CHUYÊN ĐỀ 4.

1: NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO THIẾT BỊ SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ SNAP QUY MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM VỚI CÔNG SUẤT 100 LÍT/NGÀY I - Bản chất quá trình SNAP 1. Quá trình SNAP SNAP là viết tắt của thuật ngữ “Single-stage Nitrogen removal using Anammox and Partial Nitritation”, là quá trình xử lý Nito trên cơ sở kết hợp nitrate hóa bán phần và Anammox trong một bể phản ứng. SNAP sử dụng vật liệu sợi tổng hợp acrylic làm vật liệu bám dính cho vi khuẩn AOB và vi khuẩn Anammox. Từ bùn hoạt tính cấy lúc ban đầu và sau thời gian dài vận hành qua các giai đoạn nitrite hóa, nitrate hóa bán phần vi khuẩn Anammox sinh tƣởng và kết hợp với vi khuẩn AOB cùng bám trên vật liệu sẽ chuyển hóa phần lớn ammonium, ban đầu thành khí Nito. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đối với nƣớc thải chăn nuôi hẹ với bể phản ứng 5 lít với nƣớc thải tổng hợp cho thấy SNAP có thể đạt hiệu suất loại đƣợc nito tới 80% với tải trọng 1kg-N/m3/ngày. Với vật liệu bám rất nhẹ, bề mặt riêng lớn (146,5 m2/m3)và khả năng bám cao (0,5-0,6g SS/ gvật liệu) SNAP có nhiều ƣu thế triển khai ứng dụng trong thực tế. kết quả phân tích 16S rDNA cho thấy bùn SNAP chứa các vi khuẩn ammonia-Aerobic AOB có mức độ tƣơng đồng cao với Nitrosomonas europaea, vi khuẩn Anammox rất gần với dòng KU-2 và vi khuẩn NOB tƣơng tự Nitrospira sp. Nếu loại ammonium bằng một quá trình bởi 2 nhóm vi khuẩn Nitrosomonas và Anammox thì phản ứng của quá trình xảy ra theo phƣơng trình sau: 2,34NH4+ + 1,85O2 + 2,59HCO3- → 1,02N2 + 0,26NO3- + 5,83H2O + 2,47CO2 + 0,024C5H7NO2 (Nitrosomonas) + ),066CH2N0,15O0,5 (Anammox) Quá trình SNAP là một nghiên cứu mới, nó kết hợp đồng thời hai quá trình nitrie hóa và Anammox trong một thiết bị phản ứng và kiểm soát đƣợc lƣợng oxy cung cấp. Quá trình này sẽ tạo ra một công nghệ xử lý rất hiệu quả đôi với nƣớc thải có nồng độ Ammonium cao.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khử Nito bằng VSV tự dưỡng: Các yếu tố ảnh hƣởng quan trọng nhất đến hoạt động của vi khuẩn Anammox trong màng sinh học là tốc độ truyền khối oxy vào bề mặt phản ứng và vào các màng sinh học (biofilm), NH4+ và nồng độ COD đầu vào, sự ức chế bởi NO2- và chế độ động lực dòng chảy đầu vào. Khi nồng độ đầu vào của các chất đạt đến giá trị nhất định, sẽ có một lƣợng lớn nồng độ oxy tối ƣu tồn tại để hiệu quả loại bỏ nito đạt giá trị tối đa. Chế độ dòng chảy đầu vào cũng dẫn đế việc giảm hoạt động vi khuẩn Anammox vì sự ức chế của NO2- và Oxy. Sự cạnh tranh của vi khuẩn Anammox với VSV dị dƣỡng và các sinh vật tự dƣỡng cho các chất cho và nhận điện tử cũng sẽ làm gảm hoạt động của vi khuẩn Anammox. Trong hệ thống 2 bể phản ứng, bể phản ứng đầu tiên (nơi xảy ra một phần quá trình Nitrate hóa) có thể hoạt động nhƣ một bể đệm cho các bể phản ứng [1]. Phƣơng pháp sinh học mới thực hiện phản ứng oxy hoá khử trực tiếp giữa amoni với nitrit bằng vi khuẩn Anammox thành thành nitơ phân tử (N2) [2, 3]. Phƣơng pháp Nitrat hoá không hoàn toàn (Nitrit hoá) đƣợc gọi là phƣơng pháp hiếu khí, đây đƣợc coi là phƣơng pháp mới phù hợp cho áp dụng nghiên cứu để kết hợp với quá trình anammox, chuyển hoá một phần NH4+ thành NO2- nhờ vi khuẩn Nitrosomonas (nitrit đóng vai trò chất trung gian), nitrit hình thành sau phản ứng đƣợc sử dụng oxy hoá trực tiếp amoni (phản ứng oxy hoá khử). Vi khuẩn này thuộc loại yếm khí và tự dƣỡng nên không cần cung cấp nguồn cacbon hữu cơ. Các phản ứng diễn ra nhƣ sau: NH4+ + NO2-  N2 + 2H2O NH4+ + 1,32NO2- + 0,066HCO32,03H2O Để quá trình này chiếm ƣu thế cần duy trì điều kiện thích hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn, ổn định hàm lƣợng vi khuẩn, hàm lƣợng vi khuẩn nitrosomonas bằng tuần hoàn bùn (hồi lƣu bùn), đồng thời hạn chế quá trình oxi hóa nitrit thành nitrat…. Quy trình công nghệ kết hợp: theo cơ chế anammox, muốn khử amoni thì môi trƣờng đó phải có hàm lƣợng nitrit tƣơng ứng. Từ những yêu cầu trên ta có thể kết hợp quá trình anammox và thiếu khí nhằm rút ngắn thời gian xử lý nhƣng hiệu quả vẫn đảm bảo, đáp
 1,02N2 + 0,26NO3- + 0,066CH2O0,5N0,15 +

ứng yêu cầu ngày càng cao của công nghệ hiện đại. Để đạt đƣợc những yêu cầu này, “phƣơng pháp hồ sinh học hiếu khí kết hợp quá trình anammox” đƣợc thử nghiệm theo quy trình sau:

Hình 1: Sơ đồ công nghệ sử dụng bể nitrat hoá một phần và bể Anammox Vào những thập niên 80-90 của thế kỷ 20, một số nghiên cứu ở Đức và Hà Lan đã cho thấy rằng quá trình nitrat hóa và khử nitrat không phải là cơ chế duy nhất cho quá trình khử nitơ trong nƣớc thải. Đến năm 1995, Mulder và các cộng sự đã tìm ra một cơ chế khác của quá trình khử nitơ và gọi tên là Anammox với chủng vi khuẩn chủ yếu của quá trình là Planctomycetables với 3 nhóm: Scalindua, brocadia anammoxidans và Kuenenia stuttgartiensis 2. Ưu, nhược điểm của quá trình SNAP Quá trình Anammox đƣợc xem nhƣ là một quá trình có hiệu quả cho việc ứng dụng công nghệ xử lý sinh học để xử lý nitơ trong nƣớc thải, đặc biệt là nitơ ở nồng độ cao. Công nghệ Anammox có các ƣu điểm nổi bật so với công nghệ nitrat hóa/khử nitrat là: Tiết kiệm năng lƣợng cho quá trình nitrat hóa do giảm đƣợc 40% lƣợng oxy cần Giảm đáng kể lƣợng bùn sinh ra cần xử lý

cung cấp [3] -

Không phải cung cấp lƣợng cacbon hữu cơ nhƣ quá trình khử nitrat

Hình 2: So sánh quá trình khử nitơ truyền thống (nitrification/denitrification) và qúa trình nitrat hoá một phần - Anammox Tuy nhiên quá trình Anammox cũng có những nhƣợc điểm là hệ vi khuẩn này sinh trƣởng chậm nên rất khó làm giàu, nuôi cấy và khó khởi động hệ thống. II – Tình hình nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị SNAP trong và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu thiết kế chế tạo trên Thế giới

2. Tình hình nghiên cứu thiết kế chế tạo trong nước Theo nghiên cứu thiết kế của

-

Nguyễn Ngọc Thiệp và Lƣu Thị Mỹ Kiều - Khoa Môi trƣờng và Bảo hộ Lao động – Đại học Tôn Đức Thắng [3]. Quá trình xử lý các thành phần nitrogen có trong nƣớc thải đầu vào với sự tham gia của nhóm vi khuẩn hiếu khí Nitrosomonas và nhóm vi khuẩn kị khí Anammox, đƣợc thực hiện trong 2 ngăn phản ứng riêng lẻ tách ra từ một bể có dạng hình hộp chữ nhật, làm

bằng kính trong dày 5 mm. Kích thƣớc các ngăn nhƣ sau: Ngăn nitrit hóa: dài x rộng x cao = 12 x 15 x 30 cm. Vngăn nitrit hóa = 5,4*10-3 m3. Ngăn Anammox: dài x rộng x cao = 18 x 15 x 30 cm. Vngăn Anammox = 8,1*10-3 m3. Nhận xét: Đầu vào nƣớc thải đƣợc bơm vào ngăn nitrosomonas rồi sục khí, khí sục thổi từ dƣới rồi khí sục nổi lên trên vì vậy cuối quá trình nitrosomonas sang đầu bể anammox lƣợng DO vẫn cao. Bể kính không bền.

-

Một nghiên cứu của Lê Công Nhất Phƣơng về việc “Xử lý ammonium trong nƣớc

thải giết mổ bằng việc sử dụng kết hợp quá trình nitrit hóa một phần anammox” [4] thì thiết bị phản ứng có dạng hình hộp chữ nhật phía trên để hở gồm 2 ngăn: ngăn phản ứng

có kích thƣớc dài × rộng × cao tƣơng ứng là 350× 150 × 300 mm (thể tích hữu dụng 15 lít) và ngăn lắng 150 × 100 × 300 mm (thể tích hữu dụng 4,4 lít). Tại ngăn phản ứng, giá thể đƣợc sắp đặt để tạo điều kiện cho vi khuẩn dính bám.

Vận hành mô hình: Nƣớc thải đƣợc bơm định lƣợng cấp liên tục vào ngăn phản ứng. Mô hình xử lý đƣợc cấp khí thông qua bơm khí từ đáy ngăn phản ứng cung cấp oxi cho vi khuẩn hoạt động. Nƣớc thải đầu vào sẽ đi từ đầu ngăn phản ứng ở phía đáy, di chuyển đến cuối ngăn phản ứng và chảy qua ngăn lắng từ phía trên, tiếp tục đi lên phía trên ngăn lắng và chảy qua miệng ống ra ngoài mô hình (hình 4) Nhận xét: Thiết bị chế tạo chƣa tối ƣu DO khi nƣớc tràn vào ngăn anammox. Theo nghiên cứu của Phạm Khắc Liệu

-

trong việc “Phát triển quá trình xử lý sinh học mới loại Nito trong nƣớc thải trên cơ sở phản ứng anmmox” : Sơ đồ bể phản ứng SNAP đƣợc trình bày ở hình bên. Sử dụng hai bể phản ứng giống nhau, ký hiệu SN-2 và SN-3, làm bằng nhựa acrylci có dung tích 5 lít. Vật liệu bám làm từ sợi acrylic, đƣợc chế tạo bởi hang NET (Nhật). Tỷ lệ vật liệu sử dụng là 10 g/L-thể tích bể. Các thông số

vận hành )lƣu lƣợng, pH, nhiệt độ, tốc độ sục khí) đều đƣợc kiểm soát bởi thiết bị tự động. Bể phản ứng đƣợc khởi động bằng bùn hoạt tính đƣợc nuôi lâu dài trong phòng thí nghiệm với môi trƣờng dịch chiết thịt-pepton. Lƣợng bùn cấy vào ban đầu là 13g (theo SS). Nƣớc thải tổng hợp, mô phỏng nƣớc rỉ rác đã qua xử lý giảm COD, đƣợc bơm vào để chạy bể phản ứng. Nhận xét: Nhƣợc điểm: Ngăn nitrosomonas sục khí nhỏ khó kiểm soát để tạo NO2- để phản ứng trong Điều kiện DO chƣa tối ƣu.
Đầu vào nước thải

ngăn anammox. III – Nghiên cứu thiết kế và chế tạo 1. Nguyên tắc thiết Theo cơ chế anammox thì muốn khử ammonium thì môi trƣờng đó phải có một lƣợng nitrite tƣơng ứng. Theo yêu câu trên ta có thể kết hợp quá trình anammox và thiếu khí nhằm rút ngắn thời gian xử lý nhƣng hiệu suất vẫn đảm bảo. Từ những thiết kế và nhận xét nêu trên, phác thảo sơ đồ thiết bị và nguyên lý vận hành nhƣ hình dƣới: Thiết bị thí nghiệm chế tạo gồm 2 ngăn có Công suất 100 lít/ngày => tốc độ bơm 4,16 thể tích tƣơng đƣơng nhau. lít/h. Chọn thời gian lƣu HRT= 9h vì vậy thể tích tính toán thiết bị là Vtt= 4,16*9 =37,44 lít. Thiết bị chế tạo dễ lắp và nguyên liệu có sẵn vì vậy chọn ống PVC và phụ kiện đi Mô hình phác thảo bể phản ứng SNAP đƣợc trình bày ở hình bên. Sử dụng hai bể kèm làm nguyên liệu chế tạo có độ bền cao. phản ứng với thể tích tƣơng đƣơng, một ngăn Nitrosomonas ở ngoài cùng, ngăn
Ngăn Anammox
Vòng sục khí

Đầu ra

Ngăn Nitrosomonas

anammox bên trong chứa giá thể làm bằng sợi acrylci. Vật liệu bám làm từ sợi acrylic. Tỷ lệ vật liệu sử dụng là 10 g/L-thể tích bể. Các thông số vận hành lƣu lƣợng, pH, nhiệt độ, tốc độ sục khí đều đƣợc kiểm soát bởi thiết bị tự động. Bể phản ứng đƣợc khởi động bằng bùn hoạt tính đƣợc nuôi lâu dài trong phòng thí nghiệm với môi trƣờng dịch chiết thịtpepton. Lƣợng bùn cấy vào ban đầu là 13g (theo SS). Nƣớc thải tổng hợp, mô phỏng nƣớc rỉ rác đã qua xử lý giảm COD, đƣợc bơm vào để chạy bể phản ứng. 2. Thiết kế Thể tích thiết bị tính toán là Vtt = 37,44 lít, chọn ống PVC Ø220 với chiều 1m. Vì Chọn ống Ø110 làm ngăn anammox với chiều cao là 0,95m và Ø34 làm ống giữa Thiết kế chi tiết đƣợc thể hiện bản vẽ kỹ thuật đính kèm. vậy thể tích thực của là Vthiết bị= (0,22/2)2 * 3,14*1= 0,03799 m3 ≈ 38 lít. thoát nƣớc đã qua quá trình ra ngoài. -

3. Vận hành Nƣớc thải đƣợc bơm vào đầu thiết bị bằng bơm định lƣợng với lƣu lƣơng 4,16 lít/h vào ngăn Nitrosomonas đƣợc sục khí nhằm chuyển hóa NH4+ => NO2- , bộ phận sục khí đƣợc đặt cách đầu trên thiết bị 40cm. Sau quá trình Nitrosomonas nƣớc thải đi xuống dƣới đƣờng ống, khi đó DO đã giảm tối đa sau đó nƣớc thải đi qua quá trình anammox từ dƣới lên trên. Cuối quá trình xử lý SNAP nƣớc thải đƣợc chảy vào ống nƣớc ở tâm giữa, do có thể có lƣợng nhỏ vi khuẩn anammox cuốn theo vì vậy ống nƣớc thoát ở giữa đƣợc nối kín thành hình chữ U để tăng thời gian xử lý và chảy cân bằng ra ngoài. IV - Nhận xét và kết luận Ưu điểm: Thiết bị đã thiết kế và lắp đặt trong quá trình vận hành thực nghiệm xử lý nƣớc Có van lấy mẫu nƣớc cuối ngăn nitrosomonas để điều chỉnh tối ƣu NO2- và NH4+.

thải nhân tạo mô phỏng nồng độ nƣớc thải đã chạy tốt. -

-

Do lắp đặt bằng phụ kiện đƣờng nƣớc ống PVC nên thiết bị không bị rò rỉ nƣớc, di Nhược điểm: Vì là ống PVC nên không quan sát đƣợc phát triển nồng độ sinh khối của

chuyển dễ dàng và dễ mua phụ kiện, giá thành rẻ. -

anammox. V - Tài liệu tham khảo [1] Modelling, Simulation and Optimization of Autotrophic Nitrogen Removal

Processes Stijn Van Hulle - 2005 [2]: Pham Khac Lieu, (2006) Nitrogen renmoval prom landfill leachtace using a single-stage process combining anammox and partial nitritation, Kumamoto Uni, Japan [3]: Mulder, (1995): Anaerobic amnamonium oxidation discovered in a denifying fluidezed bed reator, FEMS Microbiol. Ecol. [3]: Nguyễn Ngọc Thiệp, Lƣu Thị Mỹ Kiều Khoa Môi trƣờng và Bảo hộ Lao động – Đại học Tôn Đức Thắng “NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SHARON ANAMMOX XỬ LÝ NITƠ TRONG NƢỚC THẢI CHĂN NUÔI HEO” [4]: Lê Công Nhất Phƣơng XỬ LÝ AMMONIUM TRONG NƢỚC THẢI GIẾT MỔ BẰNG VIỆC SỬ DỤNG KẾT HỢP QUÁ TRÌNH NITRIT HÓA MỘT PHẦN/ANAMMOX - TẠP CHÍ SINH HỌC, 2012, 34(3SE): 105-110 [5]: Phạm Khắc Liệu “Phát triển quá trình xử lý sinh học mới loại Nito trong nƣớc thải trên cơ sở phản ứng anmmox” – Tạp chí khoa học, Đại học Huế số 48-2008.

Phụ lục hình ảnh: