1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN CƠ KHÍ
BỘ MÔN MÁY VÀ MA SÁT HỌC
------------------------------




GIÁO TRÌNH
TRANG BỊ ĐIỆN CHO MÁY

( Tài liệu tham khảo)











Hà Nội, tháng 3/2012

2

PHẦN I: KHÍ CỤ ĐIỆN
CHƯƠNG 1: KHÍ CỤ ĐIỆN BẢO VỆ VÀ PHÂN PHỐI
1.1 CẦU CHÌ
1.1.1. Khái niệm chung
Cầu chì là loại khí cụ điện bảo vệ mạch điện, nó tự động cắt mạch điện khi có sự cố
quá tải, ngắn mạch. Cầu chì có đặc điểm là đơn giản, kích thước nhỏ, khả năng cắt lớn và giá
thành hạ nên ngày nay nó vẫn được sử dụng rộng rãi.
Các phần tử cơ bản của cầu chì là dây chảy dùng để cắt mạch điện cần bảo vệ, và thiết
bị dập hồ quang để dập tắt hồ quang sau khi dây chảy bị đứt. Yêu cầu đối với cầu chì như sau:
- Đặc tính ampe - giây của cầu chì cần phải thấp hơn đặc tính của thiết bị được bảo
vệ.
- Khi có ngắn mạch cầu chì phải làm việc có chọn lọc theo trình tự.
- Đặc tính làm việc của cầu chì phải ổn định.
- Công suất của thiết bị bảo vệ càng tăng, cầu chì càng phải có khả năng cắt cao hơn.
- Việc thay thế dây chảy phải dễ dàng và tốn ít thời gian.
1.1.2. Phát nóng của dây chảy khi làm việc dài hạn
Đặc tính cơ bản của cầu chì là sự phụ thuộc của thời gian
chảy đứt của dây chảy với dòng điện chảy qua (đặc tính ampe -
giây). Để có tác dụng bảo vệ, đường đặc tính ampe - giây của
cầu chì (đường cong 1 trên hình 1.1) tại mọi điểm đều phải thấp
hơn đường đặc tính của thiết bị bảo vệ (đường cong 2 trên hình
1.1). Đường đặc tính thực tế của cầu chì (đường cong 3 trên hình
1) cắt đường cong 2: Trong miền quá tải lớn (vùng B), cầu chì
bảo vệ được thiết bị, trong vùng quá tải nhỏ (vùng B) cầu chì không bảo vệ được thiết bị.
Trong thực tế khi quá tải không lớn (1,5 ÷ 2) I
đm
, sự phát nóng của cầu chì diễn ra rất
chậm và phần lớn nhiệt lượng đều toả ra môi trường xung quanh. Do đó cầu chì không bảo vệ
được quá tải nhỏ.
Trị số dòng điện mà tại đó dây chảy bắt đầu chảy đứt gọi là dòng điện tới hạn I
th
. Để
dây chảy cầu chì không chảy đứt ở dòng điện định mức cần đảm bảo điều kiện I
đm
< I
th
.
Hình 1.1. Đặc tính
ampe-giây của cầu chì

3

.
Mặt khác để bảo vệ được thiết bị, dòng điện tới hạn phải không hơn dòng điện định
mức nhiều. Theo kinh nghiệm:
I
th
/I
đm
= 1,6 ÷ 2 đối với đồng;
I
th
/I
đm
= 1,25 ÷ 1,45 đối với chì;
I
th
/I
đm
= 1,15 đối với hợp kim chì thiếc.
Dòng điện định mức của cầu chì được lựa chọn sao cho khi chạy 1iên tục qua dây
chảy, chỗ phát nóng lớn nhất của dây chảy không làm cho kim loại bị oxy hoá quá mức và
biến đổi đặc tính bảo vệ, đồng thời nhiệt phát ra ở bộ phận bên ngoài cầu chì cũng không vượt
quá trị số ổn định.
Khi biết vật liệu và kích thước của dây chảy, ta có thể xác định được giá trị của dòng
điện tới hạn bằng cách giải phương trình cân bàng nhiệt giữa nhiệt lượng được cung cấp và
nhiệt lượng toả ra môi trường xung quanh của dây chảy.Phương trình có dạng sau:
( )
0 nc xq T
2
th
S K I . R u ÷ u = (1-1)
Trong đó: R là điện trở của dây chảy; K
T
là hệ số toả nhiệt của dây chảy ra môi trường
xung quanh;
xq
S là diện tích toả nhiệt của dây chảy;
nc
u là nhiệt độ nóng chảy của dây chảy;
0
u là nhiệt độ môi trường xung quanh.
Điện trở của dây chảy được tính theo công thức:
( )
S
1
. 1 R
nc 0
u o + µ = (1-2)
0
µ - điện trở suất của dây chảy ở O(')C;
o -hệ số nhiệt điện trở của dây chảy;
1 - chiều dài của dây chảy;
S- tiết diện của dây chảy;
Diện tích toả nhiệt của dây chảy được tính bằng:
l . p S
xq
=
(1-3)
p - chu vi của tiết diện dây chảy.
Thay các biểu thức (1- 2) và (1- 3) vào (1- 1), giải phương trình ta thu được :

4

( )
( )
nc 0
0 nc
th
. 1
I
u o + µ
u ÷ u
= (1-4)
Nếu dây chảy có tiết diện tròn hì biểu thức (1-4) có dạng sau:
( )
( )
3
nc 0
0 nc T
2
th
d
. 1 4
K
I
u o + µ
u ÷ u t
= (1-5)
Từ (7- 5) ta nhận thấy rằng, dòng điện tới hạn I
th
của dây chảy phụ thuộc vào đường
kính vật liệu và điều kiện toả nhiệt của dây chảy.
Để đơn giản việc tính toán, thường người ta dùng những công thức kinh nghiệm:
2 / 3
0 th
d . A I =
trong đó: A
0
là hệ số kinh nghiệm. Đối với vật liệu dây chảy khác nhau thì sẽ có các giá trị
khác nhau; d là đường kính của dây chảy. Ở dòng điện gần dòng điện tới hạn, các phần tử của
cầu chì làm việc ở chế độ nhiệt nậng nề nhất (nhiệt độ gần với nhiệt độ nóng chảy của vật
liệu).
Để tránh cho các phần tử của cầu chì bị đốt nóng quá mức khi dòng điện gần bàng
dòng điện tới hạn người ta dùng hai biện pháp: dùng dây chảy hình dẹt (để có bề mặt toả nhiệt
lớn) có những chỗ thít nhỏ lại, và dùng hiệu ứng luyện kim đối với các dây chảy tròn. Trên
chiều dài của dây chảy được hàn các giọt kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn nhiệt nóng
chảy của dây chảy. Khi bị đốt nóng, kim loại này sẽ nóng chảy trước hoà tan một phần dây
chảy, do đó tại những điếm này nhiệt độ sẽ cao hơn, điện trở cũng lớn hơn, và sẽ bị đứt trước.
Hiệu ứng luyện kim chỉ có tác dụng đối với dòng điện xấp xỉ dòng tới hạn.
1.1.4. Cầu chì hạ áp
Dựa vào kết cấu có thể chia cầu chì thành các loại sau:
a). Loại hở
Loại này không có vỏ bọc kín thường chỉ gồm dây chảy. Đó
là những phiến làm bằng chì lá, kẽm, hợp kim chì thiếc, nhôm hay
đồng lá mỏng được dập cắt thành các dạng như ở hình 1.2, sau đó
dùng vít bịt chặt vào các đầu cực dẫn điện đặt trên các bản cách điện
bằng đá, sứ… Dây chảy cũng còn có dạng hình tròn và làm bằng chì.
b). Loại vặn
Hình 1.2.
Các loại dây chảy

5

Cầu chì loại vặn thường có dạng như ở hình 1.3 dây chảy nối với nắp ở phía trong.
Nắp có dạng răng vít để vặn khít vào đế, dây chảy bằng đồng, có khi dùng bạc, có các cỡ
dòng định mức 6 A, 15 A, 20 A, 30 A, 80 A, 100 A ở điện áp 500V.

6

c). Loại hộp
Hộp và náp đều làm bằng sứ cách điện được bắt
chặt các tiếp điểm bằng đồng. Dây chảy được bắt chặt
bằng vít vào các tiếp điểm, thường dùng dây chảy là
các dây chì tròn hoặc chì lá có kích thước thích hợp.
Cầu chì hộp được chế tạo theo các cỡ dòng điện định
mức: 5, 10, l5, 20, 30, 80, 100 A ở điện áp 500V.
d). Loại kín không có chất nhồi
Hình 4 là kết cấu của loại cầu chì kiểu này. Dây
chảy được đặt trong một ống kín bằng phíp 1, hai đầu có nắp bằng đồng 4 có răng vít để vặn
chặt kín. Dây chảy được nối chặt với các cực tiếp xúc 5 bàng các vít và vòng điện đồng . Dây
chảy của cầu chì này làm bằng kẽm là vật liệu có nhiệt độ nóng chảy thấp lại có khả năng
chống rỉ. Nó được dập theo hình dạng như đã trình bày trên hình 2.
Khi xảy ra ngán mạch dây chảy sẽ đứt ra ở chỗ có tiết diện hẹp và phát sinh hồ quang.
Dới tác dụng của nhiệt độ cao do hồ quang sinh ra, vỏ xenlulô của ống bị đốt nóng sẽ bốc hơi,
làm áp lực khí trong ống tăng lên rất lớn, sẽ dập tắt hồ quang.
e). Loại kín có chất nhồi
Loại này có đặc tính bảo vệ tốt hơn loại trên, hình dạng cấu tạo của một cầu chì loại
này như ở hình 5. Loại này thường gọi là cầu chi ống sứ. Vỏ của cầu chì làm bằng sứ hoặc
stealít, có dạng là hình hộp chữ nhật. Trong vỏ có trụ tròn rỗng để đặt dây chảy 2 hình lá, sau
đó đổ đầy cát thạch anh. Dây chảy được hàn dính vào đĩa 4 và được bắt chặt vào phiến 5 có
cực tiếp xúc 6, các phiến 5 được bắt chặt vào ồng sứ bàng vít 7. Dây chảy được chế tạo bằng
đồng lá dày 0,1 đến 0,2 mm có dập các lỗ dài để tạo tiết diện hẹp. Để giảm nhiệt độ chảy của
đồng người ta hàn các giọt thiếc vào các đoạn có tiết diện hẹp.
1.1.5. Cầu chì cao áp
Cầu chì cao áp sử dụng để bảo vệ mạch điện cao áp, thường được dùng để bảo vệ máy
biến áp khi có sự cố ngắn mạch.
Quá trình đốt nóng của dây chảy cũng giống như ở cầu chì hạ áp, tuy nhiên trong cầu
chi cao áp không thể dùng dây chảy có tiết diện lớn được, vì lúc nóng chảy lượng hơi kim loại
tỏa ra lớn, khó khăn cho việc dập tắt hồ quang. Do đó thường dùng dây chảy bàng đồng, bạc,
có điện trở suất bé, nhiệt độ nóng chảy cao.
Hình 1.3. a. Hình dạng chung
b. Lõi Dây chảy và nắp
Hình 1.4. Cầu chì ống phíp

7

Để tăng cường khả năng dập tắt hồ quang sinh ra khi dây chảy đứt và đảm bảo an toàn
cho người vận hành cũng như các thiết bị khác ở xung quanh, trong cầu chì thường chèn đầy
cát thạch anh. Cát thạch anh có tác dụng phân chia nhỏ hồ quang và do đó nhanh chóng dập
tát hồ quang. Vỏ của cầu chì có thể được làm bàng chất xenluylô. Nhiệt độ cao của hồ quang
sẽ làm cho xenlulô bốc hơi, gây áp suất lớn để nhanh
chóng dập tắt hồ quang.
Khi hồ quang tắt giá trị điện áp phục hồi lớn, vì
vậy kích thước và kết cấu của cầu chì cao áp phải đảm
bảo cho quá trình dập tạt hồ quang có hiệu quả. Dưới đây,
ta xét kết cấu của hai loại cầu chì cao áp thường gặp.
a). Cầu chì có chất nhồi
Hình 6 là hai loại cầu chì loại HK có điện áp 6
đến 10 kV. Cấu tạo của nó gồm:
Ống sứ hình trụ 1, hai đầu có gán vòng đồng 2 là nơi đưa điện vào, cát thạch anh được
đưa vào cầu chì trước khi hàn miệng mặt đầu 3. Đối với cầu chì có dòng điện không lớn, dây
chảy 5 được quấn trên giá 4 để tăng chiều dây chảy và hiệu quả hạn chế dòng điện, vì vậy
tăng được công suất ngắt trong trường hợp bảo vệ ngắn mạch. Với dòng điện lớn hơn 7,5 A.
dây chảy được làm dạng lò xo xoắn nối song song với nhau, dòng đién tổng có thể lên tới 100
A. Để giảm nhiệt độ trên dây chảy, khi có quá tải lâu dài có thể bố trí các giọt kim loại 6 sử
dụng hiệu ứng luyện kim. Nút chỉ thị tác động 9 được nối với dây chảy đặc biệt 8. Dây chảy 8
sẽ đứt sau dây chảy 5.
Chiều dài dây chảy được tính theo công thức:
I = 0,16 ÷ 0,07 U
đm
, m. Trong đó U
đm
là điện áp định mức của cầu chì, kV.
b). Cầu chì bắn (Cầu chì tự rơi)
Khi điện áp lớn đến 35kV, thường dùng loại cầu chì cao áp kiểu bắn. Cấu tạo của loại
cầu chì này cho trên hình 1.6.
Bên trong ống tạo khí bằng vật liệu cách điện 1, đặt dây dẫn mềm 2, một đầu được
nối với dây chảy còn đầu kia nối với tiếp điểm 4, tiếp điểm 4 luôn chịu tác động của tay đòn
gắn với lò xo trên hình không biểu thị).
Hình 1.5. Cầu chì ống sứ

8

Hình 1.6. Cầu chì tự rơi
Đầu còn lại của dây chảy gắn với ống kim loại 5. Dây chảy bao gồm 1 phần nối song
song với nhau: dây 3 làm bằng thép và dây 6 bằng đồng. Dây chảy thép chịu lực kéo của lò
xo. Dây chảy bàng đồng dùng dẫn điện có điện trở nhỏ.
Ở chế độ định mức dây chảy bằng thép 3 giữ cho 4 không bị lò xo kéo ra. Khi ngắn
mạch dây chảy 6 đứt trước, sau đó đến 3 đứt. Dưới tác dụng của lò xo, đầu 4 và dây dẫn mềm
2 kéo hồ quang vào ống 1, ống 1 sinh khí bảo đảm hồ quang được dập tắt nhanh chóng. Thời
gian cháy của hồ quang phụ thuộc vào giá trị của dòng điện ngắt. Với dòng điện lớn khoảng
0,04 s và dòng điện nhỏ khoảng 0,3 s.





1.1.6. Lựa chọn cầu chì
a). Chọn cầu chì theo điều kiện làm việc dài hạn và điều kiện mở máy
Cầu chì được chọn sao cho khi làm việc ở chế độ dài hạn thì nhiệt độ phát nóng của nó
phải nhỏ hơn giá trị cho phép và khi mở máy cầu chì không được cắt mạch điện.

Dòng điện định mức của cầu chì I
CC
được định nghĩa là dòng điện cực đại lâu dài đi
qua dây chảy mà không làm dây chảy hí đứt, đó cũng là giá trị lớn nhất cho phép của cầu chì.
Cầu chì được chọn sao cho I
CC
của cầu chì thoả mãn hai điều kiện sau:
I
cc
> I
tt
(1-9)
I
cc
> I

/C (1-10)
Trong đó:
I
tt
là dòng điện tính toán tương ứng với công suất. P
tt
của thiết bị tiêu thụ điện.
thụ điện
I

là dòng điện khởi động lớn nhất của phụ tải động cơ điện:
Đối với một động cơ điện:

9

Hình 1.7
I

= K
mm
.I
đm
K
mm
là hệ số dòng khởi động
I
đm
là dòng điện định mức của động cơ điện
Đối với nhiều động cơ đặt trên cùng một tuyến, nhưng khởi động riêng lẻ
I

=EI
đm
+ (k-1)I
đmmax
EI
đm
là tổng dòng điện định mức của động cơ điện
C là bội số dòng điện mở máy của động cơ có dòng điện mở máy lớn nhất.
Chọn C như sau:
C = 2,5 đối với những động cơ có thời gian khởi động ngắn (3-10s), khởi động nhẹ
nhàng và sau một thời gian dài mới khởi động lại.
C = 1,6 ÷ 2,0 đối với những động cơ khởi động dài (đến 40s) khởi động khó khăn và
sau một thời gian ngán lại khởi động trở lại.
Khi động cơ khởi động nhẹ nhàng, cầu chì có quán tính nhiệt lớn (còn gọi là cầu chì
chậm), dòng điện định mức của cầu chì I
cc
được xác định đúng bằng dòng điện tính toán.
b) Chọn cầu chì theo điều kiện bảo vệ chọn lọc
Trong hệ thống cung cấp điện từ nguồn đến hộ tiêu thụ,
thông thường dùng nhiều cầu chì như ở hình 1.7.
Cầu chì 1 có dòng điện chạy qua và tiết diện dây chảy lớn
hơn dòng điện chạy qua và tiết diện dây chảy của cầu chì 2 đặt ở
gần hộ tiêu thụ. Khi có ngán mạch ở điểm A, chỉ có cầu chì 2 đứt,
các cầu chì còn lại phải không cắt. Muốn bảo đảm yêu cầu bảo vệ
chọn lọc thì thời gian tác động của cầu chì 2 cần phải nhỏ hơn thời gian làm nóng cầu chì 1
đến nhiệt độ nóng chảy:
t
tđ2
s t

1
Thay các giá trị của t
tđ2
và t

1
từ các công thức ở trên vào ta có
( )( )
2
1
2
1 '
1 2
2
2
2 ' '
2
'
2
I
S
A
I
S
A A 2 7 , 1 ( + ÷
Sau khi biến đổi và coi rằng khi ngắn mạch I
1
= I
2
ta tìm được điều kiện để cầu chì
loại này bảo vệ chọn lọc

10

Hình 1.8
( ) 2 7 , 1
A
A A
S
S
'
1
' '
2
'
2
2
1
÷
+
)
1.2. MÁY CẮT HẠ ÁP
1.2.1 Khái niệm chung
Máy cắt hạ áp (còn gọi là aptômat hay máy ngắt không khí tự động), là khí cụ điện tự
động cắt mạch điện khi có sự cố: quá tải, ngắn mạch, điện áp thấp, công suất ngược... Trong
các mạch điện hạ áp có điện áp định mức đến 660 V xoay chiều và 330 V điện một chiều, có
dòng điện định mức tới 6000 A. Những máy cắt hạ áp hiện đại có thế cắt được dòng điện tới
300 kA.
Đôi khi máy cắt hạ áp cũng được dùng để đóng cắt không thường xuyên các mạch
điện ở chế độ bình thường. Yêu cầu đối với máy cắt hạ áp như sau:
1. Chế độ làm việc định mức của máy cắt hạ áp phải là chế độ làm việc dài hạn, nghĩa là trị số
dòng điện định mức chảy qua máy cắt lâu bao nhiêu cũng được. Mặt khác mạch vòng dẫn
điện của nó phải chịu được dòng điện ngắn mạch lớn khi có ngắn mạch lúc các tiếp điểm của
nó đã đóng hay đang đóng.
2. Máy cắt hạ áp phải cắt được trị số dòng điện ngán mạch lớn có thể đến vài chục kilôampe.
Sau khi cắt dòng điện ngán mạch, máy cắt hạ áp phải đảm bảo vẫn làm việc tốt ở trị số dòng
điện định mức.
3. Để nâng cao tính ổn định nhiệt và ổn định điện động của các thiết bị điện, hạn chế sự phá
hoại do dòng điện ngán mạch gây ra, máy cắt hạ áp phải có thời gian cắt bé.
Để giảm kích thước lắp đặt của thiết bị và an toàn trong vận hành cần phải hạn chế
vùng cháy của hồ quang. Muốn vậy thường phải kết hợp lực thao tác cơ học với thiết bị dập
hồ quang bên trong máy cắt hạ áp.
Để thực hiện yêu cầu thao tác có chọn lọc, máy cát hạ áp cần phải có khả nang điều
chỉnh trị số dòng điện tác động và thời gian tác động.
Những thông số cơ bản của máy cắt hạ áp gồm: Dòng
điện định mức, I
đm
, điện áp định mức U
đm
, dòng điện ngắt
giới hạn và thời gian tác động. Thời gian tác động của máy
cắt hạ áp là một thông số quan trọng. Thời gian này được
tính tù lúc xảy ra sự cố đến khi mạch điện bị ngát hoàn toàn:

11

t = t
0
+ t
1
+ t
2
trong đó: t
0
là thời gian từ thời điểm xảy ra ngắn mạch đến khi dòng điện đạt tới trị số tác
động I = I

. Thời gian t
0
phụ thuộc vào giá trị của dòng điện khởi động, và tốc độ tăng của
dòng điện di/dt phụ thuộc vào thông số của mạch điện ngắt.
i
1
- thời gian kể từ khi I= I

đến khi tiếp điếm của máy cắt hạ áp bắt đầu chuyển động, thời
gian này phụ thuộc vào các phần tử bảo vệ, cơ cấu ngắt, kết cấu của tiếp điểm, trọng lượng
phần động. Nếu t
1
> 0,01s thì máy cát có thời gian tác động bình thờng. Đối với máy cắt tác
động nhanh thời gian t
l
= 0,002÷ 0,008 s.
t
2
- thời gian cháy của hồ quang, phụ thuộc vào giá trị của dòng điện ngát và biện pháp
dập hồ quang.
Hình 1.8 trình bày dạng dòng điện và điện áp trên tiếp điểm trong quá trình ngắt của
máy cắt hạ áp tác động bình thường (hình 9a) và tác động nhanh (hình 9b).
1.2.2. Nguyên lý làm việc
của máy cắt hạ áp
Dựa vào chức năng
bảo vệ người ta chia máy cắt
hạ áp thành các loại có
nguyên lý làm việc khác
nhau:
Aptômat dòng điện
cực đại, aptômat dòng điện
cực tiểu, aptômat điện áp
thấp, aptômat công suất ng-
ược. Đặc biệt trong những
năm gần đây với phát triển
mạnh mẽ của kỹ thuật điện
tử, người ta đã chế tạo ra các
loại aptômat bảo vệ dòng
điện dư, aptômat công suất
lớn, có các phần tử bảo vệ
được cấu tạo bằng tổ hợp các mạch vi điện tử có nhiều chức năng bảo vệ và có thể điều chỉnh
được các thông số bảo vệ trong phạm vi tương đối rộng.
Hình 1.9

12

Hình 1.9a trình bày nguyên lý làm việc của áptômát dòng điện cực đại. Nó tự động
ngắt mạch khi dòng điện trong mạch vợt quá trị số dòng chỉnh định I

Khi I > I

, lực điện từ
của nam châm điện 1 tháng lực cản của lò xo 3, nắp 2 bị kéo làm mấu giữa thanh 4 và đòn 5
bật ra, lò xo ngắt 6 kéo tiếp điểm động ra khỏi tiếp điếm tĩnh mạch điện bị ngắt. Aptômat
dòng điện cực đại dùng để bảo vệ mạch điện khi bị quá tải hoặc ngắn mạch.
Hình 1.9b là nguyên lý làm việc của aptômat dòng điện cực tiếu, nó tự động ngắt
mạch khi dòng điện trong mạch nhỏ hơn dòng điện chỉnh định I

. Khi I <I

, lực điện từ của
nam châm điện 1 không đủ sức giữ nắp 2 nên lực kéo của lò xo 3 sẽ kéo tiếp điểm động ra
khỏi tiếp điểm tĩnh, mạch điện bị ngắt. Aptômat dòng điện cực tiểu dùng để bảo vệ máy phát
khỏi chuyển sang chế độ động cơ khi nhiều máy phát làm việc song song, vì có nhiều nhược
điểm nên ít sử dụng, đang dần được thay thế bằng aptômat công suất ngược.
Hình 1.9c là nguyên lý làm việc của aptômat công suất ngược, nó tự động cắt mạch
điện khi hướng truyền công suất thay đổi (khi dòng điện thay đổi chiều). Nếu mang lượng
truyền thuận chiều, từ thông của cuộn dây dòng điện và cuộn dây điện áp của nam châm điện
1 cùng chiều với nhau, lực điện từ lớn hơn lực của lò xo 6, aptômát đóng. Khi chiều dòng điện
thay đổi (công suất truyền ngược), lực điện từ của nam châm điện tỷ lệ với bình phương hiệu
hai từ thông do dòng điện và điện áp sinh ra; do đó lực điện từ giảm đi rất nhiều, không thắng
nổi lực kéo của lò xo 3, mẫu giữa thanh và đòn 5 bật ra, lò xo ngắt 6 kéo tiếp điểm động rời
khỏi tiếp điểm tĩnh mạch điện bị ngắt.
Hình 1.9d trình bày nguyên lý làm việc của aptômat điện áp thấp tự động ngát mạch
khi điện áp U giảm xuống dưới mức chỉnh định U

. Nếu U <

U

,

lực điện từ của nam châm
điện 1 có cuộn dây mắc song song với lưới giảm yếu hơn lực kéo của lò xo 3 nên mấu gữa
thanh 4 và đòn 5 bị bật ra, lò xo 6 kéo tiếp điểm động rời khỏi tiếp điểm tĩnh, mạch điện bị
cát. Aptômat điện áp thấp dùng để bảo vệ mạch điện khi điện áp sụt quá thấp hay khi mất điện
áp.
Hình 1.9e trình bày sơ đồ khối nguyên lý làm việc của aptômat bảo vệ dòng điện dư
và aptômat có phần tử bảo vệ bằng bán dẫn và vi điện tử. Nó bao gồm ba khối chính: đo lư-
ờng so sánh (ĐLSS), khuếch đại (KĐ) và khối chấp hành (CH). Khối đo lường so sánh có
nhiệm vụ đo lường các đại lượng cần bảo vệ (dòng điện hay điện áp) và so sánh với trị số đặt,
sau đó đưa tín hiệu đến khâu khuếch đại. Trong aptômat bảo vệ dòng điện diện một pha là sự
sánh dòng điện vào và ra. Nếu chênh lệch lớn hơn mức qui định tín hiệu sê được đưa đến
khâu khuếch đại. Khối khuếch đại có nhiệm vụ khuếch đại các tín hiệu nhận được thành các

13

Hình 1.10
tín hiệu cần thiết cho khối chấp hành. Khối chấp hành bao gồm cả các khâu truyền động trung
gian và bộ phận sinh lực cắt tiếp điểm của aptômat.
1.2.3 Phân loại và cấu tạo của aptomat
1.2.3.1. Phân loại
Dựa vào kết cấu người ta chia aptômat ra làm
ba loại: một cực hai cực và ba cực. Dựa vào các
thông số điều chỉnh aptômat được chia thành:
aptômat vạn năng (loại có phần tử bảo vệ điện tử và
loại có phi bảo vệ điện tử), aptômat định hình và
aptômat tác động nhanh.

14


1.2.3.2 Cấu tạo của aptômat
Aptômat gồm có các bộ phận chính: Hệ thống tiếp điểm, hệ thống dập hồ quang. cơ
cấu truyền động đóng cát aptômat và các phần tử bảo vệ.
a). Hệ thống tiếp điểm
Hệ thống tiếp điểm gồm tiếp điểm tĩnh và tiếp điểm động. Yêu cầu của tiếp điểm là ở
trạng thái đóng, điện trở tiếp xúc phải nhỏ để giảm tốn hao do tiếp xúc. Khi ngắt, dòng điện
rất lớn, các tiếp điểm phải có đủ độ bền nhiệt, độ bền điện động để không bị hư hỏng do dòng
điện ngát gây nên.
Aptômat thường được chế tạo có hai cấp tiếp điểm (làm việc và hồ quang hoặc ba cấp
tiếp điểm (làm việc, trung gian, hồ quang). Khi đóng, tiếp điểm hồ quang đóng trước, tiếp
theo là tiếp điểm trung gian, cuối cùng là tiếp điểm làm việc. Khi ngắt, thứ tự trên ngược lại.
Tiếp điểm của aptômat thường làm bằng hợp kim gốm chịu được hồ quang như: bạc -
vonfram, đồng - vonfram, bạc - niken - graphít...
Hình 1.10 trình bày hệ thống tiếp điểm trong một kiểu aptômat trong đó 2, 3 là các
tiếp điểm làm việc, 4 là tiếp điểm trung gian, 5 là các tiếp điểm hồ quang. Trong các aptômat
tác động nhanh, để giảm thời gian tác động người ta sử dụng tiếp điểm đối diện, có cánh tay
đòn nhỏ. Tiếp điểm được chế tạo bàng đồng có phủ lớp bạc.
b). Hệ thống dập hồ quang
Hệ thống dập hồ quang có nhiệm vụ nhanh chóng dập tắt hồ quang khi ngắt, không
cho nó cháy lặp lại. Đối với aptômat điện xoay chiều, buồng dập hồ quang thường có cấu tạo
kiểu dàn dập như trên hình 1.11. Đối với aptômát điện một chiều thường kết hợp nhau kiểu
buồng dập hồ quang có khe hẹp hoặc khe rộng. Kết hợp với cuộn dây tạo từ trường thổi hồ
quang.
c). Cơ cấu truyền động đóng cắt aptômát
Cơ cấu chuyển động đóng cắt của aptômat gồm cơ cấu đóng cắt và khâu truyền động
trung gian.
Cơ cấu đóng cắt của aptomat thường có 2 dạng bằng tay và bằng cơ điện. Điều khiển
bằng tay (núm gạt hoặc nút ấn) được thực hiện với các aptômat có dòng điện định mức không
lớn hơn 600A. Điều khiển bằng cơ điện (nam châm điện, động cơ điện, hoặc hệ thống thuỷ

15

lực) thường dùng đóng cắt từ xa và được ứng dụng ở các aptômat có dòng điện định mức lớn
hơn 600 A.
Khâu truyền động trung gian dùng phổ biến nhất trong các aptômat là cơ cấu tự do
trượt khớp. Hình 1.11 trình bày một khâu truyền động trung gian của aptômat có cơ cáu điều
khiển bằng nam châm điện. Khi đóng bình thường (không có sự cố các tay đòn 2 và 3 được
nối cứng vì tâm O nằm thấp dưới đường nối hai điểm O
1
và O
2
Giá đỡ 5 làm cho hai đòn này
không tự gập lại được, ta nối điểm O ở vị trí chết (hình 1.11a) .
Khi có sự cố, phần ứng 6 của nam châm điện 7 bị hút đập vào hệ thống tay đòn 2, 3
làm cho điểm O thoát khỏi vị trí chết. Điểm O sẽ cao hơn đường nối O
1
O
2
lúc này hai tay đòn
2, 3 không được nối cứng nữa, các tiếp điểm sẽ nhanh chóng mở ra dưới tác dụng của lò xo
kéo tiếp điểm (hình 1.11b).
Muốn đóng lại
aptômat, ta phải kéo tay
cầm 4 xuống phía dưới để
cho hai tay đòn 2, 3 duỗi
thẳng ra như ỏ hình 1.11c,
sau đó mới đóng vào được.
d). Phần tử bảo vệ
Các phần tử bảo vệ aptômat gồm: bảo vệ quá tải, bảo vệ ngắn mạch, bảo vệ sụt áp, bảo
vệ dòng điện dư, bảo vệ tổng hợp bằng tổ hợp mạch điện tử.
Để bảo vệ thiết bị khỏi bị quá tải, trong aptômat thường có phần tử bảo vệ quá tải, kết
cấu của nó tương tự như một rơ le nhiệt, phần tử phát nóng của rơ le nhiệt được đấu nồi tiếp
với mạch điện chính. Khi quá tải tấm kim loại kép giãn nở làm nhả khớp rơi tự do để mở tiếp
điểm của aptômat. Đường đặc tính ampe - giây của rơ le nhiệt phải nằm dưới đờng đặc tính
của thiết bị cần bảo vệ. Loại này có nhược điểm có quán tính nhiệt lớn và không bảo vệ được
ngắn mạch.
Phân tử bảo vệ ngắn mạch trong aptômat có kết cấu tương tự như một rơ le dòng điện,
có cuộn dây mắc nối tiếp với mạch điện chính (hoặc một phần dòng điện chính đi qua cuộn
dây). Khi dòng điện vượt quá trị số cho phép thì phần ứng bị hút, làm nhả khớp rơi tự do và
mở tiếp điểm của aptômat (hình 1.10). Điều chỉnh vít để thay đối lực của lò xo phản lực ta có
thể điều chỉnh được trị số dòng điện tải động.
Hình 1.11

16

Phần từ bảo vệ sụt áp có kết cấu tương tự một rơ le điện áp, cuộn dây được mắc vào
điện áp nguồn, khi có sự cố sụt áp hay mất điện áp, lực hút điện từ không đủ sức hút phần
ứng, lò xo phản lực đẩy phần ứng, làm nhả khớp rơi tự do và làm mở tiếp điểm của aptômat.
Phần tử bảo vệ dòng điện dư, cũng như phần tử bảo vệ nhiều thông số được cấu tạo bởi các
mạch vi điện tử, trong các khối đo lường so sánh, khuếch đại và chấp hành.
1.2.4. Lựa Chọn Aptomat
Lựa chọn aptômat chủ yếu dựa vào các thông số sau:
- Dòng điện tính toán đi trong mạch điện
- Dòng điện quá tải
- Khả năng thao tác có chọn lọc
Ngoài ra lựa chọn aptômat còn phải căn cứ vào điều kiện làm việc của phụ tải là
aptômat không được phép cắt khi có quá tải ngán hạn, thường xảy ra trong điều kiện làm việc
bình thường như dòng điện khi mở máy động cơ điện, dòng điện cực đại trong các phụ tải
công nghệ.
Yêu cầu chung là dòng điện định mức của các phần tử bảo vé không được nhỏ hơn
dòng điện tính toán của mạch điện.
Tuỳ theo đặc tính và điều kiện làm việc cụ thể của phụ tải, người ta hướng dẫn lựa
chọn dòng điện định mức của phần tử bảo vệ bằng 1,25÷ 1,5 hoặc lớn hơn so với dòng diện
tính toán trong mạch.

17

CHƯƠNG 2: CÁC KHÍ CỤ ĐIỆN ĐIỀU KHIỂN BẰNG TAY
2.1. CẦU DAO
2.1.1. Khái niệm chung
Cầu dao là khí cụ điện đóng ngắt bằng tay,
không thường xuyên các mạch điện có nguồn điện
áp cung cấp đến 440 V điện một chiều và 660 V
điện xoay chiều. Đa số các loại cầu dao được dùng
để đóng ngắt mạch điện có công suất nhỏ. Với các
mạch điện có công suất trung bình và lớn, chúng
chỉ được dùng để đóng ngắt không tải. Riêng với
cầu dao phụ tải có thể đóng ngắt dòng điện định
mức, kể cả khi quá tải nhỏ. Loại này có thể chịu
dòng ngắn mạch nhưng không có khả năng cắt
ngắn mạch.
Một cầu dao đơn giản có cấu tạo như hình 2.1:
Các tiếp điểm của cầu dao thường làm bằng đồng đỏ. Khi đóng, thân dao chém vào
má dao, nhờ lực đàn hồi của má dao ép vào thân dao nên điện trở tiếp xúc bé. Các tiếp điểm
tĩnh của cầu dao có dạng như ở hình 2. lb. Với dòng điện định mức lớn, để giảm điện trở tiếp
xúc tiếp điểm tĩnh còn có thêm các lò xo tiếp điểm.
Trong quá trình ngắt, hồ quang xuất hiện giữa tiếp điểm động và tiếp điểm tĩnh, nó
được dập tắt nhờ sự kéo dài hồ quang bằng cơ khí và lực điện động hướng kính tác động lên
hồ quang.
Lực điện động tác dụng lên hồ quang được tính theo công thức:
dl
dL
.
l 4
I
F
2
t
=
trong đó I là dòng điện ngắt; 1 là chiều dài của hồ quang; L là điện cảm của mạch điện.

Vì dL/dl thay đổi rất ít nên lực điện động lớn khi dòng điện ngắt lớn và chiều dài thân
dao bé. Vì thế thân dao của các cầu dao có dòng điện lớn cũng không dài hơn thân dao của
cầu dao có dòng điện bé.
Hình 2.1

18

Để tăng khả năng ngát của cầu dao, ở một vài loại, người ta có lắp thêm dao phụ và
buồng dập hồ quang. Khi đóng dao phụ tiếp xúc với tiếp điểm tĩnh trước, khi ngắt dao phụ
ngắt sau. Bằng cách này hồ quang không xuất hiện trên lưỡi dao chính, bảo vệ được lỡi dao
chính. Buồng dập hồ quang có tác dụng dập tắt hồ quang nhanh chóng. Cầu dao thường được
chế tạo theo các gam dòng điện định mức: 15, 25, 30, 40, 60, 75, 100, 150, 200, 300, 350,
600, 1000 A. Tuổi thọ của cầu dao khoảng vài nghìn lần đóng ngắt.
2.1.2. Phân loại và cấu tạo cầu dao
Có thể phân loại cầu dao theo các yếu tố khác nhau:
- Theo số thân dao trên mỗi cầu dao có các loại: 1 cực, 2 cực,
3 cực và nhiều cực.
- Theo cách đóng ngắt, cầu dao được chia làm hai loại: đóng
cắt trực tiếp và đóng cắt từ xa.
- Theo điều kiện bảo vệ có loại không có hộp và loại có hộp.
- Theo khả năng eảt có loại cắt không tải và cắt có tải (cầu
dao phụ tải).
- Theo yêu cầu sử dụng có loại có cầu chỉ bảo vệ và loại không có cầu chì bảo vệ.
Dưới đây là hình dạng cấu tạo của một số loại cầu dao. Hình 2. 2 là loại cầu dao đá hai
cực tay nắm ở giữa.
2.1.3. Cầu dao đổi nối
Về kết cấu, cầu dao đổi nối tương tự như cầu dao nhưng có hai hệ thống tiếp điểm tĩnh
mắc vào hai mạch điện khác nhau. Điện được đưa vào hệ thống tiếp điểm động. Nguyên lý
một cầu dao đổi nối ba cực, nếu đóng tiếp điểm đóng về phía nào thì mạch điện bên đó được
cung cấp điện.
2.2. CÔNG TẮC
Trong kỹ thuật điều khiển, công tắc và nút ấn thuộc các phần tử đa tín hiệu. Hình 2.3 biểu
diễn một số loại công tắc thông dụng. Có 2 loại công tắc: công tắc đóng mở (on-of swich) và
công tắc chuyển mạch.



Hình 2.3. Công tắc
b) công tắc chuyển mạch.
1
1 4
4 2 2 3
a) công tắc đóng- mở.
Hình 2.2

19




2.2.1. Công tắc đổi nối kiểu hộp
Công tắc đổi nối kiếu hộp (công tác hộp) là loại khí
cụ điện đóng ngắt dòng điện bằng tay kiếu hộp, dùng để
đóng, ngắt, đổi nối không thường xuyên mạch điện có công
suất không lớn (dòng điện đến 400 A, điện áp một chiều 220
V và điện áp xoay chiều 380 V).
Công tắc đổi nối kiểu hộp thường dùng làm cầu dao
tổng cho các máy công cụ, dùng làm đổi nối, khống chế
trong các mạch điện tự động. Nó cũng được dùng để mở
máy, đảo chiều quay, hoặc đổi nối dây quấn stato động cơ từ
sao (Y) sang tam giác (A).
Hình 2.4 mô tả hình dạng của một công tắc đổi nối kiểu hộp của Liên XÔ (cũ) loại
NBM có dòng điện định mức đến vài chục ampe. Khi xoay núm 4 nhờ hệ thống lò xo nằm
trong 5 xoắn lại (lò xo không biểu thị trên hình vẽ), lực lò xo sẽ làm xoay trục 7, các tiếp điếm
động 2 gắn trên trục 7 sẽ chém vào các tiếp điểm tĩnh 1. Lực
ép tiếp điểm ở đây nhờ lực đàn hồi của má tiếp điểm động.
Mỗi pha được ngăn cách với nhau bàng tấm cách điện 6. Các
tấm cách điện 3 được làm bằng vật liệu cách điện, mục đích
làm cho các tiếp điểm động chuyển động dễ dàng.
Loại công tắc này mỗi pha có hai chỗ ngắt. Tốc độ
đóng ngắt nhanh, kích thước nhỏ gọn. Hồ quang chảy trong
môi trường kín. Nhược điểm chính của nó là hệ thống tiếp
điểm và cơ cấu truyền động chóng bị mòn, tuổi thọ đến 2.10
4

lần đóng ngắt.
Đối với dòng điện định mức lớn hơn, dùng cơ cáu
truyền động kiểu cam, có lò xo tiếp điểm. Hình 2.5 trình bày
cấu tạo của một công tác kiếu này. Trên vỏ 8 được gắn các
tiếp điểm tĩnh 4. Khi quay trục 1, cam 3 quay theo làm cho
Hình 2.4
Hình 2.5

20

các tiếp điểm được đóng vào hay mở ra. Loại nây ưu điểm hơn loại ở hình 2.3 vì có lò xo ép
tiếp điểm, độ tin cậy cao hơn, tuổi thọ lớn đến 2.10
5
lần đóng ngắt.

21


2.2.2. Công tắc chuyển mạch (công tắc vạn năng)
Công tắc vạn năng dùng để đóng ngắt chuyển đổi mạch điện các cuộn dây hút của
công tác tơ, khởi động từ các mạch điện đo lường, điều khiển có điện áp đến 440 V một chiều
và đến 500 V xoay chiều, 50 Hz.
Cấu tạo của một công tác vạn năng có một phần tử. Khi có nhiều phần tử chúng được
cách điện với nhau bởi vách ngăn bằng nhựa, và được lắp trên cùng một trục có tiết diện là
hình vuông. Các tiếp điểm 1 và 2 đóng và mở nhờ xoay vành cách điện 3 lồng trên trục 4 khi
ta vặn công tác. Tay gạt công tác vạn năng có thể có một số vị trí chuyển đổi, trong đó các
tiếp điểm của các phần tử sẽ đóng hoặc ngắt theo yêu cầu.
Công tắc vạn năng được chế tạo theo kiểu tay gạt có các vị trí cố định hoặc có lò xo
phản hồi về vị trí ban đầu.
2.2.3. Công tắc hành trình và công tắc điểm cuối
Công tắc hành trình và công tắc điểm cuối dùng để đóng, ngắt, chuyển đổi mạch điện
điều khiển trong truyền động điện tự động theo tín hiệu "hành trình" ở các cơ cấu chuyển
động cơ khí nhằm tự động điều khiển hành trình làm việc hay tự động ngắt điện ở cuối hành
trình để đảm bảo an toàn.
Tuỳ theo cấu tạo công tác. hành trình và công tắc điểm cuối có thể chia thành: kiếu ấn,
kiểu đòn, kiểu trụ và kiểu quay.
a) Công tắc hành trình kiều nút ấn
Công tắc gồm đế cách điện 1 trên đó có lắp các cặp
tiếp điểm (tiếp điểm động kiếu cầu 4 và tiếp điểm tĩnh 2).
Công tắc này thường lắp ở điểm cuối của hành trình. Khi cơ
cấu được điều khiển tác động lên nút 6 trục 3 sẽ đi xuống
mở cặp tiếp điểm trên và đóng cặp tiếp điểm dưới lại. Sau
khi cơ cấu điều khiển nhả ra, lò xo 5 sẽ đẩy trục 3 và các
tiếp điểm trở về vị trí ban đầu. Trong các công tắc này tốc
độ đóng ngắt của các tiếp điểm bằng tốc độ chuyển động của trục 3 và phụ thuộc vào tốc độ
chuyển động của cơ cấu điều khiển.
b) Công tắc hành trình tế vi
Hình 2.6

22

Khi cần dừng máy hoặc chuyển đổi trạng thái với độ chính xác cao (0,3 đến 0,7 mm)
ngời ta dùng công tắc hành trình tế vi. Hình 2.6 là cấu tạo của một công tắc hành trình tế vi.
Công tắc này có một tiếp điểm thường đóng và một thường hở. Các tiếp điểm tĩnh 2 lắp trên
đế nhựa 5, tiếp điểm động 3 gắn trên đầu tự do của lò xo lá 4. Khi ấn lên nút 6 lò xo lá 4 bị
biến dạng dần. Sau khi nút 6 tụt xuống một khoảng xác định, lò xo lá 4 sẽ bật nhanh xuống d-
ưới làm cho tiếp điểm trên mở ra và tiếp điểm dưới đóng lại. Quá trình chuyển từ trạng thái
này sang trạng thái kia rất nhanh (0,01 đến 0,02 s). Tổng hành trình của nút 6 bằng 0,7 mm.
Khi thôi ấn nút 6, công tắc tự động trở về vị trí ban đầu.
c) Công tắc hành trình kiếu đòn
Khi cần có động tác chuyển đổi chắc chắn trong điều
kiện hành trình dài, người ta dùng công tác hành trình kiểu
đòn. Vị trí đóng của các tiếp điểm 7, 8. Then khóa 6 có tác
dụng định vị giữ chặt tiếp điểm ở vi trí đóng. Khi máy công
tác tác động lên con lăn 1 , đòn 2 sẽ quay ngược chiều kim
đồng hồ, con lăn 12 nhờ lò xo 14 sẽ làm cho đĩa 11 quay đi,
cặp tiếp điểm 7-8 mở ra, cặp tiếp điểm 9-10 đóng lại.
Tốc độ đóng ngắt của tiếp điểm rất lớn, không phụ
thuộc vào tốc độ của con lăn 1 . Công tắc nay có thể ngắt dòng
điện 1 chiều 6 A, điện áp 220 V. Lò xo 5 sẽ kéo đòn về vị trí
ban đầu. Khi không có lực tác dụng lên 1 nữa.
d) Công tắc hành trình kiểu quay
Loại này dùng cho trường hợp máy công tác thực hiện chuyển đổi quay. Về nguyên lý
nó giống như bộ điều khiển cam điều khiển được, ta sẽ xét ở mục sau.
2.3. NÚT ẤN
Nút ấn còn gọi là nút điều khiển (hình 2.8), là loại
khí cụ điện dùng để đóng ngắt từ xa các thiết bị điện từ
khác nhau, các dụng cụ báo hiệu và cũng để chuyển đổi
các mạch điện điều khiển, tín hiệu, liên động, bảo vệ... ở
mạch điện một chiều điện áp đến 440 V và mạch điện
xoay chiều điện áp đến 500 V tần số 50, 60 Hz.
Nút án thường dùng để khởi động, dừng, và đảo
chiều quay động cơ điện bằng cách đóng ngắt các cuộn
Hình 2.7
Hình 2.8

23

dây hút của các công tắc tơ, khởi động từ mắc ở mạch động lực của động cơ.
Hình 2.8 mô tả một nút ấn có một tiếp điểm thường đóng 3 và thường mở 5 và tiếp
điểm động kiểu cầu 4. Tiếp điểm bằng đồng hay bạc. Khi ta ấn lên núm 1, thông qua trục 7 sẽ
mở tiếp điểm thường đóng và đóng tiếp điểm thường mở. Khi thôi không ấn nữa thì phần
động (gồm núm điều khiển, trụ và tiếp điểm động) sẽ trở lại trạng thái ban đầu dưới tác động
của lò xo nhả 2, tất cả các chi tiết đều lắp trên bảng đấu dây 6.
Khả năng ngắt của nút ấn từ 80 đến 100 W một chiều và 1500 V xoay chiều. Tuổi thọ
về điện không dưới 200.000 lần ngắt và tuổi thọ về cơ không dưới 10
6
lần.
Theo hình dáng bên ngoài người ta chia nút ấn ra làm bốn loại:
- Loại hở
- Loại bảo vệ
- Loại bảo vệ chống nước và chống bụi
- Loại bảo vệ chống nổ
Theo yêu cầu điều khiển người ta chia nút ấn ra loại 1 nút, 2 nút, 3 nút. Theo yêu cầu
kết cấu bên trong người ta có các loại có đèn báo và loại không có đèn báo.
Nút ấn được chế tạo với nhiều nhóm tiếp điểm thường đóng và thường mở. Màu của
nút ấn có thể là: đỏ, xanh, đen hay không màu. Các nút ấn được dùng để dừng (ngừng sự làm
việc của mạch điện tương ứng) phải có màu đỏ.

24

CHƯƠNG 3: CÔNG TẮC TƠ VÀ KHỞI ĐỘNG TỪ
3.1. CÔNG TẮC TƠ
3.1.1. Khái niệm chung
Công tắc tơ là khí cụ điện dùng để đóng cắt thường xuyên các mạch điện động lực, từ
xa , bằng tay hay tư động. Việc đóng cắt công tắc tơ có tiếp điểm có thể thực hiện bằng nam
châm điện, thuỷ lực hay khí nén. Thông thờng ta gặp loại đóng cắt bầng nam châm điện.
Những năm gần đây người ta đã chế tạo các loại công tắc tơ không tiếp điểm, việc đóng cắt
công tắc tơ loại này được thực hiện bằng cách cho các xung điện điện khoá hoặc mở các van
bán dẫn (thyristor, triac).
Công tắc tơ có 2 vị trí đóng cắt, được chế tạo có số lần đóng cắt lớn có thể tới 1500 lần
trong 1 giờ.
Theo nguyên lý truyền động người ta phân ra các loại công tác tơ đóng cắt tiếp điểm
bằng điện từ, bằng thuỷ lực, bằng khí nén và loại công tắc tơ không tiếp điểm.
Theo dạng dòng điện đóng cắt có loại công tắc tơ điện một chiều và công tắc tơ điện
xoay chiều. Công tắc tơ điện một chiều dùng để đóng, cắt mạch điện một chiều, nam châm
điện của nó là loại nam châm điện một chiều. Công tắc tơ điện xoay chiều dùng để đóng, cắt
mạch diện xoay chiều, nam châm điện của nó có thể là nam châm điện một chiều hay xoay
chiều.
Các tham số chủ yếu của công tắc tơ:
1- Điện áp định mức U
đm
là điện áp của mạch điện tương ứng mà tiếp điểm chính của
công tắc tơ phải đóng cắt. Điện áp định mức có các cấp 110 V, 220 V, 440 V một chiều và
127 V; 220 V; 380 V; 500 V xoay chiều.
2- Dòng điện định mức I
đm
là dòng điện định mức đi qua tiếp điểm chính của công tắc
tơ trong chế độ làm việc dài hạn.
Dòng điện định mức của công tắc tơ hạ áp thông dụng có các cấp: 10; 20; 25; 40; 60;
75; 100; 150; 250; 300; 600; 800 A. Nếu công tác tơ được đạt trong tủ điện thì dòng điện định
mức phải lấy thấp hơn 10% do điều kiện làm mát kém.
Ở chế độ làm việc lâu dài, nghĩa là khi tiếp điểm của công tác tơ ở trạng thái đóng lâu
hơn 8 giờ thì dòng điện định mức của công tắc tơ lấy thấp hơn khoảng 20% . Do ở chế độ này
lượng ôxít kim loại tiếp điểm tăng vì vậy làm tăng điện trở tiếp xúc và nhiệt độ tiếp điểm tăng
quá trị số cho phép.

25

3- Điện áp cuộn dây: U
cdđm
là điện áp định mức đạt vào cuộn dây. Khi tính toán, thiết
kế công tắc tơ thường phải đảm bảo lúc điện áp bàng 85% U
cdđm
thì cuộn dây phải đủ sức hút
và lúc điện áp bàng 110% U
cdđm
thì cuộn dây không nóng quá trị số cho phép.
4- Số cực: Là số cặp tiếp điểm chính, công tắc tơ điện một chiều có 1 cực hay 2 cực.
Công tác tơ điện xoay chiều có 3 cực, cũng có khi có 2 cực, 4 cực, 5 cực.
5- Số cặp tiếp điểm phụ: Thường trong công tắc tơ có các cặp tiếp điểm phụ thường
mở và thường đóng, có dòng điện định mức 5 A hoặc 10 A.
6- Khả năng cắt và khả năng đóng: Là giá trị dòng điện cho phép đi qua tiếp điểm
chính khi cắt I
ng
hoặc khi đóng I
ng
. Chẳng hạn, công tác tơ điện xoay chiều dùng để khởi động
động cơ điện xoay chiều ba pha rô to lồng sóc cần phải có khả năng đóng từ 4 đến 7 lần I
đm
.
Khả năng cắt của công tắc tơ điện xoay chiều đạt 10I
đm
với phụ tải điện cảm.
7- Tuổi thọ của công tắc tơ: Là số lần đóng cắt mà sau số lần đóng cắt ấy công tác tơ
sẽ hỏng không dùng được nữa. Sự hư hỏng của nó có thể do mất độ bền cơ khí hoặc độ bền
điện.
- Tuổi thọ cơ khí là số làm đóng cắt không tải cho đến khi công tắc tơ hỏng. Với các
loại công tác tơ hiện đại, tuổi thọ cơ khí đạt 2.10
7
lần.
- Tuổi thọ điện là số lần đóng cắt các tiếp điểm có tải định mức, thường tuổi thọ về
điện bằng 1/5 hay 1/10 tuổi thọ cơ khí.
8- Tần số thao tác: Là số lần đóng cắt công tắc tơ cho phép trong 1 giờ. Tần số thao
tác của công tác tơ bị hạn chế bởi sự phát nóng của tiếp điểm chính do hồ quang và sự phát
nóng của cuộn dây do dòng điện khi đóng tăng lên. Tần số thao tác thường theo các cấp 30,
100, 120, 150 lần/h; 300 lần/h;600 lần/h, 1200 đến 1500 lần/h.
9- Tính ổn định điện động: Công tắc tơ có tính ổn định điện động, nghĩa là tiếp điểm
chính của nó cho phép một dòng điện lớn nhất đi qua mà lực điện động sinh ra không phá huỷ
mạch vòng dẫn điện. Thường qui định dòng điện ổn định điện động bằng 10
Iđm
.
10- Tính ổn định nhiệt: Công tắc tơ có tính ổn định nhiệt nghĩa là khi có dòng điện
ngán mạch chạy qua trong khoảng thời gian cho phép, các tiếp điểm không bị nóng chảy và
hàn dính lại.
3.1.2. Cấu tạo của công tắc tơ điện từ

26

Công tắc tơ điện từ được cấu tạo từ những phầ chính: Hệ thống mạch vòng dẫn điện,
hệ thống dập hồ quang, hệ thống các lò xo nhả, lò xo tiếp điểm, nam châm điện vỏ và các chi
tiết cách điện.
Do tính chất của dòng điện mạch cắt, công tắc tơ điện một chiều và xoay chiều có
những đặc điểm cấu tạo khác nhau, chúng ta sẽ xét cụ thể ở phần sau.
3.1.2.1. Hệ thống mạch vòng dòng điện
Mạch vòng dẫn điện của công tắc tơ do các bộ phận khác nhau về hình dáng, kết cấu
và kích thước hợp thành. Nó bao gồm thanh dẫn, dây nối mềm, đầu nối, hệ thống tiếp điểm
(giá đỡ tiếp điểm, tiếp điểm động, tiếp điểm tĩnh) cuộn dây dòng điện (nếu có, kể cả cuộn dây
thổi từ dập hồ quang).








Thanh dẫn động và tĩnh được làm bằng đồng, tiếp điểm có dạng hình ngón hoặc bắc
cầu một pha có hai chỗ ngắt và được chế tạo bằng vật liệu dẫn điện tốt, chịu mài mòn và chịu
được hồ quang như kim loại gốm: bạc- niken - than chì. ở trạng thái ngắt, độ mở của tiếp
điểm phải có giá trị đủ lớn để không cho hồ quang cháy lại khi ngắt, đồng thời cũng không
lớn quá để giảm kích thước của nam thân điện hú. ở trạng thái đóng dể đảm bảo tiếp xúc tốt,
các tiếp điểm của công tắc tơ có hệ thống lò xo tiếp điểm tạo lực ép tiếp điểm cần thiết.
3.1.2.2. Hệ thống dập hồ quang
Hệ thống dập hồ quang trong công tắc tơ đảm bảo nhanh chóng dập tắt hồ quang sinh
ra trong quá trình đóng cắt của tiếp điểm Trong mục trên chúng ta đã xét các biện pháp dập tát
hồ quang điện một chiều và xoay chiều. ở đây chúng ta xét cụ thể một số thiết bị dập hồ
quang thường gặp trong các công tắc tơ
a) Thiết bị dập hồ quang trong công tác tơ một chiều
Hình 3.1 Mạch vòng dẫn điện
a). Một chiều b). Xoay chiều

a). b)

27

Trong các công tắc tơ điện một chiều, người ta thờng dùng cuộn thổi từ tạo ra từ trư-
ờng, tác dụng lên dòng điện hồ quang, sinh ra lực điện động kéo dài hồ quang, và đẩy hồ
quang vào buồng dập hồ quang.
Cuộn thổi từ 3 thường được mắc nối tiếp với tiếp điểm 1. Khi dòng điện cắt càng lớn
lực điện động sinh ra do cuộn thổi từ với dòng điện hồ quang càng lớn, hồ quang càng được
đẩy sâu vào trong buồng dập hồ quang 10. Buồng dập hồ quang được chế tạo bằng các tấm
thép non tạo thành dàn dập hồ quang 9 (hình 3.2a) hay kiểu buồng dập hồ quang có khe hở
hẹp với hình dáng quanh co dích dắc 10 ( hình 3.2b).


b) Thiết bị dập hồ quang trong cong tắctơ xoay chiều
Các công tắc tơ điện xoay chiều thông dụng trong công nghiệp thường được chế tạo
loại kết cấu một pha có hai chỗ ngắt sử dụng tiếp điểm dạng bắc cầu đặt trong buồng dập hồ
Hình 3.2. Thiết bị dập hồ quang của công tắc tơ điện một chiều
a). b).
Hình 3.3. 1. Giá buồng dập hồ quang; 2. vách buồng dập hồ quang; 3. Tiếp điểm tĩnh
4. Cầu tiếp điểm động, 5. Hộp dập hồ quang; 6. Tấm dập hồ quang; 7. Cuộn dây thổi từ

28

quang kiểu dàn dập (hình 3.3a, b) hay trong khoang dập hồ quang đặc biệt (hình 3.3c, d).
Cũng có thể được chế tạo dưới dạng tiếp điểm động chuyển động quay( hình 3.3e, f) có bố trí
cuộn thổi từ để tăng cường khả năng dập tắt hồ quang.
Khi hồ quang xuất hiện giữa tiếp điểm động và tiếp điểm tĩnh dưới tác dụng của lực
điện động (bao gồm lực điện động do kết cấu mạch vòng dẫn điện và lực do các tấm dập chế
tạo bằng vật liệu dẫn từ bị nhiễm từ tác dụng lên dòng điện hồ quang), hồ quang di chuyển
vào buồng ngăn và bị chia thành nhiều đoạn ngắn, nhiệt độ hồ quang cũng giảm xuống do tiếp
xúc với các tấm dập. Kết quả hồ quang được nhanh chóng dập tắt. Một số công tắc tơ xoay
chiều để tăng hiệu quả dập hồ quang cũng sử dụng cuộn thổi từ và buồng dập hồ quang có
khe hẹp.
3.1.2.3. Nam châm điện
Nam châm điện là bộ phận sinh ra lực hút điện từ,
đảm bảo cho hệ thống tiếp điểm thường mở đóng lại chắc
chắn khi cho điện vào cuộn dây của nó. Yêu cầu lực hút
của nam châm điện luôn lớn hơn đường đặc tính cơ (tổng
hợp tất cả các lực tác động vào phần động của công tắc
tơ), ngay cả khi điện áp nguồn giảm xuống còn 85% U
đm
.
Thông thường để nam châm điện làm việc chắc
chắn và tránh va đập cơ khí trên tiếp điểm nam châm điện được thiết kế sao cho dòng của đ-
ường đặc tính lực hút gần với đường của đặc tính cơ (hình 3.4).
Cấu tạo của nam châm điện gồm hai phần chính: Mạch từ và cuộn dây. Mạch từ của
nam châm điện một chiều được làm bằng thép khối, phần thán mạch từ nơi có cuộn dây có
tiết diện tròn. Hình 3.5 trình bày một số dạng
mạch từ của nam châm điện một chiều.
Mạch từ nam châm điện xoay chiều được
chế tạo từ các lá thép kỹ thuật điện dày 0,35 mm
hoặc 0,5 mm, ghép lại để tránh tổn hao dòng điện
xoáy. Hình dạng mạch từ thường có dạng hình
 hoặc [ hút thẳng hoặc hút quay. Ở đầu cực
từ được gắn vòng ngắn mạch để chống rung cho
nam châm điện. Mạch từ được chia làm hai phần
Hình 3.4
0
F
đt
F

F

o
Hình 3.5

29

một phần được cố định (phần tĩnh), phần còn lại là nắp (còn gọi là phần ứng hay phần động),
được nối với hệ thống tiếp điểm không tay đòn.
- Cuộn dây của nam châm điện thường được chế tạo từ dây đồng kỹ thuật điện, được
quấn trên những khung dây bàng vật liệu cách điện, sau đó lồng vào mạch từ.
Cuộn dây của nam châm điện được tính toán sao cho điện áp đặt vào cuộn dây bằng
110% U
cdđm
. Sự phát nóng của nó vẫn trong giá trị nhiệt độ cho phép đối với mỗi cấp cách
điện cho trước.
Ở nam châm điện một chiều, cuộn dây thường có đáy hình trụ tròn, cao và gầy (hình
10- 8). Vì mạch từ không có tổn hao do dòng xoáy nên tỷ lệ giữa chiều cao h và chiều rộng l
của tiết diện mặt cắt cuộn dây bằng: l/h = 4 ÷ 8. Mục đích đề giảm đường kính trung bình của
vòng dây, do đó có thế tiết kiệm được dây đồng. Cuộn dây của nam châm điện xoay chiều
thường ngắn và to. Tỷ lệ l/h = 2 ÷ 4.
Đối với điện xoay chiều, trong mạch từ có dòng điện xoáy nên phát nóng và cuộn dây
khó toả nhiệt hơn. Cuộn dây thường không quấn sát vào lõi mà giữa cuộn dây và lõi còn để
một khe hở, diện tích cuộn dây phải lớn để dễ toả nhiệt.
Cuộn dây nam châm điện xoay chiều có điện trở rất nhỏ so với điện kháng. Dòng điện
trong cuộn dây phụ thuộc rất nhiều vào khe hở không khí o giữa nắp và lõi mạch từ. Khi nắp
ở trạng thái mở, o lớn dòng điện trong cuộn dây lớn. Vì vậy không được phép cho điện áp vào
cuộn dây khi vì lý do nào đó nạp bị kẹt ở vị trí mở.
Cuộn dây của công tác tơ điện xoay chiều cũng có thể được làm việc với lưới điện
một chiều. Khi đó cần phải giảm điện áp đặt vào cuộn dây sao cho dòng điện trong cuộn dây
bằng dòng điện trung bình khi cuộn dây làm việc với
điện áp xoay chiều. Nguồn điện một chiều được tạo ra
bằng bộ chỉnh lưu.
Lực hút của nam châm điện một chiều lúc nạp ở
trạng thái hút lớn hơn rất nhiều phản lực cơ. Nên trong
nhiều trường hợp khi hút người ta hạ thấp điện áp đặt
vào cuộn dây bằng cách nối nối tiếp một điện trở 0 (được
gọi là điện trở kinh tế) qua một tiếp điểm (hình 3.6). Dòng điện duy trì cho nắp hút có giá trị
rất nhỏ do đó tổn hao trong cuộn dây cũng như toàn bộ nam châm điện rất nhỏ, cỡ vài oát.
Những công tác tơ áp dụng nguyên tắc này còn được gọi là công tắc tơ tiết kiệm nâng lượng.
CD
K

R
kt
Hình 3.6

30

Tỷ số giữa điện áp nhả (hay dòng điện nhả) và điện áp hút (hay dòng điện hút) của
nam châm điện là hệ số nhả hay hệ số trở về. Hệ số nhả của nam châm điện xoay chiều lớn
hơn hệ số nhả của nam châm điện một chiều.

31


3.1.3 Nguyên lý làm việc của công tắc tơ điện từ
3.1.3.1. Công tắc tơ điện một chiều
Hình 3.7 trình bày cấu tạo một loại công tắc tơ điện một chiều thông dụng của Liên
Xô trước đây.

Tiếp điểm tĩnh 1 được gắn trên quai 2 đồng thời đuợc nối với cuộn dây thổi từ 3 đầu
kia của cuộn thổi từ được nối với đầu ra 4, cách điện với giá đỡ đồng thời là mạnh từ 6 bằng
tấm cách điện 5. Tiếp điểm động 7 được chế tạo dạng tấm đầu cuối có thể quay quanh điểm
tựa 8. Đầu ra 9 được nối với tiếp điểm 7 nhờ dây nối mềm 10. Lực ép tiếp điểm được sinh ra
do lò xo tiếp điểm 12.
Để giảm nóng chảy các tiếp điểm chính bởi hồ quang khi dòng điện lớn hơn 50 A
công tắc tơ có các tiếp điểm dập hồ quang kiểu sừng. Dưới tác dụng của từ trường cuộn thổi
từ hồ quang nhanh chóng chuyển dịch về quai 2 bắt chặt với tiếp điểm tĩnh 1, và chuyển về
sừng bảo vệ của tiếp điểm động 11. Sau khi cắt điện cuộn dây phần ứng trở về vị trí ban đầu
nhờ lò xo 13. Để cải thiện điều kiện làm lạnh hồ quang, hồ quang được thổi vào khe hở của
buồng dập hồ quang làm bằng vật liệu chịu nhiệt và có hệ số dẫn nhiệt cao. Khi mở các tiếp
điểm 1 ÷ 7, giữa chúng sẽ xuất hiện hồ quang 14.
Hình 3.7. Công tắc tơ một chiều loại KH-600

32


33

3.1.3.2. Công tắc điện xoay chiều
Công tắc tơ điện xoay chiều được sử dụng nhiều trong hê thống điện nói chung. Hình
dáng cấu tạo của nó rất phong phú, đa dạng.
Thông dụng nhất là loại công tắc tơ điện xoay chiều có mạch từ  nắp hút thẳng có
tiếp điểm dạng bắc cầu. Hình 3.8 mô tả cấu tạo của một công tắc tơ loại này. Khi cho điện vào
cuộn dây, ắp mạch từ 6 được hút về phía mạch từ tĩnh 5, trên 5 có gắn vòng chống rung 8, làm
cho tiếp điểm động 1 tiếp xúc với tiếp điểm tĩnh 4. Tiếp điểm tĩnh được gắn trên thanh dần 3
đầu kia của thanh dẫn có vít bắt dây điện ra, vào. Các lò xo tiếp điểm 2 có tác dụng duy trì
một lực ép tiếp điểm cần thiết lên tiếp điểm. Đồng thời, hệ thống tiếp điểm phụ 12 cũng được
đóng vào hoặc mở ra (nếu là tiếp điểm thường đóng lò xo nhả 7 sẽ đẩy toàn bộ phần động của
công tắc tơ 9 lên phía trên khi cắt điện cuộn dây. Toàn bộ các chi tiết được đặt trong vỏ nhựa
10, 11.
3.1.3.3. Công tắc tơ không tiếp xúc
Công tắc tơ không tiếp xúc thực hiện đóng cắt mạch
điện động lực bằng các van bán dẫn (thyristor, triac), được
cấu tạo loại 1 cực hay 3 cực. Các tiếp điểm phụ có thể là
các van bán dẫn hay rơle có tiếp điểm.
Ưu điểm chính của các công tác tơ không tiếp xúc là
có thể làm việc với tần số đóng cắt lớn, thời gian đóng cắt
nhỏ tuổi thọ cao do không có đóng cắt cơ khí không gây ra
hồ quang khi đóng cắt và đặc biệt không gây ra tiếng ồn.
hình 10- 13 là hình dáng bên ngoài của công tác tơ loại này.
Loại 1 cực được chế tạo với điện áp định mức U
đm
=
240 V 50/60 Hz.
Dòng điện định mức: 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 100,
150, 200 A.
Điện áp điều khiển: 100-200 V hay 200-240 V xoay chiều. Thời gian tác độngt

s 30
ms.
Loại 3 cực thường được chế tạo với điện áp pha U
tđm
= 240V.
Dòng điện định mức: 3, 8, 20, 30, 40, 50, 80, 120 A.
Điện áp điều khiển có các loại 110V, 220V xoay chiều hoặc 12 V, 24 V một chiều.
Hình 3.8

34

Tiếp điểm phụ: loại đóng cắt dòng điện xoay chiều có thể được cấu tạo bằng triac (50
mA, 240V xoay chiều ) hay thyristor (0,2A, 240 V xoay chiều).
Loại đóng cắt dòng một chiều dùng tranzitor 0,2A, 24 V một chiều).
Thời gian tác động T

s 30ms.
Hình trình bày sơ đồ nguyên lý cấu tạo của công tắc tơ không tiếp xúc.
3.2 KHỞI ĐỘNG TỪ
3.2.1. Khái niệm chung
Khởi động là khí cụ điện dùng để điệu khiển từ xa việc đóng, cắt, đảo chiều quay và
bảo vệ quá tải động cơ điện xoay chiều ba pha rô to lồng sóc cấu tạo khởi động từ gồm công
tắc tơ điện xoay chiều và rơle nhiệt , lắp trong cùng một hộp. Khởi động từ có một công tác tơ
gọi là khởi động từ đơn, thường dùng để điều khiển đóng, cắt động cơ điện. Khởi động từ có
hai công tác tơ gọi là khởi động từ kép, dùng để điều khiển đảo chiều quay động cơ điện.
Hình 3.9 trình bày sơ đồ điện nguyên lý dùng khởi động từ đơn và khởi động từ kép.
Trong sơ đồ trên hình 3.9a, khi mở máy ấn nút D, cuộn dây C của công tác tơ có điện
các tiếp điểm K
1
, K
2
, K
3
đóng lại, động cơ điện đuợc cấp điện và sẽ quay. Đồng thời tiếp
điểm K
0
đóng để duy trì diện cho cuộn dây khi thả nút ấn D ra vừa có tác dụng bảo vệ điểm
không tức là ngăn ngừa tình trạng động cơ tự khởi động khi điện áp lưới phục hồi sau khi mất
điện hoặc điện áp sụt quá thấp. Khi dừng ấn nút N, cuộn dây của công tắc tơ mất điện, các
tiếp điểm K
1
, K
2
, K
3
mở ra cắt điệnn vào cuộn dây, động cơ dừng lại.
Khi động cơ làm việc quá tải, tấm kim loại kép của rơle nhiệt nóng lên làm cho rơ le
nhiệt tác động, tiếp điểm thường đóng của nó mở ra, cuộn dây công tắc tơ mất điện, động cơ
được cắt ra khỏi lưới điện. Để bảo vệ ngán mạch dùng cầu chì CC.








35


















Trong sơ đồ ở hình 3.9b thực hiện đảo chiều quay của động cơ điện bằng cách đổi thứ
tự pha đặt vào động cơ, bằng khởi động từ kép gồm hai công tắc tơ được nối liên động về
điện và có thể liên động về cơ khí. Liên dộng về điện được thực hiện bàng cách dùng các tiếp
điểm phụ thường đóng K
7
, K
8
của các công tắc tơ 1 và 2 vào mạch điều khiển của công tắc tơ
2 và 1 đồng thời các nút ấn mở máy theo chiều thuận MT được liên động với nút dừng của
chiều ngược NN. Liên động về cơ khí được thực hiện bằng cách nối liên động cơ khí hai phần
động của công tắc tơ với nhau sao cho khi công tắc tơ này hút thì công tắc tơ kia nhả.
Hoạt động của sơ đồ như sau:
Khi ấn nút MT, cuộn dây công tắc tơ 1 CD1 có điện, các tiếp điểm K
1
, K
2
, K
3
, K
01

đóng lại, động cơ được cấp điện và quay theo chiều thuận, đồng thời K
7
mở ra để đảm bảo
cuộn dây công tác tơ 2 CD2 không có điện. Quá trình quay ngược cũng tương tự khi ấn nút
MN. cuộn dây CD2 có điện, đóng các tiếp điểm K
1
, K
2
, K
3
, K
02
động cơ được cấp điện và
Hình 3.9

36

quay theo chiều ngược lại, đồng thời tiếp điểm K
8
mở ra, đảm bảo công tắc tơ 1 không có
điện. Dừng động cơ cho cả hai chiều quay được thực hiện bằng cách ấn nút dừng D. Bảo vệ
quá tải bằng rơle nhiệt, bảo vệ ngắn mạch bằng cầu chì.

37


3.2.2. Kết cấu của khởi động từ
Khởi dộng từ được cấu tạo từ hai khí cụ điện : công tắc tơ điện xoay chiều và rơ le
nhiệt. Vì vậy kết cấu của khởi động từ cũng đa dạng và phong phú.
Hình 3.10a là kết cấu của một loại khởi động từ đơn có dòng điện định mức I
đ
m =
150A, điện áp định mức 380 V; dòng điện cắt quá tải I

= 200A có hai tiếp điểm phụ thường
đóng, hai tiếp điểm phụ thường mở dùng điều khiển động cơ không đồng bộ công suất cực đại
P
max
= 75 kW và hình 3.10b là sơ đồ điện tương ứng.

Đối với những khởi động từ có dòng điện lớn, phần tử đốt của rơ le nhiệt được cấp
điện bởi một máy biến dòng đặt ở đầu ra của công tắc tơ. Kết cấu của một khởi động từ đơn
loại này. Có các thông số U
đm
= 220/380V; I
đm
= 300A/265 A; I
đm
=350A; Tiếp điểm phụ: 2
thường mở, 2 thường đóng. Dùng điều khiển động cơ có công suất cực đại P
max
= 90 kW/132
kW. Kết cấu của một khởi động từ kép có thông số U
đm
= 380 V; I
đm
= 408 A; I

= 420 A.
Tiếp điểm phụ: 2 thường đóng, 2 thường mở; điều khiển động cơ có công suất cực đại P
max
=
220 kW.
3.2.3. Rơle nhiệt
Rơ le nhiệt trong khởi động từ có tác dụng
bảo vệ quá tải cho động cơ điện. Đặc tính cơ bản
của rơ le nhiệt là quan hệ giữa thời gian tác động
và dòng điện phụ tải chạy qua được gọi là đặc tính
Hình 3.10
Hình 3.11

38

thời gian - dòng điện (hay đặc tính ampe - giây, A-s).
Để đảm bảo yêu cầu giữ được tuổi thọ lâu dài cho động cơ thì đường đặc tính ampe -
giây của rơle đường 2 hình 3.11) phải thấp hơn một ít so với đặc tính ampe - giây của động cơ
(hình 3.11 đường 1). Chọn thấp quá sẽ không tận dụng được công suất động cơ điện, chọn cao
quá sẽ giảm tuổi thọ của động cơ bảo vệ. Trong thực tế sử dụng, cách lựa chọn phù hợp là
chọn dòng điện định mức của rơ le nhiệt bằng dòng định mức của động cơ cần bào vệ và dòng
tác động của rơ le I

= (l,2 : l,3)I
đm
(hình 2.18 đường 3).
Dòng điện tải động của rơ le nhiệt có thể thay đổi được trong một phạm vi nhỏ, bằng
cách xoay núm điều chỉnh dòng điện của rơ le.
Rơ le nhiệt có thể có hai phần từ đốt nóng, nối với hai pha của động cơ điện, hoặc 3
phần tử đốt nóng nối với cả 3 pha của động cơ điện.

39

CHƯƠNG 4: RƠLE
4.1. Khái niệm chung
Rơ le là loại khí cụ điện tự động mà đặc tính "vào- ra" có tính chất sau: tín hiệu đầu ra
thay đổi nhảy cấp (đột ngột) khi tín hiệu đầu vào đạt những giá trị xác định.
Rơ le được sử dụng rất rộng rãi trong các lĩnh vực tự động điều khiển, truyền động
điện, bảo vệ mạng lưới điện, thông tin liên lạc. Rơ le được coi là phản tử cơ bản để tạo nên
các thiết bị hoạt động trên cơ sở kỹ thuật số như máy tính, thiết bị tin học, tự động điều khiển
thông minh các quá trình sản xuất hoặc điều khiển các thiết bị điện trong gia đình.
Cùng với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ vật liệu và công
nghệ chế tạo, rơ le được nghiên cứu và chế tạo ra gồm rất nhiều chủng loại, hoạt động theo
các nguyên lý khác nhau, có các thông số, đặc tính kỹ thuật và lĩnh vực sử dụng khác nhau.
Đại lượng cần để cho rơ le hoạt động được gọi là đại lượng tác dụng. Các đại lượng
tác dụng được đặt vào các đầu vào khác nhau của rơ le, chúng có thể là một, hai hoặc nhiều
đại lượng khác nhau. Rơle có đại lượng tác dụng là đại lượng điện (dòng điện, điện áp, công
suất...) được gọi là rơle điện, sau đây được nói gọn là rơle.
4.1.1. Các bộ phận của rơle
Rơ le thường gồm các bộ phận chính có
chức năng khác nhau như sau:
-Bộ phận thu: Tiếp nhận những đại lượng
vào và biến đổi thành những đại lượng vật lý cần
thiết cho rơ le hoạt động.
- Bộ phận trung gian: So sánh những đại l-
ượng đã được biến đổi với đại lượng mẫu (chuẩn).
Theo kết quả so sánh, nếu đạt giá trị tác động thì
truyền tín hiệu đến bộ phận chấp hành.
- Bộ phận chấp hành: Phát tín hiệu ra cho mạch điêu khiển nối sau rơle.
Ví dụ đối với rơ le điện từ hình 4.1, bộ phận thu là nam châm diện gồm cuộn dây và
mạch từ, biến đổi năng lượng điện đầu vào (dưới dạng dòng điện hay điện áp đạt vào cuộn
dây) thành năng lượng điện từ và thành năng lượng cơ (dưới dạng lực hút điện từ làm nắp từ
chuyển động). Bộ phận trung gian là lò xo nhả của nam châm điện: nếu lực hút điện từ lớn
hơn lực kéo của lò xo, thì nạp từ được hút và chuyển động về phía mạch từ của nam châm
Hình 4.1

40

điện. Bộ phận chấp hành là hệ thống tiếp điểm: nắp từ chuyển động hút hoặc nhả sẽ làm tiếp
điểm đóng hoặc ngắt mạch điện nối sau rơ le.
4.1.2 Phân loại rơle
Theo nguyên lý hoạt động của bộ phận thu, rơle được chia ra các loại :
a) Rơle điện từ: Dựa trên tác dụng lực của từ trường do dòng điện chảy trong cuộn dây
sinh ra lên phần ứng (nạp) bằng vật liệu sát từ làm nắp dịch chuyển.
b) Rơle từ điện Tra trên tác dụng lực của từ trờng do nam châm vĩnh cừu tạo ra lên
dòng điện chảy trong cuộn dây làm cuộn dây dịch chuyển.
c) Rơle phân cực: Rơ le điện từ có thêm từ trường phân cực do nam châm vĩnh cửu
tạo ra. Vị trí của nắp từ phụ thuộc vào cực tính của tín hiệu đưa vào rơ le (nên còn gọi là rơ le
cực tính) .
d) Rơle điện động: Dựa trên tác dụng tương hỗ giữa từ trường do dòng điện chảy trong
cuộn dây sinh ra với dòng điện chảy trong cuộn dây khác làm cuộn dây này dịch chuyển.
e) Rơle cảm ứng: Trên cơ sở của tác dụng tương hỗ giữa từ trường của cuộn dây đứng
yên với dòng điện cảm ứng trong phần động, làm phần động dịch chuyển.

g) Rơle từ, điện từ, rơ le bán dẫn: Dựa trên tính chất thay đổi các thông số về từ và
điện (độ từ thẩm, điện trở, điện cảm, điện dung của các dụng cụ (linh kiện) từ tính, bán dẫn,
điện tử.
h) Rơle nhiệt: Dựa trên tính chất co giãn về kích thước, thể tích, áp suất của các vật
liệu khi nhiệt độ của chúng thay đổi.
- Theo nguyên lý tác động của bộ phận chấp hành, rơle được chia ra loại có tiếp điểm
và không có tiếp điểm: Loại rơle có tiếp điểm tác động lên mạch điều khiển bàng cách đóng
hoác mở tiếp điểm do chuyển động của phần động rơle để thực hiện việc đóng hay ngắt mạch
điện. Loại rơle không tiếp điểm tác động bàng cách thay đổi đột ngột (nhảy cấp) những tham
số của bộ phận chấp hành nối trong mạch điều khiển như thay đổi điện trở, điện cảm, điện
dung v.v...), loại rơ le không tiếp điểm còn gọi là rơle tĩnh (solid state relay).
- Theo tính chất của đại lượng đầu vào, chia ra các nhóm rơle: Rơle (dòng điện, điện
áp, công suất, hướng công suất, góc lệch pha, tổng trở, thành phần đối xứng, tần số, thời
gian... Những loại rơ le này có thể điều chỉnh theo giá trị (cực đại hay cực tiếu, hiệu số các tín
hiệu (rơ le so lệch) hoặc chiều của tín hiệu.

41

- Theo phương pháp nối bộ phận thu vào mạch điện, chia ra các loại rơle sơ cấp, thứ
cấp và trung gian. Rơle mạch sơ cấp mắc trực tiếp vào mạch điều khiển, rơle mạch thứ cấp
mắc gián tiếp qua máy biến điện áp hay máy biến dòng. Rơle trung gian làm việc dưới tác
động của những tín hiệu từ các rơle khác để khuếch đại những tín hiệu này và chia ra tác động
lên nhiều mạch điều khiển khác nhau thông qua hệ thống tiếp điểm.
Theo mục đích sử dụng, chia rơle làm 3 nhóm chính: rơle bảo vệ hệ thống điện, thư-
ờng là loại rơ le mạch thứ cấp (nhị thứ), các bộ phận thu và chấp hành của chúng được thiết
kế với dòng điện nhỏ:1; 3 hoặc 5 A.
- Rơle điều khiển, truyền động điện, thường là loại rơle mạch sơ cấp. Các bộ phận của
chúng có thể được thiết kế với dòng điện lớn hơn (ví dụ hàng trăm ampe như ở rơle dòng điện
cực đại).
- Rơle tự động và thông tin liên lạc, có thể là rơle mạch sơ cấp hoặc thứ cấp làm
nhiệm vụ đảm nhiệm cá quá trình tự động hóa và thông tin liên lạc.
- Theo tính chất biến đổi của tín hiệu vào và tín hiệu được trao đổi xử lý trong rơ le,
người ta phân ra rơle tương tự: có tín hiệu thay đổi liên tục, khi đạt đến trị số đặt thì phát tín
hiệu ra. Và rơle số: có tín hiệu thay đổi đột ngột (các xung) và xử lý tín hiệu theo kỹ thuật số.
- Ngoài ra, rơ le còn phân theo loại dòng điện: một chiều và xoay chiều.
4.1.3. Những đặc tính cơ bản và tham số
4.1.3.1 Đặc tính rơle
Đường biểu diễn quan hệ giữa đại lượng đầu
vào x và đầu ra y của rơle gọi là đặc tính "vào-ra” và
được coi là đặc tính cơ bản của rơle. Nên đặc tính này
còn gọi là đặc tính "rơle”.
Dạng của đặc tính “rơle" được trình bày trên
hình 4.2. Đặc tính "rơle" có đặc điểm:
- Khi đại lượng đầu vào x thay đổi từ 0 đến trị
số tác động x

, đại lượng đầu ra y luôn bằng 0 (với rơle
có tiếp điểm) hoặc bằng giá trị cực tiếu y
min
(với rơle
không tiếp điểm) .
Hình 4.2. Đặc tính rơle

42

- Khi x đạt đến giá trị tác động x = x

: đại lượng đầu ra tăng đột ngột đến giá trị cực
đại y
max
. Sau đó dù x tiếp tục tăng đến giá trị làm việc x
lv
y vẫn giữ nguyên giá trị y
max
(hoặc
thay đổi rất ít). Tương ứng với quá trình này, ta nói rơle đã tác động hay rơle đóng.
Ngược lại, khi đại lượng đầu vào giảm từ giá trị x

đến trị số nhả x
nh
đại lượng ra y
vẫn không đổi.
- Khi x = x
nh
y giảm đột ngột từ y
max
về 0 (hoặc min) và không đổi mặc dù x tiếp tục
giảm về 0. Quá trình này ta nói rơ le nhả. Đại lượng đầu vào ứng với lúc rơle tác động gọi là
giá trị tác động x

và ứng với lức rơ le nhả gọi là giá trị nhả x
nh
của rơle.
4.1.3.2. Hệ số nhả K
nh
Tỷ số K
nh
=
® t
nh
x
x
gọi là hệ số nhả của rơle (đôi khi còn hơi là hệ số trở về). Hệ số nhả
K
nh
luôn nhỏ hơn 1.
Khi K
nh
lớn bề rộng củal đặc tính rơ le Ax = x

- xnh, đặc tính rơle có dạng gầy thích
hợp với rơle bảo vệ có tính chọn lọc cao, sừ dụng trong lĩnh vực bảo vệ hệ thống điện. Khi
K
nh
nhỏ, bề rộng đặc tính rơle Ax = x

- xnh lớn, đặc tính có dạng "béo", thích hợp với rơle
điều khiền và tự động trông truyền động điện và tự động hoá.
4.1.3.3. Hệ số dự trữ K
dt
Tỷ số K
đt
=
td
lv
x
x
gọi là hệ số dự trữ của rơ le, trong đó x
lv
là giá trị làm việc dài hạn
của đại lượng đầu vào; x

là giá trị tác động của đại lượng vào. Hệ số dự trữ luôn lớn hơn 1.
Khi K
dt
lớn, rơ le làm việc càng đảm bảo tin cậy.
4.1.3.4.Hệ số điều khiển K
đk
Tỷ số K
đk
=
td
dk
P
P
gọi là hệ số điều khiển của rơle trong đó P
đk
là công suất cực đại trên
tải của mạch làm việc, gọi là công suất điều khiển; P

là công suất đầu vào cần thiết cho rơ le
tác động, gọi là công suất tác động.
Ví dụ đối với rơ le điện từ, P

là công suất cần thiết cung cấp cho cuộn đây để nam
châm điện hút
4.1.3.5. Thời gian tác động t


43

Khoảng thời gian từ thời điểm đạt tín hiệu vào x đến thời điểm đại lượng đầu ra y đạt
giá trị cực đại gọi là thời gian tác động t

của rơle. Thời gian này phụ thuộc vào kết cấu của
rơ le, thông số của đại lượng vào và hệ số dự trữ. Đối với rơ le tiếp diềm, thời gian tác động
gồm hai khoảng thời gian:
t

= t
1
+ t
2
trong dó t
1
là thời gian khởi động, là khoảng thời gian từ thời điểm xuất hiện tín hiệu
vào x đến thời điếm nắp từ bắt đầu chuyển động.
t
2
là thời gian chuyển động là khoảng thời gian từ khi nắp bắt đầu chuyển động đến
khi kết thúc chuyển động, có tín hiệu ở đầu ra y.
4.1.3.6. Thời gian nhả t
nh
Khoảng thời gian từ thời điểm ngắt tín hiệu vào x đến khi đại lượng ra đạt giá trị 0
hoặc cực tiểu gọi là thời gian nhả của rơ le. Trong rơ le tiếp điểm, thời gian nhả cũng gồm hai
khoảng thời gian :
t
nh
= t
n
+
hq
t
trong dó: t
n
là khoảng thời gian từ thời điềm mất tín hiệu vào x đến lúc tiếp điểm bát đầu mở;
hq
t là thời gian cháy của hồ quang, từ khi tiếp điếm bắt đầu mở đến khi hồ quang được dập
tắt hoàn toàn.
Sự thay đổi của dòng điện i qua bộ phận thu (cuộn dây nam châm điện) và dòng điện
qua bộ phận chấp hành (tiếp điểm) theo thời gian t trong qua trình rơle điện từ tác động (hút)
và nhả (mở) được mô tả
ở hình 4.3.







Hình 4.3. Sự phụ thuộc của dòng điện đầu vào
i và đầu ra I

theo thời gian của rơle

44










4.2.3.7 Tần số thao tác
Số chu kỳ tác động và nhả của rơ le trong một đơn vị thời gian gọi là tần số thao tác f
của rơle và được xác định theo công thức:
ng nh lv td
t t t t
1
f
+ + +
=
trong đó: t

là thời gian tác động; t
nh
là thời gian nhả; t
lv
là thời gian làm việc (khoảng thời
gian từ khi đại lượng ra đạt giá trị cực đại đến khi đạt giá trị 0 hoặc là cực tiểu); t
ng
là thời
gian nghỉ (khoảng thời gian từ khi đạt lượng ra đại giá trị 0 đến khi đạt giá trị cực đại lần sau).
Theo thời gian tác động t

, rơle được chia ra các loại:
- Không quán tính, có t

< 10
-3
s.
- Tác động nhanh, có t

< 5.10
-2
s
- Bình thường, có t

=(5÷15) 10
-2
s
- Tác động chậm, có t

=0,15÷0,1 s
- Rơle thời gian, có t

> 1s.
Với mỗi loại rơ le khác nhau, các hệ số điều khiển K
đk
,

thời gian tác động có t

, P

,
P
đk
giá trị khác.
4.1.3.8. Yêu cầu đối với rơle
Ngoài các yêu cầu chung như đối với khí cụ điện đóng ngắt (bảo đảm độ bền về điện,
nhiệt, cơ...) rơle còn có một số yêu cầu riêng về tính năng làm việc, phụ thuộc vào mục đích

45

sử dụng. Ví dụ đối với rơle bảo vệ hệ thống điện, cần yêu cầu: bảo vệ chọn lọc, tác động
nhanh, độ nhạy và độ tin cậy cao.
Bảo vệ chọn lọc là khả năng rơle chỉ cắt đúng phần lưới điện bị sự cố do rơle đó bảo
vệ không bị tác động vượt cấp hoặc tác động sai. Độ tác động nhanh làm giảm rất nhiều hậu
quả xấu do sự cố gây ra đối với lưới điện, đảm bảo lưới điện vận hành được an toàn. Độ nhạy
của rơ le cao thì vùng dự phòng chỉ cần để nhỏ. Phải có độ tin cậy cao để tránh làm việc lệch
lạc có thể dẫn đến những sự cố trầm trọng ảnh hưởng lớn đến việc truyền tải và cung cấp
điện.
Rơ le bảo vệ hệ thống điện thường được đặt trong nhà, làm việc trong điều kiện nhẹ,
không có va đập, rung động, không có bụi và khí ăn mòn, gây rỉ... Hệ thống điện thường ít sự
cố, tần suất tác động của rơ le thấp nên không yêu cầu rơ le có độ chống mòn cao khi làm việc
nhiều.
Các loại rơ le dùng trong tự động hóa và bào vệ các quá trình truyền động thường đòi
hỏi các yêu cầu cao hơn như chịu rung động, va đập, bụi bặm, chế độ đóng ngắt nặng nề (có
thể đến 1000 : 1200 lần/giờ nên yêu cầu chống mòn cao tuổi thọ lớn, thường đạt ( 1 ÷ 10).10
6

lần đóng ngắt .
Do đảm bảo các quá trình tự động điều khiển được thực hiện tốt, yêu cầu về độ tin cậy
đối với các loại rơ le này cũng cần rất cao.
4.2 RƠLE ĐIỆN TỪ
Rơ le điện từ làm việc trên nguyên lý điện từ: Nếu đặt một vật bằng vật liệu sắt từ (gọi
là phần ứng hay nắp từ) trong từ trường do cuộn dây có dòng điện chảy qua sinh ra. Từ trường
này sẽ tác dụng lên nắp
từ một lực (hoặc mômen
làm nắp chuyển động).
Nguyên lý cấu tạo của rơ
le điện từ như ở hình
4.4.

Bộ phận thu của
rơ le là nam châm điện
gồm cuộn dây đặt trên
lõi thép đứng yên và nắp
Hình 4.4.

46

từ chuyển động. Tín hiệu vào (là điện áp hoác dòng điện) đạt trên cuộn dây sẽ tạo từ trường u
chạy trong mạch từ chính, trong nắp từ và khe hở không khí làm việc o. Từ trường tại khe hở
o là
o
u tạo ra lực hút điện từ F
đt
làm nắp từ bị hút về phía mạch từ chính, có xu hướng làm
giảm o do đó giảm từ trở toàn bộ mạch từ nam châm điện. Chiều chuyển động của nắp từ
không thay đổi khi đổi chiều dòng điện trong cuộn dây, tức đổi chiều từ thông trong mạch từ.
Cho nên tín hiệu vào rơ le điện từ có thể là đại lượng điện xoay chiều hoặc điện một chiều.
Bộ phận trung gian là lò xo nhả, tạo ra trên nắp từ lực nhả F
nh
ngược chiều với lực hút
điện từ F
đt
. Lực F
đt
được so sánh với lực F
nh
. Nếu F
đ
> F
nh
nắp được hút; ngược lại, khi F
đ
<
F
nh
nắp sẽ nhả. Chuyển động hút hay nhả của nắp sẽ làm các tiếp điểm, tức bộ phận chấp hành
của rơ le đóng hoặc ngắt mạch điện bảo vệ, điều khiển nối với các tiếp điểm này.
Có thể điều chỉnh đặt trước giá trị tác động x

của rơ le bằng cách:
- Thay đổi lực hút L
đt
(hoặc mô men điện từ M
đt
) nhờ thay đổi số vòng của cuộn dây
hay đổi nối sơ đồ nối cuộn dây ở sơ đồ nối tiếp hoặc song song. Phương pháp này thay đổi x


một cách nhảy cấp.
- Thay đổi, điều chỉnh độ căng của lò xo nhả để thay đổi lực nhả F
nh
. Cách này cho
phép thay đổi x

một cách liên tục. Rơ le điện từ có cấu tạo rất đơn giản, lực hút điện từ khá
lớn, làm việc tin cậy, dễ điều chỉnh, tuổi thọ cao... nên được sử dụng rất rộng rãi để tạo ra các
loại rơ le có các đại lượng vào khác nhau nhă dòng điện, điện áp (cực đại và cực tiểu), tín
hiệu, trung gian, thời gian...
Role điện từ có loại điện một chiều và xoay chiều. Công suất làm việc ở mạch ra có
thể từ vài oát đến hàng ngàn quát. Trong khi đó công suất tiêu thụ vào khoảng vài phần đến
vài chục oát. Thời gian tác động của rơ le điện từ trong khoảng 1 đến 10 ms.
4.3. RƠLE TRUNG GIAN








47






Rơ le trung gian được dùng rất nhiều trong các sơ đồ bảo vệ hệ thống điện và các sơ
đồ điều khiển tự động. Do có số lượng tiếp điểm lớn, từ 4 đến 6 tiếp điểm, vừa thường đóng
và thường mở, nên rơ le trung gian dùng để truyền tín hiệu khi khả năng đóng, ngắt và số l-
ượng tiếp điểm của rơle chính không đủ hoặc để chia tín hiệu từ một rơ le chính đến nhiều bộ
phận khác của sơ đồ mạch điện điều khiển. Trong các bảng mạch điều khiển dùng linh kiện
điện tử (tranzistor, vi mạch tổ hợp IC...) rơ le trung gian thường được dùng làm phần tử đầu ra
để truyền tín hiệu cho bộ phận mạch phía sau, đồng thời cách ly được điện áp khác nhau giữa
phần điều khiển (thường là điện một chiều, điện áp thấp: 9 V, 12 V, 24 V...) với phần chấp
hành thường là điện xoay chiều, điện áp lớn: 220 V, 380 V).
Có các loại rơle trung gian một chiều và rơ le xoay chiều. Rơ le sử dụng trong lĩnh vực
hệ thống điện và rơ le dùng trong tự động điều khiển.
4.4 RƠLE ĐIỀU KHIỂN
Rơ le điều khiển, còn gọi là rơ le RID hay công tắc TRON, có chức năng như rơ le
trung gian, nhưng có kích thước nhỏ hơn, tần số thao tác lớn, khả năng ngắt lớn, hệ số nhả
cao. Hình 4.6 trình bày nguyên lý cấu tạo và làm
việc của loại rơ le này.
Trong ống thủy tinh 1 (dài 25 đến 30 mm
đường kính 6 mm) được đặt hai thanh dẫn bằng thép
lò xo có mạ đồng hoặc bạc, đảm bảo dẫn từ và dẫn
điện đều tốt. Trên đầu mỗi thanh có gắn tiếp điểm
bằng platin. Trong ống 1 được nạp khí trơ hoặc rút
chân không, mục đích để tránh hồ quang phát sinh
khi rơ le đóng, ngắt mạch. ống thủy tinh trên được
ựăt trong lòng cuộn dây 3, khi cấp điện cho cuộn dâỵ 3, dòng điện trong cuộn dây sinh ra từ
trường khép mạch qua hai thanh dẫn 2 do đó xuất hiện lực hút điện từ làm hai thanh dẫn hút
nhau hệ tiếp điếm được đóng lại. Nếu nứăt điện cuộn dây, từ thông sẽ không còn, lực đàn hồi
của hai thanh dẫn làm hệ tiếp điểm mở ra.
Hình 4.6

48

Loại rơ le này có ưu điểm là môi trường làm việc của tiếp điếm gần như lý tưởng
(chân không hoặc khí trơ) nên tiếp điểm không bị oxy hóa khi đóng ngắt không có hồ quang,
vì vậy tuổi thọ của nó đạt tới l0
9
lần tác động. Kích thước, trọng lượng thanh dẫn và tiếp điểm
nhỏ, khe hở độ mở tiếp điểm nhỏ, thời gian tác động của rơ le rất nhỏ: (0,4 ÷ 2).10
-3
giây. Có
thể làm việc với tần số thao tác lớn từ 400 đến 2000 lần đóng ngắt trong 1 giây. Khả năng
ngắt của rơ le lớn: từ 1 đến 5 A. Từ trường cần thiết cho điều khiển rơle rất bé, sức từ động
của cuộn dây: từ 20 ÷200 ampe vòng.
Trên cơ sở của loại rơle này, người ta đã chế tạo ra nhiều dạng rơle khác nhau như:












- Rơ le có tiếp điểm thuỷ ngân còn gọi là rơ le thủy ngân (hình 4.7a). Trong ống thủy tinh 1 có
hai điện cực bằng vonfram 2 và có một lượng thủy ngân. Lõi sắt từ 3 hình trụ rỗng nổi trên bề
mạt thủy ngân vì khối lượng riêng của sát 7,8 g/cm
3
nhỏ hơn khối lượng riêng của thủy ngân
l3,6 g/cm
3
(cuộn dây điều khiển 4 đặt lệch về phía dưới ống thủy tinh (phía có chứa thủy
ngân). Khi không có điện cấp cho cuộn dây, phao sắt từ 3 nổi điện cực 2 phía trên ống thủy
tinh không tiếp xúc với thủy ngân, mạch điện của rơ le hở. Cần chú ý khi lắp đạt sử dụng, rơ
le phải ở vị trí đứng như hình vẽ.
Khi có điện vào cuộn dây lực hút điện từ sẽ hút phao sắt 3 về phía cuộn dây và làm
cho thủy ngân dâng lên, điện cực 2 được tiếp xúc và ngập trong thủy ngân, mạch điện của rơ
Hình 4.7.

49

le được đóng. Như vậy thủy nhân có vai trò nh tiếp điện động của rơle. Vì đóng ngắt bằgg
thủy ngân, nên tốc độ ngắt lớn, dễ sinh ra quá điện áp lớn.
-Rơ le có điếp điểm hình cầu (hình 4.7b). Trong ống thủy tinh có hai cặp tiếp điểm
tĩnh 3 và 4 đặt ở hai đầu ống. Một viên bi bằng vật liệu sắt từ có mạ kim loại dẫn điện tốt
(đồng hoặc bạc ) làm tiếp điểm động. Bên ngoài ống, đặt hai cuộn dây hút 1 và 2. Khi cuộn
dây 1 có điện lực hút điện từ sẽ kéo viên bi về phía trái đóng kín mạch cho cặp tiếp điểm 3 và
cặp tiếp điểm 4 hở mạch. Khi cuộn dây 2 có điện, cuộn 1 không có điện: qúa trình xảy ra
ngược lại, viên bị được hút về phía phải: bên phải đóng mạch, bên trái hở mạch.
-Rơle phân cực (hình 4.7c). Đầu bên trái ống thủy tinh đặt thanh dẫn 1 làm tiếp điểm
động. Đầu bên phải đặt hai thanh dẫn 2 và 3 làm tiếp điểm tĩnh. Bên ngoài ống đặt một nam
châm vĩnh cửu kẹp giữa các thanh dẫn 2 và 3 . Nam châm này tạo ra từ thông
1
u ở khe hở
làm việc giữa cặp tiếp điểm 1-2 và 1-3. Khi cấp điện vào cuộn dây điều khiển, từ thông được
sinh ra sẽ đi theo thanh dãn 1 và phân làm hai phần ở khe hở làm việc 1-2 và 1-3 là
2
u và
3
u có hướng ngược nhau. Như vậy, từ thông tổng khe hở 1-2 là
2 1 12
u ÷ u = u và ở khe hở
1-3 là
3 1 13
u ÷ u = u . Kết quả
13
u lớn hơn
12
u , cho nên lực hút F
13
lớn hơn F
12
làm cho
tiếp điểm động 1 được hút về thanh dẫn 3, mạch tiếp điểm l-3, đóng mạch và mạch tiếp điểm
1-2 hở mạch. Nếu đổi chiều dòng điện trong cuộn dây điều khiển, từ thông do cuộn dây sinh
ra sẽ đổi chiều, làm cho
2 1 12
u + u = u và
3 1 13
u + u = u , dẫn đến
12
u >
13
u và F
12
> F
13

nên tếp điểm động 1 hút về phía tiếp điểm 2. Và mạch tiếp điểm 1-2 đóng mạch, mạch tiếp
điểm 1-3 hở mạch. Như vậy, thấy rằng trạng thái làm việc của rơ le phụ thuộc vào chiều dòng
điện trong cuộn dây, có nghĩa là phụ thuộc vào cực tính tín hiệu điều khiển đưa vào cuộn dây
rơ le. Cho nên rơ le này là một dòng của rơle phân cực.
Có thể tăng độ nhạy và giảm công suất điều khiển các loại rơle trên bằng cách đặt
thềm mạch từ phía ngoài cuộn dây để giảm từ trở cho từ
thông đi ngoài không khí.
-Rơle nhớ. Cấu tạo của rơ le này được trình bày trên
hình 4.8. Rơle gồm có ống thủy tinh phẳng ở hai đầu 1,
trong đó đặt hai thanh dẫn có mạng tiếp điểm 2 và 3. Thanh
dẫn này vừa dẫn từ, dẫn điện tốt, vừa đàn hồi tốt như một lò
xo lá giống các loại rơle đã khảo sát ở trên ống thủy tinh và
lõi thép 4 được kẹp chặt giữa hai bản cực từ 5 bằng thép dẫn
từ tốt. Các thanh dẫn 2,3 được cách điện tốt với hai bản cực
Hình 4.8.

50

từ 5 này. Lõi thép 4 làm bằng vật liệu từ có mắt từ trễ dạng chữ nhật (từ cảm dư B

gần đạt
tới từ cảm hão hòa B
bh
) ví dụ như các loại thép ferit.
Rơ le làm việc như sau:
Khi có xung dòng điều khiển đưa vào cuộn dây rơle, sẽ sinh ra từ thông u làm hệ tiếp
điểm đóng mạch, đồng thời lõi thép 4 được từ hóa. Sau khi ngắt xung dòng điều khiển, tiếp
điểm vẫn giữ ở trạng thái đóng nhờ từ dư của lõi thép 4, có nghĩa rơ le dã ghi nhớ tín hiệu
vào. Để chuyển rơ le về trạng thái ngắt, cần đưa vào cuộn dây một xung tín hiệu khác, có cực
tính ngược lại, lõi thép sẽ bị khử từ, làm hệ tiếp điểm của rơ le mở ra. Nếu ngắt xung điều
khiển này, rơ le vẫn giữ ở trạng thái ngắt và như vậy rơ le đã xóa tín hiệu trước và nhớ tín
hiệu điều khiển sau cùng. Các rơ le điều khiển loại công tắc tơ Tron có thông số kỹ thuật
chính:
- Sức từ động tác động: 20... 200 ampe vòng
- Sức từ động nhả : 10...100 ampe vòng
- Thời gian tác động: 0,4... 2 ms
- Hệ số nhả: 0,75 ... 0,95.
- Kích thước ống thủy tinh: dài 10 đến 55 mm đường kính 2,25 đến 6,25 mm.
- Dòng điện qua tiếp điểm: 2 đến 6 A.
4.5. RƠLE TÍN HIỆU
Rơ le tín hiệu có các kiểu EC và
PY được sử dụng trong mạch một chiều
của các sơ đồ bảo vệ hệ thống điện, để chỉ
rõ các rơ le và các thiết bị bảo vệ khác đã
tác động.
Sơ đồ kết cấu và nguyên lý làm
việc của rơ le tín hiệu EC được trình bày
trên hình 4.9.
Rơ le có nam châm điện một chiều
kiểu hút chập: ở trạng thái làm việc bình
thường, khi lưới điện thuộc khu vực bảo
Hình 4.9.

51

vệ của rơ le không có sự cố không có dòng điện trong cuộn dây 2. Nắp từ 4 mở nhờ lò xo nhả
9. Khớp giữ 3 (lắp chặt trên nắp hút 4) giữ cờ hiệu 5. ở vị trí nằm ngang, cờ 5 được sơn màu
đen, hệ tiếp điểm 7-8 hở mạch. Qua lỗ quan sát 6, nhìn thấy màu trắng.
Khi lưới điện có sự cố, các rơ le và thiết bị bảo vệ đã tác động, có tín hiệu điều khiển
truyền đến cuộn dây nam châm điện. Nắp từ 4 bị hút, làm nhả khớp giữ cờ 3. Trọng lượng cờ
làm cờ 5 đổ xuống vi trí thẳng đứng. Đuôi cờ đóng hệ tiếp điểm 7-8, đồng thời cờ đổ xuống sẽ
chắn ngang lỗ quan sát 6. Lúc này người vận hành nhìn qua lỗ 6 thấy màu đen của cờ và biết
rằng rơ le tín hiệu đâ tác động. Để đưa rơ le về trạng thái làm việc ban đầu, sau khi đã khắc
phục xong sự cố lưới điện, người vận hành phải quay núm phục hồi trên vỏ hộp rơ le để đưa
cờ về vị trí nằm ngang và hệ tiếp điểm về trạng thái mở. Trên lỗ quan sát thấy màu trắng.
Rơ le tín hiệu có các thông số kỹ thuật chính:
- Các cấp điện áp (đối với rơ le có cuộn áp): 12, 24, 48, 110, 220 V
- Các cấp dòng điện (đối với rơ le có cuộn dòng): 0,15; 0,25; 0,5; 1; 2; 4 A.
- Điện áp tác động: 70% U
đm

- Dòng tác động: không quá I
đm

- Thời gian tác động: không nhỏ hơn 0,05 giây
- Khả năng ngắt của tiếp điểm: 50W đối với điện một chiều; 200VA đối với điện xoay
chiều và cos¢ > 0, 5.
- Công suất điện tiêu thụ: 0,25 W
- Nhiệt độ môi trường làm việc: từ -20
oC
đến +40
o
C
- Trong lượng rơ le: 0,4 kg.
4.6 RƠLE DÒNG ĐIỆN
Rơ le dòng điện (Ri) kiểu điện từ, có đại lượng vào là trị số dòng điện của mạch tải
(mạch động lực) : I
t
Rơ le tác động (hút) khi dòng điện qua cuộn dây rơ le đạt đến trị số dòng
tác động I

. Khi đó các tiếp điểm của rơ le sẽ đóng nếu là tiếp điểm thường mở (hoặc mở nếu
là tiếp điểm thường đóng). Như vậy cuộn dây của rơ le được mắc nối tiếp trong mạch tải. Sức
từ động do cuộn dây rơ le sinh ra trong mạch từ nam châm điện: F = I.W phụ thuộc vào dòng
điện mạch tải.

52

Rơ le dòng điện được sử dụng rộng rãi trong các sơ đồ bảo vệ quá dòng (do quá tải,
ngắn mạch...) và tự động điều khiển (mở máy động cơ điện, chuyển đổi mạch điện...) trong hệ
thống điện và truyền động điện.
4.6.1. Rơ le dòng điện cực đại












Rơ le dòng điện cực đại điện từ dùng trong lĩnh vực bảo vệ hệ thống điện, nhóm thiết
bị điện hoặc thiết bị riêng lẻ quan trọng như: động cơ điện, máy biến áp công suất lớn... Trên
hình 8-17 trình bày sơ đồ nguyên lý cấu tạo và làm việc của rơ le dòng điện loại ET.
Mạch từ 1 hình chữ C làm bằng thép tấm kỹ thuật điện ghép lại để giảm tổn hao trong
lõi thép. Cuộn dây 2 của rơ le gồm hai phần giống nhau, có thể đổi nối song song hoặc nối
tiếp nhau được để thay đổi dải nhảy cấp làm việc của dòng tác động của rơ le. Phần ứng 3
bằng thép kỹ thuật điển hình chữ Z gắn trên trục quay. Khi nắp quay, từ dẫn khe hở không chỉ
tăng lên, từ thông trong mạch từ sẽ tăng lên làm phần ứng (nắp quay) bão hoà ngay cả khi
dòng điện gần với trị số dòng tác động, do đó hạn chế được mômen điện từ ở cuối hành trình
của nắp.
Việc sử dụng phần ứng kiểu quay và sớm bão hòa cho phép tạo ra dạng đặc tính mô
men điện từ M(o) gần với đặc tính mô men phản lực M
c
(o) của lò xo nhả để có được hệ số
nhả lớn (0,85). Tiếp điểm động 5 kiểu cầu được) gắn với trục quay để tiếp xúc với hai tiếp
điểm tĩnh 6.
Hình 4.10

53

Khi dòng điện trong cuộn dây đạt tới trị số tác động, nắp từ bị hút và quay theo chiều
kim đồng hồ, làm đóng hệ thống tiếp điểm 5-6. Lò xo phản lực 4 kiếu xoắn ốc được gắn một
đầu lên trục quay, đầu kia gắn lên tay đòn 7. Nếu quay tay đòn 7 có thể thay đổi độ xoắn của
lò xo để thay đổi trị số dòng tác động I

của rơ le.

Rơ le loại ET dùng để bảo vệ thiết bị điện khi quá tải và ngắn mạch, được sản xuất
thành nhiều loại:
- Điện một chiều, xoay chiều, kiểu kín, kiểu hở.
- Dòng điện tác động: từ 0,2 đến 200 A
- Thời gian tác động: 0,15 giây khi đạt đến 1,2 dòng tác động và 0,02 đến 0,03 giây
khi đạt 2,0 lần dòng tác động.
- Công suất tiêu thụ nhỏ: khoảng 0,1 W
- Công suất ngắt của mạch tiếp điềm: 50 W đối với điện một chiều 220 V và 2 A đối
với điện xoay chiều.
- Hệ số nhả cao: 0,85
- Giới hạn điều chỉnh dòng tác động từ 1 đến 4 lần.
- Điều chỉnh thô (nhảy cấp) bằng cách đổi nối hai cuộn dây theo sơ đồ song song hoặc
nối tiếp nhau. Điều chỉnh tinh (liên tục) bằng tay quay 7. Để sử dụng rơ le được thuận tiện,
bảng vạch chỉ thị dòng tác động của rơ le được ghi ở dạng giá trị wơng đối. Hệ số quá tải (hay
bội số quá dòng) bằng:

dm
td
I
I
K =
- Độ chính xác cao: + 5%
Nhược điểm của loại rơ le này là công suất ngắt nhỏ, phải hiệu chỉnh rơ le rất cẩn
thận. ở dải dòng tác động lớn, phần động dễ bị rung. Để khắc phục hiện tượng rung, người ta
dùng đệm dầu hoặc bộ phận cản dịu ở trục quay.
4.6.2 Rơ le dòng điện điều khiền truyền động điện
Trong các sơ đồ điều khiển và bảo vệ truyền động điện thường sử dụng loại rơ le một
chiều kiểu P3B có hệ số nhả cao. Rơ le có cấu tạo như ở hình 8-19 . Mạch từ 1 hình chữ U
làm bằng thép dẫn từ, có tiết diện tròn . Nắp phẳng, quay trên cạnh lăng trụ bảo đảm cho rơ le

54

có độ chống mòn cao. Cuộn dây 3 quấn tương ứng với các cấp dòng điện định mức của rơ le.
Đai
ốc để điều chỉnh lực lò xo nhả 5. Nắp 2 nối với hệ thống tiếp điếm động 8 qua thanh cách điện
7. Rơ le có hai tiếp điểm tĩnh 12. Toàn bộ rơ le được lắp đặt trên bảng nhờ vít 4. Hệ số nhả
cao nhờ làm khe hở cuối cùng tương đối lớn (đến 5 mm), mà độ dời của nắp lại rất nhỏ ( vài
phần milimét) .
Dòng điện tác động của rơ le có thể điều chỉnh (đặt) trong khoảng từ 30 đến 65% dòng
định mức bằng cách thay đổi lực ban đầu của lò xo nhả 5. ở rơ le điện áp, điện áp tác động
cũng có thế thay đổi trong khoảng 30 đến 50% điện áp định mức. Khi tăng lực lò xo nhả, điện
áp tác động và thời gian tác động đều tăng theo công thức:

U / U 1
1
R
L
t
td
td
÷
=
trong đó L, R là điện cảm và điện trờ của cuộn dây rơ le.
Nếu coi mạch từ không bão hòa và lực lò xo tiếp điểm rất nhỏ so với lực lò xo nhả, thì
tỉ số giữa hai hệ số nhả ứng với hai giá trị lực lò xo tương ứng sẽ bằng:
2 d
1 d
2 nh
1 nh
F / f 1
F / f 1
K
K
+
+
=
trong đó f là độ độ cứng của lò xo nhả; F
đ1
, F
đ2
là lực ban đầu của lò xo nhả. Vì F
đ1
> F
đ2
nên
K
nh1
> K
nh2
có nghĩa là tăng lực lò xo ban đầu sẽ .làm giảm hệ số nhả.
Để giảm thời gian tác động của rơ le điện áp, nên chọn loại rơ le có điện áp định mức
thấp (24 V hay 48 V) để cuộn dây có số vòng nhỏ, do đó giảm được điện cảm L. Sau đó nối
thêm một điện trở phụ nối tiếp với cuộn dây
p
R để vừa đủ nối vào nguồn điện. Giá trị U


U không đổi, nên hằng số thời gian T = L/(R +
p
R ) giảm xuống và thời gian tác động nhanh
lên. Điện trở phụ
p
R cho phép nâng cao điện áp tác động. Giá trị của R chọn sao cho để dòng
điện tác động nằm trong giới hạn đủ đảm bảo cho rơ le tác động nhanh: I

= (0,3 ÷ 0,5) I
đm
.
Điện trở phụ làm bằng dây constantan để giảm ảnh hưởng của nhiệt độ đến dòng tác
động. Điều chỉnh hệ số nhả bằng cách thay đổi độ lớn khe hở cuối cùng o khi nắp từ ở vị trí
hút.

55

`4.6.3. Rơ le bảo vệ truyền động điện
Hình 4.11 trình bày sơ đồ đơn giản bảo vệ
động cơ điện một chiều trong truyền động điện,
bảo vệ ngắn mạch bằng rơ le dòng điện cực đại.
Khi rô to bị sự cố ngắn mạch, dòng điện qua phần
ứng (rô to) tăng cao, rơ le dòng cực đại R
i
tác
động ngay, tiếp điểm thường đóng của rơ le R
i
đ-
ược mở, mạch cấp điện cho cuộn dây công tắc tơ
K bị cắt, tiếp điểm K mở ra, ngắt rô to ra khỏi lưới
điện .
Sau khi ngắt sự cố, tiếp điểm rơ le R
i
trở về trạng thái đóng, nhưng công tắc tơ K
không đóng được vì tiếp điểm phụ duy trì Ki đã ở trạng thái mở. Đặc điểm của sơ đồ này là rơ
le R
i
tự trở về trạng thái ban đầu khi dòng điện qua cuộn dây rơ le không còn), do đó không
yêu cầu rơ le có hệ số nhả cao.
Nhưng trong trường hợp sơ đồ điều khiển không dùng nút ấn, mà lại dùng khóa đổi
nối vạn năng (đường nét đứt trên hình 4.11) thì sau khi mạch rô to mất điện, rơ le R
i
lại nhả
nắp ra làm tiếp điểm R
i
của rơ le đóng lại và cuộn dây công tắc tơ K lại được cấp điện. Kết
quả là rô to đang bị ngắn mạch lại được đóng vào nguồn. Rơ le bảo vệ lại cắt, rồi lại đóng lặp
lại sự cố nhiều lần. Như vậy rơ le không bảo vệ được sự cố ngắn mạch rô to.
Để khắc phục nhược điểm này, rơ le được trang bị thêm một chi tiết đặc biệt, không
cho nắp từ rơ le nhả trở lại vị trí ban đầu khi cuộn dây của nó mất điện. Loại này gọi là rơ le
không tự trở về. Chi tiết khóa 1 có thể quay quanh trục O và có phần bên trái nặng hơn phần
bên phải. Khi nắp rơ le bị hút, dưới tác dụng của trọng lượng phần bêntrái, khóa 1 quay ngược
chiều kim đồng hồ và khóa giữ nạp từ ở vị trí đóng. Muốn nắp nhả phải ấn lên phần bên phải
khóa1 quay nó theo chiều kim đồng hồ về vị trí ban đầu rơle PEB dùng để điều khiển và bảo
vệ trong truyền động điện mạch xoay chiều, bảo vệ ngắn mạch và quá tải (nếu dùng với rơ le
thời gian). Rơ le dùng loại mạch từ kiểu hút chập đơn giản, nắp quay trên cạnh lăng trụ. Lõi
sắt làm bằng thép lá ghép lại. Đối với rơ le dòng điện, cuộn dây rơ le mắc nối tiếp trong mạch
tải cân bảo vệ được chế tạo có nhiều cấp dòng khác nhau từ 2,5A đến 600A.
Trạng thái cho dòng định mức qua là lúc nắp mở, nên không đặt vòng ngắn mạch
chống rung. Điều chỉnh dòng tác động ứng với một cuộn dây cho trước bằng cách thay đổi lực
căng của lò xo nhả trong một giới hạn rất rộng, 1, 1 đến 7 lần dòng định mức.
Hình 4.11.

56

Ngược lại, ở rơ le bảo vệ mất áp hay điện áp thấp, cuộn dây rơ le là cuộn điện áp nối
song song với nguồn. Trạng thái nắp đóng là lúc sơ đồ mạch làm việc bình thường, nên phải
eo vòng chống rung đặt trên mỏm cực từ của rơ le. Khi có sự cố sụt áp hay mất áp, rơ le sẽ
tác động, nắp từ mở ra và làm thay đổi trạng thái đóng, mở cửa các tiếp điểm của rơ le. Rơ le
điện
áp có thể điều chỉnh điện áp tác động từ 70 đến 80% điện áp định mức.
- Hệ số trở về từ 0,2 đến 0,4.
- Thời gian tác động của rơ le: 0,06 giây
- Thời gian nhà: 0,07 giây.
4.6.4. Rơle dòng điện khởi động động cơ không đồng bộ một pha
Rơ le dòng điện dùng để khởi động
động cơ không đồng bộ có thống tiếp điểm của
rơ le có dòng định mức 5 A kiểu bắc cầu. Phần
nam châm điện kiểu hút ống dây, không có
mạch từ bằng thép dẫn từ như các loại rơ le
khác. Phần động của nam châm điện là một lõi sắt hình trụ, trên đó có mang giá tiếp điểm
động, lò xo tiếp điểm. Trọng lượng phần động này tạo ra lực nhả F
nh
của rơ le. F
nh
Có trị số
không đổi theo hành trình của lõi sắt. Với đặc điểm kết cấu như vậy, nam châm điện có hệ số
nhả cao (đến 0,9), nên thích hợp và tin cậy khi khởi động động cơ một pha. SƠ đồ nối rơ le
trong mạch khởi động động cơ như ở hình 4.8.
Động cơ không đồng bộ một pha kiểu khởi động bằng điện trở hoặc bằng tụ điện có
hai cuộn dây, một cuộn dây chính W
c
được cấp điện liên tục trong khi động cơ làm việc, nên
còn gọi là cuộn làm việc và một cuộn dây phụ
p
W được cấp điện khi khởi động (mở máy)
động cơ và ngừng cấp điện khi động cơ đã làm việc ổn định, nên còn gọi là cuộn khởi động.
Mạch ở hình 4.12 làm việc như sau: Đóng khóa K để cấp điện cho mạch động cơ ban
đầu, do tốc độ động cơ bằng 0, rô to còn đứng yên. Dòng trong cuộn dây chính W
c
tăng cao,
(bằng từ 5 đến 7 lần dòng định mức của động cơ), sức từ động I.W do cuộn dây rơ le tạo ra sẽ
lớn, lực hút lõi sắt phản động của nam châm điện tăng cao, làm lõi suất chuyển động lên phía
trên, đóng tiếp điểm của rơ le lại, mạch cuộn phụ được cấp diện. Cả hai cuộn dây chính và
phụ sẽ tạo ra mô men mở máy lớn, làm quay và tăng tốc độ của rô to rất nhanh lên tốc độ định
mức. Khi tốc độ động cơ tăng lên thì dòng mở máy động cơ giảm theo, đến khi tốc độ đạt
khoảng 75% tốc độ định mức thì dòng điện giảm đến giá trị nhả của rơle, lõi sắt bị rơi xuống,
Hình 4.12.

57

tiếp điểm mở ra, ngắt điện của mạch cuộn dây phụ. Động cơ tiếp tục tăng tốc độ đến trị số
định mức và hoàn thành quá trình khởi động.
Chú ý rằng trong loạt động cơ trên, thường cuộn phụ được thiết kế, chế tạo ở chế độ
làm việc ngắn hạn, chỉ được cấp điện trong thời gian mở máy (đến 1 hoặc 2 giây), nên có cỡ
dây nhỏ và yêu cầu rơ le khởi động có hệ số nhả cao. Trong quá trình làm việc, phần động
không bị kẹt, tiếp điểm không bị dính để tránh cho cuộn phụ bị cháy gây hỏng động cơ. Mỗi
cỡ rơ le (theo dòng định mức chỉ dùng cho một cỡ công suất động cơ. Khi thay đổi động cơ
công suất khác, nếu vẫn dùng rơ le của động cơ trước thì rơ le sẽ không hút hoặc không nhà
được nên phải thay cả rơ le khác hoặc thay đổi cuộn dây của rơ le có số vòng và cỡ dây khác.
4.7. RƠ LE ĐIỆN ÁP
Rơ le điện áp cực đại dùng trong các sơ đồ bảo vệ và tự động, làm phần tử có phản
ứng với sự xuất hiện hoặc sự tăng cao điện áp trong mạch một chiều. Thường rơ le được đặt
trong sơ đồ kiểm tra cách điện của mạch một chiều. Kết cấu của rơle về cơ bản như loại rơ le
dòng điện cực đại đã xét ở phần trên (xem mục 4.6.1). Rơ le này chỉ khác ở chỗ: cuộn dây
dòng được thay bằng cuộn dây áp có số vòng nhiều hơn, cỡ dây nhỏ hơn và được tính để mắc
vào nguồn điện áp một chiều; không có bộ phận cản dịu, giảm rung động cho bộ phận động
của rơ le.
Để giảm ảnh hưởng của từ dư, phần ứng (nắp hút) của rơ le được làm bằng thép
pecmaloi . Rơ le được chế tạo ở ba cỡ điện áp định mức. Mỗi cỡ lại có thể thay đổi điện áp ở
hai cấp bằng cách đổi nối hai cuộn dây theo sơ đồ song song hoặc nối tiếp với nhau.
4.7.1. Rơle điện áp cực đại xoay chiều
Rơ le điện áp cực đại PH- 53 dùng
để bảo vệ khi có sự tăng cao điện áp (quá
điện áp) trong mạch điện xoay chiều thuộc
sơ đồ bào vệ rơ le và tự động điều khiển hệ
thống điện . Rơ le có cấu tạo tương tự loại
rơ le dòng điện cực đại PT- 40 nhưng không
có bộ phận cản dịu, chống rung. Để giảm
công suất tiêu thụ và chống rung cho phần
động của rơ le, hai cuộn dây của rơ le được
nối theo sơ đồ nối tiếp và được cấp điện từ
Hình 4.13.

58

nguồn qua cầu chỉnh lưu hai nửa chu kỳ và các điện trở R
l
và R
2
theo sơ đồ ở hình 4.13a. Như
vậy rơ le có hai dải điện áp đặt. ở dải điện áp thấp, cuộn dây được nối với mạch qua điện trở
phụ R
1
. ở dải điện áp cao, cuộn dây được nối qua cả hai điện trở R
l
và R
2
.
Việc sử dụng các điện trở phụ trong mạch xoay chiều cho phép giảm điện áp ngược
trên cầu chỉnh lưu còn vài vôn. Khi đóng điện cho rơ le, điện cảm của cuộn dây làm giảm sự
tăng dòng điện. Vì vậy, ở thời điểm đầu tiên sau khi đóng điện, trở kháng cuộn dây rất lớn và
cần chỉnh lưu điốt chịu một điện áp ngược gần với trị biên độ của điện áp đặt vào rơ le. Có
loại rơ le có điện áp định mức 400 V, giá trị biên độ này lớn vượt quá trị cho phép của điốt.
Để bảo đảm an toàn cho điốt không bị đánh thủng, cần nối thêm một tụ điện C có điện dung
không lớn song song với cuộn dây rơ le. Trở kháng của tụ điện ở thời điểm sau khi đóng điện
cho cuộn dây rơ le là rất nhỏ, nên điện áp ngược trên điốt cầu chỉnh lưu được giảm đáng kể,
an toàn cho điốt. Sơ đồ nối dây rơ le như ở hình 4.13b.
- Hệ số nhả của rơ le không nhỏ hơn 0,8;
- Thời gian đóng không lớn hơn 0,1 giây,
- Công suất tiêu thụ không lớn quá 1 VA;
- Khối lượng không lớn hơn 0,85 kg.
4.7.2. Rơ le điện áp cực tiểu
Rơ le điện áp cực tiểu được dùng trong sơ đồ bảo vệ và tự động điều khiển lưới điện
khi có sự cố giảm điện áp trong mạch xoay chiều. Khác với rơ le điện áp cực đại, ở loại rơ le
này điện áp tác động của rơ le là điện áp tại đó rơ le chuyển sang trạng thái nhả, tiếp điểm
thường mở đóng lại. Điện áp phục hồi là điện áp tại đó phần ứng của rơ le được hút về phía
cực từ nam châm điện và tiếp điểm mở ra. Trong trờng hợp này, hệ số nhả của rơ le là tỷ số
giữa điện áp phục hồi và điện áp tác động và có trị số lớn hơn 1 .
Sơ đồ nối trong và cấu tạo của rơle tương tự loại rơ le điện áp cực đại, chỉ khác là phải
điều chỉnh lại rơ le và thay thang chia độ mới, phù hợp với chức năng bảo vệ điện áp cực tiểu.
- Hệ số nhả của rơle không lớn quá 1,25;
- Thời gian đóng của tiếp điểm không lớn hơn 0,15 giây khi điện áp giảm đến 0,8U


và không lớn hơn 0,1 giây khi điện áp giảm đến 0,5 U

.

59

4.8. RƠ LE CẢM ỨNG
4.8.1. Khái niệm chung
Rơ le cảm ứng làm việc trên nguyên lý tác dụng tương hỗ giữa từ trường xoay chiều
với dòng điện cảm ứng trong phán động của rơ le. Do đó rơ le cảm ứng chỉ dùng trong mạch
xoay chiều.
Phần động của rơ le có các dạng: hình đĩa, hình trụ rỗng (hình cốc) mỏng và được làm
bằng nhôm vì nhôm vừa dẫn điện tốt, cho phép tạo ra dòng cảm ứng lớn, vừa nhẹ cho phép
giảm quán tính cơ làm cho rơ le tác động nhanh, nhạy.
Theo kết cấu của phần động, rơ le cảm ứng được phân làm hai loại chính: loại đĩa và
loại cốc.
Loại đĩa quay có mạch từ hình trên đó có cuộn dây nhận tín hiệu vào. Phần động là
một đĩa nhôm đặt trong khe hở không khí của mạch từ và quay quanh một trục. Kết cấu loại
này đơn giản, dễ chế tạo, mô men quay lớn, nhưng thời gian tác động chậm nên được dùng để
tạo ra rơ le tác động có thời gian trễ.
Loại cốc quay (rô to rỗng) có mạch từ hình khung vuông và 4 cực, trên đó có các cuộn
dây tín hiệu vào . Phần động là một rô to rỗng bằng nhôm mỏng, đặt trong khe hở không khí
giữa 4 cực từ. Rô to này rất nhẹ nên thời gian tác động của rơ le nhanh (đến 0,02 giây), mô
men quay nhỏ. Kết cấu loại rơ le này phức tạp, chế tạo yêu cầu chính xác cao hơn loại đĩa
quay. Để mở rộng tính năng làm việc và phạm vi ứng dụng của rơ le cảm ứng, người ta tạo ra
các loại rơ le làm việc theo hai nguyên lý khác nhau như: cảm ứng và điện từ hoặc cảm ứng
và điện động.
Do vậy có các loại rơ le cảm ứng điện từ vâ cảm ứng điện động. Trên cơ sở hai loại rơ
le này, có thể tạo ra các loại rơ le có các chức năng khác nhau trong điều khiển, bảo vệ hệ
thống lưới điện như rơ le dòng điện, điện áp, công suất, tần số, tổng trở, so lệch...
4.8.2. Rơ le cảm ứng dòng điện cực đại
Rơ le cảm ứng dòng điện cực đại dùng để
bảo vệ mạch điện xoay chiều khi có quá tải hoặc
ngắn mạch . Đường đặc tính bào vệ của rơ le cho
biết quan hệ giữa thời gian tác động t

của rơ le với
dòng điện tác động I

và có dạng như ở hình 4.14.
Hình 4.14.

60

Trục đứng biểu diễn thời gian tác động; trục ngang biểu diễn bội số dòng điện K
i
kd
td
i
I
I
K =
trong đó I

là dòng điện tác động; I

là dòng điện chỉnh định khởi động của rơ le. Đặc tính
bảo vệ có hai vùng:
- Vùng 1 : Khi mạch điện làm việc bình thờng, bội số K
i
s 1, rơ le không tác động. Khi
mạch có dòng quá tải không lớn, Ki > 1 , cầu một thời gian rơ le sẽ tác động. Mức độ quá tải
càng lớn (K
i
tăng) thời gian tác động càng giảm. Vùng 1 gọi là vùng thời gian tác động phụ
thuộc và do hệ thống cảm ứng của rơ le thực hiện .
- Vùng 2: Khi mạch có dòng quá tải rất lớn hoặc ngắn mạch, rơle tác động gần như tức
thời, thời gian tác động rất nhỏ. Vùng 2 gọi là vùng không phụ thuộc thời gian và do hệ thống
điện từ của rơ le thực hiện.
4.9. RƠLE CÔNG SUẤT
Rơ le công
suất dùng để bảo
vệ hệ thống điện
khi phương
truyền công suất
thay đổi (gọi là rơ
le công suất có
hướng) hoặc khi
công suất tăng
quá lớn vượt quá
trị số cho phép
(gọi là rơ le công
suất cực đại).
Rơ le công suất có nguyên lý cấu tạo và làm việc tương tự như Oát mét. Rơ le có cấu
tạo phần động kiểu đĩa khi cần thời gian tác động chậm (có trễ) và kiểu rô to rỗng khi cần thời
gian tác động nhanh. Hình 4.15a trình bày sơ đồ kết cấu rơ le công suất kiểu đĩa quay, gồm
một mạch từ trên có đặt cuộn dây điện áp W
u
và một mạch từ trên đó đặt cuộn dây dòng điện
W
i
. Cuộn dòng thường được chế tạo thành hai cuộn dây nhỏ giống hệt nhau, có thể thay đổi
mắc nối tiếp hoặc song song với nhau để rơ le làm việc phù hợp với dòng tải. Từ thông được
Hình 4.15a.
Hình 4.15b.

61

sinh ra do có dòng điện chạy trong các cuộn dây sẽ tạo ra mô men quay đĩa. Mô men này
được xác định theo công thức:
¢ u u = sin . . . f . k M
i u 1 q

Độ nhạy của rơ le khá cao, công suất tác động nhỏ nhất trong khoảng 0,15 đến 1,2 W.
Rơ le công suất kiểu rô to rỗng được trình bày trên hình 4.15b, gồm mạch từ 1 có bốn cực.
Trên các cực từ đạt các cuộn dây điện áp W
t
, và cuộn dây dòng điện W
i
. Rô to rỗng 2 được
làm bằng đồng hoặc nhôm dẫn điện tốt mỏng. Bên trong rô to có đặt một lõi sắt 3 đứng yên để
giảm từ trở của mạch từ. Các từ thông của cuộn áp
u
u và cuộn dòng
i
u lệch pha nhau sẽ tạo
ra mô men quay rô to:
( ) ¢ ÷ u = sin . i . u . k M
q

- k hệ số tỷ lệ
- ¢ góc lệch pha giữa điện áp u và dòng điện i;
- u góc lệch pha giữa điện áp u và dòng điện trong cuộn điện áp i
u
do tổng trở Z
u
của
cuộn điện áp xác định.
Mô men quay của rơ le có thể dương hay âm tùy theo dấu của góc ¢. Rô to quay theo
chiều kim đồng hồ được qui định là chiều dương, còn ngược lại là chiều âm. chiều quay của
rô to tùy thuộc vào hướng truyền công suất và sơ đồ mắc rơ le. Rơ le sẽ tác động khi mô men
quay thắng mô men của lò xo nhả. Rơ le cảm ứng rô to rỗng có thời gian tác động không vượt
quá 0,04 giây. Công suất tác động từ 12 W đến 18 W khi dòng điện I = 5 A.
4.10. RƠLE TẦN SỐ
Rơ le tần số dùng để kiểm tra, khống chế tần số của lưới điện. Rơ le làm việc dưới tác
dụng của hiệu số tần số và tự động ngắt tải khi tần số giảm dưới trị số cho phép (rơ le tần số
giảm) hoặc khi tần số tăng vọt quá trị số cho phép (rơle tần số tăng).
Rơ le tần số được cấu tạo trên cơ sở của rơ le công suất kiểu rô to rỗng (rơ le cảm
ứng). Hai cuộn dây của rơ le được mắc vào hai mạch điện R
1
L
1
C và R
2
L
2
.
Với điện áp U đặt vào 2 đầu AB, dòng điện trong hai nhánh sẽ bằng:
|
.
|

\
|
e
÷ e +
=
C .
1
L . J R
U
I
1 1
1




62

2 2
2
L . j R
U
I
e +
=



Góc lệch pha của dòng I
1
và I
2
so với điện áp U:

1
1
1
R
C .
1
L .
arctg
e
÷ e
= ¢

2
2
2
R
L .
arctg
e
= ¢
Khi mạch từ chưa bão hòa, dòng điện trong cuộn dây và từ thông trong khe hở không
khí trùng pha nhau mô men quay eo thể biểu thị qua công thức:
( ) e = ¢ = f sin . I . I . k M
2 1 q

Mô men này phụ thuộc vào tần số của điện áp u. Bằng cách chọn các thông số của
mạch điện R
1
, L
1
, C , R
2,
L
2
ta có thể có được các giá trị dòng điện I
1
, I
2
và góc pha ¢ sao cho
khi tần số sai lệch khỏi tần số chỉnh định thì mô men quay là lớn nhất và rơ le sẽ tác động. Độ
nhạy của rơ le càng cao khi góc ¢ càng nhỏ. Nếu góc ¢ = 90
o
, độ nhạy của rơ le, khi tần số
thay đổi sẽ nhỏ nhất, vì lúc đó góc lệch pha giữa các dòng điện ít thay đổi theo tần số. Do vậy
góc làm việc của tổng điện trở phải nằm trong khoảng 0 đến 90
o
.
Rơ le kiểm tra tần số kiểu đĩa quay có cấu tạo: cuộn dây W
1
đặt ở mạch từ trên được
đấu với điện áp U qua tụ C nối tiếp và song song với điện trở R
i
. Cuộn dây W đặt ở mạch từ
dưới và đấu nối tiếp với điện trở R để thay đổi tần số tác động. Khi tần số giảm đi, từ thông
1
u sẽ vượt trước
2
u tạo nên mô men quay đóng tiếp điểm của rơ le.
4.11. RƠLE TỪ ĐIỆN
4.11.1 Cấu tạo của rơ le từ điện
Rơ le từ điện làm việc trên guyên tắc tác dụng tương hỗ giữa dòng điện chạy qua cuộn
dây với từ trường của một nam châm vĩnh cừu, tạo ra lực (mô men quay) làm dịch chuyển
phần động của rơ le. Chuyển động của phần động rơ le phụ thuộc vào giá trị dòng điện và
chiều dòng điện trong cuộn dây. Rơle từ điện có nhạy cao nhất trong các loại rơ le điện cơ.
Công suất nhỏ nhất cần thiết để rơ le điện từ cực nhạy tác động là 10
-1
W, với rơ le phân cực
là 10
-8
W còn rơ le từ điện chỉ cần 10
-9
đến l0
-8
W. Nhờ đó rơ le từ điện được dùng nhiều
trong các dụng cụ phức tạp làm nhiệm vụ khuếch lại trung gian giữa các phần tử cảm biến cực

63

nhạy (như cảm biến nhiệt, từ...) và những phần từ chấp hành (thường là các rơ le điện từ) .
Theo kết cấu, rơ le từ điện có hai loại: phần động chuyển dịch quay (hình 4.16a) và phần động
chuyển dịch thẳng (hình 4.16b). Kiểu quay được dùng nhiều hơn chúng có kết cấu tương tự
như dụng cụ đo từ điện, chỉ khác là phần động của rơ le chỉ quay một góc nhỏ khi rơ le tác
động, đủ để đóng, mở hệ thống tiếp điểm.
Cấu tạo của rơ le từ điện gồm: nam châm vĩnh cửu 1, mạch từ 2, khung dây 3, tiếp
điểm động 4 tiếp điểm tĩnh 5 và lò xo nhả 6.
Điện áp làm việc của mạch tiếp điểm thường nhỏ, 12 V, dòng 0,1 A. Điều kiện này
đảm bảo cho khi làm việc không xuất hiện hồ quang ở tiếp điểm, ngay cả khi ngắt chậm. Lò
xo nhả thường dùng là lò xo xoắn bằng hợp kim đồng thau - kim, đồng phốt pho hoặc bạc cán
cứng. Dây lò xo này đồng thời là dây dẫn điện vào khung dây của rơ le. Nếu là dây treo thì
không cần lò xo nhả và dây treo làm nhiệm vụ như lò xo nhả đồng thời là dây dẫn điện vào
khung dây.
4.11.2. Đặc tính cơ của rơle từ điện
Góc quay làm việc của khung dây thường nhỏ khoảng 5
o
đến l0
o
lệch khỏi đường
trung gian. Dạng cực từ có kết cấu để cho từ trường tương đối đầu trong vùng làm việc. Khi
rơle làm việc khung dây chịu tác động của các loại mô men sau:
- Mô men quay xác định theo công thức:
Hình 4.16.

64

9810
R . W . l . I . B 2
M
d
= (G.cm)
Với rơ le có kết cấu đã xác định: B, 1, W, R là không đổi nên có thể viết:
M
đ
= k.I
Có nghĩa là mô men quay tỷ lệ với dòng điện qua khung dây và mô men không đổi
nếu từ trường đều. Khi dòng điện đổi chiều, mô men cũng đổi chiều nên khung dây quay theo
chiều ngược lại. Do vậy rơ le từ điện chỉ làm việc với tín hiệu vào là dòng một chiều.
Trong công thức trên:
B là mật độ từ thông của khe hở không khí làm việc o (Wb/cm
2
);
I là dòng điện trong khung dây (A) ,
W là số vòng dây của khung dây rơ le;
1 là chiều dài làm việc của khung dây (cm) ;
R là bán kính của khung (hình 4.16);
- Mô men phản lực của lò xo nhả:
o = . C M
lx
(G.cm)
trong đó: C là độ cứng của lò xo (G.cm/độ), o là góc quay của khung.
- Mômen ma sát khi khung quay trên trục, nếu quay trên dây treo có thể coi như không
có mômen ma sát
2 / 3 m
ms
G .
P
K
332 , 0 M = (G.cm)
trong đó: K
m
là hệ số ma sát; P là trọng lượng phần động (G); P là áp suất trung bình trên gối
đỡ ( G/cm
2
) .
Như vậy phương trình cân bằng mômen của khung dây có thể viết như
M
đ
= M
lx
± M
ms

KI = C.o ± M
ms

Suy ra I

= C.o + M
ms

I
nh
= C.o - M
ms

I

là dòng tác động của rơle; I
nh
là dòng nhả của rơle.

65

Hệ số nhả của rơle bằng:
ms
ms
nh
M . C
M . C
K
+ o
÷ o
=
vì có ma sát nên hệ số nhả K
nh
< 1. Nếu khung dây mắc trên dây treo hệ số nhả thực tế
có thể coi như K
nh
= 1.

66

4.12. RƠLE NHIỆT
4.12.1 Khái niệm chung
Rơle nhiệt là loại rơ le có đại lượng tác động đầu vào là nhiệt độ, đại lượng đầu ra là
sự thay đổi các thông số điện hay trạng thái đóng, mở tiếp điểm của rơle, Vì vậy, cấu tạo, rơle
nhiệt gồm có: Bộ phận nhạy cảm với nhiệt độ (cảm biến) ở đầu vào, bộ phận so sánh hệ thống
tiếp điểm ở đầu ra và bộ phận điều chỉnh các thông số làm việc của rơle.
Tùy theo nguyên lý làm việc của bộ phận cảm biến nhiệt độ, ta có các loại rơle nhiệt
với các đặc tính kỹ thuật và phạm vi ứng dụng khác nhau. Các kiểu cảm biến nhiệt độ hay
dùng trong rơle nhiệt:
- Kiểu kim loại kép (bimetal, lưỡng kim) dựa trên tính chất dãn nở kích thước do nhiệt
độ của kim loại.
- Kiểu khí nén dựa trên tính chất thể tính, áp suất chất khí thay đổi khi nhiệt độ của
chúng thay đổi.
- Kiểu nhiệt ngẫu dựa trên tính chất xuất hiện một sức điện động khi có sự chênh
nhiệt. độ ở hai đầu nhiệt ngẫu (tức cặp nhiệt gồm hai kim loại khác nhau nối tiếp xúc với
nhau).
- Kiểu điện trở nhiệt dựa trên tính chất điện trở của vật liệu thay đổi theo nhiệt độ.
Theo kiểu cảm biến được sử dụng trong rơle, rơle nhiệt có tên gọi tương ứng. Ví dụ
rơle nhiệt kim loại kép, rơ le nhiệt khí nén v.v...
4.12.2. Rơle nhiệt kim loại kép

Nguyên lý làm việc của rơ le nhiệt kiểu kim loại kép như sau: Hai thanh bằng hai kim
loại khác nhau, có cùng kích thước tiết diện ngang và cùng chiều dài l
1
, nhưng có hệ số dãn
nở dài do nhiệt o khác nhau, giả sử o
1
> o
2
. Nếu thanh 1 và thanh 2 dùng được đốt nóng từ
nhiệt độ t
1
lên nhiệt độ t
2
chiều dài hai thanh sẽ tăng lên đến :
l
1
= l
0
(1 +o
1
.At)
và l
2
= l
0
(1 +o
2
At)
trong đó l
0
là chiều dài hai thanh ở nhiệt độ ban đầu t
1
;
l
1
, l
2
là chiều dài hai thanh ở nhiệt độ t
2

At là độ tăng nhiệt:

67

At = t
1
–t
2

Như vậy chiều dài mỗi thanh tăng thêm là:
Al
1
= l
1
– l
0
=l
0
(o
1
At) = l
0
o
1
t
Al
2
= l
2
– l
0
=l
0
(o
2
At) = l
0
o
2
t
Vi o
1
> o
2
nên Al
1
> Al
2
lúc này hai thanh vẫn ở trạng thái thẳng.
Trong tưrờng hợp hai thanh được hàn hoặc cán dính với nhau, tạo thành thanh (tấm)
kim loại kép thì khi tăng nhiệt độ, vì thanh 1 dãn dài hơn thanh 2 nên làm thanh kim loại kép
vừa dãn dài vừa cong vê phía thanh 2 (thanh có hệ số dãn nở dài o nhỏ ). Nếu gắn cố định
một
đầu thanh kim loai kép, thì đầu kia cong đi một đoạn x lớn nhất là:
( )
o
t
o ÷ o =
2
0
2 1 max
I
4
3
x
o chiều dày của tấm kim loại kép.
Đầu cong sẽ tạo ra lực F bằng:
|
.
|

\
|
t
o
o ÷ o = . E
l
, b
16
3
F
2
2 1

trong đó b là chiều rộng của tấm kim loại kép.

2
E E
E
2 1
+
= là mô đun đàn hồi trung bình của tấm kim loại kép. .
E
1
, E
2
là môđun đàn hồi của tấm kim loại 1 và kim loại 2.
Người ta sử dụng hiện tượng dịch chuyển và tạo lực ra ở 2 đầu cong (đầu tự do) của
tấm kim loại kép để thực hiện việc đống ngắt tiếp điểm trong mạch điện. Như vậy là đã có
được rơ le nhiệt kim loại kép. Theo công thức trên thấy rằng độ dịch chuyển x và lực F càng
lớn khi hiệu số o
1
- o
2
càng lớn. Cho nên, để chế tạo tấm kim loại kép, người ta hay dùng vật
liệu invar có hệ số o nhỏ) làm thanh 2 và thép phi từ tính hoặc thép (crôm niken có hệ số o
lớn) làm thanh 1.
Có các phương pháp cấp nhiệt để tăng nhiệt độ cho tấm kim loại kép tác động:
1. Dùng ngay các đối tượng cần đo, cần khống chế và ổn định nhiệt độ đang ở nhiệt độ
cao làm nguồn nhiệt để cấp nhiệt cho tấm kim loại kép. Khi nóng đến nhiệt độ tác động đã đạt

68

trước thì rơ le nhiệt tác động. Loại rơ le này hay dùng để khống chế, ổn định nhiệt độ làm
việc của các thiết bị nhiệt như: lò sấy, bình đun nước nóng, bàn là và các thiết bị nhiệt công
nghiệp và gia đình khác. Để rơ le tác dộng chính xác, tin cậy, rơle nhất là bộ phận kim loại
kép phải được đặt tiếp xúc tốt với bộ phận nhiệt cần khống chế. Rơle nhiệt loại này thường
làm việc có tự trở về. Có nghĩa là sau khi rơ le tác động ngắt tiếp điểm, ngắt mạch công suất.
gia nhiệt nhiệt độ thiết bị nhiệt giảm xuống đến nhiệt độ đóng t
đ
, rơ le tự đóng tiếp điểm trở
lại, đóng mạch gia nhiệt Nhiệt độ thiết bị nhiệt được tự động duy trì ở quanh giá trị nhiệt độ
làm việc t
lv
đã đặt trước.
Nếu rơle làm chức năng bảo vệ thiết bị nhiệt, thì rơle tác động khi nhiệt độ tăng đến
giá trị cao nhất (cho phép của thiết bị . Sau khi tác động ngắt mạch, rơ le không tự trở về
Muốn đưa rơle về trạng thái làm việc bình thường (đóng mạch), người ta sử dụng phải tác
động vào nút phục hồi giải trừ) sau khi đã tìm rõ nguyên nhân và khắc phục xong bảo đảm an
toàn cho t hiết bị.
2. Dùng hiệu ứng nhiệt hay tổn hao nhiệt trên vật dẫn khi có dòng diện chạy qua vật
dẫn đó làm nguồn nhiệt đốt nóng thanh kim loại kép. Nhiệt lượng tỏa ra Q trên vật dẫn có
điện trở R khi có dòng điện I chạy qua trong thời
gian t được xác định theo công thức:
Q = 0,24I
2
.R.t.
Nhiệt lượng Q đốt nóng thanh kim loại kép
đến nhiệt độ tác động t

thì rơle sẽ tác động. Nhiệt
lượng phụ thuộc vào dòng điện tải I
2
và thời gian
dòng tải đi qua t. Với một phần tử đốt nóng có điện
trở đã định R, nếu dòng điện tải càng lớn thì thời
gian tác động sẽ giảm và ngược lại, quan hệ giứa
dòng điện và thời gian tác động là tỷ lệ nghịch được
biểu diễn bằng đường đặc tính dòng điện theo thời
gian I(t) hoặc còn gọi là đặc tính “ampe - giây" là đặc tính quan trọng nhất của rơle nhiệt kim
loại kép (hình 4.17).
Thường để thuận tiện cho việc so sánh giữa các loại rơle nhiệt dòng điện được biểu thị
ở đơn vị tương đối K
i
=I/I
đm
và đặc tính là quan hệ t = f( K
i
). Theo đặc tính I(t) trên hình 4.17.
ta thấy rằng:
Hình 4.17.

69

-Dòng điện định mức của rơle I
đm
ứng với K
i
= 1, là dòng qua rơle trong thời gian dài
vô hạn mà không làm rơle tác động trong điều kiện nhiệt độ môi trường không đổi.
- Khi đó dòng quá tải (K
i
> 1 ) sau một thời gian tương ứng rơle sẽ tác động quá tải
càng nhiều ( K
i
tăng) thì thời gian tác động t càng nhanh.
- Khi quá tải nặng hoặc ngắn mạch (K
i
> 8) dòng điện tăng rất nhanh và lớn quá trình
đốt nóng tấm kim loại kép là đoạn nhiệt, nhiệt độ tấm kim loại kép tăng nhanh nếu thời gian
tác động rất nhanh gần như tức thời. Lúc này rơle làm việc không ổn định, không tin cậy và
tấm kim loại kép bị quá nhiệt (nhiệt độ tăng quá cao), độ bền cơ và độ đàn hồi bị suy
giảm,đặc tính làm việc bị thay đổi. Đôi khi, phân tử đốt nóng bị cháy hỏng do dòng ngắn
mạch trước khi rơle nhiệl tác động.
Vì vậy, chỉ nên dùng rơle nhiệt kiểu đốt nóng bằng dòng điện để dùng bảo vệ các thiết
bị điện (như động cơ điện) trong chức năng bảo vệ quá tải, còn bảo vệ ngán mạch thì dùng
rơle dòng điện kiểu điện từ. Thông thường rơ1e được điều chỉnh ở chế độ không tự phục hồi
và được lắp kèm với công tắc tơ để tạo thành khởi động từ, là loại thiết bị dùng rộng răi trong
điều khiển đóng ngắt động cơ điện hoặc làm phần tử bảo vệ quá tải trong aptômát.
Trong các rơle nhiệt kim loại kép, có thể thực hiện đốt nóng tấm kim loại kép bằng
cách sau:
- Đốt nóng trực tiếp: Cho dòng điện tải trực tiếp chạy qua tấm kim loại kép để đốt
nóng. Cách này đơn giản, điều chỉnh thông số làm việc của rơ le khó khăn. Khi thay đổi công
suất thiết bị cần được bảo vệ phải thay tấm lim loại khác cho phù hợp rồi hiệu chỉnh lại. Điều
này dẫn đến việc chế tạo tấm kim loại kép khó khăn vì phải làm rất nhiều khuôn dập các tấm
kim loại kép kính thước khác nhau ứng với dòng điện khác nhau.
- Đốt nóng gián tiếp: tấm kim loại kép được đốt nóng nhờ một phần tử đốt nóng riêng
biệt (thường làm bằng dây điện trở gia nhiệt tiệt diện tròn hoặc dẹt) đặt gần cạnh tấm kim loại
kép. Cùng một tấm kim loại kép, nếu thay đổi dòng điện định mức của rơle chỉ cần thay đổi
phần tử đốt nóng, không phải thay tấm kim loại kép, rất thuận tiện cho công nghệ chế tạo rơle
nhiệt.
- Đốt nóng hỗn hợp: là kết hợp cả hai cách đốt nóng trực tiếp và gián tiếp. Tấm kim
loại kép được đốt nóng do chính dòng điện qua nó gây ra (trực tiếp) và do phần tử dây điện
trở đốt nóng đặt cạnh hoạc quấn trên tấm kim loại kép gián tiếp, ưu điểm của loại này là hằng
số thời gian đốt nóng tương đối lớn (30 phút) và có đặc tuyến (ampe- giây). I(s) gần với đặc

70

tính quá tải theo thời gian của động cơ điện cần bảo vệ hiện nay, phần lớn rơ le nhiệt được chế
tạo theo loại này.
Trong trường hợp dòng tải lớn có thể mắc thêm điện trở phụ song song với phần tử đốt
nóng R có dòng nhỏ phù hợp với dòng làm việc của rơle.
Để dùng rơ le nhiệt bảo vệ thiết bị được hiệu quả và khai thác tốt khả năng chịu quá
tải của thiết bị được bảo vệ (ví dụ động cơ điện) cần chú ý:
- Chọn dòng định mức của rơle bằng dòng định mức của động cơ.
ở hệ số tải K
i
=I
tải
/I
đm
= 1,2÷ :1,3 thời gian tác động của rơle t

bằng 20 phút.
- Với động cơ công suất nhỏ và trung bình, có điều kiện khởi động nặng, bội số
dòng khởi động lớn, thời gian khởi động tương đối dài, yêu cầu ở K
i
= 8 có t

(1÷
5) giây.
- Với mạch động lực có bội số dòng không cao, thời gian khởi động ngắn, thường
chọn K
i
= 2,5 và t

= (3 ÷ 20) giây.
- Đường đặc tính bảo vệ I(t) của rơ le phải ở dưới và có dạng cong gần với đặc tính
quá tải I
t
( t) của động cơ như hình 8-52. Khi có quá tải, rơ le tác động trước khi
động cơ bị cháy
- Hiệu chỉnh rơ le ở nhiệt độ môi trường giống nhiệt độ môi trường làm việc của rơ
le, vì đặc tính làm việc của rơ le phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường.
- Rơ le lắp đặt trên các thiết bị rung động, va đập, chuyển động dễ bị tác động sai
lệch . Nhiệt độ tác động của rơ le từ 90
o
đến 150
o
C.
4.13. RƠ LE THỜI GIAN
4.13.1. Khái niệm chung
Trong tự động điều khiển, bảo vệ thường gặp những trường hợp cần có một khoảng
thời gian giữa những thời điểm tác động của hai hay nhiều thiết bị, hoặc trong tự động hoá các
quá trình sản xuất, nhiều khi phải tiến hành những thao tác kế tiếp nhau cách nhau những
khoảng thời gian xác định. Để tạo nên những khoảng thời gian cần thiết đó, người ta dùng rơ
le thời gian. Như vậy, có thể định nghĩa rơle thời gian là rơle đặc tính: Khi có tín hiệu đầu vào
rơle thì sau một khoảng thời gian xác định, rơle mới phát tín hiệu ở đầu ra (còn gọi là rơle trễ
hay bộ trễ).
Những yêu cầu chung đối với rơle thời gian bao gồm:

71

a). Khả năng duy trì thời gian ổn định, chính xác, tin cậy không phụ thuộc cào dao
động của điện áp nguồn cung cấp, tần số, nhiệt độ và các điều kiện môi trường (nhiệt độ, độ
ẩm, độ rung...).
b). Công mất ngắt của tiếp điểm đủ lớn;
c). Công suất tiêu thụ nhỏ;
d). Kết cấu, sử dụng đơn giản.
Hầu như ở tất cả các loại rơle trở về trạng thái đầu khi tín hiệu điện đưa vào bằng 0, do
đó không yêu cầu hệ số nhả cao. Trong các sơ đồ tự động điều khiển, nhiều khi có tần số thao
tác cao nên yêu cầu độ bền cơ và chống mài mòn cao từ 5 đến 10.10
6
lần thao tác. Thời gian
tạo trễ chậm từ 0, giây trở lên, có thể tới hàng giờ và lâu hơn nữa. Các rơ le thời gian điện tử
còn cho phép hẹn giờ, nhớ hoặc lập trình.
Cấu trúc chung của rơle thời gian gồm có các bộ phận chính sau :
- Bộ phận động lực: Có chức năng nhận tín hiệu vào là năng lượng điện, biến đổi
thành năng lượng thích hợp cho bộ phận tạo thời gian hoạt động. Bộ phận động lực có thể là
nam châm điện, động cơ điện, bộ biến đổi điện: biến áp, chỉnh lưu...
-Bộ tạo thời gian: Có chức năng kéo dài thời gian trễ của rơ le. Bộ phận này làm việc
theo nhiều nguyên lý khác nhau như: điện từ, cơ khí, khí nén, thủy lực, điện tử v.v... Căn cứ
vào độ tạo thời gian trễ mà có tên rơ le tương ứng. Ví dụ rơ le thời gian điện từ, rơle thời gian
thủy lực, rơle thời gian điện từ v.v...
- Bộ phận đầu ra: Rơ le phát tín hiệu ra bằng sự thay đổi trạng thái đóng, mở các tiếp
điểm. Ngoài ra rơle còn có các bộ phận điều chỉnh thời gian tác động (thời gian trễ) của rơle
và bộ phận hiện thị thời gian ở dạng kim chỉ hoặc dạng ký hiệu rơ le thời gian trong sơ đồ
mạch điện như ở hình.
4.13.2 Phân loại rơle thời gian
1. Rơle thời gian điện từ: Bộ phận duy trì thời gian của rơ le làm việc theo nguyên lý
điện từ, trên cơ sở sử dụng dòng điện cảm ứng xuất hiện trong ống dẫn điện trụ rỗng khi từ
thông chính trong cuộn dây sinh ra trong mạch từ biến thiên theo định luật Lenxơ, dòng điện
cảm ứng này có chiều sao cho từ thông của nó sinh ra chống lại sự biến thiên tăng hay giảm)
của từ thông chính) . Do vậy, tốc độ tăng hay giảm của từ thông chính khi cuộn dây được
đóng hay ngắt điện sẽ chậm đi. Có nghĩa thời gian tác động và thời gian nhả của rơ le được
tăng lên.

72

2. Rơle thời gian điện tử:
Rơle thời gian điện tử là các rơle thời gian có cấu tạo và làm việc dựa trên các linh
kiện điện tử như: đèn điện từ chân không, tranzistor, điốt, thyristor, mạch tổ hợp IC...









Hình 4.18 trình bày nguyên lý làm việc của một rơ le thời gian dùng đèn điện tử và
nguồn điện một chiều kiểu đơn giản nhất. Khi đóng khóa K, tụ điện C được nạp điện áp U
0

với cực tính âm. Vì điện áp U
0
lớn hơn điện áp phóng
p
U của đèn ba cực, nên lúc này đèn bị
khóa. Trong mạch anôt không có dòng điện, rơ le ở trạng thái nhả. Khi mở khóa K, tụ điện C
bắt đầu phóng điện qua điện trở R. Điện áp U
0
từ từ giảm theo hàm mũ tắt dàn. Điện thế lưới
của đèn trở nên dương. Sau một thời gian khi điện thế này đạt đến giá trị điện áp lưới tác
động, thì đèn chuyển bằng chế độ mở. Dòng điện trong mạch anốt tăng lên, làm rơ le điện từ
tác động, tiếp điểm đầu ra của rơ le được đóng. Ta nói rơ le thời gian đã tác động (chế độ
đóng chậm).
Thời gian tác động của rơ le phụ thuộc trào hằng số thời gian (quán tính điện) của
mạch RC:
td
0
td
U
U
ln . RC t =
trong đó : t

- thời gian tác động của rơ le;
U
0
- điện áp nguồn điều khiển;
U

- điện áp lưới đèn khi rơ le tác động.
Nếu R và C có trị số lớn, thời gian chậm sẽ tăng. Loại rơ le này có thời gian chậm (trễ)
đến vài phút . Khi thời gian chậm càng lớn, độ chính xác của rơ le càng giảm. Điều chỉnh thời
gian chậm bằng cách thay đổi trị số của điện trở R.
Hình 4.18.

73

2). Rơ le thời gian bán dẫn
Thay đèn điện từ bằng tranzistor bán dẫn, ta được một rơ le thời gian tranzistor như ở
hình 4.19. Rơ le dùng cho điện một chiều. Thực chất, đó là một bộ khuếch đại hai tầng làm
việc ở trạng thái rơle. Đầu vào của T
1
, nối với tụ hóa C. Khi khóa K đóng, tụ C được nạp đến
điện áp nguồn E.
Cực gốc của T
2
được nối
với cực góp của T
1
qua
điện trở R
3
. Chế độ làm
việc của mạch được
chọn sao cho khi khóa
K đóng thì rơ le điện từ
R ở trạng thái nhả.

Khi có tín hiệu
điều khiển, khóa K mở, tụ C bắt đầu phóng điện qua điện trở R
2
và cực phát của T
1
. Do đó
điện thế điểm A tăng dần, làm cho dòng điện đi qua cực phát của T
2
tăng. Sau một thời gian
xác đinh, tùy thuộc vào trị số của C và R
2
, dòng điện này đạt đến trị số tác động, rơ le điện từ
R đóng, tiếp điểm đầu ra của rơ le đóng. Điện trở R
4
dùng để thay đổi dòng tác động của rơ le
điện từ. Loại rơ le này có thời gian chậm đến vài phút. Ưu điểm chính là có tuổi thọ cao, công
suất điện tiêu thụ ít, nhưng đặc tính thời gian chịu ảnh hưởng của dao động điện áp nguồn và
nhiệt độ môi trường.
Vì vậy để nâng cao độ chính xác thời gian của rơ le, trong các rơ le trên mạch cực phát
phải có thêm các phần mạch phụ trợ khác như: mạch ổn định điện áp làm việc, mạch bù
nhiệt... Rơle điện từ R được dùng với mục đích cách ly về điện giữa mạch của rơle và mạch
phía sau và tăng dòng điện ra của rơle,vì tiếp điểm của rơle điện từ cho phép đóng ngắt dòng
lên đến 5A trong khi dòng mạch cực phát T
2
rất nhỏ, cỡ vài phần trăm ampe.
Với rơ le dùng điện xoay chiều, trong rơ le còn có phần mạch chỉnh lưu và mạch lọc
điện áp nguồn. Hai loại rơ le thời gian điện tử và bán dẫn đều tạo thời gian trễ trên cơ sở sử
dụng quá trình phóng điện của tụ trong mạch điện qua điện trở. Hạn chế của chúng là khoảng
thời gian trễ nhỏ, phụ thuộc vào dao động điện áp nguồn và nhiệt độ. Độ chính xác không
cao.
3.) Rơle thời gian vi mạch (IC)
Hình 4.19. Rơle thời gian bán dẫn

74

Với rơ le loại này, người ta có thể tạo ra các loại rơ le thời gian có dải thời gian làm
việc rất rộng, từ 0,001 giây đến 9999 giờ, độ chính xác và độ tin cậy cao, nhiều tính năng làm
việc. Đáp ứng được yêu cầu của các bài toán tự động điều khiển có nội dung phức tạp, khối l-
ượng thông tin cấu tạo chung của rơ le thời gian vi mạch gồm các bộ phận chức năng chủ yếu
như ở hình 4.20 .
a). Bộ phận tạo thời gian: Ở đây là các phần mạch dao động, tạo ra các xung có tần số
ổn định không đổi. Thông thường, tần số dao động này rất lớn, từ vài trăm kKz trở lên. Nên
tần số được làm giảm phù hợp với đặc tính thời gian làm việc của rơ le qua các phần mạch
chia tần số. Trong một số loại rơ le thời gian dùng nguồn xoay chiều lưới điện quốc gia, người
ta dùng tần số nguồn làm xung thời gian chuẩn, mỗi xung ứng với 0,01 giây ở tần số 50 Hz.
b). Bộ phận đếm xung: Bộ phận này đếm các xung xuất hiện từ thời điểm rơ le làm
việc (có tín hiệu điều khiển ở đầu vào) đến thời điểm rơ le tác động. Số xung đếm được sẽ cho
thời gian trễ cần thiết. Kết quả đếm có thể đưa ra ở dạng tương tự hoặc số.
c). Bộ phận so sánh : So sánh kết quả đếm xung với mức chuẩn thời gian đạt (chỉnh
định) trước Thời gian chỉnh định ban đầu cũng có thể ở dạng tương tự hoặc dạng số.
Nếu các đại lượng làm việc của rơ le được xử lý ở dạng tương tự, ta có rơ le kỹ thuật
tương tự. Khi được xử lý ở dạng số, ta có rơ le kỹ thuật số. Khi kết quả đếm bằng hoặc giống
số liẹu chỉnh định thì bộ so sánh cho tín hiệu ra, dẫn đến rơle tác động.
d). Bộ phận nguồn cung cấp: Bộ phận này có chức năng biến đổi điện áp nguồn cấp
cho rơ le, điện một chiều hoặc xoay chiều, thường là 24 V, 110 V, 220 V... thành các mức
điện áp thấp một chiều, có cực tính, phù hợp với điện áp làm việc của các linh kiện vi mạch
trong rơ le: 12V, 8 V, 5 V...
Hình 4.20. Sơ đồ khối chức năng rơle thời gian vi mạch

75

e). Bộ phân đầu ra: Bộ phận đầu ra có nhiệm vụ ghép nối và chuyển tín hiệu tác động
của rơ le đến các thiết bị phía sau rơ le, bộ phận ra thường là các rơ le điện từ công suất nhỏ
(hoặc các tranzistor công suất) . Khi có tín hiệu tác động từ bộ phận so sánh truyền đến, rơ le
điện từ sẽ tác động, các tiếp điểm của chúng chuyển trạng thái từ mở sang đóng hoặc ngược
lại. Các tiếp điểm này có dòng làm việc định mức đến 5 A và điện áp làm việc định mức 220
V. Mặt khác, rơ le điện từ còn cho phép cách ly về điện giữa hai phần mạch điện trước và sau
rơ le.
Thông thường, mỗi rơ le thời gian được lắp hai cặp tiếp điểm, trong đó một cặp (gồm
(một tiếp điểm thường đóng và một tiếp điểm thường mở) tác động tức thời và một cặp tác
động có thời gian trễ, tạo điều kiện thuận tiện trong sử dụng.
f). Bộ phận chỉnh định Bộ phận chỉnh định là các núm xoay trơn liên tục như ở rơ le
kỹ thuật hoặc các nút ấn, phím gạt nhỏ, núm xoay từng bước (như ở rơ le kỹ thuật số) dùng để
chỉnh định (đặt trước) các thông số thời gian trễ làm của rơ le hoặc phức tạp hơn, như trong
các rơ le lập trình được, các núm này dùng để chọn (đặt) chức năng làm việc, thay đổi dải thời
gian, đơn vị thời gian, hẹn giờ, đạt chương trình làu việc cho rơ le và chỉnh về 0...
g). Bộ phận chỉ thị (hiển thị)
Bộ phận này chỉ thị cho người sử dụng biết rõ các thông số chỉnh định, thông số làm
việc hiện thời (hiện tại), chức năng làm việc... của rơle. Tín hiệu hiển thị thường được thể
hiện ở dạng chữ số, chữ cái, hình mã hóa trên bản in, bảng đèn LED hoặc trên màn hìn tinh
thể lỏng LCD, cùng với các đèn tín hiệu LED sáng hoặc nhấp nháy theo một qui luật (mã hóa)
nào đó.
Trong các bộ phận trên, bộ phận chỉnh định và bộ phận chỉ thị là hai bộ phận chính
thực hiện việc "giao tiếp" trực tiếp giữa người sử dụng và rơle.
4.14. RƠLE KỸ THUẬT SỐ
4.14.1. Khái niệm chung
Rơ le kỹ thuật số, nói gọn là rơ le số, là loại rơ le trong đó việc xử lý các lượng tín
hiệu làm việc trên các bộ phận chức năng của rơ le được thực hiện theo kỹ thuật số (Digital
hoặc Numeric) hay kỹ thuật logic. Về cấu tạo rơle số được xây dựng từ các linh kiện bán dẫn,
chủ yếu là các vi mạch số, mạch logic), nên đôi khi còn gọi là rơ le bán dẫn (solid statar) kỹ
thuật.
Người ta đã tạo ra được những rơ le số có các tính năng làm việc ngày càng đa dạng
và phức tạp hơn, với các ưu điểm vợt trội so với các rơ le kiểu khác như rơ le điện cơ (điện từ,

76

từ điện, cảm ứng, điện động, phân cực...) rơ le nhiệt, rơ le bán dẫn tương tự. Cho nên, rơ le số
được sử dụng ngày càng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học, trong các ngành sản xuất. Nó là
thành quả tiến bộ khoa học kỹ thuật tổng hợp của các ngành công nghệ vật liệu kỹ thuật điện,
điện từ, toán điều khiển, tin học.
4.14.2. Phân loại rơ le số
Theo chức năng sử dụng: có rơ le bảo vệ và rơ le điều khiển. Theo khả năng xử lý
thông tin: có rơ le không có bộ vi xử lý và rơ le có bộ vi xử lý.
Theo số lượng đại lượng đầu vào có :
- Rơ le một đại lượng: ví dụ rơ le dòng, rơ le áp, rơ le nhiệt độ. - Rơ le hai đại lương:
ví dụ rơ le công suất, rơ le hệ số công suất (cos¢ ) có đại lượng vào là dòng và áp...
Theo loại điện sử dụng: có rơ le điện một chiều, rơ le điện xoay chiều. Rơ le số thuộc
loại rơ le tĩnh (static) theo nghĩa: trong cấu tạo và hoạt động của rơ le, không có phần từ
chuyển động như trong các loại rơ le điện cơ. Nhưng cũng chỉ là tương đối, trong thực tế có
nhiều rơ le số có phần tử đầu ra là các rơ le điện từ công suất nhỏ nhưng vẫn gọi là rơ le tĩnh.
Mặt khác, rơ le số được hiểu rộng ra là thiết bị có tín hiệu ra thay đổi theo đường đặc
tính rơ le: tăng hoặc giảm đột ngột từ từ giá trị cực tiểu đến giá trị cực đại, từ mức logic 0 đến
mức logic l và ngược lại. Cho nên mặc dù rơ le số được tổ hợp từ nhiều phần tử rơ le (phần tử
logic) đơn giản có hàm truyền logic y = x hoặc y = x , để có khả năng xử lý tín hiệu theo các
hàm logic phức tạp, nhưng vẫn được xem như là một rơ le. Người ta không chế tạo rơ le số ở
dạng một phân tử rơ le đơn giản như rơ le điện cơ.
4.14.3. Ưu điểm của rơle số
Rơ le số có độ tin cậy cao do:
- Rơ le số làm việc và xừ lý tín hiệu theo kỹ thuật số. Các tín hiệu này chỉ ở một trong
hai mức cực đại hoặc cực tiểu khác biệt nhau (không có các giá trị trung gian và liên tục như
tín hiệu tương tự). Nên hạn chế được ảnh hưởng của các tín hiệu nhiễu đến nội dung thông tin
và kết quả ra của rơ le.
- Cấu tạo của rơ le chủ yếu là các vi mạch bán dẫn và các linh kiện điện tử làm việc
với điện áp thấp từ 5 đến 12 V), dòng điện nhỏ ( cỡ đến hàng chục miliampe nên công suất
tiêu thụ dưới dạng nhiệt trên chúng rất nhỏ, dẫn đến nhiệt độ làm việc của rơ le không cao, ít
ảnh hưởng đến thông số và đặc tính làm việc của các linh kiện và của rơle.

77

- Rơ le số không có các bộ phận chuyển động cơ học nh trong rơle điện cơ nắp từ, lò
xo, tiếp điểm động) nên không bị ảnh hưởng do sự trục trặc, yếu kém của các bộ phận này gây
ra khi chúng bị mòn, bẩn, rỉ, biến dạng, gãy, vỡ...
Rơle số có độ nhạy, độ chính xác cao. Có thể điều chỉnh đạt thông số làm việc của rơ
le sát với khả năng làm việc của thiết bị được bảo vệ. Ví dụ trong bảo vệ quá tải dòng cho
động cơ điện, có thể đặt được các giá trị dòng và thời gian tác động của rơ le chính xác để đặc
tính bảo vệ I(t) có độ dốc phù hợp với độ dốc đường đặc tính quá tải I(t) của động cơ, đảm
bảo việc khai thác sử dụng và bảo vệ động cơ được tốt.
Các vi mạch logic trong rơ le bao gồm rất nhiều phần từ rơ le đơn giản, nên rơ le số có
khả nang lập trình, cho phép thay đổi thông số làm việc và tạo ra nhiều chức năng làm việc có
tính linh hoạt cao trong sử dụng. Thời gian lập trình, hiệu chỉnh ngắn, chỉ thực hiện qua các
phím ấn, gạt. Không cần các dây nối giữa các rơ le phần tử với nhau như dùng rơ le điện cơ.
Thời gian tác động nhanh do rơ le số không cồ phần động, không có quán tính cơ, quán tính
điện nhỏ. Kích thước, trọng lợng và không gian lặp đạt nhỏ. Các thông số làm việc được hiển
thị rõ ràng, đầy đủ, có khả năng tự kiểm tra bản thân thiết bi. Có chức năng ghi nhớ, lưu trữ
các số liệu và tình trạng hoạt động của thiết bị công tác, thuận tiện cho người sử dụng trong
vận hành, quản lý, sửa chữa thiết bị. Có khả năng kết nối với máy tính sử dụng các chương
trình phần mền, giúp cho rơ le số có các chức năng và đặc tính làm việc phức tạp, đa dạng đáp
ứng nhu cầu phát triển ngày một hiện đại của các quá trình công nghệ sản xuất mới .
4.14.4. Nhược điểm của rơle số
Yêu cầu người vận hành, sửa chửa có trình độ cao. Giá thành cao, đầu tư lớn. Chỉ một
linh kiện hoặc bộ phận nào đó của rơ le bị hư hỏng cũng làm cho rơ le không làm việc được,
gây ngưng trệ, tác hại đến cả hệ thống máy móc công tác. Khó có thể sửa chửa khắc phục
nhanh chóng. Nên phải có thiết bị dự phòng cao hơn các rơ le điện cơ.
Phụ thuộc nhiều vào bên cung cấp hàng trong sửa chữa, nâng cấp thiết bị. Chất lượng
làm việc chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường lắp đạt, nhất là nhiệt độ, độ ẩm. Ở điều kiện
Việt Nam, nhiều khi phải trang bị máy điều hòa không khí cho phòng đặt thiết bị có sử dụng
các linh kiên bán dẫn, vi mạch như: Rơ le số, máy tính, máy móc công nghệ... thì các thiết bị
này mới làm việc được ổn định và chính xác.
Dòng điện tải đầu ra của rơ le số có bộ phận đầu ra bằng dụng cụ bán dẫn (transistor)
còn nhỏ, (khoảng 300 mA) ứng với điện áp làm việc 24V DC. Để tăng dòng tải này, người ta
sử dụng bộ phận đầu ra bằng rơle điện từ, có dòng tải từ 2 A đến 10 A, điện áp làm việc tới
250 V AC .

78

Đồng thời rơ le điên từ còn cho phép cách ly về điện giữa rơ le số và phần mạch tải
sau rơ le. Tuy rơ le số còn có một số nhược điểm trên, nhng về cơ bản, chúng có nhiều ưu
điểm vượt trội mà các kiểu rơ le khác không thể có. Vì thế, rơ le kỹ thuật số được xem như
thế hệ rơ le mới, và được sử dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học, công
nghệ và đời sống.
4.14.5. Các khối cấu tạo của rơle số
Sơ đồ khối rơ le số gồm các bộ phận chức năng như ở hình 4-17.
1. Khối đầu vào: Khối đầu vào gồm có đầu vào số: nhận tín hiệu số từ các rơ le phía
trước đưa tới đầu vào tương tự, nhận tín hiệu tương tự từ các phần từ đo lường, kiểm tra thông
số trạng thái của đối tượng được điều khiển hoặc bảo vệ các đại lượng này được biến đổi (lọc,
khuếch đại) phù hợp với đầu vào của bộ phận chuyển đổi tín hiệu từ tương tự thành số
(chuyển đổi AD)
2. Khối vi xử lý: Khối vi xử lý ghi nhớ nội dung các thông số, chức năng (modul),
chương trình làm việc của rơle được đặt vào ban đầu. Thực hiện các tính toán logic, so sánh
tín hiệu vào với nội dung đã được nhớ. Khi kết quả đạt đến ngưỡng đã định, sẽ phát tín hiệu
trên đầu ra rơ le và hiển thị nội dung trên khối giao diện. Bộ vi xử lý được trang bị các phần
tử tính toán logic cơ bản như: AND, OR, NOT, NAND, NOR, XOR, các hàm đặc biệt như :
ON- DELAY (đóng trễ) OFF- DELAY (ngắt trễ), đếm, chốt, phát xung nhịp v.v. và các bộ
nhớ ROM, RAM, EPROM... Số lượng các phần tử càng nhiều, năng lực làm việc chức năng,
miền thông số...) của rơ le càng lớn . Năng lực làm việc này thường được mô đun hóa theo
phạm vi sử dụng rơ le (ví dụ : Rơle bảo vệ hệ thống điện, bảo vệ thiết bị điện: động cơ điện,
máy phát điện. Rơ le điều khiển quá trình công nghệ).
Hình 4.21.

79

3. Khối đầu ra: Khối đầu ra là nơi chuyển tín hiệu phát ra của rơ le đến các thiết bị nối
phía sau rơ le. Khối này thường là các phần tử logic đóng ngắt mạch bằng trasistor hoặc rơ le
điện từ công suất tiêu thụ nhỏ.
4. Khối giao diện sử dụng: Khối giao diện sử dụng gồm bàn phím nút ấn, gạt, xoay...
để người sử dụng rơle thao tác thực hiện điều chỉnh thông số và nội dung chương trình làm
việc của rơ le. Bộ phận chỉ thị của rơ le trên khối giao diện giúp cho người sử dụng nắm được
các thông tin liên quan đến các thông số, nội dung chức năng, chương trình được đạt sẵn và
các thông tin tức thời về trạng thái của thiết bị công tác. Các phần tử chỉ thị có thể là đèn hiệu
LED sáng, tối theo qui luật đã được mã hóa sẵn hoặc màn hình tinh thể lỏng LCD hay chuông
cảnh báo. Khối giao diện là nơi và phương tiện để người sử dụng - rơ le, thiết bị trao đổi
thông tin, hiểu biết và làm việc với nhau .
5. Khối nguồn cung cấp : Khối nguồn cung cấp nhận nguồn cung cấp từ ngoài: điện
lưới công nghiệp 50 Hz/60 Hz, hoặc điện một chiều, biến đổi và ổn định thành các loại điện
phù hợp cấp cho các khối của rơ le hoạt động.
Ngoài ra, một số loại rơle số còn có các bộ phận để kết nối mạch cung cấp và thu
nhận các thông tin làm việc với các thiết bị xử lý tín hiệu hoặc các chức năng khác, hoặc để rơ
le có thể làm việc với sự trợ giúp của máy tính và chương trình phần mềm khác. Đặc điểm
này làm cho việc khai thác các chức năng làm việc của rơ le được mở rông và nâng cao tối đa
rơ le phát huy được hết năng lực làm việc và hữu ích hơn.









PHẦN 2: HỆ THỐNG ĐIỆN TRONG CÁC MÁY CÔNG CỤ

80

CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC ĐỌC VÀ PHÂN TÍCH MẠCH ĐIỆN
1.1. Khái niệm về sơ đồ điện của máy
Trên sơ đồ điện tất cả các thiết bị đều được thể hiện ở trạng thái không chịu kích thích
về cơ, điện, nhiệt, từ … nào do bên ngoài tác dụng vào.
Ví dụ công tắc tơ, rơle được thể hiện ở trạng thái không có dòng điện chạy qua; bộ
khống chế được thể hiện ở trạng thái tay quay ở vị trí “0”, nút ấn tự phục hồi được thể hiện ở
trạng thái không có lực ấn tác dụng lên nó.
Trong quá trình đọc và phân tích mạch điện ta thường gặp các loại sơ đồ sau:
1. Sơ đồ khai triển là sơ đồ thể hiện đầy đủ các phần tử của hệ thống, kể cả các khâu
bảo vệ liên động. Trong sơ đồ này các phần tử của khí cụ, thiết bị dược thể hiện không xét
đến vị trí tương quan thực tế giữa chúng, mà chủ yếu chỉ xét đến vị trí thực hiện chức năng
của nó. Ví dụ cuộn dây của khởi động từ có thể vẽ ở chỗ này mà tiếp điểm của nó lại vẽ ở chỗ
khác, có khi mỗi tiếp điểm ở một nơi; phần tử đốt nóng của rơle nhiệt ở mạch động lực mà
tiếp điểm của nó lại ở mạch khống chế v.v… Sơ đồ khai triển có thể chia thành từng cụm theo
chức năng của các mạch (cụm khởi động, điều chỉnh, hãm, bảo vệ v.v…) ở mỗi cụm đều ghi
rõ chức năng bên cạnh và có đánh số để thuận tiện cho việc theo dõi và phân biệt các phần tử
cũng như cực tính của nguồn lúc chuyển sang sơ đồ lắp ráp.
2. Sơ đồ nguyên lý là một dạng của sơ đồ khai triển đã đơn giản hoá đi, ở sơ đồ này chỉ
để lại các mạch chính biểu thị các máy điện, các khí cụ và các khâu có ý nghĩa nguyên lý làm
việc của hệ thống. Đôi khi sơ đồ nguyên lý chỉ để giải thích sự làm việc của một vài khâu nào
đó của hệ thống tự động điều khiển.
3. Sơ đồ lắp ráp giới thiệu vị trí lắp đặt thực tế của các thiết bị, khí cụ trong tủ điều
khiển và ở các bộ phận khác của máy, chỉ rõ các đường dây nối giữa các thiết bị, khí cụ điện
dựa trên kết cấu và đặc điểm làm việc của máy; máy đơn giản, có thể đặt tất cả ở một chỗ;
máy phức tạp thường được bố trí tại 3 nơi:
- Các động cơ điện, rơle tốc độ, công tắc hành trình… được bố trí tại máy.
- Các khí cụ tự động như rơle điện áp, áptômát, khởi động từ, biến áp, chỉnh lưu,
khuếch đại từ v.v…đặt trong tủ điện.
- Các khí cụ cần quan sát như: đồng hồ chỉ thị, đèn tín hiệu, nút ấn khoá điều khiển, có
khi cả cầu dao, biến trở tay quay cũng được bố trí trên bảng điện khống chế.

81

Khác với bản vẽ nguyên lý là vẽ tự do, bản vẽ lắp ráp được vẽ theo một tỉ lệ tiêu
chuẩn nhất định, có ghi rõ kích thước của bảng điện, tủ điện và kích thước các khí cụ điện.
Các thiết bị, các phần tử đẽ hư hỏng hoặc hay phải thao tác luôn thường đặt ở những vị trí
thích hợp, dễ thao tác, dễ sửa chữa, dễ tháo lắp khi cần thay thế. Khí cụ toả nhiệt thường đặt
cách xa loại không chịu nhiệt bảo đảm an toàn, mỹ thuật v.v… Bên cạnh các khí cụ điện
thường ghi ký hiệu dưới dạng phân số. Tử số: ký hiệu viết tắt tên của khí cụ, thiết bị thao
nhiệm vụ của nó trên sơ đồ nguyên lý. Mẫu số: ký hiệu, tên, qui cách của khí cụ, thiết bị theo
sổ tay kỹ thuật để tiện việc thay thế sau này.
Trên sơ đồ lắp ráp, các đầu dây ở từng khối đều được đánh số, ký hiệu thống nhất với
sơ đồ nguyên lý. Mỗi chỗ nối dây không nối quá 3 sợi. Tất cả các dây đi cùng hướng với nhau
đều được vẽ chập chung vào một bó bằng nét đậm. Chỗ các dây dẫn chập vào bó, hay tách ra
khỏi bó dây chung được vẽ gãy góc theo chiều mà nó được dẫn đến. Các bó dây của mạch
khống chế, mạch động lực và các bó dây đi theo chiều khác nhau được vẽ riêng từng bó một.
Sơ đồ lắp ráp chủ yếu dùng cho người công nhân theo để lắp ráp phần điện của máy,
nhưng nó cũng rất tiện lợi trong qúa trình vận hành, sửa chữa. Sơ đồ nguyên lý được thiết kế
theo yêu cầu của quá trình công nghệ, mức độ tự động hoá và yêu cầu cơ bản của hệ thống tự
động khống chế, nên nó rất thuận tiện cho người công nhân đọc và phân tích trình tự cách làm
việc của hệ thống điện.
1.2 Phân loại mạch điện
Hệ thống điện của máy hiện đại thường khá phức tạp, với các loại máy điện, thiết bị
khuếch đại, thiết bị biến đổi và khí cụ khống chế hoặc các phần tử lôgic không tiếp điểm. Hơn
nữa các máy trong công nghiệp lại gồm rất nhiều loại, nhiều kiểu và nhiều cỡ; do đó sơ đồ
mạch điện của chúng rất đa dạng. Để theo dõi, cũng như đọc và phân tích mạch điện của máy
dễ dàng, người ta chia mạch điện trên sơ đồ thành 2 loại: Mạch động lực (còn gọi là mạch
chính) và mạch khống chế (còn gọi là mạch phụ).
1. Mạch động lực, bao gồm mạch phần ứng của các máy điện một chiều, mạch rôto,
stato máy điện xoay chiều, mạch ra của các bộ biến đổi động lực v.v… Mạch chính và các
phần tử trong mạch chính được vẽ bằng nét đậm.
2. Mạch khống chế bao gồm mạch của các cuộn dây công tắc tơ rơle, nút ấn điều
khiển, các khí cụ chỉ huy, mạch khống chế khuếch đại từ, phát tốc, xen-xin… kể cả các mạch
tín hiệu hoá và bảo vệ. Trên sơ đồ, mạch khống chế được vẽ bằng nét mảnh.
1.3 Phương pháp chung để đọc và phân tích mạch

82

1. Khái niệm. Đọc và phân tích mạch điện là tìm hiểu về các mặt: ký hiệu, cấu tạo,
nguyên lý làm việc, chức năng nhiệm vụ của các thiết bị khí cụ điện trên sơ đồ, đồng thời giải
thích được nguyên lý làm việc của mạch. Qua đó, rút ra được những đặc trưng, những ưu
khuyết điểm chính khi làm việc, lắp đặt, điều khiển, bảo vệ và thay thế sửa chữa mạch và giúp
cho việc phát hiện sự cố hư hỏng, đoán nhận vùng xảy ra và đề ra biện pháp khắc phục một
cách đúng đắn, nhanh chóng.
2. Các bước tiến hành khi đọc và phân tích.
Muốn đọc và phân tích mạch điện của một máy nào đó, người đọc phải nắm được yêu
cầu công nghệ của máy, thực hiện, mối liên quan giữa các truyền động của máy, hiểu rõ
nguyên lý làm việc, cấu tạo và chức năng của các máy điện và khí cụ trên sơ đồ, đồng thời
phải có một số kiến thức tối thiểu về truyền động điện. Đọc và phân tích mạch điện của một
máy người đọc thường phải tiến hành theo các bước sau:
a. Tìm hiểu quá trình công nghệ, cấu trúc và đặc điểm của máy để từ đó xác định
những yêu cầu về quá trình khởi động, đảo chiều quay, hãm và các phương pháp điều chỉnh
tốc độ hoặc mômen của máy. Hiểu cấu tạo, nguyên lý làm việc của các phần tử trên sơ đồ,
chức năng, nhiệm vụ và các yêu cầu của hệ thống tự động khống chế truyền động điện.
b. Dựa vào sơ đồ khai triển, sơ đồ nguyên lý, sơ đồ lắp ráp để đọc và phân tích
mạch.Cụ thể là sau khi đã tiến hành bước trên sẽ xác định mạch động lực, mạch khống chế
của máy để giải thích nguyên lý làm việc của hệ thống điện theo quá trình công nghệ của
máy. Nên đi dần từ quá trình khởi động, làm việc, dừng và đảo chiều của truyền động cơ bản,
truyền động phụ, có phân tích chế độ khống chế tự động, khống chế bằng tay, chế độ thử máy,
thay đổi tốc độ v.v… rồi đến liên động, bảo vệ và tín hiệu.
c. Phân tích những vấn đề đặc trưng, những ưu khuyết điểm chính của mạch, đồng
thời nêu lên những hư hỏng thường gặp, cách khắc phục và các biện pháp hạn chế các hư
hỏng đó.
Để nhận biết nhanh chóng quá trình đọc và phân tích các mạch điện cụ thể của từng
máy, dưới đây sẽ giới thiệu các ký hiệu của các phần tử điện trên sơ đồ, những sơ đồ nối dây
ứng với các trạng thái làm việc của động cơ, cấu tạo và nguyên lý làm việc của một số thiết bị
thường gặp ở các mạch điện của máy.
1.4. Ký hiệu hình của các thiết bị điện

83

Trên sơ đồ mạch điện của máy không bao giờ người ta vẽ cụ thể hình dáng bên ngoài
hoặc nguyên lý cấu tạo các thiết bị điện, mà tất cả chỉ được thể hiện bằng những ký hiệu hình
quy ước thống nhất.


84

CHƯƠNG 2 : CÁC SƠ ĐỒ ĐIỀU KHIỂN ĐỘNG CƠ ĐIỆN THƯỜNG GẶP
Chức năng cơ bản của một hệ thống điều khiển tự động truyền động điện là điều khiển quá
trình mở máy, hãm máy, đảo chiều quay, điều chỉnh tốc độ hoặc điều khiển cho máy làm việc
theo một chương trình định sẵn nào đó.
Một hệ thống điều khiển tự động truyền động điện sử dụng các phần tử có tiếp điểm hoặc
không tiếp điểm.
Để đảm bảo một quá trình ( mở máy, hãm máy, đảo chiều quay, điều chỉnh tốc độ...) theo một
quy luật như điêu khiển thời gian, theo dòng điện, theo tốc độ, theo vị trí...
Trong sơ đồ điều khiển tự động truyền động điện hệ thống làm việc theo yêu cầu đề ra ( quy
định bởi đối tượng công nghệ.) cần phải đảm bảo an toàn cho máy móc và thiết bị, lưới điện.
Do vậy, trong các mạch bao giờ cũng có mạch bảo vệ đề phòng các trường hợp sự cố sẽ xẩy
ra hoặc đã xảy ra hoặc thông báo sự hoạt động của mạch.
Sau đây là một số sơ đồ thường gặp:
Sơ đồ 1 : Điều khiển động cơ KĐB rôto lồng sóc quay một chiều, mở máy trực tiếp.
Đây là sơ đồ điều khiển đơn giản nhất
Khởi động:
Sau khi đóng cầu dao CD, ấn
nút M, công tắc tơ K có điện,
tác động đóng mạch lực cấp
điện cho động cơ để mở máy
trực tiếp với toàn bộ điện áp
lưới. Động cơ tăng tốc theo
đặc tính tự nhiên tới điểm làm
việc LV. Tiếp điểm K song
song với nút M để duy trì điện
cấp cho cuộn hút K khi thôi
ấn nút M. Mạch tiếp điểm K này là tự duy trì hay mạch nhớ.
Dừng máy: Hình 1: Sơ đồ điều khiển động cơ KĐB quay một chiều
Muốn dừng , ấn nút D để cắt điện cuộn K. Các tiếp điểm K ở mạch lực mở ra. Động cơ bị cắt
điện và dừng tự do. Điểm làm việc chuyển về trục tung và dưới tác dụng của lực cản, tốc độ
giảm về 0 theo trục tung.

85

Bảo vệ:
Động cơ được bảo vệ quá tải bằng role nhiệt RN. Khi quá tải vượt mức cho phép ( Icđ= (1,2-
1,3) Iđm ), Rơ le nhiệt tác động và mở tiếp điểm thường đóng RN để cắt cuộn hút K. Sau khi
xử lý sự cố, phải ấn lại nút phục hồi thì mới mở máy lại cho động cơ được.
Mạch lực và mạch điều khiển được bảo vệ ngắn mạch bằng cầu chì.
Sơ đồ còn có tác dụng bảo vệ điện áp thấp và bảo vệ điện áp không. Khi điện áp sụt xuống
còn ( 60-85) % Uđm hay mất điện ngẫu nhiên thì cuộn hút K nhả và sơ đồ quay về trạng thái
ban đầu. Sau đó cho dù điện lưới được phục hồi thì động cơ cũng không thể tự chạy lại được.
Muốn chạy lại động cơ phải ấn nút M.

Sơ đồ 2 : Điều khiển động cơ KĐB rôto lồng sóc quay một chiều, mở máy giảm áp nhờ
đổi nối ÷ A

Hình 2: Điều khiển động cơ KĐB rôto lồng sóc quay một chiều, mở máy giảm áp nhờ đổi nối
÷ A
Sơ đồ này chỉ sử dụng cho các động cơ làm việc bình thường ở cách nối A
Khởi động :
Sau khi đóng cầu dao CD, ấn nút M, công tắc tơ K, rơ le thời gian RTh và công tắc tơ K có
điện. Stato động cơ được nối sao qua các tiếp điểm K và mắc vào lưới qua tiếp điểm K.
Động cơ mở máy với điện áp giảm 3 lần so với định mức và tăng tốc theo đặc tính cơ 1.
Sau thời gian chỉnh định đủ để động cơ tăng tốc vượt qua tốc độ tới hạn của đặc tính 1 thì rơle
RTh tác động. tiếp điểm Rth (5-7) mở ra cắt điện công tắc tơ K và tiếp điểm RTh (3-11 ) đóng

86

lại, cấp điện cho công tắc tơ KA. Cuộn dây Stato chuyển sang nối A để làm việc ở điện áp
định mức. Động cơ chuyển điểm làm việc từ đặc tính 1 sang đặc tính tự nhiên và tiếp tục tăng
tốc tới điểm LV. Quá trình mở máy kết thúc.
Dừng máy :
Muốn dừng , ấn nút D để cắt điện cuộn K. Các tiếp điểm K ở mạch lực mở ra. Động cơ bị cắt
điện và dừng tự do. Điểm làm việc chuyển về trục tung và dưới tác dụng của lực cản, tốc độ
giảm về 0 theo trục tung.
Bảo vệ :
Bảo vệ quá tải, ngắn mạch, điện áp thấp và điện áp không. Ngoài ra để tránh hai công tắc tơ
K và KA tác động đồng thời sẽ gây ra ngắn mạch giữa các pha, các cuộn dây công tắc tơ
được khoá chéo về điện.
Sơ đồ được điều khiển theo nguyên tắc thời gian.

Sơ đồ 3 : Điều khiển động cơ KĐB rôto lồng sóc quay hai chiều, mở máy trực tiếp.
Mở máy :
Khi ấp nút MT, công
tắc tơ KT có điện sẽ tác
động và nối mạch lực
cấp điện cho động cơ
quay thuận. Động cơ
mở máy quay thuận
theo đặc tính cơ 1 từ
điểm A tới điểm làm
việc LV.
Dừng máy:
Muốn dừng máy ấn nút
D động cơ dừng tự do.
Đảo chiều quay :
Khi ấn nút MN, công
tắc tơ KN tác động, nối
mạch lực có đảo chỗ 2

87

pha R và T để động cơ quay ngược và mở máy quay ngược theo đặc tính cơ 2 từ A’ tới LV’.
Trường hợp động cơ đang quay thuận mà ấn nút MN, Hình 3 : Điều khiển động cơ
KĐB quay hai chiều
động cơ sẽ chuyển từ đặc tính cơ 1 sang đặc tính cơ 2 và hãm ngược theo đoạn đặc tính cơ 2 ở
góc phần tư thứ II. Khi tốc độ về 0 ( điểm A’) thì động cơ tăng tốc mở máy chạy ngược tới
điểm làm việc LV’. Để tránh ngắn mạch giữa hai pha R và T khi cả hai công tắc tơ KT và KN
cùng có điện, mạch điều khiển KT và KN được khoá chéo.
- Khoá chéo về điện: tiếp điểm thường đóng KT gửi vào mạch KN và ngược lại.
- Khoá chéo về cơ : nhờ nút ấn liên động ( đường nét đứt ở mạch điều khiển ). Khi
ấn nút MT để đóng mạch cuột KT cho động cơ quay thuận đồng thời nút ấn
thường đóng liên động với nó ở mạch cuộn KN mở ra để không cho cuộn KN có
điện. Tương tự như vậy, nút thường đóng liên động với nút thường mở MN được
gửi vào mạch cuộn KT.
* Trong sơ đồ này nếu động cơ kéo máy nâng – hạ thì khi nâng ( ấn MT ) động cơ mở máy
nâng vật theo đặc tính cơ 1 từ A tới LV hình c. Nếu ấn ngay MN, động cơ chuyển điểm làm
việc từ LV ( trên đặc tính 1 ) sang B’ ( trên đặc tính quay ngược 2 ). Động cơ thực hiện hãm
ngược và giảm tốc từ B’ tới A’.
Tại A’ thì

=0 , vật dừng lại và sau đó động cơ tăng tốc hạ vật theo đặc tính cơ 2.
Do tải thế năng, động cơ sẽ chuyển điểm làm việc tới LV’. Đoạn CD trên đặc tính 2 là đoạn
hãm tái sinh. Động cơ hãm ghìm cho vật xuống đều với tốc độ hạ là

h.

88

Sơ đồ 4 : Điều khiển động cơ KĐB rôto lồng sóc hai cấp tốc độ , quay một chiều



Hình 4 : Sơ đồ điều khiển động cơ KĐB rôto lồng sóc hai tốc độ, quay một chiều
Tốc độ đồng bộ động cơ KĐB tỉ lệ nghịch với số cặp cực p(
2 f
p

H
=
) của cuộn dây Stato.
Trong công nghiệp có sản xuất những động cơ thay đổi được số cặp cực nhờ đổi nối cuộn dây
Stato.
Sau khi ấn nút M, công tắc tơ K tác động và đóng mạch lưới điện chuẩn bị cấp điện cho stato
động cơ.
Khi cần chạy chậm, ấn nút Mch, công tắc tơ K1 tác động sẽ nối các cuộn stato của động cơ
vào lưới theo sơ đồ
A
tương ứng với cặp cực lớn.
Khi cần chạy nhanh, ấn Mnh, các công tắc tơ K2 và K3 tác động sẽ nối các cuộn Stato động
cơ vào lưới theo sơ đồ tương ứng với số cặp cực giảm 2 lần hình c.
Đặc tính cơ khi chạy chậm ( nối
A
) và khi chạy nhanh ( nối ) như hình d. Các cuộn hút

89


công tắc tơ K1 và K2, K3 được khoá chéo cả về điện và về cơ.
Khi cần động cơ hai chiều, phải thay sơ đồ hình a bằng sơ đồ . Cho SV tự đọc mạch





90

Sơ đồ 5 : Điều khiển động cơ KĐB rôto lồng sóc bốn cấp tốc độ , quay một chiều.


Hình 5: Sơ đồ khiển động cơ KĐB rôto lồng sóc bốn cấp tốc độ , quay một chiều.
Động cơ 4 cấp tốc độ có 2 cuộn dây stato ứng với các số cặp cực khác nhau. Mỗi cuộn stato
đều có thể đổi nối
A
hoặc
Ví dụ như máy tiện vạn năng, khi tiện mặt đầu phôi có đường kính lớn, tốc độ cắt cần phải
giữ không đổi để đảm bảo chế độ công nghệ và năng suất máy. Do vậy, khi đường kính phôi
giảm thì phải tăng tốc độ quay phôi lên.
Sơ đồ hinh , việc tăng tốc độ quay phôi thực hiện nhờ giảm số cặp cực của động cơ KĐB có
4 cấp tốc độ.
Ban đầu, khi dao tiện còn ở xa trục quay ( ứng với đường kính lớn nhất của phôi ), công tắc
hành trình HT1, HT2, HT3 chưa bị tì nên các rơ le trung gian RTr2, RTr3, RTr4 không tác
động. Biến áp hạ áp BA cấp điện cho mạch điều khiển với điện áp thấp và cách li với lưới
nhằm mục đích an toàn và phù hợp với điện áp các rơle, công tắc tơ.
Khi ấn nút M, Rơle RTr1 tác động, cấp điện cho cuộn hút K1. Công tắc tơ K1 tác động sẽ nối
cuộn dây 1 theo hình
A
để động cơ quay với tốc độ nhỏ nhất. Đồng thời, công tắc tơ K1 cũng
cắt mạch công tắc tơ K2 và K5.
Trong quá trình tiện mặt đầu , bán kính phôi giảm, dao tiến về tâm mặt gia công. Khi bán kính
giảm tới một mức nào đó thì bộ gá dao sẽ tì vào công tắc hành trình HT1 và rơle trung gian
RTr2 tác động. Cuộn K1 bị cắt điện. Cuộn K2 được cấp điện. Lúc này, cuộn dây 2 của Stato

91

được nối
A
ứng với cặp cực nhỏ hơn. Động cơ được tăng tốc và phôi được tiếp tục tiện ở tốc
độ cao.
Khi bán kính phôi giảm nhỏ nữa, bộ gá dao lại tì vào công tắc hành trình HT2. Rơle trung
gian RTh3 tác động. Cuộn K2 bị cắt điện. Công tắc tơ K5 nối tiếp với K3 được cấp điện. Các
tiếp điểm K3 và K5 ở mạch lực sẽ nối cuộn dây 1 của stato theo hình để giảm tiếp số cặp
cực. Động cơ lại được tăng tốc.
Cứ như vậy, khi bán kính phôi giảm nữa, công tắc hành trình HT3 bị tì vào rơle trung gian
RTr4 tác động. Mạch điện cuộn hút K3 và K5 bị cắt. Mạch điện cuộn hút K6 được cấp điện
và sau đó K4 được cấp điện. Các công tắc tơ K4, K6 sẽ nối cuộn dây 2 của stato theo hinh
và động cơ sẽ có số cặp cực stato nhỏ nhất và động cơ sẽ có tốc độ lớn nhất.
Gia công xong ấn nút D động cơ dừng tự do. Khi lùi dao ra xa thì sơ đồ trở về trạng thái ban
đầu.
Đây là sơ đồ điều khiển theo nguyên tắc vị trí.
Sơ đồ 6 : Điều khiển động cơ truyền động lên- xuống của máy nâng








Hình 6 : Sơ đồ điều khiển động cơ truyền động lên- xuống của máy nâng
Khi động cơ không làm việc, phanh FPM sẽ hãm chặt trục động cơ. Để đi lên, ấn nút U, công
tắc tơ KU sẽ đóng tiếp điểm KU ở mạch phanh để cuộn phanh có điện, nhả phanh và đóng các
tiếp điểm KU ở mạch lực để động cơ quay thuận, đi lên. Muốn dừng, ấn nút STOP cắt điện
công tắc tơ KU. Mạch trở lại trạng thái ban đầu. Nếu không khi máy nâng lên tới mức cao
nhất cho phép thì công tắc hành trình giới hạn mức cao LSU bị tì sẽ cắt mạch công tắc tơ FU
để dừng máy nâng.


92

Chú ý: Có thể giải thích một cách tương tự khi máy nâng đi xuống nhờ nút ấn D với lưu ý
LSD là công tắc hành trình giới hạn dưới.
Nguồn điện một chiều cấp cho cuộn phanh đựơc chỉnh lưu từ nguồn xoay chiều 1 pha và được
lọc qua mạch R1C1
Mạch có bảo vệ :
- Bảo vệ ngắn mạch bằng cầu chì
- Bảo vệ bộ chỉnh lưu khi đóng cắt cuộn phanh nhờ mạch R-C
- Bảo vệ chéo về điện giữa 2 công tắc tơ KU và KD.
Sơ đồ 7 : Điều khiển động cơ truyền KĐB rôto lồng sóc 2 cấp tốc độ quay 2 chiều với tốc
độ khác nhau.


Hình 7: Sơ đồ Điều khiển động cơ truyền KĐB rôto lồng sóc 2 cấp tốc độ quay 2 chiều với tốc
độ khác nhau
Thực chất sơ đồ này cũng là đổi nối và
A
cuộn dây stato.
Động cơ được cấp điện qua 2 áptomat Ap1 và Ap2. Khi chạy thuận nhanh thì ấn nút N để cấp
điện cho 2 công tắc tơ KN và KN1. Cuộn stato được nối ( hình b) ứng với số cặp cực

93

p1=2. Khi chạy ngược chậm thì nút C để cấp điện cho công tắc tơ KC. Cuộn stato được nối
A
( hình c) ứng với cặp cực p2=4 và có đảo 2 pha S và T.

94

Sơ đồ 8 : Điều khiển động cơ truyền KĐB rôto dây quấn quay 2 chiều với 3 cấp tốc độ

Hình 8 : Sơ đồ điều khiển động cơ truyền KĐB rôto dây quấn quay 2 chiều với 3 cấp tốc độ

Động cơ được điều khiển nhờ bộ khống chế KC với 9 vị trí : 4 vị trí quay thuận, 4 vị trí quay
ngược và 1 vị trí 0. Động cơ được
hãm bằng phanh điện từ và mạch phần
ứng nối với 3 cấp điện trở đóng bằng
tiếp điểm công tắc tơ.
Đóng áptomat A, biến áp BA cấp điện
cho mạch điều khiển. Đèn hiệu Đ1
báo mạch điều khiển sẵn sàng. Các
rơle thời gian RTh1, RTh2 và RTh3
có điện sẽ cắt ngay mạch cuộn hút K1,
K2, K3 nhờ các tiếp điểm thường
đóng mở ngay, đóng chậm của chúng.
Nếu bộ KC ở vị trí 0 tiếp điểm I đóng Hình 8.1 : Đặc tính cơ của sơ đồ điều khiển động cơ

95

KĐB rôto dây quấn quay 2 chiều với 3 cấp tốc độ
và rơle điện áp RU có điện. Hai tiếp điểm RU của nó đóng lại để tự duy trì.
Để mở máy động cơ quay thuận, quay KC về vị trí phía trái. Tiếp điển II đóng, cấp điện cho
công tắc tơ KT. Các tiếp điểm KT cấp điện cho công tắc tơ phanh F để nam châm NC nhả
phanh và đóng điện cho động cơ quay thuận với toàn bộ điện trở phụ.
Động cơ tăng tốc theo đặc tính 1 từ điểm a. Khi quay KC sang vị trí 2, tiếp điểm IV đóng, tiếp
điện cho công tắc tơ K. Rơle thời gian RTh1 mất điện và sau một thời gian đủ để động cơ
tăng tốc với điểm b trên đặc tính 1 thì sẽ đóng tiếp điểm của nó cấp điện cho công tắc tơ K1.
K1 tác động sẽ loại bỏ điện trở R1 ở mạch rôto và cắt điện RTh2. Động cơ tiếp tục tăng tốc từ
c trên đặc tính 2. Quay bộ KC sang vị trí 3, tiếp điểm V đóng và sau thời gian đủ để động cơ
tăng tốc tới điểm d thì tiếp điểm thường đóng RTh2 đóng lại. Công tắc tơ K2 có điện sẽ nối
tắt tiếp điện trở R2 ra khỏi mạch rôto và cắt điện RTh3. Động cơ tăng tốc trên đặc tính 3 từ
điểm e. Quay KC sang vị trí 4, tiếp điểm RTh3 đóng lại. Công tắc tơ K3 có điện sẽ nối tắt nốt
điện trở R3 ở mạch rôto, tự duy trì điện và cắt điện RTh3. Động cơ tăng tốc trên đặc tính tự
nhiên tới điểm A và làm việc ổn định tại A.
Người vận hành có thể quay ngay bộ KC từ vị trí 0 sang trái tới vị trí 4 thì quá trình mỏ máy
trên vẫn diễn biến như đã trình bày nhờ các rơle thời gian.
Quá trình quay ngược xẩy ra tương tự khi quay bộ KC sang phải.
Các vị trí dừng của bộ KC tại 1,2,3 sẽ tương ứng với tốc độ thấp của động cơ.

96

CHƯƠNG 3 : MẠCH ĐIỆN CỦA MÁY KHOAN
3.1. Khái niệm chung
Máy khoan dùng để gia công các lỗ hình trụ, hình côn thông và không thông, để doa
và gia công tinh, chính xác những lỗ đã được khoan hay là những lỗ do đúc hay dập mà có
sẵn, để tiện trong lỗ bằng dao tiện, để cắt đường ren bằng tarô và có khi còn để thực hiện một
số việc khác nữa.
Máy khoan gồm các loại :
Máy khoan đứng một trục, máy khoan cần, máy khoan nhiều trục, máy khoan tâm để
khoan lỗ tâm ở hai đầu của phôi, máy khoan bào, máy khoan chuyên dùng ...
Truyền động chính ở máy khoan thường dùng động cơ lồng sóc một hay nhiều tốc độ,
truyền động ăn dao thường được thực hiện từ động cơ truyền động chính.
Các truyền động của máy khoan đều làm việc với phụ tải dài hạn.
Hệ thống truyền động và mạch điện khống chế tự động của máy khoan không có gì
đặc biệt, nhưng nó giữ vai trò rất quyết định trong máy.
Dưới đây sẽ giới thiệu một số thiết bị điện và nguyên lý làm việc của sơ đồ điện ở các
máy khoan.
3.2. Mạch điện ở máy khoan đứng của Liên Xô kiểu 2A125
3.2.1 Máy khoan đứng
Chuyển động và kết cấu của máy khoan đứng rất khác nhau, phổ biến nhất là loại có
trụ đứng. Những cỡ máy nhỏ, truyền động của trục chính đơn giản và chạy dao bằng tay. Ở
những máy có kích thước trung bình, lớn thì có hộp tốc độ, hộp chạy dao và thường có cơ cấu
chạy dao tự động. Máy khoan đứng chủ yếu dùng để gia công những chi tiết có kích thước
trung bình. Hình dáng chung thông thường của máy khoan đứng được trình bày ở hình 3.1
S
2
4
S
1
3
2
n
S
1


Hình 3.1 – Hình dáng chung của máy khoan đứng

Những bộ phận chính của máy khoan đứng là thân máy (1), hộp tốc độ (2), hộp chạy
dao (3) và bàn máy (4).

97

Trong loại máy khoan đứng hộp tốc độ được cố định, hộp chạy dao có thể di động
theo hướng thẳng đứng. Bên trong hộp chạy dao có trục chính thực hiện chuyển động chính
quay n và chuyển động chạy dao s. Bàn máy có thể quay tròn hoặc di động thẳng đứng bằng
tay.
Nhược điểm của máy khoan đứng là phải luôn dịch chỉnh chi tiết khi gia công ở những
vị trí khoan khác nhau. Đối với chi tiết nặng, việc điều chỉnh vị trí gia công rất khó khăn, tốn
nhiều thời gian.
3.2.1. Giới thiệu thiết bị điện của máy

Hình 3.2 : Mạch điện ở máy khoan đứng của Liên Xô kiểu 2A125

Trên máy có các động cơ sau (hình 3.2)
- động cơ 1M truyền động chính kiểu A42 – 4, công suất 2,8kW, điện áp 220/380V,
tốc độ 1420 vg/ph.
- động cơ 2M bơm nước làm nguội kiểu AA – 22, công suất 0,125kW, điện áp
220/380 V, tốc độ 2800 vg/ph.
3.3.2. Nguyên lý làm việc của sơ đồ điện.
Bật công tắc đầu vào BAB vào vị trí đóng, điện áp từ lưới cung cấp cho mạch động cơ
và mạch điều khiển. Các tiếp MA liên hệ cơ khí với tay gạt điều khiển quay trục khoan : nếu
tay gạt đặt ở vị trí giữa thì các tiếp điểm MA được biểu diễn như trên sơ đồ ; 1MA (1- 2) mở;
mạch điện qua các cuộn dây khởi động từ bị hở.
Khi điều khiển tay gạt để cho trục khoan quay theo chiều phải (đưa tay gạt xuống
dưới) các tiếp điểm 1MA (1 - 2) và 2MA(2 - 3) đóng lại, cuộn dây khởi động từ 1K có điện,

98

các tiếp điểm thường mở1K trong mạch động lực đóng lại , nối động v\cơ 1M với lưới để
quay trục khoan. Do cấu tạo của cơ cấu tay gạt nên tiếp điểm 2MA(2 - 3) chỉ đóng tức thời
sau khi mở ra ngay. Nhưng vì tiếp điểm thường mở 1K (3 - 4) đóng lại khi cuộn dây 1K có
điện nên mạch điện cung cấp cho khởi động từ 1K vẫn được duy trì theo đường : 1 – 2 – 4 – 3
– 7 – 912
Nếu đưa tay gạt điều khiển lên phía trên, cuộn dây khởi động từ 2K có điện và tự duy
trì theo đường 1 – 2 – 2MA (2 - 6) – 2K – 5 – 1K – 2K – 912 . Các tiếp điểm thường mở 2K
trong mạch động lực đóng lại nối động cơ 1M với lưới để quay theo chiều trái. Muốn dừng
động cơ quay trục khoan phải đưa tay gạt vào vị trí giữa.
Khi dùng máy khoan để tarô trước hết phải đặt cái cữ lắp trên đãi chia độ qua cơ cấu
cơ khí riêng làm cho tiếp điểm 3MA (2 - 5) đóng lại khởi động từ 2K có điện, các tiếp điểm
thường mở 2K trong mạch động lực đó lại làm cho động cơ 1M quay theo chiều trái, tarô tự
động ra khỏi vật cần ren. Ngay sau đó tiếp điểm 3MA (2 - 5) tự mở ra nhưng cuộn dây 2K
vẫn được duy trì điện theo hướng 1 – 2 – 6 – 2K – 5 – 1K – 912.
Khi tarô đã ra khỏi vật thì ta đưa tay gạt điều khiển về vị trí giữa làm cho động cơ 1M
ngừng lại.
3.3. Mạch điện ở máy khoan cần của Liên Xô kiểu 2A53
3.3.1 Máy khoan cần
Máy khoan cần là loại máy khắc phục được nhược điểm của máy khoan đứng bằng cách gá
chi tiết đứng yên và trục chính di động được đến vị trí khoan thích hợp khi gia công. Vì vậy
máy khoan cần là loại máy khoan điều khiển rất nhẹ nhàng, khả năng làm việc được mở rộng
và có thể gia công được những chi tiết lớn.
Dạng tổng quát của máy khoan cần được trình bày trên (hình 3.3)
Những bộ phận chính của máy khoan cần là :
Trên trụ (1) cố định ở bệ máy (2) có lồng không một trụ rỗng khác – gọi là ống đỡ (3), có thể
quay quanh trụ (1) 360
0
. Trên ống đỡ (3) lồng không cần khoan (4), nhờ trục vítme (5) nó có
thể di động lên xuống theo hướng thẳng đứng. Trên cần khoan có lắp hộp tốc độ (6), trong đó
có cả cơ cấu chạy dao. Hộp tốc độ này có thể di động theo hướng kính trên cần khoan. Chi tiết
gia công có thể đặt trực tiếp trên bệ máy (2) hoặc trên bàn máy (7). Ống đỡ (3), cần khoan (4),
hộp tốc độ (6) đều có thể cố định ở vị trí bất kỳ nhờ những cơ cấu khoá đặc biệt.
Chuyển động cơ bản của máy khoan cần gồm :
- Chuyển động chính tạo ra tốc độ cắt gọt n là chuyển động quay tròn của trục chính.
- Chuyển động chạy dao s là chuyển động thẳng đứng của trục chính.
- Chuyển động điều chỉnh v
1
là chuyển động thẳng đứng của cần khoan trên ống đỡ
(3).
- Chuyển động điều chỉnh v
2
là chuyển động hướng kính của hộp tốc độ trên cần
khoan.
- Chuyển động điều chỉnh v
3
là chuyển động của cần khoan cùng với ống đỡ (3) quanh
trụ (1).


99

S
1
7
V
3
3
5
V
1
n
4
6
V
2
9
8
2

Hình 3.3 – Dạng tổng quát của máy khoan cần

Ba chuyển động đầu của máy khoan cần được cơ khí hóa, chuyển động thứ tư có thể cơ
khí hoá hoặc thực hiện bằng tay, chuyển động thứ 5 thực hiện bằng tay.
Ngoài những chuyển động trên, trong một số máy khoan cần, hộp tốc độ có thể quay một
góc nhất định để có thể khoan những lỗ nghiêng.
Để thực hiện chuyển động bằng cơ khí, thường dùng hai động cơ: động cơ điện (8) đặt
trên hộp tốc độ dùng để thực hiện chuyển động chính và chuyển động chạy dao; động cơ (9)
đặt trên trụ máy dùng để nâng cần khoan lên xuống. Có máy khoan cần dùng động cơ này để
khoá chặt cơ cấu cần khoan. Ở các máy khoan cần lớn dùng thêm một động cơ riêng để khoá
chặt cơ cấu cần khoan.
Nhờ các chuyển động điều chỉnh của máy khoan cần, dụng cụ cắt có thể di chuyển đến vị
trí bất kỳ trong phạm vi được giới hạn bằng bề cao di động của cần khoan và vành khăn có
bán kính lớn là độ dài di động lớn nhất và bán kính nhỏ là độ dài di động nhỏ nhất của hộp tốc
độ so với tâm của trụ khoan (1).
3.3.2. Giới thiệu thiết bị điện của máy.
Trên máy đặt bốn động cơ không đồng bộ ba pha rôto lồng sóc, cấp điện
A/Y220/380V (hình 3 - 4).
Động cơ 1M truyền động chính, hai tốc độ kiểu T42/4 – 2, công suất 2,63kW. Tốc độ
1420/2800 vg/ph.
Động cơ 2M di chuyển cần khoan kiểu AO32 – 4, công suất 1kW, tốc độ 1410 vg/ph.
Động cơ 3M xiết và nới cần khoan và đầu khoan kiểu )AT22 – 4, công suất 0,5kW,
tốc độ 1410 vg/ph.

100


Hình 3.4 : Mạch điện ở máy khoan cần của Liên Xô kiểu 2A53

Động cơ 4M bơm nước làm mát kiểu AA – 22 , công suất 0,125kW, tốc đọ 2800
vg/ph.
Điện áp mạch điều khiển 127V; mạch chiếu sáng cục bộ 24V lấy từ máy biến áp TY.
3.3 3. Nguyên lý làm việc của sơ đồ điện.
Đóng áptômát đầu vào AB và AH cung cấp điện lưới cho mạch động lực và mạch điều
khiển . Trừ động cơ bơm nước làm mát 4M, còn mạch động lực của các động cơ khác và
mạch điện điều khiển đều phải cung cấp điên qua các vành góp điện KT.
KHi máy chưa làm việc tay gạt cơ khí khống chế chiều quay và khớp má sát của trục
chính đồng thời cũng là tay gạt khống chế hãm cắt BXX hạn chế sự làm việc không tải của
máy đặt ở vị tri giữa. Tiếp điểm BXX (3 - 4) đóng, tiếp điểm BXX (4 -5) mở. Rơle điện áp
PH tác động đóng tiếp điểm thường mở PH (3 - 4) để tự duy trì. Đặt chiều quay trục chính
bằng tay gạt chuyển mạch AHB. Khởi động từ 1K1 hoặc 1K2 tác động để định chiều quay
của động cơ 1M. Đặt tốc độ trục chính bằng tay quay chuyển mạch ACB. Khi đặt tay quay
chọn tốc độ trục ở vị trí làm cho tiếp điểm ACB ( 5 - 6) đóng, khởi động từ 1K1 tác động,

101

động cơ truyền động chính 1M được đấu hình tam giác chạy với tốc độ 1420 vg/ph. Nếu tiếp
điểm ACB ( 5 - 8) đóng, khởi động từ 1KH tác động , động cơ 1M được đấu theo hình sao
kép chạy với tốc độ 2800 vg/ph. Chuyển tay gạt cơ khí khống chế hãm cắt BXX về phía trên
hoặc phía dưới, hãm cắt BXX sẽ tác động . Tiếp điểm BXX (3 - 4) mở ra, tiếp điểm BXX (4 -
5) đóng lại. Các khởi động từ 1K1 hoặc 1K2 và 1KI hoặc 1KII tác động đưa động cơ truyền
động chính 1M vào làm việc theo yêu cầu đã chọn ở trên.
Muốn ngừng động cơ 1M, chuyển tay gạt cơ khí khống chế hãm cắt BXX về vị trí
giữa. Tiếp điểm BXX (4 - 5) mở ra cắt sự làm việc của các khởi động từ 1K1 hoặc 1K2 và
1KI hoặc 1KII động cơ 1M ngừng quay.
Muốn di chuyển cần khoan lên hoặc xuống, ấn nút 2KY hoặc 3KY. Khi ấn nút 2KY
khởi động từ 2K1 tác động theo mạch 4 – 16 – 17 – 18 – 14 – 15 – 2K1 – 2. Tiếp điểm
thường mở 2K1 (18 - 21) đóng lại chuẩn bị cho mạch tự duy trì. Các tiếp điểm thường mở
2K1 ở mạch động lực đóng lại cung cấp điện cho động cơ 2M di chuyển cần khoan làm việc .
Cần khoan được nới và di chuyển lên phía trên.
Bộ tiếp điểm trượt AA3 được liên hệ cơ khí với động cơ 2M khi động cơ 2M làm việc
thì bộ tiếp điểm này cũng tác động. Tiếp điểm AA3 (16 - 21) đóng lại lúc này khởi động từ
2K1 được cung cấp điện theo mạch 4 – 16 – 21 – 18 – 14 – 15 – 2K1 – 2 và được tự duy trì
mặc dù nút ấn 2K1 đã trở về vị trí ban đầu. Cần khoan tiếp tục di chuyển lên phía trên.
Muốn ngừng di chuyển cần khoan ta ấn nút 1KY cắt sự làm việc của khởi động từ
2K1, tiếp điểm thường đóng 2K1 (21 - 22) đóng lại. Do tiếp điểm của bộ tiếp điểm trượt hình
trống AA1 (16 - 21) vẫn ở vị trí đóng nên khởi động từ 2K2 tác động làm cho động cơ 2M
quay theo chiều ngược lại để xiết cần khoan vào trụ. Bộ tiếp điểm trượt hình trống AA1 được
quay trở về vị trí ban đầu làm cho tiếp điểm AA1(16 - 21) mở ra cắt sự làm việc của khởi
động từ 2K2 kết thúc quá trình di chuyển cần khoan đi lên.
Di chuyển cần khoan đi xuống cũng tương tự như vậy nhưng thực hiện bằng nút ấn
3KY.
Cần chú ý rằng sự làm việc của khởi động từ 2K1 và tiếp điểm hình trống AA1 (16 -
21) cũng như khởi động từ 2K2 và tiếp điểm hình trống AA1 (16 – 14) phải phù hợp với nhau
không thể đảo lộn giữa chúng được.
Để xiết chặt hoặc nới cần khoan và đầu khoan, gạt tay gạt cơ khí khống chế công tắc
chuyển mạch A1K làm cho khởi động từ 3K1 hoặc 2K2 tác động , động cơ 3M làm việc để
xiết hoặc nới cần khoan và đầu khoan. KHi xiết hoặc nới xong, hãm cắt KBK điều khiển cơ

102

cấu thủy lực tự đóng mở ra cắt điện khởi động từ 3K1 hoặc 3K2 và chuẩn bị mạch cho chiều
làm việc ngược lại.
3.3.4. Liên động và bảo vệ trong máy.
Bảo vệ ngắn mạch bằng các áptômát AB, AH và cầu chì 1A, 2A.
Bảo vệ quá tải bằng rơle nhiệt PT.
Bảo vệ điện áp không bằng rơle điện áp PH.
Hạn chế máy chạy không tải bằng tay gạt cơ khí khống chế hãm cắt BXX. Khi di
chuyển tay gạt cơ khí cho động cơ 1M quay cũng là lúc đóng khớp má sát vào trục động cơ để
truyền động quay mũi khoan.
Không cho cần khoan di chuyển quá giới hạn trên bằng hãm cuối KBP.
Tự động cắt sự làm việc của động cơ 3M xiết hoặc nới cần khoan và đầu mũi khoan
bằng cơ cấu thủy lực KBK.




103


CHƯƠNG 4: MẠCH ĐIỆN TRONG MÁY TIỆN
4.1. Khái niệm chung
Máy tiện có rất nhiều loại : máy tiện vít, máy tiện rơvonve, máy tiện vạn năng, máy
tiện tự động và bán tự dộng, máy tiện chuyên dùng, máy tiện đứng ...
Chuyển động chính của máy tiện làm việc ở chế độ dài hạn. Đó là các chuyển động
quay của mâm cặp, chuyển động tịnh tiến liên tục của bàn dao. Các chuyển động phụ gồm
chuyển động nhanh đầu dao và ụ dao, kéo phôi, bơm nước, nâng hạ xà, kẹp và nới xà v.v ...
Ở các máy cỡ nhỏ, người ta dùng động cơ lồng sóc để kéo các truyền động cơ bản.
Loại động cơ này có ưu điểm về mặt kinh tế, đơn giản và đặc tính cơ cứng. Điều chỉnh tốc độ
bằng phương pháp cơ khí, trong phạm vi không rộng lắm. Khi máy yêu cầu phạm vi tốc độ
rộng thường sử dụng động cơ lồng sóc hai hoặc nhiều tốc độ.
Một trong những đặc điểm của máy tiện cỡ nặng là yêu cầu tốc độ trơn trong phạm vi
rộng. Vì vậy phần nhiều người ta dùng động cơ điện một chiều kết hợp với hộp tốc độ 3 – 4
cấp. Điều chỉnh tốc độ điện khi được thực hiện bằng cách thay đổi từ thông động cơ, hoặc
bằng phương pháp thay đổi hai vùng.
Ở các máy cỡ nhỏ và trung bình, chuyển động chính và chuyển động ăn dao được thực
hiện từ một động cơ. Ở các máy tiện đứng và ở các máy tiện có khoảng cách giữa các tâm lớn
hơn 8m truyền động ăn dao thường do một động cơ riêng kéo ; khi đó kết cấu cơ khí của máy
sẽ đơn giản, dễ khống chế máy, điều chỉnh được lượng ăn dao độc lập với tốc độ trục chính và
dễ dàng lựa chọn chế độ cắt gọt tối ưu.
Các truyền động phụ không có yêu cầu cao về điều chỉnh tốc độ và khống chế quá
trình quá độ, nên thường dùng động cơ lồng sóc một tốc độ. ở máy tiện rơvônve máy tiện vít
và máy tiện hiên đại nói chung thường các chuyển động phụ được tự động hóa .

104

4.2. Mạch điện ở máy tiện vít của Việt Nam kiểu T616
4.2.1. Giới thiệu thiết bị điện của máy.

Hình 4.1 : Sơ đồ mạch điện máy tiện vít Việt nam T616
Trên máy có ba động cơ không đồng bộ ba pha lồng sóc (hình 4 -1)
- Động cơ )÷ truyền động chính kiểu A051 - 4|2 điện áp 220/380V ; công suất 4,5kW
; tốc độ 1440 vg/ph.
- Động cơ )E, bơm dầu kiểu |T01-2 ; điện áp 380/220V công suât 0,1kW tốc độ 2700
vg/ph.
- Động cơ bơm nước làm nguội kiểu IIA - 22 , điện áp 380/220V, công suất 0,125kW ,
tốc độ 2800 vg/ph. Mạch khống chế có điện áp 380V.
4.2.2. Nguyên lý làm việc của sơ đồ điện .
Khống chế sự làm việc của máy bằng công tắc quay nhiều tiếp điểm đặt cạnh ụ đứng.
Nếu tay gạt ở vị trí giữa ( ứng với vị trí 0 trong sơ đồ ) máy sẽ không làm việc.
Khi đóng công tắc đầu vào BB, rơle điện áp PH tác động sẽ đóng tiếp điểm PH để tự
duy trì và đồng thời chuẩn bị cho KD hoặc KA và KE làm việc.
Khi đưa tay gạt công tắc về phía trên ứng với vị trí 1 trong sơ đồ ) khởi động từ KD
làm việc vì AD (1- 2) được nối kín. Các tiếp điểm chính thường mở KD (1A
1

1
C – 1) (2A2
– 1EA2) (33 - 1E3) ở mạch động lực đóng lại, động cơ )÷ quay theo chiều thuận.

105

Nếu gạt tay gạt của bộ công tắc xuống phía dưới ( ứng với vị trí 2 trong sơ đồ), khởi
động từ KA làm việc vì AII ( 1 – 5) đóng các tiếp điểm chính của KA ở mạch động lực, đảo 2
pha vào động cơ )÷, do đó động cơ quay theo chiều ngược lại.
Động cơ bơm dầu )E làm việc đồng thời với động cơ chính)÷ n hờ tiếp điểm APII (1 –
7) vì ở vị trí 1 hoặc 2 khởi động từ KE đều tác động.
Tắt , mở động cơ bơm nước bằng công tắc BO, nó cũng chỉ làm việc khi động cơ
chính )÷ làm việc.
Chiếu sáng cục bộ trên máy bằng đèn 9MO 36V lấy điện qua biến thế TMO và nhờ
công tắc BMO.
4.2.3. Liên động, bảo vệ và những hư hỏng thường gặp.
- Bảo vệ ngắn mạch của động cơ và mạch khống chế bằng cầu chì 1A và 2A. Bảo vệ
điện áp bằng rơle PH.
Ví dụ : Mạch đang làm việc , nếu xảy ra mất điện, vì tay gạt công tắc chưa đưa về vị
trí 0 nên khi có điện PH không làm việc, do AE (1:3 – 1) hở, tiếp điểm PH (1:3 – 1) cũng hở
máy không tự động làm việc trở lại.
Các tiếp điểm KA, KD thường kín để tránh sự làm việc đồng thời của KA và KD gây
hiện tượng ngắn mạch.
- Nếu điện áp của lưới điện quá thấp thì khởi động từ khó làm việc và gây ra có dòng
hồ quang lớn làm cho các tiếp điểm tiếp xúc chóng hỏng.
4.3. Mạch điện ở máy tiện nằm của Liên Xô kiểu 1K62.
4.3.1. Giới thiệu thiết bị điện của máy.

106


Hình 4.2 : Mạch điện ở máy tiện nằm của Liên Xô kiểu 1K62
Trên máy đặt bốn động cơ điện không đồng bộ rôto lồng sóc, điện áp 220/380V (hình
6-3).
Động cơ )÷ truyền động chính kiểu A02 - 51 - 4 - |2 hoặc A02 - 52 - 4 - |2 ; công suất
7,5kW hoặc 10kW, tốc độ 1460 vg/ph.
Động cơ )÷A truyền động thủy lực kiểu AO92 - 21 - 6 - |2, công suất 0,8kW, tốc độ
930 vg/ph.
Động cơ )÷X chạy nhanh bàn dao kiểu AO92 - 12 - 4 - |2, công suất 0,8kW, tốc độ
1350 vg/ph.
Động cơ )÷ bơm chất lỏng làm lạnh kiểu AA - 22 , công suất 0,12kW, tốc độ 2800
vg/ph.
Mạch khống chế 127V, mạch chiếu sáng 36V.
4.3.2. Nguyên lý làm việc của sơ đồ điện .
a) Truyền động chính. Ấn nút khởi động (AE7) khởi động từ K÷ làm việc, sẽ đóng tiếp
điểm duy trì K÷(8 – 9) đồng thời đóng các tiếp điểm thường mở K÷ (a – a
1
), ( b – b
1
), (c – c
1
)
ở mạch động lực, động cơ chính )÷ làm việc.
Rơle thời gian PB để hạn chế thời gian chạy không tải của truyền động chính.
Khi chưa cho máy ăn tải, hãm cuối KB (9-11) được đóng kín, rơle thời gian PB làm
việc. Sau thời gian duy trì, nó mở tiếp điểm PB(9-10) không cho máy chạy không tải. Nếu sau

107

khi khởi động truyền động chính đưa máy vào ăn tải ngay, hãm cuối KB (9-11) mở ra, rơle
thời gian PB không làm việc, tiếp điểm PB (9-10) đóng lại duy trì sự làm việc cho truyền
động chính.
Ngừng truyền động chính bằng nút dừng (CTOII).
b). Truyền động bơm thủy lực. Truyền động bơm thủy lực được xảy ra đồng thời với
truyền động chính qua ổ cắm PIII
c). Truyền động nhanh bàn dao. Truyền động nhanh bàn dao bằng động cơ riêng.
Khống chế truyền động nhanh bằng tay gạt #M.
d). Truyền động bơm làm lạnh. Truyền động bơm làm lạnh được khống chế bằng công
tắc BA - 2.
e). Kiểm tra và bảo vệ. Để kiểm tra phụ tải của động cơ chính dùng đồng hồ ampe mẵc
trong mạch động lực của động cơ.
Bảo vệ quá tải động cơ bằng các rơle nhiệt PT÷ , PTO, PT÷II
Bảo vệ ngắn mạch bằng cầu chì AA1, AA2, AA3, AA4.
h). Chiếu sáng máy. Chiếu sáng cục bộ cho máy bằng đèn 9;? với điện áp 36V khống
chế đèn bằng công tắc BA3.
i). Khống chế thời gian chạy không tải của máy : bằng rơle thời gian PB kiểu PB|21 –
T. Trong sơ đồ, ở mạch anốt của đèn mắc rơle điện từ PA. Khi tay gạt cơ khí làm hở mạch
hãm cuối KB dòng điện anốt đèn bằng không. Tụ C
b
được nạp bằng dòng điện lưới đèn qua
điện trở R
10.
Khi tay gạt đóng mạch hãm cuối KB trên catốt và anốt đèn được giáng một điện áp từ
cuộn dây của máy biến áp TP. Đồng thời tụ C
b
bắt đầu phóng điện qua điện trở R
1
÷R
8
. Tụ C
b

bắt đầu phóng điện làm cho điện áp âm trên lưới khống chế của đèn giảm xuống và dòng điện
anốt tăng lên. Khi dòng điện anốt đạt tới trị số dòng điện tác động của rơle PA thì nó tác
động. Thời gian từ lúc gạt tay gạt để đóng mạch hãm cuối KB đến lúc rơle PA tác động là thời
gian duy trì của rơle PB để cho truyền động chính làm viêc không tải. Thời gian này phụ
thuộc vào trị số của tụ C
b
và điện trở R
1
÷ R
8
. Tụ C
p
mắc song song với cuộn dây của rơle
PA để san bằng dòng điện qua PA của đèn ngăn ngừa sự dao động phần ứng của rơle.

108

CHƯƠNG 5: MẠCH ĐIỆN CỦA MÁY MÀI
5.1 Khái niệm chung
1. Đặc điểm công nghệ
Máy mài thông thường hay gặp là : Máy mài tròn và máy mài phẳng. Ngoài ra còn có các
máy khác nhau như : Máy mài vô tâm, máy mài rãnh, máy mài cắt, máy mài răng ... Thông
thường máy mài có ụ chi tiết hoặc bàn, trên đó kẹp chi tiết và ụ để mài, trên đó có trục chính
với đá mài. Cả hai ụ đều đặt trên bệ máy. Sơ đồ biểu diễn công nghệ mài được biểu diễn trên
hình 5.1

Hình 5.1 Sơ đồ gia công chi tiết trên máy mài
Máy mài tròn : máy mài tròn ngoài ( hình 5.1 a ) và máy mài tròn trong ( hình 5.1 b) .
Trên máy mài chuyển động chính là chuyển động quay của đá mài ; chuyển động chạy dao là
chuyển động tịnh tiến dọc trục ( chạy dao dọc trục ) hoặc chuyển động tịnh tiến theo phương
ngang ( chạy dao ngang trục ) hoặc chuyển động quay của chi tiết ( chạy dao vòng ). Chuyển
động phụ là di chuyển nhanh ụ đá hoặc chi tiết …
Máy mài phẳng có hai loại : Mài biên đá ( hình 5.1c ) và mài mặt đầu ( hình 5.1d) chi tiết
được kẹp trên bàn tròn hoặc hình chữ nhật. ở máy mài biên đá, đá mài quay tròn và chuyển
động tịnh tiến ngang so với chi tiết, bàn máy mang chi tiết chuyển động qua lại. Chuyển động
quay của đá là chuyển động chính, chuyển động chạy dao là chuyển động của đá ( chạy dao
ngang ) hoặc chuyển động của chi tiết ( chạy dao dọc ).

109

Máy mài mặt đầu đá, bàn có thể là tròn hoặc hình chữ nhật, chuyển động quay của đá là
chuyển động chính , chuyển động chạy dao là chuyển động ngang của đá ( chạy dao ngang)
hoặc chuyển động tịnh tiến qua lại của bàn mang chi tiết ( chạy dao dọc )
Một tham số quan trọng của chế độ mài là tốc độ cắt (m/s) :
v= 0,5.d. wđ. 10-3 (m/s)
Trong đó : d : đường kính mài ;wđ tốc độ quay của đá mài . Thông thường v=30-50 (m/s)
2. Đặc điểm về truyền động và trang bị điện của máy mài
iv
Q®¸
§C
Tbµn
§Çu vµo
§Çu ra
Qchi tiÕt
is
§C

Hình 5.2 : Các chuyển động cơ bản trong máy mài
a. Truyền động chính
Truyền động chính là truyền động quay đá mài. Thông thường máy không yêu cầu thay
đổi tốc độ nên sử dụng động cơ là động cơ khôngđồng bộ ro to lồng sóc.
Đối với máy mài cỡ nặng để duy trì tốc độ cắt là không đổi khi mòn đá hay kích thước gia
công thay đổi thường sử dụng truyền động động cơ có phạm vi điều chỉnh D= 2
÷
4/1 với
công suất không đổi.
Tốc độ cắt trong đá mài có giá trị V= 30
÷
50 m/s
+ Đối với đường kính đá mài khá lớn ( 1000mm) thì tốc độ quay của trục chính bằng
hoặc thấp hơn tốc độ của động cơ truyền động ( n= 950 vg/ph)
+ Đối với đá mài có đường kính nhỏ thì yêu cầu tốc phải rất cao. Để đạt được tốc độ quay
đá cao có thể dùng hộp tốc độ tăng tốc hoặc động cơ đặc biệt. Tốc độ định mức của động
cơ đặc biệt có thể lên đến ( 2400 ÷4800 ) vg/ph. Nguồn cấp cho động cơ là các bộ biến
tần, có thể là máy phát tần số cao ( Bộ biến tần quay ) hoặc các bộ biến tần tĩnh ( bộ biến
tần dùng Tiristo ).

110

Mômen cản tĩnh trên trục động cơ thường là 15 ÷20% mômen định mức. Mômen quán
tính của đá và cơ cấu truyền lực lại lớn : 500 ÷600% mômen quán tính của động cơ, Cần
hãm cưỡng bức động cơ quay đá. Không yêu cầu đảo chiều quay động cơ quay đá.
b. Truyền động ăn dao
Chuyển động quay của chi tiết, di chuyển dọc và ngang của đầu mài. Phạm vi điều chỉnh
tốc độ : D=(6 ÷8):1 đến D= (25 ÷30):1 hoặc có yêu cầu cao hơn.
Truyền động quay chi tiết :
+ Máy mài cỡ nhỏ truyền động quay chi tiết dùng động cơ không đồng bộ roto lồng sóc
nhiều cấp tốc ( thay đổi số cặp cực p) với D= (2 ÷4):1
+ Máy cỡ lớn thì dùng hệ thống bộ biến đổi - động cơ điện một chiều (BBĐ-ĐM), hệ
KĐT- ĐM có D =10/1 với điều chỉnh điện áp phần ứng.
Truyền động ăn dao ngang của đầu mài :
Sử dụng hệ thống thuỷ lực
c. Truyền động phụ
Truyền động bơm dầu bôi trơn, bơm nước làm mát thường dùng động cơ không đồng bộ
roto lồng sóc.

5.2 Máy mài tròn 3A161


Hình 5.3 : Sơ đồ mạch điện máy mài 3A161


111


Máy mài tròn 3A161 được dùng để gia công mặt trụ các chi tiết gia công
chi tiết có chiều dài dưới 1000mm. Đường kính đá mài lớn nhất là 600mm.
Sơ đồ điều khiển máy mài 3A161 :
- Động cơ ĐM : ( 7 kW, 930 vg/ph ) quay đá mài
- Động cơ ĐT : ( 1,7kW, 930vg/ph ) bơm dầu cho hệ thống thuỷ lực để thực hiện ăn
dao ngang của ụ đá, ăn dao dọc của bàn máy và di chuyển nhanh của ụ đá vào chi tiết
hoặc ra khỏi chi tiết
- Đóng mở các van thuỷ lực nhờ nam châm điện 1NC, 2NC
- Động cơ ĐC : ( 0,76 kW, 250-2500vg/ph) quay chi tiết
- Động cơ ĐB : ( 0,125kW, 2800vg/ph ) truyền động bơm nước
Động cơ quay chi tiết được cấp điện từ khuếch đại từ KĐT. KĐT nối theo sơ đồ ba pha kết
hợp với các đi ốt chỉnh lưu. Có ba cuộn dây điều khiển CK1, CK2, CK3
- CK1 vừa là cuộn chủ đạo vừa là phản hồi âm điện áp phần ứng
- CK2 là cuộn phản hồi dương dòng điện phần ứng động cơ
- CK3 nối với điện áp chỉnh lưu 3CL thông qua biến áp 1BA tạo ra sức từ hoá dịch
chuyển
Tốc độ động cơ được điều chỉnh bằng cách thay đổi điện áp chủ đạo U

( nhờ biến trở 1BT).
Để đặc tính làm việc ở tốc độ thấp, khi giảm U

cần phải tăng hệ số phản hồi dương dòng
điện. Người ta đặt sẵn khâu liên hệ cơ khí giữa các con trượt 2BT và 1BT.
Nguyên lý làm việc của sơ đồ điều khiển tự động:
Sơ đồ cho phép điều khiển máy ở chế độ thử máy và chế độ làm việc tự động.
+ Chế độ thử máy : Các công tắc 1CT, 2CT, 3CT được đóng sang vị trí 1. Mở máy động cơ
ĐT nhờ nút ấn MT, sau đó có thể khởi động đồng thời ĐM và ĐB bằng nút ấn MN. Động cơ
ĐC được khởi động bằng nút ấn MC.
+ Chế độ tự động : Quá trình hoạt động của máy gồm 3 giai đoạn theo thứ tự sau
- Đưa nhanh ụ đá vào chi tiết gia công nhờ truyền động thủy lực, đóng các động cơ ĐC
và ĐB
- Mài thô, rồi tự động chuyển sang mài tinh nhờ tác động của các công tắc hành trình
- Tự động đưa nhanh ụ đá ra khỏi chi tiết và cắt điện các động cơ ĐC, ĐB
Trước hết, đóng các công tắc 1CT, 2CT, 3CT sang vị trí 2. Kéo tay gạt điều khiển ( được
bố trí trên máy ) về vị trí di chuyển nhanh ụ đá váo chi tiết ( nhờ hệ thống thủy lực ). Khi
ụ đá đi đến vị trí cần thiết, công tắc hành trình 1KT tác động, đóng mạch cho cuộn dây
công tắc tơ KC và KB, các động cơ ĐC và ĐB được khởi động. Quá trình gia công bắt
đầu. Khi kết thúc giai đoạn mài thô, công tắc hành trình 2KT tác động, đóng mạch cuộn
dây rơle 1RTr. Tiếp điểm của nó đóng điện cho cuộn dây nam châm 1NC, để chuyển đổi
van thuỷ lực, làm giảm tốc độ ăn dao của ụ đá. Như vậy giai đoạn mài tinh bắt đầu. Khi
kích thước chi tiết đạt yêu cầu, công tắc hành trình 3KT tác động, đóng mạch cuộn dây

112

rơle 2RTr. Tiếp điểm rơle này đóng điện cho cuộn dây nam châm 2NC để chuyển đổi van
thuỷ lực, đưa nhanh ụ đá về vị trí ban đầu. Sau đó, công tắc 1KT phục hồi cắt điện công
tắc tơ KC và KB; động cơ ĐC được cắt điện và được hãm động năng nhờ công tắc tơ H.
Khi tốc độ động cơ đủ thấp tiếp điểm rơ le tốc độ RKT mở ra , cắt điện cuộn dây công tắc
tơ H. Tiếp điểm của H cắt điện trở hãm ra khỏi phần ứng động cơ.

113


5.3 Mạch điện ở máy mài phẳng của Liên Xô kiểu 3B722.
5.3.1. Giới thiệu thiết bị điện của máy.
Trên máy có sẵn động cơ không đồng bộ ba pha rôto lồng sóc, cấp điện áp
A/Y/220/380V (hình 5.4):
Động cơ 1M quay đá mài kiểu A062 -4, công suất 0,12 kW; tốc độ 1450 gv.ph.
Động cơ 2M bơm thuỷ lực để truyền động bàn kiểu A052-6; công suất 4,5kw; tốc độ
950vg/ph.
Động cơ 3M bơm dầu bôi trơn kiểu A0Л 11-4, công suất 0,12kw; tốc độ 1400vg/ph.
Động cơ 4M bơm chất lỏng làm mát kiểu ПA-45; công suất 0,15kw; tốc độ
2800vg/ph.
Động cơ 5M để gạt phoi kiểu A0Л 11-4; công suất 0,12kw; tốc độ 1400vg/ph.
Động cơ 6M di chuyển nhanh ụ đá mài lên xuống kiểu A041-6; công suất 1kw; tốc độ
930vg/ph.
Trên máy còn trang bị bàn nam châm điện để hút chặt chi tiết mài với điện áp một
chiều 110V được cung cấp từ bộ biến thế chỉnh lưu sêlen ngâm trong dầu.
Mạch điện khống chế 127V, mạch điện chiếu sáng cụ bộ 36V, mạch đèn tín hiệu 5V.
5.3.2. Nguyên lý làm việc của sơ đồ
Đóng cầu dao P đưa điện áp lưới điện vào máy. ấn nút khởi động 3KY khởi động từ
3K tác động, động cơ bơm dầu làm việc, khi lượng dầu bôi trơn đã đủ thì rơle kiểm tra áp lực
dầu P Д nối kín
Sơ đồ mạch điện ở máy mài phẳng của Liên Xô kiểu 3B722
Tiếp điểm thường mở P Д (9-11), cuộn dây khởi động từ 1K có điện theo mạch 3-5-7-
9-11-12 và tự duy trì bằng tiếp điểm thường mở 1K (7-9) động cơ quay đá mài 1M làm việc.
Để ngừng động cơ 1M và 3M ấn nút dừng 1KY.
Thông thường khi máy mài làm việc bàn nam châm có điện để hút giữ vật mài. Lúc đó
công tắc 2П đặt ở vị trí làm việc với bàn nam châm điện, tiếp điểm 2П (л14 -43) đóng lại còn
tiếp điểm 2П (5-11) mở ra.

114

Ấn nút khởi động 4KY khởi động từ 4K tác động, động cơ bơm chất lỏng làm mát 4M
làm việc. Công tắc chuyển mạch 1П để nối mạch khống chế khởi động từ 4K, điều khiển
động cơ bơm chất lỏng làm mát trong các trường hợp sau:
- Làm việc cùng một lúc với đá mài do tiếp điểm 1П (9 -15) đóng lại.- Thực hiện
khống chế từ nút ấn khởi động 4KY do tiếp điểm 1П (5 -13) đóng lại.

115





116

Hình 5.4 : Mạch điện ở máy mài phẳng của Liên Xô kiểu 3B722.

117

- Làm việc cùng với động cơ bơm thuỷ lực do tiếp điểm 1П (15 -23) đóng lại.
Ngừng làm việc do các tiếp điểm của công tắc 1П hở mạch.
Các nút ấn 7KY, 8KY để khống chế khởi động từ 6K hay 7K điều khiển động cơ 5M di
chuyển nhanh ụ đá mài lên hay xuống.
Để cung cấp điện cho bàn nam châm bật công tắc П về vị trí đóng, các tiếp điểm П(п
3 – п 1); П(п2-п 4) đóng lại. Bàn nam châm được cung cấp điện theo mạch sau: п1- п3 – п5
– п4 – п2. Rơle PC nối tiếp với bàn nam châm tác động.
Tiếp điểm thường mở PC (5-19) đóng lại, lúc bấy giờ động cơ thuỷ lực, động cơ di
chuyển ụ đá mới làm việc được. Tiếp điểm thường mở PC(  1- 2) đóng lại đèn tín hiệu ЛC
sáng lên báo bàn nam châm đã có điện.
Ấn nút khởi động 6KY khởi động từ 2K tác động đưa động cơ bơm thuỷ lực 2M vào
làm việc bàn chuyển động qua lại để mài. Công tắc chuyển mạch 2B để khống chế nam châm
điện 1Э và 2Э đóng mở van thuỷ lực. Khi công tắc 2B đặt ở vị trí đóng thì sự dịch chuyển
của ụ đá mài theo phương thẳng đứng được tự động: ụ đá di chuyển theo chiều ngang đến vị
trí một trong hai biên của khoảng di chuyển theo chiều ngang đến vị trí một trong hai biên của
khoảng di chuyển thì các hãm cắt 1kB hoặc 2KB bị ấn xuống làm đóng mạch điện cung cấp
cho các cuộn dây nam châm điện 1Э hoặc 2Э điều khiển van thuỷ lực để tự động dịch đá mài
ăn sâu xuống vật mài.
Để lấy chi tiết ra khỏi bàn nam châm quay công tắc chuyển mạch П về vị trí khử từ
rồi buông tay ra ngay. Dưới tác dụng của lò xo công tắc chuyển mạch П tự quay trở về vị trí
không. ở vị trí khử từ tiếp điểm П(П5- П6) mở, các tiếp điểm П(П1- П4) (П7 – П2) đóng do
đó dòng điện chạy qua bàn nam châm có chiều ngược lại trị số nhỏ hơn dòng điện định mức
vị có điện trở 1C mắc nối tiếp với bàn nam châm điện П Э. Các chi tiết mài và bàn nam châm
bị khử tính chất nhiễm từ. ở vị trí không, tiếp điểm П(П5- П6) đóng, các tiếp điểm П(П1-
П3), П(П4- П2). Bàn nam châm bị cắt khỏi nguồn điện và cuộn dây của nó được phóng điện
qua điện trở 2C, Rơle trung gian PC nối tiếp với bàn nam châm bị cắt điện và mở các tiếp
điểm thường mở của nó ra. Đèn tín hiệu ЛС tắt báo hiệu bàn nam châm không có điện bấy
giờ có thế lấy chi tiết ra dễ dàng.
Khi chi tiết mài gá chặt trên bàn nam châm mà không dùng lực điện từ để giữ vật hoặc
khi sửa mặt bàn đá mài thì công tắc chuyển mạch 2П bật về vị trí làm việc không dùng bàn
nam châm. Các tiếp điểm 2П(5 – 9) đóng 2П(114 – 43) mở cắt nguồn điện cung cấp cho bộ
biến thế chỉnh lưu sêlen.

118

Công tắc chuyển mạch 1B đóng và ngắt mạch điện khống chế điện chiếu sáng cục bộ
Л0.
Nếu máy làm việc ở chế độ dịch đá tự động theo phương thẳng đứng thì đạt công tắc
chuyển mạch 2B ở vị trí tự động.
5.3.3. Liên động và bảo vệ.
Động cơ quay đá mài chỉ làm việc khi đủ dầu bôi trơn (tiếp điểm rơle áp lực dầu PД
(9- 11) đóng lại).
Bảo vệ đứt mạch điện cung cấp cho bàn nam châm bằng rơle trung gian PC. Khi đứt
mạch điện động cơ bam thuỷ lực ngừng làm việc bàn không di chuyển nữa.
Khi chuyển tay gạt cơ khí về vị trí làm việc bằng tay, hãm cắt 3KB bị ấn xuống, tiếp
điểm 3KB(5-31) đóng lại. Lúc này việc di chuyển nhanh ụ đá mài lên hay xuống mới được
thực hiện.
Hãm cuối 4KB để giới hạn hành trình của ụ đá mài di chuyển quá phía trên lúc chạy
nhanh.
Bảo vệ quá tải các động cơ điện bằng rơle nhiệt, bảo vệ ngắn mạch bằng cầu chì.



119

CHƯƠNG 6. MẠCH ĐIỆN CỦA MÁY PHAY
6.1. Khái niệm chung
Máy phay dùng để gia công mặt phẳng, phay mặt trong và ngoài, mặt pơrôphin (thí dụ
mặt cam đĩa hay cam thùng) và các mặt phức tạp ( như các loại mặt khác nhau của chày, cối
dập, khuôn ép v.v ... ); cắt ren vít trong và ngoài, cắt bánh xe khía và dao cắt nhiều lưỡi có
răng thẳng và xoáy; phay mặt tròn xoay định hình, phay cắt rãnh thẳng và rãnh xoắn.
Căn cứ theo khả năng thực hiện nhiệm vụ khác nhau, may phay được chia làm hai
nhóm chính :
1. Máy phay vạn năng.
2. Máy phay chuyên môn hóa.
Trong máy phay vạn năng có các kiểu máy phay nằm, phay đứng, máy phay giường
v.v ...
Các kiểu máy phay chuyên môn hóa dùng trong sản xuất hàng lọat lớn và sản xuất
khối lớn. Những máy này dùng để hoàn thành những công việc nhất định, trên môt số vật
phẩm tương đối hẹp. Những máy phay chuyên môn hóa sau đây được dùng nhiều nhất : máy
phay rãnh then, máy phay ren vít, máy phay then, máy phay chép hình, máy phay tiện.
Máy phay làm việc được tốt về phần cơ , thì không thể nào thiếu được phần điện, mà
phần điện có tính chất quyết định sự vận hành của máy phay và điện cũng đảm bảo an toàn
cho phần vận hành của máy.
Dưới đây sẽ giới thiệu một số sơ đồ nguyên lý về điện của một số kiểu máy phay
thường gặp.
6.2. Mạch điện trong áy phay của Liên Xô kiểu 6H82, 6H83 và của Việt Nam kiểu P12A,
P623, P32.
6.2.1. Giới thiệu thiết bị điện của máy : Trên máy có ba động cơ không đồng bộ ba pha rôto
lồng sóc điện áp 220/380V (hình 6 -1)
Động cơ E quay dao phay kiểu 9O - K - 32 - 4, công suất 7kW, tốc độ 1440vg/ph.
Động cơ A truyền động bàn kiểu AOK - 41 - 4, công suất 1,7kW, tốc độ 1420vg/ph.
Động cơ O bơm chất lỏng làm lạnh kiểu A! - 22, công suất 0,125kW, tốc độ
2800vg/ph.
Mạch khống chế 127 V, mạch đèn chiếu sáng 36V.

120


Hình 6.1 : Mạch điện trong máy phay của Liên Xô kiểu 6H82, 6H83 và của Việt Nam kiểu P12A, P623, P32.

121



122

6.6.2. Nguyên lý làm việc.
a) Truyền động chính : đóng công tắc đầu vào BB cung cấp điện cho mạch khống chế.
Bật công tắc AP chọn chiều quay trục chính. Bật công tắc AY chọn chế độ làm việc tự động
hoặc bằng tay.
ấn nút 1KY – 1 hoặc 1KY – 2 khởi động từ AE tác động. Tiếp điểm thường mở AE(4
- 5) đóng lại tự duy trì, tiếp điểm thường mở AE (12 - 15) đóng lại cung cấp điện cho mạch
khống chế truyền động bàn. Các tiếp điểm thường mở AE ở mạch động lực đóng lại, động
cơ E quay làm cho dao phay quay. Bật công tắc BO khởi động từ AO tác động. Động cơ bơm
chất lỏng làm lạnh làm việc.
Khi sang số truyền động trục chính , tiếp điểm thường mở của hãm cắt 1KB3 (T2 - 27)
đóng lại, tiếp điểm thường đóng 1KB3 (T2 - 1) mở ra khởi động từ AT tác động. Các tiếp
điểm thường mở của khởi động từ AT ở mạch động lực đóng lại. Các điện trở C
1,
C
2
được đưa
vào hai pha stato động cơ E. Động cơ làm việc với mômen quay nhỏ để đưa các bánh răng
vào ăn khớp. Kết thúc quá trình sang số, hãm cắt 1KB3 lại được đưa trả về vị trí ban đầu.
Khi hãm động cơ trục chính ấn nút 2KY1 hoặc 2KY2. ở thời điểm ban đầu các tiếp
điểm của rơle kiểm tra tốc độ PKC (2 - 27) vẫn đóng. Khởi động từ AT tác động, tiếp điểm
thường mở AT (1 - 2) đóng lại để duy trì. Các tiếp điểm thường mở của khởi động từ AT ở
mạch động lực đóng lại đấu động cơ E vào lưới điện qua các điện trở C
1
, C
2
với từ trường
ngược để hãm ngược.
Khi tốc độ động cơ giảm đến trị số nào đó, tiếp điểm của rơle kiểm tra tốc độ PKC (2
- 27) mở ra. Khởi động từ AT mất điện. Động cơ E được cắt ra khỏi lưới điện và ngừng quay.
b) Truyền động bàn.
+ Khống chế bằng tay : Để truyền động bàn về phía bên trái hoặc phía phải đưa tay
gạt cơ khí ở trước bàn về phía trái hoặc phía phải. Các tiếp điểm của hãm cắt 1KA3 (15 - 21)
hoặc 1KA1 (15 - 16) đóng lại. Các tiếp điểm 1KA4 (13 - 14) hoặc 1KA2 (12 - 14) mở ra.
Khởi động từ A9 hoặc AA tác động. Các tiếp điểm thường mở A9 hoặc AA ở mạch động lực
đóng lại đưa động cơ A vào làm việc bàn sẽ di chuyển về phía trái hoặc phía phải. Nếu bàn
đang di chuyển với tốc độ ăn dao ấn nút 3KY1 hoặc 3KY2 khởi động từ A# tác động . Các
tiếp điểm A# (916 - 104), (936 - 105) đóng lại, nam châm |# hút. Lực hút của nam châm tác
động vào khớp ma sát cơ khí làm cho bàn di chuyển nhanh theo chiều đang ăn dao của bàn.

123

Để di chuyển bàn ra, vào đưa tay gạt cơ khí ở cạnh ụ về phía ngoài hoặc vào phía
trong. Để di chuyển ụ lên, xuống đưa tay gạt cơ khí ở cạnh ụ lên phía trên hoặc xuống phía
dưới. Trong cả hai trường hợp này các tiếp điểm của hãm cắt 2KA3 (15 - 21) hoặc 2KA1 (15
- 16) đóng, các tiếp điểm 2KA4 (19 - 12) hoặc 2KA2 (9 - 19) mở ra. Khởi động từ A9 hoặc
AA tác động. Các tiếp điểm A9 hoặc AA thường mở ở mạch động lực đóng lại. Động cơ A
làm việc đưa bàn di chuyển ra hoặc vào, đưa ụ lên hoặc xuống với tốc độ ăn dao. Nếu bàn và
ụ đang làm việc với tốc độ ăn dao ấn nút 3KY – 1 hoặc 3KY – 2 khởi động từ A# tác động
làm cho nam châm điện từ |# hút. Bàn hoặc ụ di chuyển nhanh theo chiều đang làm việc.
+ Khống chế tự động theo chiều dọc bàn : Công tắc AY đặt ở vị trí tự động. Các tiếp
điểm AY2 (4 - 13), AY3 (17 - 22) mở ra còn tiếp điểm AY1 (15 - 23) đóng lại.
Trên máy có thể thực hiện các chu trình sau :
- Từ hành trình chạy dao nhanh phải sang ăn dao phải, từ hành trình ăn dao phải chạy
nhanh về phía trái và ngừng lại ở vị trí biên trái.
- Từ hành trình chạy dao nhanh trái sang ăn dao trái, từ hành trình ăn dao trái chạy
nhanh về phía phải và ngừng lại ở vị trí biên phải.
- Từ hành trình ăn dao trái sang chạy nhanh phải , từ chạy nhanh phải sang ăn dao
phải, từ ăn dao phải sang chạy nhanh trái và chạy nhanh trái sang ăn dao trái và lặp lại chu kỳ
đầu.
Chu trình tự động thục hiện như sau: Giả sử chuyển tay gạt cơ khí ở trước bàn về
phía trái, tiếp điểm của hãm cắt 1KA3 (15 - 21) đóng lại, tiếp điểm 1KA4 (13 - 14) mở ra.
Khởi động từ A9, A# tác động đưa bàn di chuyển nhanh về phía trái. Khi chi tiết đến gần dao
tay gạt cơ khí gắn trên bàn tác động vào cam tám vấu lồi làm cho tiếp điểm của hãm cắt
3KA1 (23 - 26) mở ra 3KA2 (23 - 25) đóng lại. Khởi động từ A# nhả ra cắt hành trình chạy
nhanh của bàn. Khi cắt gọt xong tay gạt cơ khí gắn trên bàn tác động vào tay gạt ở trước bàn
làm cho tiếp điểm của hãm cắt 1KA1 ( 15 - 16), 1KA1 ( 14 - 13) đóng lại, tiếp điểm 1KA2 (
12 - 14), 1KA3 ( 15 - 21) mở ra. Lúc đó khởi động từ A9 vẫn làm việc theo mạch ( 113 – T2 –
1 – 3 – 4 – 9 – 19 – 12 – 15 – 23 – 25 – 21 – A9 – 22 – 18 – 8 – 6 – T1 – 112). Sau đó tay gạt
cơ khí gắn trên bàn tác động vào cam tám vấu làm cho tiếp điểm của hãm cắt 3KA2 (23 - 25)
mở ra, tiếp điểm 3KA1 (23 - 26) đóng lại. Khởi động từ A9 nhả ra, khởi động từ AA, A# tác
động bàn di chuyển nhanh về phía phải. Đến vị trí biên phải nếu muốn cho bàn ngưng lại đưa
tay gạt cơ khí gắn trên bàn tác động vào cam tám vấu làm cho tiếp điểm của hãm cắt 3KA2

124

(23 - 25) đóng lại, tiếp điểm 3KA1 (23 - 26) mở ra. Khởi động từ A# ngừng làm việc bàn di
chuyển sang tốc độ ăn dao.
Sau đó tay gạt cơ khí gắn trên bàn tác động vào tay gạt ở trước bàn làm cho tiếp
điểm của hãm cắt 1KA1 (15 - 16), 1KA4 (13 - 14) mở ra, tiếp điểm 1KA2 (12 - 14), 1KA3
(15 - 21) đóng lại, khởi động từ AA vẫn làm việc theo mạch 113 – T2 – 1 – 3 – 4 – 9 – 19 –
12 – 15 – 23 – 25 – 16 – A9 – 17 – 18 – 6 – T1 – 112. Tiếp theo đó tay gạt cơ khí trên bàn tác
động vào cam tám vấu làm cho tiếp điểm hãm cắt 3AK2 (23 - 25) mở ra, tiếp điểm 3 KA2 (23
- 25) đóng lại. Khởi động từ A# nhả ra, bàn chuyển sang tốc độ ăn dao và lặp lại chu kỳ đầu.


125

CHƯƠNG 7: MẠCH ĐIỆN TRONG MÁY GIA CÔNG RĂNG
7.1. Khái niệm chung
Ngành chế tạo máy phát triển và nâng cao không ngừng yêu cầu về chất lượng ăn
khớp của bánh răng đòi hỏi phải có những máy cắt răng chuyên dùng, Thông thường các máy
này được chế tạo ở dạng máy nửa tự động.
Nguyên lý tạo thành bánh răng của các máy trong quá trình gia công có thể theo
nguyên lý lăn răng hay bao hình.
Máy gia công hiện đại được phân loại theo nhiều cách:
+ Theo công dụng máy gia công: Bánh răng hình trụ, răng thẳng và răng xoắn, bánh
xe vít, bánh răng chữ V, Thanh răng v.v…
+ Theo dạng các chuyển động công tác: Phanh răng; sọc răng, bào răng, trượt răng
v.v…
+ theo các đặc tính gia công: Để cắt răng, để gia công tinh bề mặt làm việc của răng
Máy gia công bánh răng làm việc được phải nói đến vai trò quan trọng có tính chất
quyết định của thiết bị điện và nguyên lý làm việc của sơ đồ điện.
Dưới đây sẽ giới thiệu một số thiết bị điện và nguyên lý làm việc của sơ đồ điện của
một số loại máy gia công bánh răng.
7.2. Mạch điện ở máy cà răng của Liên Xô kiểu 5714
7.2.1. Giới thiệu thiết bị điện trên máy.
Máy có ba động cơ không đồng bộ rôto lồng sóc điện áp 220/380V (hình 7-1)
Động cơ 1M để bơm chất lỏng làm lạnh kiểu ПA-45C, công suất 0,15Kw, tốc độ
2800vg/ph.
Động cơ 2M quay dao kiểu AOC-42-4, công suất 2,8Kw, tốc độ 1450vg/ph.
Động cơ 3M truyền động bàn kiểu AOC-31-4, công suất 0,6Kw, tốc độ 1450vg/ph
Máy có khống chế số lần di chuyển bàn răng bộ tìm bước kí hiệu PCЙ.
Mạch khống chế 380V, mạch đèn chiếu sáng cục bộ 36V, mạch đèn tín hiệu 6V
7.2.2. Nguyên lý làm việc.

126

Đóng công tắc đầu vào BB cung cấp điện cho mạch khống chế. ấn nút khởi động 2KY
khởi động từ 1K tác động, tiếp điểm thường mở 1K (3-4)(17-18) được. Đồng thời các tiếp
điểm thường mở 1K ở mạch động lực đóng chuẩn bị cho động cơ chính làm việc.
Chiều chuyển động của bàn lúc đầu phụ thuộc vào vị trí ban đầu của hãm cắt 2BK.
Hãm cắt 2BK chỉ bị ấn khi bàn đã di chuyển về phía phải. Lúc đó 2BK (5-10) hở mạch, còn
2BK (5-11) đóng lại khởi động từ 2BK mất điện, sau một thời gian xác định bằng rơle thời
gian 2PB, khởi động từ 2KH đóng lại.
Động cơ 2M, 3M đảo chiều đưa bàn lùi về vị trí ban đầu. Các rơle thời gian 1PB và
2PB được bố trí trong sơ đồ với mục đích tránh cho các động cơ 2M và 3M không bị hãm
ngược gây nên những xung lực về cơ và điện có hại cho máy.
Để khống chế số lần di chuyển của bàn (một lần bằng một lượt đi cộng lại với một
lượt về) Dùng bộ tìm bước PCЙ cho phép khống chế số lần từ 1-25.
Chỉ số này được khắc trèn vỏ của bộ PCЙ có núm điều chỉnh П. Cứ sau mỗi lần di
chuyển bàn chuyển tiếp thường mở cửa khởi động từ 2KH (12-13) đóng lại, rơle ЙШ tác
động. Mỗi lần rơle ШЙ tác động con cóc lại nhảy một nấc làm

Hình 7.1 : Sơ đồ nguyên lý mạch điện ở máy cà răng của Liên Xô kiểu 5714
quay tiếp điểm trượt ШЙ một nấc. Khi số lần nhảy của điểm trượt ШЙ bầng với chỉ số đặt ở
núm điều chỉnh П lập tức rơle PП tác động. Tiếp điểm thường kín PП (7-2) mở ra cắt sự làm

127

việc của trục chính và bàn. Tiếp điểm thường mở PП (19-20), (20-21) đóng lại duy trì sự làm
việc cho rơle PП.
Lúc này cuộn dây được cấp điện qua tiếp điểm thường kín ШЙ(20-13), tiếp điểm PП
(20-19) và thanh dẫn a của bộ tìm bước. Cuộn dây ШЙ
0
sẽ hút nhả liên tục (như chuông
điện), mỗi lần hút nhả tiếp điểm động b lại chuyển đi một bước. sẽ ngừng làm việc khi tiếp
điểm động a trở về vị trí, lúc đó mạch điện của cuộn dây ЙШ và PП bị hở hoàn toàn (trạng
thái này biểu diễn trên hình vẽ).
Nếu không muốn khống chế số lần di chuyển bàn ta đặt núm điều chỉnh П ở vị trí “O”.
Muốn máy ngừng làm việc phải ấn lên nút dừng 1KY.
Đảo chiều động cơ chính bằng công tắc ЬП. Khống chế động cơ bơm chất lỏng làm
lạnh bằng công tắc 2BO đặt trên bảng nút ấn.
7.2.3. Liên động và bảo vệ. Bảo vệ quá tải động cơ 1M bơm nước làm mát bằng rơle nhiệt
1PT.
Bảo vệ ngắn mạch bằng cầu chì 1П, 2П
Bảo vệ an toàn khi bàn di chuyển quá vị trí giới hạn bàn hãm cuối 1BK
7.3. Mạch điện ở máy sọc răng vạn năng của Liên Xô kiểu 5150
7.3.1. Giới thiệu thiết bị điện của máy.
Trên máy có bốn động cơ không đồng bộ rôto lồng sóc điện áp 220/380V (hình 12-2).
Động cơ 1Д truyền động dao sọc kiểu AO-52-4; công suất 7Kw, tốc độ 1450vg/ph
Động cơ 2Д bơm chất lỏng làm mát kiểu ПA-45; công suất 0,15Kw, tốc độ
2800vg/ph.
Động cơ 3Д truyền động bàn theo chiều dọc kiểu AO-41-4; công suất 1,7Kw, tốc độ
1450vg/ph.
Động cơ 4Д quay mâm gá chi tiết kiểu AO-41-6; công suất 1Kw; tốc độ 930vg/ph.
Mạch khống chế điện áp 270V mạch đèn chiếu sáng cục bộ điện áp 36V.
Động cơ 3Д di chuyển bàn dọc được thực hiện hãm phanh khi kết thúc quá trình làm
việc bằng bộ tụ điện C1, C2, C3 đấu tam giác và song song với động cơ 3Д.
7.3.2. Nguyên lý làm việc. Đóng công tắc đầu vào ЛB cung cấp điện cho mạch khống chế. Đặt
tay gạt cơ khí ở dưới bảng nút bấm ở vị trí làm việc sẽ đóng tiếp điểm hãm cắt 4BK(11-11a)
và mở tiếp điểm 4BK(11-43a).

128

ấn nút khởi động 2KY rơle trung gian 1PП và khởi động từ 1K tác động, động cơ 1Д làm
việc.
Ấn nút khởi động 3KY khởi động từ 2K hoặc 3K tác động tuỳ thuộc vào vị trí của
công tắc chuyển mạch ПY đặt ở vị trí “phải” hoặc “trái”. Công tắc tơ 2K hoặc 3K làm việc để
cấp điện cho động cơ 3Д. Bàn sẽ chuyển động theo chiều phải hoặc trái.
Lượng ăn dao được đặt sẵn bằng đĩa khắc số đặt trên băng máy phía trái bảng nút ấn
điều khiển. Khi ăn khớp dao xong cơ cấu cam gắn ở đĩa đó ấn lên hãm cắt 1BK. Tiếp điểm
thường kín 1BK
1
(17a-31) mở ra cắt sự làm việc của khởi động từ 2K hoặc 3K, động cơ di
chuyển bàn ngừng làm việc. Các tiếp điểm thường kín 2K(29-29a), (53-55) hoặc 3K (29a-
29b), (55-57) đóng lại chuẩn bị cho mạch hãm và mạch rà chi tiết. Khi tiếp điểm thường mở
của hãm cắt 1BK
2
(17a-29) đóng lại rơle 3PП tác động, tiếp điểm thường mỏ 3PП (29-53)
đóng lại, khởi động từ 5K tác động. Các tiếp điểm thường mở 5K trên mạch động lực đóng lại
thực hiện hãm nhanh động cơ 3Д. Đồng thời tiếp điểm thường mở của rơle 3PП (17a-25)
đóng lại, cung cấp điện cho nam châm ЭM và rơle thời gian 1PB làm việc. Nam châm ЭM
hút sẽ tác động vào cơ cấu cam làm đóng tiếp điểm thường mở hãm cắt 3BK(13-17a) và mở
tiếp điểm thường kín 3BK(13-15) cắt điện rơle 1PП. Tiếp điểm thường mở 1PП (13-17a) mở
ra nhưng khởi động từ 1K vẫn làm việc nhờ tiếp điểm hãm 3BK (13-17a) đóng kín. Máy thực
hiện quá trình chạy rà chi tiết. Sau một thời gian tiếp điểm thường kín 1PB(25-27) mở ra, cắt
điện nam châm ЭM. Xong hãm cắt 3BK vẫn ấn là do đĩa cam đã quay vượt ra khỏi điểm lõm
nhất. Sau khi cơ cấu cam quay một vòng nó trở về trạng thái ban đầu thì tiếp điểm thường kín
hãm cắt 2BK(13-15) đóng lại và tiếp điểm thường mở 3BK(13-17a) mở ra. Khởi động từ K1
mất điện động cơ 1Д ngừng quay để kết thúc qúa trình chạy rà, sự làm việc của máy ngừng
toàn bộ.
Muốn nhắp quay mâm gá chi tiết và nhắp bàn di chuyển nhanh theo chiều dọc, phải
đưa tay gạt cơ khí ở dưới bảng nút bấm sang vị trí hiệu chỉnh làm cho tiếp điểm thường mở
4BK(11-43a) đóng lại và tiếp điểm thường kín 4BK(11-11a) mở ra. ấn nút khởi động 4KY
khởi động từ 2K hoặc 3K tác động làm di chuyển nhan bàn theo chiều dọc. ấn nút 5KY khởi
động từ 4K tác động động cơ 4Д quay và chuyển động cho mâm gá chi tiết quay.
Khống chế động cơ bơm chất lỏng làm mát bằng công tắc BДO trên bảng nút ấn.
7.3.3. Liên động và bảo vệ. Liên động giữa chế độ làm việc và chế độ nhắp nhờ hãm cắt 4BK.
Chế độ nhắp chỉ xảy ra khi động cơ khi động cơ truyền động dao sọc không làm việc
nhờ tiếp điểm thường kín 1K(43-43a).

129

Liên động giữa chế độ làm việc và hãm nhờ hãm cắt 1BK và các tiếp điểm thường kín
2K(53-55), 3K(55-57). Liên động giữa chế độ làm việc và chạy ra nhờ hãm cắt 1BK và các
tiếp điểm kín 2K(29-29a), 3K(29a-29b).
Khi đạt được trị số cắt gọt theo yêu cầu đã chọn mà hãm cắt 1BK không tác động thì
hãm cuối 2BK sẽ tác động để cắt mạch cung cấp điện cho khởi động từ 2K hoặc 3K. Động cơ
3Д bị cắt ra khỏi lưới điện và ngừng làm việc.
Bảo vệ ngắn mạch bằng các cầu chì 1П, 2П,3П,4П.
Bảo vệ quá tải bằng các rơle nhiệt 1PT, 2PT, 3PT,4PT
7.3.4. Nguyên lý hãm động cơ không đồng bộ 3 pha bằng tụ điện.
Ở trạng thái làm việc bình thường phương trình cân bằng dòng điện là

) (
2 0 1
I I I ÷ + =

Trong đó:
I
1
: là dòng điện stato
I
0
: là dòng điện từ hoá lõi thép stato
I
2
: là dòng điện rôto quy đổi về stato
Khi cắt động cơ ra khỏi lưới điện ngay tức khắc tụ điện sẽ phón điện qua stato động cơ
với điện áp ban dầu bằng điện áp lưới. Cuộn dây stato được coi như

Hình 7.2 : Sơ đồ nguyên lý mach điện ở máy sọc răng vạn năng của Liên Xô kiểu 5-150.
Thuần cảm nên dòng điện phóng I
c
chậm sau điện áp pha một góc bằng 90
0
cùng chiều
với dòng điện từ hoá I
0
.

130

Sự biến thiên của dòng điện phóng I
c
gây nên trong các cuộn dây stato động cơ một
sức điện động E
c
. Sức điện động E
c
liên động với i
c
bằng biểu thức sau:
E
c
= -L.
dl
di
c

Trong đó L là điện cảm cuộn dây stato của động cơ.
Khi các tiếp điểm thường mở 5K(3C1-139), (3C2-139), (3C3-139) đóng lại sức điện
động E
c
sinh ra dòng I
h
chậm sau E
c
một góc  chạy qua đoạn dây ngắn mạch.
Dòng điện I
h
có chiều ngược với dòng I
1
nên gây ra mô mem hãm rất lớn.