You are on page 1of 9

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc

Lâm Minh Thư 29
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CẤU TRÚC
2.1. Phương pháp phổ hồng ngoại (FTIR)
Phương pháp phân tích theo phổ hồng ngoại là một trong những kỹ thuật phân
tích rất hiệu quả. Một trong những ưu điểm quan trọng nhất của phương pháp phổ
hồng ngoại vượt hơn những phương pháp phân tích cấu trúc khác (nhiễu xạ tia X,
cộng hưởng từ…) là phương pháp này cung cấp thông tin về cấu trúc phân tử
nhanh, không đòi hỏi các phương pháp tính toán phức tạp.
Kỹ thuật này dựa trên hiệu ứng đơn giản là các hợp chấp hoá học có khả năng
hấp thụ chọn lọc bức xạ hồng ngoại
[26]
. Sau khi hấp thụ bức xạ hồng ngoại, các
phân tử của các hợp chất hoá học dao động với nhều vận tốc dao động khác nhau và
xuất hiện chùm phổ hấp thụ gọi là phổ hấp thụ bức xạ hồng ngoại. Các đám phổ
khác nhau có mặt trong phổ hồng ngoại tương ứng với các nhóm chức đặc trưng và
các liên kết có trong phân tử hợp chất hoá học. Bởi vậy phổ hồng ngoại của một
hợp chất hoá học được coi như "dấu vân tay", có thể căn cứ vào đó để nhận dạng
chúng.
Như vậy, phương pháp phân tích phổ hồng ngoại cung cấp những thông tin
quan trọng về các dao động của các phân tử, do đó là thông tin về cấu trúc của các
phân tử.
2.2. Phương pháp sắc ký bản mỏng
Sắc ký bản mỏng còn gọi là sắc ký lớp mỏng, sắc ký phẳng (planar
chromatography).
Về nguyên tắc, phương pháp sắc ký bản mỏng được dùng để định tính, thử tinh
khiết và đôi khi để bán định lượng hoặc định lượng chất
[27]
.
Sắc ký bản mỏng là một kỹ thuật tách các chất, được tiến hành khi cho pha động
di chuyển qua pha tĩnh trên đó đã đặt hỗn hợp các chất cần tách. Pha tĩnh là chất hấp
phụ trơn (ví dụ như silica gel hoặc oxit alumin) được trải thành lớp mỏng đồng nhất
và phủ cố định lên các tấm kiếng, tấm nhôm hoặc tấm nhựa. Pha động là một hệ
dung môi đơn hoặc đa thành phần được trộn với nhau theo tỷ lệ quy định nhằm tách

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc
Lâm Minh Thư 30
tốt các hợp chất quan tâm. Trong quá trình di chuyển qua lớp hấp phụ, các cấu tử
trong hỗn hợp mẫu thử di chuyển trên bản mỏng, theo hướng pha động, với những
tốc độ khác nhau. Kết quả thu được một sắc ký đồ trên bản mỏng. Cơ chế của sự
chia tách có thể là cơ chế hấp phụ, phân bố, trao đổi ion, sàng lọc phân tử hay sự
phối hợp đồng thời của nhiều cơ chế tùy thuộc vào tính chất của chất làm pha tĩnh
và dung môi làm pha động. Với chất hấp phụ là silica gel hoặc alumin, các hợp chất
kém phân cực sẽ di chuyển nhanh và các hợp chất rất phân cực di chuyển chậm
[3]
.
Ðại lượng đặc trưng cho mức độ di chuyển của chất phân tích là hệ số di chuyển
Rf được tính bằng tỷ lệ giữa khoảng dịch chuyển của chất thử và khoảng dịch
chuyển của dung môi
(2.1)
Trong phương trình (2.1), a là là khoảng cách từ điểm xuất phát đến tâm của vết
mẫu thử, tính bằng cm; b là khoảng cách từ điểm xuất phát đến mức dung môi đo
trên cùng đường đi của vết, tính bằng cm và R
f
là đại lượng đặc trưng cho mức độ
dịch chuyển của chất cần phân tích. R
f
chỉ có giá trị từ 0 đến l.
2.3. Phương pháp sắc ký cột
- Về nguyên tắc, sắc ký cột hoạt động dựa chủ yếu vào cơ sở sắc ký
[3]
. Sắc ký là
một phương pháp tách, phân ly, phân tách một hỗn hợp gồm nhiều loại hợp chất ra
riêng thành từng loại đơn chất, dựa vào tính ái lực khác nhau của những loại hợp
chất đó đối với một hệ thống (hệ thống gồm hai pha là pha động và pha tĩnh).
- Khi tiếp xúc với pha tĩnh, các cấu tử của hỗn hợp sẽ phân bố giữa pha động và
pha tĩnh tương ứng với tính chất của chúng (tính bị hấp phụ, tính tan, …). Trong hệ
thống sắc ký chỉ có các phân tử pha động mới chuyển động dọc theo hệ sắc ký. Các
chất khác nhau sẽ có ái lực khác nhau với pha động và pha tĩnh. Trong quá trình
chuyển động dọc theo hệ sắc ký hết lớp pha tĩnh này đến lớp pha tĩnh khác, sẽ lặp đi
lặp lại quá trình hấp phụ, phản hấp phụ. Hệ quả là các chất có ái lực lớn với pha tĩnh
sẽ chuyển động qua hệ thống sắc ký chậm hơn so với các chất tương tác yếu hơn.

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc
Lâm Minh Thư 31
Từ đó, mỗi loại hợp chất sẽ di chuyển ngang qua pha tĩnh với vận tốc khác nhau.
Nhờ đặc điểm này mà các chất trong hỗn hợp được tách ra riêng lẻ thông qua quá
trình sắc ký.
2.4. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Về nguyên tắc phân tích, dung dịch chứa chất cần phân tích được tiêm vào cột
HPLC - ống thép hẹp (thường dài 150 mm, đường kính trong 2 mm, hoặc nhỏ hơn)
được nhồi các hạt silica mịn biến tính hóa học. Các chất khác nhau sẽ được tách
khỏi nhau do sự khác biệt về tương tác của chúng với pha động và pha tĩnh của cột.
Từng chất sẽ được rửa giải ra khỏi cột sau những khoảng thời gian lưu khác nhau và
được dẫn qua đầu dò, sau đó đầu dò chuyển tín hiệu thu được thành dữ liệu dạng
mũi trên đồ thị. Dựa vào dữ liệu thu được suy ra những thông tin cần thiết về chất
cần tách.

Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống máy HPLC
2.4.1. Cách phân tích định lượng trong sắc ký
2.4.1.1. Phân tích kiểu nội chuẩn
Một lượng xác định chất S, gọi là chất nội chuẩn, được thêm vào dung dịch chứa
chất cần phân tích X chưa biết nồng độ, sau đó ghi sắc ký đồ của dung dịch này.
Nồng độ của X và S liên hệ với diện tích mũi A của X và S theo phương trình:
A
X
= R
X
. [X] (2.2)
A
S
= R
S
. [S] (2.3)
] [
] [
S
X
R
R
A
A
S
X
S
X
=
(2.4)

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc
Lâm Minh Thư 32
] [ ] [
1
S
A
A
R
R
X
S
X
S
X
÷
|
|
.
|

\
|
= (2.5)
R là hệ số đáp ứng của đầu dò (detector response factors) của X và S
Nếu xác định được R
X
/R
S
thì tìm được nồng độ của [X] theo phương trình (2.5).
Tỷ số R
X
/R
S
được xác định bằng cách chuẩn bị một loạt các dung dịch chuẩn có
nồng độ S và nồng độ X đã biết: cố định nồng độ S, chỉ thay đổi nồng độ X. Ghi sắc
ký đồ của các dung dịch, lập đường chuẩn biểu diễn tỉ lệ diện tích mũi A
X
/A
S
theo tỉ
lệ nồng độ [X]/[S]. Hệ số góc của đường thẳng thu được chính là R
X
/R
S
theo
phương trình (2.4).
Việc chọn chất nội chuẩn rất quan trọng, tốt nhất là chọn chất có cấu trúc tương
tự chất cần phân tích.
2.4.1.2. Phân tích kiểu ngoại chuẩn
Ghi sắc ký đồ của các dung dịch có nồng độ X xác định. Đường chuẩn của X là
đồ thị biểu diễn diện tích mũi của X theo nồng độ X. Từ đường chuẩn của X tìm
được nồng độ của X tương ứng với diện tích mũi đo được.
2.4.2. Đầu dò chỉ số khúc xạ (Refractive index detector, RID)
Chỉ số khúc xạ của một chất lỏng hay một dung dịch chất lỏng là tỉ số giữa vận
tốc ánh sáng di chuyển trong chân không so với vận tốc ánh sáng di chuyển qua môi
trường đó.

Hình 2.2: Mô tả nguyên tắc đầu dò chỉ số khúc xạ của HPLC

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc
Lâm Minh Thư 33
Do vận tốc ánh sáng trong bất kì môi trường vật chất nào cũng nhỏ hơn vận tốc
ánh sáng trong chân không, nên chỉ số khúc xạ của bất kỳ dung dịch nào cũng có
giá trị lớn hơn một (>1). Một tia sáng đi ngang qua hai ống, được cho tập trung về
một mặt phẳng nhạy sáng (photosensitive surface). Khi cả hai ngăn chứa đều có
chứa pha động tinh khiết, vị trí của tia tới trên bề mặt cảm quang được xem như là
điểm đối chứng (reference point) và được bút vẽ ghi giá trị zero. Khi pha động chứa
hợp chất giải ly vừa ra khỏi cột, chỉ số khúc xạ của một ngăn chứa sẽ thay đổi, tia
sáng bị lệch, và tia khúc xạ của nó sẽ chạm đến mặt phẳng nhạy sáng ở một vị trí
khác, làm cho bút vẽ ghi một tín hiệu
[3]
.
Loại đầu dò này thông dụng vì tất cả hợp chất đều có chỉ số khúc xạ đặc trưng
riêng (đó là tính chất vật lý của hợp chất).
2.4.3. Đầu dò khối phổ
Đầu dò khối phổ cho phép xác định cấu tạo của chất dựa trên khối lượng mảnh
ion mẹ và cách bắn phá tạo thành các mảnh ion con.
Chất rửa giải từ cột sắc ký được dẫn vào khối phổ thông qua một giao diện đặc
biệt, tại đây nó bị ion hóa. Có nhiều kỹ thuật ion hóa, phổ biến có ion hóa kiểu phun
tĩnh điện ESI (electrospray ionization).
Dòng chất rửa giải chứa chất cần phân tích M (tốc độ dòng khoảng 1μL/phút)
được đưa qua một ống kim mảnh có áp thế dương (hoặc âm) cực lớn 3-5kV. Các
ion dương trong dung dịch (hoặc được hình thành ngay từ dung dịch ban đầu, ví dụ
như amin bậc bốn R
4
N
+
bản chất đã là ion, hoặc được tạo thành do bị proton hóa bởi
axít thêm vào M + H
+
→ MH
+
, hoặc do bị oxi hóa điện hóa tại đầu phun) dưới tác
dụng của điện trường dương cực mạnh này sẽ tập trung lại về phía đầu kim, và bắn
ra dưới dạng các hạt hay giọt nhỏ tích điện (cùng điện tích với đầu kim), các giọt
này chuyển động về đầu dò khối phổ. Trong quá trình chuyển động phân tử dung
môi bị bay hơi làm hạt bị thu nhỏ lại, lực đẩy Coulomb giữa các phần tử mang điện
dương trong hạt trở nên lớn dần lên, đến một lúc nào đó lực đẩy này sẽ phá vỡ sức
căng bề mặt của hạt. Hạt bị “nổ” phân thành các hạt nhỏ hơn, chứa một vài phân tử
dung môi hoặc/và ion với phân tử M (hình 2.4). Những phân tử dung môi cuối cùng

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc
Lâm Minh Thư 34
sẽ bị bay hơi khi chuyển động qua một ống mao quản nhiệt độ 150 – 300
0
C để lại
phân tử M dưới dạng trần mang điện M
.+
hay dạng [M+Na]
+
, [M+NH
4
]
+
, [M+H]
+
.
Các phần tử mang điện này sau đó được phát hiện bằng bộ phận phân tích trong đầu
dò khối phổ.

Hình 2.3: Cơ chế hình thành ion tại giao diện ESI
Kỹ thuật ion hóa này “mềm’ vì không gây phân mảnh phân tử M, cho phép xác
định phân tử khối của chất cần phân tích M dựa trên tỉ số m/z.
Phun ion hóa dương chủ yếu tạo MH
+
(nhất là khi M nhỏ ít có khả năng phân
mảnh) cho một mũi tại m/z bằng M+1. Nếu hợp chất có nhiều điểm bazơ như các
peptit thì có thể tạo thành các ion đa điện tích: M + 2H
+
→ MH
2
2+
và M + 3H
+

MH
3
3+
. Lúc này phổ xuất hiện rất nhiều ion như MH
+
, MH
2
2+
MH
3
3+
ứng với m/z
lần lượt là (M+1), (M+2)/2, (M+3)/3. Có thể thấy khống chế pH của dung dịch mẫu
rất quan trọng đối với hiệu suất ion hóa và phân bố điện tích trên phân tử cần khảo
sát. Vì vậy khi sử dụng ESI - MS dung dịch cần phân tích thường được đệm hay
thêm vào axit để kiểm soát hoặc tăng cường sự tạo thành ion. Thành phần đệm phổ
biến nhất là axit formic, axit trifluoroacetic, axit axetic, ammonium formate,
ammonium acetate, và axit heptafluorobutyric.
2.5. Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR được xây dựng trên nguyên tắc spin hạt nhân
(trong nguyên tử, hạt nhân tự quay quanh trục có moment động lượng riêng là spin

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc
Lâm Minh Thư 35
hạt nhân) dưới tác dụng của từ trường ngoài thì có thể chia thành hai mức năng
lượng. NMR hoạt hóa spin hạt nhân khi nguyên tố có số proton hoặc neutron lẻ.
Như thế
1
H cho ta tín hiệu cộng hưởng từ hạt nhân, đây là proton được sử dụng
nhiều nhất vì
1
H chiếm tỉ lệ gần 100% trong tự nhiên và phổ
1
H nhạy hơn. Các hạt
nhân của
13
C,
2
H,
19
F cũng cho tín hiệu NMR tuy nhiên các phân tử này ít tồn tại
trong tự nhiên nên ít nhạy và ít được sử dụng hơn. Quang phổ NMR có thể được
thực hiện trên nguyên tắc tìm điều kiện cộng hưởng (hoặc trong một từ trường ngoài
cố định hoặc tại một tần số cố định).
Trong một phân tử, một hạt nhân được bao bọc bởi các điện tử và các hạt nhân
có từ tính khác ở lân cận. Do đó tác dụng thực của từ trường ngoài vào hạt nhân
nghiên cứu không hoàn toàn giống với từng hạt nhân độc lập. Khi đó có hai yếu tố
ảnh hưởng đến tác dụng của từ trường ngoài lên hạt nhân nghiên cứu là sự che chắn
của đám mây điện tử xung quanh hạt nhân và ảnh hưởng của các hạt nhân bên cạnh
có trong phân tử. Trong một phân tử, tùy theo cấu trúc mà tần số cộng hưởng của
proton (hay
13
C) khác nhau. Tổng số các mũi cộng hưởng đó tạo thành phổ NMR
của phân tử. Mỗi phân tử có cấu trúc khác nhau sẽ có phổ NMR đặc trưng khác
nhau. Hai yếu tố quan trọng trong phổ cộng hưởng từ hạt nhân là vị trí mũi (cho biết
độ dịch chuyển hóa học) và hình dạng mũi (cho biết tương tác của hạt nhân đang
xét với các hạt nhân kế cận). Vị trí mũi và hình dạng mũi trong phổ NMR cho biết
cấu trúc của phân tử đang xét.
2.6. Phương pháp nhiễu xạ tia X
Tia X được khám phá bởi W.C.Röentgen vào năm 1985. Trong khoa học vật
liệu cũng như trong nhiều ngành khoa học khác, kỹ thuật xác định cấu trúc tinh thể
bằng tia X là một công cụ hữu ích và đắc lực cho việc tìm ra ẩn số cấu trúc của vật
liệu.
- Nguyên lý hoạt động
Xét một chùm tia X có bước sóng λ chiếu tới một tinh thể chất rắn dưới góc tới
θ. Do tinh thể có tính chất tuần hoàn, các mặt tinh thể sẽ cách nhau những khoảng

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc
Lâm Minh Thư 36
đều đặn d, đóng vai trò giống như các cách tử nhiễu xạ và tạo ra hiện tượng nhiễu
xạ của các tia X.

Hình 2.4: Hiện tượng nhiễu xạ tia X trên mặt tinh thể chất
Nếu quan sát các chùm tia tán xạ theo phương phản xạ (bằng góc tới) thì hiệu
quang trình giữa các tia tán xạ trên các mặt là ΔL = 2.d.sinθ.
Như vậy, để có cực đại nhiễu xạ thì góc tới phải thỏa mãn điều kiện:
ΔL = 2.d.sinθ = n.λ
Với n là số nguyên biểu thị độ nhiễu xạ, n = 1, 2,…
λ là bước sóng của tia X.
d là khoảng cách của 2 lớp tinh thể.
θ là góc giữa tia tới và mặt phẳng phản xạ.
2.7. Phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng(TGA)
Phương pháp phân tích nhiệt là phương pháp phân tích mà trong đó các tính
chất vật lý, hóa học của mẫu được đo một cách liên tục như những hàm của nhiệt độ
(nhiệt độ được thay đổi có quy luật). Trên cơ sở lý thuyết về nhiệt động học, từ sự
thay đổi các tính chất đó ta có thể xác định được các thông số yêu cầu của việc phân
tích. Hiện nay, kỹ thuật này được ứng dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực như
cho biết thông tin về cấu trúc, độ bền, độ ổn định của phản ứng hóa học, tính chất
động học, nhiệt độ chuyển pha, khối lượng mất đi, xác định thành phần khối lượng
các chất có trong mẫu. Phương pháp phân tích này được dùng để xác định tính chất
vật lý và hóa học của polymer, những vật liệu có dạng tinh thể.
TGA là một trong những phương pháp phân tích nhiệt. Phương pháp TGA được
dùng để khảo sát độ bền nhiệt và phân tích thành phần của vật liệu. TGA có thể ghi

Luận văn Thạc sĩ Chương 2 : Các phương pháp phân tích cấu trúc
Lâm Minh Thư 37
nhận trực tiếp sự thay đổi khối lượng theo thông số nhiệt độ hoặc thời gian để biểu
diễn sự chuyển pha hoặc phân hủy. Đường cong TGA cho biết đặc tính của hợp
chất (vật liệu) dựa trên những kết quả khác nhau của sự chuyển tiếp vật lý và phản
ứng hóa học. Sự thay đổi khối lượng có thể liên quan tới cấu trúc phân tử. Đường
dữ liệu TGA có liên quan tới nhiệt động học và động năng của phản ứng hóa học,
cơ chế phản ứng,... Dải nhiệt của TGA kéo dài từ nhiệt độ phòng tới 1200
0
C trong
môi trường chân không hoặc khí trơ và hệ số tăng nhiệt từ 5 – 20
0
C.
Trong phương pháp TGA, mẫu được đặt trên đĩa, cân liên tục và nung nóng đến
nhiệt độ bay hơi. Nguyên tắc hoạt động của máy đo TGA dựa vào quá trình tăng
nhiệt độ và các quá trình lý hóa xảy ra làm thay đổi khối lượng của mẫu, nhờ đó bộ
cảm biến (sensor) khối lượng chuyển tín hiệu về máy tính và chuyển đổi thành phần
phần trăm khối lượng của vật liệu bị mất đi.
2.8. Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM)
Hiển vi điện tử truyền qua là một thiết bị nghiên cứu vi cấu trúc vật rắn, sử dụng
chùm điện tử có năng lượng cao chiếu xuyên qua mẫu vật rắn mỏng và sử dụng các
thấu kính từ để tạo ảnh với độ phóng đại lớn (có thể tới hàng triệu lần). Ảnh TEM
có thể tạo ra trên màn huỳnh quang, hay trên phim quang học, hay ghi nhận bằng
các máy chụp kỹ thuật số. Đây là một công cụ rất mạnh trong việc nghiên cứu cấu
trúc của vật liệu ở cấp độ Nano. TEM cho phép quan sát chính xác cấu trúc và sự
phân bố của các mảnh đất sét ở kích thước nanomét trong nhựa nền, từ đó cho biết
cấu trúc của vật liệu nanocomposite với độ phân giải cao.
Dù được phát triển từ lâu, nhưng đến thời điểm hiện tại, TEM vẫn là một công
cụ rất hữu dụng và hiện đại trong nghiên cứu về cấu trúc vật rắn, được sử dụng rộng
rãi trong vật lý chất rắn, khoa học vật liệu, công nghệ nano, sinh học, hóa học, y
học... và vẫn đang trong quá trình phát triển với nhiều tính năng và độ mạnh mới.