You are on page 1of 8

COPYRIGHT LÊ ĐỨC DŨNG

Tài liệu nghiên cứu
1
NGHIÊN CỨU DỰ BÁO TRIỀU VÀ DÒNG TRI ỀU TRÊN BIỂN ĐÔNG
BẰNG MÔ HÌNH MIKE 21

Tóm tắt: Hiện nay nghiên cứu chế độ thủy triều ở Biển Đông có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc dự báo thủy triều tại các vị trí dọc bờ và tính toán dòng triều
đặc biệt là việc tính toán dòng chảy, bồi lắng bùn cát và tiêu thoát lũ tại khu vực
cửa sông. Chính vì vậy việc nghiên cứu và tính toán dự báo triều bằng mô hình hai
chiều là hết sức quan trọng phục vụ công tác trên. Trong phạm vi nghiên cứu
chúng tôi sử dụng phần mềm MIKE 21 Flow Model để tính toán dự báo triều khu
vực Biển Đông.
I. Tổng quan
Hiện tượng thủy triều trong biển và đại dương là những chuyển động phức
tạp của nước các thủy vực đó do các lực hấp dẫn vũ trụ gây nên. Hiện tượng thủy
triều biểu hiện dưới dạng biến đổi tuần hoàn của mực nước biển và dòng chảy.
Những lực hấp dẫn vũ trụ chính gây nên thủy triều gồm lực hấp dẫn giữa Trái Đất,
Mặt Trăng và Mặt Trời. Do vị trí tương đối giữa Trái Đất, Mặt Trăng và Mặt Trời
thay đổi liên tục theo thời gian, nên những lực gây ra thủy triều cũng thay đổi về
đặc điểm cũng như cường độ của thủy triều với thời gian mà chúng ta thấy trong
đại dương. Chế độ thủy triều tại mỗi khu vực thay đổi phụ thuộc vào điều kiện vị
trí địa lý và điều kiện địa hình của khu vực đó quyết định.
Nghiên cứu chế độ thủy động lực nói chung và thủy triều nói riêng ở Biển
Đông có ý nghĩa hết sức quan trọng do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc thù.
Địa hình đáy biển hết sức phức tạp, đường bờ biển quanh co khúc khuỷu, nhiều
đảo to, cùng hàng loạt vịnh, eo nhỏ đã làm cho chế độ thủy triều của Biển Đông rất
phức tạp, có những đặc thù riêng biệt khác hẳn với những biển khác trên thế giới.
Chính vì vậy, thủy triều Biển Đông đã được chú ý và nghiên cứu từ rất sớm. Ở
Việt Nam, những nhận xét có tính khoa học đầu tiên về đặc điểm chế độ thủy triều
trong các vùng biển đã có trong Dự địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỉ 15) và nhất là
trong Vân Đài loại ngữ và Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Nhưng những điều
tra và nghiên cứu có ý nghĩa khoa học về thủy triều Biển Đông thực sự có được từ
thế kỉ 20 với các công trình của Darwin (1905), Poincare (1910) và Ogura (1933).
Hiện nay việc nghiên cứu thủy triều có hai hướng chính: hướng thứ nhất là
nghiên cứu sự biến đổi theo thời gian qua tài liệu thực đo tại các trạm ven bờ và
COPYRIGHT LÊ ĐỨC DŨNG
Tài liệu nghiên cứu
2
nội ngoại suy để tìm sự phân bố theo không gian, những thành quả theo hướng này
là việc lập ra các bảng thủy triều hàng năm cho từng khu vực. Hướng thứ hai là
nghiên cứu sự phân bố trong không gian của các đặc trưng thủy triều bằng cách
giải hệ phương trình thủy động lực học hai chiều bằng mô hình toán, theo hướng
này trong quá trình tính toán ngoài tiết kiệm thời gian mà ta có thể sử dụng kết quả
để tính toán phục vụ làm biên vào cho việc nghiên cứu một số vấn đề khác như :
tính toán dòng triều, tính toán nước dâng do bão kết hợp với thủy triều…
II . Phần mềm Mike 21 Flow Model
Hiện nay phần mềm Mike 21 là phần mềm thương mại do các nhà khoa học
thuộc Đan Mạnh nghiên cứu. Phần mềm này tính toán ổn định và cho kết quả
tương đối sát với thực tế cho nên đã được rất nhiều nước cũng như công ty sử dụng
trong việc tính toán các vấn đề về biển.
MIKE 21 Flow Model là hệ thống phần mềm 2 chiều có khả năng tính toán
mô phỏng các hiện tượng thủy động lực học và môi trường của sông, cửa sông,
vịnh, khu vực ven biển và ngoài khơi bao gồm:
- Chế độ thủy triều và dòng chảy
- Nước dâng do bão
- Lan truyền nhiệt
- Chất lượng nước
II I . Kết quả nghiên cứu
3.1 Các thông số đầu vào
a. Địa hình đáy biển
Địa hình đáy biển khu vực Biển Đông được thiết lập với bước lưới là 2 phút
bao gồm (787x900) ô lưới (nguồn Interpol và địa hình hải quân).
Tọa độ điểm đầu là: X =98,8 độ Y =-3 độ
Tọa độ điểm cuối là: X =125 độ Y =27 độ
COPYRIGHT LÊ ĐỨC DŨNG
Tài liệu nghiên cứu
3

