B Chương 2

Phụ tải điện
2.1. Đặc tính của phụ tải điện 2.1.1. Khái quát chung về phụ tải Dữ kiện tối quan trọng của bài toán thiết kế cung cấp điện là phụ tải điện. Việc xác định chính xác giá trị phụ tải cho phép lựa chọn đúng thiết bị và sơ đồ cung cấp điện, đảm bảo tính kinh tế - kỹ thuật của hệ thống cung cấp điện. Các nhân tố công suất, loại và vị trí của các thiết bị tiêu thụ cho phép xác định cấu trúc sơ đồ và các tham số của các phần tử hệ thống cung cấp điện. Thường trong dữ kiện bài toán thiết kế cho biết công suất đặt của các thiết bị tiêu thụ điện, tuy nhiên sự đốt nóng các phần tử và các thiết bị điện còn phụ thuộc cả vào chệ độ làm việc của các hộ dùng điệnn vì vậy cần phải xem xét phụ tải theo cả dòng điện I, công suất tác dụng P, công suất phản kháng Q và công suất toàn phần S. Việc lựa chọn các thiết bị, các phần tử của hệ thống cung cấp điện được thực hiện dựa trên kết quả tính toán phụ tải. Sai số của bài toán xác định phụ tải có thể dẫn đến việc lựa chọn sơ đồ thiếu chính xác, dẫn đến giảm sút các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật của hệ thống cung cấp điện. Nếu kết quả tính toán lớn hơn so với giá trị thực thì sẽ dẫn đến sự lãng phí vốn đầu tư, các thiết bị được lựa chọn không làm việc hết công suất, dẫn đến hiệu quả thấp; Nếu kết quả tính toán nhỏ hơn giá trị thực, thì sẽ dẫn đến sự làm việc quá tải của các thiết bị, không sử dụng hết khả năng của các thiết bị công nghệ, làm giảm năng suất, làm tăng tổn thất điện năng và giảm tuổi thọ của các thiết bị điện. Như vậy bài toán xác định phụ tải là giai đoạn tối quan trọng của quá trình thiết kế cung cấp điện. Tuy nhiên, việc xác định chính xác giá trị phụ tải là không thể, vì có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chệ độ tiêu thụ điện, trong dó có cả các nhân tố tác động ngẫu nhiên. Nhìn chung sai số cho phép của bài toán này khoảng ± 10%. Các tham số quan trong tham gia trong quá trình tính toán phụ tải là: - Công suất định mức là công suất thiết bị ứng với với các điều kiện chuẩn do nhà máy chế tạo ghi trên hộ chiếu của thiết bị. Đối với động cơ điện, công suất định mức ghi trên nhãn hiệu máy, chính là công suất cơ trên trục cơ. Đối với các thiết bị làm việc ở chế độ ngắn hạn lặp lại, khi tính toán, công suất định mức được quy về chế độ làm việc dài hạn ứng với hệ số tiếp điện định mức εn: P’n = Pn

εn ;

(2.1)

ở đây P’n là công suất định mức quy về chế độ làm việc dài hạn; εn- hệ số tiếp điện định mức. - Công suất tiêu thụ trung bình trong một khoảng thời gian xét t được xác định từ biểu thức sau: A Ptb = r ; (2.2) t
16

Ar- điện năng tác dụng và phản kháng tiêu thụ trong khoảng thời gian t. Công suất tiêu thụ trung bình đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích chế độ, xác định phụ tải tính toán và tổn hao điện năng . - Công suất cực đại là công suất lớn nhất xuất hiện trong khoảng thời gian xét. Phân biệt hai loại công suất cực đại: * Công suất cực đại ổn định (PM) là công suất tiêu thụ lớn nhất tác động trong khoảng thời gian không dưới 30 phút. Đây là công suất để đánh giá chế độ làm việc và chọn thiết bị điện theo điều kiện đốt nóng cho phép. * Công suất cực đại đỉnh nhọn - Pđnh là công suất lớn nhất xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn (ví dụ như khi khởi động động cơ). Người ta căn cứ vào giá trị phụ tải này để kiểm tra dao động điện áp, điều kiện tự khởi động của động cơ, chọn dây chảy và tính dòng điện khởi động của rơle bảo vệ. Ngoài trị số của phụ tải đỉnh nhọn, người ta còn quan tâm đến số lần xuất hiện nó, nếu tần số xuất hiện càng lớn thì mức độ ảnh hưởng tới sự làm việc bình thường của các thiết bị dùng điện khác trong mạng điện sẽ càng cao. - Công suất tính toán là công suất giả định lâu dài không đổi, tương đương với phụ tải thực tế về mặt hiệu ứng nhiệt lớn nhất. Các thiết bị điện được chọn theo công suất này sẽ đảm bảo được an toàn trong mọi trạng thái vận hành. Trong thực tế công suất tính toán thường được lấy bằng công suất cực đại ổn định (Ptt=PM). Việc phân loại phụ tải sẽ cho phép lựa chọn sơ đồ cung cấp điện phù hợp, đảm bảo cho các thiết bị làm việc tin cậy và hiệu quả. Dưới góc độ tin cậy cung cấp điện, phụ tải có thể được chia thành ba loại như sau. Phụ tải loại I: Là những phụ tải mà khi có sự cố ngừng cung cấp điện sẽ dẫn đến: Nguy hiểm cho tính mạng con người; Phá hỏng thiết bị đắt tiền; Phá vỡ quy trình công nghệ sản xuất; Gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế quốc dân; Gây ảnh hưởng không tốt về chính trị, ngoại giao. Phụ tải loại II: Là loại phụ tải mà khi có sự cố ngừng cung cấp điện sẽ dẫn đến: Thiệt hại lớn về kinh tế do đình trệ sản xuất, phá hỏng thiết bị; Gây hư hỏng sản phẩm; Phá vỡ các hoạt động bình thường của đại đa số công chúng... Phụ tải loại III: Gồm tất cả các loại phụ tải không thuộc hai loại trên, tức là phụ tải được thiết kế với độ tin cậy cung cấp điện không đòi hỏi cao lắm. 2.1.2. Đặc tính của phụ tải 2.1.2.1. Đặc tính tĩnh của phụ tải Đặc tính tĩnh (Static Load Characteristics) của phụ tải biểu thị mối quan hệ phụ thuộc giữa công suất tiêu thụ và các tham số điện, tần số. Đặc tính này có thể biểu thị dưới các mô hình cơ bản là: a) Mô hình hàm mũ (Exponential Models) Đặc tính tĩnh của phụ tải dạng hàm mũ được biểu thị bởi các biểu thức: U f α P = P0 ( )αU ( ) f (2.3) U0 f0 và Trong đó:
17

Q = Q0 (

U βU f β f ) ( ) U0 f0

(2.4)

P, Q – công suất tác dụng và phản kháng tiêu thụ bởi thiết bị điện; U, f – giá trị điện áp và tần số Pn, Qn, Un, fn –các tham số tiêu chuẩn (coi là tham số định mức) của thiết bị điện; αU, βU, αf, βf – các hệ số hồi quy, xác định từ các số liệu thống kê. Biểu thị dưới dạng đơn vị tương đối: P U f α P* = = ( )αU ( ) f (2.5) Pn Un fn Hay:
α α P* = U * U f * f ;

(2.6)

Đối với công suất phản kháng: Q Qn U βU f β f Q* = = ( ) ( ) Pn Pn U n fn

(2.7)

Hệ số công suất phản kháng tgϕ = Qn/Pn có thể biểu thị như là hàm số phụ thuộc vào hệ số phụ tải kpt:
tgϕ = Qn 1 = ± 2 −1 ; Pn k pt

Ký hiệu ± biểu thị hệ số phụ tải thụ động/chủ động (lagging/leading). Sau khi thay thế giá trị tg ϕ vào biểu thức (2.7) ta được:

Q* = tgϕ .U *βU f*

βf

(2.8)

Các biểu thức (2.3) ÷ (2.8) hoàn toàn phù hợp trong phạm vi biến đổi của điện áp ± 10% và của tần số ± 2,5%. Các tham số của mô hình phụ thuộc của phụ tải xác định trên cơ sở phân tích số liệu thống kê của một số thiết bị dùng điện được biểu thị trong bảng 2.1. Trong đó sáu hệ số đầu ứng với các phụ tải động lực, còn năm hệ số sau - ứng với phụ tải không động lực. Hệ số N n biểu thị tỷ phần phụ tải động lực của tải. Ví dụ, cả máy lạnh có tỷ phần phụ tải động lực là 80% và phụ tải không động lực là 20%. Trên cơ sở các mô hình trên có thể xây dựng các đường đặc tính tiêu thụ điện của các thiết bị. Đường đặc tính tĩnh của động cơ máy bơm được thể hiện trên hình 2.1. Bảng 2.1. Các tham số của mô hình phụ tải của một số thiết bị điện Thiết bị điện Các hệ số của mô hình kpt Nn kpt αU αf βU βf αUn αfn βUn βfn Tủ lạnh 0,84 0,8 0,5 2,5 -1,4 0,8 1 2 0 0 0 Máy giặt 0,65 0,08 2,9 1,6 1,8 1 Máy rửa bát 0,99 1,8 0 3,5 -1,4 0,8 1 2 0 0 0 Bình nóng lạnh 1 2 0 0 0 0 Đèn sợi đốt 1 1,54 0 0 0 0 Đèn h. quang 0,9 0,08 1 3 -2,8 0 TV màu 0,77 2 0 5,2 -4,6 0 Máy bơm, quạt 0,87 0,08 2,9 1,6 1,8 1 Môtơ công 0,83 0,1 2,9 0,6 -1,8 1 nghiệp (CN) nhỏ Môtơ CN lớn 0,89 0,05 1,9 0,5 1,2 1 18

Máy bơm nông 0,85 nghiệp Thiết bị tự dùng 0,8 NMĐ

1,4 0,08

5,6 2,9

1,4 1,6

4,2 1,8

1 1

-

-

-

-

-

a)

b)

Hình 2.1 Đặc tính tĩnh của phụ tải động cơ máy bơm a – Phụ tải tác dụng ; b – Phụ tải phản kháng . b) Mô hình dạng đa thức (Polynomial Models) Mô hình biểu thị sự phụ tải của phụ tải vào điện áp và tần số dạng đa thức được thể hiện như sau:

P* = (a0 + a1U * + a2U *2 )(1 + D p ∆f )
Và:

(2.9) (2.10)

Q* =

Qn (b0 + b1U * + b2U *2 )(1 + Dq ∆f ) Pn

Trong đó: a và b là các hệ số hồi quy tương ứng của phụ tải tác dụng và phản kháng: ao + a 1 + a 2 = 1 bo + b1 + b2 = 1 Dp – hệ số suy giảm công suất tác dụng do ảnh hưởng của tần số; Dq – hệ số suy giảm công suất phản kháng do ảnh hưởng của tần số; ∆f – độ lệch tần số so với giá trị quy định. c) Mô hình kết hợp hàm mũ và đa thức Đôi khi hai mô hình trên được kết hợp với nhau để biểu thị quan hệ phụ thuộc của phụ tải vào các tham số điện áp và tần số: Ppoly + Pexp1 + Pexp 2 Q poly + Qexp1 + Qexp 2 P* = và Q* = (2.11) P0 P0 Trong đó:

Ppoly = a0 + a1U * + a3U *2
19

(2.12)

α Pexp1 = a4U * 1 (1 + D p1∆f )
α Pexp 2 = a5U * 2 (1 + D p 2 ∆f )

(2.13) (2.14)

2.1.3. Biểu đồ phụ tải Biểu đồ phụ tải phản ánh rõ nét đặc tính biến đổi của nó theo thời gian. Biểu đồ phụ tải được xây dựng cho các thiết bị độc lập, cho nhóm thiết bị hoặc cho xuất tuyến, thanh cái trạm biến áp v.v. Dạng tiêu biểu nhất của là biểu đồ phụ tải ngày đêm (biểu đồ phụ tải hàng ngày 24 tiếng). Trên hình 2.2. biểu thị dạng đặc trưng của biểu đồ phụ tải sản xuất (đường cong 1) và biểu đồ phụ tải sinh hoạt (đường cong 2). Trên cơ sở phân tích biểu đồ phụ tải ngày ta có thể dễ dàng nhận thấy phụ tải cực đại thường xuất hiện tại hai thời điểm ban ngày và ban đêm. Phụ tải không chỉ thay đổi theo thời gian trong ngày, mà còn thay đổi theo mùa, đối với vùng khí hậu nhiệt đới như ở nước ta, có thể phân biệt đồ thị phụ tải của hai mùa rõ rệt là mùa hè và mùa đông. Khác với các nước ở vùng ôn đới, nơi phụ tải ở mùa đông thường lớn hơn phụ tải P mùa hè, ở Việt Nam do đặc thù của thời tiết 1 nắng nóng mùa hè, nên phụ tải ở mùa này cao hơn nhiều so với phụ tải ở mùa đông. Theo số liệu thống kê ta có thể coi đồ thị phụ tải ngày đặc trưng của mùa hè là đồ thị đo vào tháng 7 2 và – cho mùa đông là tháng 12. Căn cứ vào đặc điểm biến đổi của phụ tải gần theo chu kỳ t hình sin, ta có thể biểu thị sự phụ thuộc giữa phụ tải của tháng bất kỳ thứ t trong năm theo 0 4 8 12 16 20 24 biểu thức: Hình 2.2. Biểu đồ phụ tải ngày Pi 7 + Pi12 Pi 7 − Pi12 đặc trưng: π .t Pit = + cos (2.15) 1 – Phụ tải sản xuất; 2 2 2 2 – phụ tải sinh hoạt. Trong đó: Pi7 và Pi12 – phụ tải giờ thứ i tương ứng ở tháng 7 (mùa hè) và tháng 12 (mùa đông). Giá trị phụ tải giờ thứ i ở tháng thứ t trong năm có xét đến sự gia tăng công suất (động học phát triển của phụ tải) được biểu thị:

Pit . pt = Pit [1 + (a p − 1)

t ] 12

(2.16)

ap – hệ số gia tăng phụ tải trung bình hàng năm. Như vậy, đối với mỗi điểm tải ta có thể xác định được đồ thị phụ tải của 12 tháng trên cơ sở giá trị phụ tải đo được trong 24 giờ. Phương pháp trên cũng hoàn toàn có nghĩa đối với phụ tải phản kháng. Khi đã có đồ thị phụ tải ta có thể dễ dàng xác định được các tham số cần thiết cho quá trình tính toán và phân tích mạng điện: Giá trị phụ tải trung bình trong năm được xác định theo biểu thức: 1 24 P + Pi12 Ptb = ∑ i 7 (2.17) 24 i =1 2
20

Giá trị bình phương phụ tải trung bình: 24 24 24 1 2 2 2 Ptb = (3∑ Pi 7 + 2∑ Pi 7 Pi12 + 3∑ Pi12 ) 192 i =1 i =1 i =1 Thời gian sử dụng công suất cực đại: TM = 8760.Ptb.10-2; Thời gian tổn thất cực đại:
2 τ = 8760.Ptb .10 −4

(2.18) (2.19) (2.20)

Trên cơ sở các số liệu khảo sát phụ tải thực tế, các tham số của đồ thị phụ tải đặc trưng của các hộ dùng điện trong sinh hoạt và sản xuất được thể hiện trong bảng 2.2 sau: Bảng 2.2. Các tham số của đồ thị phụ tải của một số hộ dùng điện cơ bản. Loại phụ tải Ptb, % TM, h τ, h Dịch vụ công cộng 49,88 4369 2180 Chiếu sáng căn hộ 31,35 2746 861 Chiếu sáng công sở 28,79 2522 726 Chiếu sáng đường phố 32,30 2829 914 Thiết bị gia dụng 62,32 5459 3402 Động lực nhỏ 56,05 4910 2752 Cấp nước 94,24 8255 7780 Công nghiệp luyện kim 83,13 7282 6054 Công nghiệp hóa chất 84,46 7398 6249 Chế tạo máy cái 76,95 6741 5187 Chế tạo máy 68,69 6017 4133 Công nghiệp nhẹ 75,91 6649 5048 Công nghiệp thực phẩm 7199 82,18 5916 Sản xuất giấy 85,69 7506 6432 Cơ khí xây dựng 65,93 5775 3808 Điện năng tiêu thụ được xác định theo biểu thức: A = PM.TM (2.21) Cơ cấu và giá trị của phụ tải sinh hoạt phụ thuộc vào mức sống trung bình và phương pháp sử dụng năng lượng trong sinh hoạt. Các kết quả nghiên cứu và thống kê về phụ tải sinh hoạt khu vực thành phố được biểu thị trong bảng 2.3. Bảng 2.3. Giá trị điện năng tiêu thụ trung bình trong sinh hoạt tính trên đầu người dân Sinh hoạt gia đình kWh/ng Khu vực công cộng kWh/ng Chiếu sáng 66,37 Chiếu sáng tòa nhà 54,87 Thiết bị gia dụng 123,01 Chiếu sáng đường 23,01 Nấu ăn 66,37 Phụ tải động lực nhỏ 99,12 Làm mát 21,24 Cấp nước 102,65 Nước nóng 16,81 Nhà ăn 51,33 Khác 4,42 Khác 42,48 Tổng 293,81 377,88 Như vậy tổng điện năng tiêu thụ trung bình trong sinh hoạt và công cộng trên một đầu người dân thành phố sẽ là 671,68 kWh/ng.năm.
21

2.2. Các phương pháp tính toán phụ tải điện Sự đa dạng của các điều kiện và đặc điểm của bài toán xác định phụ tải ứng với các mục đích khác nhau dẫn đến nhiều phương pháp khác nhau trong việc tính toán phụ tải. Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu xây dựng các phương pháp tính toán phụ tải, nhưng chưa thể nói được rằng bài toán này đã hoàn toàn được giải quyết. Sự khác nhau giữa các phương pháp trước hết là cơ sở mà các phương pháp dựa vào để đánh giá sự tiêu thụ điện năng, thứ hai là phương thức tiếp cận tính toán phụ tải và thủ tục hay thuật giải, tiếp đến là các dữ kiện cần thiết cho bài toán và độ tin cậy hay sai số của phương pháp. Do phụ tải điện mang đặc tính ngẫu nhiên, nên quá trình phân tích phụ tải thường dựa trên cơ sở lý thuyết xác suất thống kê, kết hợp với đặc điểm công nghệ của các thiết bị tiêu thụ điện. Nhìn chung tất cả các phương pháp tính toán phụ tải điện có thể phân thành các nhóm sau: 2.2.1. Phương pháp phân tích Các phương pháp phân tích về nguyên tắc dựa trên các đặc điểm công nghệ của quá trình sản xuất và chế độ làm việc của các thiết bị điện có xét đến các quy luật ngẫu nhiên của phụ tải. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ điện, vì vậy quá trình phân tích phụ tải điện hết sức phức tạp, việc xác định phụ tải tính toán với độ chính xác cao, đòi hỏi nhiều dữ liệu và khối lượng tính toán lớn. Để đơn giản hóa bài toán, các phương pháp phân tích xác định phụ tải điện được áp dụng với một số giả thiết, mà có thể dẫn đến những sai số nhất định. Nhóm các phương pháp phân tích bao gồm: 2.2.1.1. Xác định phụ tải theo phương pháp hệ số đồng thời Với đặc tính ngẫu nhiên, các hộ dùng điện không phải lúc nào cũng được đóng trong mạng, mà ở từng thời điểm nhất định một số này được đóng, số khác lại được cắt ra. Tính chất này của phụ tải được biểu thị bởi hệ số đồng thời kđt. Phụ tải tính toán được xác định theo biểu thức:

Ptt = k đt ∑ Pni
i =1

n

(2.22)

Trong đó: Pni – công suất định mức của thiết bị điện thứ i; kđt – hệ số đồng thời, phụ thuộc vào số lượng thiết bị tiêu thụ điện trong mạng. Giả sử trong nhóm n thiết bị ở thời điểm xét có m thụ điện được đóng vào lưới thì hệ số đồng thời có thể xác định theo biểu thức:

k đt =

∑P ∑P
i =1 i =1 n

m

ni

;

(2.23)

ni

m – số lượng thiết bị đang làm việc n – tổng số thiết bị có trong nhóm. Đối với nhóm thụ điện đồng nhất (nhóm thiết bị có công suất và chệ độ tiêu thụ điện giống nhau), hệ số đồng thời có thể xác định theo công thức:
22

k đt =

m ; n

(2.24)

Trong thực tế các thụ điện đóng vào lưới một cách ngẫu nhiên. Cho nên việc xác định hệ số đồng thời chỉ có thể dựa trên quan điểm xác suất thống kê. Với các đặc số: kỳ vọng toán M(m) = np và phương sai D(m) = npq, trong đó: p là xác suất đóng trung bình trong thời gian khảo sát; q =1- p là xác suất không đóng của thiết bị. Khi số lượng n khá lớn có thể coi sự phân bố của phụ tải tuân theo quy luật phân bố chuẩn, lúc đó xác suất đóng m thiết bị vào lưới được xác định theo biểu thức:
( pnm )

1 m − = ∫e σ 2π 0

( m − M ( m )) 2 2.σ 2

dm ;

(2.25)

Theo quy tắc β-xích ma (quy tắc ba xích ma mở rộng) ta có giá trị cực đại của số lượng m thụ điện đóng trong mạng là m = M(m) + βtσ σ - độ lệch trung bình bình phương: σ =

D(m) = npq ;

βt - Bội số tản hay độ lệch qui định (còn gọi là hệ số thống kê), phản ánh xác suất phụ tải nhận giá trị trong lân cận kỳ vọng toán ± βtσ. Trong tính toán phụ tải giá trị βt thường được lấy trong khoảng 1,5÷2,5. Như vậy: m = np + βt npq; Chia hai vế của phương trình này cho n ta được

p.q ; (2.26) n Đây là biểu thức cho phép xác định hệ số đồng thời theo các đặc tính xác suất thống kê. Để đơn giản cho việc thiết kế, người ta tính sẳn giá trị của hệ số đồng thời phụ thuộc vào số lượng thụ điện, ứng với một xác suất đóng nhất định nào đó cho trong các sổ tay thiết kế. Cần lưu ý là hệ số đồng thời được xác định ứng với từng thời điểm cụ thể, thường là giờ cao điểm ban đêm và cao điểm ban ngày. 2.2.1.2. Xác định phụ tải theo phương pháp hệ số nhu cầu Phụ tải tính toán được xác định theo biểu thức: k đt = p + β t

Ptt = knc ∑ Pni
i =1

n

(2.27)

Hệ số nhu cầu được biểu thị bởi tỷ số giữa công suất tính toán và công suất định mức của nhóm thiết bị dùng điện.

k nc =
23

Ptt PM = ; Pn Pn

(2.28)

Trước hết ta xét nhóm thụ điện đồng nhất. Theo lý thuyết xác suất thống kê, công suất cực đại có thể biểu diễn thông qua các giá trị của tập quan sát. PM = Ptb + βt σ X ; Ptb- Kỳ vọng toán hay giá trị trung bình của phụ tải; (2.29)

σX -

Độ lệch tiêu chuẩn hay độ lệch trung bình bình phương của tập tổng quát;

Giá trị công suất trung bình được xác định theo biểu thức:

Ptb = k sdΣ ∑ Pni ;
i =1

n

(2.30)

Trong đó: ksdΣ - hệ số sử dụng tổng hợp của nhóm thiết bị điện, xác định theo biểu thức:
ksd∑ = i =1n

∑ Pni ksdi
i =1

n

∑ Pni

(2.31)

ksdi – hệ số sử dụng của thiết bị thứ i Đối với nhóm thụ điện đồng nhất thì P1 = P2 = ... = Pn và σ1 = σ2 = ... = σn.
2 Ta thấy σ X = D( X ) mà X =

1 n ∑ xi nên ta có thể viết : ni i =1

D( x ) = D (

1 n 1 n 1 σ2 .∑ x i ) = 2 .∑ D ( xi ) = 2 n.σ 2 = ni i =1 n n i =1 n

Hay

σX =

σ n
n

;

Thay các giá trị tương ứng với một số biến đổi đơn giản ta được:

PM = k sdΣ ∑ Pni +
i =1

β tσ ; n

(2.32)

Thay σ

= kv Ptb (trong đó kν là hệ số biến động của phụ tải) và chia 2 vế (2.32) cho tổng công
k nc = k sdΣ + 1 − k sdΣ n
(2.33)

suất định mức ΣPni và sau một vài biến đổi ta được:

Đối với nhóm tiêu thụ điện bất kỳ, hệ số nhu cầu cũng xác định tương tự nhưng thay giá trị của số lượng tiêu thụ điện n bằng giá trị hiệu dụng nhd, tức là :

k nc = k sdΣ +

1 − k sdΣ n hd

;

(2.34)

Trong đó: nhd – số lượng hiệu dụng của nhóm thiết bị điện, có thể xác định theo biểu thức:
24

n hd =

(∑ Pni ) 2

∑P

2 ni

;

(1.35)

Nếu số lượng thụ điện n > 4 và giá trị của tỷ số k =

Pmax nhỏ hơn các giá trị kb cho trong bảng Pmin

2.4, ứng với hệ số sử dụng tổng hợp, thì có thể lấy giá trị nhq= n. Bảng 2.4. Điều kiện để xác định nhd 0,2 0,3 0,4 0,5 0,6 0,7 ksd∑

0,8

> 0,8

kb 3 3,5 4 5 6,5 8 10 K0 g.hạn Trong trường hợp ksd∑ < 0,2 thì cần tiến hành xác định nhd theo một phương pháp riêng như sau: - Phân riêng các thiết bị có công suất lớn hơn một phần hai công suất của thiết bị lớn nhất trong nhóm,

Pi ≥

Pmax ; 2

- Xác định số lượng thiết bị n1 của nhóm này. - Xác định tổng công suất định mức của nhóm n1 thiết bị - Tìm các giá trị tương đối

∑ ni n1 i =1 và P = n ; n* = * n ∑ Pnj
P
j =1

n1

(2.36)

- Xác định giá trị tương đối n hq theo biểu thức
* nhd =

*

0,95 P*2 (1 − P* ) 2 ; + 1 − n* n*
(2.37)

- Xác định số lượng hiệu dụng nhd = n*hd.n (2.38) 2.2.1.3. Xác định phụ tải theo phương pháp hệ số tham gia vào cực đại Phụ tải tính toán được xác định theo biểu thức:

Ptt .Σ = Ptt .M + ∑ ktMi Ptt.i ,
1

n −1

(2.39)

Trong đó: Рtt..M – giá trị phụ tải tính toán lớn nhất trong các nhóm thiết bị được cung cấp từ tủ phân phối; Рtt.i, – giá trị phụ tải tính toán của nhóm thứ i (trừ nhóm lớn nhất); n – số nhóm tải. ktMi – hệ số tham gia vào cực đại của nhóm thiết bị thứ i. Hệ số tham gia vào cực đại là tỷ số giữa công suất tiêu thụ của thiết bị hoặc nhóm thiết bị ở giờ cao điểm và công suất cực đại của chúng (hình 2.3).
25

ktM =

PMt ; PM

(2.40)

Pmt -Công suất tiêu thụ ở giờ cao điểm của hệ thống; PM - Công suât cực đại của nhóm thiết bị. P Hình 2.3. Đồ thị phụ tải của hệ thống (1) và của nhóm thiết bị dùng điện (2) PM PMt 2

1

2.2.2. Phương pháp mô phỏng Sự phức tạp và tính phi tuyến của các 0 tc 24 h bài toán cung cấp điện dẫn đến việc áp dụng phương pháp mô phỏng các quá trình ngẫu nhiên. Phương pháp này được xây dựng trên cơ sở kết hợp lý thuyết xác suất thống kê và phương pháp luận của việc tính toán phụ tải. Cơ sở của phương pháp là dựa trên quy luật phân bố nhiệt độ đốt nóng dây dẫn gây ra bởi dòng điện phụ tải. Do sự phức tạp của quá trình phân bố nhiệt, nên để đơn giản hóa cho việc xây dựng mô hình, cần đưa ra một số giả thiết sau: - Nhiệt độ tại điểm bất kỳ của tiết diện mặt cắt dây dẫn coi như không đổi dọc theo chiều dài đường dây; Dây dẫn được coi là đồng nhất với nhiệt trở trong bằng không. Với những giả thiết như vậy phương trình cân bằng nhiệt đối với dây cáp ba pha đặt trần trong nhà được biểu thị theo biểu thức: 3I2 R0(1+αθ.θ)dθ = C.dθ + A. θ.dt, (2.41) Trong đó: R0 – điện trở của dây dẫn ở nhiệt độ 20°С , Ω; θ - nhiệt độ đốt nóng dây dẫn, 0C; αθ - hệ số nhiệt điện trở, 1/°С; C - tỷ nhiệt, J/°С; A - hệ số trao đổi nhiệt, tính đến lượng nhiệt tỏa ra môi trường xung quanh theo các phương thức dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ W/°С . Từ biểu thức (2.41) ta nhận được phương trình quá nhiệt của dây dẫn so với nhiệt độ của môi trường xung quanh là: α R 3R C dθ + (1 − 3 θ 0 I 2 )θ = 0 I 2 (t ) (2.42) A dt A A Các kết quả khảo sát cho thấy sự gia tăng của hệ số truyền nhiệt trung hòa sự gia tăng đồng thời của điện trở R=R0(1+αθ.θ). Bởi vậy trong phương trình (2.42) với sai số cho phép đối với dòng điện tính toán I có thể coi αθ ≈ 0 và A ≈ const = A0. Khi đó biểu thức (2.42) có dạng: 3R dθ T + θ = 0 I 2 (t ) , (2.43) dt A0

26

T

dθ + θ = kθ I 2 (t ) , dt

(2.44)

Trong đó: T = C/A0 – hằng số thời gian đốt nóng dây dẫn;

kθ =

3R0 ; A0

(2.45)

Như vậy cùng với các giả thiết trên sẽ có hai đại lượng không phụ thuộc vào nhiệt độ đốt nóng là hằng số thời gian đốt nóng và điện trở tác dụng. Ở chế độ xác lập, khi nhiệt độ không thay đổi đáng kể, thì các giả thiết này sẽ không dẫn đến những sai số đáng kể. Để tiện tính toán ta đặt: θ (t ) ZT = , (2.46) kθ Như vậy biểu thức (2.44) sẽ có dạng:

T

dZ T (t ) + Z T (t ) = I 2 (t ) dt

(2.47)

Hay áp dụng cho biểu đồ phụ tải nhóm P(t),

T

dZ PT (t ) + Z PT (t ) = P 2 (t ) dt

(2.48)

Đại lượng ZT(t) được gọi là liều lượng hâm nóng tính theo dòng ZPT(t), (hoặc tính theo công suất ZPT(t)), tỷ lệ với nhiệt độ đốt nóng dây dẫn và có thứ nguyên là bình phương phụ tải. Các dữ kiện ban đầu để xác định phụ tải tính toán là các quá trình thay đổi của phụ tải điện. Để xây dựng mô hình phụ tải người ta áp dụng lý thuyết hàm ngẫu nhiên và thông lượng xung (impulsive flux). Tính chu kỳ của sự biến đổi của phụ tải được hình thành khi các thiết bị tiêu thụ làm việc với quá trình công nghệ nhất định. Việc nghiên cứu biểu đồ phụ tải này có ý nghĩa lý thuyết rất lớn. P P P

P0 tlv t0

t

Mô hình biểu đồ phụ tải độc lập ngẫu nhiên cần phải được cho trước các đại lượng: Hình và Mô hình xung kmt phụ n, Công suất tác dụng, hệ số sử dụng ksd=Ptb/Pn2.4. hệ số mang tảicủa =P/Ptảihệ số công suất phản kháng tgϕ, dạng và tham số của hàm hồi quy (HQ), thời gian trung bình của chu kỳ xét. Trong đó: Ptb – công suất tiêu thụ trung bình trung chu kỳ xét; P – công suất tiêu thụ trung bình trong thời gian đóng điện, Pn – công suất định mức của thiết bị. Hệ số làm việc (hệ số đóng) klv= tlv/tck hay klv=ksd/kmt và hệ số không làm việc (hệ số cắt) kklv=1-klv chính là xác suất thiết bị ở trạng thái đóng và trạng thái cắt. Đặc tính tác động xung của phụ tải được thể hiện với hai cấp: xung của công suất P=ksd.Pn tác động trong thời gian tlv =
27

ksd.tck/kmt và đại lượng không tải P0 = 0 tác động trong thời gian t0= tck - tlv. Hệ số hình dạng đồ thị, là tỷ số giữa công suất hiệu dụng và công suất trung bình k f=Pe/Ptb, biểu thị sự không đồng đều của đồ thị phụ tải. Trong thực tế các thiết bị điện làm việc với một vài chu kỳ, nhưng không hoàn toàn cứng nhắc.Vì vậy hàm hồi quy của phụ tải độc lập có thể biểu thị dưới dạng: k(t) = Dp e-α|t| cos ωοτ, (2.49) Trong đó: Dp –phương sai của đồ thị phụ tải độc lập; α –hệ số hồi quy, s-1; ωο – tần số của thành phần chu kỳ, s-1. Hệ số hồi quy có thể xác định với sự trợ giúp của các công nghệ phần mềm tính toán, trong đó phụ tải tính toán được biểu thị dưới dạng quá trình xung: Dp = Р2n ksd (kmt – ksd), (2.50)

α=

2 k mt k sd (k mt − k sd )t ck

(2.51) (2.52)

ωо =2π / tck. .

Biểu đồ nhóm của phụ tải Đối với một nhóm gồm n thiết bị dùng điện với biểu đồ phụ tải chu kỳ, thì tính chu kỳ của đồ thị sẽ bị trung hòa. Bởi vậy hàm hồi quy của đồ thị phụ tải nhóm được biểu thị dưới dạng: k(t) = DP e-α|t|, (2.53) Trong đó: DР – phương sai của đồ thị nhóm. Mô hình biểu đồ nhóm dạng hồi quy mũ cho phép có một dự trữ nhất định trong bài toán xác định phụ tải. Xét quy luật phân bố tung độ của biểu đồ nhóm, biểu thị phụ tải độc lập dưới dạng quá trình xung, áp dụng lý thuyết thực nghiệm lặp lại để tính phụ tải nhóm. Số lượng thiết bị dùng điện làm việc đồng thời và phụ tải nhóm với các đại lượng giống nhau của các xung của tất cả các thiết bị coi là tuân theo quy luật phân bố nhị thức. Thường thì các giá trị xung của các thiết bị độc lập khác nhau, trong trường hợp đó quy luật phân bố phụ tải được gọi là “liên hợp”. Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh là quy luật phân bố chuẩn của phụ tải có thể coi phù hợp đối với đường trục có trên 6 hộ dùng điện. Thuật toán của phương pháp mô phỏng xác định phụ tải gồm các bước sau: - Mô phỏng quần thể biểu đồ nhóm của dòng điện phụ tải I(t) hoặc công suất tác dụng P(t); - Tính toán liều lượng hâm nóng ZT(t) hoặc (ZPT(t)) theo tích phân Dumel: Z T (t ) = I (0).h(t ) + ∫ [ I 2 (ξ )]t h(t − ξ )dξ
2 0 t

(2.54)

Trong đó: h(t) = 1 – e-t/T– hàm quá độ của khâu quán tính.
28

- Xác định hàm thống kê phân bố liều lượng hâm nóng theo tiết diện quần thể ZT(t) (ZPT(t)), được lấy ứng với chế độ xác lập (sau khi tắt của quá trình quá độ đốt nóng dây dẫn tại thời điểm tck); - Xác định giá trị cực đại tính toán của liều lượng hâm nóng ZT(t) hoặc (ZPT(t)) với giá trị xác suất giới hạn Ex cho trước tương ứng với nguyên lý tin cậy thực tế theo hàm thống kê phân bố liều lượng hâm nóng ZT(t), hoặc ZPT(t) (giá trị mà có thể tăng quá với xác suất 0,05). F(ZT.tt) = 1 - Ex hoặc F(ZPT.tt) = 1 - Ex ; (2.55) - Xác định phụ tải tính toán theo dòng điện I tt = Z T .tt hoặc theo công suất Ptt = Z PT .tt Biểu thức xác định phụ tải tính toán có dạng:
Ptt = Z TP .tt

(2.56)

Z T .tt = Z T .tb + β ZT D( Z T ) ,

Trong đó: ZT.tt – liều lượng hâm nóng tính toán ; ZТ.tb – giá trị trung bình của liều lượng hâm nóng; βzт – hệ số thống kê, phụ thuộc vào độ chính xác của phép tính. D(ZT) – phương sai của đại lượng ZTP Giá trị trung bình của liều lượng hâm nóng ZT.tb không phụ thuộc vào hằng số thời gian đốt nóng và bằng bình phương giá trị hiệu dụng của biểu đồ nhóm, có thể là phụ tải tính toán bằng giá trị hiệu dụng. Theo quy luật phân phối chuẩn, phương sai của liều lượng hâm nóng D(ZT) được xác định theo biểu thức: 2 2 D( P 2 ) 4 Ptb .D( P) D( Z T ) = + (2.57) 1 + 2α .T 1 + α .T Giá trị chính xác của hệ số thống kê βzт có thể xác định bằng phương pháp mô phỏng theo quy luật phân bố liều lượng hâm nóng (trong thực tế nó thường nằm trong khoảng βzт=1,76 ÷1,97). Thủ tục xác định phụ tải tính toán theo phương pháp liều lượng hâm nóng gồm các bước: - Xác định giá trị trung bình của biểu đồ nhóm và liều lượng hâm nóng; - Xác định hệ số hình dạng kf của biểu đồ nhóm; - Xác định tham số hồi quy tương đương của biểu đồ nhóm; - Xác định phương sai liều lượng hâm nóng theo biểu thức (2.56); - Xác định hệ số thống kê theo biểu thức: βzт=-0,3+1,9.kf; (2.58) Xác định phụ tải tính toán theo biểu thức (2.56), coi βzт=βzтк.. Để có thể nhận được biểu đồ nhóm của phụ tải cần mô phỏng nhiều biểu đồ phụ tải tác dụng và phản kháng độc lập. Biểu đồ nhóm của phụ tải tác dụng và phản kháng nhận được bằng cách cộng các biểu đồ độc lập tương ứng. Theo biểu đồ nhóm của phụ tải tác dụng và phản kháng xác định biểu đồ nhóm của công suất toàn phần.

-

29

Phương pháp mô phỏng có độ chính xác cao, nhưng có nhược điểm cơ bản của phương pháp này là khối lượng tính toán lớn, thời gian thực hiện tính toán lâu. Nhìn chung phương pháp này chỉ áp dụng trong quá trình nghiên cứu. 2.2.3. Phương pháp thực nghiệm Các biểu thức thực nghiệm được xây dựng trên cơ sở kết quả khảo sát ở một số mạng điện cụ thể. Để xác định phụ tải theo các phương pháp thực nghiệm đòi hỏi phải có các thông tin về đặc tính của các thiết bị tiêu thụ điện hoặc suất chi phí điện năng của một đơn vị sản phẩm. Các phương pháp cơ bản này bao gồm: 2.2.3.1. Phương pháp hệ số nhu cầu và hệ số đồng thời Như đã biết, trong phương pháp hệ số nhu cầu phụ tải của mạng điện động lực được xác định theo biểu thức: Рtt=kncΣРni=constΣРni. (2.59) Phụ tải của mạng điện sinh hoạt được xác định tương tự theo hệ số đồng thời: Рtt=kđtΣРni=constΣРni. (2.60) Trong đó: ΣРni – tổng công suất đặt của nhóm thiết bị điện; Pni – công suất định mức của thiết bị thứ i; Khác với phương pháp phân tích, ở đây các hệ số nhu cầu knc và hệ số đồng thời kđt được coi là hằng số. Giá trị của các hệ số này được xác định trên cơ sở số liệu thống kê của các tập mẫu và cho trong các phụ lục thiết kế mạng điện (xem bảng 1pl ÷4pl phần phụ lục). Cách xác định phụ tải tính toán như vậy cho phép đơn giản hóa bài toán, tuy nhiên cũng thường dẫn đến sai số lớn. Nhìn chung các phương pháp thực nghiệm được áp dụng trong quá trình tính toán thiết kế sơ bộ. 2.2.3.2. Phương pháp đa thức Các kết quả khảo sát cho thấy giá trị phụ tải cực đại cục bộ của thiết bị điện công suất lớn ở cùng một chế độ làm việc lớn hơn so với thiết bị có công suất nhỏ, vì không chỉ phụ tải trung bình của nó lớn hơn, mà còn do giá trị lớn của hệ số cực đại cục bộ. Trên cơ sở đó các chuyên gia đã áp dụng đa thức thực nghiệm cho việc tính toán phụ tải dạng: Рtt =с1Рn1+с2Рn2+ +стРn.т, (2.61) Trong đó: Рn1 –công suất của n1 thiết bị lớn nhất; Pn2 –công suất của n2 lớn nhì và v.v; Pn.m – công suất của nn thiết bị nhỏ nhất. с1, с2, ,ст –các hệ số hồi quy, biểu thị chế độ tiêu thụ chung của tất cả các thiết bị trong nhóm. Trong một số các trường hợp để đơn giản hóa bài toán, tất cả các thiết bị điện chỉ chia thành hai nhóm và như vậy biểu thức xác định phụ tải tính toán chỉ gồm hai số hạng: Рtt=bРn1+cРn2 (2.62) Trong đó: Рn1 –công suất của n1 thiết bị lớn nhất trong nhóm; Рn2 –công suất của các thiết bị còn lại; b, c – các hệ số hồi quy, biểu thị chế độ tiêu thụ chung của tất cả các thiết bị trong nhóm.
30

Nhược điểm cơ bản của các phương pháp thực nghiệm là hạn chế phạm vi ứng dụng, vì các phương pháp thực nghiệm chỉ có thể áp dụng cho các xí nghiệp được khảo sát. Các phương pháp này không xét đến các quá trình hoàn thiện công nghệ của thiết bị. Ưu điểm của phương pháp thực nghiệm là đơn giản, khối lượng tính toán ít, có thể áp dụng các bảng biểu tính sẵn của các hệ số nhu cầu, hệ số đồng thời v.v. nên rất tiện cho các bài toán thiết kế sơ bộ. 2.3. Trình tự xác định phụ tải tính toán 2.3.1. Sơ đồ tính toán phụ tải Việc tính toán phụ tải bắt đầu từ cấp thấp đến cấp cao, theo sơ đồ phả hệ của mạng điện (hình 2.5). Trước hết cần phân loại phụ tải theo từng nhóm tương đồng về đặc tính tiêu thụ điện (1), trên cơ sở kết quả xác định phụ tải của từng nhóm tiến hành tổng hợp phụ tải tại tủ phân phối (2), sau đó tổng hợp phụ tải tại thanh cái trạm biến áp phân phối (4) rồi đến trạm biến áp trung gian (5) và trạm biến áp vùng (6) v.v. Độ chính xác của bài toán phụ tải được xác định phụ thuộc vào yêu cầu và đặc điểm của mạng điện và vào phương pháp áp dụng giải bài toán. Cần lưu ý là các thiết bị điện sử dụng trong bài toán là thiết bị chuẩn với các bước công suất 1,3÷1,6. Ví dụ với bước 1,6 gam công suất sẽ là 1; 1,6; 2,5; 4; 6,3; 10 v.v.. Thông thường độ chính xác ở các cấp dưới cao hơn ở các cấp trên, tức là độ chính xác của bài toán phụ tải cao nhất ở mức thanh cái ngay ở đầu vào của các thiết bị dùng điện. Hình 2.5. Sơ đồ phả hệ xác định phụ tải tính toán của hệ thống cung cấp điện 1 – phụ tải của nhóm thiết bị dùng điện; 2 – phụ tải của tủ phân phối cung cấp cho các nhóm thiết bị; 3 – phụ tải trên thanh cái hạ áp của trạm biến áp phân phối; 4 – phụ tải trên thanh cái cao áp của trạm biến áp phân xưởng có xét đến tổn thất trong máy biến áp; 5 – phụ tải trên thanh cái thứ cấp của trạm biến áp trung gian có xét đến tổn thất trên các đường dây phân phối; 6 – phụ tải trên thanh cái sơ cấp của trạm biến áp trung gian có xét đến tổn thất trong máy biến áp; 7 – phụ tải trên thanh cái trạm biến áp hệ thống có xét đến tổn thất trên các đường dây cung cấp.

7 6 5

HTĐ 110kV TBA trung gian 10÷35kV
M

4
M

TBA phân phối 3 0,4kV

2 1 Về nguyên tắc, phụ tải tính toán ở cấp sau được tổng hợp trên cơ sở kết quả tính toán phụ tải ở cấp trước đó có xét đến tổn thất trên các phần tử mạng điện. Vì bài toán xác định phụ tải thường được tiến hành khi chưa biết các tham số của các phần tử mạng điện, nên tỷ lệ tổn thất có thể lấy trung bình là 10%. Tuy nhiên, trong hàng loạt bài toán xác định phụ tải sơ bộ, để đơn giản, người ta bỏ qua thành phần tổn thất. Phụ tải tính toán của các nhóm thiết bị được xác định theo các phương pháp riêng: - Nhóm phụ tải động lực: Pđl= kncΣPni;
31

- Nhóm phụ tải sinh hoạt: Psh= kđtΣPni Trong đó: Pni – công suất định mức của phụ tải thứ i; knc – hệ số nhu cầu của nhóm phụ tải động lực, có thể lấy theo bảng 2.pl ÷ bảng 3.pl phần phụ lục; kđt – hệ số đồng thời, phụ thuộc vào số hộ, lấy theo bảng 1.pl, hoặc theo biểu đồ hình 2.6.

a)

b)

2.3.2. Phương pháp tổng hợp phụ tải giữa số đồng thời phụ thuộc vào số lượng căn hộ: Hình 2.6. Biểu đồ xác định hệ các nhóm Việca) Đoạn đầu của biểu đồ (n=1÷20); b) thực sau của biểu đồ (n>20) tổng hợp phụ tải giữa các nhóm được Đoạn hiện theo nhiều phương pháp khác nhau, tùy từ trường hợp cụ thể có thể chọn phương pháp thích hợp nhất, dưới đây giới thiệu một số phương pháp thông dụng: a) Phương pháp số gia Phương pháp số gia được áp dụng thuận tiện khi các nhóm phụ tải có các tính chất khác nhau. Bảng số gia được xây dựng trên cơ sở phân tích, tính toán của hệ số đồng thời và hệ số sử dụng (cho sẵn trong các sổ tay thiết kế). Phụ tải tổng hợp của 2 nhóm được xác định bằng cách cộng giá trị của phụ tải lớn với số gia của phụ tải bé. P1-2 = Pmax + ∆Pi PΣ = P1 + ∆P2 PΣ = P2 + ∆P1 nếu P1 > P2 nếu P1< P2 (2.63)

∆Pi- Số gia của công suất Pi, xác định theo bảng1.pl. Để tiện cho việc lập trình khi sử dụng vi tính, thay cho việc tra bảng ta có thể sử dụng biểu thức

PΣ =

P + k 2 P2 1 P2 + k1 P 1

khi P > P2 1 khi P < P2 1
đối với mạng điện hạ áp; đối với mạng điện cao áp; (2.64)

Hệ số ki được xác định:

P ki = ( i ) 0, 04 − 0,41 ; 5 P ki = ( i )0, 04 − 0,38 ; 5

32

Cần lưu ý là cách ghép các cặp nhóm cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả tính toán. Trong trường hợp đã biết sơ đồ mạng điện thì trình tự tính toán được thực hiện từng cặp từ ngọn trở về thanh cái trạm biến áp. Nếu chưa biết sơ đồ thì tiến hành tổng hợp phụ tải bắt đầu từ cặp nhóm bé nhất. Nhìn chung phương pháp này đơn giản, dễ tính và khá chính xác, nhưng cần lưu ý là phụ tải tổng hợp của hai nhóm phải được xác định ở cùng một thời điểm. Trong trường hợp các phụ tải thành phần không ở cùng thời điểm thì cần tính tới hệ số tham gia vào cực đại của chúng. b) Phương pháp hệ số nhu cầu Phụ tải tổng hợp của các nhóm thiết bị cũng có thể được xác định theo biểu thức: Ptt.Σ= kncΣPtt.i (2.65) Trong đó: kncΣ - hệ số nhu cầu tổng hợp của các nhóm thiết bị, được xác định theo biểu thức:

kncΣ = k sdΣ +

1 − k sdΣ ; N

(2.66)

Với N là số nhóm và ksd∑. là hệ số sử dụng tổng hợp chung của nhóm. Trong trường hợp không có số liệu cụ thể, thì giá trị của hệ số k ncΣ có thể lấy một cách gần đúng, phụ thuộc vào số nhóm theo bảng 4.pl (phụ lục). c) Phương pháp hệ số tham gia vào cực đại Phụ tải tổng hợp của các nhóm thiết bị (hoặc các điểm tải) được xác định theo biểu thức:

Ptt .Σ = Ptt .M + ∑ ktMi Ptt.i ,
1

n −1

(2.67)

Trong đó: Рtt..M – giá trị phụ tải tính toán lớn nhất trong các nhóm thiết bị được cung cấp từ tủ phân phối; Рtt.i, – giá trị phụ tải tính toán của nhóm thứ i (trừ nhóm lớn nhất); n – số nhóm tải; ktMi – hệ số tham gia vào cực đại của nhóm thiết bị thứ i, phụ thuộc vào tính chất của phụ tải và thời điểm cực đại, có thể xác định theo bảng 2,5 sau: Bảng 2.5. Hệ số tham gia vào cực đại của một số nhóm phụ tải đặc trưng Phụ tải Cực đại ngày cực đại đêm Sản xuất 0,8÷1 0,4 ÷ 0,6 Sinh hoạt 0,3 ÷ 0,4 0,7÷ 1 Xác định hệ số công suất trung bình của mạng điện cosϕtb:
cos ϕ tb =

∑P
i =1

n

tt i

cos ϕ i

∑ Ptti
i =1

n

;

(2.68)

Trong đó:
33

Ptt.i – công suất tính toán của nhóm thiết bị thứ i; cosϕi – hệ số công suất của nhóm thiết bị thứ i. Công suất phản kháng và công suất toàn phần được xác định theo các biểu thức quen thuộc: PttΣ QttΣ = PttΣ.tgϕtb và S ttΣ = (2.69) cos ϕ tb 2.4. Dự báo nhu cầu phụ tải điện Dự báo nhu cầu phụ tải điện là một trong những bài toán quan trọng trong quy hoạch và phát triển hệ thống điện, kết quả của dự báo nhu cầu điện có ảnh hưởng rất lớn đến các tham số kinh tế - kỹ thuật của mạng điện và đến tiến trình phát triển hệ thống điện. Có nhiều cách tiếp cận về dự báo phụ tải là dựa vào hệ số phát triển hoặc dựa vào các mô hình kinh tế lượng hoặc mô hình phân tích kinh tế - kỹ thuật. Bản chất của mô hình kinh tế lượng là dựa trên mối liên hệ của các nhân tố giá và thu nhập hoặc các thông số của hoạt động kinh tế khác với nhu cầu năng lượng. Gần đây một cách tiếp cận mới đã được đề xuất là mô hình dự báo dựa vào kỹ thuật trí tuệ nhân tạo. Sơ đồ các phương pháp dự báo nhu cầu phụ tải điện được thể hiện trên hình 2.7.

Hệ số phát triển Chuyên gia Đàn hồi Tuyến tính Parabol

Phương pháp dự báo phụ tải Kinh tế lượng Hồi quy đơn Ngoại suy Hàm chữ S Tương quan

Mạng neuron nhân tạo Kinh tế kỹ thuật MEDEES MAED

Hình 2.7. Sơ đồ phân loại các phương pháp dự báo nhu cầu phụ tải điện

2.4.1. Dự báo phụ tải dựa trên hệ số phát triển Thông thường khi thiết kế mạng điện, phụ tải được tính ở năm cuối của chu kỳ tính toán, bởi vậy nếu các dữ kiện về phụ tải được cho ứng với thời điểm hiện tại, thì cần phải hiệu chỉnh để có giá trị dự báo ở cuối chu kỳ. Giá trị dự báo của phụ tải được xác định theo các phương pháp khác nhau tùy thuộc vào các dữ liệu thu thập được. Trong những trường hợp không đủ thông tin, thì có thể xác định giá trị phụ tải dự báo theo biểu thức: Pt = kpt.PM (2.70) Trong đó:
34

Hồi quy bội

Hàm mũ

Logistic

Pt – giá trị công suất dự báo năm thứ t, kW; PM – giá trị công suất tính toán năm hiện tại, kW; kpt – hệ số phát triển của phụ tải trong tương lai, có thể xác định phụ thuộc vào số liệu thống kê theo các phương pháp khác nhau: 1) Xác định hệ số phát triển theo số liệu về điện năng tiêu thụ Hệ số phát triển của phụ tải trong tương lai, có thể xác định theo biểu thức: k ( A − Amv.t ) k pt = T nn.t (2.71) At 0 Trong đó: At0 – điện năng tiêu thụ thực tế ở năm xuất phát t0; Ann.t – điện năng dự báo của phụ tải vùng ở năm thứ t; Amv.t – điện năng của các điểm tải lớn được đưa vào trong khoảng thời gian từ năm t0 đến năm t; kT – hệ số tính đến sự tăng trưởng của thời gian sử dụng công suất cực đại, có thể lấy giá trị nhau sau: Năm dự báo 5 10 15 kT 0,93 0,95 0,98 Nếu trong vùng có sự hiện diện của các điểm tải lớn, mà không có khả năng phát triển trong tương lai, thì hệ số kT được xác định theo biểu thức sau: kT ( Ann.t − Amv.t − Ak . pt ) k pt = (2.72) At 0 − Ak . pt Trong đó: Ak.pt – điện năng tiêu thụ của các điểm tải không có khả năng phát triển. Trong những trường hợp không đủ thông tin, thì hệ số phát triển phụ tải có thể lấy gần đúng phụ thuộc vào đặc tính của các loại phụ tải theo bảng 2.6 sau: Bảng 2.6. Hệ số phát triển trung bình của một số loại phụ tải Loại phụ tải Năm dự báo 5 7 10 15 Sinh hoạt, dịch vụ 1,2 1,3 1,7 2 Sản xuất 1,3 1,4 2,1 2,4 Hỗn hợp 1,3 1,4 2 2,2 2) Xác định hệ số phát triển theo số liệu về vốn đầu tư trang thiết bị Theo phương pháp này có thể dựa trên mức độ trang bị hiện tại và kế hoạch phát triển sản xuất tương lai của xí nghiệp để dự báo nhu cầu điện năng. Phụ tải trong năm thứ t xác định theo biểu thức: Pt=kα.P0 kα - Hệ số phụ thuộc vào mức độ trang bị đầu tư
kα = (1 + α t ) t1 (1 + α h ) t 0

(2.73)

Trong đó: αt , αh – suất gia tăng tương đối của vốn đầu tư trong tương lai và hiện tại.
35

Vt , Vh , V0 – vốn đầu tư trong năm dự báo thứ t, năm cơ sở và ở năm đầu của chu kỳ tính toán vừa qua; t1 , t0 – thời gian của chu kỳ sắp tới và chu kỳ trước.

α t = t1

Vt −1 ; Vh

α h = t0

Vh −1 V0

(2.74)

Po – công suất tính toán ở năm đầu chu kỳ vừa qua. Phương pháp dự báo phụ tải theo hệ số phát triển có ưu điểm là đơn giản, nhưng thường có sai số lớn, vì vậy chỉ áp dụng trong trường hợp quy hoạch sơ bộ. 2.4.2. Mô hình kinh tế lượng Các mô hình kinh tế lượng được sử dụng rộng rãi trong dự báo nhu cầu năng lượng. Tuy nhiên, giả định gốc của cách tiếp cận này là mối liên hệ giữa thu nhập, giá và nhu cầu năng lượng tồn tại trong quá khứ sẽ tiếp tục giữ vững trong tương lai. Cấu trúc cơ bản của nhu cầu năng lượng không được phân tích và năng lực dự báo của mô hình sẽ bị phá vỡ khi cấu trúc cơ bản thay đổi. Thực tế cho thấy, môi quan hệ giữa năng lượng, thu nhập và giá năng lượng có thể thay đổi đáng kể trong tương lai khi mà những thay đổi quan trọng trong cấu trúc công nghệ của nhu cầu năng lượng và phản ứng của người tiêu dùng xảy ra. Các mô hình kinh tế lượng được áp dụng với nhiều dạng khác nhau, dưới đây là một số mô hình cơ bản: 2.4.2.1. Phương pháp hệ số đàn hồi Phương pháp hệ số đàn hồi (elastic) là phương pháp dự báo phụ tải dựa vào mức tăng trưởng của các ngành kinh tế. Nhu cầu điện năng A được xác định lần lượt cho các năm kể từ năm thứ t+1 (năm t là năm được chọn làm cơ sở) theo biểu thức :

At +1 = At (1 + λE yt*+1 )
Trong đó:

(2.75)

y t*+1 - mức tăng trưởng thu nhập kinh tế quốc dân (GDP) dự báo của năm tương ứng, tuy nhiên
* trong thực tế không dự báo mức tăng GDP cho từng năm, nên y t +1 lấy bằng giá trị trung bình

của cả giai đoạn phát triển kinh tế. λE – hệ số đàn hồi, được xác định cho một giai đoạn phát triển (5÷10 năm), xác định theo biểu thức :

λE =

a* y* At + n 1 ) n −1 At Gt + n 1 ) n −1 Gt

a* và y* - tỷ lệ tăng trưởng trung bình của điện năng và GDP.

a* = ( y* = (

n – số năm quan sát At và At+n – phụ tải năm thứ t và năm thứ t+n.
36

Gt và Gt+n – GDP của năm thứ t và n năm sau đó. Dạng chung nhất của phương trình kinh tế lượng được sử dụng trong các nghiên cứu năng lượng dựa trên hàm số sản xuất Cobb-Douglas:

A = aE Bαet g − βet
Trong đó: A – nhu cầu điện năng; B – thu nhập; g – giá năng lượng; aE – hệ số hồi quy;

(2.76)

αet – đàn hồi nhu cầu năng lượng; βet – đàn hồi giá điện. Đàn hồi nhu cầu điện năng biểu thị nhu cầu năng lượng thay đổi do sự thay đổi giá năng lượng và thu nhập trong mô hình kinh tế lượng. Giá trị này có thể được xác định như sau:
∆A δA% α Et = = A δB% ∆B B

(2.77)

Trong đó: δA%, δB% – suất tăng tương đối điện năng và GDP; ∆A; ∆B – tăng trưởng trung bình điện năng và thu nhập trong giai đoạn xét. Xác định tương tự đối với đàn hồi giá điện:
∆A δA% β Et = = A δg % ∆g g

δg% – suất tăng tương đối giá điện; g – giá điện; ∆g - tăng trưởng trung bình giá điện trong giai đoạn xét. Một ứng dụng quan trọng của mô hình kinh tế lượng là sử dụng dự báo hiệu quả sử dụng năng lượng. Tuy nhiên, dự báo này dựa trên sự phát triển của các dịch vụ năng lượng. Nếu cấu trúc công nghệ của nhu cầu năng lượng giữ nguyên không thay đổi, bao gồm cả hiệu quả sử dụng năng lượng cuối cùng, dẫn đến dự báo tăng trưởng sử dụng năng lượng đồng nhất với tăng trưởng dịch vụ năng lượng. Kiểu dự báo này cũng dẫn đến như là kịch bản đóng băng hiệu quả (frozen-efficiency). Các mô hình kinh tế lượng có ưu điểm là yêu cầu dữ liệu không nhiều và dựa trên lý thuyết thống kê. Thường chúng được sử dụng cho tất cả các nhóm hộ sử dụng năng lượng mà không cần xét tới cấu trúc công nghệ sử dụng năng lượng. Vì vậy, chúng được sử dụng khá rộng rãi. 2.4.2.2. Mô hình kinh tế lượng sử dụng phương pháp ngoại suy Nội dung của phương pháp này là nghiên cứu diễn biến của phụ tải trong các năm quá khứ tương đối ổn định và tìm ra quy luật biến đổi của phụ tải phụ thuộc vào thời gian, từ đó sử
37

dụng mô hình tìm được để ngoại suy cho giai đoạn dự báo. Các mô hình dự báo được xác định trên cơ sở phân tích tương quan hồi quy. Tùy thuộc vào sự diễn biến của phụ tải trong các năm quá khứ, có thể tồn tại một số dạng mô hình dự báo cơ bản sau đây: a. Hàm tuyến tính Mô hình tuyến tính biểu thị sự biến đổi của phụ tải P theo thời gian t có dạng: Pt = a.t + b (2.78) Trong đó: a và b là các hệ số hối quy, được xác định theo phương pháp bình phương cực tiểu, là nghiệm của hệ phương trình sau: a

∑ t i + b∑ti = ∑Pi ti

n

2

a ∑ti + nb = ∑Pi Pi - Giá trị phụ tải quan sát ở năm thứ i ti - Năm quan sát. Giá trị của các hệ số hồi quy cũng có thể dễ dàng được xác định bởi chương trình Excel với lệnh đơn giản sau: - Đối với hệ số a dùng lệnh: “ index(linest(Pđ:Pc,tđ:tc),2)” Đối với hệ số b dùng lệnh: “ index(linest(Pđ:Pc,tđ:tc),1)”. Trong đó: tđ, tc – tọa độ các ô năm đầu và năm cuối của thời gian lấy số liệu; Pđ, Pc – tọa độ các ô phụ tải năm đầu và năm cuối của dãy số liệu. Mô hình dự báo tuyến tính cũng có thể được biểu thị dưới dạng: Pt = Po + P0,α.(t-t0) = P0[1+.αP.(t-t0)] (2.79) Trong đó: P0 - Phụ tải năm cơ sở t0 ; αP - suất tăng phụ tải trung bình hàng năm:

αP =

Σα i ; n

αi - tỷ lệ tăng phụ tải năm thứ i so với năm trước. Suất tăng trung bình cũng có thể xác định theo biểu thức :

P α P % = ( c ) tc −tđ − 1).100 Pđ
Trong đó: tđ, tc – năm đầu và năm cuối của dãy số liệu; Pđ, Pc – phụ tải ở năm đầu và năm cuối của dãy số liệu. b. Hàm Parabol Mô hình Parabol, hay còn gọi là mô hình bậc hai được biểu thị dưới dạng: Pt = a.t2 + bt + c (2.80) Các hệ số hồi quy a, b, c được xác định theo điều kiện bình phương cực tiểu với hệ phương trình: a ∑ t i + b ∑ t i + c ∑ t i = ∑ t i Pi
4

1

3

2

2

38

a∑ t i + b ∑ t i + c ∑ti = ∑tiPi
2

3

a∑ t i + b∑ti + nc

2

= ∑Pi

c. Hàm mũ Đối với phụ tải có quá trình phát triển nhanh, ổn định mô hình ngoại suy có thể biểu diễn dưới dạng hàm mũ: Pt = P0 (1+αP)t (2.81) Trong đó: P0 - Phụ tải của năm cơ sở ; αP - Suất gia tăng phụ tải hàng năm. Nếu đặt hệ số C = (1+αP) thì hàm mũ (2.69) có thể biểu diễn dưới dạng ngắn gọn sau: Pt = P0C t (2.82) Trong nhiều trường hợp hàm mũ cũng có thể biểu thị dưới dạng: Pt = A.eat (2.83) Trong đó : A và a là các hệ số được xác định từ số liệu thống kê. d. Mô hình Logistic Phụ tải dự báo theo mô hình dự báo logistic được xác định theo biểu thức:

Pt =
Trong đó:

A ; P0 + Be −α P .t

(2.84)

αP - tỷ lệ gia tăng phụ tải trung bình hàng năm, xác định theo

αP = n

∏α
i =1

n

i

(2.85)

A = P0, Pb ; B = Pb - P0 P0 - công suất của năm cơ sở; PB - công suất bão hoà; αi – giá trị gia tăng phụ tải năm thứ i. Mô hình logistic thường được áp dụng rất có hiệu quả đối với dự báo phụ tải điện sinh hoạt, đặc biệt đối với bài toán dự báo dài hạn. e. Mô hình đường cong chữ S Tồn tại một số mô hình biến dạng của mô hình logistic mà người ta thường gọi là mô hình dự báo đường cong chữ S:

n P = ; t 1 +m.e −at

(2.86)

Với: m; n; a là các tham số của mô hình dự báo. Phương pháp ngoại suy là một trong những phương pháp được ứng dụng nhiều do những ưu điểm là phản ánh khá chính xác quá trình phát triển của phụ tải ổn định, có thể đánh giá mức độ tin cậy của hàm xu thể dễ dàng. Tuy nhiên theo phương pháp này cần phải có lượng thông tin đủ lớn, quá trình khảo sát quá khứ và quá trình phát triển trong tương lai phải tương đối ổn định. Để nâng cao độ chính xác cần phải dự báo riêng cho từng thành phần của phụ tải rồi sau đó mới tổng hợp theo các phương pháp tính toán thông dụng. Hàm dự báo được xây dựng trên cơ sở số liệu thống kê của những tập mẫu và đánh giá mức độ chặt chẽ bằng hệ số tương quan tuyến tính:
39

r=

µP ,t , σP .σt

(2.87)

Hoặc hệ số tương quan phi tuyến:
R = 1−

∑ (x − X ) . ∑(y − Y)
2 i 2 i

(2.88)

Độ tin cậy của mô hình dự báo được đánh giá theo giá trị của hàm Student, xác định theo biểu thức: ; (2.89) 1− r2 So sánh giá trị t tìm được theo biểu thức trên với giá trị tb tra theo bảng phân phối Student, phụ thuộc vào số bậc tự do (n-2) và mức ý nghĩa cần thiết, nếu t > t b thì mô hình dự báo là đáng tin cậy. 2.4.2.3. Phương pháp tương quan Phân tích tương quan hồi quy là xác định sự liên quan định lượng giữa hai biến ngẫu nhiên Y và X, kết quả của phân tích hồi quy được dùng cho dự báo khi một trong các biến, bằng cách nào đó, được xác định trong tương lai. Hồi quy đơn được dùng để xem xét mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến X và Y, trong đó X được xem là biến độc lập (ảnh hưởng đến biến Y), còn Y là biến phụ thuộc (chịu ảnh hưởng bởi biến X). Thực chất nhu cầu điện không chỉ liên quan đến một, mà có liên quan đến rất nhiều yếu tố, như: Thu nhập quốc gia (NI – National Income); Dân số (POP – population); Tổng sản phẩm nội địa (GDP – Gross of Domestic Production); Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index) v.v.., vì vậy trong thực tế người ta thường sử dụng phương pháp tương quan hồi quy bội [3] để giải quyết vấn đề này. Quan hệ giữa nhu cầu điện Y với các nhân tố xi được thể hiện dưới một số dạng chính sau: a) Dạng tuyến tính: y = a 0 +a 1 x 1 +a 2 x 2 +...+ a k x k b) Dạng phi tuyến:
a a + Dạng Cobb Douglas: y = a0 x1 1 x2 2 ...xk k a p p + Dạng mũ: y = a0 + a1 x1 1 + a2 x2 2 + ... + ak xk k p

t=

r⋅ n− 2

(2.90) (2.91) (2.92)

Trong đó: ai, pi – các hệ số hồi quy. Để kiểm định mô hình tương quan người ta áp dụng nhiều tiêu chuẩn khác nhau, một trong số đó là hệ số xác định R2 áp dụng trong phân tích hồi quy bội. Chi tiết về xác định R2 có thể xem trong tài liệu. 2.4.3. Mô hình phân tích kinh tế-kỹ thuật 2.4.3.1. Phương pháp luận tổng quát của mô hình phân tích kinh tế - kỹ thuật Các mô hình dự báo phân tích kinh tế - kỹ thuật chi tiết hơn nhiều so với mô hình kinh tế lượng, mặc dù công thức tính toán của chúng hoàn toàn đơn giản.

40

Cách tiếp cận phân tích kinh tế - kỹ thuật đã chú ý xem xét cả về quy mô và cấu trúc công nghệ của dịch vụ năng lượng. Nhu cầu năng lượng cho mỗi hoạt động là sản phẩm của 2 yếu tố: mức độ hoạt động (dịch vụ năng lượng) và cường độ năng lượng (năng lượng sử dụng trên 1 đơn vị dịch vụ năng lượng). Hơn nữa, tổng nhu cầu năng lượng quốc gia hoặc từng thành phần bị tác động bởi sự thay đổi cấu trúc của nhu cầu năng lượng. Hầu hết những phân tích năng lượng từ dưới lên (bottom-up) hàm chứa sự pha trộn các dịch vụ năng lượng và các hoạt động (cấu trúc của nhu cầu năng lượng). Mức độ của hoạt động năng lượng phụ thuộc vào các nhân tố như dân số, thu nhập và tổng sản phẩm quốc nội. Mức độ của cường độ năng lượng phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng năng lượng bao gồm cả khía cạnh công nghệ và vận hành. Phép tổng các mức độ của 2 nhân tố của các hoạt động trên cho tổng nhu cầu năng lượng: Euse =

 Qi * Ii
i 1

n

(2.93)

Với: Qi: Số lượng dịch vụ năng lượng i; Ii: Cường độ năng lượng đối với dịch vụ năng lượng i. Cường độ năng lượng Ii có thể giảm do thay đổi công nghệ có hiệu suất năng lượng cao hơn, không tác động tới mức độ của dịch vụ năng lượng. Sử dụng năng lượng cũng có thể giảm bởi thay đổi tập quán sử dụng các thiết bị sử dụng năng lượng cuối cùng, vì vậy giảm sử dụng năng lượng hàng năm. Nếu sự giảm này đạt được do giảm sử dụng lãng phí hoặc không cần thiết (ví dụ thông qua hoàn thiện công nghệ điều khiển) nó có thể được xem như cải thiện hiệu suất (giảm Ii). Tuy nhiên, nếu sự giảm xuất phát từ người tiêu dùng như giảm mức chiếu sáng, giảm nhiệt độ nước tắm sẽ được xem như giảm mức độ dịch vụ năng lượng (giảm Qi). Số lượng của các dịch vụ năng lượng Qi phụ thuộc vào một số nhân tố bao gồm: dân số, tổng số các hộ tiêu thụ và phạm vi sử dụng của mỗi một dịch vụ. Qi = Ni . Pi . Mi (2.94) Ở đây : Qi = số lượng dịch vụ năng lượng i Ni = số khách hàng thích ứng với dịch vụ năng lượng i Pi = Tổng các khách hàng của dịch vụ năng lượng i Mi = Phạm vi sử dụng của dịch vụ năng lượng i Tham số Ni có thể là hộ gia đình, toà nhà thương mại hoặc hộ công nghiệp. Yêu cầu chủ yếu để xác định là nó phù hợp với nhóm thuộc biến P. Giá trị Pi đơn giản chỉ là phần đóng góp của các khách hàng sử dụng dịch vụ năng lượng i. Thông số Mi phụ thuộc vào phân tích kinh tế - kỹ thuật. Đối với phân tích kinh tế - kỹ thuật công nghiệp, dạng đơn giản của nó là tấn sản phẩm, đối với thương mại Mi biểu thị tổng dịch vụ và mức độ dịch vụ được cung cấp, ví dụ lumen (lux) trên m2 được chiếu sáng, nó có thể được thay thế bởi số giờ được chiếu sáng hay số giờ có độ sáng lux đã cho. 2.4.3.2. Mô hình MEDEE-S MEDEE-S (Model for Energy Demand Evaluation) là mô hình dự báo nhu cầu năng lượng dùng cho dự báo dài hạn (từ 15÷20 năm). Đây là loại mô hình dạng phân tích kinh tế – kỹ thuật, trong đó quá trình tiến hành nhằm nhận dạng các nhân tố kinh tế, dân số, xã hội và kỹ thuật tác động đến sự phát triển về nhu cầu năng lượng, từ đó đánh giá và mô phỏng sự tiến
41

triển của chúng trong thời gian dự báo hoặc là thông qua các tính toán trực tiếp từ mô hình hoặc là việc thông qua xây dựng các kịch bản. Các cơ cấu đánh giá nhu cầu năng lượng của mô hình xuất phát từ việc phân tích hệ thống tiêu hao năng lượng các module đồng nhất, cụ thể là: - Số lượng và cấu trúc nhu cầu năng lượng của khu vực sinh hoạt được đánh giá và phân biệt theo vùng địa lý (nông thôn, thành thị,...),theo tầng lớp xã hội, theo thu nhập, theo nghề nghiệp xã hội,... Đối với một tầng lớp xã hội, nhu cầu năng lượng được xác định theo từng loại nhu cầu sử dụng (đun nấu, thắp sáng,...). - Đánh giá nhu cầu năng lượng khu vực công nghiệp cũng được tiến hành theo ngành (luyện kim, giấy, xi măng,...) và theo loại công nghệ cũng như loại sử dụng (sử dụng nhiệt, sử dụng chuyên dụng,...). - Nhu cầu năng lượng của khu vực nông nghiệp có thể được đánh giá một cách tổng quát theo ngành, theo dạng sử dụng hoặc cũng có thể phân tích theo ngành và theo dạng thiết bị sử dụng. - Trong lĩnh vực giao thông vận tải, quá trình phân tích được tiến hành theo vận tải hàng hoá vận tải hành khách trong đó có xét đến tính da dạng về các phương tiện vận tải trong các nước đang phát triển Về mặt cấu trúc, mô hình MEDEE-S gồm một mô hình cơ sở được tính toán tự động theo 5 ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, dịch vụ và vận tải ) và một loại các mô hình con là những tính toán chi tiết mà khi áp dụng chúng ta có thể lựa chọn hoạc không, tuỳ theo đặc điểm của quốc gia được nghiên cứu, theo mức độ chi tiết của nguồn dự trữ có thể thu nhập được. Điều này tạo cho mô hình một khả năng thích cao trong quá trình ứng dụng. Những ưu điểm của mô hình - Mô hình đưa ra một phác hoạ dễ hiểu về nhu cầu năng lượng bằng việc chỉ rõ các biến điều khiển nhu cầu này, vì thế có thể điều khiển sự phát triển nhu cầu này bằng các chính sách năng lượng. - Mô hình có thể được dùng để thành lập bảng cân bằng năng lượng ở mức độ tiêu thụ năng lượng cuối cùng. - Mô hình có thể lượng hoá những thay đổi của nền kinh tế xã hội thông qua sự thay đổi của nhu cầu năng lượng. - Các thông tin cần thiết dễ dàng được nhận ra. Vì vậy việc thu thập, xử lý số liệu và thông tin cần thiết cũng dễ dàng. 2.4.3.2. Mô hình MAED (Model for Analysis of the Energy Demand) Mô hình MAED được sử dụng cho mục đích dự báo nhu cầu năng lượng. Mô hình MAED được xây dựng trên cơ sở rút gọn mô hình MEDEE-S. Cấu trúc chung của mô hình MAED bao gồm 3 Module (hình 2.8): + Module 1: ED “Energy Demand” sử dụng để tính toán nhu cầu năng lượng cuối cùng theo dạng và theo các ngành kinh tế cho từng năm trong chu kỳ nghiên cứu. + Module 2: HEPD “Hourly Electric Power Demand” sử dụng để biến đổi nhu cầu điện năng hàng năm của từng hộ tiêu thụ chính thành nhu cầu theo giờ đặt lên hệ thống điện.

42

+ Module 3: LDC “Load Duration Curve” sử dụng để sắp xếp nhu cầu theo giờ của hệ thống điện theo thứ tự giảm dần và xây dựng thành "đường cong phụ tải".

Module 1 ED Chuẩn bị các KB: Xã hội Kinh tế Công nghệ,…
Điện năng Năng lượng cuối cùng Các dạng năng lượng

Module 2 HEPD

Module 3
LDC

WASP
Model

Hình 2.8 Cấu trúc mô hình MAED Mô hình MAED được thực hiện gồm các bước sau: 1) Đưa ra một phân tích chắc chắn của tiêu dùng năng lượng của quốc gia theo nhiều loại sử dụng cuối cùng. Phân tích này được bắt đầu bằng việc phân toàn bộ nền kinh tế quốc gia thành một số khu vực kinh tế đặc trưng như: nông nghiệp, xây dựng, khai mỏ, công nghiệp chế biến, giao thông vận tải,vv.. Và sau đó lại tiếp tục phân thành các loại sử dụng cuối cùng cơ bản trong từng khu vực kinh tế như: sử dụng điện, nhiệt, và nhiên liệu động cơ. 2) Xác định các yếu tố kỹ thuật, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến từng loại nhu cầu năng lượng cuối cùng của từng khu vực kinh tế. 3) Xác định rõ hàm biểu thị liên hệ giữa tiêu dùng năng lượng và các yếu tố có ảnh hưởng đến tiêu dùng năng lượng. 4) Xây dựng các kịch bản phát triển kỹ thuật và kinh tế-xã hội. 5) Đánh giá tiêu dùng năng lượng cho từng kịch bản đó. Mô hình MAED sử dụng phương pháp mô phỏng trên cơ sở các kịch bản (MAED is a simulation model based on the scenario approach) để đánh giá nhu cầu năng lượng của đất nước trong thời kỳ quy hoạch. Ứng dụng mô hình MAED đòi hỏi mô tả hàm quan hệ giữa Hệ thống năng lượng và Hệ thống kinh tế. Những thay đổi về kinh tế -xã hội và công nghệ bên trong và bên ngoài đất nước sẽ tạo thành những yếu tố làm ảnh hưởng tới nhu cầu năng lượng. Tập hợp tất cả những yếu tố này tạo thành một "Kịch bản". Mỗi kịch bản được xây dựng trên cơ sở xem xét các nhân tố chính: - Dân số và nhân chủng học; - Các hoạt động kinh tế và thu nhập quốc nội; - Cường độ năng lượng trong các ngành kinh tế; - Mức độ thâm nhập của điện năng; - Các dự báo phát triển ngành với những chính sách chính; - Những tiến bộ về công nghệ đã được tiên liệu.

43

Nhu cầu năng lượng theo các dạng năng lượng được tính toán dự báo theo hai cách: từ dưới lên và từ trên xuống. Cách từ dưới lên, hệ thống năng lượng được phân thành các hệ thống con và nhu cầu năng lượng được dự báo cho các hệ con rồi tổng hợp lên cho hệ thống toàn quốc. Cách từ trên xuống, nhu cầu năng lượng thường được phân tích và dự báo ở tầm vĩ mô rồi sau đó được dự báo cho các hệ thống con của nền kinh tế. Với phương pháp này, nhu cầu năng lượng quốc gia được dự báo trên cơ sở nhu cầu năng lượng của từng ngành kinh tế, các ngành lại được tính trên cơ sở các quá trình sử dụng năng lượng. Nhìn chung có thể chia nền kinh tế quốc dân thành 3 ngành lớn: Công nghiệp, Giao thông vận tải, Dân dụng- dịch vụ : - Công nghiệp được chia thành 5 ngành nhỏ: năng lượng, công nghiệp chế biến, khai thác mỏ, xây dựng và cả nông nghiệp; Công nghiệp chế biến được phân thành 4 ngành nhỏ hơn: vật liệu cơ bản, máy móc thiết bị, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp khác. Trong mỗi ngành nhỏ lại được phân thành các quá trình nhiệt độ cao, trung bình, thấp,… - Giao thông vận tải được chia ra giao thông vận tải hành khách, hàng hoá; mỗi loại lại chia theo phương tiện quá trình vận tải: đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, hàng không… - Dịch vụ và gia dụng được chia thành đân dụng và dịch vụ, trong dịch vụ và gia dụng lại phân nhỏ thành các quá trình đun nấu, sấy sưởi, điều hoà, thông gió, chiếu sáng,… Tính tổng hợp phương pháp yêu cầu chia thành 3 ngành kinh tế lớn, 12 ngành con và khoảng 100 quá trình, cần phân tích và chuẩn bị khoảng 150 nhóm số liệu (chi tiết có thể xem trong. Việc phân chia nhỏ này có ưu điểm: + Mô phỏng được gần với thực tế hệ thống năng lượng; + + Có khả năng sử dụng được các ý đồ kế hoạch, quy hoạch của từng ngành; Xác định được chi tiết hơn tiêu hao năng lượng của các công nghệ, quá trình sử dụng năng lượng và dự báo các công nghệ sẽ sử dụng. Tuy nhiên, việc chia nhỏ lại có các nhược điểm: + Đòi hỏi nhiều số liệu các dạng khác nhau; + Yêu cầu số liệu đảm bảo chi tiết, chính xác. Nhược điểm này trở thành một khó khăn lớn trong điều kiện nước ta thiếu số liệu thống kê, số liệu thiếu chính xác. Trong quá trình tính toán đang phải sử dụng nhiều số liệu đánh giá hoặc thống kê nhưng chưa đủ chính xác. Đây cũng là khó khăn chung đối với cả các phương pháp MEDEE-S, DDAS. Mô hình MAED có một số ưu điểm là: - Phương pháp mô phỏng hệ thống năng lượng khá chi tiết; - Là phương pháp rút gọn hơn MEDEE-S, cho phép tiện sử dụng hơn; - Các tập số liệu đã cập nhật, chuẩn bị nhất định, có kinh nghiệm hơn; - Phương pháp đã được một số đề tài, dự án sử dụng cho kết quả khá chính xác, chấp nhận được.
44

2.4.4. Dự báo nhu cầu điện dựa trên kỹ thuật trí tuệ nhân tạo Trí tuệ nhân tạo, một ngành khoa học nhằm mô phỏng bằng máy tính về hành vi thông minh của con người. Một trong những ứng dụng của nó là mạng neuron nhân tạo ANN (Artifical Neuron Networks). Mạng neuron có khả năng chiết xuất thông tin từ những dữ liệu không chắc chắn hay những dữ liệu phức tạp nhằm phát hiện ra những xu hướng không quan sát được bằng mắt thường hoặc bằng một số các kỹ thuật máy tính khác. Gần 90% các mạng neuron ứng dụng ngày nay sử dụng phương pháp lan truyền ngược (back propagation). Một trong những ứng dụng của mạng neuron lan truyền ngược (back-propagation Neuron Network) là khả năng dự báo: khi cho một tập mẫu dữ liệu theo thời gian, mạng neuron lan truyền ngược có thể dự báo các giá trị của mẫu đó trong tương lai. Trong hệ thống Neuron, nhiều thí dụ được lập chương trình trong máy vi tính. Những thí dụ này bao gồm toàn bộ các mối quan hệ trong quá khứ giữa các biến có thể ảnh hưởng đến các biến phụ thuộc. Chương trình hệ thống Neuron sau đó bắt chước thí dụ này và cố gắng bắt chước mối quan hệ cơ sở đó bằng cách học hỏi khi xử lý. Quá trình học hỏi này cũng được gọi là đào tạo giống như việc đào tạo con người trong công việc. Một mạng neuron nhân tạo được biểu diễn bằng một tập các nút và các cung có hướng giống như trong lý thuyết đồ thị. Một nút tương ứng với một neuron. Một cung tương ứng với một đường nối có chiều là chiều truyền của tín hiệu giữa các neuron. Các neuron trong mạng được phân chia thành các neuron đầu vào, có nhiệm vụ nhận dữ liệu từ môi trường; các neuron ẩn, biến đổi dữ liệu biểu diễn; và neuron đầu ra, biểu diễn các tín hiệu quyết định hoặc tín hiệu điều khiển. Mỗi một neuron nhân tạo nhận một tập các tín hiệu thông tin vào X 1, X2, ..., Xn (hình 2.9). Mỗi tín hiệu vào Xi được nhân với một trọng số Wi tựa như lực khớp nối trong neuron sinh học.

Hàm kích hoạt

Tổng trọng hoá Ngưỡng Các trọng số Hình 2.9. Quá trình xử lý thông tin của neuron nhân tạo

45

Tổng của tất cả các đầu vào có trọng số xác định độ kích thích (degree of firing) của neuron và còn gọi là mức tích cực (activation level) của neuron. Tổng này được biểu diễn như sau: Net =

∑X W
i i

i

= X.W

(2.95)

với X = [X1, X2,..., Xn] là véc tơ đầu vào và W = [W1, W2,..., Wn] là véc tơ trọng số tương ứng. Tín hiệu vào sau đó được xử lý nhờ hàm kích hoạt (activation function) hay còn gọi là hàm truyền (transfer function) để tạo tín hiệu ra. Tín hiệu ra sẽ được truyền đi nếu nó khác 0. Trong hình 2.10 các neuron được biểu diễn bởi hình tròn, theo cách thông thường, chúng luôn luôn được đặt tại đỉnh, trong khi các neuron đầu ra luôn luôn đặt tại đáy. Trạng thái của mạng tại mỗi thời điểm được biểu diễn bởi một tập các giá trị cưỡng bức qua tất cả các neuron. a) Mô hình mạng một nút ; b) Mô hình mạng với 3 nút vào 3 nút ẩn và 2 nút ra Một trong những ưu điểm nổi bật của hệ thống Neuron trong dự báo là phương pháp này không cần phải xác định những mối quan hệ giữa các biến số trước. Phương pháp này có thể xác định nhờ vào quá trình học hỏi về các mối quan hệ qua những thí dụ đã được đưa vào máy. Cũng vậy, hệ thống Neuron không đòi hỏi bất kỳ giả định nào về các phân phối tổng thể và không giống những phương pháp dự báo truyền thống, nó có thể sử dụng mà không cần có đầy đủ số lượng các số liệu cần thiết. Chương trình hệ thống Neuron có thể thay thế nhanh chóng mô hình hiện có, ví dụ như phân tích hồi quy, để đưa ra những dự báo chính xác mà không cần ngưng trệ các hoạt động đang diễn ra. Hệ thống Neuron đặc biệt hữu ích khi số liệu đầu vào có tương quan cao hay có số lượng không đủ, hoặc khi hệ thống mang tính phi tuyến cao.

a) Hình 2.10. Mô hình mạng neuron

b )

Phương pháp này cho kết quả dự báo có độ chính xác cao, dự báo được các sự kiện phụ thuộc thời gian. Các kết quả tính toán cho thấy kỹ thuật dự báo dùng mạng neuron có thể làm tăng độ chính xác dự báo so với các phương pháp thống kê, ngoài ra, nó còn có một số ưu điểm nổi bật so với các phương pháp thống kê truyền thống là:
46

-

Không cần biết những thông tin trong tương lai, vẫn có thể dự báo cho một yếu tố mà nó phụ thuộc vào những thông tin ấy. - Mạng neuron kết hợp giải thuật học lan truyền ngược với giải thuật di truyền (GAs) có khả năng dự báo đa biến, không bị hạn chế về số lượng như trong một số phương pháp truyền thống khác. - Có thể dự báo nhiều thời điểm trong tương lai. - Có khả năng áp dụng trong thời gian thực. - Không phải tính toán các biến trễ để xác định các biến vào cho dự báo. Không bị giới hạn khoảng dự báo và giả thời gian thực như trong các phương pháp thống kê mà có khả năng nhìn toàn cục, dự báo nhiều thời điểm trong tương lai. - Không mất nhiều công sức phân tích và tính toán các tham số đầu vào cho một mô hình hồi quy để dự báo. 2.4.5. Một số phương pháp dự báo nhu cầu phụ tải khác 2.4.5.1. Phương pháp so sánh đối chiếu Là phương pháp áp dụng những kinh nghiệm thực tế của các nước có hoàn cảnh, điều kiện tương tự cho việc dự báo phát triển mạng điện của nước nhà. Việc phân tích các đặc điểm và kinh nghiệm của các nước tiên tiến ở các giai đoạn đã qua cũng có thể cho phép áp dụng để dự báo nhu cầu điện ở các giai đoạn có hoàn cảnh tương tự. Đây là phương pháp được nhiều nước áp dụng để dự báo nhu cầu năng lượng của mình một cách có hiệu quả. Phương pháp này thường áp dụng cho dự báo ngắn hạn và trung hạn. Ưu điểm của phương pháp so sánh đối chiếu là không cần sử dụng các thuật toán phức tạp, nhưng đòi hỏi phải có kinh nghiệm và kỹ năng phân tích để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong các điều kiện cụ thể. 2.4.5.2. Phương pháp chuyên gia Trong những năm gần đây người ta áp dụng phương pháp chuyên gia có trọng số dựa trên cơ sở hiểu biết sâu sắc của các chuyên gia giỏi về các lĩnh vực của các ngành để dự báo các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, trong đó có các dự báo về phụ tải. Sau khi đã thu thập ý kiến của các chuyên gia, cần xử lý các thông tin theo phương pháp xác suất thống kê. Về thực chất, phương pháp chuyên gia là phương pháp dự báo mà kết quả là các thông số do các chuyên gia đưa ra, hay nói đúng hơn là sự công não để khai thác và lợi dụng trình độ uyên bác và lý luận thành thạo về chuyên môn, phong phú về khả năng thực tiễn, khả năng mẫn cảm, nhạy bén và thiên hướng sâu sắc về tương lai đối với đối tượng dự báo của một tập thể các nhà khoa học, các nhà quản lý cùng đội ngũ cán bộ lão luyện thuộc các chuyên môn bao hàm xzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzz zzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzhay nằm trong miền lân cận của đối tượng dự báo. Đây là phương pháp dự báo trên cơ sở huy động “trí khôn” của chuyên gia trong lĩnh vực sử dụng điện năng. Thực tế phương pháp chuyên gia hoàn toàn mang tính chủ quan, phụ thuộc vào nhận thức của từng cá nhân, nhưng khi đã được xử lý theo phương pháp xác suất thống kê thì tính chủ quan sẽ được khách quan hoá bởi các mô hình toán học và vì vậy có thể nâng cao độ tin cậy của dự báo.
47

2.5. Ví dụ và bài tập Ví dụ 2.1. Một máy giặt công suất định mức Pn= 0,8 kW. Hỏi công suất tiêu thụ thực tế của máy khi điện áp mạng giảm đi 10% so với giá trị định mức; Hãy cho biết tỷ lệ giảm công suất tác dụng, coi tần số là không đổi và bằng trị định mức. Giải: Căn cứ vào bảng 2.1 đối với máy giặt ta có các hệ số: kmt = 0,65; αU = 0,08; αf = 12,9; β
U

=1,16 và βf=1,8 và hệ số công suất cosϕ = 0,8. Ở chế độ điện áp định mức (U*= 1) công suất tiêu thụ của máy giặt là: Pt1= kmt.Pn = 0,65.0,8 = 0,52 kW; Ở chế độ điện áp giảm 10% (U*= 0,9) công suất tiêu thụ của máy giặt là:
α Pt 2 = Pn .k mt P = Pn kmtU * U f* f = 0,8.0,65.0,90,08.12,9= 0,516 kW; * α

Xác định tỷ số công suất phản kháng:
tgϕ = 1 1 −1 = − 1 = 1,17 2 k pt 0,65 2
β

Công suất phản kháng tương đối khi điện áp giảm 10%:

Q* = tgϕ .U *βU f* f = 1,17.0,91,16.11,8 = 0,988
Công suất phản kháng tiêu thụ khi đó là: Q = kmttgϕ PnQ*= 0,65. 1,17.0,8.0,988 = 0,6 kVAr Như vậy khi điện giảm đi 10% thì công suất tiêu thụ của máy sẽ giảm đi

δP =

Pt1 − Pt 2 0,52 − 0,516 100% = 100 = 0,84% Pt1 0,52

Ví dụ 2.2. Hãy xác định phụ tải tính toán cho một điểm dân cư gồm n=56 hộ gia đình, công suất tiêu thụ trung bình của mỗi hộ là p0 = 1,2kW (không dùng bếp điện), 5 phụ tải động lực gồm các động cơ vệ sinh kỹ thuật với công suất định mức tương ứng là: Pđl1=3kW; Pđl1=4,5kW; Pđl1=5,6kW; Pđl1=6kW; Pđl1=2,8kW. Hệ số công suất của nhóm phụ tải sinh hoạt cosϕsh=0,93 và nhóm phụ tải động lực cosϕđl= 0,8. Giải: Trước hết ta phân các phụ tải thành hai nhóm: chiếu sáng và động lực. Hệ số đồng thời của nhóm phụ tải sinh hoạt dc tra theo bảng 1.pl ứng với số hộ gia đình là 56 bằng kđt=0,336; Hệ số nhu cầu của nhóm phụ tải động lực được tra theo bảng 3.pl phụ thuộc vào số lượng thiết bị là 5 sẽ bằng knc=0,8. Phụ tải tính toán của nhóm sinh hoạt được xác định theo biểu thức: Psh = kđtn.p0 = 0,336.56.1,2 = 22,58 kW; Phụ tải tính toán của nhóm thiết bị vệ sinh kỹ thuật được xác định theo biểu thức: Pđl= kncΣPni = 0,8(3+4,5+5,6+6+2,8)= 17,52 kW; Phụ tải tổng hợp của cả hai nhóm có thể được xác định theo hai phương pháp: 1) Phương pháp số gia Ptt1 = Psh+kiPđl = 22,58 + 0,641.17,52 = 36,1 kW;

48

ki = (

Pđl 0, 04 17,52 0,04 ) − 0,41 = ( ) − 0,41 = 0,641 5 5

2) Phương pháp hệ số nhu cầu: Với số nhóm là 2 thì hệ số nhu cầu sẽ là knc.n= 0,9 (bảng 4.pl phụ lục): Ptt2. = knc.n(Psh+Pđl) = 0,9.(22,58+17,52)= 33,82 kW; 3) Phương pháp hệ số tham gia vào cực đại: Phụ tải tính toán của nhóm sinh hoạt lớn hơn phụ tải tính toán của nhóm động lực, vì vậy thời điểm cực đại được xét vào buổi tối. Theo bảng 2.4 ta có hệ số tham gia vào cực đại của nhóm phụ tải động lực là ktM= 0,6, như vậy phụ tải tổng hợp của hai nhóm sẽ là: Ptt3= Psh+ktM.đlPđl = 22,58 + 0,6.17,52 = 33,1 kW Đánh giá sai số giữa các phương pháp: Phân tích các kết quả tính toán ta nhận thấy sai số giữa phương pháp thứ 2 và phương pháp thứ 3 là không đáng kể. Sai số giữa phương pháp thứ nhất và phương pháp thứ hai được đánh giá theo biểu thức:

s=

Ptt1 − Ptt 2 36,1 − 33,82 100 = 100 = 6,3% Ptt1 36,1

Nhận xét: Sai số giữa các phương pháp tổng hợp phụ tải không quá lớn. Xác định hệ số công suất tổng hợp

cos ϕtb =
Công suất toàn phần:

ΣPtti cos ϕi 22,58.0,93 + 17,52.0,8 = = 0,87 ΣPtti 22,58 + 17,52

Stt = Ptt1/cosϕtb = 36,1/0,87 = 41,33 kVA;

Công suất phản kháng: Qtt = Ptt.tgϕtb = 36,1.0,56 = 22 kVAr. Ví dụ 2.3: Xây dựng mô hình dự báo phụ tải dạng tuyến tính và xác định phụ tải dự báo ở năm 2015, biết số liệu thống kê về phụ tải tiêu thụ của các năm như sau: Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 P, kW 1168 1236 1336 1472 1659 1892 2130 Giải: Để đơn giản cho các phép tính ta giản ước dãy số liệu về thời gian đi 2000 đơn vị: Cách 1: Giải bài toán theo phương pháp thông thường Bài toán được giải dưới dạng bảng, từ kết quả trong bảng ta xác định: Tham số Số liệu tính toán qua các năm ∑ t 1 2 3 4 5 6 7 28 2 t 1 4 9 16 25 36 49 140 P 1168 1236 1336 1472 1659 1892 2130 10894 P*t 1168,48 2472,12 4009,02 5886 8294,9 11353 14909 48093 a ∑ ti + b∑ti = ∑Ai ti a ∑ti + nb = ∑Ai Thay số vào ta có hệ phương trình: 140.a + 28.b = 48093
49
2500 2000 1500 P, kW Xây dựng hàm tuyến tính y = 161.4x + 910.62 2 R =1 2
n 2

1
1000 500 0 1 2 3 4 5 6

P P.db Linear (P.db)

t, năm 7

28.a + 7.b = 4997 Giải ra ta tìm được: a = 161,4 và b = 910,62 vậy mô hình dự báo tuyến tính tìm được là: P = 161,4.t + 910,62 Các đường cong xây dựng theo số liệu thống kê (đường 1) và theo hàm dự báo Hình 2.11. Đường cong dự báo phụ tải (đường 2) được thể hiện trên hình 2.11. Cách 2: Giải bài toán với sự trợ giúp của chương trình excel: A B C D E F G H I J 1 t 1 2 3 4 5 6 7 a b 161.4 2 P 1168 1236 1336 1472 1659 1892 2130 0 910.62

Để xác định hệ số a tại ô I2 ta dùng lệnh: =index(linest(B2:H2,B1:H1),1) Để xác định hệ số b tại ô J2 ta dùng lệnh: =index(linest(B2:H2,B1:H1),2) Rõ ràng với sự trợ giúp của chương trình Excel bài toán sẽ được giải cực kỳ nhanh chóng và đơn giản. Để xác định phụ tải dự báo ở năm 2015 ta chỉ cần thay giá trị t=15 vào hàm dự báo” P2015= 161,4.15 + 910,62 = 3331,59 kW. Bài tập 2.1. Một máy bơm công nghiệp, công suất định mức Pn= 22 kW. Hỏi công suất tiêu thụ thực tế của máy khi điện áp mạng giảm đi 10% so với giá trị định mức; Hãy cho biết tỷ lệ giảm công suất tác dụng, coi tần số là không đổi và bằng trị định mức. Bài tập 2.2. Một đèn huỳnh quang, công suất định mức Pn= 40W. Hỏi công suất tiêu thụ thực tế của đèn khi điện áp mạng giảm đi 13% so với giá trị định mức; Hãy cho biết tỷ lệ giảm công suất tác dụng, coi tần số là không đổi và bằng trị định mức. Bài tập 2.3. Hãy xác định phụ tải tính toán cho một điểm dân cư gồm n=72 hộ gia đình, công suất tiêu thụ trung bình của mỗi hộ là p0 = 1,12kW (không dùng bếp điện), 4 phụ tải động lực gồm các động cơ vệ sinh kỹ thuật với công suất định mức tương ứng là: Pđl1=2,8kW;
50

Pđl1=4,5kW; Pđl1=3kW; Pđl1=4,5kW. Hệ số công suất của nhóm phụ tải sinh hoạt cosϕsh=0,94 và nhóm phụ tải động lực cosϕđl= 0,8. Bài tập 2.4: Xây dựng mô hình dự báo phụ tải dạng tuyến tính và xác định phụ tải dự báo ở năm 2015, biết số liệu thống kê về phụ tải tiêu thụ của các năm như sau: Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 P, kW 878 831 877 1013 1042 1229 1189 1381 Câu hỏi ôn tập chương 2 1. Hãy cho biết các khái niệm cơ bản về phụ tải điện. 2. Hãy trình bày đặc tính tĩnh của phụ tải điện. 3. Hãy trình bày khái quát chung về đồ thị phụ tải điện. 4. Hãy trình bày phương pháp phân tích tính toán phụ tải điện. 5. Hãy trình bày phương pháp mô phỏng tính toán phụ tải điện. 6. Hãy trình bày phương pháp thực nghiệm tính toán phụ tải điện. 7. Hãy trình bày trình tự tính toán phụ tải điện. 8. Hãy trình bày phương pháp dự báo phụ tải theo hệ số phát triển. 9. Hãy trình bày phương pháp dự báo phụ tải theo mô hình kinh tế lượng. 10. Hãy trình bày phương pháp dự báo phụ tải theo mô hình phân tích kinh tế - kỹ thuật. 11. Hãy trình bày phương pháp dự báo phụ tải dựa theo kỹ thuật trí tuệ nhân tạo.

51

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful