. nội công cũng phân làm tam thừa (ba bậc). chỉ cần nắm vững và làm bền bỉ là có trông đợi thành công. đúng là khôn dễ thấy. chùy lớn để đánh trẻ cũng không đủ gây tổn thương người ấy chút xíu. trượt ngã không biết đến ngã là gì. phếp ấy ở ngày nay tuy không thể gọi là hoàn toàn thất truyền. cửa ải khó khăn sẽ dễ qua. nếu không được danh sư chỉ bảo cũng không dễ lãnh ngộ được. có thể thấy cái khéo của đầu mà không thấy cái khéo của đuôi. dừng yên thì một khí hỗn nhiên ngầm như vô cực. Nội công 10 . nhu không thuần nhu. đúng như con thần long uốn đẹp. khi luyện tập cũng hết sức giản tiện. biến hóa khôn lường. tới tình thế ấy phải tốn công vất vả. sống khoẻ cũng có thể hết thời gian trời định. đúng là then chốt của luyện tập võ công. tức vận nhu thành cương dùng để chống đỡ giặc ngoài cũng cảm thấy không đủ. Công phu bước đó có thể cầu ở trong phép trị tạng. trải qua hết mọi thử thách mới có thể được như mong muốn. phương pháp cực diệu để trừ hết bệnh tật. đúng là việc không thể. các đệ tử coi ba việc đó là phép tột bậc. công phu bậc ấy. du hành khó lường. Công phu trung thừa đó tuy có thể tự tập. nhất định trước hết là hạn chế sắc dục. công phu bước ấy tuy không đủ để chế người. TẦNG THỨ CỦA NỘI CÔNG Thiền được phân làm tam thừa. chắc chắn không nhất định phải rườm rà đan xen như của luyện tập thượng thừa và trung thừa. xem lại cho tinh xảo đó. chắc chắn không được. trong cương có nhu. làm cho khí ấy đi khắp toàn thân. ba việc ấy có quan hệ không lớn lắm. Trong đời thường. Mà công phu bước một ấy đúng là bước đầu vào tay nội công. cứng không thuần cương. Khoảng chừng ba năm là có thể thấy hiệu quả. CỬA ẢI KHÓ KHĂN CỦA LUYỆN TẬP NỘI CÔNG Bất kể là luyện tập loại công phu nào. nhưng cũng có thể cương nhu giúp nhau. no đầy trong mạc. Công phu loại đó là tối cao trong nội công. nhưng chống đỡ giặc ngoài thì có thừa. Chắc chắn là vận dụng tay chân không nhất định. ngoại tà đột nhiên xâm phạm vào là đủ để phát sinh nhiều loại bệnh tật. ngoại tà cũng không thể xâm. địch tuy mạnh mẽ cũng không thể chống đỡ. Đã là công ấy. nhưng không phải ở đâu cũng còn thấy có. cao sâu đã cực độ không được chân truyền nhất định là khó luyện được. cũng đồng thời phải làm trị trị tạng. trong nhu có cương. thần khí ngưng kết. cứng thân kéo dài tuổi để hưởng cái vui trong cảnh sống lâu mạnh khỏe. 8. . nhất định phải trải qua một vài cửa ải khó khăn. công hiệu rất lớn. Không những quyền đánh cước đá cũng không có thể hại.Đến ở hạ thừa thì không những không đủ để vận khí đánh người. hoặc người thể nhược lắm bệnh thì khó khăn nhiều hơn. thế cũng đã đủ. 9. người có bệnh muốn làm nội công.Thượng thừa là vận hóa cương nhu. chăm làm cẩn thận.Đến trung thừa thì công phu hơi kém hơn. làm động cái ấy thì linh hoạt nhanh nhạy. là muốn luyện tập công phu trung thừa hoặc thượng thừa.

đến chiều khi quay về giường ngũ cũng như thế không được đứt quãng. họ muốn mưu kế diệt Thanh phục Minh nên đã theo nhau trốn vào Thiếu Lâm. lạc mạch nghe theo ý mà đi lại không nơi nào vước tắc. mà nghiêng ở trong mạc của gân bắp. 11 . thường thường chỉ có lực đến mà khí không đến. không thể đến nỗi lại phát sinh khó khăn như trước. nhất định phải tuân thủ giới ước. Bởi lẽ. thề tuân thủ chung. một vật là khí. ứng khí đi thì khí đi. cửa ải đó có thể không phải tiến đánh mà nó tự bị phá. 10. không nhất định phải vòng quanh lần mò sửa chữa lặt vặt. Và: Mã bộ trong kỹ thuật Thiếu Lâm. không nhận làm để tử Thiếu Lâm. khí đến mà thần không đến. dòng dõi quý tộc đã lâu đời buồn rầu vì sự chìm đắm của cố quốc. dựa theo cõi đời thẳng đến “ngọc sáng đổi mới”. hạn chế) rất là coi trọng. tất có thể trông mong ở sự thành công. một cái nhìn hợp mà đi. chắc chắn không chỉ có luyện tập nội công mới như thế. chỉ sợ người dụng tâm”. trong đó tuy có nhiều cửa ải khó khăn. sớm tối chăm chỉ tu. không trải qua danh sư chỉ bảo với cái tâm hiểu biết và không tự mình nghiên cứu. cái khó lại càng nhiều. Nếu sợ khó mà ngập ngừng không tiến. nay lại muốn khí đó đi ở khoảng mạc gân. nếu khi diễn tập đã lấy lùi sau ba bước. thường cảm thấy khó khăn là thân không theo tay. nhưng có thể nắm giữ lấy lòng bền. được nói về đạo đức và kỹ thuật. tay không ứng với thân. các cửa ải khó khăn đó cũng sẽ vượt qua và đạt tới thành tựu đỉnh cao. nghĩa là không kể việc khó thế nào. hợp với ý. lấy thần đưa vào khí làm cho dần dần có thể cùng đi. rồi sau đó luyện tập kỹ thuật. chúng mất sự liên lạc đó mà không thể hô ứng giúp nhau. bởi vì ông Giác ấy riêng một cái thiện làm chủ cái thân. gọi là đạp cung trung. Trong đó có Trương Nhất Toàn đã làm lại mười điều giới ước. lại tiến về trước ba bước. cho nên nhiều cửa ải khó khăn mà không dễ vượt qua.thì nặng ở lấy khí đi lực. Từ khi người Mãn vào làm chúa ở Trung Quốc. tâm trí chuyên nhất (tập trung). vận hành ở trong phủ mà có thể theo ý đến nơi đã là không dễ. không chỗ nào không tới. biểu hiện ý nghĩa không quên tổ quốc. Việc đời phần nhiều đều như thế cả. không một chút lười biếng. đợi sau khi ở nội phủ lưu hành hoạt động. Giới ước đó có: . Phàm người luyện tập nội công. Bắt đầu tập. việc đó không khó mà lại khó. nhất định cần lấy khôi phục Trung Quốc làm ý chí. Phàm người luyện tập võ công. khi tập phép 18 tay La hán quyền. chăm làm không lười. NGƯỜI LUYỆN VÕ CÔNG CẦN GIỮ ĐIỀU NGĂN CẤM VÀ CÓ LÒNG YÊU NƯỚC Trong cửa Thiếu Lâm đối với một việc giới ước (ngăn cấm. Xét về điểm chủ yếu của luyện quyền pháp ta thấy quán lực là lực xuyên suốt. lâu dài về sau cũng dễ công phá mọi trở ngại. lại tính danh sư chỉ bảo khêu gợi.“ Người học tập nghiệp thuật kỹ kích Thiếu Lâm. không sai ở rất mạnh thì sai ở rất lỏng. Hạng giới ước đó so với thời của Giác Viễn thượng nhân đúng là khác nhiều. thì tiến lên mà luyện tập khí đi suốt ở khoảng mạc gân. Tiến thêm bước nữa là luyện tập hậu bộ dịch cân kinh. rõ ràng không thể làm công. Nhưng nếu chăm chỉ luyện tập và khi đã tập thuộc thì tự thân và tay theo nhau. Đến bước thứ ba là luyện tập tiền bộ dịch cân kinh. Của ải đó đúng là tới không dễ. khi luyện tập phải có danh sư chỉ bảo từng bước mới thấy rõ hết. Tuy nhiên. Và: Hàng ngày sớm dậy nhất định phải đến trước minh tổ làm lễ kêu xin. Giới ước của Thiếu Lâm bắt đầu lập ra từ thời Giác Viễn Thượng nhân. thì sau thời gian dài tập luyện. nếu có vi phạm sẽ bị đuổi ra khỏi sơn môn. Mới bước đầu tập luyện. nếu vượt qua được một lớp cửa ải khó khăn rồi thì con đường lớn trước mặt sẽ sáng sủa. còn ông Trương thì lấy hết mình vì tổ quốc làm chủ. tất cả có mười điều. Kịp thời tiến lên mà luyện phép ngũ quyền thì động tác của thân và tay chắc chắn sẽ ngang với tâm. Người luyện tập nội công cũng tựa như thế. Nguyên tắc chung của công phu này là không ngoài tám chữ lấy “Thần đưa vào khí. đi sâu vào ý nghĩa mục đích của cửa Phật. lấy khí đi lực”. Bước luyện tập đầu tiên là bước luyện khí lưu hành nội phủ. Dân gian thường nói: “Trên đời không việc khó. chỉ cần dùng tâm để cầu. nhất định cần khí và lực cùng đi. hoặc chí lập không chắc thì cửa ải khó khăn đó khó lòng vượt qua được và mãi mãi không có ngày thành công. tâm và tay hợp nhau. dễ cảm thấy sức đến mà khí không đến. nhất định cần lấy ý đưa vào thần.

Phàm con em đã ở trong cửa Thiếu Lâm. hoặc đến ở trong nhà. . ở một việc giữ giới ấy cũng coi là một công việc cần duy nhất. Nếu thuộc về tông phái ngoài đã không biết như thế thì tùy cơ mà động. Nếu quan hệ cùng phái. bởi thế số điều giới ước kể trên đều chỉ ra vì quốc gia cả. dùng để biểu thị phản đối tộc Hồ. không đủ để lấy những cái khác. 12 .Và: Giúp nguy phù nghiêng. thì hết lòng truyền dạy kỹ thuật cho họ. muốn nắm được hết cái tinh hoa của nó. được hết cái bí ấy mà tạo cái thành lớn.Phàm thuộc Tông phái Thiếu Lâm. Tóm lại là nên chọn người mà dạy tất cả không được coi nhẹ để lộ bí mật. kỵ hận. đánh vào yên ngựa bàn tay không biết đau đớn. khử bậy. đã ăn cơm mặc áo cửa Phật. để hai mu bàn tay dựa vào nhau ngay ngắn ngang với ngực. Từ đầu đến cuối thường thường trải qua hơn mười năm bền bỉ không lười nhác. Ngoại công quyền pháp là việc nông rõ rệt. nhất định có thể hiểu cả. Chủ yếu là tự giữ thân. đó là lấy ngôn công. còn một hơi thở. dứt khoát phải có danh sư chỉ bảo. Ở trong thời gian này không thể một ngày xa rời thầy truyền. Nếu đã trải qua thầy truyền chỉ bảo mà công phu tự mình chưa tới cũng không dễ thấy rõ ràng. Các nhà khác thì bàn tay trái duỗi.Và: Tôn sư trọng đạo. trừ tham. thì Bắc phái thịnh hơn Nam phái. Nếu không biết điều đó có thể gọi là Thiếu Lâm ngoại gia. ở việc nước. hướng phân hai phái Nam Bắc. Quyền pháp ngoại công đã là như thế. người quay lưng lại điều ấy đã được coi là phản giáo. yêu bạn. Xem mọi điều trên đây.Và: Chí khôi phục sơn hà là mục đích thứ nhất của tông phái. Người phương Bắc cầu được danh sư. sự chỉ bảo của thầy truyền cũng cần từ từ. nên rất thành thực. lương thiện. lòng để ở Trung Quốc. trước hết giơ tay làm lễ kiểu như trên. lại thịnh hành dựng xưởng để quản thúc. Người nào không tuân thủ. muốn sâu. không như thế thì không thể tìm được. như tay chân. chí đó không dễ để rơi mất. gặp người nhất định đòi đọ tài. ta có thể thấy mục đích của luyện tập là diệt thanh Phục Minh. Riêng công phu nội tráng. thân ái. phái Thiếu Lâm đã có đủ tinh thần cách mạng của nòi giống. trước hết nên nâng tay làm lễ riêng khác với các nhà khác. không thể trong thời gian ngắn đã nghiêng thúng đổ hòm để ra. 11. dần dần mà vào. . thử một việc xem xét tình hình đó. LUYỆN CÔNG TẤT CẦU DANH SƯ Học tập võ công muốn chắc. mà suy nghĩ nguồn gốc xưa. nếu là người ngoại môn phái không thể tự thăm dò ở chỗ ảo diệu đó mà phải trải qua thầy truyền chỉ bảo. phạm nhẹ thì đuổi ra ngoài mọi cửa. nghe có danh sư không xa ngàn dặm thì tìm cầu để hy vọng được chân quyết (Lời quyết đúng nhất). Còn nói về cá nhân người luyện võ thì có: . cho nên giới võ thuật rất tôn trọng đối với thầy truyền. tất hòa hảo với nhau. cứu trợ giúp nhau như anh em. nguyên nhân là ở đó. đi từng bước một. . Cuối cùng có hết đời theo hơn mười thầy lâu dài để lấy mỗi cái chuyên lớn của mỗi nhà.Và: Nếu ở lúc du hành.Và: Phàm khi diễn tập quyền giới (quyền và vũ khí) của phái Thiếu Lâm. hoặc theo người ấy hầu hạ. đều phải tuân thủ mười điều giới ước. nặng thì có thể đánh phạt. không thể dựa vào thế mạnh mà khinh thường kẻ yếu. với tay ngang lông mày. tự có thể truyền hết tài ấy. lại ẩn tối lạ thường. Giới võ thuật nước ta (Trung Quốc). đó là việc đã xong. Cho nên đầu đời Thanh. không thể đánh nhau để làm hại họ. ở việc mình đều có gắn chặt. giới dâm. kính người lớn. cho nên một phép nội công thì hơn rất nhiều. Cho nên nội công đối với thầy truyền càng là trọng yếu kể từ khi bắt đầu vào tay đến lúc thành công mới thôi. lý ấy cực sâu. bàn tay phải nắm (tả chưởng hữu quyền). Và người phương Bắc thường thường sau khi thành tài nghệ còn du lịch bốn phương làm cử chỉ tìm thầy hỏi bạn. tuy người ngoại môn không thể tự ngộ. tự mình phải lấy từ bi làm chủ. Tông của ta thì hai bàn tay làm kiểu móng hổ. Từ xưa truyền tới nay không học võ thuật Thiếu Lâm thì thôi. sẽ bị đông người cùng phạt. nhất định tới khi tròn đầy công trình mới rời nhau. nếu học võ thuật Thiếu Lâm. . Cũng không qua cắm vào cát. Ta chẳng đợi nói. nhưng một lần trải qua nói rõ. nhẫn nhục độ thế. Nếu ai đó không tuân thủ. . để thời gian cực ngắn mà dạy người ta lấy một số ít thủ pháp ứng dụng. thật thà.Và: Khi truyền dạy cho học trò (môn đồ) thì nên tuyển chọn cẩn thận. Nếu học trò là những người trung nghĩa. Trong Nam phái thì đơn giản hơn thế. phu diễn. người Bắc đối với việc tôn trọng thầy truyền đúng là tới tột bậc. Nhìn chung các điều giới ước kể trên.