Hình 1: Địa hình khu vực Biển Đông
b. Biên triều
Sự hình thành chuyển động thủy triều trong Biển Đông là do sóng triều được
hình thành trong đại dương rộng lớn và truyền vào Biển Đông qua các cửa như eo
Đài Loan, eo Bashi, eo Kalimantan, eo Malaca…Mực nước tại các biên của miền
tính được lấy trong bảng tính hằng số thủy triều toàn cầu. Thời gian tính toán từ 0h
ngày 01/01/2000 đến 0h ngày 31/01/2000
c. Các tham số
Hệ số nhớt được lấy theo công thức Smagorinsky
|
|
.
|

\
|
c
c
+
|
|
.
|

\
|
c
c
+
c
c
+ |
.
|

\
|
c
c
A =
y
V
x
V
y
U
x
U
C E
s
2
1
. .
2
2 2

Trong bài báo này chúng tôi chọn hệ số cho toàn bộ khu vực một hệ số nhớt đồng
nhất E = 0,5.
Hệ số nhám được lấy theo công thức Manning: hệ số này biển đổi phụ thuộc vào
độ gồ ghề của đáy biển, trong bài báo này hệ số Manning được phân bố như hình:
COPYRIGHT LÊ ĐỨC DŨNG
Tài liệu nghiên cứu
4

Hình 2: Phân bố hệ số Manning trên Biển Đông
3.2 Kết quả nghiên cứu
Để kiểm nghiệm kết quả tính toán bằng phần mền chúng tôi đã sử dụng số liệu
quan trắc mực nước tại một số trạm ven biển để so sánh.
1. Kết quả tính toán mực nước triều tại trạm Cửa Ông
Tọa độ X = 107,3667(độ) Y =21,0333) (độ)
-2
-1.5
-1
-0.5
0
0.5
1
1.5
2
2.5
0 100 200 300 400 500
HSDH
Tính toán
(m)
(h)

Hình 3: So sánh tính toán Mô hình với bảng thủy triều tại trạm Cửa Ông
COPYRIGHT LÊ ĐỨC DŨNG
Tài liệu nghiên cứu
5
2. Kết quả tính toán mực nước triều tại trạm Hòn Dấu
Tọa độ: X = 106,8167(độ) Y = 20,6667(độ)
-2
-1.5
-1
-0.5
0
0.5
1
1.5
2
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
HSDH
Tính toán
(m)
(h)

Hình 4: So sánh tính toán Mô hình với bảng thủy triều tại trạm Hòn Dấu
3. Kết quả tính toán mực nước triều tại trạm Ba Lạt
Tọa độ: X = 106,6333(độ) Y =20,35(độ)
-2
-1.5
-1
-0.5
0
0.5
1
1.5
2
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
HSDH
Tính Toán
(m)
(h)

Hình 5: So sánh tính toán Mô hình với bảng thủy triều tại trạm Ba Lạt



COPYRIGHT LÊ ĐỨC DŨNG
Tài liệu nghiên cứu
6
4. Kết quả tính toán mực nước triều tại trạm Bồ Đề
Tọa độ: X = 105,1833(độ) Y =8,7833(độ)
-2.5
-2
-1.5
-1
-0.5
0
0.5
1
1.5
2
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
HSDH
Tính toán
(m)
(h)

Hình 6: So sánh tính toán Mô hình với bảng thủy triều tại trạm Bồ Đề
5. Kết quả tính toán mực nước triều tại trạm Mũi Né
Tọa độ: X = 108,268(độ) Y =10,885(độ)
-2
-1.5
-1
-0.5
0
0.5
1
1.5
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
HSDH
TÍnh toán
(m)
(h)

Hình 7: So sánh tính toán Mô hình với bảng thủy triều tại trạm Mũi Né


COPYRIGHT LÊ ĐỨC DŨNG
Tài liệu nghiên cứu
7
7. Kết quả tính toán mực nước triều tại trạm Vũng Tàu
Tọa độ: X = 107,0667(độ) Y =10,3333(độ)
-2.5
-2
-1.5
-1
-0.5
0
0.5
1
1.5
0 100 200 300 400 500
HSDH
Tính toán
(m)
(h)

Hình 8: So sánh tính toán Mô hình với bảng thủy triều tại trạm Vũng Tàu

IV. KẾT LUẬN
Ma sát đáy đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành bức tranh phân
bố thủy triều trong Biển Đông. Đặc biệt các vùng thềm lục địa nước nông, ma sát
đáy làm thay đổi đáng kể dao động mực nước và dòng triều, là yếu tố chính gây sự
tiêu tán năng lượng ở đây. Ma sát đáy được tính toán là tỷ lệ với bình phương tốc
độ dòng chảy. Vì vậy vấn đề chọn hệ số ma sát đáy luôn là mối quan tâm hàng đầu
của các nhà nghiên cứu tính toán bức tranh phân bố thủy triều. Hệ số ma sát biến
đổi theo độ sâu chính vì thế trong quá trình mô phỏng việc thiết lập địa hình đáy
biển rất quan trọng
Việc tính toán thủy triều bằng phần mềm MIKE 21 Flow Model có ý nhĩa vô
cùng quan trọng ngoài tính tính dự báo triều phần mềm này còn làm đầu vào để
tính toán được dòng chiều phục vụ công tác tính toán dòng chảy ven bờ, tính toán
lan truyền dầu, lan chuyền chất ô nhiễm, tính toán nước dâng do bão…




COPYRIGHT LÊ ĐỨC DŨNG
Tài liệu nghiên cứu
8
Tài liệu tham khảo
User Guide and Reference Manual MIKE 21 Flow Model.
Hằng số thủy triệu tại các trạm ven biển Việt Nam- Phạm Văn Huấn