1

LỜI MỞ ĐẦU
e´·
Nằm trong kế hoạch và chương trình đào tạo của trường Đại học Ngoại
thương, kỳ thực tập giữa khóa được xem như một cơ hội lớn cho sinh viên sau ba
năm học có thể tiếp cận với môi trường thực tế tại các cơ quan, doanh nghiệp. Qua
đó, so sánh được sự khác biệt giữa những kiến thức mang tính lý thuyết trên giảng
đường với công việc thực tế của một nhân viên trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và
kinh doanh quốc tế. Từ đó, sinh viên có thể tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý
báu cho công việc sau này.
Hiện tại ngành logistics ở Việt Nam có khoảng trên 2000 công ty với tốc độ
phát triển rất nhanh. Tuy nhiên, quy mô hoạt động của đa số các công ty này còn
nhỏ lẻ, chủ yếu đóng vai trò là vệ tinh cung cấp dịch vụ cho các công ty nước
ngoài. Bên cạnh đó, vì quy mô nhỏ lẻ nên có hiện tượng cạnh tranh không lành
mạnh, nhất là cạnh tranh về giá – thi nhau giảm giá nhưng thực tế lại không chú
trọng việc nâng cao chất lượng dịch vụ. Trong lộ trình gia nhập WTO của Việt
Nam, đến 2012, chúng ta cam kết phải mở cửa 100% cho các công ty nước ngoài
khai thác dịch vụ này. Đây chính là một thách thức rất lớn cho các công ty giao
nhận trong nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển ngành dịch vụ giao nhận
hàng hóa kết hợp với những kiến thức đã tìm hiểu được tại công ty cổ phần đại lý
giao nhận vận tải xếp dỡ Tân Cảng, tôi quyết định chọn đề tài chính cho bài báo cáo
thực tập giữa khóa lần này là “Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
bằng đường biển tại công ty cổ phần đại lý giao nhận vận tải xếp dỡ Tân
Cảng”.
Trong quá trình thực tập và hoàn thành báo cáo thực tập này, sinh viên thực
hiện đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám đốc công ty Tân
Cảng logistics và sự hướng dẫn tận tình của các anh chị nhân viên trong cơ quan.
Người viết xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến tất cả mọi người đã hỗ trợ
tôi trong thời gian thực tập vừa qua.

2

Đồng thời, sinh viên thực hiện cũng xin gửi lời cảm ơn, lời tri ân sâu sắc nhất
đến các giảng viên trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là giáo viên trực tiếp
hướng dẫn đã luôn theo sát và giúp đỡ tận tình để sinh viên có thể hoàn thành kỳ
thực tập và báo cáo thực tập này.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài dù đã cố gắng nhiều nhưng do hạn
chế về kiền thức và thời gian, sự non nớt về kinh nghiệm nên những thiếu sót trong
bài báo cáo này là không thể tránh khỏi. Kính mong nhận được những lời nhận xét
góp ý của quý thầy cô, quý công ty cùng với người đọc báo cáo để báo cáo thực tập
giữa khóa này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.





















3

PHẦN 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TÂN CẢNG LOGISTICS

I Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần đại lý giao nhận vận tải xếp dỡ Tân Cảng – Tân Cảng
logistics – được thành lập từ ngày 14 tháng 03 năm 2007 theo quyết định số
442/QĐ – TC –TCLĐ ngày 13 tháng 03 năm 2007 của Hội đồng quản trị công ty
Tân Cảng Sài Gòn, là một đơn vị thành viên của công ty Tân Cảng Sài Gòn hoạt
động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Công ty thực hiện hạch toán kinh
doanh độc lập theo Luật doanh nghiệp và Điều lệ hoạt động của công ty cổ phần.
Công ty cổ phần đại lý giao nhận vận tải xếp dỡ Tân Cảng chính thức hoạt động và
hạch toán kinh doanh độc lập từ ngày 01 tháng 04 năm 2007.
+ Tên công ty: Công ty cổ phần đại lý giao nhận vận tải xếp dỡ Tân Cảng
+ Tên tiếng Anh: Newport Logistics and Stevedoring Joint Stock Company
+ Tên viết tắt: Newport Log Co., Ltd
+ Vốn điều lệ: 205,000,000,000 đồng
+ Trụ sở chính: Đường Nguyễn Thị Định, Phường Cát Lái, Quận 2, TP.HCM
+ Mã số thuế: 0304875444
+ Điện thoại: +(84 8) 37422 234
+ Fax: +(84 8) 37423 027
+ Email: gnvt@saigonnewport.com.vn
+ Website: www.tancanglogistics.com.vn
Với thương hiệu Tân Cảng Sài Gòn, công ty có một hệ thống khách hàng và
bạn hàng lớn, từ đó tạo bước chuyển biến tốt trong công tác phát triển các loại hình
dịch vụ của công ty. Các đối tác khách hàng của công ty như là: NYK Line, APL,
OOCL,…
Các công ty thành viên: Công ty cổ phần ICD Tân Cảng Cái Mép, Công ty cổ
phần dịch vụ Tân Cảng Bến Thành, Công ty cổ phần vận tải Tân Cảng số hai, Công
ty cổ phần ICD 128 – Hải Phòng, Công ty cổ phần cảng Cát Lái, Công ty cổ phần
dịch vụ hạ tầng Á Châu, Công ty cổ phần đại lý và dịch vụ Tân Cảng số một.


4

II Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty Tân Cảng logistics
1. Chức năng, nhiệm vụ
1.1 Chức năng
Ngành nghề kinh doanh:
º Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng ô tô, đường thủy nội địa.
º Dịch vụ Logistics, dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, đại lý vận tải
đường biển; dịch vụ xếp dỡ hàng hóa; dịch vụ khai thuê hải quan…
º Kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế; đại lý tàu biển; san lấp mặt
bằng.
º Xây dựng, sửa chữa công trình dân dụng, công trình phục vụ cảng biển, cảng
sông; sửa chữa, đóng mới, mua bán container, rơ móc.
º Mua bán cho thuê phương tiện, thiết bị xây dựng công trình thủy bộ, phương
tiện, thiết bị xếp dỡ, vận chuyển; mua bán máy móc thiết bị phục vụ cảng biển
º Kinh doanh vận chuyển hành khách theo hợp đồng, theo tuyến cố định; kinh
doanh lữ hành nội địa, quốc tế; kinh doanh bất động sản; đại lý kinh doanh xăng
dầu.
1.2 Nhiệm vụ
Dựa trên những chức năng chính của mình cùng với tình hình tổ chức nhân
sự trong từng thời điểm nhất định, công ty luôn đề ra những nhiệm vụ, những kế
hoạch hợp lý và linh hoạt đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động. Tuy nhiên, công
ty đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm và thực hiện xuyên suốt trong quá trình hoạt
động và phát triển, cụ thể là:
º Đảm bảo tổ chức hoạt động kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ki, chịu
trách nhiệm đối với khách hàng và trước pháp luật về những sản phẩm dịch vụ mà
công ty cung ứng
º Có những chiến lược và chính sách phát triển công ty phù hợp với chức năng
và đặc điểm riêng của mình.
º Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với Nhà nước và các cơ quan chức năng ban
ngành như Chi cục Thuế, Chi cuc Hải Quan,…

5

Thêm vào đó, để cạnh tranh với nhiều nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên
nghiệp và có uy tín trên thế giới trong thời buổi hội nhập kinh tế thị trường như hiện
nay, công ty cũng xác định đầu tư về con người bằng việc gửi nhân viên và cán bộ
đi đào tạo chuyên môn, cùng với việc đẩy mạnh những dịch vụ trọn gói cho khách
hàng – đây cũng là thế mạnh của chúng tôi. Nâng cao chất lượng dịch vụ là giải
pháp then chốt để có thể cạnh tranh trên thị trường. Dịch vụ trọn gói bao gồm giao
nhận và vận chuyển hàng đi nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam có thể an
tâm khi sử dụng dịch vụ của Tân Cảng logistics
2. Cơ cấu tổ chức quản lý lao động nhân sự
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức hành chính
















Trưởng các bộ phận có nhiệm vụ chính là điều phối, quản lý và giám sát các
hoạt động chuyên trách của phòng ban mình liên quan đến Hợp đồng dịch vụ đã ký
kết với khách hàng, và phải báo cáo thường xuyên với giám đốc và phó giám đốc về
tình hình hoạt động của bộ phận do mình quản lý.
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Giám đốc và Phó giám đốc
Ban kiểm soát
Khối sản xuất Khối nghiệp vụ
Phòng Logistics
Phòng tài chính - kế toán
Phòng Forwarder
Phòng tổ chức - hành chính
Phòng kĩ thuật vật tư
Trung tâm điều hành
Đội cơ giới I
Đội cơ giới II
Đội vận tải thủy

6

Phó giám đốc sẽ thay mặt giám đốc giám sát, hỗ trợ và đôn đốc hoạt động
tổng thể của công ty, kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh thay cho giám đốc,
có biện pháp khích lệ tinh thần làm việc của các bộ phận chuyên trách.
Giám đốc là người đại diện cho cả công ty trước pháp luật nên phải thường
xuyên theo dõi những điều chỉnh và thay đổi trong đường lối chủ trương của Đảng
và Nhà nước.

III. Đánh giá chung về tình hình kinh doanh của công ty Tân Cảng logistics
Mặc dù nền kinh tế Việt Nam vừa trải qua một cuộc khủng hoảng của suy
thoái kinh tế toàn câu vào năm 2009, kim ngạch xuất nhập khẩu giảm sút, vì vậy sản
lượng container, hàng hóa thông qua cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh giảm
mạnh so với năm 2008, nhưng công ty đã cố gắng vượt qua giai đoạn khó khăn đó
và đạt được những thành tựu đáng kể.
Bảng 1: Tình hình hoạt động kinh doanh giai đoạn 2008 - 2010
Đơn vị: nghìn đồng

Năm 2008 Quý I/2009 Năm 2009 Quý I/2010
Tổng doanh thu 358,988,806 70,652,745 529,673,999 111,139,928
Tổng chi phí 272,714,559 52,772,110 421,588,523 79,769,988
Tổng lợi nhuận
trước thuế 81,274,246 16,137,230 108,458,858 28,154,172
Tổng lợi nhuận
sau thuế 60,300,311 13,313,215 89,637,205 21,098,255


Quý I/2009 Quý I/2010
Doanh thu xếp dỡ container 33,695,229 58,934,769
Doanh thu dịch vụ vận tải bộ 5,421,856 14,991,318
Doanh thu dịch vụ depot 15,696,085 25,388,398
Doanh thu dịch vụ khác 6,742,576 8,032,812
Nhận thức được những khó khăn thách thức của tình hình kinh tế trong nước
và thế giới vào năm 2009, công ty cổ phần Tân Cảng logistics đã triển khai nhiều

7

biện pháp để có thể hoàn thành được những kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đề ra
như sau:
- Kiện toàn tổ chức, phân cấp quản lý phù hợp với yêu cầu mở rộng và phát
triển công ty, phát huy tính năng động, chủ động, sang tạo của cán bộ công nhân
viên công ty.
- Đáp ứng tốt nhiệm vụ sản xuất của công ty trong điều kiện giá cả vật tư,
nguyên nhiên vật liệu biến động bất thường, không ổn định.
- Đa dạng hóa và mở rộng ngành nghề kinh doanh phù hợp với chủ trương và
các quy định hiện hành.
- Từ đầu tháng 01/2009 công ty đã triển khai dịch vụ Freight Forwarder, dịch
vụ khai thuê hải quan đã mang lại lợi nhuận và góp phần tạo uy tín, thương hiệu cho
Tân Cảng logistics.
- Từ đầu năm 2009, công ty đã chủ động hoàn thiện việc đầu tư nền bãi Depot
9 kịp thời đáp ứng yêu cầu sản xuất của cảng Cát Lái và nhu cầu để container rỗng
xuất nhập tàu của các hãng tàu, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác depot.
- Nhằm nâng cao năng lực xếp dỡ, vận chuyển, năm 2009, công ty thuê thêm
12 xe nâng container và 10 xe đầu kéo từ công ty mẹ, tự đầu tư 01 xe nâng
container làm cho doanh thu từ hoạt động xếp dỡ, vận chuyển tăng lên đáng kể.
- Thành lập công ty cổ phần vận tải Tân Cảng số hai đảm nhiệm bộ phận vận
chuyển container bằng đường thủy cho Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn và triển
khai dịch vụ vận chuyển container bằng sà lan tuyến TPHCM/Cái Mép – Đồng
bằng sông Cửu Long.
- Đầu tư xây dựng bến sà lan 75 Teus tại cảng Tân Cảng Cái Mép và hợp tác
đầu tư bến sà lan 75 Teus tại cảng Cát Lái.
- Hợp tác với Tổng công ty Bến Thành nghiên cứu đầu tư khai thác depot
container rỗng tiếp giáp với cảng Cát Lái nhằm đáp ứng nhu cầu chứa container
rỗng xuất nhập khẩu ngày càng tăng cao của các hãng tàu.
- Tuyển dụng, đào tạo và huấn luyện nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động chất
lượng cao kịp thời đáp ứng yêu cầu sản xuất của công ty và tạo nguồn cho các dự án
triển khai trong thời gian tới.

8

Nhờ tất cả những nỗ lực phấn đấu trên, năm 2009, Tân Cảng logistics đã hoàn
thành vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra:
º Doanh thu và lợi nhuận trước thuế cao hơn 52% so với kế hoạch đặt ra.
º Lợi nhuận sau thuế cao hơn 68,8% so với kế hoạch đặt ra.
Còn so với năm 2008, doanh thu năm 2009 tăng 49,63% còn lợi nhuận sau
thuế tăng 48,65%.
Tổng lợi nhuận sau thuế quý I/2010 tăng 58,47% so với cùng kỳ năm 2009.
Nguyên nhân của sự gia tăng lợi nhuận sau thuế là do:
+ Tổng doanh thu, thu nhập thuần tăng:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ quý I/2010 so với quý I/2009 tăng
57,3%. Trong đó:
º Doanh thu xếp dỡ container tại bãi tăng mạnh quý I/2010 so với quý I/2009
tăng 74,9% là do từ tháng 06/2009 công ty có kí hợp đồng thuê them 06 xe nâng
hàng và 07 xe nâng rỗng của Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn, tháng 12/2009 công
ty đầu tư trang bị mới 01 xe nâng hàng Kalmar nhằm tăng năng lực xếp dỡ cho cảng
Cát Lái; mặt khác sản lượng thông qua cảng Cát Lái quý I/2010 tăng mạnh so với
quý I/2009 do nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi sản lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu
thông qua cảng Cát Lái tăng cao.
º Doanh thu dịch vụ vận tải bộ quý I/2010 so với quý I/2009 tăng 61,74% do
sản lượng thông qua depot quý I/2010 tăng cao.
º Doanh thu dịch vụ khác (dịch vụ khai thuê hải quan, dịch vụ forwarder, dịch
vụ hàng chuyển cảng…) quý I/2010 so với quý I/2009 tăng 19,14%.
- Doanh thu hoạt động tài chính quý I/2010 tăng 38,84% so với quý I năm
2009.
- Tổng doanh thu, thu nhập thuần quý I/2010 so với cùng kì năm trước tăng
57,53%.
+ Tổng chi phí quý I/2010 so với quý I/2009 tăng 52,6%; tốc độ tăng của chi
phí tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của doanh thu là 4,93% là nguyên nhân dẫn
đến lợi nhuận tăng.


9

PHẦN 2: PHÒNG LOGISTICS CỦA CÔNG TY TÂN CẢNG LOGISTICS

I. Giới thiệu về phòng logistics
Trưởng phòng: Lê Văn Cường
Số lượng nhân viên: 19
Phòng logistics có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ logistics cho hàng xuất –
nhập khẩu bao gồm:
º Thủ tục thông quan hoàn chỉnh đối với tất cả các loại hình hàng hóa xuất
nhập khẩu bao gồm: hàng kinh doanh, hàng viện trợ, hàng dự án, hàng triển lãm,
hàng quá cảnh, hàng tạm nhập – tái xuất, hàng tạm xuất – tái nhập, hàng phi mậu
dịch.
º Thực hiện thủ tục khai quan điện tử.
º Phân loại hàng hóa.
º Thủ tục giao nhận tại Cảng.
º Giao nhận hàng hóa tại kho (Door to door).
º Kiểm đếm container của tàu, kiểm đếm hàng hóa đóng vào container.
º Kinh doanh kho bãi.
º Đại lý thủ tục cho các hãng tàu.
º Gom hàng lẻ xuất khẩu và chia hàng lẻ nhập khẩu qua kho CFS.

II. Nhiệm vụ sinh viên đã thực hiện tại công ty Tân Cảng logistics
Trong quá trình kiến tập tại công ty Tân Cảng logistics, sinh viên đã được các
anh chị trong công ty chỉ bảo tận tình về các công việc trong thủ tục thông quan
hàng hóa xuất nhập khẩu, cụ thể như sau:
º Nhận thông báo từ hãng tàu và lên hãng tàu để lấy lệnh giao hàng và đóng
phí cho hãng tàu.
º Làm thủ tục hải quan tại Chi cục hải quan đầu tư số 02 Hàm Nghi, Quận I,
TPHCM.
º Nộp hồ sơ xin điều chỉnh manifest tại hải quan ở cảng Khánh Hội.
º Đến cảng để hải quan kiểm hóa hàng xin nhập khẩu.

10

PHẦN 3: QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY TÂN CẢNG LOGISTICS VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÂN CẢNG
LOGISTICS

I. Quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu tại công ty Tân Cảng Logistics
C Đầu tiên, trước khi tàu cập cảng thì người giao nhận phải liên hệ với đại lý
của mình ở nước ngoài hoặc là người nhận hàng để được cung cấp các thông tiên
cần thiết về lô hàng bao gồm: thông tin về tàu và bản lược khai hàng hóa (Cargo
manifest).Tiếp theo đó, người giao nhận cũng cần lấy vận đơn gốc và các chứng từ
khác của hàng hóa.
C Khi tàu cập cảng, hãng tàu sẽ gửi fax giấy báo hàng đến (Arrival note) cho
công ty. Khi nhận giấy báo hàng đến, nhân viên giao nhận sẽ kiểm tra xem số liệu
trên giấy báo hàng đến có khớp với vận đơn, nếu đã chính xác thì làm giấy báo hàng
đến gửi cho người nhận hàng (Consignee – C’nee). Sau đó, người giao nhận đã
được sự ủy thác của chủ hàng sẽ mang thông báo hàng đến, giấy giới thiệu và vận
đơn (bill of lading) - có thể là bản gốc hoặc bản sao tùy loại vận đơn - đến hãng tàu
đóng các khoản phí liên quan và đổi lấy lệnh giao hàng. Hãng tàu sau khi nhận giấy
giới thiệu sẽ kiểm tra xem đã có thông báo giao hàng hay chưa và kiểm tra các nội
dung trong giấy báo hàng đến, với mỗi khách hàng sẽ nhận của hãng tàu ít nhất 03
bộ lệnh giao hàng. Khi nhận lệnh giao hàng, người giao nhận sẽ kiểm tra lại các
thông tin trên lệnh giao hàng; lúc đó trên bộ lệnh sẽ có chữ PAID nghĩa là đã thu
phí đủ và chữ kí của hãng tàu.
C Sau khi nhận lệnh giao hàng, người giao nhận phải giúp cho chủ hàng làm
thủ tục hải quan rồi đến kho để nhận hàng. Các bước để làm thủ tục hải quan gồm:
Bước 1: Chuẩn bị chứng từ
Bước 2: Mở tờ khai
A. Với hàng nguyên container
Bước 3: Đối chiếu manifest
Bước 4: Chuyển bãi kiểm hóa

11

(2)
(2)
(1)
(1)
(1)
Bước 5: Kiểm hóa
Bước 6: Nhận lại tờ khai
Bước 7: Thanh lý qua cổng
B. Với hàng lẻ
Bước 3: Kiểm hóa
Bước 4: Nhận lại tờ khai
Bước 5: Rút hàng
Bước 6: Thanh lý qua cổng
















Bước 1: Chuẩn bị chứng từ
Nhận viên giao nhận khai báo điện tử tại văn phòng công ty với các loại hình
trừ hàng phi mậu dịch sau đó in tờ khai nhập khẩu hàng hóa và lấy số tiếp nhận ghi
lên hồ sơ.
Tiếp theo nhân viên giao nhận phải chuẩn bị bộ tờ khai bằng giấy bao gồm:
Chuẩn bị chứng từ:
- Khai báo điện tử và chuẩn bị bộ chứng từ giấy
Mở tờ khai:
- Nộp hồ sơ, chờ hải quan kiểm tra hồ sơ, phân
luồng hàng hóa và tính thuế
Luồng xanh Luồng vàng Luồng đỏ
Kiểm tra hồ sơ, tính thuế
Trả thuế tại kho bạc nhà
nước
Kiểm hóa
Trả hồ sơ

12

+ 01 bộ tờ khai hải quan: 02 tờ khai gồm 01 bản lưu hải quan và 01 bản lưu
người khai hải quan (có Phụ lục tờ khai nếu hàng nhiều), 02 Tờ khai GATT (có Phụ
lục tờ khai GATT nếu hàng nhiều)
+ 01 giấy tiếp nhận tờ khai ( đối với hàng phi mậu dịch thì phải có thêm lệnh
hình thức)
+ Giấy giới thiệu của công ty
+ 01 Bản sao Hợp đồng ngoại thương
+ Hóa đơn thương mại (Invoice): 01 bản gốc, 01 bản sao
+ Bảng kê khai chi tiết hàng hóa (Packing list): 01 bản gốc, 01 bản sao
+ Vận đơn đường biển (bill of lading): 01 bản sao, photo đủ 2 mặt và có dấu
của hãng tàu.
+ Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin): bản gốc, số lượng liên gốc
hải quan yêu cầu tùy vào từng loại C/O
+ Giấy phép kinh doanh + mã số thuế doanh nghiệp: 01 bản sao y
+ Các loại giấy phép chuyên ngành cần thiết tùy theo từng loại mặt hàng
+ Kiểm tra bộ chứng từ phải đủ và đúng
+ Kiểm tra tình hình nợ thuế của khách hàng
Nhân viên giao nhận mang giấy giới thiệu đến hãng tàu để lấy lệnh giao hàng
và trả các phụ phí.
Nhân viên giao nhận tự khai báo đầy đủ, chính xác hàng hóa thực tế theo các
nội dung quy định tại phần dành cho người khai báo trong tờ khai hải quan.
Nhân viên của công ty cũng tự xác định mã số hàng hóa, thuế suất, giá tính
thuế của từng mặt hàng nhập khẩu, tự tính số thuế phải nộp của từng loại thuế trên
tờ khai hải quan.
Sau đó đại diện của doanh nghiệp ký tên, đóng dấu vào tờ khai sau khi khai
báo đầy đủ các tiêu chí trên tờ khai.
Bước 2: Mở tờ khai
Nhân viên công ty nộp hồ sơ tại các quầy tiếp nhận hồ sơ: tự xếp hồ sơ vào
nơi hải quan quy định phân luồng hàng hóa.

13

Nếu hàng để lựu lại cảng quá hạn 30 ngày thì phải làm biên bản phạt, đóng
tiền phạt.
Hải quan in danh sách nợ thuế, cưỡng chế, phiếu kiểm tra hình thức. Tùy vào
quá trình nhập khẩu của khách hàng trong thời gian trước đó (về nợ thuế, cưỡng
chế, vi phạm pháp luật…) và mặt hàng đang nhập mà doanh nghiệp có thể được xét
miễn kiểm, ân hạn nộp thuế sau hay phải kiểm hóa xác suất, nộp thuế ngay.
+ Nếu doanh nghiệp có vi phạm các quy định về thuế thì sẽ không được phép
mở tờ khai và sẽ được hải quan thông báo rõ lý do tại sao không được phép mở tờ
khai. Tuy nhiên trên thực tế, có đôi lúc do lỗi cập nhật thông tin không thống nhất
giữa kho bạc nhà nước với cục hải quan là do việc chuyển chứng từ từ kho bạc nhà
nước về chi cục thuế hải quan phải mất cả tuần thậm chí vài tuần mới về đến nơi mà
xảy ra tình trạng doanh nghiệp đã đóng thuế nhưng nhưng vẫn nhận được thông báo
của hải quan là chưa đóng thuế nên vẫn bị cưỡng chế thì doanh nghiệp cần phải
chứng minh cho hải quan thấy bằng biên lai nộp thuế thì việc mở tờ khai vẫn được
tiếp tục.
+ Nếu doanh nghiệp được phép mở tờ khai thì hải quan sẽ tiếp tục tiến hành
kiểm tra sơ bộ hồ sơ hải quan về tính hợp lệ và sự đồng bộ của hồ sơ theo từng loại
hình nhập khẩu (bao gồm kinh doanh, đầu tư, gia công, sản xuất xuất khẩu, nhập tái
xuất, tái nhập). Nếu hồ sơ hợp lệ thì hải quan sẽ nhập thông tin tờ khai vào hệ thống
máy tính.
Sau đó, các thông tin này sẽ tự động được xử lý và đưa ra lệnh hình thức.
Lệnh hình thức có mức độ khác nhau theo luồng xanh, vàng, của hàng hóa.
º Luồng xanh: hàng hóa được chấp nhận thông quan trên cơ sở thông tin khai
báo điện tử. Hàng luồng xanh là tài liệu, chứng từ thương mại, hàng không có thuế,
hàng có thuế nhưng được miễn thuế theo quy định pháp luật, được miễn kiểm tra
thực tế hàng hóa. Trường hợp cần thiết thì lãnh đạo chi cục quyết định kiểm tra xác
suất bằng máy soi hoặc thủ công.
º Luồng vàng: hải quan kiểm tra chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan trước khi
thông quan hàng hóa. Hàng luồng vàng là hàng có thuế nhập khẩu phải nộp, được

14

kiểm tra bằng máy soi, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan thì
chuyển sang kiểm tra thủ công.
º Luồng đỏ: hải quan kiểm tra chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan và kiểm tra
thực tế hàng hóa trước khi thông quan hàng hóa. Hàng luồng đỏ là hàng thuộc diện
quản lý chuyên ngành, hàng phải kiểm tra nhà nước về chất lượng, hàng nhập khẩu
có điều kiện, hàng theo danh mục trọng điểm về quản lý rủi ro. Hàng luồng đỏ được
kiểm tra thủ công.
Sau đó, công chức hải quan sẽ chuyển hồ sơ sang cho bộ phận tính thuế rồi
chuyển cho lãnh đạo đội và cuối cùng là lãnh đạo chi cục.
Lãnh đạo chi cục sẽ xem xét và quyết định lại lệnh hình thức và mức độ kiểm
tra. Việc xét duyệt này thể hiện trên Phiếu kiểm tra hình thức được quyết định bởi
máy tính, hải quan tiếp nhận tở khai và lãnh đạo chi cục trong đó ý kiến của lãnh
đạo chi cục là quyết định cuối cùng.
Nếu là hàng hóa luồng xanh và vàng thì sẽ được lãnh đạo chi cục ký thông
quan ngay sau khi hải quan chấp nhận việc kê khai phân luồng của doanh nghiệp.
Nếu là luồng đỏ thì chuyển cho lãnh đạo đội phân công kiểm hóa. Đội trưởng
sẽ quyết định tỉ lệ phần trăm kiểm hóa trong khoảng từ 5%, 10% đến 100%.
Nếu lãnh đạo hải quan chi cục đã chấp nhận miễn kiểm thì ra nhận lại tờ khai
tại quầy trả tờ khai, nộp lệ phí và nộp thuế nếu phải nộp thuế ngay; còn nếu hàng
hóa bị kiểm hóa thì cần xem trên bảng thông báo tên nhân viên hải quan chịu trách
nhiệm kiểm hóa và liên lạc với hai hải quan này.
+ Với hàng nguyên container.
Bước 3: Đối chiếu bản lược khai hàng hóa (cargo manifest) (tùy hải quan ở mỗi chi
cục)
Nhân viên giao nhận lấy 01 Lệnh giao hàng (Delivery order) đối chiếu với hải
quan giám sát.
Nếu bị lập biên bản quá hạn 30 ngày thì phải đem theo biên bản và biên lai
nộp phạt.
Hải quan sẽ đóng dấu đã đối chiếu.
Bước 4: Chuyển bãi kiểm hóa

15

Cần 02 bản photo của lệnh giao hàng và 01 bản chính (nếu quá hạn thì phải có
dấu gia hạn của hãng tàu)
Nhân viên giao nhận sẽ xác định vị trí container của mình ở đâu và dùng một
lệnh giao hàng để tiến hành đăng kí chuyển bãi để kiểm hóa và sau đó đóng tiền
nâng hạ, chuyển bãi kiểm hóa và vệ sinh container tại thương vụ cảng.
Người giao nhận nếu muốn mượn container đem về kho thì phải đến gặp đại
diện của hãng tàu để đóng tiền cược trừ khi hãng tàu không yêu cầu đóng tiền cược.
Sau đó nhân viên giao nhận sẽ đi lấy phiếu giao nhận container (EIR –
Equipment interchange receipt) dùng để thanh lí cổng và hạ bãi. Phiếu EIR gồm 4
liên: liên xanh giao cho kho hàng, liên hồng trình hãng tàu để lấy lại tiền cược, liên
vàng giao cho bảo vệ cổng cảng và liên trắng.
Bước 5: Kiểm hóa
Nếu phải kiểm hóa thì nhân viên giao nhận phải kiểm tra vị trí mới container
tại phòng thương vụ cảng. Sau khi tìm thấy vị trí container, nhân viên giao nhận sẽ
đến phòng Điều độ của cảng để được đóng dấu cắt seal lên lệnh và thông báo cho
hải quan kiểm hóa và xin được kiểm hóa.
Nhân viên công ty xác định chính xác container (bao gồm số container và seal
trên lệnh giao hàng) và liên hệ với đội bốc xếp để cắt seal trước sự chứng kiến của
hải quan và tiến hành kiểm tra hàng cùng hải quan, sau khi hải quan kiểm hóa xong
thì sẽ kí tên vào tờ khai rồi khóa cửa container.
Bước 6: Nhận lại tờ khai
Nhân viên giao nhận nộp lệ phí và đóng thuế tại kho bạc nhà nước nếu phải
đóng thuế ngay
Sau đó sẽ trình liên tím của biên lai thu lệ phí và biên lai thu thuế cho hải quan
nếu phải nộp thuế ngay.
Nếu được ân hạn nộp thuế sau thì số tiền thuế phải nộp chính là số tiền thuế
trong thông báo thuế hoặc số tiền thuế ghi trên mặt sau của tờ khai mà bộ phận tính
thuế đã xác nhận.
Cuối cùng nhân viên giao nhận ký nhận vào tờ khai và lấy lại tờ khai. Tờ khai
được lấy ra phải có đóng mộc vuông màu đỏ “đã làm thủ tục hải quan” ở góc phải.

16

Bước 7: Thanh lý qua cổng
Để thanh lý qua cổng cần có phiếu EIR và lệnh giao hàng đã có dấu đối chiếu
bản lược khai hàng hóa và bộ tờ khai.
Nhân viên giao nhận tiến hành thanh lý với hải quan giám sát cổng bằng cách
mang tờ khai đã kiểm hóa, có xác nhận “Đã làm thủ tục hải quan” cùng với phiếu
EIR xuất trình cho hải quan cổng. Hải quan cổng sẽ xem xét các chứng từ trên và ký
nhận, đóng dấu, ký tên và giữ lại phiếu EIR màu xanh và lệnh giao hàng; đóng dấu
xác nhận và trả các liên còn lại của phiếu EIR và tờ khai cho nhân viên giao nhận.
Phiếu EIR sẽ được giao cho tài xế để xuất trình khi đưa container ra cổng
nhằm chứng tỏ người vận tải đã đưa đúng container như đã làm thủ tục trên phiếu
EIR ra khỏi cảng.
+ Với hàng lẻ
Bước 3: Kiểm hóa
Nhân viên giao nhận dựa trên lệnh giao hàng để xác định hàng nằm tại kho
nào; báo với kho để xác định vị trí hàng
Sau đó nhân viên giao nhận báo với hải quan và yêu cầu kiểm hóa.
Hải quan sẽ tiến hành kiểm hóa cùng với nhân viên giao nhận và sau đó ký tên
vào tờ khai.
Bước 4: Nhận lại tờ khai (như với hàng nguyên container)
Bước 5: Rút hàng
Nhân viên giao nhận trình lệnh giao hàng với Thương vụ cảng, đóng phí lưu
kho quá hạn nếu có và nhận phiếu xuất kho.
Giao tờ khai và lệnh giao hàng để hải quan giám sát kho xác nhận.
Ghi lại số xe, số container lên phiếu xuất kho, giao cho kho xác nhận và yêu
cầu đóng hàng lên xe.
Bước 6: Thanh lý qua cổng
Nhân viên giao nhận xuất trình 2 phiếu xuất kho và tờ khai cho hải quan cổng.
Cán bộ hải quan ký tên đóng dấu vào phiếu xúât kho và trả lại 01 liên cho nhân viên
giao nhận, sau đó nhân viên sẽ đưa phiếu này cho tài xế vận tải để đem hàng ra khỏi
cổng.

17

C Sau khi đã hoàn tất thủ tục hải quan, nhân viên giao nhận sẽ cho tài xế chở
container về kho của chủ hàng. Sau khi đợi chủ hàng rút hàng khỏi container và
kiểm tra hàng hóa thì tài xế xe sẽ chở container rỗng về trả lại cho hãng tàu.
C Sau khi hoàn thành việc giao nhận hàng công ty Tân Cảng logistics sẽ tiến
hành quyết toán với khách hàng gồm bảng liệt kê chi phí phát sinh trong quá trình
giao nhận hàng và chi phí dịch vụ giao nhận. Khi hai bên thỏa thuận thanh toán các
khoản và thực hiện đúng như trong hợp đồng thì xem như hợp đồng giao nhận đó đã
được thanh lý.
¬Cuối cùng sau khi đã làm xong một lô hàng thì nhân viên giao nhận cần chuẩn bị
đầy đủ chứng từ và hóa đơn trả khách hàng. Khi hoàn tất giao nhận phải ký nhận
với khách hàng Cargo delivery note. Sau đó nhân viên giao nhận thực hiện thanh
toán với công ty và photo toàn bộ 01 bản lưu vào file riêng đi kèm với báo cáo
doanh thu hàng nhập xuất, riêng tờ khai thì photo thêm 1 bản (2 mặt) lưu thành bộ
riêng.

II Thực trạng giao nhận hàng hóa tại công ty Tân Cảng Logistics
1. Những thuận lợi của công ty trong hoạt động giao nhận
1.1. Chính sách nhà nước
Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế, nguồn vốn vay kích cầu với lãi suất
thấp tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cấp, đổi mới
trang thiết bị, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các chính sách quản lý vĩ
mô của nhà nước tạo ra nhiều thuận lợi cho hoạt động giao nhận như những đổi mới
trong luật Hải quan, luật thuế xuất nhập khẩu…Ví dụ như là nếu như trước đây hải
quan sẽ giúp khai báo hải quan thì bây giờ chủ hàng sẽ tự khai báo và chính điều
này đã giúp cho dịch vụ khai thuê hải quan phát triển mạnh mẽ và nâng cao vị trí
của người giao nhận. Thêm vào đó là những quy định về chống tiêu cực trong hoạt
động hải quan cũng giúp cho việc làm thủ tục trở nên dễ dàng hơn.
1.2. Công việc
Thuận lợi đầu tiên phải kể đến đó là công ty Tân Cảng Logistics có nhiều lợi
thế kế thừa từ công ty mẹ - Tân Cảng Sài Gòn - vì Tân Cảng Sài Gòn là nhà khai

18

thác cảng số một của Việt Nam, sản lượng thông quan hàng năm khoảng 2,4 triệu
TEUs chiếm trên 80% thị phần của khu vực phía Nam và trên 50% của cả nước.
Chẳng hạn như trong năm 2009 mặc dù xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng sản
lượng container qua Tân Cảng Sài Gòn vẫn được giữ vững và còn tăng so với năm
2008 trong khi hầu hết sản lượng qua các cảng khác đều sụt giảm. Thêm vào đó, sự
thành lập Cảng Tân Cảng Cái Mép thuộc Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn vào nằm
2009 vừa qua cũng góp phần đem lại thêm nhiều hợp đồng cho công ty Tân Cảng
Logistics.
Mặc dù công ty chỉ mới hoạt động trong một thời gian ngắn, nhưng cung cách
làm việc cũng như nghiệp vụ chuyên môn của công ty đã tạo được sự tin tưởng cho
khách hàng và giờ đây công ty đã có một lượng lớn khách hàng quen thuộc.
Hơn thế nữa, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày càng mở rộng,
khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng tăngvà ưu thế về vị
trí địa lý nằm ở khu vực chiến lược của Đông Nam Á có bờ biển dài 2000 km, có
nhiều cảng nước sâu đã giúp cho ngành vận tải biển của Việt Nam phát triển kéo
theo sự phát triển của ngành giao nhận trong nước.
1.3. Nhân sự
Tiếp theo đó phải kể đến đội ngũ nhân viên của Tân Cảng logistics, hầu hết
đều đã tốt nghiệp Đại học, nắm vững kiến thức chuyên môn và giàu kinh nghiệm
trong lĩnh vực giao nhận. Họ luôn nỗ lực, nhiệt tình hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao. Thêm vào đó, công ty luôn tạo những điều kiện tốt nhất để nhân viên có thể
hoàn thiện các kĩ năng cũng như phát huy được năng lực của bản thân. Môi trường
làm việc thân thiện, vui vẻ tạo tâm lý thoải mái và không tạo ra nhiều áp lực trong
công việc cho nhân viên.
1.4. Cơ sở hạ tầng của công ty
Công ty có trang thiết bị đầy đủ, tiện nghi và thường xuyên được đầu tư thêm
mỗi năm.
2. Những khó khăn của công ty trong hoạt động giao nhận
2.1. Các yếu tố bên ngoài

19

Cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam chưa phát triển Đây không chỉ là khó
khăn của công ty Tân Cảng logistics mà là của ngành giao nhận nói chung, trong
khi sản lượng hàng hóa thông quan thì rất nhiều nhưng tình trạng kẹt xe lại xảy ra
thường xuyên làm mất thời gian của nhân viên giao nhận.
Tình hình kinh tế toàn cầu, khu vực và trong nước diễn biến phức tạp và chưa
ổn định gây ảnh hưởng đến lượng hàng hóa thông qua các cảng từ đó cũng ảnh
hưởng đến hoạt động giao nhận của công ty.
Nhiều công ty lớn, chuyên nghiệp, nhiều kinh năm kinh nghiệm trong lĩnh vực
giao nhận của nước ngoài đã tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hoạt động tại thị trường
Việt Nam góp phần tăng tính cạnh tranh. Doanh nghiệp Tân Cảng logistics sẽ cần
phải cố gắng nhiều để không mất đi nhiều hợp đồng giao nhận vào các doanh
nghiệp này.
2.2. Tính thời vụ của hoạt động giao nhận
Hoạt động giao nhận thường không ổn định do khối lượng công việc thay đổi
theo thời gian. Thời điểm hàng nhiều, có nhiều hợp đồng thì nhân viên phải làm
việc liên tục nhưng cũng có khi khối lượng công việc giảm, hợp đồng ít đi. Điều
này cũng gây ảnh hưởng ít nhiều đến doanh thu hàng tháng của công ty và thu nhập
của nhân viên công ty.
2.3. Nhân sự
Mặc dù, nhân viên đều tốt nghiệp đại học nhưng thường theo những chuyên
ngành khác chứ không thực sự phù hợp với yêu cầu của công ty nên họ thường
không có nhiều kiến thức chuyên môn mà do làm nhiều rồi trở thành quen nên khi
gặp những trường hợp bất ngờ thì họ thường khó ứng phó nhanh.
2.4. Công việc
Thông tin trên bộ chứng từ đôi lúc không trùng khớp, thiếu chính xác, mất thời
gian và chi phí cho việc điều chỉnh những thông tin sai lệch.
Số lượng hàng hóa được kê khai đôi khi không phù hợp với thực tế gây ra
nhiều khó khăn trong khâu làm thủ tục hải quan.
Quy trình và tập quán làm việc của hãng tàu thường xuyên thay đổi gây rất
nhiều khó khăn cho nhân viên giao nhận trong quá trình chuẩn bị hồ sơ.

20

Việc mỗi hãng tàu có thói quen sử dụng hồ sơ chứng từ khác nhau cũng gây
khó khăn trong công tác tập hợp chứng từ, hóa đơn để quyết toán với khách hàng.
2.5. Chính sách nhà nước
Chính sách nhà nước đem lại lợi ích cho hoạt động giao nhận nhưng đồng thời
cũng gây ra khó khăn cho các công ty giao nhận như mức thuế suất nhập khẩu cao
sẽ làm giảm khối lượng hàng hóa nhập khẩu…

III. Đánh giá chung
Tuy mới đi vào hoạt động chưa lâu nhưng có thể thấy rằng Tân Cảng logistics
không non trẻ như số tuổi của nó mà đã đạt được những thành tựu đáng kể và giành
được một vị thế không nhỏ trong hoạt động giao nhận hàng hóa trong nước. Tất cả
những điều này có được một phần là do những lợi thế vốn có của công ty nhưng
không thể không kể đến những nỗ lực của ban giám đốc công ty cũng như toàn thể
cán bộ công nhân viên.
Tuy nhiên trước tình hình ngày càng có nhiều công ty cạnh tranh trong nước
cũng như nước ngoài như hiện nay thì để có thể tiếp tục giữ vị trí của mình trong
lòng đối tác và tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa thì Tân Cảng logistics cần có
những định hướng đúng đắn, nhất là các lĩnh vực về đầu tư mua sắm trang thiết bị,
đầu tư tài chính, cân đối sử dụng nguồn vốn có hiệu quả.

IV. Một số kiến nghị và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
1. Đối với công ty
Trong thời buổi ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh, công ty cần đẩy mạnh
công tác marketing, quảng bá hình ảnh của mình qua các thông tin đại chúng và
không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ nhưng giữ nguyên giá cả, đáp ứng tốt
nhất nhu cầu khách hàng, mở rộng phạm vi hoạt động của công ty để tìm kiếm thêm
khách hàng mới.
Công ty nên quan tâm đến nhu cầu khách hàng, giữ mối quan hệ làm ăn và
thường xuyên liên lạc để nắm bắt thông tin phản hồi từ khách hàng. Nâng cao sự tín
nhiệm của khách hàng bằng cách nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân viên gia

21

Những chính sách ưu đãi về giá cả như chính sách giảm giá đối với những khách
hàng lâu năm và những khách hàng thường xuyên của công ty. Nếu thực hiện tốt
những chính sách này, công ty sẽ vừa có thể đảm bảo được khách hàng quen thuộc
vừa có thể thu hút một lượng khách hàng mới.
Thêm vào đó, như đã trình bày ở trên hoạt động giao nhận mang tính thời vụ
nên vào những mùa khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu giảm xuống, công ty có
thể giảm giá chấp nhận lợi nhuận giảm ngay cả gần như không có lợi nhuận để có
thể duy trì số lượng hợp đồng.
Hơn nữa, công ty nên khai thác tối đa năng lực của bản thân và đầu tư đổi mới
trang thiết bị, phương tiện vận tải bốc xếp để tổ chức tốt dịch vụ giao nhận và hạn
chế các chi phí thuê ngoài.
Bên cạnh đó, công ty cũng cần lưu ý đến chính sách nhân sự như là sử dụng
nhân viên đúng chuyên ngành để phát huy được ưu điểm của từng cá nhân; tạo sự
đoàn kết gắn bó, giúp đỡ nhau giữa các phòng ban; thường xuyên mở các lớp bồi
dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn cho nhân viên như các khóa học về nghiệp
vụ ngoại thương, nghiệp vụ thanh toán quốc tế, giao tiếp khách hàng, đào tạo thêm
về luật pháp cho nhân viên; cần có thêm những chính sách khen thưởng cho những
nhân viên hoàn thành tốt công việc của mình…
2. Đối với nhà nước
Công tác quản lý của nhà nước về thương mại cần được sửa đổi liên tục, vươn
lên bắt kịp với sự phát triển và diễn biến của thị trường trong và ngoài nước. Các
chính sách của nhà nước ngày càng được hoàn thiện hơn để có thể loại bỏ hoàn toàn
những kẻ hở trong luật pháp, đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiệp; đơn giản hóa
và đồng bộ hóa các thủ tục chứng từ để tiết kiệm thời gian và giúp các doanh nghiệp
thuận lợi hơn trong việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu, tránh tình trạng chậm
trễ trong việc giao nhận hàng. Nhà nước cũng cần có những chính sách cứng rắn về
tệ nạn tham nhũng, hành doanh nghiệp của một số cán bộ hải quan gây ra những ấn
tượng không tốt cho các doanh nghiệp nước ngoài khiến họ thấy e ngại khi quyết
định đầu tư vào nước ta và chính điều này gây ảnh hưởng rất lớn cho hoạt động xuất

22

nhập khẩu. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ vốn cũng cần được nhà nước đẩy mạnh hơn
để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển.
Nhà nước cần dự báo thị trường, giá cả xăng dầu… nhằm hỗ trợ thông tin cho
các doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp có thể đón đầu những cơ hội mới hoặc
ngăn chặn những diễn biến xấu có thể xảy ra.
Nhà nước cũng cần phải tận dụng hơn nữa các nguồn vốn đầu tư của nước
ngoài để góp phần phát triển kinh tế của đất nước và thông qua đó các doanh nghiệp
của nước ta cũng học hỏi được thêm kinh nghiệm về quản lý điều hành và trình độ
khoa học kĩ thuật tiên tiến của các nước.
Ngoài ra, nhà nước cũng nên đầu tư thêm vào cơ sở vật chất hạ tầng giải quyết
tình trạng ùn tắc giao thông và phát triển các hệ thống cảng biển cũng như đầu tư
mạnh mẽ cho ngành giao nhận vận tải.
3. Đối với nhà trường
Có thể thấy rằng các môn chuyên ngành được trường dạy rất kĩ nhưng tất cả
đều là trên lý thuyết nên khi tiếp xúc thực tế thì không thể tránh khỏi những điều bỡ
ngỡ với sinh viên. Vì vậy, trong các khóa sau, nhà trường có thể tạo điều kiện nhiều
hơn cho sinh viên được tiếp xúc với những môi trường thực tế này để khi đi thực
tập sinh viên đỡ bỡ ngỡ hơn và phần nào hình dung được môi trường làm việc cũng
như công việc mình sẽ làm trong tương lai.












23

KẾT LUẬN
Quá trình thực tập tại công ty cổ phần đại lý giao nhận vận tải xếp dỡ Tân
Cảng - Tân Cảng logistics - đã tạo cơ hội quý báu để tiếp xúc với thực tế của những
kiến thức đã được học tại trường.
Các kiến thức về giao nhận vận tải quốc tế hàng hóa xuất nhập khẩu được
cung cấp bởi các bộ môn nghiệp vụ trường Đại học Ngoại Thương đã thực sự trở
thành nền tảng lý luận cho thực tiễn. Trên cơ sở này, công ty đã vận dụng lý thuyết
vào trong điều kiện thực tế của mình thành những quy trình chi tiết và chính xác
dưới sự hỗ trợ của các văn bản hướng dẫn cụ thể, các nguồn nhân lực, các trang
thiết bị.
Thực tiễn hoạt động trong việc thực hiện các quy trình giao nhận hàng hóa tại
công ty Tân Cảng logistics đã giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp xúc với thực tế
và khác sâu hơn những nền tảng lý thuyết đã được học. Qua đó sinh viên có thể hiểu
một cách cặn kẽ các nghiệp vụ chính và các nghiệp vụ phát sinh. Thực tiễn tại đơn
vị thực tập đã giúp ích rất nhiều cho sinh viên trong việc hoàn thiện khối kiến thức
về ngoại thương.
Công ty Tân Cảng logistics đã tận dụng những ưu thế sẵn có của mình để
giành lấy một chỗ đứng nhất định trong hoạt động giao nhận trong nước dù chỉ mới
đi vào hoạt động từ năm 2007. Công ty đang dần hoàn thiện để trở thành một trong
nhưng công ty giao nhận hàng đầu Việt Nam. Có được kết quả như vậy là nhờ công
ty đã có những bước đi đúng đắn với chiến lược kinh doanh phù hợp. Tuy nhiên,
vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn vướng mắc và Tân Cảng logistics còn cần phải cố
gắng nhiều hơn nữa để có thể hoàn thành tốt nhất những mục tiêu của mình.