tuy chí thú khác nhau. lại cần chú ý chọn người thầy truyền. thì thần tự ngưng. Thích gia đều coi trọng. nhất định khó được tinh túy đó. ngoài việc tu dưỡng tinh tường cẩn thận. tinh tự cố. khí tán. đúng từ trong tĩnh để cầu bộ máy được tự nhiên. yêu ghét vây ở trong. Một thành ngữ cổ 12. cho nên Đạo gia. sao có thể đạt đến đó. muốn được cái tĩnh đó. vu mang mang nhân hải trung”. Từ đó mà xem thì một phép ngồi thiền trong nội công chiếm địa vị trọng yếu. Người nội công. tu làm công minh tâm kiến tính. là Tọa vong (ngồi quyên). khủng) đó. Người ta sống ở đời này sự vật vốn đã rất nhiều mà tán loạn. Ở Đạo gia là nội quan (nhìn bên trong). Thanh sắc: Sắc đẹp và lời hát của người đàn bà. Muốn cầu một thuật đạt tới thượng thừa. liễm khí. Chú thích: (1). Những thậu ngữ của nhà Phật nói về nội dung tu và kết quả tu. không kể Đạo gia. tinh bại. Người không như thế. nếu không vất vả làm tu trì . người thầy có thể có nhiều. Ba thứ thần. nếu nội công đã đạt tới tinh áo sâu xa. muốn quên mọi tưởng niệm vốn không dễ dàng. việc đó (5) không khó mà lại khó. khí tự liễm. tam tướng cùng mất. chắc chắn lấy phép nhu chế cương. đúng là khác nguồn mà cùng quả. định mà sau có thể an “. ngược về gốc trở lại nguồn (phản (4) bản hoàn nguyên). người thầy phải là cực giỏi. ngoại công đều làm công phu từ trên chữ động. chỉ nghiên cứu trong sách vở. tuy có thể được cái hời hợt. Then chốt chủ yếu của nội công chắc chắn là chủ ở ba việc: Ngưng thần. chỉ bởi vì ngày xưa hạng tinh áo sâu xa này lại không tiếp nhận thầy không có danh tiếng làm việc chỉ bảo giải thích. tình cảm nhiều lớp mà không thuần. (2) thanh sắc đánh phá ở ngoài. mà người luyện tập nội công phải coi trọng hơn hết ở lúc vào tay. chăm chỉ thì được ở giữa biển người mênh mông). nếu theo thầy không tốt thì để lại cái nhầm lẫn suốt đời. tinh đó nếu muốn gom giữ lại. có thể trong sách vở tìm kiếm được cái thực dụng đó. ai. lấy thái độ yên lành mà khắc cái bạo động của kẻ địch. Ngồi thiền: Còn gọi là Đả tọa. (2). Nếu như trong tâm tạp niệm đưa vào tán loạn. sân. NỘI CÔNG QUAN HỆ VỚI NGỒI THIỀN (1) Việc ngồi thiền. chắc chắn chẳng đợi trí giả mới biết.(4). Ở nơi trần tục. Người luyện tập nội công. không phải người thường có thể nhìn ngó con đường tắt tới cửa đó. người già nói: “hiệu pháp hồ thượng. luyện thai tức của đạo trường sinh. cầu lại dễ. cố tinh. ái. thường xuyên. Có thể thấy một chữ tĩnh này là cái diệu của công.Nhưng nói chung trong võ học. Việc đó đúng là một việc cực khó. cho nên lúc mới vào tay ngồi thiền 13 . hơn hết nhất định cầu danh sư mới có thể chỉ bảo uốn nắn (1) tỷ mỷ. (Phép có kết quả là ở trên hết. Thích gia đều coi là phép tắc cực trọng yếu. mà vận khí sai lầm đúng là nhiều nguy hại. thì phải ngồi thiền mới đạt kết quả. đưa mọi thứ việc tham. mà tìm người có thể làm thầy ta chẳng dễ dàng gì. Nếu tâm như gương sáng. không nhiễm hạt bụi. Cho nên cầu thầy. khắp cõi đời danh sư chắc chắn không nhiều lắm. bi. Nho gia cũng từng nói: “ Tĩnh mà sau có thể định. thật là vô cùng khó. nộ. mới có thể có hiệu quả “thăm dò ngựa đen được ngọc” . Người ngồi thiền. Người ngồi thiền đã để cho mất đi diệu pháp của bộ máy. không mượn sức ở ngồi thiền sẽ không thể được. yêu ghét nổi lên rồi mất đi thì thần hao. (3). ở Thích gia là thiền định. một niệm không diệt. bộ máy tự nhiên đó dần dần bị che mờ mà đến bị tiêu diệt. tránh (3) xa lục dục . ố. nhất định trước hết phải có thể định. ở khi đó mà muốn trừ bỏ thất tình (bảy thứ tình cảm: Hỉ. muốn cầu hạng danh sư đó. Tu trì: Giữ việc tu đều đặn. chỗ ấy gọi là lấy nhu khắc cương. si. ái mà cắt đứt đi. sau đó mới có thể tuần tự mà tiến để có thể thành lớn. cần đắc hồ trung. làm cho tứ đại đều không. Muốn được cái yên đó. Chú thích: (1). vốn ngược lại với ngoại công. một niệm chẳng sinh. Thuật quyền cước ngoại công. không như loại phép quyền cước ngoại công giản tiện dễ học. khí. (5). muốn được cái định đó. nhất định trước hết phải có thể tĩnh. Cho nên người luyện tập nội công Thiếu Lâm. việc cầu danh sư là tối cần thiết. lục căn thanh tịnh . nội công tự phải ngộ diện mục đích ý nghĩa ở trên chữ tĩnh. lấy tĩnh chế động là đúng.

cho nên chỉ hợp với dùng ván gỗ. có thể là niệm A di đà phật. Hoặc là ba cái nhìn ấy đều có pháp lực gì ? Đó chẳng qua là một loại phương pháp khi mới vào tay và tới tâm ý chắc dần. Cột sống nên ngay ngắn. nhận theo một sự tự nhiên ấy. Khi thở thì hơi nhanh. không nắm giữ thở hít. đều lấy ván gỗ chế thành. bốn…đều có thể được. Giữ việc tu đều đặn thường xuyên. Ba cái nhìn là: Mắt nhìn mũi. lại từ mũi hít vào khí trong sạch. Hình thức của giường thiền đại khái như một cái ghế ngồi không có chỗ tựa. lót bằng đệm day móc có đàn hồi thì khi ngồi thiền không tránh khỏi bệnh gù. hai. Hoặc hai lòng bàn tay đều ngửa đặt chồng lên nhau là ấn “Tam muội”. lại không cần như thế nữa. bốn. tuy không thể bay lên giữa ban ngày. vuông mà rất to. do không tránh khỏi cái lo nhiễu loạn mà nhất định phải bày ra phép để đuổi trừ. Sau ba thở. đặt ở dưới đan điền. (5). cái ấy so với bán già thì khó làm hơn. lúc không phải là quá lâu. thu liễm thân tâm. có thể mở ở tĩnh thất. toàn già. ba. ba hít như thế. trước hết từ trong miệng thổ ra một miệng khí dơ bẩn. (2). tạp niệm tự nhiên đi xa. chỉ lấy gỗ trải lên là đẹp. cũng ngoài ý của xếp đặt. cái đó dễ trừ đi. Phép đó như thế nào ? Tức tự nhìn là được. Người xưa gọi người ngồi thiền nhất định phải có đủ ba cái nhìn. Sở dĩ cần làm như thế là muốn ý chí tập trung lại. sau đó mọi tạp niệm có thể từ từ tự lánh xa. bày ra giường thiền là hay nhất. miệng nên ngậm khít. làm cho hai lòng bàn chân đều hướng lên mặt. khi hít thì hơi chậm. Khi ngồi nên thanh thần quả dục. Hàng ngày vào các buổi sớm tối ngồi một lúc. Lâu dài về sau công phu đã sâu thì tâm cảnh tự nhiên sáng suốt. 13. Ngày xưa luyện tập nội công nhất định trước hết phải vào tay từ ngồi thiền để cầu cái tĩnh ấy. lưỡi nên liếm dừng ở vòm hàm trên. Chú thích: (1). mồm nhìn tâm. đem bàn chân ở dưới ngược lên. đặt lên trên mặt đầu gối trên. “vinh nhục” không đủ để nhiễu cái chí ấy. sau đó lại chính thức hành công. không những tạp niệm không có cớ để sinh là ta đã tự mình đuổi đi vỏ cứng của mình. Vị trí của tay cũng có hai loại: Lấy ngón tay cái bàn tay trái nắm nhẹ ngón giữa. mà hai đùi thì giao chéo kết lại thành một bó (kiết già. Sáng sớm hành công. nếu không có phòng thừa làm tĩnh thất thì làm ở trên giường ngủ cũng được. cũng không thể để cho bệnh tà. khi thở cần thở hết. Ngổi có phân làm bán già. (3). để ngón cái và ngón trỏ tay phải nắm nhẹ gốc ngón nhẫn tay trái. Những thuật ngữ của nhà Phật nói về nội dung tu và kết quả tu. Bán già tức là một đùi vòng tròn ở dưới. mũi nhìn mồm. bởi ban 14 . ba. Ta nói không nhất định niệm ba cái nhìn đó. gọi là ấn “Thái cực đồ”. hàm răng nên cắn nhau. mà đạt ở cảnh tự nhiên. để bổ cho đan điền thở khí ra. cứng thân khỏe phách khí đi như cầu vồng. Sau khi công phu đã sâu. nhất định có tạp niệm vây quanh tâm. Những thuật ngữ của nhà Phật nói về nội dung tu và kết quả tu. lệch nghiêng một bên. lại (1) ở trong tĩnh cầu động. không sinh tạp niệm. Sắc đẹp và lời hát hay của đàn bà. (4). Ngồi thụt xuống ngưng thần. hoặc một. song bàn). đã có sự sáng suốt nơi tâm. lấy riêng một đùi vòng tròn đặt ở trên cách rất đơn giản dễ làm (còn gọi là đơn bàn). nhất định tụ họp ý của người ta vào ba cái nhìn đó. bởi ban đêm tĩnh định là tĩnh trong động.ý niệm ấy nhất định không thể đạt ngay tới cảnh dừng tĩnh. là tọa vong (ngồi quên). Phách: Vía. Toàn già thì theo đúng cách bán già. là cực tĩnh dứt. Phương pháp niệm A di đà phật hoặc một. Buổi tối hành công. Còn gọi là Đả tọa. vuông chừng hai thước rưỡi (chừng 1 mét). mà ngón cái tay phải cắm vào trong hố khẩu tay trái. hai. Khi mới vào tay. Khi ngồi không đụng nhau. Chú thích: (1). không nhất định là ba cái nhìn. cái “thú” đó “tự thích”. PHÉP TẮC CỦA NGỒI THIỀN Việc ngồi thiền lấy tĩnh làm quý. quên niệm làm cho tâm cảnh sáng suốt mà sau đó có thể tới dứt cảnh do nhiễu loạn gây ra. là làm động thật (chân động). hai bàn tay nắm nhẹ. nó cầm rắn chắc. nếu dùng đệm bông. mà đạt tới cảnh vật và ta đều quên. khí trong nội phủ thổ ra hết trọn vẹn. Ở khi ngồi thiền. chầm chậm tăng thêm dễ thu được đúng hiệu quả. Làm công tới đó thì cái “lợi “ và cái”dục” không đủ để động cái tâm ấy. để tự chặt yên cái thần suy nghĩ đều được. hoặc kẻ ngoài dễ dàng gây hại.

âm dương sinh nhau. 14. chiếm vị trí nơi chịu đựng rất nặng. Cho nên nhất định dùng hổ quyền để luyện. từ mười tám tay mà tăng đến một trăm hai mươi tám tay. thân thể hùng vĩ và hình dáng. năm ngón tay như móng sắt. sau này thẳng tới thời Kim. tức là còn muốn niệm tĩnh định mà tâm mờ. khí không luyện không tập trung. khi luyện tập không cần sử dụng ngoại lực. chỉnh lý kỹ thuật Thiếu Lâm. Phật gia tọa thiền đều dùng phép song bàn (toàn già. Luyện đi như thế. gân lạc toàn thân được khẩn trương (căng khít). cánh tay và bắp đùi rắn chắc khỏe mạnh. . cốt không luyện không rắn. nâng lên thả xuống có thế. khí. lực. uy vũ của nó đều không bằng hổ. Ngũ quyền là phép để luyện tinh. mà thu hiệu rất rộng rãi. Long quyền luyện thần . đi đi lại lại uốn mềm. là phép riêng ở trong Thiền môn. ngồi Kim Cương. là điều hòa hơi thở. báo. Khi luyện cần vận khí đủ toàn thân. từng đốt từng đốt linh hoạt vọt lên. Cho nên đầu tiên làm ra năm thức đó. ta yêu phép ngồi nào thì ngồi cách ấy. tâm trừ diệt. mọi tạp niệm không có cớ mà sinh. Ở trong phép một trăm hai mươi tám tay đó. Nếu như không có sức tới mức giống như là con vật đó thì khí đó thu liễm. sau đó tăng thêm dần thẳng đến nửa thời gian kể trên là dừng. tức là ý còn giữ ở đan điền. thần đều cần phải rèn luyện thêm. sẽ hơn hẳn dũng phu (người khỏe). Lấy trầm tĩnh. đã nghiên cứu thêm.Sáu là giữ đan điền. Xà là loài vật. toàn thân nên dùng mã bộ ngắn mà giơ lên thả xuống. làm cho chúng giúp nhau mà dùng. lấy cái đó mà luyện lực rất là hợp. nên trước hết luyện ngũ quyền. Nắm giữ đều như thế là làm động tĩnh có thường. lúc công thành. mọi tà ma không có cớ mà vào. Từ đời Lương. Người luyện xà quyền.Năm là buông rèm. làm cho liền liền không đứt. câu thép. Từ mức mới đầu đến mức thượng thừa. để hai bàn tay đặt tiếp xúc nhau che ở đan điền.Một là còn nghĩ ngợi. . Ngũ quyền là năm phép long. Nguyên. Luyện tập cách của báo. giữ hơi hé mở một ít. hổ. . Xương ở trong phần khô của thân xác. chính là đã làm cho khó giống 15 . xương nếu không rắn. hổ. Khí ở trong thân người cũng quý ở nuốt vào. làm cho lòng bàn tay và lòng bàn chân thước tấc hợp nhau. đúng là động trong tĩnh. Thời gian ngồi lấy bắt đầu vào tay là một khoảng nấu bữa ăn. lại có vùng thắt lưng.Hai là vòng tròn chân. có thể quay về chính giác. thần không luyện không ngưng. Biết bảy điều cần đó là hết phép của tọa thiền. thì khí lực tự nó không có chỗ thực hành. không thể không biết: . lại phân làm ngũ quyền long. mà không rời. lực. Ý của ông Bạch cho rằng một thân người ta có tinh.Ba là tiếp xúc bàn tay. NGŨ QUYỀN CỦA NỘI CÔNG THIẾU LÂM Nội công Thiếu Lâm ước có thể phân phép luyện tập ra làm 3 bước. có Bạch Ngọc Ngạn cắt tóc vào núi. hai cánh tay thì trầm tĩnh không động. mắt trợn lên. nôn ra.Bảy là hòa hợp nhịp thở. xà. báo. là theo đúng phép ngồi chân vòng tròn ngồi thụp xuống. giơ lên. . tùy tính tình của người mà cải biến. kiết già). . lực không luyện không cứng. làm cho nội ngoại cùng tu mà đạt tới cảnh biến đổi. là lấy lưỡi liếm vòm hàm trên làm cho sinh ra nước bọt (sinh tân). hạc. đúng là thuộc về phép ngồi trong cửa đạo. nhắm mí mắt lại. Ngoài phép ngồi đó ra lại còn có cách ngồi gọi là ngũ tâm triều thiên. co gập lại. Báo quyền luyện lực . làm cho thắt lưng và lưng trên thật rắn. việc nên làm là bàn tay nắm khít lại. khí. Khi ngồi có nhiều cái cần. như con rồng thần đi trong khoảng trống. mà sức thì hơn hẳn hổ. Ở lúc mới vào tay. là lấy hình giống như con báo trắng. cốt. nhu chắc làm chủ là chưa tìm được như con vật đó. thân rắn cứng hơn hổ. Xà quyền luyện khí . hai bàn tay giống như móng hổ. Báo là loài vật. sức của nách đầy đủ. có phép ngồi Quan âm. là minh tâm kiến tính. giống như thế mãnh hổ ra khỏi núi. xà. cho nên nhảy vọt giỏi hơn hổ. riêng cuối cùng là lấy phép ngồi song bàn (kiết già – toàn già) làm chính tông. Đạt Ma thiền sư truyền trước là mười tám tay quyền La Hán.Bốn là bắc cầu. cốt. thân thể dễ dàng ngay thẳng. đó gọi là “ngũ tâm tương ấn”.ngày lao động mà tập định tĩnh. có thể ngồi lâu dài đến như thế thì tâm cảnh lắng đọng hết. Hổ quyền luyện cốt . Phép bậc đó thì lại có tên là Bạch báo quyền. chỉ cần thầm lặng đưa vào trong khí làm cho đi đến đan điền mà khắp thân hoạt bát. thần. mà kích động sức toàn thân. . chắc chắn không gò bó ở định kiến. cái tinh không luyện không chắc. hạc. cổ cứng. linh hoạt tự tại.

khí tụ. cánh tay trơn. xem lại thì tinh đủ thần trọn vẹn. xà. dã hạc tầm thực (hạc hoang tìm ăn). giơ lên thả xuống mà đẩy ấn. riêng phép luyện tập nó do chưa thuật tới. nếu có thể luyện đến cảnh tinh thuần thì tinh chắc. HỔ QUYỀN 1. từng đốt nhanh nhạy thông nhau. sức cứng. Hạc quyền luyện tinh .như con rắn dài đi lại từng đốt. Đồng thời bàn tay phải từ cạnh phải ngang cánh tay giơ lên. lại như phép này làm về hướng bên trái. làm mã bộ như thức trên. Thân hướng ngay phía trước. Khi luyện quyền đó. có ý dừng là dừng.Hắc hổ thí trảo (hổ đen thử móng) Hai chân phân mở. báo. Bàn tay trái làm như móng hổ. vận sức ngón tay kéo lôi ra hướng trái. là cái dụng đó diệu không thể kể hết. Hạc quyền thì có bạch hạc lượng xí (hạc trắng cao cánh). thần ngưng. Năm loại quyền kể trên. lại gập gãy quay trở lại. luyện cương làm nhu. Hạc là loài vật. Thân người ta thì vật rất trọng yếu cũng là chỉ có tinh thần. Ngưng tinh đúc thần. nếu như để đàn áp người. gập hai đầu gối mà dìm thân trên xuống. hai ngón tay bày ra thành đôi với nhau. Mục đích ý nghĩa kỳ diệu ở trong đó có thể lấy tâm ngộ mà không thể dùng lời truyền. Hình 1 2.Hổ chưởng bà phong (bàn tay hổ gãi gió) Hai bàn chân phân mở. Trước vừa bàn rõ về cái đó. Bàn tay phải đặt tiếp ở thắt lưng. Mỗi loại hình dáng quyền pháp. tận tướng. 15. mà sẽ được hưởng tuổi lớn. nay lại phân tiết nói rõ hơn. Thân trên cũng xoay tròn theo hướng phải tới chéo về phía trước làm mức. Hơi dừng một lúc. Bàn tay trái thì đẩy ra hướng phải. trố mắt nhìn về phía trước (xem hình 1). chỗ gọi là hành khí như cầu vồng tức là thế. từ bên trái phía dưới nâng lên. lòng bàn tay trái hướng ra ngoài. Năm thứ hợp nhau giúp nhau hóa trộn. có ý đi là đi. bàn tay ngược hướng lên đến ngang lông mày thì gãy cẳng tay hướng vào. tuy thuộc loài cầm lông vũ. trong đó lại phân làm nhiều tiết nhỏ. PHÉP LUYỆN TẬP NGŨ QUYỀN Ngũ quyền là năm hình long. Hơi dừng chốc lát. Chắc chắn không chỉ có năm loại thành pháp. đạp thành mã bộ. thắt lưng nhanh nhạy. đầu lệch ở bên phải. lấy mềm thân mà ra. 16 . dùng sức ấn xuống. dùng tâm suy cho sáng tỏ. Đầu và thân cùng hướng. lòng bàn tay hướng xuống. xương rắn chắc. để giống như lưỡi của miệng rắn. Khi luyện quyền đó. hổ. Trố mắt nhìn bàn tay phải như hình 2. nên ở giữa hoãn và cấp. tất cả là ở người học ra công khổ luyện. Nay đem các phép phân ra miêu tả ở sau để tiện học tập. thả lỏng cánh tay vận khí. ngón tay làm móng hổ giống như dáng cào cái đai của vật trở lại. lại ra dáng vẻ nhẹ viết nhạt mà cũng chẳng cần hết hình. lại theo phép trên làm hướng bên trái. Chỗ gọi là thần khí hợp nhau là tâm và tay hợp nhau (tương ấn). hạc. thì chỉ một khoảng giơ tay. như trong hổ quyền thì có hắc hổ thí trảo (hổ đen thử móng) và hắc hổ tọa động (hổ đen ngồi trong động) là các loại hình thức. một khoảng đưa chân là làm cho khẻ địch ngoan cường cũng có thể gãy gục.

Bàn tay kéo đến khoảng sườn làm mức. rồi lại như phép trên làm ở hướng trái một lần. Bàn tay trái từ dưới phía trước bẻ lên. như hình 3. Thăm dò như thế rồi lùi. Đồng thời toàn thân xoay hướng sang phải. Đầu lệch sang phía phải như hình 4. Hình 3 4.Hắc hổ tọa động (hổ đen ngồi trong động) Trước hết hai chân phân mở làm mã bộ. lòng bàn tay hướng về phía trước. hai cánh tay kéo theo cạnh sườn thẳng lên.Ngạ hổ tầm dương (hổ đói tìm dê) Chân trái hướng về bên phải đạp tiến một bước. rồi lại thăm dò và lùi ba lần thì dừng. Đồng thời thân trên thì thăm dò ra hướng trước. Thân trên hơi ngửa về phía sau. Bàn tay phải từ chỗ thắt lưng trái đưa lên. Vùng mông thụp xuống. đến phía trước vú bên phải làm mức. Hình 4 17 . hướng về phía phải kéo mở làm giống như xé vật. làm như cấu vật đưa lên đến trên đầu thì dừng. hơi đừng một lát. khi tới ngang vai thì hướng trước từ từ ép xuống làm giống như móng hổ đập con vật rơi xuống đến ngang thắt lưng thì gập khuỷu và dùng sức ngón tay lôi kéo về hướng sau.Hình 2 3.

vận sức từ từ gấp khuỷu nâng lên đến ngang thắt lưng thì dừng. mắt nhìn lên như hình 5. toàn thân hướng về bên phải. Hơi dừng một lát. Mắt nhìn đầu chót ngón tay như hình 6. Hình 5 6.Bạch hổ thôi sơn (hổ trắng đẩy núi) Trước hết dùng chân trái đạp đất đẩy người về bên phải thành thế cung tên (tấn chữ đinh). 18 . Hình 6 BÁO QUYỀN 1. Hai bàn tay từ phía trước nâng lên đến trước vai. Toàn thân xoay đến phương chéo bên phải làm mức. Lòng bàn tay hướng xuống. Bàn tay trái thì từ trước trán chao qua trước hướng về bên trái kéo mở đến phía ngoài vai trái thì dừng. ba lần lùi như thế là dừng.Kim báo định thân (con báo vàng thân ổn định) Hai chân đứng chụm lại xoay tròn hướng bên phải. đồng thời xoay ra hướng trước. miệng quyền chấm vào thắt lưng. Mắt nhìn hướng lên như hình 7. Hai bàn tay đồng thời hướng lên trên vai phải giơ lên. lại như phép trên hướng về bên trái làm một lần. Thân trên rời về hướng trái và gãy. Thực hiện ba lần đẩy. Trong khi xoay thân. đến khi cánh tay thẳng thì dừng.Mãnh hổ thân yêu (hổ mạnh duỗi lưng) Trước hết phân mở hai chân làm mã bộ. Lại như phép đó hướng về phía trái làm một lần. Thân trên thừa thế ưỡn thẳng. Đầu lệch về bên phải. Bàn tay phải thì từ cạnh bên kéo về đến trước ngực làm mức. Hai bàn tay nắm quyền (nắm quyền cần rất khít).5. Trong khi hai bàn tay kéo về. Hơi dừng một lát. Đầu hơi ngửa lên cao. sau đó quay lại vị trí ban đầu. chân phải duỗi thẳng. sau đó dùng sức hai bàn tay từ từ đẩy ra hướng trước.

bàn tay trái cũng nắm khít tay quyền. bàn tay trái ở trước rốn. Đồng thời bàn tay phải nắm quyền. lại thay đổi hai tay làm lại một lần. 19 . Thân trên cũng theo hướng phía phải. đến ngang vai thì dừng. miệng quyền hướng ra ngoài.Địa bồn tư triết (xé gãy chậu đất) Trước hết đem hai bàn tay giao chéo ở trước bụng. lại như phép trên làm một lần hướng chân cung bên trái. chân trái thẳng như mũi tên bên trái. Hai cánh tay trong lúc đó hướng về phía trước xoay ngược lên đến nơi ngang dưới ngực trên rốn.Hình 7 2. lòng bàn tay hướng lên. khi lòng bàn tay hướng về trước mặt. Hơi dừng một lát. Hai chân phân mở đạp thành mã bộ. chân tên bên phải thẳng. Mắt trố ra nhìn quyền bên trái. như để xé rách. tay trái ngoài phải trong thành hình chữ thập chéo. gãy cổ tay làm cho lòng bàn tay hướng về phía trước. làm thành cánh cung bên phải của mặt bên phải. Thân trên đại khái nghiêng về hướng trước.Báo tử xuyên nhai (con báo đi xuyên mé núi) Trước hết đem chân phải đạp đất bước sang phải một bước. Hơi dừng một lát. bàn tay phải ở trước ngực. Hình 8 3. thì đem hai bàn tay dùng sức phân mở hướng về hai bên cạnh giống như cào ở một vật. sau khi trở lại vị trí ban đầu. Sau đó gập khuỷu đưa quyền lên cao. từ dưới nâng lên che thắt lưng. Thân hướng phía trước ngay ngắn như hình 8. lúc đó lòng bàn tay của quyền bên phải đã hướng vào trong như hình 9.

Đồng thời đem bàn tay phải mở năm ngón tay duỗi ra đến mặt bên cạnh. bàn tay cũng nắm lại thành quyền. khi đến cực độ. dùng sức đẩy lên hướng trên. Hai bàn tay thì để lòng bàn tay hướng ra ngoài. Lại như phép trên làm về hướng bên trái một lần. sau khi duỗi thẳng thì dùng sức hướng vào khéo trở lại. hướng sức đi ra phía sau. khi đến bên ngoài thắt lưng thì nắm bàn tay quyền lại bẻ lên hướng trên phía trước. khi đến cạnh sườn thì dừng lại. chân trái thẳng phải. Hai cánh tay đồng thời mở căng hướng sau. Chân phải khuỵu gối. Hơi dừng một lát rồi trở lại vị trí cũ.Báo tử lộng cầu (con báo chơi đùa với quả bóng) Trước hết đem chân phải đạp đất bước một bước về hướng bên phải. (như nắm ở một vật. quyền ngang ở đỉnh đầu. sau đó trở lại vị trí cũ. giống như nâng gẫy hướng trước). Hơi dừng một lát. 20 . Mắt nhìn quyền bên phải như hình 10. Lại như phép trên làm hướng bên trái một lần. duỗi ra đến trước mặt. Đầu hơi ngửa lên. Đồng thời bàn tay trái năm ngón tay mở ra. chân phải thành cánh cung khuỵu gối.Hình 9 4. quay ngược lòng bàn tay ra hướng ngoài. từ từ họp ngón tay lại ép xuống. Thân trên theo đó xoay chuyển. quyền và cẳng tay tiếp sát nhau. Hình 10 5.Kim báo triều thiên (báo vàng chầu trời) Trước hết đem chân phải đạp đất bước hướng sang phải một bước. lòng bàn tay hướng về sau. lại nắm quyền gãy cổ tay làm cho lòng bàn tay hướng vào trong. chân trái thành mũi tên thẳng. Mắt nhìn vào đôi quyền như hình 11.

Đầu hơi lệch về bên phải. Hai cánh tay từ hai bên giơ lên. Tới đó lại đem quyền bên phải hợp vào hướng trong. hai bàn tay nắm quyền. ngang vai thì dừng. Trong lúc xoay thân. Lúc này quyền bên trái cũng gấp hợp vào hướng nơi vai phải. trở lại vị trí cũ rồi lại như phép trên làm hướng bên trái một lần. Sau đó phân mở bàn tay từ từ hướng về hai bên đẩy ra đến khi hai cánh tay thẳng ngang thì dừng.Thân hướng ngay ngắn phía trước. chân phải thành cánh cung khuỵu gối. 21 . Riêng vùng đầu hướng về phía vai trái. động tác cũng giống thế như hình 13. làm thành kiểu cưỡi ngựa.Kim báo trực quyền (báo vàng quyền thẳng) Trước hết đem chân phải đạp đất bước sang bên phải một bước. Hơi dừng một lát. Lại làm nối theo một lần nữa. Toàn thân ngay thẳng hướng phía phải. đến mỏm vai thì dừng. chân trái thành mũi tên thẳng. Phép đó lực cần dừng ở gốc bàn tay mà xuyên suốt ở đầu chót ngón tay. Trong khi thân trên chìm xuống thì chụm hai bàn tay ở dưới khít ngón tay. như hình 12. hổ khẩu hướng lên. Lòng bàn tay hướng về phía trước.Thân trên ngồi xuống. Hơi dừng một lát.Hình 11 6. Hình 12 Long quyền 1-Song long trạo vĩ (đôi rồng vẫy đuôi) Trước hết đem hai chân phân mở ra. gãy khuỷu nâng lên hướng trên. đến khi tay thẳng ở phía trước thì dừng. thả bàn tay rơi xuống.đặt ở đúng ngực giống như hòa? nam.

Bàn tay phải duỗi thẳng phía sau. ba lần thả rớt xuống như thế thì dừng. Hơi dừng một lát. Bàn tay phải thì làm giống như cào vật gãy khuỷu thu trở về.Hình 13 2.Kim long hiến trảo (rồng vàng biểu diễn móng) Trước hết đem hai bàn chân phân mở ra hai bên thành thế giống như cưỡi ngựa. cùng với hai bàn tay và cẳng tay. Lại như phép trên làm một lần về hướng bên trái. Thân cũng theo đó mà xoay chuyển. thành chân phải thành cánh cung hơi khuỵu gối. Hơi dừng một lát. đến phái ngoài hai đầu chót vai thì dừng lại. 22 . Ba lần nâng. Sau khi hơi dừng một chốc lát thì dùng sức gập ngón tay làm giống như móng rồng. Hai mắt nhìn lên như hình 15. Đồng thời vươn thẳng chân phải. Hình 14 3.Khi bàn tay đến trước vai hơi dừng một lát rồi tiếp tục đưa hai cánh tay căng sang hai bên. gập chân trái xuống. Bàn tay trái thì chéo về phía dưới hướng sau làm giống như nhặt vật lên. ngược lại hướng sau. lòng bàn tay hướng trước. chân trái thành mũi tên thẳng. Sau khi quay lại vị trí cũ.Đồng thời đem cẳng tay hướng phía trước ép xuống. Đầu lệch về phía phải. bàn tay trái giơ lên chéo hướng trên. Các vùng thân và đầu đều ngay ngắn hướng về phía trước như hình 14. Thân trên cũng nghiêng chéo hướng bên trái.Bạch long hồi đầu (rồng trắng quay đầu lại) Trước hết chân phải đạp đất bước về hướng phải lên trước một bước. Hai cánh tay thì từ bên trái và bên phải gập khuỷu nâng lên làm cho cẳng tay cánh tay và đầu thành một hình chữ sơn ( ).

Long khí hoành giang (khí của rồng ngang sông) Trước hết bước chân phải về phía phải một bước. làm thành chân phải hình cánh cung hơi khuỵu. Mắt nhìn đầu chót ngón tay phải như hình 16. 23 . Hai bàn tay giao chéo nhau ở trước thân bụng. Ngón tay đều chuyển cong lại. tay trái ngoài tay phải trong.Bàn long thám trảo (long xoay tròn xem móng) Trước hết đưa chân phải bước sang hướng phải một bước. lòng bàn tay hướng về phía trước. tiếp đó tay phải kéo về đặt ở khoảng thắt lưng. biến thành chân phải thành cánh cung khuỵu gối chân trái thành mũi tên thẳng. bàn tay phải thì nâng đến giữa vú. Sau khi quay trở lại vị trí ban đầu. Sau đó đem thân xoay sang hướng trái. lại như phép trên làm hướng phía trái một lần. Theo đúng phép làm lại một lần là dừng. Hơi dừng một lát. đưa từ dưới lên cao lấy đầu nhọn ngón tay ngang lông mày làm mức.Hình 15 4. Ở hình vẽ 17 là của thế lần thứ nhất. Lại từ từ đưa thân xoay tròn sang hướng phải. đẩy ra phía trước đến thẳng cánh tay thì dừng. Đồng thời đưa bàn tay trái quay ngược lại phân ra hướng sau. đồng thời bàn tay trái đẩy ra phía trước. Hình 16 5. Thân theo đó xoay đều. chân trái thành mũi tên thẳng. hơi ngửa về phía sau. Thừa thế đem bàn tay trái nâng lên đặt ở khoang thắt lưng. Hơi dừng một lát. còn bàn tay phải thì xoay lòng bàn tay hướng lên. Thân trên hướng ngay ngắn phía phải.

Thân trên ngồi xuống. Hình 18 XÀ QUYỀN 1-Bát quái xà hình (hình rắn tám quẻ) Trước hết đem hai chân phân mở sang hai bên. 24 . làm kiểu cưỡi ngựa.Hình 17 6. lại như phép trên làm lại một lần. Bàn tay trái gập cẳng tay. Hơi dừng một lát. Hình 18 là thuộc về hướng bên trái của thế đã định. đặt ở dưới rốn. lòng bàn tay hướng vào trong. Thân trên lệch chéo bên trái như hình 19. Thân trên thì nghiêng hướng phía phải. Bàn tay phải thì từ trong ấn hướng đi xuống đến phía trước bụng thì dừng. Sau đó đem bàn tay trái gập ngón hướng chéo xuống ngăn lại đến phía trước bên phải thắt lưng làm mức. làm kiểu cưỡi ngựa. lòng bàn tay hướng xuống. Thân trên hơi nghiêng về bên trái. Bàn tay trái giơ ngang ở bên cạnh.Du long thoái bộ (long đi chơi lùi bước) Trước hết đem hai chân phân mở sang hai bên. lòng bàn tay hướng ra ngoài. đặt ở trên rốn. lòng bàn tay hướng vào trong. Sau đó đem thân trên từ từ xoay sang hướng trái. Đùi trái thừa thế duỗi thẳng. Tay trái ở dưới gẫy cổ tay xoay lên trước mặt đến đúng ngực thì dừng. Bàn tay phải gập cẳng tay. Bàn tay phải đặt ở bên trái thắt lưng. Lòng bàn tay hướng trước. lòng bàn tay hướng trước. Thân hơi lệch phải. thân xoay hướng phải. Bàn tay phải thì đồng thời giơ lên chéo hướng trên.

tay trái gấp cẳng tay đưa lên đặt trên đầu gối trái. Bàn tay phải cũng gập cẳng tay dựng đứng lên. Bàn tay phải thì duỗi thẳng ngón trỏ và ngón giữa. Đầu lệch về bên phải kiểu như hình 21 trên. Sau đó đem thân xoay tròn về hướng phải.Hình 19 2-Bạch xà thổ tín (rắn trắng nôn ra tin tức) Trước hết đem hai chân phân mở sang hai bên. đạp thành kiểu cưỡi ngựa. Hai mắt thì nhìn đầu nhọn ngón tay trái. Sau đó đem bàn tay trái từ trước mặt phân ngang sang bên trái đến ngoài vai thì gập khuỷu co về. chân đạp thành chân phải hình 25 . Hình 20 3. Thân trên nghiêng về phía phải.Lưỡng xà phân lộ (hai con rắn phân nhau đường) Trước hết đem hai chân phân mở sang hai bên. bàn tay phải thì chao đến phía trái. Lại hướng về bên trái định thế.Độc xà hoành lộ (rắn độc ngang đường) Trước hết đem hai chân phân mở ra hai bên. phóng ở phía ngoài vai. Bàn tay trái duỗi thẳng ngón trỏ và ngón giữa đi tìm về phía phải. đưa lên hướng phải phân đi. còn tay trái nguyên gập trước đây thì hướng về phía trái phân đi. Bàn tay phải thì đồng thời đẩy qua hướng trái phóng ở trước bàn tay trái. Hình 20 trên biểu thị chỗ đó. Bàn tay trái đưa đặt ở phía trước bên phải thắt lưng. Sau đó lại đem thân dời đến hướng phía phải. đầu ngón tay ngang với mũi. Đầu hơi cúi xuống. Hình 21 4. gấp ngón tay út và ngón nhẫn. lòng bàn tay hướng vào trong.Tay phải gập cẳng tay đặt trên đầu gối.Đồng thời thân trên hướng bên trái ngồi xuống đến cực độ. gập cẳng tay đưa lên. thẳng vai làm mức. Hơi dừng một lát. cũng gấp hai ngón tay. lại như phép trên làm hướng bên trái một lần. thành kiểu cưỡi ngựa.Thân lệch về bên phải.

Hai bàn tay đồng thời đẩy đi về hướng phải chéo lên. Hình 22 5. Mắt nhìn đầu ngón tay phải. 26 . ngón trỏ và ngón giữa gập cẳng tay mà đặt ở trước ngực. đầu ngón tay hướng bên phải. Hai chân đạp thành chân phải hình cánh cung cong. Bàn tay phải từ trước mặt chao qua chỉ ra. Thân trên xoay đến bên phải phía sau làm mức. Kiểu như hình 22 trên. Hơi dừng rồi xoay thân về hướng trái như phép trên cũng làm một lần.Độc xà thủ động (rắn độc giữ động) Trước hết đem hai chân phân mở sang hai bên. bàn tay trái thì từ trước mặt chao về hướng phải chỉ ra. Thân theo đó xoay đến phía trước bên phải thì dừng. Lòng bàn tay về hướng trước.Bạch xà bàn thử (rắn trắng vòng lấy chuột) Trước hết đem hai chân phân mở ra hai bên hai bàn tay đều thẳng. Thân trên cũng dời xoay về hướng trái. Bàn tay phải thì ở trước mặt từ từ ép xuống hướng phía chéo xuống đến trên mặt bàn tay trái là dừng. như phép trên làm một lần. Kiểu như hình 23 trên. ngồi xuống cực độ. Thân cũng tìm về phía trước. Đem thân trên hơi xoay về hướng phải. đạp thành kiểu cưỡi ngựa. Hình 23 6. chân trái thành mũi tên thẳng. Kiểu như hình 24 trên. Đầu lệch bên phải nhìn lên. Bàn tay trái thì dùng sức từ từ đẩy ra phía sau. Sau đó tay trái rơi xuống theo nơi cũ. đặt ở trước đầu gối trái. Hơi dừng lại như phép trên sau đó làm lại một lần. Thân trên xoay tròn về hướng phải. Sau đó đem bàn tay trái thu về đặt ở trước thắt lưng. Bàn tay phải thì gãy cổ tay chỉ ra hướng trước. Hơi dừng lại xoay thân về hướng trái. Toàn thân hướng về bên phải.cánh cung cong chân trái thành mũi tên thẳng.

Hình 25 2. gập hai ngón còn lại. trở lại vị trí cũ. cẳng tay bẻ lên. 27 . Hơi dừng một lát. đến cánh tay thẳng làm mức. làm về hướng bên trái một lần. Trước là đem bàn tay trái hướng xuống làm giống như cào vật. tay chân trở lại vị trí cũ. Sau đó chân phải đạp tiến một bước.Hình 24 HẠC QUYỀN 1-Bạch hạc lượng xí (hạc trắng cao cánh) Trước hết đem bàn chân trái từ phương gốc bước về hướng trước nửa bước. Hai bàn tay thì đồng thời hướng trái phải phẩy xuống. phóng ở phía ngoài hai vai. Thân trên theo đó mà xoay tròn. Thân và đầu đều hướng về trước mặt. Lại như phép trên. mà hai lòng bàn tay thì hoàn toàn không thay đổi hướng. Đồng thời đem hai tay gập. Hai bàn tay thì duỗi thẳng ba ngón cái. chân phải thành mũi tên thẳng. Thân trên nghiêng về phía trước mắt nhìn nơi trên. thu tay trái về. Lại lấy chân phải đạp về phía trước như phép trên mà làm. Kiểu như hình 25 trên.Dã hạc tầm thực (hạc hoang kiếm ăn) Trước hết đem chân trái bước ra hướng phải một bước. Hơi dừng một lát. Kiểu như hình 26 trên. đổi dùng tay phải hướng xuống làm như cào vật. đến ngay phương phải đạp thành chân trái thành cánh cung. gập cẳng tay nâng lên. lòng bàn tay ra hướng ngoài. trỏ. Với bàn chân phải phía sau thì bước thêm về phía trước một ít. Đầu ngón tay hướng lên trên. Sau đó đem mũi bàn chân hơi hơi nhấn lên. giữa.

Đầu lệch về bên phải. lòng bàn tay hướng xuống. Hình 27 4. Gập cẳng tay nâng lên đặt ngang ở phía trước mỏm vai. sau đó xoay thân hướng phải. Kiểu như hình 28 trên.Hình 26 3. Sau đó lại đem hai bàn tay gập cẳng tay lại từ phía dưới chao chéo lên. Bàn tay phải theo đúng phép duỗi ra. duỗi đi về hướng phía sau. như phép trên làm như thế. Lại nâng chân trái lên. đầu gối đạt tới ngang bụng. giữa. Lại xoay thân hướng trái. giữa mà gập hai ngón còn lại. Trước hết đem hai chân mở sang hai bên. trỏ. Hai bàn tay đều duỗi thẳng 3 ngón cái. khi đến ngang vai thì phân mở hướng hai bên phải trái. Lòng bàn tay hướng xuống. đến khi thành hình chữ nhất thì dừng. Sau khi toàn thân hướng về bên trái. Kiểu như hình 27. Ở lúc bàn tay làm động tác.Trưởng cao độc lập (đứng một mình cao lớn) Trước hết đem hai bàn tay gập hai ngón út và nhẫn. Bàn tay trái thuận thế.Hùng hạc loát linh (hạc trống rỉa lông). nâng lên hướng trước. Bàn tay trái thì thu về đặt ở phía trước vú phải toàn thân dời về phía trước bên trái. trở lại vị trí cũ. thì hơi dừng một lát. nâng lên trước vai. duỗi thẳng ba ngón cái. Bàn tay phải ấn xuống đến trước vú bên trái. Hình 28 28 . Mắt nhìn đầu ngón tay bên phải. trỏ. chân phải gập gối nâng lên hướng trên. Hơi dừng một lát.

Hai cánh tay từ bên cạnh nâng cao lên đến khi thành hình chữ nhất thì dừng. Hơi dừng một lát. nâng chân trái lên. nhưng đều là người sau này sưu tập ở ngoài và có sự phụ họa thêm vào mà thành. lòng bàn tay hướng trước. giữa theo đúng phép trưởng cao độc lập. Bàn tay phải thì từ phía bên cạnh gấp cẳng tay đưa lên đến phía ngoài vai. Riêng kinh Dịch cân trong cửa Thiếu Lâm.Hạc trảo ấn sa (móng hạc in trên cát) Trước hết đem toàn thân xoay hướng phía phải. sai còn chưa khẳng định. sau đó hướng về phía trước đẩy ép mà xuống. Kiểu như hình 29 trên. do nhiều cách truyền cũng chưa mất hẳn. khuỷu tay hơi gấp. chắc chắn không biết cái đó có thể thu hiệu quả ra sao. Người ngày nay nói về Dịch cân kinh lại phân làm Ngoại công Dịch cân kinh và Nội công Dịch cân kinh. khi bàn tay đến ngang vú thì dừng. và không đạp thật. vượt cao hơn mọi võ công. Hình 30 16. Chân phải đạp tiến phía trước một bước. trỏ. Đầu hơi ngửa về phía sau. Lại như phép trên làm hướng sang trái một lần.Lãnh hạc thủ mai (hạc bị lạnh giữ cây mai) Trước hết đem thân thể xoay chuyển về hướng phải. Sau đó đem hai bàn tay từ bên cạnh thu vào ôm lấy đầu gối. Cái đó cao sâu áo diệu. tay trái ở trong. trở lại vị trí cũ. Tay trái thì từ phía dưới dùng sức hơi gập của cẳng tay đưa lên hướng trên. Chân phải đồng thời gập gối nâng lên hướng trên. đầu gối cao tới vú. Riêng với bản khắc ở thế gian. NỘI CÔNG THIẾU LÂM VÀ DỊCH CÂN KINH Nội công trong cửa Thiếu Lâm lấy hai kinh: Dịch cân. không dễ lãnh ngộ.5. Dịch nghĩa là thay đổi. Thế gian đã có sách đó. Hình 29 6. Cân là gân mạch. lòng bàn tay hướng xuống. tới ngang trước mặt thì dừng. mà bản gốc đó đã sớm thất truyền. trở lại vị trí cũ. Kinh Tẩy tủy vốn là nhà tiên lấy ý thay lông rửa tủy. dùng riêng đầu ngón chân chấm đất. Kiểu như hình 30 trên. cũng là nói một cách khiên cưỡng. tay phải ở ngoài. đúng. thực hiện như phép trước một lần nữa. mà duỗi ba ngón cái. Lại xoay hướng phía trái. Hai bàn tay đều gập ngón út và ngón nhẫn. Tẩy tủy làm tối tinh thuần. Người ta thử khảo nghĩa của mệnh danh đó thì có thể biết Dịch cân kinh chỉ có một kinh. Nói Dịch Cân là nói đến sự biến đổi bỏ đi cái nguồn dẫn 29 . Hơi dừng một lát. ví như nhổ củ cải bỏ vào buồng chứa sâm. không có nhiều chỗ chứa sự phân tích nhấn mạnh.

ở nơi rộng rãi thoáng sạch. Nhưng cần làm đều hàng ngày liền nhau. chỉ riêng đánh tránh vào tai. Người ngày nay không biết. thì từ người tinh thần yếu đuối có thể cấp tốc phấn chấn. mỗi đoạn có động tác khác nhau. làm cho lòng bàn tay hướng xuống. và lấy bộ hậu làm nội công Dịch cân kinh. Bản khắc của ông Tưởng và bản khắc ngoài phố có chỗ giống và chỗ khác nhau. Nơi đặt bàn chân. mới đem mười ngón tay vận sức giơ nâng như cong đuôi chim hướng trên. Hai chân phân mở. Khi làm 30 . miệng nên ngậm khít. không thể hơi có mở khép (chớp mắt). có thể biến đổi gân xương làm cho cứng rắn hữu dụng. bộ hậu đó rất là tinh áo đã làm thành công qua con đường đó. mà chỉ sau khi luyện công phu đó lâu ngày thì có thể làm cho gân xương đó rắn cứng. Bộ tiền đó rất dễ luyện tập. ở cùng ấp với tiên sinh Tưởng Cận Vi. Hàm răng tiếp nhau. 17. Đó đúng là người đời không biết xem xét tỉ mỉ nghĩa của tên gọi đó. không thật sự có thể làm cho kinh lạc của cơ thể con người tự biến đổi trở thành gân cứng rắn. đem bàn tay hơi nâng lên một chút đến hơi dưới vùng thắt lưng làm mức. kinh Dịch cân thì không chỉ thấy bản đó rất nhiều. Hiện nay người ta đã lấy bản đó làm bản khắc. nội công Dịch cân kinh có 24 đoạn nay đã thất truyền. Nói chung cấm đứng thành hình chữ bát. Bản ấy do Tôn Kiểu Khê đã từng mượn đem về sao chép lại chính chỗ tinh áo đó. là bí quyết của nhập môn. Sau một năm. không làm cho chạy đi tiểu tiện. bỏ đi tạp niệm. Nếu như lười bỏ không chăm. Kích động khí ở bụng. cần chú ý ngón và mu bàn chân cùng một phương hướng. PHÉP LUYỆN TẬP TIỀN BỘ DỊCH CÂN KINH Bộ Dịch cân kinh này bày ra các phép. chỗ gọi là dịch cân. Đoạn thứ nhất Mắt hướng về phía Đông mà đứng. mà mỗi cái có chỗ diệu của nó. mà đã từng học tập việc đó. Đây lại có thể chứng tỏ Dịch cân kinh có thể lấy chống đỡ đao thương mà không phải là nói suông. đúng là nhầm to. khoảng giữa cách nhau chừng một thước mở rộng ngang. mà không biết là tổng cộng tiền hậu chỉ có 24 đoạn. Ngưng thần điều hơi thở. có thể vận nhu thành cương để chống đỡ sự hỗn láo bên ngoài. toàn bộ có 24 đoạn. Mà công phu của dịch cân thuộc về ở nội công trong cửa Thiếu Lâm. người đã được chân truyền ở vị sư già Thiếu Lâm. thắng ở lúc đi luyện như thoát thai đổi xương. theo đúng phép luyện tập. Đầu lưỡi liếm cong lên ở vòm trên. đợi sau khi làm xong 12 đoạn. Cũng là nói sau khi luyện tập công ấy. ta không dám để lại sự đùa cợt ở tai người hiểu biết". thần trọn vẹn khí đủ. mà quên phân tích thêm. mà khí lực của hai cánh tay tất cần đi xuống giống như ấn xuống bàn nhảy thân lên. hết vòng thì trở lại từ đầu. ông thường bảo người ta lấy dao sắc đâm chém mà không thể bị thương. là vào trung thừa của nội công. tròng con mắt cần yên một chỗ (định). Kinh tẩy tủy ta không thấy được. Từ đó nhìn lại. Nên ở lúc sáng sớm và chập tối. Thực không chỗ nào gọi là phân ra nội công. Nói chung không thể có chút đứt quãng. để tiện cho người luyện tập được tiến dần dần và đều thuộc ở trong nội công Thiếu Lâm. do có sự chăm chỉ tập luyện ở giai đoạn trước đây. Tôi được biết. Sau khi luyện thành bước công phu đó. lại có giữ bản thật. người tinh thần khỏe vượng thì thực lực tăng thêm. lại không được phân định gò ép. Đầu ngón tay hướng trước. Sau đó đem hai bàn tay gãy cổ tay ngang lên. được phân làm hai bộ tiền hậu. mỗi buổi sớm tập luyện ba lần. Lại từ từ gập qua loa khớp khuỷu. xin nhắc lại lời của Tiểu Khê để cho người học thức ở đời biết rằng: "Dịch cân kinh chỉ phân hai bộ tiền hậu. ngoại công. thì công hiệu đó đã cùng tên với dịch cân. Lại có người nói ngoại công Dịch cân kinh có 12 đoạn là phép làm thông tới ngày nay. tức là cái mà dân gian truyền đây là ngoại công Dịch cân kinh. sau khi luyện tập một năm tuy chưa thể biến từ người đàn ông mềm yếu làm thành người con trai khỏe mạnh nhưng đã tránh xa bệnh chết. Hai mắt mở to nhìn hướng trước. Công phu đó đều từ trong Dịch cân kinh mà luyện được. Nghe Tiểu Khê nói: Tiên sinh Cận Vi có thể vận khí ở toàn thân. Bản thân ông có nhiều bệnh. mà gốc bàn tay thì vận sức nhấn xuống. lại từ đoạn thứ nhất luyện trở lại. một kinh Dịch Cân đúng là truyền từ Chấn đản sư tổ Đạt Ma thiền sư. đều lấy bộ tiền làm ngoại công Dịch cân kinh. Riêng hai bàn tay tuy nâng lên. quyết không thể hẹn thời gian thu hiệu quả. Sau khi hơi dừng quãng giữa. điều này có thể chứng tỏ công phu này đúng là có đủ công hiệu tuyệt lớn. thân thể bình yên. Vùng đầu hơi cao hướng trên. mắt và hai má tai. Cộng có 12 đoạn. đúng là có cái diệu thay xương đổi gân. Để không có sự nhầm lẫn. nếu không thì lại gượng ép phân riêng phái.đến suy nhược vô dụng của gân mà thay đổi làm cho gân có sự rắn cứng hữu dụng.

Khi làm nên để thần trọn vẹn đi xuyên suốt ở khoảng lòng bàn tay và ngón tay. toàn thân đứng ngay ngắn. Dừng quãng giữa quán khí. lực do khí sinh mà đi ở ngoài. phải là đại kỵ. lực không chuyên chú. Hai bàn tay thì đem ngón tay gập chuyển thành nắm quyền. Như thế một bay lên. Cần im lặng ghi nhớ đoạn này. lại buông ngón tay xuống. Nếu như thần khí phân tán. Chầm chậm làm bốn mươi chín lần là hoàn tất công phu đoạn thứ nhất. Khi làm nên ngưng thần rót vào trong khí. Một giơ nâng như cong đuôi chim. Cẩn thận cái đó (xem hình 31). riêng ngón cái duỗi thẳng. Khi làm đoạn thứ hai. hoàn toàn giống với đoạn thứ nhất. không thì chẳng những không được thêm. một nhấn xuống. vạn vật sinh ra. được bộ máy hoạt động. chuyên tâm nhất chí. Hai cánh tay thì nên dùng cách nâng lực khí làm cho khí lực thu lên. công phu đoạn thứ hai đã xong. Lòng bàn tay với mặt đùi dán vào nhau. Sau lâu ngày thì theo thần đến mà vận ở trong. trở về như cũ. nâng gốc bàn tay lên. đều từ kiểu đó mà hóa sinh. Tới đó sau khi hơi dừng giữa chừng một lát. để tránh cái tệ quá mệt. Động tĩnh vì nhau mà âm dương phân mở. Lúc đó nắm quyền cực lỏng. Khi hai bàn tay nâng lên. để trở lại hình dáng cũ. Thời gian thư giãn nghỉ ngơi đó thì không hạn định nhất định. ấn đó gọi là thế "Hỗn nguyên nhất khí" tượng của tiên thiên. các ngón còn lại cũng từ từ mở lỏng ra. thì đem từng ngón tay cái của bàn tay cong như đuôi chim lên hướng trên để đến hết mức. Sau khi đến cực độ lại dừng quãng giữa một chốc lát. mà sức của hai cánh tay cần đi xuông nhất định không chút nào nâng lực khí (đề kình). Cao đầu mở to mắt nhìn. Kích động thì ngậm miệng. mà còn tổn ở gân xương. Sau khi nắm quyền đã yên thì đem dời quyền đặt ở mặt trước của đùi. không thể dùng sức. làm cho gân xương toàn thân thư giãn. Trong ngoài hợp nhau mà vượt qua tất cả.phải cực từ từ. một ấn xuống là làm một lần. 31 . không thể rời nhau. làm bốn mươi chín lần. việc dùng chọn vẹn sức. Xem hình 32. Hình 31 Đoạn thứ hai Sau khi làm đoạn công phu trước đã xong thì đem khí lực thu lên trở lại trạng thái đứng gọn bình thường. nhất định không thể quá đến trên thắt lưng. hai ngón tay cái thì từ từ buông xuống. Cho nên các đoạn từ đây trở xuống. được tĩnh định. Hai ngón tay cái thì xa xa nhằm vào nhau. Sau khi hơi dừng chốc lát. Trước hết đem hai chân chụm lại. Đồng thời bốn ngón còn lại của bàn tay thì dùng sức nắm khít. Một khít một lỏng làm một lần.

ngón tay có thể càng cong lên như đuôi chim càng cao. Chỉ lấy chi thể thân người. mà khí lực dễ đạt tới khoảng bàn tay và ngón tay.Hình 32 Khi cong ngón tay như đuôi chim. lại làm nối theo đoạn thứ ba. kiêng làm hình chữ bát. khiến cho quyền có thể càng nắm khít. mắt trố. Đoạn thứ ba Sau khi làm xong đoạn công phu thứ hai. Sau khi hơi dừng giữa chừng một lát. Khi hành công. Sau khi hơi hơi dừng lại giữa chừng thì đem hai quyền từ từ nắm khít đến cực độ thì dừng. phải để khí lực rót xuống. Đoạn này đứng ngay ngắn như trước. lại từ từ thu sức ở cánh tay. cho nên hành khí sai khiến lực. quyền cũng được nắm cực lỏng. Khi khít thì khí lực rót xuống. Nhìn ở mặt ngoài. miệng ngậm. bởi vì đều đủ để hao khí tán lực. Hai bàn tay thì trước hết đem ngón cái cong đặt vào lòng bàn tay. Xem hình 33. thực là phổ cập tới toàn thân. Hai tay nắm quyền đặt ở hai cạnh đùi. Kích động khí trong bụng. thân thể lắc động. không thì thân thể dễ lắc động mà đưa đến thần khí tản rời. không chỗ nào không đến. khoảng giữa cách nhau trên dưới chừng một thước. Hai cánh tay thõng thẳng xuống. nghỉ ngơi qua loa một chút. Cộng làm bốn mươi chín lần là xong công phu đoạn thư ba. Làm đoạn công phu này. Khi ở trên tay. mà nguồn dòng của khí lại từ trong phủ đi chảy mà tới. vùng cánh tay trên lại không dùng sức. Đầu cao. xuyên suốt ở khoảng ngón tay quyền. ngón chân và mu bàn chân nhất định thành đường thẳng. 32 . giống như công phu chăm chỉ tới ngón tay và cánh tay. tức là dùng lực đem hai cánh tay vươn thẳng. phía lòng bàn tay dán vào đùi. không thể không thông liền. tối kiêng thở hít miện mũi. răng đụng nhau. Trước hết đem hai chân phân mở. làm cho khớp khuỷu tay lồi ra. khi thả lỏng thì khí lực nâng lên. Đồng thời vận lực ở cánh tay làm cho rót xuống. cũng nên thực hiện từ từ chậm chậm. thả lỏng ngón tay quyền. bốn ngón còn lại thì nắm khít mặt ngoài ngón cái. lưng của quyền hướng ra ngoài. mà trở lại hình dáng cũ. không thể hơi xen lẫn ý nâng lực khí. một rót xuống một nâng lên. Không thể làm cho có chút lỏng nổi. Vùng đùi nên vận sức rót xuống. Một khít một lỏng như thế làm một lần. giống với đoạn hai.

Nếu như tinh. Cũng chẳng dừng ở một đầu mối. Cộng làm 49 lần xong đoạn công phu thứ tư. lòng bàn tay nhằm vào nhau. Trước hết đứng ngay ngắn toàn thân. Sau đó đem hai ngón tay cái gập lại đặt trong lòng bàn tay. Dùng khí lực của hai đùi rót xuống để chắc chắn bàn chân dưới. thì đem quyền buông lỏng ra. đây thì phân mở. nhưng khí lực thì rót về phía trước hoàn toàn. Đoạn thứ bốn Sau khi đã làm xong công phu đoạn thứ ba. làm cho khí lực trọn vẹn ở cánh tay rót xuống ở quyền. trên thì chụm chân. lực không trộn nhau. hổ khẩu hướng lên. thì luyện trăm năm cũng là vô ích.Hình 33 Theo đúng điểm chủ sức của đoạn này. Hai chân phân mở cho nên vòng tròn dưới chắc chắn. mà hai cánh tay đồng thời duỗi đi hướng trước. Nắm ngón tay cái trong lòng bàn tay. khoảng cách xa nhau giữa hai quyền thì bằng với độ rộng của cạnh vai. khí. hai vai nhất định tìm ra 33 . cũng làm cho tinh thần và khí lưc trộn chung làm một. mà lồi khớp khuỷu đó. Xem hình 34. là vận lực đem quyền nắm lại khít khít để đến cực độ. phép hành khí ở quyền và cánh tay. Chỉ nắm quyền duỗi cánh tay. thần. hai bàn chân chụm lại. thu khí về vẫn duỗi cứng hai cánh tay. cần chú ý ở thần khí rót xuyên suốt. Khi duỗi ra nhất định cấm động tùy tiện về bên trái bên phải. Một nắm một thả lỏng làm một lần. Khi nâng lên. làm cho khí lực tiến thì rót vào quyền và cánh tay. Sau đó lại làm nối theo đoạn thứ tư. Hơi dừng nghỉ giữa chừng một lát. Hình 34 Theo đúng một đoạn này là phép rót khí đi ngang bằng. Đoạn này so với các đoạn kể trên không giống nhau. cho nên đầy lòng nắm đấm mà dễ ở gặp lực. ngoài động tác. còn động tác ở các đoạn không mấy khác nhau. hai cánh tay nên thẳng. Vị trí tuy không thể duỗi về phía trước bao nhiêu. lại lấy các ngón còn lại gập đặt ở ngoài nắm lại thành quyền. Cánh tay vươn hướng xuống. lùi thì chảy đi vào vai và lưng trên. để thư giãn gân xương. nhất định không phân biệt với đoạn trên. Dừng nghỉ giữa chừng chốc lát. không dễ động lắc. tất đều phải mỗi cái có dụng ý riêng. trên thì duỗi thẳng ngón cái mà đây thì gấp nắm ngón tay cái. Hai quyền từ hướng trước mặt đưa nâng lên hướng trên. lấy ngang vai làm mức. nhưng trong dó có chỗ khác nhau. Khi hành công. một nâng lên một rót xuống. Đạt thì đạt trọn vẹn. thân trên nhất định cấm động lắc. nghỉ ngơi chốc lát. thu gom thì thu gom trọn vẹn.

là hại rất dữ dội. hai chân cũng kiễng cao lên. sẽ nhất đinh kéo căng. Đen hai bàn tay nắm quyền rất lỏng. lưng trên đều có gân có thịt.Toàn thân đứng ngay ngắn. Cho nên cần hết sức chú ý. khi nắm cũng cần buông lỏng. Đây đúng là phép vận ý mà đưa vào sai khiến khí lực. làm nối đoạn thứ năm này. Khi giơ hai cánh tay lên. Tối kỵ của đoạn này là khi làm dùng sức hai quyền động tùy tiện về hướng trái hướng phải. hai chân căng chụm. có nghĩa là vận khí ở hai cánh tay đó trọn vẹn sức đi hướng thụt xuống. không thể đứng thẳng. nhưng không được dính khít tai. thắt lưng. Hai bàn tay thì đem ngón tay cái thả ở mặt ngoài lấy bốn ngón còn lại nắm quyền. lòng bàn tay hướng vào nhau. thụt xuống cánh tay. Đùi háng hư phù thì nhất định làm cho thân động lắc. Bởi vì lên xuống nhanh mạnh hai gót dễ bị kích động. Nhất định không thể đứng thành kiểu chữ bát. bụng. Cộng làm 49 lần là xong công phu đoạn thứ năm. đem thân trên dạng như thu về. khó cho hành công. Bởi vì hai nắm tay quyền động tùy tiện thì khí lực toàn thân không thể chuyên chú ở trước mà đi tán loạn bên cạnh. mắt mở to nhìn.hướng trước. thu hồi khí lực. Sau đó đưa hai cánh tay từ bên cạnh giơ lên. Ngừng nghỉ giữa chừng chốc lát. Nếu khí lực không rót vào thì đùi háng hư phù. sau đó đưa ngón tay cái đặt ở ngoài khớp đốt các ngón tay. Hai gót cũng từ từ thả xuống. cần phải thực hiện từ từ. Như thế một lên một rơi xuống làm một lần. Rất cần chú ý trong đoạn này là khi đang nắm khít đôi quyền. đầu cao. chứ không phải là đem hai cánh tay làm động tác thụt xuống. Xoay lòng bàn tay hướng ngoài từ từ theo hai cạnh nâng lên. lại đủ để rước hại. lại đem hai quyền nắm khít chặt lại. để hai gót chân cách đất trên dưới một thốn làm mức. ngưng thần kích động khí như hình dạng đoạn thứ nhất. lòng bàn tay hướng lên. nơi nơi đều căng kéo. Việc nâng gót chân định ngón chân thì nơi háng đùi nhất định khí rót xuyên suốt mà sau đó rắn đầy. Khi hai tay giơ lên. chảy rót vào các vùng vai và lưng trên. Lúc này khí lực trọn vẹn thấu về phía trước. nhưng đến cách đất trên dưới một thốn thì dừng. mở to mắt. Làm như thế không những không đủ để thu được ích.sườn. là muốn làm cho gân thịt ở các vùng vai. phải đặc biệt chú ý. Toàn thân đứng ngay ngắn. Hơi dừng nghỉ chốc lát. để cho khí lực dễ rót chảy tiến lùi. sau đó làm nối đoạn thứ sáu. Xem hình 35. Đoạn thứ năm Làm đoạn công phu thứ bốn xong. Gót và ngón chân cần phải thẳng. Đợi lỏng bàn tay thu sức. Đoạn thứ sáu Làm xong đoạn công phu thứ năm. vai tìm vế hướng trước. Hai cánh tay cần mở cách chỗ bờ tai một thốn. khớp khuỷu hơi cong. Trước hết hai chân phân mở. cao đầu. đủ để ảnh hưởng tới não và buồng tim. Hơi dừng nghỉ giữa chừng chốc lát. Hai gót chân lên xuống. nghỉ qua loa. ngực. Hai cánh tay thì rút sức hướng tụt xuống giống như khi kéo ở ống sắt. không được nhanh mạnh. lưng trên. khí lực cũng bởi thế mà đi lui. bởi vì kiểu chữ bát sức không chuyên chú mà dễ động lắc. miệng ngậm kích động khí như trước. Hình 35 Theo đúng một đoạn công phu này là phép đem khí lực rót chảy toàn thân. hổ khẩu hướng về phía sau. Khi hai cánh 34 . như khắp gân thịt hoàn toàn lỏng lẻo. đồng thời hai gót chân lại thừa thế nâng lên hướng trên đến cực độ là dừng. lại đem hai quyền từ từ thả lỏng. Miệng ngậm răng cắn. không thể quá khít. hai bàn chân song song và ngang bằng nhau. cách nhau chừng trên dưới một thước. dựng đứng ở trên đầu. Thế tán thì thần loạn.

Hai bàn tay thì mỗi bên đều đem bốn ngón nắm ở mặt trong. Đây đều thuộc về dùng sức. thì vận lực ở cẳng tay. thì trong lúc dùng sức. Để trở lại hình dáng cũ. từ từ hướng sang bên trái. khớp ngón tay. Xem hình 36. đưa cẳng tay dựng đứng lên gập vào trong. Kích động khí miệng ngậm như trên. Hai gót chân luôn chạm đất. Cánh tay trên thì dùng sức đẩy hướng lên. 35 . Cẳng tay thì dùng sức gập vào hướng trong. lùi thì rót chảy ở vùng vai. Làm như thế cộng là bống mươi chín lần là xong công. Quyền để cách xa tai hơn một thốn làm mức. Hai quyền từ từ thả mở ra. Nếu như cử động nhanh mạnh thì nhất định khó tránh xảy ra. Lòng bàn tay thì hướng về chỏm vai. Toàn cánh tay thành hình tam giác. lại đem mũi bàn chân từ từ thả xuống. Cẳng tay gập vào trong thì gân thịt căng kéo mà khí lực dễ chảy đi. Từ trong mũi hít vào một miếng khí sạch. Hình 36 Theo đúng đoạn công phu này. nghỉ ngơi chốc lát. Một khít một lỏng như thế là một lần. thì đem quyền từ từ nắm khít để đến cực độ. Đến lúc mũi bàn chân nâng lên muốn làm cho phía dưới bàn chân chắc thực mà không hư phù. Đoạn thứ bảy Sau khi làm công phu đoạn thứ sáu. bên phải phân đi. hơi dừng chốc lát. Sau khi hơi dừng giữa chừng chốc lát. Đồng thời đem quyền từ từ nắm khít. từ phía trước mặt giơ lên đến trước vai. hít hết một miếng. thì đem hai mũi bàn chân từ từ đẩy lên cách đất chừng hơn một thốn. cần phải chậm chậm từ từ theo việc. thoạt đầu chậm để làm cho ngoại vi lồng ngực nở ra mà có thể lấy hết lượng khí thở hít. không lấy hình thức mà làm. Từ đầu tới cuối cộng là bốn mươi chín lần là xong một công phu đoạn thứ sáu. khi thành hình tam giác vuông. toàn thân thẳng đứng. mặt quyền hướng vào hai tai. Nắm quyền rất lỏng. Đồng thời từ trong miệng thổ ra một miếng trọc khí. nơi nơi động sức. Một thở một hít cho nên điều hòa nội tạng là ý thổ trọc nạp thanh (thở khí dơ bẩn ra nạp khí sạch sẽ vào). Theo đúng đoạn này là phép vận làm cho khí lực đi bên cạnh mà kiêm điều hòa nội phủ. làm nối theo đoạn thứ bảy. Nội phủ và mọi cơ quan cũng từ đó mà có thể duỗi giãn. Gót chân dính đất. không chút lơi lỏng. hai cánh tay không được rung rẩy. cao đầu. còn ngón tay cái thì gõ ở ngoài khớp các ngón. khí lực nếu như không rót xuyên suốt. Duỗi cánh tay nắm quyền làm cho tăng thêm khí lực. Sau việc hơi dừng nghỉ giữa chừng thì từ từ thả mở để trở lại vị trí cũ. mở to mắt nhìn. đến ngang bằng vai thành hình chữ nhất thì dừng. khuỷu tay. Thân trên thì hơi ngửa hướng sau. Kiểu như hình 37 trên. thì không những động lắc mà thấy đứng nghiêng đổ. thân trên nhất định không được động lắc. Trong khi thực hiện. Hai chân đứng chụm lại. cho nên khi làm thân trên nhất định cần ngửa ra sau. Lòng bàn tay hướng xuống. Người học ở đây cần chú ý. lưng trên vòng ngoài ngực. Muốn tránh cái đó.tay thẳng đến ngang vai thì gập xoay khớp khuỷu. Sau khi hai cánh tay phân mở. là vận làm cho khí lực tiến mà rót chảy ở khoảng cánh tay.

mắt nhìn phía trước. đem ngón tay cái gập đặt ở trong lòng bàn tay. lại đem quyền từ từ thả lỏng. Khoảng cách giữa hai quyền không lấy khoảng cách hai vai làm chuẩn. Lòng bàn tay nhằm vào nhau. Chụm chân đứng ngay ngắn. nhất định cần ở ngay phía trước nâng lên.Hình 37 Đoạn thứ tám Sau khi làm xong đoạn thứ bảy. nghỉ ngơi chốc lát. lấy ngang vai làm mức. Sau khi nắm khí đôi quyền. lại làm nối đoạn thứ chín. đến đúng mặt làm mức. Đồng thời đem cẳng tay dùng sức xoay chuyển hướng vào. Quyền nắm rất lỏng. miệng ngậm kích động khí như trước. mũi bàn chân luôn dính đất. Khi bàn chân chạm đất cần cực nhẹ. Khuỷu cánh tay gập thành hình tam giác. Phép đoạn này với đoạn bốn. Chỗ khác nhau với đoạn thứ tư ở trên là: Mức xa gần của khoảng cách hai quyền. mắt mở to nhìn. Hai quyền cách nhau chừng hơn ba thốn. Lại đem quyền từ hướng trước mặt nâng lên. Một khít một trùng như thế là một lần. cho nên một đoạn công phu này là khó so với đoạn thứ tư. thì hai gót chân cũng từ từ nâng lên cách đất chừng hơn hai thốn. lòng bàn tay hướng ngoài. nâng đến phía trước bụng thì gập hai cẳng tay xoay lên hướng trên. lại nên đem hai cánh tay phân đi hướng ngoài để đến khi giữa vai với khuỷu ngang bằng nhau. Khi giơ hai quyền lên. Hai chân chụm khít. Sau khi dừng nghỉ giữa chừng chốc lát. Hình 38 Theo đúng đoạn này luyện động lơ lửng ở không trung. cánh tay trên thì dùng sức ép ra 36 . đầu ngay ngắn. Trước sau cộng làm bốn mươi chín lần là xong công. Sau đó đem hai quyền dùng sức từ từ nắm khít để đến cực độ. thân trên cần thẳng. Đoạn thứ chín Làm xong đoạn công phu thứ tám. Xem hình 38. khoảng chừng hai ba thốn. Giấu hơi thở kích động khí như trên. Hai mặt quyền thì chéo hướng về hai cạnh chót mũi. hổ khẩu hướng lên. làm cho khí chảy rót ở các vùng trên dưới. mà cách nhau tương đối ần. nâng gót và không nâng gót chân. Sau đó lại đem quyền từ từ nắm khít để đến cực độ. Đến khi thả lỏng thì lại từ từ hợp cánh tay lại. Điểm khó nhất của đoạn này là không được để thân trên hướng trước sau cúi ngửa mà làm cho bàn chân dưới không thể đủ chắc chắn. Nắm quyền rất lỏng.Toàn thân đứng thẳng. giống cái lớn mà khác cái nhỏ. đầu cao. lại làm nối đoạn thứ tám. lấy bốn ngón còn lại nắm phía ngoài. nghỉ chốc lát. Trước hết đem hai ngón tay cái gập xoay đặt ở trong lòng bàn tay. hai gót cũng nhè nhẹ rơi xuống. Sau đó đem hai quyền từ phía dưới nâng lên. lại lấy bốn ngón còn lại nắm quyền ở bên ngoài.

Đồng thời hai cánh tay dùng sức đỡ hướng lên. từ đầu đến cuối cộng làm bốn mươi chín lần là xong công.phía trước. Hình 39 Theo đúng đoạn này thì xoay cẳng tay hướng lên trên. trong tâm phải nghĩ làm như là có. Cho nên đặc biệt cải chính thêm. đồng thời vận dụng khí lực. lại từ từ thả lỏng hai quyền. Cộng làm bốn mươi chín lần thì xong công. Khi nâng hai cánh tay và đầu đúng là thành hình chữ sơn ( ). Nhưng đều dùng hư lực. Sau khi dừng nghỉ giữa chừng qua loa. cao đầu. Đoạn thứ mười Sau khi làm xong đoạn công phu thứ chín. Đoạn này bản ở ngoài phố nhầm lẫn rất nhiều. lại vận sức của khuỷu tay phân đi hai bên hướng trái phải ngang nhau với đầu chót vai. không khó lãnh ngộ (nhận và hiểu). nên giống như dạng nắm cần câu vật nặng xoay nâng lên hướng trên. như muốn làm cho cái đó tụ họp lại. lại làm nối đoạn này. Khi đến ngang vai. tuy trong bàn tay lại chưa có cần câu. miệng ngậm giấu hơi thở. để đến cực độ. Hai khớp khuỷu thì ép ra hướng ngoài. Hổ khẩu hướng hai tai. Sau khi hơi dừng việc giữa chừng. Như thế của hai tay đỡ ngàn cân. Đem hai ngón tay cái gập đặt ở trong lòng bàn tay. và chỉ ra cái nhầm đó để thông báo với người học chỗ không giống với đoạn thứ tám đó. Lòng bàn tay hướng trước. Giơ thẳng làm mức. đã đem nói lẫn làm một với đoạn thứ sáu để lại cái nhầm cho người đời không biết bao nhiêu mà kể. để trở lại tình trạng cũ. Như thế dừng giữa chừng chốc lát thì từ từ lỏng tay. Lòng bàn tay hướng về phía sau. thu về khí lực ở các vùng. Lại đan hai cánh tay giơ lên theo mặt trước. nghỉ chốc lát. Nhưng cần phải xem thêm hai cái dưới. Hổ khẩu dán vào đùi. Kích động khí ở trong. Một khít một lỏng như thế là một lần. tròng mắt mở to nhìn. ưỡn ngực. khớp khuỷu thì phân dẫn hướng ra mặt sau các vùng. hai chân chụm khít. Xem hình 39. Một khít một lỏng như thế là một lần. mà lại không có hình của động tác đó. từ từ đem quyền nắm khít. để bốn ngón còn lại nắm thành quyền và không nắm khít nhiều lắm. Hình 40 37 . Đứng ngay ngắn như trước. Xem hình 40. đồng thời hai cẳng tay cũng dựng đứng lên trên.

Hơi dừng việc giữa chừng một lát là đem bốn ngón tay của mỗi bàn tay từ từ khít quyền đến cực độ. Đoạn mười hai Làm đã xong đoạn công phu mười một. đầu chót ngón tay hướng xuống. bỏ đi chỗ đó người học nên tìm tòi suy nghĩ mà phân biệt rõ để tránh dẫn đến sự sai lầm. miệng ngậm. Lại nâng bàn tay như trước. hai bàn chân chụm lại. Một khít một lỏng như thế là một lần. hai tay từ từ thả xuống. mà hai ngón tay cái thì dùng sức cong lên như đuôi chim. thì từ trong miệng thổ ra một miếng khí dơ bẩn. mắt mở to nhìn thẳng. Dừng việc giữa chừng một lát. Đúng là cần tột bậc. Hai bàn tay mỗi cái đem bốn ngón gập trong lòng bàn tay. khuỷu tay đem quyền nâng lên hướng trên. còn lại đều không có hình của động tác. Xem hình 42. Hai bàn chân chụm khít. Trừ nắm quyền ra. không thể rót xuống. Trong khi hai tay giơ lên. Bản thường ở ngoài phố không biết mục đích ý nghĩa tinh thần trong này. cái đó có thể được chăng? Nhầm. Xem hình 41.Theo đúng đoạn này lại luyện khí lực đi lên. mắt mở to nhìn. lại đem ngón tay cái từ từ thả xuống. Ở khi nắm khít thì từ trong mũi hít vào khí sạch một miếng. Lại vận động lực của cánh tay. thổ cần thổ hết. khi thở hít phải đều đặn không được ngừng nghỉ giữa đường. vốn là động tác không có hình. dẫn tới làm cho vùng trong bị kích động ngoài ý muốn. đặt ở phía trước bụng dưới vừa đúng hai bên vòng quanh rốn. nghỉ chốc lát lại làm nối đoạn thứ mười một. Khoảng cách giữa hai bàn tay ngang với mức rộng của hai cạnh vai. Vận lực nâng lên. cũng là phép vận ý sai khiến lực. mà đem khí lực của hai cánh tay từ từ rót xuống. Ngậm miệng kích động khí như trước. là thế loạn thần tán mà muốn thu hiệu quả. Quyền gia gọi ý đến. Từ đầu đến cuối cộng làm chín lần là xong đoạn công phu này. cuối cùng đều diễn có hình của động tác. Lại đem cánh tay từ từ giơ lên theo mặt trước đến ngang vai làm mức. dạng như nâng cần câu vật nặng. bàn tay hướng trước nâng lên.nghỉ ngơi chốc lát. nắm thành quyền cực lỏng. bốn ngón từ từ thả lỏng. trở lại dạng cũ. Quyền cách bụng chừng trên dưới một thốn. Sau khi hơi dừng nghỉ giữa chừng. Đồng thời hai gót chân nâng lên. ở khi thả lỏng. càng cao càng hay. đầu cao. Hít cần hít hết. Lòng bàn tay hướng trước. Hai cánh tay buông thẳng xuống. Hình 41 Theo đúng đoạn công phu này. một nâng khuỷu thì hướng xuống đâm một cái. Hai cánh tay tuy không làm động tác có hình. Đoạn thứ mười một Làm xong đoạn công phu thứ mười. Chỉ cần làm chậm từ từ. thần đến mà lực theo là như thế. thì đem ngón chân cong hướng lên như đuôi chim. là phép vận khí thăng lên giáng xuống. Một nâng lên một rơi xuống như thế là một ần. Đầu cao. lấy cách đất một thốn làm mức. kích động khí như trước. nhưng khí lực lại cần nâng lên. thực hiện mười hai lần. 38 . cũng làm liên tục như thế mười hai lần là xong trọn vẹn công phu. hai gót chân cũng đồng thời nâng lên lấy cách đất hơn hai thốn làm mức. lại nhè nhẹ thu về.Toàn thân đứng ngay ngắn. Ngón cái ở ngoài.Toàn thân đứng ngay ngắn. hai vai nhất định không thể cao chót vót. hai gót chân cũng nhè nhẹ rơi xuống đất. mà lấy ngón cái che ở ngoài. Sau khi gót chân rơi xuống đất. lại làm nối đoạn thứ mười hai. lòng bàn tay hướng lên trên.

Cũng là bởi người đánh quyền sau khi đã xong một lượt. cho nên nhất định cần dùng một đoạn để điều hòa cái đó. nhằm để tăng thêm thực lực làm cho khí lực theo nhau. PHÉP LUYỆN TẬP HẬU BỘ DỊCH CÂN KINH Mười hai đoạn tiền bộ Dịch cân kinh tuy cũng chú trọng ở khí và lực theo nhau. nhất định đi tản bộ chốc lát. là không tiến bước thêm lần nữa mà cầu cái đó có thể ở vận hành trong mạc. là phép lấy lực đi khí. miệng ngậm khít. cho nên không phù hợp. Đoạn thứ nhất Trước hết ngồi xếp vòng tròn gập gối.Hình 42 Theo đúng đoạn này là phép thư giãn đường gân mạch huyết toàn thân. cũng đủ để lại bệnh nhiều năm. Chỉ đem ba thứ tinh. khi làm khí lực không tránh khỏi rót đi lệch. Ở trong thuần nhu cầu con đường vận hành. muốn khí lực ở đó vận hành. 18. mờ tâm che hơi thở. Sau đó lại tiến lên mà luyện tập hâu bộ. dễ làm cho thân thể người ta nghiêng lệch. mỗi cái có công hiệu. là ngồi trên phản gỗ. là ngồi thiền bình thường cũng hay dùng phép này. nhưng muốn là nghiêng tới toàn thân. cần thuần phó mặc tự nhiên cái đó. không thể có một chút dùng sức. thì lại khó có thể thực hiện được đầy đủ như mong muốn. Cho nên luyện riêng một tiền bộ. lưỡi liếm ở trong vòm hàm. hai quyền thả ở trên đầu gối. Hai tay thì nắm khít đôi quyền. chất mềm sẽ có sức đàn hồi. tự thay đổi ở vào tay mà thu hiệu cũng rất là thần tốc. hàm răng trên dưới hợp kín nhau. bốn ngón gập ở trong. chảy đi trong mạc mà không trở ngại. mười hai đoạn công phu kể trên. chỉ lấy công phu mười một đoạn trên. hàng ngày nếu chăm chỉ tập thì sau ba năm. mà không phải ở tăng thêm thực lực. chỉ bởi lấy lực làm chủ. mà lấy ngón cái che ở ngoài. khí. mới đầu có thể tự nhiên. Phàm người luyện nội công Thiếu Lâm. Muốn đạt đến trình độ loại đó. Nhưng cũng không thể vào tay là có thể luyện tập ngay hậu bộ. cương nhều nhu ít. sau đó thì nghỉ ngơi. đem đôi mí mắt thả xuống. Những người không đủ thực lực. không luyện hậu bộ thì có thể được. Riêng luyện hậu bộ thì không thể được hiệu cường lực tráng đó. lấy mu bàn chân phải dặt trên mặt trên đùi trái. không thể không biết. Sau khi luyện tập thành công. tuy có thể lấy khí và lực theo nhau. đối với việc này. Cho nên cần luyện trước tiền bộ. nhất định sau khi luyện thành tiền bộ dịch cân kinh. thần dùng phép ý tưởng 39 . chắc chắn không dễ là có thể luyện thành. lại đem chân trái từ ngoài đầu gối phải kéo lên. bởi bước công phu này hoàn toàn chú trọng vận hành khí lực ở trong mạc để sung thực (đầy đủ) gân thịt toàn thân. đó là phép “song bàn phu tọa” (ngồi vòng hai mu bàn chân). cho nên rõ ràng mệt mỏi vất vả mà không thu công gì là thế. bất cập. Tóm lại. Bởi vì hậu bộ là chuyên giảng ở đạo vận hành. khi ngồi thân nên ngay thẳng. Để luyện tập có hiệu quả. bởi vì lót dây móc. nếu chỉ luyện riêng hậu bộ thì không có chỗ dùng chút nào. Dưới đây là các phép luyện tập mười hai đoạn Dịch cân kinh hậu bộ. cần phải tiếp tục luyện hậu bộ dịch cân kinh. toàn thân không dùng chút xíu lực gắng gượng. mà làm cho khí lực đi lệch ở tất cả các vùng không bị bệnh thái quá. làm cho hai lòng bàn chân đều hướng lên. mà không thể có chỗ dựa dẫm. để mu bàn chân trái để lên mặt đùi phải. hoặc có hiệu quả thì cũng rất là nhỏ yếu. nhất định có thể đạt được hiêu quả là khí lực theo nhau.

Xem hình 43. chỉ có luyện tập đã lâu. tự có thành hiệu nghiệm. Sau đó lại làm nối theo đoạn hai. lại chuyển lên mà đến Đan điền. ước chừng lấy một lúc nấu bữa ăn làm mức. thẳng đến đỉnh đầu (Bách hội) mà dừng giữa chốc lát. Ngồi phép phu tọa (ngồi mu bàn chân) như trước. hai chân chụm không mở ra. các vùng thân mình không nên hơi có chấn động. nhất định không thu được chút xíu hiệu quả. tới khi áp vào huyệt Chẩm ở mặt sau.mà rót vào đan điền. đồng thời xoay chuyển cổ tay làm cho lòng bàn tay hướng về phía trước. thì đưa khí lên trên. làm công cũng bằng không làm. Khi mới làm thì không tiến một loại ý tưởng. qua kết hầu. Hai cánh tay thì thành hình tam giác. ngón cái ở dưới. Sau khi ôm ở đầu sọ. từ đốt sống cổ ven theo cột sống mà xuống. đi qua vành rốn. Hình 44 Hai gốc của bàn tay tiếp đúng ở trên huyệt Nhĩ môn. Đoạn thứ hai Làm xong đoạn công phu thứ nhất. Đầu hơi ngửa ra sau. qua huyệt Ngọc chẩm. qua xương đuôi đến Hải để (Hội âm). quyết không thể trông đợi chúng hội họp. ý nghĩa này là một miếng khí tựa như từ Đan điền mà lên. Vì vậy nhất định rót suy nghĩ ở đan điền. Khi ôm không nên dùng sức hữu hình.hai bàn tay từ từ tiếp hợp. mười ngón đan chéo nhau mà ôm giữ sau đầu. lúc đầu chưa làm công. sau đó làm công phu. Sau dó đem hai cánh tay chầm chậm theo bên cạnh đưa lên. lại làm cho từ đỉnh đầu hướng về phía sau đi xuống. một lúc không dễ tiêu diệt hoàn toàn. thân thể cũng hoàn toàn khôn động. Riêng hai bàn tay thì đem ngón tay nắm bàn tay từ từ mở ra. lên tới tâm bào. hơi tạm dừng việc giữa chừng. lấy duỗi thẳng làm mức. từ đầu chao lên đến mặt sau. Riêng ở lúc hai bàn tay làm động tác. là tinh thần rời tan. Tạp niệm không mất đi thì tâm thần không yên. ngực hơi lồi ra phía trước. lâu ngày tự có công hiệu. chỉ như thế ngừng suy nghĩ tồn thần. Khi đưa đến ngang vai thì gập cẳng tay dẫn vào trong. Cho nên dùng trước phép này làm mất đi tạp niệm. tâm ý vẫn cần rót vào đan điền. Riêng lúc làm công 40 . tự không còn có trở ngại. bởi vì trong tâm tạp niệm. khí lực nhất định không có thể tuân theo đường kinh này mà vận đi tự tại. Ở khi mới vào tay. lòng bàn tay hướng lên. Hình 43 Dựa theo đúng đoạn này. chỉ lấy đó làm trung cung của nội phủ.

là đạo tuần hoàn chu thiên. tán khi ấy. sau đó mới có thể làm cho căng khít gân thịt của vùng thắt lưng. Làm cho khí lực đi lên thì cất dấu ở Bách hội. Bởi vì một vùng đó ở trong các vùng của thân người là rất mềm yếu. Xem hình 45. đến khi vùng đùi thẳng bằng làm mức. cái gốc ở ôn hòa tĩnh lặng của thiên nhiên. Cái đỉnh đầu là huyệt Bách hội thật là khu trọng yếu vùng đầu. mũi bàn chân hướng lên. Trước hết đem hai chân từ từ vòng lên. Sau đó từ từ buông mở. lòng bàn chân hướng về trước. nhất định không thể có chút xíu tạp niệm nổi lên. xương cùng. nơi chủ yếu đó là ở thắt lưng. Làm một đoạn công phu này cũng lấy khoảng trời gian nấu nồi cơm làm mức. Khi mới đầu cũng cần ý nghĩ có thể đến. Khi luyện tập lấy tuần hoàn hai lần thì dừng dứt. quay lại trạng thái ngồi bằng cũ. nhưng ở lúc nghỉ này tâm thần bởi cần yên tĩnh. làm cho gân xương vùng đùi được thư giãn. Hai lòng bàn chân đều hướng lên trời. hai đùi chụm khít. luyện đến công phu sâu dần thì khí lực cũng có thể theo đến đủ. Cho nên cần mọi thứ thuần nhận lĩnh tự nhiên. hai bàn tay thì từ từ xoay cổ tay. còn hai bàn tay thì kéo dẫn về phía sau mới là được sức. Sau khi ngồi yên. rót khí vào Đan điền. Mà huyệt Đan điền dưới rốn thật là kho báu của nội phủ. đúng là cần thiết trọng yếu. sau đó đem bàn chân trái từ ngoài đầu gối phải cong lên. phía sau của hai gót chân thả ở trên phản gỗ. khí lực cũng rất dễ đạt tới. rớt xuống. sau đó hai cánh tay theo hai cạnh trái phải từ từ giơ lên đến mặt trên của đỉnh môn 41 . trừ bỏ mọi tạp niệm. là người học nên chú ý. Đoạn thứ bốn Làm xong đoạn công phu thứ ba. nghỉ ngơi qua loa. khí lực cũng rất khó rót xuyên qua. thân trên dứt khoát cấm lắc động về trước. Người học cẩn thận chỗ đó. cho nên khi làm nhất định cần cúi toàn thân đến cực độ. làm cho lòng bàn tay hướng ra ngoài. Sau một thời gian bằng lúc nấu cơm (khoảng nghỉ bằng nấu nồi cơm). Sự khẩn yếu giống nhau như một.phu này cần mọi thứ thuần nhận lĩnh tự nhiên. Một thăng. hơi dừng việc giữa chừng một lát. một giáng. Lại đem hai bàn tay buông mở ra. đặt ở mặt trên đùi bên phải. khí huyết không đến vì thế mà úng tắc. chăm chỉ luyện tập thêm. khi đến trước bàn chân thì lại đan chéo hết mười ngón tay thu ở hai chân. sau hoặc trái. tự có diệu dụng riêng khi thân thể nhổm lên. Sau khi gân thịt căng khít. Sau khi thành hình thái của thế đó. Xem hình 44. Theo đúng một đoạn công phu này là phép làm cho khí lực chuyển vận đi theo đường tròn. trở về dạng cũ. thần ổn định một chút. lại đem hai chân từ từ duỗi đi hướng trước. phải. Một khởi một phục cũng là máy của âm dương tạo hóa. Hai vùng thắt lưng và lưng trên. lại đem khí cất giữ ở Đan điền vận ở các vùng vai. Hai bàn tay thì theo hai bên cạnh chao về phía trước. Lại đem thân trên từ từ cúi xuống. phải. Hơi nghỉ việc một lát. Hình 45 Theo đúng như một đoạn công phu này là phép đầy đủ thật mềm đúng các vùng. mông. nắm quyền thu về đặt ở trên đầu gối. lại không thể quá ở tham công. khí lực đi xuống thì quay về Đan điền. không thể có một chút gắng gượng. lại làm nối đoạn thứ tư. Đoạn thứ ba Sau khi làm xong đoạn công phu thứ hai. mà tới sinh động của hậu thiên. mới đầu có thể vì thế mà căng khít. lại đem vòng tròn của đùi từ từ buông xuống. Nhất định cần chầm chậm. lấy mu bàn chân phải để lên mặt trên đùi bên trái người. bàn chân thì dựng thẳng lên. Riêng khi hai bàn chân vòng tròn lại mà ngồi. thành thế ngồi song bàn (toàn già). để loạn thần ấy. lưng trên. Cần đem hai chân dùng sức duỗi vươn về phía trước. thắt lưng. dứt khoát không thể lấy lắc động hướng bên trái.

không thể qua loa đại khái. mà hai mu bàn tay thì dính ở hai bên huyệt Vĩ lư. và động tác không có hình. đan chéo mười ngón tay. Bởi vì bắp thịt vùng cánh tay rắn và chắc. duỗi đi hướng trước. là làm nối theo đoạn công phu thứ năm. lấy thần đưa vào khí. làm cho lòng bàn tay hướng lên. 42 . trở lại dáng cũ. trở lại dáng cũ. lại đem cổ tay xoay về hướng trước. giống nhau với khởi tay đoạn thứ ba. đan hai cánh tay cũng theo hai bên rơi xuống. riêng chỉ có chuyên chú ở ý niệm. Hai chân chụm nhau. Trước hết đem hai tay từ từ mặt dưới của hai bên cạnh. Hai đầu và vai thì dùng sức ép ra phía trước. khí tới thì lực theo. Hai lòng bàn tay dùng sức đẩy lên. Sau đó dùng phép của ý tưởng vận dụng khí lực. đồng thời vận dụng khí đó. vận khí xuống dưới. để cho vùng sau gót chân thả ở trên phản. kiêm cho lên hướng trên. Xem hình 47. Đoạn thứ năm Sau khi đã làm xong đoạn công phu thứ tư. Sau đó đem bàn tay từ từ mở lỏng ra. lại đem hai chân chỗ vòng tròn. làm cho đầy đủ chắc ở vai và lưng trên. Hình 46 Theo đúng đoạn này là phép khí đi ở cánh tay và ngón tay. chồng tay ở trên đỉnh môn thì có thể làm cho toàn thân nâng lên. Làm công phu một đoạn này. Sau đó từ từ thu hai bàn tay về. không thể hơi có chút lỏng và nổi.(bách hội) thì họp nhau. từ từ thả mở ra. Nếu muốn luyện đến cảnh ý tới thì khí tới. lòng bàn chân hướng về phía trước. so với đoạn thứ ba là khó. làm cho khí từ đan điền nâng lên hướng trên. Làm một đoạn công phu này cũng lấy một lúc nấu cơm làm mức. nhất định cần chầm chậm mà chắc thần khí. cũng lấy giờ nấu một nồi cơm là mức. Cần trọng yếu dán được khít khít. rất tốn công vất vả. là chỗ đã cần ngồi vòng tròn mà làm. thời gian không ngắn để có thể thực hiện hiệu quả. từ từ dời về phía sau. Mới bắt đầu chẳng qua làm ý. mũi bàn chân hướng lên. thế được ngay thẳng làm cho khí dễ đạt ở trên. Chắc chắn thật là vòng chân tròn ở dưới. Xem hình 46. lâu dài về sau có thể tự đạt đến. lại không đến nỗi vướng vấp nhiều chỗ giữa đường. khí không dễ đi. chuyển vào hai cánh tay mà tới ngón bàn tay. Cũng dùng phép lấy ý đưa vào thần. Khi ở động tác hai tay. lấy đùi thẳng làm mức. Sau khi nghỉ qua loa chút ít. Nhất định làm cho gân thịt của các bộ phận vai và lưng trên căng khít lạ thường.

thân trên dứt khoát cấm lắc động. Sau khi ngồi yên. làm thành phép song bàn tọa. Nhưng có thể ra công vất vả cũng nhất định có thành. giống nhau với đoạn thứ nhất. sau đó vận khí từ Đan điền mà rót vào túi thận (bìu) để hoạt động hạnh hoàn (trứng dái). khi đến dưới rốn. Luyện tập cũng rất khó. da thịt rất mỏng mà rắn chắc lạ thường. lại đem bàn chân trái từ phía ngoài đầu gối phải cong lên. cũng đem mu bàn chân để ở mặt trên đùi bên phải. Hình 48 43 . Xem hình 48. lấy lòng bàn tay bưng ở bụng dưới. hai bàn tay hợp nhau mà mười ngón thì giao chéo nhau. Làm cho ý nghĩ giống như muốn đem hai viên hạnh hút vào trong bụng. không đến nỗi vướng vấp nhiều chỗ. Cho nên khí lực không dễ vận hành ở đó. Mờ tâm giữ niệm (minh tâm tồn niệm). có ý muốn làm cho căng khít gân thịt của bộ phận vai và lưng trên. đồng thời hai lòng bàn tay cũng tàm tạm dùng sức. thu hiệu quả thì chận chạp. đại khái là yên lặng thầm suy nghĩ. Riêng ở khi vận khí. ngang với ngón tay cánh tay. Hơi dừng chốc lát. Sau đó làm nối đoạn thứ sáu. làm cho đạt tới. để trở về chỗ cũ. lại là động tác không có hình. so với từng đoạn trong mọi đoạn trên khó là nhiều hơn. Thuần lấy ý mà làm. lại nâng khí thăng lên. trước hết đem hai bàn tay từ bên cạnh dời đến mặt trước. Lúc mới lại không dùng sức. Khi làm động tác hai chân. Chỗ này lấy hai bàn tay thả ở mặt sau và hai vai ép về phía trước mà kiêm cho lên. lại vận khí rót vào túi thận. Khi đang nâng khí thăng lên. Đoạn thứ sáu Làm đã xong đoạn công phu thứ năm. mà dễ cho vận hành khí ấy. hơi làm thế xoa lên hướng trên. xương nhiều gân tạp.Hình 47 Theo đúng vùng vai và lưng trên. thăng giáng như thế mỗi thứ mười hai lần là xong công. lấy mu bàn chân phải để ở mặt trên đùi bên trái. Trước hết đem hai chân thu về thành dáng ngồi vòng tròn. nghỉ việc qua loa đại khái. xoay cổ tay hướng vào trong. Khi dừng nghỉ việc giữa chừng chốc lát.

Thăng lên giáng xuống như thế mười hai lần là dừng. là để huyệt Trung chử nhằm khít huyệt Dũng tuyền. thì sẽ nghỉ việc đại khái kiểu cũ. hạnh hoàn nhất định khó theo khí thăng. làm chín lần thì dừng. cần trải qua một thời gian nào đó mới có thể thăng giáng như tự nó. Vòng một vòng ở bốn chung quanh rốn. mới đem hai cánh tay dùng sức chút ít chống đẩy. hơi bị ngoại lực thì dễ phá hại. mà sức ở hai cánh tay cũng dồng thời thả lỏng. lại nâng khí thăng lên như trước. quyết khó vận đến mục đích này. chắc chắn so với khi đi giữa gân mạc là dễ hơn. Trải qua một hít thở dài. ngón cái ở trong. Chỉ đem hai bàn tay nâng lên làm cho rời khỏi mặt phản gỗ. thì dễ hoạt động. cho nên khí dễ vận đến. lại đem khí theo đường cũ giáng xuống. từ từ lùi xuống. Đoạn thứ tám Sau khi làm xong công phu đoạn thứ bảy. Sau khi tâm thần đã định (yên lặng) thì đem hai cánh tay từ từ dùng sức rót xuống.Theo đúng túi thận là vật tối trọng yếu của thân người. dời hướng sang hai cạnh đùi ấn ở trên phản gỗ. làm cho hơi chùng giãn ra. bên cạnh thì tới trước thắt lưng. chỉ với động tác không có hình. đầu nhọn ngón tay thì hướng về trước mặt. đồng thời đem khí từ trong Đan điền vận hành ra. trong rỗng mà nối tiếp ở bụng dưới. lại làm vận hành. sai khiến cái đó từ dưới chao qua bên trái chuyển lên vòng qua phía phải mà xuống về tới Đan điền. điều hòa khí lực. hai khuỷu tay hơi cong. làm cho đầy đủ ở lồng ngực. Thân trên và hai đùi hoàn toàn không động. Lòng bàn tay ấn mặt phản gỗ. không nên quá phần dùng sức. lòng bàn tay phải ấn khít lòng bàn chân trái. tư thế như một của đoạn thứ hai kể trên. mà một việc ngưng trệ cực là phiền khó. Nếu như người ta thần khí chưa có thể chắc chắn hết. Hai bàn tay thì từ trên bụng dưới. Sau khi dừng việc giữa chừng qua loa. là người học tự mình châm chước. là lúc không trở ngại cơ quan rõ rệt. hạnh hoàn tự có thể theo khí lên xuống. qua một lần thở hít. đầu ngón tay nhắm vào nhau.Trên thì tới phía dưới dạ dày. người ta muốn lấy thẳng hạ bộ ta mà chế mạng của ta cũng không thuận theo sự ra tay của họ. Đây là phép Đạo gia gọi là “ngưng thần đúc khí” (ngưng thần trù khí). nhưng luyện tập hơi lâu. vòng đến trên mặt hai lòng bàn chân thì lấy lòng bàn tay trái ấn khít lòng bàn chân phải. Vận khí ở trong. vùng cánh tay trên lại không dùng hết khí lực. Đợi luyện tập đã lâu. Sau khi vận hành một vòng như thế thì nghỉ một nhịp thở ra hít vào. nghỉ việc qua loa một chút. đồng thời nâng khí thăng lên. Ngưng ở đan điền. hạnh hoàn lại cực non yếu. Khi mới luyện cái đó. cách nhau với Đan điền rất gần. nhưng ở lúc mới vào tay cũng không tránh khỏi có những trở ngại. lại thu hiệu quả dễ hơn so với vận khí ở vai và lưng trên. Trở lại dáng cũ. Chỉ lấy hai lòng bàn tay dính hợp vào lòng bàn chân làm mức. Một đoạn công phu này là phép luyện thu liễm hạnh hoàn. giáng. Khi mới vào tay chưa có thể dừng lâu. Luyện tập thành công này. ngón cái ở trong. Xem hình 49. sau đó từ từ dời đi về hướng trước. vì túi thận là gân lạc mà thành. Hình 49 Theo đúng một đoạn công phu này là phép đầy chắc lồng ngực. tức người đời gọi là “liễm âm công”. Đoạn này thân trên và hai chân đều không động. Ngưng trệ không động. sau đó lại làm nối theo đoạn thứ tám. nhưng cần là có thể hợp dính nhau. theo kiểu cũ hơi hơi để nghỉ ngơi giữa chừng thêm. để sau thành công dần dần lớn thêm là được. lại làm nối đoạn công phu thứ bảy. Nếu là con 44 . Riêng vận hành tuy dễ. Công phu đoạn này tuy không khó lắm. ý muốn đem thân trên làm dạng thăng lên hướng trên. Đoạn thứ bảy Làm xong đoạn công phu thứ sáu.

mà đủ chắc vùng trong của vai và lưng trên. lòng bàn tay trái ấn ở huyệt lõm vai phải. Lâu về sau thì nhất định có thể thành công. mà trong Dịch cân kinh hậu bộ này nhằm vào phép luyện tập một mình vai và lưng trên cũng lấy cái này rất nhiều. một kiểu như trên. 45 . nghỉ ngơi chừng ba nhịp thở ra hít vào. Hình 50 Đoạn thứ chín Sau khi làm xong đoạn công phu thứ tám. Xem hình 51. Hình 51 Theo đúng một đoạn này cũng là phép thuộc về hành khí ở vai và lưng trên. Khi làm cần trước hết kích động đủ khí ấy. Lòng bàn tay ấn đúng ở trên huyệt lõm vai. nhưng nên dùng phép ý tưởng làm việc đó. Khi mới đầu chắc chắn chưa nhất định có thể như ý ta hết thảy. cho nên cần luyện nhiều. không những động tác không nên để bề mặt ngoài có hình rõ rệt giống như thân thể lắc động. thì nối đoạn thứ chín này. mà kiêm tới vùng trước của thận và thắt lưng. cần thuần nhận lãnh tự nhiên ấy. mà ngay ở trong bụng cũng không nên có hình ảnh tiến khí tranh lực. vẫn giữ ngồi vòng tròn hai chân như kiểu cũ. Cẳng tay thì dán khít ở mặt trước sườn ngực. Riêng cái đó không thể vận đến. cũng chính là muốn làmcho vai và lưng trên căng khít và khí dễ rót xuyên suốt. nghỉ việc qua loa. Xem hình 50. dùng sức từ từ đáp khít. làm cho gân thịt vai và lưng trên căng khít đến cực độ. vẫn ấn trên phản gỗ. sau lâu ngày tự có thể vận đi không vướng. năm ngón tay thì ở sau vai. thân trên và đùi hoàn toàn bất động.gái. Khi làm nhất định hai tay ôm vai đáp nhau khít khít. Sau đó lại đem bàn tay trái cũng theo mặt trước từ từ gấp cẳng tay đưa lên chéo hướng phía trên. Đồng thời vận dụng khí của Đan điền làm cho nó đi lên trên. cẳng tay thì dán khít ở cạnh ngoài cẳng tay phải. Lúc mới đầu. Riêng đem hai bàn tay từ từ dời đến mặt bên cạnh. nhất định khí khó theo thần đến. Trước hết đem bàn tay phải ở mặt trước từ từ gấp cẳng tay đưa lên hướng chéo về phía trên gấp đến trên vai trái thì dùng bàn tay đáp lên ở trên vai. thì nên từ phải sang trái (vòng ngược lại). Theo đúng đoạn này là phép luyện khí đủ chắc ở bụng. Vai và lưng trên lấy gân tạp và thịt mỏng làm thành khí lực rất không dễ vận đến.

lại đem khí giáng xuống. Hai cánh tay trên hơi dùng sức làm dạng nhấn chống. Xem hình 52. rồi đến bàn tay phải rơi xuống ấn trên phản. sau đó đem hai đùi vòng tròn từ từ thả mở ra. vùng mông ngồi ở mặt trên của bắp chân dưới. đầu nhọn ngón hướng trước. vùng lõm tâm mà lên trên. mu bàn chân dính trên phản. Ngón tay cái ở phía trong. từ từ dời về hướng trước mặt. Sau khi ấn yên lặng. thì từ từ đem hai bàn tay theo mặt bên cạnh chao lên phía dưới mặt trước. Thăng giáng như thế mỗi cái chín lần. vẫn theo đường cũ làm cho khí giáng xuống. Sau khi tâm thần đã định thì đem khí nâng lên trên. Hai bàn tay thì từ từ thả thõng xuống ở bên cạnh. qua một lúc thở hít như thế. Khi tâm thần đã định. mà huyệt lớn Ưng song. che ở phía trên đầu gối trái. Nhũ căn đều ở đó. về lại dạng cũ. Chỗ quỳ để làm đoạn này là muốn làm cho thân trên ngay thẳng. đúng là có cùng bậc khẩn yếu như nhau. hai khuỷu tay thì hơi hơi dùng sức lôi về sau. Với một đoạn công phu liễm âm. duỗi thẳng ở phía trước nghỉ ngơi qua loa lại làm nối theo đoạn thứ mười. Đầu ngay ngắn. đến huyệt Kết hầu thì dừng giữ không động làm cho vùng đầu đủ chắc. Lại đem hai bàn tay nhè nhẹ ấn ở trên sườn. lòng bàn tay trái ấn. thì nâng khí thăng lên. đến lõm tâm cạnh dưới hai vú làm mức. 46 . nếu không luyện khí làm cho cái đó đủ chắc. đình trệ ở Đan điền. đến che phía trên của đầu gối. hơi hơi thư giãn. lại vận khí thăng lên mà rót đủ ở huyệt Kết hầu. xương cùng thì dựa khít vào hai gót chân. Hai tay cũng thu về thõng xuống hai bên. Nhưng qua một phen làm động tác này. làm cho khí đầy đủ ở hai bầu vú. Thân trên thì phía sau làm thế dựa tựa. Chỉ làm động tác không có hình. Cần dem hai chân thu về. cho nên cần nghỉ ngơi chốc lát để gom giữ thêm. hai đùi dựa khít vào nhau. đi dọc qua vành rốn. Làm đã xong đoạn công phu thứ mười thì theo kiểu cũ hơi nghỉ chốc lát. Xem hình 53. Lại đem lòng bàn tay phải ấn che phía trên của đầu gối phải. Đầu thì ngửa sau đến cực độ. Trải qua một nhịp thở dài. Thăng giáng mỗi thứ chín lần là dừng. Hai tay ấn sườn là vì biểu hiện đường tuần hành của khí. đầu cũng cúi xuống. trước hết đem bàn tay trái từ từ rơi xuống ấn ở trên phản gỗ. sau lại đem thân trên từ từ ngồi thẳng. gập cẳng tay đưa lên hướng trên. Trước hết đem hai tay đưa lên chút ít.Đoạn thứ mười Làm xong đoạn công phu thứ chín. gập đầu gối mà quỳ. Cũng qua một lúc thở hít. mà khí dễ vận hành. làm nối theo đoạn thứ mười một. đình trệ không động. dùng phép ý tưởng. Thân trên hơi ngửa phía sau. Hình 52 Ấn bầu vú ở trước ngực cũng thuộc về bộ phận chủ yếu. mắt nhìn phía trước. là chỗ xương đầu gối và xương đùi tiếp hợp nhau. rất dễ bị ngoại lực hại chỗ đó. tâm thần nhất định không còn rõ bên ngoài.

47 . Riêng đoạn công phu này cũng rất khó luyện. Các phép luyện tập tùy theo mục đích của môn phái và tôn giáo cần đạt mà đã sáng tạo ra các động tác ngón tay. 19. Duỗi thẳng hai chân về phía trước. Ngón trỏ thuộc Đại trường. Nếu như có thể vận khí vào không đủ để tổn hại tơ tóc. mà ống hầu là một xương sụn. tuy có gân thịt che ở ngoài đó. là một trong mười tám cái hại của hành công. Đợi sau khi tâm thần đã yên lặng thì đem hai bàn tay dời đến phía trước. cho nên vùng đó rất dễ bị thương. mà ngồi lâu hại tinh. chỗ quan trọng của đầu cửa ải sống chết. Trước hết từ ngoài xoa xoay vào trong. Sau khi nghỉ luyện qua loa. Theo học thuyết kinh lạc thì: .Ngón tay cái thuộc Phế. Cửa tinh êm ái thì sinh khí tự đủ lại không lo tổn thương cái đó vậy. Lại thu về hai tay. LỜI BÀN CỦA NGƯỜI BIÊN DỊCH "Luyện công với các ngón tay có quan hệ đặc biệt quan trọng". Tay phải ở dưới. rất không thể không làm. mới đem hai bàn tay dời sang dán ở sau thắt lưng. Lại sợ người làm công phu ngồi lâu mà tổn thương ở tinh. Xem hình 54. thành thế ngồi song bàn. hơi nặng đã đủ quản thúc mạng. Làm đã xong đoạn công phu thứ mười một thì đem thân trên nâng lên mà làm cho hai chân từ từ thư giãn. úp hai bàn tay vào nhau. Vẫn lấy mu bàn chân phải đặt ở trên đùi trái. cũng xoa xoay tròn bảy mươi hai lần thì xong đoạn công phu đó. làm thế của ngồi mu bàn chân đoạn thứ nhất. Lại từ trong xoa tròn ra ngoài. thần chí không tránh khỏi không thấy rõ bên ngoài. Phía sau lưng là cửa của tinh. cho nên dùng một đoạn này để dưỡng tinh ấy.Hình 53 Khảo về Yết hầu là nơi tối trọng yếu của thân người. tay trái ở trên. Hình 54 Thực hiện mười hai đoạn công phu này đều thuộc về phép ngồi làm. Còn như cơ sở sinh lý học lại là ở trên 10 ngón tay và 10 ngón chân có 12 đường kinh lạc nối tiếp với 12 tạng phủ để duy trì mọi mặt hoạt đông của sự sống cả thể xác và tâm linh. mu bàn chân trái thì đặt ở trên đùi phải. Lúc này lòng bàn tay phát nóng như lửa. cho nên cần mờ mắt. lòng bàn tay trái từ từ sang phải xoa vòng tròn bảy mươi hai lần. thì thu hai chân lên ngồi vòng tròn. Một đoạn này thêm ở sau của mười một đoạn. ngón chân khác nhau. tĩnh tâm để gom lại nắm giữ cái đó. Sau động tác đó. Xoa tròn bảy mươi hai lần. Cho nên nhất định cần rèn luyện thêm. nhưng cực mỏng yếu.

lòng bàn tay úp ở các vùng khác nhau và xoa xát thận du. Ngón chân 2 thuộc Vị.. 11 nắm quyền. 9. thì ở hậu bộ này ngoài một số động tác ngón tay giống ở tiền bộ như ở đoạn 1.Đoạn 1: Nắm quyền. ngón tay duỗi quay về phía trước. theo đường tỉnh huyệt. “Nhờ đó một hành giả có thể đánh thức dậy cái Kundalini (sinh lực)…” và do đó… “Cách chính xác của vận động này được giữ tuyệt đối bí mật”…Vì vậy động tác yếu lĩnh ngón tay cũng góp phần quan trọng trong sự thành công.Ngón chân 4 thuộc Đảm. . ngón cái ở ngoài. 12. Trọng tâm ở hậu bộ sẽ là: Khi ngón tay ở hai bàn tay đan chéo nhau cũng có nghĩa là các đường kinh cùng tên ở bên trái và bên phải nối kín nhau. Ngón nhẫn thuộc Tam tiêu. yếu lĩnh lỏng. . khí. nắm quyền. Như vậy phía đáng chú ý ở đây là ngón cái tay. riêng ngón cái duỗi thẳng. . Khi ngón cái ở trong quyền 4 ngón còn lại ở ngoài. Trong hậu bộ Dịch cân kinh có 12 đoạn với ngón tay ở các tư thế như sau: . 6. 4. không để kinh khí giao lưu với ngoại môi.Ở đoạn 1 và đoạn 12 cả 5 ngón tay duỗi thẳng. hay cong ngón tay như đuôi chim có thể cũng sẽ là một nội dung trọng yếu như ông Trương Trừng Cơ đã viết trong sách “Thiền đạo tu tập” rằng. còn lại là việc làm đúng tư thế các ngón tay. là các tạng khí khác hỗ trợ Phế (6 đoạn) trong quá trình hành khí trong mạc. 4.Đoạn 2. .Các đoạn 3. . nắm quyền bốn ngón.Các đoạn 6. Ngón cái thuộc Phế. Ngón chân út thuộc Thận và Bàng quang. 4 ngón còn lại nắm quyền ở trong là Phế khí. thứ tự yếu lĩnh nói chung trong từng đoạn ra. 9. ngoài việc phải tuân thủ đúng tất cả mọi tư thế.Ngón chân cái thuộc Can và Tỳ. Ngoài 2 đoạn 1 và 12 ngón tay duỗi thẳng. lòng bàn tay quay ra phía sau. mu bàn tay ở hai bên huyệt Vĩ lư. 10. 8. 7.Đoạn 8. 6 đoạn ngón cái ở trong 4 ngón nắm quyền. . cần phải chuyên chú và càng cần không được phép làm sai. Nay xét về tư thế ngón tay trong Dịch cân kinh trong tiền bộ Dịch cân kinh có 12 đoạn với ngón tay ở các tư thế như sau: . Khi ngón cái duỗi thẳng riêng là riêng luyện Phế. ngón cái duỗi thẳng cong lên như đuôi chim và 3 đoạn ngón cái ở ngoài 4 ngón nắm quyền. . chúng ta đặc biệt chú ý đoạn 2.Đoạn 2 nắm quyền 4 ngón.. .. ngón cái ở trong. 48 .Ngón út thuộc Tâm và Tiểu trường. 10. kiểu ấn ngũ lôi.Đoạn 7. . khít ngón tay khi nắm quyền.Ngón giữa thuộc Tâm bào. Ở trong tiền bộ nếu trọng tâm là luyện khí phế và quan hệ khí ở phế với khí ở các tạng phủ khác. đoạn 7. 11. 5. không thể ảnh hưởng ngoại môi can dự vào quá trình hành khí trong mạc. 3. mục đích bảo tồn kinh khí trong nội bộ cơ thể. 5 còn lại có 4 đoạn các ngón tay đan chéo nhau và 5 đoạn úp bàn tay vào các vùng.Đoạn 5. ngón cái ở ngoài. hỗ trợ các tạng khí khác trong quá trình hành khí trong mạc. Do đó. các ngón ở hai bàn tay đan chéo nhau kiểu ấn lễ Phật đỡ ở các vùng khác nhau. . Khi ngón tay cái ở ngoài.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful